Vào tháng 12 năm 1982, Tom Tatum, một anh chàng gầy gò, cao lêu nghêu, với mái tóc đen, để râu quai nón, tính cách lạnh lùng hợp với giọng nói lè nhè kiểu miền Nam, đang đứng trong hội trường của Las Vegas Sands. Bên cạnh anh là 10 hacker khác đang ngồi không thoải mái lắm trên một dãy ghế. Tom Tatum, cựu luật sư, nhà vận động hành lang, người từng phục vụ trong chiến dịch tranh cử của Tổng thống Jimmy Carter, giờ đây đang dẫn dắt hoạt động lập trình video “docusports” (phim tài liệu giải trí), cho rằng anh đã tình cờ trúng giải độc đắc, thậm chí còn lớn hơn giải thưởng của bất kỳ máy đánh bài nào trong sòng bạc gần đó chỉ cách anh vài bước chân.
“Đây là sự kiện Hollywood giao lưu cùng Kỷ nguyên Máy tính,” Tom Tatum nói với đám đông phóng viên, và đám thương nhân điện toán trong triển lãm Comdex. “Đó là cuộc tranh luận cực đoan của những năm 1980.”
Sáng tạo của Tom Tatum được gọi là Wizard vs. Wizards (tạm dịch: Thiên tài đối đầu với thiên tài). Đó là một cuộc thi truyền hình, mà ở đó các nhà thiết kế trò chơi sẽ chơi trò chơi của nhau để dành một bộ giải thưởng. Tom đã hội tụ các lập trình viên đến từ những công ty như On-Line và Sirius, bởi anh cảm nhận được sự có mặt của một kiểu anh hùng mới, những người sẽ chiến đấu bằng trí não thay vì cơ bắp, những người sẽ đại diện cho sự sốt sắng đầy táo bạo muốn vươn lên trước phần còn lại của thế giới trong cuộc chiến công nghệ của uy quyền tối cao – các hacker.
Không như các sản phẩm giải trí trước đây của Tom Tatum, bao gồm Giải Vô địch Lướt ván buồm Maui năm 1981 và Giải thi đấu Nhào lộn trên không Telluride, chương trình Wizard vs. Wizards lần này có khả năng thu hút một lượng khán giả mới đến với thể loại docusports. “Chỉ một phần nhỏ dân số sở hữu một chiếc xe đạp Super Cross,” sau này anh giải thích. “Nhưng khi nhìn vào những người dùng máy tính tại nhà thì điều đó rõ ràng thật tuyệt vời.”
Rõ ràng rằng giờ đây mọi người đang quan tâm tới các cuộc thi diễn ra tại những chiếc máy điện tử xèng và máy tính Apple. Hãy thử tưởng tượng xem sẽ có bao nhiêu người bật tivi để xem các chuyên gia thi đấu với nhau. Thêm vào đó, theo Tatum giải thích, “sự hấp dẫn của chương trình này là thử thách lớn gấp đôi” của chính các tác giả – những anh chàng máy móc kỳ cục đến từ thế giới khoa học viễn tưởng này sẽ thi đấu với nhau.
“Họ là những ngôi sao mới!” Tom Tatum nói ở Las Vegas, nhưng dường như các ngôi sao mới này có vẻ xấu hổ khi diễu quanh một sân khấu ở Las Vegas giống như rất nhiều thí sinh lúng túng trong cuộc thi Hoa hậu Hoàn cầu trước kia. Vẻ đẹp của chủ nghĩa hacker chính là tinh thần Đạo Lão, kín đáo và ấn tượng tiềm ẩn khi ta có thể cảm nhận được sự hòa trộn táo bạo của chủ nghĩa lý tưởng và suy tư, nhưng lại không mấy hấp dẫn khi được trình diễn như một nhóm nhảy trong một phòng khiêu vũ ở Las Vegas. Nụ cười của các hacker cứng đơ, những bộ com-lê không vừa vặn (dù một số người cũng mặc những bộ com-lê thể thao may đo riêng nhưng họ trông vẫn có phần khiên cưỡng). Ngay cả những người quan sát chậm hiểu nhất cũng có thể đoán được rằng hầu hết bọn họ thà ở nhà hack còn hơn phải có mặt ở đây. Nhưng do bị thôi thúc bởi sự tò mò, sức ép từ các nhà phát hành, mong muốn được chơi vài ngày ở Vegas, và cả sự phù phiếm nữa, họ đã đến để thi đấu trong chương trình hấp dẫn nhất mà Tom Tatum từng thực hiện, có lẽ phải loại trừ một trường hợp, như anh thú nhận. Đó là Miller High Life Super Cross Finals.
Cuộc thi đấu có sự tham gia của các hacker đến từ bảy công ty. Jerry Jewell sẽ xuất hiện cùng với hai người chơi điện tử xèng xuất sắc nhất của Sirius. On-Line sẽ đến vào ngày hôm sau. Sau phần giới thiệu, Jewell đã khoe khoang với các đối thủ rằng, anh có một nhân viên có lẽ là người chơi điện tử giỏi nhất thế giới. “Tôi từng thấy anh ấy chơi Robotronsuốt bốn tiếng đồng hồ,” anh nói.
Hacker nọ chẳng có vẻ gì là bị dọa dẫm. “Có thấy không?” anh ta trả lời bằng giọng nói the thé khi đưa tay ra. “Đây là vết phồng rộp Robotron của tôi. Tôi thường phải ngừng chơi sau một giờ bởi hai bàn tay tôi rất nhạy cảm.”
Sau này, trong phòng khách sạn, Jewell đã quan sát các hacker của anh tập luyện các trò chơi cho cuộc thi. Jewell đã vui mừng trước thỏa thuận của công ty với Twentieth-Century Fox Games. Các đầu máy quay đĩa VCS mà lập trình viên của anh thiết kế giờ đây được Fox phân phối và quảng cáo rộng rãi; công ty của anh là công ty đầu tiên trong nhóm Brotherhood có trò chơi được quảng cáo trên truyền hình, và được phân phối trong các trung tâm bán hàng cho công chúng. “Nhìn thấy sản phẩm Apple của bạn trên tường trong một cửa hàng máy tính là một chuyện,” Jerry Jewell nói, “nhưng khi thấy nó ở K-Mart thì bạn biết rằng mình đã thành công.”
Ken Williams đã tới Las Vegas để kịp tham gia buổi họp trước cuộc thi mà Tatum tổ chức cho 12 đấu thủ cũng như các nhà tài trợ của họ. Nhanh chóng trở lại sau vụ hỏa hoạn, William sẵn sàng trở thành đấu thủ duy nhất trong chương trình. Anh và những người khác đã xếp ghế ngồi thành hình bán nguyệt để nghe Tatum mô tả luật chơi.
“Đây là một kiểu thi đấu mới,” Tom Tatum nói với cả nhóm. “Nó sẽ không thể xảy ra nếu không có truyền hình. Nó được tạo ra cho truyền hình. Các nguyên tắc được tạo ra để phù hợp với truyền hình.” Anh giải thích rằng có hai tập giá trị mâu thuẫn nhau trong loại hình thi đấu này: Giá trị thứ nhất là một cuộc thi trung thực và công bằng, còn Giá trị thứ hai là yêu cầu phải làm sao để mọi thứ trông thật tuyệt trên truyền hình. Tatum nói rằng cả hai giá trị đều quan trọng, nhưng bất kỳ khi nào hai giá trị này mâu thuẫn nhau, anh sẽ chọn giá trị thứ hai.
Sau đó, Tatum mô tả màn khởi động chương trình như sau: Chương trình sẽ có một dải đèn neon thường thấy trong đêm của Las Vegas, và một phù thủy – biểu tượng của hacker – xuất hiện phía sau nó, cùng những luồng điện phát ra từ các ngón tay của anh. Đó là biểu tượng quyền hạn tuyệt đối của Thời đại Mới. Hình ảnh này có vẻ đã gây ấn tượng với người dùng máy tính, giống như hình ảnh mà Tom Tatum đã vẽ ra về những lợi ích của việc cạnh tranh trong một sự kiện truyền hình. Tatum nói điều đó có thể nâng tầm họ tới vị trí chủ nhà: “Một khi chương trình này trở nên nổi tiếng, và các chương trình khác bắt đầu diễn ra, những việc khác cũng bắt đầu xuất hiện sau đó. Bạn có thể kiếm thêm thu nhập từ những nguồn khác, như quảng cáo sản phẩm chẳng hạn.”
