Người Cùng Quê Tập III

Lượt đọc: 5915 | 7 Đánh giá: 9,1/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 17

❊ ❊ ❊

Bác chủ nhà khoảng ngoài năm mươi có bộ râu ba chòm lạ mắt: hai chòm trên xuống vướng mép bác xén bằng kéo, râu cằm cũng xén ngang khi quá ba phân. Nhìn kỹ, thấy tóc mai và cả bộ tóc trên đầu đều thế, khiến cho khuôn mặt vuông chữ điền rám nắng giống như cái hộp gỗ nâu.

Bác là người thứ ba từ chối không nhận mẹ con Hoàng Lan ở nhờ. Nhường cho anh công đoàn lựa lời dỗ dành, Lan đưa thằng Nhứt với con Bạch Lan ra giếng rửa qua loa sau một đêm sơ tán trên chiếc xe com-măng-ca đít vuông chật như nêm cối, sáu chỗ ngồi xếp mười lăm người, lê từng quãng trong bụi đỏ mù trời của đường đất vùng trung du, sau mươi cây số mất gần mười tiếng vừa đi vừa đẩy. Rốt cuộc vẫn đến nơi quy định sơ tán với hai đứa con không sứt mẻ, kèm mười cân gạo mua sổ, bốn lít nước mắm và vài lít dầu thắp, bọc áo quần chăn màn còn nguyên, chỉ phủ bụi đỏ khắp thân người và đồ đạc.

Bác chủ nhà rít xong mồi thuốc lào, xòe tay cà rà:

- Anh xơi nước chứ... Cảm ơn anh hỏi thăm, nhà tôi được bảy cháu. Hai đứa lớn chưa được nhờ thì thằng đầu đi nghĩa vụ, con sau đi “ba sẵn sàng”. Đứa ba cũng là gái, vừa làm lấy điểm vừa bắn máy bay. Còn lại bốn, phú cho trời nuôi mụ dạy, chẳng biết hư nên... Làng tôi thế mà truyền thống lắm, nuôi cán bộ đằng ta tù hồi còn Việt Minh bóng tối cơ đấy.

- Vâng, chúng tôi cũng nghe tiếng lành đồn xa, mới lặn ngòi ngoi nước đến nhờ các bác một chỗ trú tạm, Hà Nội ngớt bom là về bệnh viện.

- Anh biết tại sao làng này ngại các ông bà Hà Nội không? Năm ngoái có một xưởng may, hay là hợp tác gì đấy ở Hà Nội lên đây. Đảng ủy, ủy ban, ban chủ nhiệm họp dân lại kêu gọi nhường cơm xẻ áo, nhiễu điều phủ giá gương, rung động lắm. Đến ở chùng ngót trăm chị em, mà trẻ con với các cụ những hơn bốn trăm, có xe tô-va tiếp tế hai ngày một lần, gạo dầu mắm muối lĩnh tất tật ở Hà Nội. Chúng tôi nhường ngôi đình to với hội trường xã để các bà các chị đặt máy khâu, thu gọn chỗ nhường buồng riêng chái riêng cho các hộ sơ tán đi khóa về mở, còn hậu hĩ hơn đón bộ đội về làng hồi đánh Tây. Ấy thế mà qua mười ngày nửa tháng, bà con ở đây phát khiếp cả, níu áo ủy ban với ban chủ nhiệm xin đưa người sơ tán đi nơi khác. Tại sao, anh đoán xem!

- Ý chừng là quá đông trẻ con?

Bác chủ nhà đặt chén nước, cười hô hố:

- Ấy đấy, đấy... Cơ mà trẻ con đâu chả có, phải cái cứ lấn sang người lớn mối sinh sự. Chả biết các ông bà Hà Nội dạy con cháu thế quái nào, mà từ sớm chí tối các cô cậu ấy cứ tru tréo đòi ăn quà, mở mồm là chửi tục, có đứa còn lăn đùng ra đất mắng bố tát mẹ, đứa lớn dọa bám xe hàng trốn về Hà Nội... Hỏi dần mới hay, các chị ấy là tiểu thương ở chợ Đồng Xuân, Bắc Qua, bị bom Mỹ phải chạy tản ra, ban sơ tán Hà Nội mới ghép vội thành hợp tác, năm trăm miệng ăn bám theo bốn chục cái máy khâu cọc cạch, mọi thứ trông vào sổ bìa tem phiếu ở thủ đô, vừa ăn bám vừa dài cổ ra chửi đổng, kêu khổ... Tiếp cái khoản trẻ con. Mới lên còn sợ chó, sự rắn, sợ ma rừng, dăm ba ngày, đã kéo bày đi ném đá vào chó từng nhà, hàng xóm tôi bị một con chó săn què chân, một con giữ nhà chột mắt. Khủng bố được chó rồi, cả lũ ào vào nhà, đuổi “bọn nhóc nhà quê” chạy ráo, kéo ra vườn thấy gì vặt ấy, cam chanh chuối ổi mít, già non chẳng kể, còn vào nhà lấy sọt làn thúng rổ đựng mang về, tiện tay xách luôn soong nồi về đun ăn ngoài đồi. Trẻ lớn thì bắt gà, hốt trứng, đào khoai sắn non. Lũ nhóc trong làng cũng cáu, kết phe đánh chửi lại, đôi bên cùng hư. Chúng tôi đến gặp các bà các chị, bàn thu xếp dạy trẻ, thì mười bà bênh con cháu hết chín. Nhà tôi không có thói phép thế, chỉ tại đám chăn trâu gây gổ, chiều nào cũng thấy bươu đầu rách áo, khóc sưng mắt. Chúng tôi trót dại đến đây, thân cô thế cô... Huyện về cũng bí, phải huy động dân quân ba xã đến làm ba dẫy nhà lá cao ráo cách làng một quãng, rước quý vị ấy đến ở. Thế mà vẫn rủa sả: “Tình nghĩa đồng bào thế nào mà lùa chúng tôi vào ấp chiến lược như Mỹ dồn dân, hở trời!” Quen nết rồi mà. Chum nước mưa cả nhà để dành đun nấu họ đem tắm cho con đỡ phải đi giếng xa. Đi củi già buổi được một gánh, cứ rút mà đun, để dành dầu hỏa phòng khi chủ nhà ốm không hầu kịp... Chỉ đâu ba tháng, ban sơ tán Hà Nội xuống lệnh cho chuyển đi nơi khác, cả làng cùng thở phào, thoát nạn. Nói dại đổ sông đổ biển, cái đàn phá rối nông thôn ấy mà quay trở lại thì chúng tôi cứ là cuốn gói đi sơ tán tất ráo cả!

Hoàng Lan tắm cho con trước sân, nghe được lõm bõm vì bác chủ nhà nói to cười lớn. Cơn tủi thân từ từ dịu xuống. Người qua trước trút vạ cho người đến sau, bà con gờm là phải. Hãy cứ tưởng xem một người như bà Ất béo hú đưa bày con đến đây, động trái ý là lao vào cào cấu bấu xé, mới hiểu bà con nông dân đi từ hồ hởi đón giúp đến chỗ gạo muối ném theo là tại ai...

Lan buồn rầu dắt hai con về các dãy nhà lợp lá cọ, khung tre còn tốt, đã được đội tiền trạm của bệnh viện đến sửa, tường trình quét vôi trắng và nền nhà láng xi-măng, đào thêm giếng, đặt máy phát điện nhỏ và máy bơm nước. Ba dãy ấy chuyên dùng làm chuyên môn. Bệnh viện trưởng là giáo sư Tôn, tay dao mổ nổi tiếng thế giới, viện sĩ nhiều viện hàn lâm nước ngoài, trong nước là thứ trưởng Bộ y tế. Nhung chẳng mấy ai để ý đến những danh hiệu ấy, ngay bác sĩ Tôn cũng chỉ nhớ mình là cái ông gì mỗi khi nhận giấy mời đi họp trong nước hay ngoài nước, cả Phương Tây lẫn phương Đông. Bác sĩ chỉ nghĩ đến người bệnh đang gửi mạng vào lưỡi dao mổ của mình. Cả khi báo đăng tin bác sĩ Tôn được phong anh hùng lao động, mọi người xúm vào chúc mừng, bác chỉ hỏi lơ đãng: “Anh hùng hở? Cũng tốt chứ. Thế có ai truy mình mấy ca mổ thất bại không? Nghe bảo vợ ông gì to to đang kiện mình cơ mà… Các cậu này, đã tìm ra công thức tối ưu cho cái ca tay bộ trưởng bị xuất huyết não ấy chưa?”. Và cuộc chúc mừng biến thành tranh luận về nghề nghiệp.

Bác sĩ Tôn quy định rất gắt gao: Mỗi nhà phải có hai bảo vệ ngày đêm giữ hai đầu, cửa khóa cứng. Tuyệt đối không cho cán bộ nhân viên đem con theo mẹ vào nơi làm việc, mang thức ăn tươi sống hay đốt bếp dầu hâm thức ăn trưa ở đấy.

Máy bay Mỹ đánh khu vực Hà Nội ngày càng mạnh, thương vong bên ta tăng vọt. Bác sĩ Tôn nắm bốn đội phẫu lưu động cùng vài chục tự vệ có súng máy nặng nhẹ giữ bệnh viện gốc, mỗi ngày đêm chia nhau mổ tới vài chục ca, hơi đỡ là chuyển lên hậu phẫu chỗ sơ tán. Chủ nhiệm khoa hậu phẫu là một cụ quá đỗi hiền lành cả nể, để cho nơi làm việc biến dần thành nhà trẻ và bếp núc, bốc mùi nước đái trẻ con và cá tanh, dầu khét. Bác sĩ Tôn đến kiểm tra một vòng, chỉnh ông thầy cũ của mình một chầu mất mặn mất nhạt trước mặt mọi người, vợ ông Tôn là phó chủ nhiệm khoa cũng bị nạt đến sượng mặt:

- Bà với tôi cũng có cháu nội ngoại rồi, ai không thương trẻ con, hở? Nhưng mà thương trẻ một, phải thương người què cụt gấp trăm. Thương mà để nơi hậu phẫu thối tha cho chiến sĩ nhiễm trùng toi mạng, tôi mời cả thầy cũ lẫn bà vợ ra tòa!

Các chị có con mọn và quen nếp công tư lẫn lộn vừa sợ vừa tức, phải y lệnh mà làm, còn bị phạt một ngày chủ nhật quét rửa lau chùi và bơm thuốc sát trùng. Bác sĩ Tôn dùng ngày nghỉ ấy để cùng số trai gái trẻ, kéo thêm đoàn viên thanh niên trong xã nữa-họ nghe tiếng ông bác sĩ anh hùng rất sừng ngổ này qua sách báo-chỉ trong hai ngày đã dựng xong dãy nhà dài thú tư trong rừng cọ. Nhà được chia từng quãng làm nhà trẻ, nhà ăn, nhà bếp, nhà tắm, cách một quãng là nhà vệ sinh kiểu hố xí hai ngăn. Bệnh viện sơ tán được cấp một xi-téc chứa nước loại năm mét khối để bơm nước giếng lên giá cao ba mét, chảy qua ống vào các buồng điều trị. Không chảy ra ống cho nhà thứ tư. Ông Tôn gợi ý làm ống máng bằng tre thông mắt như hồi chống Pháp ở Việt Bắc, đưa nước vào một bể phụ xây gạch trước nhà, khi đầy thì leo lên giá xi-téc khóa vòi lại.

Chỉ qua hai ngày đêm, việc công và tư đều chạy ro ro.

