Châu Phi Nghìn Trùng

Lượt đọc: 1510 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
phụ nữ somali

Tôi chẳng thể viết gì nhiều về một nhóm khách đã ghé chơi và giữ một vai trò quan trọng trong cuộc sống ở đồn điền, bởi họ sẽ không thích vậy. Ấy là những người phụ nữ của Farah.

Kết hôn xong, cùng người vợ, Farah còn đưa từ quê nhà Somali qua một tốp chim câu ngăm đen, hoạt bát và dễ thương: bà mẹ vợ, em gái vợ, cùng cô em họ được gia đình ấy nuôi nấng. Farah bảo tôi đây là phong tục nước Anh. Hôn sự ở quê nhà Somali được các bậc trưởng thượng hai bên sắp đặt, có cân nhắc tới ngày sinh tháng đẻ, mức độ giàu có và thanh danh đôi trẻ; ở những gia đình danh giá, cô dâu và chú rể chẳng hề gặp nhau cho đến tận ngày cưới. Nhưng Somali là chủng tộc nghĩa hiệp, chẳng bao giờ bỏ mặc các nàng thiếu nữ của mình. Họ có một phong tục tốt đẹp: Sau đám cưới anh chồng mới sẽ lưu lại làng của vợ sáu tháng; giai đoạn này người vợ có thể đóng vai trò bà chủ nhà tại địa phương mình quen thuộc và có ảnh hưởng nhất định. Trường hợp anh chồng không thể thực hiện chuyện này, các thành viên nữ của gia tộc người vợ sẽ chẳng quản ngại đồng hành cùng cô một thời gian ngắn trong cuộc sống hôn nhân, thậm chí cả khi điều này đồng nghĩa với việc phải leo đèo vượt dốc, lặn lội tới những đất nước xa xôi.

Nhóm phụ nữ Somali trong nhà tôi sau đó được bổ sung trọn vẹn bằng một bé gái mồ côi mẹ trong bộ tộc của cô vợ được Farah nhận nuôi, tôi nghĩ không phải là không bởi nhìn ra mối lợi khá hiển nhiên lúc bé lập gia đình, theo kiểu hình mẫu Mordecai và Esther*. Bé cực kì sáng dạ, hoạt bát, và thật đáng chờ mong để chứng kiến, lúc lớn lên được trao vào tay mấy bà cô già cho họ chăm chút, bé sẽ lột xác thành một nàng trinh nữ xinh đẹp duyên dáng ra sao*. Dạo vừa chân ướt chân ráo tới đây, bé mới mười một tuổi, và thường trốn nhà bám theo tôi. Cô bé cưỡi chú ngựa con của tôi, vác súng cho tôi, hoặc cùng đám Toto phóng ra đầm, vén cao váy tay lăm lăm cái vợt bắt cá chạy chân trần dọc bờ đầm lau sậy. Các bé gái Somali đều cạo trọc, chỉ để một vòng tóc xoăn đen chạy quanh đầu và chút chỏm mọc dài ở đỉnh; kiểu đầu xinh xắn này mang cho các em vẻ ngoài vui tươi, ngỗ ngược của một chú tiểu. Tuy nhiên theo thời gian, và dưới tác động từ lớp đàn chị đã trưởng thành, bé dần lột xác, và bị chính quá trình chuyển đổi này mê hoặc, chiếm cứ. Chân giờ hệt như có đá đeo, em bước đi thong thả, chậm rãi và luôn cụp mắt nhìn xuống theo một phong thái khả ái nhất đồng thời coi việc lẩn đi mỗi khi có người lạ là rất cần cho danh tiết mình. Em không cắt tóc nữa, và tới khi nó mọc đủ dài liền được những cô gái khác tách ra tết thành nhiều bím nhỏ. Với vai trò tín đồ nhập môn, em trịnh trọng và hãnh diện dâng hiến bản thân cho hết thảy khổ sở mà lễ nghi gây ra; có cảm tưởng cô bé thà chết còn hơn để xảy ra bất cứ sơ sót nào trong quá trình thực hành bổn phận với nó.

Theo Kinh Thánh, Mordecai nhận nuôi em họ mồ côi Esther. Sau khi trở thành vợ Hoàng đế Ba Tư, Esther đã cứu mạng Mordecai cùng toàn thể dân Do Thái.

Tiếng Pháp trong nguyên tác: Comme il faut .

