Những Câu Chuyện Về Khu Phố Nhỏ Ven Sông

Lượt đọc: 585 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 13 -
những người hàng xóm

Trích từ nhật ký của luật sư tập sự

Ngày hôm qua, tôi đã tròn ba mươi tuổi. Tôi cảm thấy mình thành một người khác hẳn. Bắt đầu từ ngày hôm qua, tôi mới thực sự là người đàn ông. Máu tôi chảy theo nhịp đập chính xác, mỗi dây thần kinh của tôi như một sợi dây thép, suy nghĩ nào của tôi cũng chín chắn. Thật là kỳ diệu, khi mà người đàn ông trưởng thành qua một đêm, thậm chí qua một khoảng khắc, và cái ý thức “Bây giờ anh ba mươi tuổi rồi” có sức mạnh đến nhường nào! Tôi thật sự thấy thích mình, tôi đã cảm thấy rằng tôi có thể làm được một cái gì đó và dứt khoát tôi sẽ làm. Tôi nhìn tất cả mọi thứ bằng một vẻ bình thản cao siêu. Bây giờ,...vâng, bây giờ tôi sẽ lại say mê viết nhật ký, để sau này tôi thấy mình được mô tả như thế nào, hình dạng tôi ra sao. Tôi biết là sau này tôi sẽ giở đọc lại các trang nhật ký của mình một cách tự hào. Người nào khác đọc nó sau khi tôi qua đời cũng sẽ thốt lên: Ôi, đây đúng là người đàn ông thực thụ!

Tôi đột ngột trở thành một người khác hẳn, khác đến mức mà tôi có cảm tưởng rằng chỉ ngày hôm kia thôi cũng đã là dĩ vãng xa xôi. Tôi cũng cảm thấy không thể hiểu được quá khứ của mình. Mặc dù hầu như ngày nào cũng có ghi chép, nhưng bây giờ khi đọc lại, tôi không hiểu hơn được chút nào những gì tôi đã viết. Tôi lắc đầu ngạc nhiên: vì sao tôi lại viết như thế kia chứ? - “Lý tưởng để làm cái gì? Chúng ta học về lý tưởng để làm gì?” - “Mặt trời nguội lạnh - đại dương băng đá” - “Tôi buồn, không phải là cái buồn đến chết, mà là cái buồn đến mức tự ti.” - “Đám mây bất hạnh lớn đe doạ, hay là cảm giác rằng thế giới đã sụp đổ.” - “Có thể là tôi đã nhầm.” - “Xung quanh nghĩa vụ cuộc đời; vấn đề buồn rầu chứ không phải là cảm giác sung sướng.” Thật đúng là những điều vô cùng ngu xuẩn! Cái cảm giác không lành mạnh! Qua đó, đủ thấy là tôi đã không có mục đích rõ ràng và ý chí kiên cường, là tôi đã rơi vào vòng quay của một cuộc sống tầm thường nhất và của các thói quen mê muội. Nhưng bây giờ thì tự nhiên, tôi đứng vượt trên tất cả!

Bây giờ, điều trước hết là tôi phải thi cho xong kỳ kiểm tra kết thúc tập sự hành nghề luật sư, và tôi sẽ thi cực kỳ nhanh. Điều thứ hai là tôi sẽ hoàn toàn tập trung vào việc học thi. Tôi sẽ không đến văn phòng, chừng nào còn chưa thi xong. Sếp của tôi sẽ không gạch tên tôi khỏi danh sách nhân viên văn phòng, vì nếu gạch thì tôi sẽ mất đi một quãng thời gian của thời hạn bảy năm thực tập bắt buộc. Điều thứ ba là tôi sẽ chỉ ở trong phòng chứ không ra quán, kể cả buổi chiều cũng không ra; tôi đã đánh bài và thua biết bao nhiêu tiền, và đó là điều tội lỗi. Cả vào ngày chủ nhật tôi cũng sẽ không đến phố Příkopy, cũng không đi nhà hát, tôi sẽ không đi đâu cả, mặc cho cô Františka ngạc nhiên lắc đầu đến ngoẹo cổ! Cô ấy đã nói ở nhà ông bà Loukota, rằng trông tôi rất lôi thôi luộm thuộm - nói năng cho cẩn thận đấy cô nhé!

Thật là một ý tưởng tuyệt vời! Tôi tự khâm phục mình. Vâng, tôi sẽ chuyển nhà sang Malá Strana, sang khu Malá Strana yên tĩnh và nên thơ, đến một góc phố hẻo lánh nào đó để sống giữa những người hàng xóm yên lặng và đáng yêu. Thậm chí, một chỗ ở nên thơ là hoàn toàn cần thiết cho trạng thái tinh thần cao siêu hiện nay của tôi. Ôi, tôi sẽ sung sướng biết bao! Một ngôi nhà yên tĩnh, một căn hộ rộng rãi thoáng mát với cửa sổ nhìn sang đồi Petřín đầy tư duy, với cửa sổ nhìn ra những cái vườn nhỏ yên tĩnh của các gia đình... ở đây nhà nào cũng phải có vườn, vì nó mang lại công việc và sự bình an. Tôi cảm thấy ngực mình nở căng ra.

Tôi bắt tay ngay vào việc tìm nhà. Bây giờ sắp là giữa tháng tư, sắp đến ngày Thánh Jiří rồi! Nếu nói là ở đồi Petřín có chim họa mi thì tôi có nhầm không nhỉ?

Rất may, tôi tìm được một căn hộ ở phố Oujezd yên tĩnh mà tôi chắc không thể cầu mong có được căn hộ nào tốt hơn. Tôi sẽ giấu mình như một đứa trẻ vào cái góc bí ẩn ấy và sẽ không ai biết về tôi, vâng, không một ai!

Chỉ nhìn bề ngoài, tôi đã thích ngôi nhà ba tầng ấy. Có điều tôi không thuê được cả căn hộ, mà chỉ thuê được phòng trọ trong một gia đình ở nhà ấy, nhưng có hề gì! Cô chủ căn hộ cho tôi thuê phòng là cô Vilhemová, vợ của anh Vilhem, một nhân viên đường sắt chuyên phục vụ trên tàu hỏa. Tôi vẫn chưa gặp chồng cô vì anh ấy hầu như đi suốt. Hai vợ chồng cô có căn hộ rất rộng trên tầng hai, nhưng họ ở không hết. Vì vậy, họ cho tôi thuê một phòng lớn nhìn ra đường, tiếp đó là phòng bếp, rồi hai phòng nhỏ ở cánh phía sau. Từ các phòng có ba cửa sổ trông ra sân, một cửa sổ của phòng nhỏ phía sau trông ra vườn và ra đồi Petřín. Cái vườn ấy khá xinh xắn, cô chủ hộ nói là ai cũng có thể ra đấy được. Không, tôi sẽ không ra đấy vì tôi sẽ học, nhưng tôi thấy cái vườn ấy trông rất thoải mái. Ngôi nhà ấy đứng dưới chân đồi Petřín nên sân và vườn ở độ cao như tầng hai, thành thử cửa sổ phòng tôi thấp gần như là ở tầng một. Khi đi đến bên cửa sổ, tôi nghe thấy tiếng chim sơn ca hót. Mới khoái làm sao! Tôi hỏi ở đồi Petřín có chim họa mi không. Cô nói có chứ!

Cô Vilhemová là người còn trẻ, mới hai mươi hai tuổi. Cô ấy đẹp, và đẹp một cách khỏe mạnh. Khuôn mặt tuy không đều đặn một cách cổ điển, cái cằm hơi rộng, nhưng đôi má hồng mịn như nhung và cặp mắt xanh đậm, mặc dù có hơi bị lồi một chút. Cô đã có con - một bé gái bảy tháng tuổi, tên là Kačenka - những người như cô thường kể ngay toàn bộ tiểu sử của mình khi gặp ai lần đầu. Kačenka trông rất buồn cười. Cái đầu nó tròn như quả cầu, hai con mắt lồi giống mẹ cứ nhìn chăm chăm và hết sức ngờ nghệch. Nhưng nếu được ai tỏ ra trìu mến thì cái quả cầu ấy toét miệng cười, đôi mắt ngờ nghệch lập tức sáng lên, và tự nhiên trông rất đáng yêu, rất... (tôi sẽ viết sau, bây giờ không nghĩ ra được cái gì hay). Tôi vuốt má Kačenka và nói: “Cháu kháu khỉnh quá!” Khen trẻ con để lấy lòng các bà mẹ bao giờ cũng là chiến lược tốt. “Cháu ngoan lắm, hầu như không khóc bao giờ,” bà mẹ trẻ khen con gái. Tôi rất lấy làm phấn khởi, vì tôi cần yên tĩnh để học.

Khi tôi nói tôi là luật sư, cô chủ hộ tỏ ra rất hài lòng. Và khi tôi nói tên tôi là Krumlovský, cô thốt lên: “Ôi, cái tên đẹp quá!” Những người như cô bao giờ cũng nói ngay mọi chuyện một cách chân thành như vậy. Chúng tôi thỏa thuận với nhau về tiền phòng, về việc dọn dẹp và bữa ăn sáng. Cô chủ hộ sẽ giặt quần áo, dọn dẹp phòng và chuẩn bị các bữa ăn sáng cho tôi. Ở tầng một, bên phải cửa chính vào nhà, có một quán ăn sạch sẽ, tôi sẽ mua cơm trưa và cơm chiều ở đó. “Lúc nào nhà tôi ở nhà thì chúng tôi cũng mua thức ăn ở đấy; họ nấu món ăn bình dân mà!” Thế thì tuyệt vời, tôi yêu món ăn bình dân ngày thường. Tôi hoàn toàn không ưa thức ăn nêm đầy gia vị của cửa hàng ăn, tôi thấy bánh khoai tây, bánh hạt kê và mì sợi rưới nước bơ ngon gấp trăm lần thịt viên rán. Bên trái cửa chính là cửa hàng của ông thợ giày, ở tầng ba bên trên phòng tôi là căn hộ của một ông thợ may, tôi còn muốn gì hơn thế nữa? Tôi cũng phải nói thêm rằng cách nhà tôi trọ một đoạn là ngôi nhà nơi thi sĩ Mácha[34] chào đời. Nhưng thơ ca bác học là cái mà tôi hoàn toàn không quan tâm, tôi thấy thơ do cuộc đời viết nên còn đáng yêu gấp trăm lần, vì thế tôi cũng chỉ nhắc qua đến Mácha vậy thôi. Tôi chưa bao giờ làm thơ - à không, hồi còn là học sinh tôi có thử làm thơ. Có thể là tôi có năng khiếu. Ít ra thì tôi cũng còn nhớ một bài thơ khá hay tôi đã viết, đó là bài ballad, viết theo kiểu điệp vận[35] mẫu mực. Nhưng tôi không nhớ được nhiều, ngoài cái điệp vận ấy:

Dọc bờ sông mát

chó sủa như hát ca

Cẩu của cậu ca.

Khi tôi đọc bài thơ ấy ở lớp, lũ bạn cùng học lăn ra cười chế nhạo. Tôi cãi lại và chỉ ra chỗ điệp vận, bọn nó lại càng cười nhiều hơn và từ đó, chúng luôn luôn nói “cẩu của cậu ca” thay cho từ “điệp vận”. Thật là đồ con bò!

Trong khi tôi và cô chủ hộ còn đang thỏa thuận với nhau thì một người đàn ông miệng ngậm tẩu vào đến cửa bếp. Đó là người hàng xóm, anh ta mặc quần áo trong nhà. Anh ta dừng lại, đứng tựa vào khung cửa và hút thuốc.

“Đây là luật sư Krumlovský,” cô chủ hộ giới thiệu và cố ý nhấn mạnh vào từ “luật sư”.

Người đàn ông nhả khói. “Vâng, tôi rất hân hạnh. Xin chúc cho quan hệ láng giềng của chúng ta tốt đẹp, thưa luật sư!” Anh ta đưa bàn tay mập và mềm về phía tôi. Chúng tôi bắt tay nhau. Với láng giềng ta phải biết cư xử, chẳng gì thì chắc hẳn mọi người ở đây đều tốt bụng cả! Người đàn ông ấy có khuôn mặt đỏ béo tròn, đôi mắt xanh mọng như thể bơi trong nước mắt. Lại một đôi mắt trung thực! Nhưng mà cái trung thực trong cặp mắt mọng nước như thế cũng thường là biểu hiện của bia rượu - tôi am hiểu con người mà! Môi trên của anh ấy dày, kẻ nghiện rượu nào cũng có cái môi trên dày.

“Anh có chơi šístka[36] không?”

Tôi rất muốn nói là bây giờ đang học thi nên tôi không chơi gì cả, nhưng mà chẳng lẽ chưa chi đã làm tổn thương đến tình hàng xóm láng giềng. Thành ra tôi mỉm cười lịch sự:

“Có người Séc nào mà lại không biết chơi!”

“Thế thì hay, chúng ta sẽ làm một ván.”

(“sẽ làm một ván” là cách nói hoàn toàn kiểu tiếng Đức; tiếng Séc của chúng ta ở các thành phố đang bị mất trong sáng một cách khủng khiếp! Khi nói chuyện, tôi sẽ cố gắng kín đáo sửa lỗi cho họ).

“Nghệ sĩ chúng tôi rất quý mến người có học thức, vì có thể học hỏi được ở họ.”

Phải, chắc chắn họ sẽ học hỏi được nhiều ở tôi! Tuy vậy, tôi cảm thấy là đến lượt mình phải nói một cái gì ca ngợi một tí. Nhưng mà anh này là ai? Anh ta hẳn là nhạc công - đôi mắt mọng nước, má đỏ, tay mập - tôi đánh cuộc là anh ấy có chai tay ở đầu ngón tay, tuy tôi không trông thấy, nhưng chắc chắn anh ấy phải có chai ở đầu ngón tay, đích thị anh ấy chơi đàn contrabass - tôi am hiểu con người mà…

“À, là nghệ sĩ âm nhạc chắc anh không bao giờ rảnh rỗi,” tôi nói.

“Ối cô chủ ơi, cô có nghe anh ấy nói gì không?” Người đàn ông phá ra cười sằng sặc, đến nỗi cái vai đang tựa cửa của anh ta nhô lên tụt xuống, giống như con tê giác cọ lưng vào cây. “Tôi là nhạc công điên điên giống như người kia kìa,” vừa nói, anh ta vừa chỉ ngón cái qua vai về phía sau, theo hướng đến cửa ở giữa hành lang, rồi từ cười chuyển sang ho rũ rượi.

“Anh Augusta là họa sĩ đấy,” vợ người nhân viên đường sắt nói.

Từ phía sau hành lang, một đứa bé trai cỡ tám tuổi chạy đến, chắc nó ra khỏi phòng vì nghe thấy tiếng cười và tiếng ho. Đứa trẻ đứng dựa vào người họa sĩ và chăm chú nhìn tôi.

“Đây là cháu nhà anh à?” Tôi hơi lúng túng hỏi.

“Vâng, Pepík của tôi đấy. Chúng tôi ở căn hộ phía bên phải sân, như anh ở chỗ này phía bên trái sân. Chúng ta sẽ nhìn thấy nhau qua cửa sổ.”

“Đây là ai thế?” Pepík hỏi và chỉ ngón tay về phía tôi. Tôi yêu cách nói năng đơn giản, không quanh co vòng vèo của trẻ con.

“Đây là luật sư Krumlovský, đồ vô lễ ạ.”

“Thế ông ấy sẽ ở đây à?”

“Này Pepík, cháu có muốn một đồng xu không?” Tôi hỏi và vuốt mái tóc sáng màu của nó.

Đứa trẻ lẳng lặng chìa tay.

Tôi nghĩ là tôi đã gây được ấn tượng tốt đối với mọi người.

Ngày hôm ấy là một ngày vất vả bận rộn! Chuyển nhà, mở đồ đạc rồi xếp đặt, nhiều việc đến chóng mặt. Tôi không hay chuyển nhà và không thích chuyển nhà; nhưng nghe nói có nhiều người ưa chuộng việc ấy... Cái đó thật là căn bệnh đặc biệt, họ chắc hẳn phải là những người không ổn định. Nhưng một điều không thể chối cãi được là ngay cả việc chuyển nhà cũng có cái nên thơ. Khi căn hộ cũ bắt đầu vợi đồ đạc và trở nên trống trải thì tự nhiên ta cảm thấy nhớ nhung hối tiếc, cảm thấy như mình rời một bến cảng bình an để rơi vào sóng dữ. Và căn hộ mới thì xa lạ, lạnh nhạt và chẳng có gì để nói với ta. Tôi cảm thấy mình như đứa trẻ nhỏ đứng nép vào mẹ trong một căn phòng không quen thuộc: “Mẹ ơi con sợ!” Nhưng sáng hôm sau khi tỉnh dậy chắc chắn tôi sẽ nói: “Ở đây ngủ được.”... Mấy giờ rồi nhỉ? Mười rưỡi... Thế mà trong nhà đã im ắng như ở dưới giếng sâu. Ừ, ví von xem ra được đấy: “như ở dưới giếng” hay hơn nhiều so với “như ở trong nhà thờ”, ít ra thì nó cũng không sáo rỗng như vậy.

Tôi đã cười cô chủ hộ rất nhiều. Cái gì cô ấy cũng ngạc nhiên, cái gì cũng ngắm nghía sờ mó, tất nhiên cái tò mò ngây thơ như thế thường không làm ai phật ý. Cô ấy chăm chỉ giúp tôi, lập tức chuẩn bị giường và trải nệm. Cái mà cô ấy ngạc nhiên nhất là tấm đệm giường lớn bằng da nai và chiếc gối bọc da nai. Khi đã trải nệm xong, cô ấy không cưỡng được và nằm xuống giường, nói là nằm thử xem sao; rồi vừa nằm vừa mừng rỡ cười như nắc nẻ - tất nhiên, nếu mà con nắc nẻ biết cười. Sau đó, cô ấy đặt Kačenka lên giường rồi lại cười. Cô ấy có tiếng cười đặc biệt, nó như tiếng vang của cái chuông nhỏ. Khi đặt tấm lông cáo rậm có mép viền vải đỏ xuống nền nhà ngay cạnh thành giường, cô ấy lại có niềm vui mới, cô bảo rằng Kačenka sợ cái đầu cáo với hai con mắt bằng thủy tinh. “Khi nào Kačenka quấy thì tôi sẽ dọa nó!”. Chỉ cái cỏn con như thế cũng đủ làm cho những người như cô ấy thấy vui sướng ngay.

Nhưng ngay sau đó tôi đã suýt nổi cáu. Khi mang một lô đồ đạc nữa lên đến phòng, qua cửa mở tôi trông thấy Pepík đang quỳ trên chiếc ghế cạnh bể cá cảnh, trong tay giữ con cá vàng mới bắt. Tôi nhảy bổ đến. “Ối trời ơi!” Tôi chợt nghe thấy giọng phụ nữ lạ kêu lên từ phía sau lưng, và khi ngoảnh lại, tôi thấy một người đàn bà đang bỏ chạy ra phía cửa. Cô chủ hộ đứng bên cạnh giường rũ ra cười đến rung cả người. “Vợ anh họa sĩ đấy. Chị ấy đến nằm thử giường xem nó thế nào. Cả con gái ông chủ nhà cũng khen là giường này nằm tốt.” Tôi nghĩ bụng chắc cô ấy sẽ dẫn tất cả mọi người sống trong nhà này đến đây để nằm thử... Họ sẽ nằm ở đâu? Nhưng mà Pepík thì không được phép đến phòng tôi khi không có người coi, không thì có ngày nó làm lật bể cá cảnh của tôi mất. Kể ra thì nó là đứa trẻ kháu khỉnh với mái tóc vàng và đôi mắt lanh lợi tròn như hai hòn bi - mắt nó không giống bố, chắc là giống mẹ.

Tôi cứ lắng nghe mãi xem chim họa mi có hót không, nhưng không nghe thấy gì cả, có thể là nó còn rất rét. Mùa xuân gì mà sang xuân đã được sáu tuần rồi nhưng vẫn còn phải mặc áo rét! Có thể là càng đến gần mùa hè thì trời càng rét hơn và chúng ta sẽ mặc áo lông mùa hè - hi hi, một ý nghĩ hay đấy: “áo lông mùa hè.”

Mà rét một tí thì chim họa mi có bị sao không nhỉ? - Tôi lắng nghe nhưng vẫn vô hiệu, không có một tiếng hót nào cả! Bỗng tôi nghe thấy tiếng chân đàn ông bước nặng nề đang tiến gần từ bên ngoài hành lang. Tiếng cửa cọt kẹt, - đấy là cái cửa bếp - rồi tiếng đàn bà, tiếng đàn ông, chắc người nhân viên đường sắt đi làm vừa về đến nhà. Tôi nhanh chóng tắt đèn và đi nằm, có thể cô chủ hộ sẽ đưa người ấy vào phòng tôi để thử xem giường nằm thế nào. Mà nhân viên đường sắt sau giờ làm việc về thì bẩn lắm!

Luật dân sự. Quy định về tiền tệ. Luật kinh doanh. Thủ tục tố tụng. Luật sáng chế. Nghị định về thủ tục thanh lý cổ phần. Nghị định về thủ tục tranh chấp hợp đồng. Luật khai thác. Luật hàng hải. Luật hình sự. Quy định tố tụng hình sự. Luật tố tụng về giải quyết tranh chấp. Thủ tục công chứng. Quy định thương mại. Quy chế xuất bản. Luật kiểm soát phân phối. Luật về hiệp hội. Luật săn bắn. Luật thuế và hải quan.

Thế! Cứ mỗi buổi sáng tôi sẽ xem danh sách này để thấy nó dài đến thế nào, để thấy cái gì tôi vẫn còn chưa biết và để không ngừng cố gắng. Tôi không ngừng cố gắng, vì bây giờ tôi là người hoàn toàn khác. Nhưng bất kỳ lúc nào nếu nảy ra được ý định gì tốt đẹp, thì bao giờ tôi cũng sẽ ghi lại, và ngày nào tôi cũng đọc, tôi sẽ đọc hàng ngày! Con người ta thường hay tự nhiên quên.

Bữa sáng ngon. Cà phê tinh khiết, bánh sừng bò nở. Cô chủ hộ mặc chiếc áo sơ mi buổi sáng màu trắng. Nhìn cô ấy rạng rỡ đủ thấy vợ chồng cô hạnh phúc.

“Cà phê ngon, rất ngon,” tôi khen để hoàn toàn lấy lòng cô ấy.

“Vâng, thế thì tôi rất vui, thưa luật sư, anh ăn ngon là tôi vui. Anh có cần gì nữa không ạ?”

Tôi chợt nhớ ra chồng cô. “Anh nhà đâu ạ? Tôi phải làm quen ngay với anh ấy chứ!”

“Nhà tôi ra ga có việc, đến bữa trưa mới về.” Rồi lại cười, cô ấy cười suốt. “Bây giờ tôi đi gấp chăn đệm và dọn dẹp một tí, tôi vừa tắm cho Kačenka, cháu đang ngủ,” và nói thêm “nếu thấy vướng thì xin luật sư sang tạm phòng bên ạ.”

Tôi đi sang phòng bên cạnh và nhìn qua cửa sổ ra sân. Ở các bục cửa sổ trên hai tầng phía đối diện đều có hoa. Tất nhiên là các loại hoa bình thường. Tôi có thể viết bài về Thực vật Séc loại đặc biệt trồng ở cửa sổ. Nào cây húng quế với lá to mọng, nhưng nếu lá bị vò nhàu một chút là héo ngay - “một cô gái đáng yêu”. Nào cây bóng nước, tuy không có mùi thơm, nhưng lại nhiều hoa; người ta thường gieo bằng hạt lấy từ năm trước. Nào cây phong lữ thảo đứng đáng ghét với những cái lá dày u buồn và hoa màu đỏ chói. Nào cây chi mỏ hạc có lá như được cắt tỉa; lá ấy có vò một chút cũng không sao. Rồi cây phong lữ thảo rủ, và cây hương thảo, tất nhiên. Hương thảo là hoa cưới, cũng là hoa tang. Mùi hương thảo là mùi của tình yêu; màu xanh mãi mãi của hương thảo là màu của sự thủy chung. Nghe nói hương thảo làm tăng cường trí nhớ, tôi sẽ phải mua mấy chậu. Người ta thả hương thảo theo dòng nước:

Theo suối hoa trôi

Chắc hẳn Jan ơi,

Năm nay vớt nó...

Không, tôi sẽ chẳng vớt nó, có mà điên mới đi lấy vợ sớm![37]

Khu vườn được sắp đặt rất gọn gàng. Ở đấy có nhiều chòi vườn, có lẽ mỗi gia đình trong nhà này có một cái. Chắc là ở cạnh chòi sẽ có trồng cây cẩm quỳ để Pepík có thể bứt quả, ở các luống rau sẽ có rau thìa là để nấu nước sốt ăn với bánh hấp.

“Phòng dọn xong rồi, luật sư ạ,” cô chủ hộ đứng cười bên cửa. Cô ấy đã mở tung cửa sổ. Tôi sẽ phải đóng lại, nhưng chờ cô ấy đi khỏi đây đã. “Anh có cần gì nữa không ạ?” Một sự chu đáo thật sự mẫu mực, ít nhất tôi phải nói chuyện thân mật với cô ấy. Từ căn hộ của họa sĩ vọng đến tiếng hét của trẻ nhỏ và tiếng đàn bà với giọng soprano cao ngất ngưởng chói tai.

“Họ có con nhỏ phải không?”

“Nó mới được một tuổi, gào thét suốt ngày.” (Mình sẽ ít khi mở cửa sổ nhìn ra sân.) “Cả vợ họa sĩ cũng hò hét suốt, cứ như ở ngoài chợ ấy.” (Mình sẽ không bao giờ mở cửa sổ nhìn ra sân.)

Tôi để ý thấy là cô chủ hộ nói năng không được lịch sự nhã nhặn cho lắm. Vâng, cô ấy có vẻ của một người đàn bà đơn giản. Nhưng xem ra thì khu Malá Strana có những ngạn ngữ đặc biệt của nó, tôi sẽ ghi lại, thí dụ ghi ngay câu về cái chợ. Thấy tôi viết, cô ấy hỏi:

“Tôi có làm phiền luật sư không? Chắc anh đang bận việc ạ?”

“À không... không sao...”, tôi trả lời. “Ai ở căn hộ bên trên căn hộ của họa sĩ hở chị?”

“Một người hâm hâm, chưa vợ. Ông ta tên là Provazník, nhưng tôi không biết ông ấy nghề nghiệp gì. Cả ngày không làm một việc gì cả, cũng không ra khỏi nhà, chỉ đứng nhìn từ cửa sổ như cú nhòm, hai con mắt độc địa cứ dòm ngó xem hàng xóm làm gì. Giá mà ít ra ông ta vuốt lưng con mèo chẳng hạn.” Cô ấy cười. (Tôi ghi “vuốt lưng mèo”.) “Ở tầng hai phía trông ra đường có căn hộ của ông chủ nhà và con gái ông, ở tầng ba phía trông ra đường có căn hộ của vợ chồng anh Vejrostka, cả nhà là viên chức công sở. Dứt khoát là họ mới cưới nhau, vì nhẫn cưới vàng còn mới nguyên. Ấy chết, tôi mải chuyện, biết đâu Kačenka đã thức giấc rồi.” Cô cười và đi ra khỏi cửa.

