iệc thành lập một công đoàn độc lập Đoàn kết tại Ba Lan dưới sự lãnh đạo của Lech Walesa năm 1980 tạo một luồng sóng làm chấn động khôi Đông Âu. Láng giềng trực tiếp của Ba Lan, nước CHDC Đức cảm nhận mãnh liệt việc này. Người ta lo ngại những cuộc nổi dậy có thể tràn qua biên giới. Vai trò lãnh đạo của các công đoàn trong cuộc nổi dậy tại Ba Lan đặc biết gây bối rối cho giới lãnh đạo Cộng sản bởi vì các cuộc đình công sẽ gây hại khốc liệt đến uy tín của Đảng vốn tự nhận là đại diện cho giới công nhân. Cơ quan HVA (Tình báo hải ngoại) cung cấp những tin tức tình báo chính xác vào cuối thập niên 1970 về làn sóng bất mãn tại Ba Lan. Chúng tôi có những nguồn tin của chúng tôi trong vòng thân cận của Walesa và của người trí thức lãnh đạo Adam Michnik. Nhưng mối liên hệ tình báo giữa Warsawa và Đông Bá linh luôn luôn khó khăn, và chính quyền Balan không xem trọng lời cảnh giác của chúng tôi về tình trạng bất ổn này.
Thấy tương lai có nhiều hiểm hoạ, chúng tôi thành lập một nhóm công tác đặc biệt về Ba Lan trong bộ của chúng tôi tại Berlin và tại các bộ tư lệnh tỉnh gần biên giới của Ba Lan. Đối với cơ quan tình báo hải ngoại của tôi, ưu tiên trên hết là khám phá những ý đồ của các chính quyền, các chính đảng, các cơ quan mật vụ và các tổ chức tư nhân chẳng hạn như những công đoàn ngoại quốc hổ trợ cho Solidarnosc. Các bạn đồng nghiệp đối tác Ba Lan nhờ chúng tôi theo dõi những tổ chức Ba Lan di cư, đặc biệt tại Đài phát thanh châu Âu Tự do tại Munich và tập san Kultura tại Paris. Trong thời kỳ náo động cao độ chúng tôi cũng thu thập tin tức ngay trên đất của Ba Lan với sự đồng ý của Bộ Nội vụ Ba Lan. Chúng tôi đề ra những biện pháp để gây ảnh hưởng lên trên dư luận quần chúng Ba Lan và cũng được biết những gì ban phụ trách về di cư của tình báo Tây Đức tại Ba Lan đang làm để chúng tôi có thể phản công.
Nhưng lời cảnh báo của chúng tôi và cả chương trình theo dõi của chính Ba Lan cũng không làm thay đổi được điều gì. Công đoàn Đoàn kết là một tổ chức cách mạng thực thụ, đã làm thay đổi lề lối suy nghĩ của các nhà đối lập Đông Âu vốn cho rằng ổn định kinh tế và xã hội phải là căn bản của mọi cải cách. Trái lại, các công nhân đình công tìm cách đối đầu với chính quyền Cộng sản trên mọi lãnh vực và chứng minh rằng chính phủ thiếu tự tin để phản công. Việc áp đặt thiết quân luật do Tướng Wojciech Jaruzelski ban hành vào tháng 12-1981 chỉ làm chậm lại tiến trình của một động năng đã tự vận chuyển.
Vào năm 1981, tôi đã chuẩn bị tinh thần để về hưu. Không những tôi đã hoàn thành hầu hết những điều tôi dự liệu trong đời sống nghề nghiệp nhưng tiến trình được Hiệp ước Căn bản đề ra năm 1972 đã bị đình chỉ, và Erich Honecker đã trở thành một lãnh tụ già nua bám víu vào quyền lực. Đã có những thảo luận về việc đưa tôi vào Trung ương Đảng và có thể cất nhắc đưa vào Bộ Chính trị, nhưng sự đề bạt chính trị trong những điều kiện như vậy tôi không ưa muốn chút nào. Dù sao đi nữa, Mielke quyết định ngăn chặn tôi.
Tôi không lên tiếng nhưng có ghi lại trong quyển nhật ký của tôi:
“Mielke không hiểu rằng điều này không còn là điều tôi muốn nữa. Điển hình, điều này có nghĩa là tôi tiếp tục bị ràng buộc và sẽ tác động lên nhưng lựa chọn của cá nhân tôi. Chọn con đường này sẽ làm cho tôi mất thêm sinh lực, vì quyền lực bầu bán của chúng tôi không có giá trị thực sự. Tại sao phải để tâm lo nghĩ?”.
Tôi đã bắt đầu đọc sách nhiều hơn bao giờ hết, cởi mở tinh thần để đón nhận những ý mới và phê phán hệ thống của chúng tôi, điều chúng tôi gọi là “chủ nghĩa xã hội thực tế”. Một trong những quyển sách gây ảnh hưởng nhiều nhất là quyển The Aesthetics of Resistance (Mỹ học của đề kháng) của Peter Weiss, nội dung đề cập đến phương pháp điều trị nguyên nhân và hậu quả của chủ thuyết Stalin cùng với những hồi ức cá nhân và lời văn hùng hồn. Tôi cũng bỏ hàng giờ nói chuyện với Koni em của tôi về một ý định làm phim hoặc viết một quyển sách tựa đề là The Troika. Em tôi quyết định kể lại tình bạn thời niên thiếu của mình tại Moscow với Lothar Wloch, con của một gia đình cộng sản Đức nổi tiếng, và với Victor và George Fischer (Em tôi có ý phối hợp hình ảnh của Victor và George thành một nhân vật, tạo nên một bộ ba và ý nghĩa của tựa đề The Troika). Ba mươi năm sau chiến tranh, cả bốn người gặp lại nhau tại Hoa Kỳ. Koni đã từng chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân và đã trở thành một đạo diễn danh trọng và là giám đốc Học viện nghệ thuật Berlin. Lothar đã trở về Đức sau khi cha của ông trở thành nạn nhân trong cuộc thanh trừng của Stalin, và sự tan vỡ hiệp ước 1939 với Hitler đã mở con đường đưa ông đến phục vụ không quân Lutfwaffe đánh lại Liên Xô. Sau cuộc chiến, ông định cư tại Tây Berlin và trở thành một doanh nhân thành công trong ngành địa ốc. George Fischer trở thành Đại uý trong quân đội Hoa Kỳ, và tôi tình nghi ông có liên hệ với tình báo Hoa Kỳ. Mặc dù họ có cuộc sống và lý tưởng rất khác nhau, bộ ba này khám phá lửa ấm của tình bạn trước đây vẫn còn tồn tại sau Chiến tranh Lạnh. Đến năm 1980, Koni chuẩn bị quay phim, lúc đó em tôi đã bị bệnh ung thư. Em tôi chết vào tháng 3-1982, và tôi phải hoàn tất công trình của em tôi? Mỗi ngày tôi đem theo những giấy tờ ghi chú và phác hoạ của em tôi vào sở làm, điền với những ghi chú của tôi và tìm kiếm tài liệu. Và tôi bắt đầu thấy rõ là công trình này có một giá trị lâu bền hơn là cứ tiếp tục điều khiển một cơ quan tình báo hữu hiệu. Sự rạo rực trước đây tôi vẫn thường cảm thấy khi kết nạp những điệp viên mới và phòng bổ công tác nay chỉ xuất hiện khi tôi soạn thảo quyển sách. “Tuyệt vời, (tôi viết trong nhật ký của tôi), tôi cảm thấy Koni sống động lại … Nhiều người trông chờ một cách gần như hồn nhiên là tôi phải tiếp tục công trình bỏ dở của em tôi. Có nhiều niềm hy vọng và quan hệ nhân sinh cần phải giữ cho sinh động. Điều này xem ra quan trọng đối với tất cả những ai đã quen biết em tôi. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhận biết là thời gian đang trôi nhanh. Đã đến lúc phải chiều theo sự vật”.
Đầu năm 1983, tôi nhận được bản báo cáo tường tận nhưng nản lòng về tình hình của Hiệp ước Warsaw. Rainer Rupp, điệp viên nằm vùng tại NATO của chúng tôi, đã xoay sở gửi đến cho chúng tôi một bản sao chụp vi phim của một tài liệu nghiên cứu cán cân lực lượng tổng quát Đông Tây. Đây là một tài liệu nghiên cứu ưu việt về những yếu kém của hệ thống Xô viết và sự thoái lui về tính chất hữu hiệu trong quân đội và quyền lực kinh tế. Tôi biết bản nghiên cứu của phương Tây về những trăn trở của khối Đông Âu là chính xác và tôi cũng biết là chẳng có hy vọng gì những “cái đầu đá cứng” - danh từ các nhà phê bình dùng để nói xỏ các vị lãnh đạo già nua của chúng tôi – sẽ ra sức để thay đổi tình thế. Chúng tôi hình như bị khoá chặt vào vòng xoắn nhanh chóng đi xuống. Tất cả những điều này làm nhụt tinh thần nghề nghiệp và năng lực của tôi, khiến cho tôi cảm thấy chán nản và lòng đầy nghi ngại.
Tôi chuẩn bị tinh thần để trình Mielke tập tài liệu, kèm theo đó là những phấn tích của chúng tôi. Và sau đó, tài liệu này sẽ được trao cho Viktor Chebrikov, giám đốc KGB tại Moscow và cho Tổng bí thư Konstantin Chernenko. Giọng điệu trong lời “bình luận của chúng tôi” phải chừng mực và tôi làm việc với đội ngũ trẻ giỏi nhất của tôi để đảm bảo lời bình luận không che giấu hình ảnh ảm đạm được NATO trình bày và cũng không biểu lộ một cách trịch thượng nỗi vui mừng trên sự đau khổ của kẻ khác về sự mô tả hình ảnh thiểu nảo của Liên Xô.
Nhân dịp tôi bay sang Moscow tháng 8-1983, tôi nói với Mielke tôi đang suy tính về thời điểm tôi về hưu. Tôi đã sáu mươi tuổi và Mielke bảy mươi lăm. Đã đến lúc cả hai chúng tôi nên nghĩ đến việc tìm người kế vị. Ông khoát tay bác bỏ. Tôi cố nài nỉ và sau một lúc do dự, ông chấp nhận trên nguyên tắc việc về hưu của tôi nhưng ngạo mạn nói thêm ông sẽ quyết định ngày giờ. Ông đã nghe nói tôi muốn tiếp tục công trình của Koni trên vở The Troika và nhạo báng: “Giám đốc tình báo không được làm phim” Nhưng ít ra vấn đề đã được đề cập đến.
Bất mãn về chính trị và xã hội lan tràn khắp nước đã thẩm thấu qua bức tường dày của Bộ Công an. Trong nhà tắm hơi đặc biệt, nơi đây các viên chức cao cấp cảm thấy thoải mái nói lên những điều họ không dám nói ở các nơi khác, hai viên chức cao cấp trong Bộ Ngoại giao kể cho tôi nghe nỗi ấm ức của họ đối với giới lãnh đạo già nua và vô cảm tại Moscow và Berlin. Các người đối thoại với tôi trong nhà tắm hơi tâm sự là giữa Đông Đức và Moscow cơm không lành canh không ngọt. Chernenko bất tín nhiệm việc Honecker xích lại gần với Helmut Kohl và lo sợ Tây Đức cổ võ một căn cước quốc gia phò Đức và sẽ lấn áp tinh thần đoàn kết xã hội chủ nghĩa. Trong một cuộc họp mặt tại Moscow năm 1984, ông cảnh báo Honecker nước Cộng hoà Dân chủ Đức sẽ là “nạn nhân sau cùng của tất cả sự việc này”. Ông nói thêm: “Quý vị phải nhớ mối phát triển quan hệ giữa Đông và Tây Đức phải tôn trọng quyền lợi an ninh của Liên Xô trên hết mọi sự”.
