Không thể mô tả các đặc trưng đơn giản tình hình lý thuyết và thực hành y học tại châu Âu trong thời Trung cổ, giai đoạn từ năm 500 đến 1500. Tuy nhiên, điều chắc chắn mà ta có thể nói đó là một thời đại mà các tư tưởng về bản chất của vũ trụ cụ thể, bản chất của con người và vị trí đích thực của họ trong vũ trụ, và trên hết, đó là mối liên hệ với đấng tạo hóa đã trải qua nhiều thay đổi cũng như chuyển dịch. Đế quốc La Mã hùng mạnh trước kia, với biên cương bao trùm thế giới phương Tây văn minh trong suốt thế kỷ thứ 2, đã phải chịu những thử thách thoái trào và suy tàn sau hàng thế kỷ vô chính phủ, hỗn loạn và chiến tranh. Bị suy yếu bởi sự tham nhũng, yếu kém trong lề lối cai trị và nội loạn, La Mã đánh mất vai trò mặc nhiên một trung tâm chính trị của một đế chế đang rệu rã. Vào năm 330, Hoàng đế Constantine xây dựng Byzantium (Constantinople) làm thủ đô. Vào cuối thế kỷ thứ 4, sự chia cắt đế quốc ra hai vùng đông và tây đã trở thành xác định. Phần phía đông trở thành đế quốc Byzantium và phần phía tây đi vào một thời kỳ thường được gọi là Đêm trường Trung cổ (từ này bị các chuyên gia nghiên cứu lịch sử thời Trung cổ khăng khăng bác bỏ). Các sử gia thường mô tả thời kỳ Phục hưng là một giai đoạn cách mạng trong nghệ thuật và khoa học, cuối cùng cũng đã đánh dấu chấm dứt hàng trăm năm trì trệ về mặt tri thức. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu thời Trung cổ, đã vứt bỏ ý tưởng về Thời kỳ đen tối thời Trung cổ và cho rằng đã xuất hiện những thay đổi có ý nghĩa về kinh tế, chính trị và xã hội ở một số nơi trong khoảng thời gian từ năm 1000 đến 1250.
Nằm trong khung cảnh lịch sử có lắm điều tranh cãi như thế, nền y học thời Trung cổ được mô tả đủ mọi thứ từ một sự lệch lạc bệnh lý cho đến sự ló dạng một chương mới trong sự tiến triển của nghề y. Gần đây, tài liệu về nền y học thời Trung cổ trở nên dồi dào và đầy đủ hơn nhất là về mối liên hệ giữa y học với tôn giáo, giáo dục, các tổ chức nghề nghiệp, các người hành nghề gần như nghề y, kiểu thức tử vong và xuất hiện bệnh tật, và sự tồn tại dai dẳng của truyền thống cổ điển. Thời Trung cổ đóng vai trò một giai đoạn trong đó nhiều học giả, thầy thuốc xuất sắc cùng với bệnh tật, làm cho thời kỳ này trở nên độc đáo và mang lại nhiều kiến thức. Sự chuyển tiếp từ nền văn hóa La Mã - Hy Lạp sang nền văn hóa Cơ Đốc giáo thời Trung cổ rõ ràng là đã làm biến đổi nghệ thuật chữa bệnh. Truyền thống Hippocrates dựa trên tình yêu nghệ thuật, sự tò mò tri thức, sự ca tụng thân thể khỏe mạnh và mưu cầu cuồng nhiệt tìm sự an bình thể xác vốn còn xa lạ với tinh thần của thế giới Cơ Đốc thời Trung cổ. Thực vậy, các nhà thần học đầy ảnh hưởng như Tertullian (160?-230?) có thể giải thích dịch bệnh, đói kém, chiến tranh, và thiên tai như là những phương tiện thể hiện cách thức yêu thương của Chúa Trời nhằm gọt tỉa bớt tính láo xược của con người. Là một ngành học, y học cũng giống như mọi ngành học thế tục khác, đều được coi là thấp kém và phụ thuộc vào thần học. Tuy nhiên, tình trạng thực sự của y học là một nghệ thuật chữa bệnh cần thiết, chứ không phải là một ngành học và một nghề nghiệp, lại là một vấn đề phức tạp hơn nhiều. Nếu quả thật mọi bệnh tật đều là một hậu quả dứt khoát của tội lỗi, hoặc là một thứ thử thách đối với lòng tin, thì việc chịu đựng những thử thách và khổ ải như thế có thể là một đáp ứng thích đáng ít nhất về mặt lý thuyết.
Đối với người Hy Lạp cổ đại, mưu cầu để có được sức khỏe là một mục tiêu thích đáng, nhưng tìm cách để có sức khỏe lại là vấn đề bàn cãi trong tín điều Cơ Đốc giáo. Người Hy Lạp sùng bái sức khỏe và cho rằng cơ thể con người vốn đẹp đẽ và mang hình dáng các thần thánh. Người Cơ Đốc được dạy dỗ coi thường xác thịt và các ham muốn thân xác, nhưng do cơ thể là nơi trú ngụ của linh hồn, hoặc là đền thờ của Chúa, cho nên thân xác cũng xứng đáng được chăm sóc và kính trọng. Chữa bệnh được coi là tốt nếu đó là hành động biểu thị tình yêu; nhưng nếu không do chính Chúa và các tôi tớ của ngài thực hiện thì không nhất thiết được coi là tốt. Các nhà thần học có thể cho rằng bệnh tật là một hình thức trừng phạt hoặc thử thách lòng sùng đạo, nhưng đại đa số người dân đều không phải là bậc thánh hoặc các nhà khổ hạnh. Vì thế, y học vẫn cứ là một phần của đời sống thường nhật. Có hay không có các lý luận thần học, phàm nhân cũng sẽ không bao giờ từ bỏ mưu cầu đi tìm sức khỏe và chữa bệnh, cũng như các thầy thuốc và các học giả từ bỏ hoàn toàn truyền thống y học Hippocrates thế tục.
Y học Hippocrates được chấp nhận tại châu Âu và Byzantium ở nhiều mức độ khác nhau. Mặc dù có thể tìm thấy các câu chuyện thù nghịch hoặc đàn áp, nhưng lịch sử cũng ghi nhận nhiều ví dụ về sự thích ứng và cả sự kính nể. Các môn đồ của y học Hippocrates tìm ra nhiều cách để thích ứng nghệ thuật này vào thế giới các tín niệm Cơ Đốc với nhiều mức độ thành công khác nhau. Về phần mình, các nhà thần học tìm cách để chứng minh tính phù hợp của việc chữa bệnh và sức khỏe cũng như việc nghiên cứu các tài liệu có thẩm quyền trong đó có chứa các kiến thức thế tục thời cổ đại cần thiết cho việc hành nghề chữa bệnh. Gạt đi những vấn đề thần học liên quan đến thể xác và linh hồn, ta có thể cho rằng y học là một nghệ thuật, cũng giống như nông nghiệp, kiến trúc và dệt vải mà Chúa ban tặng cho con người. Hơn thế nữa, truyền thống dinh dưỡng Hippocrates cũng có thể suy luận như là một phương cách tự giác khác cần có trong đời sống Cơ Đốc. Là một nghệ nhân chăm chỉ, đầy lòng yêu thương nhân loại, nhân vật Hippocrates huyền thoại không có điều gì đáng chê trách. Người chỉ bị giáo lý Cơ Đốc ghét bỏ khi được tôn kính là thần chữa bệnh như Asclepius và Apollo hoặc là một đấng cứu rỗi làm nên các phép mầu chữa bệnh mà không cần tới Chúa và những người đại diện cho Chúa. Người thầy thuốc thời Trung cổ có thể giữ được chừng mực sự độc lập nghề nghiệp và tiếp tục vinh danh sự khôn ngoan truyền thống của Hippocrates, nhưng ông ta phải học cách thừa nhận công lao chữa lành bất cứ bệnh gì rốt cục đều do Đức Chúa.
Các nhà thần học chia y học ra làm hai phần: y học tôn giáo, có liên quan đến những việc trên trời, và y học con người, liên quan đến những việc trần thế. Y học con người dựa trên các phương pháp thực nghiệm như xử lý về dinh dưỡng, các loại thuốc, trích máu và các phẫu thuật đơn giản. Y học tôn giáo gồm có cầu nguyện, hối lỗi, trừ tà, các thánh tích, bùa mê và thần chú. Hai phần của y học khác nhau về nguồn gốc và hiệu quả: kinh nghiệm đã dạy cho thầy thuốc về hiệu lực của các loại cây cỏ, nhưng Chúa “tác giả của y học thiên đình” có thể chữa lành cho người bệnh chỉ bằng lời nói và thậm chí có thể làm cho người chết nằm dưới mồ sống lại. Vì vậy, Giáo hội nhân danh Chúa có thể chữa bệnh mà không cần đến các món thuốc trần thế.
Một số các người sáng lập Giáo hội thời xa xưa dạy rằng sẽ là phạm tội khi cố chữa trị những chứng bệnh của thể xác bằng các món thuốc trần thế và linh hồn của Chúa không nằm trong các thân xác khỏe mạnh. Bệnh tật đóng vai trò thử thách lòng tin khi buộc phải chọn giữa y học thế tục và Giáo hội. Tuy nhiên, cũng có thể lý luận rằng thân thể phải được khỏe mạnh bởi vì những người ốm yếu dễ dàng bị khuất phục trước Satan. Hơn thế nữa, nếu bệnh tật là sự trừng phạt đối với tội lỗi còn tha thứ thuộc thẩm quyền của Giáo hội, thì việc chữa trị phải là một phần của sứ mạng của Nhà Thờ mang lại sự từ bi và bác ái.
Dù sao đi nữa, trừ những ai cố ý muốn chọn cách hành hạ thân xác, có quá nhiều bằng chứng cho thấy các giáo hoàng, giáo sĩ, và nông dân đều đi tìm thuốc chữa khi bị đau và bệnh tật. Đã có kẻ nhạo báng rằng lên thiên đường ai cũng muốn, nhưng lại không muốn chết.
