Buổi họp đầu tiên của ủy ban giải mã tình báo (IDC) cũng được triệu tập trong phòng chắn Hạt trí tuệ. Tuy hầu hết mọi người có khuynh hướng cho rằng Hạt trí tuệ đã biến mất, cả Hệ Mặt trời và Trái đất đều đã “sạch sẽ” rồi, nhưng rốt cuộc vẫn áp dụng biện pháp bảo mật này, chủ yếu là vì nghĩ rằng, ngộ nhỡ Hạt trí tuệ vẫn còn đây thì sẽ đe dọa đến sự an toàn của Vân Thiên Minh.
Trước mắt, những gì công bố với công chúng chỉ là cuộc đối thoại giữa Trình Tâm và Vân Thiên Minh, còn phần chính của thông tin tình báo mà Vân Thiên Minh cung cấp - ba câu chuyện cổ tích - thì vẫn ở trong trạng thái bảo mật tuyệt đối. Trong xã hội hiện đại nơi mà mọi thứ đều trong suốt này, giữ bí mật một thông tin quan trọng như vậy với toàn thế giới là một việc cực kỳ khó khăn đối với Hạm đội và Liên Hiệp Quốc, nhưng các nước vẫn nhanh chóng đạt được sự đồng thuận. Nếu phần chính của thông tin tình báo này được công bố, có thể sẽ xuất hiện một làn sóng giải mã trên toàn thế giới, điều này có khả năng gây nguy hại cho sự an toàn của Vân Thiên Minh. Sự an toàn của Vân Thiên Minh quan trọng như vậy, không chỉ vì bản thân anh. Hiện nay, anh vẫn là người duy nhất thâm nhập được vào xã hội của người ngoài hành tinh, bởi vậy, trong tương lai, anh vẫn có tầm quan trọng không thể thay thế được.
Đồng thời, việc bảo mật và giải mã thông tin tình báo của Vân Thiên Minh cũng chứng tỏ quyền lực và khả năng hành động của Liên Hiệp Quốc được tăng cường thêm một mức độ, để nó tiến thêm một bước trên con đường trở thành chính phủ thế giới thực sự.
Căn phòng chắn Hạt trí tuệ này rộng rãi hơn căn mà Trình Tâm sử dụng trên không gian một chút, nhưng để làm phòng họp thì vẫn rất chật chội. Lực trường chắn Hạt trí tuệ mà con người tạo ra hiện nay chỉ có thể duy trì cân bằng trong một thể tích không gian có hạn, khi thể tích ấy tăng lên, lực trường sẽ sinh ra nhiễu, mất đi tác dụng chắn.
Có hơn ba mươi người tham dự hội nghị, ngoài Trình Tâm, còn có hai người khác đến từ thời kỳ Công nguyên, họ từng là hai ứng cử viên cho vị trí Người Giữ Gươm: kỹ sư máy gia tốc Tất Vân Phong và nhà vật lý Tào Bân.
Tất cả mọi người đều mặc đồ phòng hộ điện cao thế trùm kín người, vì vách tường kim loại trong phòng chắn đều có điện, dễ vô ý chạm phải. Ban tổ chức đặc biệt yêu cầu mọi người phải đeo găng tay bảo hộ, đề phòng có người gõ lên vách tường kích hoạt cửa sổ thông tin theo thói quen. Trong lực trường này, mọi thiết bị điện tử đều không thể vận hành, vì vậy sẽ không có cửa sổ thông tin nào. Để đảm bảo lực trường được cân bằng, bài trí trong phòng giảm thiểu hết cỡ, chủ yếu toàn là ghế ngồi của mọi người, ngay cả bàn họp cũng không có. Trang phục phòng hộ cho những người dự họp vốn là đồ của công nhân ngành điện làm việc với điện cao thế, trong gian phòng kim loại sơ sài này, cả đám người bọn họ trông như thể đang họp giao ban trước giờ làm việc ở một công xưởng cổ đại vậy.
Không đại biểu nào cằn nhằn về sự thô sơ chật chội của căn phòng, cũng như mùi cay mũi và cảm giác khó chịu trên da do tĩnh điện trong không khí gây ra. Sau gần ba trăm năm sống trong sự giám sát của Hạt trí tuệ, giờ đột nhiên thoát khỏi được sự dòm ngó từ thế giới xa lạ kia, mọi người trong phòng chắn đều có một thứ cảm giác giải thoát xưa nay chưa từng có. Công nghệ chắn Hạt trí tuệ được thực hiện không lâu sau khi cuộc Đại Di Dân kết thúc, nghe nói nhóm người đầu tiên vào phòng chắn này đều mắc phải “Hội chứng bình phong”, họ nói nhiều như thể bị say rượu, chẳng kiêng dè gì dốc hết mọi chuyện riêng tư của mình với người bên cạnh. Một phóng viên đã dùng ngôn ngữ đầy chất thơ để miêu tả như sau: “Trong cõi thiên đường chật chội này, mọi người mở rộng cõi lòng, ánh mắt chúng ta nhìn nhau không còn ẩn ý nữa rồi.”
IDC là tổ chức do hạm đội và Hội đồng phòng ngự toàn cầu của Liên Hiệp Quốc cùng thành lập với sứ mệnh giải mã thông tin tình báo mà Vân Thiên Minh truyền về. Dựa theo các ngành học và chuyên môn khác nhau, tổ chức này được chia làm hai mươi lăm nhóm nhỏ, những người tham dự cuộc họp lần này không phải các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành khác nhau đó, mà là người phụ trách của các nhóm, cũng chính là các ủy viên của IDC.
Trước tiên, chủ tịch IDC thay mặt hạm đội và Liên Hiệp Quốc bày tỏ lòng kính trọng với Vân Thiên Minh và Trình Tâm, ông ta gọi Vân Thiên Minh là chiến sĩ anh dũng nhất trong lịch sử nhân loại, nói anh là người đầu tiên sinh tồn thành công ở thế giới của người ngoài hành tinh - trong lòng kẻ thù, trong hoàn cảnh khó thể nào hình dung ấy, anh đã một mình chiến đấu, đem lại cho văn minh Trái đất trong lúc nguy nan một tia hy vọng; Trình Tâm thì đã nhờ lòng dũng cảm và trí tuệ, liều mạng mang tin tình báo của Vân Thiên Minh trở về.
Lúc này, Trình Tâm khẽ cất tiếng yêu cầu chủ tịch cho mình được nói. Cô đứng lên, nhìn quanh một vòng hội trường, rồi nói: “Các vị, mọi thứ trước mắt đều là thành quả cuối cùng của dự án Bậc Thang. Dự án này không thể tách rời khỏi một cá nhân, vào ba thế kỷ trước, chính vì sự kiên trì cùng với năng lực lãnh đạo quả cảm và sức sáng tạo xuất chúng của ông ấy mà dự án Bậc Thang mới khắc phục vô số khó khăn để được thực hiện. Người này chính là Cục trưởng Cục tình báo chiến lược của Hội đồng phòng ngự toàn cầu lúc bấy giờ, Thomas Wade, tôi cho rằng chúng ta cũng cần phải bày tỏ sự kính trọng đối với ông ấy.”
Cả hội trường đều im lặng, không ai tỏ ý tán đồng với đề nghị của Trình Tâm. Trong mắt hầu hết mọi người ở đây, Wade tượng trưng cho phần đen tối trong bản tính con người của thời đại Công nguyên, là mặt trái của người phụ nữ xinh đẹp suýt chút nữa bị ông ta sát hại này, nghĩ đến ông ta, họ chỉ thấy không rét mà run.
Chủ tịch (vốn là cục trưởng đương nhiệm của PIA, là người kế nhiệm Wade sau ba thế kỷ) cũng không hồi đáp đề nghị của Trình Tâm, mà chỉ tiếp tục theo nghị trình: “Về vấn đề giải mã thông tin tình báo, ủy ban có một nguyên tắc và kỳ vọng cơ bản, thông tin đó không thể cung cấp bất cứ hiểu biết cụ thể nào về công nghệ, nhưng lại có khả năng chỉ ra phương hướng nghiên cứu, đưa ra một khái niệm lý thuyết chính xác về các công nghệ mà chúng ta chưa biết đến, bao gồm cả phi hành trong vũ trụ bằng tốc độ ánh sáng và phát đi tuyên bố an toàn trong vũ trụ. Nếu làm được điều này, chúng ta có thể mang đến hy vọng lớn lao cho thế giới của loài người.
“Thông tin tình báo mà chúng ta có được chia làm hai phần chính, một phần là cuộc đối thoại giữa Vân Thiên Minh và tiến sĩ Trình Tâm, phần còn lại là ba câu chuyện mà anh ấy kể. Các phân tích sơ bộ cho rằng, thông tin quan trọng đều ẩn giấu trong ba câu chuyện đó, những thứ có thể giải mã ra từ phần đối thoại không nhiều, vì sau này chúng ta sẽ không tập trung vào phần đối thoại nữa, nên ở đây tôi xin tổng kết lại những thông tin đã đúc rút ra được từ cuộc đối thoại này.
“Trước tiên chúng ta biết được, Vân Thiên Minh đã chuẩn bị kỹ lưỡng trong thời gian dài cho lần truyền tin này, anh ấy đã sáng tác ra hơn một trăm câu chuyện cổ tích, ba câu chuyện ẩn chứa thông tin tình báo trộn lẫn vào trong những câu chuyện ấy. Bằng cách kể chuyện và xuất bản tuyển tập, anh ấy đã khiến thế giới Tam Thể quen thuộc với những câu chuyện này, đây là một quá trình dài đằng đẵng, không hề dễ dàng chút nào, nếu trong quá trình này ba câu chuyện ẩn giấu thông tin kia không bị phát hiện, sau này kẻ địch cũng sẽ cho rằng những câu chuyện đó an toàn. Nhưng dù vậy, anh ấy vẫn thêm vào cho ba câu chuyện này một chốt an toàn nữa.”
Chủ tịch quay sang Trình Tâm, “Tôi muốn đặt một câu hỏi: Có đúng như Vân Thiên Minh đã nói, hai người quen nhau từ thời thơ ấu hay không?”
Trình Tâm lắc đầu, “Không, chúng tôi chỉ là bạn học cùng lớp đại học, quả thực tôi và anh ấy đều đến từ cùng một thành phố, nhưng cả tiểu học và trung học chúng tôi đều không học cùng trường, trước khi vào đại học, chắc chắn là chúng tôi không quen nhau.”
“Cái tên khốn kiếp này! Anh ta nói dối như thế, là muốn Trình Tâm mất mạng chắc?!” Ngải AA ngồi bên cạnh Trình Tâm kêu toáng lên, dẫn đến những cái liếc nhìn bất bình của mọi người. Cô không phải thành viên IDC, mà chỉ tham gia hội nghị với tư cách là trợ lý và cố vấn của Trình Tâm, đây cũng là do Trình Tâm một mực yêu cầu như vậy. Ngải AA từng có thành tích trong lĩnh vực thiên văn học, nhưng ở nơi này, kinh nghiệm và sự từng trải của cô vẫn còn quá ít ỏi, nên bị mọi người coi nhẹ, tất cả đều cho rằng Trình Tâm cần có một cố vấn kỹ thuật xứng đáng hơn, thậm chí ngay chính bản thân Trình Tâm cũng thường hay quên mất AA từng là một nhà khoa học.
Một quan chức PIA lên tiếng: “Làm như vậy cũng không quá nguy hiểm. Thời thơ ấu của họ từ trước kỷ nguyên Khủng hoảng, khi ấy Hạt trí tuệ vẫn chưa đến Trái đất, vả lại, vào thời điểm đó, họ cũng không thể nào là mục tiêu thăm dò của Hạt trí tuệ được.”
“Nhưng sau này bọn họ sẽ điều tra các tài liệu từ thời Công nguyên còn lưu lại!”
“Bây giờ mà muốn tra được thông tin về hai đứa trẻ sống trước kỷ nguyên Khủng hoảng, cô tưởng dễ à? Kể cả có tra được hộ khẩu và học bạ gì đấy thời đó, biết bọn họ không học chung trường tiểu học và trung học thì cũng không thể chứng minh được lúc đó họ không quen nhau. Còn một điều nữa cô không nghĩ tới,” viên quan chức PIA không hề che giấu vẻ khinh miệt đối với sự thiếu chuyên nghiệp của Ngải AA, “Vân Thiên Minh có thể sử dụng Hạt trí tuệ, chắc chắn trước đó anh ấy đã thử điều tra rồi.”
Chủ tịch nói tiếp: “Việc mạo hiểm này là cần thiết, Vân Thiên Minh cho Trình Tâm làm tác giả ba câu chuyện này, khiến kẻ địch càng thêm tin tưởng vào tính an toàn của các câu chuyện. Trong hơn một tiếng đồng hồ anh ấy kể chuyện, đèn vàng không sáng lên lần nào, sau đó chúng ta còn phát hiện ra rằng, kỳ thực, khi anh ấy kể hết ba câu chuyện, đã quá mất bốn phút so với thời gian mà Hạt trí tuệ định ra, nhưng để cho Vân Thiên Minh kể hết câu chuyện cuối cùng, người giám sát đã rất chiều lòng mà kéo dài thời gian gặp mặt ra tổng cộng sáu phút, điều này chứng tỏ bọn họ không nghi ngờ gì những câu chuyện này. Vân Thiên Minh làm như vậy còn có một mục đích quan trọng nữa, anh ấy muốn qua đây truyền đạt một thông tin rõ ràng: trong ba câu chuyện này ẩn giấu thông tin tình báo.
“Những thông tin khác giải mã được từ nội dung đối thoại không nhiều lắm, chúng tôi nhất trí cho rằng câu nói cuối cùng của Vân Thiên Minh khá quan trọng...” Chủ tịch vừa nói, vừa khua khoắng tay phải trong không trung. Đây là một động tác quen tay, như thể muốn mở ra cửa sổ thông tin, sau khi phát hiện không thể làm được, ông ta bèn nói tiếp: “ ‘Vậy chúng mình hẹn nhau một địa điểm gặp mặt đi, ngoài Trái đất, hẹn ở một nơi nào đó khác, một nơi nào đó trong hệ Ngân hà.’ Câu nói này có thể mang hai hàm nghĩa, thứ nhất, anh ấy muốn ám chỉ rằng mình không thể nào quay lại Hệ Mặt trời được nữa; thứ hai...” Chủ tịch ngập ngừng giây lát, lại khua khua tay, lần này như thể ông ta muốn xua thứ gì đó đi, “thực ra cũng không quan trọng, chúng ta tiếp tục nội dung tiếp theo thôi.”
Bầu không khí trong phòng hội nghị trở nên nặng nề, mọi người đều hiểu rõ hàm nghĩa thứ hai của câu nói này: Vân Thiên Minh không có lòng tin rằng Trái đất có thể tránh được tấn công mà tiếp tục sống sót.
Các nhân viên bắt đầu phân phát tài liệu, tài liệu có bìa ngoài màu xanh lam, chỉ có số hiệu chứ không có tiêu đề, ở thời đại này, tài liệu in trên giấy đã cực kỳ hiếm gặp.
“Mong các vị chú ý, tài liệu chỉ có thể đọc ở đây, không được mang ra khỏi phòng hội nghị, cũng không thể ghi chép lại. Hầu hết mọi người có mặt trong buổi họp này đều lần đầu tiên tiếp xúc với nội dung của nó, giờ chúng ta hãy cùng đọc một lần trước đã.”
Cả phòng hội nghị trở nên tĩnh lặng, mọi người bắt đầu cẩn thận đọc ba câu chuyện cổ tích có thể sẽ cứu vớt nền văn minh nhân loại ấy.
CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT CỦA VÂN THIÊN MINH: HỌA SĨ MỚI CỦA VƯƠNG QUỐC
Ngày xửa ngày xưa, có một vương quốc tên là Vương quốc Không Chuyện Kể. Vương quốc này không có câu chuyện nào cả. Thực ra, đối với một vương quốc, không có chuyện kể là điều tốt nhất, dân chúng ở vương quốc không có chuyện kể là những người hạnh phúc nhất, bởi lẽ các câu chuyện đồng nghĩa với sự lắt léo và tai họa.
Vương quốc Không Chuyện Kể có một vị quốc vương thông thái và sáng suốt, một hoàng hậu nhân từ và những vị đại thần chính trực, giỏi giang, còn có cả những người dân cần cù, trung hậu. Cuộc sống ở vương quốc bình lặng như mặt gương, ngày hôm qua giống ngày hôm nay, ngày hôm nay giống ngày mai, năm ngoái giống năm nay, năm nay giống sang năm, không hề có một câu chuyện nào.
Cho tới khi hoàng tử và công chúa trưởng thành.
Quốc vương có hai cậu con trai, hoàng tử Nước Sâu và hoàng tử Cát Băng, còn có một cô con gái, công chúa Hạt Sương.
Hoàng tử Nước Sâu từ nhỏ đã đi đến đảo Mộ ở biển Thao Thiết, chưa bao giờ quay lại, nguyên nhân sẽ kể sau.
Hoàng tử Cát Băng lớn lên bên cạnh phụ vương và mẫu hậu, nhưng lại khiến họ vô cùng lo lắng. Đứa trẻ này rất thông minh, nhưng từ nhỏ đã thể hiện rõ bản tính bạo ngược. Nó bảo đám người hầu ra ngoài hoàng cung thu thập về rất nhiều muông thú nhỏ, rồi chơi trò đế quốc với lũ thú nhỏ ấy, nó tự phong mình làm hoàng đế, còn lũ thú nhỏ là thần dân, thần dân đều là nô lệ, hễ không nghe lời là lập tức chặt đầu, lần nào cũng thế, khi trò chơi kết thúc thì lũ thú nhỏ đều bị giết hết, còn hoàng tử Cát Băng thì đứng giữa bãi đất vương vãi máu tươi mà cười như điền... Khi trưởng thành, tính cách hoàng tử cũng bớt cuồng dại một chút, trở nên trầm lặng ít nói, ánh mắt u ám. Quốc vương hiểu rõ, đấy chỉ là con sói đang giấu đi nanh vuốt, trong nội tâm hoàng tử Cát Băng có một ổ rắn độc đang ngủ đông, chờ cơ hội thức tỉnh. Cuối cùng quốc vương quyết định không cho hoàng tử Cát Băng kế thừa ngôi báu, để công chúa Hạt Sương nối ngôi, trong tương lai vương quốc Không Chuyện Kể sẽ có một vị nữ hoàng.
Giả sử như những đức tính tốt đẹp mà phụ vương và mẫu hậu truyền lại cho các con là một đại lượng không đổi, vậy thì phần mà hoàng tử Cát Băng bị thiếu kia chắc chắn đã chuyển hết cho công chúa Hạt Sương. Công chúa thông minh và tốt bụng, lại còn xinh đẹp tuyệt trần. Khi nàng ra ngoài lúc han ngày, Mặt trời sẽ thu bớt ánh sáng, khi nàng tản bộ vào ban đêm, Mặt trăng sẽ mở mắt to hết cỡ, mỗi khi nàng cất tiếng, tất cả chim chóc đều ngừng hót, những bãi đất hoang nơi nàng đặt chân qua sẽ mọc lên những đóa hoa tươi đẹp. Công chúa Hạt Sương trở thành nữ hoàng chắc chắn sẽ được dân chúng ủng hộ và yêu mến, các vị đại thần cũng sẽ dốc hết sức lực phò trợ nàng, ngay cả hoàng tử Cát Băng cũng không phản đối gì, chỉ có ánh mắt là trở nên u ám hơn.
Thế là, vương quốc Không Chuyện Kể đã có chuyện để kể.
Quốc vương chính thức tuyên bố quyết định này vắo lễ mừng thọ lần thứ sáu mươi của ngài. Vào đêm lễ mừng ấy, bầu trời đêm được pháo hoa tô điểm thành một vườn hoa đầy ánh sáng và màu sắc, ánh đèn rực rỡ dường như biến hoàng cung thành một cung điện bằng pha lê trong suốt, trong tiếng ca hát nói cười, rượu ngon chảy tràn như sông suối...
Mỗi người đều đắm chìm trong hạnh phúc và hoan lạc, đến cả trái tim bâng giá của hoàng tử Cát Băng cũng dường như tan chảy, y bỏ đi bộ mặt âm u thường ngày, cung kính chúc thọ phụ vương, chúc ánh sáng sự sống của ngài mãi mãi chiếu rọi vương quốc giống như Mặt trời. Y còn ca ngợi quyết định của phụ vương, nói rằng công chúa Hạt Sương quả thực thích hợp với ngôi báu hơn mình. Y chúc mừng em gái, hy vọng nàng học tập phép trị quốc từ phụ vương, chuẩn bị sau này còn đảm nhiệm trọng trách. Sự chân thành và thiện ỷ của hoàng tử khiến tất cả mọi người đều cảm động.
“Con của ta, thấy con như vậy ta thực sự rất vui lòng” Quốc vương xoa đầu hoàng tử, nói: “Ta thực sự muốn lưu giữ mãi khoảnh khắc tươi đẹp này”
Vậy là có vị đại thần đưa ra ý kiến, nên vẽ một bức tranh sơn dầu khổng lồ, họa lại toàn bộ cảnh tượng buổi lễ, treo trong cung điện để làm kỷ niệm.
Quốc vương lắc đầu, “Họa sĩ của ta đã già rồi, trong đôi mắt mờ đục của ông ấy, thế giới này đã bao phủ trong một màn sương mù, đôi tay run rẩy của ông ấy không thể vẽ lại được nụ cười hạnh phúc của chúng ta nữa.”
“Con đang định nói chuyện này đây.” Hoàng tử Cát Băng khom người thật thấp trước quốc vương, “Thưa phụ vương, con đang định tiến cử lên người một họa sĩ mới”
Hoàng tử nói xong liền ngoảnh lại phía sau ra hiệu, người họa sĩ mới lập tức bước vào. Đó là một thiếu niên thì đúng hơn, trông chỉ khoảng mười bốn, mười lăm tuổi. Cậu ta bọc mình trong áo choàng trùm đầu màu xám của tu sĩ, nom như một con chuột nhỏ sợ hãi giữa cung điện rực rỡ huy hoàng vả đám khách khứa ăn mặc lộng lẫy. Lúc bước đi, thân hình vốn dĩ đã rất gầy guộc của cậu ta co lại như một cành cây khẳng khiu, như thể lúc nào cũng phải né tránh những gai nhọn vô hình ở xung quanh vậy.
Quốc vương có vẻ hơi thất vọng với họa sĩ mới, “Cậu ta còn trẻ vậy, liệu có thể nắm được những kỹ xảo cao siêu hay không?”
Hoàng từ lại khom người: “Thưa phụ vương, cậu ấy tên là Lỗ Kim, đến từ He'ershingenmosiken, là học trò giỏi nhất của đại họa sĩ Hồn Không. Từ năm tuổi cậu ấy đã đi theo đại họa sĩ học vẽ tranh, đến nay đã được mười năm, có thể coi là đệ tử chân truyền của họa sĩ Hồn Không rồi. Đối với màu sắc và hình dạng của thế giới này, cậu ấy cũng nhạy cảm như chúng ta đối với miếng sắt nàng đỏ vậy, thông qua ngòi bút như thần của cậu ấy, cảm giác này được ngưng đọng lại trên tấm vải. Ngoài đại họa sĩ Hồn Không ra, cậu ấy là độc nhất vô nhị.” Hoàng tử quay sang họa sĩ Lỗ Kim, “Là một họa sĩ, ngươi có thể nhìn thẳng vào quốc vương, không bị coi là vô lễ.”
Họa sĩ Lỗ Kim ngẩng đầu lên nhìn quốc vương một cái, rồi lại lập tức cúi đầu xuống.
Quốc vương hơi ngạc nhiên: “Cậu bé, ánh mắt của cậu rất sắc bén, như một thanh kiếm sắc rời vỏ bên ngọn lửa hừng hực vậy, hoàn toàn không giống với độ tuổi của cậu chút nào.”
Họa sĩ Lỗ Kim lần đầu tiên cất tiếng: “Thưa quốc vương cao quý tột bậc, xin hãy khoan dung cho sự mạo phạm của một tên họa sĩ hèn mọn. Đây là đôi mắt của một họa sĩ, hắn cần phải vẽ được bức tranh trong tim trước đã, thần đã khắc ghi vào tim hình dáng của người, cùng với sự uy nghiêm và trí tuệ của người, thần sẽ vẽ lại vào trong bức tranh.”
“Ngươi cũng có thể nhìn hoàng hậu.” Hoàng tử nói.
Lỗ Kim đưa mắt nhìn hoàng hậu, đoạn cúi đầu nói: “Thưa hoàng hậu tôn kính nhất trên đời, xin hãy khoan dung cho sự mạo phạm của một tên họa sĩ hèn mọn. Thần đã khắc ghi vào tim hình dáng của người, cùng với sự cao quý và thanh nhã của người, thần sẽ vẽ lại vào trong bức tranh.”
“Hãy nhìn cả công chúa, nữ hoàng trong tương lai, ngươi cũng sẽ phải vẽ công chúa.”
Lỗ Kim nhìn công chúa Hạt Sương còn nhanh hơn, cậu ta liếc qua một cái như ánh chớp rồi tức khắc cúi đầu nói: “Thưa công chúa được mọi người mến mộ nhất trần đời, xin hãy khoan dung cho sự mạo phạm của một tên họa sĩ hèn mọn. Vẻ đẹp của người như ánh Mặt trời buổi ban trưa làm mắt thần đau rát, lần đầu tiên trong đời thần cảm nhận được ngòi bút của mình bất lực, nhưng thần đã khắc ghi vào tim hình dáng của người, cùng với sắc đẹp không gì sánh nổi của người, thân sẽ vẽ lại vào trong bức tranh.”
Sau đó hoàng tử lại bảo Lỗ Kim nhìn các vị đại thần. Cậu ta nhìn từng người một, ánh mắt chỉ dừng lại ở mỗi người trong giây lát, cuối cùng cậu ta cúi đầu nói: “Thưa các vị đại thần rất mực tôn kính, xin hãy khoan dung cho sự mạo phạm của tên họa sĩ hèn mọn này. Tôi đã khắc ghi vào tim hình dáng các ngài, cùng với tài năng và trí tuệ của các ngài, tôi sẽ vẽ lại vào trong bức tranh.”
Buổi yến tiệc tiếp tục diễn ra, hoàng tử Cát Băng kéo họa sĩ Lỗ Kim vào một góc cung điện, khẽ hỏi: “Đã ghi nhớ hết rồi chứ?”
Đầu họa sĩ Lỗ Kim cúi rất thấp, cả khuôn mặt giấu trong bóng mờ của mũ áo choàng, khiến cái áo đó trống như trống rỗng, bên trong chỉ có bóng đen chứ không có thể xác. “Đã ghi nhớ, thưa bệ hạ.”
“Ghi nhớ toàn bộ rồi chứ?”
“Thưa bệ hạ, thần đã ghi nhớ toàn bộ rồi, cho dù vẽ đặc tả từng cọng tóc hay từng sợi lông tơ của từng người bọn họ, thần cũng có thể vẽ chính xác không sai một ly.”
Yến tiệc kéo dài đến quá nửa đêm mới kết thúc, ánh đèn trong hoàng cung dần dần tắt hết. Đây chính là thời điểm tối tăm nhất trước lúc binh minh, Mặt trăng đã lặn ở trời Tây, mây đen bay từ Tây sang Đông, tựa như một tấm màn che phủ bầu trời đêm, mặt đất như thể ngâm trong mực đen vậy. Một cơn gió lạnh âm u thổi tới, lũ chim trong tổ run rẩy, hoa cũng kinh hãi khép hết cánh lại.
Hai con ngựa phóng ra khỏi hoàng cung như hai bóng ma, lao vút về phía Tây, trên lưng ngựa là hoàng tử Cát Băng và họa sĩ Lỗ Kim. Bọn họ đến một căn hầm tĩnh mịch dưới lòng đất cách hoàng cung chừng hơn mười dặm. Nơi này dường như nằm ở chốn sâu nhất của biển đêm thăm thẳm, ẩm thấp, âm u như khoang bụng một con quái thú khổng lồ máu lạnh đang say ngủ. Bóng hai người đang đưa trong ánh đuốc, thân hình bọn họ chỉ là hai chấm đen nằm ở chân cái bóng dài thượt ấy. Lỗ Kim mở một cuộn tranh ra, bức tranh nọ cao bằng người, sau khi gỡ lớp túi vải bọc bên ngoài, cậu ta giơ lên cho hoàng tử Cát Băng xem. Đây là tranh vẽ một ông già, mái tóc và bộ râu bạc tựa như ngọn lửa màu bạc bao quanh gương mặt ông ta. Ánh mắt ông già rất giống với ánh mắt Lỗ Kim, nhưng trong vẻ sắc bén lại thêm một chút thâm trầm, bức tranh này thể hiện tài nghệ cao siêu của họa sĩ, rõ đến từng chân tơ kẽ tóc, sống động như thật.
“Thưa bệ hạ, đây là sư phụ của thần, đại họa sĩ Hồn Không?
Hoàng tử ngắm bức tranh, gật đầu nói: “Ngươi vẽ lão ta trước là sáng suốt đấy?
“Đúng thế, thưa bệ hạ, để lão khỏi vẽ thần trước.” Họa sĩ Lỗ Kim nói, hết sức cẩn trọng treo tranh lên bức tường ẩm thấp, “Được rồi, giờ thần có thể vẽ các bức tranh mới cho người rồi ạ.”
