Châu Phi Nghìn Trùng

Lượt đọc: 1512 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4
già knudsen

Đôi khi có những vị khách châu Âu dạt tới đồn điền giống súc gỗ trôi vào vùng nước lặng, xoay trở hay lật lên lật xuống cho đến khi lại bị cuốn đi, hoặc rữa nát rồi chìm nghỉm.

Già Knudsen người Đan Mạch, dò dẫm tìm đến đồn điền, đau ốm và mù lòa, rồi ở lại cho tới lúc chết, như một con thú cô độc. Đường ông đi cũng vẹo vọ như chính tấm thân ông, nhiều đợt ông chẳng cất lời bởi đã cạn sức cho gánh nặng thống khổ phải mang, còn lúc ông nói, tự trong chất giọng ấy, giống của chó sói hay linh cẩu, đã có tiếng tru hú thê lương.

Song khi ông lấy lại được chút hơi tàn, và một thoáng chốc chẳng phải chịu đựng cơn đau đớn nào, thì từ ngọn lửa đang lụi tàn ấy lại một lần nữa bừng lên những tia sáng. Rồi ông sẽ tìm tới tôi và mô tả mình phải chiến đấu ra sao với bản tính bi quan bệnh hoạn ở bản thân, xu hướng ngớ ngẩn luôn nhìn mọi sự đen tối. Điều này thật vô lí, mọi thứ chẳng có gì không ổn cả, chẳng có gì đáng ghét bỏ cả, ma quỷ cứ bắt ông đi. Chỉ thói bi quan, mỗi thói bi quan thôi, mới là tật xấu.

Nơi đồn điền, ở một thời điểm chúng tôi túng quẫn hơn bình thường, chính Knudsen đã khuyên tôi đốt than củi bán cho người Ấn ở Nairobi. Kiếm được hàng nghìn rupee đấy, ông quả quyết. Và dưới sự bảo hộ của Già Knudsen thất bại là bất khả, bởi ông từng, một lần trong sự nghiệp ba chìm bảy nổi của mình, lên tận miệt cực Bắc Thụy Điển, và tại đó đã học đến nơi đến chốn mọi mánh lới công việc này. Ông tự mình đảm trách truyền nghề đốt than cho người bản xứ. Cùng nhau làm việc trong rừng, tôi và Già Knudsen đã trao đổi nhiều điều.

Đốt than là một công việc lí thú. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, nó chứa đựng thứ gì đó khiến ta mê say, và thợ đốt than được biết đến như những người nhìn đời dưới một thứ ánh sáng khác; họ có khuynh hướng thơ ca, hay nói viển vông và được các loài ma cây tìm tới bầu bạn. Than củi là sản phẩm đẹp đẽ thu được khi ta mở lò đốt đã tàn, dỡ những thứ bên trong xếp ra mặt đất. Mướt như lụa, được loại bỏ tạp chất, được giải phóng khỏi sức nặng và trở nên trường tồn, thứ xác ướp thon nhỏ, sậm đen, thông thái của gỗ ấy.

Chỉ nội khung cảnh* trong môn nghệ thuật đốt than củi này cũng đã đáng yêu lắm lắm. Khi đốn cây tầng thấp - vì không thể làm than củi từ các súc gỗ lớn - chúng tôi vẫn được làm việc dưới vòm lá cây cao. Trong cái tĩnh mịch, dưới bóng râm đại ngàn châu Phi, mùi gỗ bị cắt rời tựa mùi quả phúc bồn tử; và mùi lò đốt, tươi mới, khen khét, chua chua, xộc thẳng vào mũi, làm ta sảng khoái như đang hưởng một làn gió biển. Tại miền xích đạo chẳng tồn tại nhà hát hay rạp chiếu bóng nào thì hiện trường đậm chất sân khấu như thế này thật sự vô cùng mê hoặc. Dãy lò đốt màu đen, nom như dãy lều trên sân khấu, nhả ra các vệt khói lơ mỏng cách quãng đều tăm tắp, cả khu đốt than giống doanh trại dân buôn lậu hay trại lính ở một vở Opera lãng mạn. Mấy cái bóng đen đúa của người bản xứ im lìm di chuyển giữa các lò. Trong rừng châu Phi, mỗi khi tầng cây thấp được dọn quang, bạn sẽ gặp vô số bươm bướm bu trên phần gốc còn sót lại. Hết thảy đều thật bí ẩn và thơ ngây. Vóc dáng nhỏ bé vẹo vọ của Già Knudsen cực kì hòa quyện với khung cảnh nơi đây: dáng người loang loáng trắng, mái đầu hoe hoe đỏ; lanh lẹ bởi hiện tại đã có một công việc ưa thích để dồn tâm huyết, ông lúc chế giễu lúc lại cổ vũ, tựa một tiểu yêu tinh Puck* khi về già, bị mù và rất ác hiểm. Ông làm việc tận tâm, kiên nhẫn đến đáng ngạc nhiên với các học trò bản xứ của mình. Không phải lúc nào hai chúng tôi cũng cùng một ý. Ở Paris, hồi còn là thiếu nữ, tôi từng học tại một trường hội họa và được dạy rằng cây ô liu cho ra loại than củi tốt nhất, nhưng Knudsen thì giảng giải rằng ô liu không có mấu và, cả bảy ngàn con quỷ nơi địa ngục đều biết, ở đây quan trọng nhất là mấu cây.

