ĐỪNG NÓI CHUYỆN VỚI CÔ ẤY

Lượt đọc: 4235 | 2 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
vụ án mạng điên cuồng trong trại giam

Dịp Tết năm 2009, Từ Nghị Giang bị một bạn tù dùng gạch đập chết. Tên phạm nhân giết ông ta ngay sau đó đã tự sát, hắn dùng chính viên gạch vừa mới gây án để đập vào đầu mình liên tục.

Trước đó, tôi chỉ từng nghe nói đến việc cha ruột xâm hại tình dục con gái, chưa từng nghe nói có người mẹ nào xâm hại tình dục con trai. Cùng là đàn ông, khi nghĩ tới những việc mà Vương Vĩ đã phải trải qua, tôi khó tránh khỏi có chút kích động. “Tôi hiểu rồi, anh ta có thể hoàn thành việc học, lại đi vào xã hội và cưới vợ sinh con, tất cả đều là nhờ vào niềm hy vọng đối với cuộc sống. Nhưng vết thương hình thành ở tuổi thanh thiếu niên là một thứ không thể xóa nhòa, do đó tại nơi sâu thẳm trong nội tâm, anh ta vẫn luôn sợ hãi và căm hận nữ giới, tất cả các vấn đề về tâm lý của anh ta đều có căn nguyên từ đây. Nói thực lòng, anh ta có một người mẹ như thế đã là điều bất hạnh lắm rồi, cô...”

Bên khóe miệng thoáng qua một nụ cười, Diệp Thu Vi bình tĩnh cắt ngang lời tôi: “Anh Trương, anh kỳ thực không phải đang thông cảm cho anh ta, anh chỉ cảm thấy sợ hãi vì những điều mà anh ta đã phải trải qua thôi.”

Tôi bất giác nghẹn lời, một lát sau tâm trạng mới dần dần bình lặng trở lại, thế là bèn nói: “Xin hãy tiếp tục đi.”

Cô ta nói tiếp: “Sau khi kết hôn, Vương Vĩ nhanh chóng rời khỏi mẹ mình, đồng thời thoát khỏi sự khống chế của bà ta. Kể từ đó về sau, tuy vết thương cũ thỉnh thoảng lại nhói lên trong lòng, vậy nhưng không thể gây ra ảnh hưởng quá nghiêm trọng cho cuộc sống của anh ta. Anh ta và Từ Khiết duy trì một đời sống tình dục lành mạnh, còn sinh được một đứa con gái nữa. Nếu cuộc sống cứ thế bình lặng trôi qua, tâm lý của anh ta có lẽ sẽ dần trở nên bình thường. Thế nhưng chuyện bị sa thải khỏi biên chế năm 1999 đã lại một lần nữa làm bùng lên vấn đề về tâm lý của anh ta.”

Tôi không kìm được lộ vẻ khó hiểu hỏi: “Chuyện bị sa thải khỏi biên chế tại sao lại có thể làm bùng lên vấn đề về tâm lý của anh ta? Giữa chuyện này và nỗi ám ảnh thời niên thiếu của anh ta lẽ nào lại có mối liên hệ nội tại nào ư?”

“Khi đó tôi cũng cảm thấy nghi hoặc giống như anh bây giờ vậy.” Diệp Thu Vi nói. “Cho nên, sau khi làm rõ nguồn cơn gây ra vấn đề về tâm lý của Vương Vĩ, tôi liền bắt đầu điều tra chuyện anh ta bị sa thải. Vì thời gian đã quá lâu nên việc điều tra tiến triển rất chậm. Mãi đến ngày 22 tháng 6, một tin tức vô tình có được mới khiến những nỗi nghi hoặc của tôi trước đó tan biến hoàn toàn.”

“Đó là tin tức gì vậy?”

“Lúc ấy, Vương Vĩ bị sa thải là vì đã làm mất lòng Giám đốc Sở Giáo dục.” Diệp Thu Vi đáp. “Mà Giám đốc Sở Giáo dục năm đó là một người phụ nữ nổi tiếng mạnh mẽ và luôn lấy mình làm trung tâm.”

Tôi giật mình bừng tỉnh rồi không kìm được bật thốt: “Nhất định là sự hãm hại của cô ta đã làm cho nỗi sợ hãi và căm hận của Vương Vĩ đối với mẹ mình bị khơi dậy. Mà việc Vương Vĩ làm mất lòng cô ta rất có thể cũng là bởi vì cô ta khá giống với Lương Huệ Vinh.”

“Đúng thế.” Diệp Thu Vi nói. “Người phụ nữ này tên là Lý Mộc Lan, từ năm 1994 đã bắt đầu đảm nhiệm chức giám đốc Sở Giáo dục, đến năm 2002 thì bị cách chức vì nhận hối lộ. Người quen biết Lý Mộc Lan đều nói rằng cô ta thủ đoạn cứng rắn, hết sức ích kỷ. Nghe nói khi cô ta còn tại vị, không ít thuộc cấp nam đã có quan hệ với cô ta, Vương Vĩ làm mất lòng cô ta có lẽ cũng vì chuyện này. Tóm lại, sự hãm hại của cô ta đã khiến vấn đề vốn ẩn sâu trong tâm lý của Vương Vĩ lại bùng phát. Theo như lời của Từ Khiết, buổi tối hôm nhận được thông báo sa thải, Vương Vĩ đã xuất hiện triệu chứng liệt dương, căn nguyên của chuyện này có lẽ chính là nỗi sợ hãi đối với phụ nữ. Các nhân tố như sự hãm hại của nữ thượng cấp, tình trạng liệt dương sờ sờ trước mặt cùng với sự bùng phát của nỗi ám ảnh hồi nhỏ đã lại càng làm tăng nỗi sợ hãi và căm hận của Vương Vĩ đối với phụ nữ. Nỗi sợ hãi khi lên đến tột độ sẽ làm con người ta muốn trốn tránh, mà biểu hiện cực đoan của sự trốn tránh chính là tình trạng thích sạch sẽ quá mức. Cho nên, bắt đầu từ buổi tối hôm đó, Vương Vĩ bắt đầu xuất hiện tình trạng thích sạch sẽ quá mức với đối tượng là phụ nữ, anh ta cho rằng tất cả mọi phụ nữ trên đời đều gian ác và dơ bẩn.”

Tôi thở dài một hơi, sau khi suy nghĩ một chút thì bèn hỏi: “Nếu anh ta đã cho rằng mọi phụ nữ trên đời đều gian ác và dơ bẩn, vậy thì tại sao lại vô thức vuốt ve tay cô, còn lén dùng đồ lót của cô và Trần Hy để thủ dâm nữa?”

“Đối với một người đàn ông không có gì bất thường về sinh lý, muốn hoàn toàn trốn chạy khỏi phụ nữ là điều không thể. Cho nên tâm lý của anh ta nhất định là đã lại phát sinh những biến hóa gì đó khác, để rồi không còn thù ghét toàn bộ phụ nữ nữa. Như tôi từng nói trước đó, anh ta đã tiến hành phân loại phụ nữ, người nào phù hợp với tiêu chuẩn sạch sẽ của anh ta thì sẽ trở thành đối tượng tình dục của anh ta. Nhưng sự tồn tại của nỗi ám ảnh hồi nhỏ khiến anh ta không muốn để cơ quan sinh dục của mình tiếp xúc trực tiếp với nữ giới, do đó anh ta mới lấy trộm đồ lót của đối tượng tình dục của mình về để thủ dâm, mà hành vi thể hiện sự chiếm hữu bằng chất dịch cơ thể của anh ta kỳ thực cũng là một biện pháp phát tiết sự căm hận đối với phụ nữ.”

Vương Vĩ từng bị mẹ ruột xâm hại tình dục, bị nữ thượng cấp hãm hại, đến cuối cùng còn chết trong tay một người phụ nữ. Tôi lại thở dài một hơi, sau đó liền không kìm được tò mò hỏi: “Anh ta đã tiến hành phân loại nữ giới thế nào? Điều này cô có rõ không?”

“Tất nhiên là có rồi.” Diệp Thu Vi nói. “Tiêu chuẩn phân loại nữ giới đặc biệt của anh ta chính là nguyên nhân dẫn đến việc tôi có thể giết chết anh ta vào hai ngày sau đó.”

Tôi cầm bút lên.

“Tôi sẽ nói đơn giản một chút.” Diệp Thu Vi liếc nhìn ra ngoài cửa sổ, cất giọng hờ hững: “Tổng cộng có ba người phụ nữ đã từng gây ra những sự tổn thương trực tiếp cho Vương Vĩ, do đó tiêu chuẩn phân loại nữ giới của anh ta chính là dựa theo ba người phụ nữ này. Người đầu tiên là Lương Huệ Vinh - mẹ của anh ta, người phụ nữ này ích kỷ, không có ý thức trách nhiệm, hay vô duyên vô cớ nổi nóng, cho nên tiền đề để trở thành một người phụ nữ “sạch sẽ” trong mắt anh ta chính là rộng lượng, có ý thức trách nhiệm, tính cách dịu dàng. Người tiếp theo là Lý Mộc Lan, cô ta có quan hệ bất chính với rất nhiều thuộc cấp nam, do đó đối với Vương Vĩ mà nói, tiêu chuẩn thứ hai của một người phụ nữ “sạch sẽ” là biết giữ mình trong sạch, có thái độ bảo thủ với chuyện tình dục. Cũng vì nguyên nhân này nên khi tôi tỏ ý rằng anh ta có thể ở lại qua đêm, anh ta mới để lộ ra vẻ chán ghét rõ ràng như thế. Cuối cùng là Từ Khiết, trong buổi tối hôm bị sa thải khỏi biên chế, Vương Vĩ đã xuất hiện tình trạng liệt dương ở ngay trước mặt Từ Khiết, cho nên một số đặc điểm trên người Từ Khiết cũng đã trở thành nỗi ám ảnh của anh ta khi thực hiện hành vi tình dục. Vì điều này, tôi đã lại một lần nữa tiếp xúc với Từ Khiết, qua đó biết được chi tiết sự mâu thuẫn giữa cô ta và Vương Vĩ. Cô ta nói, điều mà Vương Vĩ bất mãn nhất ở cô ta là trình độ học vấn của cô ta quá thấp. Ban đầu, Từ Khiết chỉ mới tốt nghiệp trung học phổ thông, mãi đến năm 2004 mới kiếm được một tấm bằng cao đẳng. Hơn nữa, nói thực lòng, Từ Khiết nói chuyện quả thực có hơi tục tĩu, còn thường xuyên nói bậy.”

Tôi khẽ gật đầu, trầm ngâm nói: “Thế nên khi nghe nói cô là Phó giáo sư, còn từng tham gia một hạng mục nghiên cứu khoa học cấp quốc gia, thái độ của Vương Vĩ với cô mới thay đổi hẳn, trở nên rất có thiện cảm với cô. Còn Trần Hy tuy không có trình độ học vấn quá cao, vậy nhưng lại từng xuất bản một cuốn sách rất có chiều sâu, do đó tất nhiên là cũng phù hợp với tiêu chuẩn của anh ta rồi.”

“Đúng thế.” Diệp Thu Vi nói. “Ngoài ra, Trần Hy đã vì điều tra sự kiện M mà cống hiến tất cả những gì mình có, điều này thể hiện ra một ý thức trách nhiệm to lớn vô cùng, đồng thời cô ta còn chín chắn và bình tĩnh, do đó nhất định là không vô duyên vô cớ nổi nóng với ai, đây chính là nguyên nhân khiến Vương Vĩ thích cô ta như thế. Hoặc cũng có thể nói, Vương Vĩ kỳ thực không thích cô ta mà chỉ thích những phẩm chất đặc biệt của cô ta, cho nên dù cô ta đã chết rồi, thi thể được đặt ngay trong phòng khách, thế nhưng Vương Vĩ vẫn có thể dùng đồ lót của cô ta để tìm được cảm giác hưng phấn.”

“Cô thì càng chẳng cần phải nói.” Tôi nhìn Diệp Thu Vi, thay cô ta phân tích. “Chức danh phó giáo sư của cô tất nhiên sẽ mang tới cho Vương Vĩ cảm giác cô là một người rất có ý thức trách nhiệm, mà cô còn từng tham gia một hạng mục nghiên cứu khoa học cấp quốc gia nữa, thế nên ấn tượng này của anh ta về cô sẽ lại càng trở nên sâu đậm hơn. Còn về tính cách dịu dàng thì cũng rất phù hợp với biểu hiện của cô khi đó, vì cô rất ít khi để lộ ra cảm xúc của bản thân. Đối với Vương Vĩ, cô và Trần Hy đều là những người phụ nữ vô cùng ”sạch sẽ”.” Tôi ghi lại tiêu chuẩn phân loại phụ nữ của Vương Vĩ vào trong sổ tay, sau đó bèn hỏi tiếp: “Sau khi biết được những tiêu chuẩn này rồi, cô đã làm thế nào để khiến cho Vương Vĩ cam tâm tình nguyện tự sát như vậy?”

“Anh ta cảm thấy phụ nữ đều dơ bẩn, vậy thì tôi sẽ làm vấy bẩn anh ta.” Diệp Thu Vi nói. “Tối ngày Hai mươi ba tháng Sáu, tôi lại hẹn anh ta ra ngoài gặp mặt. Sau khi dùng bữa tối xong, anh ta đưa tôi về nhà như mọi lần, sau đó cùng tôi lên nhà. Tôi rót cho anh ta một cốc nước, đồng thời ngấm ngầm bỏ vào trong đó một ít phenobarbital (một loại thuốc an thần thường dùng). Chẳng bao lâu sau anh ta đã thấy buồn ngủ, thế là tôi bèn đỡ anh ta tới nằm lên giường, bảo anh ta cứ tạm thời ở đó nghỉ ngơi một lát. Chờ sau khi xác định được là anh ta đã ngủ, tôi bèn cởi sạch quần áo của anh ta, sau đó lại tự cởi hết quần áo của mình và nằm xuống bên cạnh anh ta. Khoảng chín rưỡi sáng ngày hôm sau, công hiệu của thuốc về cơ bản đã hết, thấy anh ta trở mình, tôi vội vàng quàng tay qua ôm chặt lấy anh ta. Anh ta mở bừng mắt ra, phát hiện hai chúng tôi khi đó đều đang trần trụi, thế là lập tức tỉnh táo trở lại. Anh ta sững người ra một chút, sau đó định rời khỏi tôi thật nhanh, bộ dạng vô cùng hoảng hốt. Tôi dùng hết sức bình sinh giữ anh ta ở lại giường, sau đó lại nói ra một số lời hờn giận để khiến anh ta hiểu rằng đêm qua anh ta và tôi đã có quan hệ với nhau. Anh ta mặt mũi đỏ bừng, hai mắt đờ đẫn, nội tâm hiển nhiên là đang ở trong trạng thái xao động dữ dội. Nếu cứ để mặc anh ta như thế, cơ chế tự bảo vệ của tâm lý rất có thể sẽ khiến anh ta chấp nhận sự thật rằng mình đã có quan hệ với một người phụ nữ, thậm chí còn có khả năng cải thiện tình trạng tâm lý của anh ta.”