Lỗ Kim lấy từ trong góc tối hầm ra một cuộn đồ trắng như tuyết, “Thưa bệ hạ, đây là thân cây Sóng Tuyết ở He'ershingenmosiken, loại cây này sau khi được một trăm năm tuổi thì thân cây trở thành như một cuộn giấy lớn, loại giấy vẽ tranh thượng hạng! Tranh của thần chỉ khi vẽ trên giấy làm từ thân cây Sóng Tuyết mới có ma lực.” Lỗ Kim đặt cuộn giấy lên mặt bàn dá, mở ra một đoạn, lấy một phiến đá vỏ chai đè lên, rồi đưa một con dao găm sắc nhọn men theo mép phiến đá, cắt phần giấy đó ra. Khi nhấc phiến đá lên, tờ giấy đã nằm phẳng phiu trên mặt bàn đá, trắng phau, cứ như tự nó phát sáng vậy. Kế đó, họa sĩ lấy trong túi vải ra các thứ dụng cụ để vẽ khác: “Thưa bệ hạ, hãy nhìn những cây bút này, chúng được làm từ lông tai loài sói sông ở He'ershingenmosiken. Những lọ màu này cũng đều cổ nguồn gốc từ He'ershingenmosiken, màu đỏ này, là máu của loài dơi khổng lồ ở đó, màu đen này, là mực lấy từ con mực dưới biển sâu ở đó; màu xanh lam và vàng này, đều được lấy từ những viên vẫn thạch cổ xưa ở đó... Tất cả những màu sắc này đều phải dùng nước mắt của một loài chim lớn tên là Thảm Mặt Trăng để điều chế.”
“Mau vẽ tranh đi.” Hoàng tử sốt ruột nói.
“Vâng, thưa bệ hạ, vẽ ai trước tiên ạ?”
“Quốc vương.”
Lỗ Kim cầm bút lên bắt đầu vẽ tranh. Cậu ta vẽ rất tùy ý, dùng các màu sắc khác nhau chấm chỗ này một chấm, vạch chỗ kia một vạch, các màu sắc trên giấy dần dần nhiều lên, nhưng không thể nhìn ra hình dạng gì, chỉ giống như đặt giấy vẽ ra dưới một cơn mưa màu sắc thôi vậy, những giọt nước mưa nhiều màu không ngừng rơi xuống mặt giấy. Bề mặt tranh dần dần được sắc màu phủ kín, một mảng màu sắc phức tạp rối rắm, trông như vườn hoa vừa bị đàn ngựa giẫm đạp. Ngọn bút tiếp tục lướt đi trong mê cung màu sắc ấy, tựa hồ không phải họa sĩ đang vung bút, mà là ngọn bút đang dắt theo bàn tay cậu ta di chuyển. Hoàng tử đứng bên cạnh quan sát với ánh mắt nghi hoặc, y muốn đặt câu hỏi, nhưng màu sắc tràn trề tụ hội trong tranh dường như có tác dụng thôi miên, khiển y mê mẩn tâm thần. Đột nhiên, dường như trong chớp mắt, như thể mặt nước gợn sóng lăn tăn bỗng đông cứng lại, tất cả các khối màu đều kết nối với nhau, tất cả màu sắc đều có ý nghĩa, hình ảnh dần hiện lên, rồi nhanh chóng trở nên rõ ràng sắc nét.
Lúc này, hoàng tử nhìn thấy quả đúng là Lỗ Kim đã vẽ quốc vương, quốc vương trong tranh ăn mặc giống hệt như y thấy trong buổi yến tiệc, đầu đội vương miện vàng, trên người vận lễ phục sang trọng, nhưng nét mặt thì khác hẳn, trong ánh mắt quốc vương không còn sự uy nghiêm và trí tuệ nữa, thay vào đó lại toát lên một thứ gì đó cực kỳ phức tạp, nửa mơ nửa tỉnh, mê hoặc, kinh hãi, bi thương - đằng sau tất cả những thứ đó là nỗi sợ hãi khủng khiếp chưa kịp hiện ra trên nét mặt, tựa như khoảnh khắc trông thấy người thân thiết nhất với mình đột nhiên rút kiếm đâm tới vậy.
“Thưa bệ hạ, tranh đã vẽ xong, thần đã vẽ quốc vương vào trong tranh rồi” Lỗ Kim nói.
“Ngươi đã vẽ ông ta vào trong tranh rồi, tốt lắm.”Hoàng tử nhìn bức tranh quốc vương, hài lòng gật đầu, mắt y phản chiếu ánh lửa từ ngọn đuốc, tựa như linh hồn đang bốc cháy trong giếng sâu.
***
Ở hoàng cung cách đó mười mấy dặm, trong phòng ngủ của quốc vương, quốc vương đã biến mất. Trên chiếc giường có bốn chân là bốn bức tượng thiên thần, tấm chăn vẫn còn hơi ấm cơ thể của ngài, trên khăn trải vẫn còn vết lõm mà ngài nắm đè xuống, nhưng thể xác ngài thì đã biến mất không còn tăm tích.
Hoàng tử cầm bức tranh đã hoàn thành trên mặt bàn đá lên, ném xuống đất: “Ta sẽ đóng khung bức tranh này lại, treo lên tường ở đây, lúc nào rảnh rỗi sẽ thường đến đây ngắm. Sau đây hãy vẽ hoàng hậu đi.”
Lỗ Kim lại dùng phiến đá vỏ chai đè phẳng một tờ giấy Sóng Tuyết, bắt đầu vẽ chân dung hoàng hậu. Lần này hoàng tử không đứng bên cạnh quan sát nữa, mà đi đi lại lại, trong căn hầm trống trải vang vọng tiếng bước chân đơn điệu. Lần này tốc độ vẽ tranh của Lỗ Kim nhanh hơn nhiều, chỉ cần nửa thời gian vẽ bức đầu tiên đã hoàn thành.
“Thưa bệ hạ, đã vẽ xong, thần đã vẽ hoàng hậu vào trong tranh rồi.”
“Ngươi đã vẽ bà ta vào trong tranh, tốt lắm.”
Ở hoàng cung, trong phòng ngủ của hoàng hậu, hoàng hậu đã biến mất. Trên chiếc giường có bốn chân là bốn bức tượng thiên thần, tấm chăn vẫn còn hơi ấm cơ thể của bà, trên khăn trải vẫn còn vết lõm mà bà nằm đè xuống, nhưng thể xác bà thì đã biến mất không còn tăm tích.
Trong khu vườn bên ngoài cung điện, một con chó lai sói dường như phát giác ra điều gì đó, tru lên mấy tiếng, nhưng tiếng tru của nó lập tức bị bóng đêm vô tận nuốt chửng, chính nó cũng im bặt trong nỗi sợ hãi xưa nay chưa từng có, co mình vào trong góc không ngừng run rẩy, cơ thể như hòa làm một với bóng đêm.
“Giờ vẽ công chúa ạ?” Lỗ Kim hỏi.
“Không, vẽ hết các đại thần rồi hãy vẽ nó, các đại thần nguy hiểm hơn công chúa. Đương nhiên, chỉ vẽ những đại thần trung thành với quốc vương thôi, hẳn ngươi đã nhờ dáng vẻ của bọn chúng?”
“Đương nhiên, thưa bệ hạ, thần đã ghi nhớ hết, cho dù vẽ đặc tả từng cọng tóc hay từng sợi lông tơ của từng người bọn họ...”
“Được rồi, mau vẽ đi, vẽ xong trước khi trời sáng.”
“Vâng, thưa bệ hạ, trước khi trời sáng thần sẽ vẽ hết vào trong tranh các vị đại thần trung thành với quốc vương, và cả công chúa nữa.”
Lỗ Kim đè phẳng mấy tờ giấy Sóng Tuyết một lúc, bắt đầu vẽ như điên cuồng. Mỗi lần cậu ta vẽ xong một bức tranh, người trong tranh liền biến mất khỏi giường ngủ của mình. Bóng đêm lui dần, những người hoàng tử Cát Băng muốn tiêu diệt lần lượt biến thành những bức tranh treo trên tường căn hầm.
Công chúa Hạt Sương đang say ngủ thì bị tiếng gõ cửa làm giật mình tỉnh giấc, tiếng gõ vừa vang vừa gấp gấp, chưa bao giờ có ai dám gõ cửa phòng nàng như vậy. Nàng nhổm dậy, khi nàng bước tới trước cửa thì bà Rộng đã mở cửa ra rồi.
Bà Rộng là bà vú của Hạt Sương, đã chăm sóc nàng từ nhỏ tới lớn, tình cảm của công chúa với bà còn thân thiết hơn cả hoàng hậu mẹ đẻ nàng. Bà Rộng thấy người đứng ngoài cửa là đội trưởng đội cấm vệ của hoàng cung, trên bộ giáp còn mang theo làn hơi lạnh của đêm tối bên ngoài.
“Nhà ngươi vô lễ quá! Dám làm công chúa thức giấc! Mấy ngày nay công chúa đều mất ngủ đấy!”
Đội trưởng đội cấm vệ không để ý đến lời trách móc của bà Rộng, chỉ vội vàng cúi chào công chúa, “Thưa công chúa, có kẻ muốn gặp người!” Sau đó, anh ta lách sang một bền, để lộ ra người đứng sau lưng mình, đó là một ông già, mái tóc và hàm râu bạc trắng như ngọn lửa màu bạc bao quanh gương mặt, ánh mắt ông sắc bén mà thâm trầm, ông chính là người trong bức tranh đầu tiên Lỗ Kim cho hoàng tử Cát Băng xem. Mặt và áo choàng ông phủ toàn bụi đất, giày bám đầy bùn, rõ ràng là đã lặn lội đường xa để đến đây. Ông đeo một cái túi vải bạt rất to, cắm một chiếc ô trông rất kỳ lạ, cách cầm ô lại còn kỳ lạ hơn: ông không ngừng xoay tít chiếc ô. Nhìn kỹ chiếc ô sẽ biết được vì sao ông làm thể: mặt ô và cán ô đều màu đen tuyền, ở đầu mỗi nan ô đều gắn một quả cầu nhỏ, làm bằng một loại đá trong mờ nào đó, có vẻ nặng. Có thể thấy được, có mấy thanh chống đã bị gãy, không giữ cho ô mở ra được, chỉ còn cách không ngừng xoay khiến những quả câu đá nhỏ gắn ở cuối nan ô vàng lên, thì chiếc ô mới không bị gập lại.
“Sao ngươi lại để người ngoài vào đây bừa bãi như thế, còn là một lão già kỳ quái thế này nữa?!” Bà Rộng chỉ vào ông già quát hỏi.
“Lính gác tất nhiên không để ông ta vào hoàng cung, nhưng ông ta nói...” Đội trưởng đội cấm vệ lo lắng đưa mắt nhìn công chúa, “ông ta nói quốc vương đã mất rồi.”
“Ngươi đang nói gì đấy?! Ngươi điên rồi chắc?” Bà Rộng hét lớn, công chúa vẫn không lên tiếng, hai bàn tay chỉ tóm chặt lấy vạt áo ngủ trước ngực.
“Nhưng quả thực là quốc vương đã biến mất, hoàng hậu cũng biến mất, tôi cho người đi kiểm tra, phòng ngủ của hai vị đều trống rỗng!”
Công chúa kêu lên một tiếng kinh hãi, phải vịn vào bà Rộng mới đứng vững được.
Ông già cất tiếng: “Thưa công chúa tôn kính, xin hãy để tôi nói rõ chuyện này.”
“Xin mời cụ vào trong, ngươi hãy canh gác ngoài cửa.” Công chúa nói với đội trưởng cấm vệ.
Ông già xoay ô, khom người trước công chúa, dường như bày tỏ sự kính trọng vì công chúa có thể nhanh chóng bình tĩnh lại như vậy.
“Ông cứ xoay cái ô thế để làm gì ? Ông là tên hề trong đoàn xiếc chắc?" Bà Rộng hỏi.
“Tôi cần phải luôn mờ chiếc ô này, bằng không tôi cũng sẽ biến mất giống như quốc vương và hoàng hậu vậy?
“Thế thì mang ô vào đây đi.” Công chúa nói. Bà Rộng mở rộng cửa để ông già có thể cầm ô đi qua.
Ông già vào phòng, đặt túi vải bạt trên vai xuống thảm, mệt mỏi thở hắt ra một hơi dài, nhưng vẫn xoay chiếc ô màu đen, những quả cầu đá ở mép ô lấp lánh trong ánh nến, hắt một quầng sáng xoay tròn lên mấy bức tường xung quanh.
“Tôi là họa sĩ Hồn Không đến từ vùng đất He'ershingenmosiken, tên họa sĩ Lỗ Kim mới đến hoàng cung là học trò của tôi.” Ông già nói.
“Tôi đã gặp cậu ấy.” Công chúa gật đầu.
“Vậy nó đã gặp công chúa chưa? Nó đã nhìn thấy công chúa chưa?” Họa sĩ Hồn Không căng thẳng hỏi.
“Rồi, tất nhiên cậu ấy đã nhìn thấy tôi.”
“Hỏng bét rồi, công chúa của tôi, hỏng bét rồi!” Họa sĩ Hồn Không thở dài, “Nó là ác quỷ, nó sở hữu tài vẽ tranh của ma quỷ, nó có thể vẽ người ta vào trong tranh.”
“Đúng là vớ vẩn!” Bà Rộng nói, “Không thể vẽ người ta vào trong tranh thì làm sao gọi là họa sĩ được.”
Họa sĩ Hồn Không lắc đầu, “Ý tôi không phải như thể, sau khi nó vẽ người ta vào trong tranh, người đó sẽ biến mất, biến thành bức tranh chết.”
“Vậy còn không mau mau sai người đi tìm hắn mà giết đi!”
Đội trưởng đội cấm vệ từ ngoài cửa thò đầu vào nói: “Tôi đã phái toàn bộ đội cấm vệ đi tìm rồi, nhưng không thấy đâu. Tôi vốn định đi tìm thượng thư bộ Binh, ngài có thể điều động quân cấm vệ bên ngoài hoàng cung đi lục soát, nhưng ông già này nói thượng thư bộ Binh lúc này chắc cũng đã biến mất rồi.”
Họa sĩ Hồn Không lại lắc đầu, “Quân cấm vệ không có tác dụng đâu, có lẽ hoàng tử Cát Băng và Lỗ Kim không ở trong hoàng cung, Lỗ Kim có thể giết hại người trong hoàng cung bằng cách vẽ tranh ở bất cứ nơi nào trên thế giới này.”
“Ông nói là hoàng tử Cát Băng?” Bà Rộng hỏi.
“Đúng thể, hoàng tử muốn dùng Lỗ Kim làm vũ khí để tiêu diệt quốc vương và những người trung thành với ngài, hòng đoạt lấy ngôi báu.”
Họa sĩ Hồn Không nhận thấy, công chúa, bà Rộng và cả đội trưởng đội cấm vệ dường như đều không ngạc nhiên trước những gì ông nói.
“Hãy cứ xét đến chuyện sống chết trước mắt đã! Lỗ Kim có thể vẽ công chúa bất cứ lúc nào, có khi nó đang vẽ rồi cũng nên.”
Bà Rộng tái mét mặt, ôm chặt lấy công chúa, như thể làm vậy có thể bảo vệ được nàng.
Họa sĩ Hồn Không nói tiếp: “Chỉ có tôi mới diệt trừ được Lỗ Kim, giờ nó đã vẽ tôi rồi, nhưng chiếc ô này có thể bảo vệ cho tôi không biến mất, chỉ cần tôi vẽ nó ra, nó sẽ biến mất?
“Vậy ông vẽ ngay ở đây đi!” Bà Rộng nói, “Để tôi che ô cho ông!”
Họa sĩ Hồn Không lại lắc đầu, “Không được, tranh của tôi chỉ vẽ trên giấy Sóng Tuyết mới có ma lực, giấy mà tôi mang theo vẫn chưa đè phẳng, không thể vẽ được.”
Bà Rộng ngay lập tức mở túi vải bạt của họa sĩ, lấy ra một đoạn thân cây Sóng Tuyết, thân cây đã được bóc lớp vỏ bên ngoài, để lộ ra cuộn giấy trắng tinh. Bà Rộng và công chúa mở một phần cuộn giấy ra, mặt giấy trắng bóc như tuyết, làm căn phòng sáng hẳn lên. Họ tìm cách đè phẳng tờ giấy trên sàn nhà, nhưng dù cố gắng thế nào, hễ cứ buông tay ra là tờ giấy lại cuộn về trạng thái ban đầu.
Họa sĩ nói: “Không được đâu, chỉ có phiến đá làm bằng loại đá vỏ chai ở He'ershingenmosiken mời làm phẳng được giấy Sóng Tuyết, loại đá ấy rất hiếm, tôi chỉ có một phiến thôi, đã bị Lỗ Kim trộm đi mất rồi!”
“Dùng thứ khác không thể đè phẳng được loại giấy này à ?”
“Không được, chỉ có đá vỏ chai ở He'ershingenmosiken mới đè phẳng được, tôi vốn hy vọng có thể cướp lại được nó từ chỗ Lỗ Kim.”
“He’ershingenmosiken, đá vỏ chai?” Bà Rộng vỗ trán, “Tôi có một cái bàn là, chỉ dùng khi là bộ lễ phục đẹp nhất của công chúa, cái bàn là ấy được làm ở vùng He'ershingenmosiken, chính là làm bằng đá vỏ chai đấy!”
“Có lẽ dùng được.” Họa sĩ Hồn Không gật đầu.
Bà Rộng xoay người chạy đi, lát sau đã cầm một cái bàn là đen bóng trở lại. Bà và công chúa lại mở cuộn giấy ra một đoạn, dùng bàn là đè một góc cuộn giấy xuống sàn, mấy giây sau bỏ ra, góc cuộn giấy quả nhiên đã được đè phẳng.
“Bà che ô cho tôi, để tôi đè phẳng giấy cho!” Họa sĩ Hồn Không nói với bà Rộng. Lúc đưa ô cho bà, ông dặn dò: “Cái ô này phải xoay liên tục để mở ra, hễ gập lại là tôi biến mất luôn!” Thấy bà Rộng cầm ô tiếp tục xoay tròn, mở ra che trên đầu mình, ông mới yên tâm ngồi xổm xuống dùng bàn là đè phẳng cuộn giấy, chỉ có thể làm từng khoảnh, từng khoảnh nhỏ một.
“Không thể làm thêm thanh chống để đỡ cho cái ố này mở ra à ?” Công chúa nhìn cái ở xoay tròn hỏi.
“Thưa công chúa, lúc trước cũng có thanh chống đấy chứ.” Họa sĩ Hồn Không vừa cắm cúi dùng bàn là đè phẳng giấy vẽ vừa nói, “Cái ô đen này có lai lịch rất không tầm thường. Trước đây, những họa sĩ khác ở He’ershingenmosiken cũng có kỹ thuật vẽ này, ngoài con người ra, họ cũng có thể vẽ động vật và thực vật vào trong tranh. Nhưng một ngày nọ, có một con rồng từ trong vực sâu bay ra, con rồng đó toàn thân đen như mực, vừa có thể bơi lội dưới biển sâu lại có thể bay lượn trên bầu trời, lần lượt đã có ba vị đại họa sĩ vẽ nó, nhưng nó vẫn có thể bơi lội và bay lượn bên ngoài bức tranh. Về sau, các họa sĩ đã gom tiền thuê một võ sĩ có phép thuật, võ sĩ này dùng một thanh kiếm lửa giết chết con rồng, cuộc chiến đó đã khiến biển ở He’ershingenmosiken sôi trào lên sùng sục. Thi thể con rồng bị thiêu cháy gần hết, tôi thu nhặt được một ít xương cốt từ đống tro tàn ấy, làm ra cái ô này. Mặt ô làm bằng màng cánh của con rồng, nan ô, cán ô và thanh chống đều làm từ xương đen của nó, những viên bảo thạch gắn ở mép ô thực ra là sỏi thận lấy từ quả thận đã cháy đen của con rồng ấy. Cái ô này có thể bảo vệ người ở bên dưới nó không bị vẽ vào trong tranh. Về sau, nan ô bị gãy, tôi từng dùng vài thanh tre để thay vào, nhưng phép thuật của cái ô liền biến mất, sau khi gỡ thanh nan mới đi, phép thuật lại khôi phục. Sau đấy, thử dùng tay đỡ bên trong để ô mở ra cũng không được, bên trong chiếc ô này không thể thêm vào bất cứ vật lạ nào khác, mà giờ thì tôi đã hết mất xương rồng rồi, đành phải xoay thế này để mở ô...”
Lúc này, chiếc đồng hồ ở góc phòng đổ chuông, họa sĩ Hồn Không ngẩng đầu lên nhìn, đã hừng đông, trời sắp sáng tới nơi rồi. Ông cúi nhìn cuộn giấy, phần giấy được đè phẳng thò ra khỏi cuộn giấy, trải phẳng phiu trên sàn nhà không cuộn lại nữa, nhưng chỉ rộng bằng một bàn tay, còn lâu mới đủ vẽ một bức tranh. Ông buông cái bàn là xuống, thở dài.
“Không kịp nữa rồi, tôi còn phải tốn khá nhiêu thời gian để vẽ được xong bức tranh, không kịp nữa rồi, Lỗ Kim có thể vẽ xong bức tranh công chúa bất cứ lúc nào, các người...” Họa sĩ Hồn Không chỉ vào bà Rộng và đội trưởng đội cấm vệ, “Lỗ Kim đã gặp các người chưa?”
“Chắc chắn hắn ta chưa trông thấy tôi đâu.” Bà Rộng nói.
“Lúc hắn vào cung tôi đứng ở đằng xa trông thấy hắn, nhưng tôi nghĩ là hắn chưa, nhìn thấy tôi.” Đội trưởng nói.
“Tốt lắm,” Họa sĩ Hồn Không đứng lên, “Hai người hãy bảo vệ công chúa đến biển Thao Thiết, đi đảo Mộ để tìm hoàng tử Nước Sâu!”
“Nhưng... dù đến được biển Thao Thiết, chúng tôi cũng không thể đặt chân lên đảo Mộ được, ông biết là dưới biển có...”
“Đến đó rồi nghĩ cách sau, chỉ còn một con đường sông này thôi. Trời vừa sáng, tất cả các vị đại thần trung thành với quốc vương sẽ bị vẽ vào trong tranh, quân cấm vệ sẽ bị hoàng tử Cát Băng khống chế, y sẽ soán ngôi, chỉ có hoàng tử Nước Sâu mới ngăn chặn được y.”
“Hoàng tử Nước Sâu trở về hoàng cung, không phải cũng sẽ bị Lỗ Kim vẽ vào trong tranh hay sao?” Công chúa hỏi.
“Yên tâm, không đâu, Lỗ Kim sẽ không vẽ được hoàng tử Nước Sâu. Hoàng tử Nước Sâu là người duy nhất trong vương quốc mà Lỗ Kim không thể vẽ được, may thay, tôi chỉ dạy nó vẽ kiểu phương Tây, chứ không truyền cho nó cách vẽ của phương Đông.”
Công chúa và hai người kia đều không hiểu lời họa sĩ Hồn Không cho lắm, nhưng ông họa sĩ già không giải thích thêm, chỉ nói tiếp: “Mọi người nhất định phải đưa hoàng tử Nước Sâu trở về hoàng cung, giết chết Lỗ Kim, đồng thời tim thấy tranh vẽ công chúa, đốt bức tranh đó đi, công chúa sẽ được an toàn.”
“Nếu cũng tìm được tranh vẽ phụ vương và mẫu hậu...” Công chúa níu lấy họa sĩ Hồn Không, khẩn thiết nói.
Người họa sĩ già chầm chậm lắc đâu, “Thưa công chúa, không kịp nữa rồi, họ đã biến mất, giờ họ chính là hai bức tranh đó đấy, nếu tìm được thì đừng đốt đi, để lại làm tranh thờ.”
Công chúa Hạt Sương choáng váng trước nỗi đau đớn khủng khiếp, nàng ngồi thụp xuống đất, che mặt khóc òa.
“Thưa công chúa, giờ không phải là lúc bi thương, nếu muốn báo thù cho quốc vương và hoàng hậu, thì hãy mau mau lên đường đi thôi!” Người họa sĩ già nói, đoạn quay sang bà Rộng và đội trưởng: “Hai người phải chú ý, trước khi tìm được và thiêu hủy tranh vẽ công chúa, phải luôn che ô cho người, không được rời đi dù chỉ một giây, cũng không được khép ô lại.” Ông cầm lấy chiếc ô từ tay bà Rộng, tiếp tục xoay, “Không thể xoay quá chậm, vì nó sẽ khép lại; cũng không thể xoay quá nhanh, vì cái ố này đã cũ lắm rồi, xoay nhanh quá nó sẽ long ra mất. Cái ô có linh khí, nếu xoay chậm quá nó sẽ phát ra tiếng như tiếng chim hót, hãy nghe thử, là như thế này...” Người họa sĩ già xoay ô chậm lại một chút, trọng lượng của những quả cầu đá gắn ở mép ô kéo mặt ô chầm chậm cụp xuống, phát ra âm thanh như tiếng chim sơn ca, xoay ô càng chậm thì tiếng phát ra càng to. Ông họa sĩ già lại tâng tốc độ xoay ô, tiếng chim kêu nhỏ dần rồi biến mất. “Nếu xoay nhanh quá, nó sẽ phát ra tiếng chuông, giống như thế này...” Ông già tiếp tục tăng tốc độ xoay, có thể nghe thấy một hồi tiếng chuông nhỏ rồi lớn dần, nghe như chuông gió, nhưng gấp gáp hơn, “Được rồi, giờ thì mau che ô cho công chúa.” Ông nói, đoạn đưa chiếc ô cho bà Rộng.
“Ông ơi, chúng ta che chung ô rồi đi khỏi đây nhé.” Công chúa Hạt Sương ngước đôi mắt đẫm lệ lên nói.
“Không được, chiếc ô đen này chỉ có thể bảo vệ một người, nếu hai người bị Lỗ Kim vẽ vào tranh che chung một chiếc ô, họ đều sẽ chết, vả lại còn chết một cách thê thảm hơn: một nửa bị vẽ vào trong tranh, một nửa ở bên ngoài... Mau che ô cho công chúa, kéo dài thêm một giây thì nguy hiểm lại tăng lên một phần, bất cứ lúc nào Lỗ Kim cũng có thể vẽ công chúa vào trong tranh!”
Bà Rộng nhìn công chúa, rồi lại nhìn họa sĩ Hồn Không, do dự.
Ông họa sĩ già nói: “Tôi là người truyền dạy kỹ năng vẽ tranh cho đứa nghiệt chủng ấy, tôi đáng tội chết. Bà còn đợi gì nữa? Muốn nhìn công chúa biến mất trước mắt mình à?”
Câu nói cuối cùng khiến bà Rộng khẽ run rẩy, bà lập tức dời ô sang che phía trên đầu công chúa.
Ông họa sĩ già vuốt chòm râu bạc ung dung cười, nói: “Vậy là đúng rồi, lão đây vẽ tranh cả đời, biến thành một bức tranh cũng coi như là chết xứng đáng. Tôi tin vào tay nghề vẽ tranh của đứa nghiệt chủng ấy, hẳn đó sẽ là một bức tranh đẹp đẽ tinh xảo..”
Cơ thể họa sĩ Hồn Không dần trở nên trong suốt, sau đó biến mất như một làn hơi sương.
Công chúa Hạt Sương nhìn vào khoảng không gian nơi ông họa sĩ già vừa biến mất, lầm bẩm nói: “Được rồi, chúng ta đi thôi, đến biển Thao Thiết.”
Bà Rộng nói với đội trưởng đang đứng ngoài cửa: “Ngươi mau qua đây che ô cho công chúa, để ta đi thu dọn đồ đạc.”
Đội trưởng đón lấy chiếc ô rồi nói: “Phải nhanh lên, giờ bên ngoài toàn là người của hoàng tử Cát Băng, khi trời sáng có thể chúng ta sẽ không ra khỏi hoàng cung được mất.”
“Nhưng cũng phải mang theo chút đồ cho công chúa chứ, công chúa chưa từng đi xa bao giờ, ta phải mang theo áo choàng và giày cho người, còn rất nhiều quần áo, nước uống của người nữa, ít nhất... ít nhất cũng phải mang theo cục xà phòng thơm sản xuất ở vùng He'ershingenmosiken, công chúa không tắm bằng loại xà phòng ấy thì không tài nào ngủ được...” Bà Rộng vừa làu bàu vừa đi ra khỏi căn phòng.
Nửa tiếng sau, trong ánh nắng mai vừa lên, một cỗ xe ngựa gọn nhẹ ra khỏi hoàng cung từ cửa ngách, đội trưởng đội cấm vệ đánh xe, trên xe là công chúa Hạt Sương và bà Rộng đang che ô cho nàng, họ đều đã thay trang phục dân thường. Cỗ xe ngựa nhanh chóng biến mất trong màn sương mù xa xa.
Lúc này, trong hầm ngầm âm u kia, họa sĩ Lỗ Kim vừa hoàn thành xong bức tranh công chúa Hạt Sương, cậu ta nói với hoàng tử Cát Băng, đây là bức tranh đẹp nhất mà cậu ta từng vẽ.
