Khuôn mặt Señora Valencia trở nên nhợt nhạt như trăng lúc xế sau khi chồng chị rời khỏi nhà để chôn quần áo của con trai.
Sau nhiều công sức nài nỉ thuyết phục của bác Juana, cuối cùng chị cũng đặt con gái vào trong nôi và nằm xuống chiếc giường nơi hai đứa con chị đã được hoài thai và chào đời. Bác Juana ngồi ở mép giường, xoa tay cho señora để dỗ cho chị ngủ. Tôi đứng gần cánh cửa xếp mở ra ban công, ghé mắt qua khe cửa nhỏ, và nhìn thấy Señor Pico đang đào một cái hố dưới gốc cây phượng để chôn quần áo của Rafi.
Bác sĩ Javier giữ cây đèn đốt bằng dầu hỏa cho señor trong lúc anh xúc lên một xẻng đầy đất và hất nó qua vai mình. Mồ hôi quyện vào bùn đất và chảy thành dòng trên trán của Señor Pico xuống ngực anh. Một vài cậu con trai hàng xóm tụ tập xung quanh. Họ hỏi anh có cần giúp đỡ không, có lẽ vì họ nghĩ rằng sẽ có một lễ cầu kinh, hay lễ viếng suốt đêm. Señor Pico từ chối lời đề nghị của họ. Anh muốn thực hiện trách nhiệm này một mình như trông đợi, thậm chí không cho phép cả bác Luis phụ mình đào hố. Anh nghỉ tay một lúc để thở, ngước mắt lên nhìn những vì sao. Dường như đêm nay chúng lấp lánh hơn và rơi nhiều hơn. Anh cởi áo ngoài và áo chẽn rồi vắt chúng lên một cành thấp của cây phượng trước khi quay trở lại với việc đào đất.
“Con muốn xuống dự lễ chôn cất của con trai con,” señora thì thầm với bác Juana.
“Cô đừng bận tâm về chuyện đó lúc này,” bác Juana gạt đi. “Hãy dồn tâm trí cho con gái của cô. Con trai cô đã mất rồi.”
“Vú Juana, hãy kể cho con nghe về Mami đi,” Señora Valencia khẩn khoản.
Bác Juana nhìn quanh phòng, rồi hướng mắt về phía chiếc đồng hồ Tây Ban Nha cũ kỹ đã không còn điểm chuông nhưng vẫn đếm giờ giấc chính xác sau ngần ấy năm. Bác lặng nhìn tủ quần áo với những bông hoa lan và chim ruồi chạm khắc trên cánh tủ, rồi nhìn tới cây thập giá treo trên giường để bảo vệ căn nhà khỏi tà ma.
“Có quá nhiều thứ để kể về mẹ của cô,” bác Juana đáp, nhẹ nhàng vuốt tóc señora.
“Vú hãy kể cho con nghe đi,” señora nài nỉ.
“Lúc bà ấy mới cưới chồng, mami của con rất nhút nhát. Bà ấy gần như khiếp sợ cha cô, dù ông chỉ lớn hơn bà ấy vài tuổi. Nhưng điều này thay đổi nhanh chóng sau khi bà ấy kết bạn với những người vợ trẻ khác như Doña Eva và Doña Sabine. Và tất nhiên khi cô chào đời, cha mẹ cô đều rất hạnh phúc. Cha cô đã đau khổ vô cùng khi mẹ cô qua đời. Thời gian bà ấy mang thai em trai cô là những ngày tràn đầy niềm vui, nhưng tiếc thay việc lâm bồn của mẹ cô quá khó khăn. Đó là một ca đẻ ngược, và kết quả là cả mẹ cô và em trai cô đều chết vì kiệt sức.”
“Con muốn nghe thêm nữa về Mami,” chị nói. “Vú hãy kể tiếp cho con nghe đi.”
“Mami của cô là một người tử tế,” bác Juana kể tiếp. “Bà ấy luôn kiên nhẫn với vú và cả Luis nữa. Bà ấy đối xử với chúng tôi như những người bạn chứ không chỉ như người hầu kẻ hạ trong nhà. Mami của cô, bà ấy có một trái tim nhân hậu và bà ấy yêu thương cô bằng cả trái tim đó.”
Ngoài trời, cơn gió đêm đã thổi tắt ngọn đèn dầu hỏa của bác sĩ Javier. Bác Luis đang chụm tay quanh một que diêm dài để châm lại đèn.
Señor Pico đặt quần áo của Rafi vào trong hố. Một cái chăn và ba cái áo dài do tôi tự may mà Rafi bé nhỏ mới chỉ mặc một lần.
