TIẾN RA PHÍA TRƯỚC
Bằng ngón tay trỏ xương xẩu, anh Hoàng Đưởm chọc một đường thẳng trên bản đồ suốt từ sông Bến Hải đến sông Cửa Việt sau đó, cùng với ngón tay ấy, anh chụp xuống, đè chặt lấy khúc sông Cửa Việt vẽ trên giấy.
– Chọc thủng vào đây - anh Đưởm nói, bịt chặt khúc sông này, không để bất cứ một chiếc tàu tiếp tế nào của Mỹ đi từ Cửa Việt đến Đông Hà.
Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 47 Trần Thà im lặng, anh đưa ngón tay gãi gãi trên má như định phủi một cái gì dính vào đó. Chính trị viên Trần Thanh Điệu chống hai tay xuống mặt bàn, hơi ưỡn về phía trước. Bốn con mắt nhìn dán vào bản đồ song tôi biết, họ đang nghĩ đến thực địa. Từ sông Bến Hải đến sông Cửa Việt, ngót hai chục cây số không thể chọc một cách dễ dàng như lướt ngón tay trên bản đồ. Trước hết phải vượt "hành lang lửa" dọc sông Bến Hải. Sau đó là tuyến phòng ngư dày đặc của địch : điểm cao 31, Nhĩ Trung, Nhĩ Hạ, Lâm Xuân, Hoàng Hà, Mai Xá... là đối mặt với lính thủy đánh bộ, với hải quân, với “giang thuyền Mỹ, ngụy”. Bịt sông Cửa Việt, có nghĩa là thít chặt cổ họng của hàng vạn quân Mỹ ở Đông Hà, Cam Lộ, Khe Sanh, chúng không thể ngồi yên, chúng sẽ phải quẫy mạnh.
– Bịt chừng bao lâu, thủ trưởng? - Trần Thà hỏi.
Anh Đưởm xòe cả hai bàn tay :
– Mười ngày, chỉ mười ngày là đạt yêu cầu.
Anh nhìn Trần Thà rồi lại nhìn sang Thanh Điệu, nói tiếp :
– Dĩ nhiên nếu bịt được lâu hơn thì càng tốt.
Thanh Điệu ngước lên nhìn anh Đưởm và tôi :
– Đề nghị các anh cho biết tình hình nhân dân ở vùng này.
– Nhân dân à - anh Đưởm gãi đầu, nói chung thì nhân dân ở đâu cũng tốt, cũng hướng về cách mạng, nhưng... cơ sở của ta ở đây còn yếu, địch vẫn coi vùng này thuộc loại A, tức là... an toàn đối với chúng nó.
Im lặng. Không ai nói, cũng không nhìn nhau, bốn bộ mặt cùng một vẻ nghiêm trang, đắm đuối. Trong cuộc chiến đấu ta vẫn thường gặp những khoảnh khắc yên lặng thế này đây. Không cần nói, chỉ đọc trong mắt nhau, đủ thấy trận đánh sắp tới sẽ khó khăn, ác liệt và cái gánh trách nhiệm đang chia nhau nặng đến mức nào. Tôi nhớ lại nét mặt anh Đàm Quang Trung và anh Nguyễn Xuân Hoàng hôm các anh giao nhiệm vụ cho tôi và anh Đưởm ở sở chỉ huy Mặt trận B5. Cũng đanh lại, cũng nghiêm trang, khác hẳn anh Trung, anh Hoàng lúc bình thường. “Mũi chặn sông này hết sức quan trọng” - anh Quang Trung nói chậm, dằn từng tiếng. "Nó sẽ góp phần quyết định vào thắng lợi của toàn mặt trận". Chúng tôi đã tính rồi, có thể trong mười ngày ấy 47 sẽ hy sinh một nửa quân số thậm chí hai phần ba. Đề nghị các anh nói rõ với chiến sĩ điều đó và để họ tự xác định lấy thái độ.
Tôi ngước nhìn Trần Thà, bất giác thấy yêu mến anh, thương anh một cách lạ lùng. Một cán bộ hàng chục năm rồi chưa biết đến nghỉ ngơi, lúc nào cũng lận đận, cũng đứng ở mũi nhọn của cuộc chiến đấu. Năm 1965, khi đảo Cồn Cỏ bị địch đánh phá dữ dội nhất, anh được cử ra đấy làm nhiệm vụ chỉ huy. Anh vừa ở đảo về tháng trước. Đáng lẽ phải có thì giờ để anh nghỉ ngơi nhưng chúng tôi không còn biết sắp xếp vào lúc nào nữa. Đặt chân lên đất liền hôm trước, hôm sau đi nhận nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 47, đơn vị bộ binh chủ công của Vĩnh Linh Và giờ đây, anh và đồng đội lại sắp lao vào một trận đánh chắc chắn còn ác liệt hơn Cồn Cỏ rất nhiều. Vợ Thà, chị Thu làm công nhân nông trường tận Quỳ Hợp(Nghệ An), gần biên giới Việt Lào. Vừa qua nhân tiện đi họp ở Hà Nội về tôi có ghé thăm. Một buổi chiều mùa đông mưa núi giăng mù mịt, ba mẹ con đang lúi húi nấu ăn trong bếp. Chị đứng sững sờ nhìn tôi một hồi lâu mới nói được: "Ba các cháu có gầy lắm không hả bác.?... "
Trần Thà đứng dậy :
– Báo cáo các thủ trưởng, chúng tôi xin chấp hành mệnh lệnh.
Tôi nắm chặt tay anh và Điệu :
– Cố gắng nhét Trận đánh sẽ hết sức ác liệt, mong rằng các đồng chí luôn luôn giữ vững vai trò chỉ huy và lãnh đạo của mình.
Tôi hiểu rằng những lời của tôi không đầy đủ. Nhưng biết nói gì hơn nữa? Cuộc đời, tháng năm chiến đấu của những con người đang đứng trước mặt tôi cao đẹp gấp nghìn lên so với bất cứ từ ngữ tốt đẹp nào tôi có thể chọn được.
⚝ ⚝ ⚝
Ngày 18 tháng Giêng 1968.
Trong lúc đại quân của Mặt trận đường Chín từ nhiều hướng đổ vào thung lũng Khe Sanh thì ở phía đông, bộ đội, dân quân tự vệ Vĩnh Linh được lệnh vượt sông Bến Hải cùng với lực lượng vũ trang và đồng bào Quảng Trị tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Bốn giờ chiều, giữa lúc mọi người đang hối hả, tất bật sửa soạn lên đường, anh M chạy đến tìm tôi. Vẻ mặt nghiêm trọng, anh nhìn trước nhìn sau rồi hạ thấp giọng, nói nhỏ :
– Tôi muốn báo cáo với anh một việc...
Tôi chột dạ, vội bỏ dở mấy thứ đồ đạc đang xếp, ngẩng lên.
– Báo cáo anh cậu D...
– Làm sao?
– Cậu D với cô X...
Anh M kể một thôi một hồi về những chuyện nhăng nhít giữa anh D.và cô. X. Sốt ruột quá, tôi phải lên tiếng cắt đứt câu chuyện.
– Thôi được rồi, tôi hiểu rồi.
Anh M hơi phật ý, đứng im lặng một lúc rồi nói tiếp :
– Tôi đề nghị anh để cậu D ở nhà để kiểm thảo đã, vấn đề này nghiêm trọng lắm.
– Không được, phải để cậu ta đi chiến đấu chứ.
– Đi chiến đấu ạ !...
Anh M có vẻ chưa thông nhưng không còn đủ thì giờ để nói thêm nữa, tôi vỗ vai anh :
– Thôi được mình chịu trách nhiệm về vấn đề này, cứ để cậu ta đi chiến đấu đã, sau này về sẽ giải quyết.
Điều rắc rối ấy làm phân tán tâm trí tôi mất một lúc. Kể cũng hơi bực. Tại sao đang sống giữa dòng thác vĩ đại của đất nước trong giờ phút lịch sử này mà có người vẫn không thắng nổi những dục vọng tầm thường. Đáng buồn hơn, anh D lại là một cán bộ có năng lực và dũng cảm. Nhưng rồi, tôi cố quên đi và tôi đã quên được. Chụp mũ sắt lên đầu, tôi khoác xà cột vào vai, bước ra khỏi hầm. Mặt trời sắp lặn. vài vệt nắng cuối cùng còn lưu lại trên nóc hầm, chập chờn, lay động như nhảy múa. Đứng ở cửa hầm bên kia, anh Đưởm đang nói chuyện với anh Phùng Bỉnh. Cả hai người cũng đều đã đội mũ, khoác súng sửa soạn lên đường. Trông các anh như trẻ hẳn ra. Từ một nhánh hào phía tay trái, cháu Tẩm con anh Lẹ lon ton chạy tới :
– Bác Lân đi mô cho Tẩm đi với. -Cháu nói, vẻ mặt nũng nịu.
Cơ quan tôi đóng trong khu vườn nhà anh Lẹ. Hầm tôi và hầm anh chỉ cách nhau vài chục mét. Ngày ngày cháu Tẩm vẫn sang chơi, có khi cháu ngủ lại cả đêm. Những buổi chiều rỗi rãi, ít bom pháo, tôi vẫn dắt cháu dạo chơi quanh quẩn trong đường hào, kể chuyện cổ tích cho cháu nghe. Tôi bế cháu lên và thơm vào bầu má phinh phính mát rượi của nó :
– Tẩm ở nhà để bác đi đánh giặc.
– Đi đánh giặc là đi mô? - Cháu hỏi, hai con mắt nhìn tôi đen láy như hai hạt nhãn.
Cháu mới lên bốn, đã hiểu thế nào là đánh giặc. Tôi muốn nói với cháu rằng : “Đi đánh giặc là đi giết những đứa đã có lần ném bom vào hầm cháu, suýt làm cháu chết ngạt đấy, cháu còn nhớ không? Là để cho cháu và các bạn của cháu sau này lớn lên chỉ còn biết có học hành, ca hát và lao động sáng tạo”. Bà cụ Lẹ từ trong hầm đi ra. “Tẩm ở nhà với mệ cho bác đi công việc”. Bà cụ vừa nói vừa đỡ lấy cháu trong tay tôi.
– Bác đi cho được mạnh giỏi.
Bà cụ nói, giọng khẽ khàng, hơi run run. Và trong đôi mắt ngước nhìn tôi, tôi thấy có một cái gì khác lạ, chưa từng có. Dặn dò, cầu chúc và nỗi lo lắng..., tất cả hòa lẫn trong cái nhìn ấy. Chắc chắn không ai trong chúng tôi nói với bà cụ về nhiệm vụ quan trọng sắp tới. Nhưng qua ánh mắt, tôi cảm thấy hình như bà cụ đã biết.
– Con đi mạ nhé.
Tôi chào bà cụ và quay đi, cố bước thật nhanh cho kịp anh Đưởm lúc ấy đã ra đến đầu xóm. Đôi mắt bà cụ cứ hiện lên, lấp lánh như hai vì sao trong khoảng không gian phía trước.
Tôi bước đi, lòng nghĩ miên man đến những bà mẹ. Giờ này... có biết bao bà mẹ trên đất Vĩnh Linh đang đứng trong chiến hào đưa cặp mắt tự hào chen lẫn nỗi lo âu nhìn theo đàn con ra trận. Và đôi mắt mẹ tôi từ những năm tháng xa xưa chợt hiện về...