Vào buổi sáng diễn ra chương trình truyền hình, trước khi bấm máy, lượng khán giả nghèo nàn ở Phòng Khiêu vũ Sands có thể chứng kiến điều mà chỉ mới 10 hay 20 năm trước thôi còn được coi là vượt xa trí tưởng tượng của Heinlein, Bradbury, hay thậm chí là một người có tầm nhìn xa trông rộng như Ed Fredkin của MIT. Các chuyên gia trang điểm đang thoa son trát phấn lên khuôn mặt của những lập trình viên máy tính đầy lo âu. Kỷ nguyên của các hacker truyền thông đã bắt đầu.
Tom Tatum đã thuê một diễn viên truyền hình kỳ cựu với nụ cười tỏa nắng dẫn chương trình. Cô gặp vấn đề với lời mở màn của mình về việc lần đầu tiên trong lịch sử vũ trụ, các phù thủy máy tính cùng các thiên tài công nghệ đã tụ tập với nhau ở đây để thi đấu. Cô phải mất tới 15 lần quay cho phần này. Sau đó, cuộc thi mới có thể bắt đầu, và chỉ khi đó mọi người mới cảm thấy chán nản đến nhường nào khi phải xem một nhóm hacker ngồi ở một chiếc bàn dài với cần điều khiển kẹp giữa hai chân, ai cũng thu một chân bên dưới ghế còn chân kia duỗi dài ra dưới gầmbàn, miệng uể oải còn đôi mắt thì lờ đờ nhìn màn hình.
Không giống như các dạng cuộc thi truyền hình hấp dẫn hơn, những lập trình viên này trở nên dè dặt khi dọn sạch một màn hình toàn người ngoài hành tinh, hay bị tiêu diệt bởi một tia punxa báo thù. Người xem nhận thức rõ rằng họ cần phải quan sát hết sức cẩn thận để tìm các biểu hiện khuôn mặt hay sự thất vọng thoáng qua, và đoán được khi nào thì một nhầm lẫn trong di chuyển sẽ có kết cục là một vụ nổ trên màn hình. Khi người chơi phải đối mặt với màn hình GAME OVER (TRÒ CHƠI KẾT THÚC) đầy khinh miệt trước giới hạn thời gian 5 phút, họ sẽ buồn bã giơ tay để báo hiệu cho trọng tài ghi chú lại điểm số. Đó là một sự thất bại đầy đau đớn.
Tatum thấy rằng thiếu sót trên truyền hình này sẽ được xử lý bằng các cảnh quay vào màn hình máy tính, và các cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với những đấu sĩ silicon. Các cuộc phỏng vấn ấy thường diễn ra giữa một ngôi sao truyền hình và Dan Thompson, khi đó mới 19 tuổi của Sirius, người đã nhanh chóng xây dựng hình ảnh của một vận động viên đi đầu nhanh nhẹn.
NGÔI SAO TRUYỀN HÌNH: Cảm giác dẫn đầu và tiến vào vòng bán kết của cậu ra sao?
THOMPSON (nhún vai): Tôi đoán là tuyệt lắm.
Cắt! Làm lại nhé? Trong lần thứ hai này, Dan không nhún vai nữa. Lần nữa nhé? Tới lúc này thì logic kỹ thuật số, và kỹ năng giải quyết vấn đề của Dan Thompson được áp dụng vào tình huống này. Ngay khi ngôi sao truyền hình vừa kết thúc câu hỏi, anh đã rướn người tới micro, mắt nhìn thẳng vào máy quay.
“Ồ, cảm giác đó thật tuyệt. Hy vọng là tôi có thể tiếp tục giữ vững phong độ…” Anh đã xử lý được sự hời hợt trong cách nói của mình.
Thompson, người được hưởng lợi từ hàng giờ chơi điện tử trong cửa hàng Chuck E. Cheese Pizza ở Sacramento, đã dành chiến thắng cuộc thi. Ken Williams đã thi đấu tương đối tốt, đặc biệt là khi anh không có nhiều cơ hội xem trước một số trò chơi ở đó; việc dành vị trí thứ 6 chung cuộc là minh chứng rõ ràng cho khả năng hiểu rõ trò chơi điện tử máy tính gần như ngay lập tức, và cho thấy sự thật rằng ở độ tuổi 28, Ken vẫn còn phản xạ rất tốt.
Trong căn hộ của Tatum đêm đó, ông bầu chương trình cũng có mặt. “Tôi cho rằng chúng ta vừa được chứng kiến một sự kiện truyền hình mang tính cách mạng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây,” anh nói. Anh dự đoán rằng các hacker này sẽ bắt được trí tưởng tượng của người Mỹ – và dù không phải là những vận động viên trong các cuộc thi thể chất, nhưng họ vẫn tạo ra được những cảm xúc mãnh liệt. Anh nâng ly rượu hướng về tương lai của hacker với vai trò là những người anh hùng mới của nước Mỹ.
☆ ☆ ☆
Một lập trình viên của On-Line, người luôn có những biểu hiện của một anh hùng truyền thông tương lai, là Bob Davis, một người nghiện rượu trước kia mà Ken Williams đã nâng đỡ để trở thành tác giả trò chơi, đồng thời là người bạn thân nhất của mình. Ken đã cùng Bob viết trò chơi phiêu lưu Ulysses & the Golden Fleece, và những dòng kết trong bài phê bình trên Softalk của Margot Tommervik là minh chứng cho chiến thắng trong quyết định của Ken. khi sử dụng máy tính để thay đổi thế giới:
On-Line Systems có hai người chiến thắng trò “Ulysses”: Đó là trò chơi phiêu lưu hay nhất của On-Line kể từ sau Wizard and the Princess; và Bob Davis là một gương mặt mới được kỳ vọng sẽ tạo ra nhiều trò chơi phiêu lưu mới.
Trong gói hàng mà Sierra On-Line gửi tới để lôi kéo các tác giả tương lai có một bức thư mở của Bob Davis kể về trải nghiệm của anh với việc “bị bọ máy tính tấn công”, chứng kiến trò chơi của mình trải qua quy trình sản xuất đầy đau thương rồi nhận tiền bản quyền luôn “dồi dào và đúng giờ”. Bob đã kết luận rằng: “Giờ đây, tôi chỉ dành thời gian trượt tuyết ở hồ Tahoe, xem lại các cuốn phim đã quay, lái chiếc xe mới và sống khá thoải mái trong căn hộ ba phòng ngủ mới mua của mình. Tôi khuyên các bạn hãy làm như thế.”
Nhưng không lâu sau khi Ken từ Las Vegas về, không ai có thể thấy Bob Davis ở khu trượt tuyết, ngồi sau tay lái xe hay trong ngôi nhà mới của anh. Bob đón khách đến thăm tại nhà tù Hạt Fresno. Anh mặc một bộ quần áo liền màu đỏ của nhà tù cùng vẻ mặt rầu rĩ. Mái tóc dài, đỏ quạch, râu ria rậm rạp và những nét lo lắng trên khuôn mặt đã khiến anh trông già hơn tuổi 28 của mình. Vì lớp kính giữa tù nhân và khách viếng thăm rất dày, nên họ phải trò chuyện qua tai nghe điện thoại.
Không có nhiều khách ghé thăm Bob Davis trong vài tuần anh ở tù. Anh đang cố nhờ Ken Williams giúp mình bảo lãnh tại ngoại, nhưng cho tới giờ vẫn chưa thấy động tĩnh gì. Từ một kẻ nghiện rượu bỗng trở thành siêu sao phần mềm rồi bị kết án tù do nghiện ma túy, tất cả mọi việc đó đã diễn ra với anh chỉ trong vài tháng. Anh tưởng rằng máy tính sẽ giải thoát mình. Nhưng chỉ máy tính thôi là chưa đủ.
Đối với một người bỏ học phổ thông, trở thành bợm nhậu và âm thầm thích các câu đố logic, thì lập trình quả là một sự soi sáng. Bob thấy rằng anh có thể nhập tâm tới mức không cần phải uống rượu nữa. Vận may ở công ty đã tới khi anh lãnh đạo dự án Time Zone, đồng thời phát triển trò chơi phiêu lưu của anh, và bắt đầu học lập trình hợp ngữ cho chiếc máy VCS chết tiệt. Nhưng đúng vào lúc mà cuộc sống của anh có chút đổi thay tích cực, thì mọi chuyện bỗng nhiên sụp đổ.