“Con đã từng mơ thấy khuôn mặt con trai con trông sẽ như thế nào,” Señora Valencia nói, “lúc nó một tuổi, rồi năm tuổi, rồi mười, mười lăm, và hai mươi tuổi.”
“Vú cũng đã từng có những giấc mơ tương tự về cô, Señora,” bác Juana đáp. “Vú rất hạnh phúc vì đã được nhìn thấy cô trưởng thành qua tất cả các độ tuổi đó.”
“Đôi khi, con cảm thấy,” Señora Valencia nói tiếp, “con sẽ không bao giờ là một người đàn bà trọn vẹn vì thiếu vắng gương mặt của Mami trong đời.”
Khi chồng chị quay trở lại phòng, Señora Valencia đã chìm vào giấc ngủ. Tôi không muốn để chị ở lại, nhưng tôi biết rằng Sebastien sẽ không tới thăm tôi nếu đứa bé đã chết vẫn ở trong nhà. Tôi sẽ phải đi tới chỗ anh. Hơn nữa, bác Juana đã quyết định sẽ dành trọn tối nay bên cạnh chân giường nơi Rafi nằm để trông chừng thằng bé.
Bác Luis quay trở về nhà một mình, mặc dù đêm nay có lẽ là đêm bác muốn có người đàn bà của mình ở bên cạnh hơn bao giờ hết. Papi vẫn yên vị bên cạnh chiếc radio trong phòng khách, lắng nghe tin tức về cuộc chiến ở Tây Ban Nha. Một thành phố nữa vừa thất thủ trong lúc cỗ quan tài cho Rafi bé nhỏ được đóng.
Tôi bước vào trong màn đêm, ngang qua hẻm núi nơi Joël đã rơi xuống. Những khóm sả và bụi măng tre viền theo lối đi. Một cơn gió tạt xuống triền dốc, bẻ gập những ngọn cỏ về hướng con đường hẹp ở dưới hẻm núi khiến cho chúng lung lay xào xạc.
Trong khu nhà máy của Don Carlos, lũ trẻ con đang chơi đùa xung quanh một quầy bán đồ ăn đóng bằng gỗ của một người đàn bà Dominicana tên là Mercedes và hai người con trai của bà: Reinaldo và Pedro. Người ta đồn rằng Mercedes, một bà nông dân với cách hành xử của người thành thị, có họ hàng xa với Don Carlos.
Một toán những người phu cắt mía đang mua rượu ở quầy của Mercedes, tán gẫu và cười đùa với bà và hai đứa con trai. Con trai cả của bà, Reinaldo, làm công việc quản lý ruộng mía trong khi em trai Pedro của gã chịu trách nhiệm vận hành cỗ máy ép mía. Ít nhất theo lời đồn đại, Mercedes – và dĩ nhiên cả Don Carlos – có họ hàng với một số người phu cắt mía đến từ những vùng nông thôn sâu bên trong hòn đảo, nhưng bà ta chưa bao giờ công khai chấp nhận họ. “Đám bần cố nông bọn họ đã mù quáng chọn cuộc sống trên đồn điền mía này,” bà trả lời bất cứ ai dò hỏi. “Họ chẳng có lý do gì để sống như một lũ lợn như thế cả. Đây là đất nước của họ cơ mà.”
Lũ trẻ chạy nhảy đùa giỡn xung quanh những người đàn ông đang tán dóc ở quầy của Mercedes, trong khi họ xua chúng đi xa khỏi những cuộc trò chuyện của người lớn bằng những cái tét mông và những câu ra lệnh cho bọn chúng về nhà với mẹ, cho dù chúng có mẹ hay không. Bọn trẻ lại tiếp tục chạy đi chơi, lao vào phòng rồi lại vọt ra từ đằng sau những tấm rèm hoa dùng làm cửa. Đám đàn bà đang vừa nấu ăn trên những hòn đá to ám muội đen đằng sau những cabin dùng làm phòng ở, vừa rót nước tắm gội cho những đứa bé trần như nhộng để kịp bữa ăn tối. Họ đang hát những bài ca lao động, nhưng giọng hát của họ nghe mệt mỏi đến mức tôi không thể tách biệt nổi câu chữ hay giai điệu của chúng. Một vài người đàn ông đang gà gật bên bậu cửa. Họ giật mình tỉnh giấc mỗi khi có ai đó đi qua. Tôi lách mình chen vào giữa một cặp tình nhân đang tìm kiếm một góc tối kín đáo do chỗ tâm tình mọi khi dưới gốc cây sa-pô-chê của họ đã bị chiếm bởi một toán đàn ông đang cãi nhau quanh bàn domino. Cuộc chơi cứ chốc chốc lại bị gián đoạn để một người chơi có thể thanh minh cho một nước đi tồi hay một bàn thua trông thấy. Yves, bạn của Sebastien, người đã có mặt cùng Sebastien và Joël trong cái đêm Joël bị chết, là một trong số họ. Yves cạo trọc đầu để những con bọ mía không làm tổ trên đó. Yết hầu của anh lớn như một trái táo, và chân anh thì quá ngắn so với thân người cao lêu nghêu.
