Rắn Thần Họ Lý

Lượt đọc: 593 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

Nghỉ hè sắp tới. Tàn cây phượng vĩ lá xanh um đã trổ hoa đỏ rực điểm những đài tươi  thắm màu vàng chanh. Ve sầu kêu ra rả khắp nơi. 

Vũ Phan phải ở lại trong trường dọn bài để dự kỳ thi lên lớp. Tú Mai tiến hành cuộc  điều tra một mình. Nhưng em không lấy thế làm lo ngại mà lại có phần thích thú là  khác. Em tin tưởng thế nào cũng thâu lượm được nhiều tin tức hay để khi Phan về,  báo cho anh biết. Vũ Phan sẽ phải phục lăn cô bạn gái mà chàng vẫn chê là nhát như  

thỏ đế. 

Nhưng, buồn quá! Đã gần một tuần lễ trôi qua, Tú Mai chưa dò xét được một manh  mối gì mới lạ. Chiều nào em cũng làng vảng tới gần khu vực biệt thự Bạch Tuyết, lòng  thầm mong Minh Lệ bình phục rồi thấy mình sẽ mời vào chơi chuyện trò tâm sự. Mấy  lần trước, khi thì giáo sư Châu, khi thì bà Giang, chị ruột ông, đã đón tiếp mời Tú Mai  vào nhà. Nhưng tình trạng sức khỏe của em nhỏ không cho phép. Minh Lệ lúc nào  cũng li bì trong cơn sốt, nằm mê man trong phòng cửa đóng kín mít. Tú Mai chỉ được  nắm nhẹ một bàn tay nhỏ xinh, nóng hừng hực, đáp lại nụ cười lợt lạt trên đôi môi  trắng nhợt của cô bé, rồi lại tất tả ra về, trong lòng buồn tênh chẳng chút mảy may  hy vọng. 

Một buổi chiều, cô gái tình cờ gặp được bác Hai Lũy bên vòng rào đầy hoa râm bụt.  Tú Mai hỏi thăm về bệnh trạng của cô bé, bác làm vườn lắc đầu buồn bã: 

- Cô nhỏ bị cảm lạnh, nhiễm vào phổi nặng lắm. Giáo sư Châu cho biết những người  đồng hương với Minh Lệ đa số đều bị yếu phổi cả. Vốn sinh trưởng tại vùng đất bạc,  đồng khô cỏ cháy, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, mùa đông gió lạnh cắt da,  mùa hạ lại nắng cháy da cháy thịt, Minh Lệ cùng đồng bào của em đều yếu phổi kinh  niên. 

Tú Mai ngạc nhiên: 

- Thế ra… Minh Lệ không phải là người Việt? 

- Đâu phải! Cô nhỏ người Trung Hoa, sinh trưởng tại thôn Xung Hà, cách Đài Bắc  chừng 300 cây số đó. Giáo sư Châu đem từ bên đó về đây mà. 

Cô gái ngấm ngầm vui sướng khi thu lượm được tin tức này. Tâm tư rộn ràng, Tú Mai  nhẹ bước tiến lại nhấc cái tay cầm dây kéo chuông treo toòng teng trên trụ cửa vườn,  chỉ vào hình vẽ: 

- A! Ai vẽ cái hình này đẹp quá hả bác Hai? 

Bác làm vườn nheo mắt, nghiêng đầu tiến lại gần, nét mặt bác lộ vẻ ngạc nhiên rõ  rệt: 

- Ủa! Hình vẽ cái gì đây?

Cô gái giọng lơ đãng: 

- Vậy mà tôi cứ tưởng bác Hai vẽ đấy chứ! 

Bác Hai Lũy cười vui vẻ: 

- Đâu có, cô! Tôi làm việc túi bụi suốt ngày ấy, thì giờ đâu! 

- Mà bác cũng không để ý nên không biết ai vẽ và vẽ từ bao giờ nữa? 

- Lớn tuổi rồi nên mắt tôi hồi này kém lắm. Vả lại tôi đâu cần phải giật chuông mỗi  khi muốn vào trong vườn. Chắc có từ lâu lắm rồi. Một tay thợ hồ nào khi xây trụ, đã  nổi hứng bất tử vẽ bậy vào đó. 

Vùa nói, bác Hai Lũy vừa cúi đầu chào và cất bước bỏ đi. 

Tú Mai nhẹ tay đặt đầu dây chuông vào chỗ cũ. Em quay ra, quơ xe đạp nhẩy lên,  đạp như máy. Vừa đạp, cô gái vừa cất giọng trong veo hát một điệp khúc nhạc tuổi  xanh, ngón tay không ngớt bấm chuông gõ nhịp. Đầu óc Tú Mai rộn ràng vui tươi như  mở hội : “Ngày hôm nay mình đi thám sát thật không uổng công.” 

