Người Việt theo Cơ Đốc giáo hợp thành một nhân tố phức tạp trong xã hội Đại Việt thế kỷ XVIII, và là nhóm người mà vai trò rất hay thay đổi. Khi tôi nói về người Việt theo Cơ Đốc giáo, tôi đang miêu tả một nhóm người được hư cấu theo một cách nào đó, vì họ bao gồm nhiều người mà tư cách tín đồ Cơ Đốc giáo chỉ có trên danh nghĩa. Đó là những người mà sự gia nhập vào một tín ngưỡng mới được du nhập không phải là chuyện đặc biệt, cho đù sự mong muốn hay ước định của các giáo sĩ châu Âu có là gì đi nữa, người Việt có khuynh hướng thực hiện một chọn lựa cởi mở và thường nhìn tôn giáo một cách rất cụ thể. Tuy nhiên, thành phần “Cơ Đốc giáo” cũng có một lợi ích nào đó, vì nó được vận dụng bởi các nhân tố trong xã hội Đại Việt, ở cả mức độ của nhà nước lẫn của người dân*. Cũng có một điều rõ ràng là từ những nguồn cội đó, một số người Việt tự gắn bó chân thành với đức tin và đáp ứng sự cổ vũ của các giáo sĩ châu Âu. Những người này tự nguyện chịu sự nguy hiểm hoặc trả một cái giá nhất định (thường bằng tiền) để được phép tiếp tục hành đạo. Hơn nữa, các thành viên trong ban lãnh đạo nhà Tây Sơn có chủ tâm đàn áp người theo Cơ Đốc giáo (tuy có sự nhận diện) từ thời này qua thời khác, không như một thành phần xã hội có thật, có rất ít tính thần học, mà như một nhóm người được liên kết với những giáo sĩ ngoại quốc vốn được coi như những mối đe dọa tiềm tàng hay có thật đối với chế độ. Cuối cùng, trên bình diện địa phương, những cuộc xung đột trong phạm vi làng mạc và giữa các cá nhân với nhau đôi khi được khoác cho danh nghĩa “Cơ Đốc giáo”, khi việc làm như thế có thể phục vụ những lợi ích đặc biệt.
IV.1.1. Cơ Đốc giáo tại Đại Việt trước thời đại Tây Sơn
Giáo sĩ châu Âu đầu tiên đến Đại Việt vào năm 1533*, nhưng phải chờ đến năm 1596, giáo đoàn chính thức đầu tiên mới được thành lập tại đây. Hơn nữa, chỉ sau năm 1615, với sự trục xuất các giáo sĩ dòng Tên (dòng Jesuit) ra khỏi đất Nhật và lệnh này gây được sự chú ý trên những phần đất khác ở Đông Á, Cơ Đốc giáo mới bắt đầu có một chỗ đứng thực sự trên lãnh thổ Đại Việt. Việc đến Đàng Ngoài của giáo sĩ dòng Tên nổi tiếng người Pháp vào năm 1627 đánh dấu một bước ngoặt trong sự bành trướng của Cơ Đốc giáo trên lãnh thổ Đại Việt. De Rhodes dành thời gian cho cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong 18 năm trước khi bị trục xuất vào năm 1645*. Sự trục xuất ông không làm chậm đi sự phát triển của Cơ Đốc giáo, và nhiều giáo sĩ khác sớm tiếp bước de Rhodes trong việc thành lập các giáo đoàn, trường học, và nhà thờ, đặc biệt ở Đàng Ngoài, song cũng có một số cơ sở nhỏ hơn ở phần đất phía nam.
Sự du nhập của Cơ Đốc giáo vào Đại Việt là một việc làm tương đối dễ, ít nhất về mặt thần học, do cơ cấu tôn giáo của Đại Việt lúc đó - bao gồm sự pha trộn không rõ ràng của Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo và tín ngưỡng dân gian - hoàn toàn cởi mở và không thù nghịch đối với việc du nhập một hệ thống tín ngưỡng hay các hình thức mới. Tôn giáo mới xâm nhập vào nhiều giai tầng khác nhau của xã hội, cho dù có thể nó thành công nhất trong số người sống bên lề xã hội Đàng Ngoài về mặt kinh tế. Mặc dù là tôn giáo mới chứa đựng một không khí văn hóa dễ chịu, Cơ Đốc giáo cũng phải đương đầu với nhiều trở lực, cả về mặt thần học lẫn chính trị. Như các giáo sĩ châu Âu đã thuyết giáo, Cơ Đốc giáo có sự bất đồng với các cách hành đạo hiện hành, đặc biệt những cách hành đạo không chấp nhận khả năng có một thần linh duy nhất và sự tôn sùng đó có thể phát sinh từ những thực thể khác hơn một đấng thần linh cao cả. Sự căng thẳng này biểu hiện trong những từ ngữ cụ thể vào thế kỷ XVIII, khi một số giáo sĩ, và sau này là các tu sĩ người bản xứ, cấm đoán người Việt mộ đạo Cơ Đốc giáo tham gia vào những cuộc hành lễ được coi là đa thần hay sùng bái thần tượng- Vì thế khi các làng mạc tổ chức lễ hội và kêu gọi sự đóng góp hay tham gia của người dân, những người Cơ Đốc giáo mộ đạo thường từ chối. Ngay trong cộng đồng các nhà truyền giáo vào cuối thế kỷ XVIII, đã có những cuộc tranh luận sôi nổi (mặc dù vấn đề đã được bàn luận trước đó) về việc nên xem nhiều cách hành lễ theo truyền thống của người Việt là thuộc về đời hay đạo*. Biểu hiện đáng chú ý nhất trong cuộc tranh luận này tập trung vào vấn đề thái độ của người Cơ Đốc giáo Đại Việt đối với tổ tiên của họ. Do nhiều giáo sĩ coi đồ cúng và sự quỳ lạy trước bàn thờ tổ tiên là sự thờ cúng sai trái, họ can ngăn hoặc công khai cấm đoán người Việt theo Cơ Đốc giáo thực hiện những nghi thức này. Vì thế, người Việt theo Cơ Đốc giáo và các giáo sĩ châu Âu phục vụ họ đã tham gia vào một cuộc tranh cãi về nghi thức từng gây ra những vấn đề to lớn cho giáo đoàn Cơ Đốc giáo tại Trung Quốc vào thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII.
Trong khi quan hệ mật thiết về mặt xã hội và triết lý của Cơ Đốc giáo tạo nên một nhân tố thách thức các vua chúa Đại Việt, những người chịu trách nhiệm du nhập tôn giáo này vào Đại Việt tạo ra một mối quan hệ khác. Đôi khi sự nghi ngờ đối với các giáo sĩ châu Âu thể hiện bằng những nỗ lực dứt khoát cầm tù và trục xuất họ, trong khi vào những giai đoạn khác, triều đình Đại Việt vẫn dành cho họ sự khoan thứ. Trong cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh vào giữa thế kỷ XVII, các giáo sĩ có thể tự xem mình như những người dẫn dắt đến công nghệ vũ khí tiên tiến bằng cách phóng đại vai trò của họ, tác động lên việc mua bán vũ khí, và đe dọa rằng việc trục xuất họ sẽ kết thúc dòng vũ khí đổ vào Đại Việt. Đã bận tâm về tác động xã hội và tâm linh của một tôn giáo ngoại lai, vào lúc này, các vua chúa còn bận tâm hơn nữa với việc duy trì lợi thế về công nghệ mà họ tin rằng các ông giáo sĩ này có thể mang lại cho họ. Vì thế, các giáo sĩ, đặc biệt là giáo sĩ Pháp, có thể sử dụng các mối quan hệ thương mại như một lợi thế để lưu lại Đại Việt ngay cả khi họ đang ở vào một tình thế tế nhị.
Khi cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh rơi vào tình trạng bế tắc vào đầu thập niên 1670, tình cảnh của các giáo sĩ châu Âu trở nên nguy hiểm hơn, đặc biệt ở Đàng Ngoài. Mặc dù Cơ Đốc giáo đã bị cấm đoán trên cả hai lãnh thổ của họ Trịnh và họ Nguyễn và các chúa ở cả hai miền cấm các giáo sĩ châu Âu vào trong lãnh thổ của họ, song chính vua Lê-chúa Trịnh ở Đàng Ngoài mới theo đuổi cách cư xử hùng hổ hơn. Ban đầu, chúa Trịnh cấm Cơ Đốc giáo bằng chỉ dụ năm 1664, rồi lặp lại lệnh cấm vào năm 1669. Một thời gian sau, sự dính líu rõ ràng của người Pháp trong một âm mưu chống lại vua Xiêm vào năm 1685 - cuối cùng tin tức đến tai các vua chúa ở Đại Việt - khiến họ tiếp tục nghi ngờ giới giáo sĩ và gia tăng nỗ lực đàn áp "đạo của người Bồ Đào Nha”*. Những nỗ lực này tiếp tục trong thế kỷ XVIII, khi các chúa Trịnh ban hành đều đặn các chỉ dụ cấm đạo*.
Dù cho những cấm đoán này được lặp đi lặp lại, chúng cũng là chứng cớ cho thấy sự vô hiệu của những nỗ lực của chúa Trịnh nhằm ngăn chặn sự lan truyền của Cơ Đốc giáo, có vẻ như trên thực tế đã có sự mở rộng tự do tôn giáo ở Đàng Ngoài từ giữa thập niên 1720 đến đầu thập niên 1770. Với cái chết của chúa Trịnh Doanh* vào năm 1767, tình hình bất ổn trở lại, nhưng người kế nghiệp ông là Trịnh Sâm lúc đầu vẫn tiếp tục chính sách khoan thứ với Cơ Đốc giáo. Năm 1771, chúa Trịnh thả hai giáo sĩ châu Âu đã bị giam cầm nhiều năm trước đó. Đó là cao điểm của sự khoan thứ trong thời gian ở ngôi chúa của Trịnh Sâm, vì hai năm sau, một cuộc đàn áp khác diễn ra đưa đến sự bắt giữ và hành hình một giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Dominican và một tu sĩ Việt.
