Đúng Việc

Lượt đọc: 606 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ca sĩ hay thợ hát? Diễn viên hay thợ diễn?...

Nhìn vào "showbiz" ngày nay, có cảm giác như rất dễ để trở thành ca sĩ. Bật tivi lên là có thể bắt gặp ngay một chương trình tìm kiếm tài năng ca hát. Và cứ ít lâu lại thấy xuất hiện thêm một "ca sĩ mới nổi", đến mức việc nhớ tên một ca sĩ nào đó bỗng trở thành "chuyện nhỏ mà không nhỏ" với nhiều khán thính giả.

Nhưng ca sĩ thì rất khác với thợ hát (hay cái máy biết hát), cũng như diễn viên thì rất khác với thợ diễn (hay cái máy biết diễn), người mẫu thì rất khác với "chân dài".

Lẽ thường, ai làm nghề ca hát thì công chúng có thể gọi họ là ca sĩ, ai làm nghề đóng phim hay diễn kịch thì người ta sẽ gọi họ là diễn viên. Nhưng không phải ai trong số đó cũng làm "đúng việc" của mình, là làm một nghệ sĩ. Vì đã là nghệ sĩ thì phải làm nghệ thuật, mà làm nghệ thuật hay sáng tạo nghệ thuật là điều không hề dễ dàng. Vì để có khả năng sáng tạo nghệ thuật và trở thành một nghệ sĩ đích thực thì cần phải có năng khiếu, cần phải khổ học, khổ luyện và cần phải đam mê bền bỉ.

Chúng ta thường nhập nhằng giữa "giải trí", "văn hóa" và "nghệ thuật". Thực tình mà nói, rất khó để tách biệt rạch ròi ba khái niệm này. Nhưng dưới góc độ giáo dục, chúng vẫn có sự khác biệt nhất định.

Giải trí là tầng "dễ thấy, dễ cảm" nhất; còn nghệ thuật hay văn hóa ở một tầng khác cao và xa hơn, nhưng đó chính là nơi mà tác phẩm, sản phẩm của những văn nghệ sĩ lớn chạm tới và thăng hoa. Hiểu một cách nôm na, mục tiêu của hoạt động giải trí thường là đáp ứng thị hiếu của công chúng (cả những thị hiếu tốt đẹp lẫn thị hiếu tầm thường), còn những người làm nghệ thuật sẽ luôn nỗ lực tạo ra các sản phẩm/ tác phẩm nghệ thuật đích thực để nâng tâm hồn con người lên, để góp phần giúp con người đào luyện đời sống tinh thần của mình, để dẫn dắt thị hiếu của công chúng đến một tầm cao hơn chứ không phải là chạy theo một thị hiếu nhất thời nào đó. Còn văn hóa thì không chỉ tác động vào tâm hồn, mà còn tác động vào tinh thần, tư tưởng và hệ giá trị của con người, thậm chí góp phần lật lịch sử xã hội sang một trang mới. Những văn nghệ sĩ lớn cũng thường là những con người tự do, những con người có tầm vóc văn hóa lớn và tác phẩm hay sản phẩm nghệ thuật của họ thường đứng ngoài chính trị, không bị chi phối nhiều bởi thị trường và luôn mang trong mình những thông điệp, những giá trị vượt không gian và thời gian. Bởi như Albert Einstein từng nói "tất cả những gì vĩ đại và cao cả nhất đều được tạo ra bởi cá nhân trong sự phấn đấu tự do".

Dù sự phân biệt này có phần hơi khiên cưỡng, nhưng là điều cần thiết phải làm rõ. Vì "phục vụ công chúng" vốn là "chiêu bài" mà không ít người mang-danh-nghệ-sĩ thường đem ra để ngụy biện cho việc làm nghề dễ dãi của mình.

Chẳng hạn, làm phim thì phải nhét bằng được cảnh nóng dung tục (phi nghệ thuật và phi văn hóa) vào, vì "không nóng thì làm sao kéo được khán giả đến rạp", hay ca sĩ lên sân khấu nhất quyết phải cho khán giả "nghe nhạc mỏi mắt" vì "hát chay không thì ma nó nghe". Hay một "ca sĩ nhạc thị trường" rất hot từng đem công chúng ra làm bình phong khi có người phê bình phong cách âm nhạc có phần... tạp nham của mình rằng: Có ai phục vụ được đông đảo công chúng như tôi không. Nếu chê tôi thì tức là chê hàng triệu khán giả đang nghe nhạc của tôi".

