Nữ Tú Tài

Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú Thích

❊ ❊ ❊

[←1]

Sách ngoài : Sách nước ngoài chép những truyện lạ lùng xưa nay.

[←2]

Quan tham-tướng : Chức quan tham-dự vào các công việc để bàn mưu tính chước đặt ra những kế-hoạch làm việc.

[←3]

Quốc sắc khuynh thành : Người con gái đẹp nhất trong nước có tiếng, cười nghiêng nước nghiêng thành.

[←4]

Trượng-phu : Con trai (vợ thường gọi chồng là trượng phu).

[←5]

Huyên-đường là người mẹ. Ý câu này nói : mẹ chết sớm.

Nghiêm-đường là cha. Ý câu này nói : cha còn sống.

[←6]

Đại chấn tư-văn : Nền văn-học phát triển mạnh mẽ.

[←7]

Trá hình làm đứng nam-nhi : Mặc giả hình con trai.

[←8]

Khởi trình tòng sư : Lên đường theo thầy.

[←9]

Phong tư : Dáng dấp xinh đẹp.

Ngôn từ khoan dung : Nói năng rất đứng đắn lễ độ.

[←10]

Vũ-môn : Tên một khúc núi ở thượng-du sông Trường-giang nước Tầu. Chân núi có vực sâu, cứ đến mùa thu nước lớn thì cá đua nhau tới đó nhẩy thi. Tương truyền rằng con nào vượt qua sẽ hóa rồng. Sách Tầu có câu : « Vũ môn tam cấp lãng ». Ta có câu : « Cá nhẩy vũ môn » đều dùng chỉ học trò đi thi.

[←11]

Khôi-nguyên : Cũng như khôi-giáp hay khoa-giáp tức là đỗ đầu khoa. Tỷ dụ như thi hương đỗ đầu cử-nhân, thi-hội đỗ đầu Tiến-sĩ.

[←12]

Kinh là kinh điển, sử là lịch-sử. Ý nói : chăm chỉ học hành.

[←13]

Cùng tuổi, cùng có năng lực như nhau và cùng đỗ một khoa.

[←14]

Thư hùng : Trống và mái (Hai chữ « thư hùng » còn có nghĩa là được thua. Tỉ-dụ : chơi nhau một trận thư hùng).

[←15]

Qui tính : Tức là « Quy tâm » là nhớ nhà muốn về.

[←16]

Câu này ý nói : Tính toán trước mà tránh đi mới là người khôn ngoan thành thạo.

[←17]

Nương-long đột khởi : Hai vú đầy đặn phồng cao lên.

[←18]

Thập bát xuân xanh : Cùng 18 tuổi.

[←19]

Soạn-Chi nhị thập : Chàng Soạn 20 tuổi.

Quốc tài : Tài lừng lẫy đại dụng cho nước.

[←20]

Phu phụ : Chồng vợ.

Phỉ nguyền : Thỏa lòng mong ước của mình.

[←21]

Các-Đằng-Vương là một danh thắng ở Thiểm-tây bên Tầu. Gió thổi vào Đằng-vương-Các báo tin tốt lành. Vì thế người ta dùng chữ « Gió các-đằng » để chỉ điều may mắn. Văn cổ có câu : « Thời lai, phong Tống Đằng-vương-Các » nghĩa là : Thời vận tới, gió thổi vào Các-đằng-Vương.

[←22]

Quả bồng : Dan díu, đèo bồng.

[←23]

Chim tước : Chim sẻ.

[←24]

Bát là tám, tự là chữ : 8 chữ.

[←25]

Sách Hán có câu : « Ứng huyền nhi đảo » chỉ người bắn giỏi, buông dây cung ra tất có một giống chết. Ở đây : Bắn một phát tên tất là trúng.

[←26]

Tùy nhi : Đứa trẻ theo hầu.

[←27]

Tay diệu thủ : Tay giỏi.

[←28]

Hề : Người đầy tớ đi hầu bên cạnh.

Thông huyên : Cũng như xuân-huyên là cha mẹ. Cây xuân và cây huyên đều là giống cây sống lâu nên người ta ví với cha mẹ là có ý cầu mong cha mẹ trường thọ.