Phản ứng của cộng đồng Cơ Đốc giáo trước sự hành hình, trong đó có sự tôn vinh hai nạn nhân, khiến cho Trịnh Sâm lại ban một chỉ dụ buộc Cơ Đốc giáo phải bị trừ tiệt trong vòng hai tháng.
Ngay cả loạt biến động đó cũng không khiến cho sự hành đạo Cơ Đốc giáo phải diễn ra trong vòng bí mật, và trong một số trường hợp, việc thực hiện tín ngưỡng đã từ bên lề được chuyền vào trung tâm xã hội. Một số thành viên của dòng họ đang thống trị Đàng Ngoài cũng trở thành tín đồ Cơ Đốc giáo, trong đó có một người chị (hay em gái) của chúa Trịnh Sâm và một trong những anh (em) rể của ông. Người cầm đầu quân Trịnh xâm chiếm Đàng Trong vào năm 1774 là hoạn quan Hoàng Ngũ Phúc cũng nổi tiếng là một người Cơ Đốc giáo và cư xử dễ chịu với tín ngưỡng này. Thật vậy, năm 1775, một giáo sĩ viết rằng một số nhân vật quan trọng của chúa Trịnh có liên quan đến cuộc đánh chiếm Đàng Trong là người Cơ Đốc giáo, một trường hợp mà chúa hi vọng sẽ là điềm lành đối với các tín đồ Cơ Đốc giáo trong vùng. Mặc dù có những dấu hiệu đầy hứa hẹn này, song ngay năm sau, một thư giáo sĩ viết từ châu thổ sông Hồng cho rằng tình hình tôn giáo ở đó đã trở nên rất tồi tệ và sẽ là một trở lực lớn cho Cơ Đốc giáo ở Đại Việt nếu như quân Trịnh chiến thắng quân nhà Nguyễn. Chủ nghĩa hoài nghi này được xác minh mấy năm sau đó, vào năm 1779, khi chúa Trịnh ban hành một chỉ dụ khác kêu gọi bắt giữ và hành hình ngay tất cả những giáo sĩ châu Âu.
Trong lúc đó, Cơ Đốc giáo tại Đàng Trong được phép tồn tại với sự can thiệp tương đối nhẹ nhàng của chính quyền từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XVIII, cho dù đôi lúc cũng có sự cấm đoán. Các giáo sĩ châu Âu, phần lớn thuộc dòng lesuit hiện diện tại phủ chúa Nguyễn trong một phần thế kỷ XVII và XVIII. Các chúa Nguyễn muốn giám sát sự hành đạo của các tu sĩ dòng Jesuit vì họ muốn sử dụng tài năng về khoa học của những người này. Những người này phục vụ tại Phú Xuân với tư cách y sĩ, nhà toán học, thông ngôn, và nhà thiên văn học, cùng khả năng với những người đồng đạo của họ từng đảm trách trước đấy ở triều đình Trung Quốc*. Tu sĩ dòng lesuit người Bồ Đào Nha Joao Loureiro chẳng hạn, đã từng cư trú trong phủ chúa từ thập niên 1740 đến lức ông ra đi vào năm 1777 (với khoảng thời gian trống hai năm từ 1750 đến 1752), và hai tu sĩ dòng Jesuit khác là Johann Koffler và Xavier de Monteiro, cũng ở tại phủ chúa một thời gian vào thập niên 1750.
Năm 1750, sự đàn áp Cơ Đốc giáo được tái tục, người thực hiện là chúa Nguyễn Phúc Khoát đầy quyền uy, tiếp nối những nỗ lực của ông nhằm ngăn chặn những lời tiên tri báo trước sự kết thúc của nhà Nguyễn. Trong khoảng thời gian này, sự khủng bố lại tiếp tục, chúa Nguyễn cho phép Koffler và Monteiro ở lại phủ chúa (mặc dù đến năm 1755 thì Koffler ra đi), và Loureiro quay lại sau đúng hai năm vắng mặt. Cố nhiên là chúa duy trì sự mâu thuẫn liên quan đến Cơ Đốc giáo khi ông tìm cách tách các giáo sĩ là nhà khoa học châu Âu ra khỏi sứ mạng của họ. Cái chết của vị chúa cai trị lâu dài vào năm 1765* khiến cho thái độ ứng xử chính thức đối với Cơ Đốc giáo được dịu đi, nhẹ nhàng nhất vào năm 1774, khi một chỉ dụ cho phép tự do hành đạo và giảm nhẹ tội cho những ai đã bị trừng phạt trước đây vì đức tin của họ. Tuy nhiên, khi ở vào đỉnh điểm cuộc tấn công quan trọng đầu tiên của nhà Tây Sơn chống lại chúa Nguyễn, không rõ là các quan lại có thời gian hành động theo những lời lẽ của chỉ dụ đã ban hành trước khi chúa Nguyễn bị đánh bật khỏi Phú Xuân không.
Cho dù thường có những chỉ dụ chống Cơ Đốc giáo và những cuộc đàn áp định kỳ, số người Việt được rửa tội vào các thế kỷ XVII và XVIII tiếp tục gia tăng. Ước tính vào thập niên 1660, số tín đồ Cơ Đốc giáo ở phía bắc là 350.000 người*, và có lẽ con số đầy tính lạc quan này cho thấy tính năng động trong công việc của giáo đoàn châu Âu. Một tài liệu dè dặt hơn công bố năm 1754 cho biết chỉ có từ 30.000 đến 40.000 tín đồ Cơ Đốc giáo trong cùng một khu vực trên, có lẽ phản ánh một thế kỷ có sự can thiệp tích cực của chính quyền chống lại Cơ Đốc giáo, và cũng có thể đó là cách hiểu hạn hẹp hơn của một tín đồ*. Ba mươi năm sau, một tài liệu năm 1784 lại đưa số tín đồ Cơ Đốc giáo lên giữa hai con số 350.000 và 400.000. Ở Đàng Trong dân số ít hơn, con số ước đoán lượng tín đồ Cơ Đốc giáo trong cùng thời điểm thấp hơn rất nhiều, chỉ khoảng giữa hai con số 10.000 và 15.000 người. Ở cả hai nơi, đặc biệt ở Đàng Ngoài, người Cơ Đốc giáo hình thành một thiểu số rõ rệt trong một dân số chung vào thời điểm đó nằm giữa khoảng từ 5,5 triệu đến 10 triệu người*.
IV.1.2. Người Việt theo Cơ Đốc giáo và nhà Tây Sơn: từ năm 1771 đến năm 1786
Đầu thập niên 1770, khi anh em nhà Tây Sơn bắt đầu từ làng mạc tăm tối vươn đến danh vị hoàng gia, tình trạng của Cơ Đốc giáo ở cả hai lãnh thổ của chúa Trịnh và chúa Nguyễn vẫn còn mơ hồ, khi sự chính thức phản đối của nhà nước xung đột với tiếng gọi của tôn giáo cả trong các nhóm dân làng đông đúc lẫn thiểu số những gương mặt ưu tú ở cung đình. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi Cơ Đốc giáo tiếp tục có một ảnh hưởng đáng kể trong xã hội Đại Việt, một thứ ảnh hưởng dâng cao lên trong thời kỳ Tây Sơn khi sự căng thẳng giữa bộ máy nhà nước và nhóm người này tăng cao.
Mặc dù tín đồ Cơ Đốc giáo là một nhóm người nằm bên lề xã hội, họ sớm bị lôi cuốn vào những biến động trong thời kỳ Tây Sơn và có một số chỉ dấu cho thấy rằng họ hiện diện ngay trung tâm cuộc nổi dậy. Có nhiều giai thoại kể rằng anh em Tây Sơn xuất thân từ một gia đình có quan hệ với Cơ Đốc giáo và thậm chí họ cũng có thể là tín đồ của tôn giáo này. Một tu sĩ châu Âu viết rằng cha của họ là một người Cơ Đốc giáo bỏ đạo và khi còn bé thơ, Nguyễn Nhạc đã được làm lễ rửa tội. Một người khác cho biết Nhạc có tên thánh là Paul và người lãnh đạo Tây Sơn tự xưng là “Paul Nhạc”. Truyện kể về anh em Tây Sơn cho rằng nền tảng Cơ Đốc giáo của họ cứ mở rộng dần và khi các lãnh tụ Tây Sơn đến Thăng Long năm 1786, một giáo sĩ đã viết “thỉnh thoảng có tin tức loan truyền rằng hai Đức ông là người Cơ Đốc giáo, và rằng có một số người Cơ Đốc giáo trong các quan lại cũng như binh lính của họ”. Một năm sau, một bức thư khác viết rằng người anh cả của nhà Tây Sơn được nhiều người nhắc đến là “cái ông Nhạc bỏ đạo đó”. Cuối cùng, một tu sĩ Việt thuộc dòng Jesuit là Philiphê Bỉnh đã viết là chẳng những anh em Tây Sơn xuất thân từ một gia đình Cơ Đốc giáo, mà chính sự sùng đạo của cha mẹ họ đã đưa họ đến sự nổi dậy:
“Hai anh em Thái Đức và Quang Trung [sử dụng niên hiệu của họ sau này] được nuôi nấng cùng nhau, và cha của họ là một người Cơ Đốc giáo. Tuy nhiên, ông không thể giáo dục các con ông về đức tin bởi vì vào mỗi đầu hôm, khi người cha và người mẹ đọc thánh kinh, hát thánh ca và kêu họ thì họ chạy trốn và không thể nào đọc thánh kinh và hát cùng cha mẹ họ. Khi cha mẹ họ trừng phạt họ thì họ lập tức chạy vào rừng và trở thành kẻ cướp”.