“Tôi có chút vấn đề trong việc duy trì thành công,” anh nói. Cảm giác ban đầu có được từ việc trở thành một tác giả phần mềm bán chạy đã khiến anh nghĩ rằng mình có thể xử lý vấn đề chất kích thích trước kia đã làm khổ đời anh.
Ở On-Line, mọi người đều dùng chất kích thích nhưng Bob Davis không thể tiết chế điều độ như những người khác. Nó đã làm ảnh hưởng tới công việc của anh. Việc học viết mã VCS thôi cũng đủ khó khăn rồi. Nhưng thành công đến sớm của Bob với Ulysses, trò chơi được viết bằng Ngôn ngữ Phát triển Trò chơi phiêu lưu khá đơn giản của Ken Williams, đã khiến anh hài lòng với công việc lập trình ngay lập tức, đồng thời cũng khiến anh nản lòng. “Tôi đã cố biện minh,” Bob kể lại. “[Tôi nói rằng] On-Line đã trở nên quá sức đối với mình.” Và thế là anh đã nghỉ việc để tự viết trò chơi, và sống nhờ tiền bản quyền.
Anh đang phát triển một trò chơi VCS, nhưng dù cố dành nhiều giờ để di chuyển một vài đối tượng trên màn hình, anh vẫn không thể làm được. Dù Ken Williams nhận ra rằng Bob là kiểu người chỉ có thể tạo ra sự đột phá khi có ai đó dẫn dắt – “Nếu có người khác, cậu ấy sẽ ở đó [làm việc] cho tới 4 giờ sáng,” Ken từng nhận xét như vậy – nhưng anh không thể dành thời gian để giúp đỡ bạn mình. Khi Bob tới gặp Ken để tâm sự về việc anh đang không vui, Ken thường không có nhà. Bob sẽ lại dùng nhiều chất kích thích hơn, tiêm thẳng vào cả tĩnh mạch. Nếu có bất đồng với vợ, anh sẽ ra khỏi nhà sau khi tiêm, rồi trong suốt thời gian đó lại khao khát được về nhà và quay trở lại với cuộc sống xoay quanh máy tính mà anh mới có được. Đó là cuộc sống của một ngôi sao phần mềm mà anh nhắc đến trong các tài liệu mà On-Line gửi cho những tác giả trò chơi tương lai.
Cuối cùng, Bob Davis sẽ trở về nhà vào đêm muộn, và không thấy vợ đâu, anh sẽ gọi cho tất cả những người mà anh biết ở On-Line, cho tất cả các lập trình viên hay những nơi cô có thể đến, và hy vọng mình có thể biết cô đang ở đâu.
Ngay cả những người lạ trả lời điện thoại cũng nghe thấy giọng nói ai oán và nỗi sợ hãi đến tận xương tủy của anh. “Cậu có thấy vợ tôi không?” “Không, Bob ạ.” “Cậu có biết liệu cô ấy có thể ở đâu không?” “Tôi không thấy cô ấy, Bob ạ.” “Muộn lắm rồi mà cô ấy không có nhà, tôi lo lắm.” “Tôi dám chắc là cô ấy sẽ về.” “Hy vọng là cô ấy ổn,” Bob vừa nói vừa nén tiếng khóc nức nở. “Chẳng ai nói cho tôi biết cô ấy ở đâu cả.”
Tất cả mọi người đều cảm thấy khó chịu với Bob Davis. Đó là một trong những dấu hiệu đầu tiên cảnh báo Dick Sunderland về việc On-Line không chỉ là một công ty khác trong một ngành công nghiệp khác: Ngay vào đêm mà Dick được tuyển dụng, Bob đang trên đường tới Oakhurst. Đây là bóng ma, nỗi ám ảnh về giấc mơ điện toán, một cơ hội vàng bị bỏ lỡ. Bob Davis đã liên tục gọi điện quấy rầy những người bạn cũ, thường là để xin tiền. Warren Schwader, lập trình viên kiêm Chứng nhân Jehovah, người rất yêu quý Bob bất chấp thói quen chửi thề và hút thuốc của anh, từng đề nghị trả trực tiếp hóa đơn cầm cố cho anh, nhưng vì muốn tiền mặt nên Bob đã dập máy cái rầm… nhưng sau này anh lại thuyết phục Warren cho vay 1.000 đô-la.
Như tất cả những người khác, Warren muốn tin rằng Bob Davis có thể trở lại với máy tính, và lập trình để thoát khỏi vòng xoáy nghiện ngập. Cuối cùng thì tất cả đều bỏ cuộc. Những người như lập trình viên đứng đắn Jeff Stephenson, người từng cố gắng đăng ký cho Bob tham gia một chương trình giúp đỡ những người nghiện ngập, đã cảm thấy tức giận khi Bob bắt đầu gửi các tấm séc giả. “Tôi có thói quen tiêu khoảng 300-900 đô-la mỗi ngày,” Bob giải thích. “Tôi đã khiến vợ mình phát điên. Tôi đã hai lần cố gắng từ bỏ thói quen này.” Nhưng không thể. Anh đã đòi Dick Sunderland trả trước tiền bản quyền và khi Dick từ chối, anh đã đề nghị bán tiền bản quyền tương lai của mình “với giá rẻ mạt”, Dick kể lại. Nhưng tiền bản quyền của Bob nhanh chóng được chuyển vào ngân hàng để khấu trừ nợ cũ. Anh đã phải bán đồ đạc để có thêm tiền mua ma túy. Cuối cùng, anh đã bán chiếc máy tính Apple của mình, thứ công cụ kỳ diệu đã biến anh trở thành một con người. Mọi người cho rằng anh bị bắt vì dùng séc giả nhưng bản thân Bob lại nói rằng anh bị bắt vì cocain, và anh đã cố ý làm điều đó. Anh muốn cai nghiện để sau này có thể bắt đầu lại từ đầu. Anh đã cố nhắn cho Ken nhưng Ken cho rằng Bob Davis nên ngồi tù để chấn chỉnh lại các thói xấu của mình thì tốt hơn.
Tác giả của trò chơi máy tính bán chạy thứ 12 trên bảng xếp hạng của Softsel đã giải thích qua chiếc điện thoại của nhà tù về cách mà anh thổi bay tất cả mọi thứ, cách mà máy tính mang lại cho anh danh vọng, chìm đắm trong đó nhưng không thể duy trì nó. Khi anh chưa nói dứt câu, điện thoại đã bị ngắt và khách viếng thăm tại nhà tù Fresno phải trở ra. Mọi người đều đoán được những lời anh thét lên qua lớp kính trước khi bị dẫn đi: “Hãy bảo Ken gọi cho tôi.”
☆ ☆ ☆
Tình cảnh của Bob Davis là dẫn chứng cho xáo trộn ở Sierra On-Line trong mùa đông năm đó. Bề ngoài, nó là một miếng mồi béo bở – các tập đoàn lớn vẫn đưa ra các đề nghị mua lại, và gần nhất là một đề nghị trị giá 12,5 triệu đô-la cộng với một hợp đồng 200.000 đô-la mỗi năm cho Ken Williams. Nhưng ẩn sâu bên trong lớp vỏ bọc tăng trưởng ấy là một công ty đầy hoài nghi. Mối hoài nghi ngày một lớn khi doanh số bán trò chơi điện tử của Atari trên một thông báo vào tháng 12 năm 1982 đã tụt dốc. Mọi người ở On-Line và các công ty trò chơi điện tử máy tính khác đã từ chối nhìn nhận rằng đây là một dấu hiệu cho thấy sự lụn bại của lĩnh vực này.
Sự hỗn loạn tỷ lệ thuận với kích thước ngày một cồng kềnh của Sierra On-Line. Chẳng hạn, một trò chơi nhiều bàn lấy bối cảnh khai khoáng mà Dick cho rằng rất hấp dẫn đã bị treo nhiều tuần trong phòng thu mua. Lập trình viên của trò chơi đó đã gọi điện để chốt hợp đồng nhưng khi Dick kịp xoay xở để dò tìm dấu vết của nó trong công ty, anh chàng sinh viên đại học đó đã từ bỏ On-Line, và bán nó cho Brøderbund. Được phát hành dưới cái tên Lode Runner (tạm dịch: Rãnh nước), chương trình đó đã trở thành trò chơi bán chạy, và được nhiều nhà phê bình chọn làm “Trò chơi của năm 1983”. Câu chuyện này trùng hợp một cách kỳ lạ với điều đã xảy ra khi Ken Williams cố bán Mystery House cho Apple trước đó ba năm – công tác quản trị của công ty máy tính non trẻ ấy tốt đến nỗi họ có thể nhanh chóng đáp ứng được các nhu cầu của ngành công nghiệp này. Không lẽ Sierra On-Line, một công ty mới chỉ ở giai đoạn sơ khai, đã trở thành khủng long hóa thạch rồi sao?