[←29]

Nữ-nhân : Đàn bà, con gái.

[←30]

Thủ-khoa : Đỗ đầu trong khóa thi.

[←31]

Anh là đẹp nhất ; hào là giỏi trội nhất : Anh-hùng hào-kiệt.

[←32]

« Nghi » là nên, là xứng đáng. Câu này ý nói : Chưa có nơi nào xứng đáng kết hôn cả.

[←33]

Chẳng dám phi vi : Chẳng dám trái.

[←34]

Lưu-Nguyễn là Lưu-Thần và Nguyễn-Triệu lên núi hái thuốc rồi gặp tiên ở động Thiên-Thai. Ở với tiên nửa năm, khi về đã đến đời thứ bẩy.

[←35]

Hết Châu-Trần : Kết hôn. Do tích : Đời xưa bên Tầu có hai họ Châu và Trần đời đời kết hôn cùng nhau.

[←36]

Hương lửa tức là « hương lửa ba sinh », nghĩa câu : « Tam sinh hương hỏa » dùng chỉ việc hôn nhân lâu dài. Do tích : Ông Tình-Lang bên Tầu xưa mơ thấy đi chơi núi Bồng, gặp ông sư thắp hương tụng niệm. Hỏi, nhà sư đáp : Lúc tôi khấn nguyện, nén hương vẫn cháy nhưng tôi đã chuyển ba kiếp người rồi. Lại do trai gái yêu nhau thường thắp hương đốt đèn thề bồi cùng nhau.

[←37]

Vu-quy : Con gái về nhà chồng, thành vợ chồng.

[←38]

Vi vật : Vật nhỏ mọn này.

[←39]

Tái hồi bản gia : Lại trở về nhà mình.

[←40]

Bói tên là bắn phát tên ra để bói ; khác tên là không đúng cái tên người mà nàng lưu ý.

[←41]

Duyên hài : Nhân duyên hòa hợp nhau, vợ chồng xứng đôi phải lứa.

[←42]

Thơ tiên : Chỉ bài thơ của Soạn-Chi gửi Phi-Nga viết lên tờ giấy hoa tiên.

[←43]

Hội thí danh thành : Đỗ đạt vào kỳ thi hội này.

[←44]

Vu-qui : Con gái về nhà chồng, thành vợ chồng.

Vinh-quy : Mang công danh mà về. Đời thi-cử, ai đỗ Tiến-sĩ thì vua ban mũ áo cờ biển cho về quê, gọi là vinh qui.

[←45]

Ý nói : Nay thế này mai thế khác, không giữ trọn vẹn lời mình.

[←46]

Tiền là trước ; hậu là sau. Ý nói : Trước có hay thì sau mới hay được tức là có gieo hạt tốt thì mới có kết-quả hay.

[←47]

Câu này ý nói : Ở đời mà làm điều tốt lành thì tất ngày thu có kết quả tốt lành.

[←48]

Tờ chiếu của nhà vua ban truyền ra mở khoa thi để kén chọn những bậc tài đức.

[←49]

Tú-tài : Tài ưu tú và giỏi giang.

[←50]

Nghiêm-đường : Cha đẻ.

[←51]

Bệnh tự nhiên, phải từ chối không đi thi.

[←52]

Tam-khôi là kỳ thi Hội có 3 hạng : Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa.

[←53]

Bảng xuân : Bảng ghi tên những người trúng kỳ thi Hội (Thi Hội về mùa xuân).

[←54]

Nhời đính ước lấy nhau.

[←55]

Bất hài : Không có hòa thận, bất-hòa.

[←56]

Bản vọng tâu : Ở xa làm tờ chuyển tâu về vua.

[←57]

Biên-phong : Ghi và niêm phong kín lại không cho lấy mang đi.

[←58]

Sách Hán thư chép : Cha nàng Đề-Oanh phạm tội, nàng dâng thư lên tâu vua Văn-Đế, xin chuộc tội cho cha. Vua cảm lòng hiếu của nàng mà tha tội cho người cha.