*

 

Minh Lệ áp má trên mặt gối trắng tinh. Đôi môi xinh xinh mỉm nụ cười thật đẹp. Nằm  bẹp trong phòng tối tăm mãi, bữa nay được thoải mái nằm nghỉ ngoài hiên mát, trên  chiếc ghế xích đu êm êm, dưới giàn hoa thiên lý thoảng mùi hương thơm ngát, thật  không còn gì thú vị cho bằng. Hồi tưởng lại những ngày qua, nhất là khi bệnh tình đã  nhiều phần thuyên giảm nhưng giáo sư Châu vẫn không cho con gái nuôi ra ngoài e  gió máy, cô bé lại cảm thấy rùng mình chán ngán… Nhưng bữa nay thì hết rồi! Hết tất  cả những ngày nằm dài trong căn phòng quá tĩnh mịch, quá rộng lớn, đồng thời hết  luôn cả cơn ác mộng dưới đáy hầm đá tối đen như mực, chỉ có đá lạnh với nước chảy  róc rách như đếm nhịp thời gian. 

Minh Lệ giang đôi cánh tay gầy xanh dưới nắng ấm. Bầu trời xanh, nhìn qua kẽ lá,  trông như một thảm dệt khéo tay. Những con chim se sẻ chí chóe tranh mồi, chốc  chốc lại tung cánh vút qua thật nhanh như mũi tên. Những con bướm muôn màu chập  chờn bay lượn, hạ đôi cánh to và tròn xuống giống hệt cái “vó te” (một loại lưới nhỏ  mắt, bé bằng nửa cái mặt bàn) trong những ngày xưa xa xôi lắm, cô gái nhỏ tên Minh  Lệ vẫn thường thả xuống những vũng nước nông. Và rồi những bát cơm gạo đỏ trộn  với cá tép dầu kho đậm muối với nước tương đậu nành, trong mái nhà lụp xụp tại  làng xưa thôn cũ. 

Đôi hàng mi dài hạ xuống che kín đôi mắt đen, như một bức mành mỏng ngăn cách,  phân biệt hẳn hiện tại với ngày xưa. 

Minh Lệ lại thấy hiện ra trong trí nhớ một chiếc thuyền câu cũ kỹ, gỗ đã bạc màu,  ngồi trên là một ngư ông bình thản buông cần chờ đợi. Mặc cho sông nước dập dềnh  đưa đẩy thuyền con tới đâu thì tới, trên mặt hồ bát ngát mênh mông.

Xa xa, ngọn núi lửa nguội tắt đã từ mấy trăm năm, sườn núi đỏ quạch như còn cố  vươn lên cái đỉnh ngọn cao chớn chở màu trắng xám. Ngọn núi hùng vĩ như có ý ngăn  cấm loài người tới gần bằng cách trải đầy dưới chân một vùng bãi um tùm lau sậy và  nứa ngộ, tre rừng. 

Giữa khu rừng tre nứa đó là thôn Xung Hà. 

Cô bé bất giác thở ra một hơi dài nhè nhẹ. Bao giờ? Biết bao giờ mới có dịp trở lại  thôn Xung Hà? Cha nuôi cũng đã hứa một ngày nào đó, có dịp thuận tiện, sẽ đưa em  về thăm làng cũ chốn xưa. Trời! Lúc đó chắc là sung sướng lắm!… À, nhưng phải  không có mặt tên “chủ tịch” ở đó mới được! Cô bé khẽ rùng mình, – tên chủ tịch, vị  hung thần hiện đang nắm giữ vận mạng Minh Lệ trong bàn tay lông lá. Tên chủ tịch  đang nắm giữ lời em thề nguyện, lời em bị bắt buộc phải hứa mà em tin chắc là  không thể nào thi hành nổi. 

Hai năm, thấm thoát đã hai năm. Hai năm kể cũng mau thật mà nghĩ lại, lại thấy dài  lâu. Cuộc đời yên ấm an vui thì hai năm chỉ bằng hai tháng. Nhưng với một lời hứa…,  hai năm lại được kể là lâu. Với thời gian mòn mỏi, lời hứa, ngay đến cả một lời thề  cũng phải theo tháng ngày mà loãng dần đi chứ. Trong đầu óc non nớt của cô bé  Trung Hoa bừng lên niềm hy vọng : Lão “chủ tịch” đã quên lời em hứa và hắn thôi rồi  không còn nghĩ đến nữa. Hai năm rồi kia mà! Ồ, nếu lão đã quên hẳn rồi thì thích  quá! Cha nuôi em sẽ đưa em về làng cũ, thăm viếng chốn xưa. Em lại được trông  thấy tận mắt, sờ tận tay cái thôn làng bé nhỏ xác xơ, những mái lều tiều tụy nắng  mưa dầu dãi, mặt hồ nước trong leo lẻo lúc nào cũng xanh như da trời biêng biếc.  Trên những cánh phên làm liếp che cửa, những cuộn len cắt ở lông cừu ra, se lại rồi  nhuộm đủ màu : Đỏ, xanh, đen. Rồi những cái guồng kéo sợi làm bằng tre thô sơ, khi  quay quay phát ra những âm thanh kẽo kẹt, kẽo kẹt… 

Thôn Xung Hà… dưới chân ngọn Bạch-Hỏa-Sơn. 