Hoàng Lan lên chỗ sơ tán muộn vì được ghép vào một đội phẫu, còn kiêm thêm trung đội phó tự vệ, lính cũ mà. Hàng ngày Lan gửi hai con cho bà lao công, có buồng ở bên cạnh hầm to xây xi-măng. Đến khi có quyết định tất cả những ai vướng con mọn đều phải rời Hà Nội, Lan mới đi, lâm vào cảnh trâu chậm uống nước đục, mà ngay cả nước đục cũng chưa tìm ra.

Phải thu xếp chỗ ở, gửi con vài ngày cho các bạn, trở về Hà Nội chở nốt các thứ của ba mẹ con lên, mua các thứ tem phiếu còn lại. Đi nhờ được xe tải là hay nhất, không thì thồ xe đạp. Mấy chị không khỏe hơn Lan là bao cũng thồ được năm sáu chục ki-lô vượt sáu chục cây số. Săm lốp xe Lan còn mới, hỏng vặt Lan tự sửa được. Nếu quá bí nơi ở, Lan vẫn tự làm được một cái lều như năm xưa ở Hạ Lào, chả ngại.

Sau một đêm trải chiếu nằm trên nền đất nện của nhà trẻ, Lan nghe gọi mình lúc mờ sáng, rất nhiều lần.

- Em đây mà. Tuyền đây. Mở cửa nhanh chị. Ngủ khiếp chưa!

Lan ngáp, nhấc cây ngáng cửa:

- Đi đường trắng đêm lại dắt con lang thang đi ở nhờ, đâu cũng bị xua.

- Đi với em mà nhận nhà. Cách trăm thước thôi.

Tuyền quê ở tít “Thái lọ”, ngót ba mươi chưa chồng vì xấu gái quá, da nâu sẫm, răng vẩu, trán gồ, thân gầy như mắm. Tính nết thì dễ thương vô kể, nhưng con trai chỉ thương mà không yêu, biết làm sao, Tuyền bị bom vùi và gẫy xương tay phải trong chuyến vào tuyến lửa Quảng Bình, giữa năm 65, phải lui về chỗ sơ tán làm hộ lý.

- Mày đưa tao đi đâu, phải bảo trước chứ!

- Yên chí lớn. Em ở đội kịch nghiệp dư, phải tạo tính kịch chứ. Đến rồi đây, mời công nương vào ngôi báu!

Một cô trẻ mặc quân phục, đội mũ cứng có sao, chạy sổ ra sân:

- Đúng chị Lan mà, em cứ sợ trùng tên thì tẽn tò.

- Mày hả Mẹo? Đúng “nàng mếu” rồi. Sao mày đến đây?

- Nhà em đây, mẹ em đây, em đi đâu nữa. Rõ chị lẩm cẩm.

Năm ngoái, chị Lan vừa học xong chương trình y sĩ, trên liền giao ngay làm người hướng dẫn thực tập. Bằng mới tinh, nhưng Lan có kinh nghiệm nhiều năm phụ mổ ở địch hậu, hơn hẳn số học sinh phổ thông học cùng khóa. Một hôm, cô Mẹo này đến bệnh viện khóc sướt mướt, khai mình là y tá thuộc một đơn vị biên phòng được cử về thực tập ngành phẫu, đến ga Hàng Cỏ ban đêm bị bọn cướp trấn lột lấy hết sạch mọi thứ, cả đồng hồ và ví đựng tiền, giấy tờ. Cái ông tổ chức bệnh viện kiêm sâu mọt kia xem chừng không trấn lột được gì nữa, bèn nổi cơn “cảnh giác cách mạng”, cấm không cho cô qua khỏi phòng thường trực, cũng cấm không cho vào khu tập thể cán bộ nhân viên. Lan rủ vài người bạn thân nữa đến đấu lý:

- Bác đuổi người ta về tận Lao Cai, bắt cuốc bộ à? Bắt xin ăn đọc đường à?

- Đây là cơ quan nhà nước, không phải nơi cứu tế xã hội. Các chị có thương hại thì góp tiền giúp cô ấy, chứ không được cho bước vào bệnh viện. Lơ mơ tôi gọi công an đến cho mà xem.

- Thế mẹ tôi, bố tôi đến thăm con, cũng không được vào khu tập thể? Nằm vỉa hè hàng tháng để bác điều tra lý lịch? Con chúng tôi không có giấy tờ, bác định đuổi sạch?

Ai cũng bận việc chuyên môn, chỉ có lão ta quá rảnh rỗi, chỉ chờ những dịp thế này để tỏ rõ oai phong lẫm liệt của mình, may ra cũng nhét túi được tí cải thiện lẻ.

Hoàng Lan chán ngấy, lôi các bạn lên gặp bác sĩ Tôn. Lão hối hả chạy theo đấu dịu:

- Thôi thì các anh chị ký cho tôi cái giấy bảo lĩnh, mai sau có gì cấp trên khỏi trách cứ.

Anh chị em ra ngoài bàn với nhau, nghĩ lui tới lại thương ông bác sĩ đang kiệt sức mổ ngày mổ đêm, còn bị quấy mãi vì những chuyện vặt. Đành đi đường vòng thôi. Một giấy bảo lĩnh mà sáu người ký. Lan nhận đón về nuôi tạm. Hại cậu sĩ quan quân y chuyển ngành liên lạc với Cục quân y và đơn vị biên phòng ở Lao Cai.

“Nàng mếu” ở với Lan hai ngày thì công an ga Hàng Cỏ gọi đến nhận ví giấy tờ bọn gian vứt lại, các thứ khác chưa lùng ra. Dựa vào biên bản công an. Cục quân y cấp lại các thứ trang bị, rồi đơn vị biên phòng cũng gửi thêm tiền cho Mẹo đủ ăn ba tháng thực tập và mua vé trở về. Thì ra cô y tá hăm mốt tuổi này là chiến sĩ thi đua cấp trung đoàn hai năm liền. Lan trêu ngay:

- Thi đua gì mày, thi mưa mói phải. Mày đeo lon trung sĩ về trạm đón lính chỗ Cột Cờ mà ở với lính, đừng ở với đám hạ sao trao lưới chúng tao.

- Hứ, thách chị đuổi!

“Nàng mếu” nhất định ở với Lan trong ba tháng thực tập. Chả hiểu tại sao cô ấy lắm bà con, bạn bè, cả những cậu lính mồ côi vợ đến tán tỉnh hay gạ làm quen liên miên. Các thứ quà từ biên giới Lao Cai qua suốt vùng núi và trung du, kèm theo những lá thư có chữ ký đề trên nếp dán, nối nhau tuôn mãi vào căn buồng Đông Đức của Lan. Mẹo đọc thư xong, giấu biến, phân trần vụng về:

- Là tại trung đoàn em đóng rải dọc đường sắt, em phải đến từng đại đội, có khi tùng trung đội, các anh thấy tội nghiệp, ai về Hà Nội cũng mang quà...

Và hôm nay, Mẹo ôm ghì Lan đến đau hai bả vai, thổn thức:

- Tưởng không còn thấy chị nữa. Bọn phỉ bắn xuyên phổi, em khỏi rồi. Chị đi ở nhà khác thì chết với em tức khắc!

Mẹo đã thêm một sao nữa trên ve áo, thượng sĩ rồi. Cô về nhà đón bà mẹ ngoài năm mươi xuống gần Việt Trì giúp người chị đẻ con so ít lâu. Bà mẹ được một trai hai gái thì trai đi nghĩa vụ, một gái công nhân nhà máy chè, với Mẹo nữa là ba. Khối người gạ nhận giữ hộ nhà, vườn, chăm lợn gà cho bà mẹ, nhưng qua một mùa sống với “may mặc Đồng Xuân” cũng vô vàn lời bẻm mép nhăng cuội của các vị con buôn đa trá, hai mẹ con chẳng dám gửi nhà vườn lợn gà cho ai cả. Khi biết chị Hoàng Lan đang tìm nhà, giữa lúc mẹ con Mẹo cần giao nhà, Mẹo mừng quýnh, nửa đêm dựng cô Tuyền dậy đòi dẫn di gặp chị Lan, bị Tuyền cáu sườn xô nằm ngửa xuống giường ngủ tiếp.

- Bầm em với em bàn tất ráo cả rồi. Tám con gà vừa mái nhảy ổ vừa trống, biếu chị Lan tẩm bổ cho các cháu, đem cho thương binh bao nhiêu tùy ý chị. Cặp lợn choai chị nuôi hộ bầm em, gặp khi khô hạn quá chị cứ là tự do thịt cho thương binh có tí đạm. Trong vườn lắm thứ quả, ăn hay biếu tùy chị, mà đừng để cho bọn xấu nó chặt cây... Mà chị cũng dễ tính lắm cơ, chị cứ cãi lý mà lũ lưu manh cứ vung dao khoa gậy. Em đưa chị thứ này dùng tạm...

Thượng sĩ Mẹo tháo thắt lưng to, trao cho Lan cây súng ngắn K.54 kèm hai băng đạn đeo ngoài, còn thêm chiếc đèn pin trong túi bạt. Lan tròn mắt:

- Quái thật, mày cho súng cứ tỉnh bơ thế à?

- Giấy phép mang súng của em đây, giữ lấy. Nhớ nhé, chị đừng bắn chết ngay, báo động thì ba phát lên trời, bị tấn công thì bắn què chân, đợi công an đến còng tay. Dọc đường hay gặp cánh lái xe biến thành giặc lái, nhớ bắn thủng lốp xe là vừa... Em bị trấn lột một lần vì coi thường vũ khí, dốt pháp luật, bây giờ học hỏi mãi đâm khôn rồi.

- Em đi tay không à?

- Em mới qua hai tháng học võ đặc công, thủ một dao găm lưỡi xếp nữa là thừa. Cần lắm thì xin súng khác, anh em đánh phỉ lấy được khối K.54.

- Không nộp lên trên à?

- Nộp chỉ mất một phút, khi đánh nhau súng hỏng hay mất xin bổ sung phải mất ba tháng, nửa năm. Tức cười, chỗ em có một đại đội vây đánh phỉ suốt hai ngày trên núi, cho người về tiểu đoàn xin thêm đạn, lựu đạn, không có, chạy lên gặp hậu cần trung đoàn, gặp một quan lớn nào đấy phán rằng, chưa có dự trù, không phát!

Lan không mượn súng, ngại lôi thôi về sau, chỉ mượn con dao găm lưỡi xếp trong bao da, chiếc đèn pin. Nghe Lan bảo cần về Hà Nội lấy đồ và mua hàng. Mẹo bật reo:

- Tuyệt cú mèo nhá! Em cùng đi xe con với chú dược sĩ về Hà Nội nhận thuốc, thêm chị nữa là ba. Sáng mai ta ra đường tỉnh đón xe. Hai cháu gửi chị Tuyền ngon ơ. Ừ nhỉ, bầm em cùng đi một quãng nữa là bốn ăn thua gì. Chị đi xoay giấy tờ bàn giao các thứ, chong chóng đấy.

Không sao nhận ra “nàng mếu” ở cô thượng sĩ tươi rói và hăng bốc này. Lan ỡm ờ:

- Có chàng rồi hả Mẹo?

- Gớm chị, muốn làm lốc cốc tử à?

- Tao xem tướng cái màu da mày... Đấy, từ màu vỏ lê sang màu táo Cao Bằng... đến màu bồ quân rồi kìa...

Mẹo úp tay lên mặt, cười rinh rích, rồi thì thào:

- Anh ấy... được lắm cơ... rất đường hoàng chị ạ... đi đường em kể sau... bí mật nhá, em chưa hứa hẹn gì đâu...