Không thể xác định cái nào trong những tác phẩm trên, chúng có thể kể lại những tin đồn đương thời hoặc phản ánh suy nghĩ đầy mong ước của các thành viên trong cộng đồng giáo sĩ lúc bấy giờ. Song cũng có chứng cứ cho thấy trong gia đình của anh em nhà Tây Sơn có vài người theo Cơ Đốc giáo. Một giáo sĩ đi đến gần Qui Nhơn vào năm 1778 đã gặp một phụ nữ mà ông miêu tả như là dì của lãnh tụ cuộc nổi dậy và kể rằng bà này là một người Cơ Đốc giáo sùng đạo. Bà rất hiếu khách khi tiếp các giáo sĩ đến thăm bà và từng đóng góp tiền cho giáo đoàn. Chúng tôi cũng biết rằng vào thập niên 1650, trong thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, tổ tiên của anh em nhà Tây Sơn đã từ vùng phía bắc của Nghệ An chuyển đến Qui Nhơn và có thể hiểu được rằng gia đình họ đã gặp các giáo sĩ dòng Jesuit đang hoạt động ở Đàng Ngoài vào các thập niên 1630 và 1640.
Nếu như anh em Tây Sơn có một quan hệ cá nhân nào với Cơ Đốc giáo, điều đó không có một tác động rõ rệt nào lên thái độ của họ đối với tôn giáo hay những người hành đạo. Hành động của các lãnh tụ Tây Sơn đối với đức tin thay đổi rất nhiều, và không thể nêu lên mối tương quan giữa một nền tảng Cơ Đốc giáo về phía họ với một cách cư xử đặc biệt nào đối với tôn giáo. Tính cách không đoán trước được trong thái độ của nhà Tây Sơn đã biểu hiện ngay vào những ngày đầu tiên của cuộc nổi dậy. Ở một số nơi, nhà thờ bị quân Tây Sơn cùng những đạo quân liên minh với họ cướp phá. Tài liệu của một giáo sĩ Tây Ban Nha viết vào năm 1774 cho rằng một nhóm 17 kẻ nổi loạn xuất hiện tại ngôi nhà thờ nông thôn nhỏ bé của ông vào giữa tháng ba và lấy đi tất cả những thứ gì có giá trị mà họ tìm thấy, gồm cả nến và vải phủ bàn thờ. Năm sau, giáo sĩ Pháp Pierre-Jacques Halbout, sống chỉ cách Đà Nẵng 6 dặm đường, viết rằng có 60 ngôi nhà của những người Cơ Đốc giáo trong cái huyện nhỏ bé của ông đã bị các kẻ nổi loạn đốt cháy*.
Ngay khi một số người trong đạo quân của họ cướp phá đồ nhà thờ và dùng đuốc đốt cháy nhà người Cơ Đốc giáo, những phần tử khác của quân Tây Sơn lại thể hiện thiện chí đối với tín ngưỡng và các giáo sĩ châu Âu. Một tác phẩm vào thế kỷ XIX bình luận về cách xử sự tích cực của nhà Tây Sơn đối với người Cơ Đốc giáo trong thời kỳ đầu như sau:
“Với vấn đề đức tin, tình hình yên ắng do quân Tây Sơn không quan tâm đến vấn đề tôn giáo. Người dì của vua Thái Đức là một người Cơ Đốc giáo và đã giúp cho tín ngưỡng được phát triển bằng nhiều cách khác nhau. Có lẽ ông nhớ là mẹ ông cũng là một tín đồ Cơ Đốc giáo. Vì những lý do đó, tất cả các giáo sĩ, bất luận ở phương Tây hay phương Đông, đều có thể đi khắp nơi và làm mọi việc mà không gặp một sự can thiệp nào”.
Hơn nữa, giáo sĩ Tây Ban Nha, người từng kể rằng tất cả những gì ông có đều bị quân nổi loạn cướp phá, đã viết thêm là không lâu sau sự kiện này, một vài quan lại Tây Sơn đến thăm ông và hứa cho 30 quân bảo vệ ông, cũng như cho ông được tự do công khai giảng đạo và xây dựng nhà thờ. Họ cũng tặng ông “rất nhiều bạc” song ông từ khước. Đổi lại với những lời hứa hẹn và tặng vật này, các quan chức Tây Sơn xin thuốc men và thậm chí cố nài họ làm công việc của một bác sĩ, một đề nghị mà các giáo sĩ thường từ chối. Những nỗ lực nài ép các giáo sĩ cho thấy các lãnh tụ Tây Sơn quan tâm đến kỹ năng của người châu Âu, và điều này giúp giải thích việc họ đôi khi cư xử tốt với giới giáo sĩ.
Việc cư xử không đoán trước được của quân đội Tây Sơn đối với nhà người Cơ Đốc giáo trong những ngày đầu của cuộc nổi dậy là dựa vào các điều kiện của địa phương và không xuất phát từ mệnh lệnh của trung ương. Tuy nhiên, khi các lãnh tụ Tây Sơn củng cố và thể chế hóa việc họ nắm lấy quyền hành, họ bắt đầu công bố các chỉ dụ chính thức về tôn giáo. Chỉ dụ đầu tiên mà chúng ta biết là do Nguyễn Nhạc ban hành năm 1779 công nhận quyền tự do tôn giáo cho những người sống trên lãnh thổ của ông. Đó là một chỉ dụ đặc biệt nhắm vào người Cơ Đốc giáo. Động lực dẫn đến chỉ dụ này không rõ ràng, cho dù nó có vẻ như là một toan tính của các lãnh tụ Tây Sơn nhằm tranh thủ sự hỗ trợ của các giáo sĩ châu Âu. Cũng có những chỉ dấu cho thấy rằng Nhạc cấp cho một số giáo sĩ những giấy viết tay cho phép họ tự do đi lại và hoạt động tôn giáo, ít nhất trong khu vực gần nhất quanh trung tâm chính trị của nhà Tây Sơn. Có lẽ do những động thái như thế mà Nguyễn Nhạc tuyển được hai giáo sĩ dòng Dominican người Tây Ban Nha phục vụ lâu dài tại cung đình của ông ta ở Qui Nhơn vào những năm đầu thập niên 1780.
Mặc dù có chỉ dụ đầy tính rộng lượng trên và sử dụng các giáo sĩ tại cung đình của mình, các thành viên trong ban lãnh đạo nhà Tây Sơn, đặc biệt là Nguyễn Nhạc, tiếp tục gây ra nỗi hoài nghi liên quan đến cộng đồng Cơ Đốc giáo và những người châu Âu bảo trợ cho họ. Những nỗi hoài nghi này gia tăng suốt những năm đầu thập niên 1780, trong lúc có chứng cứ là phía chúa Nguyễn nhận được sự ủng hộ của một số giáo sĩ châu Âu, nổi bật nhất là Giám mục Bá Đa Lộc. Vị Giám mục người Pháp là người tâm phúc và từ năm 1777, ông là người tranh đấu không mỏi mệt cho một Nguyễn Ánh còn trẻ tuổi, vai trò ngày càng rõ nét của ông đã gây ra mối hoài nghi của các lãnh tụ Tây Sơn về tất cả những người châu Âu đang sống ở Đại Việt. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các lãnh tụ Tây Sơn cho rằng người châu Âu, đặc biệt là các giáo sĩ, có những mối liên kết chặt chẽ với vị giám mục.
Tiềm ẩn trong sự căng thẳng này là khuynh hướng của các giáo sĩ coi nhà Tây Sơn như những người cai trị bất hợp pháp, một quan điểm xuất hiện trong những ngày đầu tiên của cuộc nổi dậy. Một giáo sĩ Tây Ban Nha viết rằng ông ta và ông giáo sĩ bạn tỏ ra do dự trong việc ủng hộ nhà Tây Sơn, bởi vì họ giải thích phong trào này nhắm vào việc chống lại một vị vua hợp pháp:
“Tất cả giáo sĩ tỏ ra hàm ơn về thiện ý của các quan lại Tây Sơn, nhưng khi phong trào nhắm đến việc chống lại chúa Nguyễn... chúng tôi biểu lộ công khai một sự lãnh đạm hoàn toàn, tuyên bố rằng chúng tôi không dính dáng gì đến những vấn đề này, và khuyên nhủ các tín đồ Cơ Đốc giáo hãy tuân phục vì vua của họ. Bằng một ý thức trong sáng, chúng tôi nói với họ rằng họ không nên liên kết với cuộc nổi dậy, mặc dù cuộc nổi dậy này được thúc đẩy bởi một số mục tiêu chính trị. Vì thế, chúng tôi nghĩ đến việc truyền dẫn cho người Cơ Đốc giáo sự tuân phục đối với vị chúa của họ và tránh việc có thành kiến đối với giáo đoàn”.
Nỗ lực của giáo đoàn nhằm truyền rao cho các nhà cai trị dân sự ý niệm về lòng trung thành được định trong kinh thánh đang là nguồn gốc căng thẳng giữa các lãnh tụ Tây Sơn và người châu Âu*. Trong bất cứ trường hợp nào, những toan tính nhầm tránh “thành kiến đối với giáo đoàn” thường bị tổn thương bởi những hành động của Bá Đa Lộc nhân danh chúa Nguyễn Ánh; những hành động đó về sau gây ra rất nhiều khó khăn cho những người Âu sống dưới quyền hành của nhà Tây Sơn.
