Những Con Tuấn Mã

Lượt đọc: 489 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I Tiếp theo

Cậu đi vòng quanh thị trấn trong màn tuyết trắng xóa. Trời trở tối sớm. Cậu đứng trên chiếc cầu của phố Thương Mại và ngắm nhìn tuyết tan biến trong dòng sông. Tuyết phủ khắp trên những chiếc xe đang ngủ trên bãi đậu; và mật độ đi lại trên đường trong khung cảnh về đêm từ từ thưa thớt dần cho đến khi không còn một bóng người. Một vài chiếc taxi hoặc xe tải, những ánh đèn pha lẻ loi di chuyển chậm chậm xuyên qua màn tuyết rơi trong tiếng rì rầm êm ả của lốp xe. Cậu đăng ký khách sạn YMCA trên đường Martin và trả hai đôla cho căn phòng của mình rồi bước lên cầu thang. Cậu cởi đôi ủng và đặt lên lò sưởi rồi đến lượt đôi tất, cậu cũng cởi ra và phơi lên lò sưởi bên cạnh đôi ủng. Cậu móc chiếc áo khoác lên và duỗi thẳng người trên giường, mũ trùm kín đôi mắt.

Lúc tám giờ kém mười, cậu đứng trước quầy bán vé trong chiếc áo sơ mi sạch bong, tiền cầm trong tay. Cậu mua một chỗ ngồi ở hàng thứ ba trên ban công với giá 1.25 đôla.

- Trước đây tôi chưa bao giờ đến nơi này. - Cậu nói.

- Một chỗ ngồi tốt. - Cô gái nói.

Cậu cám ơn cô gái và bước vào rồi đưa chiếc vé cho người hướng dẫn chỗ ngồi. Ông ta dẫn cậu đến bậc tam cấp có trải thảm đỏ và trả lại chiếc vé cho cậu. Cậu bước lên tam cấp và tìm thấy chỗ ngồi của mình. Cậu ngồi xuống

đợi, chiếc mũ đặt trên đùi. Rạp hát trống phân nửa. Khi ánh đèn mờ tối, một số người ở ban công xung quanh cậu đứng dậy và dời lên những chỗ ngồi ở phía trước. Rồi bức màn kéo lên và trên sân khấu, mẹ cậu bước xuyên qua một cánh cửa và bắt đầu nói chuyện với một người phụ nữ đang ngồi trong ghế.

Lúc giải lao giữa chừng cậu đứng dậy và đội mũ, đi xuống tiền sảnh và đứng ở một góc tường được trang trí cầu kỳ, rút ra một điếu thuốc và hút, một chiếc bóng người tựa vào bức tường phía sau cậu. Cậu không nhận biết những ánh mắt từ những người xem kịch đang dõi theo từng cử chỉ của cậu. Cậu vén một ống quần jean của mình thành một chiếc gấu nhỏ và thỉnh thoảng cậu cúi người, rẩy vào chỗ hõm này cái tàn tro trắng mịn của điếu thuốc. Cậu nhìn thấy một vài người đàn ông trong những đôi ủng và mũ, và cậu gật đầu chào họ một cách trang trọng, rồi họ cũng chào lại. Sau một hồi, đèn trong tiền sảnh lại tắt.

Cậu ngồi khom người về trước, hai khuỷu tay đặt lên tựa lưng của chiếc ghế trống không trước mặt, cằm cậu tì lên hai cẳng tay và cậu theo dõi vở kịch với sự tập trung cao độ. Cậu cho rằng có một điều gì đó trong chính câu chuyện này muốn mách bảo với cậu về cách thức mà thế giới đang hiện hữu hoặc sẽ hướng đến nhưng không có. Chẳng có gì trong đó cả. Khi ánh đèn sáng lên là tiếng vỗ tay tán thưởng, và mẹ cậu đôi lần bước về phía trước cùng tất cả các diễn viên tập trung thành hàng ngang trên sân khấu, nắm chặt tay và cúi đầu chào, rồi bức màn khép lại; và khán giả đứng dậy lần lượt bước lên lối đi giữa những dãy ghế. Cậu ngồi đó một hồi lâu trong cái rạp hát không một bóng người và rồi cậu đứng dậy, đội mũ và bước ra ngoài trong cái lạnh cắt da.

Sáng hôm đó khi cậu bắt đầu bữa điểm tâm, trời vẫn tối đen và thang nhiệt độ dừng ở con số không. Tuyết phủ dày gần một gang tay trên mặt đất ở Travis Park. Quán cà phê duy nhất mở cửa là của người Mexico; cậu gọi món trứng rán và cà phê, và lướt qua tờ báo. Cậu nghĩ sẽ có một điều gì đó trong tờ báo đề cập đến mẹ cậu, nhưng không. Cậu là khách hàng duy nhất trong quán cà phê này. Phục vụ bàn là một cô gái trẻ, và cô ta nhìn cậu. Khi cô đặt đĩa trứng lên bàn, cậu hất tờ báo sang một bên và đẩy chiếc tách của mình về trước.

- Thêm cà phê à? - Cô ấy nói.

- Vâng, xin vui lòng.

Cô mang cà phê đến. Trời lạnh quá. - Cô nói.

