Trời đã tối, và ánh ngày lại lần nữa tàn đi rất nhanh khi họ dừng chân nghỉ đêm. Bọn họ đều rất mệt mỏi. Núi non giăng kín trong bóng tối sẫm, và gió thì lạnh buốt. Gandalf lại chia cho mỗi người một ngụm miruvor từ Thung Đáy Khe. Khi họ ăn xong chút đồ ăn, lão triệu tập một cuộc họp.
“Dĩ nhiên, đêm nay chúng ta không thể đi tiếp nữa,” lão nói. “Cuộc tấn công trên Cổng Sừng Đỏ đã khiến ta mệt rã rời, nên chúng ta cần nghỉ lại đây ít lâu.”
“Rồi chúng ta sẽ tiếp tục đi đâu?” Frodo hỏi.
“Con đường và sứ mệnh của chúng ta vẫn còn ở phía trước,” Gandalf trả lời. “Chúng ta chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài tiếp tục đi, hoặc trở về Thung Đáy Khe.”
Khuôn mặt Pippin sáng bừng khi nghe nhắc đến việc trở về Thung Đáy Khe; Merry và Sam ngước lên hy vọng. Nhưng Aragorn và Boromir chẳng biểu lộ chút cảm xúc nào. Còn Frodo lại trông đầy phiền muộn.
“Ước gì cháu có thể quay lại đó,” cậu nói. “Nhưng làm sao cháu có thể trở về mà không xấu hổ, trừ khi chắc chắn là chẳng còn con đường nào nữa, và chúng ta thì đã hoàn hoàn thất bại?”
“Cháu nói đúng, Frodo,” Gandalf nói; “quay lại là thừa nhận thất bại và phải đối diện với thất bại nặng nề hơn nữa sau đó. Nếu giờ chúng ta quay về, chiếc Nhẫn sẽ phải ở lại đó: chúng ta sẽ không thể lên đường thêm một lần nào nữa. Và sớm hay muộn Thung Đáy Khe sẽ bị phong tỏa, rồi thì sau một khoảng thời gian ngắn ngủi và cay đắng, nó sẽ bị hủy diệt. Lũ Ma Nhẫn là những kẻ thù tàn ác, thế nhưng hiện giờ chúng chỉ là những bóng ma nhợt nhạt so với quyền năng và sự khủng bố chúng sẽ có được một khi chiếc Nhẫn Thống Trị rơi vào tay chủ nhân chúng lần nữa.”
“Vậy thì chúng ta phải tiếp tục, nếu vẫn còn con đường nào đó,” Frodo thở dài nói. Sam lại chìm sâu vào buồn bã.
“Vẫn còn một con đường nữa ta có thể cố thử xem,” Gandalf nói. “Tôi đã nghĩ ngay ban đầu, khi tôi tính toán cuộc hành trình này lần đầu tiên, rằng chúng ta nên thử đường đó. Nhưng đó không phải là một con đường dễ chịu, và tôi cũng chưa nói về nó với Hội Đồng Hành. Aragorn thì phản đối nó, ít nhất là cho đến khi con đường vượt đèo cũng đã được thử.”
“Nếu con đường đó còn tồi tệ hơn cả Cổng Sừng Đỏ, thì chắc chắn nó phải vô cùng khủng khiếp,” Merry nói. “Nhưng tốt nhất là ông nên kể về nó với mọi người, và cho mọi người biết điều tệ hại nhất ngay lập tức.”
“Con đường mà tôi đề cập dẫn đến Khu Mỏ Moria,” Gandalf nói. Chỉ có Gimli ngước đầu lên; một ngọn lửa cháy âm ỉ trong mắt gã. Những người khác đều lộ rõ vẻ hãi hùng với việc nhắc tới cái tên kia. Ngay cả với các Hobbit, nó cũng là một huyền thoại mang nỗi khiếp sợ mơ hồ.
“Con đường đó có thể dẫn vào trong Moria, nhưng làm sao chúng ta có thể chắc chắn nó sẽ dẫn ra ngoài Moria?” Aragorn rầu rĩ nói.
“Đấy là một cái tên mang điềm gở,” Boromir nói.”Tôi cũng chẳng thấy cần phải đến đó làm gì. Nếu không thể vượt dãy núi, chúng ta hãy đi xuống phía Nam, cho tới khi chúng ta đến Cửa Núi Rohan, nơi người dân rất thân thiện với chúng tôi, đi theo con đường chính tôi đã đi để đến đây. Hoặc chúng ta cũng có thể đi tiếp rồi vượt dòng Isen xuống tới Cát Dài và Lebennin, rồi theo vùng duyên hải để vào Gondor.”
“Mọi thứ đã thay đổi kể từ khi anh lên miền Bắc, Boromir ạ.” Gandalf trả lời. “Anh không nhớ những gì tôi kể về Saruman sao? Có thể cá nhân tôi còn có việc riêng cần giải quyết với hắn ta trước khi tất cả kết thúc nữa kìa. Thế nhưng bằng bất cứ giá nào cũng không được phép để chiếc Nhẫn tiến đến gần Isengard. Chừng nào chúng ta còn đi cùng Người Mang Nhẫn, thì chừng đó Cửa Núi Rohan còn đóng lại với chúng ta.
“Còn về con đường dài hơn kia: chúng ta không thể lãng phí chừng ấy thời gian. Một hành trình như vậy có thể tiêu tốn cả năm trời, và chúng ta sẽ phải đi qua những vùng đất trống trải không nơi ẩn náu. Nhưng vùng đó cũng không hề an toàn. Tai mắt canh chừng của cả Saruman lẫn Kẻ Thù đều đang theo dõi chúng ta gắt gao. Khi anh lên phía Bắc, Boromir ạ, trong mắt Kẻ Thù anh chỉ là một kẻ bộ hành lang bạt từ miền Nam, chẳng đủ làm hắn bận tâm: tâm trí hắn còn bận bịu theo đuổi chiếc Nhẫn. Nhưng giờ đây anh trở về như một thành viên của Hội Đồng Hành bảo vệ Nhẫn, và anh còn bị hiểm nguy chừng nào anh còn đi cùng chúng tôi. Hiểm nguy sẽ càng tăng theo mỗi lý đường đưa chúng ta xuống phía Nam, bên dưới bầu trời trần trụi này.
“Vì chúng ta đã lộ mình khi thử đi con đường đèo, nên tôi e rằng cảnh ngộ của chúng ta giờ đây đã trở nên tuyệt vọng hơn. Tôi chẳng thấy còn mấy hy vọng nữa, nếu chúng ta không sớm biến khỏi tầm nhìn một thời gian, và ngụy trang đường đi. Vì thế lời khuyên của tôi là thay vì vượt qua, hay đi vòng quanh, chúng ta hãy đi luồn dưới núi. Đó chính là con đường mà dù thế nào Kẻ Thù cũng ít mong đợi chúng ta chọn nhất.”
“Chúng ta không thể biết hắn mong đợi gì,” Boromir nói. “Có thể hắn theo dõi mọi con đường, có thể thế, có thể không. Trong trường hợp đó, tới Moria có nghĩa là chúng ta bước vào một cái bẫy, chẳng khá hơn việc tới cổng Tòa Tháp Tối mà gõ cửa chút nào. Ngay cái tên Moria cũng có nghĩa là đen tối rồi.”
“Anh toàn nói về những thứ anh không biết, khi anh ví Moria với thành trì của Sauron,” Gandalf trả lời. “Ở đây tôi là người duy nhất từng chui xuống ngục sâu của Chúa Tể Hắc Ám, mà đấy chỉ là nơi cư ngụ ngày xưa, thấp kém hơn của hắn ở Dol Guldur. Còn những ai đã từng đi qua cánh cổng Barad-dûr đều không trở về. Nhưng tôi sẽ không đưa các anh đến Moria nếu chẳng có chút hy vọng thoát thân nào. Sẽ là không may cho chúng ta nếu ở đó có lũ Orc, thật vậy đấy. Thế nhưng hầu hết Orc sống trong Dãy Núi Mù đều đã bị tiêu diệt hoặc đánh đuổi trong Trận Chiến Năm Đạo Quân. Đàn Đại Bàng đã thông báo rằng lũ Orc lại đang hội quân ở những nơi cách xa đây, thế nhưng vẫn có hy vọng là Moria chưa bị đụng tới.
“Thậm chí còn có khả năng là Người Lùn đang ở đó, và biết đâu còn có cả Balin con trai Fundin ở bên trong những sảnh ngầm của tổ tiên ông ấy. Nhưng chốn ấy thực hư thế nào thì ta cứ phái đi trên con đường cần được nhất trí lựa chọn ấy đã!”
“Tôi sẽ đi con đường ấy cùng ông, Gandalf!” Gimli nói. “Tôi sẽ đi và nhìn tận mắt những tòa sảnh của Durin, mặc xác thứ gì đang chờ trong đó - nếu ông có thể tìm được những cánh cửa đã đóng sập.”
“Tốt lắm, Gimli!” Gandalf nói. “Anh đã tiếp thêm can đảm cho tôi. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm những cánh cửa bí mật. Và chúng ta sẽ đi vào. Trong đống đổ nát của Người Lùn, cái đầu của Người Lùn sẽ đỡ bị hoang mang hơn đầu của người Tiên hay Con Người hay Hobbit. Hơn nữa đây cũng sẽ không phải lần đầu tôi đặt chân tới Moria. Tôi đã ở đó rất lâu để tìm Thráin con trai Thrór sau khi ông ấy mất tích. Tôi đã vào bên trong, và tôi vẫn sống sót đi ra!”
“Tôi cũng từng một lần bước qua Cổng Lạch Râm,” Aragorn lặng lẽ nói; “và mặc dù tôi cũng thoát ra được, nhưng ký ức về nó quá khủng khiếp. Tôi không muốn phải vào Moria thêm lần thứ hai nữa.”
“Còn tôi thì không muốn vào đó, kể cả là một lần,” Pippin nói.
“Tôi cũng thế,” Sam lẩm bẩm.
“Tất nhiên rồi!” Gandalf nói. “Ai muốn thế chứ? Nhưng câu hỏi là: Ai sẽ theo tôi, nếu tôi dẫn đường tới đó?”
“Tôi theo,” Gimli hăm hở nói.
“Tôi theo,” Aragorn nặng nề nói. “Tôi đã gần như dẫn ông vào thảm họa trong cơn bão tuyết, vậy mà ông không trách cứ tôi một lời nào. Giờ tôi sẽ theo ông - nếu lời cảnh báo cuối cùng này không lay chuyển được ông. Không phải vì lo cho chiếc Nhẫn, hay vì bất cứ ai trong số chúng tôi, mà vì chính ông đấy, Gandalf ạ. Và để tôi nói điều này: một khi ông đã bước qua cánh cổng Moria, xin hãy cẩn thận!”
“Tôi sẽ không đi,” Borormir nói; “cho tới chừng nào toàn bộ Hội Đồng Hành biểu quyết chống lại tôi. Legolas và các cậu thấp bé nói gì đây? Chúng ta chắc cũng cần nghe cả ý kiến của Người Mang Nhẫn nữa chứ?”
“Tôi không muốn đến Moria,” Legolas nói.
Nhóm Hobbit chẳng nói gì. Sam đưa mắt nhìn Frodo. Rồi rốt cục Frodo cũng lên tiếng. “Tôi không muốn đi,” cậu nói; “nhưng tôi cũng không muốn phản đối ý kiến của Gandalf. Tôi xin mọi người đừng biểu quyết lúc này, chỉ sau khi chúng ta đi ngủ và suy nghĩ đã. Gandalf sẽ có được kết quả biểu quyết dễ dàng hơn trong ánh sáng ban ngày chứ không phải trong bóng đêm u ám lạnh lẽo này. Tiếng gió hú mới ghê rợn làm sao!”
Sau những lời nói đó, tất cả đều rơi vào im lặng trầm tư. Họ nghe thấy tiếng gió rít giữa những tảng đá và cây cối, còn có cả tiếng hú và rên rỉ khắp nơi quanh họ, trong không gian trống rỗng của đêm tối.