Một chiều tháng Chín năm 1952, tôi đang hối hả sửa soạn cùng với một đoàn cán bộ Bộ tư lệnh quân khu Bốn đi vào vùng địch hậu Quảng Trị. Bỗng nhận được tin mẹ ốm nặng ở chợ Rộ(Nghệ An) . Sông Lam vào giữa mùa lũ lớn, nước bạc mênh mông, chảy cuồn cuộn. Tôi về đến nhà, thấy thần sắc mẹ kém lắm rồi. Những năm tháng long đong chạy giặc từ Hà Nội lên Việt Bắc rồi từ Việt Bắc vào khu Tư đã rút kiệt của mẹ tôi chút sinh lực cuối cùng. Mẹ nằm dán xuống giường, không cử động, chỉ có cặp mắt nhìn tôi tuy mệt mỏi nhưng vẫn âu yếm, hiền dịu như ngày xưa. Mẹ cầm tay tôi, nói : "Đẻ chưa chết đâu, con cứ đi đánh giặc đi". Ngừng một lúc, mẹ lại nói : "Nếu không gặp đẻ nữa, khi nào hết giặc, con cho đẻ về với thầy con ở cánh đồng làng ta...". Tôi ngồi với mẹ chừng nửa tiếng rồi đành gạt nước mắt ra đi. Chân bước mà cảm thấy đầu óc mình tê buốt. Sau này vợ tôi viết thư cho biết tôi ra khỏi nhà chưa được nửa tiếng đồng hồ, nghĩa là đang lênh đênh giữa sông Lam, ở nhà mẹ tôi tắt thở.
Bao nhiêu năm rồi, những bà mẹ Việt Nam vẫn chưa có một lúc nào thảnh thơi để hưởng trọn vẹn niềm vui của người mẹ bên cạnh đứa con...
⚝ ⚝ ⚝
Từ các đường hào chi chít, ngang dọc khắp Vĩnh Linh, bộ đội, dân quân như những dòng thác lũ chảy ào ạt về phía trước. "Đi thưa ra... Đi thưa ra!". Tiếng những cán bộ chỉ huy gắt gỏng. Dòng người chùng lại, giãn ra được một lúc rồi lại xít vào, tựa như có một sức mạnh vô hình nào đó từ phía sau đang đẩy họ bước nhanh hơn. Lá ngụy trang lào xào lẫn tiếng cười, tiếng nói chuyện khe khẽ, rì rà rì rầm, tiếng vũ khí va chạm nhau lách cách. Đứng trên một gò đất, tôi lặng lẽ nhìn đoàn quân đi trong hoàng hôn. Mặt trời tắt, nhưng hồi quang rực rỡ từ phía tây rọi tới làm những khẩu súng trên vai chiến sĩ sáng lên lấp lóa. Nhiều bộ mặt quen thuộc : Túy của đại đội Hai, Thành, dũng sĩ diệt Mỹ xuất sắc của đại đội 24, Ninh, Diệm và tập thể tiểu đội Tám của đại đội Lê Hồng Phong, từng diệt gọn một đại đội chủ lực ngụy ở Lại An ngày 11- 7- 1967... Một người cao lớn tách khỏi hàng quân, tiến về phía tôi : Trần Thà. Bàn tay to, rắn như sắt của anh bóp chặt bàn tay tôi.
– Tôi vừa nhận được thư nhà tôi và các cháu.
– Bình yên cả chứ?
– Vâng, chỉ nhớ "ba Thà" thôi... Cô ấy gửi lời hỏi thăm anh.
Có tiếng một đồng chí chào tôi khe khẽ. Tôi nhận ra Ngọc Nhu và Hồ Thừa, hai phóng viên báo Quân đội nhân dân. Đi sau anh Thừa là đồng chí D, đầu hơi cúi, bước lặng lẽ. Có thể anh đang tránh cái nhìn của tôi. Trần Thà nói nhỏ :
– Cậu ấy buồn, chắc là hối hận.
– Nói với cậu ấy là cứ yên tâm mà chiến đấu - tôi bảo Thà. Đảng ủy và bộ chỉ huy vẫn đánh giá đúng thành tích đồng chí ấy. Không được vì chuyện đó mà ảnh hưởng đến ý chí chiến đấu.
– Tôi sẽ nói ngay bây giờ.
Thà bắt tay tôi lần nữa rồi chạy phóng lên, chiếc ba lô cắm đầy lá nhún nhảy trên lưng anh.
Tiểu đoàn 47 đi qua. Đến lượt các đơn vị súng cối, súng máy cao xạ, DKZ, B41, thủy lôi... Họ là những đại biểu ưu tú của lực lượng dân quân, tự vệ Vĩnh Linh có quân số và trang bị ngang với ba sư đoàn bộ binh chính qui. Đi cuối cùng là các tổ bắn tỉa. Trời đã tối mịt, chỉ còn nhận ra họ ở những khẩu súng trường dài một cách khác thường, trông như những con sào nhô lên khỏi vách hào. Đó là những chiến sĩ đánh giặc theo kiểu chiến tranh nhân dân. Họ bám làng, bám ruộng, chiến đấu và sản xuất trên quê hương, thỉnh thoảng sang bờ nam chiến đấu một thời gian. Với khẩu súng trường nòng dài có gắn máy ngắm, họ luồn vào tận sào huyệt giặc hay chẹn đường đi lại của chúng, rình bắn những tên ló ra khỏi công sự. Bọn Mỹ rất khiếp đội quân này. Họ chỉ làm ăn theo kiểu "cò con" như vậy nhưng hiệu suất chiến đấu rất cao. Có người như Võ Lý Tưởng ở Vĩnh Giang bắn 19 viên đạn diệt 18 tên Mỹ.
Tôi và mấy anh em ở cơ quan chính trị đi nối vào cuối hàng quân. Một cô gái bước chậm lại.
– Chào thủ trưởng.
– Cô Bưởi à?
– Dạ...
Bưởi là một chiến sĩ xuất sắc trong đội bắn tỉa của Vĩnh Tú. Có lần ở Cửa Việt cô bắn 12 viên đạn, diệt 11 tên Mỹ. Khuôn mặt Bưởi nhẹ nhõm, đôi mắt thông minh, miệng cười rất tươi.
– Thế nào, bà cụ cũng chịu cho con gái đi cơ à? - Tôi hỏi.
Bưởi cười rung rúc :
– Mạ ưng hung, mạ giơ cả hai tay thủ trưởng ạ.
– Rứa là mạ "hen-xấp" à? - Một anh chàng đi phía trước nói đùa làm những tiếng cười rộ lên.
Câu nói vô tình nhưng lại ngụ ý sâu xa. Mẹ Bưởi thương con nhưng rất khắt khe. Việc gì cụ đã không thích thì con cái đừng hòng mà ho he. Lần Bưởi sinh con, bà cụ bắt cô phải ở trong một căn hầm kín mít, chỉ được ăn cơm với muối rang, bắt kiêng cữ nhiều thứ rất vô lý. Anh Minh, chồng Bưởi khuyên mẹ không được đi phàn nàn với đồng chí Quách Sĩ Kha, phó chính ủy Quân khu Bốn. Anh Kha bảo : “Mày xoàng, để tao vào tao nói với bà cụ cho”. Nghe anh Kha nói bà cụ chỉ ậm ừ. Tiễn khách về xong, bà cụ quay lại con gái và con rể : “Ông nớ là tướng chỉ huy ngoài mặt trận còn trong gia đình ni tao là chỉ huy, tao vẽ chi bay phải nghe nấy, không được xớ rớ”.
Bưởi khoe :
– Bữa ni mạ tiến bộ hung. Lúc út đi mạ dặn đi dặn lại : "Đừng hấp tấp nghe út, bắn bung tao không biết chớ đi cấy đi cắt mi hấp tấp dữ..."
Những tiếng cuối cùng của cô gái dũng sĩ bị lấp đi trong tiếng pháo nổ ầm ầm...
QUA ĐÒ TÙNG LUẬT
Một loạt pháo nổ. Tôi ngồi thụp xuống rất nhanh. Có thể động tác của tôi không nhanh bằng sức văng của mảnh đạn, nhưng chưa bao giờ tôi thấy mình phản ứng nhậy đến như vậy. Lại một loạt pháo nữa, lần này nghe như ở sát vách hào, khói xộc vào khét lẹt. Đồng chí Đạt đẩy tôi về phía trước. Một cái cửa hầm mở ra bên tay trái, ở trong có ánh đèn. "Vào đi, vào đi" nhiều người giục phía sau. Đây là hầm ngồi đợi trước khi qua đò. Tôi và Đạt chui vào “Giôn-xơn mần hung” - Đạt cười, nhe hàm răng trắng lóa. Trong hầm đã có mấy người, bộ đội và dân quân.
– Chào các đồng chí.
– Chào thủ trưởng ạ..
– Sao ngồi đông thế này?
– Dạ... kể thì cũng hơi đông nhưng... sắp qua sông rồi thủ trưởng ạ, ngồi tạm thôi mà.
Người vừa nói là một anh bộ đội rất trẻ, ôm cây súng B40 ngồi gần cửa hầm.
– Đồng chí quê ở đâu? - Tôi hỏi.
– Thái Bình ạ.
– Đất "ăn chơi" đấy thủ trưởng ạ - Một người ngồi phía sau tôi nói, giọng hóm hỉnh.
– Ăn chơi thế nào?
– Cậu ấy nói tào lao đấy thủ trưởng ạ - anh bộ đội quê Thái Bình nói.
Một người ngồi ở cửa hầm bên kia hỏi với sang :
– Thông ơi, còn tí "chất khói" nào không?
– Còn “thuốc chú bác” thôi - anh chàng vác B40 trả lời.
– Cũng được, làm tí cho thêm yêu đời.
"Thuốc chú bác" là tên bộ đội đặt cho loại thuốc lá tự trồng của đồng bào Vĩnh Linh. Hai tiếng "chú bác" thoạt nghe như đùa bỡn. Kỳ thực, với những ai đã ở Vĩnh Linh trong những năm chiến tranh, nó gợi một cái gì ấm áp, thân thuộc. "Cơm chú bác", “giường chú bác”, "phụ cấp chú bác". Bộ đội Vĩnh Linh là bộ đội “nửa A, nửa B” không được hưởng chế độ phụ cấp của chiến sĩ đi B. Nhưng họ sống với nhân dân, được nhân dân chăm bẫm, yêu mến. Anh em gọi đó là "phụ cấp chú bác" hay có khi là "bộ đội chú bác".
Anh bộ đội cầm B40 chìa gói thuốc về phía tôi :
– Mời thủ trưởng.
– Cám ơn, tôi không biết hút.
– Chắc thủ trưởng mới vào trong này.
– Vào lâu rồi chứ!
– Lâu rồi mà thủ trưởng vẫn cảm ơn à - Anh cười nói tiếp dạo mới vào tôi cũng hay nói câu cảm ơn. Có một hôm vào nhà ông cụ ở Vĩnh Chấp mượn con dao rựa. Thấy cụ đưa dao ra, tôi nói : “Cảm ơn bọ”. Thế là ông cụ rụt ngay lại và nói một cách cáu kỉnh : “Tui đưa dao để chú chặt gỗ làm hầm là phận sự của tui, tui không làm ơn, chú đừng nói rứa”.
Bốn năm điếu thuốc được đốt lên cùng một lúc, khói mù mịt đến nỗi nhìn một người bên cạnh chỉ thấy mờ mờ.