Tôi vội vàng hỏi: “Vậy tiếp theo đó cô đã làm như thế nào?”

“Tôi cần phải nhanh chóng hành động. Khi đó, tôi một tay giữ anh ta, tay kia lần sờ xuống.” Diệp Thu Vi bình tĩnh nói. “Sau khi tưởng tượng ra những lời mà Lương Huệ Vinh có thể sẽ nói trong hoàn cảnh tương tự như thế này, tôi bèn nói với anh ta: “Tiểu Vĩ ngoan, thứ này không chỉ là của anh, còn là của tôi nữa, vĩnh viễn đều là của tôi [47]!” Anh ta đột nhiên trở nên kích động, và cứ thế lăn lông lốc xuống dưới giường. Sau đó, anh ta đứng dậy, nhưng lại không tìm thấy quần áo của mình đâu, toàn thân không ngừng run rẩy. Tôi đi tới bên cạnh anh ta, lại lần sờ, tay còn lại nhẹ nhàng vuốt ve lưng anh ta. Anh ta trốn chạy khỏi tôi, rúc vào góc tường, lại dùng tay che đi nơi tư mật, mặt mũi thì đỏ bừng, ánh mắt lộ rõ vẻ sợ hãi, hoàn toàn không giống với thường ngày chút nào. Tôi biết thời cơ đã chín muồi, bèn đi tới góc tường, vung tay tát cho anh ta một cái, sau đó lại tát thêm cái nữa, vừa tát còn vừa mắng mỏ anh ta bằng giọng điệu như một người mẹ đang mắng con mình. Anh ta là một người đàn ông khỏe mạnh, vậy mà lại không dám phản kháng chút nào, sau một hồi run rẩy liền ngồi bệt xuống đất. Tôi tiếp tục khiêu khích anh ta bằng nhiều động tác khác. Một lát sau, anh ta đột nhiên gào lên một tiếng bằng giọng nức nở, sau đó đấm mạnh một cái vào bức tường bên cạnh. Tôi vội vàng rụt tay lại. Tôi biết, tôi đã thành công khơi ra được nỗi sợ hãi ẩn sâu trong nội tâm của anh ta, nếu còn tiếp tục khiêu khích nữa, anh ta rất có thể sẽ phát tiết nỗi sợ hãi bằng hành vi bạo lực, đến lúc đó kế hoạch của tôi sẽ không thể nào thực hiện tiếp được.”

“Vậy tiếp theo đó thì sao?” Tôi lại hỏi tiếp.

“Tạo áp lực cho anh ta, khiến anh ta phải kìm nén nỗi khó chịu trong lòng.” Diệp Thu Vi nói. “Tôi mặc quần áo lại như cũ, sau đó để quần áo của anh ta xuống đất. Anh ta mãi một lúc sau mới hoang mang mặc quần áo vào người, hơn nữa từ đầu chí cuối đều không dám nhìn tôi. Tôi chặn trước cửa phòng ngủ, anh ta thì nằm cuộn tròn trên sàn nhà ở ngay trước tủ quần áo, lồng ngực phập phồng không ngớt. Tôi nói: “Vương Vĩ, mẹ kiếp, hôm qua mày ngủ với bà rồi, bây giờ bà sờ mày một chút thôi mà cũng không được hả? Nói cho mày biết, bà đây tuy từng ngủ với mười mấy thằng đàn ông rồi, nhưng mẹ kiếp, bà không phải là cái loại mà mày có thể tùy ý chơi xong rồi vứt được đâu.”.”

“Tục tĩu và dâm đãng.” Tôi khẽ gật đầu. “Cô nói ra những lời này hẳn là để thể hiện sự tục tĩu và dâm đãng của mình.”

“Ừm.” Diệp Thu Vi nói. “Từ Khiết từng kể với tôi, dù đã hết sức chú ý nhưng cô ta vẫn không kiềm chế được, thỉnh thoảng lại bật ra mấy câu nói bậy, mà “mẹ kiếp” chính là câu cửa miệng thường dùng nhất của cô ta. Còn về dâm đãng, tính nết này có lẽ sẽ khiến anh ta nhớ đến Lý Mộc Lan.”

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó tôi mở tủ quần áo lấy ra một chai thuốc, dùng giọng tức tối nói: “Mẹ kiếp, đúng là tức chết đi được, chỗ đó của bà đây vốn đã có bệnh rồi, bây giờ bị mày làm như thế, tình hình chỉ e sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Bà nói cho mày biết, nếu bà có thai mà mày dám không chịu trách nhiệm, bà sẽ đi tố cáo mày về tội cưỡng hiếp, còn kể ra chuyện lần trước mày từng lấy trộm quần lót của bà nữa.”

“Vô trách nhiệm.” Tôi bất giác sinh lòng thán phục trước tài diễn xuất của Diệp Thu Vi. “Cô đã tỏ rõ sự vô trách nhiệm của mình bằng những biểu hiện hết sức tự nhiên. Cùng với đó, sự tục tĩu của cô đã được thể hiện rõ ràng thêm.”

“Đúng thế.” Diệp Thu Vi vẫn giữ nguyên vẻ bình tĩnh, không hề có lấy một chút thay đổi. “Sau đó, tôi cầm theo chai thuốc đi vào nhà vệ sinh, mở vòi nước ra bắt đầu tắm rửa. Chừng nửa phút sau, tiếng mở cửa vang lên, thế nhưng lại không hề có tiếng đóng cửa.”

“Anh ta hiển nhiên đã đi rất vội.” Tôi nói. “Có điều, tôi cảm thấy biểu hiện của cô khi đó thực sự là khác quá xa so với thường ngày, lẽ nào cô không sợ anh ta sinh lòng hoài nghi ư?”

“Anh ta có hoài nghi hay không cũng không quan trọng.” Diệp Thu Vi giải thích. “Mục đích của tôi là khơi dậy nỗi sợ hãi và căm hận đối với phụ nữ ở sâu trong nội tâm của anh ta, khiến anh ta không ngừng nhớ lại sự tổn thương mà mẹ anh ta, Lý Mộc Lan và những người phụ nữ khác đã gây ra cho anh ta. Thực ra, dù tôi có trực tiếp nói với anh ta là tôi đã cố ý làm vậy thì việc những ký ức đau thương kia lóe hiện cũng sẽ chẳng bị ảnh hưởng chút nào.”

Tôi suy nghĩ một lát rồi hỏi tiếp: “Nhưng, chỉ dựa vào những điều như vừa kể mà cô có thể khẳng định được rằng anh ta sẽ tự sát ư? Tôi cảm thấy chuyện này thực sự là không thể tin nổi.”

“Sự việc đâu có đơn giản như vậy.” Diệp Thu Vi nói. “Những điều vừa rồi mới chỉ là bước đệm để khiến anh ta sinh lòng sợ hãi cùng với một loại áp lực lờ mờ thoắt ẩn thoắt hiện mà thôi, còn chưa phải là hành động mấu chốt. Anh phải nhớ lấy, loại áp lực hữu hiệu nhất không đến từ trong ký ức và nỗi ám ảnh, mà đến từ hiện thực.”

“Hiện thực?”

Diệp Thu Vi khẽ mân mê mấy lọn tóc mai của mình, cất giọng hờ hững: “Lúc gần trưa, tôi cảm thấy thời cơ đã chín muồi, thế là bèn dùng một số điện thoại mới để nhắn tin cho anh ta, tin nhắn đó có nội dung thế này: “Anh Vương, tôi là Giả Vân Thành. Chúng ta có thể ra ngoài gặp mặt một chút không? Tôi có chuyện này muốn nói với anh.”.”

Tôi nhanh chóng hiểu ra ý của cô ta, thế là không kìm được bật thốt: “Áp lực đến từ hiện thực mà cô vừa nói tới phải chăng là việc anh ta lấy trộm quần lót của Trần Hy để thủ dâm? Cô muốn khiến anh ta nghĩ rằng Giả Vân Thành đã biết được chuyện này ư?”

Diệp Thu Vi đưa mắt liếc nhìn ra ngoài cửa sổ. “Trước đó tôi đã kiểm tra điện thoại của anh ta, thấy trong phần danh bạ không hề lưu số của Giả Vân Thành, mà anh ta cũng chưa từng liên lạc với Giả Vân Thành bằng cách gọi điện hay nhắn tin. Ngoài ra, nỗi sợ hãi hồi sáng sẽ làm rối loạn hoạt động tâm lý của anh ta, khiến anh ta mất đi năng lực suy nghĩ lý tính cùng với ý thức đề phòng sự dối gạt. Do đó, tôi dám chắc anh ta sẽ không gọi điện thoại đến xác nhận. Quả nhiên, hai phút sau, anh ta đã gửi lại cho tôi một tin nhắn, nội dung tin nhắn chỉ có ba chữ ngắn ngủi là: “Có chuyện gì”, phía sau thậm chí còn chẳng có cả dấu chấm hỏi.”

“Cô đã trả lời anh ta như thế nào?”

“Tôi trả lời rằng: “Chuyện anh làm ở nhà tôi, tôi đã biết cả rồi, đêm đó tôi không ngủ. Anh như vậy là không được. Chúng ta nên nói chuyện với nhau một chút, có lẽ tôi sẽ giúp được anh.”.”

“Cô đã nói thẳng ra như thế ư? Liệu anh ta có tin không?”

Diệp Thu Vi khẽ cười, nói: “Chuyện bệnh hoạn đó là do chính anh ta tự mình làm ra, cho dù tôi không làm gì thì anh ta cũng sẽ cả ngày thấp thỏm lo âu, cảm thấy có lẽ có người biết rồi. Nhận được một tin nhắn mang giọng khẳng định như vậy, anh ta không tin mới là lạ. Trước đó, tâm lý của anh ta đã bị tôi làm cho rối loạn hoàn toàn, dưới sự thôi thúc của nỗi sợ hãi, áp lực do tin nhắn thứ hai mang lại sẽ bị phóng to lên không ngừng nghỉ, cho đến cuối cùng thì khiến anh ta không thể chịu đựng nổi nữa. Để có thể tạo thêm áp lực cho anh ta, tôi dùng số điện thoại đó gọi cho anh ta liên tiếp sáu lần. Bốn lần đầu tiên, anh ta đều không nhấc máy, đến lần thứ năm nhạc chuông vừa mới vang lên thì anh ta đã ấn nút từ chối nghe ngay, còn lần thứ sáu, khi tôi gọi đến thì anh ta đã tắt máy rồi.”

Tôi hít sâu một hơi, dùng những kiến thức tâm lý học mà mình biết để phân tích chuyện này: “Loại chuyện bệnh hoạn này không thể nói ra với ai, do đó áp lực tất nhiên không có chỗ nào để phát tiết, mà cô lại không ngừng bức ép như vậy, thứ áp lực này rõ ràng sẽ lớn lên không ngừng. Khi áp lực vượt quá khả năng chịu đựng mà lại không có cách nào phát tiết, đến cuối cùng sẽ chỉ có thể xuất hiện hai loại kết quả, thứ nhất là tự sát, thứ hai là tâm lý sụp đổ, thần kinh trở nên bất bình thường.”

“Tôi đã đoán trước được là anh ta sẽ tự sát.” Diệp Thu Vi nói. “Bởi vì việc tự sát hồi năm lớp mười của anh ta đã xảy ra trong tình huống áp lực vượt quá khả năng chịu đựng của tâm lý. Đây chính là đặc điểm tâm lý của anh ta, cũng là thiên tính của anh ta.”

Tôi lật xem phần hồ sơ tử vong của Vương Vĩ trong tập tài liệu kia, thế rồi không kìm được thở ra một hơi thật nặng nề. “Anh ta cởi bỏ toàn bộ quần áo, chọn lấy cái chết trong nước, còn bỏ thêm vào đó dung dịch formaldehyde nồng độ cao, mục đích rõ ràng chính là làm sạch thân thể mình. Chuyện mà cô đã làm khiến anh ta cảm thấy mình hết sức dơ bẩn, và đây sợ rằng cũng là một trong các nhân tố khiến anh ta tự sát. Hồi năm lớp mười, anh ta quyết định nhảy sông phải chăng cũng là vì muốn dùng nước sông để làm sạch bản thân?”

Diệp Thu Vi hờ hững đứng dậy, nói ra một câu cuối cùng trong ngày hôm đó: “Anh ta bề ngoài thì cho là tất cả phụ nữ đều dơ bẩn, nhưng thực ra tại nơi sâu thẳm trong nội tâm, anh ta nghĩ rằng thứ dơ bẩn nhất chính là bản thân mình.”

Khi đi ra ngoài khu bốn, ánh mặt trời rạng rỡ chiếu xuống làm tôi không khỏi hơi chói mắt.

❃ ❖ ❊

Sau khi buổi gặp mặt hôm đó kết thúc, lão Ngô lại mời hai bác sĩ đến tiến hành kiểm tra tâm lý cho tôi. Sau khi cuộc kiểm tra kết thúc, tôi ngó nhìn đồng hồ, thấy lúc này đã gần mười giờ.

“Lão Ngô.” Tôi vươn vai một cái, ngạc nhiên hỏi: “Sao hôm nay cậu cho tớ nhiều thời gian quá vậy?

Lão Ngô đưa tay tới khẽ vỗ vai tôi, cười “hà hà”, nói: “Một giờ mười một phút, cậu rốt cuộc đã phá được kỷ lục của lão Thang rồi. Xem ra trước đây tớ đúng là đã coi thường cậu.”

Tôi cũng khẽ mỉm cười. “Có gì ghê gớm lắm đâu, mà lần này còn là cô Diệp chủ động đề nghị dừng cuộc trò chuyện lại đấy nhé. Nói thực lòng, cô ấy không đáng sợ như các cậu nghĩ đâu.”

Lão Ngô muốn nói gì đó lại thôi, trên mặt thấp thoáng một nụ cười mang đầy ý vị. Mấy phút sau, một nữ bác sĩ đi tới đưa kết quả kiểm tra cho lão Ngô. Lão Ngô hơi cau mày, ngay sau đó khuôn mặt liền dãn ra, khẽ ho một tiếng, nói: “Lão Trương, đi thôi.”

Tôi đứng dậy, nói: “Sáng mai tớ vẫn sẽ tới vào tám rưỡi nhé.”

