Người Mỹ và chiến tranh Việt Nam(trích)

Người Mỹ và chiến tranh Việt Nam(trích)

Lượt đọc: 43720 | 18 Đánh giá: 8,3/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Phần 1

❊ ❊ ❊

Chương 10 Nixon và Kissinger Từ một đứa học trò tiểu học thường bị những đám trẻ thuộc nhóm Đức Quốc xã ăn hiếp ở quê nhà, rồi thành một anh binh nhì đào những hố cá nhân đầy đất đỏ trong trại lính Mỹ ở South Carolina... cho đến khi được ngồi trong căn phòng lớn nhất ở tầng lầu thứ bẩy của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đời của Kissinger là một cuộc đời ngoại hạng - dựa trên bất cứ tiêu chuẩn nào. Sự nghiệp của Kissinger được nhiều người ca tụng, nhưng cũng không thiếu kẻ dèm pha, đả kích. Heinz Alfred Kissinger sanh năm 1923, tại Furth, một làng nhỏ ở ngoại ô thành phố Nuremburg, Đức. Mẹ ở nhà nội trợ; cha dạy học. Phía bên nội thích con cái theo ngành sư phạm; phía bên ngoại thì giàu và trung lưu hơn. Theo lời bà mẹ kể lại, lúc còn nhỏ Kissinger thích đọc sách, hay trầm tư, và rất ngoan học kinh đạo. Nhưng năm ông chào đời cũng là năm những luồng sóng bài Do Thái đang nổi lên ở Đức vài năm sau đệ nhất thế chiến. Ở Nuremberg, một đảng viên cuồng tín Đức Quốc xã là Julius Streicher xuất bản một tuần báo, kêu gọi triệt tiêu tất cả những người Do Thái [1]. Năm 1935, phong trào bài Do Thái ở Đức lên gần cực độ khi Bộ luật Nuremberg cấm hôn phối giữa Đức và Do Thái; cấm Do Thái không được hoạt động hay làm nhiều ngành nghề, trong đó có nghề dạy học - một nghề duy nhất mà cha của Kissinger có thể đem lợi tức về nuôi gia đình. Khi thấy chủng tộc Do Thái đang bị dần dần cô lập, mẹ của Kissinger - có thân nhân đang ở New York - quyết định ra đi. Tháng 8 năm 1938, khoảng ba tháng trước ngày những đám đông cuồng tín Đức Quốc xã nổi lên đốt phá, huỷ diệt văn hoá, định chế xã hội và tôn giáo của Do Thái (được gọi là Kristallnacht), Kissinger, người em trai, và song thân rời Đức di cư qua Mỹ. Đến Mỹ, Kissinger đổi tên Heinz thành Henry - Henry Alfred Kissinger. Kissinger hội nhập vào xã hội Mỹ chậm hơn những người bạn cùng lứa, có lẽ tại thích đời sống nội tâm, nhưng không đến nổi bị thụt lùi đằng sau. Từ bậc trung học, Kissinger làm việc ban ngày, đi học ban đêm. Theo học bạ ở trường, Kissinger học giỏi, nếu không nói là xuất sắc, ở những năm cuối của bậc trung học và năm đầu ở trường đại học City College of New York. Kissinger nói mộng của ông rất đơn giản: chỉ học ra trường đại học và hành nghề kế toán. Và có thể Kissinger đã trở thành một kế toán viên nếu Hoa Kỳ không nhảy vào thế chiến thứ hai. Tháng 2 năm 1943, Kissinger bị động viên và lên đường nhập ngũ. Trong thời gian thụ huấn căn bản quân sự ở trung tâm huấn luyện Camp Croft, South Carolina, Kissinger được hợp thức hoá trở thành công dân Hoa Kỳ. [2] Sau khoá căn bản quân sự Kissinger và tất cả những tân binh khác được thi một khoá thi định lượng khả năng chuyên môn. Quân đội Hoa Kỳ thường tuyển chọn những quân nhân ưu tú bằng loại thi tuyển này, để lựa ra các quân nhân có khả năng chuyên môn và gởi đi học các lớp huấn luyện đặc biệt cao hơn. Kissinger được tuyển chọn và gởi về một đại học ở Pennsylvania