Tôi ra hiệu cho một cậu bé đang ngồi nghịch những hòn cuội kế bên bàn domino. Cậu bé có một khuôn mặt điển trai và đầy nam tính. Cậu nhảy chân sáo đến trước mặt tôi thì dừng lại một cách lóng ngóng. Tôi đưa cho cậu hai mảnh khớp gối của con dê mà bác Luis đã cắt cho tôi vào đêm Señor Pico quay trở về. Cậu cười tươi và cảm ơn tôi, đoạn kéo gấu quần đang chực tuột xuống và chạy đi khoe chiến lợi phẩm với những đứa trẻ khác.
Félice đang ngồi trên bậc thềm trước cửa phòng của Kongo. Những ngón tay run run của cô sờ nắn vết bớt dưới cánh mũi.
“Kongo có ở đây không ?” Tôi hỏi. Cô gật đầu.
“Sao chị không vào trong nhà ngồi với ông ấy?” “Ông ấy không chịu tiếp tôi,” chị đáp.
Tôi nhìn qua khe hở của chiếc lá dừa được Kongo dùng làm cửa phòng. Nguồn sáng duy nhất trong căn phòng là từ ngọn đèn dầu bên cạnh chân ông. Ở giữa phòng là một đống bầu đựng nước và bình đất nung chất trên hai chiếc chiếu cũ trải đối diện nhau trên sàn. Kongo ngồi trên chiếu của ông, nhào nặn một cục bột, một thứ xa xỉ phẩm, qua những kẽ tay. Ông lầm bầm chửi rủa cục bột, than phiền rằng chẳng có thứ gì thành hình theo cách mà chúng ta mong muốn.
Félice ra hiệu cho tôi vào gặp Kongo. “Tôi biết ông ấy sẽ tiếp chị,” cô nói với giọng chắc chắn.
“Già Kongo ơi?” Tôi gọi từ bên ngoài phòng. “Cháu Amabelle đây, cháu tới để thăm ông ạ.”
Kongo dịch phiến lá dừa qua một bên để tôi đi vào. Tôi ngồi xuống chiếc chiếu nơi con trai của ông từng nằm ngủ. Một cái quần đen và một chiếc áo vàng tươi vẫn nằm trên tấm chiếu, như thể Joël đã đặt chúng ở đó để tiện mặc vào trong lúc vội đi ra ngoài. Tôi nghiêng đầu về phía ông già để nhìn thấy mặt ông rõ hơn.
“Cô có thấy tối quá không ?” Ông hỏi. “Một chút ông ạ,” tôi trả lời.
“Ta thích bóng tối 1 ,” ông nói. “Ở trong thế giới của đường mía, một túp lều chỉ là nơi để ngủ, không phải để sống. Chúng ta chỉ sống khi làm việc ở trên ruộng mía. Bóng tối đồng nghĩa với việc được nghỉ ngơi.”
1 Tiếng Creole ở Haiti: M’renmen darkness.
“Bóng tối quả là tốt,” tôi đồng ý lấy lệ.
“Cô ta vẫn ở ngoài đó à?” Ông hỏi về Félice. “Ta đã bảo cô ta đi đi, nhưng cô ta không chịu. Cô ta không thể ngồi đó cả đêm. Ta không muốn cô ta ở đó.”
Félice cựa mình và hắng giọng như để nhắc nhở Kongo là cô ấy vẫn nghe thấy những gì ông nói.
“Cô là người đàn bà của Sebastien?” Ông hỏi. “Cô là Amabelle đúng không ?”
“Vâng thưa ông.”
“Khi con trai ta bị giết, Sebastien đã đi kiếm bộ quần áo nằm bên cạnh cô trên chiếu để chôn cất nó. Cậu ấy cũng mang gỗ đến cho ta để đóng một cỗ quan tài. Sebastien cũng như là máu mủ ruột thịt của ta vậy.”
“Xin chia buồn với ông,” tôi nói. “Cháu rất tiếc thương cho cái chết của Joël.”