“Cậu chín giờ hãy tới đi.” Cậu ta vừa tiễn tôi vừa nói. “Sáng mai có một khoảng thời gian hoạt động ngoài trời kéo dài chừng hai mươi phút cho các bệnh nhân. Diệp Thu Vi sẽ được tách riêng với các bệnh nhân khác, sau chín giờ, cậu có thể tới cùng cô ấy đi dạo xung quanh khu bốn một chút, đương nhiên, đó là trong trường hợp cậu bằng lòng.”

Tôi tưởng tượng đến tình cảnh gặp mặt Diệp Thu Vi trong ngày hôm sau, trong lòng bất chợt dâng lên một niềm vui khó tả.

Sau khi rời khỏi Bệnh viện Tâm thần thành phố, tôi trở về tòa soạn một chuyến, tập trung chỉnh lý lại tất cả các tin tức mà mình đã ghi lại được trong ngày. Xét kĩ ra, thu hoạch lớn nhất của tôi hôm nay không phải là biết được tâm lý lệch lạc của Vương Vĩ cùng nguyên nhân dẫn đến cái chết của anh ta, mà là lần đầu tiên được nghe nói tới sự tồn tại của X trong sự kiện M.

Tổ chức thần bí đứng sau lưng Trần Hy và Tập đoàn A dường như đã đấu đá với nhau cả trong tối lẫn ngoài sáng được rất nhiều năm rồi. Tổ chức thần bí kia từng nhiều lần phát hiện ra cơ hội, vậy nhưng lần nào tâm lý của nhân vật mấu chốt cũng bị người ta tác động bằng một biện pháp nào đó, thành ra đến cuối cùng kế hoạch mới thất bại. Người ra mặt tác động đến tâm lý của những người kia vô cùng bí ẩn, được ám chỉ bằng ký hiệu X.

Tôi một mặt chỉnh lý thông tin, một mặt liệt ra những sự kiện có khả năng liên quan đến X:

Tối ngày 10 tháng 9 năm 2008, Từ Nghị Giang cưỡng hiếp Diệp Thu Vi, kế hoạch của tổ chức thần bí kia vì thế mà đổ bể. Tâm lý của Từ Nghị Giang có thể đã bị tác động bởi X.

Tối ngày 7 tháng 11 năm 2008, Tần Quan uống thuốc độc tự sát, có thể là do bị X tác động về mặt tâm lý.

Trong dịp năm mới năm 2009, Từ Nghị Giang bị bạn tù giết chết, người bạn tù này có khả năng từng tiếp xúc với X thông qua một hình thức nào đó.

Ngày 18 tháng 3 năm 2009, sức phòng ngự trong tâm lý của Thư Tình đột nhiên tăng vọt. Tối ngày 17, Thư Tình có khả năng từng tiếp xúc với X.

Sau đó, tôi bắt đầu lần lượt phân tích.

Từ Nghị Giang đã chết, manh mối đầu tiên bị đứt hoàn toàn, chỉ có thể từ bỏ.

Sau khi uống thuốc độc, sở dĩ Tần Quan không chết là vì được bảo vệ phát hiện kịp thời. Sự can dự của nhân viên bảo vệ này phải chăng là một điều trùng hợp nằm ngoài dự liệu của X? Có khi nào đây cũng là một phần của toàn bộ kế hoạch? Bất kể ra sao, nhân viên bảo vệ đó có lẽ có thể nói cho tôi biết một số tin tức hữu dụng.

Sau khi Từ Nghị Giang vào tù không lâu liền bị bạn tù giết chết, nếu chuyện này thực sự đã xảy ra do sự tác động của X, vậy thì X nhất định đã từng đến phòng giam của Từ Nghị Giang, cho nên giá trị của manh mối thứ ba này là lớn nhất.

Manh mối cuối cùng thoạt nhìn thì có vẻ như rất có giá trị, vậy nhưng trên thực tế lại chẳng có chút ý nghĩa nào với tôi, bởi lẽ Thư Tình có tham dự vào việc hãm hại Diệp Thu Vi trong bữa tiệc rượu hôm đó, năng lực phòng ngự của tâm lý thì đã được nâng cao dưới sự giúp đỡ của X. Nhìn vào hai điều này mà xét, cô ta và X có lẽ thuộc cùng một phe, và sau lưng bọn họ chính là Tập đoàn A, vậy nên cho dù cô ta biết được thân phận thật của X thì cũng tuyệt đối không bao giờ tiết lộ cho tôi biết cả.

Phân tích đến đây, tôi đột nhiên nhớ đến lời khuyên của Thư Tình lúc trước. Cô ta đã khuyên tôi như vậy, xem ra những việc mà Diệp Thu Vi từng làm, cô ta đều đã biết cả. Cô ta làm sao lại biết được chứ? Là qua X hay là qua Tập đoàn A? Nếu X và Tập đoàn A đã biết được những việc mà Diệp Thu Vi từng làm, vậy thì tại sao họ không tìm cách diệt trừ cô ta? Lẽ nào Diệp Thu Vi vào trong Bệnh viện Tâm thần thành phố chính là để né tránh sự hãm hại đến từ X hoặc Tập đoàn A? Nếu đúng là như thế, cô ta liên tiếp giết người trong bệnh viện có lẽ chính là để bệnh viện cách ly cô ta khỏi những bệnh nhân khác. Có điều, tại sao cô ta lại đồng ý gặp tôi chứ? Lẽ nào - tôi không kìm được hít vào một hơi khí lạnh - lẽ nào Diệp Thu Vi đang lợi dụng tôi? Phải chăng tôi sớm đã bị sa vào trong một sự ám thị nào đó của cô ta rồi?

Hãy thử suy nghĩ từ một góc độ khác: Tạm chưa xét đến việc mục đích của Diệp Thu Vi là gì, việc tôi chủ động tiếp xúc với Thư Tình mấy ngày trước phải chăng đã khiến bản thân bị lộ trước mắt Tập đoàn A? Bọn họ liệu có cho rằng tôi cũng có dính dáng tới sự kiện M, để rồi từ đó tìm cách gây bất lợi cho tôi không? Tôi lại nhớ tới lời khuyên của Thư Tình:

“Hãy tránh xa Diệp Thu Vi ra, cũng đừng điều tra chuyện về cô ta nữa, bằng không, anh nhất định sẽ phải hối hận đấy.”

Câu nói này khiến tôi không rét mà run.

Suốt cả buổi sáng hôm đó tôi đều đắm chìm trong sự băn khoăn và lo nghĩ. Lúc mười một rưỡi, lãnh đạo gọi tôi vào văn phòng, hỏi tôi về tiến triển của chuyên đề phỏng vấn Diệp Thu Vi. Tôi kể lại sơ qua mọi chuyện, sau đó liền lấy hết can đảm, đề nghị được dừng cuộc phỏng vấn này lại. Lãnh đạo rất giận, nhưng đồng thời cũng vô cùng nghi hoặc, liền không ngừng gặng hỏi tôi nguyên nhân.

Tôi nói ra nỗi lo lắng trong lòng mình: “Lần phỏng vấn này rất có thể sẽ làm mất lòng một số thế lực khổng lồ đến mức khó có thể tưởng tượng, mà em thì lại không biết mình rốt cuộc đang phải đối mặt với cái gì. Cho dù có biết, em cũng khó có cách nào liều mình đi đối mặt, bởi dù sao em cũng còn có gia đình.”

Lãnh đạo chỉ nói ra một câu: “Xảy ra chuyện gì tôi sẽ chịu trách nhiệm.”

Tôi biết anh ta chưa chắc đã đủ sức để đảm bảo cho sự an toàn của tôi và gia đình trong chuyện này, nhưng câu nói đó rốt cuộc vẫn phát huy tác dụng, và tôi cuối cùng đã quyết định tiếp tục điều tra và phỏng vấn.

Khoảng hai giờ chiều, tôi lại tới Đại học Z một lần nữa, sau đó tìm đến tòa nhà thực nghiệm nơi Tần Quan xảy ra chuyện. Thật đáng tiếc, mấy nhân viên bảo vệ năm xưa đã lần lượt rời đi hết cả, hơn nữa còn không cách nào liên lạc được. Sau đó, tôi lái xe đến trại giam Số 1 của tỉnh ở ngoại ô phía nam của thành phố B (một thành phố cấp địa khu ở lân cận), đó cũng chính là nơi mà Từ Nghị Giang đã qua đời.

Do đặc thù công việc, tôi có không ít người quen ở trại giam Số 1 của tỉnh, trong số đó người có quan hệ tốt nhất với tôi là một Trưởng phân khu tên gọi Phó Hữu Quang, lớn hơn tôi tám tuổi. Đúng bốn giờ chiều, tôi đến trại giam, anh ta ra đón tôi ở dưới tòa nhà văn phòng, vừa nhìn thấy tôi liền cười, hỏi: “Sao thế, Tiểu Trương, lại có việc công gì hay sao?”

Tôi bắt tay với anh ta, sau đó mới cười, đáp: “Lần này không phải vì việc công. Em đến thành phố B có chút chuyện cần làm, thế là mới tiện đường ghé qua đây thăm các anh em thôi.”

Anh ta dẫn tôi vào trong văn phòng, khóa cửa lại, pha trà. Tôi nhét hai cây thuốc lá đã chuẩn bị sẵn vào trong ngăn kéo bàn làm việc của anh ta, sau đó nói: “Món này em cũng không hiểu rõ lắm, chỉ nhớ là anh trước đây hay hút loại này, thế là nhân tiện mang đến đây cho anh một ít.”

“Ấy!” Anh ta nhíu chặt đôi mày, lấy thuốc lá ra nhét trả vào tay tôi, nói giọng oán trách: “Chú làm thế này là không đúng rồi, chú nghĩ anh là loại người gì vậy chứ? Có việc gì thì cứ nói thẳng ra đi, đừng dùng trò này với anh.”

Tôi chép miệng một tiếng, lại nhét thuốc lá vào trong ngăn bàn rồi liền cười, nói: “Anh hiểu lầm rồi, có ai mà không biết anh Phó của chúng ta là một người thiết diện vô tư nổi tiếng chứ? Em dù có ngốc đến mấy cũng chẳng đời nào đi làm ra cái chuyện hối lộ đó đâu. Đây chỉ thuần túy là một món quà mà thằng em này tặng anh thôi, nếu anh cứ nhất quyết trả lại em thì thực là khách sáo quá, em cũng chẳng dám ngồi lại đây thêm nữa đâu.”

Phó Hữu Quang bật cười, chỉ tay vào mũi tôi, nói: “Chú ấy à, rõ là khéo miệng, tối nay nhất định phải ở lại đây ăn cơm đấy nhé.” Sau đó liền rót một chén trà và đưa cho tôi, lại ngồi tựa lưng vào ghế, hỏi: “Chú đến thành phố B này bận rộn chuyện lớn gì vậy?”

“Em thì có chuyện lớn gì được?” Tôi đưa chén trà lên mũi ngửi một chút, sau đó mới nói: “Bận tới bận lui rốt cuộc vẫn chỉ là vì mấy bài báo nộp lên mỗi tháng mà thôi.”

Phó Hữu Quang khẽ mỉm cười, lấy một cây thuốc ra, bóc lớp giấy bóng bên ngoài rồi móc ra một bao và xem kĩ, sau đó mới gật đầu, nói: “Có chuyện gì mà anh giúp được thì chú cứ việc nói đi. Anh đây không có bản lĩnh gì khác, riêng chuyện giúp chú tìm ít tư liệu thì vẫn còn làm được.”

Tôi thở phào một hơi, hỏi: “Tội phạm cưỡng hiếp thường được đưa về quản lý ở khu mấy vậy anh?”

“Chuyện này thì còn phải xem mức độ nặng nhẹ.” Anh ta đáp. “Những người tội nhẹ thì đều ở khu đánh số lớn, còn những người tội nặng thì đa phần đều ở chỗ của anh.”

“Mấy người bị xử tù chung thân chắc đều ở chỗ anh cả đúng không?” Tôi hỏi.

“Đa phần là như vậy.” Anh ta nhìn tôi, thản nhiên nói: “Chú có số chứng minh thư của người đó không? Để anh kiểm tra cho.”

Tôi nói: “Dạ không, em chỉ biết tên thôi, là Từ Nghị Giang.”

Nghe thấy cái tên này, Phó Hữu Quang đờ người ra mất khoảng một giây, kế đó đôi tay run lên lẩy bẩy, thiếu chút nữa đã làm đổ nước trà lên người. Anh ta nhíu chặt đôi mày, đầu cúi xuống, lưỡi thè ra liếm môi, mãi một lúc lâu sau mới hỏi: “Rốt cuộc là sao đây? Chú định viết báo về người này à?”

Tôi vội vàng xua tay, nói: “Em đã nói rồi mà, lần này tới đây không phải vì việc công. Chẳng qua là có một người bạn nhờ em hỏi giúp chuyện này thôi, anh ta nói đã lâu lắm không có tin tức gì của Từ Nghị Giang rồi.”

“Hầy, chú em không biết đấy thôi.” Phó Hữu Quang làm bộ khó xử nói: “Chuyện này mãi đến năm ngoái mới coi như êm xuôi, bây giờ không tiện nhắc đến nữa. Có điều, tuy anh không thông thạo lắm về nghề của các chú, nhưng sự việc dù gì cũng đã qua được hơn ba năm rồi, bây giờ viết ra còn có giá trị gì nữa ư?”

Tôi giả vờ hồ đồ hỏi: “Anh có ý gì vậy?”

Anh ta hạ thấp giọng nói: “Người tên Từ Nghị Giang mà chú vừa nói tới kia anh có biết, hơn nữa còn đúng là thuộc quyền quản lý của anh, nhưng gã này sớm đã toi mạng từ hồi đầu năm 2009 rồi.”

“Chết rồi ư?” Tôi giả bộ kinh ngạc bật thốt: “Chết như thế nào vậy?”

Anh ta “ồ” lên một tiếng, kinh ngạc nói: “Chú thực sự không biết ư? Dịp Tết năm 2009, anh ta bị một người bạn tù dùng gạch đập chết, đầu thậm chí còn nứt toác cả ra. Khi đó có rất nhiều phóng viên đã nhận được tin tức rồi đến đây phỏng vấn, thế mà chú lại không hay biết chút nào ư?”

Tôi làm bộ như đang ngẫm nghĩ, một lát sau mới nói: “À, khi đó em đang bận làm một chuyên đề khác, thế nên tuy cũng nghe nói là có một phạm nhân bị chết trong tù nhưng thực sự không biết đó là Từ Nghị Giang. Anh cứ yên tâm, đừng nói là ba năm đã trôi qua, cho dù chỉ là ba tháng thôi thì loại chuyện như thế này cũng chẳng còn giá trị gì để viết nữa rồi. Em hỏi anh chuyện này thực sự chỉ là vì mục đích cá nhân mà thôi.”