để tiếp tục huấn luyện. Ở khoá huấn luyện đặc biệt này, so với đám bạn quân nhân ưu tú đồng môn, Kissinger đã chứng tỏ ông ta ưu tú hơn. Theo bạn bè kể lại, lúc nào Kissinger cũng kè kè có sách vở bên người: ăn, ngủ, thở, đều với sách vở. Niên học đó Kissinger lấy 12 lớp và được điểm ưu cả 12. Nhưng khoá học chưa đầy một năm thì bị đình chỉ vào tháng 4.1944: Hoa Kỳ chuẩn bị đổ bộ lên Âu Châu; quân đội cần tất cả quân nhân để tác chiến, dù ưu tú, trí thức, hay là không. Kissinger không muốn ra tác chiến nên thi vào quân y để tránh. Ông đậu khoá thi nhưng không được tuyển chọn. Kissinger và nhóm bạn bị đưa về trại Fort Claireborne, Louisiana, nhập vào Sư đoàn 84 bộ binh, tiếp tục huấn luyện kỹ thuật tác chiến để chuẩn bị đổ bộ lên Âu Châu. Ở Sư đoàn 84 bộ binh, Kissinger gặp một người làm đời ông thay đổi. Tư lệnh Sư đoàn 84 là một thiếu tướng. Ông thiếu tướng này có một binh nhì làm việc cho ông, vừa là thông dịch viên, vừa và chuyên viên về chiến tranh tâm lý. Nhưng binh nhì Fritz Gustav Anton Kraemer không phải là một binh nhì tầm thường. Sanh năm 1908 ở Đức, trong một gia đình thượng lưu người gốc Phổ (Prussia). Gia đình Kraemer khinh bỉ Hitler, coi Hitler chỉ là một tên hạ sĩ quèn gặp thời. Kraemer có chứng chỉ ở London School of Economics và hai bằng tiến sĩ ở Đại học Frankfurt và Đại học Rome. Đang làm việc cho Liên hội Quốc gia (League of Nations, tiền thân của Liên hiệp quốc bây giờ) ở Ý thì đệ nhị thế chiến xảy ra. Kraemer quyết định sống cuộc sống tự lưu đày ở xứ người, không muốn trở lại Đức. Khi Mỹ tham chiến, Kraemer qua Mỹ đầu quân. Trong thời gian phục vụ tại Sư đoàn 84, ban huấn luyện cần người nói tiếng Đức để giả làm đối phương trong các cuộc tập trận, và Kraemer tình nguyện giả làm sĩ quan Đức trong những lần tập trận đó. Vị tư lệnh Sư đoàn 84 để ý Kraemer và gọi ông về làm việc trong bộ tư lệnh sư đoàn. Ngoài nhiệm vụ là thông dịch viên, Kraemer còn phụ trách về tâm lý chiến: giải thích về ý thức hệ Đức Quốc xã và sự nguy hiểm của Hitler ở Âu Châu. (Vào đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ động viên tất cả mọi thành phần trong xã hội, và ít người được miễn dịch như những cuộc chiến mà Hoa Kỳ liên hệ đến sau nầy. Một số đông tân binh là những giáo sư, sinh viên, trí thức... Và các bộ tư lệnh thường có những buổi học tập về tâm lý chiến để giải thích sự gia nhập của Hoa Kỳ vào thế chiến chống lại trục quân sự Đức - Ý - Nhật.) Một hôm, Kissinger là cử toạ trong một bài diễn thuyết của Kraemer. Nghe Kraemer giảng xong, Kissinger viết cho Kraemer một lá thư ngắn, tự giới thiệu, và đề nghị Kraemer một cách diễn thuyết hay hơn. Kraemer (lớn hơn Kissinger 16 tuổi) hơi sửng sốt về tính chất thẳng thắn của Kissinger, nhưng cũng muốn gặp coi Kissinegr là ai. Gặp nhau, Kramer thích lối suy nghĩ của Kissinger (Kissinger có một bộ óc chính trị khác thường, Kraemer nói cho Kissinger biết); trong khi Kissinger thích tính ngạo mạn, thái độ bất cần và phong cách quí tộc của Kraemer. Quen được Kraemer làm thay đổi cuộc đời của Kissinger: chỉ trong ba năm, từ một anh binh nhì vô danh, với ước vọng tầm thường trở thành một kế toán