Ông thả cục bột xuống sàn và nện lên nó với những khớp ngón tay.
“Cháu được sai đến đây để chuyển lời với ông,” tôi nói tiếp. “Don Ignacio, ông chủ của gia đình nơi cháu đang làm việc, muốn đến gặp ông.”
Ông buông tay ra khỏi cục bột và tập trung vét chỗ bột thừa còn dính trong các kẽ móng tay. Đoạn, ông cho tay vào túi và lấy ra một nhúm thuốc lá bột.
“Đề nghị đó nghe thật lạ lùng, Amabelle,” ông đáp. “Những người này, bọn họ muốn gì ở ta?”
“Don Ignacio muốn nói chuyện với ông về tai nạn xảy ra với Joël.” “Ta không chắc có thể gọi đó là một vụ tai nạn, Amabelle ạ.
Con trai ta không chết dễ dàng như vậy.” Ông ngửa mặt lên trần nhà để tránh bột thuốc lá rơi rớt từ mũi xuống cằm. Bên ngoài, Félice lại hắng giọng. Có vẻ như cô ấy đang khóc.
“Ông chủ của cháu, Papi, muốn chi trả cho đám tang của Joël,” tôi nói tiếp.
“Sẽ không có đám tang nào cho Joël hết,” ông nói như một thông báo cuối cùng. “Ta muốn chôn cất con trai ta trên mảnh đất nơi nó được sinh ra, nhưng ta không thể mang nó đi xa như vậy được. Ta đã chôn con trai ta ở gần hẻm núi đó, dưới một cánh đồng sả.” Ông cúi đầu, để cho bột thuốc lá rơi xuống ngực. “Con trai ta là một đứa trẻ lớn lên như cỏ dại trên đồng. Nó chẳng cần gì cũng chẳng cần ai, nhưng nó rất yêu thương ta. Cách ta chôn cất nó thật không đàng hoàng cũng chẳng đầy đủ lễ nghi, ta biết. Không quần áo liệm, không quan tài, chẳng có gì giữa nó và đất đen. Ta muốn trả nó về với đất như cách mà mẹ nó đã đưa nó cho ta vào ngày đầu tiên của cuộc đời nó.”
Tôi có thể nghe thấy tiếng lũ trẻ bốc thăm ở bên ngoài để xem ai sẽ được chơi với những khúc xương dê trước. Tôi cũng không nghe thấy tiếng Félice nữa.
“Trong tất cả những điều con trai ta đã làm,” Kongo nói tiếp, “trong tất cả những hồi ức ta có về nó, ta sẽ không bao giờ quên được ngày nó mới chào đời. Nó thật nhỏ bé, trần trụi, và ngây thơ.”
Ông nhặt cục bột lên và bóp nát nó giữa những ngón tay.
“Cô không nên tốn nhiều thời gian với ông già này,” ông nói. “Ta không muốn mời cô ra, nhưng đã đến lúc cô nên đi gặp Sebastien rồi.”
“Cháu nên trả lời Don Ignacio như thế nào ạ?” Tôi hỏi.
“Nói với ông ta rằng ta là một người đàn ông,” ông đáp. “Con trai ta, nó cũng từng là một người đàn ông.”
Sebastien đang ngồi trong một góc phòng, chà một thanh lô hội lên những vết bỏng rộp trên bắp chân.
“Cơ thể anh có vẻ như đã quên mất những ngọn lửa đốt đồng khó đoán như thế nào,” anh nói và đưa cho tôi thanh lô hội.
Quanh hông và bụng của Sebastien nổi đầy những cụm nhọt áp-xe. Trong lúc xoa lô hội lên chúng, tôi không cảm giác mình đang chạm vào anh. Tôi cảm thấy mình đang chạm vào cơn giận dữ sục sôi bên dưới da anh, những giọt nước mắt đau buồn mà anh nuốt vào bên trong, những move san 1 , sự độc địa mà cái chết của Joël đã đánh thức trong huyết quản của anh.
1 Tiếng Creole ở Haiti, có nghĩa là máu độc, máu xấu, hay máu dữ. Nguồn gốc từ tiếng Pháp, mauvais sang.
“Cánh đồng vụ này lại tràn ngập những con bọ mía mới.” Anh than phiền trong lúc xoay người để tôi xoa lô hội lên lưng anh.