Một cô gái xạ thủ 12 ly bảy không chịu nổi mùi khói thuốc lá vội nhổm lên : “Mấy eng cho út ra, ngồi đây e chết mất”.
Anh bộ đội ôm B 40 vội đưa tay giữ hòm đạn của cô lại :
– Tội nghiệp út chưa, mấy “eng” xin lỗi, thôi tắt thuốc lá đi các cậu Ngồi đấy, ai lại thế.
Anh chàng vừa nãy hỏi xin thuốc lại lên tiếng :
– Hồi mới vào Vĩnh Linh... hì hì... nghĩ cũng lắm cái buồn cười. Thấy cái lều con con ở góc vườn, mình ngỡ là hố xí định mò vào. Ông bọ ở trong nhà vội hét lên : “Cái đôn [14*] đó, không phải nhà tiêu mô chú ơi, nhà tiêu tê tê”. Nghe cứ líu ríu như chim, chẳng hiểu gì cả. Mình nhìn vào nhà, thấy gia đình đang ăn cơm, lại tưởng người ta mời mình, liền trả lời rất lễ phép : “Dạ, con mời bọ mẹ và cả nhà xơi ạ”.
Những tiếng cười rộ lên chưa dứt hẳn, người ngồi sau tôi đã kể câu chuyện khác.
– Tôi với cậu Bình vào nhà mẹ Chút ở Vĩnh Long. Bà cụ mang ra một rổ sắn luộc rất ngon. Thèm bỏ mẹ đi nhưng Bình ta cứ từ chối ngọt xớt : "Dạ cảm ơn mẹ, chúng con vừa mới ăn ạ". Nó nói vậy, chẳng lẽ mình ăn à, đành ngồi nuốt nước bọt. Thấy chúng tôi không ăn, bà cụ bưng rổ sắn cất đi rồi vác cuốc định ra vườn. Lúc bấy giờ Bình ta mới lên tiếng, vẫn rất ngọt : "Dạ... mẹ làm ơn để lại cho chúng con vài cân sắn". Mẹ Chút nói : "Mấy chú mua sắn mần chi?". Bình trả lời: "Chúng con luộc ăn ạ!". Bà cụ trợn mắt lên : “Răng tui mời các chú không ăn, thôi để khi khác, chừ đang mắc việc, muốn ăn thì ra vườn mà nhổ”. Hì hì... Ở Vĩnh Linh này mà làm khách thì chỉ có đói rã họng.
Một loạt bom "tọa độ". Căn hầm nảy lên như sắp sửa bị đánh bật đi nơi khác. Ngọn đèn tắt phụt, trong hầm tối om. Có tiếng người con gái hét to, dõng dạc :
– Ngồi mô ngồi đó không được chộn rộn.
– O Dậu đấy. - Anh chiến sĩ ôm B 40 nói.
Trong giọng nói của anh nghe có cái gì như sự cảm phục quý mến.
Tôi hỏi anh :
– Chắc đồng chí đã qua đò này nhiều lần.
– Dạ... cũng ít thôi thủ trưởng ạ...chỉ độ chục lần.
– Và lần nào cũng gặp o Dậu?
– Vâng...o ấy khỏe lắm thủ trưởng ạ. Có những đồng chí thương binh rất to, vậy mà o ấy cõng chạy băng băng.
Một anh dân quân nói :
– O Dậu là em ruột anh Quốc, trước phụ trách bến đò ni.
Quốc. Trong khoảng tối đen kịt trước mặt tôi bỗng hiện lên một người đàn ông, một anh dân chài cao lớn, vạm vỡ, da đen bóng màu đồng hun, tóc húi móng bò, có đôi mắt linh lợi, thông minh. Quốc là đại đội trưởng đại đội hỏa lực của dân quân Vĩnh Giang. Anh hy sinh tại bến đò này. Một quả bom tọa độ trúng hầm : tám người chết, trong đó có anh. Tôi đã gặp cô Dậu, nhưng riêng chuyện cô là em ruột anh Quốc thì nay tôi mới biết.
Bến đò Tùng Luật là một trong những bến vượt sông quan trọng nhất của Vĩnh Linh. Từ đây, bộ đội dân quân qua sông Bến Hải sang đánh địch ở khu đông Quảng Trị. Cũng từ đây, bộ đội thương binh liệt sĩ trở về trong lòng hậu phương. Kẻ địch không lạ gì điều đó. Chúng định dùng một khối bom đạn khổng lồ để lấp kín cái ngõ này lại. B 52 dội bom không biết đã bao nhiêu lần. Máy bay không cần bổ nhào cứ đến tọa độ đã chấm sẵn trên bản đồ là bấm nút vứt bom xuống. Pháo đã tính sẵn phần tử, chập tối bắt đầu bắn, và bắn mãi cho đến sáng. Có thứ vũ khí gì mới Mỹ đem dùng ở đây đầu tiên : bom bi nổ chậm, pháo bi, pháo nổ ra mũi tên, thủy lôi từ trường... Vĩnh Giang bị địch đánh ác liệt hơn bất cứ thôn xóm nào ở Vĩnh Linh cũng vì Vĩnh Giang có bến đò này. Anh bộ đội phía sau tôi lại nói, giọng anh bây giờ nghe không tếu như trước mà trở nên điềm đạm, sâu lắng :
– Các o chèo đò cứ khen bộ đội mình dũng cảm. Nhưng tôi thì... tôi nghĩ chưa biết ai dũng cảm hơn ai. Mình đi đây đi đó bom đạn dính được cũng còn xơi. Còn các o... một tháng ba mươi đêm thì cả ba mươi đêm có mặt ở đây. Thằng Mỹ nó lạ gì cái bến đò này, bom đạn nó đổ ào ào như đổ vỏ ốc...
Một ý nghĩ đơn sơ nhưng sâu sắc và cao đẹp biết bao! Trong cuộc chiến đấu, sự “cộng hưởng” của lòng dũng cảm là như vậy. Người này là tấm gương, là điểm tựa của người kia. Chính vì thế mà sự yếu hèn mới không còn chỗ để len vào tâm hồn.
Nhân dân Vĩnh Giang đặt tên con đường xuống bến đò là đường Cồn Cỏ. Nhưng chính những chiến sĩ lâu năm ở Cồn Cỏ khi đến đây đã lắc đầu : “Không, Cồn Cỏ không sánh nổi. Chúng tôi ở ngoài đó chỉ ác liệt từng lúc, ở đây, không giờ phút nào không có bom đạn”.
Lặng lẽ, âm thầm, người này ngã, người khác lên thay, con đò gỗ đơn sơ chưa lúc nào ngừng qua lại nối hai bờ nam bắc.
⚝ ⚝ ⚝
– Xuống đò đi! - Tiếng o Dậu ra lệnh, lẹ lên mấy anh!
Tôi vọt khỏi hầm. Đêm tối như bịt chặt lấy mắt. Một chiến sĩ dân quân giơ tấm khăn trắng lên làm hiệu: "Đây, đây đi theo tôi!". Có nhiều người chạy trước tôi, lá ngụy trang lào xào súng đạn va lách cách, lộc cộc... Những tiếng rít ngang trời. Lại bom “tọa độ”.
– Không việc chi, xa, lẹ lên mấy anh! - Dậu nói giọng trầm tĩnh.
Có người ngã đánh uỵch. Lại tiếng cô Dậu :
– Cứ bình tĩnh! ngồi xuống đồng chí!
Một cô gái kêu ré lên vì bị người nào đó giẫm vào chân.
– Cha mẹ ơi!
– Xin lỗi o, tối quá!
Một đồng chí cán bộ điểm quân, cố nói khẽ nhưng vẫn nghe như gào lên : “Trường đâu” - “Có, tôi đây” - "Phú lên chưa?" - "Đây ạ"... "Hạo?" - "Có"...
Ba con đò rời bến. Một chiếc máy bay lao như xé gió trên đầu "Bụp". Nhưng chấm đỏ trông như cục than hồng bắn vọt ra khỏi máy bay. Đèn dù. Tiếng cô Dậu :
– Các đồng chí bình tĩnh nghe, không can chi hết.
Trời đất đang tối đen bỗng rựng lên rồi đột nhiên sáng trắng ra trong thứ ánh sáng sắc lạnh đến ghê người. Cô dân quân đứng đằng mũi như nằm rạp xuồng, đẩy chèo hối hả. Tôi quay nhìn lại. Hình ảnh cô Dậu, cô dân quân cầm lái con đò mới đẹp và hùng dũng làm sao! Cao lớn, dáng dấp như người anh ruột đã hy sinh, cô đứng thẳng, tay đẩy chèo nhanh nhưng không vội vã, hấp tấp, ngước nhìn bầu trời lóe sáng với đôi mắt to, lấp lánh. Cặp môi cô gái mím lại, vẻ cương quyết... Nhiều năm về sau, tôi vẫn chưa thể quên được tư thế và nét mặt người chiến sĩ chèo đò trong những đêm vượt sông Bến Hải ấy. Nếu mai đây ta dựng tượng đài trên bến đò để kỷ niệm những con người bất khuất đã chiến đấu bền bỉ và hy sinh ở đây tôi sẽ đề nghị các nhà điêu khắc lấy cô gái và con thuyền của cô làm mẫu.
Đò thúc mạnh vào bờ cát làm chúng tôi ngả về phía sau rồi lại chồm về phía trước, đụng cả vào nhau.
– Chạy!
Tôi bước xuống, theo các đồng chí đi trước vọt nhanh qua bãi cát trắng phau. Chân chúng tôi giẫm lên những thanh bê tông gãy vụn nằm rải rác giữa lối đi, có thanh dài, thanh ngắn, thanh cong cong... Nhiều thanh vỡ gần hết xi măng chỉ còn trơ cốt thép han gỉ.
Tiếng máy bay rít lên. Nó đang bổ nhào.. Nghe rờn rợn sau lưng tưởng như máy bay sắp đâm thẳng vào mình. Bom bi nổ dậy phía sau. Tim tôi như bị ai bóp chặt lại. Liệu cô Dậu, các đồng chí chở đò đã vào kịp trong hầm chưa?
– Chạy nhanh lên các đồng chí! Tiếng người dẫn đường gắt gỏng.
Mệt đến đứt hơi, tôi vẫn phải co cẳng chạy dấn lên cho kịp người đi trước.
– Dừng lại! - Tiếng hô khẽ
– Mời anh vào đây ạ - có người gọi tôi.
Một căn hầm mới làm sơ sài, bằng các thân cây dương liễu phủ cát. Tôi bấm chiếc đèn pin đã bịt kín mặt kính chỉ để lọt ra một tia sáng bằng hạt đỗ, nhìn đồng hồ : hai giờ 16 phút. Mười ba năm, bốn tháng, ba ngày, kể từ hôm 15 tháng chín 1954, ngày tôi từ giã chiến khu Ba Lòng [15*] tập kết ra Vĩnh Linh. Lúc đó đứng bên bờ bắc cầu Hiền Lương, tôi đã ngoảnh mặt về phía nam hẹn với đồng bào, đồng chí sẽ trở về. Tôi hỏi đồng chí bộ đội dẫn đường :
– Lúc nãy ở bến đò tôi thấy có những thanh bê tông, nó là cái gì thế nhỉ?
– Khẩu hiệu của thằng ngụy ngày xưa đấy thủ trưởng ạ...