Mâu thuẫn về quyền kiểm soát giữa Ken Williams và Dick Sunderland đã trở nên tồi tệ hơn. Những nhân viên mới có xu hướng kinh doanh hơn ủng hộ Dick; trong khi hầu hết các nhân viên thời kỳ đầu và các lập trình viên lại không thích vị Chủ tịch và tác phong quản trị bí hiểm của ông ta. Cảm xúc của Ken có phần hỗn độn. Anh sẽ nói về tinh thần On-Line; nhưng rồi anh lại nói về việc công ty “đang tăng trưởng”, như thể phần mềm máy tính đòi hỏi phải có một công ty vận hành theo cách truyền thống với đầy rẫy các kế hoạch kinh doanh, và sự quan liêu cứng nhắc. Nếu thế thật thì việc giấc mơ hacker lấy máy tính làm hình mẫu cho hành vi giúp cải thiện và làm phong phú hơn cho cuộc sống của chúng ta sẽ thế nào? Đó là cuộc khủng hoảng đạo đức đã ám ảnh tất cả những người tiên phong trong ngành khi họ bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh với suy nghĩ rằng sự kỳ diệu của công nghệ mà họ đang nắm giữ sẽ khiến chúng trở nên đặc biệt. Thị trường đại chúng đã hiện ra ngay trước mắt họ giống như một chiếc vòng ma thuật kiểu Tolkien: Liệu họ có thể nắm lấy nó mà không làm mất đi những giá trị cũ? Liệu còn chút chủ nghĩa lý tưởng nào trong sự mệnh của họ được bảo tồn? Liệu tinh thần của chủ nghĩa hacker có thể sống sót cùng thành công của ngành công nghiệp phần mềm không?
Ken đã lo lắng về điều này: “Trước kia khi công tác cùng Dick, tôi thường phàn nàn về việc phải làm từ 8 giờ sáng tới 5 giờ chiều [chứ không được làm việc tự do theo kiểu hacker]. Giờ đây, tôi lại muốn có một đội ngũ lập trình làm việc trong giờ hành chính. Tôi giống như một gã hippie biến thành một nhà tư bản hoặc tương tự như vậy. Tôi nghĩ nhiều lập trình viên [ở đây] cảm thấy bị phản bội. Như John Harris chẳng hạn. Cậu ấy đã tới đây khi nơi này là một căn nhà mở, cửa phòng tôi cũng vậy. Cậu ấy có thể vào, và chúng tôi sẽ trao đổi về các kỹ thuật lập trình. Tôi sẽ đưa cậu ấy đi khắp nơi. Chúng tôi làm việc mà không có hợp đồng. Nếu không tin tưởng thì chúng tôi đã chẳng làm việc với nhau. [Giờ đây] điều đó đã thay đổi. Tôi không còn biết mục tiêu của mình là gì nữa. Tôi không chắc về việc phải điều hành công ty theo cách nào. Bằng cách nào đó, tôi đã thuê Dick và tự đá đít mình ra ngoài. Chính sự không chắc chắn đã khiến tôi lo lắng – tôi không biết mình đã đúng hay sai.”
Các sự kiện không thể cắt nghĩa được cứ liên tục diễn ra, như sự cố trong văn phòng lập trình. Một anh chàng trẻ tuổi làm thêm ngoài giờ phụ trách việc vẽ các hình ảnh máy tính cho trò chơi phiêu lưu Dark Crystal đã bị trễ hạn. Anh đã gắn bó với On-Line gần như từ những ngày đầu tiên. Một hôm, anh đặt bảng vẽ xuống, thét lên, đấm tay vào tường, giật các áp phích xuống rồi rút một con dao dài ra đe dọa người phụ nữ trẻ đang vô cùng kinh hãi trước đó đã đòi anh hình ảnh. Sau đó, anh vớ lấy một chú chó nhồi bông, và điên cuồng đâm nó, xé nó tan thành từng mảnh, vụn bông bay khắp nơi trong căn phòng bé nhỏ. Các lập trình viên ở phòng bên đã phải chặn anh ta lại và anh chàng trẻ tuổi này đã phải chờ trong im lặng cho tới khi được đưa đi. Lời giải thích chỉ có thể là: Anh ta đã để mất chương trình.
Jeff Stephenson đang thực hiện một dự án bí mật của IBM (cũng đang trễ hạn), đã bày tỏ sự thất vọng cùng cực: “Tôi không hiểu công ty này hoạt động vì ai nữa, nhưng chắc chắn không phải vì các tác giả, những người được coi là cần câu cơm của công ty. Thái độ của họ là: ‘Vậy ra cậu là John Harris hả, ai cần cậu chứ?’ Chúng tôi cần. Cậu ấy đã kiếm rất nhiều tiền cho công ty. Nhưng dường như họ lại cho rằng sản phẩm chỉ cần đóng gói và dán nhãn cho đẹp là có thể bán được ấy.”
Quả thực, John Harris cũng nhận thấy xu thế này. Nhà thiết kế trò chơi mồm mép liên thoắng từng phát triển hai trong số các chương trình phổ biến nhất trong lịch sử vi tính đã bị ăn bớt tiền bản quyền, và ghê tởm khi thấy Đạo đức Hacker bị xem thường. Harris không thích việc tên tác giả không được in trên hộp, và chắc chắn là anh cũng không hài lòng khi đem việc này nói với Dick rồi nhận được câu trả lời: “Từ từ đã – trước tiên hãy cho tôi biết khi nào trò chơi tiếp theo của cậu hoàn thành nhỉ?” Quả là một sự thay đổi lớn kể từ hồi trại hè. Harris tin rằng những lần tất cả mọi người dừng công việc đang làm và bày trò – chẳng hạn như chạy sang Nhà Lục giác và úp ngược tất cả mọi thứ, kể cả đồ đạc xuống – là những lúc vui nhất ở On-Line; mọi người sẽ làm việc chăm chỉ hơn, và hiệu quả hơn trong những công ty vui vẻ.
John Harris cũng buồn về việc công ty đã từ bỏ các tiêu chuẩn thẩm mỹ cao. Anh cảm thấy bị xúc phạm nếu công ty phát hành một trò chơi mà anh cho là vớ vẩn vì một lý do nào đó. Harris cũng hết sức kinh hãi khi thấy phiên bản Atari và Apple của Jawbreaker 2. Việc chúng là phiên bản tương tự của trò chơi do anh sáng tạo khiến anh thấy khá khó chịu, nhưng anh sẽ không phiền nếu thấy chúng được vận hành tốt. Sự thật không phải như thế – mặt cười thì quá to còn các đầu máng mà các khuôn mặt di chuyển qua lại thì gần nhau quá. Harris bực mình vì chất lượng trò chơi suy giảm. Quả thực, anh cảm thấy các trò chơi sau này của On-Line nói chung không thực sự tốt.
Có lẽ điều tệ nhất về On-Line mà Harris quan tâm là việc Ken Williams và công ty của anh chưa bao giờ trân trọng Atari 800, thứ anh luôn coi là sự vĩ đại không thể chối cãi. Harris đã buồn bã kết luận rằng ở On-Line, Atari luôn đứng sau Apple. Ngay cả khi phiên bản Frogger trên Atari của Harris thật tuyệt vời còn phiên bản trên Apple lại khá tệ, dường như Ken vẫn không coi trọng Atari. Điều đó khiến John Harris chán nản tới mức quyết định rời khỏi On-Line để tới một công ty có cùng quan điểm với anh về Atari.
Việc đó chẳng dễ dàng gì. On-Line đã đối xử rất tốt với Harris. Giờ đây, anh đã có nhà, có sự tôn trọng, các phóng viên của tạp chí People thì tới phỏng vấn anh, một chiếc xe tải bốn bánh, một chiếc tivi màn hình chiếu, một tài khoản ngân hàng rủng rỉnh, và sau tất cả những khó nhọc từ Fresno tới Câu lạc bộ Med, giờ đây John Harris đã có bạn gái.