Thôn Xung Hà, nơi Minh Lệ chôn rau cắt rốn, ra đời và lớn lên giữa đám gia súc : chó  dê đông nhung nhúc, và những đứa trẻ khác cùng trang lứa. Với những trẻ đó, em đã  nô giỡn, đánh bi đánh đáo trên bãi đất phẳng cứng màu đen xám. Cứ mỗi trận gió  lướt qua lại hốt lên một đám bụi mù phả vào mặt, vào mắt, mũi, khiến tụi bé con, áo  không đủ ấm, cứ phải chạy xúm lại với nhau, hai tay che mặt né cát, rú lên cười sằng  sặc, bất chấp cả làn gió đông cứa thịt cắt da. Bốn chung quanh làng là rừng cây xanh  ngắt. Rừng xanh xoải dài vô tận như một con quái vật khổng lồ hả miệng nuốt dần cái  thôn làng bé nhỏ cũng như đã nuốt gần hết ngôi đền có tới gần trăm bậc đá phủ rêu  xanh. Sát cạnh ngôi đền đã có từ hàng ngàn năm đó, là một mái nhà thờ, tường quét  vôi trắng xóa như màu muối. Đức Mẹ Đồng Trinh! Trong ngôi nhà thờ trắng đó, ngự  tọa Đức Mẹ Đồng Trinh. Trời! Minh Lệ mến yêu Đức Mẹ Đồng Trinh không biết chừng  nào. Cô bé chỉ thích ngắm nét cười hồn nhiên như nụ cười con nít trĩu nặng thương  yêu trên môi Đức Mẹ. Trong tay người, một bó huệ vàng và một cành hồng điểm hạt  trai lóng lánh. Buổi tối trước ngày rời bỏ quê hương, cô bé Minh Lệ đã quỳ xuống đặt  dưới chân Đức Mẹ một bó hoa huệ trắng em hái trên bờ giếng. Giếng! Chữ "giếng”  hiện ra trong ký ức chợt khiến cô bé rùng mình. Toàn thân Minh Lệ run lên bần bật 

như một người đang đứng trước một phong cảnh đẹp rực rỡ mà đột nhiên mặt trời lại  biến đâu mất hút. 

Cái giếng!… Phải rồi, cái giếng đó! Từ thuở biết chạy đi chơi, cô bé vẫn thường nhẩy  nhót, cười đùa bên bờ cái giếng đó. Em còn liệng cả đá sỏi xuống mặt nước tù hãm  đục ngầu của nó nữa mà. Có sao đâu… 

Chỉ mãi tới khi có mấy người lạ ở đâu tới, cô bé mới được nghe sự tích ghê gớm của  cái giếng ấy. Ngày xưa, lâu lắm rồi, có đến hàng mấy ngàn năm, người ta vẫn liệng  xuống cái giếng ấy những cô gái xinh xinh mặc quần áo đẹp, đeo đầy nữ trang để  cúng vị thần linh quái đản hiện vẫn còn ngự trị trong ngôi đền cổ thềm đá, tường và  mái phủ rêu xanh, kế bên ngôi nhà thờ trắng như màu muối kia. 

Trong đám người lạ ngoại quốc đó, có giáo sư khảo cổ Đặng Thế Châu. Rồi là những  cuộc đào xới sưu tầm cổ vật của giáo sư cùng với mấy người bạn. Phái đoàn khảo cổ  đào tìm được nhiều thứ lắm. Và cũng từ ngày đó, tên “chủ tịch” người địa phương  xuất hiện. Gã lén lút đi từ nhà nọ tới nhà kia rỉ vào tai mọi người tên vị thần linh  huyền bí, gieo rắc vào tâm não mọi người sự kinh hãi, lòng ham muốn cũng như óc  căm thù. 

Minh Lệ quằn quại, trăn trở cái đầu nóng bỏng vì những tư tưởng nặng nề đang chất  chứa bên trong. Em có ý muốn dồn tất cả những ý nghĩ nhức buốt ấy vào trong một  hốc kẹt nào đó, quên hẳn đi, để chỉ nhớ rằng : hiện tại em đang sống tại Việt Nam,  tại Tùng Lâm, phong cảnh nên thơ, khí hậu cũng như con người thật hiền hòa, trong  một tòa biệt thự rộng lớn khang trang có cái tên là Bạch Tuyết với những bức tường  

vôi trắng. Không bao giờ, thật không bao giờ, cái đầu óc non nớt của cô bé 11 tuổi lại  có thể cho rằng thế giới lại khác lạ, lại rộng lớn đến như vậy được. Và cũng không  phải mới hai năm, mà là từ lâu lắm rồi… hàng mấy chục năm, mấy trăm năm rồi mới  biến đổi được một cô bé man dại, tóc bím đuôi sam, áo một manh, quần một mảnh,  rách nát tả tơi, cơm ăn không đủ no, nước uống chẳng đỡ khát, thành một cô nhỏ  xinh tươi, áo quần tơ lụa, mặc đẹp, ăn toàn đồ bổ dưỡng, thông minh đĩnh ngộ, con  gái cưng chiều độc nhất của nhà thông thái họ Đặng tên Thế Châu. 