Anh ta thở phào một hơi, sau đó liền cười, nói: “Anh hiểu, anh hiểu. Bây giờ chú đã biết chuyện này rồi, khi quay về có thể ăn nói với người bạn kia rồi nhé.”

Tôi dùng giọng tò mò hỏi: “Thế phạm nhân giết chết anh ta về sau bị xử lý thế nào? Chuyện tái phạm tội trong trại giam từ trước đến giờ em chưa được tiếp xúc lần nào đấy.”

“Ngay sau đó người này đã tự sát mất rồi, còn xử lý gì được nữa.” Phó Hữu Quang nói. “Lúc đó, anh ta không ngừng đập gạch vào đầu mình, đập liền một mạch mười mấy cái, đầu nát ra rồi mà còn cố đập thêm mấy cái nữa.”

Tôi không kìm được hít sâu một hơi, từ từ chìm vào dòng trầm tư: Con người ai cũng có bản năng sinh tồn, thế nên tất cả các hành vi tự làm tổn thương mình mang màu sắc chủ quan đều là hành vi ý thức. Sau khi bị thương nặng, tác dụng của ý thức sẽ giảm dần, khả năng khống chế của bản năng thì tăng mạnh, ham muốn sinh tồn theo đó mà bùng lên. Trong trạng thái như vậy, con người không thể nào tiếp tục tiến hành những hành vi tự làm tổn thương mình nữa. Do đó, các phương pháp tự sát thường thấy đều không thể dừng lại giữa chừng, chẳng hạn như là nhảy lầu, treo cổ, uống thuốc độc, vân vân. Các phương pháp tự sát mà có thể dừng lại giữa chừng thì khả năng thất bại thường khá cao, trong đó cắt cổ tay chính là một ví dụ điển hình. Như trong trường hợp của Vương Vĩ chẳng hạn, sở dĩ anh ta phải cố định toàn bộ thân thể lại như thế chính là vì sợ lúc sắp chết bản năng sinh tồn của mình sẽ trỗi dậy khiến cho việc tự sát không thể tiến hành đến cuối cùng, và trên thực tế thì chính là nhờ vào sự chuẩn bị kĩ càng này nên anh ta đã tự sát thành công.

Do đó, hành động tiếp tục đập gạch vào đầu mình sau khi đã nát cả đầu của phạm nhân đã giết chết Từ Nghị Giang kia rõ ràng là không bình thường, trừ phi anh ta mắc bệnh tâm thần cực kỳ nghiêm trọng, bằng không tâm lý ắt hẳn là đã phải chịu một sự tác động nào đó từ bên ngoài.

Tôi hỏi: “Phạm nhân đó có phải là bị tâm thần không vậy?”

“Nếu bị tâm thần thì đã chẳng được đưa vào đây.” Phó Hữu Quang nói. “Anh ta đã ở trong này được bảy tám năm rồi, trước đó vẫn luôn khỏe mạnh, hơn nữa tôi còn nghe nói lúc còn sống anh ta có quan hệ khá tốt với Từ Nghị Giang cơ đấy. Ôi, nói tóm lại chuyện này lằng nhằng lắm, ai mà biết được đám phạm nhân chết tiệt đó nghĩ cái gì trong đầu.”

Tôi thở dài một hơi, hỏi: “Phạm nhân đó tên là gì vậy?”

Phó Hữu Quang uống một ngụm trà, sau một hồi lâu suy nghĩ mới nói ra một cái tên mà tôi không hề xa lạ: “Trương Thụy Bảo.”

Tôi trầm ngâm một lát, rất nhanh đã nhớ ra người tên Trương Thụy Bảo này là ai.

Còn nhớ khi đó là hạ tuần tháng 12 năm 2008, tôi nhận được chủ đề chính của tháng Ba năm sau, tiêu đề là “Sự khác biệt và mối liên quan về mặt tâm lý học giữa hành vi cố ý gây thương tích và hành vi cố ý giết người”. Lúc ấy, tôi mang theo chủ đề này tới gặp Phó Hữu Quang, và rồi dưới sự giúp đỡ của anh ta, đã tự mình chọn được mấy đối tượng phỏng vấn, một trong số đó chính là Trương Thụy Bảo.

Trương Thụy Bảo là người thành phố B, hồi năm 2000 đã chém chết một người cùng thôn tên là Trương Thụy Khanh, nguyên nhân là Trương Thụy Khanh từng nhiều lần tằng tịu với vợ anh ta. Năm 2001, Trương Thụy Bảo bị tòa tuyên án tử hình tạm hoãn thi hành án [48], đến năm 2003 thì được giảm xuống còn tù chung thân.

Theo trí nhớ của tôi, Trương Thụy Bảo là một người mày rậm mắt to, đôi môi khá dày, phía bên trái dưới cằm còn có một vết sẹo, nghe đồn là dấu vết để lại do một lần bị cha đánh hồi nhỏ. Khi được phỏng vấn, anh ta tỏ ra hưng phấn hơn hẳn các phạm nhân khác, còn nói đùa với tôi mấy câu. Tôi khẽ mỉm cười, thế là anh ta cũng cười theo. Ánh mắt của anh ta luôn ngợp đầy vẻ mỏi mệt, nhưng lúc nào cũng toát ra những tia kiên định. Cán bộ trực tiếp quản lý anh ta từng nói với tôi, Trương Thụy Bảo làm việc rất chăm chỉ, tính tình cũng tốt, chưa từng gây chuyện rắc rối bao giờ.

Một người như vậy mà tự dưng lại nổi điên giết người rồi sau đó tự sát, xem ra anh ta nhất định là đã phải chịu một sự kích thích nào đó, mà sự kích thích này rất có thể là do X mang tới cho anh ta.

Tôi hỏi: “Chính là Trương Thụy Bảo mà em từng phỏng vấn hồi năm 2008 đó ư? Người mà đã giết chết anh họ của mình ấy?”

“Đúng, chính là anh ta.” Phó Hữu Quang trầm tư nghĩ ngợi một lát, sau đó bèn khẽ gật đầu. “Anh nhớ ra rồi, trước đây chú quả thực đã từng phỏng vấn anh ta.”

“Ôi...” Tôi không kìm được khẽ cất tiếng thở dài. “Anh ta là một con người thật thà và lạc quan như thế cơ mà, sao bỗng dưng lại nghĩ quẩn như thế chứ?”

Phó Hữu Quang uống một ngụm nước, bình thản nói: “Chuyện này thì khó nói lắm, có thể đã xảy ra điều gì đó vượt quá giới hạn chịu đựng của anh ta. Chú vốn nghiên cứu về tâm lý học tội phạm, chắc cũng rõ khả năng chịu đựng của con người là có hạn, một khi vượt quá giới hạn thì sẽ không thể chịu đựng nổi nữa, hành vi cũng theo đó mà trở nên mất kiểm soát. Như hồi năm ngoái chẳng hạn, ở khu bốn có một gã tội phạm kinh tế ban đầu bị tuyên án tám năm, về sau được giảm xuống còn sáu năm rưỡi. Nhưng kết quả thì sao, khi chỉ còn hơn một năm nữa là có thể ra ngoài thì gã lại không cầm cự được, chẳng biết là kiếm từ đâu ra một miếng sắt nhỏ rồi cứa cổ tay tự tử.” Nói tới đây, anh ta hơi dừng lại một chút rồi mới tiếp: “Cho nên năm nay, bọn anh đã tăng cường đầu tư về mặt tâm lý tội phạm. Có điều, cái đám tân cử nhân tâm lý học vừa mới vào làm việc ở đây ấy, bọn họ thậm chí còn chưa học được cách thức làm người, càng đừng nói gì đến chuyện giải quyết các vấn đề về tâm lý của tội phạm.”

Tôi nói: “Nghe anh nói như vậy em thấy tò mò quá. Bấy lâu nay em vẫn luôn bỏ công nghiên cứu tâm lý học tội phạm, nhưng kiến thức thực tế về tâm lý tội phạm thì lại chẳng có được bao nhiêu.”

“Chú nên viết báo về mặt này nhiều một chút.” Anh ta nghiêm túc nói. “Như thế sự hiểu biết của những người ở bên ngoài sẽ được tăng thêm, từ đó không còn cảnh người ta tranh nhau nhảy vào cái ngành này nữa.” Dứt lời, anh ta liền cười “hà hà” mấy tiếng.

“Dạ.” Tôi nói. “Có điều, chuyện về Trương Thụy Bảo quả thực rất đáng để nghiên cứu một chút.”

Anh ta đưa mắt liếc nhìn tôi. “Anh ta đã chết hơn ba năm rồi, còn nghiên cứu thế nào được nữa?”

Tôi nhất định phải nắm lấy cơ hội này, thế là nói ngay: “Em dù sao cũng từng phỏng vấn anh ta, có thể nói là hiểu khá rõ về tâm lý của anh ta khi đó. Hơn nữa, em phỏng vấn anh ta là vào hồi cuối năm 2008, thế mà mới sang đầu năm 2009 thì anh ta đã xảy ra chuyện, thời gian cũng chỉ cách nhau chừng một tháng mà thôi. Nếu được tìm hiểu về những chuyện đã xảy ra với anh ta trong thời gian một tháng đó, chưa biết chừng em sẽ lại có những phát hiện mới mà không ai lường trước được.”

“Chú có hứng thú với chuyện này à?” Phó Hữu Quang tựa lưng vào ghế, mỉm cười hỏi: “Đây chính là mục đích của chú khi tới đây hôm nay đúng không?”

Tôi mỉm cười không nói gì. Anh ta nhẹ nhàng day trán, sau đó tiện tay lật mở mấy tập tài liệu trên bàn làm việc, lại mở ngăn kéo lấy ra một cuốn tạp chí, chính là Nguyệt san Phổ Pháp của chúng tôi. Anh ta mở nó ra, thế rồi nói: “Muốn làm ra được một cuốn tạp chí thế này, bọn chú quả thực đã phải tốn rất nhiều công sức. Đúng rồi, chú chuyên làm về mảng tâm lý tội phạm đúng không?”

“Dạ phải.”

“Tờ Nguyệt san Phổ Pháp này của bọn chú có hai mảng tốt nhất, một là tâm lý tội phạm, hai chính là nhân vật.” Anh ta đưa mắt liếc nhìn tôi, lại đưa tay mân mê cằm một chút, sau đó mới chậm rãi hỏi: “Không biết ai là người phụ trách mảng nhân vật ấy nhỉ?”

Tôi lập tức hiểu ngay ra ý của anh ta, thế là bèn cười, nói: “Trong số báo ra vào tháng Mười sắp tới bọn em chuẩn bị tiến hành phỏng vấn một nhân viên công vụ ở trại giam, mục đích cốt yếu là để thể hiện sự tiến bộ trong phong cách quản lý trại giam ở nước ta, đối tượng phỏng vấn sẽ được chọn ra qua cuộc họp vào tháng tới.” Tôi suy nghĩ một chút rồi mới nói tiếp: “Các đối tượng phỏng vấn của tháng Hai, tháng Ba và tháng Năm năm nay đều là do em đề cử cả đấy.”

Đúng lúc này, chiếc điện thoại để bàn làm việc của Phó Hữu Quang chợt đổ chuông. Phó Hữu Quang nhấc máy nghe điện thoại, sau khi “ừ à” mấy tiếng liền nói với tôi: “Anh bây giờ bận đi dự một cuộc họp. Thế này đi, anh sẽ gọi người năm đó từng trực tiếp quản lý Trương Thụy Bảo tới đây và kêu anh ta tích cực phối hợp với chú. Chú làm xong việc thì đợi anh, tối nay chú nhất định phải ở lại đây ăn cơm với anh đấy nhé.”

Năm phút sau, tôi được gặp cán bộ trại giam từng trực tiếp quản lý Trương Thụy Bảo năm xưa. Người cán bộ này tên là Trần Phú Lập, tuổi vào chừng ba mươi lăm, ba mươi sáu, nước da ngăm đen nhưng không hề bóng, sống lưng thẳng tắp, nói năng mạch lạc rõ ràng. Hồi cuối năm 2008, anh ta chính là người đã đi cùng tôi trong cuộc phỏng vấn Trương Thụy Bảo.

Trò chuyện với nhau được mấy câu, tôi trực tiếp đề nghị được tới nơi mà Từ Nghị Giang và Trương Thụy Bảo đã chết. Trần Phú Lập dẫn tôi đến khu phòng giam, sau khi đi vào trong một sân bóng rổ được đổ nền bê tông liền chỉ tay vào một chỗ ở giữa sân, nói: “Chính là ở chỗ này. Ba năm trước, Trương Thụy Bảo đã dùng gạch đập chết Từ Nghị Giang ở đây, sau đó thì tự sát.”

Tôi rút ra một điếu thuốc đưa cho anh ta, lại giúp anh ta châm lửa, sau đó mới hỏi: “Có người nào tận mắt chứng kiến sự việc không?”

“Có.” Anh ta rít một hơi thuốc, đáp: “Chính là tôi.”

“Anh có thể miêu tả sơ qua một chút được không?”

“Ừm.” Anh ta giậm nhẹ chân xuống đất một cái, bắt đầu kể: “Lúc đó là tháng 2 năm 2009, còn chưa qua tháng Giêng, cái sân bóng này thì vừa mới bắt đầu được xây dựng. Khi ấy tôi dẫn theo hơn ba mươi phạm nhân, tuy tất cả đều mắc trọng tội nhưng tính cách thì coi như là ngoan ngoãn, chưa từng tham gia vào những vụ ẩu đả nghiêm trọng. Đó là một buổi chiều, trời âm u, tôi gọi tổ trưởng của tổ phạm nhân này lại kêu trông chừng mọi người, mình thì chuẩn bị ra ngoài gặp một người bạn. Nhưng tôi còn chưa kịp bước chân ra ngoài khu phòng giam thì đã nghe thấy một tràng những tiếng huyên náo ầm ĩ. Tôi vội vàng quay trở lại, thấy đầu của Từ Nghị Giang đã bị đập cho nứt toác, Trương Thụy Bảo thì vẫn đang ngồi trên người anh ta, trong tay cầm nửa viên gạch. Những người khác đều chỉ đứng bên ngoài nhìn, không có ai dám đi tới can ngăn. Tôi lập tức kêu to: “Trương Thụy Bảo, anh làm gì đấy?” Anh ta hét lớn một tiếng, đưa tay ôm đầu, kế đó liền dùng gạch đập vào đầu mình liên tục, đến cuối cùng đã ngã gục xuống đất rồi mà vẫn cứ đập mãi.” Nói đến đây, anh ta không kìm được cất lời cảm thán: “Ôi, thực sự là đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in chuyện đó, cả đời này tôi chưa từng nhìn thấy người nào hung hãn đến như vậy.”