À tôi nhớ ra rồi. Năm 1956, ngụy quyền Ngô Đình Diệm xây dựng một hệ thống đồn bốt dày đặc trá hình dưới cái vỏ cảnh sát dân sự dọc bờ nam sông Bến Hải này. Trước đồn có những dòng khẩu hiệu lếu láo hướng sang bờ bắc, chữ đúc bằng bê tông, cốt thép, cao hàng thước. Chúng làm kỹ như vậy vì nghĩ rằng với bom đạn và đô la Mỹ, sông Bến Hải vĩnh viễn sẽ là một biên giới "bất khả xâm phạm". Chúng có ngờ đâu chỉ hai chục năm sau, những bàn chân dũng mãnh của đội quân cách mạng đang giẫm lên những đồn bốt, những dòng chữ “trường cửu” của chúng để tiến lên giải phóng miền Nam thân yêu.
– Đề nghị các anh cởi quần áo gói vào ni-lông. Chúng ta sắp vượt qua bầu Xuân Mỹ - người dẫn đường ra lệnh.
CUỘC CHIẾN ĐẤU TRÊN BỜ SÔNG CỬA VIỆT
– Thủ trưởng - đồng chí Đạt gọi tôi. Cậu ta vẫn nằm trong màn nhưng đầu hơi nhổm lên.
– Đạt không ngủ đi - Tôi hỏi.
– Thủ trưởng cũng ngủ đi chứ, thức mãi thế này thì đau mất.
– Đau làm sao được. Đạt ngủ đi, thanh niên như cậu là cứ phải ngủ cho thật lực.
Đạt nằm yên được một lúc, lại nghe tiếng chăn cọ loạt soạt rồi cậu ta ló đầu ra ngoài màn.
– Sao lại mò dậy?
– Thôi, thức với thủ trưởng cho vui.
Tôi ngồi xếp bằng trên tấm bạt trải xuống cát, nhìn ra ngoài cửa hầm. Trước mặt, một mảng bóng tối loãng, đục lờ do các cồn cát trắng hắt lên. Bầu trời đen thẫm, không một vì sao.
Khắp bốn phía đều dậy lên tiếng pháo địch. Nóng ruột quá. Theo lệnh của Mặt trận, chậm nhất là mười giờ sáng ngày 20 tháng Giêng 1968 phải nổ súng chặn tàu địch đi từ Cửa Việt lên Đông Hà. Bảy giờ tối hôm qua, tiểu đoàn 47 bắt đầu hành quân tiến về phía sông Cửa Việt. Gần tám tiếng đồng hồ đã trôi qua mà vẫn chưa có tin báo về. Ba đại đội bộ binh và ba đại đội hỏa lực phối thuộc, tám trăm con người với bao nhiêu là súng đạn, liệu có giữ được bí mật đến phút chót không? Câu hỏi ấy cứ xoáy mãi vào tâm trí tôi.
Chợt có tiếng chân người chạy vội trên cát. Anh Phùng Bỉnh tham mưu trưởng cúi gập người chui vào cửa hầm.
– Có tin gì của Thà chưa?
– Chiếm Hoàng Hà rồi.
– Thật à? Tôi reo lên.
– Thật!
Anh Bỉnh chìa một bàn tay về phía tôi, tôi nắm chặt lấy hai anh em nhìn nhau. Thế là thắng một trận đầu quan trọng. Không chiếm được Hoàng Hà đêm nay, khó mà nổ súng trước mười giờ.
– Có diệt được bọn giang thuyền không? - Tôi hỏi.
– Có nhưng không gọn : chúng nó chạy mất một số.
Anh Bỉnh kẻo tôi ngồi xuống, trải rộng tấm bản đồ khu đông Quảng Trị ra trước mặt.
– Đây nó đây - Anh chỉ một chấm nhỏ trên bản đồ, chếch về phía gần biển. Huơ huơ đầu bút chì lên bản đồ, anh Bỉnh nói tiếp :
– Xê Hai nằm ở Hoàng Hà, bảo vệ cho DKZ và B41 vào đánh tàu. Xê Một chốt Nhĩ Hạ, chặn thằng ngụy ở điểm cao 31 xuống. Xê ba và xê 12 ly bảy ở đây, Lâm Xuân.
– Cánh thủy lôi ở đâu?
– Chỗ này, Xuân Khánh - anh Bỉnh chỉ một chấm đỏ khác bên bờ sông Cửa Việt. Thả thủy lôi xong nếu kịp, đám này sẽ rút ra phía sau.
Tôi nhìn đồng hồ. Đúng ba giờ sáng. Máy điện thoại đổ chuông. Một giọng nói to, khỏe khoắn ở phía đầu dây bên kia.
– Anh Lân đấy à?
– Vâng ạ.
– Tôi, Thái đây.
Anh Hoàng Văn Thái là phó chính ủy Mặt trận B5, phụ trách khu đông, hiện đang ở sở chỉ huy bên Vĩnh Linh. Trước lúc sang sông, tôi đã giao hầm của mình lại cho anh.
– Thế nào rồi? - Anh Thái hỏi.
– Báo cáo... cho đến nay mọi việc đều diễn ra đúng theo kế hoạch.
– Hoan nghênh... hoan nghênh. Tôi cũng thông báo với các anh một tin sốt dẻo : ta đã tiêu diệt Làng Vây và đang bao vây Tà Cơn...
– Sung sướng quá, tôi đặt máy xuống và chạy sang hầm anh Đưởm. Thế là trên toàn mặt trận đường Chín, ta vừa ra quân đã đánh thắng ngay từ trận đầu.
⚝ ⚝ ⚝
Bốn giờ sáng. Tiểu đoàn 47 báo cáo địch đang ném bom và dội pháo xuống Hoàng Hà. Đứng ở sở chỉ huy Thủy Khê chúng tôi cũng thấy rất rõ. Tiếng nổ dội về không lúc nào ngớt. Ở một góc phía nam, bóng tối cứ bị xé toạc ra, liền vào, lại bị xé ra. Đôi lúc thấy chớp lửa nổi cuồn cuộn như trong một lò thép hồng đang sôi. Mất Hoàng Hà, địch đoán ngay được ý định của ta. Có thể chúng sẽ đổ quân xuống để đẩy lực lượng ta ra khỏi bờ sông. Các chiến sĩ của tiểu đoàn mang tên người Cộng sản lỗi lạc Lê Hồng Phong đã thề sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.
Năm giờ sáng. Tôi gọi điện thoại báo cáo tình hình với anh Trần Đồng, bí thư đảng ủy khu vực.
– Làm sao mà nó bắn pháo dữ thế ông Lân? - Anh Đồng hỏi.
Qua máy điện thoại tôi cũng biết anh đang lo lắm.
– Động rồi anh ạ, có thể sáng nay chúng nó sẽ phản kích.
– Anh và anh Đưởm bàn bạc với nhau, làm sao đánh thắng địch, giữ được trận địa mà đỡ thương vong cho bộ đội và dân quân. Nhớ liên lạc chặt chẽ với anh Thư [16*] và các đồng chí ở Gio Cam. Xin gửi lời thăm hỏi và chúc mừng của toàn ban thường vụ đảng uỷ đến các đồng chí đang chiến đấu bên đó.
– Xin cảm ơn anh, nhờ anh chuyển lời cảm ơn của tôi và anh Đưởm đến anh Tốn, anh Du, o Em và các anh các chị ở nhà.
– Các anh ấy đang ngồi ở đây cả chứ đâu. Cả o Em nữa.
O Em là cán bộ cũ của Quảng Trị, tham gia hoạt động từ những năm 1935 - 1936. Chồng và con đều hy sinh, o lên chiến khu Ba Lòng lo sản xuất, nuôi các đồng chí hoạt động trong những năm chống Pháp. Đến nay đã ngoài sáu mươi tuổi, o vẫn ở lại Vĩnh Linh đóng góp sức mình cho cuộc chiến đấu. Trước hôm chúng tôi lên đường, anh Đồng, anh Du gọi tôi và anh Đưởm sang ăn cơm. O Em nấu bát anh chua bằng mấy con cá quả và làm món rau ghém trộn khế ăn với mắm cái. O xới cơm, gắp thức ăn cho chúng tôi, trìu mến như người chị cả săn sóc mấy đứa em.
Nói xong, tôi vừa đặt máy xuống, quay lại nhìn thấy đồng chí Trần Đăng Khoa đã ngồi sau lưng tôi từ lúc nào.
– Báo cáo anh Lân tôi đi - Khoa nhổm dậy.
– Hượm một lát đã.
Khoa là chính trị viên một đại đội bộ binh thuộc tiểu đoàn Sáu. Theo lệnh của Mặt trận, hôm nay anh sẽ cùng với đại đội vượt qua phòng tuyến dày đặc của địch, thọc vào vùng Đại Độ ở gần Đông Hà, cắm một cái chốt vào giữa tim địch, làm chỗ dựa cho cuộc nổi dậy của nhân dân. Anh từng làm chính trị viên phó đảo Cồn Cỏ. Đã có lần thay mặt các chiến sĩ trên đảo ra Hà Nội báo cáo thành tích với Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ.
– Chuẩn bị được đến đâu rồi? - Tôi hỏi.
– Ổn rồi anh ạ - Khoa nói, anh em có hơi lo.
Nhìn vào mắt Khoa, tôi biết anh nói thật. Mà lo cũng là phải thôi. Con người ta, dầu vô tư đến đâu đi nữa cũng không thể bình thản trước khi bước vào trận chiến đấu một mất một còn. Tôi nói với Khoa :
– Nếu trước đây ba hôm mà đại đội 10 vào đấy thì có thể tổn thất lớn. Nhưng hôm nay tình thế đã khác rồi. Ta chiếm Làng Vây rồi, tiểu đoàn 47 cũng vừa chiếm Hoàng Hà xong. Địch đang hoang mang, tan rã, quần chúng đang nổi dậy. Nếu các đồng chí biết nắm thời cơ, có thể lập công lớn.
Nét mặt Khoa tươi hẳn lên. Anh lại nhổm lên định đi, nhưng tôi kéo anh ngồi xuống. Còn chuyện khác, tôi muốn nói với Khoa nhưng lòng tôi đang phân vân, một chuyện riêng của anh. Đang khi nước sôi lửa bỏng, lại giở chuyện. riêng ra nói, liệu có nên không? Nhưng... không nói ư? Lỡ có điều gì không may xảy đến với Khoa thì sao? Tôi sẽ ân hận suốt đời nếu anh ngã xuống mà vẫn chưa biết mình có hạnh phúc.
Khoa yêu một cô gái ở Quảng Bình tên là Mỹ Lệ. Chiến tranh xảy đến, Khoa ra đảo, Mỹ Lệ đi thanh niên xung phong chiến đấu ở miền tây. Đường đất xa xôi, cộng với một vài chuyện hiểu lầm nho nhỏ làm hai người cách biệt. Tuy vậy, qua một vài lần tâm sự, tôi biết Khoa vẫn yêu Mỹ Lệ tha thiết. Hồi cuối tháng Chạp năm 1967, đi từ Bộ Tư lệnh Quân khu Bốn về, chúng tôi bị bom từ trường và bom bi nổ chậm của địch chặn lại ở đèo Đá Đẽo trên đường 15. Ba anh em : tôi, Đạt, và On ghé vào nghỉ nhờ một đơn vị Thanh niên xung phong. Lân la hỏi thăm, tôi biết trong đội thanh niên xung phong trấn giữ đèo Đá Đẽo có một cô gái, tên là Mỹ Lệ. Trong lúc On sửa xe, tôi và Đạt chống gậy đi khắp các lán tìm cô gái ấy. May mắn làm sao, cô Mỹ Lệ ấy lại chính là Mỹ Lệ của Khoa.