Giáo sư Châu còn cho em một quả cầu tròn mà ông giảng giải cho biết đó là quả địa  cầu hiện con người đang ở. Ông chỉ cho em đâu là nước Việt Nam, chỗ nào là biển cả,  chỗ nào là nước Ai Cập, Hy Lạp, Ba Tư, Ấn Độ, Mỹ Châu và… Đài Loan, hòn đảo có  quê hương xứ sở của em nữa. Minh Lệ mơ màng đến một ngày kia em khôn lớn, sẽ  theo cha nuôi đi khắp nơi trên mặt địa cầu để săn sóc ông, hầu hạ ông, chăm lo cho  ông từng miếng ăn giấc ngủ, không để ông phải lam lũ vất vả như hai năm trước đây  trong công cuộc đào tìm khảo cổ tại thôn Xung Hà nữa. Hồi này cha nuôi đã có vẻ già  yếu, tóc đã bạc trắng cả. Không thể để ông quá mê say trong công việc mà cứ gặp cái  gì ăn cái đó, gặp chỗ nào ngả lưng được là ngủ luôn tại đó. Chỉ trừ khi về đến biệt thự  Bạch Tuyết là mới thấy ông ăn ra bữa và ngủ có giờ có giấc đàng hoàng. Cha nuôi  hiền lành đức độ như vậy, có xả thân để trả nghĩa đền ơn ông âu cũng là một lẽ tự  nhiên.

Từ khi đặt đôi chân nhỏ bé lên phần đất Việt Nam, Minh Lệ có được một cảm giác an  ninh lạ thường. Giáo sư Châu cũng cho em nán lại Saigon một thời gian. Ôi chao! Cái  “làng thôn” gì mà to lớn quá thế! Người đông lúc nhúc, chen chân không lọt, xe cộ  vùn vụt lại qua như mắc cửi. Em ngỡ ngàng run sợ như một con cá con đang tung  tăng nơi biển hồ mênh mông bát ngát ở Xung Hà, nay bỗng nhiên bị thả chung với  muôn triệu con cá khác, to lớn hơn nhiều, trong một vũng nước vẩn bùn ngầu đục. 

Nhưng một con cá lúc nhúc lẫn lộn với muôn ngàn con cá khác, dễ gì phân biệt, dễ gì  bị theo dõi… Minh Lệ cảm thấy được an ninh cũng là nhờ thế. 

Rồi về đến Tùng Nghĩa, đồng quê thoáng đãng vắng người, nhưng em vẫn cảm thấy  được an tâm. Đã hai năm rồi, thời gian lặng lẽ êm trôi trong cảnh đời sung túc. Cô bé  thường vui mừng tự nhủ : “Có lẽ tên chủ tịch đã quên mình rồi”. Và em sẽ còn được  sung sướng mãi mãi trong cái lâu đài Bạch Tuyết này với những “người bạn” yêu quý  em hết lòng. Bác Hai Lũy lỗ mãng nhưng chất phác thật thà, hai con chó lài cao lớn  như hai con bê và con chó nhỏ tên Phích lúc nào cũng quấn quít bên cô tiểu chủ. 

Minh Lệ lật mình nằm ngửa, dựa đầu trên làn gối êm. Dĩ vãng đã trôi vào dĩ vãng.  Ngày hôm nay em sốt ruột đợi chờ người bạn mới. Em quay hẳn đầu, tia mắt dán chặt  nơi phía cổng ra vào. 

Quả nhiên, có tiếng chuông xe đạp kính coong, kính coong ngoài đường cái. Minh Lệ  tụt người xuống khỏi ghế xích đu. Giơ tay nắm chắc một chiếc gậy lớn bằng song, em  chầm chậm đặt bước lần xuống mấy bậc thềm, tiến dần ra phía cổng. 

Giọng trong vắt như tiếng chim sơn ca của cô bé vang lên, đồng thời một bàn tay vẫy  rối rít: 

- A! Chị! Chị Mai! Em chờ chị mãi đó! 

Để cô bé đỡ phải di chuyển nhiều đau chân, Tú Mai chạy nhanh tới: - Thế nào? Em khỏi hẳn rồi chứ? 

- Dạ, còn hơi tập tễnh chút xíu thôi chị à! 

Cô gái đưa tay đỡ Minh Lệ, dắt tới bên ghế xích đu: 

- Em cố kiêng cữ, đừng đi nhiều, nghe! 

Cô bé Trung Hoa nở một nụ cười rất xinh, nhìn Tú Mai tỏ vẻ biết ơn. Minh Lệ hay có  cái lối cười đột ngột như thế. 

- Trong khi em đau ốm miên man, chị hay đến thăm em lắm, phải không hả chị? Ba  và cô em kể chuyện lại em mới biết đấy! 

- Có thế! Minh Lệ nói sảng nói mê luôn miệng nên không nhận được ra chị kia mà!

- Đúng đấy chị ạ! Em sốt quá nên chẳng biết gì hết. Thế hôm nay chị có ở lại chơi với  em lâu không hả chị? 

Giọng nói cô bé đượm vẻ lo âu. 

- Lâu chứ! Chị ở chơi với em suốt buổi chiều nay, chịu không? 

Minh Lệ vỗ tay reo mừng. Giọng nói của em vui sướng nghe thật dễ thương: - Tối mịt chị mới được về đó nghe! 

- Ừ, tối mịt chị mới về. 

- À, anh gì đâu? Sao chị không dắt anh ấy tới đây chơi? 

- Anh Phan phải ở lại trong trường sửa soạn thi lên lớp đó em. 

- Tên anh ấy là Phan hả chị? À, khi chị cứu em trong hang đá anh Phan cũng cùng đi  với chị phải không? 

- Chính anh Phan đã trông thấy em trước nhất đấy! 

- À, anh Phan trông thấy em trước nhất. Thế rồi chị đã giúp anh ấy một tay khiêng  em ra khỏi cái hang hầm ghê rợn đó? 

