Gã hán tử nhếch mép, ánh mắt lộ vẻ lạnh lùng khiến đám người xung quanh cảm thấy bất an.
Xem ra hiệu quả không tệ, ít nhất dục vọng trong lòng tên văn sĩ mặt tròn đã bị khơi dậy. Còn những kẻ khác, gã tin rằng hiếm có ai giữ được tâm trí bình thản trước những thứ này.
Là một nhân vật quan trọng của Thiên Sơn Vệ, gã hiểu quá rõ những du hiệp, mạo hiểm giả từ Trung Nguyên tìm đến biên cương, thậm chí vượt biên sang tận tái ngoại để kiếm sống. Hằng năm, số lượng người ra vào đại mạc hoang nguyên từ các cứ điểm của Thiên Sơn Vệ không hề nhỏ. Trong số đó tuy có vài kẻ tự rèn luyện để đột phá võ đạo, mong cầu thiên đạo, nhưng tỷ lệ ấy vô cùng nhỏ bé, đại đa số đều là những người thực sự mưu sinh.
Hơn nữa, nếu thực sự muốn tĩnh tâm tu luyện, hà tất phải tìm đến nơi tái ngoại này?
Trong quan nội có biết bao danh sơn đại xuyên để tự rèn luyện, việc gì phải đến chốn khổ hàn này?
Ai cũng biết, muốn võ đạo đại thành thì không thể chỉ dựa vào khổ tu. Võ kỹ tu luyện là một chuyện, nhưng cơ hội cọ xát lại vô cùng quan trọng. Sự rèn luyện thực thụ thường chỉ đến từ những giây phút sinh tử giữa biển máu lửa mới có thể đốn ngộ thăng hoa. Nhưng làm sao đảm bảo mình không bị đối phương giết chết trong một đòn? Làm sao có thể tự cứu lấy mình khi bị thương hoặc lâm vào tình thế nguy cấp?
Điều này đòi hỏi phải có vũ khí binh khí và hộ giáp vượt trội, cũng cần những loại thánh dược linh phù cứu mạng trong lúc hiểm nghèo. Tất cả những thứ đó hiển nhiên không phải võ giả bình thường nào cũng sở hữu được, mà phải tốn rất nhiều tiền bạc mới đổi lấy được. Những võ giả nghèo rớt mồng tơi làm sao dùng nổi?
Tóm lại một câu: phải có tiền thì mới dám nói đến chuyện chuyên tâm tu luyện võ đạo. Câu nói "nghèo văn giàu võ" tuyệt đối không phải lời nói suông, mà là chân lý đã được đúc kết qua hàng ngàn năm.
Trong sách có vàng ngọc, trong sách có mỹ nhân. Kẻ nghèo hèn có thể nhờ khổ đọc thánh hiền thư mà thi đỗ khoa cử, hóa rồng một bước, nhưng tỷ lệ đó thực sự quá thấp.
Dù Đại Hạ vẫn giữ phương châm "dùng văn trị võ", nhưng thực tế khi mối đe dọa từ man tộc biên cương ngày càng lớn, cùng với việc triều đình Đại Hạ suy giảm khả năng kiểm soát địa phương, cục diện "dùng văn trị võ" đang đứng trước sự biến đổi, thậm chí là sụp đổ. Những kẻ giàu có và quan lại đều nhận thức được rằng nắm giữ vũ lực mới có thể ứng phó linh hoạt với thời cuộc, nên họ càng ưu tiên thực hiện giá trị bản thân và bảo vệ lợi ích gia tộc thông qua việc tu luyện võ đạo hoặc phương thuật.
Vì vậy, gã tung ra miếng mồi đầu tiên: ba trăm bánh vàng.
Ba trăm bánh vàng đối với một võ giả có chút trình độ cũng là một miếng mỡ béo bở. Võ giả sơ cấp bình thường đi làm thuê bán mạng, một năm thu nhập chưa chắc đã được một trăm bánh vàng. Một chuyến công cán kiếm được ba trăm bánh vàng, ít nhất cũng đủ sức cám dỗ.
Miếng mồi thứ hai là kim châu trân bảo bị cướp được từ Âm Sơn Vệ Đốc Phủ. Nói vậy cũng không hẳn là nói dối. Khi Âm Sơn Vệ Đốc Phủ thất thủ, người Ngột Lạt đúng là đã cướp được một số kim châu trân bảo. Nhưng số lượng bao nhiêu, giá trị thế nào thì chính gã cũng không rõ, việc chúng có nằm trong xe hay không thì gã chỉ có thể nói là phỏng đoán.
Miếng mồi thứ ba chính là khí cụ và tư liệu bị tịch thu từ Âm Sơn Vệ Đốc Phủ.
Khí cụ và tư liệu trong quốc gia và thời không này mang ý nghĩa đặc thù.
Khí cụ thường chỉ các đạo cụ đặc biệt do Phương Thuật Sư (Sĩ) và Phương Thuật匠 Sư (Sĩ) chế tạo, bao gồm cả loại dùng để tấn công lẫn phòng thủ, có loại dành cho cá nhân, cũng có loại dùng cho tập thể, vô cùng đa dạng.