Bất chợt Aragorn nhảy dựng lên. “Tiếng gió hú mới ghê rợn làm sao!” chàng thét lên. “Nó đang hú bằng tiếng sói. Lũ Sói tinh đã đến được phía Tây Dãy Núi!”
“Vậy chúng ta còn cần đợi đến sáng nữa không?” Gandalf nói. “Đúng như tôi đã nói. Cuộc săn lùng đã bắt đầu! Ngay cả nếu chúng ta còn sống để thấy bình minh thì bây giờ còn ai muốn đi về phía Nam lúc đêm hôm cùng lũ sói hoang theo sát gót đây?”
“Moria còn bao xa nữa?” Boromir hỏi.
“Có một cánh cổng phía Tây Nam ngọn Caradhras, chừng muời lăm dặm đường chim bay, và chắc khoảng hai mươi dặm theo đường sói chạy,” Gandalf trả lời u ám.
“Vậy thì chúng ta hãy lên đường ngay khi ánh sáng ngày mai hé rạng, nếu ta còn có thể,” Boromir nói. “Nghe tiếng sói tru còn tệ hơn cả nghe tiếng quỷ hù.”
“Đúng vậy!” Aragorn hưởng ứng, nới lỏng thanh kiếm khỏi bao. “Thế nhưng sói tru ở đâu, quỷ hù ở đó.”
“Ước gì tôi đã nghe theo lời dặn của Elrond,” Pippin lẩm bẩm với Sam. “Dù thế nào tôi cũng chẳng có tài cán gì. Dòng máu cụ Bandobras Bò Rống không chảy nhiều trong tôi: tiếng tru kia khiến máu tôi đông lại. Tôi không nhớ đã bao giờ khốn khổ thảm hại thế này chưa.”
“Cậu Pippin, trái tim tôi giờ đã rụng xuống tận ngón chân,” Sam nói. “Nhưng mà chúng ta vẫn chưa thành thức ăn, và vẫn còn có cả lố người khỏe mạnh ở cùng ta. Bất kể thứ gì đang chờ đón lão Gandalf già, tôi dám cá nhất định không phải là một cái bụng sói.”
Để phòng vệ trong đêm tối, Hội Đồng Hành leo lên đỉnh ngon đồi nhỏ họ vừa dựng trại dưới chân. Trên đó mọc đầy những cây cổ thụ thân cành vặn vẹo, bao xung quanh còn có vòng tròn đá tảng đã vỡ nát. Ngay ở giữa chỗ đó, họ nhóm lên một đống lửa, bởi chẳng còn hy vọng bóng đêm và lặng im có thể che giấu được đường đi khỏi bầy sói săn nữa.
Họ ngồi quanh đống lửa, những người không phải canh gác ngủ chập chờn. Chú ngựa lùn Bill tội nghiệp đứng run rẩy đến vã mồ hôi. Tiếng sói hú lúc này đã ầm ĩ xung quanh họ, lúc gần lúc xa. Đến nửa đêm, đã thấy vô số con mắt bừng sáng nhìn chằm chằm quanh sườn đồi. Một vài con còn tiến sát đến tận vòng đá. Tại chỗ hở của bức tường đá, có thể thấy một hình thù sói khổng lồ đang quanh quẩn, trừng mắt nhìn họ. Nó chợt cất lên tiếng hú lạnh gáy, cứ như thể đó chính là con thủ lĩnh đang gọi đàn chuẩn bị tấn công.
Gandalf vùng đứng dậy và sải bước tới trước, giơ cây trượng lên cao. “Nghe đây tên Chó Săn của Sauron!” lão thét lên. “Gandalf đang ở đây. Biến đi, nếu mi còn quý trọng làn da thối tha của mi! Nếu mi vào trong vòng tròn này, ta sẽ sấy khô mi từ đuôi tới mõm.”
Con sói hực lên rồi nhảy một bước dài về phía họ. Ngay lúc đó là một tiếng tưng nghe sắc lẹm. Legolas vừa nhả dây cung. Một tiếng thét ghê rợn vang lên, và hình thù hùng hổ bỗng rơi phịch xuống đất, mũi tên tiên đã xuyên thủng cuống họng nó. Những cặp mắt theo dõi bất chợt phụt tắt. Gandalf và Aragorn bước ra, nhưng ngọn đồi đã vắng tanh; đàn sói săn đã tháo chạy. Màn đêm xung quanh họ lặng im như tờ, và không một tiếng hú nào còn cất lên cùng tiếng thở than của gió.
Đêm đã muộn, vầng trăng khuyết lặn dần về phía Tây, hắt ánh sáng mờ tỏ qua những đám mây vụn. Đột nhiên Frodo bừng tỉnh. Không hề báo trước, một cơn bão những tiếng hú dữ tợn và man dại bùng lên khắp quanh trại. Một đội quân Sói tinh hùng hậu đã lặng lẽ tụ họp giờ đây bất ngờ cùng tấn công họ từ mọi phía.
“Cho tiếp củi vào lửa!” Gandalf hét lên với nhóm Hobbit. “Hãy tuốt gươm và đứng xoay lưng vào nhau!”
Trong ánh sáng chập chờn khi những thanh củi mới vừa bén lửa, Frodo nhìn thấy rất nhiều bóng xám nhảy qua vòng tròn đá. Lớp sau tiếp nối lớp trước. Aragorn tung nhát kiếm xuyên họng con dẫn đầu to xác; với một cú vung mạnh mẽ Boromir cũng đốn bay đầu một con khác. Bên cạnh họ Gimli đứng thủ thế trên đôi chân xoạc vững chãi, tay vung chiếc rìu của Người Lùn. Cây cung của Legolas thì đang ca hát.
Gandalf bỗng như lớn lên trong ánh lửa bập bùng: lão vươn người thành một hình thù đồ sộ đầy vẻ doạ dẫm như pho tượng một vị vua cổ đại nào đó đứng trên đỉnh đồi. Khom mình xuống giống một đám mây, lão nhặt lên một cành củi cháy rồi sải bước ra giáp mặt lũ sói. Chúng chùn lại trước mặt lão. Vung lên cao lão xoay tròn cành cây rực lửa. Nó bất ngờ bùng lên sáng trắng chói lòa như tia sét; và giọng lão rền vang như sấm.
“Naur an edraith ammen! Naur dan i ngaurhoth!” lão thét.
Một tiếng gầm vang lên kèm theo tiếng nổ lách tách, và cái cây phía trên lão bùng lên thành ngọn lửa chói lòa tung hoa trổ lá. Lửa lan từ ngọn cây này sang ngọn cây khác. Cả ngọn đồi như được chụp lên một vương miện lửa rực rỡ. Kiếm và dao của những kẻ phòng thủ vung lên loang loáng. Mũi tên cuối cùng của Legolas bén lửa giữa không trung lúc đang bay, rồi găm rừng rực vào tim một con sói chỉ huy khổng lồ. Lũ còn lại vội vã tháo lui.
Ngọn lửa lụi dần tới khi chẳng còn lại gì ngoài tro rơi lả tả và tàn lửa lập lòe; khói cay xè cuồn cuộn phía trên những gốc cây cháy sém, và bốc lên đen kịt từ trên đồi, khi ánh bình minh đầu tiên ló dạng lờ mờ trên bầu trời. Kẻ thù của họ đã rút chạy và không trở lại nữa.
“Tôi đã nói mà, cậu Pippin,” Sam nói trong khi tra thanh gươm vào vỏ. “Sói chẳng làm gì được ông ấy đâu. Cảnh đó đúng là mở mắt cho người ta, chứ không sai! Suýt nữa thì tóc trên đầu tôi đã cháy sém!”
Khi đất trời sáng rõ, không một dấu hiệu nào của bầy sói được phát hiện, họ cũng tìm kiếm một cách vô ích những xác chết. Không còn bất cứ một dấu hiệu nào của trận chiến ngoài những thân cây bị đốt thành than và những mũi tên của Legolas nằm trên đỉnh đồi. Tất cả đều nguyên vẹn, duy có một trong số đó chỉ còn sót lại phần mũi.
“Đúng như tôi lo ngại,” Gandalf nói. “Đây không phải lũ sói thường vẫn săn mồi nơi hoang dã. Hãy ăn nhanh rồi đi thôi!”
Ngày hôm ấy thời tiết lại thay đổi, gần như thể theo mệnh lệnh của một quyền năng nào đó rằng không cần đến bão tuyết bởi họ đã rút ra khỏi con đường đèo, thứ quyền năng đó giờ đây lại muốn trời quang mây tạnh để bất cứ thứ gì di chuyển trên miền hoang dã đều có thể nhìn thấy được từ xa. Cơn gió thổi lên phía Bắc rồi sang hướng Tây Bắc đêm hôm trước giờ đây tắt lặng. Những đám mây biến mất về phái Nam, bầu trời mở ra, cao và xanh ngắt. Lúc họ đứng trên sườn đồi, chuẩn bị lên đường, một dải nắng nhạt phết nhẹ lên đỉnh dãy núi.
“Chúng ta phải đến được cánh cổng trước khi mặt trời lặn,” Gandalf nói, “nếu không tôi e rằng chúng ta sẽ chẳng bao giờ đến đó được nữa. Chẳng còn bao xa, nhưng đường đi có thể rất vòng vèo, vì đến đây Aragorn không thể dẫn đường được nữa; anh ấy hiếm khi đặt chân lên vùng đất này, còn tôi mới chỉ đến phía dưới bức tường Tây Moria duy nhất một lần, cũng từ lâu lắm rồi.”
“Nó nằm ở kia,” lão vừa nói vừa chỉ tay về phía Đông Nam, nơi sườn dãy núi đổ thẳng đứng xuống vùng bóng phủ dưới chân họ. Ngay từ xa đã có thể nhìn thấy lờ mờ một dải những vách đá trần trụi, và ở chính giữa, vượt hẳn lên cao, là một bức tường xám lớn. “Sau khi rời con đường đèo, tôi đã dẫn các anh xuống phía Nam chứ không quay trở lại điểm xuất phát trước, như một số các anh có thể đã thấy. Cũng hay là tôi đã làm vậy, vì giờ thì ta sẽ được bớt đi nhiều dặm đường, mà lại cần phải khẩn trương. Đi thôi nào!”
“Tôi chẳng biết điều gì đáng hy vọng hơn nữa,” Boromir nói dứt khoát; “rằng Gandalf sẽ thấy những gì ông ấy tìm kiếm, hoặc rằng khi đi đến vách núi kia chúng ta sẽ thấy cánh cổng đã mất dấu vĩnh viễn. Mọi lựa chọn đều tồi tệ, và khả năng cao nhất là chúng ta sẽ bị kẹt giữa đàn sói và bức tường. Tiến lên!”
Giờ đến lượt Gimli đi đầu bên cạnh thầy phù thủy, gã nóng lòng đến Moria. Họ cùng nhau dẫn Hội Đồng Hành hướng trở về phía dãy núi. Con đường cổ duy nhất dẫn đến Moria từ hướng Tây nằm trải dọc theo dòng suối tiên là Sirannon, bắt nguồn từ chân vách núi gần vị trí cánh cổng trước đây. Thế nhưng không biết Gandalf đã nhầm đường hay vùng đất gần đây đã đổi thay; bởi lão không đến được con suối nơi lão chắc mẩm, nghĩa là chỉ vài dặm về phía Nam từ nơi họ đứng.