Lời cảnh báo này rõ ràng muốn đè bẹp tham vọng của Honecker muốn đến thăm viếng chính thức Bonn. Cuộc họp, hai người bạn trong phòng tắm hơi nói, đã chấm dứt trong một bầu không khí lạnh nhạt. Honecker, lòng tức tối vì bị xỉ nhục, đã nổi cơn giận hiếm thấy một khi ông trở lại với phái đoàn và chế giễu hành động lên mặt thầy đời của Chernenko. Khi ông trở về Đông Berlin, Honecker giãi bầy hết sự căm giận với Mielke và tuyên bố, cho dù Moscow có phản đối, ông nhất quyết tìm phương cách để thăm Bonn. Báo chí của Xô viết trong khi đó bắt đầu chiến dịch bôi nhọ Honecker. Nhờ tôi thông thạo tiếng Nga và có nhiều liên hệ với Moscow, tôi được mời để can thiệp và điện thoại cho Chebrikov. Chebrikov gạt phăng tôi ra và nhắc nhở những vấn đề này là vấn đề của Đảng chứ không phải của cơ quan tình báo. Sự bế tắc trong ý định của Honecker muốn thăm viếng Bonn chế ngự tất cả những vấn đề khác với Moscow. Tôi chưa bao giờ thấy tình hình căng thẳng như lúc này. Phải mất nhiều tháng để thu xếp một đường điện thoại trực tiếp giữa Honecker và Chernenko, vì cả hai đều không muốn chứng tỏ mình sẵn sàng nhượng bộ. Qua đường kiểm soát điện thoại, chúng tôi nghe được một mẩu đối thoại giữa Klaus Bölling, phát ngôn nhân của chính quyền Bonn, và một viên chức Tây Đức khác nói về cuộc đối đầu gay go giữa Moscow và Đông Berlin. “Lần này hoá thành ra chuyện lớn”, Bölling nhận xét, “Nó thú vị hơn là cả hai vở Dallas và Dinasty cộng lại!”
Hội nghị thượng đỉnh tháng 8-1984 giữa Honecker và Chernenko chỉ vỏn vẹn đúng một ngày và kết quả là thất bại. Ông Tổng bí thư của chúng tôi nằm vào vị thế giống như vị thế của hàng triệu công dân của mình: không được thăm viếng Tây Đức. Ông bị ép buộc phải thay đổi hẳn thái độ đối với Tây Đức và ông mau chóng làm điều này bằng cách tuyến bố “khí tượng toàn bộ” không thuận lợi cho hội nghị thượng đỉnh Đông và Tây Đức, vì vậy cuộc họp thượng đỉnh phải bị đình chỉ. Ông nghiến răng và điềm đạm nói với các phụ tá ““đình chỉ” không có nghĩa có nghĩa là “huỷ bỏ”.
Honecker cảm thấy mình bị Liên Xô bỏ rơi khi bị hoạn nạn, về mặt kinh tế cũng như về mặt ngoại giao, bởi vì Moscow đã giảm thiếu số lượng dầu xuất khẩu sang Đông Đức với giá hạ so với thị trường. Ông nói: “Chúng ta chỉ trông nhờ vào chính sức của chúng ta”. Ông bị ám ảnh với ý tưởng khuấy nhiễu Moscow bằng những hành động vô ý nghĩa như là cải thiện mối liên hệ với Trung Quốc. Vào lúc đó, những người có đầu óc ở CHDC Đức cũng cảm nhận được những biến chuyển đang diễn ra trên đất nước, trong khối Đông Âu và cá nhân cũng thay đổi. Trong thời gian này tôi gặp gỡ Hans Modrow, lãnh đạo Đảng cộng sản tại vùng Dresden, một người ăn nói nhỏ nhẹ, tóc bạc, có những suy tư thâm trầm và phong cách nhã nhặn. Hầu như không giống phong cách tự mãn nhưng lại thiếu suy nghĩ của phần đông các viên chức cộng sản cao cấp, ông sống đơn sơ trong một căn nhà ba phòng, lái một chiếc xe tầm thường, và không bao giờ lạm dụng những ưu đãi dành cho các ông lớn trong Đảng. Ông được chú ý vì lời nói thẳng thắn của ông, một nghệ thuật ít được dùng trong đảng, một nơi mà quy tắc buộc phải phân giải mặt ngoài của sự thật. Ông nói với tôi: “Tôi được trả lương không phải để kê những đơn thuốc của bác sĩ”. Tôi đã gặp một người tri kỷ để giải bày những ấm ức của tôi.
Chúng tôi nói chuyện về Manfred Von Ardenne, một nhà vật lý học xuất thần từ gia đình quý tộc đã từng xây dựng học viên của mình trên ngọn đồi ở ngoại ô Berlin. Đây là một mẫu người hiếm hoi đã xoay sở thoát khỏi vòng cương toả và làm việc độc lập, ông thành công vì những thành quả của ông vượt hẳn tất cả những gì nhà nước cung cấp. Von Ardenne, lúc đó đã hơn tám chục tuổi, có cái nhìn vững trãi về đất nước và toàn khối Đông Âu. Ông lo ngại chúng tôi không thể nào bắt kịp phương Tây về khoa học và cạnh tranh kỹ thuật và cuối cùng việc này sẽ đưa chúng tôi đến diệt vong. Modrow chỉ là một bí thư tỉnh uỷ và không có triển vọng gì để vào Bộ Chính trị. Vì nằm ở vòng ngoài Trung ương Đảng tôi không tạo được ảnh hưởng gì lên đường hướng của Đảng dưới sự chỉ huy của Honecker, và von Ardenne quá già và chẳng hồ hởi gì với những chuyện tranh giành thế lực trong nội Bộ Chính trị của nước CHDC Đức và không làm gì khác hơn là tranh đấu trong phạm vi nghiên cứu khoa học của ông. Vì vậy chúng tôi đặt hy vọng vào Modrow để tạo thay đổi cần thiết.
Những cuộc gặp gỡ của chúng tôi cuối cùng tạo nên những lời báo cáo kì dị cho rằng chúng tôi, sau này được gọi là những nhà cải cách trong nội bộ Đảng, đang âm mưu đưa Modrow lên làm lãnh tụ và đặt để lối cải cách của Xô viết lên Đông Đức. Sự thực, than ôi, khiêm nhường hơn nhiều. Khi Mikhail Gorbachev kế vị Chernenko vào tháng 3-1985, Modrow và tôi thấy đây là một cuộc thay đổi phi thường và đáng hoan nghênh. Tôi viết trong nhật ký của tôi: “Giờ đây cuối cùng, kế vị những vị lãnh tụ già nua và bệnh hoạn trong điện Kreml, một Tổng bí thư mới và niềm hy vọng mới xuất hiện. Đây xem như là một kỳ công. Cho đến nay, chính chúng ta tự hãm hại chúng ta nhiều nhất. Không có kẻ thù nào có thể thực hiện được những gì chúng ta đã thực hiện về mặt vô năng, ngu dốt, tự kiêu, và phương cách chúng ta tự tách rời khỏi căn bản tư tưởng và cảm xúc của con người bình thường”.
Sau đó, Modrow và tôi gặp gỡ nhau hai lần trong một năm để bàn thảo, nhưng tôi không tìm cách thúc đẩy ông lên nắm quyền lực. Nếu có như vậy thì bây giờ tôi đã hãnh diện tuyên bố điều này. Sự thật đau lòng là cả hai chúng tôi đã quá chậm chạp không kịp thời bày tỏ nỗi thất vọng của chúng tôi. Sự kiện là cả hai chúng tôi không che giấu sự bất mãn của mình với bạn bè và các đồng nghiệp thân tín không bào chữa cho chúng tôi vì chúng tôi đã không tích cực hoạt động để cải tiến chế độ xã hội chủ nghĩa. Cũng như phần đông những người ít có ảnh hưởng, chúng tôi mỏi mòn chờ mãi không thấy một vị cứu tinh xuất hiện để kế vị Honecker phát xuất từ trong lòng chế độ và vẽ ra một đường hướng mới.
***
Tôi có một lý do khác hoàn toàn cá nhân để xin rút lui. Cuộc hôn nhân thứ hai của tôi gặp khó khăn. Tôi đã yêu một người đàn bà khác. Trước đây tôi đã ngắn ngủi gặp gỡ Andrea trong một lần thăm viếng Karl-Marx-Stadt, quê quán của Christa, người vợ thứ hai của tôi, và sau đó một lần nữa khi cô và chồng của cô đến thăm viếng nhà nghỉ của tôi năm 1985. Khi còn là thiếu nữ, cô đã vào tù bốn tháng vì tội tìm cách trốn ra khỏi nước. Nghe lại câu chuyện của cô mấy năm về sau làm cho tôi cay nghiệt hồi tưởng đến việc đàn áp trên đất nước tôi. Tôi xem công việc của tôi trong ngành tình báo hải ngoại là một sinh hoạt riêng biệt và thuộc một lãnh vực khá dĩ có thể bào chữa, nhưng tôi không thể không lấy làm xấu hổ về những phương cách bạo tàn đối với những người đối lập trong nước và đối với những ai chỉ có mỗi một ước vọng là rời bỏ đất nước. Đầu năm 1986, tôi đến gặp Mielke và báo cho ông biết sự việc. Vì là một người theo đạo đức cực thanh lỗi thời trong phong tục luyến ái, nên ông nổi giận. Khi ông bình tĩnh trở lại, ông cố gắng thuyết phục tôi vẫn tiếp tục giữ cuộc sống vợ chồng để giữ thể diện và nói ông sẽ thu xếp để Andrea đến cư ngụ Đông Berlin để tôi có thể gặp cô bắt cứ lúc nào. Ông không phải là một con người hiểu biết gì nhiều về vấn đề tình ái. Mối lo lắng của ông là an ninh. Vợ tôi làm việc trong Bộ Công an tại Karl-Marx-Stadt và cô biết nhiều về việc làm của tôi. Ông ta hoảng sợ trong ý nghĩ là vợ tôi, tức giận, sẽ tiết lộ những câu chuyện của tôi và những công tác của tôi ở hải ngoại.
Tôi từ chối lời đề nghị này và nhất định đòi cưới Andrea. Mielke tỏ ra rất bực bội. Tôi được biết qua các bạn đồng nghiệp ông ra lệnh đặt máy nghe đường dây điện thoại của tôi. Bây giờ tôi đang kinh qua mối bất an của một công dân thường Đông Berlin vì một lý do nào đó bị nhà nước tình nghi. Người vợ trước của tôi cũng bị theo dõi gắt gao vì e rằng cô sẽ bắt liên lạc với địch. Tuy nhiên cô đã tìm cách thoát khỏi vòng kiểm soát và nhân dịp nghỉ hè tại Bulgaria đã liên hệ với một doanh nhân Tây Đức mà Mielke chắc chắn là người được cơ quan tình báo phái đến để dụ dỗ cô vào bẫy tình Romeo. Tôi rơi vào nghịch cảnh nhìn thấy phương sách Romeo của chính tôi được đem áp dụng vào người vợ cũ của tôi. Trong một thời gian tôi chuẩn bị tinh thần tiếp nhận tổn thương nhìn thấy hình ảnh của cô vợ cũ và những chi tiết của cuộc sống lứa đôi của chúng tôi phơi bày trên báo chí Tây Đức. Nhưng cuối cùng, sau khi Bộ Công an dàn xếp tiền bạc và công ăn việc làm (và có lẽ nghi ngờ là cô đã bị lừa vào cặm bẫy tình của tình báo Tây Đức) cho cô, cô quyết định ở lại Đông Đức.