Tiếng Pháp trong nguyên tác: Mise-en-scene .

Môi trường làm việc giữa rừng đã khiến bản tính nóng như lửa của Knudsen dịu bớt. Cây cối châu Phi có tán mỏng, lá tựa như bàn tay xòe ra, nên khi bạn đốn hạ tầng thấp rậm rì, quả thực có thể nói đang khoét một lỗ vào rừng, xung quanh sẽ có thứ ánh sáng giống trong rừng sồi tháng Năm ở quê nhà, lúc búp lá vừa hé hay hầu như còn chưa bung ra. Tôi lưu ý Knudsen về sự tương đồng ấy, và ý tưởng này khiến ông thích thú, bởi trong suốt quá trình đốt than củi, ông tưởng tượng ra và khai triển một huyễn tưởng: chúng tôi đang đi picnic dịp Lễ Ngũ Tuần* ở Đan Mạch. Ông đặt tên cho một cây cổ thụ thân rỗng là Lottenburg, theo tên một điểm vui chơi gần Copenhagen. Khi tôi có vài chai bia Đan Mạch giấu sâu bên trong Lottenburg, và mời Knudsen tới uống thì ông chiếu cố cho đấy là trò đùa hay.

Nhân vật trong vở Giấc mộng đêm hè của W. Shakespeare.

Còn gọi là Lễ Đức Thánh Linh giáng lâm, tổ chức vào ngày thứ năm mươi kể từ Lễ Phục Sinh.

Khi các lò đều đã ngun ngút cháy, chúng tôi ngồi chuyện gẫu về cuộc đời. Tôi nghe được vô khối thứ trong quá khứ của Knudsen, về những cuộc phiêu lưu lạ lùng rơi xuống đầu ông ở bất kì chốn nào đặt chân tới. Trong các chuyện trò ấy bạn chỉ được quyền đề cập đến Già Knudsen, một con người đức độ, nếu không sẽ sa vào bãi lầy bi quan đen tối như những gì Knudsen cảnh báo. Già Knudsen từng nếm trải đủ chuyện: đắm tàu, dịch bệnh, những con cá có màu sắc chưa từng thấy, vòi rồng rượu, vòi rồng nước, ba vầng thái dương cùng mọc trên trời, những đứa bạn phản trắc, cái ác ghê tởm, thành công ngắn chẳng tày gang, và những cơn mưa vàng vừa trút đã tạnh. Xuyên suốt hành trình Odyssey ông đã trải qua là cảm giác tởm lợm đối với luật pháp, cùng mọi hệ quả, việc làm của nó… Knudsen là người nổi loạn bẩm sinh, ông nhìn thấy đồng đội ở mọi kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Với ông, một việc làm anh hùng là một hành động bất tuân lề luật. Ông ưa đề cập tới vua chúa cùng hoàng gia, các nghệ sĩ tung hứng, các chú lùn hay kẻ điên loạn, bởi xem họ nằm ngoài vòng luật pháp, cũng như về tội ác, cách mạng, thủ đoạn gian trá và trò chơi khăm vì chúng bỉ báng mọi thiết chế. Trái lại, các công dân mẩu mực khiến ông hết mực khinh bỉ, và lối sống tôn trọng các giới luật, trong mắt ông, là dấu hiệu của thứ đầu óc ngu muội. Thậm chí ông chẳng coi trọng, hay tin vào định luật vạn vật hấp dẫn, chân lí mà lúc ấy đang cùng chặt cây chúng tôi đều trải nghiệm: ông chẳng thấy lí do gì mà nó không - bằng vào những con người phi thiên kiến, dám nghĩ dám làm - bị biến đổi hoàn toàn ngược lại.

