Phần lớn những luận điểm mà Lenin nêu ra trong Nhà nước và cách mạng thực ra chỉ là giải thích lại những quan điểm của Marx và Engels. Nếu có một cái gì có thể gọi là mới, là sáng tạo của riêng Lenin thì đó chính là khái niệm dân chủ vô sản. Lúc còn sống, Marx và Engels chưa hề nói đến dân chủ vô sản, mà chỉ nói đến chuyên chính vô sản. Có lẽ do chỗ hai ông đều cho rằng cách mạng vô sản chỉ có thể thành công bằng cách nổ ra đồng loạt ở những nước tiên tiến nhất, và chuyên chính vô sản chỉ là nhà nước tạm thời nên hai ông không xác định đó là một chế độ dân chủ, một nền dân chủ.
Tiến hơn một bước so với hai nhà cách mạng tiền bối, Lenin đưa ra khái niệm dân chủ vô sản (proletarian democracy, démocratie prolétarienne) để đối lập với khái niệm dân chủ tư sản. Khi đưa ra khái niệm này, Lenin nhằm vào những khía cạnh sau đây:
Một là, Lenin muốn làm rõ việc giai cấp vô sản, sau khi đập bỏ nhà nước tư sản, đã thay thế vào đó một cái không phải là nhà nước theo đúng nghĩa của từ ấy nữa:
… chế độ dân chủ, từ chỗ là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ vô sản, từ chỗ là nhà nước (= lực lượng đặc biệt để trấn áp một giai cấp nhất định) nó biến thành một cái gì thực ra không phải là nhà nước hiểu theo nghĩa thật sự nữa. (Lenin, Nhà nước và cách mạng, sđd., tr. 68)
Hai là, Lenin muốn đối lập khái niệm dân chủ vô sản với khái niệm dân chủ thường dùng, mà ông gán cho cái nhãn là dân chủ tư sản. Theo ông, dân chủ vô sản là dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân, dân chủ cho người nghèo; còn dân chủ tư sản chỉ là dân chủ cho một thiểu số rất nhỏ, dân chủ cho người giàu. (Sđd, tr. 139-144)
Quan niệm này được Lenin phát triển chẳng những nhằm để chống lại giai cấp tư sản, mà còn nhằm để chống lại các nhà lý luận của Quốc tế II, như Kautsky chẳng hạn. Năm 1919, ông viết:
Chế độ dân chủ tư sản, tuy là một tiến bộ lịch sử vĩ đại so với thời trung cổ, song trước sau nó vẫn là, - và dưới chế độ tư bản nó không thể không là - một chế độ dân chủ chật hẹp, bị cắt xén, giả hiệu, giả dối, một thiên đường cho bọn giàu có, một cái cạm bẫy và một cái mồi giả dối đối với những người bị bóc lột, đối với những người nghèo. (Lenin, Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky, sđd, tr.30)
Ba là, việc đưa ra khái niệm dân chủ vô sản đối lập với khái niệm dân chủ tư sản giúp Lenin biện minh cho việc thực hiện chuyên chính đối với giai cấp bóc lột:
Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ – lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu – chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản. Chúng ta phải trấn áp bọn đó để giải phóng nhân loại khỏi chế độ nô lệ làm thuê, phải dùng bạo lực để đập tan sự phản kháng của chúng, và chỗ nào có trấn áp, có bạo lực, thì đương nhiên là chỗ đó không có tự do mà cũng không có dân chủ. (Lenin, Nhà nước và cách mạng, sđd., tr. 142)
Dân chủ vô sản không dựa trên chế độ đại nghị mà dựa trên một nền dân chủ trực tiếp tương tự như chế độ dân chủ thời nguyên thuỷ của nhân loại. Đáp lại sự phê phán của Bernstein đối với “chủ nghĩa dân chủ nguyên thuỷ”, Lenin viết:
Cũng như tất cả bọn cơ hội chủ nghĩa, cũng như bọn Cau-xky ngày nay, Béc-stanh hoàn toàn không hiểu rằng, một là không thể nào chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mà không “trở về” ít nhiều với chủ nghĩa dân chủ “nguyên thuỷ” (vì xét đến cùng, làm thế nào khác thế được để khiến cho đa số dân chúng, hơn nữa, khiến cho toàn thể dân chúng làm được những chức năng của nhà nước?); hai là, “chủ nghĩa dân chủ nguyên thuỷ”, dựa trên cơ sở chủ nghĩa tư bản và văn hoá tư bản chủ nghĩa, không phải là chủ nghĩa dân chủ nguyên thuỷ của những thời nguyên thuỷ hoặc tiền tư bản chủ nghĩa. Văn hoá tư bản chủ nghĩa đã tạo ra nền sản xuất lớn, những công xưởng, những đường sắt, bưu chính, điện thoại,v.v…, và trên cơ sở ấy, tối đại đa số những chức năng của “chính quyền nhà nước” cũ đã được đơn giản hoá, và có thể biến thành những công việc vào sổ, ghi chép, kiểm tra đơn giản đến nỗi những chức năng ấy có thể hoàn toàn hợp với sức của hết thảy mọi người biết chữ, đến nỗi những chức năng ấy hoàn toàn có thể làm được với một số “tiền lương công nhân” thông thường, cho nên người ta có thể (và cần phải) tước bỏ tất cả mọi dấu vết đặc quyền, “cấp bậc” của những chức năng ấy đi. (Lenin, Sđd, tr.70-71)
Theo Lenin, chế độ dân chủ vô sản là chế độ dân chủ của đại đa số dân cư, của những người lao động bị bóc lột, vì vậy nó ưu việt hơn chế độ dân chủ tư sản:
Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần; chính quyền xô-viết so với nước cộng hoà tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần. (Lenin, Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky, sđd., tr. 39)
Với một niềm lạc quan cao độ, Lenin hoàn toàn tin tưởng rằng sau khi phá bỏ nhà nước cũ, có thể xây dựng một nhà nước kiểu mới trong đó mọi người lao động đều có thể tham gia vào công tác hành chính, không cần đến bộ máy quan liêu (tức là bộ máy công chức). Nhà nước kiểu mới đó sẽ dần dần tự tiêu vong khi xã hội bước vào giai đoạn cao của xã hội cộng sản (chủ nghĩa cộng sản), tức là khi sản xuất đã phát triển đến mức có thể áp dụng nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”. Còn trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản (chủ nghĩa xã hội), tức là giai đoạn áp dụng nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”, thì nhà nước vô sản vẫn còn tồn tại vì còn phải trấn áp thiểu số bóc lột, nhưng việc trấn áp này không khó khăn lắm và không đòi hỏi phải có một bộ máy tốn kém:
Tiếp nữa, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản, sự trấn áp vẫn còn tất yếu, nhưng nó đã là sự trấn áp của đa số bị bóc lột đối với thiểu số bóc lột. Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn áp đặc biệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ, mà không còn là nhà nước theo đúng nghĩa của nó nữa, vì việc đa số người hôm qua là nô lệ làm thuê trấn áp thiểu số người bóc lột, là việc tương đối dễ dàng, đơn giản, tự nhiên, nên sẽ rất ít tốn máu hơn việc trấn áp những cuộc khởi nghĩa của nô lệ, của nông nô, của công nhân làm thuê, nên, đối với nhân loại, sẽ ít tốn kém hơn nhiều. (…) Bọn bóc lột dĩ nhiên là không thể trấn áp được nhân dân, nếu không có một bộ máy trấn áp rất phức tạp để làm nhiệm vụ đó, còn nhân dân thì dầu chỉ có một “bộ máy” rất giản đơn, hầu như không cần có “bộ máy” nữa, không cần có cơ quan đặc biệt nữa, mà chỉ với tổ chức quần chúng vũ trang đơn giản (đại loại như Xô-viết đại biểu công nhân và binh sĩ, - đây là chúng tôi xin nêu trước như vậy), cũng có thể trấn áp được bọn bóc lột. (Lenin, Nhà nước và cách mạng, sđd, tr.145)
Một khi các giai cấp bị bóc lột bị trấn áp xong, vẫn còn có những đối tượng cần trấn áp, đó là một số cá nhân có những hành vi thái quá, nhưng việc trấn áp những phần tử như vậy cũng không khó khăn gì, và cũng không ngăn cản quá trình tự tiêu vong của nhà nước:
Chúng ta không phải là những người không tưởng, và chúng ta nhận rằng những hành vi thái quá của một số cá nhân là có thể có và không thể nào tránh được, chúng ta cũng không phủ nhận sự cần thiết phải trấn áp những hành vi thái quá ấy. Nhưng, trước hết, tuyệt nhiên không cần phải có một bộ máy đặc biệt, một bộ máy trấn áp đặc biệt để trấn áp; nhân dân vũ trang sẽ tự mình làm việc đó một cách cũng giản đơn, cũng dễ dàng như bất cứ một đám đông những người văn minh nào, ngay trong xã hội hiện nay, đứng ra can những người đánh nhau hay ngăn không cho ức hiếp phụ nữ. Thứ nữa, chúng ta biết rằng nguyên nhân xã hội sâu xa của những hành vi thái quá vi phạm quy tắc của cuộc sống chung trong xã hội, là sự bóc lột những quần chúng lâm vào cảnh thiếu thốn, cùng khổ. Một khi gạt bỏ được nguyên nhân chủ yếu ấy, thì những hành vi thái quá tất nhiên sẽ bắt đầu “tiêu vong”. Những hành vi đó tiêu vong mau chóng như thế nào, mức độ như thế nào, thì chúng ta không biết, nhưng chúng ta biết rằng chúng thế nào cũng sẽ tiêu vong. Và cùng với sự tiêu vong đó, nhà nước cũng sẽ tiêu vong theo. (Sđd, tr. 146)
Nhà nước vô sản tiêu vong tức là chế độ dân chủ vô sản cũng tiêu vong, nhường chỗ cho một xã hội hoàn toàn không có nhà nước, trong xã hội đó “sự tất yếu phải tuân theo những quy tắc đơn giản và cơ bản của mỗi xã hội loài người sẽ rất mau trở thành một tập quán.”(Sđd, tr. 164).
Như vậy, khái niệm dân chủ vô sản thực ra là một khái niệm được nêu ra nhằm đối phó với quan điểm của những người cải cách, kể cả những người xét lại một cách triệt để như Bernstein cũng như những người có lập trường trung dung hơn như Kautsky. Lenin có ý muốn biện minh cho quan niệm chuyên chính vô sản, cho con đường cách mạng (đập tan hoàn toàn bộ máy nhà nước cũ để xây dựng một bộ máy nhà nước hoàn toàn mới). Cho nên nền tảng của của khái niệm “dân chủ vô sản” chính là khái niệm “chuyên chính vô sản”. Chuyên chính nhưng lại rất dân chủ, chuyên chính để có đân chủ: chuyên chính đối với thiểu số để có dân chủ đối với đa số, chuyên chính đối với giai cấp bóc lột để có dân chủ đối với giai cấp vô sản và nhân dân lao động nói chung. Chúng ta thử xét xem khi hai khái niệm đối nghịch này cùng được nhét chung vào một bị thì hậu quả sẽ như thế nào?
❊ ❊ ❊