- Vừa đủ.

Cậu đi bộ lên Broadway, hai bàn tay đút vào túi áo khoác, cổ áo dựng lên chống lại cơn gió. Cậu đi vào hành lang của khách sạn Menger và ngồi vào một trong những chiếc ghế phòng khách, bắt chéo một chân qua chân kia và mở tờ báo.

Khoảng chín giờ, bà xuất hiện từ phía hành lang, trong vòng tay của một gã đàn ông, với bộ y phục và chiếc mũ chóp cao, rồi họ đi ra khỏi cánh cửa và bước vào một chiếc taxi.

Cậu ngồi đó một hồi lâu. Sau đó cậu đứng dậy, gấp tờ báo lại và đến bàn tiếp tân. Nhân viên tiếp tân nhìn cậu.

- Ông có biết bà Cole đăng ký ở đây không? - Cậu nói.

- Cole?

- Vâng.

- Đợi một phút.

Nhân viên tiếp tân quay mặt đi và kiểm tra danh sách đăng ký. Ông ta lắc đầu. Không. - Ông nói. - Không có tên Cole.

- Cảm ơn. - Cậu nói.

Lần cuối cùng họ cưỡi ngựa với nhau vào ngày đầu tháng ba, khi thời tiết đã ấm hơn và những cành hoa hình chiếc mũ Mexico màu vàng cũng đã nở rộ hai bên đường. Họ xuống ngựa ở McCullough và tiếp tục cưỡi xuyên qua vùng đồng cỏ trung tâm dọc theo Grape Creek, đi vào những con đồi thấp. Con lạch trong vắt và rực lên một màu xanh bởi lớp rêu phủ kín các bờ đá ngầm. Họ chầm chậm cưỡi xuyên qua một vùng đất thoáng rộng giữa những bụi dây leo và các loài tai tiên. Họ băng ngang qua địa hạt Tom Green và vào địa hạt Coke. Họ băng qua con đường mòn Schoonover và cưỡi xuyên qua những con đồi sạt lở với lác đác những cây tuyết tùng nơi mặt đất rải đầy đá trập; và họ có thể nhìn thấy tuyết rơi trên những dãy núi xanh mờ mờ một trăm dặm về phía bắc. Suốt cả ngày họ hiếm khi nói chuyện gì với nhau. Bố đang cưỡi ngựa, dáng ông hơi nghiêng về trước trong chiếc yên ngựa, một tay cầm sợi dây cương dài cách sừng yên ngựa khoảng năm centimet. Trông ông ốm yếu và bạc nhược, chìm nghỉm trong bộ quần áo của mình. Nhìn khắp vùng đất với đôi mắt hõm sâu như thể thế giới ngoài kia đã biến đổi, hoặc trở nên hoài nghi bởi điều mà ông đã nhìn thấy nó ở một nơi khác. Như thể ông không bao giờ nhìn

Hoặc tệ hơn, lần cuối cùng ông đã nhìn thấy thế giới như thể nó luôn luôn là như vậy. Còn cậu, cưỡi đi trước một chút, ngựa không những như thể cậu được sinh ra để cưỡi ngựa, mà còn như thể cậu được tạo ra bởi hạnh phúc trong một vùng đất bất ổn nào đó. Dù có bất cứ điều gì, cậu vẫn tìm thấy những điều thiếu sót để thế giới trở nên hoàn chỉnh, để cậu có quyền trong thế giới đó và cậu có thể hành trình đến bất cứ nơi đâu cần đến, bất chợt tìm thấy một điều gì đó mà cậu sẽ tìm kiếm.

Trên đó họ băng ngang qua những đống đổ nát cũ nằm trên đỉnh núi đá bằng phẳng, hàng rào bị hư hỏng được chống đỡ giữa những tàn tích của dây điện tín mà nhiều năm trước đã từng thấy ở vùng đất này. Một ngôi nhà đổ nát, cùng với chiếc cối xay gió bằng gỗ giữa những tảng đá. Họ tiếp tục cưỡi. Họ đi vào nơi sâu và tối trước khi họ cưỡi ngựa xuống những sườn đồi thoải và băng ngang qua đồng bằng của thị trấn Robert Lee.

Cho đến khi con đường được khai thông trước cầu. Con sông ngầu đục bởi bùn. Họ tiếp tục đi và đến con đường Thứ Bảy, rồi đi thẳng ngang qua bờ sông, xuống ngựa, cột ngựa và bước vào.

Một người bước đến tiếp nhận yêu cầu của họ. Ông nhìn. Bố cậu nhìn lên từ tờ thực đơn.

- Nào gọi gì đi. - Ông nói. - Ông ta chẳng ở đây đến một tiếng đồng hồ đâu.

- Ông có gì?

- Tôi nghĩ tôi chỉ có một ít bánh patê và cà phê.

- Ông có loại patê gì vậy? - Cậu nói.

Ông chủ quán đưa mắt nhìn về phía quầy.

- Nào, gọi một thứ gì đó để ăn đi. - Bố cậu nói. - Bố biết là con đang đói.

Họ vừa gọi xong và ông chủ quán mang cà phê đến rồi trở lại quầy. Bố cậu lấy một điếu thuốc từ túi áo của mình.