Farah tâm sự cùng tôi là mẹ vợ anh rất được nể trọng ở quê nhà vì phương pháp tuyệt vời bà áp dụng trong việc giáo dục mấy cô con gái. Tại đó họ là tấm gương trong cách ăn mặc và hình mẫu của gái chưa chồng. Quả thật cả ba thiếu nữ đều sở hữu phẩm cách hoàn hảo và thùy mị đoan trang nhất mực; tôi chưa từng quen biết ai nhiều nữ tính hơn họ. Vẻ nết na ở họ còn được cách ăn vận tôn lên thêm. Cả ba bận những tấm váy rộng đến kinh ngạc may bằng cả - tôi biết vì vài bận từng mua lụa hoặc trúc bâu cho họ - gần chục thước vải. Bên trong mớ lụng thụng ấy, những đầu gối mảnh mai khua động nhịp nhàng đầy dụ hoặc và huyền bí:

Đôi chân quý phái của em dưới tà váy tung bay

Khuấy động những ước muôn âm thầm trở thành cuồng dại

Như hai mụ phù thủy

Khuấy thuốc mê đen trong cái bình sâu*

Bản thân bà mẹ vợ cũng gây ấn tượng mạnh với vóc dáng to mập, cung cách điềm đạm đầy uy quyền và rộng lượng của một con voi cái mãn nguyện ở sức mạnh của mình. Tôi chẳng hề thấy bà cáu giận bao giờ. Giáo viên và nhà sư phạm hẳn phải ghen tị với bà ở khả năng truyền cảm hứng phi thường; dưới tay bà công việc dạy dỗ không hề ép uổng cũng chẳng nhọc nhằn buồn tẻ, mà là một âm mưu to lớn và cao cả mà các học trò được gia ân dự phần. Căn lán nhỏ giữa rừng tôi dựng cho họ là một trường học các phép thuật thiện lương, còn ba nàng thiếu nữ, với những bước chân êm nhẹ trên các lối mòn tại đó, tựa như ba nữ phù thủy thanh tân đang nỗ lực học tập hết mình bởi ở cuối quá trình học tập, thứ sức mạnh phi thường kia sẽ thuộc về họ. Họ đang ganh đua ai giỏi hơn trong tinh thần hòa hợp; có lẽ trong thực tế, lúc bạn ở ngoài chợ, và giá của bạn được thương thảo công khai, việc đua tranh cũng sẽ trở nên ngay thẳng, trung thực. Vợ của Farah, người chẳng còn âu lo về giá của bản thân, giữ một vị trí đặc biệt, như một học trò giỏi đã tốt nghiệp khóa học; ta có thể nhiều bận bắt gặp cô đang trò chuyện tâm tình cùng bà phù thủy tối cao, thứ vinh dự chẳng đời nào thuộc về các nàng trinh nữ.

Một đoạn trong bài Le beau navire (Con tàu đẹp) của thi hào Pháp, Charles Baudelaire (1821-1867), dịch giả Vũ Đình Liên.

Ai trong nhóm thiếu nữ cũng rất coi trọng phẩm giá bản thân. Thiếu nữ đạo Hồi không thể kết hôn cùng người thấp kém hơn, việc này sẽ khiến gia đình nàng nhận lãnh những lời chê trách thậm tệ nhất. Đàn ông lại có thể lấy người kém vai vế hơn - một việc chấp nhận được - và đã có nhiều cuộc hôn phối giữa trai Somali với gái Masai. Tuy nhiên trong khi một nàng Somali có thể kết duyên cùng người Ả Rập, thì một cô gái Ả Rập lại chẳng thể lấy anh chàng Somali, bởi người Ả Rập là giống nòi thượng đẳng do có mối quan hệ gần gũi hơn với Đấng Tiên Tri*, và trong nội bộ người Ả Rập, một thiếu nữ thuộc gia tộc của Đấng Tiên Tri sẽ không thể ngoại hôn. Dựa vào ưu thế giới tính của mình, phụ nữ có thể truy cầu chỗ đứng cao hơn vị thế vốn có của họ trên nấc thang xã hội. Họ ngây thơ ví điều này với nguyên tắc tại một trại ngựa thuần chủng, vì dân Somali rất coi trọng ngựa cái.