Lan về thu xếp căn buồng trong bệnh viện, được một lá thư của chồng tuồn dưới khe cửa. Anh Cam thường viết thư ngắn như văn điện tín, hốt cụt những câu dài, trong khi anh ghi chép đến hàng ngàn trang văn học dân gian và săn lùng tới năm bảy dị bản cho một chuyện tiếu lâm. Lần này anh nhắn Lan đến gặp anh Lê Tùng để nhận một gói quà, và báo tin anh bảo vệ luận án phó tiến sĩ xong, còn làm tư liệu văn học Đông Nam Á, vài tháng nữa mới về nước.

Anh Tùng mắt lồi trao gói quà do anh mang từ Liên Xô về sau một cuộc họp giữa các nhà xuất bản chính trị trong phe ta, kể mấy chuyện tai nghe mắt thấy đầy cay đắng trong tám ngày kẹt thời tiết xấu phải nán lại Bắc Kinh, hằng ngày dạo xem quang cảnh cuộc “Đại cách mạng văn hóa vô sản” với những vạn tiểu tướng hồng vệ binh biểu tình vung sách đỏ, chia năm sáu phe đặt loa chửi nhau, đánh nhau giành chính quyền.

Anh cho biết thêm về Sáu Cam:

- Hội đồng giáo sư đánh giá luận án của hắn ta vào loại xuất sắc, đề nghị cấp học bổng loại ưu đãi để nghiên cứu tiếp ba hay bốn năm nữa, mở rộng đề tài ra cả khu vực Đông Nan Á. Luận án viết bằng tiếng Nga, anh không đọc được, nhưng các bạn cùng khoa với hắn khen đứt lưỡi. Hắn sục được đủ tư liệu để xác định rằng Việt Nam mình là trọng điểm giao lưu văn hóa từ cận Đông đến Viễn Đông, từ Bắc Á đến Nam Á. Nghiên cứu văn học Việt Nam...

Còi nhà hát chợt dội lên báo động, thay cho tiếng loa phóng thanh từ nãy vẫn nhắc không ngớt: “Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội sáu mươi ki-lô-mét. Các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu... Đồng bào chú ý...”. Còi báo động chỉ réo gọi khi máy bay Mỹ đến cách ba chục cây số, vài phút sau đã nghe thấy tiếng pháo cao xạ nổ từ xa đến gần, kèm tiếng rít siêu âm, bom gầm, những chàng súng máy nặng nhẹ của tự vệ điểm lác đác tiếng “pình” cao tít của tên lửa SAM. Máy bay Mỹ qua khỏi thủ đô, súng ngừng bắn, những mảnh đạn cao xạ vẫn rơi “xoảng, chát, bịch” tùy khi chạm mái nhà, đường nhựa hay đất thịt.

Cơ quan anh Tùng thiếu chỗ đào hầm, phải moi đất xây hầm ngay trong nhà, chừa một ngách hầm thông ra vỉa hè phòng khi nhà sụp. Anh Tùng theo ngách hầm ấy lên mặt đất, nghe những tiếng lụp bụp và nhìn những chớp lửa nhỏ bật liên tiếp phía Bờ Hồ, “hừ” một tiếng trong mũi:

- Khoan hẵng lên nhá. Nó ném bom bi nổ chậm mạn Hồ nhiều đấy, chưa biết phố ta có bị không, đường tối quá.

Như để trả lời Tùng, loa phóng thanh báo ngay, hối hả: “Khu vực chung quanh Bò Hồ lên phía Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Ngang bị rải bom bi nổ chậm. Đồng bào đi đường cần tránh các phố này, đồng bào trong khu vực có bom bi cần trú ẩn nơi an toàn, chờ các lực lượng vũ trang và tự vệ khu phố đang phá bom bi. Đồng bào trong khu vực Bờ Hồ, đầu Hàng Bông, dọc Hàng Đào, Hàng Ngang chú ý nghe các thông báo tiếp theo...”

Còi báo yên nổi. Người trong co quan ùn ùn ra khỏi hầm, xôn xao:

- Cứ mỗi chầu thế này, đem xử bắn vài thằng giặc lái!

- Vướng cái công ước quốc tế...

- Vớ vẩn. Chiến tranh không tuyên bố, chúng nó chỉ được coi như kẻ cướp bị bắt quả tang.

- Để rồi xem, chợ Đồng Xuân hay bệnh viện Bạch Mai biến thành mục tiêu quân sự tất.

- Mới tan xác sáu chiếc hôm qua mà cứ đâm đầu vào lửa...

Lan theo anh Tùng lên buồng. Mới hơn tám giờ, và Lan muốn nghe tiếp về anh Cam. Tùng rót nước chè còn ấm, bày ra một đĩa kẹo mềm sô-cô-la pha sữa, hai quả táo tây vỏ hồng pha vàng, cà rà:

- Chuyện của anh Cam chưa hết đâu. Anh đến sứ quán ta, họ bảo đã điện về nước xin ý kiến Bộ giáo dục ta, chứ phía Liên Xô đồng ý vẫn chưa đủ. Anh về nước, đến ngay Bộ hỏi xem. Ông vụ trưởng nắm quyền tuyển sinh và lưu học sinh là ông gì... à, Mậu, Trà Đình Mậu, nghe bảo người cùng huyện cùng xã gì đấy với Sáu Cam, dân Quảng Nam. Mấy cậu quen ở bộ kháo nhau ông ta đã cao tuổi, tóc bạc gần hết, nhưng nhất định đòi “phục vụ cách mạng đến hơi thở cuối cùng”. Chắc phải nâng lương lên ngang thứ trưởng cụ mới chịu hạ cố về hưu. Nay thì cụ mỗi năm đi ngao du nước ngoài ba bốn chuyến bằng hộ chiếu đỏ, hàng đóng thùng gửi về liên tiếp, hàng đắt giá cụ tự áp tải về nước, khỏi bị hải quan soát. Hội nghị ư, tìm hiểu tình hình lưu học sinh ư, trao đổi văn hóa ư, vô số lý do. Tay vụ phó quen anh, chỉ nói lừng khừng là trường hợp của Cam đang được xét. Anh xộc theo tay thứ trưởng, tiến sĩ tâm lý giáo đục, rất giỏi chuyên môn nhưng vô cùng lóng ngóng về lãnh đạo, quản lý, đang ngoài Đảng nên rất gờm cái thâm niên Đảng của cụ Mậu... Ô này, Lan ăn đi chứ. Phần hai cháu anh để dành rồi... Cam nó băn khoăn mãi vì vợ con phải sống chắt bóp, mà nó vét hết tiền tiết kiệm đi săn tài liệu. Quà cho vợ con cũng chỉ có mấy gói mì chính, dăm thước vải xoàng, ít thuốc tây. Nó đưa anh xem cả xấp vé xe lửa với máy bay. Khiếp, nó sục vùng Trung Á Liên Xô đến sạch túi. Uz-bê-ki-xtan, A-zéc-bai-gian, Ka-zắc-xtan... đếm trả hết đâu. Lắm hôm chỉ nhá khúc bánh mì kèm dưa hấu chấm muối trừ bữa. Anh sống với nó nhiều năm, đến nay xin phục sát đất. Thua nó xa lắm rồi.

Lan uống từng câu của anh chính trị viên chuyên ngành, thỉnh thoảng cán một miếng táo không gọt vỏ, theo kiểu ăn của đất nước xa vời bên kia.

- Đến đâu rồi nhỉ... À, tay Mậu. May là lão vừa chở hàng về nước mới gặp được. Lão vồ vập ông thứ trưởng, kể khổ hàng tràng, lại hẹn cặp anh hôm sau. Biết lão nói gì không? Ờ, vô cùng lịch thiệp nhá, vì anh cùng xuất hiện với ông thứ trưởng bạn cũ mà. Chắc lão đã ăn tiền xếp chỗ cho ai dấy, nặn ra đủ thứ lý do lý trấu. Nào miền Nam đang cần nhân tài. Nào cả nước đang chiến đấu, bỏ nước đi lâu về mất gốc. Nào vô số đồng chí suốt đời hiến thân cho cách mạng mà chưa được đi thăm các nước bạn lần nào, phải nhường nhịn một tí. Nào anh Phan Cam học kém, người khác chỉ ba năm là nhận bằng phó tiến sĩ, anh ấy lưu ban thêm một năm nữa, bớt xén vào tiêu chuẩn các nghiên cứu sinh khác... Anh bấm bụng nghe, đến đấy hết kiên nhẫn Lan ạ. “Có phải người báo cáo là con trai đồng chí, thi trượt đại học, luồn lọt thế nào được vào sứ quan ta ở Liên Xô, lên giọng chê khen những người đủ sức dạy cả bố con đồng chí?”

Úi chà, lão đỏ mặt như gà chọi, muốn lao vào tống cựa nhọn đúng yết hầu anh. Thế là lão nén được cơn giận mới tài, có lẽ lão đoán anh chàng trung niên xấc xược này không thuộc loại xun xoe “dạ thưa bác” vây quanh lão, đi với thứ trưởng ắt cũng cỡ “em em thứ trưởng”, mới ngoi lên nên chưa biết mặt biết tên. Lão đấu dịu, hứa sẽ điều tra lại. Đảng ta rất coi trọng nhân tài. Anh chơi luôn một đòn trâu chọi ngoặc sừng: “Rất tiếc, những người được giao chăm sóc nhân tài lại chỉ biết tiền tài. Mặt lão từ đỏ hóa xanh, trông vui lạ!

Lan bưng miệng cười. Lan chưa gặp ông Mậu lần nào, nhưng nghe anh Cam nói loáng thoáng rằng lão Mậu đã từng bày mưu hãm hại anh Cả Chanh, họp đồng hương mà gặp lão thì né càng xa càng tốt.

Anh Tùng chợt nhận ra hỏi dồn:

- Tán gẫu mãi, anh quên... Sao Lan xanh ghê thế?

- Thì cũng như hồi đánh Tây, biến đêm thành ngày. Em làm nghề phụ mổ cấp cứu, Mỹ nó đánh cả ngày lẫn đêm, thành ra hăm bốn tiếng đều là ngày cả... Thế anh Cam nghĩ sao hả anh?

- Nó là thằng khùng! Thằng đa thư loạn tâm!

- Ơ...

- Người ta đánh giá nó ngang tầm tiến sĩ ngữ văn phương Đông. Nó đọc, viết, nói thạo tiếng Nga, Pháp, Anh, di dịch hộ cho đoàn của anh cứ rong róc, phiên dịch chuyên nghiệp cũng chào thua. Nó đang học thêm cổ văn Hán, chữ nôm ta. Nhưng nó cứ nhất quyết đòi trở về miền Nam, không dài cũng ngắn. Anh vặn nó: Mày về Nam làm cái thớ gì? Chống gậy mò đêm làm phóng viên, báo khu báo tỉnh mỗi tháng ra một tờ bốn trang giấy manh, hay gửi bài ra miền Bắc phát thanh chậm ba bốn tháng? Nó vặn lại anh: tôi nghiên cứu văn học dân gian, từ năm 45 đến nay cả nước đẻ ra vô vàn văn học dân gian chống Pháp chống Mỹ, đã có ai lăn lộn đi sưu tầm nghiên cứu chưa? Anh thử nêu tên vài người xem? Thằng quỷ sứ, nó dồn anh sát chân tường vẫn chưa tha: anh xem đấy, thứ văn học dân gian đẻ ra trong những năm sau Đại chiến Hai ở thế giới thứ ba lâu nay bị coi thường. Tôi chưa đi được nhiều, nhưng cũng bám đuôi mấy đoàn đi An-giê-ri, Li-băng, Xy-ri, Ấn-độ, Thái-lan, mỗi nơi vài tuần, riêng Cu-ba được một tháng. Nước mình chống đế quốc mấy chục năm ròng, mới xuất bản được mấy cuốn văn học dân gian thời phong kiến hay Tây mới sang chiếm nước, ai sẽ là người nối tiếp từ Xô-viết Nghệ Tĩnh đến nay?