Khoảng thời gian mà nhà Tây Sơn có thái độ nương nhẹ đối với Cơ Đốc giáo thông qua chỉ dụ năm 1779 không kéo dài được lâu, thì một loạt những biến động xảy ra dẫn đến sự đàn áp thẳng tay những người Cơ Đốc giáo sống trên các lãnh thổ dưới quyền nhà Tây Sơn. Năm 1780, Nguyên Nhạc bắt giữ Jean-Pierre-Joseph D’Arcet, giáo sĩ Pháp duy nhất đang hoạt động trên lãnh thổ Tây Sơn, cùng với nhiều môn đồ Cơ Đốc giáo của ông ta. Cho dù có thể D'Arcet bị bắt giữ do đã hành đạo ở sát cạnh Qui Nhơn (một khu dân cư được nương nhẹ rất nhiều), lúc đó có tin đồn rằng ông ta bị bắt giữ do nhà Tây Sơn hi vọng giữ ông ta như một phái viên được phái tới châu Âu. Nhìn các lãnh tụ Tây Sơn với một cái nhìn mang nặng tính giáo điều, cách giải thích sau có vẻ hợp lý nhiều, một lần nữa cho thấy rằng hành động của họ đối với người Cơ Đốc giáo được dẫn dắt bởi những mục tiêu chính trị trước mắt hơn là những suy xét mang tính ý thức hệ bao quát hơn.
Nếu các lãnh tụ Tây Sơn biết được những hoạt động của giới giáo sĩ gần Qui Nhơn, họ cũng có thể nghĩ xa hơn về những hoạt động đó. Khi quân đội Tây Sơn hành quân qua Chân Lạp vào năm 1782, họ bắt một số giáo sĩ Tây Ban Nha và đóng gông đưa những người này về Sài Gòn. Trong số những người bị bắt có Ferdinand de Olmedilla. Người ta kể rằng khi Nguyễn Nhạc thấy viên giáo sĩ, ông ta đã la to: “Cha Felon đây mà, ông ta đã hứa chở cho chúng ta một tàu kim loại đồng, vậy mà trở về nước ông ta chở đồng cho ông Chủng [Nguyễn Ánh] để ông ta chạy cỗ máy chiến tranh... Gông cổ ông ta ngay lập tức”*. Điều đó cho thấy rằng nhà Tây Sơn tiếp tục những nỗ lực (có vẻ như không thành công) nhằm sử dụng các giáo sĩ đang tranh đấu bên chúa Nguyễn. Khi Oimedilla tìm cách làm dịu sự giận dữ của Nguyễn Nhạc bằng cách trưng ra giấy phép Nhạc đã cấp cho ông ta đi thu nạp tín đồ ở Qui Nhơn, vua Tây Sơn tuyên bố rằng giấy phép đó không có hiệu lực bên ngoài khu vực sát cạnh Qui Nhơn. Sau khi lôi giáo sĩ Tây Ban Nha vào Sài Gòn, vua Tây Sơn ra lệnh là Olmedilla phải được đưa trở về kinh đô của phe nổi dậy. Khi ông ta được chuyển ra Qui Nhơn bằng đường biển, một cơn bão thổi đến, nhiều tàu đi theo bị lật úp. Vị lãnh đạo nhà Tây Sơn tố cáo Oimedilla đã làm phép thuật gọi giông bão và ngay lập tức ra lệnh hành quyết ông ta*.
Ngay vào lúc Nhạc phát triển địa vị vững vàng của ông ta, thì người em trai là Nguyễn Huệ giữ một thái độ ôn hòa và thực dụng hơn đối với người Cơ Đốc giáo. Sự bất đồng quan điểm giữa hai anh em được minh họa trong một giai thoại liên quan đến một tình tiết có lẽ xảy ra vào năm 1783 hoặc đầu năm 1784. Một giáo sĩ Pháp đã kể lại câu chuyện:
"Vị vương trẻ tên là Đức Em [Nguyễn Huệ] qua nơi đó sau khi đi thăm vị vua là anh của ông; ông ngạc nhiên trước một đám đông như thế... những kẻ giàu nghèo, mạnh yếu thông báo cho ông những gì đang xảy ra, Nhờ một viên quan, ông biết rằng chính lệnh của nhà vua [Nhạc] bắt giữ tất cả những người giảng đạo và những người theo Cơ Đốc giáo. Không bằng lòng điều đó, vị vương trẻ yêu cầu thả tất cả ra và chuyển cha Emmanuel cho ông. Viên quan phụ trách về tư pháp trả lời rằng ông ta không thể làm thế, vì đã nhận lệnh của nhà vua phải bắt giữ họ. Vị vương đưa ra yêu cầu lần thứ hai là cha Emmanưel phải được chuyển cho ông, và ông sẽ tự chịu trách nhiệm trông coi giáo sĩ này, song viên quan vẫn khước từ.
Vị vương trở nên giận dữ, đi xuyên qua đám đông và đến nhà viên quan tư pháp, ra lệnh cho quân lính của ông kêu gọi sự rộng lượng của các quan lại và lấy đi tất cả tài sản của họ, đồng thời tháo gông cho các giáo sĩ. Rồi ông đến ra mắt nhà vua, nói với sự giận dữ: ‘Vương huynh đang làm gì thế? Chúng ta đang có chiến tranh với nhiều phía, chúng ta đang kết hợp mọi người lại để làm điều đó, vậy mà huynh bắt giữ tất cả những người Cơ Đốc giáo. Nếu họ quay lại chống ta, chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta chống lại họ như thế nào?'. Đức vương không biết trả lời ra sao với những câu hỏi đó... và khi chiều đến, ông nói: ‘Ta không biết gì về chuyện đó; hãy làm như đệ muốn'. Nghe thế, Đức Em trả lời một cách dũng cảm: ‘nếu đệ có thể làm hoàn toàn theo ý muốn, đệ sẽ ra lệnh thả hết họ ra’. ‘Hãy làm thế đi', Đức vương trả lời... và vị vương ra lệnh thả hết những người Cơ Đốc giáo”*.
Tài liệu này cho thấy có sự phân hóa trong nội bộ các nhà lãnh đạo Tây Sơn trong việc hành xử đối với người theo Cơ Đốc giáo, cho dù quan điểm của họ vẫn còn mềm dẻo.
Trong lúc rõ ràng là Nguyễn Nhạc đã đàn áp những người Cơ Đốc giáo vào năm 1783 hay 1784, thì vào mùa hè năm 1785, có những báo cáo cho rằng ông nới lỏng những hạn chế gắt gao này và dành cho các giáo sĩ châu Âu sự tự do hoàn toàn trong việc chăm sóc những người mộ đạo của họ trong khu vực quanh phủ lỵ Qui Nhơn. Điều này cũng cho thấy sự nương nhẹ chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vì đến tháng 11.1785, Nhạc lại đàn áp Cơ Đốc giáo bằng cách ban hành một chỉ dụ chống lại tôn giáo:
"Ta mong muốn triệt tiêu khỏi đất nước của ta một tôn giáo của người Tây dương đang lan rộng. Đó là một giáo phái không công nhận cả cha lẫn vua; ta không rõ chúng mang tới cho con người loại độc dược nào khiến họ đi theo; giáo phái đó không tôn trọng luật pháp của chúng ta, không tôn kính thần hộ mệnh của chúng ta; đêm đêm chúng đọc kinh sách, và tập hợp chung đụng nam nữ mà không một chút xấu hổ; chúng là những kẻ ăn không ngồi rồi, chỉ thích rong chơi, không hề làm việc gì để tạo lập của cải hay tài sản thừa kế; cuối cùng, chúng không biết đỏ mặt vì xấu hổ khi bị trừng phạt... Vì những lẽ đó và những điều ta biết, ta ra lệnh phá hủy tất cả nhà chung của chúng, [và] sẽ lập một bảng liệt kê danh sách chính xác tất cả những ai tham gia vào tôn giáo này. Những ai đang trong tình trạng chuyên chở vũ khí sẽ bị ghi tên sung vào quân ngũ”.*
Chỉ dụ này tóm lược những lý lẽ của nhà nước Đại Việt chống lại Cơ Đốc giáo, miêu tả quyết định cấm tôn giáo xuất phát từ tác động phá hoại xã hội mà nó gây ra. Cơ Đốc giáo được coi là sự thách thức đối với các nghĩa vụ gia đình và chính trị của Khổng giáo, vì nó "không công nhận cả cha lẫn vua”. Trong sự phục tùng những người bề trên theo giáo điều của Khổng giáo, sự tôn kính người cha và ông vua (một gương mặt khác của người cha) là căn bản của trật tự xã hội, và do có tính nổi loạn cố hữu, tôn giáo được xem là sự thách thức (dù cho trên thực tế, chưa biết được những người tham gia có phá bỏ trật tự. xã hội hiện hành hay không, và nhiều người thì không). Nhạc không nói lên quan điểm trên với tư cách một người theo Khổng giáo, những điều cơ bản trong chỉ dụ trên có thể phản ánh ảnh hưởng của các cố vấn của Nhạc lên ông ta.
Người Cơ Đốc giáo được chọn nói đến trong chỉ dụ này do họ “không tôn kính các vị thần hộ mạng của chúng ta”. Có lẽ đó là nguồn gốc phổ biến và rõ ràng nhất của sự căng thẳng xã hội tồn tại ở những khu vực nơi người Cơ Đốc giáo sinh sống. Sự kiện họ thiếu thiện chí trong việc đóng góp vào những nghi thức của làng xã có liên quan đến thần hộ mạng cho thấy họ là những kẻ ngoài cuộc và bất đồng quan điểm, nếu không về mặt chính trị thì cũng về mặt xã hội. Cho dù một số giáo sĩ, đặc biệt là giáo sĩ dòng Jesuit, đã nhấn mạnh đến việc họ thích ứng với phong tục địa phương, những người khác (chủ yếu từ các tổ chức thế tục như Hội Truyền giáo Hải ngoại Paris, MEP) nhấn mạnh rằng người Việt theo Cơ Đốc giáo không phải đóng góp tiền cho những buổi lễ nhằm kỷ niệm hay tôn vinh các vị thần hộ mạng tại địa phương. Vì thế, nhiều làng xã lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc. Trong một số trường hợp, những dân làng không phải là người Cơ Đốc giáo đưa vấn đề ra cơ quan tư pháp, nhằm mục đích buộc người theo Cơ Đốc giáo trong làng phải thanh toán phần đóng góp của họ vào chi phí cộng đồng của những buổi lễ này. Trong những trường hợp khác, làng xã bị chia tách ra, với một nhóm người kéo nhau sang một khu vực khác để hình thành một nơi ở mới.