Lúc đôi bên đã thân quen, mấy cô gái hỏi tôi về chuyện họ từng nghe: có thật một số bộ tộc châu Âu cứ thế giao không thiếu nữ cho bên nhà chồng. Mấy nàng thậm chí còn thấy kể, tuy chẳng tài nào hiểu nổi, rằng ở châu Âu còn có bộ lạc đồi bại đến độ các thêm của nả cho chú rể. Quả là điếm nhục cho bậc làm cha làm mẹ, và cho các cô gái chấp nhận lối đối đãi tàn tệ này. Lòng tự trọng của họ để đâu, sự tôn trọng phụ nữ, tôn trọng cái thanh tân ở đâu? Nếu chính họ, mấy cô gái bảo tôi, chẳng may sinh ra trong bộ lạc kia, họ nguyện sẽ ở vậy đến chết.

Đấng Tiên Tri Muhammad (570-632) sinh tại Mecca, thuộc Ả Rập Saudi.

Thời nay, tại châu Âu chúng ta chẳng còn cơ hội được học kĩ xảo đoan trang e ấp dành cho thiếu nữ nữa, còn từ những cuốn sách cổ tôi không sao nắm bắt được sức mạnh mê hoặc của rụt rè, bẽn lẽn nữa. Giờ tôi mới hiểu thế hệ ông và cụ mình từng quỳ gối khuất phục vì thứ gì. Phương pháp của người Somali vừa là sự tất yếu tự nhiên đồng thời là một môn nghệ thuật, nó cũng là tín ngưỡng, chiến lược, vũ đạo ba lê, và được áp dụng trên mọi phương diện với sự tận hiến, kỉ luật và khéo léo thích đáng. Cái ngọt ngào tuyệt đỉnh của nó nằm ở lớp tuồng giữa những thế lực đối nghịch cùng tồn tại bên trong. Đằng sau nguyên tắc mãi mãi cự tuyệt có vô vàn bao dung; sau cứng nhắc mô phạm là tinh thần sẵn sàng vui đùa và xem thường cái chết. Mấy người con gái của một dân tộc chiến trận thể hiện nghi thức đoan trang tiết hạnh như thể hiện một điệu vũ chiến tranh tao nhã tót vời; mặt mày bình thản đoan chính nhưng họ sẽ chẳng ngừng tay chừng nào chưa no máu quân thù, bộ dạng họ giống ba ả sói non tơ, hung tợn, khoác trên người bộ lốt cừu thục nữ. Dân Somali mạnh mẽ, được tôi rèn trên sa mạc và biển cả; gánh nặng cuộc sống, đủ thứ áp lực oằn vai, những con sóng cả và vô số thế kỉ đã biến người phụ nữ dân tộc này thành một thứ hổ phách rắn chắc, óng ánh.

Mấy phụ nữ này đã biến nhà Farah thành một mái ấm mang phong cách dân tộc họ, những người sống nay đây mai đó, luôn sẵn sàng cuốn gói lều trại bất kì lúc nào, với nhiều thảm và các bức trướng thêu thùa trang trí trên tường. Hương trầm là một yếu tố chủ chốt cho tổ ấm của người Somali và họ có nhiều loại rất thơm. Cuộc sống tại đồn điền hiếm dịp gặp phụ nữ, vậy nên vào cuối ngày được bình lặng ngồi chừng một tiếng đồng hồ bên bà lão và mấy cô gái trong nhà Farah lần hồi trở thành nếp sinh hoạt của tôi.

Họ hiếu kì trước mọi chuyện, họ thích những điều nhỏ nhặt. Vài sự cố lặt vặt tại đồn điền, giai thoại ở địa phương, cũng khiến họ phá lên cười lanh lảnh tựa như nhà có cả trăm cái chuông đang ngân nga vậy. Lúc nghe tôi dạy cách đan len, họ cười lăn lộn tựa hồ xem một màn rối hài.

Cái ngây thơ ở họ không hàm chứa sự khờ khạo. Cả nhóm đều từng đỡ đẻ, chăm người hấp hối và lạnh lùng bàn luận chi li chuyện đó cùng bà mẹ già. Đôi bận, để giúp tôi khuây khỏa, họ kể truyện cổ tích kiểu Nghìn Lẻ Một Đêm, hầu hết đều hài hước, và đề cập thẳng thừng đến việc yêu đương. Điểm chung ở những câu chuyện này là nhân vật nữ chính, bất luận còn trinh tiết hay không, luôn đoạt được phần hơn trước các nhân vật nam và sẽ giành thắng lợi chung cuộc. Bà mẹ cùng ngồi nghe, với một nụ cười thoáng trên nét mặt.