Tại một hội nghị khoa học viễn tưởng, anh đã gặp lại cô gái mà anh tình cờ quen ở San Diego. Cô đã thay đổi so với hồi đó – “Cô ấy trông thật tuyệt,” Harris nhớ lại. “Cô ấy đã giảm cân và làm mũi.” Giờ đây, cô ấy là một diễn viên kiêm vũ công múa bụng ở Los Angeles. Cô ấy thậm chí còn được mời diễn tại địa điểm uy tín nhất về múa bụng tại Hollywood. “Ở San Diego, lúc nào cô ấy cũng hẹn hò ai đó; nhưng lần này thì không. Cô ấy đã chú ý đến tôi nhiều hơn bất kỳ ai khác. Chúng tôi đã dành 19/ 24 giờ tiếp theo bên nhau.” Anh gặp cô thường xuyên hơn sau hội nghị khoa học viễn tưởng đó; cô sẽ ở lại nhà anh nhiều tuần liền rồi anh lại tới Los Angeles để thăm cô. Họ đã bàn tới chuyện kết hôn. Đó là thứ hạnh phúc mà John Harris chưa từng biết tới.
Anh coi Ken Williams là công cụ để mang lại những thay đổi trong cuộc đời mình. Vì thế, với những quan ngại sâu sắc về công ty mà anh vô cùng gắn bó, việc Harris chia sẻ những điều bất bình trực tiếp với Ken Williams là hiển nhiên. Nhưng Harris không thể tự mình nói với Ken về việc anh sắp sửa ra đi. Anh không còn tin Ken nữa. Khi Harris cố gắng giải thích về việc anh cảm thấy bị lừa ở On-Line, Ken sẽ nhắc tới tất cả số tiền mà Harris đã kiếm được. Có lúc, Ken nói với một phóng viên của tờ People rằng John kiếm được 300.000 đô-la mỗi năm, và khi Harris cố gắng đính chính thì Ken đã khiến anh xấu hổ khi đưa ra tấm séc tiền bản quyền mới nhất của anh. Đó là tấm séc cho bốn tháng (Harris được trả tiền hằng tháng, nhưng thi thoảng tiền lại không được trả đều) trị giá 160.000 đô-la. Nhưng đó không phải vấn đề chính; Ken không bao giờ đề cập đến số tiền mà On-Line kiếm được từ các sản phẩm của Harris. Thay vì nói với Ken về điều đó, Harris lại đồng ý với bất kỳ mức đề xuất nào của Ken. Anh không biết đó là vì xấu hổ, thiếu tự tin hay vì điều gì.
Vì thế, anh không nói với Ken Williams về sự ra đi của mình. Anh tới thăm bạn gái, phát triển một trình hợp ngữ mới cho máy Atari, và đến các địa điểm chơi điện tử xèng ở địa phương (để ghi điểm cao trên chiếc máy Stargate), rồi nghĩ về ý tưởng cho trò chơi tiếp theo. Anh đã nói chuyện với người ở Synapse Software, một công ty cũng quan tâm nghiêm túc tới Atari 800.
Quả thực, Synapse là một công ty phần mềm khá chuyên biệt về Máy tính Gia đình Atari, dù họ cũng đang lên kế hoạch chuyển đổi sang các hệ thống khác. Các trò chơi mà Synapse sản xuất đầy ắp hành động, các vụ nổ, bắn nhau và đồ họa xuất sắc. John Harris thấy chúng thật tuyệt. Khi tới Berkeley thăm họ, anh đã ấn tượng với cách các lập trình viên giải trí, và với việc họ trao đổi các tiện ích cũng như liên lạc bằng một bản tin do công ty vận hành. Khi Harris nói chuyện với một lập trình viên Synapse, và biết rằng một phần của chương trình con phát ra âm thanh trong một trò chơi của Synapse được lấy từ mã đối tượng của một bản sao trò chơi Frogger trong chiếc đĩa mà anh bị lấy cắp tại Hội chợ Phần mềm – tên trộm đã khiến John chìm sâu vào phiền muộn – thì nỗi tức giận với sự vi phạm bản quyền của anh lại bị lấn át bởi niềm vui khi thấy một hacker Synapse xem qua mã nguồn của anh, và phát hiện ra một thứ phù hợp. Synapse hứa với Harris rằng anh sẽ được hỗ trợ về kỹ thuật như mong muốn; anh có thể gia nhập cộng đồng lập trình viên của họ. Và họ đề nghị mức tiền bản quyền 25%. Tóm lại, Synapse đã đề nghị với một hacker Atari tất cả những gì mà On-Line không thể.
Harris đã đồng ý làm dự án tiếp theo của anh với Synapse. Siêu sao phần mềm của On-Line đã rời đi.
Harris ngồi ở nhà, nghĩ đến việc phải nói thế nào với Ken Williams khi điện thoại reo lên. “Trời đất,” Harris trả lời như mọi khi. Đó đúng là Ken. Harris bối rối. “Tôi đang lập trình cho Synapse,” anh thốt lên bằng giọng mà Ken cho là vênh váo đến mức không thể chịu nổi. Ken hỏi tại sao,và Harris nói rằng họ đã trả cho anh 25% tiền bản quyền thay vì 20% như Ken. “Thật ngớ ngẩn,” Ken nói. Nhưng Harris có nhiều điều để nói. Cuối cùng, anh cũng vội vàng chia sẻ với Ken tất cả những điều anh sợ hãi ở On-Line mà trước kia không dám nói ra. Thậm chí, anh còn nói nhiều điều hơn so với những gì anh nghĩ: Sau này, Harris vẫn còn rùng mình khi nhớ lại thời điểm đó – anh đã nói với vị Chủ tịch công ty từng làm rất nhiều điều cho anh rằng, các sản phẩm của công ty chỉ là rác rưởi.
John Harris, với tất cả các chương trình đã mất, toàn bộ mã nguồn linh hoạt, sự chậm trễ vì cầu toàn, và niềm tin đến vô lý mà anh dành cho máy Atari 800, đã trở thành linh hồn hacker của Sierra On-Line. Anh vừa là nguyên nhân cho sự sụp đổ của Ken Williams, vừa là biểu tượng cho các thành tựu của Ken. Sự thân thiết giữa anh và Ken đại diện cho sự rộng lượng mà các công ty như On-Line dùng để thay thế cho khoảng cách thông thường giữa ông chủ và nhân viên. Giờ đây, khi John Harris ra đi, đã có những lời than vãn về việc On-Line đang từ bỏ sứ mệnh ban đầu của mình. Những gì còn lại chỉ là Frogger – giờ đây đang nằm trong danh sách chương trình bán chạy của Softsel nhiều tuần liền.
☆ ☆ ☆
Không hề muộn phiền và bị ảnh hưởng bởi việc mất đi John Harris, Ken còn tỏ ra hăm hở sau sự việc đó. Cứ như thể anh chưa từng vui mừng như vậy vài tháng trước khi chỉ cần cái tên John Harris thôi cũng đủ để một chương trình của Atari bán chạy. Ken đoán chắc rằng thời đại của các nghệ sĩ hack trò chơi điện tử đã kết thúc: “Tôi nghĩ rằng cách nhìn của tôi về các tác giả khác với cách nhìn của các tác giả về chính mình, và cầu mong là tôi đã đúng. Tức là [các hacker] mà tôi đang làm việc cùng chỉ vô tình có mặt đúng chỗ vào đúng thời điểm. John Harris là một trường hợp như vậy. Cậu ta chỉ là một lập trình viên tầm thường chẳng có chút sáng tạo nào, nhưng lại vô tình lập trình Atari vào đúng thời điểm.”
Thay vì để cho một hacker phí phạm thời gian vào việc tạo ra một sản phẩm hoàn hảo, Ken thà có các chương trình kém trau chuốt hơn, nhưng có thể ra mắt đúng hạn để anh có thể khởi động một chiến dịch quảng cáo cho nó. Không như việc Frogger bị chậm trễ là do John Harris đột nhiên không muốn làm việc. “Bạn không thể vận hành một công ty dựa vào những người cả ngày cứ chán nản chỉ vì mất đồ. Bạn cần phải có những người bàn giao được những gì họ phải bàn giao, ở mức giá mà họ đã chấp thuận, và có thể tự giải quyết các vấn đề của mình. John Harris muốn bạn đi uống cùng với cậu ta, nghe điện thoại của cậu ta, đi cùng cậu ta tới Câu lạc bộ Med, và giúp cậu ta có thể lên giường với một cô gái. Tôi thực sự là một chuyên gia về John Harris, và các vấn đề tâm lý tình cảm của cậu ta. Tôi không muốn phải lập kế hoạch cho trò chơi 1983 của tôi, và đặt hàng các khay ROM trị giá 300.000 đô-la dựa trên một trò chơi mà John Harris cần phải bàn giao. Nếu bạn gái của cậu ta không thích cậu ta, hoặc nói rằng cậu ta kém cỏi trên giường chẳng hạn, thì không biết chừng cậu ta cũng sẽ bỏ đi.”