Những phiến gỗ tuyết tùng của Papi đang nằm dựa lưng vào tường. Chúng vẫn lên nước bóng loáng ngay cả trong ánh đèn tù mù của căn phòng. Lớp véc-ni làm từ rễ cây thiên thảo của Papi đã nhuộm sắc đỏ lên bề mặt của những thớ gỗ, làm cho nó trở nên nhạy cảm với cả bóng tối và ánh sáng. Từ dưới sàn nhìn lên, bạn có thể nhìn thấy những chỗ khiếm khuyết trong công đoạn cuối qua sắc đỏ đậm nhạt khác nhau trên cùng bề mặt, những chỗ có tông màu không trùng khớp do Papi đã đợi quá lâu trước khi quét thêm một lớp véc-ni nữa, hay những chỗ ông đã đưa cây cọ đi ngược chiều với thớ gỗ.
“Con trai của Señor Pico đã chết hôm nay,” tôi thông báo. “Anh có nghe tin,” Sebastien nói, giọng anh hơi thoáng một nụ cười, như thể chuyện đó chẳng có gì đáng buồn cả.
“Anh không nên vui mừng trước một điều như thế,” tôi nhắc nhở. “Thằng bé chỉ là một đứa trẻ.”
“Anh không vui mừng,” anh chối. “Và ngay cả nếu anh có vui... ” “Thì đó cũng là một việc sai trái,” tôi đáp. “Chúng ta đâu có muốn bọn họ vui mừng khi Joël chết đâu.”
Sự im lặng là thứ vũ khí bén nhọn nhất của anh khi anh giận dữ. Anh không nói gì với tôi trong một lúc lâu.
“Bọn họ là cái gì với em chứ?” Anh hỏi vặn, dùng tay bóp những cái nhọt cho đến khi máu và mủ chực trào ra. “Em nghĩ rằng họ là gia đình của em hay sao?”
“Señora và gia đình của chị ấy là những người thân thuộc nhất mà em có,” tôi giải thích.
“Còn anh thì sao?” Anh hỏi tiếp.
“Anh cũng vậy,” tôi đáp, mong muốn anh hiểu rằng tôi luôn đặt anh lên trước.
“Em cứ chờ đấy rồi xem,” anh nói giọng răn đe.
Tôi nghĩ đến những điều mà Mimi nói ở con suối vào hôm sau khi Joël qua đời. Nợ máu phải trả bằng máu, con bé đã nói. Liệu chuyện đó có xảy ra nếu một người thực sự mong muốn nó xảy ra không?
“Anh sẽ làm gì với số gỗ của Papi?” Tôi hỏi. “Anh sẽ làm gì với gỗ gì cơ?” Anh hỏi lại.
“Số gỗ này này,” tôi nói, chỉ tay về phía sau lưng anh. “Số gỗ mà em đưa cho anh để đóng quan tài cho Joël ấy.”
“Kongo không cần dùng đến chúng,” anh đáp. “Có lẽ anh sẽ giữ chúng cho lần tới ai đó chết.”
Anh ngồi dậy và tựa lưng vào bức tường bê tông xám xịt, nhìn về phía cửa qua kẽ hở của những ngón tay đầy sẹo. Bên ngoài, tiếng ngáp của Yves vang lên, báo hiệu anh ấy đang đợi lúc thích hợp để đi vào và nằm xuống ngủ.
Sebastien đứng dậy mặc quần áo và đưa tôi quay trở ra bên ngoài trời đêm. Chúng tôi bước đi trong im lặng trên con đường dẫn về nhà của Señora Valencia. Trên đường về, chúng tôi đi ngang qua hẻm núi nơi Joël được chôn cất. Một cơn gió tạt nhanh qua những bụi tre và khóm sả hai bên đường, tạo nên một hợp âm những tiếng rì rào như tiếng sáo hay tiếng huýt gió.
Chúng tôi nhìn thấy Félice ở phía trước, đi lại một cách bồn chồn ở bờ dốc sâu dẫn xuống hẻm núi. Dáng điệu của chị trong lúc rướn chân lên nhìn xuống con đường nhỏ hẹp bên dưới làm tôi nhớ đến chính mình ở bên mép sông lúc cha mẹ tôi chết đuối.
Sebastien và tôi hộ tống Félice về cửa nhà Doña Sabine. Cô đi cùng chúng tôi, có vẻ mừng vì ai đó đã tìm thấy mình.
Sáng hôm sau, trong lúc mọi người còn đang say ngủ, bác Jua- na và tôi đứng ở cửa phòng thêu thùa và nhìn Señor Pico cặm cụi lót những tấm chăn sạch lấy từ tủ của vợ dưới đáy cỗ áo quan trước khi đặt con trai mình vào đó. Señor mặc bộ quân phục kaki với chiếc mũ chóp nằm ngay ngắn phía trên đôi tai hình vỏ sò của anh. Khi anh nhìn lên, anh thoáng ngạc nhiên khi thấy bác Juana và tôi đứng ở cửa.