Trong thế giới đàn bà khép kín ấy, âu cũng có thể nói thế này, sau những bức tường và công sự của nó, tôi cảm nhận sự hiện diện của một lí tưởng vĩ đại, mà thiếu nó đội quân phòng vệ kia chẳng thể nào bám trụ gan dạ nhường ấy: lí tưởng về một Thiên Niên Kỉ phụ nữ chế ngự cả thế giới. Bà mẹ già, khi ấy, sẽ mang dáng hình mới, và ngự trị như biểu tượng to lớn sẫm màu của vị nữ thần hùng mạnh tồn tại từ thuở xa xưa, trước cả thời của Chúa hay Nhà Tiên Tri. Đám thiếu nữ chẳng hề bỏ qua bà, nhưng trên hết họ là những con người thực tiễn, luôn trông chừng những đòi hỏi của thời nay, cùng sự sẵn sàng vô bờ các mưu cách.

Mấy nàng rất tò mò các phong tục ở Âu châu, và chăm chú lắng nghe mô tả lối cư xử, dạy dỗ và trang phục của đàn bà da trắng, như quyết tâm hoàn thành khóa huấn luyện chiến thuật bằng các bài học về cách chế ngự và chinh phục cánh mày rầu một chủng tộc xa lạ.

Trang phục đóng vai trò vô cùng lớn trong cuộc sống của họ, điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi đó đều là khí tài chiến tranh, chiến lợi phẩm, và phẩm vật tượng trưng cho thắng lợi, kiểu như lá cờ cắm lên đồn bốt vừa bị đánh hạ vậy. Với các đức ông chồng Somali có bản tính sống kiêng khem, lãnh đạm trước đồ ăn thức uống hay tiện nghi cá nhân, bạo liệt và thon gầy như chính xứ sở sinh ra họ, thì phụ nữ là thú vui xa hoa. Nàng là đối tượng anh ta không ngừng khát khao, là mối lợi ích tối cao trong đời; ngựa nghẽo, lạc đà hay gia súc có thể cũng được tính đến và được ao ước, tuy thế chẳng thể nào nặng hơn vợ. Phụ nữ Somali khuyến khích đàn ông của họ ngả theo cả hai xu hướng bẩm sinh kể trên. Họ khinh miệt thậm tệ bất kì sự mềm yếu nào ở đàn ông và xả thân cho phẩm giá. Những phụ nữ này chẳng cách gì kiếm nổi một đôi dép nếu không thông qua đàn ông, họ vô phương làm chủ chính mình mà cần phải thuộc về một người đàn ông nào đó, cha, anh em trai hay chồng, nhưng họ vẫn là phần thưởng quý giá nhất trên đời. Đây là điều đáng kinh ngạc, và tự hào cho cả đôi bên khi nhìn vào lượng lụa là, vàng bạc, hổ phách, san hô phụ nữ Somali nhận từ người đàn ông của họ. Cuối mỗi chuyến buôn bán hay săn bắn dài ngày cần không biết bao nhiêu nỗ lực, mọi gian khổ, hiểm nguy, mưu mẹo, nhẫn nại đều biến thành phục sức phụ nữ. Ba nàng thiếu nữ chưa có người đàn ông nào để vắt kiệt, trong căn lều-nhỏ-giống-nhà, lúc này đang tết kiểu tóc lộng lẫy nhất và trông ngóng tới ngày đi chinh phục kẻ chinh phục, vơ vét của kẻ đi vơ vét. Họ rất hào phóng cho nhau mượn phục sức lộng lẫy của mình, và thích thú khi khoác lên mình bé út, người đẹp của cả nhóm, mấy món đồ lộng lẫy nhất của bà chị đã yên bề gia thất; họ thậm chí vừa cười rúc rích vừa đôi cho bé chiếc khăn trùm đầu lấp lánh cả những sợi vàng ròng dệt lẫn vào mà theo luật trinh nữ chưa được mang.