Thực ra, làm giải trí cũng không có gì xấu cả, vì ai cũng được quyền làm những gì mà mình muốn miễn là điều đó không phương hại đến ai (không trái luật, cũng chẳng trái đạo). Còn về phía công chúng thì hôm nay người ta có thể vào nhà hát lớn để thưởng thức nhạc thính phòng và mấy bữa sau vẫn có thể đi vào quán bar để nhảy đầm nhằm giảm stress. Bởi lẽ nhu cầu giải trí hay nhu cầu thưởng thức văn hóa, nghệ thuật là nhu cầu tự nhiên và tự do của mỗi người.

Vấn đề nằm ở chỗ, nếu chỉ là giải trí nhưng ít văn hóa và ít nghệ thuật thì cho dù có hàng triệu triệu khán giả cũng không thể là nghệ sĩ lớn được. Vấn đề nằm ở chỗ, nếu chỉ có nhu cầu giải trí và tiêu khiển, nhưng đời sống tinh thần của mình không được đào luyện bởi những sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đích thực thì lâu dần con người mình sẽ trở nên "bần hàn" đi (về đời sống tinh thần) và thậm chí bị hủ bại đi nhưng mình lại không hề nhận ra điều đó!

Tác giả Hoài Nam từng nhận xét trong bài báo "Nghĩ về công chúng của nghệ thuật": Chúng ta thường có thói quen nhận xét về công chúng theo kiểu "túm một mớ", rằng công chúng thế này rằng công chúng thế kia. Nhưng thực tế là trong công chúng, anh A khác anh B có khi một trời một vực. Nói cách khác, có những sự phân hóa trong công chúng của nghệ thuật, có thể đó là sự phân hóa về tuổi tác, giới tính, ngành nghề, quan điểm xã hội, quan điểm thẩm mỹ, v.v và v.v... Tôi muốn nhấn mạnh đến sự phân hóa về trình độ nhận thức thẩm mỹ. Và theo lằn ranh giới (không phải bao giờ cũng dứt khoát) này, có thể tạm nói đến hai loại công chúng nghệ thuật: công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông. Công chúng tinh hoa là những người am hiểu nghệ thuật, họ được (hoặc tự) trang bị đầy đủ kiến thức để có thể tiếp cận tác phẩm nghệ thuật, nắm được nội dung, ý nghĩa, giá trị thẩm mỹ của nó một cách khá chính xác. Họ có khả năng phát hiện cái mới ở nó và cũng có khả năng phê phán nó, họ nhìn thấy quá trình sáng tạo âm thầm của tác giả và có thể đặt yêu cầu với anh ta ở quá trình tiếp theo... Còn công chúng phổ thông, đó là những người yêu nghệ thuật một cách bất tự giác, họ đến với nghệ thuật hầu như theo nhu cầu giải trí thuần túy. Họ có thể cũng có sự phẩm bình đánh giá tác phẩm, tác giả, song cơ bản thì đó là sự phẩm bình đánh giá thiên về cảm tính và theo "lẽ phải thông thường" (chữ của Engels). Sau khi đã phân loại để nhận diện hai kiểu công chúng này, phải nói ngay một đặc điểm rất quan trọng: quan hệ giữa công chúng tinh hoa và công chúng phổ thông là quan hệ giữa thiểu số và đa số, hơn nữa, nhận định của hai loại công chúng về nghệ thuật rất thường khi không trùng khít với nhau, nếu không muốn nói là hay trái ngược nhau! Đến đây, đã có thể tạm có câu trả lời cho xu hướng coi công chúng như đại lượng chuẩn để đo lường giá trị của tác giả, tác phẩm nghệ thuật: được số đông công chúng thừa nhận chưa hẳn đã là đủ điều kiện để tấn phong giá trị, nếu như số đông ấy chỉ gói gọn ở công chúng phổ thông".