Mielke cuối cùng chấp nhận cho tôi về hưu vào mùa xuân năm 1986, sau khi Werner Grossmann, người tôi đã chuẩn bị để thay thế tôi, đã sẵn sàng đón nhận trách nhiệm. Việc ra đi của tôi là một thay đổi lớn trong cơ quan tình báo sau gần ba mươi làm việc, và chúng tôi thu xếp để sự việc diễn biến nhẹ nhàng và hết sức tự nhiên. Tôi thương lượng sự ra đi của tôi với Mielke, trong đó có một căn phòng mới tại Berlin nhìn ra con sông Spree, nơi tôi cư ngụ cho đến ngày nay. Tôi biết tất cả những ưu đãi giành cho giới đảng viên thượng lưu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, suy nghĩ cho cùng, đều dính liền với công việc của chúng tôi. Nhà nước cho và nhà nước cũng có thể lấy lại. Tôi yêu cầu có được một tài xế, một thư ký, và một văn phòng trong bộ để tôi ghi lại những kinh nghiệm tình báo của tôi để cho Bộ dùng, và soạn thảo quyển The Troika. Bù lại, tôi phải luôn sẵn sàng để cố vấn người kế vị tôi và Mielke.
Nghi thức tiễn đưa tôi về hưu tháng 11-1986 diễn ra với tất cả trang trọng.
Mielke muốn tuyên bố ngắn gọn và theo truyền thống Xô viết: “Vì tình trạng sức khỏe…”
Nhưng tôi hoàn toàn khỏe mạnh và không có lý gì để bắt đầu cuộc sống mới ngoài phạm vi của cơ quan tình báo với một câu nói láo. Tôi yêu cầu một lời tuyên bố trung thực và kín đáo: “Theo ước nguyện của mình, Tướng Markus Wolf đã từ chức khỏi Đại Tổng Cục (tình báo hải ngoại)”. Lời tiễn đưa chính thức gượng gạo tương phản với buổi liên hoan nhỏ do tôi tổ chức sau buổi tiễn đưa chính thức. Tại đây, xum vầy với các đồng nghiệp thân tín nhất, tôi bày tỏ lời cảm mến chân thành đối với đồng đội của tôi đồng thời đề cập nhẹ nhàng đến những mối lo âu, những ấm ức và những khó khăn họ chia sẻ với tôi. Tôi nói với họ, trích lời châm biếm nhất của Bertolt Brecht: “Một người cộng sản tốt có nhiều vết lõm trên nón của mình. Và một vài vết là do kẻ thù”.
Tôi ca ngợi công trình cải cách của Gorbachev. Các sĩ quan trao đổi ánh mắt, vì biết rằng ý tưởng thay đổi và trong sáng đã bị giới lãnh đạo của chúng tôi gạt phăng đi. Tôi trao cho họ một bài thơ do cha tôi viết tựa đề là “Xin lỗi, vì tôi chỉ là con người” (Verzeiht, Dass Ich Ein Mensch in…) một lời tóm tắt chính xác về bản tính của ông và tôi nghĩ cũng là của chính tôi. Tôi xin nôm na dịch như sau:
Và nếu tôi thù ghét quá nhiều
Và tôi yêu quá điên cuồng và phóng túng.
Xin tha lỗi cho tôi vì tôi là con người
Đạo đức thánh hiền tôi không theo kịp.
Andrea và tôi tìm nơi ẩn cư tại vùng nông thônvà tôi trầm mình vào trong những trang giấy của Koni viết về tình bạn tam phương đã tồn tại sau Chiến tranh Lạnh. Tôi, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, cảm thấy sung sướng và mãn nguyện với bản thân. Tôi biết quyển sách này, với những phê bình về đường lối của Stalin và đề cao sự bền bỉ của mối liên kết tình người mặc dù có sự đối trọi của hai ý thức hệ, có thể là một biến cố trong thế giới của chúng tôi. Tôi quyết định khai thác một vấn đề từ trước tới nay chưa bao giờ được công khai bàn cãi tại Đông Đức: cuộc khủng bố của Stalin và tính chất tuỳ tiện của những vụ bắt bớ hàng loạt. Quyển sách được hai nhà phát hành tại Đông Đức (Aufbau) và Tây Đức (Classen) phát hành cùng một lúc trong khuôn khổ của chương trình minh bạch của Gorbachev, đã bị Honecker khước từ không lấy đó làm khuôn mẫu cho đất nước chúng tôi.
Với một người bạn giám đốc phim ảnh, tôi cũng nhất định thực hiện một phim về cuộc đời của cha tôi. Khi phim “Xin lỗi, tôi chỉ là con người” sắp được trình chiếu, tôi được thông báo là một đoạn về những tội ác của Stalin sẽ bị cắt xén. Tôi phản đối, nhưng rồi cũng bị rút ngắn trong khi tôi ra nước ngoài. Chứng kiến cố gắng vô nghĩa xoá bỏ quá khứ (và từ đó xoá bỏ hiện tại) là giọt nước làm tràn ly. Không như đa số các người Tây Đức, tôi có được may mắn gặp gỡ ông Tổng bí thư. Tôi kể cho Honecker nghe những giai thoại của những người khác đã bị cưỡng ép và phải bó tay vì những đoạn liên quan đến chính trị trong tác phẩm của họ đã bị cắt xén một cách tuỳ tiện. Honecker, lúc nào cũng vậy, tỏ ra vô cùng nhã nhặn và đồng ý với tôi đây là cách hành xử không đẹp vì không thông báo cho tôi hoặc những người khác là đã có thay đổi. Rồi ông thú nhận rằng cá nhân ông đã ra lệnh cắt những đoạn nói đến những hành động hung ác của Stalin trong phim và không nhân nhượng về nội dung. Khi tôi than phiền là không thể nào mô tả những thập niên 1930 tại Liên Xô mà không quy chiếu đến những tội ác của Stalin, ông trả lời: “Anh có thấy không, ngày nay lịch sử đã bị bóp méo mỗi ngày. Sự minh bạch phải trả lời rất nhiều trên phương diện này”.
Tôi tiếp tục đào sâu.
“Ông không thể nói với người dân từ chục năm nay tất cả những gì Liên Xô làm là đúng và sau đó quay phắt lưng lại với những điều này. Tại đây, thiên hạ đặt nhiều hy vọng vào Gorbachev. Họ không chấp nhận những gì ông làm là xấu. Họ so sánh tinh thần cởi mở của ông với những chính sách đối với giới truyền thông ở đây, và họ muốn có tự do ngôn luận và ấn hành nhiều hơn nữa. Đây không phải là điều sẽ phôi pha với thời gian”.
Honecker ngoan cố hất hàm trả lời: “Tôi sẽ không bao giờ để những gì xảy ra ở Liên Xô xảy ra tại đây”.
Tôi mong đợi một câu trả lời thực tiễn và tôi hỏi ông có biết con số gia tăng những người chống đối đang tìm sự hỗ trợ tinh thần của giáo hội Tin Lành tại Đông Berlin và Leipzig – những người trong vòng mấy tháng tới sẽ là cốt lõi của cuộc cách mạng ôn hoà tại Đông Đức.
“Họ là những tên điên khùng và mộng du”, ông nói, “Chúng ta có thể đối phó với những hạng người như vậy”.
Tháng 3-1989, quyển sách đầu tiên của tôi, The Troika, được phát hành trong một bầu không khí xã hội căng thẳng. Chính quyền Đông Berlin vừa mới cấm lưu hành ấn bản của tuần báo Liên Xô Sputnik trong đó đăng tải những nghiên cứu mới về tội ác của Stalin. Sự xung đột giữa nước CHDC Đức và Liên Xô nay đã trở thành công khai, Đông Berlin đóng vai trò kiểm duyệt Liên Xô.
Tôi quyết định dùng việc phát hành quyển sách cùng một lúc tại Đông và Tây Đức để công khai tuyên bố ủng hộ Perestroika và phản biện lại chế độ thoi thóp này. Tôi không tán thành việc ngăn cấm tờ Sputnik và nói với một phóng viên đài truyền hình Tây Đức khi được hỏi tôi cảm nghĩ gì về ông Gorbachev: “Tôi vui mừng và sung sướng ông đã hiện diện ở đây”.
Ngày hôm sau, tôi được biết tôi trở thành đối tượng bàn thảo trong cuộc họp hàng tuần của Bộ Chính trị. Mielke điện thoại cho tôi biết là quan điểm của tôi được xem là tấn công vào giới lãnh đạo Đảng và thông báo cho tôi biết là Bộ Chính trị đã quyết định tôi không được phép chấp nhận phỏng vấn về quyển sách này trong lần hội chợ sách sắp tới tại Leipzig. Tôi mượn một câu nói sống sượng nhưng chính xác của chính giới Hoa Kỳ, tôi nhận biết được cảm giác thế nào là đứng ngoài lều đái vào trong sau khi trải qua một đời người đứng ở trong đái ra ngoài. Tôi không coi thường trực tiếp lệnh của Bộ Chính trị, nhưng tôi vẫn tiếp tục đi thuyết trình khắp nước. Việc này trùng hợp với tình trạng sa sút trong cơn khủng hoảng của xã hội Đông Đức. Đã có những lời oán thán về những trò bầu cử gian lận cho phép Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức tiếp tục cầm quyền mà không có ai phản kháng sau cuộc bầu cử tháng 5-1989.
Sang đến hè, dân Đông Đức lũ lượt bỏ sang phương Tây qua biên giới vừa mới mở ở Hungary. Giống như một số đông các bạn đồng nghiệp thận trọng hơn vì biết rõ phong thái của Bộ Công an, tôi lo ngại sẽ xảy ra bao động. Những uất ức âm ỉ từ hàng chục năm nay đã gần đến mức sôi bỏng. Tôi đến gặp Egon Krenz, con người vạm vỡ và là một công chức không có óc quyền biến mà mọi người trông đợi sẽ thay thế Honecker. Tôi nói với ông là tôi sợ đổ máu nếu những lực lượng an ninh nóng máu được tung ra để ngăn chặn đoàn biểu tình và họ không biết cách phản ứng với một tình thế mà chỉ họ biết qua sách vở. Tôi trao cho ông một bản tóm tắt ghi nhớ về những bước đi cần thiết sắp tới, nhưng ông tỏ vẻ chán ngán: “Tôi biết, Mischa”, ông nói và lập lại những lời tôi đã nghe mấy năm trước đây của Andropov, “nhưng anh biết Bộ Chính trị làm việc ra sao rồi. Nếu tôi chỉ nói một lời ghi trong sổ này tại đó, tôi sẽ mất việc ngay ngày hôm sau. Anh nên nhớ Gorbachev chỉ trở thành Tổng bí thư sau khi ông đã ngậm miệng trong suốt thời gian trị vị của ba người tiền nhiệm”.
Ngày 18-10-1989, cuối cùng Honecker rời chức vụ trong phong cách đúng thời điểm của các nhà lãnh đạo đã mất đi sự kính phục của các đồng chí thân cận nhất và yêu cầu phải ra đi. Không ai nhận trách nhiệm này, nhưng không một lãnh tụ nào của nước Cộng hoà Dân chủ Đức có thể bị bãi chức nếu không có sự đồng ý săn sái của Mielke. Krenz được lên làm Tổng bí thư và xuất hiện trên truyền hình để phát biểu những lời nói xoa dịu ngổn ngang. Nhưng ông không được chuẩn bị để đối phó với công việc cực kỳ khó khăn ông phải đương đầu.