- Con có nghĩ về việc rong ruổi trên con ngựa của mình không?

- Có. - Cậu nói. - Con đã nghĩ về điều đó.

- Con giúp Wallace cho ngựa ăn và rửa chuồng. Vậy cũng hay đấy.

- Nó sẽ không thích.

- Ai, Wallace à?

- Không. Redbo.

Vừa hút thuốc, người bố vừa nhìn con.

- Con vẫn còn gặp cô gái Barnett đó chứ?

Cậu lắc đầu.

- Cô ấy bỏ con hay con bỏ cô ấy?

- Con không biết.

- Có nghĩa là cô ấy bỏ con.

- Vâng.

Ông bố gật đầu. Ông lại hút thuốc. Bên ngoài, hai người cưỡi ngựa đi ngang qua trên đường và hai cha con nhìn họ chăm chú rồi ngắm những con vật mà họ cưỡi. Bố cậu khuấy cà phê một hồi lâu. Chẳng có gì để khuấy cà phê bởi ông uống đen. Ông lấy cái muỗng ra, đặt nó trên chiếc khăn giấy và nâng chiếc tách lên, mắt nhìn vào chiếc tách rồi uống. Ông vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ mặc dù chẳng có gì ngoài đó để nhìn cả.

- Mẹ con và bố chưa bao giờ hòa hợp trên nhiều vấn đề. Bà ấy thích ngựa. Bố nghĩ như vậy là đủ. Đó lý do tại sao bố câm lặng. Bà ấy trẻ, bố nghĩ bà ấy sẽ bỏ đi những suy nghĩ của mình nhưng bà đã không làm thế. Có thể đó cũng chỉ là những ý niệm đối với bố. Không phải là do cuộc chiến. Bố mẹ đã cưới nhau mười năm trước khi xảy ra chiến tranh. Mẹ con đã bỏ nơi ấy. Bà mất liên lạc từ lúc con chỉ mới sáu tháng tuổi cho đến khi con lên ba. Bố hiểu con cũng biết chút ít về chuyện này, và đó là một thiếu sót khi không cho con biết rằng Bố mẹ đã chia tay. Bà ở California. Luisa chăm sóc con. Cô ấy và Abuela.

Ông nhìn cậu và lại nhìn ra ngoài cửa sổ.

- Bà ấy muốn bố cùng đi đến đó. - Ông nói.

- Tại sao bố không đi?

- Có. Nhưng bố đã không ở lâu.

Cậu gật đầu.

- Bà ấy trở lại là vì con, chứ không phải vì bố. Chắc đó là điều bố muốn nói.

- Vâng.

Ông chủ quán mang bữa tối và bánh patê cho cậu. Cậu chồm người lấy hộp muối và tiêu. Cậu không nhìn lên. Ông chủ quán mang bình cà phê đến, đổ đầy vào cốc họ rồi quay người đi. Người bố dập tắt điếu thuốc, cầm chiếc nĩa và đâm vào chiếc bánh patê.

- Bà ấy sẽ lảng vảng ở đây lâu hơn bố. Bố muốn thấy mẹ và con hòa giải những bất đồng.

Cậu không trả lời.

- Bố sẽ không có mặt ở đây nếu không phải vì bà ấy. Khi ở Goshee, bố nói chuyện với bà ấy cả tiếng đồng hồ. Bố nhận ra bà ấy giống một người nào đó có thể làm bất cứ chuyện gì. Bố nói với bà ấy về những anh bạn già khác mà bố không nghĩ là họ sẽ làm điều đó, và bố yêu cầu bà ấy phải để ý và cầu nguyện cho họ. Một số người đã làm vậy. Bố nghĩ mình hơi điên khùng. Dù sao thì cũng một phần thời gian của mình. Nhưng nếu không phải vì bà ấy thì bố đã không làm vậy. Không còn cách nào khác trên thế gian này. Bố không bao giờ kể chuyện đó cho bất cứ ai. Bà ấy thậm chí cũng không biết.

Cậu tiếp tục ăn. Bên ngoài trời tối dần. Bố cậu uống cà phê. Họ đợi Arturo đến cùng với chiếc xe tải. Điều cuối cùng mà bố cậu nói là địa hạt này sẽ không như trước đây.

- Mọi người không cảm thấy an toàn. - Ông nói. - Chúng ta cũng sẽ chẳng khác gì những chiến binh da đỏ Comanches cách đây hai trăm năm. Chúng ta không biết điều gì sẽ xảy ra khi bình minh đến. Chúng ta thậm chí không biết chúng màu gì.

Trời đêm như ấm áp. Cậu và Rawlins nằm trên đường nơi họ có thể cảm nhận hơi nóng phát ra từ nhựa đường dưới lưng, và họ ngắm những ngôi sao đang rơi xuống một chân trời đen trải dài thoai thoải. Từ đằng xa họ nghe tiếng cửa đóng sầm. Một tiếng gọi. Một con sói đang càu nhàu ở nơi nào đó trên những ngọn đồi về hướng nam thì dừng lại. Rồi bắt đầu lại.

- Có ai đó đang quát mắng cậu phải không? - Cậu hỏi.

- Có thể. - Rawlins nói.