CÂU CHUYỆN THỨ HAI CỦA VÂN THIÊN MINH: BIỂN THAO THIẾT
Sau khi ra khỏi hoàng cung, đội trưởng cấm vệ đánh xe chạy như bay. Ba người đều rất căng thẳng, họ cảm thấy trong màn đêm nhập nhoạng kia, bóng cây cối và đồng ruộng lướt qua đều ẩn chứa nguy hiểm. Trời đã sáng được một chút, cỗ xe chạy lên một ngọn núi nhỏ, đội trưởng đội cấm vệ ghìm cương ngựa lại, họ ngoảnh đầu lại nhìn về phía sau. Mặt đất trải rộng phía bên dưới, con đường đưa họ đến đây tựa như một vạch dài chia thế giới ra làm hai phần tách biệt, ở cuối đường vạch ấy là hoàng cung, đã xa tít chân trời, tựa như một đống đồ chơi xếp gỗ nhỏ bị bỏ quên ở phía đằng xa. Không thấy có truy binh, hiển nhiên là hoàng tử Cát Băng cho rằng công chúa đã không tồn tại trên đời nữa, mà bị vẽ vào trong tranh mất rồi.
Sau đây, họ đã có thể đi thong thả được rồi. Trong khi trời dần sáng, thế giới xung quanh như thể một bức tranh đang được vẽ, thoạt tiên chỉ có những đường nét mông lung và màu sắc mơ hồ, sau đấy, hình dạng đường nét cảnh vật dần trở nên rõ ràng, màu sắc cũng phong phú rực rỡ hơn lên. Vào khoảnh khắc trước khi Mặt trời lên, bức tranh này đã hoàn thành. Công chúa quanh năm sống trong hoàng cung chưa bao giờ thấy được những mảng khối màu sắc tươi sáng rực rõ như thế: từng mảng xanh của thảm cỏ trong rừng và ruộng đồng, từng mảng đỏ tươi và vàng mơn mởn của khóm hoa, mặt hồ phản chiếu sắc bạc của bầu trời buổi sớm mai, màu trắng như tuyết của đàn cừu đi ăn sớm... Lúc Mặt trời lên, cảm giác dường như người họa sĩ vừa bốc lên một nắm bột vàng, hào phóng rải lên khắp bức tranh vậy.
“Bên ngoài đẹp thật, chúng ta cứ như đang ở trong một bức tranh ấy? Công chúa thốt lên.
“Vâng, thưa công chúa, nhưng trong bức tranh này người vẫn sống, còn trong bức tranh kia thì người đã chết rồi? Bà Rộng đang che ô nói.
Câu nói này lại khiến công chúa nhớ đến phụ vương và mẫu hậu đã qua đời, nhưng nàng cố kiềm chế nước mắt rơi, nàng biết giờ đây mình không còn là một cô bé con nữa, nàng cần phải gánh vác lấy trách nhiệm nặng nề của vương quốc rồi.
Họ nói về hoàng tử Nước Sâu.
“Tại sao anh ấy lại bị lưu đày đến đảo Mộ?” Công chúa hỏi.
“Mọi người đều nói hoàng tử là quái vật.” Đội trưởng đội cấm vệ nói.
“Hoàng tử Nước Sâu không phải là quái vật!” Bà Rộng phản bác.
“Mọi người nói ngài là người khổng lồ.”
“Nước Sâu không phải là người khổng lồ! Hồi hoàng tử nhỏ ta còn bế hoàng tử đấy, hoàng tử không phải là người khổng lồ.”
“Đợi chúng ta đến bờ biển bà sẽ thấy, chắc chắn hoàng tử là người khổng lồ, rất nhiều người đều nhìn thấy rồi”
“Cho dù Nước Sâu là người khổng lồ, anh ấy cũng là hoàng tử, tại sao phải bị đày lên đảo?” Công chúa hỏi.
“Hoàng tử không bị đi đày, hồi nhỏ hoàng tử ngồi thuyền lên đảo Mộ câu cá, vừa hay lúc đó lũ cá Thao Thiết xuất hiện ở ngoài biển, hoàng tử không trở về được, đành phải ở trên đảo.”
Sau khi Mặt trời mọc, người và xe ngựa trên đường dần nhiều lên. Vì công chúa trước đây gần như chưa bao giờ ra khỏi hoàng cung, nên mọi người đều không nhận ra nàng, nhưng mặc dù giờ nàng đang đeo mạng che mặt, chỉ lộ ra đôi mắt, những người trông thấy thảy đều trầm trồ kinh ngạc trước sắc đẹp của nàng. Người ta cũng ca ngợi vẻ anh tuấn và uy vũ của chàng trai đánh xe, cười cợt bà lão đang che trên đầu cô con gái xinh đẹp chiếc ô kỳ dị bằng cách thức cũng kỳ dị không kém. Cũng may, không ai nghi ngờ gì về tác dụng của chiếc ô, hôm nay Mặt trời rực rỡ, tất cả đều chỉ nghĩ đây là ô che nắng bình thường.
Bất giác đã đến trưa, đội trưởng đội cấm vệ dùng cung tên bắn hạ hai con thỏ làm bữa trưa. Ba người ngồi trên khoảng đất trông giữa những thân cây ven đường dùng bữa. Công chúa Hạt Sương vuốt ve thảm cỏ mềm mại bên cạnh mình, ngửi mùi thơm mát của cỏ xanh và hoa tươi, ngắm nhìn những đốm nắng len qua kẽ lá gieo trên mặt cỏ, lắng nghe tiếng chim hót trong rừng và tiếng sáo của mục đồng xa xa, nàng hết sức ngạc nhiên và tò mò trước thế giới hoàn toàn mới mẻ này.
Bà Rộng thở dài: “Ôi, công chúa ơi, đi xa khỏi hoàng cung thể này, thật khổ cho công chúa quá.”
“Ta thấy bên ngoài còn tốt hơn trong hoàng cung.” Công chúa nói.
“Công chúa của tôi ơi, bên ngoài làm sao hơn được trong hoàng cung chứ? Công chúa không biết đâu, bên ngoài nhiều khó khăn lắm, giờ đang là mùa xuân, chứ mùa đông ở bên ngoài trời sẽ lạnh, mùa hè sẽ nóng, bên ngoài sẽ có gió có mưa, bên ngoài loại người gì cũng có, bên ngoài..”
“Nhưng trước đây ta chẳng biết gì về thế giới bên ngoài cả. Ta ở trong hoàng cung học âm nhạc, hội họa, thơ ca và toán, lại còn học hai loại ngôn ngữ mà chẳng ai nói cả, nhưng không ai nói cho ta biết bên ngoài là như thế nào, vậy thì ta làm sao có thể trị vì vương quốc đây?”
“Công chúa, các vị đại thần sẽ giúp đỡ người”
“Các đại thần có thể giúp ta đều bị vẽ vào trong tranh hết rồi... Ta vẫn cảm thấy bên ngoài tốt hơn.”
Từ hoàng cung đến bờ biển phải đi mất một ngày đường, nhưng đoàn người của công chúa không dám đi đường lớn, mỗi khi gặp thành thị họ đều đi vòng qua, vì vậy mãi đến nửa đêm mới tới nơi.
Công chúa Hạt Sương chưa từng thấy bầu trời sao mênh mông như thế, cũng là lần đầu tiên cảm nhận được sự tĩnh lặng và tối tăm của ban đêm, ngọn đuốc trên xe ngựa chỉ chiếu sáng được một khoảng nhỏ. Ở phía xa, thế giới là một mảng nhung đen lớn mơ hồ. Tiếng vó ngựa rất vang, như thể muốn rung chuyển cho những ngôi sao kia rơi xuống. Công chúa đột nhiên kéo đội trưởng cấm vệ, yêu cầu anh dừng xe.
“Nghe xem, đó là tiếng gì vậy? Giống như tiếng thở của người khổng lồ.”
“Công chúa, đó là âm thanh của biển.”
Họ lại đi thêm một đoạn nữa, công chúa thấy hai bên đường có rất nhiều vật thể lờ mờ thấp thoáng trong màn đêm, trông như những quả chuối lớn.
“Đó là những gì vậy?” Nàng hỏi.
Đội trưởng lại dừng xe, cầm ngọn đuốc trên xe bước đến bên vật gần nhất, “Công chúa, người hẳn là biết thứ này chứ.”
“Thuyền?”
“Vâng, công chúa, là thuyền.”
“Nhưng thuyền tại sao lại ở trên đất liền vậy?”
“Vì dưới biển có cá Thao Thiết.”
Dưới ánh sáng của ngọn đuốc có thể thấy được, con thuyền này đã cũ kỹ lắm rồi, thân thuyền bị cát vùi một nửa, phần lộ ra bên ngoài trông như bộ xương của một con thú khổng lồ.
“A, nhìn bên kia kìa!” Công chúa lại chỉ về phía trước kinh hoảng kêu lên, “Hình như có một con rắn lớn màu trắng!”
“Công chúa, đừng sợ, đó không phải rắn, mà là sóng biển, chúng ta đã đến bờ biển rồi.”
Công chúa và bà Rộng đang che ô cho nàng cùng xuống xe, nàng đã tận mắt trông thấy biển lớn. Trước đây, nàng chỉ thấy biển trong tranh, bức tranh đó vẽ biển xanh bên dưới trời xanh, hoàn toàn khác với mặt biển đen ngòm dưới bầu trời đêm lúc này, khoảng mênh mông bí ẩn lấp lánh ánh sao này tựa hồ như một bầu trời sao khác ở trạng thái lỏng vậy. Công chúa không kìm được, bước về phía biển, nhưng bị đội trưởng cấm vệ và bà Rộng ngăn cản.
“Công chúa, đến gần biển rất nguy hiểm.” Đội trưởng nói.
“Ta thấy nước ở phía trước không sâu, làm sao chết đuối được?” Công chúa chỉ vào làn sóng trắng xóa trên bờ cát.
“Dưới biển có cá Thao Thiết, bọn chúng sẽ xé nát và ăn thịt công chúa!” Bà Rộng nói.
Đội trưởng nhặt một mảnh ván thuyền vỡ lên, bước tới trước ném xuống biển. Miếng ván dập dềnh trên mặt biển mấy lượt, rồi chẳng mấy chốc ở gần đó có một bóng đen nổi lên khỏi mặt nước, bổ nhào về phía nó. Vì phần lớn đều chìm dưới nước, nên họ không nhìn rõ thứ ấy lớn nhỏ thể nào, chỉ thấy vảy trên thân nó lấp lánh dưới ánh sáng ngọn đuốc. Liền ngay sau đó, lại có ba, bốn bóng đen khác nhanh chóng bơi về phía mảnh ván, giành giật tranh cướp nhau dưới nước, cùng với tiếng nước ì oạp có thể nghe thấy tiếng ken két phát ra từ những hàm ràng sắc nhọn. Ngoảnh đi ngoảnh lại, những bóng đen lẫn tấm ván thuyền đều đã biến mất.
“Công chúa thấy chưa? Bọn chúng có thể nhai nát cả một chiếc thuyền lớn trong nháy mắt.” Đội trưởng đội cấm vệ nói.
“Đảo Mộ ở đâu?” Bà Rộng hỏi.
“Ở phía kia,” Đội trưởng đội cấm vệ chỉ vào chỗ biển trời giao nhau tăm tối, “ban đêm không thấy được, trời sáng là sẽ thấy ngay.”
Họ nghỉ đêm ngoài trời trên bãi cát. Bà Rộng đưa ô cho đội trưởng cầm, lấy trên xe ngựa xuống một cái chậu gỗ nhỏ.
“Công chúa, hôm nay không thể tắm rửa được rồi, nhưng ít nhất công chúa cũng phải rửa mặt một chút.”
Đội trưởng trả lại ô cho bà Rộng, nói rằng anh ta sẽ đi tìm nước, rồi cầm chậu gỗ biến mất vào màn đêm.
“Cậu ta là một chàng trai tốt.” Bà Rộng ngáp dài nói.
Đội trưởng nhanh chóng quay lại, không biết múc ở đâu được một chậu nước sạch. Bà Rộng bắt đầu rửa mặt cho công chúa, bà lấy ra một cục xà phòng, chỉ chấm nhẹ một cái, sau tiếng ục ục khe khẽ, trong chậu nước lập tức tràn đầy bọt bong bóng trắng như tuyết, phồng lên thành một đám hình tròn không ngừng trào ra ngoài mép chậu.
Đội trưởng trở mắt nhìn đống bọt ấy một lúc, đoạn nói với bà Rộng: “Cho tôi xem cục xà phòng đó nào.”
Bà Rộng cẩn trọng lấy trong túi ra một cục xà phòng trắng như tuyết, đưa cho đội trưởng: “Cầm cẩn thận vào, nó còn nhẹ hơn cả lông vũ, không có chút trọng lượng nào đâu, tuột tay là bay mất luôn đấy.”
Đội trưởng đón lấy cục xà phòng, thực sự không cảm giác được chút trọng lượng nào, như thể anh đang cầm một cái bóng màu trắng vậy. “Đây đúng là xà phòng thơm từ He'ershingenmosiken, giờ mà vẫn còn món này à?”
“Tôi chỉ có hai cục thôi, của hoàng cung, mà tôi nghĩ cả vương quốc cũng chỉ còn lại hai cục cuối cùng này nữa thôi, đây là tôi cố ý giữ lại cho công chúa từ hồi xưa đấy. Chậc, đồ của He’ershingenmosiken thứ gì cũng tốt, tiếc là giờ đây càng ngày càng hiếm.” Bà Rộng nói, rồi nhận lại cục xà phòng, cẩn thận bỏ vào trong túi.
Nhìn đống bọt trắng ấy, lần đầu tiên kể từ khi xuất hành, công chúa nhớ lại cuộc sống trong hoàng cung. Mỗi buổi tối, trong phòng tắm đẹp đẽ hoa lệ của nàng, trên mặt bể tắm đều nổi lên dúm bọt lớn như thế này, ánh đèn từ nhiều hướng khác nhau chiếu tới, dúm bọt lớn lúc thì trắng như tuyết, như thể một dúm mây được kéo xuống từ bầu trời ban ngày; lúc lại biến ảo ra nhiều màu sắc, trông như một vốc đá quý. Ngâm mình trong dúm bọt xà phòng ấy, công chúa có cảm giác cơ thể mình mềm nhũn ra như sợi mì, cảm thấy mình đang tan ra, trở thành một phần của dúm bọt, cảm giác dễ chịu ấy khiến nàng không muốn nhúc nhích, để mặc cho các nữ tỳ ẵm ra ngoài lau khô, rồi lại ôm nàng đặt lên giường đi ngủ. Cảm giác tuyệt diệu ấy có thể kéo dài đến tận sáng sớm ngày hôm sau.
Lúc này đây, gương mặt rửa bằng xà phòng He’ershingenmosiken của công chúa rất nhẹ nhàng mềm mại, nhưng cơ thể thì cứng đờ và mệt mỏi. Sau khi ăn một chút, nàng nằm xuống bãi cát, thoạt tiên còn trải một tấn thảm, về sau lại phát hiện ra nằm thẳng xuống nền cát còn dễ chịu hơn. Lớp cát mềm mại lưu giữ nhiệt độ của ánh dương ban ngày, nàng có cảm giác như được một bàn tay khổng lồ ấm áp nâng niu, tiếng sóng như khúc nhạc thôi miên, thoáng cái nàng đã ngủ thiếp đi.
Không biết trôi qua bao lâu, công chúa Hạt sương bị tiếng chuông làm giật mình tỉnh khỏi giấc ngủ say ngọt ngào không mộng mị, âm thanh uy phát ra từ chiếc ô đen đang xoay phía trên nàng. Bà Rộng nằm ngủ bên cạnh nàng, người che ô là đội trưởng đội cấm vệ, ngọn đuốc đã tắt, màn đêm như thể một chiếc chăn nhung trùm lên tất cả. Đội trưởng là một hình cắt mờ trên nền bầu trời sao, chỉ có áo giúp phản chiếu ánh sao, và nàng còn thấy mái tóc anh bị gió biển thổi thốc lên nữa. Chiếc ô xoay đều đều trên tay anh, như một mái vòm nho nhỏ che khuất nửa bầu trời đêm. Công chúa không thấy đôi mắt đội trưởng, nhưng có thể cảm nhận được ánh mắt của anh, anh cùng với vô số ngôi sao nhấp nháy đang ngắm nhìn nàng
“Xin lỗi, công chúa, vừa nãy tôi xoay nhanh quá.” Đội trưởng khẽ nói.
“Giờ là lúc nào rồi?”
“Đã quá nửa đêm.”
“Chúng ta hình như đã lùi xa khỏi biển nhỉ.”
“Công chúa, đó là triều rút, nước biển đã rút xuống rồi, sáng sớm mai sẽ lại dâng lên.”
“Hai người luân phiên che ô cho ta sao?”
“Vâng, công chúa, bà Rộng đã che cả ngày rồi, để buổi đêm tôi che thêm một lúc.”
“Anh cũng đánh xe cả ngày rồi còn gì, để ta tự che một lúc, anh cũng ngủ đi.”
Lúc nói ra những lời này, chính bản thân công chúa Hạt Sương cũng hơi ngạc nhiên, trong ký ức của nàng, đây là lần đầu tiên nàng nghĩ cho người khác.
“Không được đâu công chúa, tay của người mềm mại, mịn màng như thế, sẽ bị chà xát sưng phồng lên mất, cứ để tôi che ô cho công chúa.”
“Anh tên là gì nhỉ?”
Đồng hành cả ngày trời, giờ nàng mới hỏi tên anh. Nếu là trước đây, công chúa sẽ cảm thấy rất bình thường, thậm chí mãi mãi không bao giờ hỏi thì cũng rất bình thường, nhưng giờ nàng lại cảm thấy có chút áy náy.
“Tôi tên là Buồm Dài.”
“Buồm à?” Công chúa ngoảnh đầu ngó nghiêng, giờ họ đang ở bên cạnh một con thuyền lớn trên bãi cát, nơi này có thể tránh được gió biển. Khác với những con thuyền mắc cạn trên bờ biển khác, con thuyền này vẫn còn cột buồm nguyên vẹn, trông như một thanh kiếm chỉ thẳng lên bầu trời sao. “Buồm là tấm vải lớn giăng trên cây cột này phải không?”
“Đúng thế, công chúa, đó là cột buồm, căng buồm lên, gió thổi vào cánh buồm để thuyền chuyển động.”
“Trên mặt biển, những cánh buồm trắng như tuyết ấy đẹp mắt lắm.”
“Đó là ở trong tranh thôi, cánh buồm thật không trắng như thế đâu.”
“Hình như anh là người He’ershingenmosiken?”
“Vâng, thưa công chúa, cha tôi là một kiến trúc sư ở He'ershingenmosiken, từ khi tôi còn rất nhỏ, ông đã dẫn cả gia đình đến đây.”
“Anh có muốn về nhà không, ý ta là về He'ershingenmosiken ấy?”
“Không muốn lắm, tôi đã rời khỏi nơi đó từ nhỏ, không nhớ rõ lắm, vả lại có muốn cũng chẳng làm được gì, giờ tôi mãi mãi không thể nào rời khỏi vương quốc Không Chuyện Kể nữa rồi.”
Đằng xa, sóng biển rì rào rì rào, như thể đang lặp đi lặp lại câu nói của Buồm Dài: Mãi mãi không thể, mãi mãi không thể.
“Kể cho ta nghe chuyện về thế giới bên ngoài đi, ta chẳng biết gì cả.” Công chúa nói.
“Người không cần phải biết, người là công chúa của vương quốc Không Chuyện Kể, đối với người, vương quốc đương nhiên là không có câu chuyện gì cả. Thực ra, thưa công chúa, người bên ngoài cũng không kể chuyên cho trẻ con đâu, nhưng cha mẹ tôi thì khác, họ là người He'ershingenmosiken, họ vẫn kể cho tôi nghe vài câu chuyện.”
“Kỳ thực, phụ vương từng nói, vương quốc Không Chuyện Kể trước đây cũng có chuyện kể.”
“Vâng... thưa công chúa, người biết xung quanh vương quốc chúng ta đều là biển đúng không, hoàng cung ở trung tâm của vương quốc, đi về bất cứ hướng nào, cuối cùng cũng sẽ đến bên bờ biển, vương quốc Không Chuyện Kể chính là một hòn đảo lớn.”
“Chuyện này thì ta biết.”
“Trước đây, biển xung quanh vương quốc không gọi là biển Thao Thiết, lúc đấy dưới biển không có cá Thao Thiết, thuyền bè có thể tự do đi lại trên mặt biển, giữa vương quốc Không Chuyện Kể và He'ershingenmosiken mỗi ngày đều cổ vô số tàu thuyền qua lại. Khi ấy, vương quốc Không Chuyên Kể thực ra gọi là vương quốc Chuyện Kể, cuộc sống lúc đó và bây giờ khác nhau nhiều lắm.”
“Hả?”
“Cuộc sống khi ấy đầy những câu chuyện, đầy những thay đổi và ngạc nhiên. Khi ấy, trong vương quốc có mấy thành thị rất phồn hoa, xung quanh hoàng cung không phải là rừng rậm và đồng hoang, mà là kinh thành phồn hoa. Trong thành, đâu đâu cũng có thể thấy những món đồ hiếm lạ quý báu và các vật dụng kỳ quái đến từ He’ershingenmosiken. Sản vật của vương quốc Không Chuyên Kể, à không, vương quốc Chuyện Kể cũng liên tục được vận chuyển dường biển đến He’ershingenmosiken. Thời đó, cuộc sống của mọi người biến đổi không ngừng, giống như phóng ngựa như hay trong núi vậy, lúc thì xông lên đỉnh núi, lúc lại lao xuống khe sâu, đầy những cơ hội và nguy hiểm. Người nghèo có thể phất lên trong một đêm, nhà giàu cũng có thể trắng tay trong chớp mắt, sáng sớm tỉnh lại, không ai biết được hôm nay sẽ xảy ra chuyện gì, sẽ gặp người như thế nào. Đâu đâu cũng đầy rẫy sự kích thích và những niềm vui bất ngờ.
“Nhưng một ngày nọ, một con thuyền buôn đến từ He'ershingenmosiken mang theo một loài cá nhỏ quý hiếm. Loài cá này chỉ nhỏ bằng ngón tay, màu đen, bề ngoài không có gì đặc biệt, đựng trong thùng nước đúc bằng sắt rất cứng rắn. Thương nhân bán cá biểu diễn ở chợ phiên của vương quốc, ông ta nhúng một thanh kiếm vào thùng nước, chỉ nghe thấy một loạt tiếng 'két két két két' chói tai vang lên, lúc rút ra, thanh kiếm đã bị cắn nham nhở như răng cưa. Loài cá này gọi là cá Thao Thiết, là một loài cá nước ngọt ở sâu trong lục địa, chúng sinh trưởng ở những hồ nước tăm tối sâu bên trong các hang động ở He’ershingenmosiken. Cá Thao Thiết bán rất chạy, vì răng của chúng tuy nhỏ, nhưng lại cứng rắn như kim cương, có thể làm mũi khoan; vây của chúng cũng rất sắc nhọn, có thể làm đầu mũi tên hoặc dao nhỏ. Vì vậy, càng ngày càng có nhiều cá Thao Thiết được chuyển từ He’ershingenmosiken đến vương quốc. Trong một trận bão, một con tàu chở cá bị đắm ở vùng bờ biển của vương quốc, hơn hai mươi thùng cá trên tàu đều bị đổ xuống biển.
“Người ta phát hiện ra, ở dưới biển cá Thao Thiết có thể sinh trưởng nhanh chóng, còn to hơn trên đất liền nhiều, có thể dài hơn chiều cao của một người, đồng thời chúng sinh đẻ cũng cực nhanh, số lượng tăng lên một cách thần tốc. Cá Thao Thiết bắt đầu ăn tất cả mọi thứ nổi trên mặt biển, những tàu thuyền không kịp kéo lên bờ, dù cho lớn đến mấy cũng đều bị chúng gặm thành những mảnh vụn. Khi một con tàu lớn bị đàn cá Thao Thiết bao vây, đáy tàu sẽ nhanh chóng bị gặm ra một cái lỗ lớn, nhưng còn chưa kịp chìm thì đã bị cắn nát thành mảnh vụn trên mặt biển luôn rồi, như thể tan ra vậy. Đàn cá bơi quanh đường bờ biển của vương quốc Chuyện Kể, nhanh chóng tạo thành một vòng vây bao xung quanh vương quốc.
“Như thế, vương quốc Chuyện Kể bị đàn cá Thao Thiết bao vây, vùng ven biển đã trở thành đất chết, không còn tàu thuyền và cánh buồm nào nữa, vương quốc bị phong tỏa, cắt đứt toàn bộ liên hệ với He’ershingenmosiken và thế giới bên ngoài, bắt đầu cuộc sống nông nghiệp tự cấp tự túc. Thành thị phồn hoa biến mất, trở thành những thôn trấn nhỏ và đồng chăn thả, cuộc sống ngày một lặng lẽ, bình thường, không còn đổi thay nữa, không còn sự kích thích và những niềm vui bất ngờ nữa, hôm qua giống hôm nay, hôm nay giống ngày mai. Người ta dần dần thích ứng với cuộc sống này, không còn nghĩ về cuộc sống khác nữa. Những ký ức về quá khứ, cũng giống như các món vật phẩm kỳ dị đến từ He’ershingenmosiken kia, càng lúc càng trở nên hiếm hoi, mọi người thậm chí còn cố tình quên đi quá khứ, cũng quên đi cả hiện tại. Nói tóm lại là không cần các câu chuyện kể nữa, họ dựng nên một cuộc sống không còn chuyện kể, vương quốc chuyện Kể cũng biến thành vương quốc Không Chuyện Kể.”
Công chúa Hạt Sương say sưa lắng nghe, Buồm Dài dừng lại một lúc lâu, nàng mới lên tiếng hỏi: “Giờ ở dưới biển khắp nơi đều là cá Thao Thiết à?”
“Không, chỉ có ở vùng duyên hải vương quốc Không Chuyện Kể này thôi, những người thị lực tốt có khi cũng trông thấy lũ chim biển kiếm ăn trên mặt biển cách bờ rất xa, chỗ đó không có cá Thao Thiết. Biển rộng lắm, không có bờ bến.”
“Có nghĩa là, trên thế giới ngoài vương quốc Không Chuyện Kể và He’ershingenmosiken, vẫn còn những nơi khác nữa?”
“Công chúa, người cho rằng thế giới chỉ có hai nơi này thôi sao?”
“Hồi nhỏ, thái sư dạy ta nói như vậy đấy.”
“Chính bản thân ông ta còn không tin được những lời này. Thế giới rộng lớn lắm, đại dương bao la bát ngát, có vô số hòn đảo, có đảo nhỏ hơn vương quốc chúng ta, cũng có đảo lớn hơn; còn có cả đại lục nữa?
“Đại lục là gì?”
“Là đất liền rộng mênh mông như biển vậy, cưỡi ngựa phóng mấy tháng cũng không đi hết.”
“Thế giới này lớn vậy sao?” Công chúa khẽ cảm thán, lại đột nhiên hỏi, “Anh có trông thấy ta không?”
“Công chúa, giờ tôi chỉ thấy được đôi mắt người, trong đó có sao sáng lấp lánh?”
“Vậy thì anh có thể thấy được khát khao của ta, ta thật rất muốn được dong thuyền buồm trên biển, đến những nơi thật xa thật xa.”
“Không thể được nữa rồi, công chúa, chúng ta mãi mãi không thể rời khỏi vương quốc Không Chuyện Kể, mãi mãi không thể... Nếu người sợ bóng tối, tôi có thể châm đuốc lên.”
“Được.”
Sau khi ngọn đuốc được châm lên, công chúa Hạt Sương nhìn đội trưởng đội cấm vệ, phát hiện ra ánh mắt anh đang hướng về phía khác.
“Anh đang nhìn gì đó?” Công chúa khẽ hỏi.
“Chỗ đó, công chúa, người hãy nhìn chỗ đó.”
Buồm Dài chỉ vào một bụi cỏ nhỏ mọc trên cát bên cạnh công chúa, trên lá cỏ có mấy hạt nước be bé, lóng lánh trong ánh lửa.
“Đó là những hạt sương.” Buồm Dài nói.
“Ồ, đó là ta à? Cố giống ta không?”
“Có giống người, công chúa, đều xinh đẹp như pha lê vậy.”
“Khi trời sáng, chúng sẽ càng thêm xinh đẹp hơn dưới ánh Mặt trời?
Đội trưởng phát ra một tiếng thở dài, rất thấp, gần như không nghe thấy âm thanh, nhưng công chúa cảm nhận được.
“Sao vậy, Buồm Dài?”
Dưới ánh Mặt trời, những hạt sương sẽ nhanh chóng bốc hơi và biển mất.”
Công chúa gật đầu khe khẽ, dưới ánh lửa, đôi mắt nàng đã u ám đi phần nào, “Thế thì lại càng giống ta hơn, chiếc ô này mà khép lại, ta cũng sẽ biến mất, ta chính là một hạt sương dưới ánh Mặt trời”
“Tôi sẽ không để người biến mất đâu, công chúa”
“Anh biết, ta cũng biết, chúng ta không thể đến được đảo Mộ, cũng không thể đưa hoàng tử Nước Sâu quay về.”
“Nếu thế, tôi sẽ mãi mãi che ô cho người, công chúa.”