Tôi biết giờ phút của những lời lẽ âm thầm đã chấm dứt khi Johanna Schall, cô cháu gái đầy năng lực và nguyên tắc của Bertolt Brecht, mời tôi tham dự một cuộc biểu tình ngày 4-11-1989 tại quảng trường Alexander-platz ở Đông Berlin để kêu gọi một cuộc thay đổi ôn hoà. Tôi tham gia với các văn sĩ Christa Wolf, Stephan Heym, và Heiner Müller và các lãnh tụ của nhóm đối lập Diễn Đàn Mới Barbël Bohley và Jens Reich. Nhìn một biển bích chương ghi bằng tay yêu cầu chấm dứt quy tắc một đảng duy nhất, tôi thấy rõ tính chất độc quyền của Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất của tôi đã chấm dứt. Đối với tôi, điều này có nghĩa là từ bỏ một ý thức hệ mà tôi đã theo đuổi cả đời. Tôi vẫn tin rằng nước CHDC Đức có thể - ít nhất trong một thời gian dài - tách biệt với phương Tây với sự hiện diện của một chính quyền hiện thân cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa nhưng cho phép có được tự do ngôn luận, tự do hội họp và có quyền sở hữu nhiều hơn. Tôi cố gắng thuyết phục nửa triệu người tập hợp tại đây và cả triệu người nữa đang xem truyền hình không nên dùng đến võ lực, nhưng trong lúc tôi nói, phản đối bầu không khí kết tội biến tất cả những thành viên của những cơ quan an ninh thành những con vật tế thần cho chính sách của giới lãnh đạo cũ, tôi hơi ngợ một phần trong đám đông huýt sao chế nhạo tôi. Họ không còn đầu óc để nghe những lời nhắn nhủ gìn giữ phong cách của cựu tướng của Bộ Công an.
Và tôi đau đớn nhận biết trong những giây phút này tôi không trốn chạy được quá khứ của tôi. Tôi phải nhẫn nhục nhận lãnh trách nhiệm về những sinh hoạt của cơ quan tôi làm việc và những đường hướng của một chế độ tôi đã từng phục vụ và nuôi dưỡng, mặc dù nó nằm ngoài quyền kiểm soát, sự hiếu biết hoặc sự đồng tình của tôi. Tôi không thể nói phản ứng của đám đông làm tôi bất chợt kinh ngạc, nhưng lòng tôi cảm thấy nhẹ nhõm và tràn đầy hãnh diện vì cuối cùng tôi đã đứng lên và dám nói sự thật.
Đêm hôm đó, tôi trở về nhà và ngủ một cách say sưa lần đầu tiên trong suốt nhiều tuần. Ngày 28-11-1989, Thủ tướng Tây Đức Helmut Kohl ban hành chương trình mười điểm để thống nhất nước Đức. Kể từ ngày đó, đặc biệt vào ngày 4-12-1989, vào mỗi ngày thứ hai biểu tình tại Leipzig, các bích chương rời rạc xuất hiện đòi hỏi “Nước Đức, Một Tổ quốc” (DEUTSCHLAND, EINIG VATERLAND). Nhưng vào ngày đó không có những lời kêu gọi như vậy tại Đông Berlin. Có nhiều quan điểm khác nhau được phát biểu trên loa phóng thanh và do dân chúng xuống đường hô hào về hình thái tương lai của đất nước họ, nhưng có một bầu không khí kiến tạo chung nhất. Nhìn lại, tôi cho rằng đây là ngày cuối cùng của giấc mơ xã hội chủ nghĩa. Năm ngày sau, tôi có mặt tại câu lạc bộ các văn sĩ ở Postdam bàn bạc về quyển The Troika, thình lình một thanh niên tung cửa vào và hét lớn: “Biên giới đã được mở”. Lịch sử đã được viết nhanh chóng như vậy.
Trong vòng một đêm, thế giới cũ, thế giới mà tôi đã cống hiến cả công trình của cuộc đời tôi tan biến. Đêm hôm đó, màn ảnh vô tuyến truyền hình khắp nơi chiếu những hình ảnh Bức tường Berlin sụp đổ. Hàng rào bê-tông đã thực chất củng cố sự ngăn cách ý thức hệ chỉ trong vài ngày đã trở thành những mảnh kỷ vật. Kể từ nay tôi phải thích nghi với thế giới mới, một thế giới mà tôi vẫn xem là kẻ thù và nay tôi đã trở thành kẻ xa lạ trong đó, một kẻ tị nạn đến từ thế giới không tưởng đã sụp đổ.
***
Ngày 15-1-1990, một đám đông giận dữ - trong đó có nhiều nhóm đã có chuẩn bị trước – tràn vào cơ sở bộ cũ của tôi và tóm thâu những hồ sơ và sau đó trao cho các cơ quan tình báo phương Tây. Những phần đã được lựa chọn kỹ lưỡng được đem ra đăng tải, và vì tên tuổi của Mielke và tôi là những tên tuổi quen thuộc duy nhất đối với quần chúng, hầu như không có ngày nào mả tôi không bị tấn công dữ dội, nhất là vì họ khám phá những tên khủng bố trước đây của Cánh Hồng quân (RAF=Red Army Faction) đã được nước CHDC Đức chứa chấp. Họ không cần phân biệt đâu là bằng chứng hay không bằng chứng hoặc tang chứng chứng tỏ là tôi có dín líu đến Cánh Hồng quân; việc tôi làm việc trong một cơ quan khác của Bộ có dính líu đến vụ việc là đủ để cho kẻ tố khổ kết án tôi. Tôi không còn ngờ vực gì nữa vào ngày Thống Nhất Đất Nước, ngày 3-10-1990, tôi sẽ bị bắt. Sau khi tham khảo cả luật sư lẫn bạn bè, tôi quyết định rời bỏ xứ sở một thời gian. Tôi hy vọng làm việc từ nước ngoài để bảo vệ đội ngũ trước đây của tôi, trong số đó người cuối cùng rời khỏi bộ vào tháng 4-1990. Trước khi đi, tôi viết thư cho Tổng thống Liên bang Richard von Weizsäcker, Bộ trưởng ngoại giao Hans-Dietrich Genscher và Willy Brandt nói rằng một chuyến di cư khác ra khỏi nước Đức là điều khó xử đối với tôi: Đây là đất nước của cha mẹ tôi. Ở đây họ tìm thấy lãnh vực sinh hoạt cho họ, sau khi đã phải di cư lâu ngày. Cha mẹ tôi và em trai tôi đều an táng tại Berlin. Và đối với tôi, nước Đức là nơi tôi bỏ công khó, là sức mạnh của tôi, là tình yêu, là những sinh hoạt của tôi theo chiều hướng tích cực cũng như trong những nỗ lực không thành và sai trái.
Và tôi viết cho ông uỷ viên công tố liên bang Alexander von Stahl: Đối với tôi và đối với các nhân viện trong đội ngũ cơ quan tình báo đã từng tham gia trong Chiến tranh Lạnh trong trường hợp tương tự như các nhân viên của các cơ quan khác, chiến tranh có vẻ như vẫn tiếp tục. Đã có kẻ thắng trận và kẻ bại trận, trả thù không chút thương xót.
Tôi muốn khẳng định cho mọi người biết, trong lúc tôi lên đường rời khỏi nước Đức trong một thời gian, tôi sẽ trở về không ngần ngại một khi việc toà án xét xử công bằng được bảo đảm. Tôi cũng có nói với Anatoly G. Novikov, giám đốc KGB tại Berlin, tôi có ý định rời nước Đức một thời gian. Ông mỉm cười và nói rằng KGB biết Tây Đức đang tìm cách miễn khởi tố để đổi chác với thông tin. Ông không nói cho tôi biết ông làm cách nào để biết chuyện này, nhưng ông nói KGB rất hài lòng là tôi đã không tuân theo. Một vài ngày sau, sau khi ông báo cáo cuộc gặp gỡ của chúng tôi lên Moscow, tôi nhận được thư của ông báo cho biết có thể liên lạc với KGB bát cứ lúc nào khi tôi lâm nguy.
Chúng tôi đồng ý là vợ tôi và tôi sẽ vào giờ phút chót tìm cách ra khỏi nước Đức để tránh không để Liên Xô mang tiếng can thiệp trong việc tôi trốn thoát. Nếu cần, tôi sẽ điện thoại đến một số bí mật và họ sẽ đến giúp tôi ngay. Đây là lựa chọn tốt nhất trong những đề nghị tồi dở. Tôi vẫn mong mỏi nếu tôi có thể trốn đâu đó ở châu Âu mà không ai để ý trong một vài tuần, cuộc săn lùng ở Đức sẽ giảm cường độ và tôi có thể trở về.
Andrea và tôi cuốn gói hành lý một cách kín đáo vào ngày 28-8-1990, sáu ngày trước khi thống nhất, và lên đường đi Áo. Chúng tôi dùng thông hành thật của chúng tôi và chính xe của tôi – tôi quyết định không để bị bắt trong tình trạng bất hợp pháp và không bao giờ dùng giấy tờ giả - và lái qua biên giới giống như mọi du khách cuối hè đi lên miền núi. Lính gác biên giới liếc nhanh giấy tờ của chúng tôi và vẫy cho chúng tôi đi qua. Khi chúng tôi đi xa khỏi tầm mắt của họ, chúng tôi ngừng lại và ôm nhau mừng rỡ giống như trẻ con trốn trường nội trú nghiêm ngặt để đi chơi.
Trong vòng hai tháng, Andrea và tôi lái đi khắp vùng quê nước Áo, trú ngụ tại những khách sạn nhỏ và nhà trọ và đôi khi đến nhà bạn bè quen biết thuộc cánh tả Áo. Chúng tôi không hoá trang, và khi họ phát giác sau ngày 3-10-1990i tôi đã trốn khỏi nước Đức, hình ảnh của tôi bắt đầu xuất hiện thường xuyên trên trang nhất những nhật báo, lẽ cố nhiên được bày biện trong phòng khách và bàn tiếp tân của khách sạn. Nhưng một cách lạ lùng, chẳng ai để ý xem tôi có giống với “tên gián điệp bị truy nã nhất” đã trốn đâu mất. Một hoặc hai lần, Andrea để ý người nào đó để ý nhìn kỹ đến tôi hoặc nghe những lời thì thầm ngạc nhiên, chúng tôi vội trốn tránh không kèn không trống. Đây là một thời gian đặc biệt vừa đáng sợ hãi vừa đáng vui mừng. Tôi cảm thấy trẻ hẳn ra. Nhưng chúng tôi không thể nào tiếp tục sống theo kiểu Bonnie và Clyde Đức được. Chúng tôi khơi động đường dây Israel nhưng không có kết quả. Mặc dù đã có những lời hứa trước đây, chúng tôi không nhận được thông hành ở Vienna, và tôi không muốn họ để ý đến tôi vì tôi lẩn quẩn ở thủ đô Vienna. (Tôi không đi Israel cho mãi đến năm 1995, khi nhật báo Do Thái Ma’ariv quảng cáo rầm rộ mời tôi sang thăm viếng các cựu nhân viên tình báo Mossad và gặp gỡ với cựu thủ tướng Yitzhak Shamir). Một đêm, trong lúc ăn tối tại một ngôi làng Áo, tôi nhìn khuôn mặt xinh xắn nhưng lo âu của Andrea tôi biết là chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài Moscow. Tôi vẫn còn hy vọng mong manh là Gorbachev, vốn là bạn của Helmut Kohl, sẽ ngỏ lời kêu gọi khoan hồng cho chúng tôi. Từ Áo tôi viết thư cho ông nhưng tôi không nhận được hồi đáp. Tháng 11-1990, tôi lấy số bí mật đã được trao cho tôi ở Berlin để liên lạc với KGB trước khi tôi lên đường, đọc mã số cho người Nga đầu dây và báo là thời cơ đã chín mùi.
Hai ngày sau, Andrea và tôi, chúng tôi được một giao liên Nga đến bốc đi tại biên giới Hungary và đưa chúng tôi băng qua đồng bằng Hungary. Sau một ngày nghỉ, chúng tôi vào lãnh thổ Ukraina, và từ đó chúng tôi đến Moscow. Chúng tôi đến nơi mệt mỏi nhưng lòng thật nhẹ nhõm biết rằng những ngày bôn ba đào tẩu đã chấm dứt.