Dân Somali thường dính vào kiện tụng, tranh cãi dai dẳng, và hầu như lúc nào cũng có một mối xung đột khiến Farah phải thường xuyên có mặt ở Nairobi, hoặc dự những cuộc họp thị tộc tại đồn điền. Những dịp ấy, khi tôi tới nhà, bà lão sẽ khéo léo, khôn ngoan dò la về các vụ việc kia. Bà hoàn toàn có thể hỏi Farah, mang lòng kính trọng mẹ vợ - anh hẳn sẽ tiết lộ tuốt tuột những gì bà muốn biết. Song tôi tin do chiến thuật ngoại giao bà chọn đường khác. Dùng cách này bà vẫn có thể duy trì, nếu có lợi cho bà, tình trạng phụ nữ mù tịt việc đàn ông, và sự bất lực của nữ giới để hiểu thông dẫu chỉ một chữ về đề tài ấy. Nếu bà có đưa ra lời khuyên nào, nó quyết sẽ ở dạng sấm truyền, mang tính thần thánh, và chẳng khi nào ai đó có thể quy kết trách nhiệm cho bà.

Trong những dịp tụ họp đông đảo dân Somali ở đồn điền, hoặc tại các sinh hoạt tôn giáo lớn, cánh phụ nữ phải cáng đáng cả đống việc tổ chức, nấu nướng. Bản thân không xuất hiện bên bàn tiệc, cũng chẳng thể bước vào giáo đường Hồi giáo, nhưng họ đặt nhiều kì vọng ở thành công và vẻ huy hoàng của buổi tiệc, ngay cả với nhau thậm chí họ cũng chẳng bộc lộ hết tâm tư về chuyện ấy. Những dịp như vậy, họ khiến tôi liên tưởng đến thế hệ phụ nữ thời trước nơi cố hương, trong dáng váy có tùng vểnh ra sau còn phần đuôi hẹp dài quét lê. Hệt như đây, phụ nữ Scandinavia ở thế hệ mẹ tôi bà tôi - các nô lệ thời văn minh của dân châu Âu hồn hậu - cũng phục dịch tại những lễ hội lớn, linh thiêng của đàn ông: Hội săn chim trĩ hay Lễ lùa thú mùa thu.

Người Somali đã sở hữu nô lệ từ xa xưa, và phụ nữ Somali hòa hợp ăn ý cũng như hành xử tự nhiên, thoải mái cùng dân bản địa. Ở vị trí dân bản địa, làm việc cho người Somali hay Ả Rập dễ hơn làm cho người da trắng, bởi nhịp sống các chủng tộc da màu đâu đâu cũng tương đồng. Vợ của Farah được lòng dân Kikuyu tại đồn điền, và Kamante nhiều phen ca ngợi trí thông minh của chị.

Về phần mấy người bạn da trắng của tôi thường ghé thăm đồn điền như Berkeley Cole và Denys Finch-Hatton, các cô gái Somali giao tiếp khá thân thiện, thường chuyện trò và, ngạc nhiên thay, biết về họ khá rõ. Lúc gặp họ, mấy cô luôn trao đổi thân mật theo kiểu em gái, đôi bàn tay giấu dưới nếp váy. Nhưng mối quan hệ này bị phức tạp hóa do các cô, bắt chấp nhiều nỗ lực, vẫn không chịu tiếp xúc với mấy gia nhân người Somali của Berkeley và Denys. Ngay lúc Jama hay Bilea, khăn turban đội đầu, mắt đen, người gầy nhẳng, xuất hiện tại đồn điền, mấy nàng liền lập tức lẩn mất tăm. Ở giai đoạn ấy, nếu muốn đến gặp tôi, họ sẽ thậm thụt men theo các góc tường, váy áo kéo lên che kín mặt. Mấy anh chàng người Anh đều khuyến khích các nàng hãy thêm tự tin, song tận sâu trái tim các chàng, tôi tin, có một luồng gió lạnh ngắt lẩn quất quanh ý nghĩ mấy gia nhân kia thực sự vô hại.