Các nhà thần học ghi lại nhiều câu chuyện thần kỳ nói đến các vị thánh tử đạo và những người mộ đạo chữa lành người ốm sau khi y học của con người thất bại. Các học giả thời Trung cổ tin tưởng rằng vũ trụ vận hành theo các quy luật phổ quát do Chúa Trời đặt để, nhưng các nhà thần học đã dành vai trò quan trọng cho các phép mầu. Các tu sĩ có thể tận tụy chăm sóc người ốm và ghi nhận những đặc tính y học của các loại thuốc, cuối cùng nhưng mỗi lần bệnh khỏi là một phép mầu. Các phép mầu lành bệnh thường được quy là do tác động trực tiếp của các vị thánh hoặc thánh tích của họ. Đúng ra thì “thánh tích” là nói tới phần nhục thể còn lại của vị thánh, nhưng từ này cũng được dùng để tả các vật dụng đã từng được các vị linh thiêng kia tiếp xúc.
Vào khoảng thế kỷ thứ 4, di vật của một vài vị thánh được công chúng tôn sùng, mặc dù có một số nhà thần học tỏ ý nghi ngờ về sự đứng đắn khi sùng kính những vật như thế. Những người biện hộ cho sự sùng bái các di vật thắng thế, và do hình thức tôn thờ này ngày càng phổ biến, lại càng khuyến khích thêm sự phát hiện, nhân bản và đánh cắp các di vật. Việc trưng bày những thứ rõ ràng là lừa đảo chẳng hạn như râu của Noah, giọt sữa của Đức Mẹ Đồng Trinh, và nhiều thứ kỳ dị khác đủ làm cho một vị thánh cũng phải nghi ngờ. Mặc dù có cả một trận lũ các di vật quét qua châu Âu trong thời kỳ Thập Tự Chinh, sự đòi hỏi vô độ khiến cho các di vật có nguy cơ không đáp ứng kịp. Một giải pháp là chia nhỏ các di vật về phần xác của các vị thánh và tử đạo để cho các đền thờ có cơ hội dự phần. Những di vật do tiếp xúc - như là nước, vải bọc, hoặc đất đã từng tiếp xúc với các di vật - cũng có thể được sùng bái. Theo lý thuyết mà nói thì “tính thánh” hiện diện ngay trong những phần nhỏ bé nhất của các di vật hoặc những thứ có tiếp xúc với di vật. Khi nhu cầu quá cấp thiết, thì một số di vật lại được gán cho khả năng tự nhân bản nữa.
Dĩ nhiên, những cách chữa bệnh phép mầu không phải là hiếm gặp trong cuộc đời của các vị tử đạo hoặc các vị vua được tôn sùng như thánh. Lấy ví dụ khi vua Edward Linh mục nghe xưng tội đã rửa cổ cho một người bị bệnh tràng nhạc (scrofulous), vốn vô sinh, thì sau đó thì hạch lao ở cổ biến mất và bà ta đẻ sinh đôi. Còn máu pha loãng của Thánh Thomas vùng Canterbury được cho là chữa được chứng mù loà, bệnh phong, điếc, nhưng cũng giống như các đồng nghiệp Ai Cập và La Mã, đa số các vị thánh đều chuyên khoa hóa. Hai anh em thánh tử đạo Cosmas và Damian, nổi danh có tài trong y khoa và không nhận tiền thù lao khi chữa bệnh, đã được tôn vinh thành thánh bổn mạng của các y sĩ và dược sĩ. Theo các tài liệu truyền thống, thì hai người thầy thuốc sinh đôi này đã tử vì đạo dưới triều đại của Hoàng đế La Mã Diocletian vào đầu thế kỷ thứ 4. Không ai có thẩm quyền hơn là Gregory thành Tours (538-593), khi nói đến các trường hợp khỏi bệnh thần kỳ tại đền thờ dành cho Cosmas và Damian, đã bảo đảm cho các bệnh nhân là “tất cả những ai đã tin tưởng cầu nguyện khi đi về đều khỏi bệnh”. Không giống như nhiều tài liệu khác thuộc dạng này, các truyện kể về Cosmas và Damian thường khuyên người bệnh nên tìm đến bác sĩ và các vị thánh chữa bệnh. Một trong những cách chữa bệnh thần kỳ hơn là lấy chân của một kẻ tà đạo đã chết để ghép cho một người cải đạo. Trong một tình huống khác, hai vị thánh xuất hiện trong giấc mơ của một y sĩ và nói cho ông này biết cách thực hiện một phẫu thuật và áp thuốc chữa bệnh cho một phụ nữ bị ung thư vú. Khi người thầy thuốc đến nhà thờ nơi mà bệnh nhân nữ đã đến cầu nguyện hai vị thánh Cosmas và Damian, ông ta phát hiện rằng phẫu thuật đã được thực hiện một cách mầu nhiệm. Các vị thánh dành công đoạn chót của việc điều trị cho thầy thuốc, đó là bôi các thuốc cao chữa bệnh. Một số vị thánh gắn kết với một số bệnh đặc thù hoặc các phần của cơ thể thông qua cách mà các vị ấy lìa trần. Do toàn bộ bộ răng đều bị đánh rụng trong quá trình tử vì đạo, cho nên thánh Apollonia trở thành thánh bổn mạng của đau răng và nha khoa. Những bức chân dung của thánh Lucy, liên quan đến các bệnh về mắt, cho thấy thánh đang cầm một chiếc đĩa trong đó có đựng hai con mắt của mình bị bọn tra tấn móc ra. Bệnh dịch là một chuyên ngành của thánh Sebastian, người bị các cung thủ của Hoàng đế Diocletian bắn bị thương nhưng không chết. Thánh Sebastian hồi phục sau cuộc hành quyết không thành cho thấy rằng ngài được miễn nhiễm đối với các mũi tên tử thần. Trên các bức chân dung của vị thánh này, người ta vẽ các mũi tên cắm vào các vị trí nơi mà hạch sưng thường xuất hiện. Một mũi tên vào ngay tim biểu trưng cho cái chết đột ngột vốn thường thấy ở nạn nhân bệnh dịch hạch. Vị thánh về sau chết vì bị đánh bằng roi. Phụ nữ khi sinh đẻ thường gọi đến thánh Magaret, người đi vào thế giới này qua miệng của một con rồng. Do được sinh ra thần kỳ như vậy, cho nên Magaret là thánh bảo hộ của phụ nữ khi sinh nở.
Khi các thánh đạo Cơ Đốc thay cho các vị thần dân gian, thì các nghi lễ của Asclepius được thu nạp vào cách hành lễ đạo Cơ Đốc. Các đền thờ được chuyển thành nhà thờ nơi mà việc thờ phụng đấng Christ người chữa bệnh, hoặc các vị thánh của ngài, trở thành một khung cảnh quen thuộc cho các phép mầu y học. Không như các đệ tử của Asclepius không cho các bệnh nan y bén mảng đến đền thờ, nhà thờ nhận chăm sóc các trường hợp không còn khả năng chữa trị và hứa hẹn sự cứu rỗi ở thế giới bên khi nếu niềm tin không giúp cho người bệnh khỏi bệnh ngay.
Các nhà thần học nói chung chỉ nhắc các thầy thuốc thế tục khi muốn chứng minh là các thánh tích và cầu nguyện có tác dụng như thế nào sau khi y học trần tục không hiệu quả. Xét trên ý kiến thiên lệch của các vị này, thì những câu chuyện như thế là bằng chứng cho thấy người bệnh thường tìm đến các thầy thuốc thế tục. Các tài liệu thời Trung cổ có chép lại nhiều than phiền về thói yêu quý “các lợi lộc nhơ nhớp” của thầy thuốc và chi phí cao trong chăm sóc y tế. Lấy ví dụ, John vùng Salisbury cho rằng các thầy thuốc bao giờ cũng đi theo hai châm ngôn sau: “Không bao giờ để ý đến người nghèo; không bao giờ từ chối tiền của người giàu”. Mặt khác, tiểu sử của các vị vua, giới quý tộc và giáo sĩ thời Trung cổ cũng nhắc đến các thầy thuốc tận tụy được các vị chủ nhân tôn trọng và mến mộ.
Khi đưa ra chẩn đoán, người thầy thuốc thời Trung cổ chủ yếu dựa vào lời kể của bệnh nhân về các triệu chứng, nhưng nhiều thầy lang được xem là bậc thầy trong nghệ thuật chẩn đoán qua việc quan sát nước tiểu. Sử dụng một chiếc bình lớn chuyên dụng, thầy thuốc nghiên cứu màu sắc nước tiểu, sự phân bố các vẩn đục, cặn lắng, và các hạt nhỏ nằm theo các nấc của chiếc bình nhằm xác định bản chất của bệnh và tình trạng của bệnh nhân. Có một câu chuyện về Quận công xứ Bavaria cho thấy ngay từ thế kỷ thứ 10, một số bệnh nhân cũng đã hoài nghi về cách chẩn đoán này. Để thử tài viên y sĩ, Quận công đánh tráo nước tiểu của một phụ nữ có thai vào chỗ nước tiểu của chính mình. Sau khi xem xét, viên y sĩ trịnh trọng tuyên bố rằng Chúa Trời sắp mang lại một sự kiện quan trọng: chẳng bao lâu nữa Quận công sẽ sinh con.
Ảnh hưởng của Giáo hội trên tư tưởng y học chỉ là một khía cạnh qua đó Giáo hội đạt được vị trí độc quyền trên mọi hình thức giáo dục trong suốt thời Trung cổ. Công việc dịch các tác phẩm y học từ tiếng Hy Lạp sang Latin đã bắt đầu từ thế kỷ thứ 5. Nói chung thì việc nghiên cứu các văn bản cổ và trích dẫn, soạn thảo tài liệu tại các tu viện đã phản ánh sự quan tâm về luận lý và ngữ văn hơn là về khoa học, tuy nhiên cũng có bằng chứng cho thấy các thủ bản y học đã được tham khảo để đem áp dụng vào thực tiễn. Quả thật là những bình luận ghi bên lề các thủ bản cho ta biết là người xưa có chú ý đến y và dược học.
Các tác phẩm của một số nhà thần học như Isidore Giám mục thành Seville (khoảng 560-636), là một bằng chứng cho thấy rõ sự quan tâm về các vấn đề y học. Isidore tin rằng có thể sử dụng các tài liệu ngoại đạo để soạn các văn bản hữu ích mang tính bách khoa sao cho phù hợp với tín niệm và đạo đức Cơ Đốc. Những nghiên cứu như thế ủng hộ ý kiến cho rằng y học bao trùm mọi ngành nghiên cứu tự do khác. Y học là nghệ thuật bảo vệ, gìn giữ và duy trì sức khỏe của cơ thể thông qua chế độ ăn, vệ sinh, việc chữa trị các vết thương và bệnh tật. Tuy nhiên, y học cũng là một thứ “triết học hạng nhì”, để chữa trị phần xác, còn hạng nhất là để chữa trị phần hồn. Vì thế người thầy thuốc phải tinh thông văn học, ngữ pháp, thuật hùng biện và biện chứng pháp để hiểu được và giải thích được các văn bản khó và nghiên cứu nguyên nhân cũng như cách chữa trị các bệnh tật dưới ánh sáng của lý luận.
Nhiều bản thảo y học được viết dưới hình thức một cuộc đối thoại - dạng thường dùng trong cách dạy học thời Trung cổ, nhưng y học là ngành cuối cùng và thường là nhỏ nhất, trong 4 ngành học truyền thống của các đại học thời Trung cổ: thần học, triết học, luật, và y học. Các cuộc đối thoại thường bắt đầu bằng một câu hỏi đơn giản như: “Y học là gì?” Người học phải thuộc nằm lòng các câu trả lời chuẩn mực và cách giải thích văn bản của thầy dạy. Đến thế kỷ thứ 9, các học giả thời Trung cổ đưa ra quan niệm rằng các nghiên cứu y học là một thành phần không thể thiếu của khối kiến thức Cơ Đốc. Nếu mọi sự hiểu biết, trong đó có khoa học về sức khỏe, đều từ Chúa mà ra, thì các nhà tu hành không cần phải sợ có sự xung đột giữa y văn và thần học. Kiến thức y học có thể được sử dụng như một món đồ trang sức trí tuệ, một lĩnh vực nghiên cứu nghiêm túc, và là một kỹ thuật có khả năng mang lại nhiều hữu ích. Dĩ nhiên, cũng có thể chấp nhận giá trị của các văn bản y học cổ điển trong khi vẫn nhấn mạnh rằng không thể duy trì sức khỏe chỉ bằng thảo dược. Người bệnh và người chăm sóc phải tin vào Chúa, ngay cả khi họ có ý định đi tìm phương thuốc thích hợp.
Bệnh viện được coi là sự cải tiến y học lớn nhất của thời Trung cổ, nhưng do bệnh viện ngày nay gắn kết chặt chẽ với các tiến bộ trong lĩnh vực nghiên cứu, giáo dục y khoa, và phẫu thuật, cho nên thuật ngữ “bệnh viện” gợi lại những hình ảnh không phù hợp với các thời kỳ xa xưa. Chắc chắn rằng, các bệnh viện thời Trung cổ đã đóng một vai trò xã hội quan trọng, nhưng mục đích chính là phục vụ tôn giáo chứ không phải khoa học. Ngược lại, khuynh hướng xem thời kỳ này là “Đêm trường Trung cổ” đã tạo nên một ấn tượng sai lầm là các bệnh viện thời Trung cổ giống như một nơi khủng khiếp, người bệnh đến đó chỉ để chết mà thôi. Một số bệnh viện thời Trung cổ rõ ràng là nơi mang lại sự an ủi, nuôi dưỡng, và chăm sóc y tế cũng như là cơ sở từ thiện.
Sự nhầm lẫn về các nguồn gốc cũng như sự phát triển của bệnh viện thời Trung cổ phản ánh những nghịch lý và căng thẳng về thời kỳ phức tạp này. Nhiều bệnh viện thực ra không hơn gì mấy gian nhà tranh, nhưng tại các thành phố lớn, những cơ sở tương đối lớn có nhiều hoạt động như trạm cứu thương, nhà tế bần, nhà dưỡng lão và nơi nuôi dưỡng người bị bệnh phong. Dĩ nhiên, số lượng và tính chất của các cơ sở từ thiện này đã thay đổi nhiều trong suốt thời Trung cổ. Trong thế kỷ thứ 14, một số bệnh viện tìm cách cho xuất viện những người bệnh nghèo và thay vào đó là những khách hàng trả tiền, trong khi đó một số khác thì trở nên quá tồi tệ đến mức bệnh nhân không chịu nổi đã nổi loạn và đập phá tan tành.
TU VIỆN VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Một trong những cải tiến chính của thời Trung cổ là sự hình thành chính thức nền giáo dục đại học về y khoa trong các thế kỷ 12 và 13. Tuy nhiên, chỉ có một phần nhỏ trong đội ngũ thầy thuốc là được đào tạo cấp đại học. Các trường y tập trung nhiều ảnh hưởng vào việc xây dựng giáo trình, các tài liệu có thẩm quyền, kiến thức về kỹ thuật và một tầng lớp ưu tú trong y học hơn là con số tuyệt đối những thầy thuốc được đào tạo ở cấp đại học.
Sự thành lập và phân bố các trường đại học và khoa y tại châu Âu rất không đồng đều. Sinh viên thường phải đi rất xa mới tìm ra thầy thích hợp. Ngoài ra, các trường đại học thời Trung cổ rất khác nhau giữa các trung tâm học vấn cổ xưa và các trường đại học mới mở, nhất là mối quan hệ giữa sinh viên, khoa và các nhà quản lý. Lý lịch chính xác của một số trường đại học chính còn chưa rõ. Thật vậy, “đại học” ban đầu vốn là một từ khá mơ hồ để chỉ bất cứ một tổ chức hoặc hiệp hội của một số người nào đó. Dần dà, thuật ngữ này được chính thức dùng để chỉ các cơ sở đào tạo bậc cao. Một số sử gia tin rằng “thời đại lý trí” bắt đầu trong các trường đại học vào cuối thời Trung cổ, khi việc thể chế hóa giáo trình đòi hỏi phải có sự khảo sát tỉ mỉ về luận lý, triết học tự nhiên, thần học, y học và luật pháp. Đa số sinh viên, tất cả đều sử dụng tiếng Latin làm ngôn ngữ học tập, đổ xô đến các trường đại học để theo học với các thầy nổi danh về một số lĩnh vực nào đó. Nhiều sinh viên vào đại học ở tuổi 14 hoặc 15 sau khi đã nắm vững 7 môn nghệ thuật tự do đó là: ngữ pháp, hùng biện, luận lý, đại số, hình học, thiên văn và âm nhạc.
Các tài liệu y học được sử dụng vào thời thành lập các khoa y bao gồm nhiều tài liệu dịch từ các bản thảo tiếng Hy Lạp và Ả Rập, cũng như các bộ sưu tập và bình luận bằng tiếng Latin. Tuy nhiên, trước thế kỷ thứ 15, sinh viên và giáo sư không tiếp cận được nhiều tác phẩm còn sót lại của Hippocrates, Galen và nhiều tác giả khác thời cổ đại. Một số trong các tài liệu quan trọng nhất do Galen viết, trong đó có bộ “Bàn luận về các thủ thuật giải phẫu” mãi đến thế kỷ 16 mới được dịch ra tiếng Latin. Một số bản thảo cực kỳ hiếm và nhiều tài liệu được gán là do Hippocrates và Galen viết cũng rất đáng ngờ.
Mặc dù sự trỗi dậy của trường đại học với vai trò là một trung tâm đào tạo thầy thuốc là một nét quan trọng của lịch sử y học thời Trung cổ, nhưng đa phần nền y học qua đào tạo của thời này lại gắn kết chặt chẽ với nhà thờ và tu viện. Nhờ ở thư viện, bệnh xá, bệnh viện và vườn thuốc, tu viện đương nhiên trở thành một trung tâm để nghiên cứu và thực hành y học. Mặt khác, những thôi thúc làm từ thiện đối với người bệnh đôi khi bị gạt bỏ đi vì mọi sự quan tâm đều dồn hết cho phần hồn cũng như khinh rẻ phần xác thịt. Một số nhà tu hành khổ hạnh từ chối giúp đỡ cho những gì thuộc về “sự nuông chiều xác thịt”, ngay cả đối với phần xác thịt bị ốm. Thánh Bernard xứ Clairvaux (1091-1153), tu sĩ phái thần bí thực hành những hình thức hành xác khắc nghiệt tự đặt cho mình, mong cho các tu sĩ của mình được sống và chết một cách đơn giản. Xây dựng bệnh xá, uống thuốc hoặc đi khám bệnh đều bị cấm. Thánh Bernard cho rằng sẽ “không phù hợp với tôn giáo và nghịch với lẽ giản dị của cuộc đời” nếu cho phép những hoạt động như thế.
Nhiều câu chuyện điển hình về cuộc đời của các vị thánh và các tu sĩ khổ hạnh cho rằng một chế độ sống dè sẻn tự nguyện như thế sẽ đem lại sức khỏe, sự sống lâu và thư thái cho tâm hồn. Các tu sĩ khổ hạnh có thể nhịn ăn trong nhiều ngày, không ăn gì ngoài bánh mì, muối và nước lã, thức suốt đêm để cầu nguyện, và cũng không thèm tắm rửa cũng như vận động (nhiều vị thánh nổi tiếng vì đã ngồi liên tục lên đỉnh cột trụ đá nhiều năm liền). Tuy nhiên, phản ứng của các vị thánh và các tu sĩ khổ hạnh đối với bệnh tật và các tai nạn không chủ ý có thể khác nhau hoàn toàn. Các câu chuyện khác nhau rất nhiều. Một số tu sĩ khổ hạnh chấp nhận điều trị nội khoa và phẫu thuật đối với những chứng bệnh như ung thư và phù thũng, còn những người khác thì từ chối thẳng thừng thuốc men và bác sĩ. Một số may mắn được chữa trị theo trường phái y học Asclepius nhờ các thiên thần hộ mệnh hiện ra trong giấc mơ để rửa vết thương và xức thuốc vào các chỗ bầm.
Các đấng sáng lập các dòng tu có một quan điểm ôn hòa hơn về các nhu cầu của người bệnh, cho nên các bệnh xá, bệnh viện được dựng lên bên cạnh các tu viện để làm từ thiện và chăm sóc người ốm. Trong số các dòng tu, thì quy luật của dòng thánh Benedict (khoảng 480-547) cung cấp một số chỉ dẫn hợp lý về việc chăm sóc người ốm. Mặc dù sinh hoạt thường ngày trong tu viện đòi hỏi phải làm việc cật lực, nhưng cũng có những chế độ đặc biệt dành cho người ốm, người tàn tật và người già. Việc chăm sóc người ốm là một nhiệm vụ quan trọng đến mức những người chăm sóc phải coi việc này như thể họ phục vụ chính Chúa Trời vậy. Có các bằng chứng cho thấy các tu sĩ có chút ít kiến thức y học đã được lựa chọn để chăm sóc người bệnh.
Vào thế kỷ 11, một số tu viện tự đào tạo lấy thầy thuốc. Lý tưởng mà nói, những thầy thuốc này sẽ là người nắm giữ cái lý tưởng của người thầy thuốc theo như đạo Cơ Đốc chủ trương là ban phát lòng bác ái và từ thiện cho mọi người, bất luận giàu nghèo, bệnh nặng hoặc nhẹ. Giữa lý tưởng và thực tế có khoảng cách được chứng minh qua vô số những lời than phiền về sự mưu cầu “những thứ của cải bất nhân” của các tu sĩ làm nghề y. Khi những vị thầy thuốc này được phép ra ngoài tu viện để hành nghề và chăm sóc cho các bậc quý tộc giàu có, thì bắt đầu nổi lên những lời than phiền về cuộc sống xa hoa và xao nhãng nề nếp tu viện.
Câu hỏi xem ra có vẻ đơn giản là liệu các tu sĩ thời Trung cổ có được phép hay bị cấm hành nghề chữa bệnh và phẫu thuật đã là chủ đề của khá nhiều cuộc tranh luận. Chỉ có ai hết sức ngây thơ mới tin rằng các tài liệu và ghi chép chính thức phản ánh đúng mực tình hình của các nội dung hành nghề bị cấm. Quan điểm chính thức của Giáo hội được nêu rõ trong nhiều tuyên bố và lời phàn nàn về việc nghiên cứu và thực hành y học và phẫu thuật của giới tu sĩ. Nhiều quyết định vào thế kỷ 12 của Giáo hoàng bày tỏ mong muốn hạn chế không cho thầy tu làm nghề y. Các tuyên bố của Công đồng Clermont (1130), Công đồng Rheims (1131) và Công đồng Lateran lần thứ hai (1139) tất cả đều có câu này: “Tu sĩ bình thường không được phép nghiên cứu luật pháp và y học để nhằm kiếm chác lợi nhuận trần thế”. Nhận định này đề cập cụ thể đến việc theo đuổi tiền bạc, chứ không phải việc nghiên cứu và thực hành y học hoặc luật học. Đương nhiên, việc cần phải có nhiều cấm đoán công khai như thế cho thấy sự tuân thủ theo đúng chủ trương đường lối khi hành nghề quả là quá khó khăn. Một huyền thoại khác về y học thời Trung cổ cho rằng nhà thờ chống đối việc “làm đổ máu con người” cho nên ngăn cấm không cho làm phẫu thuật. Sự ngăn cấm này là không đồng ý với việc làm đổ máu do chiến tranh và thù hận, chứ không phải vì phẫu thuật nói chung, và chắc chắn không phải với việc trích huyết (trong điều trị). Ý kiến cho rằng vai trò này có một ý nghĩa nào đó về mặt y học chỉ là một lừa bịp của thế kỷ 18. Trích huyết thực ra là một thủ thuật khá thông thường trong điều trị và dự phòng. Khi thực hiện thủ thuật ngoại khoa quan trọng này, người thầy thuốc phải chú ý đến các quy định phức tạp liên quan đến tình trạng của người bệnh đối với vị trí cần lấy máu, cũng như mùa trong năm, tuần trăng, và thời điểm thuận lợi nhất trong ngày. Cũng có một số hình ảnh minh họa đơn giản hướng dẫn những vị trí thường được chọn để lấy máu, nhưng những hình ảnh này đều quá kiểu cách và khá sơ lược.
ĐÀO TẠO VÀ THỰC HÀNH Y HỌC
Những tiến trình dẫn đến sự hình thành của ngành y với tính cách là một nghề nghiệp dựa trên sự đào tạo chính quy, giáo trình chuẩn hóa, bằng cấp và quy định luật pháp đã manh nha từ thời Trung cổ. Dĩ nhiên là luật thì mỗi nơi mỗi khác, cũng như việc thực thi và cán cân quyền lực giữa cách chữa bệnh không chính thức với nền y học được luật pháp công nhận. Các bộ luật có thể xác định bản chất của hợp đồng giữa bệnh nhân và thầy thuốc và các hình phạt và tiền phạt cho những sai sót nhất định. Thầy thuốc có thể bị phạt khi chỉ trích công khai đồng nghiệp, không hỏi ý kiến các đồng nghiệp khác khi gặp ca khó, hoặc điều trị cho bệnh nhân nữ mà không có người làm chứng phù hợp. Luật pháp thậm chí còn đòi hỏi phải chú ý đến những lợi ích về mặt tinh thần của người bệnh hơn là về mặt thể chất. Luật pháp có thể buộc thầy thuốc khuyên người bệnh phải đi thú tội, mặc dù sự sợ hãi từ việc cảnh báo này tự nó cũng là điều nguy hiểm.
Mặc dù gặp một số hạn chế không hay, người bác sĩ đạt được những quyền lợi do vị thế được xác định về mặt pháp luật. Đương nhiên, những thầy thuốc nào hành nghề mà không có chứng chỉ được nhà nước chấp nhận sẽ bị truy tố hình sự và xử phạt. Các thầy thuốc chuyên nghiệp lý luận rằng nên tăng chuẩn hành nghề bằng cách loại bỏ đi các thầy thuốc không xứng đáng, thường được coi như là những người “chỉ dựa vào kinh nghiệm, những kẻ đần và phụ nữ”. Tuy nhiên, những yêu cầu về hình thức cũng gạt bỏ đi nhiều thầy thuốc có kỹ năng. Một hậu quả không may mắn của luật pháp thời Trung cổ là khuynh hướng tách rời nội khoa ra khỏi ngoại khoa và hạ thấp vị thế của các thầy thuốc ngoại khoa.
Không phải tất cả các người hành nghề y hoặc là những thầy thuốc - tu sĩ có trình độ học vấn cao hoặc là những kẻ thất học chuyên chữa bệnh theo kinh nghiệm. Lấy ví dụ, các sách y học của người Anglo-Saxon, được gọi là sách chữa bệnh bằng con đỉa, cũng cung cấp một số kiến thức liên quan đến thầy thuốc và bệnh nhận ngoài lĩnh vực của “nền văn hóa y học cấp cao” của các trung tâm học vấn châu Âu. Chúng ta không biết nhiều về việc đào tạo và thực hành của các thầy thuốc người Anh điển hình thời Trung cổ, nhưng cả hai dạng thầy thuốc tu viện và thế tục đều xuất hiện trên các tranh minh họa và các họa phẩm. Những sách dạy chữa bệnh dân gian tại Anh thời xưa thường là tài liệu soạn từ các tài liệu cổ, điểm khác biệt duy nhất là nhiều tài liệu loại này được viết bằng thứ tiếng Anh cổ, thay vì tiếng Latin. Người ta phỏng đoán là, đa số các bác sĩ người Anh - thường được gọi các thầy trị bệnh bằng con đỉa - đều biết chữ, ít nhất là ngôn ngữ địa phương. Vào thế kỷ 14, các trung tâm học vấn của tu viện đào tạo ra các học giả không ưa gì mấy những cuốn sách dạy y khoa dân gian của các thầy thuốc Anglo-Saxon. Nếu cho rằng những bản viết trên giấy là tài liệu khả dụng và có giá trị, thì cũng khá ngạc nhiên khi không có những tài liệu y học nào viết bằng tiếng Anh thời sơ kỳ còn giữ được.
May mắn thay, đến thế kỷ 19 sống lại phong trào nghiên cứu về phong tục học do Linh mục Thomas Oswald Cockayne (1807-1873) khởi xướng để cứu lấy các tài liệu y học Anglo-Saxon và soạn ra một tuyển tập gồm ba bộ có tên thú vị “Thế giới của đỉa, sử dụng cây cỏ làm thuốc và chiêm tinh học của nước Anh thời sơ kỳ, minh họa Lịch sử Khoa học của nước này trước khi bị người Norman chinh phục”. Những sách dạy chữa bệnh dân dã này mô tả các kỹ thuật giải phẫu, các bài thuốc bằng cây cỏ, cúng bái và bùa chú nhằm ngăn ngừa một loạt bệnh tật, trong đó có những bệnh đột ngột do “nọc độc bay” và “bị ma quỷ bắt”. Những mô tả về bệnh do ma quỷ ám có lẽ đề cập tới nhiều dạng bệnh tâm thần và các thể động kinh lạ. Nhiều bệnh mạn tính được gán cho “con sâu”, một thuật ngữ áp dụng cho mọi hình thức ký sinh, côn trùng, rắn và rồng. Một số mô tả khá nhiều màu mè về “con sâu” có lẽ là qua sự quan sát những sinh vật gây hại thường gặp trên người và gia súc. Các mẫu mô nhỏ và chất dịch thấy được trong chất bài tiết, chất ói, máu, hoặc giòi trong các vết thương hôi thối cũng là các bằng chứng cho biết sự hiện diện của con sâu.
Các sách y học dân gian của người Anglo-Saxon phản ánh sự pha trộn các quan niệm về y học và ma thuật của người Hy Lạp, La Mã, Teutonic, Celtic và Cơ Đốc giáo. Theo những tài liệu này, thầy thuốc có thể chữa bệnh bằng nhiều cách khác nhau như gọi tên các vị thánh, phép trừ tà hoặc đẩy bệnh sang các thứ cây cỏ, súc vật, đất hoặc nước chảy. Hầu như mọi thứ thuốc khi pha chế đều có đọc kèm lời cầu nguyện, câu chú cùng với những con số ma thuật như số 9 của dân ngoại đạo và số 3 của người theo đạo Cơ Đốc. Mặc dù kết án bùa là đồ ma thuật, những dạng đồ vật hộ mệnh được biến cải theo đạo Cơ Đốc khá phổ biến này vốn đã được đề cập trong các văn bản và rõ ràng là đã được sử dụng rộng rãi.
Các đơn thuốc trong sách điều trị dân gian gợi ý đến những bệnh thông thường mà người thời Trung cổ phải chịu đựng như viêm khớp, bệnh về mắt, bỏng, thai ngoài ý muốn, bất lực và hiếm muộn. Có một loạt các phương thức điều trị chứng tỏ thời đó chấy rận phổ biến khắp nơi. Các rối loạn do điều trị chẳng hạn như các biến chứng trích huyết không phải là không có. Khi hồi cứu, cũng không có gì ngạc nhiên khi gặp các trường hợp nhiễm trùng hoặc uốn ván trên các bệnh nhân được trích huyết rồi sau đó được băng lại bằng gạc có nhúng nước tiểu của ngựa (horses tord).
Các bài thuốc và bùa chú để điều hòa kinh nguyệt, ngừa sẩy thai, bảo đảm sinh con trai và làm giảm cơn đau đẻ đều được đề cập khá dài dòng.
Những ai hoài nghi có thể lập luận rằng các bài thuốc trong những sách thuốc dân gian có tác dụng là nhờ sự gợi ý, nhưng con đỉa được cho là có các công dụng tốt trong các bài thuốc thảo dược. Các loại cây cỏ làm thuốc gồm có đậu lupin, cây kỳ nham (henbane), cà độc dược và cây khoai ma (mandrake). Cây ông lao (birthwort) được dùng để chữa các ung thư ngoài da, nước cốt cây sen cạn (nasturtium) để chữa bệnh hói đầu, cây thạch tùng (?) (wolf’s comb) được sử dụng để chữa bệnh gan, và thổ hoàng liên (swallowwort) nằm trong thang thuốc chữa bệnh trĩ nếu khi thu hái cây thuốc đã đọc hết 9 bài kinh lạy cha. Người bệnh được dặn kỹ là phải theo sát các chỉ dẫn, nếu không sẽ gặp kết quả tai hại. Lấy ví dụ, sẽ đẻ con trai nếu cả hai vợ chồng đều uống một thứ bùa lấy từ tử cung con thỏ, nhưng nếu chỉ có vợ uống không thôi, thì sẽ đẻ ra một đứa trẻ bán nam bán nữ.
Các học giả và nhà dược sau khi xem xét lại nền y học thời Trung cổ có kết luận rằng một số thủ thuật và bài thuốc mang tính thực tế và hiệu quả. Lấy ví dụ, cây đậu lupine, là một trong các loại thảo dược được thường xuyên kê đơn trong các sách thuốc dân gian, được khuyên dùng cho bệnh phổi, co giật, điên, dùng làm thuốc kháng nọc độc, và cho những bệnh do ma quỷ, hoặc “người cõi âm” gây ra. Các nhà nghiên cứu ngày nay cho biết rằng, một số chứng co giật kinh niên có liên quan đến việc thiếu chất mangan trong cơ thể, cho nên hạt của loại đậu này (vốn chứa nhiều mangan) có thể có tác dụng trong điều trị chứng động kinh. Cây kỳ nham, cà độc dược, cây khoai ma và những thứ cây cỏ khác thuộc chi Datura được biết là có chứa các alkaloid mạnh như scopolamine và hyoscyamine. Tùy thuộc vào việc bào chế và liều lượng, chất chiết xuất của những loài cây trên, vì vậy, sẽ cho các tác dụng mạnh trên hệ thần kinh khi được dùng làm thuốc, làm thuốc độc, và chất gây ảo giác.
Căn cứ vào tầm quan trọng của các vật nuôi đối với nền kinh tế thời Trung cổ, không có gì lạ khi nhiều đơn thuốc vừa sử dụng cho thú và cho người, nhưng về mặt tôn giáo thú y thời Trung cổ lại là một vấn đề khác. Dù có bất cứ tác dụng tâm lý có lợi của nước thánh và cầu nguyện xảy ra trên con người, thật khó mà tưởng tượng rằng các nghi lễ tôn giáo lại gây được ảnh hưởng lên cừu, lợn, và ong. Việc sử dụng các nghi lễ ma thuật và ngoại đạo nhằm bảo vệ gia súc đều bị kết án cũng như khi áp dụng cho con người, với kết quả cũng như thế. Một số “cách chữa trị” còn hành hạ con vật nhiều hơn là chính bệnh tật. Lấy ví dụ, một nghi thức điều trị dành cho ngựa đòi hỏi phải dùng đến một con dao mà một nửa phải làm từ sừng của một con bò mộng để rạch thành hình chữ thập lên trán và các chi của con vật này. Sau khi xoi một lỗ trên tai trái con ngựa và vẽ một miếng bùa bằng chữ Latin trên phân nửa của con dao, người thầy thuốc tuyên bố rằng con vật đã được chữa lành.
Nền y học Anh sau thời kỳ này một chút được trình bày qua công trình của John xứ Gaddesden (1280-1361), ngự y của vua Edward II. Được nhớ tới đầu tiên là tác giả của bộ Hoa Hồng nước Anh, Sự Thực Hành Y Học Từ Đầu Đến Chân, John có lẽ là một khuôn mẫu cho Bác sĩ ngành Y (Doctor of Physic) của Chaucer. Theo Chaucer, quyển Hoa Hồng nước Anh (Rosa Anglica) chắc hẳn là một phần của thư viện của một thầy thuốc điển hình. John không chút ngượng ngùng tuyên bố rằng trước tác của mình được xếp đặt rất hoàn chỉnh và đầy đủ chi tiết đến mức các phẫu thuật viên và thầy thuốc không cần phải sử dụng đến sách khác. Có đủ các bài thuốc dành cho người giàu lẫn người nghèo. Lấy ví dụ, thầy thuốc có thể kê đơn những thứ thuốc đắt tiền cho bệnh nhân giàu có bị chứng phù thũng mạn tính, nhưng với bệnh nhân nghèo thì chỉ khuyên nên uống nước tiểu của chính mình mỗi buổi sáng.
Một trong những khuyến cáo nổi tiếng nhất trong bộ Hoa Hồng nước Anh là “liệu pháp đỏ” dành cho bệnh đậu mùa, trong đó có việc bọc ủ quanh nạn nhân mắc bệnh này mọi thứ có màu đỏ nhằm đẩy nhanh quá trình lành bệnh và không cho để lại sẹo. Ngoài việc đưa ra một vài lời khuyên có cơ sở về y học và những nhận xét cấp tính về cơn bệnh, John còn bàn luận về các thứ bùa chú và nghi thức truyền thống, chẳng hạn như mang vào cổ một cái đầu con chim cú để ngừa các cơn động kinh. Cách này đặc biệt hữu dụng khi điều trị cho mấy đứa bé không muốn uống thuốc. Một phần ngắn bàn về ngoại khoa như các phương pháp tháo dịch cho bệnh nhân bị phù thũng, nắn trật khớp và điều trị các vết thương. Một số đoạn khuyên thầy thuốc nên chú ý nhiều đến việc điều trị những bệnh nào mà có thể mang lại nhiều lợi lộc nhất.
Những đoạn văn dưới tiêu đề tiếng Latin về các chế độ vệ sinh (regimen sanitatis) được sử dụng như là các hướng dẫn thực tiễn về sức khỏe và cách duy trì sức khỏe, nguyên thủy được viết ra dành cho những người giàu có nhằm dạy cho họ biết những điều cơ bản về các quan niệm mà người thầy thuốc sử dụng để biện giải cho các phương cách trị liệu của họ. Các cẩm nang sức khỏe này làm rõ cách thức bố trí của y học theo ba thành phần theo quan niệm của Galen như sau: phần tự nhiên (như các chất dịch của cơ thể và những thứ tương tự), những thứ đi ngược với tự nhiên (như bệnh tật và các triệu chứng); những thứ không phải tự nhiên (những thứ gây ảnh hưởng đến cơ thể). Được hướng dẫn bởi người thầy thuốc, một cá nhân sẽ chọn lấy một chế độ thích hợp, tức là, một kế hoạch chi tiết, để xử lý 6 cái không-tự-nhiên (không khí và môi trường, vận động và nghỉ ngơi, đồ ăn và thức uống, ngủ và thức, bài tiết và bù đắp, và những ảnh hưởng đến tâm thần). Khi người thầy thuốc viết những hướng dẫn cho đại chúng, họ nhấn mạnh nhiều vào thuốc và những phương cách đơn giản để duy trì sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật.
Một vấn đề nổi cộm vào thời Trung cổ là sự tách rời giữa phẫu thuật và nội khoa. Mặc dù con đỉa của thời kỳ đầu thời Trung cổ được thầy thuốc và phẫu thuật viên đều sử dụng, nhưng phạm vi phẫu thuật thường chỉ bó gọn vào các biện pháp cấp cứu, chẳng hạn như trích huyết để điều trị, giác hút, đốt mô và các biện pháp cấp cứu đơn giản để đối phó với các tình huống thường gặp như bỏng, bầm, vết thương, loét, bong gân, trật khớp, đau răng, và gãy xương. Một số ít thầy thuốc gan dạ hơn có các kỹ năng đặc biệt như bóc đục thủy tinh thể, nhổ răng, và mổ lấy sỏi bàng quang.
Các thầy thuốc chuyên khoa hiện đại có thể ngạc nhiên khi thấy các đồng nghiệp thời Trung cổ là những người chữa mắt, người nắn xương, thợ nhổ răng, và những người quen tay khác tất cả đều thuộc hàng ngũ xoàng xĩnh chứ không phải là đội ngũ những thầy thuốc uyên bác. Tuy nhiên, trong suốt thời Trung cổ, các phẫu thuật viên đầy tham vọng cố tìm cách nâng cao vị trí chuyên môn của phẫu thuật như một ngành tri thức có các tài liệu cơ sở về kỹ thuật đồng thời là một ngành nghề hữu ích với những mặt nổi trội. Y văn chuyên môn của ngành phẫu thuật tăng lên vào thế kỷ thứ 13, nhưng những nét chính của truyền thống ngoại khoa trước đó cũng còn thấy trong các trường ca và thần thoại.
Một sản phẩm phụ của chiến tranh là cần phải có thầy thuốc ngoại khoa, cho nên các truyện kể mang phần nào tính huyền thoại về những người hùng vĩ đại và chiến trận có thể phản ánh các điều kiện của việc thực hành ngoại khoa ngoài chiến trường sát sao hơn là trong các tài liệu học thuật. Theo các nhà thơ sử ca Bắc Âu, nếu không có các thầy thuốc chuyên nghiệp, thì người nào có bàn tay khéo léo sẽ được giao nhiệm vụ chăm sóc người bị thương. Nhiều thầy thuốc nổi danh được cho là xuất thân từ các chiến binh có bàn tay khéo léo. Các chiến binh thực sự dũng cảm tự băng bó vết thương của mình và quay lại chiến trận. Đôi khi phụ nữ đảm nhận việc chăm sóc thương binh trong một chiếc lều đặc biệt hoặc trong ngôi nhà gần chiến địa. Một trường ca ca tụng chiến công (saga) có tả một phụ nữ rửa sạch vết thương bằng nước ấm và rút lấy mũi tên bằng kìm. Khi không thể tìm thấy đầu mũi tên, người phụ nữ này cho người bệnh ăn tỏi tây luộc chín. Lúc ấy, vết thương mới lộ ra nhờ có mùi tỏi.
Mặc dù các vị anh hùng trong trường ca sau khi trải qua phẫu thuật sơ sài trên chiến trường, có vẻ hoàn toàn bình phục và sẵn sàng ra trận, nhưng các đối tượng của các phẫu thuật đời thường hơn lại hay bị chảy máu, choáng và nhiễm trùng. Tuy khá quen với tác dụng gây ngủ của cây thuốc phiện, cây kỳ nham (henbane) và cây khoai ma (mandrake), các phẫu thuật viên cũng không sử dụng thường xuyên những thứ thuốc này trước cuộc mổ. Các dung dịch bào chế với rượu vang, trứng, mật và bia cũng được sử dụng để rửa và băng bó vết thương. Đồ băng bó vết bỏng có thể ở dưới dạng làm dịu với hỗn hợp lòng trắng trứng, mỡ và lá thuốc, hoặc có thể gia cường với phân dê.
Mặc dù đa số các phẫu thuật viên thời Trung cổ đều ở vị thế thấp hèn, một số các thầy thuốc có tiếng tiếc rẻ sự phân tách giữa nội khoa và phẫu thuật. Các bác sĩ uyên bác của thành Salerno, là trường y nổi tiếng nhất của Tây y thời Trung cổ, vẫn duy trì phẫu thuật ở tiêu chuẩn cao và dạy giải phẫu học, kỹ thuật ngoại khoa qua cách mổ xác động vật. Các tác giả thời Trung cổ đã đưa ra các bài giảng tiếng Latin đơn giản bằng cách kết hợp công trình của các bác sĩ tại Salerno với những đoạn trích trong y văn viết bằng chữ Ả Rập. Một chuyên luận về phẫu thuật, dựa trên các bài giảng của Roger Frugard, là người dạy và thực hành phẫu thuật tại Parma miền bắc nước Ý, được một đồng nghiệp của ông, Guido Arezzo trẻ, soạn vào khoảng 1180. Trong tập Phẫu Thuật rất uy tín và được nhiều người chép lại của Roger, có mô tả các phương pháp đóng vết thương, khoan sọ và gắp sỏi bàng quang và cũng khuyến cáo dùng thủy ngân cho các bệnh ngoài da, rong biển để điều trị bướu giáp.
Vào giữa thế kỷ 13, Roland tại Parma đưa ra một ấn bản quan trọng mới của chuyên luận phẫu thuật của Roland, và tác phẩm này mang tên là Rolandina. Roland, dạy học tại một trung tâm y học mới tại Bologna, đã dựa trên các phương pháp của Roger khi dạy học và hành nghề. Thậm chí đến tận thế kỷ 14, sau khi đã có những tài liệu mới hơn bằng tiếng Latin và những bản dịch các tài liệu y học của Galen và người Ả Rập, thì chuyên luận của Roger vẫn còn được trân trọng nghiên cứu. Vào đầu thế kỷ 14, các tài liệu do những thầy thuốc ngoại khoa tuy có học nhưng không rành tiếng Latin đã xuất hiện qua các ngôn ngữ phổ thông. Những tài liệu giản lược này cho ta biết các thông tin hữu ích về nội khoa và ngoại khoa và những tổng tập các bài thuốc.
Hugh xứ Lucca (khoảng 1160-1257), là phẫu thuật viên của thành phố Bologna, và người con là Theodoric, Giám mục xứ Cervia (1210-1298), có lẽ là người khéo léo nhất trong các phẫu thuật viên thời Trung cổ. Theodoric được coi là người đã tấn công hai kẻ thù lớn của ngành phẫu thuật - nhiễm trùng và sự đau đớn - và đã bác bỏ ý kiến cho rằng sự tạo mủ là một giai đoạn đương nhiên phải có nếu muốn vết thương lành miệng. Thật vậy, Theodoric nhận định rằng sự xuất hiện của mủ, đôi khi chính do các phẫu thuật viên cố ý, thực ra lại ngăn trở vết thương lành miệng. Ông này cũng phản đối việc sử dụng các chất phức tạp và có độc để băng bó vết thương.
Để giảm bớt đau trong phẫu thuật, Theodoric thử gây ngủ bằng cách sử dụng một “miếng xốp gây ngủ” có chứa những thứ thuốc từng được biết là tạo ra một trạng thái giống như ngủ. Trên thực tế, phương pháp của ông này hiệu quả đến đâu thì vẫn chưa rõ. Chất xốp được làm bằng cách nhúng vào một hỗn hợp các chất trích từ cây khoai ma (mandrake), cây thẩu (poppy), cây kỳ nham (henbane), và những thứ cây thuốc khác. Trước khi mổ, các miếng xốp khô được nhúng vào nước nóng và người bệnh được cho nhai miếng xốp rồi hít lấy hơi. Nếu thành công, người bệnh sẽ buồn ngủ và không nhớ gì đến cuộc mổ cả - nếu anh ta còn có cơ hội tỉnh lại.
Khoảng vào đầu thế kỷ 14, Henri de Mondeville, ngự y của vua Philippe le Bel đẹp trai nước Pháp, bắt đầu viết một chuyên luận lớn về phẫu thuật. Công trình vẫn còn dang dở khi Henri mất. Hơn thế nữa, tài liệu của ông này có văn phong luận chiến, gây nhiều tranh cãi, và thù địch với các cấp thẩm quyền y học. Tự hào về tài nghệ và thành quả của mình với tư cách nhà phẫu thuật, Henri phản đối các kết quả tai hại khi tách rời phẫu thuật ra khỏi y học. Vào cuối thế kỷ trên, các thầy thuốc trong Khoa Y của đại học Paris buộc các sinh viên tốt nghiệp phải thề rằng họ sẽ không làm bất cứ thủ thuật nào. Công trình của Henri chẳng bao lâu đi vào quên lãng và chỉ đến năm 1892 mới được in ra. Về sau, tước hiệu “cha đẻ của ngành phẫu thuật Pháp” được trao cho một người học trò của Henri là Guy de Chauliac (khoảng 1298-1368), là một thầy thuốc và phẫu thuật viên xuất sắc, tác giả của một chuyên luận về phẫu thuật vẫn còn được sử dụng đến tận thế kỷ 18. Công trình của Guy, được soạn khoảng năm 1363, được coi là một tài liệu ngoại khoa có giá trị nhất của thời đó. Ít nhất là trong vòng hai thế kỷ, đa số các tài liệu viết bằng tiếng Latin và tiếng địa phương về phẫu thuật tại châu Âu đều dựa trên công trình của Roger Frugard và Guy de Chauliac.
PHỤ NỮ VÀ Y HỌC
Ngoài một số ít phụ nữ ngoại hạng được công nhận về trình độ cao trong y văn làm việc tại các tu viện hoặc tại trường đại học Salerno, phụ nữ nói chung thường không được theo học ngành y chính thức và như thế cũng không được tham dự vào việc thực hành hợp pháp trong một nghề nghiệp mang nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy các thầy thuốc phụ nữ trong mọi tầng lớp của cộng đồng y khoa thời Trung cổ - thầy thuốc, phẫu thuật viên, phẫu thuật viên-thợ cạo, người bán thuốc, người trích huyết bằng con đỉa và một loạt các thầy thuốc chữa bệnh gia truyền. Cũng giống như trong trường đại học hoặc một tập đoàn hiện đại, trong sự phân bố người ta chú ý nhiều đến số lượng đông đảo của tầng lớp dưới hơn là hàng ngũ chóp bu. Mặc dù các thầy thuốc thời Trung cổ đã tranh giành kịch liệt nhằm kiểm soát việc hành nghề Y có thu tiền, rõ ràng là phần lớn những việc chăm sóc người ốm hàng ngày, không công là do phụ nữ thực hiện tại nhà.
Trừ một số ngoại lệ hiếm hoi, phụ nữ với tư cách thầy thuốc và bệnh nhân phần lớn đều không hiện diện trong lịch sử y học châu Âu. Mặc dù phụ nữ được coi là chịu nhiều bệnh tật và tai ương hơn là nam giới, thì những “than thở của giới đàn bà” thường chỉ được nhắc tới khi nói đến thai kỳ, sinh đẻ, cho con bú và những rối loạn kinh nguyệt. Thầy thuốc phụ nữ thường là nữ hộ sinh, điều dưỡng, hoặc những “bà già thông thạo”. Kể từ những năm 1970 trở đi, các sử gia chuyên nghiên cứu về các vấn đề phụ nữ, giới tính và lịch sử xã hội đã góp phần làm rõ bức tranh này và cho ta biết thêm về việc hành nghề y và chăm sóc y tế trong suốt thời Trung cổ.
Ngoài việc phục hồi công trình và cuộc đời của những phụ nữ ngoại hạng và thành đạt, tuy đã “biến mất” trong lịch sử, các học giả mới ý thức được những cách thức mà các tài liệu còn lưu lại và các phương pháp thông thường đã làm méo mó như thế nào cách nhìn về lịch sử của chúng ta xét về mặt giới tính.
Thay vì nghiên cứu về thế giới của những người “ưu tú” hành nghề y, các sử gia đã nhìn xa hơn vào thế giới của những người hành nghề chăm sóc sức khỏe và các vấn đề giới tính có liên quan đến sức khỏe và bệnh tật.
Cũng như những thầy thuốc phụ nữ không chỉ giới hạn ở vai trò của nữ hộ sinh, các bệnh nhân phụ nữ không giới hạn sự chọn lựa người tư vấn về y học vào những người cùng giới tính, ngay cả khi vấn đề của họ có tính tế nhị, chẳng hạn như hiếm muộn. Tình trạng biết chữ rõ ràng là rất thấp vào thời kỳ này, nhưng một số phụ nữ có mua sách và sử dụng đến sách vở, trong đó có tài liệu y học. Các sử gia cũng nắm được mức độ hiểu biết của phụ nữ về các thông tin y học được viết ra khi nghiên cứu về chủ nhân giữ những quyển sách đặc trưng.

Bức vẽ thời Trung cổ mô tả một ca phẫu thuật gan.
Phần lớn những thầy thuốc phụ nữ bình thường không lưu lại dấu vết gì trong sử liệu, nhưng các nghiên cứu về cuộc đời của Hildegard xứ Bingen (1098-1179) đã cho ta một hình ảnh sống động của một trong những tác giả đáng chú ý nhất của thế kỷ 12 viết về các vấn đề y khoa và vũ trụ luận.
Được nhiều người biết và trọng vọng như là một nhà văn, nhà soạn nhạc và chữa bệnh khi còn sống nhưng chẳng bao lâu tất cả đều đi vào quên lãng trừ ở quê hương nước Đức. Thánh Hildegard được coi như là một nhà thần bí, nhà viễn tưởng, và nhà tiên tri, nhưng các bài viết của bà nhắc đến kinh nghiệm thực tiễn và sự tò mò không giới hạn về những sự kỳ diệu của tự nhiên. Sự quan tâm trở lại đến thánh Hildegard vào thế kỷ 20, đã làm cho các học giả, các nhà tranh đấu cho nữ quyền, nhạc sĩ, thầy thuốc sử dụng thảo dược, thi sĩ và các thầy thuốc vi lượng đồng căn chú ý trở lại tên tuổi của bà.
Là đứa con thứ 10 của một gia đình quý tộc, Hildegard bước vào dòng tu kín khi được 8 tuổi. Bà tuân thủ lời thề giữ cuộc sống tu hành vào tuổi thiếu niên và được chọn làm tu viện trưởng một tu viện dòng Benedictine vào năm 1136. Vốn đã thấy được những ảo giác từ khi còn nhỏ, khi được 15 tuổi Hildegard bắt đầu nhận được các mặc khải về bản chất của vũ trụ và nhân loại. Những ảo giác này được một giọng nói từ trên trời giải thích cho bà bằng tiếng Latin. Năm 1141, có một tiếng gọi thần thánh ra lệnh cho bà phải ghi lại và giải thích các ảo giác đã gặp. Khi bắt đầu viết, Hildegard nghĩ rằng mình là người phụ nữ đầu tiên tiếp cận một nhiệm vụ như vậy. Sau khi được Giáo hoàng điều tra về bản chất của những mặc khải của bà, Hildegard mới trở thành một người nổi danh thực sự và chính thức được khuyến khích tiếp tục công việc. Các bậc Giáo Hoàng, vua chúa và học giả đều tìm đến để xin lời khuyên. Vào tuổi 60, Hildegard dồn hết sức lực chú tâm vào công việc cải cách công việc tu hành và tu viện.
Tác phẩm Physica của Hildegard, Sách về Y học đơn giản hoặc Chín quyển sách về những tinh tế của nhiều loài sinh vật, có lẽ là quyển sách đầu tiên của một tác giả nữ bàn luận về các yếu tố và tính chất điều trị của cây cỏ, động vật và kim loại. Đây cũng là quyển sách đầu tiên về lịch sử tự nhiên được soạn ra ở Đức. Sách cũng bàn nhiều đến các kiến thức y học truyền thống nói về cách sử dụng trong y học hoặc các độc tính của nhiều loại cây cỏ, động vật có vú, loài bò sát, khoáng chất, ngọc quý và kim loại. Một công trình chính khác của Hildegard, Sách về Y học tổng hợp, hoặc Nguyên nhân và Cách chữa trị, bàn về bản chất, hình thể, nguyên nhân và việc điều trị bệnh, sinh lý học và tình dục con người, chiêm tinh học và nhiều thứ khác. Điều thú vị là hai quyển sách nói về y học lại không nhắc đến sự cảm ứng thần linh.
Chủ yếu dựa vào thuyết dịch thể truyền thống, Hildegard thường đề cập đến các điều trị đặt trên nguyên tắc đối nghịch. Thực phẩm, thuốc và đá quý được kê vào đơn thuốc để ngăn ngừa và chữa bệnh. Lấy ví dụ, ngọc xanh sapphire được khuyến cáo để điều trị bệnh về mắt và làm thuốc giảm dục, cho nên sapphire trở thành một thứ ngọc phù hợp được dùng trong các tu viện. Các bài thuốc chứa các bộ phận của những con thú lạ, chẳng hạn như gan kỳ lân và tim sư tử được khuyến cáo dành cho những bệnh đáng sợ như bệnh hủi.
Khi thăm dò những bệnh tâm thần cũng như bệnh thực thể, Hildegard bàn đến những chứng như chứng cuồng, mất trí, ám ảnh và ngu độn. Theo bà Hildegard, ngay cả những trạng thái tinh thần kỳ quặc nhất cũng có nguyên nhân tự nhiên. Vì thế, người ta có thể cho rằng một người đàn ông bị ma ám trong khi vấn đề thực sự có thể là một cơn nhức đầu, nhức nửa đầu và chóng mặt xảy ra cùng một lúc. Hildegard có lẽ đã chú ý nhiều đến những chứng bệnh này. Thật vậy, các thám tử y học hiện đại đã chẩn đoán những cơn ảo giác của bà là những ví dụ kinh điển của chứng nhức nửa đầu.
Phần lớn các thầy thuốc phụ nữ hành nghề y và đỡ đẻ vào thời Trung cổ đều không để lại vết tích gì về hoạt động của họ trong sách vở cả. Chắc chắn là nguy hiểm cho những ai buộc phải sống ngoài rìa xã hội khi gây sự chú ý của chính quyền và trực tiếp cạnh tranh với các thầy thuốc có giấy phép hành nghề. Vì vậy, mặc dù có ít phụ nữ đạt đến trình độ học vấn và ảnh hưởng như bà thánh Hildegard có được một cách an toàn trong tu viện kín cổng cao tường, nhiều phụ nữ khác thời Trung cổ đã phục vụ với vai trò điều dưỡng, người chữa bệnh bằng cây cỏ và thầy thuốc trong các bệnh viện và bệnh xá tại châu Âu và vùng đất Thánh. Một ví dụ, Thánh Walpurga (chết 779) là một công chúa xứ Anh đã từng học ngành y và thành lập một tu viện nữ tại Đức. Bà này thường được vẽ một tay cầm một lọ chứa nước tiểu còn tay kia cầm băng gạc.
Một trong những công trình phổ biến nhất về y học phụ nữ, một tài liệu thường được gọi dưới tên Trotula, được gán cho một phụ nữ có lẽ là thành viên của một nhóm các thầy thuốc nữ có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với trường phái y khoa Salerno vào thế kỷ thứ 11 và 12. Có một số bằng chứng cho thấy phụ nữ được phép theo học và dạy y khoa tại một số đại học ở Ý từ thế kỷ thứ 12 đến thế kỷ 14. Tại đại học Salerno, môn học về bệnh đàn bà là lĩnh vực chuyên môn của các nữ giáo sư. Theo một số tài liệu, thì Trotula (còn gọi là Trocta hoặc Trotta) đã dạy, viết và hành nghề y trong suốt thế kỷ thứ 12. Tuy vậy, Trotula và những phụ nữ y khoa thời Trung cổ thường được coi là không có thực. Thực vậy, cho tới khi chứng minh được sự uyên bác gần đây của các phụ nữ thời Trung cổ, nhiều người còn đặt niềm tin vào kỳ lân và việc bị người ngoài hành tinh bắt cóc hơn là sự hiện diện của các thầy thuốc nữ, các tác giả y học nữ, nữ giáo sư và thậm chí nữ độc giả. Tuy nhiên, từ thập niên 1990 trở đi, nhiều học giả đã tìm thấy bằng chứng biết đọc chữ tại châu Âu thời Trung cổ, trong đó có tình trạng biết chữ của phụ nữ, thực ra cao hơn nhiều so với ước tính trước kia. Tuy nhiên, việc truyền bá bằng miệng vẫn còn quan trọng ngay cả khi số người biết chữ tăng lên, nhất là về kiến thức và các kỹ thuật điều trị. Một số học giả cho rằng có một thầy thuốc nam giới viết một tài liệu căn cứ trên công trình của một thầy thuốc nữ người Salerno và sau đó đặt tên tác phẩm là Trotula để làm vinh danh người phụ nữ này. Có lẽ, tác giả giả định nam giới cho rằng vì những tài liệu này viết về “các bí mật phụ nữ” cho nên phải gán tác phẩm cho một tác giả phụ nữ chứ không phải vì đây là một trước tác quan trọng.
Ít nhất trong một chừng mực, sự mù mờ về Trotula có phải là một tác gia y học minh họa một vấn đề chung trong việc xác định ai là tác giả của các bản thảo y học thời Trung cổ. Nhiều bản thảo chỉ là những bản chép lại không ghi rõ tên của tác giả gốc. Khi các bản in xuất hiện vào thế kỷ 15 và 16 thì người ta mới đặt ra các giả định về tác giả, thường là không đủ bằng chứng. Nếu sự nghiên cứu gần đây về truyền thống Trotula không giải quyết được bài toán đố về tác phẩm và tác giả, thì nó cũng cho ta biết một phần về việc truyền bá và sai lệch của những bản chép đầu tiên của các bản thảo. Rõ ràng là ba bản thảo khác nhau tại Salerno vào thế kỷ 12 về bệnh phụ nữ đã được gộp lại thành một trước tác mang tên Trotula. Trotula có thể đã viết một hoặc nhiều bản thảo nguyên thủy, nhưng tên tuổi của bà này có lẽ đã được gắn vào các tác phẩm khác, cũng như một số tác phẩm đã được gán ghép một cách nhầm lẫn cho Hippocrates hoặc Galen. Trong suốt thế kỷ 16, các bản thảo hợp thành tác phẩm Trotula ngày nay đã được biên tập, sắp xếp lại và in ra, làm thành một tác phẩm cuối cùng và được dịch sang nhiều thứ tiếng địa phương.