Với tất cả những lý do được miêu tả tỉ mỉ về việc cấm tôn giáo hoạt động, các giáo sĩ châu Âu cho rằng chỉ dụ trên được thúc đẩy chủ yếu bởi ý muốn trả thù. Hình như Nhạc khó chịu vì thất bại trong việc thuyết phục các giáo sĩ phương Tây cung cấp cho kim loại đồng chở từ châu Âu sang, đã bị Olmedilla lừa gạt trong chuyện này, vì thế ông ta đã sử dụng chỉ dụ như một phương tiện để trừng phạt tập thể những tín đồ Cơ Đốc giáo, vì những việc làm được cho là tệ hại của các giáo sĩ. Tuy nhiên, cùng lúc đó, chỉ dụ mang lại cho Nhạc nhiều lợi ích thực tế. D’Arcet, giáo sĩ Pháp hoạt động trong lãnh thổ do Tây Sơn kiểm soát vào các thập niên 1770 và 1780, viết rằng chỉ dụ ra lệnh cho tất cả những người Cơ Đốc giáo phải đăng ký và sổ đăng ký này được chuyển đến triều đình, để cho tất cả những người có tên trong danh sách có thể được “sử dụng như là những nô lệ phục vụ cho đức vua cùng các quan lại của ông”*. Nhạc cũng dành cho người Cơ Đốc giáo một sự chọn lựa thứ hai, cho phép họ thanh toán một khoản “tiền phạt” tính ra 10 “đồng livre” bằng đồng thay vì phải từ bỏ tín ngưỡng của họ*.
Việc thu các khoản tiền phạt (hay thuế) như thế - một cách hành thu từng được quan lại của chúa Trịnh ở các trấn và cả các chúa Nguyễn ở phía nam thực hiện - có ích cho các lãnh tụ Tây Sơn vì nhiều lý do. Trước hết, nó cho phép họ dễ dàng nhận diện người Cơ Đốc giáo hơn, vì khi tiền bạc được thu thập một cách có hệ thống thì sổ bộ về người Cơ Đốc giáo tại địa phương cũng được soạn thảo. Thứ đến, việc thu tiền của người theo Cơ Đốc giáo là cách hóa giải sự căm phẫn tiềm tàng của người dân địa phương đối với Cơ Đốc giáo, và vì thế là làm giảm căng thẳng xã hội. Bằng cách áp đặt tiền phạt cho những người Cơ Đốc giáo, chính quyền Tây Sơn muốn chứng tỏ rằng trở thành người Cơ Đốc giáo là điều không thể chấp nhận được, và họ làm như thế để ngăn chặn điều này cùng những hình thức đi ngược lại trào lưu chính thống khác. Cuối cùng, tất nhiên đây là cách hữu hiệu để thu lợi tức bổ sung từ một nhóm người tương đối ít được bảo vệ. Trong lúc các quan lại Tây Sơn hài lòng nhìn thấy dân chúng từ bỏ Cơ Đốc giáo, họ cũng không khăng khăng với việc này đến nỗi từ bỏ niềm vui được đút lót. Điều đó rất rõ ràng đối với những giáo sĩ châu Âu đã quan sát việc thi hành các chính sách đó. Như có người đã viết: “chính vì chống lại kẻ thù của tôn giáo không bằng chống lại những kẻ yêu tiền mà chúng ta phải tự bảo vệ mình”*. Một người khác viết riêng về cuộc đàn áp năm 1785 của Nhạc rằng: "có vẻ như tên bạo chúa hành động vì sự hám lợi hơn là vì sự căm ghét tôn giáo thần thánh của chúng ta”*.
Người theo Cơ Đốc giáo đặc biệt bị tổn thương bởi hình thức "đánh thuế” như thế, bởi vì khi đã là một đối tượng tôn giáo thiểu số bị ngược đãi, họ không thể nhờ đến sự bảo vệ của nhà nước như những người Việt khác. Thật vậy, mục tiêu chủ yếu của họ là tránh sự chú ý của bộ máy quan liêu vẫn thường xuyên cấm đạo Cơ Đốc. Vì thế, người Cơ Đốc giáo luôn ở dưới quyền sinh sát của bộ máy cai trị, không nhất thiết là bộ máy trung ương, mà còn cả những quan chức địa phương tham lam và binh lính nữa. Do việc thu những khoản tiền phạt theo lệnh nhà nước thường được sắp đặt trước, và còn có thể được bổ sung bởi những đòi hỏi thêm của quan chức địa phương, nên việc thanh toán các khoản đóng góp theo yêu cầu cũng chỉ tạm thời giải quyết vấn đề và không có gì đảm bảo là họ sẽ không chịu sưu cao thuế nặng trong tương lai. Thêm vào đó, đã đóng phạt cho quan chức ở cấp chánh quyền này không có nghĩa là sẽ không bị những quan chức cấp cao hơn đưa ra các đòi hỏi tương tự. Cuối cùng, do những sự dàn xếp này thường không có tính cách chính thức, nên nếu một quan chức rời khỏi nhiệm sở, người kế nhiệm ông ta không cần thiết phải tôn trọng những điều khoản của thỏa thuận hiện hành và có thể đòi hỏi những khoản nộp thêm.
Mặc dù người Cơ Đốc giáo được chọn cách nộp phạt, song nhiều người vẫn bị cưỡng bách gia nhập quân đội Tây Sơn chỉ một thời gian ngắn sau khi chỉ dụ của Nguyễn Nhạc được ban bố. Vì thế, hình như đạo quân Tây Sơn đi ra bắc năm 1786 bao gồm một tỷ lệ không cân xứng những người theo Cơ Đốc giáo. Năm đó, một giáo sĩ châu Âu ở Đàng Ngoài đã viết rằng: “một số khá lớn những người nổi dậy là người theo Cơ Đốc giáo, hoặc ít nhất cũng là những người đã được rửa tội; nhiều người trong số họ đi xưng tội với Cha Khiêm, cha xứ tại kinh đô”. Một người khác viết rằng trong đạo quân Đàng Trong trú đóng tạm thời cạnh ngôi làng nhỏ của họ, nhiều binh lính là người Cơ Đốc giáo. Sự hiện diện của người Cơ Đốc giáo trong quân đội Tây Sơn, có lẽ với số lượng không tương xứng với sự có mặt của họ trong cư dân Đàng Trong, là một chỉ dấu cho thấy sự nổi bật của họ trong nhóm này. Nhiều người có lẽ đã bị bắt lính cùng với bất cứ những ai mà nhà Tây Sơn có thể nắm bắt lấy. Những người khác, như chúng ta đã thấy, được chọn vào quân đội Tây Sơn bởi vì họ là người Cơ Đốc giáo, và dễ bị đòi hỏi bởi chính quyền. Dù với lý do nào, rõ ràng người Cơ Đốc giáo, tuy chỉ là một số nhỏ trong toàn bộ dân số, cũng là một thành phần quan trọng và rõ rệt trong xã hội Đại Việt vào thời Tây Sơn và không thể lãng quên.
IV. 1.3. Mối quan hệ Tây Sơn và người Cơ Đốc giáo tại Đàng Trong sau năm 1785
Mặc dù Nguyễn Nhạc đã luân phiên giữa việc cư xử nhẹ tay với việc tấn công Cơ Đốc giáo trong nửa đầu thập niên 1780, thời kỳ sau 1785 được đánh dấu bởi thái độ chống Cơ Đốc giáo ngày càng tăng và không thể đảo ngược được của người anh cả trong ba anh em Tây Sơn. Ác cảm của Nguyễn Nhạc càng tăng cao chủ yếu do sự gia tăng ủng hộ của người châu Âu đối với Nguyễn Ánh, đặc biệt là sự ủng hộ của Giám mục Bá Đa Lộc. Vào thời điểm đó, vị giám mục này hộ vệ người con trai của Nguyễn Ánh đến châu Âu để tranh thủ sự ủng hộ của nước Pháp cho mục tiêu của chúa Nguyễn. Mặc dù thỏa ước đã ký kết không mang lại chút hi vọng hỗ trợ nào, sự thật về phái bộ này cho thấy rõ mức độ dính líu của các giáo sĩ châu Âu nhân danh lý tưởng của nhà Nguyễn, một sự dính líu mà các lãnh tụ Tây Sơn cũng nhận thấy. Một thư giáo sĩ viết vào năm 1786 trên lãnh thổ của Tây Sơn ghi rằng: “Chúng tôi chỉ lo sợ một điều. Đó là sợ cái đầu bị lìa khỏi cổ, không phải vì sự căm ghét đối với tôn giáo thiêng liêng của chúng ta, mà vì những người châu Âu mong muốn đưa vị chúa Đàng Trong trở lại ngai vàng”*. Thư của một giáo sĩ Pháp viết từ Đàng Ngoài vào tháng 8.1786 cho rằng mọi người ở đây biết sứ mạng mà ông giám mục thực hiện vì chúa Nguyễn*, Những báo cáo trên cho thấy Nhạc ra lệnh đưa tất cả những người đàn ông Cơ Đốc giáo trên lãnh thổ của ông ta vào quân đội và phá hủy nhà thờ của họ. Theo tài liệu này, một lần nữa Nguyễn Huệ bước vào, dung hòa những yêu cầu của người anh, cho được miễn nghĩa vụ quân sự đổi lấy một khoản tiền nhỏ*. Nỗi lo lắng của Nhạc trước việc phái bộ từ Pháp quay về càng gia tăng, khi chính Nguyễn Ánh quay về Đàng Trong năm 1787 sau nhiều năm sống lưu vong trên đất Xiêm.