[←59]

Đạo thường : Những điều phải mà người đời nên theo và thường theo. Ở đây : Đạo con đối với cha mẹ.

[←60]

Câu này nghĩa là : Pháp-luật trong quân đội không có kể chi đến thân tình gì cả.

[←61]

Chữ nhân : Lòng thương yêu người.

[←62]

Lạc-quan : Chỉ Tham-tướng-công, một ông quan đang gặp lúc bĩ.

[←63]

Nữ-hài : Chiếc giầy của đàn bà con gái đi. Ở đây chỉ người con gái lành, khéo và đẹp.

[←64]

Câu này nghĩa là : Đi đến kinh-đô đường dài hàng vạn dậm.

[←65]

Lệ : E, nhỡ ra.

[←66]

Ngựa ký : Con ngựa hay.

[←67]

Phụ tử là cha con ; thiên thu là nghìn thu tức là nghìn năm. Câu này ý nói : Cả nhà cha con được đời đời yên lành.

[←68]

Khởi trình : Lên đường, ra đi.

[←69]

Bọt và bèo đều nổi trên mặt nước, dùng chỉ thân phận đàn bà hèn mọn như bèo bọt.

[←70]

Quan sơn : Quan là cửa ải ; sơn là núi non : Nơi xa xăm.

[←71]

Thiên-địa : Trời đất.

[←72]

Mặc đồ nam-tử : Mặc trá hình con giai.

[←73]

Di-đà : Đức Phật-tổ Di-Đà người sáng lập đạo Phật.

Hộ thân : Che chở bảo hộ cho mình.

[←74]

Thái-thượng Lão-quân : Các nhà theo đạo Lão-Tử, tôn xưng ngài là Thái-Thượng Lão-quân.

[←75]

Phong vân : Phong là gió, vân là mây, chỉ sự nhanh chóng.

[←76]

Cẩn phong : Phong kín lại rất cẩn thận.

[←77]

Tiểu-thư : Người con gái còn ít tuổi.

[←78]

Rình là nhìn nhưng không để cho người được nhìn biết rằng có người nhìn mình.

[←79]

Người có nhan sắc đẹp nhất nước, vẻ đẹp làm cho thành nghiêng nước đổ. Ý nói : Đẹp lắm.

[←80]

Ghé mắt ngắm nghía qua lỗ vách con người có dáng dấp tuyệt là xinh đẹp.

[←81]

Câu này nghĩa là : Vẻ người oai vệ và nói năng điệu bộ rất là đĩnh đạc. (Cử chỉ ngôn ngữ của con nhà quí tộc).

[←82]

Danh sĩ : Hẳn là người học thức có tiếng tăm.

[←83]

Câu này do tích « Nguyệt hạ lão nhân » : Ông lão ở dưới trăng gọi là Nguyệt lão hay ông tơ trông nom về việc se những cặp vợ chồng dưới nhân gian.

[←84]

Câu này ý nói : Hồi hộp nên đôi vú phập phồng và áo ướt đẫm cả mồ-hôi.

[←85]

Anh-hùng là người tài đức làm những việc to lớn. Thuyền-quyên chỉ người con gái có dáng đẹp đẽ, dễ thương.

[←86]

Kinh-quyền : Cách xử thế lúc thường lúc biến phải khác nhau. Kinh là đạo dùng lúc thường ; Quyền là đạo dùng lúc biến. (Tuy dùng đạo khác lối : hoặc kinh, hoặc quyền, nhưng vẫn nhằm theo một lẽ chính cốt ý cho thành việc).

[←87]

Cảnh tiểu-thư : Người con gái họ Cảnh.

[←88]

Quan Tướng-quốc : Tể-tướng (cũng như thủ-tướng trông coi hết mọi việc trong nước).

[←89]

Uy-dung : Vẻ mặt oai nghiêm.

[←90]

Hàng tôi tớ, hầu hạ.

[←91]

Kim-cải : Cái khâu và hạt cải. Sách bác-vật-chí nói : « Hổ-phách thập giới, từ thạch dẫn châm, các dĩ-loại cảm » nghĩa là hổ-phách hút hạt cải, đá nam-châm hút kim, đều là loài cảm nhau. Vì thế tình vợ chồng quyến luyến nhau thường nói : duyên kim cải.