“Nếu bạn có thể làm ra [Frogger] cùng những gã ngốc sẵn có thì thử tưởng tượng xem điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có một công ty thực thụ như thế. Sẽ không ai có thể ngăn cản chúng ta. Nếu phải phụ thuộc vào những gã có thể bỏ tôi bất kỳ lúc nào chỉ vì có ai đó trả lương cao hơn, hoặc đột nhiên họ không muốn làm việc chỉ vì bạn gái của họ hẹn hò với người khác, thì công ty chắc chắn sẽ thất bại. Đó chỉ là vấn đề thời gian. Tôi cần phải loại bỏ những gã hay kêu ca phàn nàn.”
Với Ken thì phần mềm, thứ công cụ kỳ diệu biến ảo khôn lường của đấng cứu thế, thứ công cụ của thời đại mới, cần phải như thế. Đó là công việc kinh doanh. Sau khi từ bỏ nguồn gốc hacker của mình, dường như anh không còn hiểu rằng hacker không ra quyết định dựa trên những khái niệm kinh doanh truyền thống, rằng một số hacker sẽ không thèm xem xét đến việc sẽ làm cho công ty nào đó mà họ không cảm thấy thân thiện ấm áp, rằng một số hacker thậm chí còn hoàn toàn không muốn làm việc cho bất kỳ công ty nào.
Nhưng lúc ấy, Ken không hề quan tâm tới suy nghĩ của các hacker. Bởi anh đã quá chán ngán họ rồi. Ken đang tìm kiếm các lập trình viên chuyên nghiệp, kiểu người hướng đến mục tiêu, và tiếp cận nhiệm vụ như các kỹ sư có trách nhiệm chứ không phải kiểu nghệ sĩ ưa cầu toàn, thích gây ấn tượng với bạn bè. Đó là những “người kiên định, giỏi giang chắc chắn sẽ bàn giao sản phẩm đúng hạn,” như cách mà Ken định nghĩa. “Chúng ta sẽ bớt phụ thuộc vào các lập trình viên. Thật ngu ngốc khi cho rằng lập trình viên là những người sáng tạo. Thay vì chờ đợi thư tới, để những người như John Harris thiết kế thứ gì đó, chúng ta phải tìm kiếm những người triển khai thực sự giỏi, không cần sáng tạo, chỉ cần giỏi.”
Ken cảm thấy mình đã phát hiện ra một số phù thủy phát triển trò chơi điện tử tiềm tàng đang bị chôn vùi trong các công việc lập trình của công ty. Một trong các chuyên gia làm việc theo kiểu hướng mục tiêu mà Ken tuyển mộ là lập trình viên đến từ công ty điện thoại địa phương. Một người khác là người đàn ông của gia đình đến từ Nam California ở tuổi 40, và từng làm việc nhiều năm với các hợp đồng chính phủ có sử dụng kỹ thuật số mà như anh nói là “rõ ràng có liên quan đến quân đội”. Một người khác là người ăn chay đến từ vùng quê Idaho, đang sống cùng gia đình trong một nhà vòm bằng gỗ.
Ken đã bắt đầu thay thế hacker bằng các chuyên gia. Anh từng chứng kiến cuộc thử nghiệm vĩ đại đang diễn ra trong văn phòng cũ trên đường 41, nơi anh cố gắng biến những kẻ nghiệp dư thành lập trình viên hợp ngữ, một thất bại toàn tập. Anh đã mất quá nhiều thời gian để huấn luyện họ, và chẳng ai ở đó có đủ thời gian và trình độ để trở thành một bậc thầy hợp ngữ. Để tìm đủ lập trình viên hợp ngữ là rất khó khăn, và kể cả có sử dụng những tay săn đầu người cũng như các quảng cáo được phân loại cũng không thể đảm bảo rằng Ken có thể tìm thấy đủ các chuyên gia mà anh cần trong năm tiếp theo. Anh sẽ cần nhiều người bởi kế hoạch của anh trong năm 1983 là phát hành hơn 100 sản phẩm. Chỉ một vài người sẽ làm công việc sáng tạo, còn phần lớn năng lượng lập trình của On-Line sẽ dành cho việc chuyển đổi các trò chơi có sẵn sang những chiếc máy tính khác, đặc biệt là những chiếc máy tính có khe ROM giá rẻ cho phân khúc đại trà như VIC-20 hay Texas Instruments. Những kỳ vọng của On-Line được phát biểu trong “phác thảo chiến lược” của họ như sau: “Chúng tôi tin rằng thị trường máy tính gia đình sẽ bùng nổ tới mức việc ‘bão hòa’ là không thể xảy ra. Số lượng máy tính mới cạnh tranh với phân khúc của Apple/Atari trong năm 1983 sẽ tạo ra cơn khát thị trường vô tận cho những cái tên chiến thắng trong năm 1982. Chúng tôi sẽ tận dụng cơ hội này…”
Năng lượng của công ty được tập trung vào việc biến đổi sản phẩm thành các sản phẩm khác. Đó là cách tiếp cận làm thay đổi niềm vui của hacker trong việc tạo ra các thể giới mới. Thay vì xây dựng dựa trên thành công trong quá khứ để tìm kiếm những chương trình thú vị mới, On-Line đang cố gắng tối đa hóa doanh số thông qua việc sao chép cả những chương trình thành công vừa phải, thường là trên những cỗ máy khá giới hạn, khiến trò chơi trông tệ hơn cả các phiên bản gốc. Chẳng có ai làm công việc sao chép này lại bỏ ra những nỗ lực đáng tưởng thưởng như Frogger của Harris, một sản phẩm hoàn chỉnh đầy nghệ thuật tới mức nó đã tiếp cận thị trường bằng sức mạnh của một sản phẩm nguyên bản.
John Harris đang triết lý hóa rằng lập trình viên “công nghiệp” – những người không có tình yêu dành cho trò chơi điện tử trong tim, và cũng chẳng có chủ nghĩa cầu toàn của hacker trong linh hồn – có sứ mệnh tạo ra các trò chơi thiếu hoàn thiện và vô hồn vô cảm. Nhưng Ken Williams đã không nói chuyện với John Harris khi mà sau tất cả, giờ đây anh đang lập trình cho Synapse. Ken Williams chuẩn bị tổ chức một cuộc họp để On-Line liên hệ với một doanh nghiệp mới – họ sẽ phát hành một dòng hợp ngữ hoàn chỉnh cho các lập trình viên chuyên nghiệp để thực hiện việc chuyển đổi. Với mức giá rẻ mạt!
Việc này nghe có vẻ là một món quá hời nên Ken đã bước vào cuộc họp với sự hoài nghi. Người liên lạc với anh trong dự án mạo hiểm lần này là một doanh nhân tóc dài ngang vai, mang đôi mắt giống diễn viênPeter Lorre có tên Barry Friedman. Vận may của Friedman đã tới cùng với làn sóng điên cuồng của ngành công nghiệp máy tính gia đình. Ban đầu, anh làm đại diện cho các nghệ sĩ sáng tạo hình minh họa quảng cáo cũng như bao bì của các sản phẩm của On-Line, rồi sau đó tách ra làm riêng, và cuối cùng thì phụ trách tất cả các công việc đồ họa cho một vài công ty máy tính. Từ đó, anh bắt đầu phục vụ đủ loại nhu cầu khác nhau của các công ty phần mềm. Nếu bạn muốn biết phải tìm giá tốt nhất cho khay ROM ở đâu, anh có thể trở thành môi giới tìm ROM giá rẻ cho bạn, có thể là từ một nhà cung cấp vô danh nào đó ở Hong Kong.