Knudsen hăng hái lưu vào trí óc tôi tên những người ông từng biết, ưu tiên số một cho lũ bịp bợm hoặc phường vô lại. Tuy nhiên, trong các câu chuyện kể, ông chẳng bao giờ đả động tên một phụ nữ nào. Điều này như thể thời gian đã xóa sạch, trong trí não ông, cả các cô gái Elsinore* ngọt ngào lẫn đám đàn bà nhẫn tâm ở mọi thành phố cảng trên thế giới. Dẫu thế, khi nói chuyện, tôi cảm nhận được việc luôn tồn tại một phụ nữ trong cuộc đời ông. Chẳng cách nào chỉ ra đó cụ thể là ai: hôn thê, mẹ, cô giáo, hay vợ của ông chủ đầu tiên - tôi chỉ thầm gọi bà là Madam Knudsen. Tôi hình dung ra dáng dấp bà nhỏ nhắn bởi bản thân ông cũng thấp lùn. Ấy là người phụ nữ hủy hoại mọi niềm vui con người, và luôn giữ cái lí về phần mình. Là người vợ của những bài giáo huấn sau rèm, là nội tướng của những buổi tổng vệ sinh lộn tung cả nhà, bà chặn đứng mọi sáng kiến, mắng lũ nhóc vuốt mặt chẳng kịp, giật mất cốc gin trước mặt ông, bà là hiện thân cho luật pháp, hiện thân cho mệnh lệnh. Trong yêu sách đòi một thứ bạo quyền tuyệt đối, bà có chút gì tương đồng với Nữ Thần của phụ nữ Somali, song Madam Knudsen chẳng mộng tưởng dùng tình yêu để nô dịch, mà trị vì nhờ lí lẽ và công chính. Già Knudsen ắt đã gặp bà hồi ông còn trai trẻ, khi trí não vẫn đủ mềm mại tiếp nhận một ấn tượng chẳng thể xóa mờ. Ông đã chuồn ra biển, nhằm thoát khỏi bà, bởi do thậm ghét biển bà ắt sẽ không tìm tới. Hiểm một nỗi ông không dứt được khỏi bà khi vào lại đất liền châu Phi - bà vẫn mò ra ông. Trong con tim hoang dã, dưới mái tóc hung hung bạc, ông e sợ bà hơn bất kì ai, và luôn nghi ngờ hết thảy phụ nữ chính là Madam Knudsen trá hình.

Thị trấn nhỏ trên đảo Zealand, Đông Bắc Đan Mạch.

Ý tưởng đốt than củi của chúng tôi rốt cục cũng chẳng mang lại thành công tài chính. Hết đận này tới đận khác, một trong các lò than lại bị bắt lửa cháy rụi, và lợi nhuận của chúng tôi cũng bay theo làn khói. Thất bại này khiến Knudsen vô cùng phiền não, ông suy đi xét lại rồi chung cục tuyên bố trên đời chẳng ai có thể đốt than củi nếu không có đủ lượng tuyết.