Họ nằm soài trên mặt nhựa đường giống như những kẻ bị bắt giữ chuẩn bị đón nhận một hình phạt nào đó vào lúc rạng đông.

- Cậu đã nói chuyện với ông già của mình chưa? - Rawlins nói.

- Chưa.

- Vậy cậu sẽ nói chứ?

- Vấn đề chính của nó là gì?

- Mẹ con cậu khi nào phải kết thúc đây?

- Ngày 1 tháng 6.

- Cậu có thể đợi đến lúc đó.

- Để làm gì chứ?

Rawlins đặt gót chiếc ủng lên trên ngón chân kia. Như thể đang đo chiều dài của chân trời xa xăm bằng những bước chân của mình.

- Bố tôi bỏ nhà đi khi ông mười lăm tuổi. Nếu không thì tôi được sinh ra ở Alabama.

- Cậu chẳng được sinh ra ở đâu cả.

- Điều gì khiến cậu nói như thế?

- Bởi mẹ cậu từ San Angelo và ông ấy không bao giờ gặp bà ấy.

- Ông ấy đã gặp ai đó.

- Bà ấy cũng vậy.

- Vậy là...?

- Vậy là cậu chẳng được sinh ra.

- Tôi không hiểu tại sao cậu nói như thế. Tôi được sinh ra ở một nơi nào đó.

- Bằng cách nào?

- Hứ, tại sao lại không chứ?

- Nếu mẹ cậu có con với một người chồng khác và cha cậu có con với người vợ khác thì cậu sẽ thuộc bên nào?

- Tôi sẽ không thuộc bên nào cả.

- Được đấy.

Rawlins nằm ngắm các ngôi sao. Sau một hồi anh ta nói: Tôi vẫn có thể được sinh ra. Tôi có thể trông khác đi hoặc một điều gì đó. Nếu Chúa muốn tôi được sinh ra thì tôi sẽ được sinh ra.

- Và nếu Ngài không muốn thì cậu cũng sẽ không được sinh ra.

- Cậu đang khiến cái đầu chết tiệt của tôi đau quá.

- Tôi hiểu điều đó. Tôi cũng đang tự làm đau chính mình.

Họ nằm nhìn những ngôi sao.

- Vậy cậu nghĩ gì? - Cậu hỏi.

- Tôi không biết. - Rawlins nói.

- Ừ.

- Tôi có thể hiểu rằng nếu đến từ Alabama, cậu sẽ có lý do để chạy đến Texas. Nhưng nếu cậu đã ở Texas. Tôi không biết. Cậu có nhiều lý do để đi hơn tôi.

- Cái lý do chết tiệt nào để cậu phải ở lại chứ? Cậu nghĩ rằng một ai đó chết đi sẽ để lại cho cậu một cái gì đó à?

- Không, không.

- Tốt đấy. Bởi vì họ không.

Cánh cửa đóng sầm. Tiếng gọi lại vang lên.

- Thôi tốt nhất là tôi về nhà đây. - Rawlins nói.

Anh ta đứng dậy và dùng một tay vỗ mạnh vào đũng quần jean rồi đội mũ lên.

- Nếu tôi không đi, cậu sẽ đi chứ?

John Grady ngồi dậy và đội mũ lên.

- Tôi đã chuẩn bị rồi. - Cậu nói.

Cậu gặp cô ấy lần cuối ở thành phố. Cậu đến cửa hiệu Cullen Cole ở đường North Chadbourne để hàn sợi dây cương đã bị đứt và rồi chuyển sang đường Twohig thì cô ấy xuất hiện từ hiệu thuốc Cactus. Cậu băng qua đường nhưng cô ấy gọi cậu. Cậu dừng lại và đợi trong lúc cô ấy bước đến.

- Anh định tránh em đó à? - Cô ấy hỏi.

Cậu nhìn cô: Anh đoán là mình sẽ không còn suy nghĩ gì nữa về việc đó theo cách này hay cách khác.

Cô nhìn cậu.

- Một người không thể giúp theo cách họ cảm nhận. - Cô nói.

- Trước sau như một điều đó vẫn tốt, có phải thế không?

- Em nghĩ chúng ta có thể là bạn của nhau.

Cậu gật đầu.

- Được mà. Anh sẽ không còn ở đây lâu nữa.

- Anh đi đâu?

- Anh không được phép nói điều này.

- Tại sao không?

- Chỉ không được phép mà thôi.

Cậu nhìn cô. Cô quan sát rất kỹ khuôn mặt cậu.

- Anh nghĩ anh ấy sẽ nói gì nếu nhìn thấy anh đứng đây nói chuyện với em?

- Anh ta không ghen.

- Tốt lắm. Đó là một điềm tốt cần có. Giúp anh ta tránh được rắc rối còn hệ trọng hơn.

- Ý đó là sao?

- Em không hàm ý gì cả. Em phải đi đây.

- Em có ghét anh không?

- Không.

- Em không thích anh à.

Cậu nhìn vào mặt cô. Em làm anh hao kiệt, cô bé à. - Cậu nói. - Chuyện đó có hệ trọng gì chứ? Nếu em có một lương tâm xấu xa nào, hãy cho anh biết điều em muốn anh phải nói ra thì anh sẽ làm.