Buổi sáng ngả dần sang trưa, nhưng Hội Đồng Hành vẫn lang thang, mò mẫm trên vùng đất trống trải toàn đá đỏ. Họ không thấy dấu vết nào của nước hay nghe được âm thanh nước chảy ở bất cứ đâu. Tất cả đều hoang vắng và khô cằn. Lòng họ cũng chùng xuống. Họ không thấy có sinh vật sống nào, cũng chẳng có một bóng chim nào trên trời; thế nhưng đêm sẽ mang đến thứ gì, nếu nó bắt kịp họ trên mảnh đất hoang vắng này, thì chẳng ai muốn nghĩ
Đột nhiên Gimli, người vẫn hăm hở đi ở phía trước, gọi vọng về phía họ. Gã đứng trên một gò đất nhỏ, chỉ tay về phía phải. Vội vã tiến tới, họ thấy bên dưới có một con kênh sâu nhưng hẹp. Nó hoàn toàn trống rỗng, im lìm, và một dòng nước như ri rỉ chảy qua những viên đá nâu và đốm đỏ ở dưới đáy, thế nhưng ở phía bờ gần họ lại có một lối đi, quá đỗi mấp mô và tàn tạ, nó len lỏi giữa những bờ tường đổ và đá lát cũ của một xa lộ cổ xưa.
“A! Rốt cục thì nó ở đây!” Gandalf kêu lên. “Đây chính là nơi dòng suối chảy qua: Sirannon, dòng suối Cổng, họ vẫn thường gọi như vậy. Nhưng chuyện gì đã xảy ra với dòng nước thì tôi không biết được; xưa kia nó chảy xiết và rất ồn ào. Đi thôi! Khẩn trương lên nào. Chúng ta muộn mất rồi.”
Cả Hội Đồng Hành đều đau chân và mệt mỏi, thế nhưng họ vẫn bền bỉ lê bước theo lối đi quanh co gập ghềnh suốt nhiều dặm. Mặt trời rời vị trí chính ngọ và bắt đầu hướng về Tây. Sau chặng nghỉ ngắn và bữa ăn vội vàng họ lại tiếp tục lên đường. Phía trước họ dãy núi đầy vẻ khó chịu, tuy nhiên con đường lại nằm trong hõm đất sâu nên họ chỉ nhìn thấy phần sườn trên và những đỉnh núi Đông xa xa.
Một hồi lâu, họ đến một đoạn quành gấp. Ở đó con đường, vốn xoay về phía Nam giữa một bên là bờ suối và một bên là dốc đứng của vùng đất phía trái, lại đột ngột ngoặt sang hướng Đông lần nữa, vòng qua góc đường, họ thấy ở phía trước có một vách đá thấp, cao chừng năm sải, phần đỉnh vỡ nẻ lởm chởm. Một dòng nước ri rỉ chảy nhỏ giọt từ trên vách, qua một khe rộng dường như đã được tạc mòn bởi một dòng thác từng đầy tràn và mạnh mẽ.
“Quả tình mọi thứ đã thay đổi!” Gandalf nói. “Nhưng nơi này thì không thể nhầm lẫn được. Đây là tất cả những gì còn sót lại của Thác Bên Thang. Nếu tôi nhớ chính xác thì một bên có một dãy bậc thang tạc vào đá, thế nhưng con đường chính lại bẻ sang trái, rồi uốn lượn nhiều vòng lên mặt đất bằng ở trên đỉnh. Từng có một thung lũng nông phía bên kia thác giáp với Bức Tường Moria, còn dòng Sirannon chảy qua thung cùng với con đường ở bên cạnh. Chúng ta hãy đi xem mọi thứ giờ đây thế nào!”
Họ tìm thấy những bậc đá mà chẳng găp phải khó khăn nào và Gimli nhanh nhảu nhảy lên các bậc, theo sau là Gandalf và Frodo. Thế nhưng khi lên được đến đỉnh, họ nhận ra là chẳng thể tiếp tục đi theo con đường này nữa, và nguyên nhân khiến dòng suối Cổng khô cạn cũng được hé lộ. Đằng sau họ vầng Mật Trời đang lặn dát lên bầu trời dịu mát đằng Tây một lớp vàng mờ ảo. Phía trước họ trải ra một hồ nước đen thẫm lặng tờ. Cả bầu trời lẫn buổi hoàng hôn đều không hề phản chiếu trên mặt hồ ảm đạm. Dòng Sirannon đã bị đắp đập chặn lại và nhấn chìm toàn bộ thung lũng. Ở phía bên kia hồ nước đầy hung gở là những vách đá rộng lớn sừng sững, bề mặt lạnh lùng xám xịt của chúng nhợt nhạt trong ánh chiều tà: đường cùng và không qua nổi. Chẳng có dấu hiệu nào của lối vào hay cánh cổng, thậm chí không có bất cứ mảng vỡ hay vết nứt nào Frodo có thể thấy được trên mặt đá dữ tợn.
“Bức Tường Moria đấy,” Gandalf nói, tay chỉ qua mặt nước. “Và ở đó Cánh cổng đã đứng một thời, cánh Cửa Tiên cuối con đuờng từ Đất Nhựa Ruồi mà chúng ta vừa đi theo. Nhưng lối này đã bị chặn. Tôi đoán chẳng có ai trong Hội Đồng Hành muốn bơi qua hồ nước ảm đạm kia vào buổi cuối ngày. Trông nó thật là chẳng lành.”
“Chúng ta phải đi tìm đường đi vòng qua mép phía Bắc,” Gimli nói. “Điều đầu tiên Hội Đồng Hành phải làm là trèo lên theo con đường chính để xem nó dẫn đến đâu. Ngay cả nếu không có hồ nước nào, chúng ta cũng chẳng thể lôi con ngựa thồ đi lên được bậc thang này.”
“Mà dù thế nào chúng ta cũng không thể đưa con vật tội nghiệp vào Khu Mỏ,” Gandalf nói. “Con đường dưới lòng núi rất tối, có những nơi chật hẹp và dựng đứng mà nó sẽ không thể qua, ngay cả nếu chúng ta đi được.”
“Bill già tội nghiệp!” Frodo nói. “Tôi không lường được việc này. Và Sam tội nghiệp! Không biết cậu ấy sẽ nói gì đây?”
“Ta rất tiếc,” Gandalf nói. “Bill tội nghiệp là một thành viên hữu dụng và ta rất đau lòng khi phải thả nó đi lang thang. Nếu ta rõ được phải đi đường nào, ta đã mang nhẹ hơn và không đem theo con vật nào, nhất lại là con thú mà Sam cưng chiều. Lúc nào ta cũng đã sợ rằng chúng ta rồi sẽ buộc phải đi con đường này.”
Ngày dần tàn, những vì sao lạnh giá bắt đầu sáng lấp lánh cao tít phía trên buổi hoàng hôn, khi Hội Đồng Hành vận cả tốc lực họ có trèo qua những con dốc mà đến được bờ hồ. Bề ngang hồ nước xem ra không hơn dăm sáu trăm thước tại điểrn rộng nhất. Họ không ước lượng được nó trải dài xuống phía Nam bao xa trong buổi nhá nhem; thế nhưng từ điểm họ đứng tới bờ Bắc chỉ còn cách không quá nửa dặm, và giữa vách núi đá bao quanh thung lũng với mép hồ có một dải đất trống. Họ vội vã tiến lên phía trước, bởi vẫn còn một hai dặm đường nữa phải vượt qua trước khi họ đến đựơc vị trí Gandalf muốn đến ở phía bờ bên kia; và rồi lão vẫn còn phải đi tìm cánh cổng.
Khi họ tới được góc phía cực Bắc của bờ hồ, họ bắt gặp một lạch nước hẹp chắn ngang lối đi. Xanh lè và tù đọng, con lạch đâm ra như một cánh tay nhớp nháp vươn về phía vòng đồi. Gimli bước xuống không hề nao núng và phát hiện ra dòng nước rất nông, chỉ ngập không quá mắt cá chân ở phía gần bờ. Đi sau gã, họ nối bước thành hàng, len lỏi một cách thận trọng, bởi bên dưới con nước đầy rong rêu này toàn đá dễ trượt, lại trơn, mỗi bước chân đều khó đoán. Frodo rùng mình gớm ghiếc khi chạm bàn chân xuống dòng nước đen tối bẩn thỉu.
Khi Sam, người đi cuối cùng trong Hội Đồng Hành, vừa dẫn Bill lên được bờ đất khô ráo phía bên kia, thì một âm thanh khẽ vang lên: một tiếng vút, theo sau đó là tiếng rơi tõm, như thể có một chú cá vừa đánh động mặt hồ phẳng lặng. Họ vội quay lại nhìn và thấy những gợn sóng đen loang loáng trong ánh hoàng hôn nhạt nhòa: những vòng sóng lớn loang ra từ một điểm nào đó cách xa bờ hồ. Họ nghe thấy tiếng sủi tăm trước khi tất cả lại rơi vào im lặng. Cảnh chạng vạng mỗi luc mỗi mờ tối, và ánh hoàng hôn cuối cùng cũng đã khuất hẳn trong mây.
Gandalf lúc này hối hả bước đi, những người kia vội vã bám theo cật lực. Rồi họ cũng đến được dải đất khô nằm giữa hồ nước và sườn núi: dải đất này hẹp, nhiều nơi không rộng đến chục thước, đã vậy còn ngổn ngang đầy đá lở, thế nhưng họ tìm ra được một lối đi ôm lấy vách núi và họ cố càng cách xa được hồ nước đen ngòm càng tốt. Xuôi theo bờ hồ về phía Nam khoảng một dặm họ gặp những cây nhựa ruồi. Những gốc và cành cây chết nằm mục nơi vùng nước cạn, xem ra là chứng tích sót lại từ những bụi um tùm, hoặc những hàng dậu từng trải dọc suốt con đường xuyên qua thung lũng nay đã ngập nước. Thế nhưng sát chân vách núi vẫn còn hai cây cao, mạnh mẽ và tràn đầy sinh lực, to hơn bất cứ cây nhựa ruồi nào Frodo từng thấy hay tưởng tượng ra. Bộ rễ khổng lồ của chúng lan từ bức tượng ra đến tận bờ nước. Lúc nhìn xa mãi từ đỉnh Thang, chúng chỉ như một cây nhỏ mọc giữa vách núi lừng lững trên đầu; thế nhưng giờ đây thì chúng vươn sừng sững, cứng đờ, đen ngòm và im lặng, ném xuống quanh gốc bóng đêm đặc quánh và đứng đó như hai tháp canh phía cuối con đường.
“Rốt cuộc chúng ta cũng đã ở đây!” Gandalf nói. “Đây là nơi con đường Tiên từ Đất Nhựa Ruồi kết thúc. Nhựa ruồi là biểu tượng của người dân vùng này, họ trồng cây ấy ở đây đánh dấu điểm kết thúc lãnh thổ của mình; bởi Cửa Tây được xây dựng chủ yếu để phục vụ giao thương với các Chúa Mỏ Moria. Đó là những ngày tháng hạnh phúc, khi vẫn còn mối thân tình giữa những giống loài khác nhau, thậm chí là giữa Người Tiên và Người Lùn.”
“Tình bạn đó lụi tàn chẳng phải do lỗi của Người Lùn,” Gimli nói.
“Tôi chẳng nghe thấy ở đâu nói lỗi đó thuộc về Người Tiên,” Legolas đáp trả.
“Còn tôi lại nghe nói lỗi đó là của cả hai,” Gandalf nói; “và tôi sẽ không phán xét gì vào lúc này. Nhưng tôi xin hai anh, Legolas và Gimli, ít nhất hãy làm bạn của nhau, và giúp đỡ tôi. Tôi cần cả hai anh. Cánh cổng đã đóng sập và biệt tích, và chúng ta tìm được càng sớm thì càng tốt. Đêm tới nơi rồi!”
Lão quay lại phía những người khác nói: “Trong khi tôi tìm cánh cổng, mỗi người các anh sẽ chuẩn bị sẵn sàng để đi vào Moria chứ nhỉ? Bởi tôi e từ đây chúng ta phải nói lời từ biệt chú ngựa thồ giỏi giắn. Các anh cần bỏ lại phần lớn những thứ đã chuẩn bị cho thời tiết lạnh giá: khi vào bên trong đó các anh sẽ không cần đến, và tôi hy vọng cũng chẳng cần nữa một khi chúng ta đã qua được phía bên kia để tiếp tục Nam tiến. Thay vì thế, chúng ta sẽ phải chia nhau mang số hành lý của con ngựa thồ, đặc biệt là lương thực và những bao da đựng nước.”