Tôi hỏi: “Lúc trước không phải anh ta rất ngoan ngoãn, thật thà ư?”

“Thì vốn biết người, biết mặt, không biết lòng mà.” Trần Phú Lập nói. “Theơ như kinh nghiệm của tôi, càng là người ngoan ngoãn, thật thà thì lại càng nguy hiểm, bởi tất cả mọi cảm xúc luôn bị bọn họ kìm nén trong lòng.”

Tôi lại hỏi tiếp: “Nghe nói trước đó anh ta có quan hệ không tệ với Từ Nghị Giang đúng không?”

Trần Phú Lập cười nhạt một tiếng, nói: “Gã Từ Nghị Giang đó được chuyển vào đây hồi tháng 10 năm 2008, tính đến lúc chết cũng chỉ mới ở đây được khoảng bốn tháng mà thôi. Đúng thế, Trương Thụy Bảo và gã có quan hệ không tệ, nhưng tôi cảm thấy chẳng qua là Trương Thụy Bảo muốn bợ đỡ gã mà thôi. Gã Từ Nghị Giang này dường như không đơn giản chút nào, khi chuyển đến đây hồ sơ bị thiếu rất nhiều, mãi đến cuối cùng vẫn chẳng được bổ sung đầy đủ. Anh và anh Phó đã là chỗ thân quen với nhau từ lâu, vậy tôi sẽ nói với anh nhiều một chút. Khi đó có một người mỗi tháng đều qua đây lo lót, nhưng anh ta không chịu nói ra mình và Từ Nghị Giang có quan hệ như thế nào, chỉ nhờ cậy tôi để mắt giúp đỡ Từ Nghị Giang. Tôi còn từng nghe anh Phó nhắc đến chuyện giảm án cho Từ Nghị Giang, mà Trưởng trại giam dường như cũng rất xem trọng chuyện này. Tóm lại, tôi cảm thấy Từ Nghị Giang có lai lịch không nhỏ. Có điều, người chết thì đã chết rồi, lai lịch lớn hay nhỏ thì cũng như nhau cả thôi.”

Tôi suy nghĩ một chút rồi bèn hỏi: “Người đến đây lo lót cho Từ Nghị Giang mỗi tháng có bộ dạng như thế nào vậy?”

“Đó là một người đàn ông, tuổi chắc vào chừng bốn, năm chục.” Trần Phú Lập nói: “Còn về tướng tá thì tôi chỉ nhớ là anh ta rất trắng trẻo, béo tốt, còn hay mặc một bộ âu phục rộng thùng thình.”

Tôi không kìm được hít sâu một hơi, trong lòng nảy sinh những sự biến hóa khó mà miêu tả bằng lời.

Trước đó, bất kể lời miêu tả của Diệp Thu Vi có chân thực cỡ nào, hợp lý cỡ nào, sau khi rời khỏi phòng bệnh của cô ta, trong lòng tôi vẫn còn tồn tại những mối hoài nghi nhất định, mà đây cũng chính là nguyên nhân khiến tôi phải không ngừng đi điều tra và chứng thực những lời cô ta đã nói. Giả Vân Thành và Trần Phú Lập đều từng nhắc đến người đàn ông béo tốt trắng trẻo mặc âu phục rộng thùng thình kia, điều này chứng tỏ rằng giả thuyết “Trần Hy và Từ Nghị Giang cùng thuộc về một tổ chức thần bí nào đó” của Diệp Thu Vi là hoàn toàn có cơ sở. Nếu nói bằng phong cách của Diệp Thu Vi thì chính là như thế này: Một câu nói đơn giản của Trần Phú Lập đã khiến tôi phát hiện ra điểm trùng khớp giữa lời kể của cô ta và hiện thực.

Lòng tin của tôi với Diệp Thu Vi lập tức tăng lên rất nhiều, cùng với đó tôi cũng hết sức tò mò về người đàn ông béo tốt trắng trẻo mặc âu phục kia.

Tôi khẽ gật đầu, lại rút ra thêm một điếu thuốc, Trần Phú Lập vội vàng xua tay tỏ ý không hút nữa. Tôi đút điếu thuốc về trong bao, kế đó lại hỏi: “Anh nói tiếp về Trương Thụy Bảo đi, biểu hiện của anh ta khi được tôi phỏng vấn có giống với biểu hiện thường ngày không vậy?”

“Hoàn toàn giống hệt.” Trần Phú Lập nói giọng chắc nịch. “Anh ta nổi tiếng là một người thật thà. Nói thật với anh, nhà anh ta thuộc loại không có tiền cũng chẳng có thế, cho nên việc giảm án về cơ bản là không có chút hy vọng nào. Loại phạm nhân như vậy thường xuất hiện hai trạng thái cực đoan, một bộ phận nhỏ thì trở nên hung hăng ngỗ ngược, bất chấp tất cả, phần lớn còn lại thì chấp nhận số phận, trở nên tê dại và mất đi niềm tin vào cuộc sống, giống như Trương Thụy Bảo vậy.”

Tôi khẽ gật đầu. Cái gọi là tê dại chẳng qua là một quá trình tích lũy áp lực trong tâm lý. Đối với loại người như X và Diệp Thu Vi, việc khống chế những người tê dại hiển nhiên là dễ dàng hơn so với khống chế những người bình thường rất nhiều.

Tôi lại hỏi tiếp: “Trong quãng thời gian hơn một tháng kể từ khi tôi tiến hành phỏng vấn đến khi xảy ra chuyện, có người nào từ bên ngoài vào thăm Trương Thụy Bảo không?”

Trần Phú Lập suy nghĩ một lát rồi nói: “Có, nhưng chỉ có một lần thôi. Hình như đó là một người em họ của anh ta, tên là Trương Thụy... gì gì đó thì phải.”

“Bọn họ đã nói với nhau những gì?”

“Chuyện này thì tôi làm sao mà nhớ rõ được.” Trần Phú Lập cười gượng, nói: “Có điều sau cuộc gặp mặt lần đó Trương Thụy Bảo tỏ ra rất không vui, còn từng đánh nhau một lần với một người bạn tù, vậy nên tôi mới có chút ấn tượng.”

Tự nơi đáy lòng tôi bất giác giật thót một cái, thế là vội vàng truy hỏi: “Anh có biết Trương Thụy Bảo quê ở đâu không? Ngoài ra, liệu có thể tra ra được tên của người em họ kia của anh ta không?”

“Quê của anh ta thì tôi có biết.” Trần Phú Lập suy nghĩ một chút rồi bèn đáp: “Cách thành phố B khoảng mười kilômét về hướng chính tây có xã D, trên bãi sông nằm về phía bắc của xã này có thôn Lập Trương, đó chính là quê của Trương Thụy Bảo. Còn về tên của em họ anh ta thì tôi chắc chắn đã ghi lại rồi, có điều thời gian qua đã lâu nên muốn tìm được thì chỉ e không dễ dàng cho lắm.”

Tôi thở dài một hơi, nói: “Chuyện này rất quan trọng với tôi, mong anh hãy chịu khó vất vả một chút vậy.”

“Có gì đâu.” Anh ta xua tay, nói. “Thế này đi, đợi lát nữa tôi sẽ đi kiểm tra lại hồ sơ, sau khi tìm ra thì sẽ gửi tin nhắn cho anh. Anh thấy vậy có được không?”

Tôi không ngừng tỏ ý cảm ơn, cuộc trò chuyện đến đây là kết thúc. Sau đó, tôi ngồi trong đại sảnh ở tầng một của tòa nhà văn phòng để chờ tin tức của Phó Hữu Quang. Ước chừng bốn rưỡi, anh ta gọi điện thoại tới cho tôi, nói là cuộc họp này có lẽ phải kéo dài đến tận bảy, tám giờ, nếu tôi có bận việc gì thì cứ đi trước, nhưng buổi tối nhất định phải ở lại đây ăn cơm. Gần như cùng lúc, Trần Phú Lập nhắn tin đến cho tôi, nói là đã tra ra được tên của người em họ năm xưa từng đến thăm Trương Thụy Bảo, người này tên là Trương Thụy Lâm.

Tôi không ngừng nghe ngóng hỏi thăm, rốt cuộc cũng đến được thôn Lập Trương vào lúc năm giờ hai mươi phút. Có mấy người dân đang ngồi ở cửa thôn trò chuyện vu vơ, khi được biết tôi muốn tìm Trương Thụy Lâm thì không ngờ bọn họ lại để lộ ra vẻ giật mình bừng tỉnh. Một người đàn ông tuổi chừng bốn chục đứng dậy, nói: “Anh là bác sĩ tới từ thành phố đúng không? Lần này sao chỉ có một mình anh thôi vậy? Liệu có ứng phó nổi với anh ta không đấy? Có cần chúng tôi giúp đỡ một tay không?”

Một người phụ nữ trung niên bên cạnh vội vàng kéo góc áo anh ta, nhỏ giọng làu bàu: “Đừng có lắm chuyện như thế!”

Tôi lờ mờ hiểu ra được điều gì, bèn đáp qua loa: “À, tôi là chuyên gia tâm lý, tới đây là để kiểm tra xem tình trạng anh ta thế nào. Tôi mới lần đầu tới đây, xin hỏi nhà của Trương Thụy Lâm nằm ở đâu vậy?”

“Nên mời chuyên gia đến chữa trị cho nó từ sớm mới phải.” Một ông cụ ngậm tẩu thuốc trong miệng chậm rãi đứng dậy, nói: “Đi thôi, để tôi đưa cậu qua đó. Lúc này chắc nó vẫn còn đang bị trói đấy.”

Trong lòng tôi dâng lên một dự cảm chẳng lành.

Hai phút sau, ông cụ dẫn tôi đến trước cổng của một ngôi nhà bề thế, đẩy cửa cổng vốn không khóa ra. Sau khi đi vào trong sân, ông cụ hô to bằng giọng khàn khàn: “Xán Hà đâu rồi?”

Trong nhà vang lên tiếng dép lê quệt xuống mặt đất, rồi kế đó một người phụ nữ thò nửa người ra ngoài, hé cặp mắt kèm nhèm ra, hỏi: “Sao vậy ông tư?”

“Giờ này mà mày còn ngủ à?”

“Cháu vừa mới dậy. Hôm qua cháu phải làm việc ở chỗ ao cá đến tận hơn bốn giờ sáng, mà hôm nay vẫn còn phải đi nữa.” Người phụ nữ đó đưa tay dụi mắt, sau khi nhìn thấy tôi thì bèn hỏi: “Đây là ai vậy?”

“Chuyên gia tâm lý từ thành phố đến.” Ông cụ khẽ ho một tiếng, hỏi: “Thụy Lâm thế nào rồi?”

Người phụ nữ đó lộ rõ vẻ ngạc nhiên. “Vẫn còn đang bị trói, đã trói được hai ngày nay rồi. Cháu đâu có gọi điện thoại cho Bệnh viện Số 4 (Bệnh viện tâm thần của thành phố B) nhỉ, sao chuyên gia trong thành phố lại biết chuyện này?”

Tôi vội vàng giải thích: “Bệnh viện Số 4 không nhận được cuộc điện thoại nào cả, có điều quãng thời gian này tôi đang tham gia hội chẩn ở Bệnh viện Số 4, vừa hay được nghe lãnh đạo ở đó nói về chuyện của Trương Thụy Lâm, thế là mới muốn qua đây xem thử một chút.”

“Có gì hay đâu mà xem?” Người phụ nữ đó lộ rõ vẻ buồn bực. “Chỉ cần trói mấy ngày là ổn thôi. Ngày nào cũng phải chữa bệnh, dù có kiếm được bao nhiêu tiền đi chăng nữa thì cũng chẳng đủ cho anh ta tiêu.”

“Tôi không lấy tiền.” Tôi nói. “Tôi chỉ muốn tìm hiểu một chút về bệnh tình của Trương Thụy Lâm thôi. Tôi vốn làm về nghiên cứu lý luận, chưa biết chừng lại có thể tìm được biện pháp để chữa tận gốc bệnh của anh ta.”

Ông cụ kia nói: “Chuyên gia người ta một mình từ xa đến đây, mày nói cho người ta biết tình hình cụ thể thì chết được à? Đây là một cơ hội, nếu có thể chữa khỏi hẳn bệnh cho Thụy Lâm thì không phải là mày đỡ khổ hơn ư?”

Người phụ nữ đó mời tôi và ông cụ vào nhà, sau khi trò chuyện được mấy câu, tôi đã biết đại khái về tình hình ở nơi này: Người phụ nữ tên Vân Xán Hà, là vợ của Trương Thụy Lâm, còn ông cụ thì là ông tư của Trương Thụy Lâm, tên là Trương Chiêm Võ. Bắt đầu từ mùa hè năm 2009, Trương Thụy Lâm bị mắc chứng rối loạn tâm thần cách quãng, ban đầu thì chỉ ăn nói linh tinh, về sau thì không còn biết ai với ai, cứ nhìn thấy người là đánh, hơn nữa chu kỳ phát bệnh cũng càng lúc càng ngắn. Vân Xán Hà cũng từng đưa anh ta tới chỗ bác sĩ để khám bệnh, nhưng chữa mãi mà bệnh vẫn chẳng khỏi. Thời gian lâu dần, Vân Xán Hà liền quyết định từ bỏ việc chữa trị và nghe theo lời khuyên của người dân trong thôn, đó là làm một chiếc giường sắt ở trong nhà, cứ khi nào Trương Thụy Lâm phát bệnh thì mọi người trong thôn lại hò nhau trói anh ta vào chiếc giường sắt đó. Sau khi bị trói mấy ngày là Trương Thụy Lâm sẽ tự động trở lại như bình thường, không còn quậy phá nữa.

“Thế thường ngày thì sao?” Tôi hỏi. “Khi không phát bệnh, anh ta có biểu hiện gì khác thường không?”

“Ban đầu thì còn đỡ.” Vân Xán Hà vừa nói vừa đưa tay day mặt. “Khi không phát bệnh anh ấy chỉ ít nói và nhát gan thôi. Năm kia sau khi uống thuốc được một năm thì số lần phát bệnh đã ít đi nhiều, nhưng sau khi dừng uống thuốc thì tình hình còn trở nên tệ hơn lúc trước nữa, anh ấy không chỉ phát bệnh nhiều hơn mà thường ngày đầu óc cũng không tỉnh táo, chỉ toàn ăn nói linh tinh thôi, không làm được việc gì cả. Bây giờ tôi còn chẳng dám cho anh ấy ra ngoài, vì cứ nhìn thấy đàn ông là anh ấy lại muốn đánh chết người ta.”