Bây giờ thì tôi đã biết hết mọi chuyện rồi. Nhanh nhanh ra đóng cửa sổ vào rồi bắt đầu học.

Chín giờ sáng. Hôm nay là thứ ba, ngày tốt để bắt đầu học.

Giống như mọi người, tôi bắt đầu bằng luật dân sự. Tôi nghĩ là sẽ...

“Ấy, tôi quên mất không hỏi xem đêm đầu tiên ở đây luật sư ngủ có ngon giấc không,” lại có tiếng vui vẻ từ ngoài cửa. “Bé trông này, bác luật sư đấy! Con chào bác đi nào!” - Cô ấy nghiêng đứa bé - “Chào bác ạ! Chào bác ạ!” - cô ấy ngả đứa bé như thể vứt nó vào tôi - “Hẳn là phải ngủ ngon chứ, cái giường như thế mà!” - Cô ấy đã lại đứng bên giường của tôi. “Bé nhìn này, nằm sướng không này!” - cô ấy đặt đứa trẻ lên giường. “Bé thấy chưa, giường ra giường nhé!” - Cô ấy nằm xuống giường bên cạnh Kačenka.

Người thiếu phụ trẻ đáng yêu, nhìn thấy thích mắt, nhưng mà...! Tôi nhìn chăm chăm vào bộ luật.

“Thôi mình đi con nhỉ, bác đang bận việc, mẹ con mình không được quấy rầy bác nhỉ.” Tiếng cười theo cô ra đến ngoài cửa.

Người đâu mà lại có người ngây thơ đến không tưởng tượng được như thế!

Thôi! Trước hết phải đọc cẩn thận từng điều luật. Hôm nay tạm bỏ qua Luật sáng chế. Phần mở đầu. Về luật…

Con mèo! Con mèo trắng! Nó đứng kêu ở cửa. Cho đến lúc này tôi vẫn chưa nhìn thấy nó ở đâu, có phải là con mèo của nhà này không nhỉ?... Phải làm gì với con mèo nhỉ? À, “meo meo!”. Nhưng mà nếu tôi “meo meo” thì có thể nó sẽ lại còn kêu nhiều hơn nữa!

Không được, nó còn ở đây thì tôi không thể học được! Tôi không thích mèo, chúng nó hung dữ, giả dối và lại còn bắt chuột nữa. Chúng cũng cào và cắn! Và khi ai đó ngủ thì nó nằm đè lên cổ và làm người ấy tắc thở. Lời tự hứa: tối nào trước khi đi nằm cũng gọi “meo meo!” Nghe nói mèo cũng hay nổi điên - lại còn thiếu nước ấy nữa - tôi sẽ phải hỏi khéo cô chủ hộ - có thể đó là mèo cưng của cô ấy - để cô ấy xem liệu có thấy con mèo này có biểu hiện gì là hơi bị dại không.

Con mèo lại kêu. Tôi hé cửa, nó chạy vụt ra ngoài. Cô chủ hộ hỏi tôi có muốn gì không. Tôi trả lời không. Nhưng mà thấy tôi mở cửa. Tôi mở cửa chỉ vì con mèo. À ra thế! - lại cười.

Phần mở đầu...

Có tiếng gõ cửa. Anh họa sĩ. Nói là không muốn làm phiền, nhưng mà lúc cửa sổ phòng tôi mở, anh ấy thấy trên tường có tranh treo, và anh ấy không thể không tới để xem được. Tôi có hai bức tranh bột màu của họa sĩ Navrátil. Bức thứ nhất: Biển trong bão tố, thể hiện cái ảm đạm. Bức thứ hai: Biển trong ánh mặt trời, thể hiện cái vui vẻ. Họa sĩ đứng trước hai bức tranh. Anh ấy đang mặc quần áo dạo phố, mang áo khoác đen dài, cầm gậy và đội mũ.

Anh ấy bảo tranh này dứt khoát phải là của Navrátil. “Vâng, đúng thế ạ.” Rằng có biết bao nhiêu tranh của những người như Navrátil mà anh ấy chưa được xem. Rồi hỏi tôi:

“À, thế bao giờ thì chúng ta làm một ván bài?”

“Vâng ạ, chắc chắn là sẽ chơi, chắc chắn!”

Anh ấy nói rằng chúng tôi có thể chơi tay ba cùng với ông chủ nhà, nhưng nếu tôi rủ được một người quen nào nữa thì chúng tôi sẽ chơi tay bốn. Rằng anh ấy phải nói để tôi biết là vợ anh ấy ngượng với tôi. Rằng hôm qua tôi làm cô ấy bất ngờ khi cô ấy nằm ở giường của tôi, nhưng mà khi mà cô chủ hộ Vilhelmová đã gọi đến nằm thử... Tôi mỉm cười lịch sự:

“Không sao đâu, tôi sẽ an ủi để chị nhà yên tâm, không có gì hệ trọng đâu anh ạ.”

“Vâng, cái đám đàn bà mà!” Chúng tôi bắt tay nhau rồi anh ấy đi.

Cô chủ hộ của tôi hiện ra ở cửa. Cô ấy nói là sắp 10 giờ rồi, hỏi tôi có muốn mua món gì nóng ở dưới hiệu để ăn điểm tâm không.

“Cám ơn chị, tôi không bao giờ ăn điểm tâm bằng thức ăn nóng.”

Phần mở đầu... Nói chung về các luật dân sự. Định nghĩa quyền dân sự. Tôi cảm thấy thoải mái hào hứng. Thế là tôi chăm chú đọc các điều luật và hơi tiếc là phải dừng lại vì đã tới giờ ăn trưa. Món ăn cũng được, nhưng không nhiều, mà ăn nhiều không tốt, nhất là khi người ta chỉ ngồi.

“Anh uống cà phê đen nhé?”

“Cám ơn chị, không ạ. Từ giờ cho đến tối, đến 8 giờ tối, tôi sẽ không cần gì hết.”

“Thế cả xì gà cũng không à?”

“Không chị ạ, tôi không bao giờ hút ở nhà.”

Tuyệt vời! Tôi học, giống như dòng suối đưa con thuyền vội vã trôi và các vật trên bờ chạy lùi về phía sau. Điều luật này nối điều luật trước, giống như các hạt mân côi lần lượt đi qua các ngón tay. Tôi đã không dám nghĩ rằng tôi biết nhiều đến thế và học dễ vào đến thế. Tôi vùi đầu học đến mức tôi không nghe thấy gì khác, không nhìn thấy gì khác. Tôi nghĩ cô Vihemová đã vào phòng đến sáu lần, hay là chục lần. Lần nào tôi cũng giật mình, giống như Kačenka bị mẹ mang con cáo lông ra dọa... Nếu cô ấy có nói gì với tôi, chắc chắn tôi đã không trả lời. Ít ra thì cô ấy cũng phải nhận thấy là không được làm phiền tôi.

Tôi rất hài lòng. Một trăm ba mươi lăm điều luật! Bây giờ thì đi ăn chiều, rồi lại học tiếp! Đừng ai bảo tôi rằng học thi không phải là khoái cảm! Tôi run người vì sung sướng.

Thịt bò hơi dai. Tôi nhỡ mồm hơi chê món ăn. Tôi đã hoàn toàn quên người nhân viên đường sắt.

“Vâng, xin chị cho tôi một cốc bia nữa. Bây giờ tôi có thể nói chuyện với anh nhà được không? Để chúng tôi làm quen với nhau một chút chứ!”

“Nhà tôi đã ra ga, tàu chạy lúc 9 giờ tối. Tôi lại côi cút rồi.” Và cô ấy cười. Có lẽ sẽ không bao giờ tôi có dịp được làm quen với chồng cô.

Mười rưỡi đêm. Tôi thấy mệt, cũng muốn học nữa, nhưng học không vào. - Luật dân sự có 1502 điều - sau 8 ngày tôi sẽ học xong. - Khoan đã, ta hãy thử tính xem sao! Tôi cộng tất cả các điều của những luật khác lại rồi làm phép chia đơn giản và thấy là chậm nhất là sau một tháng tôi sẽ học xong hoàn toàn! Dù vẫn còn thấy bồn chồn hồi hộp, tim đập mạnh và chưa muốn ngủ ngay, nhưng tôi sẽ đi nằm để nghỉ ngơi. Tôi sẽ mang đèn và sổ ghi chép đến bàn ngủ bên cạnh giường. Tôi sẽ suy nghĩ.

Tôi bỗng giật nảy mình - khiếp! Tôi đi đến giường và thấy có cái gì nằm ở đó. Chỉ thấy hai cái hình tam giác nhỏ đang nhô lên - hai cái tai con mèo! Nó đang nằm, nhưng lúc này nó ngẩng đầu lên nhìn tôi.

Làm sao bây giờ? Giá mà tôi biết dọa mèo như thế nào. Không, tôi không muốn dọa nó, nhưng làm sao để đuổi nó đi được? - Xì, xì! - Chậc, chậc! Nó giương mắt nhìn tôi như thể không có chuyện gì xảy ra. Chíp, chíp - ấy xin lỗi, từ ấy chắc là để gọi chim! - Đi đi! - Có đi không hả? - Ra kia! - Xéo! Lúc này thì nó thôi không thèm nhìn tôi nữa mà gục đầu xuống ngủ tiếp. Làm sao đây?

Nghe nói thú dữ thường sợ lửa. Tôi bèn gì cái đèn lại gần, sát đến tận con mèo, nhưng nó chẳng hề nhúc nhích, chỉ hơi nheo mắt, tôi nghĩ là nó đang cảm thấy khó chịu.

Giày! Chiếc giày! Tôi ném không trúng con mèo, nhưng nó đã nhảy vụt xuống sàn và chạy ra gần cửa. Tôi mở hé cánh cửa, nó lách ngay ra ngoài. May quá, nhờ trời!

Bên ngoài cửa lại có tiếng hỏi tôi muốn gì. “Không.” Nhưng mà thấy tôi mở cửa. - “Tôi chỉ đuổi con mèo thôi!” Vậy cứ bảo nhé, nếu muốn gì. Rằng khi chỉ có một mình ở nhà thì cô ấy thấy khó ngủ và cảm thấy buồn buồn chan chán thế nào ấy. Tôi không trả lời. Bên ngoài vang lên tiếng cười bí ẩn.

Tôi nghe thấy tiếng chim họa mi. Trời ơi, sao mà tuyệt thế, mà hay thế! Ôi, chim họa mi! Tiếng hót mới ngọt ngào làm sao! Cái họng nhỏ bé của nó mới kỳ diệu làm sao! Ôi, nàng Philomela[38] thần thánh được hàng nghìn thi sĩ ngợi ca! Hỡi ca sĩ của mùa xuân, hỡi ca sĩ của tình yêu, hơi ca sĩ của khoái cảm!

Người nào giam cầm và cướp tự do của những con chim như vậy là kẻ tàn bạo nhẫn tâm! Chỉ khi con chim hoàn toàn tự do, tiếng hót của nó mới thánh thót tự nhiên. Tôi ca ngợi những luật... Ôi, tiếng hót của nó ngọt như mật vậy! Tôi ca ngợi những điều luật bảo vệ các loài chim biết hót.

Nhưng tôi chợt thấy con họa mi chuyển sang hót tiếng nghe hơi chối tai, - hót khác đi chứ, chim yêu quý! Nó không chuyển. Này, có im đi không! Hót gì mà làm người ta đinh tai nhức óc thế!

Tôi lăn xuống sàn nhà. Thế này thì tôi phát điên mất - tôi run bắn cả người! À, nếu đóng cửa sổ ở phòng bên thì sẽ không nghe thấy tiếng nó... Vô hiệu! Con chim đáng nguyền rủa ấy dứt khoát phải đang đứng ở chỗ nào đó ngoài sân... Súng, khẩu súng! Giá mà có khẩu súng thì tôi sẽ bắn qua cửa sổ, mặc cho tất cả hàng xóm giật mình! Đem mà bắn cái của nợ đáng nguyền rủa ấy đi!

Ối trời đất ơi! Óc tôi muốn long ra! Không, tôi không chịu nổi được nữa rồi. Giá mà tôi biết nó đậu ở đâu thì tôi không ngại gì, tôi sẽ mặc quần áo để... A! Tôi nghĩ ra rồi! Tôi lôi cái áo khoác cũ từ trong tủ quần áo ra, xé lần vải lót, kéo bông đệm ra rồi nhét đầy tai. Bây giờ thì cho mày cứ sủa!

Nhưng vô hiệu! Tôi vẫn nghe thấy tiếng chim. Tôi kéo hết bông ra, nhồi vào tai, ấp lên đầu rồi lấy khăn quàng dày quấn quanh đầu. Hoàn toàn không có hiệu quả gì, tiếng chim inh ỏi đinh tai chắc chắn đủ xuyên qua tường dày của pháo đài!

Đêm nay chắc sẽ là đêm rất khủng khiếp đây!

Đã mười giờ sáng rồi mà bây giờ tôi mới dậy! Đầu tôi nặng trĩu. Không biết tôi đã thiếp đi vào lúc nào, có lẽ vào quãng gần ba giờ. Tôi chập chờn ngủ từ lúc hai giờ đến ba giờ sáng, con họa mi vẫn cứ hót inh tai. Họa mi ở bên Thành phố Cổ đâu có hót như vậy. Có lẽ tôi bị sổ mũi. Tôi thấy ngưa ngứa và đau trong mũi. Bầu trời tối đen, không khí lạnh khó chịu. Nhiều khi vào mùa hè mà ngay cả trời tháng bảy cũng giống như trời tháng mười một, có những cơn mưa lạnh, lá cây rơi và cái lạnh toát người.

Cô chủ hộ bảo tôi đi sang phòng bên vì cô ấy sẽ dọn dẹp. Cô ấy sẽ lại mở cửa sổ và tôi có thể bị sổ mũi nặng hơn - thế thì không thể được! Trong lúc chờ, tôi sẽ sang nhà anh họa sĩ ở phía đối diện. Tôi có nghĩa vụ làm cho vợ anh họa sĩ không phải xấu hổ nữa, ai cũng phải có thể diện mà. Khi họa sĩ đã tới thăm tôi thì tôi cũng phải đến thăm anh ấy; tôi biết cách đối nhân xử thế mà!

“Hôm nay sang nhà vợ chồng anh Augusta được,” cô chủ hộ của tôi nhận xét, “hôm nay chị Augusta nói ngọng.”

Cái cô Vilhemová này nói chuyện mới lạ đời! Hôm nay “nói ngọng” là nói thế nào? Ai đã nói ngọng thì cứ ngọng mãi chứ!

Tôi gõ cửa. Lắng nghe. Không ai lên tiếng. Tôi lại gõ. Lại không. Tôi thận trọng cầm tay nắm cửa, nhưng cánh cửa đang hé mở. Cả gia đình đang ở ngay phòng ngoài.

“Tôi xin lỗi...”

Không ai để ý đến tôi. Anh họa sĩ ngồi bên giá vẽ, tay chống cằm, chị vợ đứng cúi đầu bên tủ ngăn kéo đựng quần áo, trong tay cầm mảnh giẻ lau. Chỉ có Pepík ngẩng lên nhìn tôi, thè lưỡi rồi lại quay sang nhìn từ bố đến mẹ. Tôi phải tỏ ra là mình không để ý gì đến cư xử hỗn láo của Pepík, chắc rồi tự nó sẽ phải thôi. Con chó nhỏ màu đen đến ngửi ngửi tôi; nó không sủa, chắc là còn bé quá.

“Tôi xin lỗi...”, tôi nói to hơn.

“À, anh hàng xóm - anh thứ lỗi cho, tôi cứ tưởng là bà giúp việc đến. Mẹ nó ơi, anh luật sư bên nhà cô Vilhemová! Hôm nay chúng tôi nấu súp khoai tây - tôi có thể ăn xúp khoai tây ngày ba bữa được - chúng tôi đang nghĩ không biết có nên cho hạt yến mạch vào đó không. Mời anh ngồi.”

Tôi phải bắt đầu thật khéo léo:

“Ấy, tôi có phải là người lạ đâu ạ, tôi đã biết anh, biết cả cháu đây nữa, và chị thì tôi cũng đã nhìn thấy rồi. Thưa chị, xin được tự giới thiệu, tôi là luật sư Krumlovský.”

Người thiếu phụ tóc hoe với khuôn mặt gầy gầy nhàm chán vụng về cúi đầu. Trông chị ta như con rối gỗ có khớp, tự nhiên ngả nửa thân xuống. Chị ta lắp bắp:

“Vâng, vâng... nhà tôi đây bảo tôi... là anh hơi giận tôi - hé hé, hàng xóm với nhau thì thế có sao đâu!” Chị ta lại cúi xuống như thể bị gẫy nửa người.

Họ mời tôi ngồi xuống và hỏi tôi có thích phòng trọ mới không. Tôi nói là rất thích, nhưng mà đêm hôm qua... và tôi kể về tiếng hót của con chim họa mi.

“Ừ, ừ, chim họa mi, nhưng tôi không nghe thấy!”

“Ngáy như sấm thì làm sao mà nghe thấy được!” Chị vợ nói chen vào bằng giọng soprano sắc như dao.

“Tôi á? Ừ, cũng có ngáy một tí...”

“Ồ, một tí! Thế còn cái này cũng là một tí hả? Luật sư ạ, anh xem này!” Chị Augusta vén tay áo, tôi trông thấy các vết tím bầm. “Tôi... tôi đã có thể tha... tha hồ chọn, bao nhiêu đàn ông điên... điên cuồng vì tôi, thế mà tôi lại đi lấy... cái đồ này!”

Vợ họa sĩ rõ ràng có cách cư xử của những người đàn bà bán hàng ngoài chợ. Tôi thấy bối rối, lúng túng. Nhưng tôi cũng để ý thấy là quả thật chị ta líu lưỡi. Bây giờ thì chị ta tiếp tục lau bụi ở tủ, cứ như là không có tôi ở đây.

“Ấy, tôi đã lâm vào cảnh hơi khó xử, luật sư ạ,” anh họa sĩ phân trần và cố mỉm cười, nhưng có vẻ khó khăn. “Đúng là tôi đã có mặt ở sáu quán thật, nhưng mà ở quán nào tôi cũng chỉ uống có một cốc rồi đi ngay. Về mặt này thì tôi là người không được may mắn lắm. Tôi là người tốt, nhưng khi uống vào thì tôi thành người khác, người ấy uống tiếp rồi làm chuyện lung tung. Nhưng tôi nào có liên quan gì đến người ấy đâu, phải không luật sư?” Anh ta cười gượng gạo.

“Uống có khi không có hại, thỉnh thoảng còn tốt cho sức khỏe nữa, Luther nói là[39]…”, nhưng tôi chợt giật mình vì cái gì mình định nói nên ngừng lại. Tôi cũng cảm thấy là chỉ một li nữa thì cái giẻ lau bay đến đầu tôi. “Hôm qua con họa mi hót làm tôi khổ sở không ngủ được,” tôi thận trọng chuyển đề tài. Ở phía dưới chân, con chó con đang nhay nhay ống quần tôi. Không muốn đá nó ra, nhưng tôi cũng không thể ngồi thoải mái được.

“Ấy, anh phải nghe tôi cơ... thì lúc ấy mới thật hay, Anna nhỉ?” Anna - vợ anh - im lặng. “Tôi biết gõ nhịp như tiếng chim họa mi. Có khi tôi gọi được đến năm sáu con tới cơ đấy, lúc ấy thì thật đúng là buổi hòa nhạc. Rồi anh sẽ thấy.”

Nếu lúc nào thấy anh ta tụ tập chim họa mi làm buổi hòa nhạc thì tôi sẽ bắn chết anh ta.

“Tôi tưởng anh vẽ phong cảnh, hóa ra anh vẽ người.” Tôi thấy một hình người ở bức tranh trên giá vẽ.

“Tôi phải vẽ tranh các Đức Thánh để kiếm sống. Ba loại lễ phục, hai màu xanh đỏ, một tí da thịt nữa là xong; nhưng cũng chẳng kiếm được là bao. Đúng ra thì tôi vẽ chân dung. Trước đây có rất nhiều việc, có hồi tôi còn vẽ cho tất cả dân ở Thành phố Do Thái. Thật ra cũng không kiếm được nhiều, vẽ chân dung cả người cho một người Do Thái cũng chỉ được hai mươi đồng tiền vàng thôi. Nhưng rồi có một gã người Đức cũng đến vẽ, thế là hắn cướp sạch hết khách của tôi. Á, tôi nghĩ ra rồi! Tôi đang phải vẽ tranh Đức Thánh Kryšpín, hay là luật sư ngồi làm mẫu cho tôi nhé! Trông anh có một cái gì đó hợp với việc làm người mẫu cho Thánh Kryšpín đấy!”

Tôi, “có cái gì đó” là cái gì nhỉ? Tôi chuyển sang chuyện khác, chuyển sang Pepík, tôi muốn chiếm cảm tình của nó.

“Pepík ơi, lại đây với chú!”

“Ứ, chú là người ngu!”

Pepík lĩnh luôn cái bạt tai của bố. Tôi cảm thấy đỏ mặt. Đứa trẻ gào lên khóc:

“Thế lúc sáng cô Wilhemová chẳng bảo mẹ là chú ấy ngu ngu thế nào ấy là gì! Phải không mẹ?”

“Mày có câm đi không hả?”

Sao cơ? Tôi mà ngu ư? “Ra đây với chú, Pepík, ra đây!”, nhưng giọng tôi tắc trong cổ. Thằng bé thôi khóc và đến đứng len giữa hai chân tôi. Nhanh lên, chơi với trẻ con như thế nào nhỉ? “Cháu đưa tay ra đây! - Ông này nấu - ông này rán - ông này nướng - ông này bảo: cho tôi một miếng! - ông này nói: cho miếng gì? - cho miếng gì? - cho miếng này!” Pepík không cười. “Đây là bố - đây là mẹ - đây là ông - đây là bà - đây là…”[40] Tôi không biết tiếp nữa là gì. Cái thằng bé này quả thật là một đứa trẻ khù khờ. “À, khoan đã, chú đố cháu một câu đố nhé!

Nó là cái gì: có màu xanh, nhưng không phải là cỏ; hói đầu, nhưng không phải linh mục; có màu vàng, nhưng không phải là sáp ong; có đuôi, nhưng không phải là con chó. Nó là cái gì hả Pepík?”

“Cháu không biết!”

Tôi muốn nói cho thằng bé biết, nhưng bây giờ thì chính tôi cũng không biết nó là cái gì. Tôi chỉ nhớ câu đố, nhưng không nhớ lời giải. “Thế thì chú nói thêm cái gì ngu ngu vậy,” Pepík gợi ý cho tôi.

Làm như không nghe thấy nó nói gì, tôi đứng dậy chia tay:

“Tôi phải về để học đây. Có lẽ cũng sắp mười hai giờ rồi.”

“Đã làm gì đến!” Anh họa sĩ nói. “Đồng hồ nhà này chắc chạy nhanh ít nhất nửa tiếng.”

“Làm gì có thế!”, cô Anna Augusta chát chúa, “hôm qua, khi đồng hồ ở trên tháp điểm giờ, tôi đã lấy cán chổi chỉnh lại rồi kia mà!”

Cả hai nói là họ rất lấy làm hân hạnh và bảo tôi hãy thường xuyên đến chơi. Rằng chắc chắn chúng tôi sẽ là những người hàng xóm tốt của nhau!

Nhưng bây giờ thì tôi muốn biết vì sao tôi ngu!

Ngoài hành lang, tôi gặp một người phụ nữ, có lẽ đó là cô con gái ông chủ nhà. Cũng có vẻ không còn trẻ.

“Thế nào, có ngọng không?” Cô Vilhemová hỏi tôi.

“Ngọng.”

“Vậy là hôm nay họ có tiền đấy! Chứ khi không có một xu nào thì nói năng bình thường, chẳng ngọng tí nào.” Xem ra, cô chủ hộ của tôi rõ ràng có cái mồm rất hay nói xấu. “Lúc luật sư đi dọc hành lang về đây, ông Provazník thò đầu ra ngoài cửa sổ để nhìn anh đấy.”

Tôi nhìn lên phía trên và có cảm giác là ngoài khuôn mặt mọng và vàng như sáp ong, tôi không nhìn thấy gì hơn. Cô Vilhemová hỏi tôi có muốn gì không. Tôi hơi cau có trả lời: “Không.” Cô ấy hỏi có thể để Kačenka ở phòng tôi một lát được không, rằng cô ấy phải đi ra cửa hàng, nhưng sẽ về ngay. Cô ấy muốn để Kačenka ở phòng tôi, vì nếu phải ở nhà một mình thì nó sẽ khóc.

“Nhưng tôi có biết bế trẻ con đâu!”

“Tôi chỉ đặt nó lên giường thôi.”

“Thế nếu nó khóc thì sao?”

“Ấy không đâu, nó không khóc, nếu nó thấy có người ở gần.”

“Thế nếu nó sẽ làm cái gì...?

“Ôi giời, tội nghiệp con bé!”

“Vâng, tội nghiệp con bé!”

Tôi rất lấy làm khó chịu.

Tôi tự hứa sẽ gây ảnh hưởng đạo đức tới Pepík.

Có một lần tôi đã đọc Các suy nghĩ tốt của Burnand. Nhưng những “lời tự hứa” của tôi là cái hoàn toàn khác hẳn, tôi không muốn bắt chước ông ấy.

Tôi đã không nghĩ là ngày hôm nay tôi sẽ lại học được như vậy, tôi thấy hài lòng, nhưng mệt kinh khủng - tôi sẽ đi ngủ. Không thấy con họa mi lên tiếng, chắc là nó bị rét cóng rồi. Nhờ trời!

Nhưng tôi vẫn muốn biết tại sao lại bảo tôi ngu.

Tôi nhận được thư của bạn học cũ. “Mình chúc mừng cậu trước nhé! Mình nghĩ là cậu sẽ tiếp thu lời khuyên bảo của bạn học cũ. Đúng vậy, mình có nghĩa vụ của người anh em, khi có kinh nghiệm gì tốt thì phải nói để cậu biết. Khi đi thi, trước hết là phải bình tĩnh! Kiến thức thì cậu có nhiều, mình tin như vậy, nhưng mình cho rằng cái bình tĩnh có giá trị gấp đôi tất cả các kiến thức. Các thầy thường hay ra các câu hỏi cần phải suy luận, và nếu cậu không nghĩ được ra cái gì để trả lời thì thầy sẽ hỏi: “Khi một người nào có vấn đề như vậy đến gặp anh, thì lúc đó là luật sư anh sẽ làm gì?” Cậu hãy trả lời nghiêm chỉnh: ‘Em sẽ yêu cầu ông ấy đưa tiền đặt cọc.’ Cậu hãy tin mình, thầy sẽ...”