Lan hồi hộp:

- Vậy đó... ảnh muốn về không anh Tùng?

- Chắc nó về. Có thể để vào miền Nam. Hay là xong cái phó tiến sĩ, về nước để bám sâu thực tế hơn, viết luận án tiến sĩ có chất hơn. Cũng khó tránh cái khoản thương vợ nhớ con, khao khát muốn hiểu quê hương miền Nam thời chống Mỹ. Gì thì gì, anh tin nó là đứa có đức có tài đặc biệt Lan ạ.

- Còn anh Cam cứ khen anh hoài hoài...

- Nó khen về phẩm chất, anh nhận. Nhưng tài năng thì xin bái phục nó từ khuya, nó thông minh đến phát sợ. Đọc lý lịch nó, Đảng ủy chẳng mấy ai tin hồi bé nó đi ở mướn, chăn ngựa, có lúc túng đói phải ăn xin. Cứ tưởng nó kiếm thêm cái điểm thành phần cốt cán, để đề bạt. Nó cáu sườn, đánh máy hơn chục lá thư nhờ cán bộ quen xác nhận thành phần. Anh ở Đảng ủy nhà trường ngay khi đang học, nhận được bảy thư trả lời. Anh Ông Ích Quý, ủy viên dự khuyết Bộ chính trị, với chị Sáu Lễ, phó chủ tịch ủy ban trung ương Hội liên hiệp phụ nữ, đều xác nhận nó khai đúng... Thế đấy, ta đề cao công nông, nhưng chỉ hình dung công là phu khuân vác, nông là người cày i tờ, mãi đến nay vẫn không tưởng tượng nổi công nông có thể ngoi tới trình độ quốc tế!

Loa phóng thanh ngoài phố lại dội lên với thông báo mới: lực lượng vũ trang đã thu phá được số bom bi nổ chậm trên đường phố và vỉa hè khu vực đông dân (kèm một loạt tên đường phố). Đồng bào và các xe qua lại các khu vực ấy có thể lưu thông bình thường. Đồng bào cư trú trong các khu vực ấy cần tránh đi vào những chỗ khuất tối ở các góc nhà, góc vườn, cần đợi đến sáng mai... Tiếp theo là một giọng nam ồm ồm cho biết máy bay Mỹ vừa ném xuống khu đông dân Hà Nội tám thùng bom CBU loại ba nghìn cân Anh, mỗi thùng chứa ba trăm quả bom nhỏ hình quả ổi hoặc quả dứa, quả nhỏ bắn ra ba trăm viên bi hay mảnh vụn tam giác, tổng cộng có bảy mươi hai vạn mảnh có thể gây sát thương trong một vùng đất hẹp, cần hết sức đề phòng...

- Còi báo yên rồi, Lan về đi, lát nữa lại ọ ọ ọ dọc đường, nhảy hầm tròn. Gửi tí cho hai cháu... Chắc có thư Sáu Cam trong gói.

Lan hối hả đạp xe về bệnh viện, không bị báo động giữa đường. Chỉ bị một lúc giật mình: Lan chưa hề hỏi thăm câu nào về vợ con anh Tùng đang sơ tán ở Thạch Thất. Lan chỉ nghĩ đến chồng con mình, tệ thật.

Gói quà của anh Cam lần này cũng chỉ tái bản các món cũ là mì chính, vải sợi bông các màu cho đàn bà trẻ con, kẹo cho các con, chỉ khác là thêm rất nhiều loại thuốc chống sốt rét, kháng sinh, khử trùng nước uống, cả bông băng cá nhân nữa. Anh quên rằng Lan là y sĩ ở bệnh viện giải phẫu đầu ngành miền Bắc! Lan cười một mình, tự dưng nóng bừng cả người, úp mặt trên mớ bông băng lẩm cẩm của chồng và bật lên nấc nhè nhẹ.

Thư của Cam vẫn theo lệ thường, một cho vợ, một cho hai con để thằng Nhứt đọc cho em nó nghe. Bạch Lan được một túi bóng nhựa nhiều màu để thổi thành con thỏ con ngỗng. Nhứt được một hộp mười hai bút chì mỡ, nó ham vẽ và thèm thứ ấy từ lâu. Tội nghiệp lớn lên nó mới hiểu là trẻ cùng mẹ khác cha với con Bạch Lan, nhưng động ai nhắc đến chuyện ấy là nó hét như phải bỏng và vung nắm đấm, hung hãn như bà Ất béo cũng bị nó dọa ném đá cho vỡ mặt ra.

Lan đã cắt dán tất cả tem phiếu vào một cuốn vở chia từng tháng cho khỏi quên. Lại cẩn thận mang theo xe đạp bốn năm hòn gạch bọc giấy đề tên mình, phòng khi đang xếp hàng rồng rắn bị báo động rã chạy vẫn giữ được chỗ. Mua suốt sáng xong được khoản gạo, ma-gi, dầu lửa, đến hai quầy bán đường và thịt bỗng sinh chuyện. Hai bà một già một trẻ dựng lên hai tấm bìa cứng viết cùng nét chữ: “Các ô phiếu đã cắt khỏi bìa không còn giá trị mua hàng, xin miễn hỏi”. Hỏi, họ không trả lời. Ai quy định thế? Cấp trên. Cấp trên là ai? Lên Sở mà kiện cáo, đừng lôi thôi.

Năm bảy cụ hưu trí đạp xe lên Sở. Nhưng còn lại vài chục thương binh và cán bộ công nhân trẻ kéo nhau ra một góc bàn tính mười phút, sau đó ùa vào hai quầy. Họ đẩy hai nhân viên vào buồng kho nhỏ mé sau quầy thịt, cài chốt bên ngoài, còn dọa nếu kêu la ồn ào sẽ bị trói và nhét giẻ trám mồm. Rồi khách hàng tự biến thành chủ, mỗi quầy hai người, một thu tiền và phiếu, một bán. Đường thì dễ, bao giấy đã sẵn, cân hai mặt chủ khách cùng xem, anh bán còn nhấc cân lên cho khách xem mặt đáy. Thịt lợn bán khó hơn, nhưng vài bà vừa lên tiếng đòi mua miếng ngon đã bị đám đông gắt om sòm, phải phân trần chữa thẹn. Lan mua suất của mình và hai con xong thì khách đã vãn, hai vị cửa quyền được ra khỏi kho, lẳng lặng đếm tiền đếm phiếu, sợ đến mức không dám làu bàu. Các anh bán thay buộc họ phải ký biên bản, và dọa:

- Báo đời các chị biết, còn dở trò trấn lột nữa là đi tù! Bốn chúng tôi ghi rõ họ tên và địa chỉ đây, cứ đưa ra tòa tự nhiên, cam đoan các chị sẽ vào nhà đá trước.

Cô thượng sĩ Mẹo hẹn sáng hôm sau ghé đón Lan quãng năm giờ, ra khỏi Hà Nội thật sớm trước khi tháo cầu phao qua sông Hồng. Nhưng ngay tối ấy Mẹo cuốc bộ đến buồng Lan trong lớp vỏ “nàng mếu”, vừa mở miệng đã khóc hu hu.

Kho dược quân đội dời khỏi Hà Nội khoảng ba chục cây số, phải qua phà. Bốn chiếc F.4C ào đến đánh trúng phà giữa sông, phà chìm cùng hai xe tải, hai xe con. Chú dược sĩ bơi kém chết đuối. Mẹo vớ được tấm ván sàn phà, thoát chết, cậu lái xe được đò cứu cũng thoát. Mẹo mất sạch ba lô, may còn giữ được cái túi dết đeo chéo hông, đựng giấy tờ tiền nong và cây súng ngắn. Cục quân y đã gọi điện về đơn vị, đang hối hả tìm cách vớt xác chú dược sĩ, lôi xe chìm lên, cho nhận thuốc, cấp lại quân trang, mời gia đình đến bàn lễ tang, lu bù việc.

- Em về Hà Nội để gọi điện thoại cho thím ấy, quay số đến cùn ngón tay mới thông dây đến chỗ sơ tán. Chả em về Hà Nội hay đến gặp thím, đưa thư quà của chú. Em sợ chưa kịp nói đã bị cắt, phải độp ngay từ đầu: “Chú hy sinh rồi thím ạ”. Máy rè quá, nghe tiếng những ba bốn người chen vào. Em hét to: “Cháu là Mẹo đây, cùng đi lĩnh thuốc với chú, bị máy bay bắn, chú chết rồi, chết rồi. Thím về cục quân y ngay, Cục quân y...” Tới đấy bỗng cạch một tiếng, cúp. Cháu đoán quân bưu không cho nói dài, sau lại giật mình: hay là thím lên cơn sốc đau tim, ngất luôn? Thím làm biên tập viên ở báo Phụ nữ, viết nhiều bài hay lắm...

Hoàng Lan bùi ngùi vuốt mái tóc gội chưa sạch bùn, còn rin rít của Mẹo:

- Mày mặc đồ của ai mà rộng thênh như bao tải?

- Quân phục em chưa khô, các chị cho mượn tạm...

- Số mày đen như mực. Hồng nhan bạc mệnh... à không bạc phước đúng hơn.

Lan soạn áo quần chia cho Mẹo. Đồ mới đưa cả lên chỗ sơ tán rồi, chỉ còn các thứ cũ, may sao Mẹo rất cần đồ lót phụ nữ, mà thứ ấy anh Cam gửi về nhiều.

Hai chị em lúi húi buộc tất cả các loại hàng vào xe đạp của Lan, nửa đêm mới xong, vừa lúc trời đổ mưa mỗi lúc một to. Gay go rồi. Lan chỉ có một áo mưa, che người khô thì hàng tiếp tế ướt cả, những hơn bốn chục cân chứ ít đâu. Đành chịu người ướt hàng khô vậy, mượn đâu ra áo mưa lúc này.

Chị em chia tay nhau lúc tờ mờ đất ở phố Hàng Bông. Dù Lan đã cấm, Mẹo vẫn sụt sùi khi quay đi.

Vượt qua sáu chục cây số mất mười một tiếng. Cầu phao với phà ắt là chậm, khỏi nói. Lan cố đạp xe bù khi gập mỗi quãng đường kha khá, nhưng cái xe trở chứng, không chịu chở cả người lẫn hàng, chơi một phát nổ săm sau, một lần tuột cóc. Ghé chữa ở các lều dựng tạm dọc đường, đành chịu đưa đầu vào máy chém. Rời đường nhựa sang đường đá còn đỡ, đến bảy cây số đường đất cuối cùng mới khiếp. Nước mưa đọng ngập những rãnh rất sâu rộng của xe tải chở nặng, Lan dắt xe đạp đi luồn lách đến mấy cũng trượt ngã xuống hố bùn. Càng khiếp khi gặp xe to xuôi ngược, hắt bùn tóe sang hai bên như xe phun nước rửa đường ở Hà Nội. Gặp chỗ có bờ ruộng hay gò khoai sắn để đẩy xe đạp vào tránh vòi bùn là may, nếu chung quanh toàn ruộng nước thì chỉ ghìm xe đạp chịu trận, úp nón che mặt cho khỏi mù. Cánh lái xe được nhiều người tử tế, chạy chậm lại và né sang bên đường cho Lan đỡ bị tạt, nhưng không ai cho đi nhờ dù xe tải trống rỗng thùng sau, có lẽ vì Lan và mọi thứ đều đẫm bùn. Cũng có vài kẻ mất dạy nhấn ga cho nhẩy chồm chồm, sạt qua vai Lan, tưới bùn, cười hô hố và ném lại mấy câu ghẹo tục tĩu. Một xe thông tin quân đội hầu hết là nữ bị ngáng đường trêu trọc suốt mười lăm cây số, cô trung úy tức điên đã xổ hết một băng AK bắn vỡ hai bánh sau, các cô khác cũng chĩa súng tua tủa vào chiếc xe to nằm bẹp: “Chúng tao không bắn xe nhà nước, mà bắn lũ giặc lái. Biển số đây, ghi kẻo quên!”. Các cô cười lăn ra khi kể lại với Lan.

