Thiền tông cho rằng, ngôn ngữ, vãn tự, khái niệm chỉ tăng thêm phiền phức cản trở mà không thể giúp người ta phát hiện chân lý Phật giáo. Để khiến cho người học đạo vứt bỏ các hình thức truy cầu bên ngoài, tập trung dụng công ở nội tâm, các thiền sư trên cơ sở cơ phong vấn đáp, tùy vào đối tượng, dùng các phương pháp kỳ đặc như đánh gậy hoặc hét để đập tan sự chấp trước khiến người học lập tức ngộ ngay Phật tính sẵn có trong tự tâm của mình.
Qui Sơn Linh Hựu thường không bao giờ thuyết pháp nói thẳng mà dùng đủ các phương thức kỳ đặc để giúp đệ tử tự ngộ. Linh Hựu nói với đệ tử là Hương Nghiêm Trí Nhàn rằng: "Nếu muốn ta nói, thì cái ta nói chỉ là kiến giải của ta, đối với sự tự ngộ của ngươi chẳng có ý nghĩa gì cả!" Trí Nhàn từ biệt ra đi, đến một ngày, lúc dọn cỏ trong núi, Trí Nhàn lượm một miếng gạch vụn, thuận tay vứt đi, miếng gạch va vào bụi tre vang lên một tiếng, Trí Nhàn hốt nhiên chứng ngộ, cảm thán nói: "Qui Sơn đối với ta ân hơn cha mẹ, trước kia nếu vì ta mà nói ra đạo lý thì đâu có ngày ta tự ngộ hôm nay!".

Vô pháp khả thuyết, tranh của Trần Hồng Thụ đời Thanh.
Phép dùng "gậy" gắn liền Hoàng Bá Hi Vận và Đức Sơn Tuyên Giám, còn "hét" là sở trường của Lâm Tế Nghĩa Huyền, vì vậy có câu "Đức Sơn gậy, Lâm Tế hét". Trong bộ Cổ Tôn Tục Ngữ Lục, quyển 5 có chép chuyện Lâm Tế bị thầy là Hoàng Bá đánh gậy ba lần như sau: Lâm Tế ban đầu đến chỗ Hoàng Bá tu học rất chăm chỉ. Thủ tọa sư (Mục Châu Trần Tôn Túc) khen: "Tuy là hậu sinh nhưng khá đặc biệt" và hỏi: "Thượng tọa ở đây đã bao lâu?" Lâm Tế đáp: "Ba năm". Thủ tọa hỏi tiếp: "Đã từng tham vấn gì chưa?" Lâm Tế đáp: "Chưa, cũng không biết hỏi gì?" Thủ tọa bảo: "Sao không đến hỏi thế nào là đại ý Phật pháp?" Nghe lời khuyên Lâm Tế bèn đi hỏi, vừa chưa dứt câu thì đã bị Hoàng Bá quất gậy. Lâm Tế quay về... Cứ như vậy ba lần đến hỏi là ba lần bị đánh gậy...

Nào bạt bằng đồng, pháp khí của Phật giáo.
Lâm Tế bèn từ biệt Hoàng Bá ra đi. Khi từ biệt, Hoàng Bá nói: "Đừng đến nơi nào khác mà hãy đến chỗ Cao An Đại Ngu, ông ta tất sẽ nói cho ngươi". Khi đến nơi, Đại Ngu hỏi: "Từ đâu đến?" Lâm Tế đáp: "Từ chỗ Hoàng Bá đến". Đại Ngu hỏi tiếp: "Hoàng Bá có dạy câu gì không?" Lâm Tế thưa: "Con ba lần hỏi đại ý của Phật pháp thì ba lần bị đánh, không biết có lỗi gì không?" Đại Ngu bảo: "Hoàng Bá đối với ngươi lòng tha thiết như thế mà ngươi lại đến hỏi có lỗi hay không lỗi!" Lâm Tế nghe xong liền đại ngộ, nói: "Thì ra Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có gì nhiều!" Đại Ngu bỗng nắm lấy Lâm Tế nói: "Đồ quỉ đái trên giường, vừa hỏi có lỗi hay không lỗi, giờ lại chê Phật pháp Hoàng Bá không có nhiều, ngươi thấy đạo lý gì? Nói mau! Nói mau!" Lâm Tế liền tung vào sườn Đại Ngu ba đấm, Đại Ngu vội buông ra: "Thầy ngươi là Hoàng Bá, không liên can gì đến ta!" Lâm Tế từ biệt Đại Ngu, quay về chỗ Hoàng Bá.