CÂU CHUYỆN THỨ BA CỦA VÂN THIÊN MINH: HOÀNG TỬ NƯỚC SÂU
Khi công chúa Hạt Sương tỉnh lại lần nữa, trời đã sáng, biển đã chuyển từ màu đen sang xanh lam, nhưng công chúa vẫn có cảm giác hoàn toàn khác với biển lớn mà mình từng thấy trong tranh, vẻ mênh mông vừa bị màn đêm che đậy giờ trải rộng ra trước mắt, dưới ánh sáng buổi sớm mai, mặt biển là một vùng mênh mang trống trải. Nhưng trong tưởng tượng của công chúa, sự trống trải này không phải do cá Thao Thiết gây ra, mà biển trống trải như thế là vì nàng, như thể cung điện của công chúa trong hoàng cung để trống chờ nàng vào ở vậy. Nguyện vọng mà nàng nói với Buồm Dài hồi đêm giờ lại càng thêm mạnh mẽ, nàng tưởng tượng trên mặt biển mênh mang kia xuất hiện một cánh buồm trắng thuộc về mình, theo gió lướt đi rồi biến mất ở nơi xa tít tắp.
Lúc này, bà Rộng đang che ô cho nàng, đội trưởng cấm vệ đứng trên bãi biển phía trước vẫy tay, bảo họ đi qua chỗ đó. Sau khi họ đi tối, anh chỉ về phía biển nói: “Nhìn kia, đó chính là đảo Mộ.”
Thứ đầu tiên công chúa nhìn thấy không phải đảo Mộ mà là người khổng lồ đứng trên hòn đảo nhỏ ấy, đó rõ ràng chính là hoàng tử Nước Sâu. Chàng đứng sừng sững đội trời đạp đất trên đảo, như một ngọn núi lẻ loi trên biển, chàng có làn da nâu rám nắng, cơ bắp cường tráng như thể những tảng đá trên núi cao, mái tóc chàng bay bay trong gió biển, như cây cối trên ngọn núi. Chàng trông rất giống Cát Băng, nhưng cường tráng hơn Cát Băng, cũng không có vẻ u ám như người em, ánh mắt và nét mặt chàng đều đem đến một thứ cảm giác khoáng đạt, độ lượng như biển lớn vậy. Lúc này Mặt trời vẫn chưa lên cao, nhưng đỉnh đầu người khổng lồ đã tắm trong ánh dương, sắc vàng rực rỡ như lửa. Chàng đang giơ bàn tay khổng lồ che nắng nhìn về phía xa, trong một khoảnh khắc, công chúa cảm thấy ánh mắt của mình và người khổng lồ ấy chạm nhau, nàng bèn nhảy lên hét vang:
“Anh Nước Sâu! Em là Hạt Sương! Em là em gái Hạt Sương của anh đây! Bọn em ở đây!”
Người khổng lồ không có phản ứng, ánh mắt chàng lướt qua phía này, rồi chuyển sang nơi khác, sau đó buông tay xuống, lắc đầu như thể đang suy tư gì đó, rồi quay sang hướng khác.
“Sao anh ấy không chú ý đến chúng ta?” Công chúa nôn nóng hỏi.
“Ai lại đi chú ý đến ba con kiến nhỏ ở tít đằng xa chứ?” Đội trưởng cấm vệ đáp, sau đó quay sang bà Rộng: “Tôi đã bảo hoàng tử Nước Sâu là người khổng lồ còn gì, giờ bà cũng thấy rồi.”
“Nhưng hồi tôi bế cậu ấy, rõ ràng là một đứa trẻ sơ sinh bé xíu mà! Sao lại cao như vậy được? Nhưng người khổng lồ cũng tốt mà, không ai ngăn cản được cậu ấy, cậu ấy có thể trừng phạt bọn ác ôn kia, tìm bức tranh của công chúa về!”
“Vậy thì trước tiên phải cho hoàng tử biết ở đây đã xảy ra chuyện gì đã.” Đội trưởng cấm vệ lắc đầu.
“Ta muốn qua đó, chúng ta cần phải qua bên đó! Lên đảo Mộ!” Công chúa níu lấy Buồm Dài nói.
“Không thể qua được, công chúa, bao nhiêu năm rồi không ai lên được đảo Mộ, trên đảo đó cũng không ai quay về được.”
“Không nghĩ ra được cách nào sao?” Công chúa cuống quýt rơi nước mắt, “Chúng ta đến đây chính là để tìm anh ấy mà, anh chắc hẳn biết phải làm sao chứ?”
Nhìn công chúa nước mắt lưng tròng, Buồm Dài cảm thấy rất bứt rứt, “Tôi thật sự không có cách nào, đến nơi này là đúng rồi, công chúa cần phải rời xa hoàng cung, bằng không thì chỉ có chờ chết, nhưng ngay từ đầu tôi đã biết là không thể nào đến được đảo Mộ. Có lẽ... Có thể dùng chim bồ câu chuyển cho hoàng tử một bức thư!”
“Hay quá, giờ chúng ta đi tìm chim bồ câu đưa thư.”
“Nhưng thể thì có ích gì chứ? Cho dù hoàng tử nhận được thư thì cũng không thể sang đây được. Mặc dù hoàng tử là người khổng lồ, nhưng xuống dưới biển cũng sẽ bị cá Thao Thiết cắn nát... Trước tiên, ăn sáng rồi nghĩ cách sau vậy, để tôi đi chuẩn bị.”
“Ôi chao, cái chậu của tôi!” Bà Rộng kêu lên, vì triều lên, nước biển tràn vào bãi cát, cuốn ra hiển chiếc chậu gỗ mà tối qua công chúa dùng rửa mặt. Chậu đã trôi ra biển được một quãng, bị úp ngược xuống, nước rửa mặt bên trong quấy lên một mảng bọt xà phòng trắng xóa trên mặt biển. Có thể trông thấy mấy con cá Thao Thiết đang bơi về phía chậu, vây cá đen nhánh trông như thanh dao sắc vạch toang dòng nước, chiếc chậu gỗ sắp bị chúng dùng răng phá nát ra rồi.
Nhưng một chuyện không thể tưởng tượng đã xảy ra: cá Thao Thiết không cắn xé cái chậu gỗ, chúng bơi cả vào mảng bọt xà phòng kia, vừa chạm phải bọt xà phòng, chúng liền ngừng chuyển động, nổi hết lên mặt nước, vẻ hung hãn hoàn toàn biến mất, biến thành bộ dạng uể oải lười nhác, có con còn ngoe nguẩy vẫy đuôi, không phải để bơi mà chỉ để thể hiện sự thỏa mãn; có con thậm chí nằm ngửa trên mặt nước, phơi ra phần bụng màu trắng.
Ba người kinh ngạc quan sát một hồi, công chúa nói: “Ta biết cảm giác của chúng) bọn chúng rất thoải mái ở trong đám bọt ấy, toàn thân mềm nhũn ra như thể không có xương vậy, không muốn nhúc nhích gì cả.”
Bà Rộng nói: “Xà phòng thơm của He'ershingenmosiken quả là đồ tốt, đáng tiếc là chỉ còn lại có hai bánh thôi.”
Đội trưởng nói: “Kể cả ở He'ershingenmosiken thì thứ xà phòng thơm này cũng rất quý hiếm. Hai người có biết nó được chế tạo ra như thế nào không? Ở He'ershingenmosiken có một khu rừng thần kỳ, cây ở đó gọi là cây bong bóng, đều đã mọc hơn một nghìn năm, vô cùng cao lớn. Bình thường, cây bong bóng không có gì đặc biệt, nhưng nếu có gió lớn, sẽ thổi cây bong bóng bay ra bong bổng xà phòng, gió càng lớn thì bong bóng thổi ra càng nhiều, xà phòng thơm của He’ershingenmosiken chính là làm bằng những bong bóng ấy. Thu thập loại bong bóng này hết sức khó khăn, chúng bay rất nhanh trong gió lớn, thêm nữa lạỉ còn trong suốt, đứng một chỗ thì rất khó nhìn thấy chúng, chỉ khi chạy nhanh ngang với chúng mới nhìn thấy được. Cưỡi những con ngựa chạy nhanh nhất mới có thể đuổi kịp bong hóng trong gió, mà ngựa chạy nhanh như vậy thì toàn bộ vùng He'ershingenmosiken không có đến mười con. Khi bong bóng thổi ra, những người làm xà phòng sẽ cưỡi ngựa chạy hết tốc lực xuôi theo chiều gió, vớt lấy bong bóng bằng một cái túi lưới voan mỏng. Những bong bóng ấy có cái lớn cái nhỏ, nhưng dù là bong bóng lớn nhất thì sau khi bị vớt vào túi lưới đều vỡ ra, chỉ còn lại một chút xíu mà mắt thường khó lòng nhìn thấy. Họ phải thu thập mấy trăm nghìn, thậm chí là hơn triệu bong bóng mới làm ra được một bánh xà phòng, nhưng mỗi bong bóng thần kỳ trong bánh xà phòng đó mà hòa tan trong nước, sẽ lại có thể sinh ra hàng triệu bong bóng khác, đây chính là nguyên nhân xà phòng He’ershingenmosiken có nhiều bọt như vậy. Bong bóng của cây bong bóng không có trọng lượng, vì vậy xà phòng He'ershingenmosiken đích thực cũng không có trọng lượng, đó là thứ nhẹ nhất trên thế gian này, nhưng rất quý hiếm. Những bánh xà phòng của bà Rộng có lẽ là quà tặng của đoàn sứ giả He’ershingenmosiken mang đến khi quốc vương lên ngôi, về sau..”
Buồm Dài đột nhiên ngừng kể, trầm ngâm nhìn mặt hiển như đang ngẫm nghĩ điều gì. Ở đó, trong đám bong bóng xà phòng He'ershingenmosiken trắng như tuyết, mấy con cá Thao Thiết vẫn biếng nhác nằm đó, trước mặt bọn chúng, là cải chậu gỗ nguyên vẹn không hề tổn hại gì.
“Có lẽ có cách lên được đảo Mộ!” Buồm Dài chỉ vào cái chậu gỗ trên mặt biển, “Hai người nghĩ thử xem, nếu đó là một con thuyền nhỏ thì sao?”
“Đừng hòng!” Bà Rộng kêu lên, “Công chúa sao có thể mạo hiểm như thế được?”
“Tất nhiên công chúa không thể đi, tôi sẽ đi.” Đội trưởng cấm vệ dời mắt không nhìn về phía mặt biển nữa, trong đôi mắt kiên định của anh, công chúa nhận ra anh đã hạ quyết tâm.
“Anh đi một mình, làm sao hoàng tử Nước Sâu tin anh được?” Công chúa nói, nàng hưng phấn đến độ gương mặt đỏ bừng: “Ta đi, ta cần phải đi!”
“Nhưng dù công chúa có lên đảo, thì cũng làm sao chứng minh được thân phận của mình ?” Đội trưởng cấm vệ đưa mắt liếc qua công chúa Hạt Sương đang mặc trang phục dân thường.
Bà Rộng không nói gì, bà biết rằng có cách.
“Chúng ta có thể nhỏ máu nhận người thân.” Công chúa nói.
“Kể cả vậy công chúa cũng không được đi! Chuyện này quá kinh khủng!” Bà Rộng nói, nhưng giọng điệu bà đã không còn quyết liệt như trước nữa.
“Ta đợi ở đây thì liệu có an toàn không?” Công chúa chỉ vào chiếc ô màu đen đang xoay trên tay bà Rộng, “Chúng ta quá dễ thu hút chú ý, Cát Băng sẽ nhanh chóng biết được tung tích của chúng ta, ở đây, cho dù ta có thể tạm thời tránh được bức tranh đó, thì cũng không thoát được sự truy sát của quân cấm vệ, lên đảo Mộ ngược lại còn an toàn hơn.”
Vậy là họ quyết định mạo hiểm.
Đội trưởng đội cấm vệ tìm con thuyền nhỏ nhất trên bãi cát, dùng ngựa kéo ra mép nước, ở ngay chỗ bọt sóng vừa liếm vào mũi thuyền. Không tìm thấy buồm đâu, nhưng anh tìm được hai mái chèo cũ từ một con thuyền khác. Anh để công chúa và bà Rộng đang cầm ô lên thuyền, cầm bánh xà phòng He’ershingenmosiken mà bà Rộng lấy ra xuyên vào mũi kiếm rồi đưa cho công chúa, dặn dò nàng khi thuyền vừa xuống biển hãy nhúng xà phòng vào nước ngay. Sau đó, anh đẩy thuyền xuống biển, đẩy một mạch tới chỗ nước ngập đến hông mới nhảy lên, dốc hết sức khua mái chèo, con thuyền nhỏ chở theo ba người tiến về phía đảo Mộ.
Những cái vây đen sì của lũ cá Thao Thiết xuất hiện trên mặt biển xung quanh, bao vây con thuyền nhỏ. Công chúa ngồi ở đuôi thuyền, cầm kiếm nhúng bánh xà phòng He’ershingenmosiken, chỗ đuôi thuyền lập tức trào lên một đám bọt bong bóng, trắng lóa mắt dưới ánh Mặt trời buổi sớm mai, bong bóng xà phòng nhanh chóng sủi lên đến cao hơn người, rồi theo con thuyền tiến lên mà mở rộng ra dần, tạo thành một mảng lớn trắng như tuyết trên mặt biển. Lũ cá Thao Thiết nhao nhao bơi vào trong đám bong bóng, nổi lềnh phềnh bên trong, hưởng thụ cảm giác thư thái uể oải không gì so sánh được, như thể đang nằm trên một tấm thảm nhung trắng tinh vậy. Đây là lần đầu tiên công chúa nhìn thấy cá Thao Thiết ở khoảng cách gần như vậy, ngoài phần da bụng, toàn thân chúng đều đen trùi trũi, trông như cỗ máy làm từ sắt thép, nhưng vừa bơi vào trong bong bóng xà phòng chúng liền trở nên ngoan ngoãn, biếng nhác. Con thuyền nhỏ tiến lên trên mặt biển phẳng lặng, để lại phía sau một vệt đuôi dài bong bóng xà phòng, như một dải mây trắng rơi xuống biển. Vô số cá Thao Thiết từ hai bên bơi vào trong đám bong bóng, như thể đang thực hiện một cuộc hành hương giữa dòng sông mây. Thi thoảng cũng có vài con bơi từ phía trước lại gặm vào đáy thuyền, hoặc gặm mất một miếng nhỏ của mái chèo mà đội trưởng cấm vệ cầm trên tay, nhưng bọn chúng cũng nhanh chóng bị đám bọt bong bóng phía sau thu hút, không phá hoại nhiều lắm. Nhìn vệt bong bóng như dải mây trắng tinh trên mặt biển phía sau con thuyền, cùng với lũ cá Thao Thiết đang ngây ngất bên trong, công chúa bất giác nhờ đến thiên đường trong lời giảng của mục sư.
Bờ biển xa dần, con thuyền nhỏ đang tiến gần đến đảo Mộ.
Bà Rộng đột nhiên kêu lên: “Nhìn kìa, hoàng tử Nước Sâu hình như đã thấp hơn một chút!”
Công chúa ngoảnh đầu lại nhìn, bà Rộng nói đúng thật, hoàng tử trên đảo vẫn là một người khổng lồ, nhưng so với khi nhìn từ trên bờ thì rõ ràng đã thấp hơn một chút, lúc này chàng vẫn quay lưng về phía họ, đôi mắt nhìn về một hướng khác.
Công chúa đưa mắt nhìn Buồm Dài đang khua mái chèo, lúc này anh trông còn cường tráng, mạnh mẽ hơn, những khối cơ bắp khỏe mạnh gồ lên, hai mái chèo trong tay anh tựa như một đôi cánh đang bay lượn, đẩy chiếc thuyền nhỏ tiến lên vững vàng. Người đàn ông này dường như là một thủy thủ trời sinh, ở trên biển rõ ràng còn thoải mái tự nhiên hơn trên đất liền.
“Hoàng tử thấy chúng ta rồi!” Bà Rộng lại kêu lên. Trên đảo Mộ, hoàng tử Nước Sâu đã quay về bên này, một tay chỉ về phía con thuyền nhỏ, ánh mắt toát lên vẻ kinh ngạc, miệng còn đang mấp máy, hình như đang hét gì đó. Hẳn là chàng cảm thấy ngạc nhiên lắm, ngoài con thuyền nhỏ xuất hiện trên vùng biển chết chóc này ra, bọt bong bóng phía sau thuyền đã lan rộng về sau, nhìn từ độ cao ấy của chàng, trên mặt biển như thể xuất hiện một ngôi sao băng kéo theo cái đuôi trắng toát vậy.
Họ nhanh chóng biết được thì ra hoàng tử không phải đang hò hét với họ, dưới chân chàng xuất hiện mấy người có chiều cao bình thường. Từ khoảng cách này, bọn họ trông rất nhỏ bé, gương mặt cũng không thấy rõ, nhưng chắc chắn là đều nhìn về phía này, có người còn khua tay nữa.
Đảo Mộ vốn là đảo hoang, không có dân sinh sống. Hai mươi năm trước, hoàng tử Nước Sâu lên đảo câu cá, đi cùng chàng có một viên quan giám hộ, một vị thái sư, vài người lính hộ vệ và người hầu. Họ vừa lên đảo, lũ cá Thao Thiết bu lại thành đàn đã bơi đến vùng biển này, khóa chặt con đường trở về vương quốc.
Họ phát hiện, lúc này trông hoàng tử lại thấp hơn chút nữa, dường như con thuyền đến càng gần đảo Mộ, hoàng tử lại càng thấp hơn.
Thuyền nhỏ từ từ đến gần mép nước, họ đã thấy rõ những người có chiều cao bình thường kia, tổng cộng có tám người, hầu hết đều mặc quần áo thô sơ làm từ vải buồm giống như hoàng tử, trong đó có hai ông già mặc quan phục của hoàng cung, nhưng đều đã cũ kỹ rách rưới lắm rồi. Hầu hết những người này đều đeo kiếm. Họ chạy về phía bãi biển, hoàng tử theo sau ở phía xa xa, lúc này, trông chàng chỉ cao gấp đôi người bình thường, không còn là người khổng lồ nữa.
Đội trưởng cấm vệ tăng tốc khua mái chèo, con thuyền nhỏ lao lên bờ, một con sóng vỗ bờ tựa như cánh tay khổng lồ đẩy thuyền tiến lên phía trước, thân thuyền hơi rung, suýt chút nữa thì hất công chúa ngã xuống, đáy thuyền chạm vào bãi cát. Những người đã chạy tới bãi biển nhìn con thuyền nhỏ mà do dự không tiến lên nữa, rõ ràng là sợ lũ cá Thao Thiết dưới nước, nhưng vẫn cố bốn người chạy lên, giúp họ giữ vững con thuyền, đỡ công chúa bước xuống.
“Cẩn thận, công chúa không thể rời khỏi chiếc ô này!” Lúc xuống thuyền, bà Rộng cao giọng nói, đồng thời giữ chiếc ô phía trên đầu công chúa, lúc này bà đã rất thuần thục, chỉ cần một tay cũng xoay được ô.
Những người kia không hề che giấu sự ngạc nhiên, lúc thì nhìn chiếc ô đen đang xoay, lúc lại nhìn mặt biển mà con thuyền nhỏ vừa đi qua - ở đó, bọt bong bóng xà phòng He’ershingenmosiken màu trắng và vô số cá Thao Thiết nổi trên mặt biển tạo thành một con đường đen trắng xen kẽ, nối liền đảo Mộ với bờ biển của vương quốc.
Hoàng tử Nước Sâu cũng bước lên phía trước, lúc này, chiều cao của chàng không khác gì một người bình thường, thậm chí còn thấp hơn hai người cao kều trong nhóm người trên đảo một chút. Chàng nhìn mấy người mới đến mỉm cười, như một ngư dân hồn hậu, nhưng công chúa thấy được bóng dáng của vua cha ở chàng, nàng buông kiếm xuống, nước mắt trào ra, kêu lên: “Anh trai, em là Hạt Sương em gái anh đây!”
“Em giống em gái ta thật.” Hoàng tử mỉm cười gật đầu, dang rộng hai cánh tay về phía công chúa. Nhưng mấy người cùng lúc ngăn cản công chúa lại gần, tách hoàng tử khỏi ba người vừa mới đến, một trong số họ còn rút kiếm khỏi vỏ, cảnh giác nhìn chằm chằm đội trưởng cấm vệ vừa mới xuống thuyền. Buồm Dài không quan tâm đến chuyện phía này, chỉ nhặt thanh kiếm công chúa vừa ném xuống lên xem xét. Để tránh đối phương hiểu lầm, anh cẩn thận nắm phía mũi kiếm, liền nhận ra trải qua hành trình vừa rồi, cục xà phòng He’ershingenmosiken cắm ở mũi kiếm chỉ bị tan đi có khoảng một phần ba.
“Các người phải chứng minh thân phận của công chúa.” Một ông già nói, bộ triều phục củ kỹ trên người được vuốt rất phẳng phiu, gương mặt đượm vẻ phong sương, nhưng vẫn để một bộ râu rất đẹp, hiển nhiên trong những năm tháng trên hòn đảo hoang này, ông ta vẫn gắng sức duy trì phong thái của một vị quan trong vương quốc.
“Các người không nhận ra tôi à? Ông là quan giám hộ Rừng Tối, ông...” Bà Rộng chỉ vào ông già còn lại, “là thái sư Ruộng Lớn.”
Hai ông già đều khẽ gật đầu. Thái sư Ruộng Lớn nói: “Bà Rộng, bà già rồi.”
“Các ông cũng già rồi.” Bà Rộng nói, giơ một tay đang xoay ô ra lau nước mắt.
Quan giám hộ Rừng Tối không hề xúc động, vẫn thận trọng nói: “Hơn hai mươi năm rồi, chúng ta hoàn toàn không biết trong vương quốc đã xảy ra chuyện gì, vì vậy vẫn cần phải chứng thực thân phận của công chúa.” Ông quay sang phía công chúa nói: “Xin hỏi, người có đồng ý nhỏ máu kiểm nghiệm hay không?”
Công chúa gật đầu.
“Ta cảm thấy không cần thiết, nàng chắc chắn là em gái của ta.” Hoàng tử nói.
“Điện hạ, cần phải làm như vậy.” Quan giám hộ nói.
Có người mang tới hai con dao găm rất nhỏ, quan giám hộ và thái sư mỗi người cầm một con. Không giống như những thanh kiếm gì sét mà đám người này đang đeo, hai con dao găm đều sáng bóng lạnh lẽo, trông như mới. Công chúa chìa tay ra, quan giám hộ dùng dao găm khẽ vạch trên ngón trỏ trắng ngần mềm mại của nàng, dùng mũi dao lấy một giọt máu khỏi chỗ rạch. Thái sư Ruộng Lớn cũng lấy mẫu máu ở đầu ngón tay hoàng tử. Quan giám hộ đón lấy dao găm từ tay thái sư, cẩn trọng trộn hai giọt máu nơi mũi dao vào nhau, máu lập tức chuyển thành màu xanh lam thuần khiết.
“Đúng là công chúa Hạt Sương.” Quan giám hộ trang trọng nói với hoàng tử, sau đó cùng thái sư Ruộng Lớn khom người hành lễ với công chúa. Những người khác cũng đều chống kiếm quỳ một chân xuống, sau đó đứng dậy tránh sang một bên, để hoàng tử và công chúa ôm nhau.
“Hồi nhỏ ta từng bế em, hồi đó em mới lớn chừng này.” Hoàng tử huơ tay nói.
Công chúa vừa khóc vừa thuật lại chuyện đã xảy ra ở vương quốc cho hoàng tử, hoàng tử nắm tay nàng, yên lặng lắng nghe, gương mặt trẻ trung nhưng đã trải phong sương của chàng vẫn luôn ung dung và trấn tĩnh.
Mọi người đều quây xung quanh hoàng tử và công chúa, trật tự nghe công chúa kể chuyện, chỉ có đội trưởng cấm vệ làm một việc hết sức kỳ lạ. Anh lúc thì rảo bước chạy đi, đến một chỗ rất xa trên bãi biển quan sát hoàng tử, sau đó lại chạy trở về nhìn chàng từ khoảng cách gần, làm đi làm lại mấy lần như thế, sau đó bà Rộng kéo anh lại.
“Tôi nói đúng chứ, hoàng tử không phải là người khổng lồ đúng không.” Bà Rộng chỉ vào hoàng tử, hạ giọng nói.
“Hoàng tử vừa là người khổng lồ, vừa không phải.” Đội trưởng cũng hạ giọng đáp lời: “Là như thế này: khi chúng ta nhìn người bình thường, người đó ở càng xa thì trong mắt chúng ta lại càng nhỏ, phải không? Nhưng hoàng tử thì không thế, dù gần hay xa, kích cỡ của hoàng tử trong mắt chúng ta đều giống như nhau, nhìn gần thì hoàng tử cao như người bình thường, nhìn xa cũng vẫn cao như thế, vì vậy từ xa nhìn lại giống như người khổng lồ vậy.”
Bà Rộng gật đầu, “Hình như đúng là thế.”
Nghe công chúa kể xong, hoàng tử Nước Sâu chỉ nói ngắn gọn: “Chúng ta trở về.”
Có hai con thuyền trở về vương quốc, hoàng tử và ba người nhóm công chúa ngồi trên con thuyền nhỏ, tám người còn lại lên một con thuyền khác lớn hơn, chính là con thuyền đã đưa đoàn người của hoàng tử lên đảo Mộ hai mươi năm trước, đã hơi bị rò nước, nhưng vẫn có thể đi một hành trình ngắn. Bong bóng xà phòng trên đường họ tới đảo Mộ đã tan đi một ít, nhưng vô số con cá Thao Thiết vẫn đang nổi lềnh phềnh trên mặt nước, không mấy nhúc nhích, vài con bị mũi thuyền đụng phải, hoặc bị mái chèo va trúng, cũng chỉ uể oải nhích đi một chút, cũng không có động tác gì khác. Cánh buồm cũ kỹ của con thuyền lớn vẫn dùng được, đi ở phía trước, rẽ đường cho con thuyền nhỏ phía sau giữa đám cá Thao Thiết đang nổi lềnh phềnh.
“Tốt nhất công chúa vẫn nên cho xà phòng xuống nước, như thế chắc ăn hơn, ngộ nhỡ chúng nó tỉnh lại thì biết làm thể nào?” Bà Rộng nhìn lũ cá Thao Thiết đen sì sì quây xung quanh, trong lòng vẫn chưa hết sợ hãi.
Công chúa nói: “Chúng nó vẫn luôn tỉnh đấy chứ, chỉ là đang rất thoải mái, lười nhác chẳng buồn nhúc nhích đấy thôi. Chỉ còn lại có hơn một bánh xà phòng thôi, không nên lãng phí, sau này ta cũng không dùng nó để tắm nữa đâu.”
Lúc này, trên con thuyền lớn phía trước có người hét to: “Quân cấm vệ!”
Trên bờ biển vương quốc phía xa xa xuất hiện một đội kỵ binh tràn về phía sát biển như nước thủy triều đen ngòm, áo giáp và dao kiếm của các kỵ sĩ trên lưng ngựa lấp lánh dưới ánh Mặt trời.
“Tiếp tục tiến lên.” Hoàng tử Nước Sâu bình tĩnh nói.
“Bọn họ đến để giết chúng ta đó.” Sắc mặt công chúa trở nên tái nhợt.
“Đừng sợ, không sao đâu.” Hoàng tử vỗ nhẹ lên tay công chúa và nói.
Công chúa Hạt Sương nhìn anh trai, lúc này, nàng đã biết chàng là người thích hợp làm quốc vương hơn mình.
Do thuận chiều gió, mặc dù có lũ cá Thao Thiết uể oải nổi lềnh phềnh cản trở, đường về cũng nhanh hơn nhiều. Khi hai con thuyền gần như cùng lúc cập vào bãi biển, đội kỵ binh cấm vệ quân liền quây lại, đứng san sát chắn phía trước mặt như một bức tường nghiêm mật. Công chúa và bà Rộng đều kinh hãi, mặt mày tái nhợt, nhưng đội trưởng dội cấm vệ dạn dày kinh nghiệm lại thấy yên tâm hơn phần nào, anh nhận ra kiếm của đôi phương đều còn nguyên trong vỏ, giáo dài cũng đều dựng thẳng đứng; quan trọng hơn nữa là, anh thấy được đôi mắt của những binh sĩ quân cấm vệ ngồi trên lưng ngựa đó, họ đều mặc áo giáp nặng che kín mít, mặt chỉ để lộ ra đôi mắt, nhưng những đôi mắt ấy đã lướt qua bọn anh, nhìn dán vào con đường bong bóng xà phòng có vô số cá Thao Thiết nổi dập dềnh kia, ánh mắt toát lên vẻ kính sợ sâu sắc. Một viên chỉ huy tung mình xuống ngựa, chạy về phía con thuyền vừa cập bờ. Những người trên thuyền lớn đều nhảy xuống, quan giám hộ, thái sư và mây vệ sĩ cầm kiếm đứng chắn cho hoàng tử và công chúa ở phía sau mình.
“Đấy là hoàng tử Nước Sâu và công chúa Hạt Sương, không được vô lễ!” Quan giám hộ Rừng Tối giơ một cánh tay lên với đám quân cấm vệ, cao giọng hô.