[←92]

Cẩn-phong : Phong kín lại rất cẩn thận.

[←93]

Bộc bạch : Nói rành rọt một cách thực thà.

[←94]

Vân-quân : Chàng trai họ Vân, chỉ Tuấn-Khanh.

[←95]

Tài-tử là người con trai có tài ; giai-nhân là người đẹp, thường dùng chỉ con gái đẹp, ở đây dùng chỉ con trai là sai.

[←96]

Tửu-điếm : Quán bán rượu.

[←97]

Cuộc kết duyên tốt đẹp. Sách Hán có câu « Yểu-điệu thục-nữ, quân-tử hảo cầu » nghĩa là người con gái hiền đức mềm mại và bậc quân-tử kết duyên cùng nhau rất là tốt đẹp.

[←98]

Hẹp dong : Hẹp lượng mà không nhận, không có tính của người kẻ cả.

[←99]

Chuyện Kỳ-mạn-lục có chép người họ Từ vào động gặp tiên Giáng-Hương. Bây giờ ở Thanh-hóa có Từ-Thức động.

[←100]

« Tao-khang chi thế bất hạ đường », chữ trong Hán thư có nghĩa là : Đạo vợ chồng lấy nhau khi nghèo nàn, đến khi phú quí không nỡ bỏ nhau. (Tao là thèm rượu, khang là cám, đều là những thức ăn xoàng).

[←101]

Thục-nữ anh hào : Người con gái hiền hậu đức hạnh và người con trai anh hùng hào kiệt.

[←102]

Vong là quên. Câu này ý nói : Nỡ nào mà chối từ sự cầu khẩn kết duyên.

[←103]

Ngoại tuần : Hơn bẩy mươi tuổi.

[←104]

Tương phùng : Cuộc gặp gỡ họp nhau tự nhiên không có hẹn định trước.

[←105]

Nữ-công : Công việc của người đàn bà.

[←106]

Hạ cố : Đoái tưởng đến người dưới.

Tòng quyền : Theo cách xử sự lúc biến (xem chữ Kinh quyền ở câu 306).

[←107]

Ngọn núi Thái-sơn cao lắm, người ta thường ví với công ơn cha mẹ. Đây : Ơn to lắm.

[←108]

Kẻ sĩ hàn : Người học trò nghèo.

[←109]

Dòng dõi tướng khanh : Dòng dõi quí tộc đài các.

[←110]

Khuynh quốc-sắc : Người con gái đẹp nhất trong nước có tiếng, cười nghiêng nước nghiêng thành.

[←111]

Đai bạc cẩm bào là nghi-vệ của người có phẩm tước. Ý nói : Bao giờ đỗ đạt lên đã.

[←112]

Nghiêm phụ : Cha đẻ.

[←113]

Chữ « tôn » dùng một cách khiêm tốn để tỏ lòng kính trọng ; nhan là mặt, tôn nhan ở đây chỉ Phú-ông.

[←114]

Kẻ sĩ-hiền : Người học trò nghèo.

[←115]

Lời phương-tiện : Theo một định ý và nhân tiện-lợi mà làm cho được việc, cái phương pháp để đạt tới mục đích.

[←116]

Ngọc diệp kim chi : Lá ngọc cành vàng chỉ con nhà quí tộc.

[←117]

Nghiêm-phụ : Cha đẻ.

[←118]

Hậu tình : Đối đãi thật là tốt.

[←119]

Tha-hương : Ở nơi đất khách quê người.

[←120]

Nhời phương-tiện : Theo một định ý và nhân tiện-lợi mà làm cho được việc, cái phương pháp để đạt tới mục đích.

[←121]

Lòng vàng : Tấm lòng quí hóa như vàng.

[←122]

Tiểu-lễ : Lễ nhỏ mọn.

[←123]

Vạn sự giai thành : Mọi việc đều thành.

[←124]

Vấn danh lễ thường : Lễ dạm hỏi.