viên, Kissinger được mọi người chú ý và - quan trọng nhất - nhờ Kraemer, Kissinger đã khám phá ra những tiềm năng trí thức chưa được phát triển đúng mức bên trong. Khi Sư đoàn 84 bộ binh đổ bộ lên Âu Châu và tiến vào nước Đức, thiếu tướng Bolling, tư lệnh sư đoàn, nhận lời tiến cử của Kraemer, cho Kissinger về làm tài xế, thông dịch viên và tuỳ viên cho ông. Trong thời gian các sư đoàn Hoa Kỳ được lệnh tạm thời quản trị các vùng trong phạm vi trách nhiệm của họ, vì không đủ chuyên viên hành chánh rành cả hai ngôn ngữ Anh - Đức, Kissinger được giao trách nhiệm quản trị cả một quận lỵ nhỏ ở gần Frankfurt. Tháng 6.1945, mang lon trung sĩ và có chức vụ chỉ huy trưởng một biệt đội phản gián chuyên truy lùng những đảng viên Đức Quốc xã đang lẩn trốn quân đội Đồng minh, Kissinger có thẩm quyền bắt giữ tất cả những ai nằm trong vùng trách nhiệm của ông [3]. Giữ chức vụ đó chưa đầy một năm thì Kraemer tìm gọi Kissinger: Kraemer vừa thành lập một trường tình báo ở gần Munich, mục đích của trường là huấn luyện các sĩ quan Đồng minh khám phá những tổ chức Nazis còn sót lại, và tái lập thẩm quyền dân sự cho nước Đức. Kissinger nhận lời. Ban đầu Kissinger dạy như là một quân nhân trong ban giảng huấn của trường. Nhưng khi xuất ngũ và được mướn trở lại như một giảng viên dân sự, Kissinger được trả lương 10.000 mỹ kim một năm, một số tiền khá lớn vào năm 1946. Những học viên của trường - sau này là những nhân vật có nhiều thẩm quyền của chính phủ Mỹ, hay khoa trưởng ở những đại học nổi tiếng - đều công nhận Kissinger có lối nói chuyện và một tư cách rất thẩm quyền, nếu không nói là độc đoán. Với số lương cao như vậy, nhưng Kissinger muốn trở lại Hoa Kỳ để tiếp tục học. Nhất là khi người đở đầu của ông, Kraemer, khuyên ông nên có một mảnh bằng đại học. Kissinger được nhận vào Đại học Harvard và nhập học vào mùa thu năm 1947. Năm đó Kissinger được 24 tuổi. Ở Đại học Harvard Kissinger học giỏi và tạo cho mình một tên tuổi, nếu không nói là một huyền thoại. Chọn ngành Chánh quyền và Triết học là môn căn bản, Kissinger không gia nhập một hội đoàn nào ở trường, không tụ tập vào những cuộc hội họp cuối tuần, và cũng không tham dự vào môn thể thao nào. Kissinger chỉ học và có một cuộc sống gần như cô độc. Vì Kissinger học giỏi từ năm đầu, ông được liệt vào hạng sinh viên danh dự và được trường đề cử một giáo sư để làm cố vấn. Vị giáo sư đó là William Yandell Elliott, một trong những giáo sư nổi tiếng về ngành nhân văn của Đại học Harvard đương thời. Cũng như Kraemer, lúc đầu giáo sư Elliott ngộ nhận Kissinger chỉ là một sinh viên thường như những sinh viên khác mà ông đã bị trường bắt làm cố vấn. Để tỏ sự khó chịu và để cho Kissinger biết ông là một giáo sư cố vấn khó tánh, giáo sư Elliott bắt Kissinger đọc 25 quyển sách để viết cho ông một luận đề, so sánh giữa lý trí thuần tuý và lý trí thực nghiệm trong hệ thống triết học của Immanuel Kant. Theo lời kể của hai người bạn ở chung phòng, Kissinger vào thư viện mượn tất cả những quyển sách đó về chất trong phòng, rồi đêm nào ông cũng thức đến hai giờ sáng đọc và viết. Ba tháng sau Kissinger nộp bài cho giáo sư Elliott. Nộp bài buổi sáng