“Nhưng ông không thể bỏ Bill già tội nghiệp lại vùng đất bị bỏ rơi này, thưa ông Gandalf!” Sam hét lên giận dữ và khổ sở. “Cháu không chịu đâu, dứt khoát là thế đấy. Sau khi nó đã trải qua chặng đường dài tới tận đây với đủ mọi chuyện!”
“Ta rất tiếc, Sam ạ,” thầy phù thủy nói. “Nhưng khi Cánh Cổng mở ra, ta không nghĩ cháu có thể kéo được Bill của cháu vào sâu bên trong khu hầm Moria dài và tăm tối đâu. Cháu sẽ phải lựa chọn giữa Bill và cậu chủ của cháu thôi.”
“Nếu cháu dắt, nó sẽ chịu đi cùng cậu Frodo vào tận hang rồng.” Sam phản đối. “Thả nó ra trong khi lũ sói đang rình rập khắp nơi thật chẳng khác gì đẩy vào chỗ chết.”
“Ta hy vọng không đến nỗi là đẩy vào chỗ chết,” Gandalf nói. Lão đặt một tay lên đầu chú ngựa lùn, hạ giọng nói. “Hãy đi cùng chỉ dẫn và những lời hộ mệnh. Mi là một con vật thông minh, và đã học được rất nhiều ở Thung Đáy Khe. Hãy tìm đường đến những nơi có cỏ, và rồi hãy trở lại nhà của Elrond, hay bất cứ nơi nào mi muốn.
“Rồi đấy Sam! Nó có nhiều cơ hội thoát khỏi lũ sói để trở về nhà cũng ngang như chúng ta vậy thôi.”
Sam đứng sưng sỉa bên chú ngựa lùn, chẳng buồn trả lời. Bill dường như hiểu rất rõ điều gì đang xảy ra, khẽ rúc mõm vào Sam, cọ mũi lên tai chú. Sam òa khóc, tay lần từng sợi đai, cởi bỏ hành lý ra khỏi lưng chú ngựa lùn và quẳng tất cả xuống đất. Những người khác chạy tới phân loại đồ đạc, chọn ra một đống những thứ có thể bỏ đi, và phân chia số còn lại.
Khi công việc hoàn tất, họ quay sang nhìn Gandalf. Có vẻ như lão chẳng đụng tay làm bất cứ việc gì. Lão đứng giữa hai thân cây, mắt nhìn chăm chú vào bức tường trống trên vách núi, như thể muốn khoan một lỗ vào đó bằng ánh mắt mình. Gimli đi lại xung quanh, giơ rìu gõ vào đá hết chỗ này tới chỗ khác. Còn Legolas thì áp người vào bề mặt đá như đang nghe ngóng cái gì.
“Nào, chúng ta đều ở đây và tất cả đã sẵn sàng,” Merry thông báo; “nhưng cánh cổng ở đâu? Cháu chẳng thấy bóng dáng nó đâu cả.”
“Cổng của Người Lùn không được dựng lên cho kẻ khác trông thấy khi đóng lại,” Gimli đáp. “Chúng vô hình, và nếu bí mật của chúng mà bị quên mất thì ngay cả chủ nhân chúng cũng không thể tìm thấy và mở ra được.”
“Nhưng Cánh Cổng này không phải được dựng lên để làm bí mật riêng chỉ Người Lùn mới biết,” Gandalf nói, đột nhiên hoạt bát hẳn lên và quay ngoắt lại. “Trừ khi mọi thứ đã bị thay đổi hết cả, cặp mắt nào biết phải tìm gì thì ắt sẽ khám phá ra dấu hiệu.”
Lão bước lại gần bức tường. Có một khoảng trống nhẵn thín ngay giữa bóng đổ hai cây nhựa ruồi, lão huơ tay qua lại phía trên, lầm bầm nói gì đó trong hơi thở. Rồi lão lùi lại.
“Nhìn đi!” lão nói. “Các anh có thấy gì không?”
Mặt Trăng lúc này đang tỏa sáng trên nền xám xịt của vách đá; nhưng họ chẳng thấy gì khác suốt một lúc lâu. Thế rồi tại bề mặt những nơi tay thầy phù thủy đã lướt qua, những đường nét mờ nhạt xuất hiện, như những đường gân bạc mỏng manh chạy trên đá. Mới đầu chúng chẳng khác gì những sợi tơ nhện nhợt nhạt, mảnh đến nỗi chỉ óng ánh thoáng chốc khi bắt ánh Trăng, nhưng rồi các đường nét cứ đậm thêm và rõ dần, cho đến khi có thể đoán ra được hình thù chúng tạo nên.
Ở phía trên cùng, nơi cao nhất Gandalf có thể với tới, là một mái vòm được kết bởi những ký tự quấn quýt nhau của ngôn ngữ Tiên. Bên dưới dù những đường nét có nhiều chỗ mờ đi hay đứt đoạn, họ vẫn nhận ra hình thù chiếc đe và cây búa cùng một vương miện với bảy ngôi sao lơ lửng ở bên trên. Phía dưới chúng lại là hai cái cây mà mỗi cái đều có họa tiết trăng lưỡi liềm. Ngay chính giữa cổng, rõ nét hơn tất cả các chi tiết khác, là hình một ngôi sao tỏa ra rất nhiều tia sáng.
“Kia là các biểu tượng của Durin!” Gimli thốt lên.
“Và Hai Cây của người Thượng Tiên!” Legolas nói.
“Và cả Ngôi Sao gia huy của Gia tộc Fëanor nữa,” Gandalf nói. “Chúng được khảm bằng ithildin, chỉ phản chiếu ánh sao và ánh trăng, và ngủ vùi cho đến tận khi có người đến chạm tới mà tụng những câu đã bị lãng quên từ lâu ở Trung Địa. Những câu này tôi đã được nghe từ cách đây lâu lắm rồi và tôi đã phải suy nghĩ rất lung mới triệu hồi được chúng về lại trong trí mình.”
“Những dòng chữ kia nói gì vậy?” Frodo hỏi, trong khi cố giải mã những dòng chữ trên mái vòm. “Cháu cứ tưởng mình biết mặt chữ Tiên, thế nhưng cháu không thể đọc được những chữ này.”

“Đó là ngôn ngữ từ Cựu Tiên của người Tiên vùng phía Tây Trung Địa,” Gandalf trả lời. “Nhưng những chữ viết đó chẳng nói lên điều gì hệ trọng với chúng ta. Chúng chỉ nói: Cánh Cổng của Durin, Chúa Mỏ Moria. Nói lên, hỡi bạn, rồi vào. Còn dòng chữ nhỏ và mờ ở phía dưới là: Ta, Narvi, đã xây cánh cổng. Celebrimbor Đất Nhựa Ruồi vẽ những dấu hiệu này.”
“Thế nói lên, hỡi bạn, rồi vào, có nghĩa là gì?” Merry hỏi.
“Điều đó đơn giản quá mà,” Gimli trả lời. “Nếu ngươi là bạn, hãy nói mật khẩu, cánh cổng sẽ mở ra, và ngươi có thể đi vào.”
“Đúng thế,” Gandalf nói, “cánh cổng này chắc hẳn được điều khiển bằng lời nói. Có nhiều cánh cổng của người Lùn chỉ mở ra vào một số dịp đặc biệt, hay cho một số người đặc biệt; và một số khác có ổ khóa nên dù đã nói mật khẩu hay đợi đến đúng thời điểm thì vẫn cần phải có chìa. Cánh cổng này không có chìa khóa. Vào thời Durin nơi này không có gì bí mật. Cổng thường được mở và lính canh cổng thì ngồi đây. Nhưng khi nó đóng lại thì hễ ai biết mật khẩu là có thể nói to lên rồi đi vào trong được. Ít nhất thư tịch cũng đã viết lại như vậy, phải thế không Gimli?”
“Đúng vậy,” gã lùn trả lời. “Thế nhưng mật khẩu là gì thì đã bị lãng quên. Narvi cùng tài nghệ của ông và tất cả họ hàng ông đều đã biến mất khỏi thế giới này.”
“Thế ông không biết mật khẩu sao, Gandalf?” Boromir ngạc nhiên hỏi.
“Đúng vậy!” thầy phù thủy trả lời.
Những người khác đều có vẻ chán nản; chỉ mình Aragorn, người biết rõ Gandalf, vẫn ngồi thản nhiên và im lặng.
“Thế thì đưa bọn tôi đến nơi đáng nguyền rủa này có tích sự gì?” Boromir hét lên, gã rùng mình liếc về phía hồ nước. “Ông nói với bọn tôi là ông đã từng đi qua Khu Mỏ. Làm sao như vậy được nếu ông không biết cách để vào bên trong?”
“Câu trả lời cho câu hỏi đầu tiên của anh, Boromir,” thầy phù thủy trả lời, “là tôi chưa biết câu trả lời. Nhưng chúng ta sẽ sớm biết thôi. Và,” lão nói với ánh mắt sáng lên dưới cặp lông mày rậm rạp, “cái câu hỏi những hành động của tôi có tích sự gì không, có lẽ anh nên đợi đến khi chúng rành rành là vô tích sự thì hẵng hỏi. Đối với câu hỏi kia: anh nghi ngờ câu chuyện của tôi sao? Hay anh chẳng còn chút trí khôn nào? Tôi đâu có vào lối này. Tôi đến từ phía Đông.
“Nếu anh muốn biết, tôi sẽ nói cho anh biết là cánh cổng này mở ra phía ngoài. Từ bên trong, anh có thể đẩy nó ra bằng tay. Nhưng từ bên ngoài chẳng có gì có thể lay chuyển được nó ngoài mật khẩu. Không thể dùng sức mà mở ngược vào trong.”
“Vậy ông định làm gì đây?” Pippin hỏi, không hề nao núng trước cặp lông mày đang trợn lên của thầy phù thủy.
“Định gõ cánh cổng kia bằng cái đầu của nhà ngươi, Peregrin Took,” Gandalf trả lời. “Nhưng nếu thế mà cổng vẫn không chịu mở ra, và ta không bị những câu hỏi ngớ ngẩn làm phiền, thì ta sẽ cố tìm mật khẩu.
“Tôi từng biết tất cả thần chú cho mục đích kiểu này bằng mọi ngôn ngữ của người Tiên, Con Người, hay Orc. Tôi vẫn còn nhớ hai chục tá mà chẳng cần phải cố công lục lại trong đầu. Nhưng tôi nghĩ chỉ cần thử một ít trong số đó là có thể hiệu nghiệm; và tôi cũng không cần nhờ cậy ở Gimli nói ra mấy từ của thứ ngôn ngữ bí mật mà Người Lùn chẳng bao giờ chịu tiết lộ với ai. Mật khẩu dùng tiếng Tiên, giống những gì viết trên mái vòm kia: có vẻ chắc chắn như thế.”
Lão lại bước tới vách đá, rồi lấy cây trượng chạm nhẹ vào ngôi sao bạc chính giữa cửa, bên dưới biểu tượng chiếc đe.
Annon edhellen, edro hi ammen!
Fennas nogothrim, lasto beth lammen!
Lão niệm bằng một giọng uy nghi, những đường ánh bạc mờ đi, nhưng mặt đá xám chẳng hề lay chuyển.
Lão lặp lại câu thần chú thêm nhiều lần, đảo thứ tự từ ngữ, hoặc biến đổi chúng đi, rồi lão thử sang những câu khác, câu này tiếp nối câu kia, khi thì nói nhanh, dõng dạc, khi lại mềm mỏng, chậm rãi. Rồi lão hô lên nhiều từ tiếng Tiên riêng rẽ. Chẳng có gì xảy ra. Vách núi dựng lên trong màn đêm, muôn vì sao theo nhau sáng rực, gió thổi lạnh ngắt, còn cánh cổng vẫn trơ ra vững chãi.