Tại Moscow, Leonid Shebarshin tiếp đón chúng tôi tại bộ tư lệnh cơ quan tình báo hải ngoại tại Yasenevo và chúng tôi nâng ly ăn mừng việc đào thoát của tôi. Nhưng bầu không khí lúc đó đã căng thẳng. Các vị chủ nhà tỏ ra bối rối vì tôi không nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn của Gorbachev. Mặc dù ông quen biết tôi nhiều, Kryuchkov gửi lời chào qua Valentin Falin và Trung ương Đảng chứ không đích thân đến gặp tôi. Giám đốc KGB khuyên tôi không nên trở về Đức. Rõ là giới lãnh đạo tiến thoái lưỡng nan về sự hiện diện của tôi. Một mặt, họ cảm thấy ràng buộc với quá khứ để cho tôi trú ngụ tại Moscow. Mặt khác họ không muốn làm to chuyện về sự hiện diện của tôi ở đây, vì mối bang giao với Bonn có ưu tiên hơn.
Lần đầu tiên trong đời của tôi, những nơi trước đây vẫn luôn trả lời có tại Moscow nay bắt đầu trả lời không. Hoặc là, trong phong cách khó diễn tả của người Nga, họ không trả lời. Để tìm kiếm tài liệu cho quyển sách này, tôi tìm cách tham khảo một vài tài liệu cũ của NATO đã được các nhân viên của tôi thu thập và do tôi gửi đi Moscow. Chúng không bao giờ xuất hiện. Lẽ cố nhiên, người ta không từ chối tôi thẳng thừng. Tôi được báo là những bí mật chính tay tôi đã gửi đến Moscow không thể tiếp cận được nữa vì “lý do kỹ thuật”. Tôi bỏ thời giờ đi tìm kiếm sự hỗ trợ chính trị và hợp pháp cho các nhân viên cũ trong cơ quan của tôi, cho các điệp viên và cho chính bản thân tôi, và tôi cũng đi tìm những bạn bè cũ thời thiếu niên và tìm tòi những món ẩm thực, thu thập những công thức món ăn Nga để in thành sách mà sau này tôi xuất bản. Con trai Sascha của tôi, được Claudia, con gái của Andrea với chồng trước, trông nom, lâu lâu đến thăm chúng tôi. Tôi sống thoải mái ở Moscow cho đến tháng 8-1991. Nhưng tôi có nhu cầu gần gũi với gia đình tôi và các đồng nghiệp cũ ở Đức. Sống ở lại Liên Xô có nghĩa là sống bình dị, như một người di cư. Vào mùa hè, Andrea và tôi được Trung ương Đảng mời đi nghỉ mát ở Yalta, trên bãi biển Hắc Hải, trong một nhà nghỉ dành riêng cho đảng viên cao cấp. Cùng lúc đó, Mikhail Gorbachev cũng đang nghỉ hè không xa – đây là mùa nghỉ mát cuối cùng của ông với tư cách lãnh đạo Liên Xô. Vì ở tại đây ông phải đón tiếp một phái đoàn các đồng nghiệp trong Bộ Chính trị từ Moscow đến mà ông không hề mời để nghe tin đảo chánh do không ai khác Kryuchkov, giám đốc KGB, cầm đầu.
Kryuchkov không phải là ông xếp tôi mến chuộng, nhưng tôi không bao giờ nghĩ một người tầm cỡ như ông lại dính líu đến một hành động thiếu chín chắn như vậy. Một vị giám đốc tình báo không thể nào không thấy đây là một trò đùa ngay từ lúc khởi đầu. Cuộc đảo chính hụt là một đòn chí mạng đối với chúng tôi. Các luật sư của tôi đến gặp tôi hai lần để bàn thảo về ngày trở về Đức. Bây giờ việc quyết định bỏ đi đã trở nên gấp rút. Ngày tàn của Gorbachev đã gần kề và Boris Yeltsin sẽ sớm chiếm lĩnh quyền hành tuyệt đối. Tôi không trông mong ân huệ gì nơi ông cả. Vì vậy vào cuối tháng 8-1991, lúc đó Gorbachev trong vị thế lung lay đã trở về điện Kreml, tôi hẹn gắp với Leonid Shebarshin. Ông đã tạm thời lên nắm quyền cơ quan KGB vì bây giờ Kryuchkov đã thất sủng và bị giam giữ. Ông trông vẻ bàng hoàng và căng thẳng vì áp lực của những biến cố. Hiện tình Liên Xô đang rối loạn và KGB bị tách làm hai giữa người ủng hộ và chống đối cuộc đảo chánh, nên cá nhân tôi và những vấn đề của tôi là điều phiền nhiễu cuối cùng ông cần đến. Tuy vậy, có lẽ ông muốn giữ tôi lại, làm một cử chỉ đẹp cuối cùng để bày tỏ tình đoàn kết đối với một sĩ quan tình báo.
Ông chăm chú nghe tôi nói trong lúc tôi giải thích ý định trở về Đức, rồi ông ngửa lòng bàn tay theo kiểu người Nga để diễn tả nỗi thất vọng. “Anh thấy sự việc ở đây rồi, Mischa. Anh là người bạn tốt đối với chúng tôi, nhưng chúng tôi chẳng giúp được gì cho anh bây giờ. Ai có thể ngờ được sự thể lại kết thúc như vầy! Thượng đế chúc phúc cho anh”.
Chúng tôi quyết định đi nghỉ ít ngày ở Áo trên đường trở về, không phải chỉ để lấy lại sức khỏe sau những khủng hoảng của những tuần qua, nhưng vì đây là một cứ địa từ đó tôi có thể liên lạc với các luật sư Đức và thu xếp ngày trở về của tôi cho thật êm xuôi. Nhưng hoá ra đây chỉ là ảo vọng. Chính quyền Xô viết, vì bất cẩn hơn là có ác ý, đã tiết lộ trong lời tuyên bố chính thức việc tôi rời bỏ Liên Xô là tôi đã đi sang Áo. Cảnh sát Áo và cơ quan mật thám được lệnh truy nã tôi và bắt giữ. Sau đó họ sẽ giao cá nhân tôi cho các đồng nghiệp Đức.
Tuy nhiên, tôi không thấy có lý do gì để tuân theo guồng máy quảng cáo và trở về sớm. Chúng tôi tiếp tục du lịch. Nhưng các nhà bình luận, các hoạ sĩ hí hoạ bắt đầu chê cười và nhạo báng sự bất lực của chính quyền Áo không có khả năng tìm ra trùm gián điệp về hưu trong một nước tí teo. Báo cáo hàng ngày xuất hiện trên báo chí và tất cả sự việc trở thành một trò lố bịch, do đó tôi đến Vienna và tự nộp mình. Cảnh sát Áo tỏ ra rất nhã nhặn, hơn nữa không có. Họ tìm cho chúng tôi một nơi kín đáo xa lánh báo chí, và, sau gần một năm tôi rời nước Đức, với sự trợ giúp của các luật sư chúng tôi thu xếp trở về quê nhà.
Chính quyền Đức thu xếp để sự việc diễn ra gọn gàng. Bước qua Bayerisch Gmain, chúng tôi nhìn thấy lính gác chờ đón chúng tôi ở biên giới. Một cách lịch sự, họ mời chúng tôi ra khỏi xe và lục xét qua loa hành lý của chúng tôi – để tìm vũ khí, một viên chức bối rối giải thích cho chúng tôi. Michael, con trai lớn nhất của tôi đã di chuyển đến để gặp tôi ở bên phía Áo, vui mừng được tham dự vào vở tuồng. Nó lái xe của tôi, trong khi đó Andrea và tôi được đưa vào một chiếc xe Mercedes đạn bắn không thủng một khi chúng tôi bước qua biên giới. Một chiếc xe thứ hai giống như vậy theo sau trong đó có uỷ viên công tố và luật sư của tôi.
Ngay sau biên giới chính quyền Đức thu xếp để ngừng tại một khách sạn để giải khát. Trong phòng khách, ông uỷ viên công tố nghiêm nghị móc lệnh bắt và đọc cho tôi nghe. Và chúng tôi lên đường đến văn phòng tối cao pháp viện tại Karlsruhe. Mặc dù giờ giấc đã khuya khoắt, ông uỷ viên công tố đã thu xếp việc giam giữ tôi tức khắc. Không bao lâu trước mười hai giờ đêm tôi được đưa đến phòng giam có hai lần khoá duy nhất tại trại giam Karlsruhe. Sau mười một ngày, tôi được tại ngoại hậu tra nhờ sự can thiệp của luật sư. Tiền bảo lãnh được ấn định quá cao đến độ tôi chỉ gom góp được số tiền này với sự trợ giúp của bạn bè và trong những điều kiện phải gọi đúng là đầy hận thù.
***
Có huyền thoại cho rằng trong lúc tôi thăm viếng dài hạn ở Moscow, một lần vào mùa xuân năm 1990 và một lần nữa vào tháng 11-1990, tôi đem theo những hồ sơ tình báo của nước CHDC Đức và đưa cho KGB. Ý nghĩ thú vị này phát xuất từ những lời đồn đại liên quan đến những hồ sơ này, nhưng tất cả đều sai tất vì lý do đơn giản là phương cách làm việc của tình báo. Tôi đã rời cơ quan được ba năm khi nước Đông Đức sụp đổ và tôi đã chọn Werner Grossmann làm người kế vị. Vì là một người siêng năng nên Grossmann được thành phần trẻ thuộc giới kỹ trị trong cơ quan ưa chuộng. Tôi chẳng bao giờ có ý định câu thúc phương pháp làm việc của người kế vị sau khi tôi đã về hưu. Hạn hữu lắm ông mới tham vấn tôi để hỏi ý kiến về những vụ việc đã khởi sự khi tôi còn chỉ huy, nhưng thông thường ông theo phương pháp của ông. Một trong những lời dặn dò tôi có nói với ông khi tôi trao chìa khoá văn phòng làm việc của tôi là đừng bao giờ để hồ sơ của các điệp viên vào trong đĩa vi tính dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi đã mất thời giờ lúc ban đầu khi máy vi tính bùng phát để chống cự lại áp lực của đám nhân viên trẻ giỏi khăng khăng cho rằng hệ thống thiết lập hồ sơ của chúng tôi nặng nề và thiếu hiệu quả. Những hồ sơ của Bộ Công an, như mọi người đều biết, nhờ các bài viết kinh hãi của báo chí, chiếm đến hàng mấy dặm trong kho. Tuy tôi không chối cãi là công an nhà nước của Đông Đức có lề thói ám thị thu thập và ghi vào hồ sơ tất cả những thông tin về công dân của mình và những ai mà bộ cảm nhận là kẻ thủ ở hải ngoại, tôi chỉ xin nhắc nhở với các vị chạy tít hàng đầu báo chí lý do của sự thể này là tìn trạng sơ khai của nền vi tính của Đông Đức. Tôi không nghĩ là CIA thiếu hồ sơ, nhưng tôi chắc chắn là họ lưu trữ chúng một cách ngăn nắp trong những vi mạch điện tử và băng nhựa từ trường. Như tôi đã nói trước đây, khi bắt đầu khá sớm trong nghề, tôi đã nghĩ ra một hệ thống quy chiếu chồng chéo phức tạp, có nghĩa là bất kỳ ai muốn nhận diện một điệp viên trong hồ sơ của chúng tôi sẽ cần phải tham khảo từ ba đến năm mẩu thông tin riêng biệt (tuỳ theo múc độ an ninh) và phải thông qua kiểm tra an ninh để đọc ba mẩu tài liệu có liên hệ với nhau. Hồ sơ lưu trữ trung ương bao gồm tên tuổi của điệp viên (được xếp theo họ, tên, ngày sinh và nơi sinh) cùng với tên tuổi của hàng trăm ngàn người khác được ghi vào đó với nhiều lý do khác nhau. Thẻ lưu trữ được lưu giữ riêng biệt trong mỗi một ban, và mỗi ban quản lý nhiều nhất từ sáu chục đến một trăm điệp viên. Mỗi một điệp đều có một thẻ ghi bí danh, địa chỉ và lãnh thổ làm việc – có thể là bộ, là công ty hoặc một tổ chức, nơi đương sự làm việc. Các thẻ không bao giờ ghi tên thật của điệp viên, chiếc thẻ nhỏ lưu trữ ở mỗi ban thường được một sĩ quan cao cấp đáng tin cậy cất giữ. Trường hợp xảy ra khung hoảng hoặc chiến tranh, công việc của sĩ quan này là lấy những thẻ này đi đem cất ở bộ tư lệnh lâm thời. Những ai không có phép tham khảo sẽ phải thực chất rà soát qua một khối lượng khổng lồ giấy tờ để tìm ra hồ sơ đối hợp. Công tác lỗ liệu để phối hợp bí danh của điệp viên với tên thật của đương sự chắc chắn sẽ gây chú ý – hầu như trái ngược lại với những gì có thể xảy ra nếu tất cả những hồ sơ này nằm trên những đĩa vi tính. Việc làm hao tổn công sức trong công tác tìm kiếm không gây phiền hà gì nhiều cho chúng tôi vì tôi và các sĩ quan cao cấp lưu giữ tên tuổi của các điệp viên quan trọng ở trong óc chúng tôi. Tôi hiếm khi phải tìm kiếm danh tính của một điệp viên hoặc lãnh vực đương sự đang hoạt động.