Viền chỉ huy chạy tới một tay chống vào thanh kiếm cắm trên hãi cát, quỳ một chân trước hoàng tử và công chúa, “Chúng tôi biết, nhưng chúng tôi nhận lệnh đuổi giết công chúa?
“Công chúa Hạt Sương là người thừa kế ngôi báu hợp pháp! Còn hoàng tử Cát Băng là tên phản nghịch mưu hại quốc vương! Các ngươi sao có thể nghe theo lệnh hắn ?”
“Chúng tôi biết, vì vậy chúng tôi sẽ không chấp hành mệnh lệnh này, nhưng hoàng tử Cát Băng đã lên ngôi vào chiều ngày hôm qua, nên quân cấm vệ hiện nay không biết phải nghe lệnh của ai.”
Quan giám hộ còn định nói tiếp, nhưng hoàng tử Nước Sâu đã từ phía sau bước lên ngăn ông lại, nói với viên chỉ huy: “Vậy đi, ta và công chúa sẽ cùng các người trở về hoàng cung, đợi khi gặp Cát Băng, chúng ta sẽ kết thúc chuyện này.”
***
Trong cung điện xa hoa lộng lẫy nhất ở hoàng cung, Cát Băng đội vương miện trên đầu đang cùng các đại thần trung thành với y uống rượu ăn mừng. Đột nhiên có người chạy vào báo cáo, nói hoàng tử Nước Sâu và công chúa Hạt Sương đang thống lĩnh quân cấm vệ từ bờ biển cấp tốc tiến về phía hoàng cung, chừng hai tiếng nữa sẽ đến nơi. Cung điện tức khắc chìm vào im lặng
“Nước Sâu? Làm sao anh ta vượt biển được? Chẳng lẽ anh ta mọc cánh?” Cát Băng lẩm bẩm, nhưng không hề lộ vẻ sợ hãi ra mặt như những người khác, “Không sao, quân cấm vệ sẽ không nghe theo sự chỉ huy của Nước Sâu và Hạt Sương đâu, trừ phi ta chết... Họa sĩ Lỗ Kim!”
Nghe tiếng gọi của Cát Băng, họa sĩ Lỗ Kim từ trong bóng tối lặng lẽ bước ra, gã vẫn mặc chiếc áo choàng trùm đầu màu xám đó, trông càng gầy guộc hơn lúc trước.
“Ngươi, mang theo giấy Sóng Tuyết và các công cụ vẽ tranh, cưỡi ngựa chạy về phía Nước Sâu, nhìn anh ta, sau đó vẽ lại. Ngươi nhìn thấy Nước Sâu rất dễ dàng, không cần lại gần, anh ta vừa xuất hiện ở chân trời là ngươi đã có thể nhìn thấy rồi.”
“Vâng, thưa bệ hạ.” Lỗ Kim khẽ nói, sau đó lẳng lặng lủi đi như con chuột.
“Còn về Hạt Sương, một đứa con gái cũng chẳng thể làm được gì to tát, ta sẽ cướp chiếc ô ấy của nó nhanh thôi.” Cát Băng nói, rồi lại nâng ly rượu lên.
Buổi tiệc kết thúc trong bầu không khí bức bối, các đại thần đều rời đi trong tâm trạng lo âu, chỉ còn lại một mình Cát Băng ngồi trong đại sảnh rộng mênh mông trống trải.
Không biết bao lâu sau, Cát Băng thấy họa sĩ Lỗ Kim bước vào, tim y lập tức thấp thỏm, không phải vì hai tay Lỗ Kim trống không, cũng không phải vì bộ dạng của gã họa sĩ - trông bề ngoài gã họa sĩ không có gì thay đổi, vẫn là diệu bộ mẫn cảm, hết sức cẩn trọng ấy, Cát Băng kinh ngạc là vì nghe thấy tiếng bước chân của Lỗ Kim. Lúc trước, gã họa sĩ này bước đi không hề có tiếng động, như thể một con chuột xám chạy lướt qua trên mặt đất vậy, nhưng giây phút này, Cát Băng lại nghe thấy gã phát ra tiếng bước chân lập cà lập cập, dường như không thể đè nén được nhịp tim của mình vậy.
“Thưa bệ hạ, thần đã thấy hoàng tử Nước Sâu, nhưng thần không thể vẽ hắn ta được.” Lỗ Kim cúi đầu nói.
“Chẳng lẽ anh ta mọc cánh thật?” Cát Băng lạnh lùng hỏi.
“Nếu là thế thần cũng có thể vẽ được, thần có thể vẽ từng sợi lông trên đôi cánh của hắn ta đến mức sống động như thật, nhưng, thưa bệ hạ, hoàng tử Nước Sâu không mọc cánh, mà còn đáng sợ hơn: hắn ta không tuân theo luật phối cảnh.
“Phối cảnh là cái gì?”
“Mọi cảnh vật trên thế gian này trong mắt chúng ta đều là ở gần thì lớn ở xa thì nhỏ, đây chính là luật phối cảnh. Thần là họa sĩ theo trường phái phương Tây, trường phái vẽ tranh phương Tây tuân theo luật phối cảnh, vì vậy thần không thể vẽ được hắn ta.”
“Có trường phái vẽ tranh không tuân theo luật phối cảnh à?”
“Có, trường phái vẽ tranh phương Đông, thưa bệ hạ, người hãy nhìn xem, chính bức đó đấy.” Lỗ Kim chỉ vào bức tranh thủy mặc treo trên tường đại sảnh, trong tranh là cảnh núi non sông nước phiêu dạt thanh nhã, từng mảng để trắng tựa như sương lại tựa như nước, phong cách hoàn toàn khác với những bức tranh sơn dầu đậm mực nhiều màu sắc bên cạnh, “Người có thể thấy, bức tranh đó không quan tâm đến nguyên lý phối cảnh. Nhưng thần không học vẽ theo trường phái phương Đông, họa sĩ Hồn Không không chịu dạy cho thần, có lẽ ông ta nghĩ đến sẽ có ngày hôm nay.”
“Ngươi đi đi.” Hoàng tử lạnh lùng nói.
“Vâng, thưa bệ hạ, hoàng tử Nước Sâu sắp đến hoàng cung rồi, hắn ta sẽ giết thần, cũng sẽ giết người. Nhưng thần sẽ không đợi hắn đến giết, thần sẽ tự kết liễu đời mình, thần sẽ vẽ ra một bức kiệt tác đỉnh cao nhất, dùng chính sinh mạng của mình để vẽ.” Lỗ Kim nói xong liền bỏ đi, bước chân lần nữa trở nên êm ru không tiếng động.
Cát Băng gọi một tên vệ sĩ tới, nói: “Mang kiếm của ta ra đây.”
Bên ngoài có tiếng vó ngựa dồn dập, thoạt đầu còn nghe loáng thoáng, nhưng nhanh chóng đến gần, sầm sập như mưa rào, cuối cùng thì dừng phắt lại bên ngoài cung điện.
Cát Băng đứng lên, cầm kiếm bước ra khỏi cung điện. Y nhìn thấy hoàng tử Nước Sâu bước lên thềm đá dài rộng phía trước cung điện, công chúa Hạt Sương đi theo phía sau, bà Rộng đang che chiếc ô đen cho nàng. Trên quảng trường bên dưới thềm đã là đội quân cấm vệ xếp thành trận thế chỉnh tề, quân lính chỉ lặng lẽ chờ đợi, không bày tỏ thái độ rõ ràng là ủng hộ bên nào. Khi Cát Băng vừa nhìn thấy hoàng tử Nước Sâu, chàng cao gấp đôi người bình thường, nhưng chàng càng lại gần trên những bậc thềm đá, chiều cao của chàng càng hạ thấp dần trong mắt Cát Băng.
Trong một khoảnh khắc, dòng suy nghĩ của Cát Băng trở về với thuở ấu thơ hơn hai mươi năm trước. Lúc đó, y đã biết đàn cá Thao Thiết đang bơi về phía vùng biển đảo Mộ, nhưng vẫn gạt Nước Sâu lên đảo câu cá. Lúc đó, vua cha lo lắng đến nỗi ngã bệnh, y đã bảo với Nước Sâu, trên đảo Mộ có một loại cá, làm thành dầu gan cá có thể chữa được bệnh cho vua cha. Hoàng tử Nước Sâu xưa nay luôn thận trọng vững vàng không ngờ lại tin lời y, kết quả đúng như y mong muốn, Nước Sâu có đi mà không có về, cả vương quốc không ai biết được sự thật này, đây là chuyện mà y vẫn lấy làm đắc ý nhất.
Cát Băng nhanh chóng cắt đứt mạch tư duy trở về với hiện tại, Nước Sâu đã đi tới khoảng sân rộng rãi trước cung điện, chiều cao của chàng đã như người bình thường rồi.
Cát Băng nhìn Nước Sâu, nói: “Anh trai của ta, chào mừng anh và em gái trở về, nhưng các người cần phải hiểu, đây là vương quốc của ta, ta là quốc vương, các người cần phải tuyên bố thần phục ta ngay lập tức.”
Nước Sâu đặt một tay lên chuôi thanh kiếm gì sét giắt ở thắt lưng, một tay chỉ vào Cát Băng nói: “Ngươi đã phạm phải tội ác không thể tha thứ!”
Cát Băng cười lạnh lùng: “Lỗ Kim không thể vẽ được anh, nhưng kiếm sắc của ta có thể đâm xuyên trái tim anh!” Nói đoạn, y liên rút kiếm khỏi vỏ.
Kiếm thuật của Cát Băng và Nước Sâu không phân cao thấp, nhưng vì Nước Sâu không tuân theo nguyên lý phối cảnh, Cát Băng rất khó phán đoán chuẩn xác khoảng cách giữa mình và đối thủ, nên thua thiệt rõ rệt. Cuộc quyết đấu mau chóng kết thúc, Cát Băng bị kiếm của Nước Sâu đâm xuyên ngực, lăn từ trên đài cao xuống dưới, kéo theo một vết máu dài trên những bậc thềm dá.
Quân cấm vệ hoan hô vang dội, bọn họ tuyên bố trung thành với hoàng tử Nước Sâu và công chúa Hạt Sương.
Cùng lúc đó, đội trưởng cấm vệ đi tìm họa sĩ Lỗ Kim trong hoàng cung. Có người nói với anh, gã họa sĩ đã đến phòng vẽ riêng của mình. Phòng vẽ nằm trong một góc vắng vẻ của hoàng cung, bình thường canh phòng rất nghiêm ngặt, nhưng do biến cố bất ngờ xảy ra trong hoàng cung, hầu hết quân cấm vệ đều đã rời đi, chỉ còn lại một tên lính gác. Người này vốn là thuộc hạ củ của Buồm Dài, anh ta nói rằng Lỗ Kim đã vào phòng vẽ một tiếng trước và vẫn ở trong đó không ra ngoài. Đội trưởng cấm vệ liền đạp cửa xông vào.
Phòng vẽ không có cửa sổ, nến trên hai giá nến bằng bạc đã cháy gần hết, khiến nơi này âm u lạnh lẽo như căn hầm ngầm dưới lòng đất. Đội trưởng cấm vệ không thấy họa sĩ Lỗ Kim đâu, cân phòng không một bóng người, nhưng anh thấy một bức tranh trên giá vẽ, vừa mới hoàn thành, màu vẽ còn chưa khô, đây là tranh tự họa của Lỗ Kim. Quả thực là một kiệt tác tinh xảo tuyệt trần, bức tranh tựa như cửa sổ mở thông sang một thế giới khác, Lỗ Kim đang ở phía bên kia cửa sổ nhìn về thế giới này. Mặc dù một góc tờ giấy Sóng Tuyết cong lên chứng tỏ đây chỉ là một bức tranh không có sự sống, nhưng đội trưởng cấm vệ vẫn gắng sức tránh ánh mắt sắc bén của người trong tranh.
Buồm Dài đưa mắt nhìn quanh, thấy trên tường treo một dãy những bức tranh chân dung, có quốc vương, hoàng hậu và các vị đại thần trung thành với họ, vừa liếc mắt anh đã nhận ra tranh vẽ công chúa Hạt Sương trong số đó. Nàng công chúa trong tranh khiến anh có cảm giác căn phòng vẽ tăm tối này sáng bừng lên như cõi thiên quốc, đôi mắt người trong tranh đã hút mất hồn phách anh, khiến anh đắm chìm trong đó một hồi thật lâu. Cuối cùng, Buồm Dài vẫn tỉnh táo lại, anh gỡ bức tranh xuống, tháo ra khỏi khung tranh, cuộn lại rồi không hề do dự châm vào ngọn nến.
Bức tranh vừa cháy hết, cánh cửa mở ra, công chúa Hạt Sương trong hiện thực bước vắo, nàng vẫn mặc bộ trang phục dân thường giản dị kia, tự mình cầm chiếc ô màu đen.
“Bà Rộng đâu?” Buồm Dài hỏi.
“Ta không để bà ấy đi cùng, ta có lời muốn nói với chàng.”
“Bức tranh của công chúa đã bị đốt rồi.” Buồm Dài chỉ đống tro tàn vẫn lập lòe sắc đỏ dưới đất nói, “Không cần che ô nữa.”
Công chúa để chiếc ô trên tay quay chậm lại, nhanh chóng xuất hiện âm thanh như tiếng sơn ca, rồi mặt ô chùng xuống, tiếng chim hót càng lúc càng lớn, cũng càng lúc càng gấp gáp, cuối cùng tiếng hót sơn ca chuyển thành tiếng quạ kêu thê thiết, đó là lời cảnh cáo cuối cùng trước khi thần chết đến. Khi chiếc ô rốt cuộc cũng khép lại, cùng với tiếng lanh canh khi các quả cầu đá ở mép ô va vào nhau, chiếc ô dần trở nên im lặng.
Công chúa không sao.
Đội trưởng cấm vệ nhìn công chúa, thở phào một hơi, rồi lại cúi đầu nhìn đống tro tàn: “Tiếc quá, một bức tranh đẹp, lẽ ra nên để công chúa xem, nhưng tôi không dám kéo dài thêm nữa... Hắn vẽ đẹp thật.”
“Đẹp hơn cả ta nữa sao?”
“Đó chính là công chúa.” Buồm Dài thắm thiết nói.
Công chúa lấy ra một bánh rưỡi xà phòng He'ershingenmosiken kia, nàng vừa buông tay, hai miếng xà phòng không trọng lượng liền bồng bềnh trong không khí như những cọng lông.
“Ta muốn rời khỏi vương quốc, đi ra biển lớn, chàng có bằng lòng đi cùng ta không?” Công chúa hỏi.
“Sao cơ? Chẳng phải hoàng tử Nước Sâu đã tuyên bố, ngày mai người sẽ lên ngôi nữ hoàng hay sao? Hoàng tử còn nói sẽ dốc hết sức phù trợ cho công chúa mà.”
Công chúa lắc đầu: “Anh trai thích hợp làm quốc vương hơn ta, với lại, nếu không phải bị giam cầm trên đảo Mộ, ngôi báu lẽ ra vốn phải do anh ấy kế thừa. Nếu anh ấy trở thành quốc vương, đứng trên chỗ cao trong hoàng cung, cả nước đều sẽ nhìn thấy anh ấy. Còn ta, ta không muốn làm nữ hoàng, ta cảm thấy bên ngoài tốt hơn trong cung, ta cũng không muốn cả đời này ở mãi trong vương quốc Không Chuyện Kể, ta muốn đến nơi có những câu chuyện.”
“Cuộc sống kiểu ấy rất khó khăn mà lại còn nguy hiểm nữa.”
“Ta không sợ.” Trong ánh nến, hai mắt công chúa phát ra ánh sáng đầy sức sống, khiến Buồm Dài cảm thấy xung quanh lại sáng bừng lên.
“Tôi đương nhiên lại càng không sợ, công chúa, tôi có thể cùng nàng đi đến tận cùng biển lớn, đến tận cùng thế giới.”
“Vậy thì chúng ta sẽ là hai người cuối cùng ra khỏi vương quốc rồi.” Công chúa vừa nói, vừa bắt lấy một bánh rưỡi xà phòng đang bổng bềnh trong không trung.
“Lần này chúng ta sẽ đi thuyền buồm”
“Đúng vậy, cánh buồm trắng như tuyết.”
Sáng sớm hôm sau, ở một bờ biển khác của vương quốc, có người thấy trên biển xuất hiện một cánh buồm trắng, con thuyền buồm ấy kéo theo một vệt bọt bong bóng như thể mây trắng, tiến về phía xa trong ánh ban mai.
Sau này, người trong vương quốc không còn nghe được tin tức gì của công chúa Hạt Sương và Buồm Dài nữa. Sự thực là, vương quốc không nhận được bất cứ tin tức gì từ thế giới bên ngoài, công chúa đã mang theo một bánh rưỡi xà phòng He'ershingenmosiken cuối cùng trong vương quốc, không ai có thể vượt qua sự phong tỏa của bẩy cá Thao Thiết nữa. Nhưng không ai oán trách, người ta từ lâu đã quen với cuộc sống như vậy rồi, sau khi câu chuyện này kết thúc, vương quốc Không Chuyện Kể sẽ vĩnh viễn không có chuyện gì để kể nữa.
Nhưng đôi khi, vào lúc đêm khuya thanh vắng, cũng có người kể những câu chuyện không phải là câu chuyện, đó là tưởng tượng của họ về những gì công chúa Hạt Sương và Buồm Dài trải qua. Tưởng tượng của mỗi người đều khác nhau, nhưng mọi người đều cho rằng hai người họ đã đến vô số đất nước thần kỳ, lại còn đến cả đại lục rộng mênh mông như biển, họ lúc nào cũng du hành ở trên biển hoặc trên đường, và cho dù đi tới nơi đâu, họ cũng luôn hạnh phúc ở bên nhau.
Trong phòng họp, những người đọc hết các câu chuyện bắt đầu rì rầm bàn tán, đa số vẫn còn đắm chìm trong thế giới của vương quốc, biển lớn, công chúa và hoàng tử. Có người trầm tư, có người ngẩn ngơ nhìn chằm chằm vào tập tài liệu đã khép lại, tựa hồ có thể nhìn ra được nhiều nội dung hơn từ bìa bọc.
“Nàng công chúa đó rất giống chị đấy.” AA thì thào nói với Trình Tâm.
“Tập trung chú ý vào việc chính đi... Tôi mà mong manh thế à? Tôi sẽ tự mình cầm chiếc ô ấy.” Trình Tâm nói, cô là người duy nhất trong hội trường không đọc tài liệu, câu chuyện này cô đã thuộc làu làu, đến độ đọc ngược cũng như đọc xuôi. Thực ra, cô cũng đã nghĩ không chỉ một lần, không biết mình có phải là nguyên mẫu của nhân vật công chúa Hạt Sương hay không, trong đó nhất định có bóng dáng của cô, nhưng đội trưởng đội cấm vệ thì không giống Vân Thiên Minh cho lắm.
Anh ấy cho rằng mình sẽ giương buồm đi xa chăng, cùng với một người đàn ông khác?
Chủ tịch thấy những người tham dự hội nghị đều đã đọc xong tài liệu, bèn mời mọi người phát biểu ý kiến, chủ yếu là phương hướng tiến hành các bước tiếp theo của các nhóm thuộc IDC.
Ủy viên của nhóm Văn học xin được phát biểu ý kiến, đây là nhóm chuyên ngành được thành lập thêm vào phút cuối, thành viên chủ yếu là các nhà văn và các học giả nghiên cứu văn học sử thời Công nguyên, vì xét rằng có lẽ bọn họ cũng có tác dụng gì đó.
Vị ủy viên của nhóm Văn học xin được phát biểu là một nhà văn sáng tác văn học thiếu nhi, ông ta nói: “Tôi biết, trong các công tác sau này, nhóm của tôi là nhóm ít có quyền lên tiếng nhất, vì vậy nhân cơ hội này xin được nói trước vài lời.” Ông ta giơ tập tài liệu bìa màu xanh trên tay lên nói: “Rất tiếc, tôi cho rằng thông tin tình báo này là không thể giải mã được.”
“Tại sao lại nghĩ như vậy?” Chủ tịch hỏi.
“Trước tiên cần phải xác định rõ xem chúng ta muốn rút ra được gì từ trong đó - phương hướng chiến lược tương lai của nhân loại. Giả sử thông tin này thực sự tồn tại, cho dù nội dung là gì đi nữa, ý nghĩa của nó chắc chắn phải xác định, chúng ta không thể nào đem những thông tin mơ hồ, đa nghĩa làm phương hướng chiến lược được, nhưng tính mơ hồ và đa nghĩa lại chính là đặc điểm của ngôn ngữ văn học. Để đảm bảo an toàn, thông tin tình báo thực sự mà ba câu chuyện này ẩn chứa nhất định đã được giấu rất sâu, điều này lại càng làm tăng thêm tính chất đa nghĩa và tính chất bất xác định, bởi vậy, khó khăn mà chúng ta sẽ phải đối diện không phải là không đọc ra được thông tin từ ba câu chuyện này, mà có thể là có quá nhiều thông tin, nhưng cái nào cũng không chuẩn xác.
“Cuối cùng, xin được nói một cầu ngoài đề: Với tư cách một nhà văn viết cho thiếu nhi, tôi muốn bày tỏ sự kính trọng đến Vân Thiên Minh. Nếu chỉ coi đây là truyện cổ tích, ba câu chuyện này thực rất hay.”
Ngày hôm sau, IDC bắt đầu triển khai toàn diện công tác giải mã tin tình báo của Vân Thiên Minh. Rất nhanh sau đó, mọi người liền cảm thấy nhà văn thiếu nhi kia quả thực dự liệu rất chính xác.
Ba câu chuyện của Vân Thiên Minh bao hàm lượng ẩn dụ, ám chỉ và biểu tượng rất phong phú, bất cứ tình tiết nào cũng có thể giải mã ra nhiều ý nghĩa khác nhau, mỗi ý nghĩa lại có lý do và căn cứ nhất định, nhưng lại không thể xác định ý nghĩa nào là thông tin mà tác giả muốn truyền đạt, vì vậy bất cứ cách giải mã nào cũng không thể trở thành thông tin tình báo chiến lược.
Chẳng hạn, ở phần mở đầu câu chuyện xuất hiện tình tiết vẽ người vào trong bức tranh, được cho là một ẩn dụ và ám chỉ tương đối rõ ràng, nhưng các chuyên gia thuộc chuyên ngành khác nhau đều có lý giải khác nhau. Có người cho rằng, hội họa tượng trưng cho việc số hóa hoặc thông tin hóa thế giới hiện thực, vì vậy tình tiết này có khả năng ám chỉ việc số hóa con người để tránh đòn tấn công trong khu rừng đen tối vũ trụ. Các học giả có quan điểm này còn chú ý đến một điểm, đó là người bị vẽ vào trong tranh hoàn toàn an toàn đối với thế giới hiện thực, vì vậy số hóa loài người cũng có thể là một cách để phát đi tuyên bố an toàn với vũ trụ. Nhưng một quan điểm khác lại cho rằng, tình tiết này là ẩn dụ về chiều của không gian, giấy vẽ và hiện thực là không gian có số chiều khác nhau, nhân vật bị vẽ vào trong tranh sẽ biến mất khỏi hiện thực ba chiều, khiến người ta không khỏi liên tưởng đến hai phi thuyền Không Gian Xanh và Vạn Vật Hấp Dẫn trong mảnh vỡ của không gian bốn chiều, rất có thể tác giả ám chỉ rằng loài người hãy dùng không gian bốn chiều làm nơi tránh nạn, hoặc dùng phương thức nào đó để thông qua không gian bốn chiều phát đi tuyên bố an toàn với vũ trụ. Cũng có người lại cho rằng, chiều cao không tuân theo nguyên lý phối cảnh của hoàng tử Nước Sâu cũng ám chỉ đến không gian bốn chiều.
Lấy một ví dụ khác, cá Thao Thiết ẩn dụ điều gì? Có người suy xét từ số lượng đông đảo cùng đặc tính ẩn trong nước biển và tấn công rất hung hăng của chúng mà cho rằng chúng tượng trưng cho quần thể văn minh trong vũ trụ ở trạng thái khu rừng đen tối, khiến cho lũ cá Thao Thiết rơi vào tình trạng thoải mái mà quên đi tấn công là ám chỉ nguyên tắc phát đi tuyên bố an toàn với vũ trụ nào đó mà chúng ta chưa biết. Một quan điểm khác thì lại hoàn toàn trái ngược, cho rằng cá Thao Thiết ám chỉ một loại người máy có trí thông minh nhân tạo, có thể tích rất nhỏ, nhưng có thể tự nhân bản. Sau khi phóng lên không gian, chúng sẽ dùng bụi vũ trụ và sao chổi ở vành đai Kuiper hoặc đám mây Oort làm nguyên liệu để sao chép bản thân, số lượng của chúng sẽ tăng lên theo cấp số nhân, cuối cùng hình thành nên một tấm màn chắn có trí thông minh nhân tạo tương tự như vành đai Kuiper hoặc đám mây Oort bao xung quanh Hệ Mặt trời. Màn chắn này có thể có nhiều tác dụng khác nhau, ví dụ như ngăn chặn các hạt ánh sáng tấn công, hoặc khiến Hệ Mặt trời mang một dáng vẻ đặc thù nào đó có thể quan sát được từ khoảng cách rất xa nhằm đạt đến mục đích tuyên bố an toàn đối với vũ trụ. Cách giải nghĩa này gọi là “Giả thiết đàn cá”, là một trong những cách giải nghĩa khá được coi trọng, vì so với các cách giải nghĩa khác, “Giả thiết đàn cá” có vạch ra một phác họa tương đối rõ nét về mặt công nghệ. Đây cũng là một cách giải nghĩa được Viện khoa học thế giới lập dự án sớm nhất để đào sâu nghiên cứu. Có điều, ngay từ đầu IDC đã không có nhiều hy vọng đối với “Giả thiết đàn cá”, về mặt công nghệ, khả năng thực hiện giả thiết này tương đối lớn, nhưng nghiên cứu sâu hơn một bước mới phát hiện, “đàn cá” muốn nhân bản lên tới lúc hình thành được màn chắn bao quanh khu vực ngoại vi Hệ Mặt trời thì cần tới hơn mười nghìn năm, đồng thời, nếu xét về công năng của những cỗ máy có trí tuệ nhân tạo này, dù là hiệu quả phòng ngự hay khả năng phát đi lời tuyên bố an toàn, cũng chỉ là trăng dưới nước, hoa trong gương mà thôi... Cuối cùng, “Giả thiết đàn cá” cũng vẫn bị từ bỏ trong lưu luyến.
Rồi cả chiếc ô xoay bảo vệ công chúa, thứ giấy Sóng Tuyết và loại đá vỏ chai bí ẩn, thứ xà phòng thần kỳ... tất cả những thứ này đều được giải ra vô số ý nghĩa khác nhau.
Nhưng đúng như lời tác giả viết truyện thiếu nhi kia đã nói, tất cả những hàm nghĩa này có vẻ đều có khả năng là thật, nhưng tất cả đều không có cách nào xác nhận được.
Tuy vậy, cũng không phải tất cả nội dung trong ba câu chuyện đều mơ hồ khó hiểu và mập mờ nước đôi như vậy, ít nhất có một chi tiết mà các chuyên gia của IDC cho rằng có thể hàm chứa thông tin xác định, thậm chí còn có thể là chìa khóa để mở ra thông tin tình báo bí ẩn của Vân Thiên Minh.
Đó chính là địa danh kỳ lạ kia: He’ershingenmosiken.
Vân Thiên Minh kể ba câu chuyện cho Trình Tâm bằng tiếng Trung thuần túy. Mọi người để ý thấy, phần lớn địa danh và tên người trong chuyện đều là những tên bằng tiếng Trung có nghĩa xác định rõ ràng, ví dụ như vương quốc Không Chuyện Kể, biển Thao Thiết, đảo Mộ, công chúa Hạt Sương, hoàng tử Nước Sâu và Cát Băng, họa sĩ Lỗ Kim và Hồn Không, đội trưởng Buồm Dài, bà Rộng... nhưng không hiểu sao lại xuất hiện cái địa danh dịch theo phiên âm như vậy, vả lại còn rất dài, phát âm cũng kỳ quặc hết sức. Nhưng cái tên kỳ quái này lại xuất hiện nhiều lần trong câu chuyện, tần suất nhiều đến mức bất bình thường: Họa sĩ Lỗ Kim và Hồn Không đến từ He’ershingenmosiken, giấy Sóng Tuyết mà họ dùng để vẽ tranh là đặc sản của He’ershingenmosiken, phiến đá và chiếc bàn là bằng đá vỏ chai để làm phẳng giấy đều đến từ He’ershingenmosiken, đội trưởng cấm vệ Buồm Dài sinh ra ở He’ershingenmosiken, xà phòng He’ershingenmosiken, cá Thao Thiết xuất xứ từ He’ershingenmosiken... Tác giả dường như đang liên tục nhấn mạnh tầm quan trọng của cái tên này, nhưng trong câu chuyện lại không hề có miêu tả cụ thể hơn về He’ershingenmosiken. Không thể biết được nó là một hòn đảo lớn giống như vương quốc Không Chuyện Kể, hoặc là một khối đại lục, hay là một quần đảo. Mọi người cũng không biết cái tên này thuộc về ngôn ngữ nào, lúc ra đi, trình độ tiếng Anh của Vân Thiên Minh rất bình thường, anh không biết ngôn ngữ thứ ba nào khác, nhưng cũng không thể loại trừ khả năng sau này anh học được. Từ này không giống như từ tiếng Anh, thậm chí không thể xác định nó có thuộc về ngữ hệ Latinh hay không; dĩ nhiên, nó cũng không thể nào bắt nguồn từ ngôn ngữ của người Tam Thể, vì ngôn ngữ Tam Thể không biểu đạt bằng âm thanh.