Còn một cây số cuối cùng, chân tay Lan tê dại đi, mắt nhìn một hóa hai ba. Bánh xe cũng liệt không chịu quay nữa, bùn dẻo nhét đầy giữa lốp với chắn bùn, đẩy một quãng ngắn lại phải luồn que vào xoi, gạt.

Cô Tuyền đang cho thằng Nhứt với Bạch Lan ăn tối, tròn mắt nhìn khối bùn từa tựa hình người đang lê lết qua sân. Dựng được cái xe vào thềm, Lan hất nón, ngồi dựa cây cột hàng hiên, thở như thổi bễ trong khi Tuyền và các con hỏi dồn không ngớt. Lan từ từ ngả người trên hiên nhà đất nện, thoáng nghĩ: “May quá, mình không ngất dọc đường...”. Lan lịm hẳn trong khi Tuyền réo gọi các bạn ở các nhà chung quanh.

- Dì hai ơi con khát cháy họng!

- Thằng Rốt lén uống nước khe đấy o Thùy, con nói, nó giơ trái đấm...

- Con lết không nổi, hu hu hu... Con nằm đây bác sĩ à.

Chị Hai Thùy cuống cuồng chạy lên xuống dọc hàng các cháu trai gái từ chín đến mười ba tuổi.

Chị Bảy Xíu, sau năm năm tù ở khám Chí Hòa, cùng đi để giúp các cháu nhưng quá kiệt sức và bỡ ngỡ, chẳng giúp được gì. Cậu y tá chưa vợ tự coi mình là trưởng đoàn, đến mỗi trạm giao liên chỉ đưa giấy tờ, nhận gạo và thức ăn, xong về tắm giặt và treo võng nằm khểnh nghe đài, chờ cơm. Chung quy, mỗi tối lăn vào bếp từ khi trạm nổi còi cho đốt lửa đến khuya chỉ có Thùy, con Thanh Bình, hai cháu trai lớn nhất trong đó có một cháu người Ê-đê rất tài kiếm rau và củi. Nấu một bữa có canh và nước ngấy hương cho hăm mốt người lớn bé trong đoàn ăn xong, Thùy và những cháu giúp sức còn phải nấu cơm nắm, đun nước đổ đầy các ống tre, pha nước muối rửa chân bôi thuốc cho các cháu nhỏ nhất. Dạo này thương binh ra quá nhiều, giao liên mệt bở hơi tai, chỉ giúp các cháu được một dãy sạp ngủ trong nhà khách và cho ít dây khoai, mấy củ sắn.

Ban dân y Khu 5 hứa cắn cưa:

- Mấy chị mấy cháu đi cực ăn khổ mấy ngày đầu thôi, là khi còn trên đường dây Giải phóng. Ấy, là đường dây của khu với các tỉnh từ biển lên núi. Dốc Quảng Nam, gan cộng sản mà, mình thua chi ai. Lên tới đường dây xã hội chủ nghĩa coi như lên tiên. Đường Trường Sơn thuộc Bộ tư lệnh, bây giờ được cái bí danh là đường Hồ Chí Minh, bí mật nghen. Đường của Bác Hồ nhứt định phải số dách rồi. Xe hơi chạy từng đoàn vài trăm chiếc, tàu bay Mỹ hay tới đâu bắn rụng tới đó, bộ đội với khách đi đường an toàn gạo miền Bắc, đồ hộp quốc tế, nấu bếp Hoàng Cầm cả ngày đêm. Trạm nghỉ thì có chiếu phim, văn công, mệt nhẹ có bác sĩ ở trạm, bệnh nặng đưa vô bệnh viện...

Không ai biết người nói là một anh y sĩ từ Đà Nẵng lên, cần cù và tốt bụng, so với các bác sĩ từ Bắc vào thì thạo hơn nhiều về các loại thuốc Âu Mỹ và Sài Gòn, lại biết tiếng Anh đủ đọc toa thuốc. Anh chỉ có một chỗ hổng trong chuyện làm việc này: anh chưa hề đi lần nào trên các đường dây Giải phóng và Xã hội chủ nghĩa, tất cả đều nghe nói lại, và anh lọc lấy cái phần mê ly nhất để bày trên mâm!

Nơi hẹn “góp quân” cho hai tỉnh Quảng nam và Quảng Ngãi là bệnh xá Quảng Nam, đợt đầu cho đi ba mươi sáu cháu, lên đường Trường Sơn sẽ ghép thêm các cháu từ Tây Nguyên ra.

Lính với nhau, buông một tiếng “tự lực thôi” là sự thường. Nhưng đưa trẻ ra Bắc, suốt mấy tháng leo núi dưới bom đạn thì không ai dám hững hờ. Điện bay tới tấp từ Ban giao thông vận tải của quân khu và khu ủy, điện của Bộ tư lệnh đường 559 cho các binh trạm đến trước các cháu khá lâu, còn thêm điện hỏi, điện nhắc lệnh, điện hướng dẫn bổ sung. Rốt cuộc, các cháu Quảng Ngãi vướng càn không ra kịp, lệnh trên buộc mười tám cháu Quảng Nam phải đi gấp trước khi địch càn lớn, số còn lại sẽ cho đi tiếp thành nhiều đoàn.

Sự thật diễn ra trái ngược với lời anh y sĩ. Trong bảy ngày trên đường dây Quảng Nam, các cháu quả leo nhiều dốc thật nhưng dưới rừng già mát rượi, nghỉ nhiều, ăn tươi và căng rốn nhờ giao liên các trạm xúm chăm lo, thêm bà con dân tộc nghe nói “con nít của Đảng” cùng kéo tới thăm và cho gà, trứng, rau, thịt rừng thịt nước thịt bay. Lên tới đường 559 mới vỡ mộng.

Những trăm chiếc ô-tô có đấy nhưng chạy đường riêng, chiến sĩ lái mỗi đêm một làn thi gan thi tài, liều mạng với không quân Mỹ, qua khỏi mỗi cung đường mới biết mình còn sống. Gạo có thật đấy, nhưng vào đến đây chỉ đủ mỗi ngày hai vắt cơm bằng quả cam, không thức độn. Mỗi chuyến gạo vào đến đây còn được một nửa coi như thắng trận, được một phần ba là trung bình. Đồ hộp “quốc tế” cũng có, nhưng chỉ là một hộp vài lạng thịt bò hầm trút vào nồi canh rau tàu hay cho một trung đội ăn. Các rẫy và vườn rau tự túc chết rụi dưới những làn chất độc hóa học rải đi rải lại, cá suối cũng chết. Đoàn trẻ em chống gậy lê lết dưới những rừng trụi lá, nắng cháy lưng, chỉ được múc nước uống ở các giếng đào cách suối mươi thước trở lên có nắp đậy bằng phên liếp phủ ni-lông, vào mùa khô này chỉ còn nước xâm xấp.

Cậu y tá không chịu nổi bước đi rùa bò của đàn bà trẻ con, bứt lên trước. Giao liên khiêng thương binh phải chạy núp xúp, thương binh nhẹ tự đi được cũng ghép thành cụm. Lác đác chỉ còn năm bảy anh thương binh tạm lành vết thương được gửi ra an dưỡng cùng đi với các em cho vui, họ đều yếu và trần trụi cả.

Thùy và chị Xíu cố dỗ các cháu đi một đoạn nữa, một khúc nữa. Xem những cành lá của giao liên bỏ chặn các mối đường rẽ Thùy thấy đã héo: người khỏe đi trước đã lâu rồi, hẳn lúc này đã treo võng và tắm giặt ở bãi khách, nhà khách.

Nửa giờ sau, Thùy phải cõng trên lưng một cháu lên chín, bị bỏng na-pan mới tạm lành. Chị rướn chân bước gượng từng bước vào đám mây xám nâu đang chập chờn trước mặt, chen những bong bóng đỏ nhảy múa khi xa khi gần. “Đừng vấp, đừng ngã. Ngã là sẩy thai, làm khổ lây mọi người”. Đằng trước chị Xúi và các cháu khỏe đang dìu mấy đứa nhỏ nhất đi thất thểu và khóc thút thít. Trời xế trưa không một gợn mây, mặt đất không một bóng lá che, nắng lửa cứ tuôn xói qua những cây trụi đen vì chất độc, dựng như bó chổi đã đứt dây buộc.

Và điều kỳ diệu bỗng xẩy ra.

Qua hết quãng đồi nóng như lửa táp vào mặt, đoàn trẻ em bước vào một khu rừng già mát rượi, với nhũng cây sấu xòe rộng tán bên trên và duỗi những bạnh vè to dài ra khắp các hướng. Đi sâu vào vài chục thước nữa, thấy võng buộc la liệt cùng ba-lô, súng, thùng tôn hòm gỗ. Các anh bộ đội ùa ra đón:

- Úi giời, thiếu nhi các cậu ơi!

- Lần đầu nhé, lần đầu gặp trẻ em Trường Sơn!

- Chào các chị. Đưa các cháu đi cực nhọc thế? À quên, các chị thở đã, quạt đã. Mồm mũi tai đang thi nhau kìa...

Cháu bị na-pan, mất cha mẹ trong cùng một quả bom xăng, rên lên bằng tiếng Cù-tu: “Đác... đâng cu um đác...” (Nước... cho tôi uống nước...).

Thùy nhìn quanh, thấy cái giếng mới đào trên bãi cát, bên bờ một lòng khe cạn nhưng chưa khô kiệt, phủ đầy những cánh bướm trắng nở và khép. Chị rụt rè hỏi xin nước và thuốc khử trùng. Anh em trố mắt, hỏi dồn, Thùy chỉ nói là y tá mang thuốc đã đi trước, lệnh y tế không cho uống nước lã.

Máy anh lớn tuổi hơn bấm nhau ra một góc, thì thào, trong khi Thùy dỗ các cháu nghỉ và quạt cho ráo mồ hôi rồi hãy uống. Bỗng dưng, như trong trò ảo thuật, các anh khệ nệ bưng ra hai nồi nhôm to tướng, xách thêm một bọc nhựa đi mưa cồm cộm những góc cạnh:

- Các cháu có ăng-gô không chị?

Không có, mỗi cháu chỉ có một cái chén sành nhỏ, một thìa vỏ na-pan, một đôi đũa. Các anh lắc đầu: “Bát tí xíu, một hớp là hết... Trung Một, cho mượn nắp gô nhé”. Năm phút sau, trước mặt mỗi cháu đã bày một nắp gô đầy sữa bột pha đường và một phong lương khô bọc giấy bóng. Anh chỉ huy tóc hoa râm còn xuýt xoa: “Chúng tôi đi đường trường, chất tươi cạn ráo cả. Tội nghiệp các cháu. Các chị cần gì thêm cứ nói thật tình, chúng tôi có thì biếu, không thì xin lỗi...”.