Lâu lâu tôi lái xe đưa mấy cô gái đi chơi, thăm thú chốn này chốn nọ; những dịp đó tôi luôn cẩn thận xin phép bà mẹ, bởi chẳng muốn làm hoen ố thanh danh sáng trong như gương mặt nữ thần Dian* của họ. Có một thiếu phụ người Úc, chủ trang trại kế bên, là láng giềng thật dễ chịu của tôi trong vài năm, thường mời mấy thiếu nữ Somali tới dùng trà. Những dịp ấy là biến cố trọng đại với họ. Mấy chị em sẽ ăn vận xinh tươi như một bó hoa, và trong cỗ xe bon bon, sau lưng tôi ríu rít cả một chuồng chim. Các nàng tỏ ra thích thú tất cả: ngôi nhà, áo quần, thậm chí cả chồng của bạn tôi khi nom thấy anh này thấp thoáng cưỡi ngựa hay cày bừa đằng xa. Lúc trà được mang lên chúng tôi mới té ngửa ra rằng chỉ cô chị đã thành hôn và cô bé là có thể dùng, còn mấy thiếu nữ kia đều không được phép vì là thứ thức uống kích thích. Phải tự bằng lòng với món bánh, mấy nàng ăn từ tốn, nom thật duyên dáng. Bàn bạc đôi chút về trường hợp của bé út mồ côi cùng đi - liệu em có thể uống trà hay đã đến cái tuổi mà thứ đó thành ra hung hiểm? Cô chị đã yên bề gia thất khẳng định em có thể uống, tuy vậy với đôi mắt huyền, ánh nhìn thâm thúy và hãnh diện, bé liếc khắp lượt rồi khước từ tách trà.

Lấy ý từ lời thoại trong hồi 3, cảnh 4 vở kịch Othello , Shakespeare (bản dịch của Nguyễn Văn Sỹ): Tên nàng trước kia tươi sáng như gương mặt nữ thần Dian, giờ đây bị bôi nhọ và đen ngòm như gương mặt ta vậy.

Cô em họ cả nghĩ, mang cặp mắt nâu pha sắc đỏ, đọc được tiếng Ả Rập và thuộc lòng nhiều đoạn kinh Koran. Em mang thiên hướng thần học nên chúng tôi đã nhiều lần luận bàn về tín ngưỡng cũng như trò chuyện về các kì quan trên thế giới. Qua em, tôi biết được cách diễn dịch xác đáng câu chuyện Joseph và vợ của Potiphar*. Em chấp nhận Jesus Christ được sinh ra từ người mẹ trinh khiết, nhưng không tin đó là con Chúa trời, bởi chẳng thể nào Đức Chúa trời lại có con trai bằng xương bằng thịt được. Em cũng tin khi cô gái đồng trinh đáng yêu nhất thế gian tên Mariammo đang dạo bước trong vườn, một thiên thần, được Chúa gửi tới, đã chạm lông cánh vào vai nàng khiến nàng hoài thai. Một ngày nọ, trong lúc luận bàn, tôi cho em xem tấm bưu thiếp có ảnh chụp tượng Jesus Christ của nhà điêu khắc Thorvaldsen đặt ở Đại Giáo đường Copenhagen. Từ đấy em đâm ra mê mẩn Đấng Cứu Thế, theo một cách dịu dàng, nồng nàn. Được nghe bao nhiêu về Người cũng chưa đủ cho em và lúc nghe tôi kể, em bật xuýt xoa rồi cả màu da cũng biến đổi. Em day dứt nhiều về Judas - hắn ta là loại người gì thế nhỉ, sao lại có kẻ như vậy cơ chứ? - bản thân em sẽ sướng muốn chết nếu được móc mắt hắn ra. Đấy là một niềm mê say bắt nguồn từ mùi hương họ đốt ở nhà, thứ hương chế từ loại củi sậm màu, khai thác từ rừng sâu trên những ngọn núi xa xôi, tỏa một thứ men nồng nàn, hao hao trầm nhưng ngọt ngào và lạ lẫm trước tâm thức chúng ta.

Theo Kinh Cựu Ước, Joseph bị vợ quan Potiphar vu oan hãm hại do không quyến rũ được ông.