“Đàn ông?” Tôi cảm thấy hơi lạ thường, thế là bèn ghi điều này lại, sau đó mới hỏi: “Tôi có thể gặp trực tiếp anh ta một chút không?”

Vân Xán Hà đưa mắt liếc nhìn Trương Chiêm Võ, sau mấy phen do dự, rốt cuộc đã chậm rãi đứng dậy đi đến trước một cánh cửa phòng ở mé bên của phòng khách, lại mở hé cửa ra và ngó vào bên trong, sau đó mới ra hiệu cho tôi đi tới. Tôi đi tới bên cạnh cửa, khi nhìn qua khe cửa thì thấy bên trong có một chiếc giường sắt được dựng thành một góc chéo 45 độ so với mặt đất, một người đàn ông bị trói chặt bằng dây thừng trên giường, và đó tất nhiên chính là Trương Thụy Lâm. Trương Thụy Lâm tóc tai rối bù, trên mặt có mấy vết thương có thể nhìn thấy rõ, quần áo trên người thì bị xé rách mất mấy chỗ. Anh ta lúc này đang nhắm mắt, vậy nhưng mí mắt vẫn hơi máy động, dường như còn chưa ngủ. Tôi thở dài một hơi, anh ta nghe thấy tiếng động thì liền mở mắt ra, nhìn tôi vẻ sợ hãi, sau đó chợt trừng mắt lên giận dữ và bắt đầu ra sức giãy giụa tựa như một con mãnh thú bị thương, đồng thời còn dùng giọng hằn học mắng chửi: “Mẹ mày! Tao phải giết mày! Mẹ mày! Tao phải giết mày!”

Tôi hít sâu một hơi, cảm thấy toàn thân đều không thoải mái dưới ánh nhìn đó của anh ta. Vân Xán Hà vội vàng đóng cửa lại, đôi môi mím chặt, từ trong cổ họng vang ra một tiếng “ực” nghe khá rõ, dường như là đang cố nén nước mắt. Có thể nhìn ra, người phụ nữ này có tình cảm rất sâu đậm với chồng mình, bằng không thì đã chẳng xúc động đến thế.

“Anh ấy cứ như vậy đấy.” Một lát sau cô ta mới nói: “Cứ nhìn thấy đàn ông là lại nổi điên lên, đặc biệt là những người đàn ông trong độ tuổi ba, bốn mươi như anh. Trong thôn có mấy người cỡ tuổi này đã bị anh ấy đánh cho bị thương rồi đấy.”

Tôi ngồi xuống rồi bèn hỏi: “Anh ta phát bệnh là vì nguyên nhân gì? Chuyện này mọi người đã làm rõ được chưa?”

Vân Xán Hà lật đật đi vào phòng trong lấy ra mấy tập tài liệu đưa cho tôi. Tôi lật ra xem một chút, thấy đó toàn là giấy chẩn đoán cùng với bệnh án của Trương Thụy Lâm. Kết quả chẩn đoán của các bác sĩ về cơ bản là thống nhất: Trương Thụy Lâm mắc chứng tâm thần phân liệt thể không biệt định.

Tôi ít nhiều cũng có một chút hiểu biết về các chứng bệnh tâm thần, căn cứ theo các nhân tố gây bệnh và đặc điểm của người bệnh, bệnh tâm thần phân liệt được chia ra làm rất nhiều thể như thể hoang tưởng, thể căng trương lực, thể đơn thuần, thể thanh xuân, vân vân. Cái gọi là thể không biệt định chính là chỉ tình trạng người bệnh đã có những biểu hiện đáp ứng đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt, vậy nhưng lại không thể xếp vào bất cứ thể nào như đã kể trên, điều này cũng có nghĩa là rất khó có thể thông qua biểu hiện của người bệnh để tìm ra những nhân tố nội tại và ngoại tại gây bệnh. Do đó, việc chữa trị cho những người bệnh mắc chứng tâm thần phân liệt thể không biệt định - đặc biệt là chữa trị về mặt tâm lý - thông thường đều khá khó khăn.

Tôi thở dài một hơi, sau khi suy nghĩ một chút bèn hỏi: “Trước khi phát bệnh, anh ta có triệu chứng gì không? Tâm trạng có xuất hiện những sự xao động lớn không?”

“Có.” Vân Xán Hà nói giọng chắc nịch. “Lần đầu tiên anh ấy phát bệnh là vào mùa hè ba năm trước, nhưng trên thực tế từ mùa xuân năm đó, tôi đã cảm thấy anh ấy có vẻ không bình thường rồi. Cứ khi nào có người đến nhà chơi là anh ấy lại lập tức nấp vào phía sau cánh cửa để quan sát, nếu thấy người đó là phụ nữ thì còn đỡ, nhưng nếu là đàn ông thì anh ấy sẽ tỏ ra rất mất tự nhiên. Lần đầu tiên anh ấy phát bệnh chính là vào lúc hai vợ chồng nhà Thụy Cường đến chơi, anh ấy nhìn thấy Thụy Cường thì vội vàng trốn vào phòng trong, Thụy Cường theo vào nói với anh ấy mấy câu, anh ấy liền đá cho Thụy Cường một cái, còn túm tóc cậu ta nữa. Sau đó Thụy Cường chạy ra đến ngoài cửa rồi mà anh ấy còn đuổi theo đánh cậu ta, nói cái gì mà “tao giết chết mày”, “tao đập chết mày”, kể từ đó về sau mọi người hầu như không dám đến nhà tôi chơi nữa.”

“Mẹ mày! Tao phải giết mày! Mẹ mày! Tao phải giết mày!” Đúng lúc này, từ trong căn phòng ở phía không xa lại một lần nữa vang ra tiếng gào thét của Trương Thụy Lâm.

Dù biết rõ là anh ta lúc này đang bị trói chặt, vậy nhưng tôi vẫn không khỏi có chút thấp thỏm lo âu. Tôi lại trò chuyện với Vân Xán Hà thêm mấy phút nữa, cảm thấy thời cơ đã chín muồi, thế là bèn hỏi: “Cô thử nhớ lại một chút xem, dịp Tết năm 2009, chồng cô có từng làm ra chuyện gì kỳ lạ không? Chẳng hạn như, vào thời điểm đó anh ta có đi gặp người lạ mặt nào không?”

Vân Xán Hà nhớ lại một chút, sau đó bèn cau mày nói: “Có một chuyện này khá kỳ lạ, nhưng đối phương không phải là người lạ mặt. Hồi tháng Giêng năm 2009, mới vừa sang năm mới được mấy ngày thì Thụy Lâm đột nhiên lên thành phố một chuyến, nói là muốn đi thăm Trương Thụy Bảo.” Cô ta trầm ngâm kể: “Trương Thụy Bảo cũng là người của thôn Lập Trương, nhưng quan hệ họ hàng với nhà chúng tôi đã xa lắm rồi, thậm chí không thể tính là cùng một nhánh nữa. Nhiều năm trước đây anh ta đã giết Trương Thụy Khanh, sau đó thì phải ngồi tù. Thụy Lâm trước đây vốn chẳng thân thiết gì với anh ta lắm, mà anh ta thì đã ngồi tù được bảy, tám năm rồi, trong thời gian đó Thụy Lâm không hề đi thăm anh ta lần nào, thế mà lúc ấy lại đột nhiên nói là muốn đi thăm. Tôi cảm thấy rất bất ngờ, thế là bèn hỏi anh ấy là tại sao lại phải đi, anh ấy bèn đáp lại một câu rằng: Thụy Bảo kêu anh đi chứ sao.”

Tôi ghi câu nói này lại, sau một thoáng suy nghĩ bèn hỏi tiếp: “Thế sau đó thì sao? Khi quay về, chồng cô có nói gì với cô không?”

Vân Xán Hà ngẩn ngơ suy nghĩ suốt một hồi lâu, hơi thở vẫn đều đặn, lồng ngực thì liên tục phập phồng một cách rất có tiết tấu. Đột nhiên, cô ta đang hít hơi thì dừng lại mất nửa giây, sau đó còn chưa hít xong đã lại vội vã thở ra, cùng lúc đó, vẻ mặt cô ta tuy không có sự thay đổi gì lớn, thế nhưng bàn tay phải thì lại nhẹ nhàng xoa bóp đầu gối chân phải. Sau đó, cô ta liếc nhìn Trương Chiêm Võ một chút rồi vội vã cúi đầu, thân thể hơi ngả về phía sau, chiếc ghế cũng được nhích về hướng ngược với hướng Trương Chiêm Võ một chút. Cuối cùng, cô ta đan hai tay lại để trước ngực, thấp giọng nói: “Không, anh ấy chẳng nói gì với tôi cả.”

Tôi nhanh chóng hiểu ra tâm tư của cô ta: Cô ta nhất định là đã nghĩ ra điều gì đó, thế nhưng lại không muốn để Trương Chiêm Võ biết. Thế là tôi bèn nói: “Vậy được rồi, mục đích chủ yếu của tôi hôm nay chỉ là hỏi han một chút để có được một sự hiểu biết bước đầu thôi. Việc trị bệnh này vốn không thể gấp được, hôm nay trạng thái của Thụy Lâm không được tốt, vậy tôi không làm phiền thêm nữa. Sau khi quay về, tôi sẽ tiến hành tổng kết và phân tích các tin tức mà mọi người vừa nói, đợi một thời gian nữa sẽ lại đến đây để làm kiểm tra chi tiết cho Thụy Lâm.”

Hai người cũng không giữ tôi lại, sau khi trò chuyện khách sáo thêm vài câu, tôi liền nói lời từ biệt rồi cùng Trương Chiêm Võ rời đi. Khi đi đến cửa thôn, tôi giả bộ để quên điện thoại, rồi liền một mình quay trở lại nhà Trương Thụy Lâm. Vân Xán Hà vừa giúp tôi tìm điện thoại vừa hỏi tôi bệnh của Trương Thụy Lâm liệu có thể chữa khỏi được không. Tôi lấy điện thoại của mình ra, tỏ vẻ như vừa tìm được, rồi bèn hỏi: “Cô thử nhớ lại đi, dịp Tết năm 2009, sau khi từ thành phố quay về, Thụy Lâm đã nói gì với cô vậy?”

Cô ta bất giác sững người ra, muốn nói gì đó mà lại thôi.

“Chuyện này cô hẳn là không tiện nói với người khác.” Tôi nói. “Đặc biệt là những người trong thôn. Tôi nói đúng chứ?”

Cô ta lộ rõ vẻ ngạc nhiên, bật thốt: “Sao anh lại biết?”

Tôi cười, nói: “Tôi vốn nghiên cứu về tâm lý học mà, người khác nghĩ gì tôi chỉ cần nhìn thoáng qua là biết ngay.”

Khi nói ra những lời này, tôi còn chưa ý thức được rằng mình đã thay đổi rất nhiều sau một thời gian tiếp xúc với Diệp Thu Vi, hoặc cũng có thể nói tôi đã bị cô ta âm thầm cải tạo.

“Thảo nào.” Trong mắt Vân Xán Hà lúc này ngợp đầy những tia kính trọng. “Bác sĩ Trương, bệnh của Thụy Lâm thực sự có thể chữa khỏi được ư? Anh tài giỏi như vậy, nhất định là có cách đúng không?”

“Vậy thì còn phải xem cô có chịu phối hợp hay không.” Tôi nhìn cô ta, nghiêm túc nói: “Chỉ cần là chuyện có liên quan tới Thụy Lâm, cô nhất định phải nói cho tôi biết. Tôi biết càng tường tận thì khả năng chữa khỏi được cho Thụy Lâm sẽ lại càng lớn.”

Cô ta cắn chặt môi, chậm rãi ngồi xuống ghế, vuốt lại mái tóc của mình một chút, sau một hồi lâu giằng xé mới thấp giọng nói: “Anh ấy ở lại trong thành phố một ngày, hôm quay về thì xách theo một chiếc túi da màu đen, bên trong có đựng hai trăm nghìn tệ tiền mặt.”

Tôi nín thở hỏi: “Là ai đưa cho anh ta vậy?”

“Tôi đã hỏi rồi.” Vân Xán Hà nói. “Nhưng anh ấy không chịu nói nhiều với tôi, chỉ bảo rằng đó là một người rất ghê gớm.”

“Một người rất ghê gớm?” Tôi lại hỏi. “Thế anh ta có nói cho cô biết tại sao người đó lại đưa tiền cho anh ta không?”

“Anh ấy nói là anh ấy đã làm việc cho người đó.”

“Việc gì vậy?”

Vân Xán Hà cắn chặt môi, hạ thấp giọng nói: “Anh ấy không nói rõ, nhưng về sau tôi đã dần dần hiểu ra. Người đó đã nói với anh ấy mấy lời, bảo anh ấy vào trong trại giam nói lại cho Trương Thụy Bảo nghe. Chắc anh còn chưa biết, anh ấy mới đi thăm Trương Thụy Bảo được mấy ngày thì Trương Thụy Bảo đã chết trong trại giam. Về sau, có một lần Thụy Lâm uống rượu xong liền nói với tôi: “Xán Hà, là anh hại chết Trương Thụy Bảo, là anh gián tiếp giết chết anh ta.” Có điều, nguồn cơn cụ thể trong chuyện này thì tôi cũng không rõ lắm...” Cô ta nhíu chặt đôi mày lộ rõ vẻ buồn bã. “Bác sĩ, chuyện này có liên quan gì tới căn bệnh của anh ấy không?”

“Khả năng lớn là có.” Tôi nói. “Hơn nữa, cho dù không liên quan gì thì cô nói ra được cũng là chuyện tốt, bằng không cứ kìm nén mãi thì cô rất có thể cũng sẽ mắc bệnh giống như chồng cô đấy.”

Cô ta gạt nước mắt, nói: “Chuyện này anh nhất định đừng nói lại với người khác đấy, mọi người trong thôn sớm đã hoài nghi khoản tiền dùng để đấu thầu ao cá của nhà chúng tôi có nguồn gốc bất chính rồi. Nếu để người nhà của Trương Thụy Bảo biết được chuyện này, họ nhất định sẽ không chịu bỏ qua đâu. Ông tư vốn đi lại thân thiết với bọn họ, vậy nên vừa rồi tôi mới không dám nói.”

Tôi khẽ gật đầu. “Chuyện này thì cô cứ việc yên tâm, tôi hỏi nhiều như vậy cũng chỉ vì một mục đích, đó là chữa khỏi bệnh cho Thụy Lâm. Mỗi một chi tiết nhỏ có liên quan đến anh ta đều rất quan trọng. Cô hãy thử nghĩ kĩ lại xem, cô có bỏ sót chi tiết nào trong chuyện xảy ra hồi đầu năm 2009 đó không? Ví dụ như anh ta từng mang thứ gì đó về từ trong thành phố, hoặc còn nói với cô một số lời khác nữa chẳng hạn.”