Gần đây, anh đang giúp những người cần vốn có thể tiếp cận được những nguồn vốn khổng lồ. Ken nói, có một hôm, Barry gọi cho anh và hỏi một người bên ngoài có thể mua On-Line với giá bao nhiêu. Ken vớ đại con số 20 triệu đô-la rồi cúp máy. Trong ngày hôm đó, Barry gọi lại và nói 20 triệu đô-la cũng được. Ken khi ấy vẫn chưa thực sự nghiêm túc, đã trả lời rằng: “Được, nhưng tôi sẽ kiểm soát công ty.” Barry gọi lại không lâu sau đó và nói rằng, việc đó cũng không vấn đề gì. Điều lạ lùng nhất trong chuyện này như cách mà Ken nghi ngờ Barry Friedman cùng các công ty của anh (bạn không thể chắc chắn về tên công ty được in trên danh thiếp mà Barry hay các đồng nghiệp của anh đưa cho), Barry có vẻ luôn giữ lời. Barry Friedman như thể được thụ hưởng tài thương lượng với quỷ của Faust nhưng theo phong cách của Thung lũng Silicon.
Thỏa thuận mới này lạ lùng nhất trong tất cả. Friedman đưa hai đồng sáng lập của một công ty khởi nghiệp mà anh làm đại diện tới buổi họp với Friedman. Đó là một công ty chẳng làm gì ngoài sao chép chương trình. Giá cả của họ rất thấp – mức phí 10.000 đô-la cùng 5% tiền bản quyền. Công ty đó có tên là “Rich and Rich Synergistic Enterprises”, trong đó Rich là tên của cả hai nhà sáng lập.
Barry Friedman mặc chiếc áo polo màu vàng, không cài cúc để lộ ra chiếc vòng vàng trên cổ tiệp màu với vòng tay bằng bạc đính kim cương cùng chiếc đồng hồ vàng. Anh dẫn theo hai Rich và một trong các cộng sự của mình, một người đàn ông dáng người thấp bé, tóc vàng, mũi tẹt, mặc bộ com-lê có phần cục mịch. Đó là Tracy Coats, một cựu quản lý ban nhạc rock đại diện cho những người ủng hộ đến từ “một gia đình vô cùng giàu có”. Mẩu thông tin này khiến mọi người xì xào bàn tán cùng những cái nhướn mày.
Mang chút phô trương, họ chọn những chiếc ghế xung quanh chiếc bàn họp dài bằng gỗ trong phòng hội đồng, ngay cạnh văn phòng của Ken – căn phòng được trải thảm hoàn hảo đến khó tả, tường sơn trắng cùng những giá sách bằng gỗ và một chiếc bảng đen. Đó là một căn phòng ngẫu nhiên, vô danh có thể xuất hiện ở bất kỳ tổ hợp văn phòng nhỏ nào của mọi công ty.
“Rich và Rich…” Ken nói khi nhìn vào hồ sơ của hai lập trình viên. “Hy vọng là các cậu sẽ giúp tôi trở nên giàu có.”
Chẳng Rich nào cười, và nếu nét mặt không cảm xúc của họ ám chỉ điều gì thì cười đùa không phải là thứ mà hai Rich có nhiều lắm. Họ đều là những người làm ăn, và hồ sơ của họ thậm chí cũng vô lý y như vẻ ngoài. Cả hai đều nắm giữ những vị trí quan trọng trong lĩnh vực kỹ thuật số của khu vui chơi Tokyo Disneyland vừa mới thành lập (“Cả khu đều dựa vào silicon,” Rich Một nói), nhưng khu nhà máy vui vẻ độc đoán đó là thứ phù phiếm nhất trong hồ sơ của họ, bên cạnh những cụm từ như phân tích mạch rắn, Jet Propulsion Lab (Phòng thí nghiệm Tên lửa đẩy Phản lực), kiểm soát hạt nhân, phân tích hệ thống tên lửa, hệ thống kiểm soát và hướng dẫn Tên lửa Hound Dog. Cả hai Rich đều mặc áo khoác thể thao không đeo cà vạt. Cả hai đều ở tuổi 30 với mái tóc được chăm sóc cẩn thận cùng cặp mắt chăm chú thường xuyên quét quanh căn phòng một cách lộ liễu.
Rich Hai nói: “Người của chúng tôi đến từ nhiều lĩnh vực nghề nghiệp hơn so với các công ty trong lĩnh vực máy tính gia đình. Họ từng làm việc trong một môi trường có kiểm soát hơn so với môi trường máy tính gia đình. Họ biết cách viết tài liệu và viết mã một cách chính xác.” Rich Hai dừng lại. “Chứ không phải phong cách hacker,” anh bổ sung.
Công ty của họ sẽ phát triển một bộ linh kiện và kỹ thuật dùng để chuyển đổi trò chơi. Các kỹ thuật, thuật toán và hợp ngữ chéo tất nhiên sẽ là tài sản độc quyền. Do đó, Rich & Rich sẽ giữ mã nguồn của họ. Nó sẽ được giấu trong các văn phòng của Rich & Rich ở Nam California. Bất kể là kỹ thuật đó thú vị đến mức nào, bất chấp việc chương trình được cắt đẹp ra sao, các hacker cũng đừng mơ đến việc đọc nó. Chỉ có sản phẩm mà thôi. Thật mơ hồ. Mọi người sẽ mua chương trình như cách mà họ mua một sản phẩm, các kỹ thuật lập trình được cho là không quan trọng và sẽ được giấu kỹ, giống như cách mà máy hát biến các rãnh trên đĩa thành âm nhạc. Đồng thời, các lập trình viên ở Rich and Rich sẽ là những kẻ vô danh. Sẽ không còn ai phải đương đầu với lòng tự trọng kiểu hacker. Ta chỉ việc đưa ra một danh sách các trò chơi cần thực hiện rồi dây chuyền lắp ráp sẽ sản xuất chúng.
Ken thích ý tưởng đó. “Nó sẽ giúp họ và cả tôi trở nên giàu có,” anh nói. Nếu hai dự án thử nghiệm mà anh giao cho Rich & Rich thành công, “tôi sẽ thực hiện tất cả các dự án chuyển đổi trò chơi với họ! Như vậy còn tốt hơn so với John Harris nhiều!”
Ken có linh cảm tốt về trò chơi của anh. Bên cạnh Rich & Rich còn có một phóng viên của tờ The Wall Street Journaltrong thị trấn muốn nói chuyện với anh và Roberta để lấy tin tức về công ty anh. Theo cách vẫn làm vào giữa ngày, Ken đã tự thưởng cho mình bằng cách rời khỏi văn phòng, và đi về phía ngôi nhà mới.
Hôm nay, họ sẽ hạ 7 tấm trần dài khoảng 7,5m bên trên phòng điện tử khổng lồ của ngôi nhà, khá gần một sân quần vợt trong nhà. Anh khoác một chiếc áo sơ mi fla-nen bên ngoài chiếc áo phông Apple màu xanh nhàu nhĩ, và lái xe qua khu vực xây dựng lầy lội, quan sát chiếc cần cẩu thủy lực nhấc các tấm trần lên để một nhóm 12 người ghép nó ngay ngắn vào vị trí. Mọi việc diễn ra trôi chảy, giống như một chương trình được viết hoạt động trơn tru ngay trong lần đầu tiên đưa vào sử dụng, và Ken đã bắt đầu sửng sốt trước thứ mà anh đang xây dựng. “Trông nó lạ quá?” anh liên tục hỏi. “Trông nó lạ quá?”
Ngôi nhà tiếp tục được xây dựng; phần khung cuối cùng cũng hoàn thiện với cầu thang có thể đi lên và các khung cửa có thể đi qua. Ngay lúc này, ngôi nhà được để ngỏ với mọi nhân tố bên ngoài, để gió có thể thổi qua, mưa có thể rơi vào, chẳng có cánh cửa hay bức tường nào ngăn cản các chuyển động tự do cả. Đó là một ngôi nhà hoàn hảo cho hacker. Nhưng những người thợ sẽ nhanh chóng xây lên các bức tường để biệt lập ngôi nhà với thế giới, các cánh cửa sẽ giúp người trong nhà không bị xâm phạm sự riêng tư. Chẳng ai có tư duy đúng đắn lại muốn căn nhà khác đi cả.