Đồ ngu xuẩn! Tôi không thể chịu được việc một ai đó luôn luôn muốn làm người dí dỏm sắc sảo bằng các truyện cười cũ rích. Không phải ngẫu nhiên mà ngay từ hồi còn ở trường chúng tôi đã gọi hắn là Ba Hoa! Vâng, hắn rất ba hoa! Nhưng cái này hoàn toàn do lỗi ở tôi, tại sao mà tôi lại lẩn thẩn đi viết cho hắn về việc tôi đang chuẩn bị thi, và còn lịch sự viết thêm “Nếu cậu có lời khuyên tốt nào…” Tôi không cần lời khuyên của bất kỳ ai trên đời, nhất là lời khuyên của hắn thì lại càng không. Tôi sẽ không viết thư trả lời hắn!

Tôi bị sổ mũi nặng. Tôi thấy lạnh trong người, đầu rưng rức, nước mắt giàn giụa. Tôi lấy làm lạ là mặc dù vậy tôi vẫn còn học tốt và ăn vẫn thấy ngon.

Thôi, học tiếp đi thôi.

Ông chủ nhà đến gặp tôi. Đó là một người đặc biệt, cỡ tuổi sáu mươi. Người ông ấy mảnh, ngực lép và hai bờ vai rất trễ, như thể mỗi tay xách một thùng nước, thành ra trông ông có vẻ nhỏ hơn so với thực tạng. Hai má gầy gò cạo nhẵn nhụi, đôi môi xẹp vì răng đã rụng, cái cằm nhỏ xíu, cái mũi bé và bẩn, tóc đã bạc, nhưng hai con mắt đen thì sáng rực như trong cơn sốt. Đôi tay gầy đã nhăn nheo của ông huơ huơ không yên, có lúc làm co cả người lại. Khi nói thì gần như nói thầm. Ở bên cạnh ông ấy, người ta có cảm giác bất yên, như là có gì đó có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Ông nói là đến hỏi xem tôi đã báo địa chỉ mới cho cảnh sát chưa. Tất nhiên là tôi đã quên. Vậy thì tôi phải đi báo. Ông bảo rằng ông rất vui khi họa sĩ đã nói với ông về việc tôi sẽ chơi bài với họ. Tôi gật đầu khẳng định. Nhìn thấy tôi bị sổ mũi, ông ấy bảo: “Có nhiều người khi khỏe mạnh không biết sức khỏe là gì.” Nhận xét ấy xem ra không được sắc sảo cho lắm, tôi mỉm cười lịch sự và trả lời ngắn gọn: “Vâng!” Im lặng. Sau đó tôi nói tôi hi vọng rằng ông ấy luôn mạnh khỏe. Ông ấy trả lời không được khỏe lắm, hay bị đau họng và phải cẩn thận giữ gìn. Nói đoạn, ông húng hắng ho mấy tiếng và nhổ nước bọt xuống đúng vào giày tôi. May là ông ấy không để ý thấy, khỏi phải xin lỗi ngượng nghịu. Tôi giấu chân xuống gầm ghế. Ông ấy hỏi tôi có năng khiếu âm nhạc không. Không, tôi không có khiếu âm nhạc, nhưng khi còn bé tôi đã chơi đàn piano, có điều tôi không học được gì cả. Tôi mỉm cười và nói thêm, như thể nói về một điều hiển nhiên:

“Vâng, tôi nghĩ không có người Séc nào mà ít ra không biết một chút về âm nhạc.”

“Thế thì tốt, thế thì tốt! Chúng ta sẽ chơi bốn tay. Mùa hè nào tôi cũng đem ra vườn cái đàn spinet, nó cũ nhưng còn tốt. Chúng ta sẽ chơi giải trí ở đó. Thế thì tốt!”

Tôi cảm thấy mình phải lùi lại. “Piano ư? Không, tôi không chơi piano... tôi... violon.”

“Cây đàn của anh có tốt không?” Ông ấy đảo mắt nhìn lên tường tìm xem tôi treo đàn ở đâu. Tôi lại lùi bước nữa:

“Đã lâu rồi tôi không chơi... người ta thường bận bịu vì cuộc sống hàng ngày,... người ta...”

“Hoài của!”

Ông ấy đứng dậy, nói là không muốn làm bận tôi. Rằng ông ấy không thuộc loại những người chủ nhà không quan tâm đến quyền lợi của người thuê nhà. Nhưng ông ấy còn có một điều nữa muốn chia sẻ. Ông ấy hỏi tôi có nghĩ rằng ông Bismarck là nguyên nhân của mọi vấn đề ở Tây Ban Nha không. Ông ấy đứng sát tôi, trên mặt lộ rõ vẻ ranh mãnh. Tôi trả lời là hoạt động của các nhà ngoại giao thường khôn lường. “Đúng vậy,” ông chủ nhà gật gù, “không thể di dịch khúc gỗ giống như di dịch que diêm được.” Bây giờ thì ông ấy giẫm mạnh lên chân phải của tôi và nói thêm: “Tôi vẫn bảo là các nhà vua không bao giờ hài lòng với những cái gì họ có.” Tôi không phản đối gì cả, chỉ lịch sự mỉm cười. Ông ấy chia tay.

Một diễn giải ngây thơ - nhưng về thực chất thì đúng. Những người như ông ấy diễn tả lời hay ý đẹp và kinh nghiệm của mình qua các ngạn ngữ, chúng ta không nên khó chịu và đánh giá thấp những ngạn ngữ thể hiện ý kiến, dù là không lớn, của mỗi cá nhân. Tôi nghĩ một sưu tập “Ngạn ngữ cá nhân” có thể sẽ là sưu tập rất thú vị.

Nói chung, tôi thấy hài lòng về ngày hôm nay. Bây giờ tôi đi ngủ.

Chim họa mi có hót, nhưng ở chỗ nào đó xa xa. Ở đấy thì nó có sủa cũng được. Nhưng nếu anh họa sĩ mà gọi nó đến thì tôi sẽ làm ầm lên. Dĩ nhiên là làm ầm một cách lịch sự, chỉ cho mọi người thấy là không phải tôi chịu để ai muốn làm gì cũng được. Tôi hi vọng là họa sĩ đi quán đang vội trở về nhà, chẳng gì thì ngày hôm qua vợ anh đã nói ngọng.

Tôi có cảm tưởng là hôm nay cô chủ hộ Vilhemová đã không hỏi nhiều lần xem tôi có cần gì không. Tất cả mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy thôi. Cũng có thể là tôi nghĩ nhầm, khi mà tôi mải mê học!

Sổ mũi và học các bộ luật. Tôi vùi đầu học đến mức hoàn toàn không biết về cái gì khác trên đời. Chỉ nhận thấy là cô chủ hộ ít hỏi hơn trước xem tôi có cần gì không. Hôm nay cô ấy bảo về bản chất tôi là người tốt bụng và chắc chắn trời sẽ phù hộ tôi. Chả là cô ấy đưa vào bếp một người đàn bà, nghe bảo là vợ góa của một ông thợ giày, mẹ của hai đứa trẻ; bà quả phụ ấy than vãn về cái khổ của mình và tôi đã cho bà ấy một zlatý. Nhờ trời, trên đời này vẫn còn người tốt bụng! Trời phù hộ cho anh!

Con mèo cũng không đến chỗ tôi, kể cả khi cửa mở toang. Nó chỉ đứng meo meo ở bên cạnh. Rõ ràng là nó không tin tôi.

Tôi nhớ ra là cho đến bây giờ tôi vẫn chưa nhìn thấy chồng cô chủ hộ. Suốt thời gian ấy đã có lúc nào anh ấy ở nhà không?

Trong cà phê có trộn củ bồ công anh! Dứt khoát là tôi không nhầm, cà phê có trộn bồ công anh - kinh quá! Chắc chắn một cái gì đó đã phải xảy ra.

Tôi học phần cuối Luật dân sự vội vàng hơn, giống như con ngựa đua chạy gần tới đích.

Trong cà phê lại có bồ công anh, tôi nghĩ là nhiều hơn hôm qua, và cô chủ hộ không hỏi tôi một lần nào. Ít ra thì tôi được yên tĩnh. Ngày hôm qua cô ấy lại dẫn đến tôi một bà góa khác, nghe bảo cũng là quả phụ của ông thợ giày, có con. Bà ấy bảo rằng nghe nói tôi là người vô cùng tốt bụng. Thế là lại một zlatý nữa.

Pepík bị đánh rất đau, nó gào inh cả nhà. Tôi hỏi cô chủ hộ nó đã làm gì mà bị đòn.

“Có làm gì đâu, nó mua hạt hạnh nhân nhưng bố nó ăn hết. Không ai có thể tin được là hắn háu ăn đến mức nào!” Cô nói.

Pepík càu nhàu, thế là bố nó đánh. Tôi thương hại thằng bé.

“Thương với xót gì, thằng ấy là đồ vô tích sự.”

Nghe nói vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh năm ngoái nó dám lấy cắp tiền xu từ đĩa để trên mộ chúa ở nhà thờ Kajetán.

Vâng, tôi phải gây ảnh hưởng đạo đức đến Pepík! Lúc nào rảnh một chút là tôi làm ngay. Hoài của một đứa bé kháu khỉnh như nó, bố nó rõ ràng là người không bình thường, không đảm đương được nghĩa vụ dạy dỗ của người cha. Ngày còn bé, George Washington cũng chẳng phải là đứa trẻ mẫu mực gì, nhưng có được người cha thông thái. Ông trời đúng ra phải ban cho trẻ nhỏ khả năng sớm nhận biết, xem cha của chúng có giống cha của ông George Washington không; trong trường hợp ngược lại thì chúng không nên bám giữ lâu ông bố không ra gì ấy làm gì, mà nên bỏ đi tìm nơi khác. (Đó là lời chỉ dẫn cho Mark Twain, người có cư xử giống George Washington và đã muốn nhắn nhủ cha mình.)

Anh họa sĩ đến gặp tôi, nói là chỉ ghé qua một tí thôi. Anh ấy hỏi tôi có muốn ngồi làm mẫu để anh vẽ Thánh Kryšpín không. Tôi trả lời bây giờ tôi phải ngồi học. Tôi nhận thấy tôi đang dần dần trở thành người dứt khoát hơn.

Tôi đã học xong Luật dân sự rồi! Ngày mai tôi sẽ bắt đầu học Quy định về tiền tệ. Tối nay chắc tôi sẽ ngủ rất ngon!

Sáng hôm sau, với ý thức là đã học xong Luật dân sự, tôi tự đặt cho mình câu hỏi. Nhưng tôi đã không trả lời được, tôi hoàn toàn không nhớ, không biết một tí gì! “Ôi trời đất ơi!”, tôi kinh hoàng kêu lên và ôm chặt lấy đầu. Tôi thấy mình đột nhiên nhợt nhạt cả người.

Cô chủ hộ chạy vào hỏi tôi làm sao.

“Tôi chẳng biết cái gì cả!”, tôi nói một cách ngốc nghếch.

“Vâng, tôi cũng nghĩ thế,” cô ấy tuyên bố rồi phá lên cười và chạy ra ngoài.

Cô ấy thật là một người đàn bà vô cùng xấc xược!

Nhưng bây giờ thì tôi bình tĩnh hơn. Vì theo kinh nghiệm học trước đây, tôi biết rằng bao giờ cũng vậy, những gì đã học rồi cũng phải chờ một chút mới thấm, mới nhớ được.

Mà cái đó có liên quan gì đến câu khẳng định hôm trước là tôi ngu không nhỉ? Không, đây không phải là cái ngây thơ nữa, đây hoàn toàn là sự xấc xược!

Hai bà quả phụ của ông thợ giày - đúng ra thì một trong hai người ấy là quả phụ của ông thợ may. Xem ra cô chủ hộ muốn đưa đến tôi tất cả các bà góa khóc chồng ở bờ bên trái sông Vltava!

Bước ngoặt! Bước ngoặt cực kì mà tôi đã không dám mong đợi. Bước ngoặt trong thiên nhiên và cả trong xã hội. Bước ngoặt thứ nhất là bắt đầu có những ngày đẹp, ấm áp và vui vẻ. Trời ấm áp đã làm tôi không sổ mũi nữa. Bước ngoặt thứ hai là tôi đã chán ngấy cà phê trộn củ bồ công anh của cô chủ hộ. Bây giờ tôi vừa uống xong cốc cà phê tôi tự pha trên bếp cồn. Từ nay trở đi tôi sẽ tự pha lấy cà phê. Tôi cũng thay đổi nhiều việc khác. Cô chủ hộ chỉ mang cơm trưa lên phòng cho tôi thôi, còn đến bữa chiều thì tôi xuống ăn ở quán. Tôi không cần ai thương tình giúp đỡ, mà cô chủ hộ thì bây giờ cũng hoàn toàn không còn sẵn sàng giúp nữa. Mặc kệ cô ta, như thế càng tốt. Tôi thấy ngồi học mãi cũng không được vì sẽ mụ cả người, rồi học sẽ chậm vào. Ngày nào cũng phải học nhiều như vậy thì chỉ nên học khi nào có hứng nhất, sau đó cũng phải nghỉ ngơi giải trí một chút. Nhưng tôi lại không thấy hứng thú lắm cái việc giải trí thư giãn giữa những người trầm lặng ở dưới quán! Tôi tự nhủ ngày nào cũng sẽ ra vườn, ít ra là một lúc. Hai ngày nay tôi đã thấy có người dạo chơi ở đó rồi. À, hay là buổi sáng dậy sớm rồi ra vườn học nhỉ? Như thế thì học sẽ rất thoải mái, tôi còn nhớ như in những năm tháng ở trường trung học.

Tôi tự hứa là sáng nào cũng dậy sớm, thật sớm.

Tôi vừa đuổi một bà quả phụ mới của ông thợ giày!

Tôi rất thích quán ăn như thế này! Nó không náo động ồn ào nhưng ta vẫn có thể thư giãn vui vẻ được, điều này rất phù hợp với những nhu cầu của tôi bây giờ. Không phải cố gắng tỏ ra thông minh sắc sảo, chỉ cần quan sát và lắng nghe mọi người. Họ là những người bình thường giản dị, nhưng đều có cá tính, có hiểu biết, hài hước hóm hỉnh rất tự nhiên và hài lòng cả với câu đùa chả có gì hài hước. Cái gì họ cũng cười một cách vô tư. Nhưng để chuyện trò vui vẻ lịch sự với họ thì ta phải là nhà tâm lý học, phải hiểu được từng cá tính. Tôi có năng khiếu về việc đó.

Quán ăn là một căn phòng sạch sẽ và thân thiện, chỉ hơi tối một chút. Ở phía sau, có một bàn bi-da đặt chính giữa, xung quanh có các bàn nhỏ kê sát tường. Phía trước có một số bàn, trong đó ở bốn bàn đã có người ngồi. Suốt cả buổi tối, tôi thấy là thực khách của quán đều là khách thường xuyên, có lẽ hàng bao năm nay không thay đổi. Tôi nhận thấy điều đó ngay lập tức khi tôi bước vào quán. Tất cả mọi người đột nhiên im bặt, mọi cặp mắt đều hướng về phía tôi.

Tôi cúi đầu chào về mọi phía rồi ngồi vào cái bàn lúc đó đã có một người đàn ông. Anh ấy lặng lẽ gật đầu chào lại. Ông chủ quán, người bé nhỏ và hay lôi thôi, đến ngay chỗ chúng tôi.

“A, luật sư! Thế là rồi cuối cùng anh cũng xuống đây với chúng tôi, hân hạnh quá. Thế nào, anh có thấy vừa lòng với cơm nước ở đây không?” Tôi trả lời là hoàn toàn hài lòng; dĩ nhiên là tôi có thể chê trách nhiều thứ, nhưng có khi ta phải nói dối một chút để giành được cảm tình của mọi người.

“À, vậy thì tôi mừng, trên đời này tôi chỉ mong khách hài lòng, chứ chẳng mong gì hơn. Thế hai người chắc biết nhau rồi nhỉ?” Tôi ngước nhìn người đàn ông xa lạ với khuôn mặt xấu xí không động đậy đang chăm chăm về phía trước.

“Vẫn chưa ư? Nhưng các anh là hàng xóm với nhau, người ở tầng dưới, người ở tầng trên kia mà! Đây là luật sư Krumlovský, còn đây là anh Sempr, thợ may.”

“À ra vậy,” tôi nói và đưa tay về phía người đàn ông ngồi cùng bàn tên là Sempr. Người thợ may hơi ngẩng đầu, dịch ánh mắt ra thêm một khoảng nhỏ nữa trên bàn, rồi vụng về như con voi nhấc bàn chân của nó, anh đưa tay cho tôi. Một người lạ lùng!

Nhưng người hầu bàn đã tới. Tôi thích người hầu bàn là đàn ông, vì nữ hầu bàn bao giờ cũng có ít nhất một bạn trai, rồi họ cứ ngồi thủ thỉ với nhau ở góc nào đấy, mặc cho thực khách gõ bàn gọi chán chê.

Trong lúc ăn chiều tôi không nhìn gì, không nghe gì cả. Nhưng khi đã ăn xong và châm xì gà hút thì tôi rất chăm chú để ý đến xung quanh. Ở bàn đối diện có mấy ông đang sôi nổi nói chuyện. Cách đấy một bàn có hai người trẻ tuổi. Bàn phía bên trái chúng tôi có một ông, một bà, hai cô gái và một ông thượng úy không còn trẻ lắm, người hơi béo. Ở tất cả các bàn đều có tiếng cười to giòn giã, đặc biệt ở bàn phía bên trái. Cô trẻ hơn trong hai cô gái đang nhìn tôi. Cô ấy có hàm răng đẹp, đôi mắt vui vẻ, vậy thì cứ để cô ấy nhìn! Người bố của cô gái có cái đầu đặc biệt trông như cái hộp, mớ tóc bạc ở trên được buộc túm lại.

Chỉ ở bàn của chúng tôi là im lìm.

“Thế nào, công việc làm ăn có khó không anh?”, tôi gợi chuyện. Anh Sempr hơi cựa mình rồi buông miệng: “Ờ,... được.” Xem ra có vẻ là người không nhiều lời.

“Anh có nhiều thợ không?”

“Chỉ có hai... tại nhà... tôi thuê thợ ngoài.”

Thế chứ! Vậy là cũng nói được một chuỗi lời!

“Chắc hẳn anh có gia đình rồi.”

“Không.”

“À, thế anh chưa vợ ư?”

“Không.” Anh ấy ngập ngừng rồi nói thêm: “Góa... ba năm rồi.”

“Hẳn anh đang nghĩ đến chị và các cháu.”

Lại ngập ngừng mãi mới nói: “Tôi có con gái, 7 tuổi.”

“Anh cần phải lại lấy vợ.”

“Vâng.”

Ông chủ quán đến ngồi ở bàn chúng tôi.

“Hay quá, ông chủ có nhã ý đến đây,” tôi nói.

“Đó là nghĩa vụ nhà nghề của tôi. Chủ quán phải đến ngồi từng bàn, khách thích thế, và họ coi đó là vinh hạnh rất lớn.”

Tôi muốn cười như cười một câu nói đùa, nhưng tôi lại nhìn vào mắt ông ta - đôi mắt lim dim lười biếng không có một tia sáng trí tuệ nào - ông ấy có thật sự nghĩ như thế không? Xem ra ông ấy có vẻ ngốc. Nhưng đôi mắt! Chưa từng bao giờ tôi thấy đôi mắt nào xanh nhạt như vậy. Da ông ấy đỏ và bộ tóc cũng đỏ như vậy, thành ra ta có cảm tưởng đó chỉ là chỗ tiếp tục lờm xờm của làn da. Hễ lùi lại một chút thì nhìn thấy đầu ông ta run run.

“Trời dạo này đang đẹp,” tôi nói để chuyện khỏi ngừng lại.

“Ôi chao, trời đẹp thì mọi người đi dạo chơi, quán lại vắng tanh. Chiều hôm nay tôi cũng ra phố, nhưng tôi lại về ngay. Lúc ấy nắng nóng đã chiếu vào lưng tôi, mà khi nắng nóng chiếu vào lưng tôi thì thế nào cũng có dông. Nhưng ngày hôm nay không có dông.”

“Đối với người đi dạo trong thành phố thì dông hoặc mưa không sao cả. Chỉ cần có cái ô là được.” Tôi cắn môi.

“Tôi đã không mang theo ô.”

“Vậy thì phải về nhà nhanh hơn.”

“Nếu đi nhanh hơn thì không phải là đi dạo!”

“Thế thì đứng tránh mưa ở chỗ nào đó nếu trời mưa.”

“Nếu đứng ở chỗ nào đó thì cũng lại không phải là đi dạo!”

Trời đất ơi, quả thật là đồ ngốc! Bây giờ ông chủ quán ngáp dài.

“Ông mệt à?”

“Không, hôm qua tôi đã đi ngủ sớm. Ấy thế mà hôm nay đã lại ngáp sớm vậy.”

“Hôm qua chắc là có ít khách.”

“Không, họ đã ngồi đây lâu. Nhưng hôm qua bia dở quá, cả tôi uống cũng không thấy ngon, thế thì ngồi lâu mà làm gì?”

Một kiểu người độc đáo!

Ông thượng úy ở bàn bên trái đang sôi nổi nói chuyện: “Tôi vẫn bảo là trong một nghìn người thì có một người không biết có bao nhiêu loại bạch mã! Mười bảy loại, vâng, mười bảy! Phải nói là loại Attlas là loại hiếm nhất! Con ngựa tuyệt đẹp! Xung quanh mắt và mõm nó trắng hồng. Móng nó vàng nhạt...”

Vừa lúc ấy, một người khách mới bước vào quán. Cứ theo cái im bặt và ánh mắt nhìn của mọi người, tôi thấy người đó là khách lạ tình cờ. Người đó đi về phía những cái bàn ở phía sau và ngồi xuống. Mọi người lại tiếp tục nói chuyện. Ông thượng úy giảng giải “con bạch mã khi mới đẻ ra là ngựa ô”. Cô gái trẻ hơn vẫn cứ nhìn tôi - tôi là một con bạch mã hay sao mà nhìn mãi?

Tôi cạn cốc. Ông chủ quán không đả động gì. Gã hầu bàn Ignác cũng không. Tôi gõ bàn và Ignác cuống cuồng chạy như điên đến. Tôi chú ý đến Ignác và luôn để mắt theo dõi hắn. Ignác có lẽ ở tuổi bốn mươi, đeo hoa tai bằng bạc kiểu cúc áo và bên tai phải có một nút bông. Trông hắn hơi giống Napoleón đệ nhất, nhưng mà giống như Napoleón đệ nhất cực ngốc. Hai mi mắt to của hắn thường nhắm lại sau từng khoảng thời gian dài làm cho ta có cảm tưởng nó như cái dấu ngắt câu trong dòng suy nghĩ. Nhưng tôi xin đánh cuộc là Ignác không suy nghĩ gì hết. Hắn dừng lại ở chỗ này chỗ kia rồi cứ đứng đó đăm chiêu; khi có ai gõ bàn thì hắn đột ngột co rúm người rồi chạy ngay đến đấy.

Bây giờ thì những người ở bàn đối diện đang nói về tiếng Ba Lan. Tôi để ý thấy họ có cách nói lạ lùng và xưng hô với nhau rất “dí dỏm”. Toàn là “mũi ơi!”, “tai ơi!” và còn đệm bằng cả tên của súc vật nữa - cách nói quả là lạ lùng. Một người trong bọn họ khẳng định rằng ai biết tiếng Séc và tiếng Đức thì cũng biết cả tiếng Ba Lan, rằng tiếng Ba Lan chỉ là thứ pha trộn giữa hai thứ tiếng kia.

Lại một người nào đó vào quán. Người ấy béo lùn, trông như gốc cây còn rễ. Xem ra ông ấy rõ là khách quen hàng ngày. Ông ấy mỉm cười và ngồi vào bàn chúng tôi.

“Đây cũng là ông hàng xóm,” chủ quán tiến gần giới thiệu, “Luật sư Krumlovský, còn đây là ông Klikeš thợ giày.”

Ông Klikeš đưa tay cho tôi:

“Đẹp trai, rất đẹp trai! Các cô gái chắc phải phát điên lên vì anh, luật sư ạ!”

Tôi lúng túng và cảm thấy mình hơi đỏ mặt. Tôi muốn tỏ ra tự nhiên, muốn mỉm cười nhìn xung quanh, thí dụ nhìn cô gái trẻ hơn kia, nhưng không được.

“Đẹp hơn hai cô,” ông chủ quán cười, “hơn hai cô có má lúm đồng tiền kia.”

Ông Klikeš di chân trên sàn nhà rồi nói:

“Ông mới bị khu phố ra lệnh rửa sàn nhà hay sao thế?”

Tiếng cười.

“Vâng, luật sư ạ, ngày trước ở đây không rửa ráy gì cả. Mỗi năm một lần có hai cảnh sát đến để dẫn chủ quán đi tắm. Có khi phải cần ba cảnh sát, vì ông ta chống cự quyết liệt.”

Mọi người phá ra cười. Ông Klikeš rõ ràng là vua khôi hài của quán. Ông ấy biết châm chọc đây, tôi cười thầm. Khuôn mặt thô thô sần sùi của ông ấy không có gì dữ tợn, đôi mắt ông ấy tinh nhanh và thẳng thắn.

“Ông chủ tiết kiệm là phải,” ông Klikeš nói thêm, “ông ấy cần nhiều thứ, tôi không kịp uống vì ông ấy.” Nói đoạn, ông lại cạn cốc. “Bây giờ thì cho tôi ăn chiều nhé.” Ông vừa nói vừa làm điệu bộ, hai tay hầu như lúc nào cũng giơ cao; trông ông ấy giống một cái gốc cây chống ngược rễ lên trời.

Hai người trẻ tuổi, cho đến bây giờ vẫn ngồi riêng, lúc này yêu cầu xếp bóng bi-da theo hình tam giác, rồi đứng dậy. Khi họ ngồi, cả hai cao như nhau, nhưng lúc đứng dậy thì một người rất thấp và người kia lại cao quá khổ. Tôi cũng có biết một người; ở trong quán ăn, khi người ấy khi ngồi ở bàn thì không có gì đặc biệt, nhưng khi đứng dậy thì khó khăn lắm, lâu lắm mới đứng dậy được làm cả quán phải bật cười. Bao giờ người ấy cũng cảm thấy vô cùng bất hạnh.

“Vẫn chẳng có món gì mới cả,” ông Klikeš xem thực đơn và phàn nàn, “Thịt bò sốt mềm, ớt, lòng gà hầm... lấy đâu ra mà lắm lòng thế, ông chủ?”