– Khoa này...
Anh ngước lên nhìn tôi, chờ đợi, vẻ lo lắng lại hiện ra trong mắt...
– Mình vừa gặp cô Mỹ Lệ của cậu.
Khoa mở to mắt nhìn tôi trừng trừng, miệng há hốc, chắc anh chưa tin điều tôi nói là thực.
– Đúng thế đấy - tôi nhấn mạnh, ở đèo Đá Đẽo, mình và Đạt cùng gặp, mình đã nói chuyện với cô ấy.
Khoa chồm về phía tôi :
– Thật chứ anh, Mỹ Lệ thật à?
– Thật, mình nói ngay để cậu biết, cô ấy vẫn rất yêu cậu rất yêu.
Khoa ngồi yên, chưa thật hết vẻ ngơ ngác, nhưng trong mắt anh một niềm vui mới mẻ đang hiện lên.
– Cô ấy thế nào anh?
– Khỏe mạnh và vẫn xinh như cậu tả với mình.
Tôi mở túi đưa cho Khoa lá thư của Mỹ Lệ. Anh quay ra cửa ngồi đọc rất lâu, chắc phải đọc đi đọc lại đến mấy lần. Có lúc tôi thấy anh chàng đọc mà cầm lá thư lật lên lật xuống như muốn tìm trong đó một cái gì khác nữa. Bỗng anh quay lại ôm chặt lấy vai tôi lắc lắc :
– Anh Lân, cảm ơn anh lắm... Tôi đi nhé!
Tôi tiễn Khoa ra cửa và nói thêm :
– Mình đã trộm phép "họ nhà trai" đến thưa chuyện với thủ trưởng đằng nhà gái rồi. Nếu cậu đồng ý thì sau chiến dịch này ta tổ chức đi.
Khoa cười, hai mắt chớp chớp. Suốt mấy tháng chiến dịch, mỗi lần nhớ tới Khoa và Mỹ Lệ tôi vừa vui vừa lo. Câu văn “trong bão tố chiến tranh, một tình yêu non trẻ đang chắp cánh trên miệng con cá sấu”, trong tiểu thuyết “Chỉ vì yêu” của Wanđa Vaxilepska [17*] đọc từ hồi chống Pháp thỉnh thoảng lại hiện lên trong đầu tôi.(Nhưng mọi việc đều tốt đẹp. Tháng Ba 1968, Khoa trở về, cũng vừa lúc Mỹ Lệ được cử ra Hà Nội đi học. Họ tổ chức lễ cưới trong một căn hầm. Và hiện nay hai anh chị đã có ba cháu : một trai hai gái).
⚝ ⚝ ⚝
Tám giờ sáng. Sau bốn tiếng đồng hồ ném bom và bắn pháo, địch bắt đầu mở cuộc phản kích chiếm lại Hoàng Hà. Từ Cửa Việt hai đại đội thuộc tiểu đoàn Một lính thủy đánh bộ Mỹ kéo lên, có bốn xe tăng và sáu xe bọc thép dẫn đầu. Hai đại đội bộ binh ngụy từ điểm cao 31, từ Quán Ngang kéo ra. Máy bay lên thẳng đổ xuống Mai Xá và nhà thờ Phú Câu hai đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ khác. Lực lượng địch có khoảng 1000 tên, 24 xe bọc thép, 12 tàu chiến.
Vốn quen thuộc chiến trường khu đông, có kinh nghiệm đánh bộ binh Mỹ, tiểu đoàn Lê Hồng Phong vào trận với một tư thế hết sức bình tĩnh. Xe tăng và bộ binh vào đến sát làng, vẫn chưa có một mũi nào nổ súng. Truyền thống của tiểu đoàn này là đánh gần. Tổ đồng chí Lộc bố trí hướng tây nam, đối mặt với một trung đội lính thủy đánh bộ Mỹ. Cho đến trận ấy Lộc đã ba lần đạt danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ. Thấy một tốp lính Mỹ lò dò đến cách công sự 30 mét, hai chiến sĩ mới là Tâm và Hòa nhổm lên định bắn. Lộc ra hiệu chưa được bắn. Anh lấy thanh lương khô bẻ đôi đưa cho hai người : "Ăn đi, đợi mình bắn các cậu mới được bắn". Chúng vào cách 15 mét. Tâm và Hòa nhìn Lộc : anh vẫn bình tĩnh nhai lương khô. Khi tốp địch đầu tiên cách công sự năm mét, Lộc lừ mắt ra hiệu cho hai đồng chí, anh lấy gói đất bột đã trữ sẵn ném sang bên cạnh, làm bụi tung mù lên để đánh lừa địch. Ba loạt đạn quét thẳng vào tốp địch. Chúng đổ rạp xuống, tên đi đầu ngã sấp, chót bàn tay của nó chạm vào bờ công sự của Lộc.
Ngay từ loạt súng đầu tiên ta đã tiêu diệt hơn 50 tên lính thủy đánh bộ Mỹ, bắn cháy bốn xe tăng và hai máy bay. Địch lùi lại, tổ chức lực lượng, mở đợt pháo kích thứ hai. Từ tám giờ sáng đến 12 giờ trưa địch xung phong năm lần, cả năm lần bị tiểu đoàn 47 đánh bật ra. B41 và DKZ được bộ binh che đỡ phía sau, bám chặt trận địa bờ sông đánh tàu địch. Một đoàn vận tải LST sáu chiếc từ Cửa Việt lên, ta bắn cháy hai chiếc. Chúng quay lại, giội bom và pháo vào trận địa ta, sau đó tàu vận tải lại kéo lên. Chúng phải liều mạng vì không thể bỏ mặc hàng vạn quân lính đang khốn đốn trên mặt trận đường Chín. B41 và DKZ lại bắn cháy thêm ba chiếc nữa. Ngày hôm ấy không một chiếc tàu vận tải nào của địch đến được cảng Đông Hà.
Hai giờ chiều, địch đưa thêm lực lượng tiếp viện từ các tàu chiến đậu ngoài khơi, mở đợt phản kích thứ sáu vào Hoàng Hà. Một trận hỗn chiến giữa ta và địch, hai bên quần lộn với nhau từng khóm tre, từng ngôi nhà. Có khi cùng một ngôi nhà, ta ở gian trong địch ở gian ngoài, ta ngoài sân, địch trong nhà.
Sáu giờ chiều địch mới rút chạy về căn cứ. Trên chiến trường này chưa bao giờ thấy địch đánh muộn đến như vậy. Chúng bỏ lại trên trận địa hàng trăm xác chết Mỹ và Ngụy.
Ta giữ được Hoàng Hà nhưng tổn thất khá nặng. Hơn 50 đồng chí hy sinh và bị thương. Vì dân công tải thương chưa vào kịp, tiểu đoàn phải tổ chức lực lượng đưa thương binh và liệt sĩ ra. Năm đồng chí bị thương nhẹ xin ở lại chiến đấu, tám đồng chí bị thương vừa có thể tự đi được, chỉ cần một người khỏe đi bên cạnh để dìu. Mỗi thương binh nặng và liệt sĩ phải ba người khiêng. Như vậy là số quân của tiểu đoàn hụt mất một phần tư.
⚝ ⚝ ⚝
Ngày hôm sau, 21 tháng Giêng, cuộc chiến đấu trên bờ sông Cửa Việt còn quyết liệt hơn. Địch phải đánh bật ta để giữ con đường tiếp tế huyết mạch. Chúng dốc thêm vào đây hai tiểu đoàn thuộc sư A-mê-ri-cơn mới từ các tỉnh phía trong ra, một tiểu đoàn của sư Một và hai chi đội xe tăng thuộc Thiết đoàn Bảy quân ngụy. Năm giờ ba mươi phút địch bắt đầu phản kích. Pháo bắn, máy bay trút bom, xe tăng và bộ binh tiến lên... Chín giờ sáng, hai đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ chọc thẳng vào tiểu đoàn bộ. Hai chiến sĩ bắn trung liên hy sinh, tiểu đoàn trưởng Trần Thà nhảy lên thay thế. Anh ôm súng quét vào làn sóng quân Mỹ đang tràn tới làm chúng đổ gục xuống.
Một chiếc xe tăng M41 tiến vào, khẩu B41 bắn một phát trúng đầu xe, nó khựng lại, bốc cháy. Chiếc xe tăng thứ hai từ xa bắn một quả pháo vào hỏa điểm ta, đồng chí xạ thủ hy sinh. Trung liên hết đạn. Trần Thà giấu súng vào hầm, dùng súng ngắn bắn chết bốn tên Mỹ. Hai phóng viên báo Quân đội nhân dân Hồ Thừa và Ngọc Nhu cũng cầm súng đánh địch. Mười một giờ trưa. Địch bị đẩy lùi ra khỏi làng. Đồng chí Thà nghe tiếng Hồ Thừa gọi phía sau :
– Anh Thà ơi, lúc anh ôm súng bắn tư thế của anh sao mà đẹp thế. Tôi đã chụp được hai kiểu ảnh, đẹp quá!
Nhưng chỉ mấy phút sau, một quả pháo địch nổ bên cạnh. Hồ Thừa bị thương nặng. Anh trao máy ảnh, tài liệu lại cho Ngọc Nhu và nói với Trần Thà :
– Chúc anh và tiểu đoàn chiến thắng.
Ba tiếng đồng hồ sau Ngọc Nhu cũng hy sinh.
Xác lính Mỹ và lính nguy đã xếp đống trên trận địa nhưng địch vẫn không chịu bỏ cuộc. Chúng lao vào tới tấp. Cuộc hỗn chiến kéo dài cho đến lúc mặt trời lặn. Địch phải rút, ta vẫn giữ được Hoàng. Hà. Ngày hôm ấy DKZ và B41 chỉ bắn có sáu viên đạn, diệt bốn tàu địch. Con đường tiếp tế của chúng vẫn bị nút chặt.
Khi hoàng hôn xuống, quang cảnh chiến trường, theo lời đồng chí Xuân Đức, một xạ thủ trung liên kể lại, trông thật khủng khiếp. Không còn nhà, không còn cây, mọi vật đều bị nghiền nát ra, từ gạch ngói, cây lá đến xác xúc vật. Lửa cháy tàu vẫn còn bốc ngùn ngụt trên mặt sông. Tiểu đoàn 47 bị thương vong gấp đôi ngày hôm trước. Số quân có thể chiến đấu được chỉ còn một phần ba. Tiểu đoàn phó Thế bị thương, liên lạc Nga hy sinh. Ở các đại đội, cán bộ chỉ còn lại một hai người. Đạn dược còn lại rất ít : trọng liên 12,7mm 10 viên, tiểu liên mỗi khẩu 20 viên, súng trường mỗi khẩu 10 viên, B40 còn 4 quả, B41 hết nhẵn, DKZ còn hai quả. Cả tiểu đoàn còn lại hai khẩu trung liên dùng được.