Việc Nguyễn Nhạc chống lại những người Cơ Đốc giáo sống trên lãnh thổ của ông ta tiếp tục gia tăng vào năm 1789, người ta kể rằng ông đã ra lệnh cho các xã trưởng trong lãnh thổ của ông ta tiến hành một cuộc điều tra dân số trong khu vực trách nhiệm của họ. Lệnh này được tiếp nối bằng một yêu cầu khác, buộc những ngươi theo Cơ Đốc giáo phải nộp một khoản phạt bằng 10 miếng đồng vì vẫn tiếp tục gắn bó với tôn giáo. Khi đội thuyền của chúa Nguyễn tiến đến cảng Thị Nại của vua Thái Đức vào mùa hè năm 1792 và bắt giữ hay phá hủy toàn bộ thủy quân của Tây Sơn, sự giận dữ của Nguyễn Nhạc còn mãnh liệt hơn nữa. Theo một số tài liệu, ông ta quyết trả thù hành động trên, thề rằng nếu đạt đến thắng lợi cuối cùng trước quân Nguyên, ông ta sẽ chứng kiến sự hủy hoại toàn diện của Cơ Đốc giáo trên lãnh thổ của ông ta. Nhạc đã không hoàn thành được mục tiêu này, vì ông ta đã qua đời vào ngày 13.12 năm sau, được cho là do bị dằn vặt bởi nỗi giận dữ của chính ông ta. Các giáo sĩ phương Tây khi viết về cái chết của Nguyễn Nhạc đã giải thích đó là sự trừng phạt của thần thánh và so sánh sự cư xử của Nhạc và của người em ông ta đối với người Cơ Đốc giáo: “Cái chết của ông ta (Nhạc) và của người em trai ông ta thật khác nhau! Người này (Huệ) không làm gì chống lại người Cơ Đốc giáo thì chết như một ông vua trong vinh quang của mình; còn người kia (Nhạc) dành cả đời để ngược đãi họ, tìm cách làm cho họ bị hủy hoại hoàn toàn, thì chết trong sự ô nhục, mất cả quyền trượng và vương quốc của mình”*.
Sau cái chết của Nhạc vào năm 1793, tình hình của Cơ Đốc giáo trên vùng đất do Tây Sơn kiểm soát ở phía nam có vẻ được cải thiện, ít nhất là tạm thời. Năm 1795, một giáo sĩ viết rằng nhà Tây Sơn “hoặc vì lý do chính trị, hoặc được thuyết phục rằng việc ngược đãi tôn giáo thiêng liêng của chúng ta thường dẫn đến một kết cục tệ hại, nên đã có thiện chí hơn đối với tôn giáo”. Trong một thư khác, cũng tác giả trên kể về việc một quan chức cao cấp của nhà Tây Sơn đã ca ngại Cơ Đốc giáo và chỉ trích cách cư xử của nhà Nguyễn trước đó đối với tôn giáo này. Có thể những cảm nghĩ đó phản ánh việc nghĩ lại về thái độ thù nghịch của Nhạc đối với người Cơ Đốc giáo, với ý định vuốt ve họ vì quyền lợi của nhà Tây Sơn. Điều không may là không còn có thêm chứng cứ nào sau năm 1795 về tình trạng của những người Cơ Đốc giáo ở phần phía nam lãnh thổ do nhà Tây Sơn kiểm soát.
IV. 1.4. Mối quan hệ Tây Sơn và người Cơ Đốc giáo tại Đàng Ngoài sau năm 1785
Tình trạng của người Cơ Đốc giáo ở vùng thượng Đàng Trong và Đàng Ngoài trong thời kỳ bắt đầu vào năm 1786 cũng giống ở các khu vực xa về phía nam, là vấn đề về những thăng trầm của tính bè phái chính trị và sự thay đổi chiều hướng quân sự trong cuộc chiến với nhà Nguyễn, mỗi vấn đề tác động sâu sắc lên thái độ và hành động của chính quyền đối với cả người Việt theo Cơ Đốc giáo lẫn các giáo sĩ châu Âu. Chính hành động của nhà Tây Sơn đối với người theo Cơ Đốc giáo ở phía bắc sau năm 1786, và đặc biệt sau năm 1788, đã giải thích rằng chính sách tôn giáo của họ thuận lợi cho Cơ Đốc giáo. Cách nhìn nhận này đúng với thực tế, tình cảnh của người Việt Cơ Đốc giáo ở khu vực phía bắc Phú Xuân sau năm 1788 thường có tính tích cực, và điều này được các giáo sĩ châu Âu công nhận.
Tuy nhiên, một cuộc khảo sát kỹ hơn cho thấy rằng cũng có những thời điểm diễn ra các cuộc tấn công người Cơ Đốc giáo, khi thì do chính quyền trung ương, khi thì do địa phương thực hiện, đặc biệt trong khoảng thời gian những năm 1794-1795 và từ năm 1798 đến 1800, tình hình luôn trở nên bấp bênh do vận may về chính trị hay thay đổi.
Sau cái chết của Trịnh Sâm vào năm 1782, thái độ của chính quyền đối với Cơ Đốc giáo ở phía bắc bớt thù nghịch hơn, điều này được ghi trong nhiều thư từ của các giáo sĩ. Năm 1784, một giáo sĩ thậm chí còn viết rằng một thời gian ngắn sau lễ Phục sinh, ông ta có thể tự mình đi vào kinh đô Thăng Long. Sự nương nhẹ ngày càng gia tăng có thể là kết quả của tình trạng rối loạn về chính trị lan rộng trên đất bắc, khiến chính quyền có ít thì giờ để theo đuổi các chính sách chống lại người Cơ Đốc giáo. Hình như việc quân đội Tây Sơn ra Đàng Ngoài năm 1786 cũng không làm thay đổi sự lạc quan chung của người Cơ Đốc giáo ở đây. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh trở thành người nổi bật về chính trị vào cuối năm 1786, ông ta tỏ rõ một thái độ có thiện chí đối với tôn giáo và những người được kết nạp. Hình như Chỉnh quen biết với một vài ngươi Cơ Đốc giáo trong thời gian ở phía nam với nhà Tây Sơn và cả người thư ký thân tín lẫn người y sĩ riêng của ông ta đều là người Cơ Đốc giáo. Thậm chí một vài người còn tuyên bố rằng bản thân Chỉnh cũng lả người Cơ Đốc giáo, dựa vào việc ông ta công khai chỉ trích phía Phật giáo và các đồ thờ cúng của tôn giáo này*. Dù cho hành động của ông ta phát xuất từ đâu, những người Cơ Đốc giáo cũng được sống yên bình trong gần 12 tháng Chỉnh có vai trò nổi bật ở Đàng Ngoài.
Sau việc Chỉnh bị hất cẳng vào cuối năm 1787 là thời kỳ bất ổn chính trị gia tăng ở Đàng Ngoài, lên đến cực điểm bằng cuộc xâm lược của quân Thanh và thất bại tiếp sau đó của đạo quân này vào đầu năm 1789. Cộng đồng người Cơ Đốc giáo và các nhà thờ bị thiệt hại khá nhiều trong thời kỳ này, mặc dù có những chỉ dấu cho thấy rằng điều này không phải là không tương xứng với sự chịu đựng của người dân nói chung, và sự nương tay với tôn giáo hình như cũng tiếp tục sau đó. Sau khi yên vị trên ngai vàng, hoàng đế Quang Trung nêu rõ rằng ông sẵn sàng đối xử tốt với người Cơ Đốc giáo dưới quyền kiểm soát trực tiếp của ông. Việc có tin một quan lại cao cấp của ông là người Cơ Đốc giáo có thể ảnh hưởng đến thái độ của vị hoàng đế đối với thần dân của ông. Các giáo sĩ viết rằng mặc dù có những cuộc thảo luận trong các quân sư của vua Quang Trung về vấn đề đàn áp người Cơ Đốc giáo, phần lớn những người tín cẩn của nhà vua đều có những lý lẽ chống lại việc làm này. Họ vạch ra rằng người Cơ Đốc giáo khá đông, họ đóng thuế một cách đầy đủ và họ không gây ra một vấn đề gì. Vì thế, các quân sư đã kết luận rằng không có lý do gì để xua đuổi người Cơ Đốc giáo, và trên thực tế, làm như vậy là lợi bất cập hại. Vua Quang Trung nghe theo ý kiến đó, vì nó có vẻ phù hợp với quan điểm của riêng ông, và sự yên bình về tôn giáo vẫn tiếp tục như đã được xác định bởi những bức thư khác viết từ Đàng Ngoài vào thời đó.
Cũng như những người đi trước và những người đồng thời (trong đó có anh ông là Nguyễn Nhạc), vua Quang Trung chuẩn bị sử dụng kiến thức khoa học của các giáo sĩ châu Âu phù hợp với ông. Khi bà hoàng hậu của ông ngọa bệnh vào năm 1791, ông quay sang các giáo sĩ Pháp thuộc Hội Truyền giáo Hải ngoại (MEP) sống trên lãnh thổ của ông, hi vọng thuốc phương Tây cứu được bà. Bất đắc dĩ phải cử người trong số họ đi vào một nơi mà cách ngôn gọi là hang hùm, các giáo sĩ Pháp quyết định đề cử một giáo sĩ trẻ tên Francois-Joseph Girard. Sự chậm trễ của các quan lại của Quang Trung ngăn trở việc Girard cho thuốc và bà hoàng hậu qua đời. Dù thế, vị hoàng đế Tây Sơn tiếp đón người châu Âu tại cung điện của ông ở Phú Xuân và có vẻ như đã làm dịu hơn lập trường của ông đối với Cơ Đốc giáo*. Mặc dù vua Quang Trung không phải là không biết sự ủng hộ của giới giáo sĩ cho chúa Nguyễn Ánh, song có vẻ như ông không quan tâm đến thông tin này, cũng như người anh của ông từng làm thế. Thái độ này phần nào có liên quan đến sự kiện ông tiếp tục bảo vệ vùng đệm giữa ông và quân Nguyễn. Trong bất kỳ trường hợp nào, miễn là vua Quang Trung có được hi vọng thu phục các giáo sĩ, người Cơ Đốc giáo, hay cả hai về phía mình, ông vẫn tiếp tục chính sách khoan nhượng đối với họ.