“Cậu đã thức cả đêm rồi, Señor,” bác Juana nhắc nhở anh. “Bác hãy đi đánh thức señora dậy đi,” anh đáp.
Señora Valencia thức giấc và phủ một lớp vải lụa mỏng lên cỗ áo quan sặc sỡ của con trai. Papi và một người họ hàng bên mẹ của señora giúp giữ đầu kia của tấm lụa viền đăng ten gia bảo này để chị gấp nó lại tới khi nó vừa vặn che phủ cỗ quan tài mà không quét xuống đất.
Señora Valencia cúi xuống đặt một nụ hôn lên cỗ quan tài qua những hình trang trí hoa hướng dương trên tấm lụa rồi quay trở về phòng mình. Con gái chị vẫn đang nằm ngủ trong nôi. Chị bế con bé lên và mang nó đến giường của mình.
Señor Pico và Papi cùng khiêng cỗ quan tài ra khỏi nhà.
Khi chiếc quan tài đã được đặt vào trong xe ô tô, Señor Pico quay trở lại phòng nơi vợ anh đang ngồi trên giường với đứa con gái ôm sát vào ngực. Anh bỏ mũ và kẹp nó vào giữa nách và cùi chỏ. Lướt nhẹ môi lên trán vợ, anh cố tình né tránh bàn tay nhỏ bé của con gái giơ lên về phía anh một cách đầy bản năng, như thể con bé nhận ra khuôn mặt cha mình, hoặc giả nó muốn dùng tay xua đi thái độ chối bỏ đầy hằn học ngày càng rõ rệt mỗi khi anh nhìn nó. Cử chỉ của con bé như một cách riêng để bày tỏ sự ăn năn vì đã sống sót và thế chỗ anh trai nó, như thể con bé đang cố tỏ ra nó cũng muốn có mặt ở đám tang để đưa anh trai xuống cõi hư vô nơi chúng đã từng san sẻ bên nhau trong bụng mẹ.
“Em đừng lo lắng quá, mọi thứ sẽ diễn ra ổn thỏa thôi,” Señor Pico trấn an vợ mà cứ như đang bàn bạc một chiến lược nhà binh.
Señora Valencia nhìn chồng mình bước những bước đều ra khỏi phòng. Khi chiếc xe Pickard của anh chuyển bánh, chị bịt hai tai lại để khỏi nghe thấy tiếng máy nổ. Chị tựa đầu con gái bên cằm, nhắm mắt lại, và cảm nhận nhịp thở của con bé phả vào má.
Sau khi bác Juana nhận trách nhiệm trông coi Rosalinda, bất chấp yêu cầu của bác rằng chị cần nghỉ ngơi, Señora Valencia đi ra ngoài hàng hiên ngồi hóng mát trên chiếc ghế đu. Mặt trời vừa thức dậy trên thung lũng và những giọt sương sớm vẫn còn đọng trên những bông hoa lan đèn lồng đỏ tuyệt đẹp của Papi với những cánh hoa uốn cong. Ở ban công trước phòng chị, Señora Valencia đã làm một bàn thờ nhỏ cho con trai nơi chị đặt hai bó cẩm chướng trắng của hòn đảo, do chị chọn và tôi cắt từ vườn của cha chị, và một ngọn nến mà chị dành để thắp trong nhà thờ sau buổi lễ Ban Thánh thể.
Chúng tôi nhìn thấy Cha Romain đi vội vã ngang qua căn nhà. Có lẽ ông đang trên đường đi chủ trì những buổi hành lễ cuối ở đâu đó. Khi ông vừa đi khuất, một nhóm những người bạn của tôi đi tới trên đường ra ruộng mía. Như thường lệ, Kongo dẫn đầu đoàn phu đồn điền, với Sebastien và Yves hộ tống sát sau lưng.
Señora Valencia rướn người khỏi lan can như để nhìn những bông hoa lan bên dưới rõ hơn.
“Amabelle, em có biết những người làm trên ruộng mía không ?” “Có, thưa Señora.”
“Em hãy đi và mời họ – những người vừa đi ngang qua – quay lại và dùng một tách cà phê với chúng ta.”
“Tất cả bọn họ ư?”
“Tất cả những ai muốn đến.”
