Sau thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong chiến dịch “Lam Sơn 719” năm 1971, ở miền Nam Quân giải phóng liên tục mở các cuộc tấn công trên khắp chiến trường. Qua chiến dịch xuân hè 1972, làm thất bại kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.
Tại Paris đầu tháng 12.1972, cuộc đàm phán Việt Nam – Hoa Kỳ một lần nữa lâm vào bế tắc. Phía chính quyển Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phản đối kịch liệt bản dự thảo hiệp định, mà giữa Hoa Kỳ và Hà Nội đã thống nhất để chuẩn bị kí. Nội dung cốt lõi của bản dự thảo đó là: Quân Mỹ và đồng minh sẽ rút hết ra khỏi Việt Nam – và ở miền Nam vẫn tạm thời song song tồn tại cả Quân đội nhân dân Việt Nam cùng chính quyền Việt Nam Cộng Hòa – để giải quyết nội bộ, bằng một cuộc tổng tuyển cử của nhân dân.
Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Bắc cũng phải rút ra khỏi miền Nam, trở về Bắc. Phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội không chấp nhận như thế, vì làm vậy là đặt họ ngang hàng với kẻ xâm lược là Hoa Kỳ? tất yếu, khiến Quân giải phóng sẽ trở thành yếu thế.
Nixon không muốn mang tiếng là bỏ mặc Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nên phía Hoa Kỳ cũng đòi hỏi phải thay đổi lại dự thảo đó.
Mỹ lật lọng.
Ngày 5 tháng 12, Nixon điện cho Kissinger: “Hãy để một chỗ ở cửa cho Tôi có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó”.
“chỗ hở ở cửa cho cuộc họp tiếp…” để làm gì? - Tức là Mỹ sẽ mở chiến dịch ném bom rải thảm vào Hà Nội và các thành phố trọng yếu khác như Hải phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn… đưa miền Bắc về “thời kì đồ đá”. Buộc Hà Nội phải ngồi vào thương thuyết, chấp nhận yêu cầu của Hoa Kỳ và Thiệu - Có nghĩa là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thua.
Cụ thể - vào đêm 12.12.1972, Chánh văn phòng Nhà Trắng Heizman được sự ủy quyền của Tổng thống Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger, có đoạn viết:
“Chúng ta cần tránh bất cứ điều gì như là chúng ta phá vỡ thương lượng một cách đột ngột. Nếu xẩy ra tan vỡ, thì phải làm như là do họ chứ không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa kỳ không được chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để tham khảo thêm.”.
Ngày 13 tháng 12, Kissinger lật lọng tuyên bố đình chỉ vô thời hạn Hội nghị Paris về Việt Nam - Hoa kỳ cố tình trì hoãn hội nghị nhưng lại đổ lỗi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chịu đàm phán nghiêm chỉnh? để cho Mỹ chuẩn bị cuộc ném bom rải thảm B52 vào miền Bắc Việt Nam.
Hội nghị Pa Ri hoàn toàn bế tắc. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán. Mỹ lấy lý do mở Chiến dịch Linebacker II ném bom là để khiến Việt Nam “biết điều” mà chấp nhận họp lại.
Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, Tướng Alexander Haig và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân – Đô đốc Thomas Moorer, thông qua lần cuối cùng kế hoạch Chiến dịch Linerbacker II. Nixon nói với Đô đốc Thomas Moorer: “Điều may mắn của ông là được sử dụng một cách hiệu quả sức mạnh quân sự của chúng ta để thắng cuộc chiến tranh này. Nếu ông không làm được việc đó, tôi sẽ coi ông là người chịu trách nhiệm.”.
Tức là Nixon giao cho Đô đốc Thomas Moorer toàn quyền thực hiện việc rải thảm B52 vào Bắc Việt Nam, biến Bắc Việt Nam trở thành thời kì đồ đồng, đồ đá.
Chiến dịch Linebacker II là nối tiếp Linebacker I (diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972), nhưng với cường độ, sức công phá và mật độ lớn đến mức khủng khiếp. Mục tiêu chính là ở Hà Nội - Hải phòng, buộc Chính phủ Bắc Việt Nam phải chấp nhận điều khoản của Mỹ. Đồng thời Hoa Kỳ muốn tỏ rõ cho Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng: Mỹ không bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa… trước khi rút quân đội Mỹ và đồng minh về nước.
Cũng trong ngày 14 tháng 12 đó, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: Hẹn trong 72 giờ, Hà Nội (tức là Lê Đức Thọ) phải quay lại chấp nhận kí hiệp định theo phương án của Hoa Kỳ đã đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.
Ngày 15 tháng 12, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le Bourger – Paris.
Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán.
Ngày 17 tháng 12, Nixon chính thức ra lệnh mở cuộc tiến công bằng không quân vào Hà Nội, Hải phòng - Chiến dịch Linebacker II bắt đầu.