Khi Quang Trung duy trì sự khoan nhượng người Cơ Đốc giáo trong lãnh thổ của ông, ông không cần lý đến nguồn gốc của họ như người anh của ông đã làm trước đó vào thập niên 1780. Đặc biệt hơn cả là cũng như Nhạc, Quang Trung quyết định đánh một thứ thuế đặc biệt lên người Cơ Đốc giáo trong quản hạt của mình. Năm 1790, ông ban hành một chỉ dụ thu tiền người Cơ Đốc giáo đổi lại việc họ được phép tiếp tục thực hành tín ngưỡng. Ông ấn định khoản nộp của cộng đồng người Việt theo Cơ Đốc giáo sống ở phía bắc Phú Xuân là 10.000 tiền đồng. Những người sống ở phía nam, nơi ít người Cơ Đốc giáo hơn, sẽ phải đóng 5.000 tiền đồng. Số tiền được đóng tập thể, phản ánh nhận thức của vua Quang Trung cho rằng cộng đồng (ít nhất tại chỗ) tương đối có tính gắn kết nên có thể cống nộp tài nguyên theo cách đó. Điều này không khác với những sự kiện trước đây, khi quan lại địa phương bắt cóc các giáo sĩ châu Âu hay tu sĩ bản xứ và buộc cộng đồng có liên quan đến họ phải nộp tiền chuộc. Những hành động đó được thúc đẩy bởi việc họ tin rằng các giáo sĩ châu Âu giàu có và vì thế là một mục tiêu có lợi cho họ. Chính sách nương nhẹ đối với người Cơ Đốc giáo đôi lúc tiếp tục được thực hiện ở phía bắc của vương quốc Tây Sơn, ngay cả sau cái chết sớm sủa của vua Quang Trung vào năm 1792. Người kế vị ông được sự hỗ trợ của một vị phụ chánh, duy trì chính sách của người cha trong nhiều năm sau đó. Trong thư gửi về Paris vào tháng 6.1793, Charles La Mothe viết rằng có một chính sách khoan nhượng đối với những chính sách đã tồn tại dưới thời Lê-Trịnh. Cùng lúc đó, Pierre Eyot viết rằng "Do Đàng Ngoài nằm dưới sự thống trị của Đàng Trong, không có chuyện kể về sự ngược đãi tôn giáo". Một giáo sĩ khác viết vào năm 1794, so sánh tình trạng tôn giáo ở Đàng Ngoài thuận lợi hơn so với nước Pháp của ông ta lúc phải trải qua nỗi thống khổ trong cuộc Cách mạng Pháp. Ông ta viết rằng tình trạng nội chiến ở hai nơi tương tự nhau, nhưng do sự kiện "những người nổi dậy của chúng tôi không đụng chạm đến tôn giáo, và trái lại, họ cho tôn giáo nhiều tự do hơn bao giờ”. Những người khác viết thư vào năm đó cũng có những nhận xét tương tự.
Tuy nhiên, sự yên bình về tôn giáo được mô tả trong những thư này không kéo dài lâu. Năm 1793, đã có những chỉ dấu cho thấy các thành phần trong ban lãnh đạo nhà Tây Sơn e sợ những người châu Âu ở trong hàng ngũ của họ, nghi ngờ những người này tiếp xúc với lực lượng của chúa Nguyễn và với người của chúa Nguyễn đang hoạt động ở Đàng Ngoài. Cũng có tin đồn là chúa Nguyễn đang chỉ đạo các giáo sĩ trong các vùng do Tây Sơn kiểm soát đội lốt tôn giáo để hoạt động cho chúa. Mặc dù những lời tố cáo này bị chính một quan lại cao cấp của Tây Sơn bác bỏ, sự hoài nghi vẫn là một phần đáng kể trong không khí chính trị chung vào thời đó. Một cuộc tấn công quan trọng của quân Nguyễn vào năm 1794 đã kích động một vài nhà lãnh đạo Tây Sơn, vì “viên thái sư ở vùng thượng Đàng Trong [Bùi Đắc Tuyên, phụ chánh của vì vua trẻ Tây Sơn]* đã nhìn thấy mấy sĩ quan Pháp đi đầu hàng quân đối địch của ông ta và đã đánh bại quân của ông ta nên đã nổi con cuồng nộ đối với chúng ta [các giáo sĩ châu Âu] và các giáo dân Cơ Đốc giáo, và lên tiếng đưa ra những lời đe dọa nặng nề”. Việc nhìn thấy những người Pháp này trong hàng ngũ quân Nguyễn đối với một vài quan chức Tây Sơn là một dấu hiệu rõ ràng và xa hơn về việc các giáo sĩ châu Âu đã tích cực hỗ trợ đại kình địch của họ.
Sự yên ắng nhất thời về tôn giáo được điểm xuyết bằng hai chỉ dụ được ban hành vào tháng 2 năm 1795*. Một giáo sĩ viết về bối cảnh xoay quanh những chỉ dụ này và động lực ẩn đáng sau chúng rất rõ ràng:
“Cách đây 4 ngày nhà vua ban một chỉ dụ tập hợp các sư sãi hàng đầu ở Đàng Ngoài lại để giúp ông, bằng uy tín và những lời cầu nguyện của họ, chống lạl những tiến bộ mà chúng ta [các giáo sĩ] đã đạt được, và có hại cho tinh thần của người dân trong việc tranh thủ lòng trung thành của họ đối với vị vua ở Đồng Nai”.
Bình luận này cho thấy rõ rằng quan điểm chống Cơ Đốc giáo phát triển vào thời điểm này có quan hệ trực tiếp với nỗi lo sự là người Cơ Đốc giáo, dù là các giáo sĩ hay người bản xứ, đang trở thành những người ủng hộ chúa Nguyễn. Philiphê Bỉnh, một người Việt thuộc dòng Tesuit, mô tả động lực của những chỉ dụ trên là nỗi lo sợ mất nước về tay người châu Âu, hơn là sự thù nghịch đối với Cơ Đốc giáo. Trong lúc cả hai chỉ dụ đều dưới danh nghĩa vì vua trẻ của nhà Tây Sơn là Cảnh Thịnh thì các giáo sĩ lại đồng thanh gán ghép chúng cho ông quan phụ chánh* và cơn thịnh nộ của ông này đối với sự ủng hộ của người châu Âu dành cho chúa Nguyễn Ánh ở phía nam, kết hợp với lòng căm thù khôn nguôi đối với tín ngưỡng.
Theo một giáo sĩ khác, Bùi Đắc Tuyên từng có một cuộc nói chuyện vào năm 1795, trong đó, ông ta công khai bày tỏ quan điểm của triều đình Tây Sơn đối với giới giáo sĩ và sự dính líu của người châu Âu nhân danh lý tưởng của chúa Nguyễn. Tuyên ghi nhận sự ủng hộ của những người châu Âu đặc biệt cho mục tiêu của chúa Nguyễn, và thúc giục các giáo sĩ sử dụng ảnh hưởng của họ để thuyết phục người nông dân chuyển sự trung thành của họ về phía Tây Sơn:
“Ta đã... nói với các thầy trong đạo là nếu họ trả cho ta ông Olivier và những người đi chung với ông ta ở vùng hạ Đàng Trong, ta sẽ để họ sống trong an bình, nhưng nếu không đạt được điều này, ta sẽ bắt giữ họ và phá hủy toàn bộ nhà thờ của họ theo đúng tinh thần của chỉ dụ... Các ông vua trước luôn luôn cấm đạo, nhưng những ông vua bây giờ thì trái lại, cho phép mọi người tôn trọng đạo mà không nói một lời nào, và ở đây chúng ta sẽ để cho ông Olivier cai quản mọi công việc ở vùng hạ Đàng Trong, chế tạo vũ khí và các thầy trong đạo hãy kêu gọi người châu Âu tiến hành cuộc chiến giúp một vị vua rất nhân từ và rất rộng lượng đối với họ: những người Cơ Đốc giáo vô ơn bạc nghĩa”.
“Ông Olivier” được nhắc đến trong buổi nói chuyện này chính là Olivier de Puymanel (1768-1799). Được sử biên niên Việt Nam gọi là "Ông Tín”, de Puymanel khá nổi tiếng về kiến thức trong lãnh vực chiến thuật quân sự và vũ khí*. Tài liệu của một giáo sĩ Pháp tên Charles-Prancois Langlois viết vào năm 1795 rằng “những bạo chúa muốn có được ít nhất một hay hai người châu Âu để cử họ đến Đàng Trong thuyết phục ông Olivier không ủng hộ chúa Nguyễn nữa hoặc đi đến Manila yêu cầu vị Tổng trấn cử người bắt giữ Olivier nếu điều này thuộc thẩm quyền của ông ta". Vào mùa hè năm 1795, một giáo sĩ châu Âu khác cũng viết tương tự, rằng Tuyên muốn sử dụng một số giáo sĩ châu Âu đi đến Đồng Nai thuyết phục Olivier ngưng ủng hộ chúa Nguyễn và đưa ra những lời kêu gọi tương tự với những người châu Âu khác trong trại quân Nguyễn.