Về máy vi tính, an toàn cho những thông tin như vậy được gìn giữ nhờ ở mức độ kiểm soát và mật mã. Đã nhiều lần các chuyên gia cố thuyết phục tôi là hệ thống máy vi tính bảo đảm là an toàn. Họ lúc nào cũng tỏ vẻ quả quyết cho đến cách đó vài tuần hoặc vài tháng sau báo chí cho biết có một thiếu niên mười hai tuổi đã xâm nhập được vào máy vi tính quân đội từ phòng ngủ của mình. Tôi không bao giờ tin máy vi tính. Những gì cần phải được bảo vệ bằng mọi giá là bảng mục lục mã hoá ở trung ương, vì đây là chìa khoá để tìm danh tính và công tác của điệp viên. Tôi không nói chính xác việc gì đã xảy ra cho bảng mục lục này. Nếu tôi còn làm việc, những hồ sơ này có lẽ đã lên đường đi Moscow khi Đông Đức sụp đổ, nhưng không hề có lệnh chính thức đối với những hồ sơ này trong trường hợp quốc gia sụp đổ. Chúng tôi ở cơ quan HVA cho rằng trong thời chiến những hồ sơ này phải được gửi đến bộ tư lệnh trung ương thời chiến tại Gosen, ở phía Đông biên giới Berlin, nhưng tất cả các ban đều có những cứ điểm lưu trữ trong trường hợp khẩn trương. Năm 1989, nơi lưu trữ những hồ sơ này do người lãnh đạo cơ quan tình báo nước CHDC Đức quyết định. Khó mà biết được chính quyền Nga đã dùng những hồ sơ thẻ này đến đâu nếu họ có chúng trong tay. Đã có nhiều người dự đoán là Moscow sẽ khơi động những điệp viên này cho quyền lợi riêng họ và tiếp tục dùng tài năng của họ để dòm ngó phương Tây. Điều này đối với tôi rất khó thực hiện. Nếu tôi là cấp lãnh đạo tình báo hải ngoại của Nga, tôi xem những gián điệp này quá nguy hiểm để có thể sử dụng. Kinh nghiệm đau thương trong những năm cuối cùng đầy khuấy động cho chúng ta thấy biến động xã hội có thể biến những người tưởng chừng trung thành trở nên những kẻ phản bội. Sự thống nhất của nước Đức là một đòn đau điếng cho tất cả chúng tôi và là một thách đố cho lòng trung thành vì hiện nay khó có thể đo lường được phản ứng của các điệp viên, các sĩ quan và những nguồn tin. Vào giữa năm 1990, họ biết là chúng tôi đã bị chính quyền Xô viết bỏ rơi. Các sĩ quan chúng tôi oán hận cao độ chính quyền Xô viết, và khi các sĩ quan cao cấp đến thăm tôi câu chuyện cuối cùng cũng trở về việc Moscow không trợ giúp họ sau bao nhiều lần cùng nhau uống rượu ăn mừng. Cuối năm này tôi nghe tin đồn trong nội bộ KGB là đĩa vi tính chứa những hồ sơ tối mật của cơ quan HVA đã đến tay của CIA và đã được giải mã trong một công tác quy mô. Đây là lần đầu tiên tôi nghe những dữ liệu như vậy được ghi vào đĩa vi tính. Sau đó không lâu, Rainer Rupp và ngay cả những đầu mối liên lạc như Karl Wienand đều bị bắt. Những dữ liệu nguyên chất để khám phá ra những người này chỉ phát xuất từ sổ trung ương có ghi những chi tiết về những điệp viên sinh hoạt ở phương Tây.
Những hồ sơ này từ đâu ra? Chúng đã được chuyển vào trong đĩa vi tính? Nỗi lo sợ chiến tranh vào đấu thập niên 1980 đã buộc chúng tôi phải tính đến những biện pháp tinh vi để sơ tán và ngay cả xây dựng một boong-ke đặc biệt kiên cố ở Gosen, và từ đó tôi giả sử vẫn tiếp tục chỉ huy các điệp viên – làm như tôi có khả năng liên lạc với họ bằng vô tuyến điện hoặc bằng những phương tiện khác trong trường hợp có đại chiến nguyên tử. Tôi nghĩ công trình có hơi điên rồ, và tôi chỉ viếng boong-ke có một lần, nhận xét rằng nếu chiến tranh nguyên tử bùng nổ, chúng tôi chẳng bao giờ có thì giờ để đến đó. Bây giờ tôi nghĩ là những thẻ ghi danh các điệp viên đã được tập trung và cho vào máy điện tính, theo lệnh của ai tôi không biết. Một khi chuyện đã thực hiện, sao chép đĩa vi tính là một công việc tương đối đơn giản đối với một sĩ quan cao cấp.
Vì vậy tôi kết luận là một trong những nhân viên của chúng tôi đã bán những dữ liệu này cho CIA với một giá tiền kếch sù và lời hứa miễn tố của uỷ viên công tố Đức. Quý vị nên nhớ, trưởng ban phụ trách về Hoa Kỳ của tôi đã từ chối lời đề nghị một triệu dollars chỉ riêng cho thông tin này. Một lý do tôi nghĩ hồ sơ này rơi trực tiếp vào tay CIA, mà không phải là người Nga, là vì có những câu chuyện xuất hiện trên báo chí nói rằng tình báo nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã trao những hồ sơ cho chính quyền Nga tại căn cứ của KGB ở Karlhorst, tại Berlin. Vì nhiều lý do, việc này khó có thể xảy ra và tôi cho rằng câu chuyện là một trò phản thông tin để che giấu cuộc thương lượng trực tiếp giữa CIA và một trong những sĩ quan của chúng tôi.
Nếu tôi đoán chính xác, đây là một mẻ lưới độc nhất vô nhị trong lịch sử tình báo. Chính quyền Đức không còn giấu sự kiện là phần lớn những thông tin họ dựa trên đó để truy tố một chục điệp viên của chúng tôi được Hoa Kỳ chuyển giao để làm một cử chỉ bày tỏ thiện chí. Trong lúc tôi và một số người khác điều tra, rõ ràng là các thẩm vấn viên đang làm việc trên danh sách các bí danh và tìm cách khám phá tên thật của những người này. Ví dụ, Heinz Busch, một trong những chuyên viên nghiên cứu trong cơ quan tình báo cũ của tôi, nói với uỷ viên công tố trong lúc bị thẩm vấn vào năm 1990 là chúng tôi có một điệp viên tại NATO và tiết lộ bí danh của đương sự. Nhưng Rainer Rupp không bị lộ cho đến cuối mùa hè năm 1993, sau khi báo chí Đức cho biết là CIA đã cho phép tình báo Đức điều tra một vài tên tuổi – được lưu trữ ở một hồ sơ riêng biệt. Việc này diễn ra tại bộ Tổng tham mưu của CIA tại Langley, Virginia và không phải cho đến hai hoặc ba năm sau khi họ có được tên. Tại sao CIA lại chờ lâu như vậy? Theo CIA, việc nhận diện những điệp viên Đông Đức chỉ là một phó sản của một chiến dịch mà tầm cỡ và cường độ cho thấy đây là vụ việc khác. Đối tượng của họ nằm ngay trong nội bộ của họ, kẻ nằm vùng vẫn tiếp tục gậm nhấm năm này qua năm nọ, ngay tại trung tâm an ninh của Hoa Kỳ. Họ biết là nó hiện diện nơi đây. Họ biết những tác hại do hắn gây ra. Nhưng họ không biết tên tuổi của hắn và chính vì việc này mà Gus Hathaway đến gặp tôi vào mùa xuân 1990.
Khi Gaby Gast, điệp viên tài giỏi của chúng có vị trị cao trong cơ quan tình báo Liên bang BND ra toà năm 1991, rõ ràng cô đã bị bán rẻ sớm hơn và với giá rẻ hơn. Karlizcek, tình nhân của cô, muốn tự cứu mạng và bỏ rơi cô nên đã từ chối trưng những bằng cớ làm giảm bớt tội trạng cho cô và công khai tuyên bố họ không có cùng một tương lai. Vì là công dân của nước CHDC Đức cũ, đương sự hưởng án treo về những sinh hoạt tình báo (trong tất cả mọi vụ án lệnh đều là như vậy trừ trường hợp của tôi). Tuy nhiên, vì là công dân Tây Đức, cô được xem là kẻ phản bội đất nước và nhận án sáu năm rưỡi tù giam. Karlizcek ăn mừng vì được tự do trong một bữa cơm trưa hoang phí tại một quán ăn Ý đối diện với toà án, trong khi tình nhân hai mươi năm của y bị nhốt vào nhà tù Neudeck dành cho phụ nữ tại Munich. Rõ ràng là lòng trung thành của y không thuộc về cô cũng không thuộc về chúng tôi; đối với y đây chỉ là công việc. Việc Gaby bị bắt giữ và bị kết án là một đòn đau nhất cho tôi trong thời gian đầy thất vọng và thảm bại cá nhân. Trong một lá thư viết từ trong tù, Gaby giận giữ bày tỏ sự uất hận đã bị một sĩ quan lãnh đạo tình báo Đông Đức phản bội. Tôi cảm thấy mình có lỗi, vì tôi đã hứa chắc chắn là cô sẽ không bao giờ bị lộ và chúng tôi luôn bảo vệ cô.
Nhưng một tên Judas đã tố giác cô và lòng tôi cảm thấy ngổn ngang vì tôi không có khả năng giúp cô. Ý nghĩ Gaby ở trong xà lim tù, lo lắng cho đứa con, lòng luôn tự trách và cái cảnh báo giới Đức đầy hiềm khích bóp méo động cơ và hoạt động của cô, đốt cháy tim óc của tôi.
Có lẽ điều duy nhất tôi có thể làm là giúp Gaby có thêm nghị lực. Cô lo rằng những lời an ủi đoàn kết của tôi chỉ là trò chơi chữ, và tôi đã nói bất kể điều gì để thuyết phục cô làm việc cho chúng tôi và bây giờ những lời tuyên bố của tôi nghe ra trống rỗng. Để trả lời cô, tôi viết một lá thư nhắc nhở cô: “Chưa bao giờ cô là một bộ phận nhỏ trong cỗ xe, hoặc chỉ là một trong những người mà số phận dính liền với những biến cố, ở chừng mực nào đó, biến chúng ta thành những nạn nhân. Những điều này rất khó diễn tả trong một lá thư, và bao lâu tôi còn nghĩ tôi hiểu cô, kinh nghiệm sống của chúng ta luôn luôn khác nhau – trong những năm vừa qua và hơn thế nữa. Tuy nhiên, chúng ta bị ràng buộc vì tình thế. [Những quy chiếu của tôi về tinh thần đoàn kết] không thể nào là những xáo ngữ nghe mệt mỏi tai. Chúng phản ánh chân thật và thâm sâu những gì tôi cảm nhận”. Chúng tôi lại trở lại nếp xưa trao đổi thư từ hỗ trợ lẫn nhau. Cô thường điện thoại cho tôi và nói rằng mối liên hệ kéo dài giữa hai chúng tôi cho cô sức mạnh để chịu đựng hình phạt đương đầu với quá khứ. Cô trở thành người tích cực trong một nhóm hoạt động nhằm chấm dứt việc truy tố những điệp viên mà việc tố tụng đang trên đường đi đến toà án. Thời buổi bây giờ những liên lạc của chúng tôi không cần phải mã hoá hoặc phải qua các ngã bí mật. Đây là món quà tặng nói lên sự kiện trong nghịch cảnh thảm khốc nhất hai điệp viên đã trở thành hai người bạn.