Cũng trong ngày 17.12.1972 - 10h30 phút, Bộ tư lệnh phòng không – không quân nhận lệnh từ Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: chỉ thị trực tiếp cho các đơn vị toàn quân chủng, đặc biệt là hai khu vực Hà Nội – Hải Phòng… chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, quyết đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ, khi chúng liều lĩnh leo thang đánh phá.
Tối 18 tháng 12, Lê Đức Thọ sau khi ghé qua Moskva và Bắc Kinh vừa về đến nhà, thì những trái bom đầu tiên từ B52 đã trút xuống Hà Nội.
Vào lúc 10h15 phút ngày 18.12.1972, các đơn vị ra đa phát hiện báo về Tổng trạm và Sở chỉ huy Quân chủng phòng không: có một chiếc máy bay không người lái của Mỹ, từ hướng tây bắc vào trinh sát Hà Nội.
14 giờ 30 phút, Bộ Tổng tham mưu thông báo cho quân chủng phòng không – không quân và Bộ Tư lệnh thủ đô: sẽ có máy bay chiến lược B52 đánh ra miền Bắc.
19 giờ 10 phút, biên đội mig-21 của không quân được lệnh cất cánh, đón đánh các máy bay chiến thuật Mỹ F4, F8, F111, A6, A7… Cùng lúc ở Tam Đảo, Việt Trì các đài quan sát dồn dập báo về Sở chỉ huy trung tâm: máy bay F111 ném bom sân bay Kép, Nội Bài.
Bộ Tư lệnh thủ đô ra lệnh báo động toàn thành phố - Lập tức còi báo động từ Nhà hát lớn, Quảng trường Ba Đình, ga Hàng Cỏ, các nhà máy và nhiều nơi cả nội và ngoại thành vang lên khẩn cấp.
19 giờ 20 phút, nhiều tốp máy bay B52 (mỗi tốp 3 chiếc) liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm. Tiếng nổ long trời, khói lửa mịt mù… báo hiệu cuộc đụng độ lịch sử giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ thủ đô – Mở đầu chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điên Biên Phủ trên không” với các siêu “pháo đài bay” B52, những con “ngoáo ộp” Mỹ bắt đầu.
20 giờ 16 phút ngày 18.12.1972 ấy – Tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa phòng không 261 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy, phóng 2 quả đạn hạ ngay 1 máy bay B52, rơi xuống cánh đồng Phủ Lỗ, huyện Đông Anh chỉ cách trận địa gần 10km. Đây là chiếc máy bay B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.
Đêm đó cùng với Hà Nội vào lúc 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn tên lửa 52, Trung đoàn 267, Sư đoàn phòng không 365 từ một trận địa ở Nghệ An, đã bắn bị thương nặng 1 máy bay B52 nữa… khi chúng vừa gây tội ác ở Hà Nội về, buộc phải hạ cánh ở sân bay Đà Nẵng.
Trong đêm 18/12, Mỹ đã huy động 90 lần chiếc B52, ném 3 đợt bom xuống thủ đô Hà Nội; đồng thời 8 lần chiếc F111; 127 lần máy bay cường kích các loại.
Trong đêm đầu tiên, Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc thủ đô, trong đó có 85 khu vực dân cư bị trúng bom, làm chết 300 người.
Theo hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam lúc đó (Nguyễn Sơn sưu tầm), có đoạn viết:
“Hà Nội, tháng 12 năm 1972
Nhiệt độ xuỗng thấp hơn mọi năm. Cái rét mùa đông cộng vào cái vắng lặng của ba mươi sáu phố phường vừa được lệnh triệt để sơ tán, càng làm cho thời tiết thêm giá buốt. Cuộc đàm phán của Việt Nam và Hoa Kỳ ở Pa Ri, thủ đô nước Pháp, đang ở bước gay go. Sau những ngày tháng vận động bầu cử với vai trò “ngoại giao con thoi” và lời hứa mang lại hòa bình, Ních Xơn ở lại Nhà Trắng nhiệm kỳ hai. Ở Sài Gòn ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu run sợ trước những điều khoản bất lợi cho chúng trong thỏa thuận giữa ta và Mỹ ngày 18/10/1972, phản ứng quyết liệt với chủ Mỹ. Các cuộc họp giữa các bên cuối tháng 11 và đầu tháng 12 không đạt kết quả nào. Trong thời gian này, Mỹ cấp tốc vận chuyển cho Thiệu một khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh bằng cả một năm trước đó. Để xoa dịu Thiệu và mặc cả với ta, Ních Xơn trở mặt ngang ngược đòi sửa đổi nhiều điều khoản trong bản dự thảo hiệp định, lúc này tưởng chừng sắp được kí kết sau hơn ba năm đàm phán tại trung tâm Hội nghị Quốc tế trên Đại lộ Klêbe. Tất nhiên, ta không chấp nhận.