Phát đủ mỗi cháu một nắp gô sữa-pha đặc và nhiều đường - vẫn còn gần nửa soong. Các anh phải kêu gọi các cháu uống thêm cho hết. Chỉ có các cháu nhỏ nhất chìa nắp nô ra, tay ngập ngùng và mắt liếc các anh chị tổ trưởng, những vị chỉ huy còn nghiêm khắc hơn dì Thùy, dì Xíu.

- Chúng tôi đi cả đại đội, vượt trạm, nghỉ đêm ở đây, bãi khách chen chúc ồn ào mà dễ ăn bom. Từ đây tới trạm còn nửa giờ nữa... ừ nhỉ... các cháu đi chậm, hẳn phải một giờ. Nhiều đồng chí xung phong cõng các cháu đến trạm rồi quay lại, các chị xem... Lúc mới gặp, thấy các chị đã phải cõng và dìu nhiều cháu, chúng tôi ứa nước mắt. Chúng tôi đi xa gùi nặng quen rồi, đừng ngại... Mỗi cháu hơn chục cân chứ mấy, chưa bằng nửa cái ba-lô...

Không cháu nào chịu vượt Trường Sơn trên lưng các chú bộ đội. Nghỉ khỏe, hết khát, thêm đường sữa và lương khô tỉnh người, các cháu đều khoanh tay chào các chú rất ngoan, đi tiếp.

Nơi đến chiều hôm ấy là một trạm rất to, hỏi ra mới biết là doanh trại của một binh trạm cấp trung đoàn. Cô giao liên đón đoàn trẻ em rất niềm nở, đưa vào nhà khách dành riêng cho cán bộ trung cao cấp, buộc mọi người phải nghỉ ngơi tắm rửa, chỉ cho riêng Thùy xuống nhà bếp binh trạm để hướng dẫn cách nấu cho chị em Thanh niên xung phong, họ chưa quen khẩu vị của trẻ em. Thùy rất muốn cho các cháu ăn cháo với thịt chà bông cho khỏe, đến đêm hẵng ăn cơm. Nhưng biết tìm đâu ra cậu y tá của đoàn với hai ba-lô những của ngon được cấp, luôn đi riêng và ở riêng trong bấy nhiêu bãi khách và nhà khách rải khắp một khu rừng?

Chị bếp trưởng vừa mở các hộp thịt để cho vào cháo vừa phân trần:

- Đồng chí tiền trạm nhận gạo với thức ăn mang xuống, em thấy ít quá, chạy lên kiện ông quản trị. Ông ấy chìa phiếu ra: cấp mười một hộp thịt, hai lạng mì chính cánh, ba hộp dưa chuột muối loại một cân, một lọ nước mắm kem bốn lạng, sau thêm ba cân cá khô nữa, là suất hăm bốn tiếng của hai mươi mốt thương binh nặng. Gạo ngày bảy lạng, mì sợi một lạng. Đường sữa còn đợi quân y khám sức khỏe và cho chế độ. Các cô chịu khó kiếm cho các cháu nhiều rau, ăn đỡ háo... Thế mà chúng em chỉ nhận được chừng hai phần ba tiêu chuẩn thôi. Sanh không thủng, cá đi đằng nào? Mà thôi, chị hướng dẫn thế được rồi, xuống suối tắm giặt đi, trông chị lử cò bợ thảm hại!

Có hai anh cỡ trung niên vào bếp từ nãy, đứng trong góc bếp sau đống củi, nghe hết câu chuyện. Anh mặc quân phục cau mày gãi cằm, không nói. Anh mặc bà ba xám, đeo súng ngắn dưới vạt áo, bước tới:

- Chị Thùy nhớ tôi không?

Thùy ngẩn người, không nhớ, vẫn nói đỡ mếch lòng:

- Dạ, đi mệt, vô chỗ khói... anh để cho lần hồi…

- Tám Thâu đây mà. Phó ban dân y khu ủy Năm, hay tới làm việc với ông Chanh, gặp chị vài lần ở bệnh xá tỉnh. Tôi đi bàn chuyện thuốc men với quân y 559. Còn đây là trung tá Lẫm, binh trạm trưởng. Tụi tôi gặp chị Xíu với các cháu rồi, biết thêm nhiều chuyện ly kỳ. Ta về chỗ nhà khách bàn thêm đi chị.

Cũng vừa lúc ấy cháu Bình vào bếp với cái ăn-gô mới tinh và rỗng:

- Gặp chú Tráng rồi má ơi. Chú tới chỗ tụi con, biểu nấu thứ gì thì đổ vô đây, xách tới chỗ chú. Chú cột tăng võng xa lắm, gần bên khe nước to, đang nghe đài.

Thùy không nén nổi giọng chua chát khi đáp lời các anh:

- Chú Tráng là ông y tá đi theo giúp các cháu đó mấy anh.

- Tụi tôi đã nghe sơ qua. Tối nay chị với các cháu nghỉ hẳn đi, chừng tám giờ tối cho các cháu ăn cơm. Các cô ở đây có bếp Hoàng Cầm, nấu suốt ngày đêm khỏi lo tàu bay. Mai nghỉ một ngày, cần thì hai ngày. Sao đó, cô trưởng ban khói lửa?

Cô bếp trưởng nháy Thùy cười tươi:

- Nghỉ một tháng cho lại sức chứ chú. Chúng cháu những ba chục cái sẵn sàng rồi mà!

Các cháu ăn cháo thịt lúc năm giờ chiều, lăn ra sạp nằm thiêm thiếp. Nhưng hai anh thủ trưởng bám theo cháu Thanh Bình đến biệt thự của anh y tá. Tên hợp với người, anh ta to khỏe hơn mức đỏ hồng. Dưới võng anh đặt tới hai ba-lô con cóc, một bao lưng may bằng vải phủ nhựa của pông-sô, một túi dết căng phồng. Cháu Bình xách ăng-gô cháo đến, bị chê ngay, phải phân trần là còn bữa cơm ăn sau vì các cháu quá mệt và khát.

- Thôi được, mày để đấy. Chốc nữa đem cơm thì mượn gô của trạm cũng được.

Hai anh cán bộ lặng đi mươi phút, khi quay lại đã thấy cậu Tráng đang xé nhai một đùi gà luộc, bên cạnh là hộp thịt bò hầm mở nắp và nửa bát thịt chà bông.

- Hỏi gì?

- Báo cáo đồng chí, chúng tôi là đoàn từ trong ra, hết thuốc, nghe bảo đồng chí thuộc ngành y tế, nhờ đồng chí giúp cho ít thuốc sốt rét, cảm cúm...

- Mấy cha đem thuốc đổi gà đổi sắn dọc đường chứ gì? Tôi cũng ở miền Nam đau thương gian khổ ra, còn định bóc lột nữa à? Lương tâm để đâu, hở?

Tám giờ tối, Thùy và Xíu đánh thức các cháu dậy ăn cơm. Xốc lên lại vật xuống, gật gà mãi, nhưng khi hít mùi cơm nóng và nước mắm chưng thì tỉnh khá nhanh, ăn sạch nồi. Các cô chú trong nhà khách còn trút thêm lắm của ngon mang từ Bắc vào, tranh giúp các chị bóp chân bằng nước muối nóng và bôi thuốc đỏ cho các cháu. Ngoài ra kia, cách độ năm cây số, các loại máy bay đánh đêm vẫn gầm gào không ngớt tiếng, chớp đèn chụp ảnh loe lóe, xổ từng tràng trọng liên dai như trâu đái, giội bom từng đợt sấm rền xuống các đoàn xe tải. Thưa thớt từng lúc thấy phụt lên những tràng súng máy phòng không của ta, vạch chuỗi đóm lửa chấm chấm vọt lên trời, không dài mấy, chỉ đủ xua máy bay né bớt chỗ ngầm hay cua trọng điểm, che đỡ cho những nhóm xe bị ùn tắc.

Đêm ấy Thùy thức rất khuya, nhiều lần bước ra sân xem cảnh đánh Mỹ, nghĩ đến các anh lái xe mà thương buốt ruột.

Hồi ở Linh Lâm, chị gặp lác đác những cậu trẻ nói trọ trẹ như dân Bắc di cư, tự xưng là “bộ đội Quảng Trị”. Lên tổ may mặc, rồi bệnh xá tỉnh, Thùy dần dà nhận ra lính miền Bắc vào ngày càng nhiều, quân Nam tiến lần hai đi sau lần một tới hai mươi năm. Qua giọng nói và những tiếng lóng rất lạ tai của thương bệnh binh trêu nhau. Thùy mới hiểu tỉnh nào được gọi là cá gỗ, là máy cháo, là miền chè cọ, là bồ than nhẻm. Một chút nét riêng mà Thùy nhận ra là bộ đội ngoài vào học cao hơn rất nhiều so với anh chị em từ vùng giải phóng rút lên. Họ lóng ngóng khi gửi mua mì chính, cơ sở đồng bằng chỉ tìm thấy mì sống, mì chay ông Phật. Họ không ăn được mắm nục nguyên con của Nam-Ngãi, tới bữa chỉ nhấm tí muối. Ấy là chưa nói đến các món bà con Thượng dành cho khách quý, như chuột vùi tro, phân non của các giống thú ăn cỏ, thịt rùa, rắn, khỉ, dơi cụ...

- Chị Hai ơi, cho chúng em tập mỗi ngày tí chút thôi!

Chị Hai Thùy được điều về nắm bếp bệnh xá quân dân y tỉnh hơn nửa năm. So với chỗ cụm hậu cần cũ (may vá, chế thuốc nam, giữ kho thóc) thì bệnh xá ở xa cơ quan anh Chanh hơn, leo núi sáu tiếng mới tới. Các bộ phận đông người qua lại như trạm giao liên, xưởng sửa chữa võ khí đúc thuốc nổ, kho tiếp phẩm đều phải đặt xa các cơ quan mật như thế.

Chỉ sau một tháng, tiếng đồn về bếp bệnh xá đã loang ra các đơn vị và cơ quan tỉnh. Và sau vài tháng, nhiều nơi đã cử người đến “học tập đội bạn”. Thùy cứ ngớ ra, không hiểu họ học cái gì. Chị cười xòa: “Một người lo bằng kho người làm, mấy đứa em đấy chưa biết lo, mới biết làm thôi. Tôi lớn tuổi hơn, làm thì thua xa tụi nó, mà quen lo liệu...”. Hỏi về ông Bí thư chi bộ kiêm quản trị trưởng, mấy chị em ngó nhau tủm tỉm. Ông này là ủy viên thường vụ huyện ủy dưới đồng bằng, rớt chức trong một kỳ đại hội vì quá nhát sợ, phải đưa lén chỗ xa địch và giao một việc ngồi chơi xơi nước. Hầu như tháng nào ông cũng trả bớt tiền bồi dưỡng của thương binh lại cho tỉnh: “chỗ núi non, chẳng có gì mua...”. Còn khá hơn một số nhân viên kinh tài, theo cách mạng vẫn theo nhưng ăn cắp vẫn ăn cắp. Ông quản trị thanh liêm này coi việc bếp núc là quá thấp kém, chỉ chuyên hô hào mọi người thắt lưng buộc bụng.