thì buổi chiều giáo sư Elliott gọi điện thoại muốn Kissinger trở lại gặp ông. Gặp Kissinger, Elliott nói từ trước đến nay chưa có một sinh viên nào đọc hết những quyển sách ông chỉ định, và chưa có sinh viên nào viết được một luận đề mạch lạc như bài viết của Kissinger [4]. Trong một lá thư giới thiệu ông viết cho Kissinger, giáo sư Elliott nói trong năm năm qua, ngay cả trong nhóm sinh viên liệt vào hàng tối ưu, ông chưa gặp ai có một cái nhìn sâu sắc về triết lý chính trị như Kissinger. Bốn năm ở Harvard, Kissinger chỉ có một lớp bị điểm B, tất cả các lớp còn lại đều điểm A. Vào năm thứ hai ở đại học, Kissinger lập gia đình với một cô bạn đã quen biết từ thời trung học. Vợ Kissinger cũng là người Đức gốc Do Thái, cũng chạy tị nạn Nazis cùng thời với ông. Tiểu luận cử nhân của Kissinger ở Đại học Harvard làm ông trở thành một huyền thoại; một “tiểu" luận đã làm cho Harvard đề ra một qui luật mới về cách viết tiểu luận ở bậc cử nhân. Tiểu luận của Kissinger mang tên “Ý nghĩa của lịch sử”, dầy 383 trang. Nội dung chánh của tiểu luận nói về phương thức phân tích lịch sử; thẩm định lại để coi lịch sử có phải là một sự tất định - trong ý nghĩa lịch sử là định mệnh - hay lịch sử là hậu quả của những quyết định đến từ những cá nhân trong lịch sử tạo ra. Kissinger bàn về nhận định của triết gia Immanuel Kant; nhà xã hội học Oswald Spengler; và sử gia Arnold Toynbee. Không mấy ai nói nhiều - hay đọc hết - về tiểu luận của Kissinger. Nhưng với tiểu luận đó và thứ hạng trong suốt bốn năm học, Kissinger tốt nghiệp cử nhân hạng tối ưu. Và cũng qua tiểu luận của Kissinger, đại học Harvard qui định từ đó về sau, tiểu luận bậc cử nhân không được quá 150 trang. [5] Nếu Kissinger đã may mắn gặp được Fritz Kraemer, thì Kissinger may mắn hơn lúc được William Elliott đở đầu. Khi Kissinger quyết định tiếp tục theo học lên bậc tiến sĩ ở Harvard, Elliott tìm mọi cách để giúp đỡ Kissinger về vấn đề tài chánh. Mùa hè năm 1951, trong lúc Kissinger đang viết luận án tiến sĩ, giáo sư Elliott cho Kissinger phụ trách một chương trình quan trọng mà sau này (khi Kissinger trở thành Cố vấn an ninh quốc gia, rồi Tổng trưởng ngoại giao) đã giúp đỡ Kissinger liên lạc dễ dàng với nhiều yếu nhân quan trọng trên thế giới. Chương trình do giáo sư Elliott đề nghị có tên là Hội thảo Quốc tế Harvard. Đây là một khoá hội thảo mùa hè do Đại học Harvard tổ chức. Những thành phần được chọn đến tham dự là những lãnh tụ, khoa bảng trẻ, có nhiều tương lai ở quốc gia của họ. Kissinger được Elliott cho phụ trách tuyển chọn những người tham dự [6]. Nhiều người theo dõi sự nghiệp của Kissinger cho rằng Harvard International Seminar là bắt đầu của Kissinger vào thao trường chính trị. Ngoài nhiệm vụ phụ trách Harvard International Seminar, Kissinger còn ấn hành một tạp chí với nội dung về chính trị quốc tế có tên là Confluence: An International Forum (Hội tụ: một diễn đàn quốc tế). Tạp chí phát hành bốn số một năm, và Kissinger đã thu hút được nhiều tác giả khoa bảng có tiếng lúc đương thời. [7] Tháng 5 năm 1954, Kissinger được cấp bằng tiến sĩ qua luận án “A World restored: Metternich, Castlereagh, and the