Mặc dù tình nhân của Gaby đã tránh được tội phản bội dựa trên cơ sở đương sự là công dân Đông Đức, nhưng lô-gích này không được áp dụng cho bản thân tôi. Ngày 4-3-1993, tôi tìm lối đi giữa đám ký giả nài nỉ và đám đông hiếu kỳ để vào toà án tối cao của tỉnh Düsseldorf để đương đầu với việc thẩm tra sự nghiệp của đời tôi. Đi cùng với hai luật sự, tôi và Andrea len lỏi vào toà. Ngước mắt lên nhìn toà tháp trên đầu dinh thự, tôi lướt nhìn con đại bàng, biểu tượng uy nghi của Đế quốc Đức, đôi cánh xòe ngang, một di tích hiếm hoi thời hậu chiến dưới triều đại của Kaiser. Một đám phóng viên tụ tập trước cửa, nhất định phát hành cho kỳ được tin sốt dẻo trong ngày. Họ thèm thuồng ùa về phía chúng tôi. Đối diện với tôi, các uỷ viên công tố mặc áo chùng tím ngồi ở phía bên kia dãy ghế vòng hình U. Tôi bắt đầu quen biết những khuôn mặt của họ từ ngày tôi bị bắt tại biên giới Áo và một lần trình diện ngắn ngủi tại Toà Thượng thẩm ở Karlsruhe. Trong toà không còn một ghế trống nào.
Sự hiện diện của tôi tại toà có nhiều điều oái ăm. Giờ đây tôi, cấp lãnh đạo của tình báo hải ngoại Đông Đức, xuất hiện trước bộ máy tư pháp của nước Đức thống nhất vì tội làm gián điệp chống lại Cộng hoà Liên bang Đức. Lạ lùng hơn nữa, cũng chính tại căn phòng này Günter Guillaume và vợ Christel đã bị xử năm 1975. Toàn án đã được đặc biệt xây cất thành khối để việc nghe lén không thực hiện được trong khi xét xử, trong đó các bộ trưởng và các viên chức của cơ quan tình báo BND và cơ quan phản gián BfV (Bundesamt für Verfassungsschutz) đứng ra làm chứng nhưng phải giữ bí mật. Chọn lựa đầy cảm tính này không phải là một sự ngẫu nhiên. Văn phòng của uỷ viên công tố liên bang tại Karlsruhe đã đặc biệt đệ kiến nghị lên toà án Düsseldorf để vụ án được xử tại đây. Trước khi Guillaume bị đưa ra toà, Toà án Düsseldorf nổi tiếng khắt khe không nhân nhượng trong lúc tuyên án. Các quan toà được xếp vào hàng nghiêm ngặt nhất trong nước. Danh sách tội danh dài đến 389 trang. Nội dung và lối hành xử cộc lốc của văn phòng uỷ viên công tố đối với những lời phản biện của luật sư biện hộ của tôi trước khi toà án xét xử khiến cho tôi không còn nghi ngờ gì về những việc sắp tới đang chờ đợi tôi.
Năm vị quan toà xuất hiện và ngồi vào ghế của mình. Cuộc xét xử chính thức bắt đầu. Ở giai đoạn đầu, tôi quan sát những khuôn mặt của các quan toà. Họ gồm có bốn người đàn ông và một phụ nữ. Tôi đã có lần gặp họ trước đây, năm ngoái khi tôi đến toà để làm nhân chứng trong việc xét xử Kuron.
Phiên toà xét xử Kuron là một hình ảnh cảnh báo khó chịu cho những gì sắp tới, và hình ảnh của đương sự ngồi trên ghế của bị cáo lụm khụm và già nua vì tinh thần bị căng thẳng, làm tôi giật mình. Thì ra, tôi nghĩ, đây là hình ảnh của sự thống nhất đất nước khi chúng ta nhìn thật kỹ. Trước đây tôi chỉ cần trưng bày chứng cớ rồi đứng dậy ra đi, nhưng bây giờ tôi bị kẹt cứng ở đây với những quan toà cũ, ngồi chễm chệ trong bộ y phục đen, dưới tượng con đại bàng khổng lồ. Trông họ có vẻ kỳ dị, giống như những nhân vật trong những bức tranh của Hieronymus Bosch hoặc là thế giới ác mộng của Goya. Trong bảy tháng kéo dài lê thê, tôi quen thuộc những nét mặt của họ và ngay cả những cử chỉ của họ.
Ông chánh án Klaus Wagner có khuôn mặt rộng, cử chỉ vô hồn và cặp mắt soi mói, những nét này khiến cho người ta thấy ông giống một cách lạ lùng con cú vọ già. Ông toả ra một tinh thần khiêm nhường và điềm đạm nhưng có thể xuất kỳ bất ý tấn công một nhân chứng không có gì đáng nghi ngờ cả. Ngồi giữa ông và một thẩm phán nữ có khuôn mặt mỏng (có vẻ như vội vàng viết tất cả những lời trong phiên xử) là một thẩm phán trẻ có những nét bạch tạng. Ông tỏ vẻ như muốn chứng tỏ ông là người kế vị chánh án Wagner nhưng lại không được phép phát biểu và tự hãm mình trong vai trò rót nước vào ly của cấp trên.
Thẩm phán thứ tư hình như có nhiệm vụ chính là xuất trình chứng liệu về mỗi một tội danh trong hồ sơ của tôi và vội vàng vùi đầu vào núi hồ sơ và giấy tờ. Còn vị thẩm phán thứ năm tôi không định vị được, ông có vẻ như chẳng có vai trò gì trong việc khởi tố và giới hạn vai trò của mình trong việc đôi lúc bí hiểm mỉm cười, một nụ cười vụt xuất hiện và cũng mau chóng bi ến mất trên khuôn mặt của ông.
Khi tôi nhìn những vị đại diện cho cái mà tôi gọi là hệ thống tư pháp của kẻ thù, tôi buộc lòng nghĩ đến nỗi oái oăm của đời tôi: thành công của tôi chính là sự suy vi của tôi. Tôi phải ngồi ghế của bị cáo vì đã chỉ huy một cơ quan tình báo thành công nhất ở châu Âu, Đông hoặc Tây.
Luật sư biện hộ cho tôi yêu cầu đình hoãn việc xét xử chờ cho đến khi có quyết định của Toà án Hiến pháp Liên bang tại Karlsruhe, toà án có thẩm quyển cao nhất nước Đức, để xem có nên tiếp tục khởi tố hay không. Tôi hy vọng nhiều vào việc này vì Toà án Berlin chuẩn bị xét xử Werner Grossman, người kế vị tôi, đã từ chối xét xử vụ này cho đến khi nào có pháp lệnh quy định cơ sơ hợp pháp vững chắc để xét xử những gián điệp của Đông Đức tại một toà án Đức thống nhất. Nhưng vị thẩm phán ở Toà án Hiến pháp gạt phăng lời phản đối của luật sư biện hộ cho tôi.
Lần biện hộ thứ hai của chúng tôi là chứng minh, mặc dù các nhân chứng đã điều trần và có chứng liệu trong những hồ sơ của chính quyền, về mặt pháp lý không có sự khác biệt đáng kể nào giữa những sinh hoạt của những cơ quan tình báo Đông và Tây. Điều này sẽ biến điểm chính trong việc xét xử của uỷ viên công tố không còn giá trị, đích danh là tôi phạm tội phản bội vì đã chuyển giao tin tức tình báo cho KGB. Chúng tôi cũng có thể chống đỡ là Cơ quan Tình Báo Liên bang (BND) cũng không kém mau mắn trong việc chuyển giao tín tức cho Đồng minh Hoa Kỳ, cơ quan CIA.
Không may cho tôi, việc so sánh giữa hai công tác như vậy đã không diễn ra tại toà án, vì vị thẩm phán bác bỏ lời phản đối của chúng tôi trên căn bản là những sinh hoạt của cơ quan BND không liên can gì đến toà án này. Vì vậy luận cứ chính trong việc truy tố của uỷ viên công tố là khẳng định cơ quan tình bá o của tôi là kẻ thừa hành của một chế độ bất chính. Vì vậy ông biện luận cơ quan chúng tôi về mặt cơ bản có tính chất gây hấn, trong khi đó những cơ quan tương tự ở phía bên kia trong lúc Chiến tranh Lạnh trái lại có tính cách phòng thủ và vì vậy có thể chấp nhận được. Căn bản pháp lý của lời biện luận của ông dựa trên Bộ Luật Căn Bản của Tây Đức (Grundgesetz), theo đó nước Cộng hoà Liên bang có chủ quyền trên tất cả lãnh thổ nước Đức trước đây. Lập tức sau khi Tối cao Pháp viện ở Düsseldorf bác bỏ lời thỉnh cầu của nhóm luật sư biện hộ của tôi, tôi nghĩ rằng tôi có thể giúp thu ngắn thời gian cho Toà bằng cách tuyên bộ trước bản án kết tội tôi. Công tố viên cho rằng tôi từ nhiều năm nay đứng đầu cơ quan tình báo hải ngoại của nước Cộng hoà Dân chủ Đức, Tổng Cục tình báo; rõ ràng chẳng cần chứng cớ hoặc nhân chứng để chứng minh điều này. Uỷ viên công tố tuyên bố thêm ông có những bằng chứng chứng tỏ là cá nhân tôi đã gặp gỡ và ra lệnh cho các điệp viên. Tôi thấy không cần phải quấy rầy Toà để truy xét những cuộc gặp gỡ này, vì tôi không có ý định phủ nhận những việc này. Tôi lấy làm hãnh diện là một người lãnh đạo xả thân mình làm việc và không phải là kẻ ngồi đằng sau bàn ra lệnh cho kẻ khác nhảy vào con đường hiểm nguy của điệp báo.
“Tôi tham dự vụ xử này bởi vì tôi muốn sống tại một đất nước vì đó là tổ quốc của tôi.
Tôi thượng tôn pháp luật của nước Cộng hoà Liên bang Đức cho dù tôi không đồng ý với họ” tôi nói, “Tôi chỉ thành công dân của nước Cộng hoà Liên bang vào ngày 3-10-1990. Cho đến ngày này, tôi là công dân của một nước khác”. Danh từ phản bội trong tiếng Đức là Landersverrat có nguyên nghĩa là “phản bội đất nước”.. Theo lý lẽ thông thường, những lời tố cáo này là vô lý: Tôi phản bội nước nào đây? Tôi chắc chắn không phản bội đất nước của tôi, cũng không phản bội những người đã làm việc cho tôi, và tôi thấy không có lý do thiết thực nào để buộc tôi phải ngồi ghế bị cáo vì đã phản bội một người nào khác.
Trong suốt bảy tháng kế tiếp, tôi bị tố cáo điều khiển ba mươi điệp viên quan trọng, trong đó có một vài người xuất hiện làm nhân chứng. Việc này cho tôi cơ hội quan sát và gặp gỡ trở lại nhiều người có liên hệ với tôi vì công tác và vì chính kiến. Về điểm này, ít ra, tôi phải oan nghiệt mang ơn toà án. Giống như trường hợp của tôi, họ phần đông chứng kiến sự sụp đổ bất khả phục hồi của trật tự thế giới mà họ hằng tin tưởng. Tuy vậy lòng tự tin và lòng tự trọng của họ vẫn còn nguyên vẹn và đem lại niềm an ui và khích lệ lớn.