“Này im đi!”

“Giá mà có con gà luộc!”

“Nói dễ nhỉ! Đầu bếp nấu riêng cho ông hay sao?”

“Thì có gì là khó nào? Lấy quả trứng luộc rồi để cho con gà mái nó ấp, đơn giản mà! He he he!”

“Này, vén tóc cho gọn đi!” Ông chủ trả miếng, bởi vì ông Klikeš hói đầu.

“Suỵt! ông Karlíček bắt rận kìa!” Có tiếng nói ở bàn đối diện. Tất cả im lặng, quay đầu lại, hồi hộp. Người tên là Karlíček luồn tay vào ngực mình. Môi ông ta nở nụ cười bình thản, tự tin. Rồi ông ta rút tay ra, vo ngón cái vào ngón trỏ và đặt một cái gì đó lên bàn. Tiếng cười, tiếng vỗ tay, đàn bà con gái cắn vào khăn mùi xoa của mình.

“Con rận nào ông ấy cũng bắt được,” ông Klikeš thông báo.

Tôi tỏ ra ngạc nhiên và hỏi lại:

“Con nào cũng bắt được ư?”

“Vâng, con nào cũng bắt được! - Này Ignác, thức ăn của tôi đâu? Mang cho tôi một cốc nữa, tôi đã thôi uống đâu! Tôi không bao giờ uống xong,” rồi lại quay sang phía tôi. Có vẻ đó là câu nói đùa.

“He he, ông giỏi pha trò,” tôi nói và cười. Ignác từ bếp ra, trên mặt hắn lộ rõ vẻ đần độn:

“Thưa ông Klikeš, ông đã đặt món gì ạ?”

“Ối giời, thế có đoảng không! Hắn quên! Chẳng ở đâu lại có chuyện như ở đây! Tôi đã đặt... à...”, nhưng chính ông Klikeš cũng không nhớ ra, cả hai đều không nhớ ông đã đặt món gì.

Có tiếng của bà mẹ: “Nhà nào có hai cô con gái thì kể từ khi các cô vào tuổi hai mươi không bao giờ được cho mặc quần áo giống nhau nữa. Không thế thì không gả chồng cho cô nào được.” Bà ấy nói như vậy để mọi người biết rằng vẫn chưa cô nào trong hai cô con gái của bà ấy quá tuổi hai mươi. Nhưng tôi không tin điều đó.

“Anh luật sư để ý nhé, kẻo họ gạch thêm vạch cho anh đấy,” ông Klikeš nuốt miếng thịt bò và nói. “Ông chủ quán của chúng ta trước đây đã từng đi lính - hồi đó làm khách ở quán thì ông ấy thường giấu giếm xóa vạch trên khay, bây giờ làm chủ quán thì lại giấu giếm ghi thêm vạch - để cho cân bằng trong lương tâm mà.” Tôi cười, tất nhiên rồi. Tôi muốn lại chuyện trò với anh Sempr, nhưng chỉ biết thêm được là vào buổi sáng bao giờ anh ấy cũng đi quán rượu.

Ignác đứng như đóng đinh ở bàn bi-da. Hắn theo dõi bàn chơi một cách sôi nổi và ủng hộ người thấp hơn. Có khi hắn thích thú nhảy lên, bây giờ thì hắn đang nhảy lò cò.

Ông Klikeš đã ăn xong. Ông nhồi tẩu và châm lửa hút; trong ánh lửa lập lòe, mặt ông ấy giống như cái bễ lò rèn cũ. Ông ấy nhả khói và hài lòng đưa mắt nhìn xung quanh. Ánh mắt ông ấy dừng lại ở người khách lạ đang ngồi gần bàn bi-da. “Ông này chắc phải là thợ giày,” ông Klikeš tự nhủ và mỉm cười.

“Này, con rắn kia!” Ông ấy gọi to. Người khách lạ hơi giật mình, nhưng không nhìn sang.

“Ông thợ giày ơi!” Ông Klikeš lại gọi. Người khách từ từ quay mặt sang và tỏ vẻ tức giận:

“Lại có con ruồi lúc nào cũng say khướt của nhà hàng”, ông ta nói chậm rãi và nhổ bọt.

“Làm cái gì thế hả? Nhổ bọt vào đây hả?” Ông Klikeš đột nhiên bùng cơn giận dữ, “nhổ vào thị dân Praha hả?” Và hùng hổ đứng dậy. Ông chủ quán đẩy ông Klikeš xuống ghế rồi ra chỗ người khách lạ. Ông Klikeš đấm xuống bàn, nói rằng chưa từng bao giờ có ai trông thấy ông ấy say, rằng thỉnh thoảng có vì buồn phiền nhiều mà quá chén một tí thì việc gì đến ai, và cũng sẽ chẳng việc gì đến ai. Ông chủ quán dẫn người khách đi qua bếp ra ngoài. Ông Klikeš tiếp tục chửi mắng. Đột nhiên, bên ngoài có tiếng cãi cọ ồn ào.

Một lúc sau, ông chủ quán trở lại: “Ra đến bên ngoài rồi hắn mới nổi nóng định quay vào,” ông nói, “nhưng tôi kéo hắn ra đến đường. Tôi đẩy hắn đi như quẳng cái bao tải vậy.”

Quán ăn nhanh chóng trở lại nhộn nhịp ồn ào như trước. Bỗng nhiên có tiếng vỗ tay ở bàn đối diện. “Hoan hô, hoan hô! Ông Löfler sẽ làm con ruồi - ông Löfler ơi, làm con ruồi đi!” Cả quán vỗ tay. Ông Klikeš hỏi tôi đã trông thấy ai làm con ruồi chưa. Tôi nói chưa. Ông ấy cho tôi biết là trò đó rất vui, rằng tôi có thể cười đến vỡ bụng. Tôi đã nhìn thấy cái đó đến nghìn lần rồi; tôi nghĩ là trong quán ăn nào ở Praha cũng có người nào đó “làm” con ruồi. Tôi rất ghét cái trò ấy. Ông Löfler, người ngồi xoay lưng về phía tôi, từ chối, nói rằng quán vẫn chưa thật yên lặng. “Trật tự - trật tự - suỵt!” Mọi người im lặng và ông Löfler bắt đầu cất tiếng kêu vo vo. Lúc đầu bắt chước con ruồi bay trong phòng, rồi làm như nó bay chạm vào cửa sổ, cuối cùng nó rơi vào cốc nước và vo vo vùng vẫy trong đó. Tiếng vỗ tay, tôi cũng vỗ tay thật to. Mọi người quay sang nhìn tôi để thấy tôi thích trò ấy đến thế nào. Ông Klikeš nhận xét “Cái thằng cha quỷ tha ma bắt! Ít ai bì được với hắn! Nhiều khi chúng tôi cười vỡ bụng vì hắn.” Ông Klikeš cạn hết cốc này đến cốc khác, hẳn là trong người vẫn còn nóng vì cơn giận vừa rồi. Thỉnh thoảng ông còn vỗ bụng và nói như thanh minh: “Còn lâu mới uống đến mức uống bình thường - he he!”

“Sao mà anh chơi tồi thế!” Từ bàn bi-da chợt có tiếng kêu và tất cả khách nhất nhất quay đầu về phía đó. Khổ thân Ignác! Hắn cổ vũ người nhỏ hơn trong hai người chơi bi-da, nhưng người ấy chơi không vừa ý hắn nên hắn không nén được bực tức. Mọi người cũng phẫn nộ. Người khách chơi bi-da quật cái gậy vào bàn. Ông thượng úy hét lên: “Thế này thì quá quắt lắm - tống cổ nó đi!” Ông chủ quán lên cơn thịnh nộ, nói rằng sẽ đuổi Ignác ngay vào sáng mai, sau khi tính tiền. Ông Klikeš cười vào mặt ông chủ quán: “Đuổi nó lần này là lần thứ mấy rồi hả?”

Tiếng ồn ào lại lặng xuống. Một người bán hàng rong bước vào quán. Đó là một người đàn ông gầy đét, bẩn thỉu, râu ria lờm xờm, mặc bộ quần áo bóng lên vì bẩn. Ông ta không nói gì cả, chỉ đặt khay hàng lên bàn và đưa ra nào lược, nào ví tiền, nào cán hút thuốc lá. Ai cũng lắc đầu không mua. Ông ta im lặng đi vòng quanh các bàn rồi đậy khay lại, mắc nó vào dây khoác vai và ra khỏi quán. Có tiếng vỗ tay - “Suỵt, suỵt, trật tự!” Và ông Löfler diễn tả cái dồi gan lợn đang xèo xèo trong lò nướng. Tiếng vỗ tay và tiếng cười. Chỉ có Ignác đau khổ đứng ở một chỗ xa, lim dim mắt và rụt rè nhìn quanh.

Ông Löfler còn bắt chước ca sĩ người Tyrol có bướu cổ đang hát. Tôi cảm thấy khó chịu, nhưng cũng vỗ tay. Ông thượng úy lại chuyện trò oang oang, và nói bằng một cách mà giá tôi ở địa vị người cha và có vợ với các con gái ngồi bên cạnh thì tôi đuổi ông ấy đi ngay! Có lẽ chỉ có thể giải thích được là họ đã biết ông ấy từ lâu - nhưng thế thì đúng ra họ phải đuổi ông ấy đi từ lâu rồi.

Bây giờ thì tôi chào chia tay và ra về. Tôi đã thấy khá vui vẻ. Con người ta phải biết thông cảm với những người thấp kém.

Tôi đã không dậy được sớm. Cứ đi quán vào buổi tối thì sáng hôm sau tôi dậy muộn - đúng ra thì sáng nào tôi cũng ngủ muộn, nhưng nghe nói là có nhiều người rất thích dậy sớm. Có sao đâu, ngủ tốt thì sẽ học tốt được!

Đó là một ngày tuyệt đẹp! Tôi không cưỡng được và đã mở toang cửa sổ. Tất nhiên là mọi tiếng động trong nhà sẽ vọng đến, nhưng tôi thấy là cũng không phiền nhiễu gì lắm - cũng chỉ gần giống như tiếng nước chảy từ xa ở ngoài đập và ít ra nó cũng thay đổi cái đơn điệu của căn phòng đóng cửa im ỉm. Trong căn hộ của anh thợ may Sempr ở tầng trên phòng tôi ở có người nào đó đang hát, chắc là thợ; giọng hát đơn giản và mộc mạc. Đó là bài hát vui! “Nguyên do là... nguyên do là... rất vụng về... hề hề hề!”

Pepík rón rén đến gần tôi. Để cái đó không trở thành thói quen, tôi sẽ phải nhẹ nhàng bảo cho nó biết.

“Pepík đấy à, lại đây, cháu có biết hát không?”

“Có chứ!”

“Thế thì hát một bài cho chú nghe nào, bài nào thật hay ấy!”

Thằng bé hát: “Em có chim bồ câu” nhưng nó hát nhầm lời, đáng lẽ “cây sồi xanh” nó hát thành “cái nồi xanh”, nhưng nó cũng chả bận tâm. Nói cho cùng thì một đứa trẻ Praha như nó biết gì về cây sồi!

“Hát hay lắm! Bây giờ thì cháu về đi để chú làm việc, đừng đến quấy chú nữa nhé!” Pepík đi về nhà. Tôi cảm thấy thích nó.

Tôi vẫn đang học Quy định tiền tệ kèm với Luật thương mại.

Có tiếng khóc lóc quát tháo ầm ĩ ở nhà họa sĩ. Pepík đang bị đòn. Tôi định đóng cửa sổ, nhưng anh họa sĩ trông thấy nên nói qua sân:

“Đồ quỷ sứ! Nó không để cho ai yên!”

“Pepík đã làm gì vậy?”

“Thằng mất dạy nhai nát lá thư của mục sư, bây giờ tôi không biết viết trả lời ông ấy thế nào!”

Tôi đóng cửa sổ, đằng nào thì người thợ ở tầng trên cũng vẫn còn ngâm nga “rất vụng về”.

Tôi ngồi ăn trưa với anh Sempr và ông chủ quán. Nhìn Ignác rất buồn cười. Hắn ngồi cùng ông chủ quán ở bàn bên cạnh, cả hai tính tiền bán hàng ngày hôm qua. Ignác liếc nhìn chủ bằng con mắt hết sức sợ hãi, chắc là hắn đang chờ bị đuổi việc như hôm qua ông chủ đã hứa. Cái đầu của ông chủ run run nghiêng từ bên này sang bên kia, đôi mắt lim dim lười biếng, chắc hẳn ông đã quên biến chuyện ngày hôm qua. Tính toán xong, không thấy ông chủ nói gì, Ignác nhảy lên vì sung sướng.

Ông chủ quán ngồi vào bàn chúng tôi.

“Xúp ngon đấy,” tôi khen.

“Hẳn đi chứ!” Ông ấy khẳng định.

“Còn thịt thì ăn kèm với gì, hả Ignác?”

“Cái đó tùy ông.”

“Thế thì mang cho tôi một ít củ cải đỏ ngâm giấm đường.”

“Không.”

“Sao lại không? Trong thực đơn có mà!”

Ignác im lặng. Ông chủ quán chống nạnh nín cười đến phát ho:

“Để tôi mang ra cho, luật sư ạ. Nó không thể... nó không thể...”

Tôi ngạc nhiên nhìn ông ấy.

“Cứ nhìn thấy củ cải đỏ là nó xỉu; vì thằng ngốc lại nghĩ đến cục máu người... Mời anh!”

Cả bữa trưa không có một trò giải trí nào. Ông chủ quán cũng chẳng hào hứng gì cả.

“Hôm nay báo viết gì vậy?” Tôi hỏi ông ấy.

“Tôi không đọc báo. Thỉnh thoảng tôi sang quán bên kia đường để hỏi xem có gì thôi.”

Tôi để ý thấy xung quanh chân tường có nhiều vết lở:

“Sao lại lở thế này hả ông?”

“À, chỗ này trước đây là phòng khiêu vũ, những vết lở ấy là tại khi nhảy người ta đá chân vào.”

“Thế ông mở cửa hàng ở đây đã lâu chưa?”

“Cũng 12 năm rồi.”

Anh Sempr hầu như không nói gì, ngoài những tiếng “ừ, ờ”.

Buổi chiều tối tôi đã ở ngoài vườn. Có đến một nửa số người ở nhà này cũng ra đó. Bây giờ thì ngoài đôi vợ chồng trẻ ở tầng ba và người nhân viên đường sắt ra, tôi đã biết tất cả mọi người. Và cứ nghĩ đến họ là tôi thấy mụ cả đầu óc. Thí dụ ông Provazník ở căn hộ bên trên căn hộ của anh họa sĩ. Tôi hoàn toàn không hiểu ông ấy. Lúc đầu, có mấy lần tôi nhìn thấy ông ấy đứng ở bên cửa sổ. Tôi có cảm giác là ông ấy có khuôn mặt vàng vọt và mỏng dính, kéo dài như sợi mì. Bây giờ thì tôi biết tại sao. Hai bên má ông ấy có râu đen, cạo ngắn, râu cằm và quanh miệng thì cạo nhẵn, vì thế mà mặt ông ấy như bị kéo dài ra. Tóc ông ấy đã bạc gần hết, mới ở tuổi năm mươi mà trông ông ấy rất lòm khòm.

Khi đi mấy bậc cầu thang để xuống vườn, tôi nhìn thấy ông Provazník đang dạo ở phía đằng sau, còn ở trong chòi góc bên phải vườn thì có ông chủ nhà và con gái ông ấy, tiếp nữa là vợ chồng anh họa sĩ cùng với Pepík. Đôi mắt đen, sáng rực như trong cơn sốt của ông chủ nhà nhìn tôi như nhìn người lạ.

“Bố ơi, anh luật sư Krumlovský đấy mà!” Con gái ông nói bằng giọng nữ cao rất êm tai.

“À, anh luật sư... vâng, tôi quên mất,” ông chủ nhà nói rồi đưa bàn tay gầy và ấm cho tôi.

“Xin mạn phép ông, tôi ra đây đi dạo một chút ạ.”

“Xin anh tự nhiên,” ông chủ trả lời, khục khặc ho rồi khạc xuống giày tôi. Chúng tôi ngồi xuống. Tôi không biết nói gì; cái im lặng chắc không làm ai bận tâm, nhưng tôi thì cảm thấy rất lúng túng. Tôi có cảm giác là mọi người đang chờ xem anh luật sư sẽ làm gì để tỏ ra là người vui vẻ hài hước.

Tôi không biết tìm chỗ cứu vớt ở đâu ngoài Pepík, nên gọi nó:

“Pepík ơi, lại đây cháu, thế nào, khỏe không?”

Pepík đến đứng nép vào chân tôi và chống khuỷu tay vào đầu gối tôi.

“Chú lại kể chuyện gì cho cháu đi,” nó giục tôi.

“Chú kể chuyện gì cho cháu ư?” Anh cu này láu cá đây, nó còn nhớ tôi đã kể cho nó đủ chuyện mà.

“Chú kể truyện cổ tích đi.”

“Truyện cổ tích ư? Nhưng mà chú có biết truyện cổ tích nào đâu! À, để chú kể truyện này nhé!”

Và tôi bắt đầu kể bằng giọng rất cổ tích:

“Ngày xửa ngày xưa, có một ông vua. Vâng. Ông vua ấy không có một người con nào. Vâng. Một hôm, tự nhiên người con trai lớn nhất của nhà vua nói là sẽ đi chu du thiên hạ...”

Mọi người lăn ra cười. Anh họa sĩ lau hai giọt nước mắt lớn tràn ra từ đôi mắt ướt:

“Anh luật sư cũng biết đùa đấy!”

Họa sĩ hẳn là người hiểu biết nên tôi thấy hãnh diện vì lời khen của anh ấy. Ai mà chẳng thấy thích thú khi được người khác khen là biết đùa.

“Anh kể tiếp đi, truyện cổ tích ấy cũng dành cả cho trẻ em lớn tuổi mà,” ông họa sĩ khuyến khích.

Tôi lại lâm vào lúng túng mới. Truyện cổ tích ấy không thể tiếp tục được, vì nó có kết thúc rồi, nhưng mà họ có hiểu cho đâu! Là người biết đùa thì tôi phải có can đảm ứng tác vậy, chắc là sẽ được. Thế là tôi kể tiếp nhưng không thể được, tự nhiên tôi thấy mình nói rất dở hơi. Mọi người bắt đầu không nghe tôi nữa và quay ra nói chuyện với nhau làm tôi thấy mừng vô cùng. Chỉ có Pepík còn nghe tôi kể. Tôi vuốt tóc nó. Nhưng truyện cổ tích phải có cái kết thúc nào chứ, tôi bắt đầu lắp bắp. May quá, tôi nảy ra một sáng kiến. Tôi cầm tay Pepík, làm như bây giờ mới để ý đến và bảo nó:

“Pepík ơi, trông này, tay cháu bẩn quá!”

Thằng bé nhìn tay mình và bảo tôi:

“Chú cúi xuống đi cho cháu nói thầm cái này!” Rồi nó thì thầm: “Chú cho cháu hai đồng xu đi, rồi cháu đi rửa tay!” Tôi lén lấy ra hai đồng xu dúi vào tay nó. Thằng bé chạy ra góc vườn, nơi đứa con gái bảy tuổi của anh Sempr vừa tới.

Tôi quay sang nhìn cô con gái ông chủ nhà đang ngồi bên cạnh. Cô ấy rất giống bố. Đôi má gầy gầy, đôi bàn tay mỏng nhợt nhạt, cái cằm nhỏ xíu, cái mũi bé tí, bé đến mức không biết có thể kéo nó được không. Tuy vậy, khuôn mặt với đôi mắt đen của cô ấy cũng còn khá dễ chịu. Cái giọng nữ cao của cô ấy nghe rất có cảm tình. Tôi cũng muốn nói là tôi rất thích màu mắt đen, tôi có cảm tưởng là người phụ nữ có mắt xanh cứ giống như người mù vậy.

“Anh có chơi nhạc không, hả anh...”

“Luật sư Krumlovský,” cô con gái chen lời bố.

“Ừ, Otylie ạ, bố biết rồi. Anh luật sư Krumlovský.”

“Thưa ông, khi gặp nhau hôm trước, chúng ta đã nói về chuyện đó rồi. Trước đây, tôi có chơi đàn violon, nhưng mà đã lâu lắm rồi. Bây giờ tôi không nhớ phải cầm đàn như thế nào…”

Tôi thấy ông chủ nhà không nghe tôi nói nữa. Cô con gái ông hơi nghiêng người về phía tôi và nói thầm bằng một giọng buồn nghẹn ngào:

“Bố tôi rất không may là ngày nào từ buổi trưa trở đi cũng bị mất trí nhớ.”

Ông chủ nhà bừng tỉnh và đột ngột nói bằng giọng khàn khàn:

“Con ơi, bố muốn đi dạo một tí. À, anh luật sư - xin anh cầm mảnh giấy này.” Nói đoạn, ông đưa cho tôi mảnh giấy trắng có dòng chữ “Hôm nay tôi đau cổ, nếu tôi nói không rõ lắm thì thứ lỗi cho tôi.”

Ông Provazník đi đến chỗ chúng tôi. Ông ấy nhìn tôi rồi cười, một nụ cười có vẻ mỉa mai châm biếm. Ông ấy đưa tay cho tôi.

“Xin chào ông, thưa luật sư Kratochvíl.”

“Tôi tên là Krumlovský.”

“Ấy, kể cũng lạ, tôi cứ nghĩ là ông luật sư nào cũng tên là Kratochvíl... hé hé hé!” Ông ta cười, tiếng cười như xé vải. Tôi tròn mắt nhìn.

“Các ông đang nói chuyện gì thế?”

“A, chào anh Augusta, anh có khỏe không?”

“Ờ... Chẳng có công ăn việc làm gì.”

“Vâng, vâng - lúc nào gặp ông ở cầu thang cũng thấy ông cắp nách một bức tranh mới nguyên. Chắc là ông vẽ chơi thì một ngày cũng phải được hai bức!”

Anh họa sĩ cười, ra vẻ tự mãn:

“Đúng thế, cứ để đám ‘giáo sư’ ấy thử xem nào!”

“Ông có thể vẽ sẵn chân dung để dự phòng, he he he! Đúng ra mà nói thì người vẽ chân dung là hạng người thừa nhất trên đời. Giả thử không có một họa sĩ vẽ chân dung nào cả thì thế giới này cũng vẫn có rất nhiều bộ mặt, và là những bộ mặt rất lạ lùng! Vì sao ông không vẽ cái gì khác?”

Cái châm biếm sắc bén không cưỡng lại được của ông Provazník làm tôi buồn cười, nhưng nhìn thấy họa sĩ bối rối ngượng ngập tôi không nỡ cười, làm tội anh ấy mà làm gì!

“Tôi chính gốc là nhà sử học,” anh họa sĩ lắp bắp, “nhưng không làm ăn được vì người ta có ai hiểu gì về lịch sử đâu. Một lần, có một linh mục đặt bức tranh tả cảnh thuyết giáo của tu sĩ dòng Capuchin theo tác phẩm bộ ba Valdštýn. Tôi đã vẽ một bức tranh rất đẹp, vâng, phải nói là rất đẹp. Ấy thế mà khi tranh vẽ xong, ông ấy lại không muốn lấy nó - ông ấy nói là không muốn có linh mục dòng Capuchin ở bức tranh ấy! Linh mục mà nói vậy, trời ạ! Lần khác, người ta đặt vẽ tranh Žižka cho tòa Thị chính ở Kuckov, lần ấy mới thật là khổ! Tôi gửi cho họ bản phác họa. Họ không ưng đôi giày của Žižka, bảo tôi hãy đi hỏi ông Palacký xem đôi giày ấy có đúng là giày của giai đoạn lịch sử đó không. Ông Palacký chứng nhận là đúng. Thế nhưng ở Kuckov người ta lại tìm đến một nhà chuyên môn tên là Malina. Ông này khẳng định là Žižka của tôi không phù hợp với các yêu cầu về mặt quân sự. Tôi đôi co với họ mãi, cuối cùng họ viết cho tôi là họ sẽ công khai bôi nhọ tên tuổi tôi trên báo chí. Đấy, làm nhà sử học nguy hiểm lắm, các ông ạ.”

“Thế thì ông hãy vẽ theo đề tài đi. Thí dụ, vẽ người thợ thiếc đang chữa cây sáo cho nghệ sĩ thổi sáo say rượu. Hay là vẽ đề tài ‘con chuột trong trường nữ sinh’. Không cần phải thấy con chuột, nhưng có cảnh các nữ sinh và cô giáo nhốn nháo trên bàn học - đặc biệt với đủ các vẻ mặt hoảng sợ khác nhau!”

“Hi hi - vẽ theo đề tài thì tôi cũng đã vẽ rồi. Tôi còn có cả một bức rất đẹp tham gia triển lãm. Dạo ấy cái gì cũng Đức cả, tranh của tôi mang tên Häusliche Arzenei, tức là chữa bệnh tại gia. Người chồng nằm ở trên giường, người vợ mang cho anh ta cái vung nóng...”

“Eo ơi, khiếp!”

“Khiếp cái gì? Cái vung ấy có thấy được đâu, nó được bọc trong khăn trải bàn để khỏi bị nguội đi mà.”

Tôi muốn giải thoát cho anh họa sĩ, nhưng không biết làm thế nào.

“Hôm nay là thứ mấy nhỉ?” Tôi hỏi ông Provazník một cách ngốc nghếch.

“Ông có thể ngó nhìn cái cổ áo sơ mi của ông chủ nhà, thưa luật sư Kratoshvíl,” ông Provazník nhếch mép cười, “ông chủ nhà chỉ thay áo một tuần một lần, cứ xem cái cổ áo thì biết hôm nay là thứ năm rồi.”

Hắn quả là một gã đàn ông xấc xược!

“Ông ấy thật không may, bệnh đâu có bệnh lạ, nghe bảo cứ từ buổi trưa là ông ấy mất trí nhớ, phải không?”

“Vâng, chắc là vì trước đây ông ấy bán mũ cói. Những ai bán mũ cói cuối cùng cũng thành ngu dại vì ngửi phải lưu huỳnh, nhất là người ở Tyron. Một với một là mấy họ cũng không biết nữa.”

“Nhưng xem ra ông ấy là người tốt bụng, đáng kính.”

“Đáng kính thì có, nhưng mà ngu, không nhìn xa trông rộng. Tôi biết ông ấy đã hơn hai chục năm nay rồi.”

“Con gái ông ấy chăm sóc cha chu đáo đấy. Cô ấy là người dễ chịu, chỉ không còn thật trẻ nữa.”

“Chỉ vì sự tò mò của đàn bà mà cách đây hai mươi năm cô ấy ra đời, bây giờ cô ấy đang hối hận. Được cái thẳng tính, cô ấy trách mắng tôi thường xuyên.”

Tôi thấy khó chịu vì cái kiểu nói xấu của ông Provazník.