- Không phải việc anh phải nói điều gì. Dù sao em không có một lương tâm xấu xa. Em chỉ nghĩ chúng ta có thể là những người bạn.

Cậu lắc đầu: Chỉ là lời nói suông, Mary Catherine à. Anh phải đi đây.

- Điều gì xảy ra nếu đó chỉ là lời nói suông? Mọi thứ là lời nói suông sao?

- Không phải mọi thứ.

- Anh thật sự rời San Angelo à?

- Ừ.

- Anh sẽ trở lại chứ.

- Có thể.

- Em không có bất kỳ một cảm nhận xấu xa nào về anh.

- Em không có lý do để làm vậy.

Cô nhìn lên con đường nơi cậu đang hướng đến nhưng chẳng có gì ở đó đáng để nhìn cả. Cô quay lại và cậu nhìn vào mắt cô, nhưng nếu đôi mắt ấy ướt đẫm thì cũng chỉ bởi gió mà thôi. Cô đưa tay ra. Lúc đầu cậu không biết cô đang làm gì.

- Em không chúc anh bất cứ thứ gì ngoại trừ những điều tốt đẹp nhất. Cô nói.

Cậu nắm lấy tay cô, bàn tay nhỏ nhắn trong bàn tay mình, quen thuộc. Cậu chưa bao giờ bắt tay bất kỳ người phụ nữ nào trước đây.

- Bảo trọng nhé. - Cô nói.

- Cảm ơn em. Anh sẽ bảo trọng.

Cậu lùi lại và chạm tay vào vành mũ, quay người và tiếp tục bước đi trên con đường đó. Không ngoái lại nhưng cậu có thể nhìn thấy cô đang đứng trong những cánh cửa sổ của Tòa nhà Liên bang bên kia đường, và cô vẫn đứng đó cho tới khi cậu đến góc đường và biến mất khỏi mặt kính phản chiếu đó mãi mãi.

Cậu xuống ngựa và mở cánh cổng rồi dắt con ngựa đi xuyên qua. Rồi cậu đóng cổng lại và dẫn con ngựa bước dọc theo hàng rào. Cậu cúi người xuống để xem liệu có nhìn thấy Rawlins không, nhưng Rawlins không có ở đó. Cậu thả dây cương ở góc hàng rào và nhìn ngôi nhà. Con ngựa thở khụt khịt và dúi cái mũi vào khuỷu tay cậu.

- Cậu đó à? - Rawlins thì thầm.

- Tốt nhất là hy vọng vậy.

Rawlins dẫn con ngựa xuống, đứng lại rồi quay đầu nhìn ngôi nhà.

- Cậu sẵn sàng rồi chứ? - John Grady hỏi.

- Ừ.

- Họ có nghi ngờ gì không?

- Không.

- Nào, chúng ta đi thôi.

- Đợi một phút. Tôi phải chất mọi thứ lên lưng ngựa và dẫn nó ra kia.

John Grady cầm lấy dây cương và xốc lên yên ngựa. Ánh đèn đằng kia. - Cậu nói.

- Chết tiệt.

- Cậu sẽ trễ cho cái đám tang của mình rồi đó.

- Vẫn chưa đến bốn giờ mà. Cậu đến sớm đấy.

- Nào đi thôi. Đó là nhà kho.

Rawlins có cột tấm chăn phía sau yên ngựa. Công tắc đèn ở nhà bếp. Ông ấy chưa đến nhà kho. Ông ấy thậm chí cũng không buồn đến đó. Có thể ông chỉ làm cho anh ta một ly sữa hoặc một thứ gì đó.

Có thể ông chỉ nạp đạn cho khẩu súng ngắn hoặc một thứ gì đó.

Rawlins phóng lên lưng ngựa. Cậu sẵn sàng chưa? - Anh ta nói.

- Rồi.

Họ cưỡi dọc theo dãy hàng rào và băng ngang qua đồng cỏ bao la. Tiếng kẽo kẹt của các vật dụng bằng da cạ vào nhau trong cái lạnh buổi sáng. Họ thúc ngựa phóng đi. Những ánh đèn xa dần phía sau họ. Họ phóng lên vùng cao nguyên rộng thoáng rồi chuyển sang phi nước kiệu giữa những vì sao dày đặc bao quanh họ trong bầu trời tối đen. Họ nghe đâu đó trong màn đêm tĩnh mịch hiu quạnh vang lên một tiếng chuông và dừng lại khi tiếng chuông không còn nữa. Họ cưỡi trên cái bề mặt cong vòng của quả đất đơn độc tối đen đang mang hình bóng họ và đưa họ vào những chòm sao dày đặc, vì thế họ cưỡi ngựa không phải phía dưới chúng mà như hòa cùng với chúng. Họ cưỡi đi vừa thong dong vừa cẩn trọng, như những tên trộm vừa mới được thả trong bầu trời tối đen, như những tên trộm trẻ trong một khu vườn rực rỡ, được bảo bọc qua loa trước cái lạnh thấu xương cùng với mười ngàn điều phải chọn lựa.