Problems of Peace 1812-22”. Một luận án rất lỗi thời so với những sôi động trong giới khoa bản và lý thuyết gia về chiến lược nguyên tử đương thời. Trong luận án, Kissinger phân tích về vai trò của Clemens von Metternich, Thủ tướng Áo, và Ngoại trưởng Anh, Robert Steward Castlereagh, trong cuộc hội nghị ở Vienna để bàn về số phận của Pháp và Napoleon, và tạo lại thế quân bình trên lục địa Âu Châu sau khi ảnh hưởng của đế quốc Pháp tàn lụn. Trong lịch sử ngoại giao quốc tế, Metternich được nhắc đến nhiều với đường lối ngoại giao bí mật để thương lượng thế lực giữa các cường quốc. Metternich hô hào những biện pháp như đàn áp và kiểm duyệt để duy trì an ninh nội bộ của một quốc gia. Kissinger tán dương Metternich, cho rằng nhờ nhà ngoại giao này mà Âu Châu được yên tĩnh cho đến khi thế chiến thứ nhất bùng nổ. [8] Với bằng tiến sĩ trong tay, Kissinger hy vọng được bổ nhiệm một chức giáo sư trong ban giảng huấn của Harvard. Nhưng Harvard không bổ nhiệm ông một chức gì thực thụ, ngoài chức tạm thời là phụ giáo. Thất vọng, nhưng Kissinger kiên nhẫn ở lại Harvard, dù hai trường đại học khá có tiếng khác mời ông về dạy với chức giáo sư thực thụ (Đại học Chicago và Đại học Pennsylvania). Kissinger kiên nhẫn ở lại Harvard vì biết đó là tụ điểm của tiếng tăm và danh vọng. Làm phụ giảng chưa đầy năm thì một may mắn tình cờ khác xảy đến với Kissinger. Giáo sư sử học Arthur Schlesinger, Jr., của Harvard có viết một tiểu luận chỉ trích chiến lược nguyên tử đương thời của Hoa Kỳ cho tạp chí ngoại giao và chính trị Foreign Affairs. Ông nhờ Kissinger đọc và cho ý kiến. Kissinger đọc và viết lời phê bình về bài viết của Schlesinger. Bài phê bình của Kissinger làm cho Schlesinger thích đến độ ông gởi bài phê bình của Kissinger đến chủ bút tờ Foreign Affairs; và bài viết đầu tiên về an ninh quốc gia và chiến lược nguyên tử của Kissinger được đăng trên một nguyệt san tên tuổi, chuyên nghiên cứu về đường lối ngoại giao Hoa Kỳ. [9] Sau khi bài viết được đăng trên Foreign Affairs, và nhờ sự giới thiệu của những giáo sư danh tiếng ở Harvard như Elliott, Schlesinger, hay McGeorge Bundy, Kissinger được mời vào làm giám đốc một ban nghiên cứu về ảnh hưởng của vũ khí nguyên tử đối với đường lối ngoại giao. Kissinger xin Harvard cho nghỉ dạy một thời gian và dọn về New York làm việc. Ban nghiên cứu do Kissinger làm giám đốc (mà hội viên là những thành phần nổi tiếng trong giới quân sự, tình báo, kinh tế và ngoại giao Hoa Kỳ đương thời) nằm trong một cơ sở có tiếng nói rất quan trọng đối với nền ngoại giao Hoa Kỳ: Hội đồng Liên hệ Ngoại giao (Council on Foreign Relations). Khi đặt chân vào làm việc cho Council on Foreign Relations, Kissinger mới thật sự đối diện với cơ cấu và quyền lực của Chính phủ Hoa Kỳ [10]. Làm việc chung với những chuyên gia tên tuổi về quân sự và ngoại giao chuyên về chiến lược nguyên tử, sau 18 tháng làm việc miệc mài, năm 1957, Kissinger hoàn tất một tác phẩm được nhiều người trong giới chính trị, ngoại giao và quân sự nhắc đến: Nuclear Weapons and Foreign Policy (Đường lối ngoại giao và vũ khí nguyên tử). Tác phẩm được chánh quyền Mỹ chú ý; giới chuyên nghiệp