“Ta ra nói chuyện với ông chủ nhà một chút đi,” tôi nói.

“Vâng, ta đi đi,” anh họa sĩ trả lời và vỗ vỗ vào lưng ông Provazník. Ông này co mình lại, nhổm dậy.

Cả hai người đàn ông đứng lên. Chị vợ anh họa sĩ, lúc đó đứng tựa cửa chòi và đang mải suy nghĩ, chợt như tỉnh giấc: “Chiều hôm nay tôi làm món trứng chưng nhé!” - “Ừ.” Anh họa sĩ trả lời và bỏ đi. Chị vợ tranh thủ cơ hội để nói với tôi bằng giọng ngọng nghịu, rằng đã có nhiều người theo đuổi chị ấy đến phát điên phát cuồng. Tôi muốn khen một chút để chị ấy vui lòng nên nói là còn thấy như vậy. Chị ấy hỏi lại cái gì “còn thấy như vậy”. Tôi không biết trả lời ra sao, quanh co mãi, cuối cùng tôi nói rằng vẫn còn thấy là chị ấy đã từng là một người phụ nữ đẹp. Chị ấy hếch mũi lên nói rằng chị ấy vẫn chưa già, rằng khi diện váy áo vào thì... chị ấy đột ngột thao thao như nước chảy: “Một lần có người đi đằng sau tôi nói là ‘Cô này trông mới đáng yêu làm sao!’ Còn từ phía trước thì tôi chẳng cần ai phải ngắm tôi.” Tôi lắp bắp vài lời, nhưng chị ấy đã bỏ đi.

Tôi ra chỗ mọi người. Ông chủ nhà mỉm cười nhìn tôi ra vẻ nhận ra tôi là ai, rồi lại đưa cho tôi một mảnh giấy có dòng chữ như trước. Mọi người đang nói chuyện về các nhà máy đường. Tôi lại muốn tỏ ra mình hài hước nên hỏi cô con gái ông chủ nhà:

“Cô có hiểu các nhà máy đường không?”

“Ô, không ạ.”

“Nhưng đường mật thì hẳn là hiểu, cô nhỉ?” Tôi bật cười rất to, vì ai cũng biết là nếu một người nào đó cười vui vẻ thì sẽ làm cho tất cả mọi người khác cười theo. Nhưng tôi chẳng làm được cho ai cười. Có lẽ là họ không hiểu câu nói đùa ấy của tôi.

Ông chủ nhà lại hỏi tôi có chơi nhạc không, đồng thời giẫm lên chân tôi. “Không,” tôi cáu kỉnh trả lời, nhưng ngay lập tức tôi thấy thương hại ông, bèn hỏi:

“Ông có hay đi xem opera không ạ?”

“Không, tôi không xem, tai bên phải tôi bao giờ cũng nghe cao hơn tai trái nửa nốt nhạc, vì thế không xem được.” Ông ấy đúng là người lạ lùng. Từ buổi trưa trở đi thì mất trí nhớ, tai bên phải thì nghe cao hơn tai bên trái nửa nốt nhạc! “Tôi chỉ ngồi nhà và làm việc với đàn piano thôi.”

“Ông sáng tác nhạc ạ?”

“Không, bây giờ tôi không sáng tác. Đã mấy năm nay tôi chỉ sửa nhạc của Mozart thôi. Khi nào sửa xong thì ông sẽ thấy Mozart thực thụ phải như thế nào!” Nói xong, ông ấy nhổ nước bọt xuống giày của ông Provazník. Ông này chùi giày vào cỏ rồi nói: “Cũng đã lâu rồi tôi không đi xem opera. Mà nếu có đi thì tôi cũng chỉ đi xem vở Marta thôi.”

Ông chủ nhà khoác tay tôi và kéo tôi ra chỗ khác. Ông ấy định nói với tôi cái gì đó, nhưng khò khè không nói ra lời; tôi chỉ nghe “sss” như tiếng nồi áp suất xì hơi. Chúng tôi đi quanh vườn, ông lắp bắp “sờ, sờ” ba lần, mãi tôi mới hiểu ông định nói “sạch, rau sạch”. Rồi lại đưa cho tôi mảnh giấy.

Liền sau đó họa sĩ kéo tôi ra một góc vườn. Anh ấy hỏi xem tôi có để ý là anh ấy đã vỗ lên lưng ông Provazník không. Anh bảo tôi nếu ông Provazník nói năng không hay với tôi thì cứ vỗ vỗ lên lưng ông ta là ông ta thôi ngay. Nhưng tôi nên biết rằng ông Provazník là người ác.

Ngay sau đó ông Provazník lôi tôi ra một bên. Ông ấy hỏi tôi nói sao về sáng kiến thành lập hội những người đắp các hòn đảo trên sông Vltava. Ông ấy đắc thắng nhìn tôi. Tôi trả lời đó là ý tưởng tuyệt vời. “Đấy ông thấy chưa, tôi còn có rất nhiều ý tưởng như thế nữa! Nhưng bây giờ nhân loại đâu có nghĩ đến ý tưởng. Với những kẻ ngu ngốc kia thì tôi hoàn toàn không muốn nói về chuyện đó.”

“Bây giờ thì chúng ta có thể chơi bài,” anh họa sĩ giục chúng tôi. Ừ thì chơi, chơi một tiếng thôi. Bộ quân bài được cất trong ngăn kéo bàn ở chòi của họa sĩ. Chúng tôi ngồi vào cái bàn nhỏ và thỏa thuận là tôi sẽ chơi cùng một bè với ông chủ nhà, còn họa sĩ và ông Provazník cùng một bè bên đối thủ.

Chúng tôi đã chơi rất buồn cười. Vòng nào cũng vậy, quân bài cuối cùng chưa được đặt xuống, ông chủ nhà đã hỏi quân bài nào cao nhất. Không lần nào ông ấy biết tôi đã ra màu gì và cũng không nhặt màu ấy cho tôi. Tôi đảm bảo là ông ấy có các con bài cùng hạng, hoặc có thể xếp theo thứ tự, nhưng ông ấy không bao giờ đặt xuống. Khi tôi hỏi ông có con bài nào đặt xuống được không thì ông ấy đưa cho tôi xem mảnh giấy. Tất nhiên là bè của anh Augusta và ông Provazník đã thắng, cả hai cười ré như ngựa hí vậy. Tôi không còn cách nào khác là dập bài và trả tiền thua cuộc. Cô Otylie trả tiền cho bố. Mặc dù đây là ván bài đầu tiên chúng tôi chơi, nhưng ông chủ nhà cứ một mực nói rằng đã trả tiền rồi, đồng thời giẫm lên chân tôi ở dưới gầm bàn. Tôi co chân lại và hứng thú theo dõi chân ông ấy đang sục sạo tìm cái gì khác dưới gầm bàn để giẫm.

Đột nhiên ông chủ nhà to tiếng đổ tội cho tôi là chơi tồi, rằng ông ấy đã ra con “eso” mà tôi không xuống quân bài vua cùng chất. Tất nhiên là chúng tôi chưa chơi theo chất và con “eso” còn đang nằm trong tay tôi. Ông chủ nhà vẫn hét toáng lên, tiếng ông ấy vang như tiếng kèn đồng - ấy vậy mà trong túi tôi có tới mười lăm mảnh giấy ông ấy đưa! Cô Otylie nhìn tôi bằng con mắt khẩn khoản và đau đớn. - Vâng, tôi hiểu và im lặng.

Chúng tôi chơi bài gần một tiếng đồng hồ và tôi đã thua hơn sáu mươi krejcar.

Ông chủ nhà và cô Otylie đi về nhà. Cái lạnh buổi chiều nghe nói không tốt cho cổ của ông ấy. Ông Provazník cũng về. Bà giúp việc của gia đình họa sĩ mang cơm chiều đến cho họ. Tôi nhờ bà ấy mua cơm chiều và bia ở quán cho tôi.

Tôi ăn xong rồi ngồi nghe anh họa sĩ nói chuyện. Anh ấy kể là chưa bao giờ được đánh giá đúng; hồi còn học ở trường mĩ thuật, người ta đã đuổi anh ấy trước khi kết thúc khóa học, bởi vì anh ấy biết nhiều hơn tất cả các giáo sư.

Tôi lại ngồi ở phòng mình, đầu óc quay cuồng.

Tôi sẽ không bao giờ để cửa sổ mở qua đêm nữa, kể cả khi nóng nực nhất! Khoảng sau hai giờ sáng tôi nghe thấy tiếng ầm ĩ ở bên nhà họa sĩ. Tiếng độc tấu the thé của chị Augusta có thể đem ra mà xẻ gỗ được. Tôi nghe ra được họ cãi nhau vì cái gì. Chả là họa sĩ về nhà ở trạng thái say bí tỉ. Tự anh ấy cảm thấy thế, anh ấy sợ sẽ làm đổ vỡ cái gì trong phòng, thành ra vào đến nơi anh ấy đứng tựa vào cửa và chờ đèn bật lên. Tất nhiên là anh ta vừa đứng vừa ngủ, rồi ngã đánh sầm xuống sàn nhà.

Nhân việc này tôi phát hiện ra được lý do tại sao vào ban ngày tôi không nghe thấy chim họa mi hót nữa. Nó bắt đầu hót vào lúc sau nửa đêm; có thể là lúc ấy nó cũng mới đi quán về.

Tôi trông thấy ông chủ nhà và con gái ông ở ngoài vườn. Vì muốn gặp ông chủ nhà vào lúc ông còn minh mẫn nên tôi đã ra đó. Nhưng đáng tiếc là tôi còn gặp cả ông Provazník mà tôi đã không nhìn thấy từ cửa sổ.

Ông chủ nhà đang ngồi chơi piano.

“À, luật sư Krumlovský, tôi chơi cho anh nghe một trong những bản nhạc không lời tôi sáng tác trước đây nhé!”

Ông ấy chơi bản nhạc. Nếu tôi hiểu thì ông ấy chơi được, mặc dù cái đàn không tốt nhưng vẫn thấy ông ấy chơi thành thạo và có tình cảm. Tôi vỗ tay tán thưởng.

“Ông có thấy thích không, hả ông Provazník?”

“Ờ, tôi thích nhất Marta, bài này của ông nghe hay, nhưng ông có thể quẳng nó ra đống phân được. Này ông ạ, giá ông sáng tác ra bài nào trừ được rận rệp thì tôi sẽ hát mãi, vì chúng làm tôi khổ sở.” Ông ta khanh khách cười rồi quay đi.

Ông chủ nhà ra hiệu cho tôi biết rằng trong đầu ông Provazník có cái gì không ổn. Ông Provazník bèn ghé xuống tôi và nói thầm:

“Giá mà có ngày được nhìn vào đầu một nhạc sĩ thì mất gì tôi cũng chịu. Trong cái đầu ấy chắc bừa bộn, toàn những quả bóng con móc với nhau, óc thì như bị giòi bọ phủ đầy!”

Ông chủ nhà để ý thấy đang nói về ông ấy, bèn lầu bầu ý rằng “khúc gỗ không di dịch được như que diêm”. Tôi muốn gỡ tình thế nên hỏi to:

“Thưa ông Provazník, thế ông không bao giờ nghĩ đến âm nhạc à?”

“Tôi ư? Có chứ! Trong 3 năm liền tôi đã học cùng một lúc cả violon, sáo và cả hát, đúng ra mà nói thì thành 9 năm học - nhưng tôi cũng chỉ hiểu âm nhạc một cách chung chung thôi.”

Tôi quay sang con gái ông chủ nhà và lịch sự hỏi cô đã ngủ có ngon không.

“Tôi ngủ được ạ, nhưng buổi sáng khi thức dậy, tôi thấy nao nao nhớ nhung, nhưng không biết nó là cái gì, và tôi đã khóc.”

“Chắc chắn điều đó không thể không có nguyên nhân, cô gái thông minh ạ.”

“Anh nghĩ rằng tôi thông minh ư? Bố ơi, luật sư nghĩ là con thông minh!” Cô ấy cười đến chảy nước mắt.

Tôi bắt đầu giảng giải rằng khi nào chúng ta còn sống thì nước mắt còn chảy. Tôi tin tưởng rằng tôi nói rất hay, nhưng tôi đang nói giữa chừng về cái long lanh trong ánh mắt thì ông chủ nhà đột ngột đứng dậy:

“Otylie con ơi, đi về đi, con còn phải làm cơm trưa nữa đấy!”

Họ đi, bỏ tôi ngồi lại với ông Provazník.

Tôi cảm thấy khó chịu khi ngồi bên con người lạ lùng ấy. Hắn nhìn tôi với một vẻ nhạo báng khó tả và cảm giác khó chịu của tôi lớn dần. Nhưng chẳng lẽ lại bỏ chạy nên tôi mở đầu:

“Ông chủ nhà chắc phải là nhạc sĩ tài ba”.

“Đúng, đúng, ông ấy biết nhiều, đặc biệt là... ờ, nói thế nào nhỉ?... là khi pha đủ thứ với nhau.”

“Hòa nhạc ư?”

“Vâng, hòa nhạc. Nói cho cùng thì cái ấy khó gì! Tiếng khung cửi với tiếng chó sủa nếu hòa cùng nhau thì nghe cũng hay.”

Tôi phải bật cười. Ông Provazník nhìn tôi và nói:

“Anh luật sư ạ, trông anh hôm nay rất ốm yếu!”

“Tôi á? Tôi không nghĩ thế...”

Nhưng ông ấy xoa trán như thể muốn tỉnh lại, rồi chậm rãi nói với giọng trầm trầm và thành thật:

“Anh là người hiểu biết, tôi sẽ không coi anh là kẻ điên dại, không lấy anh ra làm trò đùa! Anh ạ, tôi vô cùng căm ghét tất cả mọi người... họ đã hại tôi rất nhiều, vâng, rất nhiều. Hàng bao năm nay tôi hầu như không ra khỏi nhà. Tôi thôi không đi dạo kể từ khi tóc tôi bắt đầu bạc. Vì khi nói chuyện với bất cứ ai, người ấy đều tỏ ra rất ngạc nhiên và nói: “Ôi chao! Tóc ông thì cũng bạc rồi kìa!” Ông bảo thế thì có ngu không? Bây giờ quả là tôi bạc phơ rồi, nhưng tôi đã nghĩ ra được một mẹo,” ông Provazník cười thích thú. “Họ chưa kịp mở mồm nói gì, tôi đã tỏ ra rất kinh hoàng bảo ngay: “Trời ơi, ông làm sao thế? Trông ông ốm yếu quá!” Phải nói là ai nghe thế cũng giật mình, rồi lập tức cảm thấy mình không được khỏe. Thế đấy anh ạ, tôi rất biết làm cho bọn họ khổ sở! Suốt những năm tháng qua, tôi đã rất thích chấp nhặt, ghi lại tất cả những gì tôi nghe được về ai, tôi đã sắp xếp theo thứ tự rất cẩn thận. Hôm nào mời anh đến chơi, tôi sẽ cho anh xem toàn bộ ghi chép của tôi về mọi người ở khu Malá Strana. Khi có ai làm tôi tức giận thì tôi lôi những chuyện ấy ra rồi viết thư nặc danh. Mọi người cứ điên cuồng lên khi đọc thư của kẻ lạ moi móc những chuyện về mình mà chẳng ai nghĩ là tôi viết! Nhưng cũng phải thú thật với anh là tôi thấy chán rồi. Tôi chỉ muốn viết bức thư cuối cùng - cặp uyên ương ở cạnh tôi đang làm tôi khó chịu - tôi sẽ phải làm một cái gì đó, nhưng rất tiếc là cho đến bây giờ tôi vẫn chưa biết gì về họ.”

Tôi rùng mình. Ông Provazník tiếp tục một cách say sưa và nói mỗi lúc một nhanh hơn. “Tôi đã là một người đàn ông thực thụ! Hồi còn trẻ tôi đã quyến rũ biết bao cô gái! Ông đừng rùng mình - tôi không quyến rũ ông đâu mà sợ! Tôi không sàm sỡ với gái đã có chồng, chỉ tán tỉnh lũ con gái trẻ thôi. Ngay từ khi còn là sinh viên, tôi đã tìm xem danh bạ các trường nữ sinh, ghi lại tên các cô học kém nhất, vì những cô này cũng là người cởi mở nhất. Tôi để ý đến các mối tình sinh viên, hễ họ có xích mích với nhau là tôi nhảy vào liền, vì cô gái cãi nhau với người yêu là cô dễ cưa nhất...”

Tôi đứng bật dậy. Sau lưng tôi vang lên tiếng cười hé hé, sắc như dao.

Ông ta coi tôi là kẻ điên chăng?

Cô chủ hộ bây giờ chỉ dọn phòng cho tôi khi tôi đi xuống quán để ăn trưa. Thỉnh thoảng tôi mới gặp cô ấy ở trong bếp. Như vậy cũng tốt!

Buổi trưa, lại có tiếng ầm ĩ ở nhà anh họa sĩ. Pepík bị một trận đòn rất đau, nguyên nhân là hai đồng xu tôi cho nó ngày hôm qua. Một kẻ chuyên làm thuê đã đưa Pepík về nhà. Trước đó, Pepík cho hắn tiền để hắn chịu cho buộc dây vào cổ, rồi Pepík dắt hắn đi như dắt ngựa ở ngoài phố, ngay trước cửa nhà chúng tôi.

Vỡ lẽ ra mới biết là Pepík đã mời con bé Márinka, con gái anh Sempr, đến xem trò đó, xem chuyến đi ngựa tuyệt vời của nó. Mối tình đầu chăng? Có thể như vậy. Tôi đã yêu lần đầu tiên vào lúc tôi 3 tuổi, và vì thế tôi cũng đã bị đòn. Nhưng chắc chắn Pepík bị đòn quá nhiều.

Quán ăn vào buổi chiều. Cũng những người khách ấy và cũng ở những chỗ họ vẫn ngồi. Lúc đầu, tất cả nói chuyện với nhau về sân khấu Séc. Ông thượng úy to béo nói rằng một lần ông ấy đi nhà hát và ông ấy rất thích vở kịch diễn đêm ấy. Đó là vở “Die Tochter des Bösewichts”[41], nhưng ông ấy không biết tiếng Séc gọi là gì. Ông ấy hỏi, nhưng cũng không ai biết. Cuối cùng ông ấy khẳng định dứt khoát rằng tên vở kịch ấy dịch sang tiếng Séc là “Con gái của kẻ vô lễ”. Nói năng gì mà như thằng hề vậy!

Họ tiếp tục nói chuyện về sân khấu, về cái khác nhau giữa hài kịch và chính kịch. Ông thượng úy lại khẳng định chắc chắn rằng vở chính kịch bao giờ cũng phải có năm hồi, rằng nó cũng giống như tổ chức của một trung đoàn vậy, tức là gồm bốn tiểu đoàn chiến đấu và một tiểu đoàn hậu cần.

Câu chuyện lại gần giống như hôm kia. Ông Klikeš lại hỏi lấy lòng gà ở đâu ra, lại nói về việc hai người cảnh sát hàng năm lôi ông chủ quán đi tắm gội, về con gà luộc từ quả trứng luộc, ông chủ quán lại trả đũa ông Klikeš bằng cái má lúm đồng tiền. Rồi sau mỗi câu đùa mọi người lại cười giống như ngày hôm kia.

Cô gái trẻ hơn lại cứ nhìn tôi, ánh mắt cô ấy thiêu cháy tôi như thể mặt trời hun nước vậy.

Lại vẫn người bán hàng rong khô đét, bẩn thỉu, với cái cằm râu ria lờm xờm không cạo. Ông ta chẳng nói gì, không bán được gì, rồi lại bỏ đi. Người đàn ông ấy trông tức cười đến nỗi có thể chỉ vì trò tiêu khiển mà tôi để hắn chết đói. Có thể hắn đã hứa với một người nào đó rằng sẽ cứ ăn mặc bẩn thỉu để đi đến các quán ăn, sẽ không nói gì và cũng không bán gì.

Rồi mọi người lại hồi hộp theo dõi ông Karliček bắt rận. Sau đó họ vỗ tay tán thưởng ông Löfler bắt chước con ruồi và cái dồi nướng. Có lẽ tôi đã được làm quen với toàn bộ chương trình của quán.

Nhưng hôm nay, dẫu sao cũng có cái mới. Ông Karliček rủ ông Löfler:

“Chúng mình làm con lợn đi!” Mọi người vỗ tay. Thế là cả hai làm hai con lợn. Họ luồn nắm tay xuống dưới khăn trải bàn, di chuyển chúng như thể hai con lợn giãy giụa trong bao tải, rồi ủn ỉn khụt khịt giống như thật. Tôi nhìn ông Karlíček, thấy mắt ông ấy rạng rỡ niềm vui từ việc bắt chước con lợn.

Tôi nghĩ là ngày hôm nay tôi đã học quá ít.

Ban đêm có một cơn dông dữ dội, bây giờ không khí buổi sáng rất trong lành. Tôi cầm quyển sách đi xuống vườn, ngoài đó chắc lúc này không có ai. Nhưng ở đó có người, tuy chỉ là Pepík. Tôi sẽ đuổi nó đi là yên chuyện.

“Cháu thấy chưa, thế là mất toi hai đồng xu nhé,” tôi nói và xoa đầu nó. Pepík nhìn tôi rồi cười ranh mãnh:

“Ứ, không đâu, cháu lấy lại của bố cháu rồi!”

“Thế à? Thế bây giờ cháu định làm gì với nó?”

“Cháu biết sẽ làm gì, nhưng mà chú sẽ không nói cho ai biết chứ?”

“Tất nhiên rồi, cháu biết là chú sẽ không nói cho ai.”

“Thằng Bedříšek hứa là sẽ bảo cho cháu biết các con số xổ số trúng thưởng.”

“Bedříšek là ai vậy?”

“Nó là con bà quay số. Lúc đầu nó không muốn, nhưng cháu bảo là cháu cho nó một xu, thế là nó hứa nó sẽ nói số nào sắp ra.”

Cái ngây thơ của trẻ con đến là hay! Tôi hỏi nó:

“Thế trúng giải rồi thì tiền ấy cháu định mua gì?”

“Cháu sẽ mua rất nhiều thứ, mua bia cho bố cháu này, mua cái váy hoa cho mẹ cháu này, cũng mua cả một cái gì cho chú nữa.”

Tôi nghĩ Pepík là đứa trẻ tốt bụng.

Pepík là đồ quỷ sứ! Tôi run cả người vì tức giận.

Tôi đi lên phòng và ngoài vườn trời bắt đầu nóng. Tôi đã cảm thấy rất khoan khoái, thế mà thằng ranh con đã làm tôi phải cáu tiết. Tôi lên nhà, ngồi vào bàn và suy nghĩ về những gì tôi đã học ở dưới vườn, đồng thời đảo mắt nhìn quanh phòng. Bỗng mắt tôi dừng lại ở bức tranh bột màu “Biển trong ánh mặt trời” của Navrátil. Ánh mặt trời biến đâu mất, chỉ thấy bầu trời toàn mây đen! Tôi bước đến gần thì thấy bức tranh và cả những mảng tường ở xung quanh dính đầy các viên đất. Chắc chắn Pepík đã bắn từ cửa sổ nhà nó sang bên này!

Tôi mang bức tranh sang nhà họa sĩ để mách. Anh ta nổi giận và đánh Pepík không thương tiếc ngay trước mặt tôi. Nhìn nó bị đánh mà tôi hả dạ! Hoài của bức tranh đẹp!

Anh họa sĩ nói là sẽ sửa lại bức tranh.

Không được lười! Chỉ vì lười mà ngay sau bữa ăn trưa ở dưới quán tôi đã gọi cốc cà phê đen, để không phải tự pha lấy ở nhà. Nhưng bây giờ tôi phải pha một cốc để uống cho trôi cốc cà phê dưới quán.

Hôm nay học không vào được. Tôi nghe thấy tiếng kiếm va loảng xoảng. Chẳng lẽ nhân viên đường sắt bây giờ đeo kiếm ư?

Mọi người gọi tôi để hỏi tôi có xuống vườn không, họ bảo rằng hôm nay chúng tôi sẽ lại chơi bài.

Tôi không trả lời. Tôi sẽ không xuống đó. Ở dưới vườn, mọi người đang bàn cãi với nhau xem tôi có nhà hay không. Họa sĩ nói là tôi đang ở nhà.

“Để tôi hát gọi anh ấy,” ông Provazník nói. Ông ta lại gần cửa sổ phòng tôi và cất giọng ồm ồm:

“Tôi biết em ở nhà

Đừng trốn tôi nữa mà

Ra đây ngay mà ăn

Bánh hấp mềm lắm đấy!”

Ông ta sằng sặc cười rồi lắng tai nghe. “Anh ấy không có nhà,” ông ta tuyên bố, “vì nghe tôi hát thì con kiến trong lỗ cũng phải bò ra.”

Dù sao, tôi cũng ngồi không yên, thế là cuối cùng tôi đã xuống vườn.

Mọi người đang nói chuyện về cơn dông. Vợ họa sĩ nhắc đi nhắc lại tới chục lần với vẻ vô cùng quan trọng rằng không một ai tin là chị ấy rất sợ dông bão. Anh họa sĩ khẳng định:

“Đúng thế, nhà tôi sợ dông bão lắm. Đêm qua tôi phải vào bếp đánh thức bà giúp việc để bà ấy tỉnh dậy mà cầu nguyện. Các ông bảo không thì chúng tôi thuê bà ấy để làm gì. Ấy thế mà mụ ấy lại ngủ tiếp, sáng hôm nay tôi đã tống cổ đi rồi.”

Ông Provazník nói rằng nhiều khi cầu nguyện là vấn đề không đơn giản. “Thí dụ, tôi nói được Mười điều răn theo kiểu trẻ con đọc thuộc lòng, nhưng sang Kinh lạy Cha thì cứ đến câu “Xin cho ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” là tôi lẫn, thành ra lại phải lặp lại từ đầu.”

Vợ họa sĩ nói rằng đêm qua gió to quá và chị ấy linh cảm là dứt khoát đã có người treo cổ, mà quả thật, buổi sáng bà hàng sữa kể là ở Hvězda có người treo cổ tự tử. Ông Provazník không nghe rõ đầu đuôi ra sao nên hỏi lại là người tự tử ấy đã giết ai.

“Vâng, vậy thì tôi cũng biết đó là ai!”

Tôi hỏi cô con gái ông chủ nhà có có sợ dông không. Cô ấy khúc khích cười: “Tôi ngủ say nên chẳng biết gì cả.” Cô ấy đang sửa một cái lồng chim to, mới được sơn lại. Cái lồng này làm giống kiểu một tòa lâu đài cổ kính, có cầu treo, có tháp và cửa sổ lồi. Cô ấy hỏi tôi có thể dùng nó để nhốt chim hoàng yến được không. Tôi trả lời: “Tất nhiên rồi!”, và bắt đầu nói về chim hoàng yến và lâu đài thời Trung cổ, nhưng nói chung là tôi thuyết trình rất dở! Có trời mới biết tại sao với bất kỳ người phụ nữ thông minh nào tôi cũng nói chuyện được dễ dàng, vậy mà với cô gái có vẻ đơn giản này tôi không biết nói năng thế nào! Tôi không biết cô ấy bao nhiêu tuổi. Khi cười, cô ấy có vẻ khoảng mười chín, nhưng khi cô ấy nhìn nghiêm nghị thì lại có vẻ ba mươi - tôi chịu không đoán ra được!