- Hang đá đẹp thế sao em lại bảo là ghê rợn? Anh Phan và chị bất ngờ khám phá được  nên thích lắm. Chị định lấy chữ “Minh Lệ” đặt tên cho nó đấy. 

- Sao lạ thế, chị? Hang đá mà cũng phải đặt tên? 

- Đúng vậy đó, em! Nhiều lắm! Dưới đó nhiều hang xiên ngang chạy dọc như mạng  nhện. Nếu không đặt tên làm sao mà phân biệt được hang này với hang khác? Đường  hang nọ tiếp nối hang kia, quẹo phải, rẽ trái chập chùng ngoắt ngoéo như đường đi  trong thành phố vậy đó. Đẹp không thể tả được! Thế ba em chưa đưa em vào xem  trong đó bao giờ sao? 

Miệng cất tiếng hỏi mà trong lòng Tú Mai cảm thấy ngạc nhiên vô cùng. Những hang  động ngầm dưới đất tại vùng này đã nổi tiếng là danh lam thắng cảnh. Du khách nào  tới đây cũng chỉ có một mục đích vào trong đó xem tận mắt tác phẩm tuyệt vời của  thiên nhiên. Vậy mà… 

- Ba và cô em về ở đây chưa được lâu lắm. Phần lại bận rộn tu sửa nhà cửa, sơn phết  kê dọn đồ đạc đủ thứ nên chưa có lúc nào thong thả mà đi chơi được chị ạ! Đến ra  khỏi khu vườn này em cũng còn chưa ra nữa mà. Nói chi… 

Chưa ra khỏi khu vườn này! Tú Mai ghi nhớ ngay cái chi tiết “chưa bước chân ra khỏi  khu vườn” của Minh Lệ. và em thầm phân tích “như vậy thì không thể bảo là cô bé đã  tự tay hoặc là đã giúp người lạ mặt kia vẽ những hình thù quái gở đó!”

Rồi em vui vẻ nói chuyện: 

- Để bữa nào em khỏe hẳn chị sẽ xin phép ba và cô dẫn em đi xem. Minh Lệ biết  không? Cách đây chừng bốn cây số có một cái hang thạch nhũ còn đẹp hơn nhiều  nữa. Chưa được như động thạch nhũ của vịnh Hạ Long ngoài Bắc đâu, nhưng cũng đã  đẹp vô ngần rồi Minh Lệ à. Lối vào cửa hang tròn vành vạnh như cái nong, bước  xuống mát rười rượi. Rồi là tới một cái… giếng vẫn gọi là giếng Tiên, nước uống ngọt… 

Đột nhiên cô bé khẽ rú lên, ngắt lời Tú Mai: 

- Ý! Giếng!… Có cả giếng nữa! Trời ơi! 

Tia nhìn sáng rực, đôi mắt Minh Lệ trợn tròn: 

- Ối! Không, không! Chịu thôi! Em không đi đâu! Em sợ lắm! Mon men đến bờ em  cũng còn không dám, huống hồ… 

Tú Mai bật cười vui: 

- Minh Lệ nhát quá! Có gì đáng sợ đâu nào! Chung quanh bờ giếng người ta quây  hàng rào kiên cố lắm, có gì mà lo chứ! Rồi lại có cả thang sắt để trèo xuống, leo lên.  Đèn điện trong đó sáng trưng hà! 

Cô bé vẫn chưa hết run, luôn miệng lải nhải: 

- Ối, không! Em nhất định không đi đâu! Không đi coi đâu! 

Cô gái thương hại: 

- Tội nghiệp Minh Lệ! Em vẫn chưa quên được cái tai nạn ngã gẫy chân trong đường  hầm bữa nọ – chợt thấy trán cô bé tươm đẫm mồ hôi – em nực lắm hả, Minh Lệ? Thế  sao không mở khuy áo cổ ra cho mát? 

Cô bé khẽ giật mình, đưa tay… cài nốt chiếc khuy cổ, luống cuống: - À… không chị ạ! Em… lại thích trời nóng kia chứ! 

Tú Mai có dụng ý gợi cho Minh Lệ nói chuyện về con rắn lông chim nếu quả thực cô bé  biết được một vài điều gì về nó. Khi thấy Minh Lệ đưa tay gài kín khuy cổ áo, em cụt  hết hy vọng. Nhưng trong trí óc, Tú Mai vẫn loay hoay tìm cách… 

Cô bé đã bình tĩnh, hai tay nắm bàn tay Tú Mai thỉnh thoảng lại bóp nhè nhẹ. Cử chỉ  ấy bao hàm ý nghĩ hân hoan thầm kín khi có được một người bạn lớn hơn ở bên cạnh.  Tú Mai cũng biết thế. Em nhìn cô bé ốm đau, mỉm cười âu yếm. Một lúc sau, cô gái  giơ tay chỉ ra vườn hoa: 

- Bác làm vườn nhà Minh Lệ giỏi quá. Cỏ và hoa ở đây đẹp ghê. Em nên nhớ rằng  trong vùng ta, về mùa này, nước hiếm lắm à nghe!

- Nhà em có cái bể chứa nước lớn lắm, chị Mai! Chiều nào bác Hai Lũy cũng tưới cây  đó chị! Chị thấy hoa đẹp không? 