Bảy giờ tối, tiểu đoàn trưởng Thà bàn với chính trị viên Thanh Điệu, quyết định triệu tập một cuộc họp. Về sau kiểm điểm lại thấy là một thứ họp vô nguyên tắc, bởi vì tính chất của nó không rõ ràng. Không phải họp chỉ huy, cũng không phải họp đảng ủy. Tất cả cán bộ của tiểu đoàn còn lại và phái viên cấp trên xuống, thậm chí cán bộ đơn vị bạn cũng được mời họp. Mở đầu cuộc họp, đồng chí Thà nói :
– Tôi đề nghị chúng ta kiểm điểm trận đánh hôm nay và bàn cách bố trí lại lực lượng để tiếp tục chiến đấu ngày mai.
Đồng chí C. nêu lên một ý kiến khác :
– Tôi thấy ta cần bàn kỹ, xem có nên tiếp tục ở lại hay tạm rút ra để bổ sung lực lượng rồi lại vào đánh.
Thế là mọi người quên bẵng đề nghị của Trần Thà, quay sang bàn ý kiến của C. Có đồng chí tỏ thái độ muốn rút lui một cách rõ ràng, có đồng chí nói lấp lửng, lại có đồng chí ngồi im. Tựu trung phía quyết tâm ở lại chỉ còn có một mình tiểu đoàn trưởng. Đồng chí C. nói :
– Nếu đánh thêm một ngày nữa, phiên hiệu vẻ vang của tiểu đoàn Lê Hồng Phong sẽ bị xóa sạch.
Đến lúc này ngay cả Trần Thà cũng bắt đầu dao động. Anh đã làm một việc hết sức không đúng là lấy biểu quyết.
– Ai đồng ý ở lại tiếp tục chiến đấu?
Thà kể lại : "Tôi giơ tay nhưng khi thấy tất cả mọi người ngồi không động đậy, cánh tay tôi tự nhiên nặng trình trịch".
– Ai đồng ý tạm rút ra để củng cố?
Ba cánh tay giơ thẳng lên, một số thập thò, nửa co nửa duỗi...
⚝ ⚝ ⚝
– Không phải rút lui, một đám tang thì đúng hơn. - Trần Thà nói.
Bộ đội đói ăn, đói ngủ, mệt mỏi uất ức, buồn bã vì phải rút lui khiêng thương binh, liệt sĩ đi lặng lẽ dưới ánh đèn dù.
Nhiều đồng chí quần áo rách tả tơi, đầu không mũ, chân không giày, bước thất thểu trên đường cát. Cán bộ, kể cả những đồng chí đầu têu trong việc rút lui cũng hết sức khổ, họ cúi gằm mặt xuống, lê chân đi một cách nặng nề. Trần Thà khóc thút thít.
Anh nói :
– Tôi nghĩ đến lời hứa với Tư lệnh và Chính ủy, tôi nghĩ đến các đồng chí của tôi ở Cồn Cỏ, tôi nghĩ đến các đồng chí chở đò ở bến Tùng Luật, tôi nghĩ đến vợ tôi, con tôi càng nghĩ càng thấy đau khổ, nhục nhã. Lội qua một con suối ở Lâm Xuân, nhìn thấy bóng mình chập chờn trong đáy nước, tôi uất quá không chịu nổi. Tôi quay ngoắt lại và đụng phải người đi sau tôi là đồng chí K. Tôi nghiến răng chộp ngực anh, day day mấy cái và hỏi : "Mày là phái viên của Bộ chỉ huy sao mày lại giơ tay đồng ý rút lui". K không tìm cách giẫy ra khỏi tay tôi, cũng không nói gì cả. Khi anh ngước lên tôi thấy mặt anh cũng đẫm nước mắt. Đến Nhĩ Hạ, cách bờ sông chừng 800 mét, tôi không bước nổi nữa. Tôi quay lại nói với đồng chí K : "Tôi ở lại một mình, tôi sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và chết ở Hoàng Hà". K nói : "Tôi cũng ở lại". Tôi giật nảy lên như bị gí điện và ngước nhìn K trừng trừng. Lúc này sao mà anh đáng yêu thế. Có thêm một người nữa tự nhiên thấy mình khỏe hẳn ra, sáng suốt ra anh ạ. Thà đi nhanh lên phía trước tìm đồng chí Điệu. Điệu nói : “Tôi cũng ở lại”. Thà hét lên sung sướng: "Thế thì chạy đi gọi anh em".
Mười hai giờ, tiểu đoàn tập hợp trong một cái hẻm giữa hai cồn cát. Số quân còn lại vừa đúng 100 tay súng.
Trần Thà đứng lên nói :
– Thưa các đồng chí, vừa rồi chúng ta đã làm một việc nhục nhã, định bỏ trận địa để rút chạy. Dù nói là rút ra để củng cố thì thực chất cũng là chạy mà thôi. Tôi là tiểu đoàn trưởng, đáng lẽ tôi phải đứng vững nhưng tôi sợ chết, tôi dao động, tôi xin nhận tội trước các đồng chí. Thay mặt thường vụ đảng ủy và ban chỉ huy tiểu đoàn, tôi kêu gọi các đồng chí ở lại, dầu phải hy sinh đến người cuối cùng chúng ta cũng nhất quyết không rời trận địa.
Anh dừng lại, nhìn khối người im lặng phía trước và nói :
– Lúc này chiến đấu là tự nguyện, ai đồng ý ở lại xin giơ tay.
Một trăm cánh tay cùng đồng loạt giơ cao. Liếc về phía hai đồng chí C và G, Thà thấy hai cánh tay các đồng chí ấy cũng giơ lên rất thẳng. Xúc động quá, anh ngồi thụp xuống và ôm mặt khóc.
Hai giờ 30 phút ngày 22, tiểu đoàn 47 lại tiến vào trận địa bên bờ sông Cửa Việt. Thường vụ đảng ủy và ban chỉ huy hội ý. Lại một ý kiến ngược chiều mới nảy ra : chỉ giữ trận địa chứ không đánh tàu. Trần Thà nói :
– Không thảo luận nữa, tôi chỉ huy ở đây, tôi quyết định, phải đánh tàu địch. Tiểu đoàn Lê Hồng Phong chúng ta cảm tử trên bờ sông này.
⚝ ⚝ ⚝
Trong lúc ở Hoàng Hà đang có việc bàn cãi về chuyện ở lại hay tạm rút ra thì tại sở chỉ huy Thuỷ Khê, Bộ chỉ huy đã quyết định cử đồng chí Phùng Bỉnh, tham mưu trưởng xuống truyền đạt mệnh lệnh quyết bám trụ và dẫn theo 100 tay súng vào bổ sung cho tiểu đoàn 47. Buổi sáng ngày 22 địch không vào. Hai giờ chiều, sau gần nửa giờ bắn pháo và ném bom chúng cho hai tàu vận tải LST từ Cửa Việt đi lên Đông Hà.
Còn hai quả đạn DKZ, tiểu đoàn ra lệnh bắn nốt. Một chiếc LST bốc cháy và chìm ngay tại chỗ, chiếc thứ hai chạy trở lại.
Ba giờ chiều, hai đại đội nguy thọc vào Lâm Xuân đông. Vấp phải một tổ chức chiến đấu của ta chúng bỏ chạy toán loạn về Hoàng Hà. Tiểu đoàn bộ và một tổ vệ binh xông ra đánh giáp lá cà diệt 50 tên. Ta hy sinh mất ba đồng chí.
Ngày 24, Bộ chỉ huy điều ba đại đội DKZ của dân quân các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Thủy, Vĩnh Thành, Vĩnh Thái, Vĩnh Chấp, tự vệ nông trường Quyết Thắng vào đánh tàu. Lúc này nhân dân hai bờ sông đã nổi dậy đồng loạt. Đồng bào cùng với bộ đội, du kích chặt tre, đan hàng nghìn sọt đựng đá, dựng một hàng rào dày 50 mét, chắn ngang sông để cản tàu giặc.
Tiểu đoàn 47 bám trụ ở khu vực Hoàng Hà không phải 10 ngày mà hai tháng liền. Nói về sự nguy hiểm của cái chốt chặn này, ngày 6-3-1968, một phóng viên hãng thông tấn UPI viết :
“Chỉ riêng khúc sông Cửa Việt đến Đông Hà dài 13 km cũng đủ khủng khiếp cho tàu và xuồng chiến đấu của Mỹ. Các tàu của hải quân Mỹ buộc phải chạy thành đoàn và với tốc độ một dặm/giờ(2 km).
Ở đoạn sông này, một tàu tuần tra nằm lật nghiêng, gẫy làm đôi. Đó là bằng chứng của đường đạn chính xác của quân Cộng sản. Mìn trôi trên dòng sông, những hàng rào ngăn sông bằng tre cài nhiều mìn và hai bên bờ sông ngày ngày đạn đại bác, rốc két, súng cối, súng cỡ nhỏ bắn liên tiếp vào các đoàn tàu. Một tàu tuần tra bị bắn chìm và sáu tàu khác bị bắn hỏng. Mới đây, một tàu vạn năng [18*] chạy lết về Đông Hà, trên tàu có 12 thủy thủ thì 10 chết và bị thương. Đại úy hải quân Ray-ét phụ trách bến Đông Hà nói rằng thực tế tàu nào qua lại trên sông này cũng đều bị trúng đạn ít nhất một lần.
Còn chuẩn úy Mớc-phai, thuyền trưởng một tàu vạn năng nói : “Khi chạy ngược, chạy xuôi hay đang đậu ở bến, bất cứ lúc nào chúng tôi cũng bị bắn. Chúng tôi chẳng khác gì đi trong một cái nòng đại bác lớn mà địch đang đợi ở đầu kia. Không còn biết xoay xở thế nào được vì máy bay, đại bác đã ném bom, bắn phá nhưng quân cộng sản vẫn ở đấy, lực lượng ngày càng tăng và các cuộc tấn công của họ ngày càng táo bạo”.
⚝ ⚝ ⚝
Giữa tháng hai năm 1968, Bộ chỉ huy chúng tôi nhận được công văn của Ban chỉ huy tiểu đoàn 47, đề nghị cử đồng chí D. làm tiểu đoàn phó. Cân nhắc, so sánh công trạng và thiếu sót chúng tôi thấy anh vẫn xứng đáng. Sau khi bàn bạc trong thường vụ đảng ủy và Bộ chỉ huy, tôi bảo đồng chí Cao Thung, trưởng ban cán bộ thảo công văn gửi lên cấp trên. Nhưng khi quyết định của cấp trên về đến nơi thì anh D. đã hy sinh. Anh buộc súng tiểu liên báng gập vào bó chiếu, mặc áo the đen, quần rộng, đội khăn xếp, che ô, đóng giả một người dân tản cư đi vào cảng Đông Hà nắm tình hình hoạt động của tàu địch. Nhưng tên Mỹ ngồi trên một chiếc máy bay lên thẳng rất quỷ quyệt đã phát hiện ra anh. Chúng bắn xả cả một loạt súng máy vào anh D. ngã xuống bên bờ sông.
Khi chiến dịch kết thúc, tôi trở lại Vĩnh Linh, anh M. người cuối cùng bước vào hầm tôi trước lúc tôi lên đường ra trận, bây giờ lại là người đầu tiên vào hầm tôi khi tôi trở về. Tôi với anh :
– D. hy sinh rồi.
– Tôi biết rồi anh ạ - M. nói giọng buồn bã.
Đột nhiên tôi thấy miệng anh méo xệch đi, hai giọt nước mắt trào ra. Anh khóc.