[←125]

Tân-lang : Người mới cưới vợ. Ở đây chỉ Tuấn-Khanh, chàng rể mới.

[←126]

Phó kinh : Công việc thu xếp ở Kinh-đô.

Hồi quy : Trở về.

[←127]

Quan là cửa ải ; sơn là núi non : Nơi xa xăm.

[←128]

Kinh-kỳ : Nơi vua đóng đô.

[←129]

Hoan-hùy : Kể lể nỗi niềm.

[←130]

Quý hữu : Bạn quí.

[←131]

Tha hương ngộ cố : Chốn xa lạ gặp người cũ.

[←132]

Cố hữu là bạn cũ chỉ Tuấn-Khanh ; Tân quan là quan mới chỉ Tử-Trung.

[←133]

Đồng tịch : cùng một chiếu.

[←134]

Tam-khôi là kỳ thi Hội có 3 hạng : Trạng-nguyên, Bảng-nhãn, Thám-hoa.

[←135]

Vinh-quy : Mang công danh mà về. Đời thi-cử, ai đỗ Tiến-sĩ thì vua ban mũ áo cờ biển cho về quê, gọi là vinh qui.

[←136]

Quý hữu : Bạn quí.

[←137]

Phụ thân : Cha đẻ.

[←138]

Tôn-bá : Tiếng xưng hô những người ngang hang với cha chú mình.

[←139]

Thánh-quân cửu-trùng : Vua (Cửu trùng là chín từng, chỉ trời và chỗ ở của vua).

[←140]

Tùy-nhi : Người đi theo hầu.

[←141]

Tiểu hàm : Cái tráp nhỏ, phong thư.

[←142]

Tính danh : Tên họ.

[←143]

Hội giai kỳ : Hội may mắn, ngày tốt.

[←144]

Nương-long : Hai vú đầy đặn phồng cao lên.

[←145]

Thấu sự chân : Hiểu rõ sự thật.

[←146]

Biến dịch Châu, Trần : Kết hôn. Do tích : Đời xưa bên Tầu có hai họ Châu và Trần đời đời kết hôn cùng nhau.

[←147]

Nhân nguyện thiên tùy : Sự nguyền ước của người thì trời cũng chiều theo.

[←148]

Pháp-loa : Tên một vị cao tăng đời nhà Trần.

[←149]

Nương-long : Hai vú đầy đặn phồng cao lên.

[←150]

Phi điểu thất quần : Con chim bay lạc đàn.

[←151]

Hai câu này ý nói : Phi-Nga khi bị lộ là con gái rồi, nàng như con chim bay lạc đàn, thẹn thùng, không còn biết ẩn hình vào đâu được.

[←152]

Định thân : Định gửi thân, tức định hôn.

[←153]

Sách Hán có câu : « Ứng huyền nhi đảo » chỉ người bắn giỏi, buông dây cung ra tất có một giống chết. Ở đây : Bắn một phát tên tất là trúng.

[←154]

Tòng nhất bất canh : Theo giữ một niềm không thay đổi.

[←155]

Tiện-hình : Cái thân hèn mọn.

[←156]

Thiên-địa chí công : Trời đất rất là công bằng.

[←157]

Câu này nghĩa là : Lấy cái điều trước mà định đoạt là điều khỏe hơn. Ý Tử-Trung nói : Bắt được tên trước là lý lẽ cứng rắn trong dịp Phi-Nga bắn tên kén chồng, vậy phải chọn chàng.

[←158]

Sách Hán có câu : « Ứng huyền nhi đảo » chỉ người bắn giỏi, buông dây cung ra tất có một giống chết. Ở đây : Bắn một phát tên tất là trúng.

[←159]

Thiên vận tuần hoàn : Cái lẽ xoay vần của tạo-hóa.

[←160]

Hương lửa tức là « hương lửa ba sinh », nghĩa câu : « Tam sinh hương hỏa » dùng chỉ việc hôn nhân lâu dài. Do tích : Ông Tình-Lang bên Tầu xưa mơ thấy đi chơi núi Bồng, gặp ông sư thắp hương tụng niệm. Hỏi, nhà sư đáp : Lúc tôi khấn nguyện, nén hương vẫn cháy nhưng tôi đã chuyển ba kiếp người rồi. Lại do trai gái yêu nhau thường thắp hương đốt đèn thề bồi cùng nhau.