Cô ta trầm ngâm suy nghĩ, có lúc thì lắc đầu, có lúc thì lại gật đầu.

Thấy cô ta như vậy, tôi suy nghĩ một chút rồi bèn hỏi: “Cô nói là Thụy Lâm đã ở lại trong thành phố một đêm, vậy cô có biết anh ta ở đâu không?”

Nghe thấy câu này, hai mắt cô ta chợt sáng lên, rồi bèn đứng dậy đi vào phòng trong, chừng hai phút sau thì trở ra phòng khách, đưa cho tôi một cuốn sách mỏng, nói: “Anh ấy cũng chẳng ra gì, chưa từng được ở khách sạn cao cấp bao giờ, lần đó sau khi quay về thì mang theo một cuốn sách giới thiệu về khách sạn mà mình vừa mới ở. Còn nhớ hồi ấy anh ấy đã khoe khoang trong thôn suốt mấy ngày liền, về sau thì tôi liền cất thứ này đi.”

Tôi nhận lấy cuốn sách mỏng đó, thấy đó là một cuốn sách giới thiệu sơ lược về một khách sạn năm sao ở thành phố B. Tôi mở ra xem một chút, rồi tại trang thứ hai tính từ cuối trở về trước, tôi nhìn thấy một dãy số được ghi lại bằng bút bi ở một chỗ bỏ trống: 1727.

Tôi hỏi Vân Xán Hà: “Con số này mang ý nghĩa gì vậy? Thụy Lâm có nói với cô không?”

“Có chứ.” Cô ta khẽ gật đầu. “Đều là để khoe khoang cả ấy mà. Anh ấy nói đây là số phòng mà anh ấy đã ở.”

Trên đường trở về thành phố B, tôi cẩn thận sắp xếp lại toàn bộ tiền nhân hậu quả trong vụ án mạng xảy ra tại trại giam hồi đầu năm 2009 đó.

Tháng 9 năm 2008, sau một thời gian đấu đá xung quanh vụ án của Từ Nghị Giang, cuối cùng tổ chức thần bí đã giành được phần thắng và Từ Nghị Giang đã giữ được tính mạng, đến tháng Mười thì được đưa đến trại giam Số 1 của tỉnh. Sau khi Từ Nghị Giang vào trại, tổ chức thần bí lại tiếp tục có hành động hòng giúp ông ta được giảm án. Trần Phú Lập từng nói, ngay đến Trưởng trại giam cũng tỏ ra hết sức xem trọng chuyện giảm án cho Từ Nghị Giang.

Dựa vào những tin tức này thì có thể đưa ra được ba kết luận: Thứ nhất, tổ chức thần bí đứng sau lưng Từ Nghị Giang quả thực có dính dáng đến nhà nước, hơn nữa còn có quyền lực cực kỳ to lớn; thứ hai, Từ Nghị Giang là một thành viên vô cùng quan trọng trong tổ chức này; thứ ba, trong cuộc đấu đá giữa tổ chức thần bí và Tập đoàn A, lãnh đạo trại giam đứng về phía tổ chức thần bí.

Mục đích của Tập đoàn A là lấy đi tính mạng của Từ Nghị Giang, do đó sau khi phải nhận thất bại trong giai đoạn xét xử tuyên án, bọn họ tất nhiên sẽ tiếp tục nghĩ cách. Cách đơn giản nhất là mua chuộc cán bộ trại giam hoặc là phạm nhân trong trại giam, nhờ bọn họ trực tiếp trừ khử Từ Nghị Giang. Nhưng trong trường hợp này, thứ nhất là lãnh đạo trại giam không đứng về phía Tập đoàn A, thứ hai là cách làm này tuy đơn giản nhưng rất dễ để lại dấu vết và sơ hở cho người khác nắm được, do đó cách này hiển nhiên là không khả thi.

Cùng với đó, bởi vì trong trại giam có các biện pháp cách ly cực kỳ nghiêm ngặt, do đó X muốn tiếp xúc với các cán bộ trong trại giam để rồi tiến hành tác động cũng không phải là việc dễ.

Cũng bởi nguyên nhân này, Tập đoàn A đã phải không ngừng tìm kiếm cơ hội, Từ Nghị Giang thì vì thế mà được sống yên ổn trong trại giam hơn ba tháng. Đầu năm 2009, sau một thời gian dài quan sát và trù tính, Tập đoàn A rốt cuộc đã nghĩ ra một kế hoạch hoàn hảo, đó là dùng tiền bạc dụ dỗ Trương Thụy Lâm, lại để X ra mặt dạy cho anh ta một số phương pháp ám thị, sau đó kêu anh ta dùng danh nghĩa đi thăm người thân để vào trại giam tiếp xúc với Trương Thụy Bảo và tiến hành tác động lên Trương Thụy Bảo, khiến Trương Thụy Bảo ra tay trừ khử Từ Nghị Giang.

Vậy, hành vi tự sát của Trương Thụy Bảo sau khi giết chết Từ Nghị Giang phải chăng cũng nằm trong dự tính của X? Nếu đúng là như vậy thì X quả thực quá ư đáng sợ, chỉ dựa vào mấy lời nói được truyền đạt qua miệng của người khác mà có thể trừ khử được hai con người. Có lẽ, sức mạnh tinh thần của X còn ghê gớm hơn cả Diệp Thu Vi nữa.

Tạm gác những chuyện này qua một bên không xét tới. Nếu sự việc quả thực đúng như là phán đoán của tôi, vậy Trương Thụy Lâm chỉ là một người nông dân bình thường, chưa từng được trải qua một sự huấn luyện nào về mặt tâm lý, X dựa vào đâu mà dám xác định anh ta có thể thuận lợi hoàn thành nhiệm vụ?

Tôi liếc nhìn cuốn sách mỏng mà mình để trên ghế phụ kia, rất hiển nhiên, một người nông dân thậm chí chẳng mấy khi lên thành phố như Trương Thụy Lâm ắt chẳng thể nào chủ động vào ở trong một khách sạn năm sao cả. Nhất định là Tập đoàn A đã sắp xếp việc này, đồng thời tiến hành đào tạo Trương Thụy Lâm một cách thật nghiêm ngặt trong buổi tối hôm anh ta ở lại khách sạn, qua đó đảm bảo cho sự thành công của kế hoạch.

Cứ dựa theo dòng suy nghĩ này mà tiếp tục suy đoán: Một người có bộ dạng như nông dân vào làm thủ tục lưu trú ở quầy lễ tân của một khách sạn năm sao, hơn nữa còn không hiểu gì về các quy trình làm thủ tục, việc này nhất định sẽ thu hút sự chú ý của rất nhiều người, mà như thế thì hiển nhiên là không phù hợp với tác phong làm việc cẩn thận và kín kẽ của Tập đoàn A. Do đó, thủ tục lưu trú ở khách sạn nhất định là đã được làm sẵn từ trước, mà họ tên của người đăng ký rốt cuộc sẽ là gì đây? Tuy rất có thể là Trương Thụy Lâm, song cũng có thể là không phải. Chỉ cần là một khả năng có thể tồn tại, vậy cũng đáng để cho tôi đi điều tra rồi.

Sau khi sắp xếp xong những suy nghĩ này, tôi rốt cuộc đã thoát ra khỏi con đường nhựa đầy những ổ gà của xã D, tới được con đường lớn bằng phẳng chạy thẳng đến thành phố B. Tôi gọi cho Trần Phú Lập, từ đó biết được số chứng minh thư của Trương Thụy Lâm cùng với thời gian cụ thể mà anh ta vào trại giam thăm Trương Thụy Bảo, đó là ngày 8 tháng 2 năm 2009, một ngày trước khi Tạ Bác Văn chết vì tai nạn xe.

Vừa mới về đến thành phố B thì Phó Hữu Quang đã gọi cho tôi, nói là đã đặt sẵn chỗ dùng bữa tối rồi, tôi cứ qua thẳng đó là được. Tối đó anh ta tỏ ra rất hưng phấn, còn mang theo hai chai rượu ngon, nói là muốn xả láng với tôi một bữa, tôi hết cách chỉ đành chiều lòng anh ta.

Ban đầu, chủ đề câu chuyện của chúng tôi chỉ xoay quanh mảng nhân vật của Nguyệt san Phổ Pháp. Trong giới báo giấy pháp luật, Nguyệt san Phổ Pháp có thể nói là khá nổi tiếng, ngoài các cơ quan công an, kiểm sát và tư pháp ra, rất nhiều cơ quan khác vẫn thường đặt mua hằng tháng. Do đó, mảng nhân vật của báo có tác dụng không nhỏ trong việc nâng cao thanh danh cá nhân. Lãnh đạo rất coi trọng tôi, mỗi lần chọn người đều nghiêm túc cân nhắc ý kiến của tôi, cũng vì nguyên nhân này nên tôi mới có cơ hội làm quen với các quan chức lớn nhỏ, thậm chí là nhận được sự tôn trọng của bọn họ.

Phó Hữu Quang làm Trưởng phân khu ở đây cũng đã được sáu, bảy năm rồi, chưa từng có chút biến động nào. Anh ta rất biết chi tiền, nhưng người biết chi tiền không phải chỉ có một mình anh ta, hơn nữa có lúc tiền không phải là yếu tố then chốn. Do đó, anh ta cần có một cơ hội để khiến cấp trên nhìn thấy mình, mà cơ hội này hiện đang nằm trong tay tôi.

Sau khi uống được hơn nửa chai rượu, anh ta vỗ vai tôi mấy cái, buông lời than thở: “Tiểu Trương này, chú nói xem cái xã hội này rốt cuộc là như thế nào vậy chứ? Muốn biếu tiền mà cũng phải xếp hàng! Đã thế xếp hàng mất mấy năm rồi mà vẫn chưa tới lượt anh!”

Tôi cười, nói: “Chuyện này không giống như ra chợ mua thịt mua rau, không phải cứ có tiền là được, anh bây giờ đang thiếu một cơ hội.”

Anh ta ngẩng đầu cười vang, chỉ tay vào tôi, nói: “Cho nên chúng ta cần phải giúp đỡ lẫn nhau.”

Tôi kính anh ta một chén rượu, lại ăn một miếng thức ăn, sau đó mới nói: “Hiện giờ, em có chuyện này đang muốn làm phiền anh đây.”

“Đừng nói là làm phiền, nghe khách sáo lắm.” Anh ta xua tay, nói: “Chú có chuyện gì thì cứ thoải mái nói ra đi, anh tuy chỉ là một con tép riu, song ở thành phố B này thì vẫn tạm coi là được việc.”

Tôi hỏi: “Anh có biết Khách sạn Quốc tế X không? Em muốn tra cứu thông tin đăng ký lưu trú của một người từ ba năm trước, liệu có thể tra ra được không?”

Anh ta tỏ vẻ cảnh giác hỏi lại: “Chú định điều tra chuyện gì vậy?”

Tôi giả bộ do dự một chút, sau đó còn chửi tục mấy câu, cuối cùng mới nói: “Việc này nói ra thì quả thực có hơi mất mặt. Khi đó vợ em từng một mình đến thành phố B một chuyến, còn ở trong Khách sạn Quốc tế X. Em ngờ rằng cô ấy đã đi hẹn hò với ai đó, cho nên sớm đã muốn điều tra chuyện này rồi.”

Phó Hữu Quang cười ha hả, sau khi vỗ mạnh bàn một cái liền lấy điện thoại ra bấm số gọi cho ai đó. Sau khi người ở đầu bên kia nhấc máy, anh ta liền nói: “Chào Giám đốc Vương, là tôi, Hữu Quang đây. Phải rồi, bây giờ có tiện không? Chỗ tôi bây giờ có một anh bạn từ vùng khác đến, là trinh sát hình sự, cậu ấy muốn lấy một ít thông tin từ chỗ khách sạn của các anh, ừm, được...” Nói tới đây, anh ta liền bịt điện thoại lại, quay sang hỏi tôi: “Tiểu Trương, chú muốn tra cứu cái gì vậy?”

Tôi nói: “Thông tin về người đăng ký lưu trú tại phòng 1727, ngày 7 tháng 2 năm 2009.” Sau đó lại bổ sung thêm. “Nhân tiện hãy kiểm tra luôn cả thông tin trong thời gian trước và sau đó một tuần đi.”

Phó Hữu Quang truyền đạt lại lời của tôi, rất nhanh sau đó đã nhíu chặt đôi mày, nói: “Được, được, tôi biết rồi, anh không cần phải giải thích nữa, tôi sẽ tự nghĩ cách khác. Chuyện này anh nhớ phải giữ bí mật đấy, ừm.” Sau khi gác máy, anh ta quay qua nhìn tôi vẻ nghi hoặc. “Tiểu Trương, thông tin đăng ký ở phòng 1727 và các phòng xung quanh trong thời gian mà chú nói đã thất lạc hết rồi, chú thực sự đang điều tra vợ mình đấy chứ?”

Tôi vội vàng chuyển chủ đề: “Đó là khách sạn năm sao cơ mà, thông tin đăng ký làm sao lại bị thất lạc được?”

Anh ta nhìn tôi vẻ hết cách. “Chuyện này thì chú đừng hỏi. Thế này đi, anh cho chú một số điện thoại, nếu có thời gian thì chú hãy liên lạc thử xem, các thông tin lưu trú bị thất lạc có lẽ chỗ anh ta có đấy. Có điều, chú nhớ là đừng nhắc gì đến anh đấy, anh với anh ta cũng chẳng quen thân lắm. Anh chỉ có thể giúp chú được tới đây thôi.”

Thấy anh ta như vậy, tôi cũng không tiện truy hỏi gì thêm, chỉ cẩn thận ghi lại số điện thoại mà anh ta cung cấp, sau đó lại nói qua chủ đề khác. Khi chai rượu thứ hai chỉ còn lại một nửa, anh ta có vẻ đã khá say rồi. Tôi một mặt khuyên anh ta đừng nên uống thêm nữa, một mặt mượn hơi rượu hỏi: “Anh này, nghe nói tay Từ Nghị Giang đó có lai lịch rất ghê gớm phải không?”

Anh ta nheo mắt hỏi lại: “Bạn chú không phải là có quen gã đó sao?”

Tôi nói: “Nói là bạn em vậy thôi, thực chất đó là một lãnh đạo ở tỉnh. Trước đây ông ta dường như có một thời gian thường hay qua lại với Từ Nghị Giang, thế nên mới nhờ em hỏi. Còn về bản thân em, em thực sự chẳng biết chút nào về Từ Nghị Giang cả.”