- Đẹp! Hèn chi Minh Lệ không cần đi ra ngoài là phải!… À, em đã thấy những con  vật?… 

Minh Lệ láu táu: 

- Thiếu gì chị! Ve sầu, rắn mối, chim chóc đủ thứ, đôi khi lại có cả thỏ rừng lạng  quạng lạc vào đây nữa đó chị. 

- Không, chị không nói những con vật sống ấy đâu. Mà chị muốn nói về… mấy cái  hình vẽ con vật kỳ dị đó kìa. 

Giọng nói của Minh Lệ chợt trầm hẳn xuống: 

- Hình vẽ con gì hả chị Mai? 

Cô gái nhè nhẹ lắc đầu: 

- Chị cũng không biết nữa… con gì đó kỳ lắm… nửa rắn nửa chim. 

Minh Lệ chợt vật người nằm rụt đầu vào mấy cái gối êm. Làn da mặt vốn hồng hào  của em đột nhiên xám ngoét. Đôi môi cô bé khô rang, lắp bắp: 

- Ý! Linh Thần Địa Chấn Phong Ba! 

Tú Mai mừng khấp khởi: 

- Minh Lệ biết con vật đó hả? Em vừa nói tên nó đó phải không? 

Cô bé không còn hơi sức đâu trả lời vào câu bạn hỏi nữa. Vẻ mệt mỏi đau yếu rã rời  của Minh Lệ khiến Tú Mai sợ hãi vô cùng. Cô gái cúi xuống đưa hai bàn tay xoa đôi  má nhợt nhạt như có ý làm cho nó được ửng hồng lên một chút. 

Tiếng nói Tú Mai run run khắc khoải: 

- Em làm sao thế, Minh Lệ? Chị chạy đi gọi người cho em nhé! 

Cô bé chợt mở to đôi mắt: 

- Ấy, đừng gọi… chị! Em choáng váng chút xíu thôi mà! 

Cô gái tự trách thầm : “Mình dại quá! Làm Minh Lệ bị xúc động ghê gớm… A, vậy là rõ  ràng cô bé này có biết một cái gì rồi. Thật mình vụng về quá! Bây giờ có cạy răng  Minh Lệ cũng không nói cho biết nữa…” 

Lịm người đi rất nhanh mà khi hồi tỉnh cũng mau chóng, cô bé đã lấy lại được vẻ mặt  bình thản tự nhiên. Duy chỉ có tiếng nói là chìm hẳn xuống, thì thào:

- Hình vẽ đó ở đâu hả chị? 

- Quanh quẩn gần đây thôi! Trên trụ cổng ngoài vườn kia cũng có kìa. Minh Lệ ngẩng đầu, hất cằm về phía hàng rào: 

- Kia đó hả chị? 

- Đúng đó em! Em muốn ra coi không? 

Cô bé chợt quay nhìn đi nơi khác: 

- Thôi, để khi khác chị ạ, vội gì! Cũng chỉ là cái hình vẽ thôi mà! Con vật thật xem  mới thích hơn chứ! 

Ngoài miệng nói tỉnh như thế, nhưng nếu Tú Mai tinh mắt hơn chút nữa, chắc hẳn đã  nhận thấy khóe môi của cô bé đang run lên nhè nhẹ. Nhưng Minh Lệ vẫn gắng gượng  mỉm cười. Tú Mai lợi dụng ngay cơ hội: 

- Thế theo em thì hình vẽ ấy có nghĩa gì? 

Tia nhìn cô bé Trung Hoa lướt qua khuôn mặt bạn rồi hướng lên cao, cao tít tận chín  tầng mây trắng: 

- Chưa nhìn kỹ tận mắt làm sao em biết được mà nói, hả chị? 

- Chị đỡ em ra coi nghe! 

Minh Lệ lắc đầu: 

- Thôi, chị ạ! Để lúc khác, vội gì? 

Giọng nói cô bé có vẻ cương quyết. Tú Mai biết thế nên cũng không ép nữa. 

Trong lòng lo ngại vẩn vơ, Tú Mai đưa mắt nhìn quanh một vòng. Cũng như khi mới  bước chân đến, quang cảnh vẫn không có gì thay đổi : nắng trong vườn vẫn đẹp, ve  sầu vẫn kêu ra rả tấu khúc nhạc mùa hè từ bao giờ đến giờ vẫn vậy. Nhưng cô gái lại  cảm thấy một cái gì… là lạ. Ngoài kia, trên trụ cổng, dấu hiệu quái vật “đầu rắn mình  chim” tác động như một lá ngải bùa thần bí. Hình vẽ nhỏ nhít chẳng nghĩa lý gì,  nhưng hình như có đôi cánh khổng lồ che khuất được cả nắng đẹp khiến cảnh vật trở  thành tăm tối âm u. 

Minh Lệ vẫn lặng im không nói một tiếng. Tú Mai khẽ đứng lên: 

- Thôi chị về nhé! Minh Lệ buồn ngủ rồi! 

Dứt lời cô gái xoay mình. Chưa được một bước, Minh Lệ đã chồm ngay dậy, níu chặt  cánh tay bạn:

- Chị cần về lắm hả? Vậy chị hứa với em là sẽ tới nữa đi, chị! 

- Em muốn chị đến nữa? 