Gandalf tiến đến bức tường lần nữa, lão giơ hai tay và nói như ra lệnh, giọng lão càng lúc càng thêm thịnh nộ. Edro Edro! Lão thét, rồi đâm mạnh cây trượng vào mặt đá. Mở ra, mở ra! lão quát lên rồi tiếp tục niệm câu mệnh lệnh đó bằng mọi thứ tiếng đã từng được nói ở miền Tây Trung Địa. Cuối cùng lão quăng trượng xuống đất, và ngồi xuống im lặng.
Ngay lúc đó cơn gió từ xa thổi tới mang đến tai họ tiếng hú của lũ sói. Chú ngựa lùn Bill vùng vẫy hoảng hốt, Sam vội nhảy đến bên nó, và thì thầm an ủi nó.
“Không được để nó chạy đi!” Boromir nói. “Có vẻ như chúng ta vẫn phải cần đến nó, nếu lũ sói không tìm ra được chúng ta. Tôi ghét cái hồ bẩn thỉu này quá!” Gã cúi người nhặt một viên đá lớn ném mạnh vào giữa mặt nước tối đen.
Viên đá biến mất cùng một tiếng vỗ nhẹ; thế nhưng ngay sau đó mặt nước chợt lao xao và sủi bọt. Những vòng nước khổng lồ gợn lên trên mặt nước từ nơi viên đá rơi xuống, rồi chầm chậm lan về phía chân vách đá.
“Sao anh lại làm thế, Boromir?” Frodo hỏi. “Tôi cũng ghét nơi này, và tôi còn sợ nữa. Nhưng tôi không biết mình sợ điều gì: không phải lũ sói, không phải bóng tối đằng sau cánh cổng kia, mà là một thứ gì đó khác. Tôi sợ hồ nước kia. Đừng đánh động nó!”
“Em ước sao chúng ta được đi khỏi đây!” Merry nói.
“Sao Gandalf không làm gì nhanh nhanh lên một chút?” Pippin hùa theo.
Gandalf chẳng buồn chú ý đến họ. Lão ngồi cúi mặt xuống đất, không biết tuyệt vọng, hay suy nghĩ lo âu. Tiếng sói hú tang tóc lại vang lên. Những gợn sóng trên mặt nước tiến lại gần hơn, một số đã vỗ vào bờ.
Thầy phù thủy bất thình lình nhảy cẫng lên khiến tất cả phải giật mình. Lão còn cười ha hả! “Tôi nghĩ ra rồi!” lão reo lên. “Dĩ nhiên rồi, dĩ nhiên rồi! Đơn giản đến ngớ ngẩn, giống như bất cứ câu đố nào ta đã biết được giải đáp.”
Nhặt cây trượng lên, lão đứng trước ngay cánh cổng và nói bằng một giọng dõng dạc: Mellon!
Ngôi sao sáng bừng lên trong chốc lát rồi lại tắt. Rồi không một tiếng động, những đường nét một cánh cổng lớn bỗng hằn lên mặt đá, dù trước đó không hề thấy bất cứ vết rạn hay khớp nối nào. Chiếc cổng từ từ tách đôi ở chính giữa rồi mở ra từng phân một, cho đến khi hai cánh cửa áp sát vào thành tường. Bên kia cổng, họ nhìn thấy lờ mờ một lượt bậc thang dốc đứng hướng lên cao; thế nhưng ở ngay phía trên những bậc thang đầu tiên bóng tối còn đậm đặc hơn cả màn đêm. Hội Đồng Hành nhìn chăm chú trong kinh ngạc.
“Rốt cuộc thì tôi đã nhầm,” Gandalf nói, “cả Gimli cũng vậy. Hóa ra Merry chứ chẳng phải ai khác lại đi đúng hướng. Mật khẩu mở cổng đã được khắc sẵn trên mái vòm! Câu này lẽ ra phải được dịch là: nói lên: ‘hỡi bạn’, rồi vào. Và tôi chỉ việc nói hỡi bạn bằng tiếng Tiên thế là cánh cổng mở ra. Thật đơn giản. Quá đơn giản so với cách suy nghĩ của một nhà thông thái am hiểu tích truyện trong những ngày ám muội này. Thời kỳ hạnh phúc kia đã qua lâu quá rồi. Giờ thì chúng ta đi thôi!”
Lão tiến lên phía trước, giẫm chân lên bậc thang đầu tiên. Thế nhưng ngay lúc đó, nhiều chuyện xảy ra cùng lúc, Frodo cảm thấy ở mắt cá chân như bị vật gì chộp lấy, cậu hét toáng lên khi ngã bổ nhào. Chú ngựa lùn Bill sợ hãi hí lên hoang dại, rồi quay đuôi phóng dọc theo bờ hồ vào trong bóng tối. Sam vội vọt theo sau, nhưng nghe thấy tiếng hét của Frodo chú liền chạy về, khóc lóc và nguyền rủa. Những người khác quay phắt lại thấy mặt nước hồ sủi lên sùng sục, như thể một đội quân rắn đang bơi tới từ phía bờ Nam.
Từ dưới nước thò ra một chiếc vòi dài bò ngoằn nghèo; nó nhớp nháp và phát sáng màu xanh nhợt. Đầu vòi xòe những ngón của nó đã nắm được chân Frodo, và cố kéo cậu xuống nước. Sam giờ đây khuỵu gối chém tới tấp vào nó bằng một con dao.
Cánh tay buông Frodo ra, Sam kéo cậu thoát khỏi nó, và kêu cứu ầm ĩ. Hai mươi cánh tay khác rẽ nước thòi lên. Mặt nước đen sôi sùng sục, và bốc lên mùi hôi thối.
“Vào trong cổng ngay! Lên cầu thang! Nhanh lên!” Gandalf nhảy ngược trở lại hò hét. Đánh thức họ khỏi nỗi kinh hoàng dường như đã khiến cả bọn, ngoại trừ Sam, đứng như trời trồng, lão xua bọn họ chạy lên phía trước.
Họ chạy vừa kịp lúc. Sam và Frodo mới lên được vài bậc còn Gandalf cũng chỉ mới bắt đầu leo thì những chiếc vòi sờ soạng đã trườn qua bờ hồ hẹp, rồi tóm lấy bức tường cùng cánh cổng. Một chiếc luồn lách vào bên trong, lấp loáng trong ánh sao. Gandalf quay người và dừng lại. Nếu lão định tìm câu thần chú nào để đóng cánh cổng lại từ bên trong thì không cần thiết nữa. Rất nhiều cánh tay xoắn lấy cả hai bên cánh cổng và lay giật chúng bằng sức mạnh khủng khiếp. Với một tiếng rầm chúng đóng sập lại, và toàn bộ ánh sáng phụt tắt. Qua tường đá nặng nề, vọng tới trầm đục những âm thanh của giằng xé và đổ vỡ.
Sam níu lấy tay Frodo, khuỵu xuống một bậc thang trong bóng đêm dày đặc. “Bill già tội nghiệp!” chú nghẹn ngào nói. “Bill già tội nghiệp! Hết sói lại đến rắn! Nhưng lũ rắn này thì vượt quá sức chịu đựng của nó rồi. Tôi buộc phải lựa chọn, cậu Frodo ạ. Tôi phải đi cùng cậu.”
Họ nghe thấy tiếng Gandalf đi xuống các bậc đá và đâm cây trượng vào chiếc cổng. Một cơn rùng mình chạy trong đá khiến cái cầu thang cũng phải run rẩy, thế nhưng hai cánh cổng vẫn chẳng hề mở ra.
“Chà, chà!” thầy phù thủy lên tiếng. “Lối đi đã đóng lại sau lưng chúng ta, và giờ chỉ còn duy nhất một lối ra - ở phía bên kia của dãy núi. Nghe âm thanh vừa rồi tôi e rằng đá đã lấp đầy bên ngoài, còn hai thân cây cũng đã bị nhổ rễ và quẳng xuống chắn ngang cổng. Tôi rất tiếc; bởi hai cái cây kia thật đẹp, và lại đứng đó từ lâu lắm rồi.”
“Cháu cảm thấy có thứ gì đó rất khủng khiếp ngay từ lúc chân cháu chạm xuống mặt nước,” Frodo nói. “Là thứ gì vậy, hay là có nhiều thứ?”
“Ta không biết nữa,” Gandalf trả lời; “nhưng tất cả những cánh tay đều hướng theo một mục đích. Thứ gì đó sẽ bò ra, hoặc bị xua ra khỏi làn nước đen dưới chân dãy núi. Có nhiều thứ còn lâu đời hơn và bẩn thỉu hơn bọn Orc bên dưới những đáy sâu của thế giới.” Lão không nói ra miệng suy nghĩ riêng của lão rằng, cho dù thứ sống dưới hồ nước đó là gì, nó cũng đã tóm lấy Frodo đầu tiên trong cả Hội Đồng Hành.
Boromir lẩm bẩm trong tiếng thở, nhưng lòng đá dội đã khuếch đại lên thành tiếng thì thầm khàn đục ai cũng nghe thấy: “Bên dưới những đáy sâu của thế giới! Và chúng ta đang đi về đó trái với ý tôi. Giờ ai sẽ dẫn đường chúng ta trong bóng tối chết chóc này đây.”
“Tôi sẽ dẫn,” Gandalf trả lời, “và Gimli sẽ đi bên cạnh tôi, đi theo cây trượng của tôi!”
Thầy phù thủy đi đầu, dấn bước trên những bậc thang lớn, lão giơ cao cây trượng, và từ đầu trượng tỏa ra hào quang mờ. Cầu thang rộng trông chắc chắn và không hề bị tổn hại. Họ đếm được hai trăm bậc, tất cả đều rộng bản và thấp; lên đến đỉnh, họ gặp một lối đi có vòm nền bằng phẳng dẫn sâu hơn vào bóng tối.
“Ta hãy ngồi xuống đầu cầu thang này nghỉ ngơi và ăn chút gì đó, bởi ta chắc chẳng tìm ra được phòng ăn nào đâu!” Frodo đề nghị. Cậu bắt đầu rũ bỏ được nỗi kinh hoàng bị cánh tay kia tóm chặt, và bỗng nhiên cảm thấy đói khủng khiếp.
Lời đề nghị được tất cả hưởng ứng; thế là họ ngồi xuống những bậc trên cao, những hình bóng lờ mờ trong cảnh u tối. Sau khi họ ăn xong, Gandalf lại chia cho mỗi người một ngụm miruvor của Thung Đáy Khe.
“Tôi e là chẳng còn lại bao nhiêu,” lão nói; “nhưng tôi nghĩ chúng ta cần đến nó sau nỗi kinh hoàng ở cổng. Và trừ phi vô cùng may mắn, bằng không chúng ta sẽ cần tất cả chỗ còn lại trước khi chúng ta thấy được phía bên kia. Và phải cẩn thận với cả nước nữa! Có rất nhiều suối và giếng trong Khu Mỏ, nhưng với chúng thì chớ có đụng vào. Chúng ta sẽ có thể sẽ không có cơ hội tiếp nước vào chai lọ và túi da trước khi đến được Lũng Lạch Râm.”
“Phải mất bao lâu nữa mới đến được đó?” Frodo hỏi.
“Ta không thể nói được,” Gandalf trả lời. “Phụ thuộc vào rất nhiều may rủi. Nhưng nếu đi thẳng mà không gặp rủi ro hay lạc đường, chúng ta sẽ mất khoảng ba bốn cuốc, ta nghĩ vậy. Khoảng cách theo đường thẳng giữa Cửa Tây và Cổng Đông không thể ngắn hơn bốn mươi dặm đâu, và con đường có thể sẽ rất vòng vèo.”
