Chiều hôm sau, khi quay lại nhà Man Denise, tôi thấy căn nhà khóa cửa im ỉm. Một trong những cô giúp việc nói với tôi rằng Man Denise đã chôn vài hạt cà phê xuống sân trước khi trở về nhà người thân ở Port-au-Prince.
“Em có biết người thân của bà ấy sống ở đâu ở Port-au-Prince không ?” Tôi hỏi.
Cô gái lắc đầu, quay lưng về phía tôi, và nhìn xa xăm về những ngọn đồi màu xanh vỏ chanh ở phía bên kia ngôi nhà.
“Có lẽ bà ấy đã mệt mỏi với việc phải nghe đi nghe lại câu chuyện tương tự bằng nhiều cách khác nhau,” cô nói. “Có lẽ bà đã đến một nơi nào đó mà chỉ các con bà sẽ tìm được bà nếu họ quay trở lại.”
Cô đang ngồi chít lại một cái áo cánh còn nguyên vẹn để có thể mặc vừa nó. Tôi ngỏ ý muốn giúp cô sửa nó, nhưng cô nhất quyết không buông tay ra khỏi chiếc áo. Thế là tôi ngồi đó nhìn cô may những mũi chỉ vụng về và chít cái áo lại quá nhỏ so với thân người của cô.
“Tốt hơn là chị nên về đi,” cô nói. “Bà ấy sẽ không quay về ngôi nhà này nữa đâu. Người thân của bà ấy ở Port-au-Prince sẽ tới để bán ngôi nhà, bà ấy đã nói như vậy. Còn riêng bà ấy sẽ không đặt chân vào ngôi nhà này một lần nào nữa.” Cô giật những đường chỉ mới khâu lên chiếc áo ra và cặm cụi viền lại mép áo. Tôi ước gì mình đã có thể ở bên cạnh Man Denise lâu hơn. Tôi ước mình đã có thể làm được nhiều hơn cho bà. Nhưng có một số nỗi đau quá riêng tư để có thể chia sẻ được với bất cứ ai.
“Tốt hơn là chị nên về đi,” cô gái lặp lại.
Tôi quyết định đi tới nhà thờ lớn ở Cap, nơi đang cử hành một buổi lễ Ban Thánh thể. Một hàng dài những người đi lễ đang đợi để được ban Thánh thể dưới chân một cây thánh giá khổng lồ. Những vệt sơn đỏ rỉ xuống trên cây thánh giá thay cho máu của Chúa Giê-su.
Tôi đứng ở phía sau gần một bức tường xiêu vẹo đặt những cây nến tạ ơn và quan sát hàng người nghiêm trang tiến về phía thánh đường. Họ đi thành vòng, làm dấu thánh và cúi đầu trước cây thánh giá một lần cuối, sau đó quay lưng lại và đi ngược trở ra.
Một người đàn bà lách qua cửa và đứng bên cạnh tôi. Đôi tay cầu nguyện của chị hướng về những ngọn nến và một bức tranh kính hình Đức Mẹ La Vierge 1 mặc một chiếc váy kết từ những tia nắng sàng lọc qua tấm kính màu xanh.
1 Tên tiếng Pháp của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.
“Cô không tham dự lễ Ban Thánh thể ư?” Chị hỏi tôi sau khi rời mắt khỏi đôi mắt đang nhìn xuống của Đức Mẹ.
“Không, em không định tham dự,” tôi đáp.
“Cô cũng không xưng tội luôn ư?”
“Em không có gì để xưng tội hết.”
“Chỉ cần nghe giọng của cô là chị đã biết chuyện gì xảy ra rồi,” chị nở một nụ cười toe toét và nói, “Chị biết cái giọng đó. Cô vừa mới trở về phải không ?”
“Em vừa về được một thời gian,” tôi nói.
“Chị cũng thế. Được một thời gian rồi,” chị nói. “Chị từng có một cửa tiệm buôn bán nhỏ ở bên kia, nhưng giờ thì chị làm việc cho các cha xứ ở đây, lau dọn nhà thờ và nấu ăn cho họ.”
Tôi nhìn khắp người chị, tìm kiếm một vết cắt, một vết sẹo, hay bất cứ dấu vết tổn hại nào trên cơ thể chị mà tôi có thể thấy được. Còn chị đang nhìn xuống chân tôi và tự hỏi rằng liệu đó có phải là nơi duy nhất mà tôi đã phải chịu đựng đau đớn hay không.
“Ở bên đó thì cô sống ở đâu?” Chị hỏi. “Em ở Alegría,” tôi đáp.
“Chị chưa bao giờ tới đó,” chị nói. “Còn chị sống ở đâu?” Tôi hỏi chị.
“Higüey,” chị trả lời. “Chỗ cô ở có phải là vùng trồng mía không?” “Dạ, ở đó có những đồn điền mía nhỏ và vài nhà máy ép nhỏ.” “Nơi mà cô ở ấy, cái tên Alegría đó có phải là tên chính thức của nó không hay là do những người chúng ta ở đó cải tên thánh lại cho nó?”
“Em vẫn luôn nghe họ gọi tên nó như thế,” tôi đáp.