Còn tư liệu thường chỉ các loại vật liệu đặc biệt dùng để chế tạo khí cụ và vũ khí, bao gồm đá, gỗ, xương, dược liệu, kim loại, v.v.
Âm Sơn Vệ Đốc Phủ vì cai quản vùng đất Ngụy Tấn, đồng thời nắm giữ yếu điểm ra tái ngoại của vùng Ngụy Tấn Hà Lạc, nên hằng năm luôn có một lượng lớn du hiệp và kẻ săn tìm kho báu đổ xô ra ngoài tìm khoáng sản. Diện tích rộng lớn cùng địa chất và khí hậu đặc thù của hoang nguyên Mông Cổ khiến vùng đất này sản sinh nhiều loại tư liệu mà Trung Nguyên không có hoặc sản lượng rất ít. Ngoài việc các du hiệp này bán lại tư liệu tại Cao Khuyết Quan, Kê Lộc Tái hoặc Vân Trung khi quay về Trung Nguyên, thì các man tộc trên hoang nguyên hoặc thương nhân Đại Hạ cũng thu gom rồi bán lại cho Vệ Phủ.
Bản thân Vệ Đốc Phủ cũng cần những vật liệu này để cung cấp cho các Phương Thuật Sư chế tạo công cụ phòng thủ. Những thiết bị và vũ khí này một mặt dùng để củng cố các cứ điểm quan ải, mặt khác cung cấp vũ khí hoặc hộ cụ có sức chiến đấu và khả năng phòng hộ mạnh hơn cho những tướng sĩ có năng lực đặc biệt.
Loại tư liệu này mỗi năm tiêu hao không ít, vì mục đích chiến bị, Vệ Đốc Phủ luôn mua gom từ trước để làm dự phòng.
Một Âm Sơn Vệ Đốc Phủ quản lý nhiều thành phố quan trọng, cộng thêm các cứ điểm quan ải, phải đối mặt với mối đe dọa từ vũ lực mạnh mẽ của man tộc tái ngoại, nên buộc phải chuẩn bị tư liệu các cấp để dự phòng. Vì thế, kho dự trữ tư liệu trong Vệ Đốc Phủ không hề ít. Đối với võ giả và Phương Thuật Sư, những thứ này vừa có giá trị thực dụng, vừa có thể nhanh chóng quy đổi thành tiền, thậm chí còn được ưa chuộng hơn cả kim châu trân bảo thông thường.
Tình trạng này cũng tồn tại ở Thiên Sơn Vệ và Yên Sơn Vệ. Ba Vệ Phủ của đế quốc đều là những bên thu mua quan trọng các loại tư liệu tái ngoại, đặc biệt là những thứ phục vụ mục đích quân sự.
Đối với võ giả và Phương Thuật Sĩ, kim châu trân bảo tuy đáng quý, nhưng các loại tư liệu đặc biệt lại càng được coi trọng hơn. Không vì lý do gì khác, kim châu trân bảo họ chưa chắc đã biết giá trị thực, nhưng tư liệu đặc biệt thì họ lại quá quen thuộc.
Dù là Huyền Thiết, Xích Đồng, Ban Ngân, Sa Kim phổ biến, hay là Băng Ngân, Bí Ngân, Hãn Kim, Trầm Sam Mộc, Thái Huyền Sa, Chử Nhưỡng, Thảo Silicon hiếm gặp, những người trong nghề hầu hết đều biết rõ giá cả. Một là vì qua tay thợ rèn và thợ chế tạo đạo cụ, chúng có thể nhanh chóng biến thành vũ khí, ám khí, giáp trụ hoặc công cụ hỗ trợ cần thiết. Hai là dù bản thân không dùng đến cũng có thể bán lại cho đồng nghiệp hoặc trực tiếp bán cho thợ rèn, thợ chế tạo đạo cụ. Họ có thể ước tính giá trị ngay lập tức, hơn nữa vì thường xuyên tiếp xúc với những người cùng ngành cần loại tư liệu này nên việc tiêu thụ cũng thuận tiện hơn nhiều, không giống như kim châu trân bảo, phải đến tận các đô thị lớn mới đổi được thành bánh vàng hay thỏi bạc.
Xem ra miếng mồi gã tung ra đã phát huy tác dụng. Đối với đám người này, lợi ích thực tế còn hiệu quả hơn là dùng vũ lực đe dọa. Về điểm này, gã hán tử đã tính toán không sai.
Đám người này dám lảng vảng ở vùng đất Ngụy Tấn và hoang nguyên Mông Cổ sau khi các cửa ải của Âm Sơn Vệ bị người Ngột Lạt phá vỡ, tự nhiên đều có chút bản lĩnh. Có thể nói chúng là một đám con bạc liều mạng, đồng thời còn cảnh giác hơn cả Yểm Hồ trên hoang nguyên Mông Cổ. Để lay động và khiến chúng thực tâm bán mạng, chỉ có lợi ích thực tế mà thôi.
Cho nên khi tên văn sĩ mặt tròn nói ra những lời đó, gã hán tử ngược lại cảm thấy yên tâm. Tất nhiên, bề ngoài gã vẫn phải tỏ ra vẻ tức giận và không hài lòng.