Già Knudsen cũng giúp tôi kiến tạo một cái đầm trong đồn điền. Con đường trong đồn điền chạy qua một khu đất trũng đầy cỏ mọc, hình dạng tựa cái chén rộng miệng, ở đây lại có dòng suối chảy ra thành thử tôi đã nghĩ ra phương án xây đập ngăn nước phía hạ lưu hầu biến địa điểm này thành đầm. Ở châu Phi lúc nào bạn cũng thiếu nước nên gia súc sẽ hưởng lợi lớn khi được uống ngay trên đồng cỏ, khỏi phải xuống tận bờ sông. Ý tưởng xây đập ám ảnh cư dân đồn điền cả ngày lẫn đêm, được họ đem ra bàn thảo không biết chán; sau cùng, lúc đã xong xuôi, con đập dài hơn sáu mươi thước ấy là cả một thành tựu to lớn với chúng tôi. Già Knudsen rất hứng thú dự án và chỉ dẫn Pooran Singh cách chế loại rơ-moóc vừa cào vừa gom đất. Dựng con đập lên xong chúng tôi lại gặp rầy rà khi nó sẽ chẳng giữ được nước bởi, sau một thời kì dài khô hạn, mưa lớn đổ xuống khiến đập bục vỡ nhiều chỗ và mấy lần còn bị sạt lở cả phân nửa. Lại là Già Knudsen nghĩ ra kế sách lùa lũ bò đồn điền, cũng như gia súc của lưu dân, đi trên đập nhằm gia cố bức lũy đất mỗi bận chúng tới uống nước đầm. Hết thảy dê, cừu đều phải góp công góp sức vào công trình vĩ đại bằng cách giậm cho kết cấu chắc thêm. Ông đã có những trận cãi vã nảy lửa cùng đám nhóc mục đồng quanh đó, vì Knudsen cương quyết đòi phải dẫn gia súc đi thật chậm, nhưng lũ Toto nhãi ranh chỉ muốn chúng vểnh đuôi phi nước đại qua. Chung cục, khi có tôi hậu thuẫn, Knudsen đã đánh bại được đám Toto , cảnh tượng hàng dài gia súc đủng đỉnh bước trên mặt con đập hẹp in trên nền trời tựa như đám rước các loài vật đi lên con thuyền Noah; còn Già Knudsen, chống gậy đứng đếm từng con, nom hệt như Noah - người đóng thuyền, bụng mở cờ bởi hết thảy sẽ sớm chết đuối trừ ông.

Dần dà tại đây tôi có cả một vạt nước rộng, nhiều chỗ sâu tới hai thước và con đường đồn điền chạy vắt qua làm nên khung cảnh rất đẹp. Sau đó chúng tôi thậm chí xây thêm hai con đập nữa phía hạ lưu và tạo ra mấy đầm nước liền kề nhau, giống như chuỗi ngọc trai. Đầm nước giờ trở thành trung tâm của đồn điền. Nơi đây lúc nào cũng nhộn nhịp, luôn được gia súc cùng con trẻ vây quanh, và vào mùa nóng, khi các nguồn nước ngoài thảo nguyên và trên núi đều khô cạn, lũ chim tìm tới đồn điền: vạc, cò, bói cá, cun cút, cùng cả tá chủng loại ngỗng, vịt khác nhau. Chiều tối, lúc những vì sao đầu tiên ló dạng trên trời, tôi thường ra ngồi bên đầm, tới tận giờ lũ chim tìm về tổ. Không như các loài chim khác, các giống chim biết bơi luôn bay có chủ đích, lúc nào chúng cũng trong một cuộc hành trình, từ chốn này tới chốn kia - còn giới hạn nào cho tầm nhìn của những kẻ lội nước hoang dã lang thang khắp chốn kia! Vịt trời kết thúc quỹ đạo trên bầu-trời-pha-lê, thinh lặng bổ nhào xuống làn nước tối sẫm giống vô vàn mũi tên của cung thủ nhà trời. Có bận tôi từng bắn chết một con cá sấu trong đầm, điều này thật kì lạ, bởi nó hẳn đã vượt mười hai dặm đường từ sông Athi để tới đây. Bằng phương cách nào nó biết được ở cái chỗ chưa từng đến này giờ đã có nước?

Lúc đầm nước đầu tiên hoàn thành, Knudsen bàn với tôi kế hoạch thả cá. Ở châu Phi có một loại cá rô ăn rất ngon, và chúng tôi từng ấp ủ ước mơ kéo được những mẻ lưới nặng cá tôm ở đồn điền. Tuy nhiên chẳng dễ có được cá giống vì tuy Cục Quản lí Săn bắt đã thả cá rô xuống các ao hồ, ngặt nỗi họ lại chưa cho ai đánh bắt. Nhưng Già Knudsen tiết lộ với tôi về một cái ao chẳng một ai biết, để mặc sức tới mà kéo lưới quăng chài. Ta sẽ lái xe đến, ông trình bày, giăng lưới ngang ao, đánh cá cho vào các thùng sắt tây hay lu thống, chúng sẽ sống miễn ta đừng quên bỏ thêm rong tảo vào nước. Knudsen hăng say với kế hoạch ấy đến độ run run khi trình bày; ông đã tự tay đan một trong các tấm lưới không sao bắt chước nổi của mình cho việc này. Tuy nhiên càng cận kề thời điểm khởi hành, kế hoạch càng mang sắc thái bí ẩn. Knudsen khăng khăng phải tiến hành vào đêm trăng tròn, quãng nửa đêm. Ban đầu chúng tôi dự kiến đưa theo ba gia nhân, sau đó ông giảm xuống hai rồi một, và hỏi đi hỏi lại liệu người này có tuyệt đối đáng tin không? Cuối cùng ông tuyên bố chỉ hai chúng tôi đi sẽ tốt hơn. Tôi cho dự định này rất dở vì hai người chẳng đủ sức khuân các thùng chứa lên xe, nhưng Knudsen cứ một mực đây là cách tốt nhất, và còn nói thêm chúng tôi quyết không được nói cho ai hay.