[←161]

Tích « Nguyệt hạ lão nhân » : Ông lão ở dưới trăng gọi là Nguyệt lão hay ông tơ trông nom về việc se những cặp vợ chồng dưới nhân gian.

« Xích thằng » là dây đỏ, chữ trong câu : « Xích thằng hệ tục » do tích : Vi-Cố đời Đường mơ thấy một người già đứng dưới bóng trăng nói : Trong túi có sợi dây đỏ, để buộc chân cặp vợ chồng lại. « Nguyệt-lão, Xích thằng » dùng chỉ : Nhân duyên do trời định.

[←162]

Đăng hỏa : Đèn lửa, tức là công học tập.

[←163]

Câu này nghĩa là : Tưởng rằng bạn cũ, hóa ra lại là duyên lành.

[←164]

Từ câu thứ 575 đến câu thứ 586 : Tả cái cảnh chung chạ, nồng say của chàng Tử-Trung và nàng Phi-Nga.

[←165]

Sắt cầm : Đàn sắt và đàn cầm. Hai thứ đàn này hòa với nhau rất hay nên dùng để chỉ đạo vợ chồng hòa hợp. Ý nói : Đã nên vợ chồng.

[←166]

« Dĩ mã dịch ngưu » là lấy ngựa đổi trâu.

[←167]

Thục-nữ : Người con gái hiền hậu và đức hạnh.

[←168]

« Trầm ngư lạc nhạn » là cá lặn chim sa. Ý nói : Tuyệt đẹp đến cá nước trông thấy cũng phải lừ đừ lặn, chim trời gặp thấy cũng phải ngẩn ngơ sa xuống.

[←169]

Chim phượng và chim loan thường cùng hót với nhau. Hai chữ « phượng loan » chỉ cặp vợ chồng rất xứng đôi phải lứa.

[←170]

Từ hành : Từ giã để ra đi.

[←171]

Thiên võng nan đào : Lưới trời khó mà thoát ra được.

[←172]

Hậu thay : May mắn thay, tốt thay.

[←173]

Tham-công : Chỉ cha đẻ ra Phi-Nga.

[←174]

Lại-bộ : Bộ coi về việc cai-trị (hành chính).

[←175]

Tấu tri : Kính tâu lên vua rõ.

[←176]

Trấn biên-thùy : Trấn ở nơi biên-giới (chỗ giáp với nước ngoài).

[←177]

Đông-hải là biển đông. Ý nói : Đầy ra xa về vùng giáp với biển đông.

[←178]

Hai câu này ý nói : Những thức mà tịch thu ở nhà Tham-tướng xưa, bây giờ hoàn trả lại cả.

[←179]

Trấn đổng-nhung : Coi sóc việc quân ở ngoài, người đem quân đi đánh giặc.

[←180]

Công phụng hành : Cứ phép công mà tuân theo và thi hành.

[←181]

Vinh-quy : Mang công danh mà về. Đời thi-cử, ai đỗ Tiến-sĩ thì vua ban mũ áo cờ biển cho về quê, gọi là vinh qui.

[←182]

Tổ-tôm là tụ tam, vì bài cứ xếp ba quân lại thành một phu. Thập thành là bài tròn rồi, nghĩa là không thừa lẻ quân nào. Ý hai câu này nói : Cứ tưởng rằng đã hẹn ước khi xưa. Bây giờ đỗ đạt trở về thì tất là cưới được vợ dễ dàng. Ai ngờ đâu, chắc chắn như thế mà lại bị người ta phỗng tay trên mất.

[←183]

Thiên tải nhất thì : Nghìn năm mới có một thời, cơ-hội hiếm có.