Thật ra, nhóm lãnh đạo bệnh xá hơi gờm khi miễn cưỡng nhận bà vợ của bí thu tỉnh ủy về làm bếp. “Các phu nhân chỉ tay năm ngón quen rồi, lại dựa vai vế ông chường mà xỉa xói chúng mình. Ba bảy hăm mốt ngày vất vả khói lửa là chuồn thôi, làm hội trưởng Phụ nữ giải phóng hay ủy viên Mặt trận khoái hơn, nhàn hơn nhiều!”.

Trong vài ngày đầu, Thùy đã nghe đồn loáng thoáng thế. Mặc kệ. Chị để ý xem, nghe, nghĩ, đánh giá, còn la cà chỗ thương bệnh binh hỏi rất nhiều. Thì ra tất cả các cơ quan và đơn vị thuộc tỉnh đều đã từng khiêng người bị thương hay bệnh nặng đến bệnh xá này, đều sẵn sàng giúp đỡ nhưng không biết giúp cách nào cho phải. Các bác sĩ, y tá mải lo chữa chạy. Ông quản trị bận nghe đài theo dõi tình hình thế giới. Các cô nấu ăn chỉ biết làm hùng hục từ gà gáy đầu đến nửa đêm, người biết lo chẳng có.

May cho Thùy, bỗng có một đoàn cán bộ tỉnh đến thăm bệnh xá nhân ngày thương binh liệt sĩ, trong đó có anh tỉnh đội trưởng và anh Tám Thâu, phó ban dân y khu Năm. Các anh này đều không ưa cái trò “ân cần thăm hỏi” kiểu cầm gậy rạch nước, mà mời hết thương binh họp lại, mời nói xả láng. Thắc mắc tùm lum, nhưng sáng kiến cũng vô số. Họ họp thêm với cán bộ nhân viên một cuộc nữa, hỏi riêng chị bếp trưởng khá lâu.

Thùy được cấp giấy phép đặc biệt đi liên hệ với các đơn vị và cơ quan để nhờ giúp đỡ, được quyền điều theo mình vài nhân viên hộ lý, tiếp phẩm, cấp dưỡng. Đến cơ quan thường vụ tỉnh ủy, anh Chanh đi vắng, anh phó bí thư sốt sắng làm ngay một chỉ thị kêu gọi giúp bệnh xá, gửi khắp nơi.

Lãnh đạo tỉnh cho biết chỗ bệnh xá chưa lộ, có thể ở lâu, nhưng phải xây dựng căn cứ Hai cách một buổi đường, nơi có nhiều hang lớn, phòng khi cần có thể khiêng thương binh và gánh mọi thứ đến đấy. Nơi đóng hiện nay có thể sửa sang kỹ, không sọ cái nạn “nước sông công lính”, làm vừa xong đã phải bỏ.

Đơn vị đầu tiên đến giúp là một trung đội công binh, tách ra từ một đại đội đang huấn luyện, có hai thương binh và ba sốt rét ác tính đang nằm bệnh xá. Họ ở lại hai ngày, đào hàng loạt hào nổi hầm chìm thuốn vào sườn núi, có loại “Bê-năm-hai chào thua”. Chị Thùy được một bếp Hoàng Cầm “siêu hiện đại”đắp bằng đất sét, với những tám chỗ đặt soong chảo, lỗ nào không dùng thì có nắp vỏ na-pan úp kín, ngày không lộ khói, đêm không lộ ánh lửa.

Chất tươi đưa đến ùn ùn. Qua hẳn cái thời khốn khổ với sắn làm cơm, làm canh, thèm muối đến vàng mắt, tí đạm tí béo cũng chờ hậu cần gọi đi nhận. Của đáng tội, gạo trước lâu cũng cho đổi một bộ quân phục lấy heo bà con Thượng. Nhưng các cô nấu ăn thường nể lời anh em “cho ăn tươi một bữa đã thèm, sau ăn muối cũng được”. Lính ta hay có tật thế. Rồi thương bệnh binh bị một ngày Tào Tháo đuổi, mấy ngày sau các rổ cơm ghế sắn và canh sắn tươi nhạt muối bị ế lu bù, phải đổ cho heo. Thùy chặn được cái tật ấy: đổi được heo thì lóc nạc làm thịt chà bông cho thương binh nặng, rán mỡ để dành trong ống tre, da thái làm nộm với bắp chuối hay nõn chuối, xương hầm nấu canh ngọt lừ. Gặp khi các nơi đem về cho một đùi nai, nửa con heo rừng, một góc trâu. Thùy dỗ dành chị em chịu khó thái, ướp gia vị kiếm lá về nem muối thính, khi ăn đem nướng hay xào, chỉ ngửi mùi đủ chảy nước bọt.

Cái nạn thiếu muối kinh niên được Thùy giải quyết rất khéo. Chị đến kể khó với trạm giao liên và đội tiếp phẩm, khi thật hiểu nhau mới chìa bản chỉ thị của tỉnh ra, chẳng ai thấy khó chịu. Vả lại tiền mua là của bệnh xá, người cõng cũng của bệnh xá họ chỉ sắp xếp việc mua và giá cả thôi mà. Từ đấy, bệnh xá có đều đều mỗi đầu người hai ký muối một tháng, kèm thêm những thùng dầu lạc, nước mắm, mắm nục, mắm cá cơm, và rất nhiều thứ gia vị từ đồng bằng đưa lên “theo đơn thuốc bắc của bà Thùy”. Nhà ở của tổ nấu ăn biến thành tiệm thuốc bắc thật, với một giàn treo dọc phên xếp kín những bình nhựa và thủy tinh đựng các thứ làm ngon miệng.

Qua tháng thứ hai, phong trào nâng cao đời sống vọt thêm một bước dài khi mấy anh thương binh cấp tiểu đoàn đứng ra tổ chức Hội đồng thương bệnh binh và phát động cuộc “cách mạng đời sống”, nghe rất oai. Giới chuyên môn từ lâu muốn nhờ anh em giúp cho tí chút, nhưng sợ “sai chính sách” nên không dám, để anh em bị đánh tú-lơ-khơ suốt ngày, nằm tán gẫu tận khuya.

Thương bệnh binh là cả một kho kinh nghiệm, một xã hội trăm nghề thu nhỏ. Tất nhiên không ai để số bị nặng động tay. Những cậu lười, hay càu nhàu nhất cũng không nhờ. Nhưng các vị chuyên gia nằm mãi ngứa ngáy cứ sấn vào làm giúp. Chuyên gia đặt bẫy có ba người, kiếm chồn, cheo, gà rừng, công, chỉ cần hộ lý kiếm cho một cây tre già và ít dây cước to nhỏ. Chuyên gia kiếm cá mò tay các hang hốc dọc suối to, sau thêm mấy sải lưới hai càng ăn to. Chuyên gia kiếm rau rừng tìm ra mấy chục thứ ăn được trong vòng nửa cây số bán kính. Riêng số nổi máu săn bắn thì rất nhiều, nhưng bệnh xá trưởng cấm hẳn: anh em ham theo thú rừng dễ rơi vào hố chông bẫy thỏ của bà con Thượng, chỉ có hộ lý hay cán bộ quen thung thổ được phép đi săn.

Bếp chị Thùy ngày càng chất đầy những vò, hũ, thùng sắt tây, sọt to giỏ bé lót nhựa chứa thức ăn dự trữ: dưa nõn cây đoát muối trường, mon thục muối chua ăn xổi, măng khô, măng chua. Trên đòn tay treo từng chùm nem thịt muối thính có vòng gai chống chuột và giấy ghi như nhãn thuốc, cùng nhiều gùi thịt cá sấy khô.

Anh em từ Bắc vào sẵn chữ nghĩa, sửa lại một lán cũ làm câu lạc bộ. Có chỗ đọc sách báo - xin vét nhiều nơi - máy thu thanh chạy bằng pin Mỹ đi càn bỏ lại, một tờ bích báo vẽ nhiều hoa và chim trên giấy manh học sinh dán thành khổ rộng. Người ra viện viết cảm tưởng dán lên báo những lời lưu luyến, sau nhiều tháng vẫn gửi quà chiến lợi phẩm về biếu bệnh xá.

Tin chị Hai Thùy ra đi gây một chấn động khó lường trước trong cả cán bộ nhân viên và thương bệnh binh. Kiếm đâu ra một người thay thế, cũng hiền hậu, tháo vát, thương anh em như chị? Thấy xôn xao quá, hai cô y sĩ phải rỉ tai mọi người rằng chị Thùy có thai, phải ra Bắc mới sinh nở được, ở đây quá khó.

Các đảng viên trong chi bộ đến lúc này mới nghĩ: tại sao ta chưa kết nạp chị Thùy vào Đảng? Ừ nhỉ, tại sao? Suốt cả chục năm chị là cơ sở tiếp tế của huyện Tây Quảng chứ đâu phải chỉ gửi quà cho chồng? Từ ngày lên núi, chị ở đâu cũng được tiếng khen, ngay con Thanh Bình cũng giúp được bao nhiêu việc, đâu phải chỉ dắt con theo chồng?

Ông bí thư kề cà huấn thị rằng phải điều tra thêm, đừng vội, chớ mất cảnh giác. Liên tiếp số đảng viên làm chuyên môn đập lại, bác sĩ, bệnh xá trưởng cho một đòn đau điếng: “Tôi đang đề nghị hậu cần cử một quản trị trưởng thay đồng chí đấy”.

Thùy bần thần khá lâu trước tờ giấy viết tay đơn xin vào Đảng. Liệu mình có kham nổi hai tiếng đảng viên không? Trong những năm đen tối, Thùy đã thấy không ít đảng viên xuất thú đầu hàng, đọc bản phản tỉnh, xé cờ, đạp ảnh lãnh tụ, có kẻ như thằng Ba Mít biến thành rắn độc. Mình dám chịu đòn đến hấp hối như Năm Bưởi, dám lăn lộn suốt nửa đời người như anh Cả Chanh, đánh hàng trăm trận sinh tử như dượng Năm Chò không? Hay tốt hơn là đứng ngoài Đảng, lo may vá bếp núc cho chiến sĩ ta là vừa sức?

Nhân dịp bếp tỉnh ủy mời đến vẽ kinh nghiệm. Thùy gặp anh Chanh, hỏi ý anh trong đêm nằm ngủ nhà khách, tỉ tê đến khuya.

- Thùy ơi, Đảng mình đang cần những người như em đó.

- Em dốt đen, là nhơn viên hô đi hét đứng. Mà anh hay nhắc là Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lê, là cộng sản. Mác - Lê thì ngay cái hình em cũng chưa thấy, cộng sản là gì em chưa biết, mới nghe nói độc lập thống nhứt thôi.

- Tạm bấy nhiêu làm vốn, về sau học thêm.

Thùy còn định hỏi nữa, nhưng anh Chanh đã ôm ghì vợ đến ngạt thở. Thùy hổn hển: “Em gần ba tháng rồi. Bác sĩ nói tháng thứ ba dễ hư thai...”. Nhưng khi Chanh nới tay, Thùy lại vớt: “Nhẹ nhẹ cũng được, không sao đâu anh. Tội nghiệp...”.

Đơn của Thùy được chi bộ thông qua nhanh. Chi bộ này trực thuộc Đảng bộ tỉnh đội. Khi biên bản được đưa lên, một đồng chí trong đảng ủy tròn mắt: “Ủa, tụi mình tưởng chị Thùy vô Đảng lâu rồi chớ, đang tính bầu bổ sung vô Đảng ủy đây nè!”. Duyệt gấp, lễ kết nạp cũng gọn nhẹ. Điều may cho Thùy: không ai nghĩ Thùy được kết nạp vì là vợ bí thư tỉnh ủy, mà chỉ ngạc nhiên như anh Đảng ủy tưởng chị vào Đảng từ lâu.