Trưa hôm sau họ trải qua một cuộc hành trình khoảng bốn mươi dặm. Vẫn thuộc vùng đất họ đã từng biết. Đêm về, họ băng qua trang trại Mark Fury cũ kỹ và dừng trước một hàng rào chắn. John Grady dùng cái móc câu kéo những đinh móc hàng rào xuống và giẫm lên trên những dây kẽm gai để Rawlins dắt ngựa bước qua rồi thả đám kẽm gai về lại vị trí cũ, đóng các đinh móc vào những cây cọc, bỏ cái móc câu vào lại túi yên ngựa và tiếp tục lên đường.

- Làm sao họ có thể mong chờ một người đàn ông cưỡi ngựa trong một vùng đất như thế này chứ? - Rawlins nói.

- Họ không nghĩ vậy. - John Grady nói.

Họ tiếp tục cưỡi ngựa khi mặt trời lên cao và ăn sandwich mà John Grady mang theo. Giữa trưa, họ tắm ngựa ở một bồn nước bằng đá cũ kỹ rồi dắt chúng xuống một thung lũng khô ráo giữa những con đường mòn của gia súc và lợn cỏ pecari dẫn đến một địa điểm của rừng dương. Những bầy gia súc nằm dưới những gốc cây bật dậy khi họ lại gần; chúng đứng nhìn họ và rồi chen nhau chạy mất.

Họ nằm trên một bãi rơm khô dưới những gốc cây, những chiếc áo khoác cuộn lại gói dưới đầu và những chiếc mũ phủ lên khuôn mặt trong lúc những con ngựa đang gặm cỏ trên một bãi cỏ dọc theo đáy thung lũng.

- Cậu có mang theo thứ gì để bắn không? - Rawlins hỏi.

- Chỉ có khẩu thumb-buster cũ rích của ông ngoại.

- Cậu có bắn thử vật gì với khẩu súng đó chưa?

- Chưa.

Rawlins cười to: Chúng ta sử dụng nó sao?

- Ừ.

- Cậu có nghĩ họ sẽ đuổi theo chúng ta?

- Để làm gì?

- Tôi không biết. Dường như quá dễ dàng theo một cách nào đó.

Họ nghe tiếng gió và âm thanh của ngựa đang gặm cỏ.

- Tôi sẽ cho cậu biết một điều. - Rawlins nói.

- Nói đi.

- Tôi chẳng màng.

John Grady ngồi dậy, rút gói thuốc từ túi áo và bắt đầu làm một điếu. Về chuyện gì? - Cậu nói.

Cậu thấm ướt điếu thuốc và đưa lên miệng rồi lấy ra những que diêm, đốt rồi ném cái tàn diêm đã tắt xuống đất. Cậu quay đầu nhìn Rawlins nhưng anh ta đã ngủ.

Họ tiếp tục cưỡi ngựa đi trong buổi chiều chạng vạng. Lúc gần tối, họ nghe tiếng những chiếc xe tải trên xa lộ từ đằng xa. Và trong đêm tối lạnh lẽo lê thê đó, họ cưỡi ngựa về hướng tây, dọc theo một con dốc mà từ đó họ có thể nhìn thấy những ánh đèn pha trên xa lộ quét ngược quét xuôi một cách ngẫu nhiên và đều đặn, không mấy vội vã. Họ đến một con đường trang trại dẫn ra ngoài xa lộ nơi có một cánh cổng. Họ ngồi trên lưng ngựa. Họ không nhìn thấy cánh cổng nào ở đầu bên kia của xa lộ. Họ thấy những ánh đèn của xe tải chạy dọc theo hàng rào đông và tây nhưng không có cánh cổng nào ở đó.

- Cậu muốn làm gì? - Rawlins nói.

- Tôi chẳng biết. Ngay đêm nay tôi muốn làm sao phải vượt qua được chỗ này.

- Tôi chẳng thể dẫn ngựa xuống xa lộ đó vào ban đêm.

John Grady nghiêng người và làu bàu: Tôi cũng vậy. - Cậu nói.

Trời bắt đầu lạnh hơn. Gió rung cánh cổng kêu lách cách và hai con ngựa bước đi một cách nặng nhọc.

- Ánh đèn gì kia? - Rawlins hỏi.

- Tôi nghĩ nơi đó là Eldorado.

- Theo cậu, từ đây đến đó phải mất bao xa nữa?

- Mười hoặc mười lăm dặm.

- Cậu muốn làm gì?

Họ trải những chiếc túi ngủ trên một bề mặt khô ráo, tháo yên ngựa, cột chúng lại rồi đánh một giấc cho đến rạng sáng. Khi Rawlins tỉnh dậy, John Grady đã thắng yên ngựa và cột chiếc túi ngủ của mình bằng sợi dây da.

- Có quán cà phê đầu đường bên kia. - John Grady nói. - Cậu có thể ăn một ít điểm tâm ở đó chứ?

Rawlins đội mũ lên và với tay lấy đôi ủng của mình: Cậu nói đúng ý tôi đấy.

Họ dẫn ngựa đi xuyên qua một đống hỗn độn gồm những cánh cửa xe tải cũ kỹ, những bộ phận truyền động và các bộ phận rời vứt đi ở phía sau quán cà phê. Sau đó họ tắm cho ngựa ở một bồn nước kim loại được dùng để tìm lỗ xì của ruột xe. Một gã Mexico đang thay vỏ cho một chiếc xe tải và John Grady bước đến để hỏi ông ấy phòng vệ sinh nam ở đâu. Ông ta hất đầu về hướng bên kia của tòa nhà.