Các học giả dùng đủ loại ngôn ngữ đã được biết đến trên Trái đất để viết lại chữ He’ershingenmosiken theo quy tắc ghép âm, rồi yêu cầu tư vấn từ các loại ngành nghề, tra tìm trên mạng và trong các kho dữ liệu chuyên ngành, song thảy đều không có kết quả. Trước từ ngữ kỳ dị này, những trí tuệ hàng đầu của các ngành khoa học đều hoàn toàn bó tay.
Người của tất cả các nhóm chuyên ngành đều đến hỏi Trình Tâm, cô có thực sự nhớ rõ cách phát âm của từ này hay không? Lần nào Trình Tâm cũng đưa ra câu trả lời khẳng định, lúc đó cô đã chú ý đến địa danh bất bình thường này, nên rất để tâm ghi nhớ, thêm vào đó, địa danh này còn xuất hiện đi xuất hiện lại trong các câu chuyện, hẳn là không thể lầm được.
Công tác giải mã thông tin tình báo của IDC rơi vào bế tắc. Khó khăn này vốn nằm trong dự tính, nếu loài người có thể dễ dàng giải mã ra được thông tin tình báo chiến lược từ trong các câu chuyện của Vân Thiên Minh, vậy thì người Tam Thể cũng có thể, vì vậy thông tin tình báo thực sự ắt hẳn phải được giấu cực kỳ sâu bên trong các câu chuyện. Các chuyên gia đều hết sức mệt mỏi, tĩnh điện và mùi cay mũi bên trong phòng chắn Hạt trí tuệ khiến bọn họ cảm thấy rất bực bội và khó chịu. Tùy theo những cách giải mã câu chuyện khác nhau, mỗi nhóm chuyên gia lại chia rẽ thành mấy phe phái, tranh cãi chí chóe không thôi.
Việc giải mã thông tin rơi vào bế tắc, nội bộ IDC cũng dần dần xuất hiện những ý kiến ngờ vực, hoài nghi không biết ba câu chuyện này có thực sự ẩn chứa thông tin tình báo chiến lược có ý nghĩa hay không? Sự hoài nghi này phần nhiều nhằm vào bản thân Vân Thiên Minh, dẫu sao anh cũng chỉ mới học đại học vào thời Công nguyên, so với thời điểm hiện tại thì trình độ tri thức thậm chí còn không bằng học sinh cấp II. Trong lý lịch làm việc có hạn của anh trước khi lên đường thi hành sứ mệnh, đa số cũng đều là những công việc mang tính sự vụ ở cấp cơ sở, anh không có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học cấp cao, lại càng không sở hữu năng lực lý luận khoa học cơ bản. Tuy anh có thể học tập sau khi bị người Tam Thể chặn bắt và dùng công nghệ nhân bản để hồi sinh, nhưng đối với việc anh có khả năng hiểu được công nghệ siêu tiên tiến của thế giới Tam Thể hay không, đặc biệt là cơ sở lý thuyết đằng sau những công nghệ này, người ta vẫn giữ thái độ hoài nghi.
Tệ hơn nữa, song song với việc tiến hành giải mã, cũng không thể tránh khỏi có một số vấn đề phức tạp len lỏi vào IDC. Thoạt đầu, mọi người đều đồng tâm hiệp lực giải đố vì tương lai của nhân loại, nhưng về sau, cái bóng của các thực thể chính trị và nhóm lợi ích bắt đầu trùm lên công tác giải mã. Hạm đội Quốc tế, Liên Hiệp Quốc, các quốc gia, các công ty đa quốc gia, các tôn giáo lớn... đều yêu cầu giải mã câu chuyện theo ý nguyện chính trị và lợi ích của mình, biến việc giải mã thông tin tình báo thành công cụ tuyên truyền cho chủ trương chính trị của mình. Nhất thời, câu chuyện giống như một cái giỏ, thứ gì cũng bỏ vào được, khiến cho công tác giải mã bị biến chất. Tranh luận giữa các phe phái cũng càng thêm chính trị hóa và lợi ích hóa, khiến tất cả mọi người đều hết sức chán nản.
Nhưng việc giải mã thông tin tình báo của IDC rơi vào bế tắc cũng có tác dụng tích cực, đó chính là khiến mọi người từ bỏ ảo tưởng đối với phép mầu. Trên thực tế, từ lâu công chúng đã thôi ảo tưởng vào phép mầu rồi, vì họ không hề biết đến sự tồn tại của thông tin tình báo mà Vân Thiên Minh cung cấp. Áp lực chính trị từ dưới lên trên khiến cho Hạm đội và Liên Hiệp Quốc phải chuyển hướng chú ý từ thông tin tình báo của Vân Thiên Minh sang hướng dựa trên công nghệ hiện có của loài người để tìm kiếm cơ hội sinh tồn cho nền văn minh Trái đất.
Xét trên thước đo vũ trụ, vụ hủy diệt thế giới Tam Thể có thể nói ở gần ngay trước mắt, khiến thế giới loài người có cơ hội quan trắc một cách toàn diện và tỉ mỉ quá trình hủy diệt một ngôi sao, có được một lượng lớn các số liệu hoàn chỉnh. Do khối lượng cũng như vị trí của ngôi sao bị hủy diệt rất giống Mặt trời, nên loài người có khả năng dựng chuẩn xác mô hình toán học của tai ương khi Mặt trời chịu một cuộc tấn công từ khu rừng đen tối. Trên thực tế, việc nghiên cứu này đã được triển khai trên diện rộng ngay từ khoảnh khắc tín hiệu quang học về sự hủy diệt của thế giới Tam Thể truyền đến Hệ Mặt trời, kết quả nghiên cứu là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự ra đời của dự án Boongke. Hiện nay, dự án Boongke đã thay thế thông tin tình báo của Vân Thiên Minh trở thành mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế.
Những chuyện xưa nằm ngoài dòng thời gian (trích)
Dự ÁN BOONGKE - CON THUYỀN NOAH CỦA NỀN VĂN MINH TRÁI ĐẤTI. Dự đoán về thời gian có đòn tấn công từ khu rừng đen tối nhằm vào Hệ Mặt trời.
Dự đoán lạc quan, một trăm đến một trăm năm mươi năm; dự đoán bình thường, năm mươi đến tám mươi năm; dự đoán bi quan, mười đến ba mươi năm; kế hoạch sinh tồn của nhân loại được tính toán theo mốc thời gian bảy mươi năm.
II. Số lượng người cần được giải cứu.
Tính toán theo tỷ lệ giảm dân số thế giới hiện nay, sau bảy mươi năm sẽ có khoảng sáu đến tám trăm triệu người.
III. Dự đoán tổng thể về đòn tấn công từ khu rừng đen tối.
Trên cơ sở số liệu quan trắc được từ vụ hủy diệt ngôi sao Tam Thể, người ta đã xây dựng mô hình toán học khi Mặt trời gặp phải đòn tấn công tương tự. Các tính toán dựa trên mô hình này chỉ ra rằng, nếu Mặt trời bị tấn công bằng hạt ánh sáng, các hành tinh đất đá bền trong quỹ đạo Sao Hỏa sẽ bị hủy diệt hoàn toàn. Ở giai đoạn đầu sau khi bị tấn công, Sao Thủy và Sao Kim sẽ hoàn toàn tan rã, Trái đất sẽ giữ được một phần thể tích và duy trì trạng thái hình cầu, nhưng bề mặt sẽ bị bong ra, có thể sâu đến 500 km, bao gồm toàn bộ lớp vỏ và một phần của lớp Manti; bề mặt Sao Hỏa sẽ bị bóc đi chừng 100 km. Ở giai đoạn sau, tất cả các hành tinh đất đá sẽ bị lực cản từ vật chất phun ra khi Mặt trời phát nổ kéo xuống quỹ đạo thấp hơn, cuối cùng rơi vào phần lõi còn sót lại của Mặt trời và hủy diệt hoàn toàn.
Mô hình toán học cho thấy, sức phá hoại của Mặt trời phát nổ - kể cả bức xạ và va đập của vật chất trong lòng nó bị phun trào ra ngoài -tỷ lệ nghịch với binh phương khoảng cách đến Mặt trời, tức là cách Mặt trời càng xa, sức phá hoại sẽ càng giảm xuống nhanh chóng. Điều này khiến các hành tinh khí khổng lồ ở xa Mặt trời hơn có thể thoát khỏi số phận bị hủy diệt trong đợt tấn công.
Ở giai đoạn đầu, bề mặt Sao Mộc sẽ xáo động dữ dội, nhưng cấu trúc chỉnh thể vẫn giữ được nguyên vẹn, về cơ bản, hệ thống vệ tinh của Sao Mộc vẫn không thay đổi. Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương chỉ bị nhiễu loạn mức độ bình thường trên bề mặt, kết cấu vẫn giữ nguyên vẹn. Vật chất Mặt trời phun ra ngoài sẽ ảnh hưởng nhất định đến quỹ đạo ba hành tinh này, nhưng ở giai đoạn sau, sau khi phát nổ, vật chất Mặt trời sẽ hình thành nên đám mây xác dạng xoắn ốc, vận tốc góc và hướng quay của đám mây này sẽ trùng với vận tốc góc và hướng quay của các hành tinh khí khổng lồ, không gây ra lực cản có thể làm các hành tinh này hạ thấp quỹ đạo.
Có thể xác dịnh, bốn hành tinh khổng lồ trong Hệ Mặt trời gồm: Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương sẽ giữ được nguyên vẹn sau khi Mặt trời trùng đòn tấn công từ khu rừng đen tối.
Dự đoán quan trọng này chính là căn cứ cơ bản của dự án Boongke.
IV. Các kế hoạch sinh tồn đã bị loại trừ của nhân loại.
1. Kể hoạch đào vong đến các hệ sao khác:
Hoàn toàn bất khả thi về mặt công nghệ. Trong khoảng thời gian quy định, nhân loại không thể có được khả năng viễn trình đến hệ sao khác với quy mô lớn, số người có thể đưa đi chỉ chiếm chưa đến một phần nghìn tổng dân số, vả lại, khả năng tìm được hành tinh có thể cư trú trước khi nhiên liệu của phi thuyền cạn kiệt và hệ thống sinh thái sụp đổ là vô cùng nhỏ.
Vì chỉ có thể tiếp nhận một tỷ lệ dân số rất nhỏ, kế hoạch này trái với giá trị quan và chuẩn mực đạo đức cơ bản nhất của xã hội loài người, đồng thời cũng hoàn toàn bất khả thi về mặt chính trị, có thể sẽ dẫn đến xáo trộn dữ dội và sự sụp đổ toàn diện của xã hội loài người.
2. Kế hoạch lẩn tránh ra xa:
Khả năng thực thi rất thấp. Nội dung của kế hoạch này là xây dựng điểm cư trú cho nhân loại ở vùng không gian cách Mặt trời đủ xa, nhằm tránh được vụ nổ Mặt trời. Theo tính toán của mô hình, có tham chiếu đến khả năng phòng ngự của thành phố không gian dự kiến loài người có thể xây dựng trong tương lai, khoảng cách an toàn là cách Mặt trời 60 đơn vị thiên văn, bên ngoài vành đai Kuiper. Khu vực không gian ở khoảng cách ấy rất thiếu thốn tài nguyên, khó mà tìm được vật liệu để xây dựng thành phố không gian; đồng thời, cũng vì vấn đề tài nguyên thiếu thốn, kể cả khi có xây dựng được thành phố không gian thì nhân loại sông ở đó cũng sẽ phải đối mặt với những khó khăn không thể khắc phục.
V. Dự án Boongke.
Sử dụng bốn hành tinh khổng lồ là Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương làm boongke che chắn, tránh khỏi vụ nổ Mặt trời do tấn công từ khu rừng đen tối gây ra. Kế hoạch là xây dựng thành phố không gian ở phía sau bốn hành tinh lớn này để toàn thể nhân loại di dân tới, những thành phố không gian này sẽ dựa sát vào các hành tinh khổng lồ, nhưng không phải là vệ tinh của chúng mà chuyển động đồng bộ với hành tinh, cùng quay xung quanh Mặt trời, khiến cho các thành phố không gian luôn nằm ở phía tối của bốn hành tinh này, để khi Mặt trời phát nổ, chúng sẽ được các hành tinh che chắn và bảo vệ. Loài người lên kế hoạch xây dựng năm mươi thành phố không gian, mỗi thành phố có thể chứa được mười lăm triệu người. Trong đó, phía sau Sao Mộc có hai mươi thành phố, phía sau Sao Thổ có hai mươi thành phố, phía sau Sao Hải Vương có sáu thành phố, còn đằng sau Sao Thiên Vương là bốn thành phố.
Nguyên vật liệu để xây dựng các thành phố không gian lấy từ vệ tinh của bốn hành tinh lớn, và vành đai xung quanh Sao Thổ và Sao Hải Vương.
VI. Vấn đề kỹ thuật của dự án Boongke.
Các công nghệ cơ bản mà dự án này cần đến đều nằm trong phạm vi mà nhân loại đã đạt tới, Hạm đội Quốc tế đã có kinh nghiệm dày dạn trong việc xây dựng thành phố không gian, vả lại cũng đã có căn cứ không gian với quy mô tương đối lớn ở Sao Mộc. Ngoài ra, cũng vẫn tồn tại một số thách thức về công nghệ có thể khắc phục được trong thời gian dự kiến của dự án, chẳng hạn như việc duy trì vị trí của thành phố không gian. Thành phố không gian không phải là vệ tinh của bốn hành tinh lớn, mà chúng sẽ giữ trạng thái đứng yên tương đối với hành tinh ở mặt khuất Mặt trời của hành tinh, đồng thời khoảng cách với hành tinh cũng rất gần, lực hấp dẫn sẽ kéo thành phố không gian về phía hành tinh, vì vậy cần phải lắp đặt động cơ nhằm triệt tiêu lực hấp dẫn của hành tinh, giữ khoảng cách giữa thành phố không gian và hành tinh. Ban đầu, người ta quy hoạch thành phố không gian nằm ở điểm Lagrange L2 [21] của hành tinh, đây là điểm lực hấp dẫn cân bằng nằm ở mé ngoài quỹ đạo các hành tinh lớn, không gặp phải vấn đề duy trì vị trí, nhưng rồi lại phát hiện vị trí này cách các hành tinh boongke quá xa, không có tác dụng phòng hộ.
VII. Vấn đề sinh tồn của nhân loại ở Hệ Mặt trời sau đợt tấn công từ khu rừng đen tối.
Sau khi Mặt trời bị hủy diệt, thành phố không gian sẽ sinh tồn nhờ năng lượng phản ứng nhiệt hạch. Lúc này, Hệ Mặt trời sẽ ở trạng thái đám mây xoắn ốc, trong đám mây xác hình thành sau khi Mặt trời bùng nổ có vô số nguồn nhiên liệu phản ứng nhiệt hạch, gần như là không bao giờ cạn, có thể dễ dàng khai thác trên quy mô lớn, đồng thời, phần lõi còn sót lại của Mặt trời cũng là nguồn nhiên liệu phản ứng nhiệt hạch dồi dào, có thể thỏa mãn nhu cầu năng lượng để sinh tồn lâu dài. Mỗi thành phố không gian có thể sở hữu Mặt trời nhân tạo, sinh ra ánh sáng tương dương với ánh sáng chiếu tới Trái đất trước khi bị tấn công. Lúc này dự trữ năng lượng của nhân loại so với trước khi bị tấn công hẳn là đã tăng lên nhiều cấp, vì xét trên nguồn năng lượng phản ứng nhiệt hạch trong Hệ Mặt trời, phần năng lượng tiêu hao của thành phố không gian chỉ chiếm một phần mấy tỷ tỷ của Mặt trời mà thôi. Từ góc độ này, Mặt trời bị phá hủy lại đã chấm dứt việc siêu lãng phí nguồn năng lượng phản ứng nhiệt hạch ở Hệ Mặt trời.
Toàn bộ bề mặt vệ tinh thứ hai của Sao Mộc được che phủ bởi đại dương sâu đến 160 km, là nguồn tài nguyên nước phong phú, trữ lượng còn lớn hơn các đại dương trên Trái đất, có thể thỏa mãn nhu cầu của các thành phố không gian. Ngoài ra, bên trong đám mây cũng có nguồn tài nguyên nước lớn.
Sau đợt tấn công, khi Hệ Mặt trời đã cơ bản ổn định ở trạng thái đám mây, các thành phố không gian sẽ rời khỏi các hành tinh boongke, tìm kiếm không gian sinh tồn thích hợp hơn trong Hệ Mặt trời. Có thể rời khỏi mặt phẳng hoàng đạo nơi đám mây có mật độ dày đặc một quãng để tránh khỏi ảnh hưởng của đám mây, đồng thời vẫn khai thác được các loại tài nguyên tử trong đám mây. Mặt trời phát nổ khiển cho các hành tinh đất dá bị tan rã, lúc này các loại tài nguyên khoáng sản trong Hệ Mặt trời sẽ trôi nổi bên trong đám mây, dễ dàng khai thác hơn, tạo điều kiện xây dựng thêm nhiều thành phố không gian khác. Xét về lượng tài nguyên của đám mây xác lúc ấy, hạn chế duy nhất chính là tài nguyên nước, nhưng chỉ riêng lượng nước của vệ tinh thứ hai của Sao Mộc đã đủ cung cấp cho một nghìn thành phố không gian, mỗi thành phố chứa được từ 10 đến 20 triệu người rồi.
Vì vậy, đám mây xác của Hệ Mặt trời sau khi bị tấn công có thể cung cấp điều kiện sống thoải mái cho trên 10 tỷ người, đồng thời khiến nền văn minh nhân loại có đủ không gian để phát triển.
VIII. Ảnh hưởng của công trình Boongke.
Đây là công trình xây dựng một thế giới mới cho toàn thể nhân loại, quy mô trước nay chưa từng có, trở ngại lớn nhất để khởi động nó không phải ở phương diện công nghệ mà là ở nền chính trị quốc tế. Nhìn chung, công chúng lo lắng dự án Boongke sẽ tiêu hao hết tài nguyên của Trái đất, dẫn đến một bước lùi lớn trong chính trị xã hội và kinh tế của Trái đất, thậm chí còn xuất hiện Đại Suy Sụp lần thứ hai. Nhưng Hạm đội Quốc tể và Liên Hiệp Quốc đều nhất trí cho rằng hoàn toàn có thể tránh khỏi nguy cơ này, dự án Boongke sẽ trở thành một công trình 100% nằm ngoài Trái đất, 100% tài nguyên cân thiết cho công trình sẽ đều lấy từ không gian Hệ Mặt trời bên ngoài Trái đất, chủ yếu là từ các vệ tinh của bốn hành tinh lớn, cùng vành đai bao quanh Sao Thổ, Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, sẽ không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào đến tài nguyên và nền kinh tế của Trái đất. Ngược lại, khi việc khai thác tài nguyên trong vũ trụ đạt đến quy mô nhất định, thậm chí còn có thể hỗ trợ ngược lại cho nền kinh tế Trái đất.
IX. Các bước thực hiện tổng thể của dự án Boongke.
Dành hai mươi năm để xây dựng hệ thống công nghiệp khai thác tài nguyên ở khu vực vành đai các hành tinh khổng lồ, sau đó tiến hành xây dựng các thành phố không gian trong sáu mươi năm, hai giai đoạn này gối lên nhau mười năm ở giữa.
X. Khả năng về đợt tấn công thứ hai từ khu rừng đen tối.
Tác động vĩ mô mà đợt tấn công thứ nhất gây ra sẽ khiến hầu hết người quan sát ở xa cho rằng văn minh ở Hệ Mặt trời đã bị phá hủy. Đồng thời, vì Mặt trời không còn tồn tại nữa, trong Hệ Mặt trời đã không còn nguồn năng lượng siêu cấp để tận dụng cho đòn tấn công ít tốn kém. Vì vậy, khả năng xuất hiện đợt tấn công thứ hai rất nhỏ. Trạng thái của ngôi sao 187J3X1 từ sau khi bị phá hủy đến nay đã phần nào chứng minh điều này.
Dự án Boongke càng gần đến ngày khởi động, cái tên Vân Thiên Minh cũng dần dần nhạt nhòa khỏi tầm mắt của cộng đồng quốc tế, IDC vẫn tiếp tục tiến hành giải mã, nhưng chỉ coi là một hạng mục công việc bình thường của Hội đồng phòng ngự toàn cầu mà thôi, hy vọng có thể giải mã được thông tin tình báo chiến lược thực sự từ những câu chuyện này cũng càng lúc càng nhỏ. Ở IDC, có người lại còn liên hệ thông tin tình báo của Vân Thiên Minh với dự án Boongke, giải mã ra mấy thông tin liên quan đến dự án Boongke. Ví dụ, chiếc ô kia, trước đây rất tự nhiên được coi là ám chỉ hệ thống phòng ngự, giờ lại có người chỉ ra, những quả cầu đá ở mép ô tượng trưng cho các hành tinh khí khổng lồ trong Hệ Mặt trời. Trong Hệ Mặt trời, có bốn hành tinh lớn có thể dùng làm boongke che chắn, trong câu chuyện của Vân Thiên Minh không hề có thông tin về số lượng các thanh nan ô, nhưng xét theo lẽ thường, bốn thanh nan ô rõ ràng là hơi ít. Kỳ thực, về lý trí không có nhiều người tin vào cách nói này, nhưng hiện nay, đối với họ, các câu chuyện của Vân Thiên Minh đã trở thành một thứ tương tự như Kinh Thánh vậy. Một cách vô thức, thứ họ tìm kiếm trong đó không còn là thông tin tình báo chiến lược thực sự nữa, mà là sự an ủi nào đó cho hiện thực thôi.
Nhưng đúng vào thời điểm này, lại có đột phá trong giải mã thông tin tình báo của Vân Thiên Minh, nằm ngoài dự liệu của mọi người.
Ngày hôm ấy, Ngải AA đến tìm Trình Tâm. Đã từ lâu cô không còn cùng Trình Tâm tham gia hội nghị của IDC nữa, mà tập trung hết tâm sức vào việc đưa công ty tham gia vào các công trình của dự án Boongke. Loài người sẽ xây dựng một thế giới mới ở bên ngoài quỹ đạo Sao Mộc, đối với một công ty xây dựng ngoài không gian, đây gần như là triển vọng phát triển không giới hạn. Khéo thay, công ty của Trình Tâm tên là tập đoàn Vành Đai Sao, mà vành đai quanh các hành tinh khí khổng lồ lại là nguồn nguyên vật liệu chính để xây dựng thành phố không gian.
“Tôi muốn một bánh xà phòng thơm.” AA nói.
Trình Tâm không để ý đến yêu cầu của AA, cô không rời mắt khỏi cuốn sách điện tử trước mặt, hỏi AA một vấn đề về vật lý nhiệt hạch. Từ sau lần tỉnh dậy trước, cô đã luôn cố gắng học tập các công nghệ hiện đại. Nói riêng về chuyên ngành của cô, các công nghệ hàng không vũ trụ thời Công nguyên nay đã hoàn toàn biến mất, ngay cả một con tàu vũ trụ nhỏ cũng đã sử dụng động cơ nhiệt hạch rồi. Trình Tâm chỉ có thể bắt đầu từ vật lý cơ bản, nhưng cô học rất nhanh. Kỳ thực, khoảng cách thời đại không hề tạo ra chướng ngại đối với học tập, sự đổi mới trên diện rộng của lý thuyết cơ sở chỉ xảy ra sau khi kỷ nguyên Đe dọa bắt đầu, rất nhiều nhà khoa học và kỹ sư đến từ thời Công nguyên đều có thể học tập để thích ứng lại với chuyên ngành của mình trong kỷ nguyên mới.
AA tắt cuốn sách điện tử của Trình Tâm đi, “Tôi muốn có xà phòng thơm!”
“Tôi không có xà phòng. Cô không nghĩ là xà phòng có công hiệu thần kỳ như trong chuyện kể thật đấy chứ?” Ngụ ý của Trình Tâm là, bao giờ thì cô mới hết cái tính trẻ con này?
“Tôi biết, nhưng tôi thích bong bóng, tôi muốn tắm trong bể bong bóng như công chúa ấy, thế nên tôi muốn có xà phòng!”
Cách thức tắm rửa ngày nay đã không còn liên quan gì đến bong bóng xà phòng nữa, xà phòng thơm và các chất tẩy rửa khác đã biến mất từ hơn một thế kỷ trước. Ngày nay, chủ yếu có hai cách để tắm rửa, sóng siêu thanh và cleaner, cleaner là những nanobot mắt thường không nhìn thấy được, có thể hòa vào nước hoặc dùng khô, chúng có thể làm sạch bề mặt vật thể hoặc da người chỉ trong nháy mắt.
Trình Tâm đành phải đi kiếm xà phòng thơm với AA, trước đây, khi cô bị trầm cảm, AA cũng thường cưỡng ép kéo cô ra ngoài đi dạo cho khuây khỏa bằng cách này.
Đứng trước rừng cây khổng lồ của thành phố, họ ngẫm nghĩ hồi lâu, cảm thấy nơi có khả năng tìm thấy xà phòng nhất chỉ có mỗi viện bảo tàng. Trong một bảo tàng về lịch sử của thành phố, họ đã tìm được xà phòng thơm. Đó là một gian trưng bày các vật dụng thường nhật vào những năm Công nguyên, bên trong ánh sáng rất yếu, các vật phẩm trong tủ triển lãm được chiếu bằng đèn tụ quang, toàn là các thứ từ thời Công nguyên, các loại đồ điện gia dụng, trang phục, đồ nội thất. Những thứ này được bảo tồn rất tốt, không dính dù chỉ một hạt bụi, có thứ thậm chí còn có vẻ mới toanh. Về cảm xúc, Trình Tâm không thể nào tiếp nhận được sự thực rằng tất cả những thứ này đều là văn vật từ hơn hai thế kỷ trước, khi trông thấy chúng, cô cũng không có cảm giác rằng lâu lắm rồi mình không gặp chúng, dường như mới ngày hôm qua chúng vẫn còn ở xung quanh cô vậy. Từ lần đầu tỉnh dậy cho tới hiện tại, trải qua bao nhiêu chuyện, đối với cô, kỷ nguyên mới vẫn là một giấc mộng, tinh thần của cô vẫn cố chấp sống trong quá khứ.
Xà phòng được đặt trong tủ triển lãm vật dụng thường ngày, cùng với nó còn có các loại chất tẩy rửa khác, như sữa tắm hay bột giặt. Trên bề mặt miếng xà phòng in một thương hiệu mà Trình Tâm khá quen thuộc, miếng xà phòng ấy màu trắng, giống như trong câu chuyện của Vân Thiên Minh.
Ban đầu giám đốc bảo tàng nói miếng xà phòng thơm đó là văn vật, không bán, tiếp sau đấy là một cuộc mặc cả kéo dài.
“Tiền mua miếng xà phòng này đủ xây cả một nhà máy sản xuất xà phòng cỡ nhỏ rồi.” Trình Tâm nói với AA.
“Thế thì sao chứ! Tôi làm CEO cho chị bấy lâu, lẽ ra chị phải tặng tôi một món quà chứ! Với lại, sau này nó còn có khả năng tăng giá cơ mà!”
Vậy là hai người họ mua miếng xà phòng đó về. Trước đó, Trình Tâm đã đề nghị, nếu AA muốn tắm trong bọt bong bóng thì mua lọ sữa tắm sẽ tốt hơn, nhưng AA nói, cô cứ muốn xà phòng vì nàng công chúa trong chuyện dùng xà phòng. Sau khi cẩn trọng lấy miếng xà phòng ra khỏi tủ trưng bày, Trình Tâm đặt lên tay xem xét, món đồ từ hai thế kỷ trước này vẫn còn tỏa ra mùi hương thoang thoảng.
Về đến nơi ở, AA nôn nóng bóc lớp bao chân không dùng để bảo quản văn vật ra, cầm miếng xà phòng đi vào buồng tắm. Sau khi cô đóng cửa lại, bên trong vang lên tiếng xả nước vào bồn tắm.
Trình Tâm gõ cửa buồng tắm: “Tốt nhất cô đừng tắm bằng miếng xà phòng đó, thứ đó có tính kiềm, mà cô chưa bao giờ dùng, nếu không hợp sẽ gây tổn thương da đấy.”
AA không trả lời. Một lúc sau, khi tiếng xả nước ngừng lại, cửa buồng tắm bật mở. Trình Tâm thấy AA vẫn còn mặc nguyên quần áo, tay vung vẩy một tờ giấy trắng: “Chị biết gấp thuyền giấy không?”
“Môn này cũng đã thất truyền rồi à?” Trình Tâm đón lấy tờ giấy, hỏi.
“Tất nhiên, bây giờ rất hiếm khi trông thấy giấy đấy.”
Trình Tâm ngồi xuống gấp thuyền. Dòng tư duy của cô trở về buổi chiều mưa lâm thâm thời đại học đó, cô và Vân Thiên Minh ngồi bên mép nước, trên mặt nước chìm dưới làn mưa phùn và sương mù bảng lảng, chiếc thuyền giấy nhỏ mà cô gấp trôi xa dần xa dần. Sau đó, cô lại nhớ tới cánh buồm trắng cuối cùng trong câu chuyện của Vân Thiên Minh...