... Cũng như chồng, Thùy ra đi trong nỗi dằng xé của hàng trăm sợi tơ thương nhớ, của bao lo toan bỏ việc dở dang mà những ai cả nghĩ mới đeo nặng. Anh Chanh đến chào tạm biệt bệnh xá với bộ mặt thẫn thờ, Thùy ra vào như kẻ đãng trí, con bé Thanh Bình cũng đâm ra ngơ ngẩn.

... Suốt đêm ở nhà khách binh trạm, những kỷ niệm chưa lùi xa mấy cứ ám ảnh Thùy. Anh Chanh cùng đoàn cán bộ đi trước các cháu chỉ ba ngày, nhưng đi nước rút vượt trạm đã khá nhiều đường đất.

Sáng hôm sau, Thùy và Xíu cho đoàn ăn xong, đang giặt đồ cho các cháu nhỏ nhất dưới suối, bỗng được mời lên gặp ban chỉ huy binh trạm. Có mặt hai đồng chí hôm qua, thêm một bác sĩ, một kế toán trưởng. Họ hỏi kỹ về đoạn đường các cháu đi qua, về chế độ ăn và thuốc men, về cách phục vụ ở các trạm. Thấy hai chị nói dè dặt, anh phó Ban dân y nói trắng:

- Các chị đừng sợ tay Tráng trù úm đọc đường ra Bắc. Chúng tôi đang xếp người thay hắn ta. Ăn cướp cơm chim, dùng các cháu như đứa ở, đi riêng, ăn riêng, ngủ riêng, thứ đó bám theo các cháu để rút khỏi chiến trường mà không bị xếp vô “lính họ Đào, ngày bữa chi!”

Hai chị buộc phải xem thằng Tráng đã xuất cho đoàn những thứ gì. Rất dễ, vì hầu như không có gì. Các địa phương gửi con em ra Bắc đều dồn mọi thứ tẩm bổ và thuốc men cho các cháu, chưa kể phần cấp thêm của khu ủy, quân khu, tỉnh ủy, tỉnh đội. Không ai ghen tị với trẻ em và thương bệnh binh, xưa nay vẫn thế.

Sau bữa trưa, hai chị lại được mời lên ban chỉ huy binh trạm lần nữa. Ngoài bốn đồng chí ban sáng, có thêm tay Tráng ngồi co ro, mặt tái và mồ hôi ướt đầm áo. Các thứ giấu kín trong ba chiếc ba-lô và cái túi dết cỡ đại được xếp ngay ngắn trên sạp. Đồng chí kế toán đọc biên bản khám xét hành lý của Bùi Đình Tráng:

- Chấp hành lệnh số 96/TS của Bộ Tư lệnh 559 về việc chống gián điệp biệt kích, ngăn chặn tệ đào ngũ và trộm cắp dọc đường dây giao liên...

Thùy và Xíu ngẩn người khi nghe những lời lạ tai ấy. Chủ nghĩa xã hội vẫn còn những đứa như thế ư? Anh kế toán đọc cả một bản kê dài dằng dặc những thứ các chị chưa hề nghe nói, cả ba máy thu thanh, một cân rưỡi cao hổ cốt, hai cân cao gạc nai, bốn chục mét vải đen cùng rất nhiều kim chỉ để đổi các thứ ăn tươi dọc đường loại rẻ tiền như chuối, mía, trứng. Lại thêm mười tám chiếc nhẫn vàng loại một chỉ, bốn lập-lác vàng tây khắc tên, chức vụ, đơn vị của sĩ quan ngụy, mười hai đồng hồ Thụy-sĩ và Nhật loại đắt tiền... Trước ngày lên đường, các chị chỉ lo tăng võng, tấm đắp, sức khỏe cho từng cháu, khoán hẳn cho Tráng nhận mọi thứ quà biếu và hàng được cấp.

... Bùi Đình Tráng báo cáo đã xuất cho các cháu bồi dưỡng thêm ngoài tiêu chuẩn các trạm một ki-lô-gam ruốc thịt lợn, hai ki-lô-gam đường, hai hộp sữa bột ghi-gô, hai túi mì chính cánh loại một pao, tức hơn bốn lạng mỗi túi... Hai chị phụ trách đoàn cho biết không hề nhận được các khoản nói trên...

Thùy chợt thấy mệt nhoài, mệt hơn khi leo dốc ba bốn trăm bậc. Ghê tởm nữa. Lắm khi hụt gạo, từ bác sĩ bệnh xá trưởng trở xuống đã húp thứ canh sắn tươi nấu với rau rừng sền sệt, bỏ tí muối tượng trưng, nhường gạo muối cho thương binh, đôi người đang mổ đói quá run tay phải nhờ bạn giúp... Thằng này hẳn thuộc cái bám đuôi bộ đội đánh đồn. Bỏ mặc thương binh chảy máu đến chết để luồn các xó xỉnh kiếm vàng, đồng hồ, tiền Mỹ tiền ngụy, như Thùy đã nghe vài lần...

- Mời chị nhận lại đồ bị ăn cắp. Chúng tôi tạm giam thằng “họ Đào” này tại binh trạm, chờ cấp trên xử. Thay cho hắn, chúng tôi cử một bác sĩ quân y bị thương ở đầu gối phải ra Bắc mổ lại. Anh này rất khỏe, đi đường trường tốt, chỉ phải cái tật “chấm phẩy” nên không bước nhanh được, chắc là vừa tốc độ các cháu. Về tinh thần thì cực kỳ, là đại úy, chiến sĩ thi đua bốn năm liền cấp sư đoàn.

Những thứ được bàn giao còn quá nhiều, tuy tên Tráng luôn miệng trả lời là hết sạch hay sắp hết phải để dành. Anh bác sĩ được mời đến nhận thuốc men, buộc mỗi cháu phải gài trên ngực một gói băng cá nhân dán kín, trong có một ống vi-ta-min K cầm máu và một ống thuốc tím bột. Hai chị phải mang một ít thuốc phòng sốt rét để dỗ các cháu uống, một gói thuốc tăng lực, một hộp nhỏ những viên khử trùng nước uống và viên xóa mùi.

Mãn cuộc, anh phó Ban dân y còn giữ riêng Thùy lại, bảo cần bàn thêm. Chẳng bàn gì cả, anh chỉ nói về anh Cả Chanh:

- Các ổng đi như chữa cháy, mỗi ngày hai ba trạm. Ngay binh trạm đây là chỗ nghỉ ngơi cấp phát các ổng cũng chỉ dừng một buổi, lĩnh xong các thứ là vù luôn. Anh Chanh đi khá lắm, uống ca-vét tăng liều khỏi bị dạ dày nó hành tội... À, chị biết chuyện con chó Dồ ra Bắc chưa? Chưa hả? Ly kỳ lắm nghen...

Cuối ngày đi đường đầu tiên, anh em giao liên trông thấy một con chó lạ núp sau cây to gần trạm khách. Tưởng chó làng Thượng ra kiếm ăn, họ phớt lờ. Một trung đội ngoài vào nghi là chó hoang, chó rừng, định bắn làm bữa tươi. Hai cậu lò dò đến, nó vẫy đuôi mừng. Thấy lên đạn súng CKC, nó nhe răng gừ. Nòng súng mới nhấc lên, nó vọt biến. Tiếng đồn bay qua các nhà khách là có chó trinh sát đến, ta để đi lạc hay địch thả xuống chẳng biết.

Cả Chanh ngờ ngợ, ra xem thử. Con chó vẫn luồn lách trong, các bụi cây, thoáng lộ cái lưng mầu xanh lá sẫm pha đen. Anh gọi thử:

- Dồ! Dồ, lại đây!

Con chó thập thò ra khỏi chỗ rậm, nằm xệp xuống, khẽ rên trong mũi. Nó biết mình có tội không vâng lệnh chủ, lén trốn theo chủ.

- Dồ, tới đây coi! Khốn khổ, đói xép ve rồi nè. Lại đây!

Ông chủ không giận, mặt và giọng rất hiền như khi vuốt ve nó, nhổ gai và bắt những con vét heo vét nai trong tai và các kẽ chân cho nó. Nó thong thả bò đến theo kiểu chờ phạt. Chanh vẫy nó theo vào nhà khách. Nhiều cán bộ hay lui tới tỉnh ủy Quảng Nam nhận ra ngay con chó trinh sát nổi tiếng:

- Dồ, nhớ tao không? Nhận được bằng khen chưa. Đói sắp gục rồi hả? Còn cơm nguội với nước canh thôi, đừng chê!

Cái soong hỏng đầy cơm ghế sắn rưới nước canh đã bày trước miệng, con chó vẫn đăm đăm nhìn ông chủ với ánh mắt van xin. Chanh gật đầu, nói rất dịu: “Dồ, ăn đi!”. Nó bò đến bữa ăn, đớp từng miếng nhỏ són vén, dần dà mới dám ăn như hằng ngày.

Nó khôn đến cái độ đoán qua các cử chỉ âu yếm khác thường của ông chủ trong những ngày soạn sửa lén đường mà không gọi nó theo, với những ông bà cùng đi với chủ đều là người lạ, lại đi khác hướng ngày thường. Nó cố cưỡng lại thói quen vâng lời đã ăn sâu từ nhỏ, ra di sau ông chủ một lát, theo cái mùi riêng không thể lẫn của người được nó thương yêu nhất, nhưng nó còn đủ tỉnh táo để biết mình không được đến gần hay chạy trước chủ như những chuyến đi khác... Chanh rất băn khoăn vì con Dồ. Đuổi nó trở về, nó sẽ bị anh em bộ đội bắn cho vào nồi. Đưa nó đi... có đoàn nào ra Bắc mà đem chó theo?

Đoàn cán bộ quyết rất nhanh: nhận nó làm chó trinh sát và bớt mỗi người vài thìa cơm nuôi nó. Khỏi bàn nữa, anh Chanh, có con Dồ chạy trước, quen đánh hơi nhận ra biệt kích gián điệp, tụi mình càng yên chí lớn. Các anh chị chỉ buộc con Dồ phải ngửi mùi mỗi người một vài phút để được làm thành viên của đoàn.

Sáng hôm sau, con Dồ đầy tự tin và sung sướng đã chạy ton ton trước giao liên độ trăm thước, nghiêng nghé nhìn và ngửi hai bên đường, lách tránh rất nhậy mỗi khi các đơn vị đi vào định dùng mình làm “chất tươi cải thiện”.

Hai Thùy cười mãi vì con chó khôn đặc biệt của chồng, về cuối mới hỏi thêm về thằng Tráng. Chị sợ xử hắn nặng quá cũng tội nghiệp. Anh phó ban dân y cười buồn:

- Nó tội ăn cắp chiến lợi phẩm, thuốc dân y ăn bớt xén của các cháu. Tịch thu các thứ, áp giải trở về khu, vô trại cải tạo ít lâu, chuyển qua trại sản xuất đến hết hạn nghĩa vụ. Nhiều cậu “lính họ Đào” lạy van xin ở xa chỗ ác liệt trong kia, trên cũng xẹt cho làm lính gùi cõng dọc đường 559 này, không xử nặng đâu, chị đừng lo...

Hai ngày sau, đoàn trẻ em lại đi tiếp, và được săn sóc tốt hơn nhiều so với đoạn đường đi với “chú Tráng”.

Đánh máy: hoi_Ls
Nguồn: hoi_Ls - NXB HỘI NHÀ VĂN, 1996
VNthuquan.net - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 10 tháng 8 năm 2019