Tác phẩm Trotula có những phần bàn luận về phụ khoa, sản khoa, bệnh phụ nữ và thẩm mỹ. Ngoài phần bàn đến các khía cạnh quan trọng trong y học phụ nữ, tác phẩm còn nói đến các công thức làm cho thơm tóc, quần áo và hơi thở, các mỹ phẩm làm sáng da mặt, tay và răng, các loại kem để làm bay vết nám xảy ra sau khi sinh con, các loại thuốc nhuộm và làm cho tóc dày ra, các loại thuốc cao và các thứ thuốc tẩy vết bẩn trên đồ vải. Các đơn thuốc tẩy lông trước khi sử dụng phải được thử trên lông chim để bảo đảm là không làm cháy da. Tác phẩm cũng ghi lời khuyên về vệ sinh phụ nữ, các vấn đề kinh nguyệt, hiếm muộn, vòng đặt trong âm đạo cho các góa phụ và nữ tu sĩ, các phương pháp để phục hồi trinh tiết, các thứ thuốc điều hòa kinh nguyệt, thuốc gây xổ và nhiều thứ nữa. Dường như Trotula rất tin tưởng rằng kinh nguyệt đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe phụ nữ. Nếu điều này đúng, thì có nhiều đơn thuốc được coi là “làm cho ra kinh” có thể đã được kê đơn để làm điều kinh, mặc dù đây chỉ là cách nói hoa mỹ đối với thuốc trục thai. Tác phẩm bàn về các chế độ đúng cho phụ nữ có thai, các dấu hiệu thai kỳ, sinh khó, giải quyết sẩy thai, chăm sóc sau sinh, việc cho con bú, và các vấn đề liên quan đến tuyến vú. Phần bàn luận về việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh bao gồm lời khuyên cách tìm vú em, thuốc trị bệnh chốc đầu, các loại ký sinh trùng ở trẻ em, ói mửa, sưng họng, ho gà và đau nhức.
Các ý tưởng thời Trung cổ về sức khỏe và sinh lý học phụ nữ rõ ràng là chịu ảnh hưởng của các tài liệu y học Salerno mà về sau được in ra thành tác phẩm Trotula. Có lẽ, ảnh hưởng lâu dài của tác phẩm tương ứng rất nhiều với các phát hiện gần đây là các bản thảo Trotula hầu như bao giờ cũng do các thầy thuốc nam giới sở hữu và sử dụng. Các sử gia gợi ý rằng hình thức sở hữu này cho thấy trong suốt thời Trung cổ, các thầy thuốc nam giới đã tìm cách mở rộng phạm vi phục vụ của họ sang lĩnh vực phụ khoa. Thật vậy, một số sử gia tin rằng về cơ bản tất cả các tài liệu về phụ khoa thời Trung cổ đều do nam giới viết để cho thầy thuốc nam giới sử dụng. Những phát hiện này đã thách thức những nhận định trước đây là trong suốt thời Trung cổ, phụ nữ chỉ tìm đến các thầy thuốc phụ nữ về các vấn đề như kinh nguyệt, khả năng sinh sản, thai kỳ và sinh con. Phụ nữ thường tìm sự tư vấn của các bà đỡ về “các bệnh tật phụ nữ” cũng như việc sinh đẻ, nhưng để xác định được phạm vi hoạt động của ngành hộ sinh thời Trung cổ quả thật là khó bởi vì các bà mụ không có hội đoàn hoặc các hội nghề nghiệp. Nói chung, các quy định liên quan đến ngành hộ sinh chỉ đến thế kỷ 15 mới xuất hiện và các quy định cho phép hành nghề thường nhằm đến vấn đề đạo đức hơn là năng lực y khoa.
Trái ngược với những nhận định thông thường về các thầy thuốc nữ tại châu Âu thời Trung cổ, các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phụ nữ đã hành nghề nội khoa và phẫu thuật cũng như đỡ đẻ. Lấy ví dụ, tại một số vùng ở nước Pháp, phụ nữ có thể hành nghề nội khoa hoặc phẫu thuật nếu họ qua được một kỳ sát hạch. Tuy nhiên, khi các trường y và các tổ chức nghề nghiệp chiếm được uy tín và quyền lực, thì các luật lệ quản lý việc hành nghề y khoa càng ngày càng trở nên ngặt nghèo hơn trên khắp châu Âu. Những ai hành nghề không có phép đều bị truy tố, phạt tiền hoặc bị rút phép thông công vì vi phạm luật pháp. Nhiều người âm thầm chăm sóc cho người ốm, tên của họ chỉ bị nêu ra khi bị các thầy thuốc muốn tranh giành thị trường chăm sóc sức khỏe tố cáo. Như trong trường hợp Jacoba (hoặc Jacquéline) Felicie ở Paris năm 1322, không được đào tạo chính quy không có nghĩa là kém tài năng hoặc kinh nghiệm.
Khoa trưởng và khoa Y của đại học Paris kết tội Jacoba là đã lén lút khám bệnh, lấy mạch, nước tiểu, khám thân thể, tứ chi cho bệnh nhân, kê đơn, lấy tiền công khám, và tệ hơn nữa, là đã chữa lành cho bệnh nhân. Jacoba không những đã cảm thấy đủ khả năng hành nghề, mà còn cho rằng mình đủ sức để tự biện hộ. Người bệnh được mời tới làm chứng đã ca ngợi tài của bà này; một số cho biết rằng bà ta đã chữa cho họ khỏi bệnh trong khi các bác sĩ chính quy không làm được. Jacoba lập luận rằng luật pháp đặt ra là để ngăn không cho những tay lang băm dốt nát và bất tài hành nghề; còn với Jacoba, do có đủ kiến thức và tài năng cho nên luật pháp không áp dụng tới. Hơn thế nữa, do bản tính e lệ tự nhiên của “việc riêng” những bệnh phụ nữ, cho nên cần phải có thầy thuốc nữ.
Vị khoa trưởng và khoa Y khi khởi tố Jacoba cũng không bác bỏ tài năng của bà này, nhưng họ lập luận rằng y học là một khoa học được truyền đạt qua sách vở chứ không phải là một nghề chỉ cần học qua kinh nghiệm. Thực ra thì mục tiêu lớn của khoa y đại học Paris là nhằm kiểm soát việc hành nghề của các phẫu thuật viên, thợ cạo, các thầy thuốc gia truyền dù là nam giới hay phụ nữ. Vì vậy, các phiên tòa xử các thầy thuốc không có giấy phép cho ta biết phần nào về cuộc đời của những người hành nghề thầm lặng và mối quan hệ giữa các thầy thuốc không được công nhận và cộng đồng y khoa ưu tú. Đối với vụ kiện chống lại Jacoba, tòa án nhất trí với cách giải trình về những quy chế mà Khoa Y đưa ra. Tuy nhiên, các ý kiến ngày nay về việc chuyên khoa hóa ngành nghề và tình trạng pháp lý của các thầy thuốc sẽ khác rất nhiều với những ý kiến thịnh hành vào thời Trung cổ. Thật vậy, trong toàn bộ lịch sử, đa số các thầy thuốc, dù là nam hay nữ, đều hành nghề không có giấy phép và chỉ có một nhóm nhỏ có bằng cấp đại học. Tuy nhiên, sự cạnh tranh giữa nhiều hạng thầy thuốc khác nhau, là một yếu tố trong thị trường y khoa thời Trung cổ - thầy thuốc, phẫu thuật viên, người bán thuốc và thầy thuốc gia truyền.
Các tài liệu thời Trung cổ nói về các thầy thuốc nữ không có nhiều, nhưng các sử gia đã tìm được một vài ví dụ về các phụ nữ chuyên trị bệnh thống phong và bệnh về mắt và một thầy thuốc nữ có tước hiệu “đại sư” (magistra). Giữa thế kỷ 13 và 15, một số phụ nữ được cấp giấy phép hành nghề nội khoa hoặc phẫu thuật, mặc dù đôi khi việc hành nghề của họ chỉ khu trú vào bệnh nhân nữ, hoặc các rối loạn liên quan đến tuyến vú và các cơ quan sinh sản. Lấy ví dụ, luật của Tây Ban Nha thế kỷ 14 cấm phụ nữ không được hành nghề y hoặc kê đơn, nhưng luật lại chừa một ngoại lệ dành cho phụ nữ và trẻ em. Vì không có được tiêu chuẩn đào tạo chính quy đối với đa số các nghề nghiệp, cho nên phụ nữ và nam giới thời Trung cổ có thể làm nhiều ngành nghề khác nhau toàn thời gian hoặc bán thời gian trong cuộc đời của họ. Vì thế, nhiều nghề nghiệp trong lĩnh vực chữa bệnh như hộ sinh, chữa bệnh bằng thảo dược, điều dưỡng và phẫu thuật có thể đã được hành nghề không chính thức hoặc tùy lúc. Những ai đạt được ít nhiều thành công trong những công việc trên có thể được gia đình, bè bạn, hàng xóm xem như là thầy thuốc mặc dù họ không hề được đào tạo gì cả hoặc có được phép hành nghề chính thức. Phụ nữ có thể là người tích cực tham gia vào công việc của cha hoặc chồng, bởi vì không có mấy sự phân tách giữa việc nhà với phòng mạch, hoặc chăm sóc người trong gia đình và giám sát những thợ học việc. Có rất ít phụ nữ có tên trong các hội nghề nghiệp thời Trung cổ, nhưng có khả năng là nhiều phụ nữ xin phép được hành nghề nội khoa hoặc phẫu thuật khi cha hoặc chồng của họ chết, vì trước đó những phụ nữ này đã thực hiện những công việc có liên quan đến các nghề nghiệp trên.
Các thầy thuốc phụ nữ có giấy phép hành nghề hầu như biến mất vào thế kỷ thứ 16, nhưng biết bao lang băm nhộn nhịp bán thảo dược, bùa ngải. Đội ngũ những người hành nghề ngoài pháp luật này gồm có phẫu thuật viên - thợ cạo, thầy thuốc chữa bệnh bằng thảo dược, nữ hộ sinh và điều dưỡng. Khi nghề y chiếm được nhiều quyền lực và uy tín hơn, thì vị trí của các thầy thuốc phụ nữ lại càng trở nên bấp bênh. Dù các công trạng tương đối của các học giả, tu sĩ, thầy thuốc, nữ hộ sinh và thầy thuốc gia truyền có đến mức nào, thì có lẽ những thầy thuốc ưu tú nhất của thời Trung cổ là những người được nêu tên trong quyển cẩm nang y học phổ thông mang tên Chế độ điều trị Salerno: bác sĩ Thanh thản, bác sĩ Nghỉ ngơi, bác sĩ Tiết thực và bác sĩ Yêu đời. Tiếc rằng những vị bác sĩ này không hề nằm trong danh sách nhân viên của một bệnh viện nào đó hoặc đến túp lều của người nghèo mà thăm bệnh.