Tôi thở không ra hơi khi tôi bắt kịp bọn họ ở con đường trồng những cây hạnh nhân. Một vài quả hạnh nhân chín đã rụng xuống, vỡ toác ra, và nằm ẩn hiện dưới lớp đất mùn. Thịt quả tứa ra dòng nước màu đỏ ối, làm cho mặt đất xung quanh như đang rỉ máu.
“Sao em chạy như bị ma đuổi vậy?” Sebastien hỏi.
“Cô chủ nhà em muốn mời tất cả mọi người tới uống một tách cà phê với cô ấy,” tôi đáp.
“Cô chủ của em ư?” Sebastien hỏi lại. “Señora Valencia.”
Kongo đưa tay lên che mắt và nhìn phía ngôi nhà.
“Đó không phải là nơi chúng ta muốn đến đâu,” Sebastien thì thầm một cách giận dữ vào tai Kongo.
Tin tức về lời mời của Señora Valencia truyền từ miệng người này qua người kia trong nhóm. Tất cả đều nhún vai và nhướng chân mày. Họ cởi bỏ mũ rơm và bao bố đội đầu để có thể nhìn ngôi nhà rõ hơn. Những cuộc thảo luận bắt đầu và kết thúc với cùng một câu hỏi: cô ta muốn gì ở chúng ta? Có lẽ cô ta muốn đầu độc cả bọn chúng ta. Nhiều người đã nghe lời đồn đại về việc những nhóm người Haiti bị thủ tiêu trong đêm chỉ vì họ không thể rung lưỡi để nói chữ “r” hay bật ra một chữ “j” từ trong cuống họng để phát âm chữ perejil, cây mùi tây 1 . Không có lửa làm sao có khói chứ, ai đó trong nhóm quả quyết.
1 Ở đây tác giả đang nói về một cuộc thảm sát nhắm vào những người Haiti sống trên lãnh thổ của Dominicana lúc đó do chính phủ Dominicana thực hiện. Sự kiện này mang tên là Cuộc thảm sát Cây mùi tây (tiếng Anh: The Parsley Massacre; tiếng Tây Ban Nha: “el corte” hay “đợt thanh trừng”; tiếng Creole ở Haiti: “kout kouto-a” hay “cuộc đâm chém”), diễn ra vào tháng Mười năm 1937 dưới sự chỉ huy của Độc tài Rafael Trujillo, hay Generalissimo trong câu chuyện. Cái tên của cuộc thảm sát bắt nguồn từ phương thức mà Trujillo đã phát minh ra và cho quân lính sử dụng để kiểm tra xem trong những người đang sống gần biên giới, ai là người Dominicana gốc Phi bản địa và ai là người Haiti gốc Phi nhập cư. Quân lính Dominicana sẽ giơ một nhánh mùi tây trước mặt một người và hỏi họ đó là cái gì. Cách mà một người phát âm chữ “mùi tây” (perejil) trong tiếng Tây Ban Nha sẽ quyết định số mệnh của họ. Trong những ngôn ngữ được sử dụng ở Haiti, tiếng Pháp và Creole, cách phát âm hai chữ cái “r” và “j” rất khác so với tiếng Tây Ban Nha. Do đó, nếu những người bị bắt có thể phát âm được chữ “perejil” theo cách nói của tiếng Tây Ban Nha thì họ sẽ thoát chết. Nhưng nếu họ phát âm chữ “perejil” theo cách nói của tiếng Pháp hay Creole, thì họ sẽ bị coi là người Haiti và bị xử tử tại chỗ.
Một người đàn bà bắt đầu kể lại những câu chuyện mà chị ta đã nghe được. Một tuần trước, một người hầu gái đã phục dịch cho gia đình một viên đại tá trong ba mươi năm bị chính ông chủ của mình đâm chết tại bàn ăn. Hai anh em nhà nọ bị một đám lính gác lôi khỏi ruộng mía và dùng mã tấu chém chết trong lúc đang làm việc, một người trong nhóm quả quyết đã tận mắt chứng kiến cảnh đó. Tin đồn rằng Generalissimo, cùng với sự cố vấn của một uỷ ban bảo vệ biên giới, đã ra lệnh cho giết hết tất cả những người Haiti. Những nông dân Dominicana nghèo đã được lệnh lùng bắt những người Haiti và giao nộp họ cho quân đội. Vậy thì có gì đảm bảo là đám nhà giàu Dominicana sẽ không làm điều tương tự?
“Hãy nói lại cho ta nghe tên cô chủ của cô,” Kongo nói. “Señora Valencia,” tôi đáp. “Hôm nay là ngày chôn cất con trai chị ấy nên chị ấy có lẽ không được khỏe lắm.” Tôi gõ tay lên thái dương để cố gắng giải thích lý do tại sao señora lại đưa ra đề nghị đó.