[←184]

Lá thắm nghĩa chữ : « Hồng điệp », do tích : Người cung nữ đời Đường đề thơ vào chiếc lá đỏ thả xuống dòng ngự-câu cho lá trôi đi. Vu-hựu lượm được lá đó, cũng đề thơ vào chiếc lá khác rồi thả cho trôi vào cung. Cung nữ bắt được. Sau Cung-nữ được ra, cùng Vu-Hựu kết duyên. Hai bên đem lá ra so mới biết nhân duyên là do trời định.

Chỉ hồng : Nghĩa chữ « Xích thằng » là dây đỏ, chữ trong câu : « Xích thằng hệ tục » do tích : Vi-Cố đời Đường mơ thấy một người già đứng dưới bóng trăng nói : Trong túi có sợi dây đỏ, để buộc chân cặp vợ chồng lại. « Nguyệt-lão, Xích thằng » dùng chỉ : Nhân duyên do trời định.

[←185]

Gặp hội kỳ-phùng : Sự gặp gỡ lạ thường.

[←186]

Nói rõ ràng câu chuyện.

[←187]

Gia-sự : Mọi việc trong nhà.

[←188]

Tân-khoa : Người mới đỗ. Chỉ Ngụy-soạn-Chi.

[←189]

Rắp danh : Dạm hỏi vợ.

[←190]

Huynh là anh. Quý huynh là tiếng dùng khiêm tốn để tôn người bạn quý lên.

[←191]

Tên hai nước đời Xuân-thu bên Tầu xưa. Nhà vua hai nước này đời đời thông gia cùng nhau, giữa hai nhà. Sau hai chữ : « Tấn, Tần » dùng chỉ sự dâu gia.

[←192]

Bảng xuân : Bảng ghi tên những người trúng kỳ thi Hội (Thi Hội về mùa xuân).

[←193]

Câu này ý nói : Chẳng phải chỉ có bây giờ mới biết nhau.

[←194]

« Thành sự tại thiên » nghĩa là : Thành được việc là do ở trời.

[←195]

Tòng là theo, chỉ bổn phận người đàn bà đối với chồng. Chữ tòng đây là đã thành gia-thất.

[←196]

Lan là một thứ cỏ có hoa rất thơm ; Chi là một thứ cây (dành-dành) hoa rất thơm thường ví với bạn hữu. Bạn vàng là bạn quí.

[←197]

Hồi gia là về nhà.

[←198]

Câu này nghĩa là : Biết người, biết mặt, ai mà biết được lòng người.

[←199]

Đàn sắt và đàn cầm. Hai thứ đàn này hòa với nhau rất hay nên dùng để chỉ đạo vợ chồng hòa hợp. Ý nói : Đã nên vợ chồng.

[←200]

Lượng công-trình : Cân nhắc đến cái công phu.

[←201]

Lễ nghênh-hôn : Lễ đón dâu.

[←202]

Từ-đường : Nhà thờ tổ-tiên.

[←203]

Vinh hương : Cùng nghĩa với chữ « Vinh qui » là mang cái vẻ vang trở về quê hương.

[←204]

Đười-ươi là tên một giống thú ở trong rừng thường bắt người ăn thịt. Người ta đề phòng đười-ươi, thường xỏ hai ống nứa vào cổ tay, vì giống này bắt được người nắm chặt cổ tay, rồi ngước mặt nhìn mặt trời : Mặt trời lặn là moi ruột người ăn. Khi con vật ấy nhìn mặt trời thì người cứ việc tụt ống nứa ra rồi đi. Vì thế người ta nói : « đười-ươi giữ ống » để chỉ một việc làm vô ích.

[←205]

Cẩm-bào : Y phục của bậc thượng quan.

[←206]

Gót hoa : Gót chân đẹp và hồng hồng như mầu sắc của hoa.

[←207]

Lan là một thứ cỏ có hoa rất thơm ; Chi là một thứ cây (dành-dành) hoa rất thơm thường ví với bạn hữu. Bạn vàng là bạn quí.

[←208]

Tuyển trạch : Lựa chọn.

[←209]

Tư lường : Lo nghĩ đắn đo.

[←210]

Vó câu : Chân ngựa non khỏe, chỉ ngựa.