bàn tán, và nằm trên đầu những quyển sách bán chạy nhất ở Mỹ trong 14 tuần lễ liên tục. Nhưng theo những nhà quan sát, Kissinger chỉ “khoa bảng hoá” ý nghĩ và suy luận của các chuyên viên làm việc chung với Kissinger. Tác phẩm của Kissinger bán chạy chỉ vì đúng vào thời điểm và sự hiếu kỳ của độc giả trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh đang diễn ra giữa hai siêu cường Nga - Mỹ [11]. Sau thời gian ở Council on Foreign Relations, sau khi tên tuổi đã được ít nhiều sự chú ý trong cộng đồng khoa bảng, Kissinger trở lại Harvard. Đại học Harvard bổ nhiệm Kissinger chức giảng sư, rồi phó giáo sư; và giáo sư thực thụ vào năm 1962. Tuy trở về Harvard dạy, nhưng Kissinger vẫn tiếp tục giữ liên lạc với Council on Foreign Relations và các cơ sở có ít nhiều liên hệ với chính quyền. Cuối năm 1962, Kissinger được 34 tuổi, có hai con, trai và gái, và đã ly dị vợ. Khi chúng ta nói về sự may mắn trong cuộc đời, có lẽ khó ai gặp nhiều may mắn như Kissinger. Kissinger biết Kraemer lúc còn một binh nhì trong lính; được giáo sư Elliott giúp đỡ khi mới vào Harvard. Rồi trong thời gian làm việc ở Council on Foreign Relations, Kissinger gặp một bảo nhân khác quan trọng hơn, thế lực hơn: nhà tỉ phú Nelson Rockefeller [12]. Nelson Rockefeller biết Kissinger qua những lần hội thảo về tình hình an ninh quốc gia/quốc tế (Nelson là phụ tá cho tổng thống Eisenhower về an ninh quốc tế một thời gian), và trong thời gian Kissinger làm việc cho Council. Nelson kính nễ Kissinger, nghĩ rằng ông có thể nhờ vào trí thức và khoa bảng của Kissinger để cố vấn trong cho sự nghiệp chính trị của ông về sau. Từ năm 1956 cho đến năm 1968, Nelson đích thân mướn Kissinger soạn thảo và nghiên cứu nhiều dự án cho cá nhân ông. Năm 1969, khi Kissinger chánh thức về làm việc cho chính phủ (Cố vấn an ninh quốc gia cho Nixon), Nelson đã biếu Kissinger 50000. mỹ kim như một món quà đưa tiễn [13]. Đã lọt vào thế giới khoa bảng, giáo khoa, ở Đại học Harvard, bây giờ, nhờ sự quen biết với Nelson Rockefeller, Kissinger lại được giới thiệu, hay có dịp làm việc chung những khuôn mặt quan trọng trong Chính phủ Hoa Kỳ. Năm 1961, khi John F. Kennedy nhậm chức tổng thống, vị tổng thống trẻ tuổi này đưa hầu hết các bạn bè đồng môn ở Harvrad về làm việc cho ông (Kennedy cũng tốt nghiệp ở Harvard năm 1940, hạng danh dự cum laude). Một trong hai giáo sư đang dạy ở Harvard là Schlesinger và McGeorge Bundy được Kennedy mời về làm cố vấn và phụ tá quan trọng trong toà Bạch Ốc. Theo lời mời của Bundy, Kissinger được về làm cố vấn bán thời gian ở Hoa Thịnh Đốn. Nhưng trong thời gian làm việc ở toà Bạch Ốc, thái độ và tư cách của Kissinger gây nhiều khó chịu cho nhiều người - trong đó có Tổng thống Kennedy và cố vấn an ninh quốc gia McGeorge Bundy. Thấy mình không được trọng dụng trong chính phủ Kennedy - hay là thấy không ai thích mình - Kissinger làm chưa tới một năm rưỡi thì từ nhiệm, trở về Harvard tiếp tục nghiên cứu và viết sách. Năm 1964, khi Nelson Rockefeller ra tranh cử vòng sơ tuyển trong Đảng Cộng hoà cho cuộc bầu cử tổng thống năm 1964, Kissinger là cố vấn cho Nelson về vấn đề an ninh quốc