AA cầm chiếc thuyền giấy nhỏ có mui mà Trình Tâm đã gấp xong, khen đẹp, sau đó ra hiệu cho Trình Tâm cũng vào trong buồng tắm. Bên bệ rửa mặt, cô dùng con dao nhỏ cắt ra một mẩu bé tẹo từ miếng xà phòng thơm, sau đó chọc một lỗ nhỏ ở phần đuôi thuyền, rồi nhét mẩu xà phòng trong lỗ, ngẩng đầu lên nhìn Trình Tâm nở nụ cười bí hiểm, đoạn nhè nhẹ thả chiếc thuyền giấy lên mặt nước đã phẳng lặng trong bồn tắm xả đầy.
Chiếc thuyền chuyển động về phía trước, trên khoảng mặt nước bé tẻo teo ấy, nó chạy từ bờ bên này sang bờ bên kia.
Trình Tâm lập tức hiểu được nguyên lý: xà phòng tan chảy trong nước làm sức căng của mặt nước sau đuôi thuyền giảm xuống, nhưng sức căng mặt nước ở phía trước thuyền thì không đổi, kéo thuyền tiến lên. Nhưng ý nghĩ này tan biến đi trong nháy mắt, tư duy của Trình Tâm lập tức sáng bừng lên! Trong mắt cô, mặt nước phẳng lặng trong bồn tắm biến thành không gian đen như mực, chiếc thuyền giấy nhỏ màu trắng đang bay với vận tốc ánh sáng trong không gian vô tận ấy...
Nhưng một ý nghĩ khác lập tức chiếm trọn đầu óc Trình Tâm: sự an toàn của Vân Thiên Minh. Ý nghĩ này giống như một bàn tay mạnh mẽ giữ chặt lấy sợi dây đàn tư duy của cô, ngăn không cho nó rung lên nữa. Cô ép mình hướng ánh mắt ra xa khỏi chiếc thuyền giấy nhỏ, gắng hết sức tỏ ra hờ hững không có gì hứng thú với điều này. Lúc này, chiếc thuyền nhỏ đã di chuyển sang bên kia bồn tắm, nhè nhẹ dừng ở mép bồn, cô vươn tay cầm lên, vẩy cho ráo nước rồi quăng lên bệ rửa mặt. Trình Tâm cố kiềm chế xung động muốn ném luôn vào bồn cầu giật nước xả đi, nhưng đã quyết định sẽ không thả nó vào trong nước lần nữa.
Nguy hiểm, tuy bản thân Trình Tâm cũng thiên về tin rằng trong Hệ Mặt trời đã không còn Hạt trí tuệ nào nữa, nhưng cẩn trọng một chút vẫn hơn.
Ánh mắt Trình Tâm và AA gặp nhau, phát hiện đôi mắt đối phương dường như soi bóng đôi mắt mình, đều đang sáng lên hưng phấn vì vừa sực ngộ ra điều gì đó. Cô lập tức nhìn sang phía khác, hờ hững nói: “Không chơi với cô nữa, cô muốn tắm thì cứ tắm đi.” Nói đoạn, Trình Tâm bước ra khỏi buồng tắm.
AA cũng theo Trình Tâm ra ngoài, họ rót hai ly rượu vang, bắt đầu nói chuyện về đủ mọi thứ trên đời. Trước tiên là viễn cảnh của tập đoàn Vành Đai Sao trong dự án Boongke, sau đấy nhớ lại đời sinh viên của mỗi người ở những thế kỷ khác nhau, rồi lại nói về cuộc sống hiện tại. AA hỏi Trình Tâm tại sao đến kỷ nguyên mới lâu như vậy rồi vẫn không gặp được người đàn ông nào vừa ý, Trình Tâm nói đến giờ cô vẫn chưa thể sống như một người bình thường, và bảo vấn đề của AA là cô có quá nhiều bạn trai, đương nhiên cô có thể dẫn theo người yêu đến đây, nhưng tốt nhất là mỗi lần chỉ dẫn theo một người thôi. Họ còn nói về thời trang và sở thích của phụ nữ ở hai thời đại, những gì giống nhau những gì khác nhau... Hai người chỉ đang trút ra sự hưng phấn của mình bằng cách nói chuyện, không dám ngừng lại, dường như chỉ cần một thoáng im lặng thôi, niềm vui đáng kinh ngạc mà họ đang chôn giấu trong lòng kia sẽ tan biến thành bọt nước. Rốt cuộc, trong một khoảnh khắc không ai để ý đến giữa cuộc trò chuyện thao thao bất tuyệt, Trình Tâm khe khẽ buông ra hai chữ:
Độ cong...
Hai chữ sau được cô nói ra bằng ánh mắt: truyền động?
AA khe khẽ gật đầu, ánh mắt của cô đang nói: Đúng thế, truyền động bằng độ cong!
Những chuyện xưa nằm ngoài dòng thời gian (trích)
LỰC ĐẨY CỦA KHÔNG GIAN CONGKhông gian vũ trụ này không phải phẳng dẹt, mà có độ cong, nếu tưởng tượng vũ trụ như một tấm màng lớn, thì bề mặt của tâm màng này hình cong, cả tấm màng thậm chí có thể là một cái bong bóng xà phòng hoàn toàn khép kín. Tuy nhìn ở từng điểm, tấm màng trông có vẻ như phẳng, nhưng độ cong của không gian vẫn tồn tại ở khắp nơi.
Từ những năm Công nguyên, đã từng xuất hiện rất nhiều giả thuyết đầy tham vọng về du hành vũ trụ, một trong số đó chính là gấp nếp không gian. Giả sử rằng có thể tăng độ cong của không gian trên phạm vi lớn lên vô hạn, kiểu như gấp đôi một tờ giấy, gập hai điểm cách xa nhau hàng nghìn vạn năm ánh sáng trên “mặt giấy” chập vào với nhau. Nói một cách chính xác thì phương pháp này không nên gọi là du hành vũ trụ, mà phải gọi là “kéo chập không gian”, vì thực chất nó không phải là di chuyển tới điểm đến mà là kéo điểm đến lại gần nơi xuất phát bằng cách thay đổi độ cong của không gian.
Việc hoành tráng nhường ấy họa may chỉ có Thượng Đế mới làm được, nếu thêm vào hạn chế của lý thuyết cơ sở, thì có khi Thượng Đế cũng chẳng thể làm nổi.
Về lợi dụng độ cong của không gian để du hành vũ trụ, sau đó lại xuất hiện một giả thuyết ôn hòa và cục bộ hơn, một phi thuyền ở trong vũ trụ nếu có thể dùng phương thức nào đó để là phẳng một phần không gian phía sau, làm giảm độ cong của nó, thì sẽ được không gian có độ cong lớn hơn ở phía trước kéo tới, đây chính là truyền động bằng độ cong.
Truyền động bằng độ cong không gian không thể đưa người ta đến đích trong chớp mắt như gấp nếp không gian, nhưng lại có khả năng du hành với vận tốc tiệm cận vận tốc ánh sáng.
Nhưng trước khi thông tin tình báo của Vân Thiên Minh được giải mã chính xác, truyền động bằng độ cong không gian vẫn chỉ là một ảo tưởng, giống như hàng trăm phương án ảo tưởng về du hành với vận tốc ánh sáng khác, kể cả về lý thuyết lẫn về công nghệ, không ai biết có khả thi hay không.
AA mặt mũi hớn hở nói với Trình Tâm: “Hồi trước kỷ nguyên Đe dọa, từng có một dạo thịnh hành loại trang phục có hình ảnh, hồi đấy người nào người nấy đều sáng lấp lánh, màu mè rực rỡ lắm, nhưng giờ thì chỉ có trẻ con là như vậy thôi, trang phục cổ điển lại thành dòng chính rồi.”
Nhưng đôi mắt AA lại đang nói một chuyện khác, ánh mắt cô trở nên ảm đạm: Cách giải mã này thoạt nhìn có vẻ rất hợp lý, nhưng vẫn không thể nào xác nhận được, hẳn là cũng không được thừa nhận.
Trình Tâm nói: “Bây giờ, điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là không còn khái niệm kim loại quý và đá quý nữa. Vàng đã biến thành phổ thông, ngay cả hai ly rượu này cũng làm bằng kim cương... Cô biết không? Vào cái thời đó của chúng tôi, chỉ cần sở hữu một viên kim cương nhỏ thế này, nhỏ thế này thôi, đã là giấc mơ xa với đối với hầu hết các cô gái rồi đấy.”
Ánh mắt cô nói: Không, AA, lần này thì khác, lần này có thể xác nhận được!
“Ít nhất thì thời của chị nhôm còn rẻ đấy, cái thời trước khi tìm ra hiện tượng điện phân, nhôm cũng là kim loại quý, nghe nói có vị vua còn dùng vương miện bằng nhôm nữa cơ.”
Làm thế nào để xác nhận?
Trình Tâm biết lần này không thể dùng ánh mắt để biểu đạt được nữa, IDC từng có ý định trang bị cho nơi ở của cô một căn phòng chắn Hạt trí tuệ, làm vậy sẽ phải lắp đặt một đống các thiết bị rất kềnh càng và ầm ĩ, cô thấy phiền nên đã không đồng ý, giờ mới lấy làm hối hận.
“Giấy Sóng Tuyết.” Trình Tâm khẽ nói.
Ánh mắt ảm đạm của AA trong chớp mắt đã được thắp cháy bừng lên, những tia hưng phấn còn rạng rỡ hơn cả lần trước.
“Dùng thứ khác không thể đè phẳng được loại giấy này à?”
“Không được, chỉ có đá vỏ chai ở He’ershingenmosiken mới đè phẳng được...”
Lúc này, chiếc đồng hồ ở góc phòng đổ chuông, họa sĩ Hồn Không ngẩng đầu lên nhìn, đã hừng đông, trời sắp sáng tới nơi rồi. Ông cúi nhìn cuộn giấy, phần giấy được đè phẳng thò ra khỏi cuộn giấy, trải phẳng phiu trên sàn nhà, không cuộn lại nữa, nhưng chỉ rộng bằng một bàn tay, còn lâu mới đủ vẽ một bức tranh. Ông buông cái bàn là xuống, thở dài.
Một cuộn giấy, một cuộn giấy có độ cong, được kéo ra một đoạn và là phẳng, giảm bớt độ cong.
Hình ảnh này là một ám chỉ rõ ràng đến trạng thái không gian phía trước và phía sau của phi thuyền được truyền động bằng độ cong không gian, không thể nào là thứ gì khác được.
“Chúng ta đi thôi.” Trình Tâm đứng dậy nói.
“Chúng ta đi thôi.” AA cũng nói, họ muốn đến phòng chắn Hạt trí tuệ gần nhất.
***
Hai ngày sau, trong hội nghị của ủy ban IDC, ngài chủ tịch tuyên bố tất cả các nhóm chuyên gia đều đồng ý với kết quả giải mã là truyền động bằng độ cong của không gian.
Vân Thiên Minh đã nói với thế giới Trái đất: phi thuyền vận tốc ánh sáng của thế giới Tam Thể áp dụng công nghệ truyền động bằng độ cong của không gian.
Đây là một thông tin tình báo chiến lược cực kỳ quan trọng. Trong vô số các giả thiết về du hành với vận tốc ánh sáng, nó đã xác định được phương án truyền động bằng độ cong của không gian là khả thi, việc này chỉ ra phương hướng chiến lược rõ ràng cho sự phát triển công nghệ hàng không vũ trụ của nhân loại, giống như thắp lên một ngọn hải đăng giữa biển cả trong đêm đen vậy.
Cũng quan trọng không kém, việc giải mã thành công lần này đã chỉ ra mô thức ẩn giấu thông tin tình báo trong ba câu chuyện của Vân Thiên Minh, có thể quy về hai điểm: ẩn dụ hai tầng và ẩn dụ hai chiều.
Ấn dụ hai tầng: Ẩn dụ trong câu chuyện không trực tiếp chỉ vào thông tin tình báo chiến lược, mà chỉ về một sự vật khác đơn giản hơn, mà sự vật này lại ẩn dụ thông tin tình báo chiến lược bằng một phương thức tương đối dễ giải mã. Trong ví dụ này, con thuyền nhỏ mà công chúa ngồi, xà phòng He’ershingenmosiken và biển Thao Thiết đều chỉ về một thứ: thuyền giấy truyền động bằng xà phòng, mà chiếc thuyền xà phòng ấy mới là ẩn dụ về phương thức truyền động bằng độ cong của không gian. Trong những nỗ lực giải mã trước đó, một nguyên nhân quan trọng khiến người ta rơi vào nghi hoặc chính là thói quen tư duy một tầng, cho rằng tình tiết trong câu chuyện trực tiếp ẩn dụ thông tin tình báo.
Ẩn dụ hai chiều: mô thức này dùng để giải quyết vấn đề tính mập mờ của thông tin xuất phát từ ngôn ngữ văn học. Sau khi hoàn thành một ẩn dụ hai tầng, lại kèm theo một ẩn dụ một tầng, nhằm xác nhận ý nghĩa của ẩn dụ hai tầng. Trong ví dụ này, Vân Thiên Minh đã dùng cuộn giấy Sóng Tuyết được là phẳng để ám chỉ tính chất của không gian trong phương thức truyền động bằng độ cong, xác nhận lại hình ảnh ẩn dụ thuyền xà phòng. Nếu coi câu chuyện này như một mặt phẳng hai chiều, thì ẩn dụ hai tầng chỉ đưa ra một tọa độ của hàm nghĩa thực, còn ẩn dụ một tầng kèm theo chính là tọa độ thứ hai, xác định vị trí của hàm nghĩa trên mặt phẳng, vì vậy ẩn dụ một tầng này còn được gọi là tọa độ hàm nghĩa. Nếu chỉ xét riêng tọa độ hàm nghĩa này thì chẳng có ý nghĩa gì cả, nhưng khi kết hợp với ẩn dụ hai tầng, nó sẽ giải quyết được vấn đề hàm nghĩa mơ hồ của ngôn ngữ văn học.
“Một hệ thống cực kỳ tuyệt diệu.” Một chuyên gia tình báo của PIA thán phục nói.
Các ủy viên đều bày tỏ chúc mừng và ngưỡng mộ Trình Tâm và AA, đặc biệt là AA, bấy lâu nay cô vẫn bị mọi người coi nhẹ, giờ đã được nhìn với ánh mắt hoàn toàn khác, địa vị trong ủy ban được nâng cao đáng kể.
Nhưng đôi mắt Trình Tâm thì đã ướt nhòe. Cô nghĩ đến Vân Thiên Minh, hình dung ra cảnh người đàn ông này phải một thân một mình chiến đấu giữa xã hội dị tộc hiểm ác quái dị trong những đêm dài đằng đẵng ngoài không gian xa xôi, phải vắt kiệt tâm sức thế nào để thiết kế ra một mô thức ẩn dụ thế này hòng truyền đạt thông tin tình báo về cho loài người, rồi lại sáng tác ra hơn trăm câu chuyện cổ tích trong những tháng ngày cô độc, cuối cùng dày công chôn giấu thông tin vào ba trong số những câu chuyện đó. Ba trăm năm trước, anh đã tặng cho Trình Tâm một ngôi sao, ba trăm năm sau, anh lại mang đến cho nhân loại một tia hy vọng.
Công tác giải mã sau đó trở nên thuận lợi hơn rất nhiều, ngoài chỉ dẫn về mô thức ẩn dụ mới phát hiện ra, người ta còn mặc nhiên thừa nhận một phép loại trừ chưa được chứng thực: thông tin tình báo được giải mã đầu tiên là về việc chạy trốn khỏi Hệ Mặt trời, vậy thì thông tin còn lại có khả năng rất lớn là liên quan đến tuyên bố an toàn.
Nhưng những người giải mã nhanh chóng phát hiện ra, so với thông tin tình báo đầu tiên, những thông tin khác ẩn giấu trong ba câu chuyện lại phức tạp hơn nhiều.
Trong hội nghị tiếp theo của ủy ban IDC, chủ tịch mang tới một chiếc ô mà ông đã cho chế tạo riêng, giống hệt như chiếc ô bảo vệ họa sĩ Hồn Không đã tặng cho công chúa trong câu chuyện, chiếc ô màu đen, có tám nan, cuối mỗi nan ô đều có một quả cầu đá nhỏ. Những chiếc ô thật sự đã biến mất khỏi đời sống hiện đại từ lâu lắm rồi, giờ đây để che mưa, người hiện đại dùng một thiết bị gọi là máy tránh mưa, kích cỡ tầm như chiếc đèn pin nhỏ, thiết bị này sẽ phun một luồng khí lên trên để thổi bay mưa đi. Mọi người đương nhiên vẫn biết có một thứ là ô từng tồn tại trên đời này, cũng đã thấy trên phim ảnh, nhưng rất hiếm người từng thấy vật thật. Tất cả đều tò mò tranh nhau sờ mó món đồ ấy, phát hiện nó cũng có thể mượn lực ly tâm của các quả cầu đá để mở ra khi xoay giống như miêu tả trong câu chuyện, khi tốc độ xoay quá nhanh hoặc quá chậm, nó cũng có thể phát ra âm thanh cảnh báo tương ứng. Cảm giác đầu tiên của mọi người là vừa mở ô vừa xoay tròn thế này rất mệt mỏi, vậy mà bà vú của công chúa có thể che suốt cả một ngày, quả thực rất đáng khâm phục.
AA cũng cầm ô lên xoay tròn mở ra, tay cô tương đối yếu, mặt ô chuyển động rồi mau chóng chùng xuống, tiếng chim hót cảnh cáo khi ô xoay quá chậm liền xuất hiện.
Từ lúc ngài chủ tịch vừa mở ô ra, Trình Tâm đã nhìn nó không chớp mắt, lúc này, cô đột nhiên chỉ vào AA hét lên: “Đừng dừng lại!”
AA tăng tốc xoay ô, tiếng chim liền biến mất.
“Nhanh hơn chút nữa.” Trình Tâm nhìn chằm chằm vào chiếc ô nói.
AA gắng hết sức xoay ô, tiếng chuông gió cảnh báo tốc độ xoay quá nhanh vang lên; sau đó Trình Tâm lại bảo cô xoay chậm lại, cho đến khi phát ra tiếng chim, cứ thế lặp đi lặp lại mấy lần liền.
“Đây không phải là ô!” Trình Tâm chỉ vào chiếc ô đang xoay và nói, “Tôi biết nó là cái gì rồi!”
Tất Vân Phong bên cạnh gật đầu, “Tôi cũng biết rồi.” Sau đó ông ta quay sang người thứ ba đến từ thời Công nguyên có mặt tại đây là Tào Bân: “Thứ này chỉ có ba người chúng ta mới có thể nghĩ đến mà thôi.”
“Đúng thế.” Tào Bân nhìn chiếc ô hưng phấn nói: “Kể cả trong thời đại ấy thì thứ này cũng đã rất xa lạ rồi.”
Những người tham gia hội nghị khác, có người thì nhìn ba vị “cổ nhân” còn đang sống sờ sờ, có người thì nhìn chiếc ô, tất cả đều chẳng hiểu gì cả, nhưng cũng đều hưng phấn chờ đợi.
“Bộ điều tốc ly tâm của động cơ hơi nước.” Trình Tâm nói.
“Đó là cái gì vậy, một loại mạch điện điều khiển à?” Có người hỏi.
Tất Vân Phong lắc đầu: “Khi phát minh ra thứ đó vẫn chưa có điện.”
Tào Bân bắt đầu giải thích: “Thiết bị này xuất hiện vào thế kỷ 18, dùng để điều tiết tốc độ quay của động cơ hơi nước. Cấu tạo chủ yếu của nó gồm hai hoặc bốn cánh tay đòn ở đầu có gắn quả cầu kim loại và một trục xoay được lồng trong một cái ống, giống như chiếc ô này, chỉ là số lượng nan ô bớt đi một chút thôi. Trục xoay của thiết bị này xoay nhờ động cơ hơi nước, khi động cơ quay quá nhanh, lực ly tâm làm quả cầu nhấc các cánh tay đòn lên, kéo ống lồng bên ngoài trục xoay trượt lên cao, đóng van hơi nước nối với ống này hẹp lại, làm giảm tốc độ quay của động cơ xuống; khi động cơ hơi nước quay quá chậm, lực ly tâm giảm đi khiến các cánh tay đòn này khép vào trong, giống như chiếc ô cụp lại vậy, kéo ống trượt xuống dưới, mở rộng khí làm tăng tốc động cơ lên... Đây là hệ thống điều khiển tự động công nghiệp ra đời sớm nhất.”
Như vậy, bọn họ đã biết được tầng ẩn dụ đầu tiên của chiếc ô. Nhưng khác với thuyền xà phòng, bộ điều tốc ly tâm của động cơ hơi nước không có ý nghĩa ẩn dụ rõ ràng, người ta có thể nghĩ đến rất nhiều thứ mà nó có khả năng chỉ đến, trong đó có hai thứ là tương đối xác định:
Tự động điều khiển phản hồi ngược, hoặc tốc độ không đổi.
Vì vậy, những người làm công tác giải mã bắt đầu tìm kiếm tọa độ hàm nghĩa xác nhận ẩn dụ hai tầng này, và họ đã tìm được rất nhanh: hoàng tử Nước Sâu. Chiều cao của hoàng tử Nước Sâu không thay đổi trong mắt người quan sát, cho dù khoảng cách thay đổi thế nào, hiện tượng này cũng có rất nhiều cách giải nghĩa, và cũng có hai cách tương đối nổi bật:
Một hệ thống truyền phát thông tin mà tín hiệu không bị khoảng cách làm suy yếu, hoặc một đại lượng vật lý không đổi trong bất cứ hệ quy chiếu nào.
So sánh với kết quả giải mã chiếc ô, họ lập tức tìm ra một tổ hợp xác định:
Tốc độ không đổi, không thay đổi theo hệ quy chiếu.
Đây rõ ràng là ám chỉ vận tốc ánh sáng.
Có một việc nằm ngoài dự liệu, đó là họ còn tim được tọa độ hàm nghĩa thứ ba của ẩn dụ chiếc ô này.
“... xà phòng thơm của He’ershingenmosiken chính là làm bâng những bong bóng ấy. Thu thập loại bong bóng này hết sức khó khăn, chúng bay rất nhanh trong gió lớn... Cưỡi những con ngựa chạy nhanh nhất mới có thể đuổi kịp bong bóng trong gió... Ngồi trên ngựa vớt bong bóng bằng một cái túi lưới voan mỏng... Bong bóng của cây bong bóng không có trọng lượng, vì vậy xà phòng He’ershingenmosiken thật sự cũng không có trọng lượng, đó là thứ nhẹ nhất trên thế gian này..”
Tốc độ nhanh nhất, không có khối lượng (trọng lượng), đây là một ẩn dụ một tầng có thể xác định mười mươi: ánh sáng.
Như đã nói ở trên, chiếc ô là ẩn dụ cho ánh sáng hoặc vận tốc ánh sáng. Nhưng còn việc bắt lấy bong bóng của cây bong bóng thì lại có thể có hai hàm nghĩa:
Thu thập năng lượng ánh sáng, hoặc giảm vận tốc của ánh sáng.
Những người tham gia giải mã đều cho rằng khả năng thứ nhất không có liên quan nhiều đến mục tiêu chiến lược của nhân loại, vì vậy tất cả đều dồn sự chú ý vào khả năng thứ hai.
Họ vẫn không nhìn ra được hàm nghĩa rõ ràng của thông tin tình báo này, nhưng những người tham gia giải mã đã thảo luận về hàm nghĩa của khả năng thứ hai, chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa việc giảm vận tốc ánh sáng và việc phát đi tuyên bố an toàn với vũ trụ.
“Giả sử có thể giảm vận tốc của ánh sáng trong Hệ Mặt trời, cũng tức là trong vùng không gian bên trong quỹ đạo Sao Hải vương hoặc vành đai Kuiper, thì có thể tạo ra hiệu ứng quan sát được từ khoảng cách xa xôi, ở tầm mức vũ trụ chẳng hạn.”
Suy nghĩ này làm mọi người hết sức phấn khởi.
“Nhưng điều này có ý nghĩa là chúng ta an toàn đối với một kẻ quan sát vũ trụ ư? Giả sử giảm vận tốc ánh sáng trong Hệ Mặt trời đi 10%, liệu chúng ta có vì thế mà trông an toàn hơn một chút hay không?”
“Còn phải hỏi, nếu thế thì dù loài người có phi thuyền vận tốc ánh sáng, thời gian bay ra khỏi Hệ Mặt trời cũng phải kéo dài thêm 10%, đương nhiên, điều này cũng chẳng có ý nghĩa gì lớn lắm.”
“Nếu muốn thực sự chứng tỏ với vũ trụ rằng chúng ta không nguy hiểm, thì việc giảm vận tốc ánh sáng đi 10% hiển nhiên là không đủ, có thể còn phải giảm xuống thấp hơn nữa, chẳng hạn như giảm xuống còn 1% ban đầu, để người quan sát thấy rằng đây là một rào chắn mà loài người tự nguyện xây nên, tin chắc rằng chúng ta cần thời gian tương đối dài để bay ra khỏi Hệ Mặt trời, từ đây tăng lên cảm giác an toàn của người quan sát đối với nền văn minh Hệ Mặt trời.”
“Nếu mà như thế thì giảm xuống còn một phần nghìn cũng chẳng đủ, thử nghĩ mà xem, bay ra khỏi Hệ Mặt trời với vận tốc 300 km/s thì cũng đâu mất quá nhiều thời gian. Ngoài ra, nếu loài người có thể thay đổi một hằng số vũ trụ trong vùng không gian bán kính lên đến 50 đơn vị thiên văn, thì khác nào tuyên bố với vũ trụ rằng nền văn minh của chúng ta đã nắm bắt được công nghệ rất cao, đây không phải là tuyên bố an toàn, mà là tuyên bố nguy hiểm mới đúng.”
...
Từ ẩn dụ hai tầng chiếc ô và hai tọa độ hàm nghĩa là hoàng tử Nước Sâu và cây bong bóng, những người giải mã đã có thể xác định được phương hướng sơ bộ, nhưng lại không thể tìm ra được thông tin tình báo chiến lược. Đây không phải ẩn dụ hai chiều nữa, mà là ba chiều, có người suy đoán, phải chăng còn tồn tại tọa độ hàm nghĩa thứ ba? vì vậy, những người giải mã lại tìm đi tìm lại trong câu chuyện, nhưng vẫn chưa tìm được dấu vết nào chứng tỏ sự tồn tại của nó.
Đúng vào lúc này, địa danh bí ẩn “He’ershingenmosiken” đột nhiên được giải mã.
IDC từng lập ra cả một nhóm ngôn ngữ học để nghiên cứu riêng từ này, trong nhóm có một nhà nghiên cứu ngôn ngữ tên là
Palermo, người này chủ yếu nghiên cứu về diễn biến lịch sử của ngôn ngữ. IDC tuyển Palermo vào nhóm này, chủ yếu là vì khác với các học giả cùng chuyên ngành, anh ta không chỉ chuyên chú nghiên cứu một ngữ hệ mà tương đối hiểu rõ nhiều ngôn ngữ cổ đại thuộc các ngữ hệ của cả phương Đông lẫn phương Tây. Nhưng Palermo cũng chẳng biết gì về từ này cả, sau khi anh ta gia nhập IDC, việc nghiên cứu cũng không tìm ra bất cứ đầu mối nào hữu dụng. Anh ta có thể giải mã thành công được từ này hoàn toàn là nhờ một việc ngoài ý định, không liên quan gì đến kiến thức chuyên ngành của anh ta.
Một buổi sớm nọ, Palermo tỉnh dậy, bạn gái của anh ta, một cô gái Bắc Âu tóc vàng óng ả hỏi anh ta đã đến đất nước của cô bao giờ chưa.
“Na Uy? Chưa, anh chưa bao giờ đến đấy cả.” Palermo trả lời.
“Thế sao anh cứ lặp đi lặp lại hai cái địa danh cổ đại ấy trong lúc nói mớ vậy?”
“Địa danh nào?”
“Helseggen và Mosken ấy.”
Nghĩ đến việc bạn gái không liên quan gì đến IDC, từ này thốt ra từ miệng cô gây cho Palermo một cảm giác kỳ lạ, anh ta lắc đầu cười cười: “Đó là một từ hoàn chỉnh, He’ershingenmosiken, em mà tách nó ra từ những vị trí khác nhau, chắc chắn còn suy ra được nhiều địa danh hơn nữa ấy.”
“Hai địa danh em nói đều ở Na Uy mà.”
“Thế thì sao? Trùng hợp thôi.”
“Em nói cho anh biết nhé, người Na Uy bình thường cũng không quen thuộc với hai địa danh này đâu, chúng là địa danh cổ, giờ đều đã thay đổi rồi, em nghiên cứu lịch sử Na Uy nên mới biết đấy. Chúng đều ở vùng Nordland của Na Uy ngày nay.”
“Em yêu, vẫn có thể chỉ là trùng hợp thôi, vì âm đọc của từ này có thể tách ra theo bất cứ cách nào.”
“Đủ rồi! Đừng có đùa em nữa! Chắc chắn anh đã biết Helseggen là tên một ngọn núi, còn Mosken là một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Loften rồi đúng không.”