[←211]

Lưỡng quy nhất đoàn : Hai người cùng về vinh-qui làm một đoàn.

[←212]

Viễn là xa, Hoài là nhớ nhung ở trong lòng. Ý nói : Niềm nhớ thương người phương xa ở trong lòng.

[←213]

Sảnh-đường : là nhà tiếp khách.

[←214]

Tin hỷ sự : Việc vui mừng.

[←215]

Câu này có nghĩa là : Già lão nghèo và không có tài. Đó là lời nói nhún của các bực quí phái thời xưa trong khi nói chuyện.

[←216]

Nghiêm-quân : Người cha.

[←217]

Chữ Gia dùng để tôn những người bề trên.

[←218]

Nhận xem tự dạng : Nhận xét ở nét và lối chữ viết.

[←219]

Vắng phong-thanh cá nhàn : Vắng tin tức.

[←220]

Quái người : Trêu người.

[←221]

Thiên duyên : Duyên trời.

[←222]

Bình thủy : Bèo nước. Hoàng tuyền : Suối vàng. Ý nói : Âm phủ. Ý câu này nói : Thì đành tấm thân trôi nổi yếu đuối này nguyện chết để gặp ai ở dưới suối vàng.

[←223]

Nỗi niềm tây : Nỗi lòng mình, tức là câu chuyện này.

[←224]

Thảo-đường : Nhà danh của người ẩn sĩ. Ở đây là chỉ cái nhà của một vị quan về hưu : Nhà phú-ông.

[←225]

Nương-tử : Tiếng gọi người con gái. Trái lại với tiếng công-tử, là tiếng gọi con trai.

[←226]

Hàn-huyên : Tức là hàn-ôn (nóng và lạnh). Những lời thăm hỏi khi gặp nhau.

[←227]

Chấp kinh quyền : Cách xử thế lúc thường lúc biến phải khác nhau. Kinh là đạo dùng lúc thường ; Quyền là đạo dùng lúc biến. (Tuy dùng đạo khác lối : hoặc kinh, hoặc quyền, nhưng vẫn nhằm theo một lẽ chính cốt ý cho thành việc).

[←228]

Thất là nhà, Gia là nhà, « Thất-Gia » chỉ : có chồng hay có vợ. Ý nói : Tôi đã có chồng hay đã lập gia-đình.

[←229]

Phu-quân : Người chồng.

[←230]

Phu-nhân : Chỉ các đàn bà là vợ những người có chức phẩm cao sang.

[←231]

Vấn danh : Dạm hỏi.

[←232]

Ý Cảnh tiểu-thư : Soạn-Chi tuy nàng không rõ người nhưng trong khoa-mục đỗ cao vào hàng tướng, hàng khanh.

[←233]

Câu này ý nói : Chắc là tướng mạo trông cũng giỏi trai thì mới đỗ cao được.

[←234]

Từ đường : Nhà thờ tổ-tiên.

[←235]

« Chỉ thắm » và « xâu hạt vàng » nghĩa là đẹp duyên vợ chồng. Ý nói : Tử-Trung với Phi-Nga và Soạn-Chi với Cảnh tiểu-thư đều đẹp đôi như nhau.

[←236]

Chim anh, chim yến đi với nhau ; chim phượng, chim hoàng đi với nhau. Người ta thường ví vợ chồng xứng đôi đẹp lứa như anh yến, như phượng hoàng.

[←237]

Trúc tên : Cái tên mà Phi-Nga trước đây bắn chim sẻ để kén chọn phu quân.

[←238]

Tùy kỳ tiện : Tùy ý thế nào tiện việc.

[←239]

Ca Bạch Tuyết : Thơ Bạch-Tuyết đời Đường của nhà thơ Trung-Hoa Lý-thái-Bạch. (Mùa đông tả cái trong trắng của tuyết).

Thanh-liên : Biệt hiệu của thi-nhân Lý-thái-Bạch đời Đường.

[←240]

Bách-phúc là trăm điều phúc. Thiên-Xuân là nghìn năm. Câu này ý nói : Đủ điều phúc hậu để cùng hưởng đời đời.


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »