Ba ngày sau đó, tôi và Tần Nhất Hằng không liên lạc. Thân tâm tôi đều mệt rã rời, chỉ muốn ở nhà nghỉ ngơi. Tần Nhất Hằng mang hết chỗ nội san doanh nghiệp về nhà mình, có vẻ muốn ở nhà suy nghĩ, giống như người ta tĩnh tâm ngồi thiền vậy. Tôi cũng lười chẳng buồn đi gặp hắn. Sang ngày thứ tư, tôi nhận được một vụ làm ăn, lần này cũng không cần Tần Nhất Hằng xử lý bởi có người gọi điện tới muốn mua một ngôi nhà của tôi.
Anh ta đưa ra mức giá không tệ, lợi nhuận cũng nằm trong dự trù. Tôi chẳng hề do dự, nhanh chóng để anh ta tới xem nhà. Dạo gần đây, số nhà tôi bán ra cũng ít, mà mua thêm lại nhiều, tiền vốn đã có phần hơi eo hẹp nên vụ mua bán này xem như giảm bớt mối nguy trước mắt. Sau khi kiếm được một khoản tiền, dĩ nhiên phải hẹn Tần Nhất Hằng đi ăn mừng nên ngay tối hôm đó tôi đã gọi điện cho hắn. Giọng Tần Nhất Hằng có vẻ hơi do dự, chần chừ hồi lâu mới nhận lời. Suốt bữa cơm, hắn gần như chẳng nói gì, thậm chí rất ít khi gắp thức ăn.
Tôi trông bộ dạng Tần Nhất Hằng như thể tẩu hỏa nhập ma, e là ở nhà nghiên cứu nội san sắp hóa điên, bèn quan tâm hỏi han vài câu. Hắn ngẩn người ra, rồi bỗng dưng bảo tôi lát nữa ăn xong ra ngân hàng rút ít tiền mặt cho hắn mượn, nói rằng tối nay cần dùng luôn.
Thấy vậy, tôi lại càng khó hiểu. Số tiền kiếm được sau các vụ làm ăn thường chia đều cho cả hai, Tần Nhất Hằng vốn chẳng có sở thích gì đặc biệt tốn tiền, hơn nữa lần này bán nhà, tôi cũng vừa chuyển khoản phần của hắn trước bữa ăn.
Dù rất tò mò, tôi lại ngại hỏi hắn cần tiền làm gì, chỉ khẽ gật đầu đồng ý. Ăn xong cơm, cả hai không hề nghỉ ngơi mà tới thẳng ngân hàng gần đó. Tôi rút năm mươi nghìn tệ tiền mặt từ cây ATM đưa cho hắn. Tần Nhất Hằng cất tiền vào túi giấy, ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo, lên xe đi, tôi đưa anh tới một chỗ.
Trông hắn như chuẩn bị đi tiêu tiền, thậm chí còn định phung phí không ít. Chúng tôi đi hơn nữa tiếng đồng hồ mới đến một khu nhà, rồi dừng lại trước cửa một sòng bạc. Xuống xe, Tần Nhất Hằng đi thẳng vào như thể quen thuộc lắm. Tôi theo sau hắn, không nén nổi tiếng thở dài.
Từ lúc vào nghề đến nay, số tiền tới tay hắn quả thật không nhỏ, nhưng tiền nhiều đến mấy cũng không bù nổi khoản thua bạc. Nghĩ vậy, tôi bỗng xót tiền thay hắn, cảm thấy dù là bạn bè hay cộng sự thì cũng nên ngăn hắn lại, bèn kéo áo Tần Nhất Hằng, toan lựa lời khuyên nhủ mấy câu, nhưng hắn lắc đầu dặn tôi lát nữa đừng xen vào, xong xuôi sẽ giải thích cho tôi hiểu. Dứt lời, hắn xoay người đi vào sòng bạc.
Nghe Tần Nhất Hằng cam đoan, tôi ngây cả người, tin rằng quả thật hắn đang ấp ủ một kế hoạch. Cứ cho là hắn lừa tôi đi, cùng lắm là thua sạch năm mươi nghìn tệ này chứ gì, về sau không cho hắn vay nữa là được. Nghĩ vậy, tôi bèn đi theo.
Vào trong sòng bạc, tôi mới để ý nó được sửa lại từ căn hộ tầng một của khu chung cư, cửa lớn trổ ở ban công hướng ra sân, bên trong vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu.
Tần Nhất Hằng thì thầm vài câu với một người trông như ông chủ ở đây, rồi lấy chút tiền từ trong túi giấy đưa cho ông ta. Sau đó, hắn quay đầu gọi tôi và theo người vừa cầm tiền đi qua một cánh cửa khác.
Cánh cửa này vốn là cửa chính của ngôi nhà, nhưng không dẫn đến hành lang khu chung cư mà rẽ sang một căn phòng khác, có thể là căn đối diện với sòng bạc được họ nối thông sang. Kiến trúc bên trong cũng giống sòng bạc, nhưng không có bàn mạt chược, trông cách sắp xếp và bày biện thì có vẻ là chỗ ở của người trong sòng bạc.
Hiện đã có vài người ngồi quây quanh chiếc bàn gấp trong phòng khách. Họ ngẩng lên nhìn hai chúng tôi, cười đầy vẻ quái dị. Tần Nhất Hằng im lặng ngồi xuống rồi bảo tôi kê một cái ghế bên cạnh. Sau đó, hắn đặt tiền lên bàn.
Chết tiệt, thật giống cảnh giao dịch của xã hội đen trên phim! Tôi cứ nơm nớp sợ lát nữa họ sẽ chĩa súng vào chúng tôi, nhưng thấy Tần Nhất Hằng vẫn điềm tĩnh, tôi mới hơi vững dạ.
Mấy người kia cũng móc ra một xấp tiền. Một người trong số đó đứng dậy lấy bộ bài poker. Hóa ra Tần Nhất Hằng đưa tôi đi đánh bài thật, nhìn đống tiền trên bàn, xem chừng bọn họ đặt cược không ít. Nói thật lòng, tôi cũng hơi thất vọng về Tần Nhất Hằng, nhưng bây giờ đâm lao thì phải theo lao, tôi đành vừa hút thuốc vừa theo dõi canh bạc.
Bọn họ chơi trò xì tố 7 cây rất phổ biến. Vận may của Tần Nhất Hằng không tệ, cơ bản đều đã thủ sẵn bài để đánh, mới được vài ván đã thắng gần mười nghìn tệ. Nhưng trông hắn cứ tiu nghỉu, cuối cùng còn lén thì thào bảo tôi, anh lấy con dao Thụy Sĩ trong túi tôi ra, cắt một lỗ ở sau mông quần tôi.
Yêu cầu gì mà kì quặc, nhưng trước mặt bao người, tôi không tiện hỏi kĩ càng, đành lặng lẽ làm theo, cắt một lỗ trên quần của Tần Nhất Hằng, lộ cả quần lót bên trong. Hắn khẽ gật đầu nhìn tôi ra vẻ hài lòng rồi tiếp tục đánh bài.
Kể cũng lạ, sau khi bị thủng quần, vận may của Tần Nhất Hằng vội tụt dốc. Một lúc sau, số tiền thắng ban nãy đã bay biến, thậm chí còn mất trắng cả năm mươi nghìn tệ tiền vốn.
Tôi ngồi bên cạnh xem mà xót tiền vô hạn, nhưng vẻ mặt Tần Nhất Hằng lại rất thỏa mãn. Sau khi thua sạch, hắn phủi mông dẫn tôi ra khỏi sòng bạc. Tôi cố gắng đi sát lại để giúp hắn che lỗ thủng sau quần. Không hiểu hắn nghĩ gì mà mặc quần lót đỏ chót bên trong quần dài màu xám, màu quần lót lộ ra cứ đập vào mắt người ta.
Lên xe, tôi chưa kịp mở miệng, Tần Nhất Hằng đã giành nói trước, bảo rằng gần đây mình quá may mắn, nếu không thua mất ít tiền thì không bớt may được, việc mượn tiền người khác rồi thua sạch rất tổn hại đến vận may.
Sòng bạc vốn rất nặng âm khí, nói trắng ra là nơi cô hồn dã quỷ lảng vãng. Thứ nhất, sòng bạc trông có vẻ rất náo nhiệt nên chúng muốn tìm tới đây vui chơi. Thứ hai, vì con bạc đến từ khắp mọi nơi, mặc dù trong một thành phố thì cũng từ bốn phương tám hướng đổ lại, như vậy có thể nghe ngóng được nhiều tin tức. Thứ ba, cũng là điểm quan trọng nhất, rất nhiều người thua bạc sẽ suy sụp, thậm chí có người còn nghĩ quẩn hoặc bị thúc nợ quá đành tự sát. Vì vậy, lũ cô hồn dã quỷ này muốn đợi có người chết để tranh thủ nhập vào.
Dứt lời, Tần Nhất Hằng bảo tôi, sòng bạc từ xa xưa đã không phải nơi yên lành. Kẻ muốn mở sòng bạc không những phải có quan hệ sâu rộng mà còn phải cứng vía. Theo sự phát triển của xã hội, sòng bạc trong nước cũng hiếm dần, cùng lắm chỉ là nơi kín đáo để vài người tụ tập chơi một ván bài như thế này. Loại sòng bạc ngầm quy mô như trước kia cũng không dễ tìm nữa, nhưng lại xuất hiện vài chỗ có tính chất tương tự sòng bạc. Ví như phân xưởng chứa gỗ, tiệm bán quan tài hay thị trường chứng khoán trong thời kì bear market [38] .
Nguyên lý của sàn giao dịch chứng khoán thật ra cũng giống sòng bạc, vì tài vận của đa số cổ đông trong thời kì bear market đều suy giảm nên lũ cô hồn dã quỷ rất thích đợi ở đây. Còn gỗ sinh ra từ đất, thuộc tính âm, nên nhiều linh hồn lang thang muốn tìm một cỗ quan tài cho mình đều tụ tập ở xưởng gỗ, về nguyên tắc cũng giống như tiệm buôn quan tài.
Lời giảng giải của Tần Nhất Hằng quả khiến tôi được mở mang tầm mắt, nhưng tôi vẫn không hiểu. Người ta tìm trăm phương nghìn kế để kéo vận may về phía mình, chứ chưa thấy ai chê vận mình tốt quá bao giờ, tôi bèn hỏi, thế tại sao phải cắt thủng quần?
Nghe tôi hỏi, Tần Nhất Hằng mới sực nhớ mình đang mặc quần thủng, bèn lấy một cái quần ở ghế sau để thay, ra là đã có chuẩn bị từ trước. Thay xong, hắn dặn tôi, quần lót màu đỏ không thể mặc tùy tiện, thường thì vào năm tuổi dễ phạm phải thái tuế, một loại sao tính âm chủ việc hung, nên người ta có thói quen mặc quần lót đỏ để trừ tà. Nếu không phải năm tuổi mà mặc vào ngày thường cũng không sao, song đi viếng mộ, khiêng quan tài, tiễn người hấp hối thì tuyệt đối không được. Khi đánh bạc hay đánh nhau với người khác lại càng phải tránh, vì nó dễ khiến bản thân xúi quẩy. Bởi vậy, hắn cố ý mặc cái quần này để thua cho nhanh. Lỗ thủng ở quần cũng là để giảm vận may, người ta thường nói mặc áo rách đánh bạc rất đen đủi.
Xem ra để thua tiền, Tần Nhất Hằng đã bày không ít cách, quả là vất vả. Nhưng hắn vẫn chưa giải thích rốt cuộc là để làm gì. Thấy tôi gặng hỏi, hắn mới châm thuốc, nhẹ nhàng nhả ra mấy chữ, tôi muốn gặp ma, đoạn quay mặt đi nói tiếp, pho tượng kia có vấn đề.
Giọng Tần Nhất Hằng nhẹ tênh nhưng sắc mặt lại cực kì nghiêm trọng. Tôi bèn hỏi, pho tượng ấy có vấn đề gì. Hắn chỉ đáp rằng một hai câu không giải thích xuể, đợi lát nữa tôi xem sẽ biết, sau đó lái xe đưa tôi tới thẳng nhà hắn. Trên đường đi, tim tôi cứ tròng trành theo từng chuyển động của bánh xe, muốn chợp mắt một lát mà không tĩnh tâm nổi. Tới nơi, Tần Nhất Hằng mở cửa, tôi theo hắn vào. Cái tủ quần áo vẫn ở nguyên chỗ cũ, vừa nhìn đã thấy đau đầu.
Tôi chưa thấy pho tượng đâu, không biết Tần Nhất Hằng giấu ở chỗ nào. Nhìn kĩ mới nhận ra nó được dựng ở góc nhà, phía trên phủ một tấm vải, chẳng rõ là thảm hay quần áo. Tần Nhất Hằng đi thẳng tới, cẩn thận vén tấm vải lên rồi gọi tôi lại. Tôi chưa kịp đến gần, hắn đã ra chắn trước mặt, dặn tôi nhất định không được sờ tay vào rồi mới để tôi qua xem.
Đèn trong phòng đều bật sáng, pho tượng nằm trong góc vẫn có thể thấy rõ mồn một. Tôi quan sát một lúc, cảm thấy Tần Nhất Hằng có vẻ chuyện bé xé ra to, tượng đâu có điểm gì bất thường, ngoại trừ vài vệt màu hồng hay đỏ nhạt nơi ngực, trông như bị thuốc nhuộm hoặc thứ gì bẩn quệt vào.
Mấy vệt này vốn không quá rõ, nhưng trên nền thạch cao trắng nên trông khá nổi bật, chắc là dây ra từ tấm vải của Tần Nhất Hằng. Nhưng quay sang nhìn tấm vải, tôi lại cảm thấy hình như không đúng. Tấm vải màu xanh lam, dù phai ra cũng không thể thành màu hồng. Chẳng lẽ mấy vệt đó này tự nhiên xuất hiện? Hay có kẻ nào lẻn vào nhà Tần Nhất Hằng để lại chút manh mối cho chúng tôi?
Tôi hỏi Tần Nhất Hằng, hắn không trả lời ngay mà lại nhắc tôi không được tới quá gần pho tượng, rồi mới chỉ vào vệt màu đỏ giải thích. Lúc mới phát hiện ra, hắn cũng cảm thấy bất ngờ, lúc đầu còn cho rằng chúng có liên quan đến ánh sáng phản xạ trong nhà nên mới chuyển pho tượng vào góc, kết quả những vệt màu trên pho tượng ngày càng nhiều, không biết xuất hiện thêm từ lúc nào. Hắn nghĩ mãi, vài ngày sau mới nảy ra một ý, nhưng là một ý rất hoang đường, tới giờ cũng không có cách nào chứng minh.
Tần Nhất Hằng rít một hơi thuốc dài, chậm rãi tiếp, đây là vết hoen tử thi.
Mấy chữ cuối cùng của hắn khiến tôi cảm thấy chân lạnh toát như bị ai đó nhét đá vào giày. Vết hoen tử thi ư? Tức là chỉ trên xác chết mới có chứ? Tượng rõ ràng nặn bằng thạch cao, cứ cho là giống hệt người thật thì cũng không thể là tử thi được.
Tôi không hiểu nhiều về sinh học, nhưng dù sao cũng từng xem khám nghiệm xác chết trên phim, biết rằng sau khi nạn nhân tử vong, dần dần sẽ xuất hiện vết hoen tử thi. Hình như trong phim, người ta còn nói rõ là nó liên quan đến cách thức tử vong, thậm chí có thể dựa vào đó để ước chừng thời điểm chết. Nghe nói, người chết càng lâu thì màu sắc của vết hoen càng đậm. Vệt màu trên pho tượng khá nhạt, chẳng lẽ nó mới chết cách đây không lâu? Sao cứ như đóng phim khoa học viễn tưởng vậy?
Tình hình quả thật thách thức giới hạn tư duy của con người. Nếu đây là vết hoen tử thi thật, thì tôi đúng là sống uổng hơn hai mươi năm trên đời.
Tần Nhất Hằng chắc đã đoán được phản ứng của tôi, bèn thở dài nói, tôi chỉ đánh bạo đoán vậy thôi, hiện tại cũng không có bất cứ bằng chứng nào. Vì vậy, tối nay tôi định dùng nốt mấy biện pháp, xem phỏng đoán này đúng hay sai. Dứt lời, hắn cầm tấm vải xanh dưới đất lót tay, nâng pho tượng lên, bảo tôi đi trước giúp hắn mở cửa, chuyển tượng xuống dưới lầu, sau đó dùng dây thừng buộc nó ở ghế sau ô tô.
Khi cả hai đã ngồi trên xe, Tần Nhất Hằng nhìn đồng hồ, nói, còn một lúc nữa mới tới nửa đêm, bây giờ cứ nghỉ ngơi trước đã, tranh thủ chợp mắt dưỡng sức, lát nữa không chừng sẽ có con thiêu thân nào đó xuất hiện.
Hắn nói thì dễ lắm, giữa tình thế này, ngủ được mới là chuyện lạ. Tôi ngoái đầu nhìn pho tượng, chợt thấy nó thực sự giống xác chết. Tần Nhất Hằng thấy tôi cứ quay lại phía sau bèn khuyên tôi đừng nhìn nữa, e rằng bên trong pho tượng có tà vật, tốt nhất không nên chọc vào. Tôi bỗng cảm thấy sống lưng lạnh buốt, chỉ muốn xuống xe ngay lập tức.
Thời gian trôi qua rất chậm, một lúc lâu sau, Tần Nhất Hằng nói sắp tới giờ xuất phát. Để pho tượng không xảy ra chuyện ngoài ý muốn, Tần Nhất Hằng bảo tôi phụ trách lái xe, còn hắn ngồi bên cạnh chỉ đường. Tôi phóng như bay, bất chấp tốc độ đã vượt quá mức cho phép hay chưa, miễn là mau chóng thoát khỏi cảnh phải ngồi cùng pho tượng. Theo phương hướng Tần Nhất Hằng chỉ, hai chúng tôi đi thẳng ra ngoại ô.
Lúc tôi dừng xe đã là quá 12 giờ. Bên ngoài là đồng không mông quạnh, không một bóng người, hai chúng tôi cứ như nhân lúc đêm khuya đến đây phi tang thi thể vậy. Tần Nhất Hằng xuống xe trước, khiêng pho tượng ra, sai tôi lấy hai cái xẻng trong cốp rồi đi sau rọi đèn pin soi đường cho hắn. Đi được một đoạn khá xa, Tần Nhất Hằng nhìn xung quanh rồi đặt pho tượng xuống đất, bảo tôi đào giúp một cái huyệt.
Mẹ kiếp, quả đúng như tôi nói, hai chúng tôi tới đây để chôn xác. Chỗ này tuy nằm ở ngoại ô, nhưng cũng không cách đường quốc lộ quá xa, có vẻ là một cánh đồng, giờ đã qua vụ thu hoạch, vô cùng hoang vu. Trong lúc chôn, tôi vẫn nơm nớp sợ mấy lão nông dân tay cầm bồ cào đột ngột xuất hiện, tưởng chúng tôi là tội phạm xúm lại xử ngay tại chỗ.
Cũng may, chúng tôi đã đào khá sâu mà xung quanh vẫn vô cùng yên ắng. Yêu cầu của Tần Nhất Hằng rất nghiêm ngặt, phải đào xuống thật sâu, càng sâu càng tốt. Cả hai dốc hết sức, điên cuồng đào một mạch, tới khi gan bàn tay tôi toác cả ra, hắn soi đèn pin xuống huyệt, nói cũng kha khá rồi, sau đó khiêng pho tượng lên cắm vào huyệt. Lấp đất xong, hắn còn lấy thêm đất ở chỗ khác đắp quanh, cuối cùng toàn bộ pho tượng bị vùi trong đất, chỉ lộ đỉnh đầu.
Hai chúng tôi mệt đứt hơi, nghỉ một lúc mới thở đều trở lại. Uống xong ngụm nước, Tần Nhất Hằng lục túi lấy một thứ đặt vào tay tôi. Tôi soi đèn pin xem, quả nhiên là cái mai rùa phòng thân hắn vẫn mang bên người. Tần Nhất Hằng nói, lát nữa tôi sẽ đập vỡ đỉnh đầu pho tượng, anh phải đặt mai rùa lên đó thật nhanh nhé. Nhớ dùng hết sức ấn thật chặt mai rùa, tôi không bảo thì không được buông tay ra.
Dứt lời, Tần Nhất Hằng bảo tôi vào vị trí, còn hắn nhặt bừa một hòn đá, hít sâu rồi tiến đến ụ đất, dùng hết sức ném vào đó. Tôi nghe thấy một âm thanh trầm đục, chắc mẩm pho tượng đã vỡ, vội vàng lao đến. Đã có bấy nhiêu kinh nghiệm, tôi không hề sợ hãi, chụp ngay mai rùa lên trên đỉnh tượng, ấn thật chặt, chỉ sợ bên trong có thứ gì lao ra. Được một lúc, thấy dưới tay không có cảm giác khác lạ, tôi mới an tâm quay đầu nhìn Tần Nhất Hắng, hắn đang ngồi xổm mân mê cái gì đó. Bốn bề tối đen như mực nên tôi chẳng nhìn rõ, hơn nữa ánh đèn pin cũng không chiếu về phía hắn.
Lát sau, Tần Nhất Hằng không hiểu lôi từ đâu ra một cái sào tre rất dài, một đầu vót nhọn, cắm nó vào vị trí cách mai rùa hơn mười phân, ấn xuống thật sâu mới chịu buông tay, cái sào tre được cắm cố định vào ụ đất, nghiêng một góc khoảng 75 độ. Xong xuôi, Tần Nhất Hằng mới bảo tôi buông tay rồi lấy từ trong túi ra một chai nước, tưới lên cái sào. Thấy tôi lò dò lại xem, hắn bèn khoát tay bảo tôi đứng xa ra. Sau khi đổ hết chỗ dung dịch trong chai, hắn cũng lùi ra sau vài bước, căng thẳng nhìn chằm chằm vào ụ đất.
Tôi nhanh chóng giật lùi, giương mắt nhìn mãi nhưng chẳng thấy động tĩnh gì.
Tần Nhất Hằng bất động, tự nhiên tôi cũng không đám cựa quậy, cả hai cứ đứng lì ở đó một lúc, bằng thời gian hút xong điếu thuốc, hắn mới thấp giọng nói, tới rồi, sau đó nắm tay tôi, chốc nữa dù nhìn thấy gì anh cũng không được chạy, chạy là toi đời.
Tôi vốn không sợ, nhưng nghe hắn dặn dò như vậy chân lại nhũn ra, bây giờ muốn chạy cũng chẳng chạy nổi, đứng được đã là tốt lắm rồi. Tay Tần Nhất Hằng đầm đìa mồ hôi, xem ra hắn cũng rất căng thẳng. Thực tình thứ sắp đến không đáng sợ, đáng sợ là không biết thứ gì sẽ đến. Tôi thậm chí còn không dám chớp mắt, nhưng nhìn trân trối đến ba phút vẫn chẳng thấy gì.
Tần Nhất Hằng ồ lên kinh ngạc, dường như cũng cảm thấy kì lạ, hắn quay đầu lại hỏi tôi, có phải vì quên lấy cái mai rùa ra không nhỉ?
Tôi liền chột dạ, cho rằng mình đã phạm sai lầm, nhưng nghĩ một lúc mới nhớ, hắn chỉ bảo tôi buông tay ra chứ đâu dặn tôi lấy lại mai rùa! Tôi liền nói mai rùa vẫn ở chỗ cũ, còn huơ đèn pin chỉ cho hắn xem.
Tần Nhất Hằng vội hô lên, hỏng rồi! Anh mau qua đó lấy mai rùa đi, chần chừ nữa là không kịp đâu.
Giọng điệu của hắn rất phù hợp với hoàn cảnh, khiến tôi nghe xong cũng thấy rờn rợn, bèn rụt rè tiến lên vài bước. Đang định quay đầu trách Tần Nhất Hằng vài câu, nào ngờ vừa quay người thì hắn bỗng dưng tắt phụt đèn pin.
Đêm tuy có trăng nhưng cũng chỉ sáng lờ mờ, đèn pin vừa tắt, mắt tôi nhất thời chưa kịp làm quen với bóng tối. Tôi phải đứng nguyên tại chỗ vài giây mới nhìn thấy cái mai rùa, vội tiến lên chụp lấy nó rồi chạy về cạnh Tần Nhất Hằng, không dám chậm trễ. Tôi vừa định mắng hắn về tội tắt đèn đột ngột thì thấy Tần Nhất Hằng suỵt một tiếng, cau mày như đang quan sát. Tôi hấp tấp quay đầu nhìn, tức thì sững ra, bởi chỗ chôn pho tượng bỗng xuất hiện một bóng đen.
Đây không phải lần đầu tiên tôi nhìn thấy bóng đen này, hay nói chính xác hơn là bóng đen kiểu này. Trong ngôi nhà đào được cửu tử kia, tôi cũng từng nhìn thấy một cái bóng tương tự đằng sau pho tượng Chung Quỳ bị đẩy đổ.
Bóng đen khá mờ ảo, không có đặc trưng hình thể rõ ràng, không biết có phải bóng đồ vật gì không. Tôi đứng im, đối mặt với nó nhưng không hề sợ hãi, trong đầu còn mải nhớ lại bóng đen trước đây trong ngôi nhà có cửu tử, định so sánh với cái mình đang thấy. Tiếc rằng tuy trí nhớ của tôi rất tốt nhưng hồi đó lại chưa quan sát kĩ càng.
Tần Nhất Hằng cũng không nhúc nhích, đăm đăm nhìn bóng đen. Hai chúng tôi không ai nói gì. Bóng đen cũng bất động, giống như đang đối mặt với chúng tôi vậy. Có khi nào nó là bóng của một vật thể quanh đây, chứ không phải tà vật? Thế nhưng bốn bề là đồng không mông quạnh, chẳng có gì cả.
Độ năm, sáu phút, cũng có thể vì quá căng thẳng nên tôi cảm thấy dài lê thê. Tóm lại, qua một lúc lâu, bóng đen kia bắt đầu nhúc nhích, ban đầu nó chỉ hơi lắc lư khiến tôi cứ tưởng mình bị ảo giác hay hoa mắt, nhưng càng về sau nó càng động đậy nhiều hơn, trông như thể đang từ từ ngồi xuống, hoặc là co lại thành một khối.
Tôi quan sát rất kĩ, tuy cái bóng như bị ngăn cách bởi một lớp kính mờ, không thể phân biệt rõ ràng tứ chi, nhưng nếu buộc phải hình dung thì trông hơi giống bóng nước. Tôi vẫn nhận ra đại khái động tác của nó, ít nhất thông qua hình dáng, nó quả thật đã ngồi xuống, nếu không cũng là quỳ xuống.
Chết tiệt, như vậy có ý gì? Muốn quỳ lạy tôi à? Trông có vẻ không giống. Tôi liếc Tần Nhất Hằng, do dự không biết đã hỏi được chưa, cuối cùng đành quay đi tự nghĩ tiếp. Được một lúc, thấy cái bóng lại lay động, trong lòng tôi hơi bất an. Bởi tôi bỗng phát hiện ra, động tác của nó hình nhưhơi giống tư thế chuẩn bị trước khi thi chạy một trăm mét. Mẹ kiếp, không phải nó đang chuẩn bị lấy đà chạy qua đây đấy chứ?
Tôi không bình tĩnh nổi nữa, vội véo tay Tần Nhất Hằng hòng nhắc nhở hắn. Hắn cũng lay lay tôi, ý bảo tôi trấn tĩnh. Sau đó, Tần Nhất Hằng bỗng kêu khẽ một tiếng, nghe như than thở, cũng hơi giống xuýt xoa. Tôi quay sang, thấy mắt hắn trợn trừng, không hiểu đã nhìn thấy thứ gì bất thường. Nhưng khi tôi nhìn lại, bóng đen kia vẫn giữ nguyên tư thế, không hề cựa quậy.
Thấy vậy tôi cũng ngạc nhiên, có gì mà sợ? Song chăm chú nhìn thêm một lúc, tôi mới hiểu ra, cái bóng tuy không cựa quậy nhưng giống như đang to dần lên, ít nhất cũng to hơn một phần ba so với lúc tôi vừa nhìn thấy. Đó là nó chưa đứng dậy, nếu đứng dậy e rằng sẽ cao tới hai mét.
Lòng bàn tay tôi bắt đầu túa mồ hôi, may thay bóng đen kia không tiếp tục to lên nữa, mà trong chớp mắt bỗng biến mất, không để lại dấu vết. Tự dưng tôi dao động, bụng bảo dạ chẳng rõ có phải nó từng xuất hiện hay không.
Tần Nhất Hằng bấy giờ mới hắng giọng nói, giờ thì cử động được rồi. Anh cầm xẻng đi, hai ta lại đào pho tượng lên. Nhớ cẩn thận một chút, đừng làm vỡ nó đấy!
Lại hì hục đào lượt nữa, may mà bình thường tôi cũng thi thoảng vận động, nếu không đêm nay kiểu gì cũng mệt tới mức tê liệt toàn thân. Ban nãy chúng tôi chưa nện chặt đất, Tần Nhất Hằng lại đổ nước vào, nên lúc đào lên dễ dàng hơn khi chôn xuống, có điều phải cẩn thận không làm vỡ tượng, thành ra lại tốn thời gian hơn nhiều, quá nửa tiếng mới xong. Tần Nhất Hằng dạo một vòng quanh pho tượng, nghĩ ngợi rồi bảo tôi cầm đèn pin soi. Hắn bắt đầu cẩn thận đập vỡ từng phần tượng.
Tôi theo dõi hắn đập mà hồi hộp, cái bóng lúc nãy thoát ra từ pho tượng, lẽ nào đây là vật chứa? Nghĩ thế, tôi lại càng tò mò, chẳng rõ sau khi đập vỡ tượng có phát hiện thêm gì không. Quả nhiên Tần Nhất Hằng mới đập vỡ phần cánh tay, bên trong đã lộ ra một đoạn na ná dây thừng, không to lắm, chiếu đèn pin vào cũng không thể nhìn rõ. Tần Nhất Hằng sửng sốt, đập nhanh hơn, pho tượng mau chóng vỡ nát. Sau khi dọn dẹp đống mảnh vỡ, Tần Nhất Hằng rút sợi dây ra giơ lên, quan sát từ trên xuống dưới rồi buột miệng chửi thề, ghê gớm đấy! Tôi nhìn mãi cũng không phát hiện ra chỗ nào đặc biệt, nhưng nó có vẻ dài hơn tôi tưởng, hơn nữa lại khá rườm rà, có nhiều nút thắt, trông như là nhiều đoạn dây buộc vào nhau. Khi giơ cao lên, nhìn nó hơi giống lưới cá, nhưng không phức tạp bằng, cùng lắm chỉ như một cái võng đang làm dở.
Đây là thứ gì nhỉ? Dùng để đánh cá sao? Tôi bèn hỏi Tần Nhất Hằng, song hắn chỉ ậm ừ bảo tôi thu dọn mọi thứ, lấy một ít đất ẩm từ chỗ vừa đào lên rửa tay, mọi chuyện để về nhà hắn rồi hẵng nói tiếp.
Tôi bới một ít đất vẫn còn ướt chà xát qua loa, bàn tay hơi dinh dính, cảm giác vô cùng ghê tởm. Khi tôi đang rửa tay, Tần Nhất Hằng thu dọn mọi thứ, cất riêng sợi dây tìm thấy trong pho tượng và cây sào tre dài ban nãy vào túi. Sau cùng, hắn đặt hòn đá đập tượng ngay ngắn lên ụ đất mới đào rồi đưa tôi trở về.
Lúc về, Tần Nhất Hằng im lặng lái xe, chẳng nói lời nào. Tôi sợ hắn phân tâm, cũng không dám quấy rầy. Tới khi vào nhà hắn, buông mình xuống sofa, tôi mới hỏi tối nay rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.
Tần Nhất Hằng khui một lon bia, hỏi tôi có nhìn thấy cái bóng kia không. Tôi gật đầu. Hắn lại hỏi, nó có hình gì? Tôi bèn hồi tưởng lại. Nếu nói là hình gì thì tôi không nhìn ra, chỉ ấn tượng là nó ngồi thụp xuống, hơn nữa còn to lên.
Tần Nhất Hằng rất hài lòng với câu trả lời của tôi, gật đầu nói, vốn dĩ tôi cố tình thua bạc thật nhiều, làm suy giảm vận may là để đối phó với tình hình đêm nay, xem liệu có thể giao lưu với tà vật này không. Đáng tiếc, tôi chưa kịp chuẩn bị gì, nó đã bị quỷ câu hồn đưa đi mất rồi.
Tôi không còn lời nào để nói, chỉ biết tổng kết lại bằng sáu chữ: mất toi năm mươi nghìn tệ. Tôi hỏi Tần Nhất Hằng, cái bóng kia vẫn luôn ở trong pho tượng hay sao?
Hắn thẳng thắn trả lời, không biết nữa. Hiện tại tôi không xác định được ngay từ đầu nó đã bị giam bên trong hay mãi về sau mới tự chui vào, có điều bất kể thế nào, cái bóng đó chắc chắn liên quan đến thứ này. Tần Nhất Hằng mở túi lấy sợi dây tìm thấy trong pho tượng, trải lên bàn trà, nói, tên nó là gì tôi không biết, nhưng mục đích của nó vô cùng rõ ràng. Đây là kinh mạch do một cao thủ làm cho pho tượng.
Đây là kinh mạch sao? Nếu không phải hắn nói với tôi, có cho tám cái đầu tôi cũng chẳng nghĩ ra! Tôi đứng dậy quan sát kĩ thứ đó, nghe hắn nói như vậy, tôi cũng nhìn ra được vài phần. Sau khi đống dây được trải ra, rất dễ thấy nó mô phỏng hệ thống kinh mạch trong cơ thể người, kinh mạch ở tứ chi khá dài, còn đầu đuôi thì ngắn. Nhưng như vậy cũng không đúng, kinh mạch sao lại có đuôi? Tuy không dài nhưng rõ ràng thò ra một đoạn nhỏ, chẳng lẽ đây là đàn ông?
Tôi chỉ vào đoạn lòi ra bên dưới rồi hỏi Tần Nhất Hằng, tượng thạch cao mà lại có đặc trưng giới tính, đoạn này chẳng phải là cái đó ư?
Hắn khẽ lắc đầu, nói rành rọt, anh nhìn ra trọng tâm rồi đẩy. Đây là cái đuôi, bởi kinh mạch này không phải của con người.
Tần Nhất Hằng tiếp tục giải thích, ban đầu hắn cũng không liên tưởng xa đến vậy, nhưng nhìn thấy tà vật kia mới dám chắc. Sở dĩ khi ngồi xuống nó có thể to ra, là bởi thứ nhập vào pho tượng, cũng có nghĩa là nhập vào kinh mạch này, không phải người, mà là một con ngựa.
Nghe vậy, tôi sởn cả tóc gáy, chưa bàn đến việc tại sao linh hồn con ngựa lại nhập vào tượng Viên Trận, mà riêng chữ “mã” thôi, không phải giống cách gọi quân mã trong bộ cờ tướng của lão Vạn hay sao? Chẳng lẽ nó thực sự có liên quan đến chuyện này? Nếu không tại sao lại trùng hợp như vậy được?
Đầu óc tôi hơi rối loạn. Quân mã đó hiện đang nằm trong tay tôi. Nhưng dù bên trong có mối liên hệ thì ông lão Vạn rốt cuộc muốn bày tỏ điều gì? Ông ta đã biết trước sự tình hôm nay ư? Muốn nhắc nhở chúng tôi phải cẩn thận với tà vật bên trong pho tượng? Tôi vội vàng hỏi Tần Nhất Hằng, thứ này liệu có phải là nguyên nhân khiến ông lão Vạn đánh rơi quân mã không?
Tần Nhất Hằng nghĩ một hồi rồi bảo tôi cùng hắn đi tới tủ quần áo, kéo cửa tủ ra, chỉ vào hình vẽ bên trong, anh xem, quá ư kì quặc, tư thế của mỗi người trông đều giống như đang nhảy múa, và là múa tập thể, động tác rất thống nhất. Trước đây tôi đã nghĩ rất lâu, cảm thấy phải tổng hợp hình vẽ trong tất cả những chiếc tủ lại mới hiểu được, nhưng hôm nay được pho tượng gợi ý, cuối cùng cũng nhìn ra thêm chút manh mối. Dứt lời, Tần Nhất Hằng ngoẹo cổ sang một bên, gần như thành một góc 90 độ rồi bảo tôi thử bắt chước hắn.
Tư thế của hắn trông rất buồn cười. Đêm nay, toàn thân tôi đã mỏi nhừ, cổ cũng rời rã, vặn như vậy quả là hơi đau. Nhưng khi điều chỉnh tầm nhìn theo góc 90 độ, tôi đột nhiên phát hiện những người có động tác kì quặc trong hình vẽ đều đồng loạt biến thành động vật bốn chân, trông như đang bò trên mặt đất!
Bọn họ không biết đi sao? Trước đây hai chúng tôi quả thật đã bỏ qua điểm này, cũng vì cái tủ quần áo quá nặng, không dễ di dời, hơn nữa một người bình thường, tứ chi khỏe mạnh thì khó mà liên tưởng theo hướng khiếm khuyết khả năng đi.
Tôi nghĩ thầm, lẽ nào cả đám đều bị tàn tật? Họ bò tới đâu nhỉ? Có việc gì quan trọng đến mức phải ra sức mà bò? Tới đây, tôi đột nhiên nảy ra một ý, tà vật đêm nay là một con ngựa ẩn trong pho tượng hình người. Như vậy, mấy người này căn bản không phải người mà là linh hồn ngựa trong thân xác con người, cho nên mới đi bằng tứ chi?
Nghe tôi suy đoán, Tần Nhất Hằng nghiêm trang gật đầu, khả năng ấy có vẻ rất hoang đường nhưng xem ra lại sát thực nhất. Chắc chắn đây là lý do Vạn Cẩm Vinh cho anh quân cờ, cũng là nguyên nhân pho tượng xuất hiện ở đây. Hắn giơ đống kinh mạch lên, dùng tay xoắn vài cái, nhìn kĩ một hồi rồi bảo, kinh mạch được bện bằng rất nhiều nguyên liệu, tôi cũng không nhận biết được hết, nhưng chắc không thể thiếu lông bờm ngựa và sợi gai, không chừng bên trong còn chứa dây chằng hoặc tủy xương của ngựa, chỉ có điều không dễ nhận ra thôi.
Thật ra sử dụng cách này để tà vật có cơ thể, lại dùng thạch cao làm vỏ ngoài, e rằng khi hoàn thành còn phải làm nghi thức tế máu ngựa, đốt xương ngựa rất phức tạp, mục đích duy nhất là để linh hồn trong tượng thạch cao nghĩ rằng mình vẫn còn sống, hay nói cách khác, nó biết bản thân đã chết nhưng không có cách nào chết được. Những vết hoen tử thi xuất hiện trên pho tượng chính là minh chứng.
Đây cũng là lý do tại sao Tần Nhất Hằng không hề cảm nhận được oán khí từ pho tượng. Tên quỷ câu hồn đêm nay e cũng đã chờ đợi khá lâu mới đưa được linh hồn này đi. Vì vậy, ở vị trí câu hồn, tức phần xương quai xanh trên pho tượng, mới lưu lại vài vệt màu đỏ nhạt. Đây chính là dấu vết đoạt hồn bất thành, màu đó là do lưỡi hái của quỷ sai để lại.
Quỷ sai bắt hồn không nhất thiết là đầu trâu mặt ngựa Hắc Bạch Vô Thường như trên phim. Nói theo kiểu dương gian thì, người chết phải đạt tới một mức độ nhất định, hoặc cực kì độc ác hoặc cực kì lương thiện, mới xứng được đầu trâu mặt ngựa Hắc Bạch Vô Thường tới bắt. Động vật cũng vậy, nếu không có đạo hạnh thì thường bị tiểu quỷ tới dẫn đi. Huống hồ, tên gọi đầu trâu và mặt ngựa không có nghĩa là chúng bắt hồn trâu và ngựa, mà Hắc Bạch Vô Thường ý nói Hắc Vô Thường sẽ không bắt hồn vào ban đêm, còn Bạch Vô Thường sẽ không bắt hồn vào ban ngày, nếu nói đến cùng thì còn rất nhiều cách giải thích khác.
Giảng giải xong, Tần Nhất Hằng nhấp một ngụm bia nhìn tôi, ý đợi tôi hỏi những chỗ chưa hiểu rõ. Lần này hắn giải thích rất rõ ràng, chúng tôi đập vỡ pho tượng, thành ra lại vô tình giúp quỷ sai một tay. Nhưng tôi vẫn không hiểu vì sao pho tượng lại phỏng theo hình dáng của Viên Trận, chúng tôi đã gặp Viên Trận nhiều lần, gã đi lại rất nhanh nhẹn, nếu pho tượng chỉ là để nhắc nhở chúng tôi về vấn đề trên hình vẽ, thì việc gì phải phí công vòng vèo thế? Cứ nói thẳng với chúng tôi không phải nhanh hơn sao?
Nghe tôi hỏi, Tần Nhất Hằng tặc lưỡi nói, bên trong hẳn còn có nguyên nhân, chỉ là chúng ta chưa biết mà thôi. Trên đời có những việc muốn nói mà không thể nói, cũng có những việc muốn nói nhưng không dám nói. Đối phương hao tổn nhiều tâm sức như vậy, dứt khoát là có điều lo ngại. Nhưng bất kể thể nào, hiện tại có thể thấy họ không có ác ý.
Tôi tự nhủ, tuy hắn nói thế, nhưng tôi vẫn cảm thấy hai chúng tôi bị người khác đùa giỡn, không chừng có ai đó đang trốn trong bóng tối, xem chúng tôi diễn kịch ở đây cũng nên. Nghĩ vậy, tôi lại thấy đau đầu, chuyện tới nước này, tôi thực sự không biết những việc chúng tôi làm hiện tại là gì hay vì cái gì. Nghĩ không ra chẳng thà gác lại không nghĩ nữa, tôi bèn chuyển chủ đề, hỏi Tần Nhất Hằng đã rót thứ gì xuống đất.
Hắn cười đáp, đó đều là nước tiểu của trẻ con, có tác dụng trừ tà, đổ xuống để phong bế mặt đất, ép tà vật chui ra từ đỉnh đâu pho tượng. Dứt lời, hắn không nhịn nổi phì cười.
Điệu cười chết giẫm của hắn nhìn thật gợi đòn, lúc chuẩn bị đi hắn còn bắt tôi rửa tay bằng đất thấm nước tiểu nữa chứ. Tôi hỏi Tần Nhất Hằng, hắn lại hùng hồn lý giải rằng tôi đã giữ mai rùa, e rằng cũng vô tình tiếp xúc với tà vật, làm vậy chỉ để bảo đảm an toàn cho tôi thôi. Tuy hắn nói vậy, tôi vẫn có cảm giác mình bị chơi khăm, có điều chuyện đã qua rồi, chẳng còn cách nào truy cứu, tôi đành ngậm ngùi nín nhịn.
Tới đây ít ra cũng đã rõ ngọn nguồn. Bận rộn suốt một đêm, chẳng mấy chốc trời đã sáng, tôi cũng quá mệt mỏi, chẳng thiết về nhà nữa, bèn tợp ngụm bia rồi ngủ luôn ở nhà Tần Nhất Hằng. Tôi ngủ mê mệt không biết trời trăng gì, tới khi tỉnh lại đã là giờ ăn trưa. Trở dậy đi một vòng quanh nhà không thấy Tần Nhất Hằng, giờ này chắc hắn đã ra ngoài mua bữa trưa rồi. Hắn không biết nấu nướng, mà lâu lắm mới có một lần tôi tới chơi nên không thể để tôi đói bụng được.
Tôi mở máy tính, vừa lên mạng vừa đợi Tần Nhất Hằng về. Ai ngờ chớp mắt đã hơn 1 giờ chiều mà vẫn chưa thấy hắn đâu. Bụng bắt đầu biểu tình, tôi bèn gọi điện thoại giục Tần Nhất Hằng thì nghe thấy tiếng chuông reo trong phòng, hắn không mang di động theo. Tôi chẳng còn bụng dạ nào ngồi chờ nữa, vội vã ăn mặc chỉnh tề, rửa mặt mũi rồi ra ngoài tìm một quán ăn chống đói. Mới ra khỏi hành lang, chưa kịp bắt xe, điện thoại của tôi đã reo. Là tin nhắn từ số máy lạ, muốn hẹn gặp tôi bàn chuyện nhà cửa.
Gần đây không có Viên Trận giúp đỡ, tôi đành thông qua quan hệ của bản thân, đăng kí số điện thoại với một trung tâm môi giới quy mô khá lớn trên toàn quốc, thỏa thuận đâu vào đấy, họ sẽ giúp người muốn bán đất liên hệ trực tiếp với tôi, nếu mua bán thành công, chúng tôi sẽ dựa vào giá bán trên hợp đồng để cắt phần trăm môi giới cho bên đó.
Ban đầu, tôi cũng không để ý, cứ ngỡ có mối làm ăn thật, liền gọi điện hỏi vài ba câu. Người nhận điện nghe giọng có vẻ đang độ tuổi trung niên, nói chuyện rất khách sáo, bảo rằng chỉ dăm câu ba điều qua điện thoại khó mà nói rõ được nên muốn gặp tôi để bàn bạc, sau đó cho tôi địa chỉ một quán trà.
Tới nơi, như đã hẹn, tôi lên thẳng phòng đặt trước ở tầng hai. Đẩy cửa vào, bên trong đã có bốn người ngồi, tuổi tác cũng không lớn, khoảng trên dưới ba mươi. Trông thấy tôi, họ đều mỉm cười chào đón, vẻ rất nhiệt tình, khiến tôi hơi ngần ngại. Bàn chuyện mua nhà mà phải kéo bốn người tới đây sao? Lại toàn là nam giới?
Tôi sợ mắc bẫy, không dám tùy tiện bước vào mà quay lại nhìn đằng sau, cả hành lang vắng tanh không một bóng người. Theo kinh nghiệm của tôi, nếu là bẫy thì chỉ cần đợi tôi đóng cửa, đồng bọn của họ sẽ tới chặn cửa và canh chừng bên ngoài. Nếu không nhìn thấy bóng người, tuy đối phương có thể đã mai phục sẵn, nhưng ít nhất chưa đến nỗi hết hi vọng. Cân nhắc một lát, tôi vẫn bước vào.
Thấy tôi ngồi xuống, bốn người đều rất niềm nở, người châm thuốc, kẻ mời trà, liên tục bắt chuyện. Chào hỏi xã giao chừng mười phút, vẫn chưa ai bàn đến chuyện kinh doanh. Tôi định hỏi xem họ muốn bán ngôi nhà thế nào, làm sao biết được số điện thoại của tôi, nhưng vừa mở miệng đã bị họ cướp lời.
Tôi hơi bực, kiểu này chắc chắn không phải tới để bàn chuyện làm ăn. Tôi cũng không định lãng phí thời gian với bọn họ nữa, đứng dậy viện cớ có việc phải đi, chuẩn bị mở cửa chuồn về. Bốn người thấy vậy thì vội vàng níu tôi lại, nhưng vẫn không nói bất kì câu nào liên quan tới chuyện nhà cửa.
Tới nước này, tôi thực sự không thể đợi thêm, rõ ràng họ muốn kéo dài thời gian, không chừng lại đang nung nấu ý đồ xấu. Nghĩ thế, tôi kiên quyết đứng dậy, mở cửa bước ra, nào ngờ đã thấy ngay một người chắn đường.
Quả nhiên bên ngoài có kẻ trông chừng chặn cửa!
Trải qua nhiều chuyện như vậy, ngoài lá gan to, khả năng phản ứng của tôi cũng tiến bộ không ít, trong lòng thật ra đã chuẩn bị liều chết đấu với bọn họ, tiện thể tính xem lát nữa nên chạy thoát theo lối nào. Nhưng khi nhìn kĩ, tôi mới phát hiện người đi tới là một ông lão lưng còng đội mũ đen, dáng vẻ tao nhã, nhìn thấy tôi còn gật đầu cười, làm động tác mời.
Bấy giờ tôi mới hiểu bốn người kia dùng trăm phương nghìn kế giữ tôi lại là để đợi ông lão này xuất hiện. Chắc họ chẳng có quyền bàn chuyện làm ăn, nên mới câu giờ hòng giữ chân tôi. Nhưng dù ông lão đã tới thì tôi cũng chẳng còn hứng thú, sắp xếp như vậy là hơi quá rồi, tôi đâu có nợ tiền ông ta. Tôi lắc đầu, tỏ ý không muốn nói chuyện rồi đi thẳng ra ngoài.
Ông lão không hề níu giữ mà còn tránh đường đê tôi qua. Được vài bước, tôi bất giác dừng lại, chợt thấy chiếc mũ ông ta đội trông rất quen. Tôi quay đầu nhìn mà thót tim. Mẹ kiếp, đây chẳng phải chiếc mũ Lưu thọt tặng Phòng Vạn Kim hay sao? Thế quái nào lại chạy tới chỗ ông lão? Hay ông ta cũng có một chiếc như vậy?
Tôi đứng chôn chân, nhìn chòng chọc vào chiếc mũ trên đầu ông lão. Ông ta cũng không quay đầu lại mà cứ đứng đó, dường như cố ý để tôi quan sát. Tôi nhìn kĩ một lượt mới dám khẳng định nó giống hệt cái mũ Lưu thọt để lại, ít nhất thì kiểu dáng và màu sắc đều như đúc từ một khuôn.
Chẳng lẽ ông lão quen biết Lưu thọt? Trước khi đi, Lưu thọt cũng tặng ông ta một cái mũ? Ông ta có liên quan tới việc gã mất tích không? Ông ta lớn tuổi rồi, có khi lại là lão tiền bối trong ngành huyền thuật cũng nên.
Do dự một lát, tôi vẫn cảm thấy không nên bỏ qua cơ hội này, bèn bước tới gọi ông lão. Ông ta quay đầu nhìn tôi cười, khuôn mặt đầy những nếp nhăn, chòm râu bạc dài rủ dưới cằm. Ông lão chẳng nói năng gì, chỉ làm động tác mời như trước, tôi đành gật đầu bước vào. Bốn người trong phòng thấy tôi quay lại thì hết sức vui mừng, vội vàng lui ra ngoài rồi nhẹ nhàng đóng cửa.
Ông lão trông khá ốm yếu nhưng vẫn rất phong độ, ngồi xuống rồi vẫn chưa vội lên tiếng mà chậm rãi nhấp một ngụm trà. Uống hết chén trà nhó, ông ta mới hỏi, cậu thanh niên, cậu tên gì thế?
Giọng điệu hòa nhã, nhưng lại có cảm giác không hề khách sáo, tôi bèn đáp, tôi là Giang Thước.
Ông lão ngẩng đầu nhìn tôi, nở nụ cười làm mặt đầy nếp nhăn rồi tiếp tục hỏi, Vạn Giang Thước?
Câu hỏi của ông ta khiến tôi ngây ngẩn. Hiện tại, tôi rất nhạy cảm với họ Vạn. Chết thật, không phải ông ta nghĩ tôi có quan hệ gì với từ đường Vạn gia đấy chứ? Lẽ nào ông ta nhận nhầm người, nghĩ rằng tôi là người nhà họ Vạn? Tôi vội vàng phân bua rằng tôi họ Giang, tên chỉ độc một chữ Thước.
Nghe xong, ông lão khẽ gật đầu, lại rót một chén trà, uống cạn mới hỏi tiếp, cậu có biết ngày mai cần mua cái gì không?
Tôi thầm nghĩ, lão già bị bệnh thần kinh hả? Sao giọng điệu có vẻ giống kẻ chơi xổ số nhiều quá hóa điên vậy? Tôi đành lắc đầu, tôi không biết.
Ông lão nhìn tôi đăm chiêu, sau đó lấy một vật nhỏ từ ngực áo ra đặt lên bàn, chỉ vào rồi hỏi, cậu nhìn thấy thứ này bao giờ chưa?
Ngồi cùng nhau chưa đầy ba phút, ông lão đã liên tục hỏi khiến tôi hơi luống cuống. Sao cứ như đang đi phỏng vấn thế không biết? Tôi cảm thấy rất bị động, định hỏi ông lão mấy câu nhưng xem tình hình có hỏi cũng chẳng ích gì, đành đứng dậy, cầm vật nhỏ kia lên quan sát.
Đó là một con dấu vuông đen sì, có vẻ làm từ đất sét, chỉ to bằng nửa bàn tay, nặng trịch, được chế tác rất thô, hiển nhiên không phải đồ cao cấp. Tôi từng thấy dấu làm bằng ngọc, bằng đá, nhưng bằng chất liệu này thì mới thấy lần đầu. Đáy con dấu còn khắc mấy chữ, tôi cố gắng nhận dạng nhưng chẳng đọc nổi chữ nào.
Tôi đặt con dấu xuống, khẽ lắc đầu với ông lão. Ông ta chằm chằm nhìn tôi hồi lâu, chẳng nói năng gì, chỉ liên tục uống trà. Thận ông ta khỏe hơn tôi tưởng đấy, nếu không chắc đã phải ra ngoài đi vệ sinh mấy lượt rồi.
Lại uống hết một chén trà nữa, ông lão mới lên tiếng, trước mắt, con dấu cứ để lại chỗ cậu. Cậu để ý giúp tôi, nếu tìm thấy một cái giống hệt nó, tôi sẽ mua lại với giá cao.
Tới đây, cuộc đối thoại mới đi vào chuyện làm ăn. Hóa ra ông ta lai rai mất nửa ngày cũng chỉ định nhờ tôi tìm giúp con dấu. Nhưng rõ ràng tôi tới đây để bàn chuyện mua nhà cơ mà.
Nghe tôi thắc mắc, ông lão cười quỷ dị, chỉ cần cậu tìm thấy con dấu, sẽ được trả nhiều hơn cả tiền lời bán nhà. Dứt lời, ông ta đứng dậy ra ngoài.
Tôi không thể ngồi im nữa, chưa nói vật ông ta đưa tôi có an toàn không, quan trọng là tôi còn rất nhiều câu hỏi cần giải đáp, liền tức tốc chặn ông ta lại.
Ông lão dừng bước nhìn tôi, bỗng nhiên hỏi, tay cậu có mấy ngón? Giọng điệu vẫn bình thản, nhưng tôi nghe xong lại cứng họng. Câu hỏi quả là nhiều ẩn ý, định uy hiếp tôi hay sao? Bảo nếu tôi còn cản trở thì hãy cẩn thận cái mạng, hay còn có ý gì khác? Trong lúc tôi ngây người, ông lão điềm nhiên chỉnh lại mũ rồi mở cửa. Bốn người nợ vẫn đứng đợi bên ngoài, thấy cửa mở liền nhanh nhảu đón ông ta đi ra.
Nói thật, tôi vô cùng thất vọng về bản thân. Tính ra tôi từng gặp gỡ không ít người, ngờ đâu ứng xử còn non nớt đến thế, ông ta mới nói mấy câu mà đã cuống cả lên. Đã vậy, nếu bỏ lỡ lần này, e chẳng còn cơ hội nào để hỏi nữa, tôi vội đuổi theo gọi, xin dừng bước, rồi bất kể ông lão có dừng lại hay không, tôi hỏi ngay chiếc mũ mua ở đâu, vì tôi thấy không ít người đội nó.
Cách hỏi tuy mập mờ, nhưng chắc chắn ông ta sẽ hiểu ý tôi.
Ông lão dừng bước nhưng không hề quay đầu, ho nhẹ một tiếng rồi nói, cái mũ này chỉ dành cho kẻ đã đặt nửa người xuống đất, người trẻ tuổi vẫn nên ăn mặc hợp mốt thì hơn. Dứt lời, ông ta đi thẳng xuống lầu.
Tôi không đuổi theo, biết rõ có làm vậy cũng chẳng ích gì, không chừng còn bị đánh. Quay lại phòng trà, tôi mở cửa sổ nhìn ra, quan sát ông lão và bốn người kia lần lượt chui vào hai chiếc xe hơi đi khuất, bây giờ mới ngồi xuống nghĩ xem chuyện vừa rồi là thế nào.
Ông lão đi con xe khá sang, chứng tỏ không phải người nghèo. Tại sao ông ta lại tìm tới tôi? Vì cái nghề tôi đang làm tương đối đặc biệt? Con dấu này chỉ có thể tìm thấy trong nhà ma? Những lời ông ta nói hết sức mơ hồ, khiến người ta nghe nửa hiểu nửa không. Tôi có cảm giác ông ta liên quan tới mọi chuyện, hơn nữa câu hỏi về ngón tay có vẻ không chỉ là uy hiếp. Dính dáng gì đến cả Sáu ngón không?
Tôi đúng là còn quá non, vào đời lâu như vậy mà bản lĩnh đối nhân xử thế vẫn chẳng khá lên tẹo nào. Thật ra, cũng có lúc tôi cho rằng mình rất giỏi dùng tâm kế, tính toán tỉ mỉ, thường chiếm ưu thế trong làm ăn. Vậy mà khi gặp ông lão này, chỉ xét riêng phong độ, tôi đã rõ vỏ quýt dày còn có móng tay nhọn.
Tôi ngồi nghĩ ngợi rất lâu, nảy ra vô số câu hỏi, định làm hớp trà cho đỡ khát thì phát hiện ông lão kia đã uống sạch cả ấm, đành đứng dậy chuẩn bị đi về, tìm Tần Nhất Hằng bàn bạc xem sao. Con dấu ông ta để lại vẫn còn nằm trên bàn. Sau khi cân nhắc một lúc, tôi bỏ nó vào túi áo, ít nhất cũng nên để Tần Nhất Hằng xem qua rồi hẵng tính tiếp.
Ra khỏi quán trà, tôi gọi điện cho hắn, nhưng không thấy nhấc máy. Tôi đành về nhà, tắm rửa qua loa rồi lên mạng giết thời gian, cứ cách một tiếng hoặc bốn mươi phút lại gọi điện cho Tần Nhất Hằng. Nào ngờ, tới nửa đêm vân không gọi được. Cuối cùng tôi đành bỏ cuộc, lấy con dấu vuông kia ra soi dưới đèn quan sát, vẫn không thấy có gì đặc biệt.
Kiểu dáng con dấu rất phổ biến, lại không có hoa văn trang trí, đặt trên bàn trông như một khối vuông. Tôi thầm nghĩ, ông lão muốn tôi tìm một cái tương tự, nhưng loại dấu này chẳng có điểm nào đặc biệt, biết tìm kiểu gì đây? Chẳng lẽ mấu chốt nằm ở đường nét sau khi đóng?
Tôi càng nghĩ càng cảm thấy suy đoán của mình rất có cơ sở, toan tìm một tờ giấy đóng thử, tiếc rằng trong nhà có giấy nhưng lại không có mực đóng dấu. Tôi không dám dùng thứ khác thay thế, chỉ sợ không cẩn thận lại làm hỏng, đành đặt nó trên bàn, dọn dẹp một chút rồi chuẩn bị đi ngủ.
Trong đầu lộn xộn bao ý nghĩ, tôi trằn trọc mãi, quá nửa đêm mới thiếp đi. Vừa ngủ được một lát, điện thoại đã reo. Tôi bất đắc dĩ bắt máy, đầu kia vang lên giọng nói quen thuộc của Tần Nhất Hằng, ngay câu đầu tiên đã khiến tôi bừng tỉnh. Anh có biết hôm nay cần mua cái gì không?
Tôi hỏi lại, hôm nay phải mua cái gì?
Hắn ở đầu bên kia thì thầm một hồi, tôi không nghe ra. Tần Nhất Hằng lại tiếp, mau dậy chuẩn bị đi, lát nữa tôi qua nhà đón anh. Nói xong hắn liền cúp máy.
Trời đã sáng, tôi đành dậy đánh răng rửa mặt. Lúc soi gương, tôi thấy mắt mình nổi đầy tơ máu. Trước khi vào nghề, Tần Nhất Hằng từng nói nếu tiếp xúc với những thứ không sạch sẽ trong thời gian dài rất dễ giảm thọ, trông bộ dạng bây giờ, e rằng tôi sẽ chết yểu.
Tôi ngồi đợi một lát thì thấy Tần Nhất Hằng gọi điện bảo xuống nhà. Lên xe chưa để hắn mở miệng, tôi đã kể lại một lượt mọi chuyện ngày hôm qua, nói xong còn vội vàng nhét con dấu vuông vào tay hắn.
Nghe xong, Tần Nhất Hằng tắt máy xe, cầm con dấu vuông lên xem hồi lâu rồi hỏi, ông lão kia không xưng tên sao?
Tôi lắc đầu, đoạn hỏi hắn, con dấu vuông này để làm gì?
Tần Nhất Hằng giơ nó lên trước ánh sáng quan sát, nói, không phải tà vật đâu, dưới đáy con dấu là một kí hiệu đơn giản để trấn hồn trừ tà. Nhưng chính vì đơn giản nên hơi kì lạ. Hắn lật con dấu lại, chỉ kí hiệu nọ rồi bảo, loại kí hiệu này quá phổ biến, không chỉ người của Đạo gia mà rất nhiều thầy pháp chuyên hô thần nhập tượng biết sử dụng, thậm chí không chừng các ông già bà cả từng trải sự đời cũng vẽ được. Đường nét của nó không quá phức tạp, chỉ cần để tâm học thuộc là nhớ, bởi thế mới trở nên cực kì thông dụng. Nhưng chính vì vậy lại không cần khắc thành con dấu. Những kí hiệu này ai cũng viết được, mà còn viết rất đẹp, khắc dấu chỉ tổ thừa thãi.
Tự cổ chí kim, quả thật có một số kí hiệu bùa được khắc thành con dấu, nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay, hơn nữa, cũng phải có công dụng đặc biệt mới cần làm dấu. Nói tới đây, Tần Nhất Hằng cúi đầu trầm tư một lúc mới ngẩng lên bảo, hình như hắn đã đoán được ý nghĩa của con dấu rồi. Đây là do người sử dụng muốn tạo ra một lượng lớn bùa trấn hồn trừ tà trong thời gian cực ngắn, không viết kịp, nên đành nghĩ ra cách này.
Tần Nhất Hằng bĩu môi, tặc lưỡi rồi tiếp, chỉ còn một điều nghĩ mãi không thông là việc gì mà cần nhiều bùa trừ tà đến vậy, lại còn trong một khoảng thời gian ngắn nữa. Quả là hoang đường, bởi loại bùa này mỗi nhà chỉ cần một tấm, dùng nhiều tuy không có hại nhưng cũng chẳng thể tăng hiệu quả.
Nghe Tần Nhất Hằng phân tích, tôi thầm nghĩ, hay con dấu là để sản xuất bùa chú hàng loạt? Ví như có một người trong nghề nhận được mẻ làm ăn lớn, phải dán bùa cho cả khu nhà hoặc cả tòa chung cư? Song ngẫm kĩ lại, ông lão kia đã tìm tới tôi, còn ra vẻ thần bí như vậy, lẽ nào muốn tôi tìm một ngôi nhà có thật nhiều bùa trấn hồn trừ tà? Nhưng gợi ý của ông lão rất mơ hồ. Tôi đem thắc mắc với Tần Nhất Hằng, hắn châm thuốc, nghĩ một hồi rồi khẽ lắc đầu, cảm thán, e rằng tạm thời chưa thể kết luận, theo miêu tả của anh, ông lão chắc chắn có vấn đề, hơn nữa nếu chiếc mũ đó thực sự giống với cái mà Lưu thọt để lại, có lẽ ông ta có dính dáng tới nguyên nhân mất tích của gã. Nội tình quả thật thâm sâu khó dò.
Nghe vậy, tôi cũng chẳng mấy kích động, có thể là vì quá buồn ngủ. Những người thức thâu đêm đều biết, người ngủ một, hai tiếng rồi tỉnh dậy như tôi còn không tỉnh táo bằng kẻ suốt đêm không ngủ. Tôi cũng châm điếu thuốc, rít một hơi dài mới sực nhớ ra, trước đó Tần Nhất Hằng hỏi tôi cần mua thứ gì nghĩa là sao nhỉ? Còn nữa, hôm qua đang yên đang lành, tại sao hắn lại mất tích suốt một ngày?
Nghe tôi hói, hắn bèn ném điếu thuốc đi, khởi động xe rồi hít một hơi thật sâu, nói, hôm qua sau khi tỉnh lại, tôi vô tình phát hiện ra câu đối mà Phòng Vạn Kim đưa không phải do ông ta tự viết! Phòng Vạn Kim nổi tiếng giỏi đoán chữ, trình độ thư pháp dĩ nhiên cũng không tệ, tính lại vô cùng sĩ diện, thích khoe khoang. Từ trước đến nay câu đối của Phòng Vạn Kim đều do chính tay ông ta viết, hòng khoe tài thư pháp, nhất là câu đối tặng bạn bè thân thiết. Tôi lo có điều gì sơ sẩy nên vội vàng đến đó xem sao, nào ngờ tiệm ông ta đã đóng cửa. Hỏi han các cửa hàng xung quanh, họ đều nói ông lão nhắn lại rằng muốn về quê mua sắm, khi nào mua đủ đồ dùng mới quay trở lại.
Tôi e Phòng Vạn Kim gặp phải điều bất trắc nên đã lái xe tới các nhà ga, sân bay và trạm xe khách đường dài để nghe ngóng suốt một ngày, nhưng không có tin tức gì. Tới quá nửa đêm, khi đã bỏ cuộc chuẩn bị về nhà, tôi mới sực nghĩ ra, mấu chốt trong lời nhắn Phòng Vạn Kim để lại chính là mua đủ đồ dùng. Nói tới đây, Tần Nhất Hằng nghiêng đầu chăm chú nhìn tôi, lúc trước đầu óc không có phút nào được nghỉ ngơi nên chuyện quan trọng như vậy tôi cũng quên khuấy mất. Hôm nay chính là ngày Chợ Lồng mở hàng. Dứt lời, không đợi tôi hỏi, Tần Nhất Hằng đã khởi động xe xuất phát.
Hắn lái xe rất nhanh, mà con đường từ nhà tôi đi ra vốn hẹp, khá khó lái. Tôi nhất thời cũng không dám mở miệng hỏi Chợ Lồng là gì, nhìn đồng hồ xăng thấy lượng xăng chỉ còn một nửa, tôi đoán hắn không đi xa nên quyết định không hỏi nữa, đợi tới nơi rồi nói.
Đúng như dự đoán, Tần Nhất Hằng không hề ra khỏi thành phố, chỉ lái xe đi lòng vòng trong mấy ngõ ngách ở nội thành, sau đó chạy thẳng tới khu khai thác ở rìa Tây thành phố.
Trên đường, tôi còn mải suy nghĩ, tôi sống ở đây hơn hai mươi năm, tuy rất hiếm khi tự lái xe, nhưng ít ra cũng đã đi khá nhiều chỗ, tại sao trước giờ chưa từng nghe thấy đường phố nào tên là Chợ Lồng? Tới khi dừng xe, tôi mới phát hiện nơi chúng tôi đến không phải một khu phố mà chỉ là một con ngõ hẹp, ô tô không vào nổi, nằm ngay bên khu khai thác, giữa hai dãy nhà do nông dân tự xây ở ngoại ô.
Xuống xe, Tần Nhất Hằng không giải thích mà đưa thẳng tôi vào trong. Trong ngõ đã có bảy, tám người xúm xít, không rõ đang xem cái gì. Chen vào đám đông, tôi mới nhìn thấy ở giữa đặt một chiếc bàn dài cũ nát, phía trên bày vài cái lồng chim, trong mỗi lồng đều có một hộp gỗ, to nhỏ khác nhau. Đám người đứng bên cạnh chỉ chỉ trỏ trỏ nhưng không ai dám sờ vào.
Tôi bất thần tự hỏi, lẽ nào đây là kiểu giao dịch ở chợ đen trong truyền thuyết? Bên trong là đồ cổ hoặc đồ trộm từ mộ cổ? Tôi đã hiểu vì sao nơi này được gọi là Chợ Lồng. Thông thường, người ta đi mua đồ thường dùng túi nhựa để đựng, còn ở đây lại sử dụng lồng chim ư? Tôi toan hỏi Tần Nhất Hằng nhưng hắn lại ra hiệu đừng lên tiếng, sau đó đưa tôi điếu thuốc xem như bịt miệng. Tôi đành hút thuốc, tiện thể đảo mắt quan sát xung quanh.
Khi tôi hút gần hết điếu thuốc, bỗng có hai người chen vào. Cả hai đều tai to mặt lớn, thân hình mập mạp, chẳng nói năng gì, người béo hơn tiến lên trước rồi lần lượt xách từng cái lồng chim lắc vài lần, điệu bộ gần giống mấy ông lão sáng sớm đem chim đi dạo ngoài công viên. Xong xuôi, gã ta ra khỏi đám đông. Tên còn lại nhìn quanh rồi hắng giọng.
Tôi càng xem càng thấy thú vị, loại bàn dài bày lồng chim này trước đây tôi từng thấy trong chương trình giám định báu vật trên ti vi. Nó không phải bàn thông thường mà là án thư văn nhân thời xưa dùng để trải tranh ra xem. Phía trên mặt bàn còn bày lồng chim bằng tre, đậm đà phong vị văn hóa truyền thống.
Sau khi tên béo hắng giọng, mấy người đứng xung quanh bàn không ai bảo ai, đều tự động lùi lại vài bước. Tần Nhất Hằng cũng túm lấy tôi, ra hiệu cho tôi mau lùi lại. Tên béo đứng trước án thư chỉ vào cái lồng chim đầu tiên rồi hỏi, cái này có đặt không?
Một người trong đám đông lập tức hưởng ứng. Tên béo gật đầu, ra hiệu cho người đó bước ra. Người đó tiến đến xách lồng chim, đi theo gã tới gian nhà tự xây ở mảnh sân con phía sau. Chừng mười phút, tên béo trở lại, tiếp tục chỉ vào cái lồng thứ hai, hỏi, cái này có đặt không?
Lại có một người hưởng ứng. Người đó cũng tiến lên lắc lồng chim, rồi đi theo tên béo vào sân. Một lúc sau, gã lại đi ra.
Tôi xem mà chóng cả mặt, ban nãy tranh thủ tới gần, tôi đã quan sát rất kĩ, lồng chim ở đây đều cũ rích, vài cái thậm chí còn dính đầy phân chim, hộp gỗ bên trong cũng không giống đồ mới. Thứ này rốt cuộc để làm gì? Tên béo kia nói đặt cái gì chứ? Trông cứ như đang đấu giá vậy!
Tần Nhất Hằng chăm chú nhìn tên béo. Khi tên béo hỏi đến cái lồng chim thứ ba, hắn liền hô một tiếng đặt, rồi bước ra khỏi đám đông, bảo tôi xách lồng theo tên béo vào sân. Phần lớn khoảng sân dùng để dựng lều, bên trong bày rất nhiều lồng chim, một số còn phủ vải đỏ. Tôi không có thời gian quan sát kĩ, không biết có phải trong mỗi chiếc lồng đều có hộp gỗ hay không, nhưng trong những cái mà tôi nhìn thấy thì đều đặt hộp gỏ. Nơi này càng lúc càng kì lạ, giống như chợ bán chim chóc cây cối, nhưng những thứ bày trong lồng lại không giống.
Chẳng còn thời gian ngẫm nghĩ, chúng tôi băng qua khoảng sân vào nhà, gã béo hơn vừa nãy dang ngồi đợi ở chỗ có vẻ như là phòng khách. Thấy hai chúng tôi đi vào, hắn gật đầu xem như chào hỏi rồi đưa máy POS [39] bên cạnh ra. Tần Nhất Hằng nhanh nhẹn tiến lên quẹt thẻ.
Liếc số tiền hiển thị trên màn hình máy POS, khoảng vài chục nghìn tệ, tôi thầm nghĩ, cái của nợ này sao mà đắt thế, không lẽ Tần Nhất Hằng lại muốn đánh bạc? Thế nhưng, vướng hai tên béo ở đây, tôi không có cách nào hỏi, đành đợi Tần Nhất Hằng quẹt thẻ rồi đưa tôi ra khỏi đó bằng cửa khác. Ra ngoài rồi, tôi mới vỗ vỗ hắn, hỏi xem hắn định làm gì.
Tần Nhất Hằng quay đầu nhìn tôi đáp, đây không phải chỗ để nói chuyện. Sau đó hắn đi lấy xe rồi bảo tôi lái, còn bản thân im lặng ngồi ôm cái lồng chim ở ghế phụ. Mãi tới khi xe chạy vào nội thành, Tần Nhất Hằng mới châm điếu thuốc, trông như thể vừa trút được gánh nặng, bảo tôi dừng ở một quán ăn gần nhất, lấp đầy cái bụng rồi hẵng nói tiếp.
Chúng tôi vào một phòng riêng, chọn vài món ăn. Khi thức ăn đã lên đầy đủ, Tần Nhất Hằng vẫn chưa vội đụng đũa, mà đặt cái lồng chim lên bàn rồi bắt đầu giải thích.
Hắn nói, ngõ Chợ Lồng không phải có từ xưa, mà là địa điểm gửi đồ bán hộ mới nổi mấy năm gần đây, mọc lên ở nhiều nơi trên cả nước, nhưng thường chỉ nằm ở các thành phố lớn trực thuộc tỉnh hoặc trung ương. Nghiêm túc mà nói, Chợ Lồng cũng gần giống chợ đen. Những thứ bán ở đây tuy không là hàng cấm, nhưng đôi khi cũng có vài món trộm từ mộ cổ. Chúng được xem là không sạch sẽ vì ít nhiều đều nhiễm tà khí, thậm chí có những món còn bị tà vật bám vào, nên người bình thường không dám mua, một số người không rõ chân tướng của chúng, mua về mới phát hiện ra có điều bất thường cũng sẽ mang tới Chợ Lồng để sang tay.
Người biết tiếng Chợ Lồng và sẵn sàng đến đây vét đồ chủ yếu đều hoạt động trong nghề, mục đích mỗi người một khác, nhưng đại khái đều chạy theo lợi ích. Có điều phương thức kiếm lời của họ không giống nhau, có người thu mua đồ tùy táng, mang về tự xử lý sạch sẽ mới đem ra đấu giá; có kẻ lại nhận những công việc mờ ám, nhỏ là giả thần giả quỷ, lừa gạt người, lớn là làm ra những chuyện tàn nhẫn, mất hết nhân tính. Thông thường, những kẻ chuyên nhận việc mờ ám tới Chợ Lồng lặng lẽ đăng kí, sau đó đợi người thuê liên hệ trực tiếp với mình. Tuy trong giới không có luật cấm dùng huyền thuật làm việc xấu, nhưng trong lòng mỗi người đều có tiêu chuẩn đạo đức nhất định, nếu để người khác biết e rằng về sau khó mà làm nghề nữa. Vì vậy, thù lao của công việc kiểu này rất cao, nhưng cực kì ít người làm, còn phải lén lút như bắt gà trộm chó.
Một vài kẻ chuyên tới mua hộ người khác một số động vật thiêng, như chồn tinh rắn tinh đã tu luyện bước đầu về để phóng sinh, coi như tích đức hoặc xoa dịu tinh thần. Những cái lồng trùm vải đỏ trong sân chủ yếu đều nhốt mấy con vật này. Giá bán của chúng tương đối cao, vì kẻ nhờ mua không giàu thì sang, mỗi lần đều chi một khoản tiền lớn. Có một cách giải thích khác rằng, nếu chi ít tiền tức là chưa thành tâm, cho nên rất nhiều người vô tình hoặc cố ý bắt được những con thú này, dù biết có nguy cơ bị báo thù hay trúng tà, cũng muốn đưa đến đây bán.
Còn một kiểu nữa chính là kiểu chúng tôi gặp hôm nay. Khi mua đồ, sẽ không có ai nâng giá để tranh mua hay ai tới trước mua trước, bởi những thứ bán ra hôm nay tương đối đặc biệt. Chúng đều là tụ trạch đào lên từ các ngôi nhà cũ trên cả nước. Trước đây, Tần Nhất Hằng từng giải thích cho tôi về tụ trạch, những người tới đây mua chúng thật ra cũng chẳng có mục đích thực tế gì, chỉ muốn tìm lại đồ vật của gia tộc mà thôi.
Đất nước này đã trải qua nhiều cuộc xâm lược và nội chiến, sau đó là mười năm trời biến động, rất nhiều trưởng nam của các gia tộc lớn vì đủ loại lý do mà tản mác khắp nơi, không thể trở về tìm người thân hoặc có về thì nhà cửa cũng chẳng còn. Một số người quyến luyến với gia tộc thường muốn mua lại những vật này, nghe nói giá của chúng vài năm gần đây rất cao. Trước đây, Tần Nhất Hằng cũng từng nói, tụ trạch được chia thành mấy loại, loại giá cao thường được chôn trong giai đoạn phụ nữ cáng đáng gia đình, bởi họ hay lấy giấy viết một câu thả vào bóp tiền chôn xuống đất, khi chôn cũng không để ai xem nội dung bên trong. Loại tụ trạch này không chỉ mang ý nghĩa kỉ niệm mà còn có chữ viết của tổ tiên, rất thần bí.
Chính vì muốn mua đồ của gia tộc nên người mua thường tìm đồ theo họ, nếu không phải trùng hợp có người cùng họ tới mua, thì thường không cần tranh giành với ai cả. Tần Nhất Hằng đẩy cái lồng chim về phía tôi, chỉ vào đỉnh lồng bảo tôi xem. Tôi quan sát kĩ, thấy bên trên có một chữ rất nhỏ, hình như dùng kim vạch lên, đường nét cực mảnh, là chữ Phòng. Vừa nhìn thấy nó, tôi đã hiểu vì sao hắn lại đưa tôi tới đây, lẽ nào tụ trạch trong cái lồng là của nhà Phòng Vạn Kim?
Thật không sao hiểu nổi! Phòng Vạn Kim dù thế nào cũng là nhân vật nổi tiếng trong nghề, đáng ra phải hay tin mua về từ sớm, làm gì tới lượt chúng tôi? Tôi lại nghĩ đến ông lão bí ẩn hỏi tôi mua gì hôm qua, không phải ông ta đã dự liệu được việc Tần Nhất Hằng sẽ đưa tôi tới đây mua thứ này đấy chứ?
Với tôi thì tụ trạch cũng chẳng phải đồ vật may mắn gì. Tôi nhớ khi ở từ đường Vạn gia, Tần Nhất Hằng đã phân tích rằng mấy cái tủ quần áo rất có thể là tụ trạch của ngôi nhà nào đó. Nếu không phải nghi ngờ có đồ vật của tôi bị chôn dưới căn biệt thự kia, hai chúng tôi cũng chẳng thể phá được trận cửu tứ trấn long. Nhìn cái lồng chim trước mặt, tôi bỗng muốn cho tránh xa. Tôi liếc sang Tần Nhất Hằng, ánh mắt hắn toát ra vẻ kiên định. Cộng tác với nhau lâu như vậy ít nhiều cũng có phần ăn ý, tôi vừa nhìn đã biết mình đoán trúng tám, chín phần rồi.
Không chờ tôi hỏi, Tần Nhất Hằng kéo cái lồng chim ra trước mặt rồi nói, e rằng lời nhắn của Phòng Vạn Kim có ý nhắc nhở chúng ta đi tìm thứ này. Ông lão lúc trước tới tìm anh chắc chắn có liên quan tới nó. Nhưng phải đợi tôi mở hộp, xem tụ trạch thế nào đã.
Tần Nhất Hằng vừa nói vừa xoay cái lồng chim một vòng, lại tiếp, lồng ở đây nhất định phải là lồng cũ từng nuôi chim mới được. Còn vì sao phải dùng lồng chim để đựng đồ thì tôi không rõ. Tóm lại, thông lệ đó đã có kể từ khi Chợ Lồng mở hàng, người tới mua chỉ được nhìn đồ vật qua lồng chim chứ không thể thò tay chạm vào trực tiếp. Theo suy đoán của tôi thì đây có thể là biện pháp chống trộm. Người bán đồ ở Chợ Lồng, cũng chính là hai gã béo chúng ta vừa gặp, nhất định phải là “thiểm tử”, tức những kẻ ngủ mà mắt không khép chặt. Từ này trong huyền học không có cách giải thích cụ thể, nhưng từ cổ chí kim, rất nhiều nơi yêu cầu người trông giữ kho bạc phải là thiểm tử. Nghe nói, có thiểm tử trông giữ thì của cải sẽ không bị tiểu quỷ lấy trộm, nhưng cũng chỉ là lời đồn đại, không ai chứng thực được.
Chợ Lồng chỉ mở vào ngày mùng một và mười lăm âm lịch hằng tháng, nếu giải thích bằng tiếng lóng trong ngành thì mùng một bán đồ “thực” và mười lăm bán đồ “hư”. “Thực” chỉ vật còn sống, “hư” là vật đã chết. Hôm nay, chúng ta mua đồ vào ngày mười lăm âm lịch, lúc đầu tôi chỉ định tới đây xem thử, không ngờ lại có tụ trạch của Phòng gia thật.
Trước tiên, chúng ta cứ ăn cơm đã, rồi tìm chỗ để mở lồng chim.
Tôi cũng đói meo, ăn một bữa no nê, uống hết hai lon bò húc mới tỉnh táo hơn đôi chút. Ăn xong cơm, hút thuốc nghỉ ngơi một lát, chúng tôi mới ra khỏi quán, lái thẳng về nhà tôi.
Vào nhà, chúng tôi đặt lồng chim lên bàn trà. Tần Nhất Hằng kéo hết rèm cửa sổ lại, đặt một ngọn đèn bàn cạnh cái lồng, rồi cẩn thận dùng kìm và cưa mini trong bộ dao đa năng Thụy Sĩ cắt đứt từng thanh lồng, chỉ sợ đụng tới chiếc hộp bên trong. Tôi ngồi bên cạnh nhìn mà sốt cả ruột nhưng cũng không dám quấy rầy. Đợi hắn dỡ xong cái lồng, tôi mới hỏi, sao phải tốn công thế? Thò tay vào lấy hộp ra có phải nhanh hơn không?
Tần Nhất Hằng không trả lời, tiếp tục thận trọng dùng con dao Thụy Sĩ nạy nắp hộp gỗ từng tí một. Bấy giờ tôi mới vỡ lẽ, hóa ra hắn không muốn đụng tay vào cái hộp. Tự dưng tôi cũng hơi căng thẳng, sao cứ như gỡ bom vậy?
Cũng may, sau khi Tần Nhất Hằng cậy nắp, cái hộp gỗ không hề nổ. Hắn ngồi chờ một lúc rồi mới thò tay lấy thứ trong hộp ra. Đúng như hắn nói, vật này được làm từ tơ lụa hoặc vải trắng, kích thước rất nhỏ. Tôi chưa sờ tận tay nên không nhận ra chất liệu của nó. Tần Nhất Hằng cẩn thận đặt nó lên bàn trà, mở ra to gần bằng bàn tay người lớn, trông như một cái bảng biểu, bên trong còn có hình vẽ, hàng trên cùng có vài chấm đen ngay ngắn, gần giống thời khóa biểu thuở còn đi học.
Tần Nhất Hằng há hốc mồm, dường như cũng rất ngỡ ngàng, chăm chú quan sát hồi lâu không lên tiếng. Tôi bèn hỏi, thứ này là tụ trạch của tổ tiên Phòng Vạn Kim sao? Gia đình nhà họ lập dị lắm à? Đây đâu phải một câu nói!
Tần Nhất Hằng nhìn tôi, rồi nhìn miếng vải, tặc lưỡi không trả lời. Tôi đành cúi xuống tự quan sát. Bảng biểu hơi xiêu vẹo, hình như thời đó người ta vẫn chưa dùng thước kẻ. Nhưng hình vẽ bên trên cũng cực kì cẩu thả, chỉ sơ sài vài nét, cố gắng lắm mới nhận ra là vẽ động vật.
Tôi càng nhìn càng cảm thấy kì lạ, vật này có ý gì nhi? Dùng cho chăn nuôi chăng? Kiểu như ghi lại thời gian cho vật nuôi ăn? Hay vốn chỉ là một cái thực đơn bình thường, chuyên ghi chép bữa nào nhà mình ăn con gì. Tôi nhìn mãi vẫn chẳng tìm nổi manh mối, đành châm một điếu thuốc đợi Tần Nhất Hằng.
Hắn trầm tư lâu hơn tôi tưởng. Tôi hút xong điếu thuốc rồi từ nhà vệ sinh đi ra, hắn vẫn ngồi suy nghĩ. Một lúc sau, sốt ruột quá, tôi đành hỏi hắn, chúng ta nhanh hơn một chút được không? Bấy giờ Tần Nhất Hằng mới định thần nhìn tôi, soi tấm vải kia lên ngọn đèn lật qua lật lại quan sát, sau đó lại thất vọng đặt xuống, tiếp tục nghĩ ngợi.
Thấy vậy, tôi đành ngồi đợi tiếp. Thêm mười mấy phút nữa, Tần Nhất Hằng đột nhiên xin tôi điếu thuốc, rít một hơi đài rồi nhả khói, anh có nhìn ra trên đó vẽ gì không?
Tôi nghe xong liền muốn đập cho hắn một trận, đợi mãi mà chỉ nhận được một câu này thôi sao? Cũng may, hắn lại đế thêm, anh có nghĩ nát óc cũng không ra đâu. Đoạn hắn cầm miếng vải lên, chỉ vào con vật vẽ trên đó, lời tôi nói có vẻ hoang đường, nhưng e rằng lại là sự thật. Thứ trên tụ trạch chính là biểu đồ kinh nguyệt của phụ nữ. Xã hội cũ không biết phương pháp tính ngày thụ thai khoa học và đáng tin như hiện nay, vì vậy sau khi quan hệ tình dục, có sinh được con hay không chủ yếu phải xem ý trời. Rất nhiều gia tộc có truyền thống riêng, trong đó cũng có vài điều mê tín quy định thời điểm nào mới được mang thai con trai nối dõi, biểu đồ kinh nguyệt này chính là ghi chép khoảng thời gian nào mang thai vật gì.
Nghe vậy tôi càng khó hiểu, ngoài con trai con gái ra thì còn có thể mang thai gì khác nữa?
Tần Nhất Hằng bĩu môi, có thể được ghi chép trong tụ trạch để chôn xuống, chứng tỏ cái thai rất quan trọng đối với gia tộc. Chưa bàn đến có cách giải thích nào khác cho việc này hay không, chỉ phân tích từ miếng vải thì người phụ nữ chôn tụ trạch có lẽ rất lo lắng về việc mang thai vào khoảng thời gian nào đó, mà bào thai, theo như trong tấm bảng, có vẻ không phải con người.
Tần Nhất Hằng chỉ vào mấy hình vẽ động vật sơ sài rồi bảo, tất cả đều mô tả một loài động vật, chỉ khác nhau ở tư thế, không biết cụ thể biểu đạt ý nghĩa gì.
Đúng là các hình đều chỉ một loài vật, nhưng không thể nhìn ra con gì, ngoài việc nó có bốn chân và đuôi. Không biết có phải do quá buồn ngủ hay không, đầu óc tôi rất mông lung. Phòng Vạn Kim và ông lão đội mũ thần bí kia muốn hai chúng tôi mua thứ này về, là để cho chúng tôi xem bảng ghi chép kì kinh của bà chủ nhà họ Phòng trước kia sao? Thật là biến thái! Huống hồ đây là một thứ lâu đời rồi, cho dù sợ mang thai tà vật thì cũng không tới mức phải chôn dưới móng nhà chứ, tự nhớ trong đầu là được rồi mà? Hơn nữa, cái thai có kì quái đến đâu cũng chỉ là dị dạng bẩm sinh, chứ từ góc độ sinh học, con người không thể mang thai động vật.
Nghĩ vậy, tôi như vỡ ra vài điều, bèn hỏi Tần Nhất Hằng, hay gia tộc họ có bệnh di truyền khiến nhiều trẻ con trong nhà bị dị dạng bẩm sinh, mà khoa học kĩ thuật thời đó chưa phát triển, không có cách nào tìm ra căn nguyên, đành dùng phương pháp mê tín để thử phòng tránh, nên mới coi trọng cái thai đến vậy. Suy cho cùng vào thời đó, việc sinh con nối dõi là đại sự của dòng tộc mà.
Hần ngẫm nghĩ một lát rồi nói, phân tích của anh tuy rất logic, nhưng cũng chỉ là đoán mò, mọi chuyện vẫn phải đợi Phòng Vạn Kim trở về mới sáng tỏ.
Trời đã nhá nhem tối, Tần Nhất Hằng xem đồng hồ, nói rằng đã trao đổi gần xong, giờ hắn về trước, để tôi ở nhà ngủ bù, mọi việc đợi ngủ dậy rồi tính tiếp. Nói đoạn, hắn cất tụ trạch đi, xách theo cái lồng chim rời khỏi nhà tôi.
Tần Nhất Hằng về, tôi cũng đi tắm rồi lên giường nằm. Hình như vì uống quá nhiều bò húc, tôi cứ trằn trọc mãi. Khó khăn lắm mới thấy buồn ngủ thì điện thoại lại đổ chuông. Ban đầu tôi không định nghe, nhưng mơ màng liếc thấy dãy số trên điện thoại, tôi buộc phải xốc lại tinh thần bắt máy. Bởi số gọi tới là của ông lão đội mũ kia.
Lần này ông ta gọi thẳng cho tôi, giọng điệu vẫn đầy mùi đạo đức giả. Trong điện thoại, ông ta nói lần trước mạo muội làm tốn thời gian của tôi, nên đã cố tìm giúp tôi một vụ làm ăn. Khi nhắc tới hai chữ làm ăn, ông ta còn cố tình nhấn mạnh là một vụ về nhà cửa, hỏi tôi có hứng thú không.
Ấn tượng của tôi đối với ông lão vốn chẳng tốt đẹp gì, dù bàn chuyện làm ăn, giọng điệu ông ta vẫn cứ như đang ra lệnh. Tôi rất khó chịu, nhưng phân vân mãi vẫn chưa dám từ chối, một là đang định thừa cơ dò hỏi về cái mũ, hai là lần trước tôi đã nhìn thấy xe hơi của ông ta, rõ ràng không phải kẻ thiếu tiền, không chừng làm ăn cũng phát đạt. Dù sao, tôi cũng là dân kinh doanh, chắc chắn phải để ý tới việc kiếm tiền rồi.
Nghe ông lão nói, tôi chợt thấy bất an khó tả. Đầu bên kia vẫn chưa cúp máy nên tôi không thể gọi điện cho Tần Nhất Hằng, đành nhắn tin hỏi hắn, có vụ làm ăn mới, OK không? Tần Nhất Hầng trả lời rất nhanh, như thể đang cầm điện thoại chờ sẵn, nội dung tin nhắn cũng đơn giản, vỏn vẹn một chữ, OK.
Hắn đã trả lời như vậy, tôi dĩ nhiên không thể từ chối, bèn hẹn ông lão kia thời gian và địa điểm gặp mặt. Ông ta bảo tôi cứ đến chỗ cũ, tối nay ông ta sẽ đợi ở đó, nói xong liền cúp máy. Điện thoại vừa ngắt, tôi gọi ngay cho Tần Nhất Hằng, chưa kịp mở miệng hỏi, hắn đã cướp lời, bảo rằng ông lão cũng gọi điện cho hắn, không rõ tra được số điện thoại ở đâu. Việc nhà cửa tính sau, mục đích chính là muốn gặp mặt ông ta.
Gặp nhau, hai chúng tôi cùng tới quán trà, tôi dẫn hắn vào căn phòng lần trước. Lần này, ông lão ngồi uống trà một mình, trên đầu vẫn đội chiếc mũ kia. Thấy tôi và Tần Nhất Hằng đi vào, ông ta chẳng buồn chào hỏi, chỉ đẩy hai chiếc chén không tới trước mặt chúng tôi. Tôi ngồi xuống, không ngừng quan sát nét mặt Tần Nhất Hằng. Hắn rất bình tĩnh, tự rót một chén trà uống rồi im lặng nhìn chằm chằm ông lão như thể đợi ông ta nói trước.
Ông ta không thèm đưa mắt về phía chúng tôi, uống một mạch hết ba chén mới hỏi, trong hai cậu, ai là người chịu trách nhiệm kí hợp đồng?
Tôi nhìn ông ta rồi giơ tay lên, ý nói là tôi.
Ông lão nhìn tôi, ừ một tiếng rồi tiếp, tôi có một ngôi nhà cũ dưới quê, đã nhiều năm không về, cứ để đó chi bằng bán lại cho các cậu.
Dứt lời, ông ta nhìn tôi chòng chọc như thể đợi xem ý đối phương. Tôi không khỏi bối rối, ông ta chẳng chịu nói tình hình đại khái của ngôi nhà, nó ở đoạn đường nào, diện tích bao nhiêu, tôi đều không biết, thì làm sao trả lời được?
Cuối cùng tôi đành à một tiếng cho có. Ông lão uống vài ngụm trà nữa mới tiếp, trong nhà còn ít đồ gia dụng cũ, như bàn, ghế, tủ... Tôi có thể bán rẻ lại cho các cậu, mấy thứ ấy đều là đồ dùng lâu năm, rất có giá trị, các cậu thấy sao?
Vừa nói, ông ta vừa nhìn hai chúng tôi bằng ánh mắt đầy ẩn ý. Tôi không thể đưa mắt hỏi ý Tần Nhất Hằng nên cứ lúng ta lúng túng. Đang lúc lo lắng, tôi chợt thấy Tần Nhất Hằng gõ nhẹ vào đùi mình, dùng ngón tay viết một chữ OK. Như được uống thuốc an thần, tôi bèn gật đầu với ông lão rồi hỏi lúc nào có thể đi xem nhà.
Thấy tôi nhận lời, ông ta đột ngột đứng dậy, vừa đi vừa nói, sẽ có người liên hệ với các cậu sau, hôm nay tới đây thôi, đoạn mở cửa bước ra khỏi phòng.
Tôi định đuổi theo truy hỏi việc cái mũ, nhưng thấy Tần Nhất Hằng không có ý đứng lên, tôi đành ngồi yên tại chỗ, hỏi xem hắn thấy thế nào. Hắn nhấp ngụm trà, nghĩ một lát rồi nói, ông lão này quả là cáo già. Cái mũ kia thực sự rất giống cái Lưu thọt để lại, nhưng nếu ông ta không muốn nói, thì dù chúng ta có tra khảo cũng chưa chắc đã nghe ngóng được điều gì.
Hơn nữa, điều quan trọng nhất là... Tần Nhất Hằng nói tới đây bèn đứng dậy, thò tay vào chén trà của ông lão, lấy ra một cây kim. Tôi sửng sốt, cây kim rất mảnh, nếu không cẩn thận uống vào chẳng phải sẽ nguy hiểm tới tính mạng sao?
Thấy tôi thắc mắc, Tần Nhất Hằng giải thích, kim này dùng để cắm lên hình nộm, dân gian gọi là đâm tiểu nhân. Hình nộm làm từ rơm rạ hoặc vải vụn, lưng buộc dây đỏ. Tên và bát tự của người bị trù ếm sẽ được nhét vào trong hoặc đính ngay bên ngoài. Vào thời điểm âm khí nặng nhất, không nhất thiết là 12 giờ đêm mà phải tùy theo âm dương phong thủy của từng địa phương, chĩa hình nộm về phía nơi ở của người bị trù ếm rồi đâm kim lên. Sau bảy bày bốn chín ngày, người bị trù ếm sẽ gặp tai họa.
Khác với phim ảnh và truyện dân gian, không phải cứ đâm vào chỗ nào trên hình nộm thì người thật sẽ đau ở chỗ đó. Ngược lại, sau khi hình nộm bị đâm kim, người đó còn gặp may mắn trong một thời gian ngắn, bởi trò đâm tiểu nhân này thực chất là tập trung hết vận số của bốn mươi chín ngày vào một ngày lụn bại.
Thuật đâm kim vào hình nộm không chỉ tồn tại ở riêng một nước nào, mà khắp nơi trên thế giới đều có những cách làm tương tự, trong đó có một loại huyền thuật lai tạp cần đến móng tay của người làm phép. Móng tay được giấu trong bụng hình nộm, nghe nói mỗi lần đâm kim vào, bệnh tình của người làm phép sẽ chuyển sang người bị trù ếm. Sau bốn mươi chín ngày, rút kim ra ngâm vào nước uống, người làm phép sẽ dần hồi phục sức khỏe, còn người bị ếm sẽ sinh bệnh.
Loại huyền thuật này có vài phần giống trên phim, nhưng rất ít người biết đến. Tần Nhất Hằng hỏi tôi, ban nãy có để ý ngón trò của ông lão dán thứ gì không, hình như ngón tay ấy đã không còn móng, có lẽ ông ta mắc bệnh nặng.
Lúc đó tôi không để ý lắm, nhưng dáng vẻ ông lão không giống người gần đất xa trời, lẽ nào cách này thực sự có tác dụng? Nghe tôi hỏi, Tần Nhất Hằng khẽ lắc đầu, rất nhiều tác dụng của huyền thuật hắn chỉ nghe tiền bối nói qua, chứ chưa thấy ai tự thử nghiệm, vì vậy hắn cũng không biết nó có tác dụng thật hay chỉ là đồn thổi.
Tôi khẽ gật đầu, bụng bảo dạ, mấy loại huyền thuật hại người đừng có tác dụng thì hơn. Nhưng tôi vẫn cảm thấy khó hiểu, cho dù nhận ra ông ta tự trị bệnh bằng huyền thuật thì cũng đâu liên quan tới ngôi nhà, tại sao Tần Nhất Hằng lại đồng ý dễ dàng như vậy.
Tôi hỏi Tần Nhất Hằng, hắn lý giải rằng ban nãy khi nói chuyện, ông lão cố tình nhắc tới đồ vật trong nhà, ánh mắt rõ ràng còn đọng ẩn ý. Vì vậy, hắn đoán ông lão không phải chỉ đơn giản là thuận miệng nói ra, e rằng trong mấy món đồ gia dụng kia có thứ mà chúng tôi cần tìm.
Nghe hắn nhắc nhở, tôi mới vỡ lẽ, phải chẳng trong nhà ông lão cũng có tủ quần áo? Cái tủ chúng tôi từng thấy trong từ đường giờ đang ở chỗ ông ta? Tôi càng nghĩ càng cảm thấy không yên tâm, bởi nếu ông lão thực sự có lòng giúp đỡ, muốn cung cấp manh mối cho chúng tôi thì không cần phải vòng vèo xa xôi như vậy, cứ giao luôn cái tủ ra có phải nhanh hơn không? Đằng này lại nghĩ trăm phương nghìn kế để đưa chúng tôi tới nhà cũ của ông ta, rõ ràng đang muốn giăng bẫy hại người.
Tôi bảo Tần Nhất Hằng, không nên tới chỗ ông ta thì hơn. Hắn cân nhắc khá lâu rồi nói, vẫn phải đi, chỉ là cần cẩn trọng. Chưa chắc ông lão đã muốn hại chúng ta, nói theo cách của anh thì dù ông ta muốn hại người cũng chẳng việc gì phải vòng vèo như vậy.
Ông lão nọ không hề nuốt lời, sớm hôm sau đã có người liên lạc với tôi báo đại khái vị trí ngôi nhà, giục chúng tôi nhanh chóng lên đường, khi hạ cánh nhớ gọi điện, sẽ có người ra sân bay đón.
Suốt đường đi, tôi vẫn cố nhắm mắt nghỉ ngơi nhưng không thể ngủ nổi, trái lại Tần Nhất Hằng vô cùng bình tĩnh. Sau khi xuống máy bay, tôi gọi điện cho đối phương, đợi khoảng nửa tiếng thì có người tới đón.
Người đón chúng tôi tầm hơn ba mươi tuổi, gương mặt khá phổ thông, trừ mấy câu chào hỏi lúc gặp mặt, anh ta nói rất ít, thậm chí chẳng hề giới thiệu bản thân, nên tôi cũng không biết tên họ anh ta là gì. Sau khi lên xe, tôi thử bắt chuyện hòng moi chút thông tin, nhưng không hiểu do quá kín miệng hay vốn kiệm lời mà anh ta không đáp lại, khiến tôi phát ngượng, đành phải ngậm miệng.
Xe đi rất lâu, từ sân bay vào nội thành rồi ra ngoại ô, men theo đường quốc lộ. Gần bốn tiếng sau mới tới nơi. Lúc hạ cánh là buổi chiều, vậy mà giờ trời đã tối. Tôi vừa đói vừa mệt, xuống xe quan sát xung quanh mới thực sự cảm nhận được thế nào gọi là dê vào miệng sói.
Vùng này rất hẻo lánh, hình như là một thị trấn nhỏ. Bốn bề tuy không có núi đồi bao quanh nhưng vẫn quạnh hiu vắng vẻ, nhà cửa cũng thưa thớt, chẳng thấy mấy nhà sáng đèn. E rằng muốn tìm nơi nghỉ chân cũng khó.
Tôi nghĩ, muộn rồi không tiện xem nhà, có khi phải nghỉ lại đây một đêm, mai tính tiếp. Nhưng người đón chúng tôi nói, ngôi nhà nằm ở cuối con đường, ăn tối xong anh ta sẽ đưa cả hai đi xem.
Tần Nhất Hằng không hề lộ vẻ kinh ngạc, chỉ nhẹ nhàng gật đầu nhìn tôi, không biết có phải đang an ủi tôi hay không. Tôi thầm nghĩ, đành tới đâu hay đó vậy, bèn rút điếu thuốc rồi theo người kia vào một quán mì. Quán chuẩn bị đóng cửa, phải năn nỉ mãi họ mới chịu nấu thêm vài lạng mì, hương vị cũng không quá tệ. Hai chúng tôi đang đói meo, đành ngấu nghiến ăn tạm, xong xuôi đã hơn 9 giờ.
Ra khỏi quán mì, trời càng tối hơn, vài ngôi nhà ban nãy còn sáng đèn giờ đã tối thui. Đèn đường không có nên lúc đi vào, tôi cứ thấy rờn rợn. Đứng trước cửa ngôi nhà, cảm giác này lại càng rõ rệt.
Ngôi nhà lớn hơn tôi tưởng, tuy không được xem là nguy nga nhưng so với các căn bên cạnh, đây chắc chẳn là dinh thự xa hoa nhất thị trấn. Nhà thiết kế theo kiểu Trung Hoa cổ, cửa vào rất cao, gần giống cửa lớn trong Cố Cung nhưng tỉ lệ nhỏ hơn. Xem ra nhà được xây theo ý gia chủ, không bị cơ quan quản lý can thiệp.
Chưa vào nhà, tôi đã thấy nhụt chí. Tuy không biết ngôi nhà rộng cỡ nào nhưng rõ ràng chẳng dễ gì mua được. Huống hồ nó lại nằm ở thị trấn hoang vu, trừ phi một ngày kia đường cao tốc được sửa lại, chạy thẳng tới đây, bằng không có mua về cũng chỉ lỗ vốn.
Sau một hồi cân nhắc, tôi đã từ bỏ ý định mua. Hiện tại, mục đích duy nhất là xem xem bên trong có cái tủ quần áo nào không. Người đưa chúng tôi tới đã mở cửa nhưng chưa vội vào nhà, mà vòng ra bức tường sau cửa lấy ba cái ô đen, đưa cho tôi và Tần Nhất Hằng hai cái, anh ta tự bật cái còn lại, rồi dẫn chúng tôi vào.
Thấy thế, chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, lẽ nào ngôi nhà bị dột? Nhưng rõ ràng trời đầy sao, không hề có mưa. Tôi thấp giọng hỏi Tần Nhất Hằng, hắn nói thôi thì nhập gia tùy tục, đành bật ô lên theo người kia vào trong.
Tôi đi sau cùng. Băng qua cửa, vào trong sân, tôi chợt thấy trước mắt sáng bừng. Gu thẩm mỹ của ông lão quá không tệ, mảnh sân tuy không quá lớn nhưng bố cục đâu ra đấy, hoa cỏ non nước rất vừa mắt. Song tôi cũng không rảnh để tán thưởng, hối hả bước vào gian chính. Người kia đi vào trước nhưng vẫn chưa gập ô xuống nên hai chúng tôi đành tiếp tục che ô, chẳng khác nào ba kẻ thần kinh đứng trong phòng.
Anh ta dẫn chúng tôi đi xem từng phòng một, không hề giới thiệu hay mô tả gì, tôi đành dựa vào kinh nghiệm áng chừng diện tích ngôi nhà. Nếu bỏ qua cái sân, diện tích của nó vào khoảng 5-600 m 2 . Phòng ốc rất nhiều, như ông lão nói, vật dụng trong nhà đều làm bằng gỗ theo phong cách cổ xưa, không rõ là hàng mô phỏng hay đồ cổ lưu lại từ đời trước.
Tần Nhất Hằng đảo mắt nhìn quanh, có vẻ đang tìm tủ quần áo. Tôi cũng lưu ý tìm, ngôi nhà tuy rộng nhưng không nhìn thấy vật nào to như vậy. Cả ba đi xem hết một vòng, cuối cùng vào phòng khách ngồi trò chuyện. Tuy không có ý định mua nhà, nhưng dù sao đã tới đây, ít nhất cũng nên hỏi han vài câu tượng trưng. Vì vậy, tôi bèn hỏi người kia xem ông lão đã nói với anh ta về giá cả chưa. Anh ta nghe thấy tôi hỏi nhưng vẫn lơ đãng, cứ nhìn chằm chằm vào chiếc ô trên tay.
Lúc này, ô của tôi và Tần Nhất Hằng đều chưa cụp xuống, trông rất buồn cười. Tôi thấy anh ta không trả lời, đành cao giọng hỏi lần nữa. Anh ta nhìn tôi, khẽ lắc đầu tỏ vẻ không biết, sau đó lại ngước nhìn phía trong cái ô.
Tôi thắc mắc, ô thì có gì mà nhìn? Nhưng tôi cũng ngẩng đầu trông lên, dưới tán ô dán một đoạn keo hoặc băng dính, chỉ bằng nửa ngón tay cái, như dán tạm vào để che lỗ thủng trên ô. Tôi thầm nghĩ, cái ô này vừa được anh ta sửa lại sao? Nếu không anh ta cứ nghĩ đến nó làm gì? Tôi cúi xuống, định xem tán ô của Tần Nhất Hằng, nhưng hắn giương ô quá thấp, khiến tôi chẳng thấy gì, đành đưa mắt ra hiệu cho hắn, nhìn lên phía trong tán ô.
Tần Nhất Hằng hiểu ý, cũng ngẩng đầu quan sát, hắn cau mày, chìa hai ngón tay chỉ vào người đưa chúng tôi tới đây, không rõ là ý gì. Chăng lẽ hắn muốn ra hiệu rằng trong ô có hai miếng dán?
Tôi lại hỏi, từ lúc vào nhà đến giờ cứ phải che ô là sao?
Người kia ngẩn ra, không trả lời mà lúng túng nói, đêm nay chúng tôi có thể ở lại đây, tiện thể xem nhà luôn, muốn làm gì cứ tự nhiên, nhưng phải nhớ một điều, hễ đi lại là phải che ô. Nói xong, anh ta đứng dậy cáo biệt, còn đặt chìa khóa cửa lên bàn, dặn rằng đã chuẩn bị nước uống và đồ chay cho chúng tôi trong bếp, sau đó rảo bước đi thẳng.
Tôi định hỏi thêm vài câu, nhưng Tần Nhất Hằng đã ngăn lại, người này có phần không bình thường, hình như không nắm rõ lắm về ngôi nhà. Lúc đưa chúng ta vào, anh ta cứ thấy có cửa là bước qua thôi. Đoạn hắn chìa hai ngón tay ra, chỉ vào mắt mình, anh ta còn liên tục đưa mắt quan sát xung quanh, rõ ràng cũng rất lạ lẫm với nơi này.
Tôi suy nghĩ một lát, ngẫm lại một loạt biểu hiện của người nọ, cảm thấy Tần Nhất Hằng nhận xét có vẻ đúng. Tuy trông anh ta không giống lần đầu tới đây, nhưng chắc cũng chỉ tới vài lần. Ông lão kia sắp xếp anh ta ra đón chúng tôi là có dụng ý gì? Rõ ràng không giống như định bán nhà. Tôi hỏi Tần Nhất Hằng, hắn lắc đầu bảo giờ có nghĩ cũng vô dụng, sau đó chỉ lên trần.
Tôi hơi dịch ô ra, ngẩng đầu nhìn, trần nhà trổ rất nhiều cửa sổ, mỗi ô khá lớn, qua lớp kính trong suốt có thể thỏa thích ngắm nhìn bầu trời. Lúc nãy giương ô nên tôi cũng chẳng chú ý, giờ nhìn thấy lại càng lấy làm lạ. Loại cửa sổ này thường không lắp cho nhà ở, mà dù có cũng không nhiều đến vậy. Huống hồ, từ tường bao đến nội thất nhà đều theo phong cách Trung Hoa cổ, trổ cửa sổ trên mái nhà thực chẳng phù hợp chút nào.
Tần Nhất Hằng nói, có thể việc che ô liên quan đến cửa sổ trên trần. Dứt lời, hắn đi đi lại lại trong phòng, Lần lượt quan sát từng ô cửa, sau đó châm thuốc với vẻ tư lự.
Tôi cũng thử suy đoán, ô chẳng qua chỉ có hai tác dụng, che nắng và che mưa. Lớp kính cửa sổ trên trần nhà khá chắc chắn, huống hồ cũng không có mưa, chẳng lẽ ô dùng để ngăn ánh sáng? Hay khi ở trong nhà, chẳng lẽ không được để ánh sáng rọi thẳng xuống đỉnh đầu? Nghĩ tới đây, tôi lại ngẩng lên, Lần này không dám dịch ô sang một bên mà chỉ hơi nghiêng ô đi, nhìn chếch lên cửa sổ.
Bầu trời bên ngoài đầy sao, không hề có trăng, vả lại trong phòng đang bật đèn, dù có trăng sáng cũng chẳng chiếu nổi vào nhà. Lẽ nào phải tắt đèn mới nhìn ra manh mối? Đang định nói với Tần Nhất Hằng, tôi đột nhiên nghĩ tới một chuyện. Dân gian đồn rằng, khi vào nhà không được che ô vì rất dễ dụ quỷ đến. Người đưa chúng tôi tới đây lại vội vàng ra về như vậy, chẳng lẽ là một cái bẫy? Anh ta biết rõ trong ngôi nhà có thứ gì nên dùng cách này để hãm hại chúng tôi chăng?
Nghĩ tới đây, tôi không đợi được nữa, vội vàng chứng thực với Tần Nhất Hằng. Hắn vẫn nhìn chằm chằm lên tán ô, tôi phải vỗ vào người hắn mới định thần. Nghe tôi trình bày, hắn thở dài bảo, che ô trong phòng không dụ quỷ đâu, nhưng dân gian cho rằng trẻ con che ô trong phòng sẽ bị lùn, phụ nữ che thì nhà dột, còn đàn ông che sẽ bị hói đầu.
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của Tần Nhất Hằng, những điều đó đều không đúng. Hai việc che ô và dụ quỷ chẳng có mối liên hệ tất yếu nào. Sở dĩ nói như thế là bởi ma quỷ thường thích những chỗ xó xỉnh hoặc tối tăm, hơn nữa khi che ô trong phòng, dương khí bị chắn mất phần nào, nếu trong phòng đang có ma quỷ, thường là cô hồn dã quỷ lang thang, thì những người thể lực kém hoặc dương khí yếu sẽ dễ trông thấy, vì vậy dân gian mới hiểu lầm.
Từ xưa đến nay, ô luôn thuộc nhóm đồ vật nặng âm khí. Rất nhiều nơi có tập tục không để ô trong nhà quá một năm, nhất định phải chọn một ngày đầy nắng mang ô ra phơi, bởi sợ có tà vật núp trong ô, lâu dần sẽ mang tai họa vào nhà. Trước đây ở một vài nơi, khi đưa tang, dù trời không mưa cũng phải cử một người thân của người chết cầm ô đen che phần đầu quan tài, đi cùng đoàn đưa ma tới nơi hạ huyệt. Nghe nói làm vậy có thể che bớt ánh nắng cho người chết, giúp linh hồn không bị chói mắt để nhìn ngắm thế giới lần nữa. Vì thi thể khi nhập liệm đưa vào quan tài đều ở tư thế nằm, hai mắt sẽ nhìn thẳng vào mặt trời. Ngày nay khi việc hỏa táng thi thể dần trở nên phổ biến, tập tục này mai một, cũng chẳng mấy ai biết đến nó nữa.
Tuy Tần Nhất Hằng giải thích rất mạch lạc, nhưng tôi nghe xong vẫn hoang mang. Cái ô rốt cuộc có ý nghĩa gì? Nghe tôi hỏi thêm, hắn khoát tay rồi sờ vào đỉnh tán ô, hình như đang bóc thứ dính bên trong ra.
Loay hoay một hồi, hắn lấy miếng dán đó đặt lên tay ngắm nghía. Tôi ngó xem, đúng là một miếng băng dính, nhưng mặt kia còn dính thứ gì khác. Định thần nhìn kĩ, tôi chợt rùng mình, là một chiếc răng hàm dưới, rõ ràng có kẻ đã dùng băng dính dán nó lên tán ô. Đây rõ ràng là răng hàm của người trưởng thành, không giống răng sữa. Huống hồ dù có là răng sữa, thì nghe nói sau khi nhổ, răng hàm dưới phải ném lên cao, răng hàm trên phải chôn xuống đất để trẻ con về sau không bị mọc lẫy, chứ chưa thấy ai dính răng lên ô bao giờ!
Nghĩ vậy, tôi đưa tay bóc miếng băng dính trong ô của mình ra, mặt sau cũng dán một chiếc răng hàm. Tôi nhìn Tần Nhất Hằng, hắn trầm tư ra mặt. Một lúc lâu sau, hắn đột nhiên a lên một tiếng rồi hô, mau, đi tìm mau lên, trong nhà có vết răng!
Hắn hô lên như vậy làm tôi giật nảy mình. Ban đầu tôi chưa nghe rõ, còn tưởng trong phòng có thứ gì bò ra, vội ngó nghiêng tứ phía, quay lại đã thấy Tần Nhất Hằng hối hả đi quanh phòng, cứ được vài bước lại cúi xuống như đang tìm kiếm thứ gì. Tôi bước đến, phát hiện hắn đang kiểm tra vật dụng trong nhà. Hắn xem xét tỉ mỉ từng thứ một, không bỏ sót chỗ nào, xem xong cái này lại chạy tới săm soi cái khác, giống như đang chạy đua với thời gian.
Tôi hỏi hắn làm gì, hắn lại chỉ sang phía bên kia phòng, bảo tôi qua kiểm tra, nếu phát hiện có dấu vết va đập khả nghi nào, đặc biệt là vết răng trên đồ vật thì lập tức báo với tôi.
Tôi bất đắc dĩ làm theo, lom khom quan sát từng vật dụng trong nhà.
Đồ đạc ở đây không quá cũ, có lẽ vì được giữ gìn cẩn thận, tôi cũng chưa bao giờ nghiên cứu về đồ gỗ giả cổ nên chẳng nhìn ra tốt xấu thế nào. Phía trên có vài dấu vết va đập nhỏ, không rõ ràng, nhưng tôi vẫn nhất nhất báo cáo với Tần Nhất Hằng. Hắn bước đến xem rồi lại lắc đầu bảo tôi tìm tiếp.
Tìm kiếm chừng hơn mười phút, tôi đã mỏi nhừ, không phải mệt vì kiểm tra vật dụng, mà vì tay vẫn giương ô, cổ tay tê dại cả. Kiểm tra một lượt toàn bộ đồ đạc trong phòng khách, không tìm thấy vết răng nào. Tần Nhất Hằng không cam lòng, lại nói cả hai nên chia nhau đi tìm ở các phòng khác, sau đó bước sang phòng bên.
Nói thật lòng, nếu bảo tìm kiếm một mình, tôi cũng sờ sợ. Ngôi nhà này vốn đã quái dị, lại rộng thênh thang, có xảy ra chuyện gì cũng không ứng cứu kịp. Tôi bèn chọn căn phòng sát vách với phòng Tần Nhất Hằng đang tìm. Phòng không lớn, trông cách bài trí thì có vẻ là phòng trà, rất phù hợp với sở thích của ông lão kia. Trong phòng vốn ít đồ đạc nên rất dễ quan sát, tôi tìm khắp xung quanh chẳng thấy vết răng nào, thậm chí vết va chạm cũng không có.
Đúng lúc chuẩn bị sang phòng khác tìm tiếp, tôi bỗng nghe thấy Tần Nhất Hằng ho khan. Trong nhà hiện giờ chỉ có hai chúng tôi, lại đang đêm khuya thanh vắng, tiếng ho của hắn cực kì vang. Tôi định hỏi han, nhưng chưa kịp lên tiếng đã nghe hắn ồ lên kinh ngạc, sau đó lại im bặt. Tôi dỏng tai nghe ngóng vài giây, không thấy bên kia có động tĩnh gì nữa. Tôi vô cùng bối rối, vừa sợ hắn xảy ra chuyện, vừa lo nếu xông vào thì cả hai sẽ cùng bị trúng tà, bèn gọi to tên hắn, song không thấy trả lời, chỉ nghe tiếng mũi giày gõ lên sàn nhà đáp lại.
Lòng tôi bỗng bất an. Tuy nhấc chân chỉ là động tác nhỏ, nhưng mở miệng cũng chẳng tốn sức mấy, chẳng lẽ hắn gặp phải chuyện gì nên không thể lên tiếng? Đột nhiên tôi nhận ra, âm thanh ban nãy hình như không phải tiếng mũi giày gõ lên sàn nhà. Tôi nhớ rõ lúc ra ngoài, hắn đi một đôi giày chạy bộ New Balance. Tôi cũng có vài đôi cùng loại, đế rất mềm, gõ lên sàn nhà không thể vang như thế. Tôi chợt vỡ lẽ, âm thanh ấy hình như là tiếng mũi ô nện xuống sàn nhà. Mẹ kiếp, không phải người kia dặn nhất định phải che ô trong phòng sao? Chẳng lẽ Tần Nhất Hằng thu ô lại rồi?
Tôi không đợi được nữa, vội chạy sang phòng bên, thấy hắn đang đứng cạnh tường lom lom quan sát mới thở phào nhẹ nhõm, bước vào xem cho rõ. Ô của Tần Nhất Hàng đã được thu lại, đặt sang bên cạnh. Trông hắn rất tập trung nên tôi không vỗ vai nữa mà đứng đằng sau theo dõi. Có lẽ trước đây căn phòng được dùng làm phòng đọc sách, một mặt tường là giá sách, nhưng trên giá trống trơn, phủ đầy bụi.
Hình như ban nãy khi xem xét, Tần Nhất Hằng đã thổi cho bớt bụi nên mới bị sặc và ho khan như vậy. Thấy hắn cụp ô lại có vẻ không nguy hiểm, tôi cũng bắt chước, đoạn châm một điếu thuốc, hỏi Tần Nhất Hằng xem có phải đã tìm thấy vết răng rồi không. Hắn quay lại ừ một tiếng, chỉ lên kệ sách, rồi nhường đường để tôi tự qua xem. Tôi bước đến quan sát nhưng chẳng thấy vết răng đâu, chỉ thấy chỗ hắn trỏ được lau sạch hơn một chút, trông cứ như vừa dùng ngón tay viết vài chữ lên vậy.
Lại gần hơn, tôi nhìn thấy bốn chữ phồn thể “Vạn dân nhất hộ”, nghe có vẻ giống một cái tên Nhật Bản, liền hỏi hắn viết như vậy là có ý gì. Tần Nhất Hằng châm thuốc, khẽ lắc đầu đáp, chữ này không phải do tôi viết, tôi chỉ dùng đầu ngón tay tô lại cho rõ hơn thôi. Nó nằm trên giá sách, chắc là ở chỗ có bày đồ vật trong một thời gian khá dài, sau đó đồ vật bị lấy đi, nên ít bụi hơn những chỗ khác.
Tôi thử tưởng tượng, có khi đó là một vật trang trí khắc chữ thư pháp, chắc cũng không phải đồ có giá trị. Nếu không đã chẳng bị đặt ở đây mãi đến khi bám đầy bụi mới được nhấc ra. Tôi bèn hỏi Tần Nhất Hằng, ban nãy còn muốn tìm vết răng, sao bây giờ lại phí thời gian với vật này vậy?
Hắn đáp, tại có vấn đề, sau đó bảo tôi xòe tay ra, viết lên lòng bàn tay tôi một chữ. Hắn viết rất chậm, tôi lại chăm chú nhìn theo nên rất dễ nhận ra là chữ Phòng. Viết xong, hắn hỏi tôi có nghĩ ra điều gì không. Tôi nghĩ vài giây mới sực hiểu, bốn chữ “Vạn dân nhất hộ” ghép lại chẳng phải giống chữ Phòng [40] sao? Thì ra đây không phải tên tiếng Nhật mà là một câu đố chữ. Nó có ý nghĩa gì đặc biệt nhỉ?
Nếu giải thích theo mặt chữ, lẽ nào ông lão đội mũ kia mua nhà trả góp, muốn dùng thứ này để nhắc nhở bản thân phải trả hết món nợ mua nhà? Hay là còn có ý gì khác? Chữ Phòng chẳng lẽ để chỉ Phòng Vạn Kim? Tần Nhất Hằng vừa quan sát giá sách vừa suy nghĩ. Hắn lôi điện thoại ra chụp mấy chữ kia, sau đó nhìn tôi lắc đầu, đi tới cửa phòng, đưa tay sờ lên mép khung cửa rồi quay vào, xòe tay ra cho tôi xem.
Trong lòng bàn tay Tần Nhất Hằng có hai chiếc răng, nhưng khác với hai chiếc vừa nãy, đây là răng cửa, hình như cũng đã khá lâu, xỉn màu, không biết do quá trình oxy hóa hay vì chủ nhân trước đây không chăm sóc. Mặc dù không phải là thứ ma quái nhưng nhìn cứ lợm cả giọng, tôi không dám chạm tay vào, bèn hỏi thẳng, cậu phát hiện ở khung cửa sao?
Tần Nhất Hằng khẽ gật đầu rồi bảo tôi, đây gọi là “loạn xỉ”, trong đó “loạn” ý là lộn xộn, “xỉ” chỉ cái răng. Nếu lý giải theo mặt chữ thì có nghĩa là răng không đều, khắp khểnh, nhưng nó còn một lớp nghĩa khác, ý chỉ dâm loạn. Trong huyền học, loạn xỉ được chia thành hai loại, một loại là của nữ giới. Tương truyền xưa kia, phụ nữ ngoại tình sau khi chết sẽ bị nhổ răng, dùng dây buộc lại treo trên cổng chào ở đầu phố để con cháu đời sau khỏi lăng loàn. Do lực hấp dẫn, những chiếc răng buộc trên cổng cuối cùng đều hướng xuống, thể hiện ý “hạ chính”, tức bất chính, không đứng đắn.
Hơn nữa, nhiều bí thuật khuê phòng từng ghi chép rằng, nếu kĩ nữ giấu loạn xỉ dưới bàn ăn rồi mời người đàn ông mình muốn quyến rũ tới dùng cơm, ắt sẽ thành công. Tại rất nhiều kĩ viện thời xưa, để lôi kéo khách hàng, các kĩ nữ thường giấu một chiếc loạn xỉ trong phòng. Những chiếc răng này phần lớn là của chính những kĩ nữ trong kĩ viện để lại. Thông thường trước khi chết, họ sẽ dùng loạn xỉ như một món quà đặc biệt để tặng cho người khác. Vì vậy, có thể thấy loạn xỉ chiếm vị trí rất quan trọng trong lòng các kĩ nừ thời ấy.
Thế nhưng, loạn xỉ rốt cuộc có tác dụng hay không thì không ai rõ, bởi nếu đã được mời tới dùng cơm trong khuê phòng thì việc lên giường có vẻ không liên quan lắm đến loạn xỉ. Tần Nhất Hằng nói tới đây thì dừng một lát, dụi tắt thuốc rồi tiếp. Loại loạn xỉ thứ hai là của nam giới. Chữ “loạn” ở đây không phải loạn trong dâm loạn mà là loạn trong phản loạn. Tương truyền loại loạn xỉ đó chỉ có trong miệng những tướng lĩnh làm phản. Số người nổi loạn khi nhiều khi ít, mà cho dù nhiều thì cũng chỉ có vài viên tướng, nên thường rất khó tìm. Sau khi nổi loạn thất bại, đám tướng lĩnh không những bị xử lăng trì mà còn bị nhổ sạch răng trong miệng. Ngoài răng cửa được giấu ở cổng thành ra, những chiếc răng còn lại sẽ được người đưa công văn của triều đình phân phát tới các nơi hiểm yếu về quân sự trên cả nước để chôn ở đó, vị trí chôn cụ thể thì không mấy ai biết. Nguyên nhân cũng như nữ giới, đều để phòng tránh về sau có sự việc tương tự phát sinh. Việc này thật ra đã không thuộc về lĩnh vực huyền thuật nữa, mà là mê tín, nhằm xoa dịu tâm lý thôi. Nếu nó thực sự có tác dụng thì đất nước đã chẳng thay triều đổi đại nhiều đến vậy.
Hắn nói đến đây, tôi bắt đầu cảm thấy mơ hồ, chuyện đó thì liên quan gì tới ngôi nhà? Nghe tôi chen vào, Tần Nhất Hằng cười chê chỉ số thông minh của tôi quá thấp, rồi giải thích, mấy cái loạn xỉ này hình như không phải là loại lấy từ miệng các tướng lĩnh, mà là từ những kẻ phản bội ông lão đội mũ kia! Ông lão thừa biết thế cục mình đặt ra không có tác dụng gì, cho nên mục đích của ông ta rất rõ ràng, chính là giết gà dọa khỉ.
Tần Nhất Hằng nhìn ra ngoài cửa, vẻ lo lắng, rồi hạ giọng nói có lẽ hắn đã hiểu ý nghĩa của những chiếc ô. Chúng được dùng để chắn sáng, nhưng không phải vì sợ ánh sáng mà là để giấu bóng! Trong những người tới đây, có kẻ không có bóng!
Tôi đã thấm mệt, cổ họng ngứa ran, còn húng hắng ho, đành ngừng lời, toan quay lại phòng khách uống ngụm nước. Vừa rời phòng ngủ, tôi đã thấy là lạ. Lúc trước tôi đã đổ rất nhiều nước ra sàn, sợ trượt ngã nên đi rất cẩn thận, vậy mà mặt sàn chẳng thấy nước đọng, chỉ có vẻ hơi ướt. Phòng khách lát đá cẩm thạch, không phải sàn gỗ, vậy chỗ nước kia đã biến đi đâu?
Tôi khom người soi kĩ từng khe hở giữa những nồi niêu xô chậu dưới đất, phát hiện nền phòng khách hơi nghiêng, chẳng biết trước đây người bạn ấy cố ý thiết kế như vậy hay là sơ suất trong thi công, thường ngày đi lại cũng khó nhận thấy, phải đổ nước ra sàn mới biết, nước đều chảy cả về một góc phòng khách. Tôi quên cả uống nước, đi thẳng đến góc phòng quan sát. Trong nước không có gì, nhưng trên mặt nổi một lớp váng như dầu, chấm thử đưa lên ngửi thì không thấy có mùi.
Tôi bắt đầu thấp thỏm, người bạn kia chẳng bao giờ làm chuyện không đâu, rõ ràng lúc trước bảo tôi đổ nước ra là vì mục đích này, nhưng rốt cuộc hắn muốn tôi thấy cái gì? Dúng lúc đó, đầu kia điện thoại lại giục giã, làm phân tán mạch suy nghĩ của tôi. Để đỡ tốn pin, tôi bèn tắt máy, ngồi xuống châm điếu thuốc tìm tòi tiếp.
Tôi đặt ra rất nhiều giả thiết, nghĩ đến cả khả năng có thông điệp ẩn phải vẩy nước lên mới hiện ra như trong phim, nhưng vẫn chẳng thấy manh mối.
Chợt có tiếng đập cửa rầm rầm làm tôi giật bắn mình. Nửa đêm khuya khoắt ở trong ngôi nhà quái dị, lại hồi ức về vô vàn trải nghiệm trước đây, tôi trở nên nhạy cảm với tiếng gõ cửa. Tôi im lặng rón rén đi ra, áp tai lên cửa nghe ngóng. Người bên ngoài vẫn đập liên hồi. Cuối cùng, sợ cứ để mặc sẽ hỏng việc, tôi đành mở cửa.
Nhận ra chính là người vừa nghe chuyện qua điện thoại, tôi vô cùng kinh ngạc. Trông thấy tôi, anh ta thở hắt ra, nói, tôi cứ sợ anh gặp bất trắc.
Tôi nheo mắt nhìn anh ta, đúng là cảnh sát có khác. Chẳng hiểu mục đích của anh ta là gì, nhưng tôi biết rõ một điều. Anh bám theo tôi à? Tôi vặn hỏi.
Anh ta gật đầu rồi lách người vào, mong anh bỏ qua cho, tôi cũng là bất đắc dĩ thôi. Anh ta lại nhìn xuống sàn, hỏi, mấy thứ này để làm gì thế?
Tôi lắc đầu, chính tôi cùng đang muốn biết đây, và ra hiệu cho anh ta ra ngoài. Anh ta phớt lờ, ngang nhiên ngồi xuống chiếc sofa duy nhất rồi hỏi, có bật lửa không? Tôi đem đến cho anh một tin, có thể anh không chấp nhận được, nhưng mong anh phối hợp, hiện giờ tôi chỉ đến với tư cách chính mình thôi.
Bắt lấy chiếc bật lửa tôi ném sang, anh ta châm thuốc, nói tiếp, xin lỗi, bưu kiện anh gửi đã bị đồng nghiệp của tôi giữ lại rồi. Lúc trước tôi không rõ đầu đuôi, giờ cũng không giúp gì được anh cả, chỉ có thể báo với anh rằng, những tấm ảnh đó không bình thường.
Nói tới đây, anh ta ngừng lời, rõ ràng muốn ra điều kiện. Là người làm ăn, lẽ nào tôi lại không nhận ra, bèn hỏi thẳng, anh muốn tiền hay cái gì?
Anh ta tủm tỉm, nếu cần tiền tôi đã chẳng tìm anh, tôi muốn nghe anh kể hết câu chuyện. Đoạn nhìn đồng hồ rồi tiếp, nếu không muốn kể hết, thì kể đến sáng cũng được. Sáng ra tôi sẽ dẫn anh đi xem một thứ.
Tuy ghét bị uy hiếp, nhưng tới nước này cũng hết cách, tôi không thể động thủ, lại không có mối quan hệ nào giải quyết được sự việc, đành gật đầu ngồi xuống sofa, nhấp ngụm nước, tiếp tục kể.