Cậu lấy những vật dụng cạo râu ra khỏi túi yên ngựa và đi vào phòng vệ sinh. Cậu cạo râu, rửa mặt, đánh răng và chải tóc. Khi cậu bước ra, ngựa đã được cột vào một chiếc bàn ăn ngoài trời đặt phía dưới vài gốc cây; Rawlins đang ngồi nhâm nhi cà phê bên trong.

John Grady bước vào. Cậu gọi gì chưa? - John Grady hỏi.

- Đang đợi cậu.

Ông chủ quán bước đến với một cốc cà phê khác. Các cậu có dùng gì không? - ông ta nói.

- Chưa. - Rawlins nói.

John gọi ba quả trứng, một ít giăm bông, đậu và bánh quy; Rawlins cũng gọi món đó nhưng có thêm vài mẩu bánh nóng và xirô.

- Tốt nhất là cậu phải nạp cho đủ đấy.

- Cậu quan sát tôi đấy à? - Rawlins nói.

Họ ngồi chống khuỷu tay lên bàn và nhìn ra ngoài cửa sổ về hướng nam, ngang qua những đồng bằng, đến những ngọn núi xa xa bao phủ trong cái bóng của chúng dưới ánh nắng.

- Đó là nơi chúng ta hướng đến. - Rawlins nói.

Cậu gật đầu. Họ uống cà phê. Người đàn ông mang điểm tâm trên những chiếc đĩa sành màu trắng cồng kềnh rồi quay lại với bình cà phê. Rawlins rắc tiêu lên món trứng của mình cho đến khi chúng toàn là màu đen. Anh ta phết bơ lên trên những chiếc bánh nóng.

- Có một người thích trứng với tiêu. - ông chủ quán nói.

Ông ta rót cà phê vào tách cho họ rồi trở lại nhà bếp.

- Lúc này cậu phải quan tâm đến ông già của mình đấy. - Rawlins nói. - Tôi sẽ chỉ cho cậu cách xử lý một bữa điểm tâm cho loại bất kham này đây.

- Làm đi. - John Grady nói.

- Có thể gọi lại mọi thứ.

Kho không có thứ gì cho ngựa. Họ mua một thùng yến mạch khô và trả tiền rồi bước ra ngoài. John Grady dùng dao cắt thùng giấy thành hai phần và họ đổ yến mạch vào một vài chiếc mâm bánh xe hư. Họ ngồi lên bàn ăn ngoài trời, hút thuốc và đợi chúng ăn. Gã Mexico bước đến và nhìn những con ngựa. Hắn ta chẳng lớn hơn Rawlins bao nhiêu.

- Các cậu đi đâu? - Gã hỏi.

- Mexico.

- Để làm gì?

Rawlins nhìn John Grady: Cậu nghĩ hắn ta có thể tin được không?

- Được. Trông gã chẳng có gì.

- Chúng tôi đang trốn chạy luật pháp. - Rawlins nói.

Gã Mexico quan sát kỹ họ.

- Chúng tôi cướp nhà băng.

Gã đứng nhìn những con ngựa. Các cậu chẳng cướp nhà băng nào cả. - Gã nói.

- Ông có biết vùng đất dưới kia không? - Rawlins nói.

Gã Mexico lắc đầu và nhổ nước bọt: Cả đời tôi chưa bao giờ đến Mexico.

Khi ngựa đã ăn xong, họ thắng yên trở lại và dẫn chúng vòng qua trước quán cà phê, đi dọc xuống đường cái và băng ngang qua xa lộ. Họ dắt ngựa dọc theo con mương, vào đến cánh cống, bước qua rồi đóng cổng lại. Họ tiếp tục lên ngựa và phi trên con đường trang trại mịt mù bụi cát. Họ cưỡi được khoảng một dặm thì con đường rẽ sang hướng đông, họ dừng lại và nhắm về hướng nam, băng ngang qua những vùng đồng bằng tuyết tùng thoai thoải.

Lúc tảng sáng họ đến sông Devil. Họ tắm cho ngựa rồi thả dài người dưới bóng râm của cây liễu đen và nhìn vào tấm bản đồ. Đó là một bản đồ chỉ đường của công ty dầu mà Rawlins đã lấy ở quán cà phê. Anh ta nhìn tấm bản đồ và rồi hướng mắt nhìn con đèo nằm giữa những ngọn đồi thấp về phía nam. Có đường sá, sông hồ và dân cư ở mặt bên kia của tấm bản đồ nước Mỹ xa tận phía nam như Rio Grande, và vượt xa hơn nữa chỉ là một màu trắng.

- Chẳng thấy gì ở khu vực dưới đây cả? - Rawlins nói.

- Ừ.

- Cậu có cho rằng nó chưa bao giờ được ghi trên bản đồ không?

- Có những bản đồ khác. Không phải cái này. Tôi có một cái trong túi yên ngựa.

Rawlins quay lại với tấm bản đồ và ngồi bệt xuống đất rồi dùng ngón tay lần theo con đường. Anh ta nhìn lên.