phòng. Nelson thua, và Đảng Cộng hoà đề cử Thượng nghị sĩ Barry Goldwater ra tranh cử lại Lyndon Johnson. Nhưng qua lần xuất hiện năm 1964 với Nelson Rockefeller, Kissinger biết được thêm một số nhân vất quan trọng trong Đảng Cộng hoà. Một trong những người quan trọng đó là Henry Cabot Lodge, một nhân vật quan trọng đương thời trong Đảng Cộng hoà. Lại thêm một tình cờ khác đưa Kissinger trở lại liên hệ với chính quyền. Cũng từ Lodge, Kissinger lần đầu tiên biết đến Việt Nam và cuộc chiến đang xảy ra ở miền Nam, một địa dư và cơ cấu chính trị Kissinger rất còn xa lạ [14]. Qua lời mời của Lodge, Kissinger đến Sài Gòn cuối năm 1965, và hai lần tiếp theo sau đó vào năm 1966. Trong ba lần quan sát nghiên cứu này, Kissinger đi thăm viếng nhiều nơi, nói chuyện với nhiều thành phần và yếu nhân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Sau những chuyến quan sát đó, Kissinger tường trình bằng miệng lại cho Lodge và thẩm quyền ở Hoa Thịnh Đốn. Tuy nhiên, theo những người biết chuyện bên trong, Kissinger tường trình theo ý của người nghe: nghĩa là ông thay đổi quan điểm tuỳ theo người đối diện [15]. Tháng 8 năm 1966, Kissinger viết lên nhận định đầu tiên về vấn đề Việt Nam trên tạp chí Look. Trong bài viết, Kissinger nói cuộc chiến ở Việt Nam khó kết thúc bằng chiến thắng quân sự; thương thuyết để tìm một giải pháp hoà bình là chuyện tất nhiên sẽ xảy ra. Nhưng quan trọng nhất trong thời gian này, sự rút quân của Hoa Kỳ khỏi Việt Nam sẽ gây nhiều tổn thương về danh dự của Hoa Kỳ đối với các quốc gia đồng minh chống cộng trên toàn thế giới. Liên hệ đầu tiên của Kissinger đối với Việt Nam tưởng đã chấm dứt sau ba lần thăm viếng quan sát qua lời mời của đại sứ Lodge. Nhưng vào năm 1967, một tình cờ khác đưa Kissinger đến những liên hệ bí mật hơn của chiến tranh Việt Nam. Trong một lần tham dự hội thảo với những giới chức khoa bảng quốc tế hàng năm tại Paris, Kissinger gặp lại một người bạn Pháp tên Herbert Marcovich. Khi câu chuyện qua lại đưa đến đề tài về chiến tranh Việt Nam, Marcovich nói với Kissinger ông có một người bạn thân tên là Raymond Aubrac, và Aubrac quen biết rất thân với Hồ Chí Minh từ năm 1946. Marcovich đề nghị ông thể nhờ Aubrac đánh tiếng với Hồ Chí Minh, hay cấp lãnh đạo Hà Nội, khởi đầu một liên lạc ngoại giao ngầm giữa Hà Nội và Mỹ về vấn đề Việt Nam [16]. Trở lại Mỹ, Kissinger đem chuyện đó nói với McGeorge Bundy, hỏi thẩm quyền có ý kiến gì không. Bundy hỏi Ngoại trưởng Dean Rusk, và Rusk trình lên cho Tổng thống Johnson. Vài tuần sau, toà Bạch ốc cho phép Kissinger liên lạc lại với Marcovich và Aubrac. Nhưng để tránh sự lộ liểu và để giữ bí mật trong trường hợp sự liên lạc không đi đến đâu, thẩm quyền Hoa Thịnh Đốn chỉ thị Kissinger liên lạc Hà Nội với tư cách một “cá nhân quan tâm”, muốn đi tìm một giải pháp cho chiến tranh Việt Nam chứ không phải đại diện của chính phủ Hoa Kỳ. Trong khi đó, được sự chấp thuận của Tổng thống De Gaulle, Aubrac và Marcovich bay qua Hà Nội ngày 21 tháng 7 năm 1967. Ở Hà Nội hai người được Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh đón tiếp. Sau khi nghe đề nghị Hoa Kỳ sẽ ngưng dội bom nếu Hà Nội