- Dạ! Chị còn phải hỏi! 

- Được rồi! vậy bây giờ Minh Lệ nằm nghỉ đi, rồi chị sẽ tới nữa! 

Ra tới cổng vườn, Tú mai khẽ quay mặt lại. Minh Lệ chong mắt nhìn theo. Tia nhìn  ngây dại như ánh mắt một con thú rừng bị săn đuổi, đang loay hoay tìm đường chạy  trốn. Tú Mai cảm thấy bất nhẫn, đã định trở vào hỏi cho ra điều bí mật đang ám ảnh  cô bé, khuyến khích cô bé kể lể hết nỗi niềm để rồi em sẽ tìm cách giúp đỡ. Nhưng  nghĩ kỹ, Tú Mai lại cắm cúi đi thẳng. Lý do : em ngại Vũ Phan biết được chuyện này  sẽ chế em là chỉ giàu óc tưởng tượng, mơ màng toàn những chuyện ghê gớm không  đâu. 

- Ừ, kể thì mình cũng hay lo lắng hão huyền! Minh Lệ ở đây có giáo sư Châu, rồi lại bà  cô, bác Hai Lũy lực lưỡng khỏe mạnh, chưa kể hai con chó lài cao lớn như hai con bê,  dữ tợn như cọp ấy, phỏng còn sợ hãi cái gì nữa chứ! 

Tú Mai đạp xe thoăn thoắt lao xuống chân đồi. Trong đầu óc em chỉ vang vang một  câu mong đợi “Anh Phan mãi chẳng về, giải tỏa cho mình những điều nghi vấn này.  Bực quá, thời gian gì mà đi chậm như rùa bò. Ngày mai, ngày mai hoài, lâu quá!” 

Tâm lý chung của các cô nữ sinh trẻ tuổi… mà cũng là hầu hết của tất cả những người  thiếu niên : Không bao giờ trí óc họ vương vấn đến hai chữ “hôm qua”. Trái hẳn thế,  lúc nào họ cũng chỉ nghĩ : “ngày mai, ngày mai”… 

*

 

Minh Lệ ngồi thừ người trên mép giường, tia mắt lơ đãng ngắm nhìn những lỗ chạm  trổ hình trái tim trên bậu cửa sổ cao. Đêm không trăng, nếu có, ánh trăng đã lọt qua  mấy cái lỗ đục đó, chiếu sáng căn phòng em ngủ. Nhiều đêm, Minh Lệ đã được ngắm  cảnh vật trong biệt thự Bạch Tuyết dưới ánh trăng lấp lánh như bạc. Cô bé lần bước  ra tới khuôn cửa sổ, đưa tay mở cái móc sắt, đẩy hai cánh nhè nhẹ để khỏi làm kinh  động tới mọi người. 

Đúng như em dự đoán : Bầu trời chỉ có toàn sao nhỏ li ti, ở xa tít nên không thấy ngôi  nào lấp lánh. Da trời xanh thẫm, trong như một hồ nước thật sâu, dưới đáy rải toàn  cuội sáng trắng. Ngẩng đầu nhìn lên cao mãi, Minh Lệ cảm thấy mắt hoa đầu váng,  nên vội vàng cúi xuống nhìn lối đi trải sỏi trong vườn dưới chân cửa sổ. Tâm không  định mà Minh Lệ đưa mắt ước lượng khoảng cách từ thành cửa sổ tới mặt đất. Bất  giác em lắc đầu lẩm bẩm: 

- Cao quá, không nhẩy được, chân mình chưa khỏi hẳn, còn yếu quá! 

Thả một cái ghế dựa xuống, chiều cao giảm bớt được một nửa. Phút sau, không mệt  nhọc gì cho lắm, Minh Lệ đã đứng trên lối đi. Kể từ lúc nghe Tú Mai tả hình dạng con 

quái vật vẽ trên trụ cửa vườn, em biết ngay là tai họa đã đến : tên “chủ tịch” đã có  mặt tại đây rồi. Y đã tìm đến nơi để đòi hỏi em thi hành công việc em đã hứa. Cô bé  khốn khổ run lên khi nhớ lại câu nói của lão “chủ tịch” thôn Xung Hà: 

- “Khi nào xuất hiện dấu hiệu “Rắn thần họ Lý” tức là ta đã tới nơi rồi đó, nghe chưa!” 

Vậy thì gã sang Việt Nam, mò đến đây từ hồi nào? Và hắn đã rình rập, chờ đợi bao lâu  cái khoanh tròn chung quanh con rắn thần họ Lý, do chính bàn tay Minh lệ vẽ thêm  để chứng tỏ là em đã biết hắn đến và em sẵn sàng tuân lệnh hắn, thi hành công tác  mật. Chắc hẳn ngày nào hắn cũng ẩn mình sau đám cây rậm nơi hàng rào quanh  vườn biệt thự Bạch Tuyết, chờ đợi “dấu hiệu nhận nhau” mà hắn càng mong lại càng  mất. Và mỗi ngày, cơn phẫn nộ trong lòng hắn mỗi gia tăng… Nhưng liệu tên “chủ  tịch” có biết chăng là Minh Lệ bị đau ốm liệt giường không bước nổi một bước chân?… Có thể, có thể là hắn đã biết nên mới im lặng đợi chờ, ẩn kín một chỗ, thu mình như  một con nhện lông lá chờ đợi con mồi, và con mồi Minh Lệ dĩ nhiên là không thể nào  lẩn trốn mãi được. 