Sau chặng nghỉ ngắn ngủi, họ lại tiếp tục lên đường. Tất cả đều mong chấm dứt cuộc hành trình càng nhanh càng tốt, và dù đã quá mệt mỏi, họ vẫn đồng lòng tiến bước thêm vài giờ nữa. Gandalf vẫn dẫn đầu Hội Đồng Hành như trước. Tay trái lão giơ cao cây trượng, ánh sáng của nó chỉ đủ soi một vùng phía trước chân; tay phải lão lăm lăm thanh Glamdring. Gimli đi ngay phía sau, mắt gã lấp lánh mờ ảo mỗi lần gã quay đầu nhìn bên này bên kia. Bước đằng sau gã Người Lùn là Frodo, và cậu cũng đã rút ra thanh kiếm ngắn: Mũi Đốt. Lưỡi Glamdring lẫn Mũi Đốt đều không phát sáng, cũng đem lại chút an ủi, bởi là kiếm do thợ rèn Tiên chế tác vào thời Cựu Niên nên chúng chỉ tỏa ánh sáng lạnh mỗi khi có lũ Orc ở gần. Sam đi ngay đằng sau Frodo, rồi đến Legolas, rồi hai chàng Hobbit trẻ tuổi, và Boromir. Trong bóng tối phía sau cùng, lặng lẽ và dữ dằn, Aragorn cất bước.
Con đường ngoằn nghèo uốn vài khúc rẽ, rồi bắt đầu đi xuống. Nó đổ dốc liên tục một quãng dài trước khi lại chạy ngang. Không khí trở nên nóng bức ngột ngạt, tuy nhiên lại không hề hôi thối, và đôi lúc đoàn người cảm thấy như có luồng khí mát tràn qua mặt, từ những lỗ hở đoán là ở trên vách. Có rất nhiều lỗ như vậy. Trong ánh sáng nhợt nhạt từ cây trượng của thầy phù thủy, Frodo nhìn thấy thấp thoáng những bậc thang, mái vòm, và cả những lối đi, đường hầm khác nữa, hoặc dốc lên, hoặc thoải xuống, hoặc là mở ra một vùng đen ngòm ở hai bên. Đúng là rối rắm đến nỗi chẳng mong gì ghi nhớ nổi.
Gimli không giúp Gandalf được gì nhiều, ngoại trừ lòng dũng cảm kiên cường của gã. Ít ra gã không bị bản thân bóng đêm làm phiền, như hầu hết những người khác. Thầy phù thủy thường tham khảo ý kiến gã khi phải lựa chọn những con đường lão nghi ngờ; thế nhưng lúc nào Gandalf cũng là người đưa ra quyết định cuối cùng. Khu Mỏ Moria bao la và phức tạp vượt quá trí tưởng tượng của Gimli, con trai của Glóin, cho dù gã là giống Người Lùn sơn cước. Đối với Gandalf, những ký ức xa xôi của cuộc hành trình ngày xưa giờ không còn giúp ích được gì nhiều, thế nhưng ngay cả trong bóng đêm, mặc cho con đường có vòng vèo đến đâu lão vẫn biết rõ nơi lão muốn đến, và lão không hề nao núng, chừng nào vẫn có một lối đi hướng đến mục đích của lão.
“Đừng sợ!” Aragorn nói. Họ đang trong một chặng nghỉ dài hơn bình thường, và Gandalf thì thầm cùng với Gimli; những người khác tụm lại với nhau, lo lắng chờ đợi. “Đừng sợ! Tôi đã đi cùng ông ấy trong rất nhiều cuộc hành trình, dù chưa lần nào tối tăm thế này; và có nhiều câu chuyện ở Thung Đáy Khe kể về những chiến công của ông ấy, hiển hách hơn bất cứ chuyện gì tôi từng chứng kiến. Ông ấy sẽ không lạc đường - chừng nào vẫn còn đường có thể tìm được. Ông ấy đã dẫn chúng ta xuống đây bất chấp mọi sợ hãi của ta, nhưng ông ấy sẽ lại dẫn chúng ta ra, bằng bất cứ giá nào đối với chính bản thân ông ấy. Trong đêm tối như bưng, ông ấy biết rõ đường về nhà còn hơn lũ mèo của Hoàng Hậu Berúthiel.”
Thật tốt cho Hội Đồng Hành khi họ có được một người dẫn đường như vậy. Họ không có nhiên liệu hay bất cứ phương tiện gì để thắp đuốc; trong lúc trốn chạy tuyệt vọng ở cổng, quá nhiều thứ đã bị bỏ lại sau lưng. Mà không có chút ánh sáng nào, họ sẽ sớm rơi vào cơn thống khổ. Không chỉ có rất nhiều đường phải lựa chọn, mà còn có rất nhiều hầm hố, cạm bẫy, và cả những cái giếng tăm tối bên cạnh con đường, vọng lại những bước chân của họ. Có rất nhiều khe nứt và rãnh trên tường vách lẫn dưới nền, và thảng hoặc một khe sâu chợt mở ra ngay trước chân họ. Khe rộng nhất đã tới hơn bảy bộ, và phải một hồi lâu Pippin mới gom đủ dũng khí nhảy qua cái kẽ trống chết chóc ấy. Xa tít phía dưới có tiếng nước cuốn vọng lên, như thể một guồng nước khổng lồ nào đó đang quay trong sâu thẳm lòng đất.
“Thừng!” Sam lẩm bẩm. “Mình biết ngay là cứ hễ không mang theo là y rằng sẽ cần đến!”
Bởi những hiểm họa xuất hiện thường xuyên hơn, hành trình của họ trở nên chậm chạp hơn, họ cảm giác mình cứ đi, đi mãi không dừng cho tới tận gốc rễ của dãy núi. Họ còn tệ hơn cả kiệt sức, thế nhưng lại chẳng thoải mái gì khi nghĩ đến việc phải dừng lại nghỉ ngơi ở bất kỳ đâu. Tinh thần Frodo đã phấn chấn được đôi chút sau vụ thoát thân, cả sau bữa ăn, và sau ngụm rượu tiên; nhưng giờ đây cảm giác bất an sâu sắc, dâng lên thành sợ hãi, lại bò rần rần khắp người cậu. Dù vết dao đâm đã được chữa lành ở Thung Đáy Khe, vết thương ác nghiệt ấy vẫn để lại di chứng. Giác quan cậu giờ sắc bén hơn và dễ phát hiện những gì không thể nhìn thấy bằng mắt. Một thay đổi rõ ràng mà cậu sớm nhận ra là cậu nhìn trong đêm tối tốt hơn mọi người bạn đồng hành, có lẽ chỉ trừ Gandalf. Và dẫu gì cậu vẫn là người mang Nhẫn: nó treo trên sợi dây xích ngay trước ngực cậu, và chốc chốc lại dường nặng trĩu. Cậu cảm thấy rõ rệt cái ác chờ phía trước lẫn cái ác theo đằng sau; nhưng cậu không hề hé răng. Cậu nắm chuôi kiếm chặt hơn và lì lợm bước đi.
Đoàn người phía sau cậu hiếm khi nói chuyện với nhau, nếu có cũng chỉ thì thầm vội vã. Chẳng có bất cứ âm thanh nào trừ tiếng bước chân chính họ; tiếng đôi ủng Người Lùn của Gimli nện thình thịch; tiếng bước nặng nề của Boromir; tiếng chân nhẹ nhàng của Legolas; thảng hoặc lại có tiếng sột soạt khó nghe rõ của những đôi chân Hobbit; và ở sau cùng là tiếng bước chân chắc nịch, chậm rãi khi Aragorn sải bước. Ở những chặng nghỉ chốc lát, họ chẳng còn nghe thấy gì, họa hoằn lắm mới vẳng lên tiếng dòng chảy mơ hồ cùng nước tí tách đâu đó. Thế nhưng Forodo bắt đầu nghe thấy, hoặc tưởng tượng ra cậu nghe thấy, âm thanh gì đó khác: như tiếng chân trần rón bước. Âm thanh đó không bao giờ đủ to, hay đủ gần để cậu chắc chắn được mình nghe thấy; thế nhưng một khi nó đã bắt đầu thì nó cũng chẳng ngừng lại trong suốt thời gian Hội Đồng Hành di chuyển. Mà nó cũng chẳng phải là tiếng vọng, bởi khi họ nghỉ chân, nó vẫn cứ lộp cộp thêm một lúc rồi mới nín lặng.
Lúc đoàn người vào Khu Mỏ thì đêm đã xuống rồi. Họ đã đi liên tục trong nhiều giờ mà chỉ được nghỉ những chặng ngắn ngủi cho đến khi Gandalf gặp trở ngại nghiêm trọng đầu tiên. Trước mắt lão sừng sững cái cổng vòm tối tăm rất rộng, mở ra ba ngã đường: tất cả đều dẫn theo một hướng, về phía Đông, thế nhưng lối bên trái đâm xuống dưới, trong khi lối bên phải hướng lên trên, còn lối ở giữa có vẻ tiếp tục đi thẳng, êm ru bằng phẳng nhưng vô cùng chật hẹp.
“Tôi chẳng hề nhớ có nơi này!” Gandalf thừa nhận, trong lúc đứng do dự dưới mái vòm. Lão giơ cao cây trượng hy vọng tìm thấy ký hiệu hay chữ viết nào đó có thể giúp lão lựa chọn; thế nhưng chẳng thấy dấu vết nào như thế cả. “Tôi mệt mỏi quá rồi, không quyết định nổi nữa,” lão lắc đầu nói. “Và tôi nghĩ tất cả mọi người cũng mệt như tôi, hoặc còn mệt hơn. Tốt hơn chúng ta nên nghỉ lại đây cho nốt đêm. Các anh hiểu ý tôi rồi đấy! Trong này lúc nào cũng tối tăm; thế nhưng ở ngoài kia Mặt Trăng xế đang ngả về phía Tây và thời khắc nửa đêm đã trôi qua rồi.”
“Bill già tội nghiệp!” Sam nói. “Không biết giờ này nó ở đâu. Tôi mong lũ sói chưa bắt được nó.”
Phía bên trái mái vòm lớn họ bắt gặp một cánh cửa đá: nó chỉ khép hờ nên dễ dàng mở ra sau cú đẩy nhẹ. Bên trong có vẻ là một căn phòng rộng tạc thẳng vào đá.
“Khoan! Khoan!” Gandalf hét lên khi thấy Merry và Pippin nhao lên trước, quá mừng rỡ tìm ra được một nơi có thể nghỉ ngơi ít nhất cũng có cảm giác an toàn hơn là ngay giữa lối đi thông thống. “Khoan đã! Các ngươi còn chưa biết có gì bên trong mà. Để ta đi trước.”
Lão thận trọng bước vào, những người khác nối theo sau. “Thấy chưa!” lão nói, chỉ cây trượng vào giữa sàn phòng. Ngay phía trước chân lão, họ nhìn thấy một lỗ tròn lớn trông như miệng giếng. Và sợi xích đứt gãy han gỉ vắt trên miệng giếng và thõng xuống phía dưới đen ngòm. Cạnh đó la liệt những mảnh đá vỡ.
“Một trong hai cậu lẽ ra đã ngã xuống đó và đến giờ chắc vẫn đang tự hỏi khi nào mới xuống đến đáy,” Aragorn nói với Merry. “Chừng nào chúng ta còn có người dẫn đường thì cứ để ông ấy đi trước.”
“Có vẻ đây từng là phòng gác, được làm để canh chừng ba lối đi,” Gimli nói. “Cái hố kia rõ ràng là giếng nước cho lính gác, có nắp đá đậy lên. Nhưng giờ nắp đã vỡ, nên tất cả chúng ta phải cẩn thận trong bóng tối.”
Pippin cảm thấy như bị cái giếng hút hồn. Thế là trong khi những người khác trải chăn, chuẩn bị chỗ nằm sát vào phía vách phòng, cách càng xa miệng giếng càng tốt, cậu lại bò đến mép giếng nhìn xuống. Một luồng khí lạnh bốc lên như táp vào mặt cậu từ dưới đáy sâu vô hình. Trong một thoáng bốc đồng, cậu nhặt một viên đá vụn, thả xuống giếng. Cậu cảm thấy tim mình đập bao nhiêu nhịp trước khi nghe được bất cứ âm thanh nào. Rồi từ tít bên dưới, như thể viên đá đã rơi xuống một hang nước sâu. Có tiếng tõm dội lên, nghe rất xa xôi, nhưng được khuếch đại và vang vọng trong lòng giếng trống rỗng.