– Tôi hối hận quá anh ạ.
– Mình cũng thế.
– Nhưng anh đã xử sự đúng - M. nhìn tôi vẻ đau khổ.
– Nói chung là đúng nhưng cũng có lúc chưa thật đúng.
– Lúc nào anh?
Tôi nói chuyện với đồng chí Thà và lúc ấy đồng chí D. đi qua trước mặt tôi, ngập ngừng như muốn gặp tôi, nhưng rồi anh lặng lẽ, đầu hơi cúi xuống đi thẳng. Tại sao tôi không gọi anh lại nói chuyện với anh? Tôi biết anh D . buồn, hối hận. Anh làm thế là phải. Và tôi không gặp anh có thể cũng là phải. Nhưng nay anh đã hy sinh, cái dáng cúi đầu của anh lúc ấy vẫn ám ảnh tôi, làm tôi áy náy trong lòng.
MẮT CỦA PHÁO
Trong lúc bộ binh và các đơn vị pháo khiêng vác chặn tàu địch trên sông thì pháo cơ giới tầm xa suốt ngày đêm bắn phá các căn cứ và kho hậu cần của địch ở Đông Hà, Cửa Việt.
Pháo nằm trên đất Vĩnh Linh, pháo thủ không hề nhìn thấy mục tiêu. Nhưng có điều rất lạ, pháo ta đã bắn là trúng. Ta bắn không nhiều, chỉ mỗi trận vài chục viên, có khi năm sáu viên nhưng tạo ra những đám cháy lớn, thiêu hủy hàng trăm tấn vũ khí, nhiên liệu, lương thực và phương tiện chiến tranh của Mỹ. Như trận bắn vào Cửa Việt ngày 10 tháng Ba 1968, chỉ bằng ba viên đạn, ta gây nên một đám cháy lớn và nổ dây chuyền, đốt cháy năm khu kho lớn, 30 xe vận tải, 4 nhà bạt, diệt 140 tên Mỹ. Ngày 21 tháng Giêng 1968, một đoàn xe Mỹ 40 chiếc vừa chạy đến cầu Thiện Xuân trên đường Chín. Đột nhiên pháo bắn trúng cầu, các thanh gỗ bật tung. Chiếc xe đi đầu dừng lại, lập tức pháo chuyển làn, bắn dồn dập vào đoàn xe. Mất có 40 viên đạn, ta diệt 38 chiếc xe chở đầy súng đạn, chỉ hai chiếc chạy thoát. Nhận xét về sự chính xác tuyệt vời của pháo ta, đồng bào Quảng Trị nói một cách nôm na : "Pháo miềng có mắt!". Đúng như vậy. Pháo ở rất xa, nhưng “con mắt” của pháo thì lại ở rất gần mục tiêu bám sát từng động tác của giặc.
Mời các bạn nghe anh Phan Đình Thanh, tổ trưởng trinh sát thọc sâu của trung đoàn Bến Hải, một trong những “mắt thần” của pháo kể chuyện :
"Đêm 18 tháng giêng, chúng tôi vượt sông Bến Hải. Theo đội hình đã sắp sẵn từ trước, cả tổ tiến vọt về phía Thủy Khê, để từ đó đi sâu vào vùng địch... Hai đồng chí Lai và Long đi đầu, tôi và hai đồng chí thông tin đi giữa, hai chiến sĩ trinh sát còn lại đi sau cùng. Tám khẩu súng đã lên đạn, sẵn sàng chiến đấu. Bên ngoài là Cồn Tiên, Dốc Miếu, bên trong có Dốc Sỏi, Cầu Bến Ngự, điểm cao 31, Quán Ngang, Miếu Bái Sơn..., chúng tôi phải luồn lách giữa đám căn cứ địch dày đặc ấy mà đi. Vùng này cũng là địa bàn của thám báo, biệt kích, của các máy điện tử dò tiếng động và bom, mìn cạm bẫy. Mỗi gò đất, gốc cây, con suối đều đã được đặt trong mạng pháo binh của địch, có tọa độ chấm sẵn trên bản đồ. Chỉ một chiếc máy điện tử phát lên tín hiệu báo động hay một quả mìn chiếu sáng vụt nổ là hàng trăm quả pháo sẽ chụp xuống ngay lập tức. Không có bóng tối, đèn dù treo lơ lửng suốt đêm trên các đồn bốt, trên dọc đường, đèn pha ở Quán Ngang quét loang loáng ra xung quanh. Mười giờ đêm, có tín hiệu báo động từ phía trên truyền xuống : "Dừng lại, có địch phục kích!". Nửa giờ sau lại đi. Qua nơi địch vừa rút khỏi, tôi sờ thấy công sự hãy còn ấm, mùi thuốc lá Salem thơm phức. Đáng lẽ đêm đầu tiên chúng tôi phải đi được mười lăm cây số để khi trời sáng có thể ẩn vào vùng đồi rậm rạp phía tây. Nhưng khi mới qua khỏi đường 76, nhìn ra phía biển đã thấy trời hửng sáng. Xung quanh trống trải, trước nước, sau lưng, bên trái, bên phải đều có địch. Làm sao đây? chỉ còn một cách là rúc vào bãi cỏ gianh nằm đợi trời tối. Hết sức mạo hiểm nhưng không còn kế nào khác. Vùng này đất đỏ badan màu mỡ, cỏ gianh mọc tốt ngập đầu có thể ẩn được. Vào đến giữa bãi gianh tôi ra lệnh cho anh em tản ra và mỗi người tự xếp cho mình một cái ổ thật kín đáo. Chúng tôi chỉ dám ăn mỗi người một nửa vắt cơm, uống vừa đúng một hụm nước, còn nửa phải để dành. Một ngày căng thẳng đến tột cùng. Trong những tháng năm chiến đấu của đời tôi đã có lúc cái chết kề bên cạnh, nhưng chưa lúc nào tôi cảm thấy căng thẳng, hồi hộp như ngày hôm ấy. Trời vừa rạng sáng, trên đường 76 xe địch, lính địch đã đi lại rắm rập, nghe rõ cả tiếng chúng nói chuyện, chòng ghẹo nhau. Máy bay trinh sát L19, OV10 lượn vè vè trên đầu, lúc nào cũng nơm nớp như chúng sắp phát hiện ra mình. Đáng sợ nhất là bọn máy bay lên thẳng. Cứ mỗi lần chúng bay qua, cỏ gianh cuộn sóng như gặp cơn gió lốc, ẩn không khéo là phơi mình ra ngay. Vào quãng chín giờ sáng, một đoàn xe Mỹ đang đi đột nhiên có hai chiếc tách ra và dừng lại, đỗ ngay trước mặt chúng tôi. Mấy tên Mỹ từ thùng xe nhảy xuống, chỉ trỏ một cái gì trên mặt đất, xì xồ nói chuyện với nhau. Có lẽ một đồng chí nào đã sơ ý để lại dấu dép trên đường. Lộ rồi chăng? Tôi đưa mắt về phía đồng chí Lương, báo vụ viên. Nếu địch sục vào chúng tôi sẽ đánh và gọi pháo bắn. Cũng may là mấy thằng Mỹ chỉ hoa chân múa tay một lúc rồi lên xe kéo nhau đi. Thật hú vía! Quá trưa, một chiếc L19 lượn vòng rất thấp, vừa bay vừa phát đi lời kêu gọi "Gửi anh em cán binh Bắc Việt!" của một tên phản bội nào đó. Lai nằm cạnh tôi bỗng ngồi phắt dậy, quắc mắt, chộp lấy súng. Tôi vội lừ mắt bảo anh ta phải ngồi im. Nổ súng bây giờ chẳng khác gì tự sát. Chỉ một ngày thôi, nhưng sao mà lâu thế!
Chiều 24 tháng giêng, chúng tôi áp sát thị trấn Đông Hà để trinh sát. Huyện đội Cam Lộ cho hai trung đội bộ đội địa phương do đồng chí chính trị viên và tham mưu trưởng chỉ huy đi theo bảo vệ chúng tới. Theo phương án đã bàn với huyện đội, đêm đầu tiên chỉ tôi và đồng chí Long đi. Tôi dặn anh em trong tổ : “Nếu chẳng may đêm nay tôi và đồng chí Long hy sinh thì đồng chí Lai sẽ thay tôi làm tổ trưởng, đồng chí Lương phụ trách vô tuyến điện. Các đồng chí tiếp tục ở lại làm tròn nhiệm vụ chứ không được rút về”.
Lai nói : "Các anh cứ yên tâm, còn một người chúng tôi cũng vẫn cứ ở lại".
Ba giờ chiều bắt đầu rời căn cứ. Năm giờ đến vùng đồi thấp cạnh làng Cam Vũ. Đồng chí tham mưu trưởng bảo chúng tôi dừng lại đợi trời tối hẳn. Ngồi trên sườn đồi, tôi nhìn con sông Hiếu lấp loáng trong ánh nắng chiều và những xóm làng đang tím lại trong màn sương mỏng, chợt thấy lòng mình dịu lại một nỗi nhớ thoáng qua, nhớ cha mẹ, quê hương, bạn bè, những kỷ niệm của một thời thơ trẻ. Có lúc tôi nghĩ tới Ngôi sao [19*] của Kadakêvich. Giờ này “Trái đất” của tôi đang trên đường đi từ trường về nhà. Có thể cô ta cũng đang nghĩ đến “Ngôi sao” của cô ở phương nam xa xôi.
Mười một giờ chúng tôi vào đến cầu đường sắt, cách trung tâm Đông Hà chừng hai cây số. Phía trước, phía sau, bên trái, bên phải đều có địch. Hai trung đội bộ đội địa phương chốt hai đầu cầu để tôi và Long trèo lên lan can đứng nhìn. Thấy đường Chín, sân bay nhưng không thấy được mục tiêu số một và bến cảng. Tôi yêu cầu đồng chí chính trị viên và đồng chí tham mưu trưởng cho vào sâu thêm nữa. Tham mưu trưởng gật đầu. Anh chọn tám tay súng : một đại liên, một trung liên, một B40, một B41 và hai AK tự anh chỉ huy tổ hỏa lực hộ tống chúng tôi vào. Định vào thêm 800 mét nhưng chỉ được một nửa đã hết đường. Trước mặt là bãi tha ma, bên kia là hàng rào phòng thủ của địch. Vẫn chưa thấy được cảng. Tôi nói với đồng chí tham mưu trưởng :
– Anh cho phép tôi và Long xuống bờ sông, men theo mép nước tiếp cận bến cảng.
Tham mưu trưởng bậm môi suy nghĩ :
– Nếu gặp địch thì sao?
– Chúng tôi sẽ nổ súng, các anh bắn yểm hộ để chúng tôi rút theo lối bờ sông.
– Đồng ý - tham mưu trưởng gật đầu.
Anh nói thêm :
– Tôi nhắc lại : nếu lộ hai đồng chí phải rút ngay, nhiệm vụ cản địch là của chúng tôi.