“Ừm.” Anh ta xem chừng đã say thật rồi nên nói năng cũng không còn quá chú ý nữa, sau khi châm một điếu thuốc liền nói: “Gã Từ Nghị Giang này rốt cuộc là ai thì anh cũng không rõ lắm, nhưng anh có thể nói cho chú biết một chuyện. Trong một cuộc họp hồi cuối năm 2008, Mã Lão Tam (biệt hiệu của Trưởng trại giam khi đó) đã giữ anh lại, dặn anh hãy lưu tâm đến Từ Nghị Giang nhiều một chút, nếu có cơ hội giảm án thì hãy giữ lại cho người này, còn về bên phía Cục Quản lý trại giam và tòa án thì anh không cần phải lo. Khi đó anh liền hỏi: “Gã Từ Nghị Giang này rốt cuộc là ai vậy?”.” Anh ta rít một hơi thuốc, sau đó nhăn răng nói tiếp: “Lão Tam liền nói: “Là người mà hai chúng ta đều không dây vào được. Chú nhớ để mắt tới người này một chút, bảo người quản lý trực tiếp bảo vệ anh ta cho cẩn thận, nhất định đừng để anh ta xảy ra chuyện gì đấy!”.”

Tôi không kìm được hít vào một hơi khí lạnh. Mã lão Tam tên thật là Mã Tam Quân, từng làm Trưởng trại giam ở trại giam Số 1 của tỉnh suốt mười mấy năm liền. Nghe ý của Phó Hữu Quang thì Mã Tam Quân sớm đã biết rằng Từ Nghị Giang có thể sẽ xảy ra chuyện, điều này đồng nghĩa với việc ông ta đã biết được thân phận của Từ Nghị Giang, thậm chí còn biết cả nguyên nhân khiến Từ Nghị Giang phải vào tù, mà chưa biết chừng ông ta còn là một thành viên của tổ chức thần bí kia nữa.

Có điều, một năm trước, Mã Tam Quân đã được điều chuyển lên làm việc tại Sở Tư pháp, bây giờ tiếp xúc với ông ta chỉ e đã chẳng còn được dễ dàng như ngày xưa nữa rồi.

Phó Hữu Quang vỗ bàn một cái, ủ rũ nói: “Anh nghĩ chỗ đó là trại giam, có thể xảy ra chuyện gì được chứ? Cùng lắm cũng chỉ là tự sát hoặc đánh nhau với các phạm nhân khác mà thôi. Anh đã cất công đi tìm một bác sĩ tâm lý tốt nhất tới, nhờ theo dõi tình trạng của gã thật sát sao, còn sắp xếp cho gã đến chỗ của Trần Phú Lập nữa. Mẹ nó, không ngờ đến cuối cùng vẫn xảy ra chuyện, chú thử nói xem, tại sao anh lại xui xẻo như vậy chứ?” Nói xong, anh ta rít một hơi thuốc thật dài.

Tối đó, tôi gọi một người lái xe thuê đến nhờ chở Phó Hữu Quang về nhà, mình thì đi tìm một khách sạn vào nghỉ. Tuy tôi đã cố hết sức kiềm chế, nhưng rốt cuộc vẫn uống hơi nhiều, vừa mới bước vào phòng liền lập tức đổ gục xuống giường và ngủ say. Tôi đã nằm mơ, trong mơ tôi nhìn thấy một người đàn ông đang đứng ở cửa phòng vệ sinh, nhìn tôi bằng ánh mắt hết sức lạnh lùng. Tôi mơ mơ màng màng trở dậy, hỏi anh ta là ai. Anh ta ban đầu thì nói mình là Từ Nghị Giang, về sau lại nói mình là Mã Tam Quân, kế đó còn nói mình là Trần Ngọc Long (một người bạn mà tôi đã nhiều năm không gặp), cuối cùng thì lạnh lùng nói ra mấy chữ: “Tôi chính là X.” Tôi sững người, sau đó chợt nghe thấy một giọng nữ quen thuộc: “Anh Trương, anh càng ngày càng giống tôi rồi đấy.” Tôi cả kinh, bèn ngẩng lên nhìn, bỗng phát hiện mình lại đang ở trong phòng bệnh của Diệp Thu Vi. Diệp Thu Vi vẫn ngồi ở phía bên kia của bức tường thủy tinh, mắt nhìn tôi hờ hững, bên khóe miệng thoáng qua một nụ cười quái dị.

Tôi giật mình bừng tỉnh, cứ thế lăn lông lốc từ trên giường xuống đất. Tôi lồm cồm bò dậy, đầu óc vẫn rất nặng nề, cổ họng thì khô khốc, vô cùng khó chịu. Tôi nhìn thấy trên bàn trà có mấy gói trà túi lọc, bèn cầm lấy siêu điện mang vào trong nhà vệ sinh lấy nước. Khi đi tới trước bồn rửa mặt, tôi bỗng thấy bụng mình nhộn nhạo một hồi, rồi liền nôn thốc thôn tháo toàn bộ những thứ đã ăn hồi tối ra. Đến khi nôn xong, tôi vừa lấy nước vừa soi gương ở ngay trên bồn rửa mặt, bất giác nhớ đến giấc mơ vừa rồi, thế là lại nôn thêm lần nữa, đương nhiên lần này thì chỉ là nôn khan.

Sau khi uống mấy ngụm trà nóng, thân thể tôi thoải mái hơn phần nào. Tôi mở đèn lên, ngó nhìn đồng hồ, thấy lúc này vừa khéo là một giờ ba mươi phút sáng. Tôi lấy điện thoại ra, bỗng lại nhìn thấy số điện thoại mà Phó Hữu Quang đã cung cấp cho mình hồi tối. Sau mấy phen do dự, tôi thử gọi vào số điện thoại đó để xem thế nào.

Đối phương rất nhanh đã bắt máy, song phía bên đó có vẻ rất ồn ào, một giọng nam ồm ồm vang lên: “Này, làm cái gì đó? Đánh cho đàng hoàng vào chứ! Tôi sắp ù rồi đây! Hầy, các cậu đợi một lát!” Sau đó, những tiếng ồn ào xung quanh nhanh chóng tắt hẳn, rồi người đó hỏi: “Có chuyện gì không?”

Tôi dè dặt nói: “Tôi muốn tra cứu thông tin đăng ký lưu trú ở Khách sạn Quốc tế X từ ba năm trước.”

Người đó cất giọng bình thản: “Ồ, chào anh. Có số chứng minh thư thì năm trăm, chỉ có tên không thì một nghìn, đây là đơn giá cho một người trong một lần, xin hỏi anh muốn tra cứu thông tin gì?”

Tôi khẽ cất tiếng thở dài, cuối cùng quyết định phải thử một phen, nói: “Thông tin đăng ký lưu trú của phòng 1727 vào ngày 7 tháng 2 năm 2009.”

Đối phương do dự một lát rồi mới nói: “Không có tên cũng không có số chứng minh thư, vậy thì cần một nghìn năm trăm, tiền trao cháo múc, nếu anh đồng ý thì giờ tôi sẽ gửi số thẻ ngân hàng của tôi cho anh. Trong vòng hai phút sau khi anh chuyển khoản, tôi sẽ gửi thông tin anh cần đến số điện thoại này của anh.”

Tôi nói: “Tôi có thể tin anh được không? Thông tin khách sạn đã làm thất lạc mà anh cũng có thể tra ra được ư?”

Đối phương cười thân thiện, nói: “Đương nhiên là có thể rồi. Trong khắp thành phố B này, anh không thể tìm ra người thứ hai nào chuyên nghiệp như tôi được đâu.”

Tôi chẳng có tâm trạng đâu mà để ý tới những chỗ sơ hở trong lời nói của đối phương, nhanh chóng ra ngoài tìm cây ATM để chuyển khoản. Chừng một phút sau, người đó gửi cho tôi một tin nhắn:

Khách sạn Quốc tế X, ngày 7 tháng 2 năm 2009, phòng 1727, số chứng minh thư đăng ký: 410***************, họ tên người đăng ký: Trần Ngọc Long.

Tôi tức khắc ngây người ra.

Năm 2001, trong quá trình xử lý việc gia đình, tôi quen với một luật sư trẻ tuổi tên là Trần Ngọc Long. Chúng tôi tuổi tác tương đương, tính cách tương đồng, do đó rất nhanh đã trở thành những người bạn thân. Năm 2003, cậu ta đi nơi khác để phát triển sự nghiệp, sự qua lại giữa chúng tôi cũng theo đó mà ngày một ít dần, đến dịp Tết năm 2005 thì hai bên chỉ còn gửi tin nhắn chúc Tết đến nhau, sau đó thì không còn tin tức gì của nhau nữa.

Ngày 7 tháng 2 năm 2009, người đăng ký lưu trú ở phòng 1727 của Khách sạn Quốc tế X cũng tên là Trần Ngọc Long, đây liệu chăng là một sự trùng hợp? Dựa theo thông tin trên số chứng minh thư thì người tên Trần Ngọc Long này cùng quê với tôi, còn ngang tuổi với tôi nữa [49], ít nhất thì về hai điểm này anh ta cũng hoàn toàn giống hệt người bạn luật sư kia của tôi.

Tôi bất giác rùng mình nghĩ bụng: Nếu hai người này thực sự là một, vậy thì phải chăng tôi sớm đã có dính dáng đến sự kiện M rồi?

Mà có một việc khác còn khiến tôi cảm thấy khó hiểu hơn, đó là tại sao vừa rồi khi nằm mơ, tôi lại nghe thấy cái tên Trần Ngọc Long này chứ? Chẳng lẽ trong quá trình điều tra vừa rồi có người đã tiến hành ám thị tôi bằng một biện pháp nào đó? Hoặc giả, xuất phát từ một mục đích nào đó mà tôi còn chưa biết, người bán tin tức kia đã cố ý nói cho tôi biết cái tên này hòng làm rối loạn cuộc điều tra của tôi?

Tôi cố giữ lòng bình tĩnh, gửi tin nhắn hỏi lại: “Anh chắc chắn chứ? Thực sự là người này ư?”

Đối phương nhanh chóng trả lời: “Đảm bảo một trăm phần trăm, sai một đền mười.”

Tôi vẫn còn chưa yên tâm, thế là bèn gọi điện thoại qua bên đó để xác nhận lại, sau đó từ trong giọng điệu và lối dùng từ của đối phương đã xác định được rằng anh ta không hề lừa gạt mình. Cuối cùng, tôi hỏi anh ta là có thể giúp đỡ tra ra ảnh chứng minh thư của người tên Trần Ngọc Long này không. Anh ta bật cười, nói: “Anh đúng là dân ngoại đạo. Lần này thì tôi không lấy tiền của anh nữa, cho anh một trang web này, anh tự mình lên đó là tự khắc sẽ tìm được thứ anh cần.”

Một phút sau, tôi vào trang web mà anh ta đã cung cấp, lại bỏ ra mười lăm nhân dân tệ, rốt cuộc đã tra được ảnh chứng minh thư tương ứng với cái tên Trần Ngọc Long cùng số chưng minh thư kia. Tôi vừa nhìn đã nhận ra ngay, người trên ảnh chính là anh bạn luật sư mà tôi đã nhiều năm không gặp.

Tôi kiểm tra kĩ lại danh bạ điện thoại, thế nhưng chẳng thể nào tìm thấy cái tên Trần Ngọc Long đâu. Ngẫm lại cũng đúng thôi, chúng tôi đã gần tám năm không liên lạc với nhau rồi, mà trong tám năm này, tôi đã thay điện thoại cùng số điện thoại không biết bao nhiêu lần mà kể, làm sao mà còn giữ số điện thoại của cậu ta được. Một người bạn mà đã gần tám năm rồi không gặp, bây giờ bỗng dưng lại xuất hiện trong tầm mắt của tôi theo một phương thức như thế, điều này rốt cuộc mang ý nghĩa gì đây?

Các dòng suy nghĩ đều đã trở nên tắc nghẽn. Tôi nằm trên giường, cảm thấy đầu óc quay cuồng.

Sáng sớm ngày hôm sau, trên đường trở về, tôi liên lạc với văn phòng luật sư mà Trần Ngọc Long từng làm việc. Người phụ trách ở đó nói với tôi, không đầy hai năm sau khi Trần Ngọc Long rời đi, bọn họ đã hoàn toàn mất liên lạc với cậu ta. Anh ta chỉ biết rằng Trần Ngọc Long đã đến thành phố S (một thành phố trực thuộc của tỉnh khác), từng làm việc một năm ở một văn phòng luật sư mà trong tên có hai chữ “Khải Hàng”. Sau khi gác máy, tôi dùng điện thoại lên mạng tra cứu một chút, phát hiện ở thành phố S có ít nhất hai mươi mấy văn phòng luật sư mà trong tên có hai chữ “Khải Hàng”.

Muốn tìm được Trần Ngọc Long, e rằng tôi phải tự mình đến thành phố S một chuyến.

[47] Trong tiếng Hán, nếu không tính tới các từ địa phương hay từ cổ ít dùng, đại từ nhân xưng số ít ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai đều chỉ có một từ, lần lượt là 我 - wo và 你 - ni. Do đó, câu nói này lọt vào tai Vương Vĩ thì chẳng khác nào mẹ anh ta nói với anh ta bằng lối xưng hô “mẹ - con” như trong tiếng Việt, và đây thực chất cũng là điều mà Diệp Thu Vi mong muốn - ND.

[48] Một loại hình phạt ở Trung Quốc, được đưa ra khi tội phạm đáng tội chết nhưng không nhất thiết phải lập tức thi hành án. Loại hình phạt này thường có thời gian thử thách là hai năm, trong thời gian hai năm này nếu tội phạm không cố ý phạm tội thì sẽ được giảm án xuống còn tù chung thân, nếu lập được công lớn thì sẽ được giảm án xuống còn tù có thời hạn hai mươi lăm năm, còn nếu như có hành vi cố ý phạm tội và được chứng thực thì sẽ bị tuyên án tử hình lập tức thi hành - ND.

[49] Tại Trung Quốc, số chứng minh thư tổng cộng có mười tám chữ số, trong đó sáu chữ số đầu là mã vùng, tám chữ số tiếp theo là năm, tháng, ngày sinh (người Trung Quốc nói thời gian theo thứ tự năm, tháng ngày), ba chữ số tiếp theo là số thứ tự, trong đó riêng chữ số thứ mười bảy thì số lẻ được cấp cho nam, số chẵn được cấp cho nữ, còn chữ số cuối cùng thì là mã kiểm tra. Do đó, nhìn vào số chứng minh thư người ta có thể biết được người chủ sở hữu của nó nguyên quán ở đâu, tuổi tác thế nào, giới tính ra sao - ND.

« Lùi
Tiến »