Ông Provazník đang khuyên họa sĩ khi vẽ chân dung thì phải để ý một chút đến mặt mũi người làm mẫu, rằng đó là điều thật sự quan trọng. Bởi lẽ công chúng không hiểu nghệ thuật chân chính nên họ đòi hỏi những cái ngốc nghếch như vậy. Rồi ông ấy lại thông báo là bây giờ ở Viên người ta đang vẽ chân dung bằng con lăn, rằng đó là cách vẽ rất tiến bộ, chỉ mười lăm phút là lăn được một bức chân dung. Họa sĩ vỗ vỗ vào lưng ông Provazník và ông ấy im bặt.

Ông chủ nhà đến và đưa cho chúng tôi các mảnh giấy. Ông ấy thì thầm bằng giọng khàn khàn.

Một lúc sau, ông Provazník kéo tôi sang một bên. Ông ấy nói là không ai làm bất kỳ một cái gì cho người dân nghèo Praha. Người ta chỉ nói: “Dân chúng rất khổ! Họ không có việc làm!”, thế nhưng không ai giải quyết vấn đề ấy. Ông Provazník nói rằng ông ấy có thể nghĩ ra được giải pháp. Thí dụ ông ấy có sáng kiến, mặc dù không phải là sáng kiến lớn, nhưng có thể giúp được một người nghèo nào đó. Để thực hiện sáng kiến này cũng không cần phải chi phí nhiều tiền, chỉ cần một chiếc xe đẩy tay nhỏ, trên đặt một cái nồi nhỏ để đun nước lấy hơi nước là đủ. Người ấy có thể đẩy xe đi đến từng nhà để lau rửa cán tẩu bằng hơi nước. Ông ấy nói là cứ tính ra thì ở Praha có rất nhiều người hút thuốc, chắc chắn là làm việc ấy sẽ kiếm được nhiều. Ông ấy hỏi tôi bảo sao về sáng kiến ấy, tôi nói là tôi khâm phục.

Chúng tôi lại chơi bài. Chúng tôi thỏa thuận là sẽ chơi giống như hôm qua vì đã quen như thế. Mọi thứ đều giống như hôm qua, chỉ khác là hôm nay tôi thua bảy mươi krejcar. Đến cuối ván bài ông chủ nhà lại hò hét.

Ông chủ nhà và cô con gái đi lên nhà. Vợ chồng họa sĩ lại suy nghĩ, cuối cùng anh chồng bảo chị vợ: “Ngày mai là chủ nhật, mẹ nó mua con ngỗng đi!”

Ông Klikeš vô cùng tức giận. Ông ấy là thành viên của đội kỵ binh thành phố; ngày hôm nay, ông đội trưởng qua đời, và cả đội phải họp để chuẩn bị tang lễ. Ông Klikeš đưa ra ý kiến là nên đánh điện sang Viên để đề nghị nâng cấp bậc người quá cố lên chức thiếu tá, như vậy tang lễ sẽ hoành tráng hơn. Nhưng đến dự cuộc họp cũng còn có người suy nghĩ chín chắn hơn và không tán thành ý kiến đó. Ông Klikeš tức đến không nói được ra lời.

Mọi người vẫn nói về cái chết. Nghe bảo gia đình ông lái buôn trong quảng trường cũng có người chết. Ai chết? Ông chủ quán trả lời: “À, bố ông ấy. Cụ ấy đã quá già, không thiết sống nữa.” Thế cụ ấy mất vì bệnh gì? “Vì bệnh lao, giống như cụ thân sinh trước đây. Xem ra thì nhà nào cũng có cái số của nhà ấy.”

Dân buôn bán mà. Nói gì cũng tính toán!

Không, không thể thế này được! Học với hành thế này ư? Tôi tiếp tục học, nhưng chậm như sên, đầu óc tôi chỉ nghĩ đâu đâu chứ không nghĩ gì đến sách vở. Nói là bị kích thích thì không đúng, nhưng tôi đang rối trí. Đầu tôi mang đầy hình ảnh của những người láng giềng, tôi có cảm giác tất cả đều nhốn nháo ở đó, có lúc người này hiện ra rõ hơn, có lúc thì người khác, họ nhào lộn trước mắt tôi, họ nói chuyện, họ nhăn răng cười, mỗi người một kiểu. Tình trạng này dứt khoát phải thay đổi chứ không thể có cách nào khác. Tôi chuyển sang sống ở Malá Strana đâu phải vì những người như thế!

Mười một giờ. Tôi nghe thấy tiếng kiếm va chạm loảng xoảng ở trong bếp; có vẻ như trong nhà có người họ hàng là người lính. Lính kỵ binh chăng?

Có tiếng khóc, tiếng gào thét inh ỏi của vợ anh họa sĩ, rồi tiếng kêu đau đớn, tiếng rên, tiếng sủa ăng ẳng của con chó nhà ấy. Tôi hiểu ra rằng con chó đã phạm một tội ghê gớm, nó đã cắn nát và nuốt mất cái ví tiền của vợ họa sĩ, trong đó có cả ảnh kỉ niệm của gia đình, mấy sợi tóc của người cha đã qua đời, mẩu giấy ghi lời thú tội từ ngày cưới và trăm thứ bà rằn khác.

Khá im ắng được nửa tiếng đồng hồ, rồi lại một trận ầm ĩ mới bên nhà vợ chồng họa sĩ. Anh họa sĩ đi đâu về, chắc là đi quán rượu về. Tôi nghe tiếng anh ta nói to, rồi tiếng chửi, cuối cùng là tiếng gầm thét:

“Tao nói cho mà biết, đồ ngu xuẩn khốn kiếp ạ, gan ngỗng là thứ dành cho chủ gia đình, hiểu chưa? Cả thế gian này ai cũng nói thế, đồ ma chê quỷ hờn ạ!”

Anh ta loạng choạng ra gần cửa sổ. Tôi vội vàng cúi nhìn xuống dưới bậu cửa sổ. Anh ta gọi:

“Anh Sempr ơi, gan ngỗng là thứ dành cho chủ gia đình, tôi nói đúng hay là không đúng?”

Tôi không nghe thấy anh Sempr nói gì, nhưng họa sĩ lại gầm lên:

“Thấy chưa, đồ…”

Chắc hẳn vì đau buồn do mất ảnh kỉ niệm của gia đình mà chị vợ đem nướng lá gan ngỗng rồi ăn mất. Hai người lời qua tiếng lại mãi, rồi tiếng anh họa sĩ quát:

“Nó nhai nuốt cả hai tờ một chục đồng nữa ư? Lấy cái gì mà ăn bây giờ, hả?”

Buổi chiều đẹp và yên ả. Cái yên ả ngày chủ nhật làm cho con người ta thấy thoải mái dễ chịu. Cái yên ả khiến tôi phải xuống vườn. Ngoài đó đang không có ai, chỉ có cái yên lặng đến trang nghiêm. Tôi thong thả đi dạo, ngắm từng bụi cây, từng cọng lá, tất cả như đang được phủ lớp phấn hoa ngày chủ nhật. Lòng tôi thanh thản đến bâng khuâng, tôi sung sướng muốn nhảy lên như đứa trẻ, nhưng lại sợ rằng có ai đó nhìn thấy tôi qua cửa sổ. Không gian im ắng, vậy mà ta vẫn cứ lắng nghe, vẫn cứ có cảm giác như nghe thấy âm thanh từ một thế giới xa vời, từ một thế giới huyền thoại tuyệt đẹp nào đó. Tôi bước vào một cái chòi vườn và nhảy cẫng lên - ôi, mới sung sướng làm sao! Tôi nhảy lên một cái nữa - sao mà khoan khoái làm vậy!

Tôi đi từ chòi này sang chòi khác. Tôi ngắm nhìn chúng và tưởng tượng ra từng gia đình ở đó, nhớ đến từng thành viên của các gia đình, đến cử chỉ tính cách đặc biệt của từng người - tôi cười thầm và thấy trong lòng rất vui vẻ.

Tôi chợt nhìn thấy cái đàn piano! Ôi cây đàn cũ kĩ với tiếng đàn yếu ớt già nua. Giá mà biết nói thì nó sẽ kể những chuyện gì? Đã bao lần người ta vui cười bên nó, đã bao lần người ta nghẹn ngào thở ngắn than dài, đã bao lần tâm hồn người ta bay bổng theo những làn điệu êm đềm!

Tôi ngồi xuống và mở phím đàn. Năm quãng tám - khổ thân tôi chưa! - Đã có hồi tôi chơi đàn, nhưng mà thời ấy xa xưa quá rồi trời ạ! Tôi nhớ tôi đã không muốn học đàn, mà thầy giáo cũng chẳng để tâm, ông chỉ đến nhà tôi vào dịp những ngày đầu tháng thôi. Ôi, cái thời gian vàng son của tuổi trẻ! Tôi nghĩ ngợi.

Nhưng dứt khoát là tôi vẫn còn phải nhớ một cái gì chứ, ít ra là các hợp âm! Đô thăng - Mi - La, nghe được! La - Rê - Fa thăng, tuyệt vời! Cao hơn một chút xem sao nào: Rê - Fa thăng, La - Fa thăng, La - Rê…

“Vậy là luật sư cũng biết chơi piano đấy! Hay quá!”

Đột nhiên, tôi nghe thấy tiếng anh họa sĩ. Tôi giật mình quay lại - sau lưng tôi là tất cả dân chúng của cả nhà nước cộng hòa, của cả cái vườn của chúng tôi. Tôi cứng người lại và cứ vậy ngồi yên như khúc gỗ.

“Anh chơi cái gì đi, xin anh!” Cô Otylie líu lo.

“Quả thật là tôi không biết chơi, thưa cô, tôi không biết một cái gì cả! Chưa bao giờ tôi động vào đàn piano, tôi có chơi violon, nhưng thật ra thì...”

“Ô, như vậy lại càng hay, tôi nghe thấy anh bấm các hợp âm rất chuẩn mà, chắc chắn là anh chơi được, thật đấy! Xin anh, xin anh!” Nói đoạn, cô ấy vo tay khẩn khoản. Lúc này, trông cô ấy như cô gái mười chín.

Có trời mới biết tại sao tôi đã không bỏ chạy! Con người ta là một kẻ tự kiêu tự mãn kinh khủng, thậm chí đến lố bịch.

“Tôi thật sự không biết chơi, cô ạ... thôi vậy, tôi sẽ chơi... nhưng xin cô đừng cười tôi nhé!”

Tôi nhớ là trước đây tôi đã chơi thuộc lòng được một hành khúc trong vở opera Norma của nhà soạn nhạc người Ý Bellini. Tôi đã chơi ở đâu đó rồi cách đây mấy năm, chắc chắn là tôi phải còn biết chơi! Tổ hợp phím đầu tiên Son - Si giáng - Rê trong âm trầm giống như trong âm cao. Tôi đặt ngón tay lên phím Son - Si giáng - Rê và bấm phím. Đến nhịp thứ mười thì tôi không biết tiếp tục như thế nào nữa ...

“Anh chẳng biết chơi gì cả,” ông Provazník xì một câu khinh mạn.

“Cứ như bổ củi vậy,” ông chủ nhà lầm bầm.

Tôi xấu hổ đến toát mồ hôi.

“Nhưng mà hay đấy chứ.” cô Otylie khen. “Luật sư không bao giờ chơi piano mà chơi hay thế, anh chắc chắn phải có khiếu âm nhạc.”

Tôi muốn ôm lấy cô vì cảm động, cô thật tốt bụng!

“Tôi biết từ lâu rồi là luật sư rất có tài. Anh huýt sáo rất hay... sáng hôm nay tôi nghe thấy anh huýt bài La Travianta.”

Cô ấy để ý đến tất cả mọi chuyện! Phụ nữ thật hay tò mò! Hay là... hay là cô ấy... Ôi trời đất ơi! Nhưng mà... sao lại kêu trời kêu đất nhỉ? Tôi không nói là tôi thích cô ấy, là cô ấy có thể làm cho tôi thích, nhưng mà...

“Để tôi lại chơi cho các ông nghe một bản nhạc không lời.” ông chủ nhà nói và ngồi vào ghế.

Ông ấy chơi một lúc rồi cũng không biết chơi tiếp thế nào - bây giờ là buổi chiều mà! Mặc dù vậy, tôi cũng vỗ tay. Ông Provazník nhe răng nhạo báng:

“Nghe mới êm ái làm sao chứ! Chơi cho lũ ăn mày nó nghe thì có!”

Vợ họa sĩ tới. Chị ấy đã đi tìm Pepík, mãi mới thấy nó đứng bên chỗ chơi bóng gỗ ở một quán ăn ngoài trời. Nó cho đứa trẻ xếp chai gỗ hai đồng xu để khi nào nhiều chai đổ thì nó được kêu to lên. Thế mà bây giờ trước mặt mọi người, nó bị mẹ bạt tai và mắng như tát nước. Hôm nay vợ họa sĩ không nói ngọng tí nào - chắc con chó tham ăn đã làm chị ấy khỏi ngọng!

Chị ấy ra lệnh cho Pepík: “Bây giờ mày phải ở nhà, không được đi đâu cả! Vào bế em ra đây!” Pepík uể oải đi vào nhà.

Một lúc sau, có tiếng trẻ con kêu inh ỏi. Rồi thấy Pepík hiện ra ở bậc thang, nó mang em ra, nhưng hai tay nó tóm cổ đứa em như tóm con chó con. Đứa bé không khóc được nữa, cả người nó tím tái. Mẹ chúng nó chạy đến đỡ đứa nhỏ và tạt tai đứa lớn.

Hôm nay, tất nhiên là cả anh họa sĩ cũng không vui vẻ! Anh ấy luôn miệng ca thán là nghề vẽ tranh của anh ấy không kiếm ra tiền.

“Thế sao anh không chuyển sang điêu khắc, hay là đắp tượng? Anh vẫn còn trẻ chán để tập làm những cái ấy,” ông Provazník bàn vào.

“Chuyển sang điêu khắc để mà chết à? Chính bọn ấy mới không có gì đút miệng - chẳng lẽ đi khắc que kem hay sao?”

Tôi và cô Otylie tách khỏi mọi người. Chúng tôi ra ngồi ở một chòi vườn và nói chuyện với nhau. Đúng ra thì hầu như chỉ có tôi nói. Cũng lạ là hôm nay tôi nói trôi chảy, không lúng túng gì cả. Nhưng tôi chỉ quanh quẩn nói về mình - cũng chẳng sao, ít ra thì khi nói về mình, ai cũng nói một cách nồng nhiệt, sâu sắc và cụ thể. Tôi thấy cô Otylie khâm phục tôi. Cô ấy liên tục chỉ ra cho tôi thấy thêm một tài năng mới nào đó của tôi, hay về một tính cách tốt đẹp nào đó mà tôi có. Cô ấy rất có tài quan sát và là một cô gái dễ chịu!

Buổi tối, ông Klikeš nói rất nhiều với anh Sempr và xem ra anh Sempr cũng đặc biệt chăm chú nghe. Tôi hiểu được là ông Klikeš đang thuyết phục anh Sempr lấy vợ một lần nữa, rằng ông đã tìm ra được một cô dâu cho anh ấy. “Cô ấy hăm sáu tuổi... có ba nghìn... có nhiều quan hệ với những người quan trọng... ai cũng mến cô ấy.” Biết đâu, tôi lại còn được dự một đám cưới ở đây!

Ngày hôm nay, ông thượng úy để ý nhìn tôi rất nhiều. Ít ra đến hai chục lần ông ấy nhìn về phía tôi. Ông ấy muốn gì vậy?

Tôi học, nhưng chẳng ra học. Ngay từ sáng, tôi chỉ muốn ngồi ngoài vườn, hoặc là một mình, hoặc là với mọi người, thế nào cũng được. Tôi mung lung suy nghĩ về... (bây giờ tôi cũng chẳng nhớ đã nghĩ về cái gì nữa).

Ái chà chà - hôm nay anh họa sĩ làm ồn ào sớm quá! Nếu không nhầm thì tôi thấy kẻ bị đánh thứ nhất là vợ anh ấy, thứ hai là Pepík và thứ ba là con chó. Cho đến bây giờ vẫn còn nghe thấy nó ư ử rên.

Họa sĩ đến phòng tôi. Anh ấy hỏi tôi có tờ giấy đẹp nào để viết thư không. Anh ấy phải viết thư cho cha cố nhưng ở nhà không có giấy. Anh ấy nói rằng rất không thích viết thư, đúng ra là vô cùng ghét chuyện viết thư. Nhưng một khi đã phải viết thì anh ấy cần yên tĩnh, không thì không nghĩ ra được gì để mà viết. “Ở cái địa ngục trần gian bên nhà tôi thì yên tĩnh đáo để, luật sư ạ! Tôi phải trấn an, tôi đã cho chúng nó một trận đòn rồi, nếu mà vẫn không im thì tôi còn đánh nữa! Tôi cũng đuổi con bé giúp việc đi rồi, cái mồm nó cứ xoen xoét ấy!” Từ khi tôi đến ở nhà này, đó là người giúp việc thứ tư ở nhà anh ấy.

Tôi đưa giấy và anh ấy đi về nhà. Một lát sau, Pepík nước mắt ngắn nước mắt dài đến chỗ tôi, bảo rằng bố nó sai sang xin tôi cho mượn cái bút tốt để viết thư. Tôi đưa cái bút cho thằng bé.

Bên kia, anh họa sĩ đang đi đi lại lại trong phòng, chắc là đang suy nghĩ.

Tôi xuống mua mấy thứ ở cửa hàng bên cạnh. Bây giờ khi cần gì, tôi đều tự đi mua lấy. Khi về đến trước cửa nhà, tình cờ tôi gặp một người thân quen là bác sĩ Jensen, bây giờ làm trưởng khoa ở bệnh viện tâm thần. Anh đang chậm rãi đi và ngắm nhìn phố xá.

“Kìa, xin chào bác sĩ, anh đang làm gì ở đây thế?”

“Chào anh. Ấy, chả làm gì, tôi đi dạo thôi. Tôi thích đi dạo ở Malá Strana. Còn anh?”

“Tôi đang ở đây. Tôi mới chuyển sang đây cách đây không lâu anh ạ.”

“Ở chỗ nào vậy?”

“Đúng chỗ này đây.”

“Thế ư? Vậy thì nếu anh đồng ý, tôi vào thăm anh một lát.”

Tôi rất quý bác sĩ Jensen. Đó là người đàn ông thông minh, dễ chịu, tuy hơi lạnh lùng. Anh ấy thấy thích phòng tôi ở, cái gì anh ấy cũng xem, cái gì cũng có lời bình phẩm. Tôi mời ngồi, nhưng anh ấy nói là thích đứng hơn, rằng lúc này đứng ở cửa sổ rất dễ chịu. Anh đến bên cửa sổ, đứng quay lưng về phía vườn, mặt hướng sang hành lang ở tầng hai. Tôi có tấm gương treo trên tường gần cửa sổ, và để ý thấy bác sĩ liên tục soi gương. Tôi có cảm giác là ngược lại với những gì chân thực của mình, anh ấy đang hơi tự mãn một chút. Anh hỏi tôi tại sao lại sang Malá Strana ở. Tôi trả lời rằng tôi đã hi vọng là tìm được nơi yên tĩnh để học thi, nhưng nói thêm là tôi đã hơi nhầm, vì dân chúng ở đây không hẳn là những người bình lặng. Anh ấy hỏi tôi những ai ở trong nhà này. Tôi bắt đầu kể về ông Provazník, vì cho rằng đối với bác sĩ tâm thần thì đây là trường hợp đáng chú ý. Tôi kể rất sôi nổi, rất chi tiết - nhưng tôi thấy là bác sĩ Jensen không hề để tâm chú ý chút nào đến ông Provazník. Anh ấy nhìn vào tấm gương. Bất chợt, anh ấy giật mình và nghiêng người ra ngoài cửa sổ, rồi hỏi tôi người đang ở ngoài hành lang có phải là con gái ông chủ nhà không. Tôi ngạc nhiên hỏi lại là anh ấy biết cô ấy chăng. Anh ấy nói là biết gia đình này từ lâu rồi. Một câu hỏi mắc trong cổ họng tôi - tôi nhớ lại những cử chỉ lạ lùng, nhiều khi hết sức lạ lùng, của ông chủ nhà - nhưng cuối cùng tôi cũng lắp bắp hỏi. Bác sĩ Jensen cười: “Ối trời! Ông ấy là người bệnh tưởng, nhưng ông ấy cũng rất khổ sở vì bệnh ấy đấy. Tôi biết gia đình này từ khi tôi còn nhỏ, vì mẹ tôi trước đây là bạn của họ. Chỉ có điều lạ là cô Otylie vẫn chưa lấy chồng! Cô ấy khá xinh xắn, rất dễ chịu, được bảo ban dạy dỗ về nội trợ, lại có tiền. Ngôi nhà này không mắc nợ nần gì cả, ngoài ra, họ còn có tài sản rất lớn... thật hoài của, vì cô ấy là một đám tuyệt vời! Mà còn...”, anh ấy nghiêng người ra ngoài cửa sổ, cười cười và gật đầu chào.

À ra thế! Có phải là anh ấy tình cờ đi dạo đâu! Chỉ có tôi tình cờ làm cớ cho anh ấy lợi dụng thôi! Tự nhiên, tôi thấy có ác cảm với anh ấy.

Một lúc sau, bác sĩ Jensen chào tôi để về và hẹn là khi nào có dịp đi qua đây thì lại đến. Anh ấy không việc gì mà phải đến! Tôi nghĩ là tôi đã bất lịch sự và không trả lời.

Vậy là bác sĩ Jensen cũng chưa vợ như tôi! Không... thật sự là không... tôi không nghĩ gì cả, có mà điên... nhưng đúng ra mà nói thì người luật sư trẻ nào cũng nên bắt đầu sự nghiệp với một vốn liếng nào đó... hi hi! He he he! Nghĩ ngợi vớ vẩn thế để làm gì mà lại đúng vào lúc này nữa!

Tôi nghĩ là nhà văn Neruda nói đúng, khi ông ấy khẳng định rằng cánh đàn ông chúng ta ghen tuông vì bất kỳ người đàn bà nào, ngay cả khi chúng ta hoàn toàn không có quan tâm gì đến người ấy.

Họa sĩ vẫn đi đi lại lại trong phòng đối diện. Anh ấy vẫn còn đang suy nghĩ.

Tôi gặp rủi ro trong bữa trưa. Có một gia đình nhà ruồi bơi ở trong đĩa xúp. Tôi đãng trí nuốt mất ruồi bố và ruồi mẹ, chỉ còn cái trứng ruồi đang bơi trong xúp, nhưng tôi đã không thể nuốt được nữa. Tính ra thì tôi ăn ruồi, Pepík nhai các bức thư, con chó cắn nát ảnh kỷ niệm của gia đình - có trời mới biết những cái gì trong nhà này còn có thể đưa ra để ăn và nhai cắn được nữa!

Thế là tôi đã biết người đó là ai rồi! Tôi đang đứng bên cửa sổ thì lại nghe thấy tiếng kiếm va lanh canh từ phía cầu thang. Tôi cúi xuống nhìn và trông thấy ông thượng úy béo tròn. Trong ghi chép của mình, tôi đã gạch tên ông ấy.

Ông ấy có họ hàng với cô chủ hộ chăng?

Buổi chiều, chúng tôi đã nói chuyện với nhau ở ngoài vườn. Ông Provazník ghé tai tôi thì thầm với vẻ rất thích chí, rằng ngày hôm nay, lần đầu tiên ông ta để ý thấy người phụ nữ trẻ ở căn hộ bên cạnh có hai mắt đỏ hoe. Tôi thấy ông ấy thật đáng ghét! Rồi ông ấy hỏi ông chủ nhà hôm nay có đi dự đám tang ông đội trưởng đội kỵ binh thành phố không. “Không! Tôi không đi đám ma đám tang nào hết. Từ ngày cha tôi mất, tôi chẳng đi một đám tang nào cả. Lần ấy, bọn nhạc công chơi sai điệu, sai kinh khủng! Cho đến bây giờ, nốt nhạc chối tai ấy vẫn làm khổ tôi!” Cái lý do mới hay làm sao chứ!

Anh họa sĩ đến. Cái lo lắng suy nghĩ hiện rõ trên khuôn mặt đỏ bừng.

“Anh viết thư xong chưa?” Tôi hỏi.

“Chưa. Phải ngày mai mới xong. Tôi không viết nhanh được.”

“Nếu muốn viết hàng trăm bức thư cho cha cố thì lấy đâu ra tiền gửi nhỉ?”, ông Provazník chen lời.

“Ôi giời, hàng trăm lá thư thì có đáng bao nhiêu, tốn một tí thế cũng chẳng hại ai!”

“Hô hô!” Ông Provazník nổi giận thật sự, “các ông chẳng biết gì hết! Chỉ cần có một trăm thôi là tôi cũng đủ sống rồi! Mà sống dễ như bỡn! Tôi sẽ thuê một thửa ruộng ở gần Praha, rồi mua hạt giống về gieo. Các ông có biết tôi sẽ gieo gì không? Tôi sẽ gieo toàn hạt kế sữa. Rồi có thể có thợ săn chim đến thuê thửa ruộng ấy để bắt chim sẻ thông vàng. Nếu không có người thuê thì tôi sẽ tự bắt chúng.”

“Ông đừng quên làm hàng rào xung quanh nhé!”

“Vì sao mà phải rào?”

“Để khỏi có gió lùa, không thì cây kế sữa sẽ bị thấp khớp!” Họa sĩ bắt đầu nói đùa.

Ông chủ nhà hôm nay vô cùng buồn bã. Hôm nay ông ấy không đưa các mảnh giấy, nhưng lại có một cái lo lắng khác. Ông ấy nghĩ là mũi ông ấy sẽ bị rơi. Ban sáng ông ấy đọc một bài báo của Vogt, thấy viết là việc mũi rơi bắt đầu từ bệnh sổ mũi. Ông ấy nhớ ra rằng bị sổ mũi đã mấy ngày rồi, và biết chắc chắn là một bên mũi “đã bắt đầu bị lung lay”. Chỉ có điều bây giờ là buổi tối nên ông ấy không biết cánh mũi bên phải hay bên trái đã lung lay.