“Những người mà chị ở cùng, họ luôn đặt tên thánh lại cho những nơi họ ở. Những người ngoài không bao giờ biết được những cái tên này. Nơi cô ở có ngập tràn niềm vui đến mức họ gọi nó là Alegría không ?” 1
1 Alegría trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là niềm hạnh phúc.
Trong trí nhớ của tôi từ khi còn nhỏ, những người ở đó đã luôn gọi khu vực bao gồm những căn nhà khang trang, những dãy núi, con sông, và cánh đồng mía bao quanh nhà của Señora Valencia bằng cái tên Alegría.
“Có lẽ những người đặt tên cho nó coi đó là một trò đùa,” tôi đáp. Chị bật cười lớn, có phần quá phấn khích trong một nơi tôn nghiêm.
“Cô đến đây để kể chuyện về cuộc thảm sát cho các cha xứ phải không ?” Chị hỏi tôi. “Cha Emil đằng kia là người nghe và ghi lại các câu chuyện đó.”
Chị chỉ về phía Cha Emil. Cha là vị cha xứ với dáng người thấp đậm và lùn hơn cha xứ còn lại. Ông cha còn lại là một người Pháp da trắng , già hơn với mái tóc như một cái bờm ngựa lòa xòa trước mắt.
“Cô sẽ phải đợi một lúc đấy,” chị nói, “cho tới khi buổi lễ kết thúc và các phần thức ăn cho người khất thực đã được phân phát hết.”
Sau buổi lễ Ban Thánh thể, các cha xứ đi ra ngoài nơi những người nghèo đang chờ đợi trên bậc thềm để được phát bánh mì. Chị chạy vào phòng sau và trở ra với hai ổ bánh mì. Chị dúi chúng vào tay tôi mà không nói một lời nào để không làm tôi cảm thấy ngượng.
Khi các cha xứ đi ngang qua chúng tôi để quay vào nhà thờ, chị nắm lấy vạt áo chùng của Cha Emil và nói, “Thưa Cha, em gái này đã đợi rất lâu để được gặp cha.”
Cha Emil nhìn xuống hai ổ bánh mì trong tay tôi và gật đầu chào tôi đầy thương cảm. Chị ấn tay lên lưng tôi và đẩy tôi lại gần chỗ Cha.
Tôi đi theo Cha vào một căn phòng phía sau thánh đường. Bên trong căn phòng có một bàn làm việc rộng, hai chiếc ghế mây, một cây thánh giá nhỏ treo trên tường, và một tủ kính chất đầy sách dùng cho trường dòng của nhà thờ.
“Con đến đây để nói về vụ thảm sát phải không ?” Cha hỏi, tay kéo một chiếc ghế mây cho tôi ngồi. Ông đi ra đằng sau bàn làm việc và ngồi xuống. “Đáng tiếc là bọn ta chẳng có gì để cho những người đã mất đi người thân, ngoài những lời cầu nguyện và một vài ổ bánh mì. Vậy nên bọn ta đã quyết định không tiếp tục gặp họ và lắng nghe những câu chuyện khủng khiếp đó nữa. Việc đó quá mất thời gian, và chúng ta còn quá nhiều thứ khác phải làm.”
“Thưa Cha, con đến đây không phải để kể chuyện cho Cha,” tôi đáp. “Và con cũng đã nhận được một phần bánh mì rồi.”
“Vậy thì ta có thể giúp gì được cho con, con gái của ta?”
“Con muốn biết liệu Cha có nghe tin tức gì về Cha Romain hay Cha Vargas, các cha xứ đã sống và phục vụ giáo dân ở bên kia con sông hay không ?”
Cha chắp tay trước ngực và rướn người về phía ghế của tôi.
“Tất cả các nhà thờ trên khắp đất nước này đã cầu nguyện cho họ,” cha nói, mắt nhìn lên cây thánh giá đơn sơ treo trên tường sau lưng tôi. “Những câu chuyện về nỗi thống khổ của họ đã đến tai bọn ta từ miệng những anh chị em Công giáo khác.”
Ông có vẻ mừng vì chí ít đã làm được điều gì đó giúp cho tôi. “Vậy là bọn họ vẫn chưa chết?”
“Họ đã phải chịu đựng rất nhiều trong nhà giam, nhưng họ vẫn còn sống. Một vài thành viên của Giáo hội đã thay mặt họ đi gặp Generalissimo để xin ông ta thả tự do cho họ. Sau khi được phóng thích, Cha Romain bị buộc phải quay trở lại đây, mặc dù ông ấy vẫn muốn ở lại và giúp đỡ những người Haiti còn sống ở Alegría.”
Tôi đặt tay lên bàn và nắm chặt lấy đôi bàn tay của Cha. “Con có biết bọn họ không ?” Cha hỏi.
“Vâng, con có quen họ.”
“Cha Romain hiện đang sống ở gần biên giới ở Ouanaminthe, trong một căn nhà nhỏ với em gái của mình.” Ông cười. “Cô ấy là một ca sĩ. Nhà của họ nằm kế bên một nông trại, nơi một trạm xá đã được xây dựng trong cơn khủng hoảng của vụ thảm sát. Ông ấy muốn được ở càng gần các giáo dân cũ của mình càng tốt.”
“Cha thật là một điều kỳ diệu, thưa Cha,” tôi nói, hôn lên ổ bánh mì vẫn còn nóng thay vì tay Cha.