Hoàng Bá hỏi: "Đại Ngu có nói gì không?" Lâm Tế thuật lại mọi chuyện, Hoàng Bá nói: "Cái lão lắm chuyện, đợi đến ta đánh cho một trận!" Lâm Tế nói: "Cần gì đợi đến, đánh liền hôm nay" rồi đánh Hoàng Bá một chưởng. Hoàng Bá nói: "Cái thằng điên này, dám đến đây vuốt râu cọp!" Lâm Tế hét lên, Hoàng Bá bảo: "Thị giả, dẫn thằng điên này về tham đường!"
Trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 15 có chép chuyện sau: Một buổi tối, Đức Sơn thượng đường nói: "Tối nay không được hỏi, ai hỏi sẽ đánh 30 trượng". Lúc đó một vị tăng bước ra lễ bái, Đức Sơn liền đánh. Vị tăng nói: "Tôi chưa hỏi lời nào, vì sao hòa thượng đánh?" Đức Sơn đáp: "Khi ngươi chưa lên thuyền, đáng phải lãnh 30 gậy". Tuy vị tăng chưa hỏi nhưng đã khởi lên ý niệm muốn hỏi, do đó cũng đáng bị đánh!
Qua những công án trên có thể thấy, "Phật pháp đại ý" phải dùng tâm truyền tâm, tâm tâm tương ấn, không thể diễn đạt trực tiếp bằng ngôn ngữ thông thường, vì thế chỉ có thể dùng các phương thức kỳ đặc này.
ĐAN HÀ ĐỐT TƯỢNG PHẬT
Đan Hà Thiên Nhiên là đệ tử của Thạch Đầu Hi Thiên. Trong thiền sử còn lưu lại nhiều câu chuyện thú vị về Đan Hà, trong đó có chuyện đốt tượng Phật. Đối với Đan Hà, tượng Phật chỉ là tượng gỗ tạc thành, tượng trưng của tín ngưỡng. Thiền tông phản đối sự sùng bái thần tượng, chỉ thừa nhận bản tâm của mình, do đó thiêu rụi tượng Phật cũng chẳng tổn hại gì đến Phật đạo.
Đan Hà nguyên là Nho sinh, tinh thông kinh điển Nho gia. Có một năm, Đan Hà đến Trường An ứng thi, lúc tá túc ở lữ điếm gặp một thiền khách. Vị này hỏi: "Đi đâu vậy?" Đan Hà đáp: "Đi thi làm quan", vị thiền khách nói: "Thi làm quan chẳng bằng thi làm Phật!" Đan Hà bèn hỏi: "Thi làm Phật phải đến nơi nào?" Thiền khách nói: "Hiện nay ở Giang Tây có Mã Tổ Đạo Nhất xuất thế, nơi đó chính là trường thi làm Phật, ông có thể đến đó". Thời đó, thiền phong ở phương nam rất hưng thịnh, thu hút nhiều văn nhân học sĩ, Đan Hà nghe chỉ dẫn liền quyết định bỏ thi, đi thẳng đến Giang Tây.
Lần đầu gặp Mã Tổ, Đan Hà đưa tay đỡ trán (ý muốn được xuống tóc làm đệ tử). Mã Tổ nhìn hồi lâu, biết là kẻ bất phàm, nên chỉ sang cho Thạch Đầu: "Thạch Đầu Hi Thiên ở Nam Nhạc là thầy của ngươi, ngươi đến đó đi". Đan Hà đến Nam Nhạc, gặp Thạch Đầu cũng đưa tay đỡ trán, Thạch Đầu nói: "Xuống nhà bếp". Thế là Đan Hà làm việc dưới bếp. Trải qua ba năm, một ngày Thạch Đầu bảo chúng tăng đi cắt cỏ trước điện Phật, lúc này chỉ còn Đan Hà, Đan Hà múc nước gội đầu quỳ xuống trước mặt Thạch Đầu. Thạch Đầu hiểu ý mỉm cười rồi xuống tóc cho Đan Hà, sau đó bắt đầu giảng giới luật thì Đan Hà vội bịt tai bỏ chạy.