Cô Otylie buồn rầu nhìn bố và khó khăn lắm mới nén được tiếng thở dài. Chúng tôi lại cùng ngồi nói chuyện với nhau ở một góc chòi. Nhưng hôm nay thì khác hôm trước, hôm nay chủ yếu chỉ cô ấy nói và giãi bày tâm sự. Tôi lắng nghe cô và cũng cảm thấy buồn buồn. Tôi thấy lòng trắc ẩn của tôi làm cô ấy nhẹ nhõm thanh thản hơn.

Tất cả mọi người đã vào nhà. Chỉ còn mình tôi ngồi lại trong vườn. Hôm nay tôi không thể ra quán được, tôi không thích hợp được với mọi người, tôi cảm thấy hoàn toàn không bình thường. Nỗi bâng khuâng hòa lẫn cái ngọt ngào êm dịu trong tôi.

Hôm qua và hôm nay tôi đã tỉnh dậy khá sớm, có lẽ vì trời nóng. Dậy sớm là việc tốt, nhất là khi cần học bài. Thế nhưng tôi tỉnh giấc mà không dậy. Nằm trên giường, tôi thấy thoải mái, trong đầu tôi tản mạn mọi suy nghĩ và tôi có cảm giác đang ở trạng thái nửa tỉnh nửa mơ. Khi nghĩ đến một cái gì thú vị, tôi giữ chặt nó và mơ tiếp.

Thú thật, tôi nghĩ đến việc học một cách rất chung chung. Tôi đang học về Luật khoáng sản và những thuật ngữ không quen thuộc của nó làm tôi cứ lẫn lộn lung tung. Vì vậy, cái giường tôi nằm trở thành nơi mơ mộng và giải thoát. Khi đứng bên em Otylie, lập tức hai chúng tôi rơi vào vòng mơ mộng, và tôi thấy mình cần phải bảo vệ quyền được mơ mộng.

Tôi để ý thấy mình viết “Em Otylie”. “Cẩn thận, cẩn thận đấy nhé!”

Nhà anh họa sĩ im ắng khác thường. Anh ấy đang ngồi bên bàn, hai tay chống cằm, nhìn lên cao và suy nghĩ.

Buổi chiều, bác sĩ Jensen lại đến! Anh ta có vẻ tích cực quá!

Tôi nghĩ là tôi đối xử với anh ấy không được niềm nở cho lắm, nhưng xem ra anh ấy chẳng bận tâm đến điều đó, thậm chí tôi còn có cảm giác là anh ấy cũng không để ý gì đến tôi.

Bây giờ anh ấy lại đứng trước tấm gương ở gần cửa sổ. Theo tôi thì không có gì buồn bằng hình ảnh người đàn ông đứng ngắm nghía mình trước tấm gương.

Khi nhìn thấy ông chủ nhà cùng con gái đang đi qua sân ra vườn, anh ấy gọi họ từ cửa sổ và nói với họ rất thân thiết. Trên đời này, có nhiều người tự dành cho mình nhiều thứ quyền lợi từ mối quan hệ lâu năm với người khác. Hai cha con ông chủ nhà mời anh ấy xuống vườn. Anh ấy mời tôi. Vậy thì chúng ta đi xuống đó, để rồi xem ai hơn ai. Nhưng không, chúng tôi không phải xem gì cả, vì tôi có muốn gì đâu! Tôi thật sự cảm thấy rằng tôi hoàn toàn không muốn gì cả.

Hôm nay, ở ngoài vườn có vẻ gì khác hẳn, tôi có cảm giác nó xa lạ với tôi. Một bầu không khí khác, những con người khác. Nhưng nghĩ cho cùng thì tôi thấy tôi chỉ khó chịu với bác sĩ Jensen mà thôi. Anh ấy nói chuyện một cách thú vị, nhưng như ta biết, có nhiều người rất nông cạn hời hợt để mà về cái gì cũng nói một cách thú vị. Tất cả mọi người đều có mặt, chỉ trừ ông Provazník. Họ lắng nghe anh Jensen, cứ như thể anh ấy nói những chuyện gì quan trọng lắm. Về phần mình, tôi chẳng bận tâm gì đến việc tôi nói chuyện không “thú vị”.

Tôi thử gợi chuyện để thu hút sự chú ý về mình, và hỏi họa sĩ:

“Anh đã viết xong thư chưa?”

“Chưa, ngày mai, tôi phải để nó ngấm đã,” anh ấy trả lời và quay ngay lại hỏi chuyện anh Jensen.

“Thưa bác sĩ, chắc chắn bác sĩ phải có một cuộc sống rất thú vị!”

“Sao vậy?”

“Ấy, vì ở bệnh viện tâm thần chắc là phải nhiều cái vui lắm. Bác sĩ hãy kể cho chúng tôi nghe chuyện gì đi!”

Thế là tôi lại bị gạt sang một bên. Giá mà ông Provazník có ở đây! Nhưng tôi thấy anh Jensen đang có vẻ hơi lúng túng và tôi lấy làm phấn khởi. Anh ấy nói về cái khác nhau giữa người mắc bệnh điên và người mắc bệnh u buồn, nhưng không ai thấy thích. Họ muốn nghe kể về những người mang bệnh thần kinh “nghĩ về mình”, thí dụ chuyện người đàn ông nghĩ rằng mình là hoàng đế La Mã, hay người đàn bà cho rằng mình là Đức mẹ Đồng trinh Maria. Nhưng bác sĩ Jensen không làm vừa ý họ, vì anh ấy tiếp tục nói một cách khoa học, rồi anh ấy khẳng định là “hầu như người nào cũng mang trong mình một chút bệnh tâm thần”. Mọi người thấy phẫn nộ, riêng ông chủ nhà thì bình thản gật gù và nói: “Nhiều người khi khỏe mạnh không biết là mình có gì.”

Cuối cùng, bác sĩ Jensen chia tay và nói là sẽ lại đến sớm. Tôi nghĩ thầm: cậu hãy làm thế nào để khỏi đến muộn!

Ngày hôm nay, ông Provazník không xuống vườn với chúng tôi.

Sau khi bác sĩ Jensen đi khỏi, mọi người còn nói lâu, nói quá lâu, về anh ấy. Cô Otylie ghé sang tôi, nói thầm:

“Tôi sợ anh ấy.”

Tôi trả lời: “Cách xử sự khôn khéo tự nhiên nhiều khi là một điều tuyệt vời.”

Ông Klikeš nói hùn mãi vào cho anh Sempr. Ông chủ quán cúi sát đầu vào họ. Ông ấy khục khặc ho và cứ nhìn ông Klikeš như muốn nuốt chửng ông ta.

Mới chín giờ sáng mà bác sĩ Jensen đã đến đây rồi. Anh ấy nhìn ra vườn, nhìn suốt hành lang và ít nhất là ba lần anh ấy ngắm nghía rất lâu trước gương. Anh ấy hỏi tôi có ai ra vườn buổi sáng sớm không. Tôi trả lời nhát gừng: “Không!” Cuối cùng anh ấy hỏi có làm phiền tôi không. Tôi nói thật sự đã đến lúc tôi phải chăm chỉ học. Thế là anh ấy ra về với vẻ mặt cau có. Mặc kệ!

Buổi trưa, họa sĩ đến hỏi vay tôi một chiếc phong bì thư. Bây giờ tôi nhìn qua cửa sổ sang bên nhà anh ấy. Chị vợ và cậu con trai đứng cạnh bàn xem anh ấy ghi địa chỉ.

Anh họa sĩ đi đi lại lại trong phòng, tay cầm bức thư và thỉnh thoảng lại dừng lại để đăm chiêu ngắm nghía thành quả lao động trí óc của mình. Chắc là anh ấy cảm thấy tự hào.

Buổi chiều, tôi là người ra vườn đầu tiên. Tôi tưởng như thời gian chờ mọi người xuống vườn là vô tận.

Mãi một tiếng đồng hồ sau, ông chủ nhà và cô Otylie mới ra vườn. Ông chủ nhà bàn chuyện chính trị với tôi. Ông ấy nhanh chóng đi đến kết luận, rằng tất cả mọi sự đều bắt nguồn từ chỗ là các nhà vua “không bao giờ bằng lòng với những gì họ có.” Tôi nhiệt liệt tán thành. Ông ấy còn nói thêm nhiều câu ngạn ngữ của mình nữa và tôi thán phục tất cả. Rồi tôi và Otylie nói chuyện thân mật riêng tư với nhau. Có trời biết tại sao tự nhiên câu chuyện lại xoay quanh đức hạnh của tôi. Cô Otylie nhiệt tình khen phẩm hạnh của tôi và cô ấy cứ nói mãi không thôi về tôi. Cô gái ấy tìm ở đâu ra đức hạnh của tôi nhỉ?

Vợ chồng họa sĩ đến. Anh chồng với bộ mặt thỏa mãn, tỏ vẻ gần như chiến thắng. Chị vợ lại có cái lưỡi sắc như dao.

“Thư viết xong rồi ư?” Tôi hỏi.

“Ồ, tất nhiên rồi,” họa sĩ trả lời, làm như là đối với anh ấy, việc giải quyết thư từ cho cả châu Âu là chuyện trò chơi, chỉ cần nửa ngày là xong.

“Đáng lẽ anh phải viết thêm về cô Wilhemová,” chị vợ vừa nói vừa cười, “các cha cố thích những chuyện như thế!”

Cô Wilhemová có chuyện gì mà đáng lẽ anh họa sĩ phải viết nhỉ?

“Tôi còn phải viết một bức thư nữa cho anh tôi ở Tarnov. Hàng năm, chúng tôi viết cho nhau hai lần. Mấy anh em chúng tôi đã thỏa thuận với nhau như vậy.”

Không ai để ý đến điều ấy, nhưng chuyện về cô Wilhemová thì vẫn được tiếp tục. Họ nói về ông thượng úy, về việc cô Wilhemová bao giờ cũng thò đầu ra ngoài để xem ông thượng úy đã đến chưa. Họ kể chuyện ấy một cách rất lạ lùng bí ẩn, đồng thời nhìn tôi và cười. Bất chợt, trong đầu tôi lóe lên một điều... À, ra thế! Vì vậy mà tôi “ngu” ư? Tôi nổi nóng, nói một cái gì đó, tôi cũng không nhớ đã nói gì.

Sau đó chúng tôi chơi bài, chỉ ba người chơi. Tôi chịu một cách nhẫn nại nhất tất cả các lỗi của ông chủ nhà và công nhận ông ấy đúng trong mọi trường hợp. Tôi cũng duỗi chân dưới gầm bàn ra đến tận chỗ ông ấy, để ông ấy thoải mái giẫm. Ông ấy đã đạp chân tôi như nghệ sĩ chơi đàn đại phong cầm đạp vào pê-đan vậy.

Ông Provazník hôm nay cũng lại không ra vườn.

Chưa bao giờ có chuyện ngu ngốc tương tự như vậy xảy ra với tôi!

Tôi đến ăn chiều ở nhà anh Morousek, bạn thân của tôi. Nhà anh ấy ở mãi tận cuối khu Smíchov nên tôi thuê một chiếc xe ngựa để đến. Chúng tôi vui vẻ chuyện trò đến khuya, sau đó tôi chậm rãi đi bộ về nhà. Trời ban đêm tuyệt đẹp, trong đầu tôi lung bung đầy suy nghĩ. Đường phố vắng tanh, chỉ có một người đánh xe ngựa nào đó chắc đã buồn ngủ đang đánh xe về nhà; con ngựa mệt mỏi bước, chiếc xe chậm chạp lăn, tiếng bánh xe lọc cọc đơn điệu làm tôi thấy dễ chịu. Đến chỗ cách nhà tôi ở hai nhà, chiếc xe ngựa bỗng chạy vượt lên, người đánh xe nghiêng người khỏi xe và hỏi tôi: “Sao ông không lên xe hả ông?” Trời đất ơi, cái xe ngựa tôi thuê! Tôi đã quên trả tiền để anh ta đi, thành ra anh ta chờ tôi đến đêm. Tôi đã phải trả anh ta ba đồng tiền vàng!

Không còn nghi ngờ gì nữa - tôi đang yêu!

Biết đâu có ngày trên báo in dòng quảng cáo như sau: “Chúc mừng luật sư Krumlovský và cô Otylie - cô dâu kiêu sa”. Đối với cánh đàn ông thì cô nào cũng “kiêu sa”! Không ai được biết gì về chuyện này... tuy vậy...

Cần phải làm rõ ràng quan hệ giữa chúng tôi!

Chuyện đâu có chuyện lạ như vậy. Tôi tức đến lộn ruột, người vẫn còn run lên vì giận dữ!

Có tiếng kiếm va lanh canh ở bên ngoài. Rồi tiếng gõ cửa phòng tôi. “Xin mời vào!” Người vào phòng là một đại úy, chứ không phải là ông thượng úy như tôi tưởng. Tôi đứng lên và tò mò ngắm nhìn người khách lạ. Ông đại úy mặc quân phục rất chỉnh tề, đội mũ hình trụ cao. Ông ấy giơ tay chào.

“Thưa - ông là luật sư Krumlovský ạ?”

Tôi gật đầu.

“Tôi đến đây theo lệnh của thượng úy Rubácký.” Rubácký là tên của ông thượng úy béo ở tầng dưới, và là người của cô chủ hộ.

“Ông muốn gì?”

“Ngài thượng úy thấy bị xúc phạm vì những lời ông nói ngày hôm qua ở ngoài vườn về ngài và về bà Wilhemová. Bà ấy là bạn gái rất đáng quý trọng của ngài. Thượng úy cử tôi đến đây yêu cầu ông phục hồi danh dự cho ngài.”

Tôi đập tay lên trán và giương mắt nhìn ông ta. Tôi cố nhớ ra buổi chiều ở ngoài vườn. Vâng, hôm qua ở ngoài ấy chúng tôi có nói chuyện gì đó, đúng là tôi cũng nói gì đó, nhưng giá mà ông ta có giết tôi, thì tôi cũng không nhớ tôi đã nói gì.

Đại úy đứng yên chờ tôi trả lời. Tôi tiến đến gần ông ta và thấy mình bắt đầu run.

“Thưa,” tôi lắp bắp, “chắc là có sự hiểu lầm. Ai nói với ông thượng úy là...”

“Tôi không biết!”

Có ai gõ cửa hay sao? Hay là cô Wilhemová nghe vọng qua cửa sổ? Nghe cùng với ông thượng úy chăng?

“Mọi người đã nói chuyện gì đó... quả thật tôi nhớ như vậy... nhưng làm sao mà tôi nói được gì về ông thượng úy... tôi có biết ông ấy đâu... tôi chỉ nhìn thấy ông ấy thôi...”

“Thưa ông, cái đó không liên quan gì đến tôi. Ngài thượng úy cử tôi đến đây chỉ để yêu cầu ông phục hồi danh dự cho thượng úy.”

“Thế nhưng tôi xin đảm bảo với ông như thế! Làm sao có chuyện tôi nói gì chống lại thượng úy! Tôi nghĩ là tôi rất kính trọng thượng úy, và...”

“Thưa ông, tôi đã nói rồi, tôi yêu cầu ông trả lời dứt khoát.”

“Vậy thì, nếu ngài thượng úy nghe lời nói xấu ở đâu mà nghĩ rằng tôi đã xúc phạm ngài - có trời chứng giám là không bao giờ tôi lại có ý định ấy - vậy thì xin ông nói lại với thượng úy rằng tôi xin thượng úy thứ lỗi cho tôi.”

“Cái đó chưa đủ.”

“Vậy thì ông ấy muốn gì? Tôi phải đứng trước những người ấy...”

“Ngài thượng úy Rubácký yêu cầu được phục hồi danh dự bằng vũ khí.”

“Ngài thượng úy là người điên,” tôi thốt lên. “Tôi chưa bao giờ đánh nhau và sẽ không bao giờ đánh nhau!”

“Tôi sẽ chuyển lời.” Anh ta giơ tay chào rồi đóng sầm cửa. Thì hãy xéo đi!

Tôi run cả người vì tức giận! Đấu chiến ư? Đến cầm kiếm như thế nào tôi cũng còn không biết! Có mà điên rồ, tôi - tiến sĩ luật - luật sư tương lai! Điều 57 luật Hình sự coi đấu chiến là tội ác, các điều từ 158 đến 165 nói về hậu quả của nó, và đó là những hậu quả rất nặng nề!

Đồ điên, toàn là một lũ điên bỏ trốn từ bệnh viện tâm thần!

Tôi sang tìm cô chủ hộ vì nghe thấy tiếng cô ấy đi trong bếp. Tôi muốn nói với cô ấy một cái gì đó, trình bày cho cô ấy hiểu rõ sự việc. “Đừng có vác mặt sang đây nữa”, cô ấy vênh váo nói rồi quay ngoắt về phòng mình. Ừ, thì tôi cũng chẳng “vác mặt” sang đó nữa.

Ngoài vườn hôm nay có không khí rất đặc biệt. Việc tôi bực tức là cái dứt khoát rõ ràng, nhưng đó không phải là lỗi của tôi.

Ông Provazník hôm nay lại ra vườn. Ông ta nhòm ngó như cú nhòm và gặp ai cũng nói: “Trông ông hôm nay ốm yếu quá!”

Tôi ngồi trong chòi cùng với Otylie. Tôi có cảm giác rất lạ, như thể hôm nay tôi phải bắt đầu bày tỏ tình yêu. Tôi cũng đã định thế, nhưng cứ thấy tắc nghẹn trong họng, không nói ra được lời nào khác thường. Đành vậy thôi, hôm nay tôi sẽ chẳng nói gì về tình yêu.

Ông Provazník đến chỗ chúng tôi. Ông ấy nhìn chúng tôi một lát rồi hỏi: “Anh sắp lấy vợ phải không?”

Câu hỏi khó chịu làm tôi lúng túng. Nhưng tôi gượng cười và trả lời: “Vâng, tôi sẽ lấy vợ, ông Provazník ạ.”

“Phải đấy! Chuyện vợ con rất vui - còn lũ trẻ con thì nhắng nhít hơn cả chó nhà hàng thịt.”

Cái thằng cha thật đáng ghét!

Hôm nay ở ngoài vườn chẳng vui vẻ tí nào. Tôi hoàn toàn không đả động gì về chuyện viên đại úy đến phòng tôi sáng nay.

Đáng đời tôi lắm lắm! Ma đã dẫn lối, quỷ đã đưa đường cho tôi sang Malá Strana!

Mà biết làm sao được! Tôi đã trót nói như thế rồi! Tôi đã hoàn toàn có thể nói “không!” - vì chắc là tay thượng úy cũng chỉ dọa thế thôi chứ không định đấu thật - nhưng mà một khi tôi đã nổi cáu! Hắn sẽ làm tôi bị thương, cái đó là chắc chắn, còn tôi thì sẽ chẳng làm gì được hắn, cái đó cũng là điều chắc chắn! Bị thương thì tôi sẽ phải nằm một thời gian và không tiếp tục học được, có thể tôi sẽ phải nằm lâu và sẽ bị nhỡ kỳ thi. Thế thì thà rằng hắn giết chết tôi đi còn hơn!

Lại có tiếng kiếm va lanh canh, tiếng gõ cửa, và tay đại úy mà tôi biết ngày hôm qua. Anh ta giơ tay chào rồi nói rằng ngài thượng úy không để việc ấy chỉ kết thúc như thế được, rằng đây là lần cuối cùng ông ấy yêu cầu tôi phục hồi danh dự cho ông ấy. Tôi hơi bực mình trả lời rằng hôm qua tôi đã nói “không”, và hôm nay tôi lại khẳng định “không và không!” Viên đại úy nói là anh ta lấy làm tiếc, nhưng mà nếu thế thì ngài thượng úy sẽ quất roi vào mặt tôi bất kỳ lúc nào ông ấy gặp tôi. Tôi cáu tiết nhảy bổ đến trước mặt anh ta:

“Ông ấy không quất tôi được, tôi sẽ chống lại!”

“Dứt khoát ngài thượng úy sẽ quất ông! Xin từ biệt ông!”

“Khoan đã! Đấu bằng vũ khí gì?”

“Bằng kiếm.”

“Được, tôi nhận lời!”

Viên đại úy ngạc nhiên nhìn tôi.

Run cả người vì giận dữ, tôi nói:

“Tôi nhận lời, nhưng với điều kiện, thứ nhất là các ông phải tìm vũ khí và người làm chứng, thứ hai các ông phải hứa danh dự là sẽ không ai được biết về chuyện này, và các ông phải tìm chỗ đấu hoàn toàn kín đáo.”

“Tôi xin hứa danh dự!” Anh ta lịch sự chào, đến quá lịch sự, và nói rằng trong ngày hôm nay hoặc ngày mai sẽ đến để bàn nốt công việc.

Thế đấy, bây giờ thì việc đã rồi! Có thể là mọi việc sẽ vỡ lở - chắc là chúng tôi đã nói với nhau rất to và cô chủ hộ đã nghe thấy hết - thậm chí tôi đánh cuộc là cô ấy đã nghe trộm. Tôi biết rằng cô ấy là nguyên nhân của chuyện này. Nghĩ cho cùng, tôi thấy là tôi đã chạm lòng tự ái tự trọng rất đàn bà của cô ấy. Nhưng không vì thế mà tôi “ngu”! Còn bây giờ thì đúng là tôi ngu thật! Nếu cô ấy lộ chuyện này ra với ai thì - xin vĩnh biệt nghề luật sư! Cho đến chết tôi cũng sẽ chỉ là một thực tập sinh quèn! Thôi, tôi có một chút vốn liếng, và cô Otylie có... nhưng nào tôi có biết liệu cô ấy có muốn lấy tôi không!

Tôi nhận được một bức thư. Trên phong bì có dán tem Malá Strana - không ghi tên người gửi - lại thằng cha Provazník đáng ghét!

Thư viết như sau:

“Thưa ông luật sư thực tập sinh!

Tôi nghĩ ông là thực tập sinh chuyện vợ chồng hơn là thực tập sinh ngành luật. Nhưng cái khát vọng xây dựng gia đình của ông chỉ là sự tính toán thấp hèn, hoàn toàn thấp hèn. Ông muốn lấy nhà, ông muốn lấy tiền, nhưng ông đâu muốn lấy vợ. Ông cũng không thể nào thích được con bé ế chồng ủ ê rầu rĩ ấy, hơn nữa, nó còn ngu xuẩn đến mức không biết nhìn xa trông rộng. Ông thật là kẻ không biết nhục nhã, vì ông định bán mình, ông định hy sinh cuộc đời trai trẻ của ông cho việc kiếm tiền bẩn thỉu. Ông là kẻ hoàn toàn không biết thế nào là nhục nhã.

Một trong những người có cùng suy nghĩ như nhau.”

Cái câu “không biết nhìn xa trông rộng” tôi đã nghe từ miệng tay Provazník rồi. Hừ, cứ chờ đấy! Thay vào trả thù lão thượng úy, tôi sẽ trả thù hắn. Tự nhiên, tôi thấy hăng máu đến có thể đánh lộn được với cả thế giới.

Tôi không thể nói là tôi sợ chết. Tôi cũng không sợ bị thương; bây giờ tôi đang nghĩ về điều đó một cách khá lạnh lùng. Nhưng tôi biết là cái sợ sẽ đến, và tôi sợ cái sợ ấy. Tôi không quen các cuộc đấu chiến - từ xưa đến nay chưa bao giờ tôi nghĩ tới chuyện đó - vì vậy, cái sợ dứt khoát sẽ phải đến. Và tôi sẽ hồi hộp run rẩy, thần kinh tôi sẽ rung, cơ bắp tôi sẽ co giật, tôi sẽ luôn luôn sợ đến phát sốt lên.

Điều đó sẽ rất khủng khiếp!

Chúng tôi chơi ở ngoài vườn, nhưng chẳng ra sao cả. Ngày hôm nay tôi sẽ không thổ lộ tình yêu, vì cũng để làm gì! Otylie ơi, em hãy chuẩn bị chiếc khăn của mình để làm băng buộc vết thương cho anh nhé! Nếu tôi chết thì hết chuyện, nếu tôi bị thương thì Otylie sẽ chăm sóc tôi - tôi nghĩ ít ra thì như vậy - và điều đó cũng có thể coi là tỏ tình, giống như trong tiểu thuyết vậy.

Nhưng có một cái gì thúc tôi phải bắt đầu nói chuyện, tôi chỉ không biết nói về gì. Mãi một lúc sau tôi mới hỏi là ngày mai Otylie có đi nhà hát không. Cô ấy hỏi tôi bây giờ người ta diễn vở gì, tôi trả lời vở Jan Hus. Cô ấy nói:

“Tôi rất muốn đi, nhưng không đi được.”

“Vì sao? Vì Jan Hus chống đối Giáo hội ư?”

“Không, không phải thế. Nhưng ông ấy bị thiêu sống, mà ngày mai là thứ sáu - ngày phải kiêng ăn thịt - thế thì không được!”

Tay Provazník mà nghe vậy thì thế nào cũng nói về “nhìn xa trông rộng”. Tôi thì cho rằng đó là sự ngây thơ - và sự ngây thơ bao giờ cũng có cái đáng yêu của nó - chắc chắn như vậy!

Tôi thấy Provazník đang ra vườn. Tôi bước nhanh về phía hắn, kéo hắn vào một cái chòi.

“Này, ông là kẻ đê tiện, ông đã dám cả gan gửi cho tôi một bức thư nặc danh, tất nhiên là ông đã viết nhiều thư như vậy và đã làm cho nhiều người khổ sở! Bây giờ thì ông bảo sao?”

“Ai bảo ông là tôi viết thư nặc danh?” Hắn ta hỏi, mặt trắng bệch như tờ giấy.

“Chính ông đã nói với tôi.”

“Tôi đã nói với ông thế ư?” Trên mặt hắn lộ rõ sự ngạc nhiên ngốc nghếch làm tôi phải quay nhìn sang phía khác để nín cười.

“Tôi báo cho ông biết, nếu ông còn viết như thế một lần nữa thì tôi sẽ đánh ông như đánh chó, ông hiểu không?” Nói đoạn, tôi bỏ đi. Ít ra thì tôi cũng học được một cái gì bổ ích từ ông thượng úy.

Mọi người muốn chơi bài. Anh họa sĩ lấy bài từ ngăn kéo bàn ra và ngay sau đó túm cổ Pepík. Anh ấy cho nó một trận đòn nên thân. Số là tất cả các lá bài con cơ đều đã bị cắt, Pepík đã cắt các hình trái tim, dán lên tờ giấy trắng làm quà tình yêu tặng Márinka, con gái của anh Sempr. Vì thế, chúng tôi không có bài để chơi và tôi rất lấy làm hài lòng.

Chúng tôi nói chuyện rất lâu, nhưng chẳng đâu vào đâu. Tôi đi với Otylie quanh các luống rau. Đột nhiên, cô ấy quay sang, nhìn thẳng vào mắt tôi và hỏi tôi có chuyện gì vậy. Tôi ngập ngừng, nhưng trả lời là không có chuyện gì, rồi gượng cười. Cô ấy lắc đầu và nhắc đi nhắc lại nhiều lần, rằng dứt khoát là tôi đang có chuyện gì đó.