Tôi và Long bò về phía bờ sông. Dán bụng xuống đất, chúng tôi nhích lên từng gang một. Sông Hiếu quãng này rất rộng, nước thủy triều đang lên, mặt sông mênh mông phản chiếu ánh điện lấp lánh như mặt gương. Cách cảng chừng 100 mét chúng tôi dừng lại, nấp sau khúc cây chuối không biết từ đâu trôi dạt về. Tha hồ nhìn. Từ mép nước nhìn lên thấy trên cầu có bốn tầng đèn. Tầng dưới cùng là hệ thống đèn pha rọi ánh sáng xuống mặt nước để đề phòng đặc công ta phá cầu. Trên mặt cầu sáu tên lính Mỹ chia làm hai tốp đi tuần tra ngược chiều nhau. Cứ năm phút chúng lại vung tay ném xuống mặt nước một loạt lựu đạn. Cảng Đông Hà ở phía dưới cầu, cách chỗ chúng tôi nằm chừng 150 mét. Trong cảng có ba chiếc tàu đang dỡ hàng, ô tô chạy đi chạy lại như mắc cửi. Điều thích thú nhất là thấy trên bến cảng có hai chiếc cần cẩu cố định. Đây sẽ là vật chuẩn để sửa đạn lúc bắn vào cảng. Ngoài bến cảng chính, chúng tôi còn phát hiện một bến cảng phụ ở cách đó chừng 200 mét, một số kho tạm ở rải rác xung quanh. Sướng quá, có lúc Long quên cả nguy hiểm nói to lên, tôi phải bấm anh một cái rõ đau.
Chúng tôi báo cáo về "nhà", xin đánh cảng Đông Hà vào ngày 28. "Nhà" đồng ý. Hơi rắc rối một chút là cảng gần chợ, nếu đạn lạc có thể gây thương vọng cho nhân dân : tôi đề nghị huyện cho phao tin là quân giải phóng sắp đánh chiếm Đông Hà. Tin đồn tung ra hôm trước, hôm sau cơ sở của ta trong thị xã báo ra cho biết : "Nhân dân xô nhau mua gạo, mua muối dự trữ, nhiều cửa hiệu đóng cửa, chợ vắng ngắt. Tuy vậy để cho chắc chắn, chúng tôi cũng điện về nhà xin đánh vào lúc hai giờ chiều. Quãng đó phiên chợ chiều chưa họp.
Một giờ sáng ngày 28, chúng tôi tạm biệt cơ quan huyện đội, vượt qua một số đồn bốt địch, bí mật bò vào điểm cao 35 ở cách Cảng Đông Hà chừng 1000 mét, chỗ này còn cây lúp xúp, ở sâu trong vùng địch cho nên chúng ít để ý. Việc đầu tiên phải làm là đào hầm, xây dựng công sự chiến đấu, ngụy trang chu đáo. Kế hoạch được vạch ra như sau : Tôi, Lai và Long A, báo vụ viên sẽ chỉ huy bắn. Long B, Tiềm, Mà, Lương chia thành hai tổ cảnh giới, đặt cách đài 100 mét. Nếu bị lộ, địch cho bộ binh ra thì ba chúng tôi cứ việc gọi pháo, hai tổ cảnh giới sẽ nổ súng cản địch.
Những giây phút dài ghê gớm lần lượt nối nhau đi qua... Mười ba giờ ba mươi phút, ba máy bay lên thẳng từ phía Cửa Việt bay ngược lên, rà sát hai bờ sông. Mười lăm phút sau, một đoàn tàu bảy chiếc lừng lững đi vào cảng. Tôi và Lai dựng phương hướng bàn [20*] , trải rộng bản đồ, Long mở máy vô tuyến điện. Hai tổ cảnh giới ghếch súng lên bờ công sự, sẵn sàng chiến đấu. Đúng hai giờ chiều, cần cẩu bắt đầu làm việc.
Tôi gọi pháo bắn. Loạt đầu, bốn phát rơi vào ven làng Điều Ngâu cách cảng hơn trăm mét. Tôi điều chỉnh sang trái và hô bắn gấp 28 phát. Toàn bộ loạt này đạn rơi trúng cảng và tàu đang dỡ hàng. Đám cháy lớn bùng lên, khói bốc cao hàng mấy trăm mét, trận ấy ta bắn chìm tại chỗ một tàu chở hàng 100 tấn, hai tàu chở xăng bốc cháy, chìm cách cảng 500 mét, một xe GMC bị phá huỷ, 26 tên Mỹ chết.
Ngày 31, cũng từ điểm cao 35 chúng tôi gọi pháo đánh vào cầu Đông Hà. Ngày 1 tháng Hai đánh liền ba mục tiêu : Cảng, sở chỉ huy tiền phương sư đoàn ba lính thủy đánh bộ Mỹ và sân bay. Liên tiếp trong một tuần lễ, ngày nào ở Đông Hà cũng có tàu, kho địch bị cháy và nổ.
Ngày mồng tám địch càn quét, chúng đổ quân chiếm mất điểm cao 35. Nhờ huyện đội giúp đỡ, chúng tôi chia làm hai tốp, vượt qua ngã tư Sòng, luồn vào xã Cam Giang ở sát bến cảng. Tôi và Long được bố trí ở trong nhà cụ H, một gia đình cơ sở cách mạng. Sáng sớm ngày mồng mười, tôi đóng bộ áo dài, quần rộng, đi dép nhựa trắng, đội mũ trắng, y như một anh xã trưởng ngụy ra đứng ở bờ sông. Lựu đạn và súng tiểu liên báng gập giấu trong người. Máy bay lên thẳng vũ trang bay ầm ầm trên trên đầu, trông thấy bọn Mỹ cởi trần, ngực đỏ như mào gà, mắt nhìn lấc láo. Tàu tuần tiễu địch đi qua trước mặt, súng đại liên chĩa ra hai bên. Hồi hộp một chút nhưng nhìn sướng quá. Mọi thứ bày ra trong ánh sáng ban ngày : tàu, kho, xe cộ... Nhìn rõ cả những hàng chữ đề trên các kiện hàng. Tôi báo cáo về nhà xin đánh vào lúc tám giờ tối.
Có cái khó là địch ở gần quá. Cách nhà cụ H. hơn trăm mét có một quán giải khát, lúc nào lính ngụy cũng túm tụm nhậu nhẹt ở đó. Khi tôi gọi pháo bắn có thể bị lộ. Giữa vòng vây dày đặc của địch thế này, lộ là cầm chắc hy sinh. Sực nhớ tới kinh nghiệm của anh Nguyễn Đình Quang, một tổ trưởng trinh sát cùng trung đoàn, tôi hỏi cụ H .:
– Bác ơi, mấy gia đình quanh đây thế nào, có cảm tình với cách mạng không?
Ông cụ nói:
– Nhà mô cũng có con đi lính ngụy nhưng coi bộ họ không thù ghét chi đằng miềng.
Tôi bàn với ông cụ :
– Lát nữa chúng con sẽ gọi pháo bắn vào cảng, bác làm sao nói với các gia đình xung quanh, đúng bảy giờ mười lăm thì mở đài Sài Gòn cho thật to.
– Được được, mấy chú giao tui chuyện đó, đừng lo.
Đúng giờ quy định, cả chiếc đài nhà cụ H. lẫn các gia đình xung quanh đều vặn to hết cỡ. Tiếng bình luận, tiếng hát cải lương thứ thì ông ổng, thứ nhả nhớt, nghe cứ loạn xị cả lên. Long ngồi trong buồng nhà cụ H. mở máy vô tuyến điện, tôi nấp sau cửa sổ đo đạc, tính toán. Cụ H. cùng mấy người cốt cán lảng vảng quanh ngõ để cảnh giới.
Đúng tám giờ tôi gọi bắn. Ngay từ loạt đầu, đạn lao trúng bến : Tàu bốc cháy. Kho đạn cháy, gây nổ dây chuyền, lửa sáng rực cả khoảng không. Một chiếc LCU cháy đùng đùng mang đầy lửa và khói chạy qua trước mặt tôi.
Sáng hôm sau, tôi bảo đứa cháu nội cụ H. chừng mười ba tuổi đạp xe lên phố nắm tình hình. Cậu ta đi một lúc về kể lại : một tàu LCU chìm tại cảng, hai chiếc vẫn đang cháy, khu kho bị phá tan tành. Đại đội Mỹ đóng ở cảng chết 56 tên, xác hãy còn để ở bãi cỏ đợi chở đi.
Tối ngày 12 chúng tôi rời xã Cam Giang. Vừa đến cuối làng lọt ngay vào ổ phục kích của giặc. Đang đi chợt thấy một quả đèn dù từ phía Quán Ngang vọt lên, mấy anh em vội tản ra, nằm nép vào bờ tre. Đèn dù tắt, vừa đứng dậy đi được vài bước thì lại một quả khác vụt sáng. Tiềm nhổm lên định quan sát đoạn đường phía trước. Một tràng súng máy hộc lên. Và ngay lập tức đạn cối, đạn phóng lựu tới tấp lao về phía chúng tôi. Tôi thấy Tiềm ngã vật xuống, đầu ngoẹo sang một bên, nằm yên không động đậy. Địch vẫn bắn xối xả, đạn súng máy quét sàn sạt qua rặng tre, chớp lửa nhằng nhịt khắp xung quanh. Cũng còn may chỗ chúng tôi bị phục kích là một chân ruộng, có thể dùng các con bờ làm nơi ẩn tránh. Nhìn đường đạn, tôi đoán lực lượng bọn phục kích chỉ chừng hai tiểu đội và chắc chắn là lính nguy. Bọn Mỹ thường bắn mạnh và bắn gần hơn. Đã thoát chết qua một số trận phục kích, tôi hiểu trong lúc này nếu bỏ chạy là nhất định bị tiêu diệt. Phải đánh trả đánh trả thật quyết liệt. Đối phương là những đứa nhút nhát, bảo mạng, chúng không dại gì xông xáo trong đêm tối. Tôi ra lệnh Long trinh sát, có du kích địa phương dẫn đường cùng với Long vô tuyến điện rút dần về phía sau. Phải bảo vệ máy, không có nó bây giờ là coi như bó tay. Tôi bảo Lai bám vào mép bờ ruộng, bò lên lấy xác Tiềm, tôi và Sang sẽ bắn ghìm địch xuống. Nếu Tiềm lọt vào tay địch, nhất định chúng sẽ phơi xác anh trên đường Chín để trả thù các trận đánh pháo của chúng tôi. Để xảy ra điều ấy chắc chắn nỗi đau đớn, dằn vặt sẽ đuổi theo tôi đến trọn đời. Từng tấc một, Lai bò nhích dần lên phía trước. Tôi và Sang cũng bò lên, vừa bò vừa bắn.
Tôi ném một quả lựu đạn về phía ổ súng máy đang nhả đạn, Sang ném tiếp một quả nữa. Lợi dụng lúc súng địch tạm ngừng, Lai vọt đến chỗ Tiềm. Anh mang xác Tiềm trên lưng, bò trở lại. Tôi và Sang tiếp tục bắn để yểm hộ. Đợi Lai và Tiềm ra khỏi vòng vây, tôi với Sang mới vừa bắn vừa rút. Bọn địch chỉ nằm bên kia đường bắn như đổ đạn chứ không dám đuổi theo.
Sáng hôm sau chúng tôi vĩnh biệt Tiềm. Buồn quá, không ai nói một lời nào, bảy anh em đứng lặng lẽ trước linh cữu, nhìn một lần cuối cùng gương mặt thân yêu người đồng chí. Tôi muốn có một bó hoa rừng đặt lên mộ cho Tiềm nhưng tìm mãi không ra. Tất cả núi đồi vùng này đều đã bị chất độc của Mỹ làm trụi lá, chết khô...