Kongo chống cây cán chổi xuống nền đất đỏ và bắt đầu đi về phía căn nhà. Đa số những người phu cắt mía khác tiếp tục đi ra ruộng, nhưng số còn lại – ít nhất hai mươi người – quyết định đi theo Kongo về phía ngọn đồi để thỏa mãn trí tò mò.
Họ tụ tập trong hiên nhà hay ngoài vườn, bất cứ chỗ nào họ có thể tựa vào hay ngồi xuống.
Señora Valencia để Rosalinda nằm trong nhà trong khi bác Juana và tôi thực hiện mệnh lệnh của chị. Chúng tôi rót cà phê vào những tách trà vẽ họa tiết phong lan đỏ được nhập về từ châu Âu, rồi đưa tách đầu tiên cho Kongo. Ông chuyền nó cho cậu bé trẻ nhất ở trong nhóm. Trong số họ, tôi nhận ra cậu bé mà tôi đã tặng cho hai khúc xương dê đêm hôm trước. Tôi rót cho cậu một tách đầy rồi lần lượt tới những người khác. Bác Juana chia phần cà phê một cách cẩn thận, để cho tất cả những ai muốn uống đều được nếm ít nhất một ngụm nhỏ.
“Chúng ta sẽ bị cắt ngày công nếu như chúng ta không nhanh chóng rời khỏi đây,” Sebastien phàn nàn. Anh không hề muốn tham gia vào bữa tiệc thiết đãi này của señora.
Trong lúc bác Juana đang rót tách cà phê cuối cùng mà các em gái của bác đã gửi cho bác, Già Kongo tách mình khỏi đám người dưới sân và bước những bước mạnh bạo lên hiên nhà nơi señora đang ngồi với con gái. Kongo cúi xuống ngắm nghía khuôn mặt màu đồng hun của Rosalinda và đưa tay ra như chực chạm vào mặt con bé. Señora Valencia đưa tay lên và chặn những ngón tay thô cứng của ông. Kongo cầm lấy bàn tay đưa ra của Señora Valencia và hôn lên đầu móng tay của chị. Khuôn mặt Señora Valencia đỏ lựng lên, như thể đây là lần đầu tiên một người lạ có một cử chỉ thân mật như vậy với chị.
“Ta rất đau buồn trước cái chết của con trai cô,” Kongo nói bằng thứ tiếng Tây Ban Nha dễ nghe nhất của mình. Ông thả tay chị ra để chị có thể bế con gái dễ dàng hơn. “Khi con trai ta chết, đất dưới chân ta như lún xuống thêm mấy tầng. Ta tự hỏi mình, tại sao nó lại chết trẻ như vậy? Có phải những ngôi sao đã quyết định đến đưa nó đi thay vì ta trong một phút bốc đồng ? Có phải số phận muốn dạy cho ta rằng cuộc đời này có thể kéo dài cả trăm năm nhưng cũng có thể ngắn ngủi trong vài nhịp thở? Hãy trân trọng đứa bé còn lại này. Cuộc đời trôi qua nhanh lắm, đôi khi chỉ đủ cho chúng ta hít vào một hơi thở mà thôi.”
Señora Valencia ngây người nhìn theo Kongo trong lúc ông đi xuống bậc thềm. Tôi đưa mắt nhìn theo dáng ông đi xuống chân đồi. Ông đặt tay lên vai Sebastien như để dồn sức lực bước thêm một bước.
Sau khi tất cả mọi người đi khỏi, Señora Valencia im lặng quay về giường và ngắm nhìn con gái chị nằm ngủ bên cạnh. Có vẻ chị hơi hối hận vì đã dầm mình trong làn không khí ẩm ướt buổi sớm và để cho con gái chị tiếp xúc với những năng lượng từ bên ngoài mà Kongo và những người phu cắt mía có thể đã mang tới. Nhưng cái chết của con trai chị đã khiến chị suy nghĩ và hành động một cách bất cần.
Khi chồng chị quay trở về, trước khi anh có thể kể cho chị nghe về việc chôn cất, chị đã kể cho anh nghe về cuộc gặp gỡ với những người phu cắt mía.
Anh không trách mắng chị. Nhưng khi anh phát hiện chị đã dùng bộ tách trà nhập khẩu vẽ hình hoa lan, anh mang chúng ra sân sau và quăng chúng vào bức tường xi măng của khu nhà vệ sinh, lần lượt đập nát từng cái tách và từng cái đĩa lót một.