Cô ấy có... cô ấy có cảm tình với tôi, rõ ràng là như vậy!

Tôi ngồi ở nhà và nghĩ ngợi trầm ngâm. Kể cũng lạ, tôi thấy bình thản, cái sợ vẫn chưa đến nhưng rồi nó sẽ đến! Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa tin là cuộc đấu sẽ xảy ra hay sao? Nhưng mà ngày mai!

Buổi sáng tôi dậy rất sớm. Mới gần ba giờ sáng tôi đã tỉnh giấc, tôi không nấn ná nằm mà dậy ngay. Tôi đã cảm thấy vô cùng khó chịu.

Tôi không biết làm gì với bằng ấy thời gian. Tôi đã xuống vườn hai lần, nhưng lần nào cũng quay trở về phòng ngay. Tôi cầm lên tay đủ thứ linh tinh để rồi lại cau có đặt luôn xuống.

Tôi nóng lòng đợi viên đại úy đến.

Tôi đã sợ, hay vẫn chưa sợ? Tôi rùng mình và ngáp, nhưng tôi có cảm tưởng là tôi ngáp vì sốt ruột đợi chờ.

Đại úy đến. Hắn ta báo cho tôi biết thời gian là sáu giờ sáng ngày mai, địa điểm tại doanh trại quân đội Hradčany, ở một phòng khách ngoài vườn. Tôi nghĩ vậy là họ sẽ khênh tôi ra khỏi phòng khách ấy; tôi phải cười thầm suy nghĩ ấy như cười một câu hài hước chưa từng được nghe thấy bao giờ.

Đại úy đã hết sức lịch sự. Anh ta nói “sẽ lấy làm vui mừng, nếu sự việc không hay này được dàn xếp ổn thỏa”. Tôi nghe vậy thốt lên: “Không cần thiết!”, nhưng vừa nói xong, tôi lại muốn tự vả cho mình cái tát. Tôi quả là kẻ ngu ngốc. Ôi chao!

Tôi lại sang Smíchov thăm anh Morousek. Vì nếu ngồi ở nhà chắc tôi sẽ phát điên, hơn nữa, anh Morousek là người dùng kiếm rất giỏi, anh ấy hay đấu kiếm. Có thể anh ấy sẽ dạy nhanh cho tôi một chút gì chăng.

Morousek là một người khó chịu. Tôi kể sự tình cho anh ấy nghe nhưng anh ấy lại cười tôi. Trên đời này có một số người không biết suy nghĩ nghiêm chỉnh về bất kỳ một cái gì hết! Tôi xin anh ấy bày cho tôi một vài pháp thuật có thể giúp ích cho tôi. Anh ấy khẳng định là có ít thời gian như thế này thì tôi không thể học được gì cả.

“Thế ư?” Tôi hơi bực.

“Để xem sao!”

Anh ấy lấy ra hai thanh kiếm ba cạnh, cho tôi đội mũ và mặc áo bảo hộ, rồi cầm kiếm đứng đối diện tôi. Đúng thế! Bây giờ phải làm thế! Không, không được làm thế! - Phải chú ý đầu kiếm! Thế! Thanh kiếm của tôi rơi xuống đất.

“Anh phải giữ chặt nó,” Morousek nói và bật cười.

“Nhưng mà nó nặng lắm!”

“Kiếm anh sẽ dùng để đấu cũng không nhẹ hơn là mấy. Nào, làm lại nhé!”

Tôi mệt lả, tay tôi mỏi rã rời. Nhưng Morousek hoàn toàn chẳng biết mỏi mệt là gì.

“Anh nghỉ đi một lát,” anh ấy mỉm cười bảo tôi.

Tôi nói với anh ấy rằng tôi nhớ trước đây anh ấy là người dễ chịu hơn nhiều. Anh ấy cho rằng tôi đang bị căng thẳng hồi hộp nên nói như vậy.

“Không, không, tôi không hồi hộp lo sợ gì hết, thật sự là không!”

“Thế thì được, chúng ta tập lần nữa!”

Một lúc sau tôi lại mệt.

“Thôi, chúng ta không được tập quá sức,” anh ấy bảo, “kẻo ngày mai anh không nhấc được tay. Anh ở đây ăn trưa với chúng tôi, cả bữa điểm tâm nữa. Chúng ta sẽ tập thêm một chút nữa, chỉ một chút thôi.” Giá anh ấy không nói như vậy thì tôi cũng chẳng bỏ đi. Vợ anh ấy nhìn chúng tôi tập, tưởng là chúng tôi chơi nên cứ cười. Đối với vợ chồng anh chị, cái cười sao mà dễ dàng!

Trước lúc ăn trưa, anh Morousek hỏi tôi thượng úy Rubácký có là người đánh kiếm tốt không. Tôi trả lời không biết.

“Không còn cách nào khác, anh phải học cách tấn công nhanh và bất ngờ - sống hay là chết!” Anh ấy lại mặc áo bảo hộ cho tôi. Thú thực tôi không thấy thích một chút nào.

Tấn công nhanh và bất ngờ là cái rất hay! Nói thì dễ vậy, nhưng tôi làm không được, tôi tấn công vẫn chậm và không bất ngờ một tí nào. Nhưng đâu có phải lỗi tại tôi?

“Mời hai anh em vào ăn trưa!” Chị Morousková gọi, và tôi thấy nhẹ cả người.

Nhưng tôi cầm thì rất khó khăn. Tay tôi run không giữ nổi thìa xúp. Anh Morousek lại cười. Ừ, ngày mai tôi sẽ bị chém, xem anh có còn cười được nữa không. Tôi gần như mong mình sẽ bị chém thật nhiều, để anh ấy phải khóc!

Suốt buổi chiều, anh Morousek còn bắt tôi tập hai lần nữa. Tôi chém như điên vào không khí và vào anh ấy, rồi vẫn còn mang mặt nạ và áo bảo hộ, tôi lăn vật ra đất và không muốn dậy nữa.

“Dậy đi! Bây giờ anh lấy rượu này mà xoa người!” Tôi xoa rượu khắp người. Mùi rượu bốc lên khó chịu làm chị Morousková, lúc đó đang ngồi thêu, phải bê tất cả mọi thứ ra một góc vườn khác. Giá bỏ trốn được thì tôi cũng trốn luôn vì cái mùi rượu khó chịu ấy.

Tôi về đến nhà lúc chiều tối. Khuỷu tay và đầu gối tôi rất đau, chẳng lẽ tôi đã đấu kiếm cả bằng chân hay sao?

Tôi thấy ở nhà có bức thư của Otylie!

“Thưa luật sư,

Trong ngày hôm nay tôi phải nói chuyện với anh. Khi về đến nhà, xin anh xuống vườn ngay. Anh hãy huýt sáo bài Traviata để tôi biết anh ở đó, rồi tôi sẽ xuống. Tôi xin lỗi là viết nguệch ngoạc, bởi tôi quá xúc động vì anh. Otylie.”

À, vậy là cô Wilhemomá đã tung chuyện ra rồi!

Tôi đi xuống vườn. Trăng sáng. Từ sân, tôi nhìn thấy được đến tận hành lang của tầng hai. Không có ai ở đó cả. Tôi đi qua sân. Bây giờ tôi thấy ở đó một bóng người mặc đồ trắng. Tôi bước ra ánh trăng một thoáng, rồi lại lùi ngay vào chỗ tối. Đã đến lúc tôi phải huýt sáo bài Traviata! Bình thường, tôi huýt cả ngày cái điệu nhạc ấy, vậy mà lúc này, có trời mới biết tại sao, giá có ai giết tôi đi thì tôi cũng không tài nào nhớ ra được nó! Nhưng mà chắc cô ấy đã nhìn thấy tôi ở đây rồi. Và huýt sáo thì tôi muốn huýt bài nào cũng được, phải không? Có điều tôi cũng chẳng biết chọn bài nào, ngoài bài hát cho trẻ con là “Pepík ơi, Pepík ơi, Kača đang làm gì?”, thế là tôi huýt luôn bài đó.

“Ấy, luật sư đấy à, sao ra vườn muộn vậy?” Chợt tôi nghe thấy tiếng từ cửa sổ phòng họa sĩ. Cởi trần, anh ta nhoài ra bên ngoài cửa sổ và nói:

“Đêm đẹp quá nhỉ? Tôi cũng chẳng muốn đi ngủ. Hay quá, chúng ta nói chuyện với nhau nhé!”

Bóng người trên hành lang biến mất.

“À, nhưng tôi cũng đang đi về phòng đây, anh ạ!” Tôi cố ý nói thật to. Lúc này, có là điên mới nói chuyện với họa sĩ, mà chắc chắn là anh ta sẽ đứng nói chuyện đến sáng!

Tôi chậm rãi đi qua sân và bất chợt nhớ ra làn điệu của bài Traviata, thế là tôi vừa đi vừa huýt sáo. Tôi dừng lại nhìn - ở cầu thang không có ai, ngoài hành lang cũng không có ai - cô Otylie giận vì tôi đã huýt sáo bài về Pepík ư?

Có lẽ hôm nay không nói gì với nhau cũng tốt. Thậm chí rất tốt! Nhưng ngày mai thì sao?

Anh họa sĩ nằm trên bục cửa sổ. Tôi rất muốn nhìn sang hành lang, nhưng sợ anh ấy trông thấy tôi và lại muốn nói chuyện. Vì vậy, tôi kéo rèm cửa sổ phòng mình lại.

Di chúc! Tôi phải viết di chúc! Biết làm sao được, mọi việc phải đâu vào đấy. Tôi chỉ viết vài dòng ngắn gọn, rõ ràng, tất cả mọi của cải sẽ để lại cho chị gái. Thế thôi!

Bây giờ thì tôi cố gắng ngủ. Tôi thấy bình thản, rất bình thản, nhưng tôi biết là ngày mai tôi sẽ run như cầy sấy.

Tôi vặn đồng hồ báo thức.

Họa sĩ vẫn nằm trên bậu cửa sổ. Cứ nằm ở đấy đi, đồ nghiện ngập ạ!

Tôi chỉ chợp mắt được hai tiếng đồng hồ mà đã thấy tỉnh ngủ. Trời đã tờ mờ sáng - vào tháng bảy thì khoảng ba giờ là đã sắp sáng rồi - cái lạnh buổi sáng làm tôi thấy hơi rét. Tôi ngáp ngắn ngáp dài, hơi rùng mình, nhưng không run rẩy.

Tôi không biết làm gì với thời gian. Tôi không muốn xuống vườn. Cũng không muốn ra đường, vì đang lạnh mà ra đó thì tôi sẽ muốn chạy cho ấm, mà chạy thì tôi sẽ bị mệt. Hơn nữa, tôi bị đau tay từ hôm qua. Hay là xem giấy tờ và sắp xếp lại một chút?

Tôi vùi đầu vào đám giấy tờ cho đến tận năm giờ rưỡi sáng. Rồi tôi đảo mắt nhìn quanh phòng, như là tôi còn quên một cái gì đó. Nhưng mà làm sao tôi có thể quên được!

Thôi, xin vĩnh biệt nhé!

Tôi bước thật nhanh mấy bậc thang lên sân, rồi chạy qua sân về lối dẫn đến cổng doanh trại và vụt nhanh ra ngoài đường. Tôi nhảy cẫng lên vì sung sướng, tôi sung sướng đến phát khóc lên. Và quả thật mắt tôi ươn ướt - tôi có cảm giác như người vừa ở hầm tối chui ra và gặp ngay ánh sáng mặt trời chói chang ở bên ngoài! Tôi ngó bên phải, nhìn bên trái - tôi không biết mình muốn đi đâu.

“Anh Krumlovský ơi, thế nào?”

Ôi, anh Morousek! Tội nghiệp anh! Tôi gục vào vai anh ấy rồi trào nước mắt, nhưng không nói được ra lời.

“Thế nào? Lúc nào thì đấu?”

“Xong rồi, đấu xong rồi!”

“Ối may quá, nhờ trời! Nhưng mà bỏ tay ra chứ, anh bóp nghiền tay tôi rồi đây này.”

Tôi chợt thấy tôi nắm tay anh ấy quá chặt - nhưng cũng phải bóp một cái nữa rồi mới thả!

“Chúng ta ra xe ngựa đi, tôi đã thuê một cái. Anh ăn sáng chưa?”

“Ăn sáng ư? Chưa, tôi chưa ăn.”

“Thế thì chúng ta đi quán.”

“Vâng - à không! Cho tôi về nhà trước đã, rồi ra quán sau.” Tôi phải cho cô Otylie biết là tôi đấu xong rồi và không bị sao cả.

Chúng tôi lên xe đi. Dọc đường, tôi huyên thuyên như một đứa trẻ con và cười liên tục. Có trời biết là tôi đã lảm nhảm những gì! Tôi cũng chẳng để ý là chúng tôi đã về đến trước cửa nhà. Tôi nhảy trên cầu thang, nói to tiếng đến bất nhã, để cả nhà phải nghe thấy tôi.

Cô chủ hộ của tôi bỏ chạy từ bếp vào phòng để tránh chúng tôi. Cô ngạc nhiên phải không? Vâng, cứ chờ đấy, còn là ngạc nhiên cô ạ!

Ở phòng mình, tôi trấn tĩnh lại.

“Anh có biết là cho đến bây giờ anh vẫn chưa kể gì cho tôi nghe không?” Anh Morousek hỏi tôi, rồi đốt điếu xì gà và ngả lưng xuống ghế sofa.

Vâng, đúng thế, tôi vẫn chưa kể gì cho anh ấy nghe. Tôi phải bình tĩnh lại một chút.

“Trận đấu xảy ra thế này anh ạ. Khi tôi đến, đã có hai sĩ quan đứng chờ ở cửa vào doanh trại. Họ đưa tôi đi qua sân, rồi xuống mấy bậc thang để vào phòng khách ở ngoài vườn. Ông thượng úy và một bác sĩ đã chờ tôi ở đó. Một trong hai sĩ quan ấy tự giới thiệu rằng ông ấy là người làm chứng và làm trọng tài cho tôi. Ông ấy thông báo là tất cả mọi việc đều theo đúng điều lệ công bằng nhất và hai thanh kiếm thì giống hệt nhau. Tôi nghĩ là tôi đã cúi đầu chào. Tiếp đó, viên đại úy mà tôi đã biết tiến tới cạnh tôi, báo cho tôi biết rằng anh ta là người làm chứng và trọng tài của thượng úy, rồi tuyên bố: ‘Theo như tôi được biết thì hai ông không có hận thù cá nhân nào đối với nhau - cuộc đấu kiếm sẽ bắt đầu, nhưng tôi đề nghị là sẽ dừng lại ngay khi có người nào bị thương. Ông có đồng ý như vậy không, thưa ông?’ - ‘Đồng ý,’ tôi trả lời. ‘Đồng ý,’ thượng úy trả lời, rồi cởi áo ngoài. Tôi cũng vậy.

Họ đưa kiếm cho tôi. Chúng tôi đứng đối diện nhau và nghiêng kiếm chào, giống như hôm qua anh đã chỉ cho tôi. Lúc ấy, tôi chợt nhớ ra lời anh nói ‘tấn công nhanh và bất ngờ’. Đầu tôi ong lên, đầy tiếng ầm ầm như tiếng thác đổ, mắt tôi hoa lên - tôi nghe thấy tiếng kêu của hai người làm chứng ‘Thôi, dừng lại!’, rồi cả hai cầm kiếm nhảy chen vào giữa chúng tôi. Tự nhiên, tôi lùi lại một bước và trông thấy má thượng úy đang chảy máu. Hình như tôi đã giơ kiếm chào như một sĩ quan - vâng, đúng thế, tôi đã chào rồi trao kiếm cho người làm chứng của mình. Tôi chững chạc mặc áo, đồng thời nghe thấy bác sĩ nói: ‘Vết thương rất nhẹ thôi!’ Sau đó, tôi chào rồi bỏ đi. Tôi vẫn còn nghe tiếng nói sau lưng: ‘Tay ấy dữ tợn quá!’ Anh có biết không, bây giờ thì tôi có thể đánh nhau với cả thiên hạ! Không cái gì, hoàn toàn không cái gì có thể bị tiết lộ! Vết thương rất nhẹ, lời hứa danh dự, sẽ không ai tiết lộ điều gì. Anh ạ, bạn quý mến của tôi ạ, tôi phải cảm ơn anh rất nhiều!”

Anh Morousek cười.

“À, hoặc là ông ta không giỏi đánh kiếm, hoặc là anh đã tình cờ thực sự làm ông ta bị bất ngờ. Đây là lần đầu tiên anh nghe theo lời tôi đấy!”

Tôi có cảm giác mình là người anh hùng. Tôi bước từng bước dài và đi đi lại lại trong phòng. Bây giờ tôi dừng lại ở trước gương. Tôi nhìn mình và muốn cười, nhưng nụ cười trông rất dở.

Anh Morousek đứng dậy.

“Tôi đói lắm rồi, bây giờ chúng ta ra quán đi!”

Đáng lạ là tôi vẫn chưa thấy đói. Tôi hỏi anh ấy:

“Anh cũng chưa ăn sáng à?”

“Ăn vào lúc nào được hả?”

Cho đến lúc này tôi mới thấy được Morousek đã lo lắng chăm sóc tôi đến nhường nào.

“Anh thuê xe ở đâu mà sớm như vậy?”

“Tôi gọi thuê ngay từ trưa hôm qua, lúc anh ở nhà tôi.”

“Trời ơi, sao anh tận tâm với tôi đến thế!” Tôi thốt lên và lại ôm chặt lấy anh ấy. Khó khăn lắm, anh ấy mới gỡ được tôi ra. Nhiều khi tôi có sức khỏe phi thường.

Đó là một quán rượu rất nhỏ. Vừa bước vào, tôi đã trông thấy hai người quen, người thợ may Sempr và ông chủ quán. Tôi bắt tay họ.

“Sao vậy? Cả ông chủ quán của chúng ta cũng đi quán khác ư?”

“Ít nhất mười năm nay tôi chả đi đâu cả, hôm nay là lần đầu tiên!”

Hai chúng tôi ngồi vào một bàn khác. Chúng tôi ăn uống, rồi Morousek thầm thì bảo tôi là tôi phải chuyển nhà ngay. Vì chuyện vừa qua sẽ có ảnh hưởng không tốt đến quan hệ với cô chủ hộ, tôi sẽ không được yên tĩnh để học, hơn nữa tôi cũng không còn nhiều thời gian. Tôi nghĩ anh ấy hoàn toàn đúng. Anh ấy hỏi tôi thích chuyển đi đâu nhất. Tôi trả lời tốt nhất là trở về căn hộ tôi đã thuê trước đây. “Được! Vậy thì chúng ta lấy xe đến đó ngay, chắc là có thể thuê lại căn hộ ấy được.” Morousek đúng là người bạn tuyệt vời, là người đàn ông cao thượng. Tôi vô cùng quý anh ấy - tôi nhớ là không bao giờ anh ấy đối xử tệ với tôi.

Ông chủ quán bắt đầu hăng chuyện và nói to hơn. Ông ấy đang khuyên anh Sempr đừng lấy vợ, không, không, đừng lấy! Rồi ông ấy nói xấu ông Klikeš, như thể ông Klikeš là nguyên nhân của mọi chuyện rủi ro trên đời. Ông ấy cũng nói rất khinh mạn về phụ nữ. Anh Sempr đứng dậy đi lấy xì gà, tôi tranh thủ hỏi luôn ông chủ quán:

“Này ông, vì sao ông cứ bàn ra để gàn anh Sempr lấy vợ?”

“Thế tôi không phải là chủ quán hay sao? Tôi có một số khách ăn thường xuyên, tôi phải giữ họ chứ!”

“Nhưng mà anh ấy cần người nội trợ, con gái anh ấy cần có mẹ.”

“Không! Anh ấy là khách tốt của tôi! Anh ấy ăn trưa ở quán tôi, anh ấy cũng ăn chiều, cũng uống…” Anh Sempr quay trở lại bàn.

Căn hộ cũ đang không có ai ở, chủ nhà vui lòng cho tôi thuê ngay. Lập tức ngày kia, tức là ngày thứ hai, tôi sẽ chuyển nhà. Không biết cô Otylie sẽ nói gì về điều này. Tôi nghĩ rồi cô ấy sẽ hiểu, vì tôi sẽ nói chuyện với cô ấy - tôi sẽ giải thích mọi chuyện, đồng thời sẽ tỏ tình với cô ấy. Tuy chuyển đi nơi khác nhưng cứ cách một ngày tôi có thể đến với cô ấy, hoặc là ngày nào tôi cũng đến. Có thể là những lời đồn đại về chuyện đấu kiếm của tôi sẽ lan ra, mọi người sẽ khâm phục tôi, nhưng sự tồn tại là cái quan trọng hơn.

Morousek đưa tôi về nhà anh ấy để ăn trưa. Chúng tôi vừa ăn vừa nói về chuyện đấu kiếm của tôi. Morousek rất phấn khởi thoải mái, nhưng tôi nghĩ anh ấy coi tôi là trò đùa. Điều đó theo tôi là không khéo và hơi thừa.

Gần chiều, tôi vội về nhà và ra ngay vườn. Otylie đang tức giận! Cô ấy không trả lời tôi và cố tình lảng tránh. Tôi thì lại nghĩ là đáng lẽ cô ấy phải vui mới đúng. Tính khí đồng bóng thất thường của phụ nữ không phải lúc nào cũng dễ chịu!

Buổi tối, tôi sang Thành phố Cổ, vào quán cũ mà trước đây tôi vẫn đến. Không khí ở đấy thật tuyệt vời! Tôi nghĩ là tôi đã liên tục nói đùa. Mọi người ngạc nhiên thấy tôi quá vui vẻ và nói rằng trông tôi rất khỏe khoắn. Vâng, thế mà chỉ không đầy một ngày trước tôi đã có thể nằm ở nhà xác!

Tôi hi vọng là tối hôm nay sẽ ngủ rất ngon!

Tôi tỉnh dậy rất sớm, giống như sáng hôm qua! Nhưng tôi thấy trong người thoải mái dễ chịu, cái thoải mái của đứa trẻ sơ sinh nằm trong bồn nước ấm. Tôi thẳng người ra, vươn vai, duỗi tay và trong tâm trạng hết sức sung sướng, tôi nằm cho đến tận chín giờ sáng.

Bác sĩ Jensen lại đến. Vì sao mà anh ấy cứ đến đây nhỉ? Anh ấy sẽ còn ngạc nhiên, và ngay trong ngày hôm nay!

Anh ấy bắt tay tôi, hồ hởi nhiệt tình một cách rõ ràng. Rồi châm lửa điếu xì gà đến mấy lần. Anh ấy bảo là phải nói cho tôi biết tại sao anh ấy đến đây, để cho tôi khỏi ngờ vực. Nói đoạn, anh đi đến bàn để lấy diêm. Anh ấy phải nói vì sao anh ấy đến đây ư? Anh ấy nghĩ là tôi không biết hay sao? Rồi anh ấy lại đến đứng trước gương. Trông mới trai tráng làm sao chứ!

Anh ấy bắt đầu nói:

“Ở trên tầng ba, phía đối diện với phòng anh, có ông Provazník - người mà anh đã kể nhiều lần. Cách đây 18 năm ông ta đã ở viện thần kinh của chúng tôi. Từ đó, thỉnh thoảng những người thân giàu có của ông ấy yêu cầu tôi theo dõi ông ấy, bây giờ họ lại nhờ tôi. Vì thế, tôi rất lấy làm mừng thấy anh ở đây, lại ở chính phòng này, tôi cần phải làm việc đó rất thận trọng và khéo léo. Ông ấy biết tôi và cố tình né tránh, không một lần nào ông ấy xuống vườn khi tôi có mặt ở đó cùng với anh, mặc dù anh có nói là ngày nào ông ta cũng xuống. Ông ấy hết sức lo lắng để ý đến tôi, chẳng hạn bây giờ ông ấy đang nhìn tôi. Còn tôi thì nhìn thấy ông ấy rất rõ qua tấm gương này - ông ấy đang đứng sau rèm, chỉ hơi thò đầu ra một tí. Nhưng cứ theo những gì quan sát được thì tôi thấy không cần phải sợ ông ấy lên cơn.”

Tôi tròn mắt há miệng ngạc nhiên. Sao cơ? Chỉ có thế thôi ư?

Quả tình, tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Nhưng đồng thời cũng cảm thấy một điều gì như thất vọng.

Bác sĩ đi khỏi. Tôi có cảm giác như muốn gọi lại để nói: “Bác sĩ ạ, giá như anh muốn... về phía tôi thì... tôi chẳng... với bác sĩ...”

Tự nhiên, tôi thấy như tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện ganh đua ghen tị gì cả. Thậm chí, tôi thấy... Ôi chao, nói cho cùng thì người đàn ông quả là loài sinh vật lạ lùng!

Tôi thông báo khô khan và ngắn gọn cho cô chủ hộ biết là cho đến chiều mai tôi sẽ chuyển nhà. Cô ấy nghe tôi, hai mắt cụp xuống và không nói một lời. Bây giờ cô ấy luôn nhìn xuống khi gặp tôi. Tôi đã thuần phục được cô!

Cô Otylie vẫn giận. Nói thật, tôi thấy hầu như dửng dưng thờ ơ trước điều đó. Tôi chỉ cảm thấy như hơi bị xúc phạm. Tôi thông báo với tất cả mọi người ở ngoài vườn là tôi sẽ chuyển nhà, cô ấy nghe tin đó với một vẻ lạnh nhạt, hoàn toàn lạnh nhạt, cứ như là tôi đã chẳng nói gì vậy. Người đàn bà, nói cho cùng, cũng là loài sinh vật lạ lùng!

Cám ơn trời đất là tôi đã không kịp bày tỏ “tình yêu” với cô ấy.

Tôi lại đến cái quán quen thuộc của mình ở Thành phố Cổ, giữa những người tôi thấy thoải mái tỉnh táo để có thể có khả năng hơn trong lao động trí óc. Bây giờ tôi phải làm việc, phải làm việc! Sau kỳ thi hết tập sự luật sư này, cho đến cuối đời tôi sẽ không phải thi cử gì nữa!

Tôi đang rất bận chuyển nhà.

Nhà anh họa sĩ lại ầm ĩ - anh ấy đang chuẩn bị viết bức thư thứ hai. Anh ấy sang hỏi xin tôi giấy viết thư, nhưng tôi trả lời cụt lủn rằng tôi đã xếp đồ đạc rồi và không biết đã để giấy ở đâu.

Cô con gái ông chủ nhà đang hái rau xà lách ở ngoài vườn. Tôi lạnh lùng nhìn, cô ta cũng đã héo hon!

Xin nhà văn Neruda đừng có đến gặp tôi với một “Câu chuyện kể về khu phố nhỏ ven sông” nào nữa nhé!

BÌNH SLAVICKÁ dịch

« Lùi
Tiến »