- Sao? - John Grady nói.

- Chả thấy quái gì ở đây cả.

Họ rời con sông và bám theo thung lũng khô về phía tây. Vùng đất thoai thoải trải dài và đáy cỏ rậm. Trời ban ngày mát mẻ dưới ánh nắng mặt trời.

- Cậu có nghĩ còn có nhiều gia súc nữa ở vùng đất này không? - Rawlins hỏi.

- Cậu nghĩ vậy ư?

Họ đi dọc theo rặng núi dài khiến những chú chim câu và chim cút hốt hoảng bay lên từ những bụi cỏ. Thỉnh thoảng là một con thỏ. Rawlins xuống ngựa, rút khẩu carbin 25-30 từ vỏ giày ống của mình rồi đi bộ dọc theo rìa núi. John Grady nghe tiếng súng của anh ta. Một lát sau, anh ta trở lại với một con thỏ và nhét khẩu carbin vào lại vỏ giày ống. Anh ta rút dao, nâng con vật đi và ngồi xổm xuống moi ruột nó. Rồi anh ta đứng dậy, chùi lưỡi dao vào ống quần và gập nó lại, bước đến con ngựa, cột hai chân sau của nó vào cái quai của chiếc túi ngủ rồi phóng lên ngựa tiếp tục cuộc hành trình.

Cuối buổi chiều họ băng qua một con đường dẫn về hướng nam, và tối hôm đó họ đến con lạch Johnson, cắm trại bên cạnh một cái hố nằm dưới con suối đáy sỏi, lúc này đã khô nước. Họ tắm cho ngựa rồi dẫn chúng về máng cỏ. Họ đốt lửa và lột da con thỏ rồi xiên nó bằng một cành cây lớn và nướng ở mé ngoài của ngọn lửa. Grady mở túi cắm trại bằng vải bạt màu đen và lấy ra một chiếc bình cà phê nhỏ bằng thiếc tráng men, đi đến con suối và múc đầy nước. Họ ngồi và ngắm nhìn ngọn lửa. Họ ngắm nhìn mặt trăng hình lưỡi liềm mỏng manh phía trên những ngọn đồi đen kịt về hướng tây.

Rawlins cuốn một điếu thuốc và đốt bằng một mẩu than nhỏ rồi nằm dựa trên chiếc yên ngựa của mình.

- Tôi sẽ nói với cậu một chuyện.

- Nói đi.

- Tôi có thể quen với cuộc sống này.

Anh ta rít một hơi thuốc, lấy điếu thuốc ra để sang bên và dùng ngón tay trỏ gẩy nhẹ tàn xuống đất: Tôi chẳng phải mất nhiều thời gian lắm đâu.

Họ cưỡi ngựa đi suốt cả ngày hôm sau, xuyên qua vùng đồi núi thoai thoải, xuyên qua những ngọn núi phẳng với đá cứng thấp, lác đác những cây tuyết tùng, cây ngọc giá rực rỡ, những đóa hoa trắng ngà mọc dọc theo những con dốc nghiêng về hướng tây. Tối đến, họ đụng phải con đường Pandale và rẽ sang hướng nam rồi tiếp tục bám theo con đường dẫn vào thị trấn.

Chín tòa nhà bao gồm cả một cửa hàng bách hóa và một trạm đổ xăng. Họ cột ngựa phía trước cửa hàng và bước vào. Mặt mày đầy bụi bẩn, Rawlins râu ria xồm xoàm, người họ bốc toàn mùi ngựa, mùi mồ hôi và khói củi. Khi họ bước vào, vài gã ngồi trên ghế đặt sau cửa hàng ngước mắt nhìn rồi tiếp tục nói chuyện.

Họ đứng ở quầy thịt. Người phụ nữ từ quầy thu tiến bước ra và đến sau quầy thịt, đeo tạp dề và kéo sợi dây để bật ngọn đèn ở trần nhà.

- Trông cậu giống một kẻ liều mạng tuyệt vọng nào đó. - John Grady nói.

- Cậu thì trông chẳng giống một trưởng đội đồng ca tí nào. - Rawlins nói.

Người phụ nữ cột dây phía sau của tạp dề rồi quay sang nhìn họ qua chiếc nắp tráng men trắng của quầy thịt. Các cậu cần gì? - Bà hỏi.

Họ mua xúc xích, phô mai, một ổ bánh mì và một hũ sốt mayonnaise. Họ mua một hộp bánh quy và mười hai lon xúc xích viên. Họ còn mua mười hai gói Kool-Aid, một khúc thịt hông lợn xông khói, một vài lon đậu, một bao bột bắp nặng năm cân Anh và một chai nước chấm cay. Người phụ nữ gói riêng thịt và phô mai rồi dùng lưỡi liếm đầu bút chì, cộng lại tất cả các món hàng và bỏ chung vào một cái túi đựng tạp hóa số bốn.

- Các cậu từ đâu đến? - Bà hỏi.

- Từ San Angelo.

- Các cậu cưỡi ngựa đến tận đây à?

- Vâng, thưa bà.

- Được rồi, tôi sẽ báo số tiền. - Bà nói.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của cormac mccarthy