Tuy vậy, công chúng cũng không phải là đối tượng để... đổ lỗi theo kiểu: "Tác phẩm của tôi "cao" quá nên công chúng không đủ tầm để thưởng thức" mà thỉnh thoảng ta vẫn thường được nghe. Vì trên thực tế, một sản phẩm văn hóa - nghệ thuật có giá trị nhưng không dành cho đại chúng sẽ rất khác so với một sản phẩm mà tự thân nó đã không đến được với ai cả. Điều này cũng đồng thời cho thấy rằng tạo ra được một sản phẩm hay tác phẩm nghệ thuật đã rất khó, nhưng để tác phẩm này đến được với công chúng thành công lại càng khó hơn, vì điều đó còn tùy thuộc rất nhiều vào trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật của công chúng.

Tại sao việc nâng cao năng lực mỹ cảm (khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp) cho công chúng thường là một việc không hề dễ dàng? "Con người công chúng" nói chung gồm ba phần: thể xác, trí tuệ và tâm hồn. Thể xác được nuôi dưỡng bằng cơm canh thịt cá, trí tuệ được nuôi dưỡng bằng tri thức, khoa học, còn tâm hồn được nuôi dưỡng bằng văn hóa và nghệ thuật. Nhưng oái oăm thay, trong ba phần của con người thì thể xác (phần con) là dễ nuôi nhất và cũng dễ hư nhất, chỉ cần bỏ đói một tí thì nó đã kêu gào lên đòi ăn ngay. Còn trí tuệ và tâm hồn (phần người) thì lại rất "ngoan", cho thì nó ăn, không cho thì nó nhịn, nhịn lâu ngày thì nó sẽ chết; thậm chí là nó đã chết mà chính chủ nhân của nó cũng chẳng hề hay biết.

Điều đó đáng sợ hơn chúng ta nghĩ. Bởi một cái đầu không được khai minh thì sẽ trở nên vô minh, một trái tim không được khai tâm thì sẽ trở nên vô hồn. Khi con người vừa vô minh vừa vô hồn thì sẽ trở nên vô tâm, vô cảm..., mà vô tâm thì rất gần với... nhẫn tâm, và đó cũng là nguồn gốc của mọi cái sai, cái xấu và cái ác.

Có thể thấy rằng, để có được những "con người công chúng" khác, trước hết cần phải có một nền giáo dục, một thứ giáo dục khác. Một thứ giáo dục có thể giúp khai minh trí tuệ con người, giúp cho con người có khả năng minh định được đúng - sai, phải - trái, hay - dở, tốt – xấu... phân biệt được đâu văn hóa và đâu là phản văn hóa, đâu là nghệ thuật và đâu là phản nghệ thuật, đâu là tự do và đâu là hoang dại. Một thứ giáo dục mà có thể giúp khai tâm, kiến tạo tâm hồn con người, làm cho trái tim con người biết xúc cảm, biết rung lên trước cái đẹp (nhất là cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy hay sờ thấy được mà chỉ có thể cảm thấy), biết thổn thức trước những nỗi đau, biết phẫn nộ trước cái sai cái xấu và cái ác, trái tim chan chứa tình thương yêu và giàu lòng trắc ẩn.

Khi số đông công chúng có cái đầu sáng để minh định và có trái tim nóng để xúc cảm thì những sản phẩm, tác phẩm văn hóa nghệ thuật đích thực nhất định sẽ được thăng hoa. Nhưng để có tầng lớp công chúng này, chỉ các nhà giáo dục hay các nhà quản lý văn hóa hay các bậc cha mẹ... vẫn là chưa đủ. Chính giới văn nghệ sĩ - những người trực tiếp tác động đến việc hình thành những "con người công chúng" cũng giữ vai trò tiên quyết không kém trong việc nâng nền văn hóa - nghệ thuật của chúng ta lên bằng những sản phẩm, tác phẩm "có trách nhiệm".