thật sự muốn thương lượng để chấm dứt cuộc chiến, Phạm Văn Đồng trả lời Hoa Kỳ phải ngưng dội bom lập tức và vô điều kiện trước khi muốn có một cuộc đối thoại nào. Aubrac chuyển tin tức từ Hà Nội về cho Kissinger; Kissinger đưa lại cho toà Bạch ốc. Giữa tháng 10.1967, trong một buổi họp cao cấp dưới sự chủ toạ của Johnson (và có mặt Kissinger), sau khi bàn cãi về thái độ sự thành thật của Hà Nội, Tổng thống Johnson quyết định chấm dứt những liên lạc ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Hà Nội qua Kissinger - Marcovich - Aubrac. Hoa Kỳ đoán đúng về thái độ hiếu chiến của cộng sản Bắc Việt (CSBV): hơn hai tháng sau, CSBV mở cuộc tổng công kích toàn diện ở miền Nam vào Tết Mậu Thân 1968 [17]. Chỉ mười một năm từ ngày Kissinger xuất bản tác phẩm về chiến lược nguyên tử, cho đến năm bầu cử tổng thống 1968, tên tuổi Kissinger được nhắc đến nhiều trong giới chiến lược, chính trị gia, và khoa bảng. Giống như năm 1964, Kissinger được mời làm cố vấn quan trọng trong cuộc vận động tranh cử tổng thống của Nelson Rockefeller vào năm 1968. Ở vòng sơ tuyển tranh cử nội Đảng Cộng hoà, Kissinger ra mặt chỉ trích ứng cử viên Nixon [18]. Kissinger tuyên bố: “Nixon không xứng đáng làm tổng thống”, đầu óc Nixon “nông cạn”, và Nixon là “một thảm hoạ cho Đảng Cộng hoà... Nhưng may mắn, Nixon không thể đắc cử tổng thống, nếu không thì [sự đắc cử của Nixon] là một thảm hoạ cho Mỹ quốc" [19]. Nhưng sau khi Nixon đánh bại Rockefeller và được đảng chính thức đề cử, Kissinger yên lặng. Nhưng Kissinger yên lặng không lâu: khi cuộc tranh cử tổng thống đi vào giai đoạn hai - Nixon của Đảng Cộng hoà đối lại Humphrey của Đảng Dân chủ - thì ban cố vấn của Nixon gọi Kissinger, mời ông giúp một tay, cố vấn về đường lối ngoại giao quốc tế. Kissinger chần chừ vài ngày rồi nhận lời với một điều kiện: ông muốn cố vấn sau lưng và không muốn ra mặt làm việc cho Nixon công khai. Ban tham mưu Nixon chấp nhận [20]. Giấu mặt ở phía sau, Kissinger cung cấp một số tin tức liên quan về những mật đàm sơ khởi đang xảy ra ở Paris giữa CSBV và Mỹ. Với những tiên liệu cung cấp từ Kissinger, ứng cử viên Nixon theo đó mà tuyên bố một cách dè dặt, theo chiều, về đường lối ngoại giao của ông đối với cuộc chiến Việt Nam đang xảy ra. Tuy nhận tin tức từ Kissinger, nhưng Nixon lúc nào cũng đề phòng một người đã từng làm việc cho đối thủ của mình. Theo những người biết chuyện, tin tức Kissinger cung cấp cho Nixon không quan trọng hay tối mật lắm, nhưng có thể dùng được [21]. Rồi chuyện xảy ra như chúng ta đã thấy: Nixon đắc cử năm 1968. Với lời hứa là ông sẽ giải quyết vấn đề Việt Nam, Nixon cần một người mới nhưng biết chút ít nội vụ thương nghị đang xảy ra ở Paris. Kissinger có thể đóng vai trò đó. Gần một tháng sau ngày đắc cử, Nixon gọi Kissinger về và giao cho chức Cố vấn an ninh guốc gia. Chỉ trong vòng 26 năm, từ một anh lính quèn, Kissinger ngày nay trở thành cố vấn quan trọng cho một vị tổng thống mạnh nhất trên thế giới. Bây giờ, anh bình nhì Henry Alfred Kissinger có quyền sử dụng sĩ quan cấp tướng để làm phụ tá cho mình [22].

❊ ❊ ❊


talawas
Được bạn:ms đưa lên
vào ngày: 6 tháng 5 năm 2006