Có lẽ, điều tương tự cũng đang xảy ra với chủ nghĩa hacker... không có ai thực sự muốn vận hành một công ty bằng Đạo đức Hacker. Chẳng chóng thì chầy, bạn sẽ phải đối mặt với thực tế; bạn sẽ thương cảm những bức tường, các cánh cửa đã quá đỗi quen thuộc và cũ kỹ mà chúng ta luôn coi là tự nhiên tới mức chỉ có điên mới từ bỏ chúng. Có lẽ chỉ khi ở trong một giả lập máy tính, nơi bạn sử dụng máy tính để hack một xã hội không tưởng, bạn mới có thể bảo tồn được kiểu chủ nghĩa lý tưởng đó. Và có lẽ đó là nơi duy nhất bạn có thể duy trì giấc mơ – trong một chiếc máy tính.
Ken đi bộ vài vòng quanh ngôi nhà, nói chuyện với những người thợ, rồi nhớ ra anh phải quay về. Anh cần phải nói chuyện với người phóng viên của tờ The Wall Street Journal về một công ty phần mềm gia đình nhỏ và lạ lùng đã bắt đầu từ một trò chơi phiêu lưu.
☆ ☆ ☆
Ken và Roberta Williams đã tổ chức lễ tân gia vào dịp cuối tuần trong Ngày lễ Lao động năm 1983. Hơn 200 người đã đến dự trong ngôi nhà rộng khoảng 1.000 mét vuông được làm bằng gỗ tuyết tùng, chiêm ngưỡng các bức tranh kính màu, kinh ngạc trước lò sưởi làm bằng đá sông, tham dự một giải đấu trên sân quần vợt (được trang trí bằng logo của Apple Computer đầy màu sắc trên nền gỗ trắng bóng), vã mồ hôi trong phòng xông, thư giãn trong bồn nước nóng, chơi kéo co ở sân sau nhìn ra sông Fresno, chơi bóng chuyền, xem truyền hình vệ tinh, cười đùa khi xem đoàn hài kịch đến từ San Francisco diễn, và chơi với sáu chiếc máy điện tử xèng trong phòng máy tính khổng lồ có cả một quầy bar hoàn chỉnh.
Đó là một dịp buồn vui lẫn lộn. Giữa sự cạnh tranh đến từ các công ty mới nổi, sự đình trệ của nền kinh tế, chi phí vốn khổng lồ cho khay ROM của các cỗ máy phân khúc thấp như VIC-20 (những phí tổn không bao giờ thu lại được), sự thiếu vắng của một trò chơi thành công mới, đầy sáng tạo của hacker Thế hệ Thứ ba khiến công ty đang phải đối mặt với một năm có doanh thu thấp hơn năm trước. Ken buộc phải kiếm thêm 3 triệu đô-la từ nguồn vốn đầu tư mạo hiểm. Anh đã có được ngay nửa triệu đô-la, một con số thấp hơn đáng kể so với chi phí của ngôi nhà mới.
Trong mùa hè năm đó, Ken đã yêu cầu gặp Dick Sunderland ở Broken Bit. Trước khi nói với nhau bất kỳ lời nào, Ken đã đưa cho vị sếp cũ của mình một tờ giấy viết rằng: “Từ hôm nay, anh bị sa thải khỏi chức Chủ tịch Sierra On-Line.” Dick Sunderland đã phát điên, và sau này khởi kiện Ken cùng On-Line. “Tôi rất tức giận,” anh giải thích. “Tôi còn có danh tiếng của mình. Tôi đã giúp anh ta xây dựng một công ty có thể vận hành được, và giờ anh ta lại muốn tự vận hành nó.” Các nhân viên khác của On-Line, đặc biệt là những người vẫn còn hoài niệm về những năm tháng trại hè, đã vô cùng sung sướng. Họ gỡ bảng tên của Dick ra khỏi khu đỗ xe, và gắn nó vào cửa nhà vệ sinh nữ. Họ lấy cọc ghi chú từ thời của Dick, thứ mà họ gọi là “Thời đại Áp bức”, và ném chúng vào ngọn lửa trại. Trong một khoảnh khắc thoáng qua, cứ như thể là các nhân viên công ty đã có thể đốt sự quan liêu đó thành tro bụi.
Còn có những thông tin lạc quan khác. Ken từng hy vọng rằng chương trình xử lý văn bản giá rẻ mới của anh sẽ kiếm được tiền, và anh có thể xoay xở tốt với thỏa thuận 1 triệu đô-la để cấp phép cho các nhân vật hoạt hình trong chương trình B.C. (tạm dịch: Trước công nguyên) và The Wizard of Id (tạm dịch: Phù thủy của Id). Anh đã đàm phán với John Travolta về việc sử dụng tên nhân vật trong một chương trình rèn luyện thân thể. Nhưng bất chấp những dự án này, hóa ra lĩnh vực phần mềm vẫn bấp bênh hơn vẻ ngoài của nó.
Ta chỉ cần nói chuyện với Jerry Jewell để biết tại sao. Jewell của Công ty Sirius đến từ Sacramento đang than vãn về cái kết bất hạnh của hợp đồng với Twentieth-Century Fox Games – những trò chơi cắm băng mà công ty anh phát triển đã rơi vào quên lãng trong sự thừa mứa của các trò chơi điện tử vào năm 1983, và anh gần như không nhận được chút tiền nào khi tập trung toàn lực vào thị trường trò chơi điện tử cho Atari VCS. Công ty của anh đang trong tình cảnh nghìn cân treo sợi tóc, và anh ngờ rằng sẽ không có công ty nào trong nhóm Brotherhood có thể sống sót trong vài năm tới. Các lập trình viên cao cấp nhất đã rời bỏ anh, chỉ vài ngày trước khi anh định cho họ nghỉ.
Ken Williams cũng vẫn gặp phải các vấn đề với lập trình viên. Có những hacker đang làm việc cho dự án với IBM, và bị chậm tiến độ rất nhiều. Còn các lập trình viên “chuyên nghiệp” thì không thực sự thích chìm đắm trong vũ trụ trò chơi điện tử máy tính, và không thể tự mình tạo ra sự hứng khởi. Còn có cả cuộc tranh luận với Bob và Carolyn Box: Hai người đãi vàng đã chuyển sang làm lập trình viên này bác bỏ những lời phê bình của Ken về trò chơi mà họ đưa cho anh xem, và quyết định rời công ty để trở thành các tác giả phần mềm độc lập.
Và rồi còn có John Harris. Sau này, anh và Ken vẫn còn hận thù nhau sâu sắc về vấn đề bản quyền của Frogger, khi đó vẫn là chương trình bán chạy nhất của On-Line. Khi Parker Brothers muốn mua chương trình để sao chép cho máy chơi điện tử băng, Ken đã đề xuất trả Harris 20% số tiền mua lại trị giá 200.000 đô-la. Với Harris thì con số đó chưa đủ. Họ đã thảo luận về việc này trong văn phòng của Ken. Cuối cùng, Ken Williams đã nhìn thẳng vào cựu siêu sao phần mềm và nói: “Hãy biến ra khỏi văn phòng của tôi ngay, John Harris. Cậu đang làm phí thời gian của tôi.”
Đó là lần cuối cùng họ nói chuyện với nhau trước lễ tân gia mà Ken không mời Harris. Tuy nhiên, Harris đã xuất hiện cùng bạn gái, và cô nàng đã đeo một chiếc nhẫn đính hôn bằng kim cương do anh tặng. Ken đã chào đón anh chàng hacker một cách chân thành. Đó không phải là lúc dành cho hận thù mà là một ngày để chúc mừng. Ken và Roberta Williams đang sở hữu căn nhà mới trị giá 800.000 đô-la, và ít nhất là chẳng còn đám mây đen nào bao phủ quanh Sierra. Máy tính đã mang lại cho tất cả bọn họ sự giàu sang và danh tiếng mà họ chẳng bao giờ dám mơ tới, và khi màn đêm bao phủ đỉnh Deadwood, Ken Williams vẫn đang mặc quần đùi áo phông nhảy múa vui vẻ trong tiếng đàn của ban nhạc mộc mà anh mời về từ Nam California. Sau đó, như vẫn hằng mơ ước, anh lại ngâm mình trong bồn tắm cùng bạn bè, như một triệu phú ở tuổi đôi mươi có bồn tắm nóng trên núi. Khi những người bạn ngồi cùng nhau trong bồn nước nóng, họ khoác tay nhau, và có thể nghe được âm thanh điện tử của các máy điện tử xèng trong căn phòng gần đó, hòa lẫn một cách kỳ lạ với khu rừng Sierra đang xào xạc ngoài kia.