Cô bé lần mò ra tới trụ cổng ngoài. Đột nhiên, một cái gì mềm nhũn, lạnh ngắt, lướt  cọ vào mắt cá chân, Minh Lệ suýt kêu thét lên nếu không đưa tay lên bịt miệng kịp.  Thì ra, con Phốc, mẹ con chó Phích của em, đang đi “tuần tiễu” trong vườn chợt thấy  bóng người liền đuổi theo, tới gần, đánh hơi xem quen hay lạ. Cô bé nắm chặt “cổ dề”  bằng da, dắt con chó khôn đi theo ra phía ngoài cổng. 

Minh Lệ nhấc cái tay cầm sợi dây chuông. Trong bóng tối, mấy ngón tay non nớt của  em xoa xoa lên mặt lớp hồ tô, sờ thấy rõ ràng nét vẽ hằn sâu trên mặt vôi trắng  cứng. Cúi sát tận nơi, cô bé cũng không thể nhìn thấy được gì. Đêm đã không trăng,  trời tối như đêm ba mươi Tết, lại thêm cây long não, tàn lá vừa lớn vừa rậm chùm lên  nữa khiến bóng đen lại càng dầy đặc. May mà trong túi Minh Lệ lại có bao quẹt. Em  khẽ quát con chó: 

- Xê ra, Phốc! Ngồi đó, không được sủa ầm lên, nghe! 

Lửa quẹt lóe lên, vươn dài ra, tắt ngấm ngay vì có gió tạt mạnh. Nhưng, ánh lửa dài  cũng đã đủ soi sáng cái hình vẽ con quái vật đầu rắn lông chim, con “rắn thần họ Lý”.  Cô bé run rẩy vì cái lạnh của ban đêm thì ít mà lẩy bẩy vì cái lạnh do hãi sợ trong  lòng thì nhiều. Toàn thân giá buốt, Minh Lệ thầm khấn nguyện Đức Mẹ Đồng Trinh  ban phép nhiệm mầu biến cái hình vẽ quái đản kia thành một cái hình vuông, tam  giác, chữ nhật hoặc hình thang hay bất cứ một hình gì cũng được, miễn là… hoàn toàn  vô nghĩa thì thôi. 

Từ phía rừng cây um tùm gần đó khẽ vang ra một tiếng cành khô gẫy kêu lắc rắc.  Một con chim ăn đêm rời chỗ hay một con thú rừng rón rén rình mồi trong đêm tối?  Có lẽ thế! Nhưng trong đầu óc nóng bỏng của cô bé lại chợt vang lên một câu ghê  gớm: 

- “Lão chủ tịch!”

Toàn thân như bị dội một gáo nước lạnh, nổi da gà, quên hẳn cái chân đau đớn, Minh  Lệ lao người chạy một mạch tới bên cái ghế dựng dưới chân cửa sổ. dừng lại mấy giây  để thở, cô bé thoăn thoắt leo lên, nhẩy mạnh vào căn phòng ấm cúng, chăn nệm tinh  tươm, bốn bên tường xây kín mít, an ninh chắc chắn vô cùng. Cô bé rúm người ngồi  thừ trên mặt nệm trắng. Đầu con chó Phốc đặt êm lên đầu gối tiểu chủ. Minh Lệ ôm  đầu con nghĩa khuyển ghì chặt vào mình. Thái độ và cử chỉ bình tĩnh của con vật khôn  ngoan khiến cô bé cảm thấy trong lòng ấm hẳn lại, và em tự nhủ: 

- Chắc không phải đâu! Nếu đúng là gã thì con Phốc đã gầm gừ sục sạo dữ lắm rồi  chứ! 

Nhắc cái ghế dựa đem vào, đóng chặt hai cánh cửa sổ xong, Minh Lệ nằm vật xuống  giường. Đêm không lạnh lắm mà em rét run cầm cập. Những tưởng đã quên được mọi  điều buồn khổ từ hai năm qua : nét mặt hung ác của người cậu tên Hà Bỉ Bảo, đôi  mắt nham hiểm của người mợ tên Bạch Lệ Chi. Rồi lại cả khuôn mặt mấy đứa anh họ,  chị họ, con của cậu mợ. Chúng nó thật dễ thương, vẫn chia sớt với em từng bát cơm  gạo đỏ trộn toàn ngô khoai ăn với cá tép dầu kho nước tương đậu nành bùi thơm béo  ngậy. 

Quá khứ… như một cuốn phim dài quay lại, thật chậm, những nét trắng đen nổi bật  như mới xẩy ra ngày hôm qua. 

Minh lệ nằm dài trên tấm chăn len, úp sấp thân mình, gục mặt vào đôi cánh tay xếp  lại ngang đầu như người say ngủ. 

Sự thực, tuy thân xác nằm đó, thần trí em lại đã lọt ra khỏi khu vườn biệt thự Bạch  Tuyết, chơi vơi vút bổng, bất chấp cả không gian lẫn thời gian, bay về… thôn Xung  Hà, chốn xưa, nơi quê cũ, khi ba năm về trước, Minh Lệ mới lên tám tuổi.

« Lùi
Tiến »