“Gì thế?” Gandalf hét lên. Lão tạm yên tâm khi nghe Pippin thú nhận việc đã làm; nhưng vẫn vô cùng giận dữ, đến nỗi Pippin có thể nhìn thấy cặp mắt lão lóe sáng. “Tên Took ngu xuẩn!” lão gầm lên. “Đây là chuyến đi hệ trọng chứ không phải tiệc đi bộ của Hobbit. Lần sau hãy tự ném ngươi xuống đó để khỏi làm phiền ai nữa. Giờ thì trật tự đi!”
Họ chẳng còn nghe thấy gì suốt nhiều phút sau đó, nhưng rồi từ đáy giếng bỗng vẳng lên những tiếng gõ yếu ớt: tùng-cách, cách-tùng. Tiếng gõ ngưng, rồi khi những tiếng vọng lắng xuống, nó lại tiếp tục: cách-tùng, tùng-cách, cách-cách, tùng. Âm thanh đáng lo ngại nghe như một hiệu lệnh nào đó; thế nhưng một lát sau tiếng gõ tắt hẳn không thấy tiếp tục nữa.
“Đó là tiếng búa, nếu không phải thì coi như tôi chưa từng nghe tiếng búa nào trong đời,” Gimli quả quyết.
“Đúng vậy,” Gandalf nói, “và tôi chẳng hề thích chút nào. Có thể chẳng liên quan gì đến viên đá ngu ngốc của Peregrin; thế nhưng có thể thứ gì đó đáng lẽ nên để mặc lặng yên thì lại bị đánh động. Làm ơn đừng lặp lại những việc đó nữa! Hy vọng chúng ta sẽ được nghỉ ngơi chút ít mà không có thêm rắc rối nào. Ngươi, Pippin, hãy gác luôn phiên đầu tiên mà chuộc lỗi,” lão gầm gừ, trong khi quấn mình vào một tấm chăn.
Pippin ngồi khổ sở bên cánh cửa trong màn đêm đen đặc như hắc ín; nhưng chốc chốc cậu lại quay người nhìn quanh, như sợ có thứ kỳ lạ nào đó sắp từ trong giếng bò lên. Cậu ước gì có thể đậy miệng hố lại, bằng mảnh chăn cũng được, thế nhưng cậu không dám động đậy hay bén mảng lại gần nó nữa, cho dù Gandalf dường như đã ngủ say.
Thực ra Gandalf vẫn thức, dù đang nằm yên lặng. Đầu lão nặng trĩu những suy nghĩ, cố lục lại từng ký ức về cuộc hành trình lần trước trong Khu Mỏ, và lo lắng tính con đường nên chọn tiếp theo; lột lối rẽ sai có thể trở thành thảm họa. Sau khoảng một giờ lão đứng dậy đi tới chỗ Pippin.
“Vào một góc ngủ đi, chàng trai,” lão ôn tồn nói. “Ta nghĩ ngươi đang muốn ngủ. Ta chẳng thể chợp mắt nổi, vậy hãy để ta canh gác luôn.”
“Ta biết có vấn đề gì rồi,” lão lẩm nhẩm khi ngồi xuống bên cạnh cửa. “Ta cần một hơi thuốc! Ta không được thưởng thức tí nào từ buổi sáng trước cơn bão tuyết.”
Hình ảnh cuối cùng mà Pippin nhìn thấy, trong cơn buồn ngủ đang xâm chiếm, là hình bóng đen đúa của thầy phù thủy già co mình trên nền đá, che một phần đầu mẩu gỗ nhóm đang rực đỏ trong đôi bàn tay xương xẩu đặt giữa hai đầu gối. Ánh lửa soi tỏ trong chốc lát chỏm mũi cao của lão, cùng với khói thuốc.
Gandalf là người đánh thức cả bọn khỏi giấc ngủ. Lão đã một mình ngồi canh suốt sáu giờ để những người còn lại nghỉ ngơi. “Và trong lúc ngồi canh tôi đã quyết định rồi,” lão nói. “Tôi không thích cái vẻ toát ra từ con đường ở giữa; tôi cũng không thích mùi của con đường bên trái: không khí dưới đó rất hôi thối, không thì tôi chẳng phải người dẫn đường. Tôi sẽ chọn con đường bên phải. Đã đến lúc chúng ta trèo trở lên rồi.”
Họ tiếp tục cuộc hành trình thêm tám giờ tăm tối nữa, không kể hai chặng nghỉ ngắn, mà không gặp bất cứ hiểm nguy gì, không nghe thấy bất cứ âm thanh nào, cũng chẳng nhìn thấy gì ngoài ánh sáng mờ ảo, bập bùng như ma trơi phía trước của thầy phù thủy. Con đường họ chọn dốc lên đều đặn. Cứ như họ thấy nó quanh co thành những vòng cung lớn, càng đi lên lại càng cao và rộng hơn. Giờ đây ở cả hai bên vách đều chẳng còn lối nào mở tới những hành lang hay đường hầm khác nữa, nền đường bằng phẳng và lành lặn, không hề có hầm hố hay khe nứt. Rõ ràng họ đã đi vào nơi xưa từng là một tuyến đường quan trọng; và họ tiến nhanh hơn so với khi họ đi chặng đầu.
Theo con đường này, họ tiến thêm được mười lăm dặm, tính theo đường thẳng về phía Đông, còn trên thực tế thì họ đã phải đi bộ hai chục dặm hoặc hơn nữa. Con đường đi lên khiến tinh thần Frodo dâng cao thêm đôi chút; thế nhưng cậu vẫn cảm thấy bị đè nén, và vẫn luôn nghe thấy, hoặc nghĩ cậu nghe thấy, từ xa phía sau Hội Đồng Hành, ngoài tiếng dợm bước hay tiếng loạt soạt của chân họ, có tiếng chân bám theo hoàn toàn không phải là âm vọng.
Họ đi liên tục cho đến tận lúc nhóm Hobbit nếu không nghỉ thì không thể chịu được nữa, và tất cả đang nghĩ đến một chỗ họ có thể ngủ, thì đột nhiên cả vách tường bên phải lẫn bên trái đều biến mất. Có vẻ như họ vừa đi qua cánh cổng vòm nào đó dẫn vào một khoảng không gian trống rỗng và đen đặc. Một luồng lớn hơi ấm lùa sau lưng họ, còn ở phía trước bóng tối lạnh lẽo phả vào mặt họ. Họ dừng chân rồi đứng tụm lại đầy lo âu.
Gandalf có vè hài lòng:” Tôi đã chọn đúng đường,” lão nói. “Ít ra chúng ta đã đến nơi có thể nghỉ ngơi được, và tôi đoán chúng ta chẳng còn cách xa mặt phía Đông bao dặm. Tuy nhiên chúng ta lại đang ở trên cao, nếu tôi không nhầm thì cao hơn Cổng Lạch Râm khá nhiều. Dựa vào bầu không khí này chúng ta hẳn đang ở một sảnh rộng. Giờ tôi sẽ liều thắp lên chút ánh sáng thực sự.”
Lão giơ cao cậy trượng, và trong một khắc ngắn ngủi một luồng sáng lóe lên như ánh chớp. Những cái bóng to hơn hiện lên rồi vụt biến mất, trong giây lát họ nhìn thấy vòm trần bao la cao tít phía trên đầu được đỡ bởi rất nhiều cột đá đẽo đồ sộ. Trước mặt họ về hai bên trải ra một tòa sảnh khổng lồ trống rỗng; những bờ vách đen nhẵn và bóng như gương tỏa sáng lấp lánh. Họ nhìn thấy ba lối vào nữa, ba cổng đen tối: một thẳng trước mặt họ dẫn về phía Đông, hai lối còn lại nằm ở hai bên. Rồi ánh sáng phụt tắt.
“Lúc này tôi chỉ dám soi thế thôi,” Gandalf nói. “Từng có những cửa sổ rất lớn mở ra sườn núi, và các lỗ thông ra ngoài lấy ánh sáng ở những tầng trên Khu Mỏ. Tôi nghĩ chúng ta đã tới những chỗ ấy rồi đấy, nhưng bên ngoài lại đang là đêm, và chúng ta chưa thể nói gì được trước khi trời sáng. Nếu tôi không nhầm, ngày mai chúng ta có thể thực sự thấy buổi sáng hửng lên tại đây. Còn bây giờ chúng ta không nên đi thêm nữa. Ta hãy nghỉ ngơi chừng nào còn có thể. Cho đến lúc này mọi việc đều ổn thỏa, phần lớn con đường tăm tối đã qua rồi. Nhưng chúng ta chưa ra khỏi vòng đâu, vẫn còn cả một chặng dài mới xuống được Cánh Cổng mở ra thế giới.”
Hội Đồng Hành nghỉ lại đêm đó trong sảnh vòm vĩ đại, nằm co ro sát vào nhau trong một góc tránh gió lùa: dường như có luồng khí lạnh liên tục thổi vào qua cổng vòm phía Đông. Khắp chung quanh chỗ họ nằm giăng đầy bóng đêm bao la và trống rỗng, và lòng họ thắt lại vì sự mênh mang và cô liêu nơi những tòa sảnh bị chôn vùi, những lối đi và những bậc thang rẽ ngả bất tận. Tất cả những hình dung kỳ quái nhất mà những lời đồn đại đen tối gợi ra trong đầu nhóm Hobbit đều không sánh được với thực tế kinh hãi và phi thường của Moria.
“Chắc ngày xưa từng có cả một vương quốc Người Lùn hùng mạnh ở đây,” Sam nói; “và từng người bọn họ bận rộn hơn cả lũ lửng suốt năm trăm năm mới làm ra được tất cả những thứ này, và toàn bằng đá cứng nữa chứ! Thế nhưng họ làm những thứ này để làm gì vậy? Rõ ràng họ đâu có sống trong những hầm hố tối tăm này?”
“Đây không phải là hầm hố,” Gimli nói. “Đây là vương quốc vĩ đại và thành phố Quặng Tộc Lùn. Như vẫn còn truyền lại trong những bài ca của bọn ta, hồi xa xưa nơi đây không hề tối tăm, mà tràn ngập ánh sáng và vô cùng lộng lẫy.”
Gã đứng dậy trong bóng tối và bắt đầu cất giọng ca trầm ấm, cùng lúc những tiếng vang vọng tỏa đi khắp trần sảnh.
Thế giới còn non trẻ, núi còn xanh,
Vằng vặc Trăng trong chưa vết bợn,
Lời chưa niệm trên suối con đá lớn
Ngày Durin tỉnh giấc bước một mình.
Người đặt tên, đồi lũng hết vô danh;
Người vốc nước giếng lành chưa tay động;
Người tới Hồ Gương cúi mình soi xuống,
Kìa hay đâu trên bóng mái đầu
Hiện lung linh vầng mũ miện sao
Như ngọc quý xâu vào chỉ bạc.
Núi còn cao, thế giới còn tươi đẹp
Buổi Cựu Niên chưa biết suy vong;
Các vua còn hùng cứ Nargothrond
Với Gondolin, nay đà giã biệt,
Nhắm Tây vượt về bên kia biển biếc:
Thế giới còn tươi đẹp Ngày Durin.
Đấng tiên vương ngai chạm trổ ngự trên
Những sảnh đá liền liền hàng cột
Dưới mái lợp vàng, trên sàn lát bạc,
Hàng chữ rune quyền phép trấn cửa ngoài.
Tựa ánh sao cùng nhật nguyệt chung soi
Đèn trước cửa treo ngời pha lê gọt,
Đêm xuống không mờ, mây che không tắt,
Chiếu muôn năm cháy rực linh lung.