“Anh thật sự không biết mà, trong ngôn ngữ học có một hiện tượng thế này: đối với một từ dài không có cách viết cụ thể mà chỉ có âm đọc, trong trường hợp không hiểu được nghĩa của nó, có một số người hay tách nó ra một cách vô thức, vả lại còn tách ra dựa theo ý thích của mình, em chính là đang làm như thế.”
Điều Palermo không nói ra là, trong quá trình nghiên cứu từ này ở IDC, anh ta đã nhiều lần gặp phải tình trạng chia tách tùy tiện dựa theo ý nghĩ chủ quan của mình, vì vậy mới không để tầm lắm đến những gì bạn gái nói, nhưng câu tiếp theo của cô đã thay đổi toàn bộ cục diện:
“Được rồi, em cho anh biết thêm một việc nữa: núi Helseggen ở sát biển, đứng trên đỉnh núi có thể nhìn thấy đảo Mosken, đảo Mosken là hòn đảo ở gần núi Helseggen nhất!”
Hai ngày sau, Trình Tâm đã đứng trên đảo Mosken, dõi mắt nhìn vách đá cheo leo của núi Helseggen ở bờ biển bên kia, vách đá dựng đứng ấy màu đen, có lẽ vì bầu trời phủ kín toàn mây xám xịt như chì nên mặt biển cũng một màu đen kịt, chỉ có dưới chân vách núi xuất hiện một vạt sóng màu trắng. Trước khi tới đây, cô có nghe nói nơi này tuy nằm trong vòng Bắc Cực nhưng lại chịu ảnh hưởng của dòng biển ấm Thái Bình Dương, khí hậu khá ôn hòa. Dầu vậy, gió biển lúc này vẫn khiến Trình Tâm thấy rất lạnh lẽo. Nơi này thuộc quần đảo Loften ở miền Bắc Na Uy, một loạt các hòn đảo hiểm trở được hình thành bởi các dòng sông băng, tạo nên một hàng rào dài đến 160 km nằm giữa biển Bắc và Vestfjorden, tựa như bức tường ngăn cách Bắc Băng Dương với bán đảo Scandinavia, dòng biển giữa các đảo này rất mạnh và chảy xiết. Từ xưa, cư dân vùng này đã rất thưa thớt, chủ yếu là các ngư dân đánh bắt cá theo mùa. Ngày nay, hải sản đa phần là được nuôi, ngành đánh bắt hải sản đã biến mất, nơi này lại trở nên hoang vu vắng lặng, có lẽ không khác mấy thời cướp biển Viking lúc ẩn lúc hiện.
Mosken chỉ là một hòn đảo nhỏ xíu trong rất nhiều hòn đảo thuộc quần đảo Loften, núi Helseggen cũng chỉ là một ngọn núi vô danh, đây là địa danh từ thời Công nguyên, vào cuối kỷ nguyên Khủng hoảng, hai địa danh này đều đã thay đổi.
Đối diện với sự hoang vắng tiêu điều của chốn tận cùng thế giới này, Trình Tâm lại cảm thấy rất điềm nhiên. Chỉ mới không lâu trước đây thôi, cô còn cho rằng cuộc đời mình đã đi đến điểm cuối, nhưng lúc này, lại có rất nhiều lý do để cô tiếp tục sống. Cô nhìn thấy, ở chân trời nơi những mảng mây xám xịt kia che phủ có một khe nhỏ lộ ra bầu trời xanh. Vừa nãy, Mặt trời ló ra trong khe mây ấy được vài phút, lập tức khiến cả thế giới lạnh lẽo âm u này thay hình đổi dạng, rất giống một câu tả cảnh trong câu chuyện của Vân Thiên Minh: "... dường như người họa sĩ đang vẽ bức tranh này bốc lên một nắm bột vàng, hào phóng rải khắp lên toàn bộ bức tranh vậy.” Cuộc sống hiện giờ của cô chính là như vậy, trong ảm đạm thê lương ẩn giấu hy vọng, giữa lạnh lẽo âm u lại tỏa ra sự ấm áp dịu dàng.
Đi cùng với cô còn có Ngải AA và mấy chuyên gia IDC, gồm cả Tất Vân Phong, Tào Bân và chuyên gia ngôn ngữ Palermo.
Mosken là một hòn đảo nhỏ, không có cư dân thường trú, trên đảo chỉ có một ông già tên là Jason, ông đã hơn tám mươi tuổi, là một người từ thời Công nguyên, gương mặt Bắc Âu vuông vức đầy vẻ phong sương, khiến Trình Tâm nhớ đến Fraisse. Khi được hỏi khu vực đảo Mosken và núi Helseggen này có gì đặc biệt, ông già Jason chỉ vào phía Tây hòn đảo nói:
“Tất nhiên là có rồi, nhìn chỗ kia kìa.”
Đó là một ngọn hải đăng màu trắng, giờ mới là hoàng hôn nhưng đã phát ra những chùm sáng nhịp nhàng.
“Cái đó để làm gì vậy?” AA tò mò hỏi.
“Thấy chưa, bọn trẻ con quả nhiên không biết đấy là thứ gì...” Jason lắc đầu cảm khái, “Thứ đó dùng để chỉ dẫn hướng đi cho tàu thuyền thời cổ đại. Hồi những năm Công nguyên, tôi là một kiến trúc sư thiết kế hải đăng và đèn hiệu. Kỳ thực, cho tới kỷ nguyên Khủng hoảng, trên biển vẫn còn rất nhiều ngọn hải đăng được sử dụng, giờ thì chẳng còn cái nào nữa rồi. Tôi đến đây xây ngọn hải đăng này là để lũ trẻ con biết được, trước đây từng có một thứ như thế.”
Người của IDC đều rất hứng thú với ngọn hải đăng, thứ này khiến họ nhớ đến bộ điều tốc ly tâm của động cơ hơi nước, đều là những thiết bị kỹ thuật cổ đại mà ngày nay đã biến mất. Nhưng tìm tòi thêm một chút là hiểu được ngay, đây không phải là thứ họ cần tìm. Ngọn hải đăng vừa mới xây xong, sử dụng thứ vật liệu nhẹ và kiên cố của thời hiện đại, thời gian thi công chỉ tốn có nửa tháng. Jason còn khẳng định kiên quyết, hòn đảo này trong lịch sử chưa từng có ngọn hải đăng nào, vì vậy chỉ xét riêng về mặt thời gian, thứ này đã chẳng liên quan gì đến thông tin tình báo của Vân Thiên Minh rồi.
“Vùng này còn thứ gì đặc biệt khác nữa không?” Có người hỏi.
Jason nhìn bầu trời và mặt biển âm u, nhún vai: “Còn có gì được nữa? Cái chỗ hoang vắng quỷ quái này tôi cũng chẳng thích gì đâu, nhưng họ không cho tôi xây hải đăng trên các hòn đảo khác.”
Vậy là, tất cả quyết định lên núi Helseggen ở phía bên kia eo biển xem thử. Đúng lúc họ chuẩn bị lên máy bay trực thăng, AA đột nhiên nảy ra ý tưởng mới, muốn sang đó bằng con thuyền nhỏ của Jason.
“Tất nhiên là được, nhưng cô bé à, hôm nay biển sóng lớn, cô sẽ bị say sóng đấy.” Jason nói.
AA chỉ vào ngọn núi Helseggen ở phía bờ biển đối diện: “Quãng đường gần như vậy, có thể say sóng được ư?”
Jason lắc đầu lia lịa: “Không thể đi thẳng qua vùng biển này được, hôm nay thì không, phải vòng qua bên kia.”
“Tại sao?”
“Vì ở đấy có một xoáy nước lớn, có thể nuốt hết mọi tàu thuyền.”
Đám người ở IDC đưa mắt nhìn nhau, sau đó cùng nhìn Jason, có người hỏi: “Không phải ông nói là không có thứ gì đặc biệt nữa hay sao?”
“Tôi là người bản địa, đối với chúng tôi xoáy nước lớn không phải thứ gì đặc biệt cả, nó là một phần của vùng biển này, thường hay xuất hiện ở chỗ đó lắm.”
“Ở đâu cơ?”
“Chỗ kia kìa, từ hướng này không thấy được, nhưng có thể nghe thấy tiếng.”
Mọi người đều yên lặng, liền nghe thấy chỗ mặt biển đó phát ra những tiếng ầm ầm trầm đục mạnh mẽ, tựa như tiếng vó ngựa từ đằng xa vọng về.
Máy bay trực thăng cất cánh đi khảo sát xoáy nước lớn, nhưng Trình Tâm muốn ngồi thuyền đi xem, những người khác cũng đều đồng ý. Trên đảo chỉ có mỗi con thuyền của Jason, nhưng nếu muốn an toàn chỉ có thể ngồi được năm sáu người, Trình Tâm, AA, Tất Vân Phong, Tào Bân và Palermo lên thuyền, những người còn lại đành lên máy bay trực thăng.
Con thuyền nhỏ tròng trành rời khỏi đảo Mosken, trên mặt biển, gió lớn và lạnh hơn, những bọt nước mặn chát không ngừng quất vào mặt họ. Mặt biển xám xịt, dưới sắc trời tối dần toát lên một vẻ khó lường kỳ dị, tiếng ầm ầm kia mỗi lúc một lớn, nhưng họ vẫn chưa thấy xoáy nước.
“Ồ, tôi nghĩ ra rồi!” Tào Bân đột nhiên kêu toáng lên trong gió.
Trình Tâm cũng đã nghĩ ra, cô vốn tưởng rằng Vân Thiên Minh thông qua Hạt trí tuệ biết được chuyện gì đó ở đây, nhưng giờ xem ra không phức tạp đến thế.
“Edgar Allan Poe.” Trình Tâm nói.
“Cái gì? Đó là cái gì?” AA hỏi.
“Một nhà văn vào thế kỷ 19.”
Jason nói: “Đúng thế, Poe từng viết một truyện về xoáy nước lớn ở Mosken, hồi trẻ tôi đã đọc rồi, ít nhiều cũng có chút khoa trương, còn nhớ ông ấy viết rằng bức tường nước trong lòng xoáy dốc tới bốn mươi lăm độ, làm gì đến mức ấy.”
Một thế kỷ trước, thể loại văn học tự sự dùng chữ viết đã biến mất, nhưng các tác phẩm văn học và tác giả vẫn tồn tại, có điều, việc kể chuyện được thực hiện bằng hình ảnh kỹ thuật số. Hiện nay, các tiểu thuyết dùng chữ viết cổ điển đã biến thành văn vật, sau thời kỳ Đại Suy Sụp, một loạt các tác giả và tác phẩm thời cổ đại đã thất truyền, bao gồm cả Poe.
Tiếng ầm ầm càng lớn hơn. “Xoáy nước đâu?” Có người hỏi.
Jason chỉ vào mặt biển nói: “Xoáy nước ở thấp hơn mặt biển, mấy người nhìn cái vệt kia kìa, vượt qua nó thì mới thấy được xoáy nước.” Đó là một dải sóng dập dềnh, trên đỉnh ngọn sóng có bọt nước, tạo thành một vệt trắng, một hình cung lớn vươn về phía xa.
“Vượt qua nó!” Tất Vân Phong nói.
“Đó là lằn ranh sinh tử, thuyền mà qua đó là không quay lại được đâu.” Jason trợn trừng mắt nhìn Tất Vân Phong nói.
“Thuyền ở trong xoáy nước bao lâu mới bị hút xuống dưới?”
“Khoảng bốn mươi phút đến một giờ.”
“Vậy thì không sao, trực thăng sẽ cứu chúng ta lên.”
“Nhưng còn thuyền của tôi...”
“Chúng tôi sẽ đền cho ông cái khác.”
“Còn rẻ hơn xà phòng.” AA chen vào một câu mà Jason nghe không hiểu gì cả.
Jason cẩn trọng điều khiển con thuyền nhỏ vượt qua dải sóng, con thuyền lắc lư rồi trở nên ổn định, bị sức mạnh nào đó níu lại, tựa hồ đã tiến vào một đường ray bên dưới mặt biển, trượt đi cùng một hướng với những con sóng.
“Thuyền bị xoáy nước tóm lấy rồi! Trời đất, đây cũng là lần đầu tiên tôi nhìn nó gần thế này đấy!” Jason kêu lên.
Giống như leo lên đỉnh núi nhìn xuống, xoáy nước Mosken hiện ra trước mặt họ. Đường kính của cái phễu khổng lồ này lên đến cả nghìn mét, bức tường nước quả không dốc đến 45 độ như trong miêu tả của Poe, nhưng chắc chắn cũng phải 30 độ, bề mặt nó nhẵn nhụi và đặc kịt như biến thành thể rắn rồi vậy. Lúc này, con thuyền vừa mới tiến vào tầm ảnh hưởng của xoáy nước, tốc độ vẫn chưa nhanh lắm, càng xuống bên dưới thì vận tốc của xoáy nước càng lớn, ở lỗ nhỏ dưới đáy, vận tốc đạt đến cao nhất, những tiếng ầm ầm khiếp hãi chính là từ đó phát ra. Những âm thanh ấy đang phô ra sức mạnh và sự điên cuồng có thể nghiền nát hết thảy, hút lấy hết thảy mọi thứ trên đời.
“Tôi không tin là không thoát ra được. Ông cứ men theo đường thẳng, lao về phía trước hết công suất đi xem nào!” AA nói lớn với Jason. Ông già làm theo lời cô. Đây là một con thuyền chạy bằng động cơ điện, tiếng động cơ nghe như tiếng muỗi kêu giữa tiếng ầm ầm của xoáy nước. Con thuyền nhỏ tăng tốc lại gần đường ranh bằng bọt nước, sắp xông ra được rồi, thì ngay sau đó lại yếu đi chuyển hướng xuống dưới, rời xa đường ranh bọt nước, hệt như một viên sỏi bị quăng lên đã vượt qua đỉnh đường parabol rồi vậy. Họ lại cố thử thêm mấy lần nữa, lần nào cũng trượt xuống dưới, lần sau còn trượt sâu hơn lần trước.
“Thấy chưa hả, đường ranh đó là cánh cửa địa ngục, chỉ cần là tàu thuyền công suất thông thường, một khi đã vượt qua nó thì đừng hòng nghĩ đến chuyện quay về.” Jason nói.
Lúc này, con thuyền đã trượt xuống sâu hơn, không còn thấy đường ranh bằng bọt nước kia nữa, cũng không còn thấy mặt biển đâu nữa, sau lưng bọn họ là một “triền núi” bằng nước biển, họ chỉ có thể thấy phần đỉnh núi đang chầm chậm chuyển động ở bên kia xoáy nước. Mọi người đều dâng trào nỗi sợ khi bị một thứ sức mạnh không thể kháng cự nổi bắt lấy, duy chỉ có chiếc trực thăng đang đảo lượn trên bầu trời là mang đến đôi chút an ủi.
“Lũ nhóc, đến giờ ăn tối rồi.” Ông già Jason nói. Lúc này, Mặt trời sau tầng mây vẫn chưa lặn, nhưng đây là mùa hè ở vòng Bắc Cực, giờ đã là hơn 9 giờ tối rồi. Jason lôi trong khoang thuyền ra một con cá tuyết lớn, bảo là vừa mới câu lên, sau đó lại lấy ra ba chai rượu, đặt con cá lên một cái mâm sắt lớn, đổ một chai rượu lên trên, rồi bật lửa đánh bùng một cái. Đốt bằng lửa chừng chưa đầy năm phút, ông đã bóc luôn phần thịt từ con cá đang bốc cháy ra ăn, nói rằng đây là cách nấu ăn của người địa phương. Vậy là cả bọn vừa ăn cá vừa uống rượu, thưởng thức cảnh xoáy nước.
“Cô bé, tôi nhận ra cô, cô là Người Giữ Gươm phải không?” Jason nói với Trình Tâm: “Mấy người đến đây nhất định là vì sứ mệnh quan trọng rồi. Có điều phải giữ tâm thế điềm tĩnh, điềm tĩnh, đằng nào cũng không tránh được ngày tận thế thì cần phải hưởng thụ hiện tại.”
“Nếu bên trên không có máy bay trực thăng, ông còn điềm tĩnh vậy được không?” AA nói.
“Còn chứ, cô bé, nói cho cô biết, tôi còn chứ. Những năm Công nguyên, khi mắc phải bệnh hiểm nghèo tôi mới bốn mươi tuổi, nhưng tôi rất điềm tĩnh, hoàn toàn không có ý định ngủ đông, tôi bị người ta cho ngủ đông trong lúc ngất đi, bản thân hoàn toàn chẳng biết gì cả. Lúc tỉnh lại thì đã là kỷ nguyên Đe dọa, hồi đấy tôi còn tưởng mình đã chuyển kiếp rồi cơ, kết quả phát hiện ra chẳng có kiếp sau, cái chết chỉ bị đẩy lùi ra xa một chút, vẫn cứ đợi mình ở phía trước... Đêm hôm xây xong ngọn hải đăng, tôi ở ngoài khơi xa nhìn nó phát sáng, đột nhiên tỉnh ngộ ra: cái chết là ngọn hải đăng duy nhất sáng mái, dù ta có cho thuyền đi về hướng nào, cuối cùng cũng đều quay về hướng có nó gọi về. Tất cả đều sẽ chết đi, chỉ có Tử Thần sống mãi.”
Lúc này, họ đã lọt vào xoáy nước khoảng hai mươi phút, con thuyền nhỏ đã trượt xuống được khoảng một phần ba bức tường nước, thân thuyền mỗi lúc một nghiêng đi, nhưng do tác động của lực ly tâm, những người trên thuyền không bị trượt sang mạn trái. Lúc này, trong tầm mắt họ chỉ toàn là tường nước, dù là nhìn sang phía đối diện cũng không còn thấy “đỉnh núi” ở đằng xa. Họ không dám ngước lên nhìn bầu trời, vì ở trong xoáy nước, con thuyền chuyển động cùng với bức tường nước, nên xét về tương đối thì gần như là đứng yên, vì vậy không cảm giác được dòng nước xoáy, con thuyền nhỏ tựa hồ dính chặt vào sườn dốc một thung lũng làm bằng nước biển vậy; nhưng nếu ngước nhìn lên trời, xoáy nước sẽ lập tức hiện ra, bầu trời đầy mây sẽ chuyển động với vận tốc càng lúc càng nhanh, khiến người ta choáng váng xây xẩm. Lực ly tâm tăng lên, nên bề mặt bức tường nước bên dưới càng thêm trơn nhẵn, mật độ nước biển dày đặc hơn, cảm giác nước ở thể rắn cũng mạnh thêm, như là đã đóng băng vậy. Tiếng ầm ầm vọng ra từ lỗ hút ở đáy xoáy nước át hết tất cả, khiến bọn họ không thể nói chuyện với nhau được nữa. Lúc này, Mặt trời lại lộ ra từ kẽ mây phía trời Tây, chiếu một tia sáng vàng vào xoáy nước khổng lồ, song không chiếu xuống được dưới đáy mà chỉ rọi sáng một phần bức tường nước, khiến phần sâu bên dưới lại càng thêm tăm tối. Hơi nước phun ra từ lỗ hút đang gào rú dưới đáy xoáy nước, tạo thành một cầu vồng trong ánh dương, bắc ngang vực sâu đang xoay tròn một cách huy hoàng diễm lệ.
“Còn nhớ Poe cũng có miêu tả cầu vồng trong xoáy nước, hình như là xuất hiện dưới ánh trăng, ông ấy bảo đấy là cây cầu nối liền Thời gian với Vĩnh cửu!” Jason nói lớn, nhưng không ai nghe rõ ông nói gì.
Máy bay trực thăng đã đến cứu họ, bay lơ lửng phía trên thuyền chừng hai, ba mét, thả thang dây xuống cho người trên thuyền trèo lên. Sau đó, con thuyền trống không trôi đi xa, tiếp tục xoay những vòng lớn trong xoáy nước, con cá tuyết ăn dở trên thuyền vẫn cháy lên ngọn lửa xanh lạnh lẽo.
Trực thăng lơ lửng ngay phía trên xoáy nước khổng lồ, người trên máy bay quan sát hố nước đang không ngừng xoay bên dưới được một lúc thì cảm thấy choáng váng buồn nôn. Vậy là có người ra lệnh cho hệ thống điều khiển, để máy bay trực thăng bay theo hình tròn với vận tốc tương đương với vận tốc xoay của xoáy nước. Làm vậy, trong mắt họ xoáy nước bên dưới liền dừng lại, nhưng cả thế giới bên ngoài xoáy nước lại bắt đầu chuyển động, bầu trời, biển lớn và rặng núi đều quay tròn xung quanh họ, xoáy nước dường như trở thành trung tâm của thế giới, cảm giác xây xẩm chẳng hề bớt đi chút nào, AA nôn thốc nôn tháo chỗ cá vừa ăn vào lúc nãy.
Nhìn vòng xoáy bên dưới, trong đầu Trình Tâm hiện lên hình ảnh một vòng xoáy khác, tạo nên bởi một trăm tỷ ngôi sao, phát ra ánh sáng bàng bạc xoay trong biển vũ trụ, cứ hai trăm năm mươi triệu năm lại quay hết một vòng, đó chính là hệ Ngân Hà; ở đó, Trái đất thậm chí còn không được tính là một hạt bụi, mà xoáy nước ở Mosken này lại chỉ là một hạt bụi nhỏ bé trên Trái đất này mà thôi.
Nửa tiếng sau, con thuyền nhỏ trượt xuống đáy xoáy nước, trong nháy mắt liền bị lỗ hút nuốt chửng, trong tiếng ầm ầm có thể lờ mờ nghe thấy những âm thanh răng rắc khi thân thuyền bị bẻ gãy.
Máy bay trực thăng đưa ông lão Jason về đảo Mosken, Trình Tâm hứa sẽ mau chóng đưa tới con thuyền đền bù cho ông, sau đó chào từ biệt ông lão. Máy bay bay về Oslo, thành phố gần nhất có phòng chắn Hạt trí tuệ.
Trên đường, mọi người đều im lặng suy nghĩ, thậm chí còn không buồn trao đổi bằng ánh mắt.
Không cần phải nghĩ cũng biết xoáy nước khổng lồ ở Mosken ám chỉ điều gì, đã quá rõ ràng rồi.
Vấn đề bây giờ là, giảm vận tốc ánh sáng thì liên quan gì đến lỗ đen? Lỗ đen lại có liên quan gì đến tuyên bố an toàn với vũ trụ?
Bản thân lỗ đen không thể thay đổi vận tốc ánh sáng, chỉ có thể thay đổi bước sóng ánh sáng.
Giả sử giảm được vận tốc ánh sáng xuống còn một phần mười, một phần trăm của vận tốc ánh sáng trong chân không hiện nay, thậm chí là còn một phần nghìn, 30.000 km/s, 3.000 km/s hay 300 km/s đi nữa, thì có liên quan gì đến lỗ đen? Nhất thời không ai nhìn ra được.
Ở đây có một lằn ranh mà tư duy bình thường khó mà vượt qua được, nhưng cũng không phải quá khó. Những người này dẫu sao cũng thuộc vào nhóm có trí tuệ nhất của nhân loại, đặc biệt là Tào Bân. Là một nhà vật lý đã sống qua ba thế kỷ, ông ta rất hay tư duy kiểu cực đoan thế này, vả lại ông ta còn biết được một sự thực: Từ những năm Công nguyên, đã có một nhóm nghiên cứu thí nghiệm giảm vận tốc ánh sáng bên trong môi chất xuống còn 17 m/s, còn chậm hơn cả người đạp xe tốc độ nhanh. Đương nhiên, điều này khác về bản chất với việc giảm vận tốc ánh sáng ở trong môi trường chân không, nhưng ít nhất thì cũng khiến cho các giả thiết về sau không còn có vẻ quá điên rồ nữa.
Giảm nữa, giảm vận tốc ánh sáng trong chân không xuống còn một phần mười nghìn hiện tại, tức là 30 km/s, thì có liên quan gì đến lỗ đen? Dường như không có khác biệt về bản chất với những giả thiết trước đó, vẫn không ai nhìn ra điều gì... Không, đợi chút!
“16,7!” Tào Bân buột miệng thốt lên con số này, hai mắt ông ta sáng bừng lên, rồi mau chóng thắp lên ánh sáng trong mắt những người còn lại.
16,7 km/s là vận tốc vũ trụ cấp 3 của Hệ Mặt trời, nếu không đạt đến vận tốc này thì sẽ không thể bay ra khỏi Hệ Mặt trời.
Ánh sáng cũng vậy.
Nếu vận tốc ánh sáng trong chân không bên trong Hệ Mặt trời giảm xuống còn dưới 16,7 km/s, ánh sáng sẽ không thể thoát khỏi lực hấp dẫn của Mặt trời, Hệ Mặt trời sẽ biến thành một lỗ đen [22] .
Vì không thể vượt qua được vận tốc ánh sáng, nếu ánh sáng không thoát ra được, vậy thì không gì có thể thoát ra được, không có bất cứ thứ gì có thể bay ra khỏi chân trời sự kiện [23] của lỗ đen Hệ Mặt trời, hệ sao này sẽ triệt để cách biệt với phần còn lại của vũ trụ, biến thành một thế giới khép kín tuyệt đối.
Đối với những phân còn lại của vũ trụ, một thế giới như vậy tuyệt đối là vô hại.
Không thể biết được từ đằng xa quan sát Hệ Mặt trời có vận tốc ánh sáng bị giảm xuống biến thành lỗ đen sẽ trông như thế nào, nhưng chỉ có thể có hai khả năng: trong mắt những kẻ quan sát lạc hậu, Hệ Mặt trời đã biên mất; còn đối với những kẻ quan sát có trình độ văn minh tiên tiến, lỗ đen có vận tốc ánh sáng thấp hẳn là có thể quan sát thấy từ khoảng cách xa, nhưng kẻ quan sát sẽ lập tức hiểu rằng nó an toàn và vô hại.
Có một ngôi sao ở ngoài xa tít tắp, chỉ là một đốm sáng khi mờ khi tỏ trên bầu trời đêm, tất cả những người tình cờ liếc nhìn nó một cái đều sẽ nói: Ngôi sao ấy an toàn - đây từng là một việc được cho là bất khả, giờ thì thực sự đã có khả năng làm được.
Đây chính là lời tuyên bố an toàn đối với vũ trụ.
Biển Thao Thiết, họ nghĩ tới biển Thao Thiết, nghĩ tới vương quốc Không Chuyện Kể bị biển Thao Thiết phong tỏa mãi mãi. Kỳ thực, tọa độ hàm nghĩa này là không cần thiết, phần giải mã trước đó đã rất rõ ràng rồi.
Về sau, người ta gọi lỗ đen tạo nên bằng cách giảm vận tốc ánh sáng là “Hắc Vực”, vì so với lỗ đen mà vận tốc ánh sáng được giữ nguyên, bán kính Schwarzschild của lỗ đen có vận tốc ánh sáng thấp lớn hơn rất nhiều, bên trong nó không phải là điểm kỳ dị không-thời gian, mà là một khu vực rộng lớn.
Máy bay trực thăng bay phía trên tầng mây, lúc này đã là hơn 11 giờ đêm, Mặt trời đang chầm chậm lặn xuống ở phía Tây. Ánh tịch dương lúc nửa đêm chiếu vào khoang máy bay, trong ánh sáng vàng kim ấm áp ấy, mọi người đều đang tưởng tượng, tưởng tượng cuộc sống trong thế giới nơi vận tốc ánh sáng chỉ còn 16,7 km/s, tưởng tượng ánh sáng phát đi với tốc độ 16,7 km/s của vầng tịch dương trong thế giới ấy.
Đến giờ, hầu hết các mảnh ghép trong thông tin tình báo chiến lược của Vân Thiên Minh đã được hoàn thành, chỉ còn lại một mảnh: bức tranh của họa sĩ Lỗ Kim. Họ không thể giải mã được ẩn dụ hai tầng của nó, cũng không tìm ra tọa độ hàm nghĩa. Có người cho rằng, bức tranh có thể là một tọa độ hàm nghĩa của xoáy nước Mosken, tượng trưng cho chân trời sự kiện của lỗ đen, vì từ góc độ của một người quan sát bên ngoài, bất cứ vật thể nào lọt vào lỗ đen cũng sẽ nằm yên vĩnh viễn trên chân trời sự kiện, rất giống như người bị vẽ vào trong tranh. Nhưng phần lớn những người tham gia công tác giải mã đều không đồng tình với suy nghĩ này, hàm nghĩa của xoáy nước Mosken đã hết sức rõ ràng, Vân Thiên Minh còn sử dụng hình ảnh biển Thao Thiết để xác nhận hàm nghĩa ấy thêm một lần nữa, không cần thiết phải đặt thêm một tọa độ hàm nghĩa khác làm gì.
Ẩn dụ này rốt cuộc cũng không thể giải mã được, giống như cánh tay bị gãy của tượng thần Venus thành Milo vậy. Bức tranh của Lỗ Kim trở thành một câu đố vĩnh viễn không có lời giải. Tình tiết này là cơ sở của cả ba câu chuyện, từ sự khắc nghiệt mà tao nhã, tàn nhẫn mà tinh tế và chết chóc mà duy mỹ toát lên từ đó, rất có thể nó ngầm ám chỉ một bí mật cực kỳ lớn lao, có liên quan đến sống chết của toàn nhân loại cũng không chừng.