Sau khi xin phép đưa nhóm phụ nữ đạo Hồi vào thăm Hội truyền giáo và được các cha cố người Pháp - lòng như mở cờ vì có chuyện xảy ra - chấp thuận với phong thái thân thiện xởi lởi cố hữu, một chiều nọ tôi chở cả tốp tới để từng người, mặt mày nghiêm trang, bước vào ngôi nhà thờ mát rượi. Mấy cô gái chưa từng vào trong một kiến trúc sừng sững đến vậy, và lúc ngước lên tất cả đều giơ tay che đầu như thể sợ nó đổ sụp xuống. Trong nhà thờ đặt nhiều tượng, và ngoại trừ tấm ảnh trên bưu thiếp kể trên, họ chưa từng thấy những thứ như vậy. Hội truyền giáo Pháp quốc sở hữu bức tượng Đức Mẹ Đồng Trinh màu trắng toát pha chút sắc xanh lơ, kích thước người thật, trên tay cầm cành hoa loa kèn, kế bên là tượng thánh Joseph đang bế Đức Hài Đồng trên tay. Đứng trước hai bức tượng, mấy cô gái choáng ngợp chẳng thốt nên lời, vẻ đẹp của Đức Mẹ Đồng Trinh làm họ thở dài khoan khoái. Về phần Thánh Joseph, họ đã biết từ trước, và sùng kính ông ở vai trò người chồng thủy chung, người bảo vệ Đức Mẹ Đồng Trinh, giờ ông còn được họ nhìn bằng ánh mắt trân trọng bởi đang bế con giúp vợ. Vợ của Farah, đang mong ngóng đứa con chào đời, cứ luẩn quẩn chẳng rời nhóm tượng Thánh Gia suốt thời gian ở nhà thờ. Các cha luôn tự hào về các ô cửa sổ nhà thờ, được dán giấy màu cho giống như gắn kính màu, trên có vẽ về những tích trong Con đường khổ nạn của Chúa. Cô em họ giờ chìm đắm vào những ô sổ ấy, quên hết xung quanh, cứ đi vòng vòng quanh giáo đường, mắt dán chặt lên các cửa sổ, hai tay xiết vào nhau, đôi chân khuỵu xuống như phải chịu sức nặng cây thánh giá. Trên đường về nhà, cả nhóm hầu như chẳng nói năng gì, họ e ngại, tôi tin vậy, sẽ để lộ ra sự ngốc nghếch của mình nếu đặt ra bất kì câu hỏi nào. Tận tới vài ngày sau, họ mới thắc mắc liệu các Cha có thể khiến Đức Mẹ hay Thánh Joseph bước từ đế tượng xuống được chăng.

Cô em họ thành hôn tại đồn điền, trong căn nhà trệt xinh xắn còn bỏ trống mà tôi để người Somali sử dụng cho dịp này. Lễ cưới rất lộng lẫy, kéo dài bảy ngày. Tôi tham dự buổi lễ chính, khi một đám rước phụ nữ, đồng thanh ca hát, dẫn cô dâu tới đám rước của cánh mày râu cũng đang hòa giọng đưa chú rể tới gặp cô. Cho đến lúc ấy, cô gái chưa từng trông thấy vị hôn phu, và tôi tự hỏi liệu em có mường tượng anh ta trong hình ảnh Đấng tối thượng của Thorvaldsen, hay ngoài hình bóng thiên giới ấy, em còn mẫu hình trần thế nào từ tiểu thuyết diễm tình. Trong tuần đó, tôi lái xe tới căn nhà mấy bận nhưng bất kể tới giờ nào, tôi cũng bắt gặp ngôi nhà rộn rã cuộc sống hội hè và ngát mùi hương trầm hôn lễ. Vũ điệu múa kiếm, cũng như các điệu nhảy tuyệt vời khác của cánh phụ nữ, với cả vòng người lắc lư; những giao dịch gia súc có giá trị lớn được các bô lão gút lại, súng nổ và nhộn nhịp lừa xe từ thành phố tới rồi đi. Đêm xuống, dưới ánh đèn bão treo ngoài hiên, những màu nhuộm yêu kiểu nhất của vùng đất Ả Rập và Somali nối tiếp nhau vào ra căn nhà cũng như các cỗ xe: hồng tía, đỏ mận, nâu đỏ Sudan, hồng Bengale và đỏ Saffranine.

Ahamed, cậu con trai Farah mà mọi người thường gọi là Saufe, nghĩa là một cái cưa, chào đời ở đồn điền. Trong tim nó chẳng có tí nhút nhát nào ở trẻ Kikuyu. Từ khi còn tí xíu, tã quấn kín mít tới tận cái đầu đen tròn xoe nên chẳng còn thấy người đâu mà nom chỉ như một quả đấu, nó đã ngồi thẳng thơm và nhìn vào tận mặt bạn: cơ hồ bạn đang bế một chú ưng nhỏ, hay đặt trên đầu gối mình một chú sư tử con vậy. Ahmed thừa hưởng từ mẹ cái tươi hơn hớn, và khi có thể chạy quanh, nó trở thành cậu bé vui nhộn, ưa mạo hiểm, có ảnh hưởng lớn giữa đám trẻ đồn điền.

« Lùi
Tiến »