Ấy là nơi búa bổ đe rung,
Nơi đục mổ, thợ chạm vung nét họa;
Nơi lưỡi sắc rèn, chuôi chặt bó;
Thợ nề xây cất, thợ mỏ đào hầm.
Nơi ngọc trai, mắt mèo nhạt, beryl
Cùng đồng thép vẩy cá ken lớp lớp,
Rìu bén kiếm dài, mộc tròn giáp cộc,
Giáo sáng ngời, chất ngất kho bày.
Người của Durin không thiết nghỉ tay,
Lòng núi lộng vọng say tiếng nhạc:
Hạc công tấu mà ca công hát,
Trước cổng kén đồng bát ngát vang xa.
Thế giới nay xám xịt, núi cũng già,
Lửa trong bễ chỉ còn là tro nguội,
Đàn hạc chùng dây, búa đe nằm rỗi:
Sảnh cũ Durin bóng tối lan tràn.
Bóng ma trùm trên mộ đức tiên quân
Giữa Moria, Khazad-dûm một thuở.
Nhưng chuỗi sao bóng lặn còn soi tỏ
Trong mặt Hồ Gương lặng gió tối mờ;
Mũ miện của người đáy nước nằm chờ
Ngày Durin tỉnh lại từ giấc ngủ.
“Nghe hay lắm!” Sam nói. “Tôi muốn học bài hát đó, Giữa Moria, Khazad-dûm một thuở! Thế nhưng nghĩ về bao nhiêu đèn đuốc ấy lại khiến bóng đêm này thêm nặng nề hơn. Những đống châu báu và vàng bạc còn nằm quanh đây không?”
Gimli im lặng. Gã không còn muốn nói gì sau khi kết thúc bài hát.
“Những đống châu báu ấy à?” Gandalf đáp thay. “Không đâu. Lũ Orc thường đến Moria cướp bóc; giờ chẳng còn gì ở những tòa sảnh phía trên. Và kể từ khi Người Lùn bỏ đi, chẳng còn ai dám tìm kiếm những hang hầm và kho báu ở dưới sâu nữa: chúng đã chìm trong nước - hay trong bóng tối của sợ hãi.”
“Vậy người lùn còn muốn quay lại làm gì nữa?” Sam hỏi.
“Vì mithril,” Gandalf trả lời. “Nền thịnh vượng của Moria không nằm ở vàng, hay châu báu, đó chỉ là đồ chơi của Người Lùn; cũng không nằm ở sắt, là đầy tớ của họ. Những thứ đó họ tìm thấy ở đây, đúng vậy, đặc biệt là sắt; nhưng họ không nhất thiết phải vất vả bới chúng ra: tất cả những gì họ cần đều có thể mua được. Mà vì ở khắp thế giới này, người ta chỉ tìm thấy duy nhất ở đây bạc Moria, hoặc bạc đích thực theo như một số người gọi: mithril là tên do người Tiên đặt. Người Lùn cũng đặt tên riêng cho nó nhưng không chịu tiết lộ. Thứ bạc này đáng giá gấp mười lần vàng, tuy nhiên giờ đây đã trở nên vô giá; bởi còn lại quá ít trên mặt đất, ngay cả lũ Orc cũng không dám đến đây đào bới để tìm. Những mạch mỏ dẫn về phía Bắc, thẳng tới Caradhras, và chìm sâu xuống trong tăm tối. Người Lùn chẳng chịu kể bất cứ câu chuyện nào; thế nhưng ngay cả khi mithril là nền móng sự thịnh vượng của họ, nó cũng đồng thời là ngày tàn của họ: họ đã đào bới quá tham lam, quá sâu, và khuấy động thứ đã khiến họ phải tháo chạy, Tai Ương của Durin. Những gì họ đưa lên ánh sáng thì lũ Orc thu thập lại gần như hoàn toàn, rồi cống nạp cho Sauron, kẻ cũng thèm muốn nó.
“Ôi mithril! Tất cả các giống dân đều khao khát, nó có thể gò được như đồng, và đánh bóng như thủy tinh; với mithril Người Lùn có thể tạo ra một thứ kim loại mới, nhẹ và cứng hơn cả thép tôi. Vẻ đẹp của nó cũng giống như bạc thông thường, song vẻ đẹp của mithril không bao giờ phai màu hay mờ xỉn. Người tiên cũng rất ngưỡng mộ nó, và trong số nhiều công dụng, họ còn tạo ra từ nó chất ithildin, tinh nguyệt, mà các anh đã nhìn thấy trên cổng. Thorin từng tặng Bilbo một tấm giáp kết vòng bằng mithril. Không biết giờ này nó thế nào rồi? Tôi đoán là vẫn nằm phủ bụi ở Viện Mathom tại Mỏ Cộ.”
“Gì cơ?” Gimli giật mình hét lên, không im lặng được nữa. “Một tấm giáp bằng bạc Moria sao? Món quà mới vương giả làm sao!”
“Đúng vậy,” Gandalf nói. “Tôi chưa bao giờ nói với ông ấy, nhưng giá trị của tấm giáp còn lớn hơn toàn bộ Quận và mọi thứ ở đó.”
Frodo không nói gì, chỉ lần tay vào bên trong lớp áo ngoài mà mân mê những vòng bạc trên tấm giáp. Cậu cảm thấy choáng váng khi biết lâu nay mình mang giá trị của cả Quận trên người mà đi khắp nơi. Bilbo có biết không? Cậu tin Bilbo biết khá rõ. Đấy thực sự là một món quà vương giả. Nhưng giờ tâm trí cậu đã bị đưa ra khỏi Khu Mỏ tăm tối để về với Thung Đáy Khe, về với Bilbo, về với Đáy Bao những ngày Bilbo còn ở đó. Tận đáy lòng cậu ước ao có thể trở lại đó, vào những ngày đó, chỉ để cắt cỏ, hay thơ thẩn giữa những luống hoa, và chẳng bao giờ phải nghe đến Moria hay mithril - hay chiếc Nhẫn.
Im lặng sâu thẳm lại bao trùm. Lần lượt từng người chìm vào giấc ngủ. Đến lượt Frodo canh gác. Nỗi sợ hãi dâng lên trong cậu, như thể có một hơi thở đang phả lên qua những cánh cổng vô hình dưới đáy sâu. Hai tay cậu lạnh ngắt, còn đôi lông mày ướt sũng. Cậu nghe ngóng. Cậu để toàn bộ tâm trí vào đôi tai và không gì khác trong suốt hai giờ mòn mỏi, nhưng cậu chẳng hề nghe thấy âm thanh nào, kể cả tiếng bước chân vang vọng trong tưởng tượng.
Phiên gác gần kết thúc thì, ở phía xa, nơi cậu đoán là vòm cổng Tây, cậu nghĩ mình nhìn thấy hai đốm sáng mờ, gần giống như đôi mắt phát sáng. Cậu giật mình. Đầu cậu vừa gà gật. “Mình chắc vừa suýt ngủ thiếp trong lúc canh,” cậu nghĩ. “Mình đã sắp sửa mơ đến nơi.” Cậu đứng dậy và dụi mắt, và cứ đứng yên thế, nhìn chằm chằm vào bóng tối, cho đến tận khi Legolas thay phiên cho cậu.
Vừa đặt lưng xuống cậu đã chìm ngay vào giấc ngủ, nhưng dường như cơn mơ vẫn tiếp tục: cậu nghe thấy những lời thì thầm, và thấy hai đốm sáng mờ chầm chậm tiến lại gần. Cậu tỉnh dậy thì nhận ra những người xung quanh đang khe khẽ trò chuyện bên cạnh, và một tia sáng mờ rớt xuống mặt cậu. Ở cao tít trên cổng vòm phía Đông, qua lỗ thông gần trần xuất hiện một dải sáng nhạt; và ở phía bên kia căn sảnh, qua cổng vòm phía Bắc, ánh sáng cũng le lói, yếu ớt và xa xôi.
Frodo ngồi dậy. “Chào buổi sáng!” Gandalf nói. “Bởi rốt cuộc buổi sáng cũng đã đến rồi. Các anh thấy đấy, tôi đã đoán đúng. Chúng ta đang ở trên cao phía mặt Đông Moria. Trước khi ngày hôm nay kết thúc, chúng ta phải tới được Cổng Chính và thấy mặt nước Hồ Gương trải ra trong Lũng Lạch Râm trước mặt ta.”
“Tôi sẽ lấy làm mừng,” Gimli nói. “Tôi đã thấy được Moria, nó thật hùng vĩ, nhưng nó cũng đã trở nên tối tăm và đáng sợ; và chúng ta cũng chẳng thấy bóng dáng họ hàng của tôi ở đâu cả. Giờ thì tôi còn nghi ngờ liệu Balin đã từng đặt chân đến đây chưa?”
Gandalf quyết định tiếp tục cuộc hành trình ngay sau bữa sáng. “Chúng ta đều mệt, nhưng khi đã ra được bên ngoài chúng ta sẽ nghỉ nhiều hơn,” lão nói. “Tôi nghĩ không một ai trong chúng ta muốn nghỉ thêm đêm nào nữa trong Moria cả.”
“Chắc chắn rồi!” Boromir nói. “Chúng ta sẽ chọn con đường nào? Cổng vòm phía Đông đằng kia?”
“Có thể,” Gandalf nói. “Nhưng tôi vẫn chưa biết chính xác hiện chúng ta đang ở đâu. Trừ phi là chệch hướng quá nhiều, tôi đoán chúng ta đang ở trên cao và về phía Bắc của Cổng Chính; và có lẽ sẽ không dễ tìm ra được đúng đường xuống đó đâu. Cổng vòm phía Đông xem ra sẽ là con đường chúng ta phải chọn; nhưng trước khi quyết định, chúng ta cần phải thăm dò xung quanh đã. Hãy đi về phía ánh sáng cửa phía Bắc kia. Nếu tìm thấy cửa sổ ở đó thì rất tốt, nhưng tôi e chỉ là ánh sáng chiếu xuống lỗ thông sâu mà thôi.”
Theo sau chân lão, Hội Đồng Hành đi qua vòm cổng phía Bắc. Họ thấy mình đi vào một hành lang rộng. Họ càng vào sâu ánh sáng mờ ảo lại càng sáng dần. Rồi họ phát hiện nguồn sáng chiếu qua một cái cửa ở bên phải. Cửa này cao, mái phẳng, cánh cửa đá vẫn còn mắc trên bản lề, hé mở. Bên kia cửa là một căn phòng rộng rãi vuông vắn. Căn phòng chỉ sáng lờ mờ, thế nhưng, với cặp mắt của họ, do đã ở trong bóng đêm quá lâu, nó dường như vô cùng chói lọi, họ phải nheo mắt lại khi bước vào.
Bước chân họ khuấy động lớp bụi dày trên sán, vấp phải những vật nằm rải rác trên lối vào mà ban đầu họ không thể xác định được hình thù. Căn phòng được chiếu sáng qua lỗ thông rộng trên bức tường phía Đông; lỗ trổ xiên lên và, tít bên trên, có thể không thấy vuông trời xanh nho nhỏ. Luồng sáng từ miệng lỗ soi thẳng xuống chiếc bàn nằm ngay giữa căn phòng: một khối đá liền hình chữ nhật, cao khoảng hai bộ, trên có đặt một phiến đá trắng lớn.
“Trông như một nấm mộ vậy,” Frodo lẩm bẩm, rồi cúi người để quan sát rõ hơn với một linh cảm lạ lẫm. Gandalf vội vã đến bên cậu. Trên phiến đá là những chữ rune khắc sâu:

“Đây là chữ rune của Dearon, vốn được dùng ở Moria từ thời xa xưa,” Gandalf nói. “Bằng ngôn ngữ của Con Người và Người Lùn thì ở đây viết là:
BALIN CON TRAI FUNDIN
CHÚA MỎ MORIA”
“Vậy thì ông ấy đã chết rồi,” Frodo thốt lên. “Tôi sợ là như thế.” Gimli kéo mũ trùm phủ lấy mặt gã.