Một luồng người kỳ lạ xuất hiện ở ghế gồi nhân chứng. Phát xuất từ nhiều tầng lớp xã hội của Đông và Tây Đức, họ cộng tác với cơ quan của tôi vì nhiều lý do. Gặp gỡ Gaby là cuộc gặp gỡ đau xót nhất. Khi cô bước vào phòng xử án của tôi, cô ngoảnh mặt không nhìn tôi. Báo chí theo dõi phiên toà coi đây là một cử chỉ ruồng bỏ, nhưng đây là kết quả của một giây phút cực kỳ xúc động. Hiện thân một nhân chứng điềm đạm, cô từ chối hạ mình chiều theo những nỗ lực của công tố viên tô vẽ hình ảnh tôi trở thành một Svengali chuyên thuê và kiềm chế những điệp viên phụ nữ bằng những lời đe doạ và những áp lực khác. Cô trông xanh xao và mệt mỏi lúc cô vận dụng tất cả trí tuệ để trả lời những câu hỏi của các quan toà, và tôi biết đây là một cực hình đối với cô. Lòng tin của cô, giống như lòng tin của Kuron, lại nhắc nhở cho tôi biết là danh dự mà tôi những tưởng là bất diệt trong cơ quan của tôi đã không đứng vững trước những thử thách của thời buổi khác. Một khuôn mặt nổi bật khác là Hannsheinz Porst, một doanh nhân tỉ phú đã muốn dùng những mối liên hệ với chúng tôi – vào thời buổi những mối liên hệ như vậy là một tội đối với chính quyền liên bang – để đẩy mạnh việc bình thương hoá mối bang giao giữa hai nước Đức. Việc thống nhất cũng đặt ông vào tình thế khó khăn và người mà tôi đã gặp gỡ lần chót với hình ảnh của một thanh niên trẻ và nhanh nhẹn nay xuất hiện trên ghê nhân chứng với hình ảnh của một người đàn ông đứng tuổi, tóc nhuốm bạc và râu rậm rạp. Ông vẫn mong muốn theo đuổi tinh thần hoà giải dân tộc, điều đã thúc đẩy ông làm việc với Đông Đức và mô tả tội danh phản bội gắn cho tôi là vô lý. Herbert Schröter, một trong những chàng “siêu Romeo”, cũng xuất hiện. Nhìn thấy đương sự, bao nhiêu ký ức về những âm mưu liều lĩnh và mưu mẹo táo báo trở lại. Sau khi những thành tích của Herbert được liệt kê, công tố viên nhận xét: “Tôi đoán chừng anh nghĩ anh là món quà của Thượng đế cho phụ nữ?”. Vụng về và huênh hoang như thường lệ, anh cựu sĩ quan của chúng tôi tiến đến gần hàng ghế của tôi, nghiêng mình chào và hô to: “Làm việc với Đại tướng, thật là thú vị”. Đó là lần cuối tôi gặp đương sự. Toà án mở toang vết thương cũ vào ngày Günter Guillaume xuất hiện làm nhân chứng. Không ai có thể nhận biết chính ông là người trước đây đã từng là cánh tay mặt của Willy Brandt. Bảy năm tù sau khi bị lộ và sau đó một trận đau tim đã để lại dấu ấn trên con người của ông. Ông chỉ chấp nhận ra làm chứng sau khi văn phòng uỷ viên công tố doạ ông có thể bị đem ra xét xử lần thứ hai nếu ông không chịu làm chứng. Nhưng khi hỏi cảm nghĩ gì về việc đánh lừa ông Brandt trong một thời gian dài, Guillaume bình tĩnh trả lời: “Tôi kính trọng và phục vụ cho hai người với tất cả tâm can trong cuộc đời của tôi: đó là ông Markus Wolf và ông Willy Brandt”. Có một lúc thật thú vị, đó là lúc ông lặp lại việc ông đã thành công chuyển những tài liệu Na Uy của ông Brandt cho chúng tôi, và tôi không thể nhịn mỉm cười tán thành đương sự. Nhưng luật sư biện hộ cho tôi và chính tôi cũng đồng ý là tôi sẽ không nói gì để có thể làm tổn hại đến Guillaume hoặc khiến dẫn đến việc xét xử đương sự thêm lần nữa: cả hai đồng nghiệp chúng tôi không muốn phải đấu khẩu với nhau.
Klaus Kinkel, lúc đó là Bộ trưởng ngoại giao nước Đức thống nhất, được luật sư biện hộ của tôi yêu cầu ra làm chứng bởi vì lúc đó ông đã làm việc trong Bộ Nội vụ vào thời ông Brandt từ chức trước khi trở thành giám đốc cơ quan tình báo Tây Đức. Kinkel dính líu sâu đậm trong cuộc đấu hậu trường bẩn thỉu trong vụ xét xử này và lý ra quần chúng đã phải biết từ lâu mà cho đến bây giờ quần chúng mới biết rõ qua vụ xét xử này. Chúng tôi đều sinh đẻ tại cùng một thành phố nhỏ Hechingen nằm dưới lâu đài của các vua chúa dòng họ Hohenzollen.
Tại đây, ông cựu giám đốc tình báo hải ngoại của Đông và Tây Đức chạm chán nhau tại toà án. Những sinh hoạt của tôi đã đưa đẩy tôi đến đây ngồi ghế bị cáo, trong khi đó Kinkel đã tiến thân trở thành một viên chức cao cấp của chính phủ, được tiếp đón tại Washington, London, và Moscow mà không ai màng đến quá khứ tình báo của ông. Người của Kinkel dùng mọi phương kế để chúng tôi không chạm mặt nhau trên đường đi đến phòng xét xử. Tôi biết ông ghét tôi thậm tệ và cực kỳ khó chịu với ý nghĩ là thế giới bên ngoài, nhìn chúng tôi đối đầu trong toà án, tìm thấy một thoáng đạo đức tương đương trong những gì chúng tôi làm ở vị thế đối nghịch. Vì vậy Kinkel đến vào giờ phút chót để ngồi vào ghế nhân chứng. Sau một lúc lâu, ông có vẻ như cảm thấy hổ thẹn vì không thèm nhìn tôi, và gượng chào về phía tôi.
Kinkel trả lời một vài câu hỏi không có giá trị đáng kể nào, nhưng cuộc chạm chán với ông trên nhiều phương diện biểu trưng cho sự bấn loạn của người Đông Đức phải đương đầu sau ngày thống nhất. Cuộc đời của họ như nằm trên bàn mổ và chính quyền Tây Đức nắm cán dao mổ. Bậc thầy ở Tây Đức tố cáo bậc thầy ở Đông Đức là giáo viên tồi dở, chỉ vì ông dạy dỗ trong môi trường đối nghịch, cho dù bậc thầy Đông Đức có chuyên nghiệp và được mọi người kính nể. Các nhà ngoại giao Đông Đức mất việc vì họ nằm trong, theo danh từ nghề nghiệp mới, “hệ thống nội tại”, trong khi đó những viên chức ngoại giao Tây Đức mà trước đây họ đã gần đây từng tiếp xúc để thương lượng lại được thăng chức trên nấc thang sự nghiệp. Gián điệp ở phía Đông Đức cuối cùng ngồi ở ghế bị can, gián điệp ở phía Tây Đức lại ngồi ở ghế chứng nhân. Mặc dù việc truy tố cá nhân tôi có tính chất vô lý và có những lời lên tiếng liên tục về tính cách hợp pháp của việc này, toà án vẫn kết tội tôi vào ngày 6-12-1993. Tội danh phản bội bị kết án sáu năm tù giam và toà án kết tội tôi. Luật sư biện hộ của tôi kháng án quyết định này lên Tối cao Pháp viện, và Tối cao Pháp viện phải hội ý của Toà án Hiến pháp để quyết định. Tháng 6-1995, Toà án Hiến pháp Liên bang phán quyết là những sĩ quan của cơ quan tình báo nước Cộng hoà Dân chủ Đức không thể bị truy tố về tội phản bội và làm gián điệp. Do đó, ngày 18-10-1995, Tối cao Pháp viện Liên bang phải tiếp nhận đơn thỉnh cầu của luật sư biện hộ của tôi và phủ quyết án lệnh và gửi lệnh này trở lại toà án Düsseldorf.
Nhìn những cựu nhân viên và điệp viên nằm vùng trước đây lần lượt xuất hiện trước mặt tôi trong toà án, tôi tự đặt câu hỏi tất cả những công việc vừa qua có tương xứng không. Đây là câu hỏi tôi phải liên tục đối đầu khi tôi nhìn lại cuộc đời của tôi để viết quyển sách này. Ý định của tôi từ trước tới nay là xem xét những giao biến lịch sử đánh đấu nửa phần của thế kỷ hai mươi, và nhìn lại những đóng góp của tôi trong vai trò lãnh đạo cơ quan tình báo mà thành quả vượt bực không ngăn cản nổi sự sụp đổ của hệ thống nó phục vụ. Thời Chiến tranh Lạnh không phải là thời phân biệt trắng đen rõ ràng, nhưng có nhiều vùng màu sám. Chúng ta không thể nhìn những gì đã xảy ra mà không liên tưởng đến tình trạng này, và chúng ta không thể nào tiếp tục đi tới mà không ghi nhớ điều này trong ký ức. Cũng như tôi đã nói trước toà trong lúc tôi bị xét xử: Không có một tiến trình nào của toà án có thể soi sáng một giai đoạn của lịch sử đầy mâu thuẫn, ảo tưởng và sai trái… Hệ thống trong đó tôi sống và làm việc là sản phẩm của sự không tưởng, mà, từ đầu thế kỷ thứ mười chín, hàng triệu người theo đuổi, trong đó có những nhà tư tưởng lỗi lạc, vì họ tin vào khả năng cởi trói nhân loại khỏi cảnh đàn áp, bị khai thác và tình trạng chiến tranh. Hệ thống này đã sụp đổ vì người dân sống trong đó không còn hỗ trợ nó nữa. Nhưng tuy vậy tôi nhấn mạnh không phải tất cả những gì trong lịch sử bốn mươi năm của nước Cộng hoà Dân chủ Đức đều là xấu và cần phải xoá bỏ, và tất cả những gì ở Tây Đức đều là tốt và chính đáng. Thời gian biến chuyển lịch sử này không thể nào giải đoán một cách thoả đáng với những khuôn mẫu phân chia một bên là “quốc gia chính đáng” và bên kia là “quốc gia không chính đáng”.
Điều này có phải là không có khiển trách và không có ai trách nhiệm cả? Lẽ dĩ nhiên là không. Chiến tranh Lạnh là một cuộc đấu tranh tàn khốc, cả hai bên đều làm những chuyện gớm ghiếc để mong thắng trận. Nhưng nay Chiến tranh Lạnh và nước CHDC Đức đã không còn trên trang nhất của những tờ báo và đi vào những trang sách lịch sử, chúng ta không nên quên rằng những sự việc chẳng bao giờ rõ rệt đúng như bộ máy tuyên truyền của cả hai bên muốn cho chúng như vậy. Chúng ta nên ghi nhớ những lời của một đại triết gia Nhật Bản đương thời Daisaku Ikeda: “Chúng ta không thể, trong lúc thiếu suy nghĩ, biến người này thành sứ giả của lòng quảng đại và người kia thành những kẻ ti tiện, đánh giá họ theo những tiêu chuẩn tương đối tích cực hoặc tiêu cực. Những điều này, giống như mọi điều khác, thay đổi tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, bản chất của một xã hội, thời điểm và quan điểm chủ quan”.
Chỉ khi nào nhìn những sự việc dưới ánh sáng hiểu biết như thế, chúng ta mới có thể học được những bài học do Chiến tranh Lạnh và cuộc sống của mỗi một người chúng tôi cống hiến để chống trả nó cung cấp cho chúng ta.