Đan Hà rời chỗ Thạch Đầu quay lại tham kiến Mã Tổ. Chưa hành lễ thì Đan Hà nhào thẳng vào tăng đường, cỡi lên cổ một vị tăng làm mọi người hoảng sợ, tức tốc báo cho Mã Tổ. Mã Tổ đến tăng đường xem sự thể, nói một câu: "Con ta, Thiên Nhiên". Đan Hà lập tức quỳ xướng lễ bái, cảm tạ sư phụ đã đặt cho pháp hiệu.
Sau khi được Thạch Đầu xuống tóc, Mã Tổ đặt cho pháp hiệu, Đan Hà bắt đầu cuộc sống du phương, trong thời kỳ này có hai câu chuyện nổi tiếng lưu truyền hậu thế. Một ngày vào năm Nguyên Hòa thứ ba đời Đường (808), Đan Hà nằm ngang giữa cầu Thiên Tân ở Lạc Dương, làm cản xe của quan Lưu thủ họ Trịnh. Người đến la quát cũng không dậy, vị quan thấy lạ xuống xe hỏi: "Sao lại cản xe ta?" Đan Hà chậm rãi đáp: "Thầy chùa vô sự". Vị quan nghe xong rất nể trọng, dâng tặng tài vật, cung cấp gạo, bột mỗi ngày. Một thời gian sau, tăng cũng như tục ở Lạc Dương kéo đến theo học rất đông. Thứ hai là chuyện đốt tượng Phật. Trong năm Nguyên Hòa, Đan Hà trú ở Hương Sơn, Long Môn, Lạc Dương. Một ngày đông đi ra ngoài, đến chùa Huệ Lâm gặp lúc trời quá lạnh, Đan Hà chẳng cần biết gì đến viện chủ, lấy tượng Phật gỗ trong chùa cho vào lò đốt để sưởi ấm. Vị viện chủ hỏi: "Sao lại đốt tượng Phật của chùa ta?" Đan Hà dùng gậy khều khều tro, nói: "Ta đốt để lấy xá lị". Viện chủ nói: "Phật gỗ làm gì có xá lị?" Đan Hà nói: "Đã không có xá lị thì lấy thêm hai pho nữa đốt luôn". Phật Thích-Ca khi còn tại thế chưa từng dạy người sùng bái thần tượng, khi sắp nhập diệt chỉ yêu cầu đệ tử "y theo pháp, không y theo người". Tượng Phật chỉ xuất hiện sau khi Phật nhập diệt vài trăm năm, điều này trái ngược với giáo nghĩa vô thần của Phật giáo nguyên thủy. Đương nhiên, Thiền tông đối đãi tượng Phật từ góc độ Không quán Bát-nhã.

.
Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư, từ thiền hệ của Hành Tư hình thành ba tông Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn.

.
Chùa Tịnh Cư ở núi Thanh Nguyên. Hành Tư vào năm Khai Nguyên thứ hai đời Đường Huyền Tông (714) đến Thanh Nguyên, ở chùa Tịnh Cư truyền bá pháp môn đốn ngộ, tông phong đại chấn, tứ phương kéo đến theo học rất đông.
Đan Hà sau này tại pháp đường nói với đệ tử: "Thiền là thứ ngươi có thể hiểu sao? Há có Phật để thành sao? Một chữ Phật, ta chẳng bao giờ thích nghe... Thời nay người học đông đảo rầm rộ, đều là đến tham thiền vấn đạo. Chỗ ta đây chẳng có đạo để tu, chẳng có pháp để chứng..." (Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 14). Nhìn từ góc độ Thiền tông, việc Đan Hà đốt tượng Phật là phù hợp với xu thế phát triển tư tưởng của Thiền tông.