Tình hình rất khẩn trương. Đã mấy ngày liền, anh Văn Tiến Dũng và tôi thường về nhà muộn, có khi ở lại Tổng hành dinh làm việc tới tận nửa đêm.
……………………………………………………………………………….
Trong buổi giao ban ngày 18/12/1972, Cục 2 báo cáo: Hồi 5 giờ sáng, ta bắt được tin của địch từ sân bay hỏi: “Trực thăng hôm nay cấp cứu ở đâu?”. Trưa hôm ấy, một máy bay RF4c bay qua Hà Nội báo về căn cứ: “Thời tiết quanh Hà Nội hoạt động được”. Trên bầu trời Khu 4, hoạt động của không quân địch đột ngột giảm xuống, đặc biệt không có tốp B52 nào. Tất cả các đài ra đa của mạng cảnh giới mở máy trực ban đều không có nhiễu tích cực. Đây là những dấu hiệu không bình thường, chỉ một ngày sau khi bộ đội phòng không – không quân được lệnh bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Chiều ngày 18/12/1972, chiếc chuyên cơ BH195 đưa anh Lê Đức Thọ về nước đáp xuống sân bay Gia Lâm lúc 16 giờ 45 phút. Cũng khoảng thời gian ấy, Ních Xơn gửi công hàm như một tối hậu thư, hạn trong 72 giờ ta phải trở lại bàn đàm phán theo những điều kiện của Mỹ. 19 giờ 10 phút – Trong phòng làm việc của tôi tại Tổng hành dinh, tiếng chuông điện thoại reo vang từ một trong bốn chiếc máy có chế độ ưu tiên số 1.
Tiếng nói của đồng chí trực ban tác chiến nghe rất rõ:
- Báo cáo thủ trưởng, B52 cất cánh từ Guam, Utapao đang tới… nhiều tốp bay dọc sông Mê Kông lên phía Bắc… Các lực lượng phòng không – không quân đã sẵn sàng, vào cấp 1 xong.
Mấy phút sau, còi báo động rú lên từng hồi. 19 giờ 45 phút: có tiếng bom nổ ở phía xa xa… Bộ tư lệnh phòng không – không quân báo cáo: Máy bay địch đang đánh phá sân bay Hòa Lạc. Tiếp theo đó, nhiều tốp B52 vào đánh các sân bay Nội Bài, Gia Lâm. Tiếng ầm ì khô và nặng của động cơ máy bay B52 mỗi lúc một rõ dần. Những vầng lửa lóe lên, chớp giật liên hồi. Rồng lửa Thăng Long nối nhau bay vút lên không trung, đan những vệt sáng màu da cam giữa màn đêm Hà Nội.
Cơ quan Tổng hành dinh làm việc hối hả. Tôi yêu cầu Bộ Tổng tham mưu cứ 5 phút báo cáo một lần. Cục 2 báo cáo: Ních Xơn đã ra lệnh bắt đầu chiến dịch Lai nơ bếch cơ II, dùng máy bay chiến lược B52 từ các căn cứ Mỹ ở Thái Lan, Guam, Philíppin tiến công Hà Nội, trong khi các máy bay cường kích F111 tiến công các sân bay gần đó. Chiến dịch này đã được Ních xơn, Kítxinhgiơ và tướng Hây (Haig) bàn bạc, quyết định tại phòng bầu dục ở Nhà Trắng ngày 14/12/1972. Để thực hiện kế hoạch này, Bộ chỉ huy sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 57 được thành lập. 50 máy bay KC-135 để tiếp dầu cho B52 được điều thêm sang Philíppin. Trên vịnh Bắc Bộ, 5 tàu sân bay đang hoạt động: Cục tác chiến khẩn trương nắm tình hình, liên tiếp chuyển lệnh cho Bộ tư lệnh phòng không – không quân.
20 giờ 20 phút, chuông điện thoại đổ hồi, ở đường dây bên kia là đồng chí Nguyễn Quang Bích, phó tư lệnh phòng không – không quân:
- Báo cáo Đại tướng, hồi 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 59 – Trung đoàn tên lửa 261 bộ đội phòng không Hà Nội bắn rơi tại chỗ một chiếc B52.
Tôi hỏi:
- Có đúng B-52 không?
Một lát sau, đồng chí Nguyễn Quâng Bích báo cáo cụ thể: Đây là chiếc B-52G cất cánh từ Guam. Nó rơi xuống Phù Lỗ, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.
Tin chiến thắng xé toang bầu không khí căng thẳng. Tổng hành dinh náo nức trong niềm vui được thấy “con ngóao ộp” B-52 không còn là “bất khả xâm phạm” trước những con “rồng lửa Thăng Long”.
Tôi bước ra ngoài sở chỉ huy. Trời rét đậm và mưa bụi, nhưng lòng tôi ấm áp lạ thường…”.