Các chỉ dụ năm 1795 cũng bao gồm lời kêu gọi phục hồi hay làm sống lại các truyền thống của địa phương, cả Phật giáo lẫn Khổng giáo, trong một nỗ lực trừ tiệt sự tiêm nhiễm Cơ Đốc giáo trong xã hội Đại Việt. Do đó, các chỉ dụ kêu gọi khôi phục sự trung thành với những lời giáo huấn của đạo Khổng và mang lại sức sống mới cho sự cam kết của chính quyền nhằm duy trì cơ chế xã hội theo Khổng giáo. Như chỉ dụ đã nêu: “[Các giáo sĩ] đã bí mật đến đất nước chúng ta để đầu độc và làm mê muội trái tim của mọi người trong nước. Họ trực tiếp truyền đi những lời nói dối để làm lạc hướng các hàng ngũ dân chúng đi vào con đường phi chính thống"*. Vì thế, có vẻ như các chỉ dụ là một phần của một mưu toan rộng lớn hơn nhằm (coi việc) phục hồi tính chính thống như một cách tăng cường sức mạnh của triều Tây Sơn chống lại kẻ thù. Các nguyên lý phi chính thống do các giáo sĩ châu Âu chủ trương và được những người Việt Cơ Đốc giáo chấp nhận là một thách thức quan trọng đối với sự thống nhất quốc gia và xã hội, và vì thế, theo quan điểm này, nó cần phải bị triệt tiêu.
Thời điểm của chỉ dụ chống Cơ Đốc giáo năm 1795 để lộ những chia rẽ quan trọng trong hàng ngũ lãnh đạo nhà Tây Sơn. Hiển nhiên phụ chánh Bùi Đắc Tuyên đã lôi kéo người mà ông ta có trách nhiệm đỡ đầu là vua Cảnh Thịnh trẻ tuổi để ông này ban bố các chỉ dụ chống Cơ Đốc giáo, và làm điều này như cái vỏ bọc cho một cuộc phế truất đã được dự liệu để thay thế con của hoàng đế Quang Trung bằng con cháu của viên phụ chánh. Âm mưu này bị phát hiện và một cuộc chống phế truất đưa đến kết quả bắt giữ Tuyên và hành hình ngay ông ta. Sau cái chết của Tuyên, các chỉ dụ bị hủy bỏ, cho dù không rõ là do trong đó chứa đựng yếu tố chống Cơ Đốc giáo hay chúng đã được soạn thảo bởi một người đã bị thất sủng như Tuyên. Một bức thư viết: "Một chỉ dụ được ban bố hủy bỏ tất cả những gì mà viên phụ chánh đã làm trong ba tháng tại nhiệm". Bức thư tiếp tục ghi nhận rằng các giáo sĩ được cho biết là nếu chỉ dụ chống Cơ Đốc giáo do vua Cảnh Thịnh và các quân sư làm ra thì vẫn còn hiệu lực, còn nếu là của Bùi Đắc Tuyên như nhiều người nghi ngờ, thì sẽ bị hủy bỏ.
Sự phân hóa trong nội bộ lãnh đạo Tây Sơn về thái độ ứng xử với người Cơ Đốc giáo kéo dài cho đến khi triều đại này sụp đổ. Một vài quan lại tiếp tục cư xử khắc nghiệt với họ, trong khi những người khác thể hiện sự khoan nhượng nhiều hơn. Trong một vài trường hợp, người chủ trương khoan nhượng là những người theo chủ nghĩa thực dụng, sợ rằng việc đàn áp người Cơ Đốc giáo sẽ gây thêm sự căm ghét của một bộ phận dân chúng vốn đang mất thiện cảm với chính quyền. Một số quan lại khác là người Cơ Đốc giáo và đi tìm những người đồng đạo với họ. Những lá thư của các giáo sĩ viết vào thời kỳ này có kể về một số quan lại cao cấp của nhà Tây Sơn là người Cơ Đốc giáo và họ tỏ ra cảm thông với hoàn cảnh của các giáo sĩ. Chẳng hạn như trong cuộc đàn áp người Cơ Đốc giáo diễn ra vào giữa năm 1795, một giáo sĩ viết rằng vào tháng 8 năm đó, tức chỉ 6 tháng sau khi chỉ dụ được ban bố, ông ta được triệu tập đến khu đất kiên cố của viên trấn thủ “kinh đô" để làm lễ kỷ niệm, ông ta kể rằng các quan lại bất đầu trả lại nhà thờ và những đồng tiền họ đã tịch thu trong thời gian ngược đãi tôn giáo ngắn ngủi đã qua. Một số giáo sĩ khác cũng đã kể lại những trải nghiệm lạc quan tương tự và sự tự do tôn giáo tiếp tục vào năm 1797.
Ngay cả khi có sự tiếp tục yên ắng về tôn giáo, các vấn đề trước đây góp phần gây ra những hành động chống Cơ Đốc giáo vẫn tồn tại. Chúa Nguyễn tiếp tục củng cố sức mạnh ở phía nam, không ngừng đe dọa mở cuộc tấn công quyết định vào triều đình Tây Sơn ở Phú Xuân, và sự nghi ngờ của những người Âu sống trên lãnh thổ Tây Sơn chắc chắn là đang gia tăng. Sự nghi ngờ này đặc biệt dâng cao khi chúa Nguyễn mở rộng khả năng gửi những toán hoạt động bí mật ra bắc. Đầu năm 1797, một giáo sĩ Pháp kể rằng: “những gián điệp của vị chúa ở Đàng Trong lần lượt bị bắt, làm sống lại sự nghi ngờ mà người ta đã đành để chống lại chúng ta". Trong những tình huống như vậy, một cuộc đàn áp trở lại là điều không thể tránh được, và nó đã xảy ra vào mùa hè năm sau. Một chỉ dụ mới chống Cơ Đốc giáo được ban hành, phản ánh sự ngờ vực của nhà Tây Sơn, không chỉ đơn thuần đối với các giáo sĩ, mà còn với những người Việt theo Cơ Đốc giáo nữa. Hình như vào năm 1798 có một số người Cơ Đốc giáo tham gia một cuộc nổi dậy chống nhà Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của một “thuật sĩ” tự xưng vương. Trong lúc giới giáo sĩ kể lại biến động này thì Pierre Eyot viết rằng chứng cứ đó cho thấy người Cơ Đốc giáo không lãnh đạo cuộc nổi dậy, và sự ngờ vực vẫn còn đó.
Đỉnh điểm của sự ngược đãi diễn ra vào tháng 9.1798, khi một giáo dân Cơ Đốc giáo người Việt tên Immanuel Triệu bị hành quyết cùng với 6 tên trộm cắp vào ngày 17 tháng này. Sự kiện này đánh dấu cuộc hành quyết công khai đầu tiên một người Cơ Đốc giáo kể từ cái chết vào năm 1782 của Perdinand de Olmedilla, một giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Dominican. Hơn nửa, sự đàn áp Cơ Đốc giáo được kèm theo bằng một mệnh lệnh lập bảng kiểm kê tất cả các nhà thờ đang tồn tại và các “nhà của Chúa”. Lệnh này nhắm vào từng xứ đạo một và tiếp theo bằng sự thanh sát của những quan lại đi kiểm tra các danh mục đã lập. Hình như đó là bước khởi đầu của một chiến dịch nhằm phá hủy tất cả các nhà thờ đang có; song như trường hợp vẫn thường xảy ra, hành động quyết liệt này có thể được giải quyết sớm bằng cách hối lộ một khoản tiền được ấn định ít nhất 5.000 xâu tiền cho mỗi khu vực.
Tuy nhiên sau vài năm, áp lực đối với người Việt Cơ Đốc giáo có vẻ như đã được làm dịu bớt cho dù các vấn đề vẫn còn tồn tạị. Tháng 4 năm 1800, Pierre Eyot kể lại rằng: “sự thực là người Cơ Đốc giáo ít bị quấy rối hơn lúc bắt đầu sự ngược đãi tôn giáo". Nhưng mà ngay vào cùng năm đó, những gián điệp bị bắt gần Phú Xuân khai rằng họ được chúa Nguyễn cử đi thuyết phục những người châu Âu sống dưới sự kiểm soát của nhà Tây Sơn hãy dời đến lãnh thổ của chúa Nguyễn. Cuối cùng thì lời khai của họ được cho là không thật và sự ngờ vực đối với người châu Âu được khơi lại. Ấy thế mà tình hình vẫn ổn định khi các giáo sĩ và giáo dân Cơ Đốc giáo cảm thấy ít bị áp lực hơn, có lẽ do sự căng thẳng về mối đe dọa của quân nhà Nguyễn đang gia tăng. Chính quyền nhà Tây Sơn lúc bấy giờ đang phấn đấu để tồn tại và không còn lo lắng đến việc sử dụng các phương kế để lùng bắt các giáo sĩ phương Tây hay những môn đồ của họ.
Mùa hè năm 1802, Nguyễn Ánh và lực lượng của ông tiến vào Thăng Long, đạt chiến thắng cuối cùng trước nhà Tây Sơn. Một thời kỳ xáo trộn đã kết thúc trong xã hội Việt Nam, song đối với người Cơ Đốc giáo Việt Nam, năm 1802 không đánh dấu một bước ngoặt. Cuộc sống của họ vẫn còn bất định. Mặc dù tân vương nhà Nguyễn mắc nợ các giáo sĩ Pháp trong quá trình diễn ra các chiến dịch của ông, việc ông lên ngôi không đánh dấu sự chiến thắng của tự do tôn giáo, mà đúng hơn là một chương khác trong sự căng thẳng giữa một quốc gia hầu như đang theo Khổng giáo với một tín ngưỡng phi chính thống.