Tôi có bạn bè làm ở Cục Quản lí Săn bắt, nên chẳng thể đặng đừng cuối cùng buộc phải hỏi ông: “Ai là chủ nhân thực sự của số cá chúng ta sắp bắt đây, Già Knudsen?” Knudsen ngậm tăm. Ông phun nước miếng, lối nhổ thường thấy ở ông lão thủy thủ dạn dày, rồi đưa bàn chân đi chiếc giày vá chằng vá đụp di di vệt nước bọt trên mặt đất, đoạn quay người trên gót chân và chậm chạp bỏ đi. Chân lê bước, đầu cúi gằm, giờ hầu như chẳng còn nhìn thấy gì đằng trước chỉ khua gậy dò dẫm lần đi, thêm một lần ông lại là người bại trận, một kẻ lánh nạn không nhà giữa thế giới lạnh lẽo, hèn hạ. Và như thể, bằng hành động kia, ông đã niệm một câu thần chú khiến tôi đứng sững trời trồng, kẻ chiến thắng trên đôi dép lê đi trong nhà của Madam Knudsen.

Kế hoạch đánh bắt ấy không bao giờ còn được đả động đến giữa Knudsen và tôi. Mãi sau khi ông chết ít lâu, được Cục Quản lí Săn bắt giúp đỡ, tôi đã thả cá rô xuống đầm. Chúng lớn lên rồi sinh sôi tại đó, và bổ sung vào các đời sống khác trong đầm, cuộc đời lặng thinh, lạnh lẽo, và chộn rộn của chúng. Vào buổi ban trưa, mọi người, lúc đi ngang qua đầm, có thể thấy chúng gần mặt nước, tựa như làm bằng thủy tinh sậm màu trong làn nước đùng đục nắng. Mỗi khi có một vị khách đột xuất ghé chơi, chú Toto Tumbo của tôi lại được cử ra đầm, mang theo chiếc cần câu thô sơ và kéo lên con rô nặng gần một cân.

Khi phát hiện Già Knudsen nằm chết trên con đường của đồn điền, tôi đã phái một liên lạc viên tới sở Cảnh sát Nairobi trình báo. Tôi toan mai táng Knudsen trong đồn điền song tối muộn cùng ngày có hai cảnh sát đi xe ô tô, chở theo cỗ quan tài, tới đưa ông lão đi. Vừa khi ấy một cơn giông ập đến, và chúng tôi đón nhận trận mưa có lượng nước gần tám mươi mi li, vì đó đã là thời điểm chớm mùa mưa dầm. Cả đám ngồi trên xe vượt qua nhiều dòng nước xiết và bức màn mưa tuôn như thác để tới nhà ông; khi chúng tôi khiêng Knudsen từ nhà ra xe, sấm ì ầm nổ trên đầu như từng tràng đại bác, và chớp loe lóe khắp mọi phía, dày đặc như bắp ngô ngoài ruộng. Chiếc xe, bánh không được quấn xích, ì ạch di chuyển trên đường, tròng trành nghiêng ngả dữ dội. Già Knudsen sẽ thích điều này, ông hẳn hài lòng với chuyến rời đồn điền của mình.

Sau đó tôi không đồng tình với chính quyền ở Nairobi về cách tổ chức đám tang cho Knudsen và dần dà việc này dẫn tới những tranh cãi kịch liệt khiến tôi mấy bận phải cất công lên tận thành phố. Đó là thứ di sản Knudsen để lại cho tôi, một cú thọc cuối cùng, thông qua người được kí thác, vào giữa mặt luật lệ. Và thế là tôi không còn là Madam Knudsen nữa, mà đã trở thành người chung chí hướng với ông.

« Lùi
Tiến »