Tuy nhiên, khi bàn tới công việc và sản phẩm của người nghệ sĩ, thì ta không chỉ nói về "nghệ thuật vị nhân sinh" (nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật với mục đích phục vụ con người phục vụ xã hội), mà còn nói về "nghệ thuật vị nghệ thuật". Nếu như nghệ thuật vị nhân sinh được hiểu nôm na là nghệ thuật mà nghệ sĩ sáng tạo ra với chủ đích là để phục vụ con người, phục vụ xã hội thì nghệ thuật vị nghệ thuật là thứ sản phẩm nghệ thuật mà người nghệ sĩ tự do sáng tạo ra, và trong quá trình sáng tạo, người nghệ sĩ không bận tâm đến chuyện có ai thưởng thức nó không, không màng đến chuyện mua bán tiền bạc hay các tác động của chính trị và tôn giáo. Những nghệ sĩ tài năng và có tầm vóc văn hóa mà sáng tạo nghệ thuật với tinh thần tự do này thì thường sẽ tạo nên những kiệt tác (về văn học, hội họa, âm nhạc...) cho đời.

Nhưng dù là nghệ thuật vị nhân sinh hay nghệ thuật vị nghệ thuật thì "ý thức nghệ thuật" luôn là thứ mà người nghệ sĩ chân chính cần có. Trong tác phẩm Một bông hồng cho văn nghệ, nhà thơ Nguyên Sa từng đề cập về ý thức nghệ thuật của văn nghệ sĩ như sau: "Nghệ sĩ khi đặt tác phẩm muốn viết hay đã viết trước tấm gương gọi là ý thức không phải chỉ thắc mắc: làm thế nào cho mới, cho hay, cho đẹp, cho sâu sắc. Nó còn tự hỏi: Tác phẩm sáng tạo đó để làm gì? Viết để làm gì? Vẽ để làm gì? Cứu cánh của nghệ thuật là gì... Ngọn lửa ấy phải được thắp lên trong ý thức của mỗi người làm văn nghệ.

Có thể ý thức về nghệ thuật được thắp nhờ mồi lửa gọi là cuộc sống. Đối chiếu tác phẩm, những ảnh hưởng gây ra với cuộc vật lộn mưu sinh, với chiến cuộc ngày càng thê thảm, với sự tan nát của đất nước càng ngày càng rõ rệt, với số lượng những tên phung phá băm vằm quê hương mỗi ngày một đông, với sự chết đứng sừng sững ở trước mặt từ bao giờ, lớp ánh sáng buồn chợt hiện ra: Tác phẩm của ta có thể làm được gì? Nên làm gì hay không nên làm gì? Bằng cách này hay cách khác ý thức về nghệ thuật bao giờ củng chuyển mình từ một trạng thái "hỗn độn sơ thủy" sang trạng thái ý thức sáng tỏ và tự ý. Tôi thường nhìn thấy sự chuyển đổi, sự lột xác ghê gớm ấy khi người sáng tạo dừng lại ít ngày ít tháng. Tôi không nói đến nhũng người mượn văn nghệ làm phương tiện, sau khi cứu cánh đã đạt, phương tiện liền bị vứt bỏ như chiếc xe cũ. Tôi muốn nói thêm đến những người mà tác phẩm, sự sáng tạo là hơi thở, là sự sống, là dòng máu bất khả phân với cuộc đời. Thế mà có lúc nó đứng yên nghỉ. Một tháng, nửa năm. Hai năm, ba năm. Trong sự im lặng ngột ngạt đó, tôi mới nghe thấy sự gào thét của biển: Làm thế nào cho mới? Tất cả rồi sẽ đi đến đâu? Rút lại, thế nào là đẹp?”

Đó là những trăn trở tựa "tiếng gào thét của biển" về trách nhiệm của người văn nghệ sĩ. Đến nay đã là gần 50 năm kể từ ngày chúng được xuất bản lần đầu vào năm 1967. Không rõ trong gần nửa thế kỷ đó, những câu hỏi đau đáu đặt ra cho người nghệ sĩ nói riêng và nền văn nghệ nói chung đã được trả lời hay chưa, có bao nhiêu văn nghệ sĩ ngày nay còn đau đáu những câu hỏi đó?

Đó quả thật là những câu hỏi không dễ trả lời!


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 12 năm 2025

« Lùi
Tiến »