Mùa xuân năm tròn 16 tuổi, tôi đặt chân lên đất Tokyo lần đầu tiên.
Xuống khỏi tàu tốc hành tuyến shinkansen Tohoku, đi qua cửa soát vé, tôi bất giác khựng lại trước biển người. Ga Tokyo rất rộng, không có cửa sổ, trông như thành phố dưới lòng đất. Nếu không có biển chỉ dẫn, hẳn tôi đã không thể ra khỏi tòa nhà.
Tôi tìm thấy tuyến tàu điện ngầm Marunouchi, bước vào sân ga. Tôi vừa dừng chân thì tàu đến. Ấn tượng thật. Tôi cảm thán lần nữa khi được trải nghiệm thế giới mới lạ nơi tàu chạy năm phút một chuyến. So với chốn tôi từng thuộc về, dòng thời gian ở đây hoàn toàn khác.
Tôi đến Tokyo chính vì những điều này.
Tôi nhớ lại cảnh rời nhà ở Minmaya sang nay. Mẹ muốn đi cùng lên Tokyo, hay chí ít cũng tiễn tôi đến Aomori hoặc Hachinohe, nhưng tôi một mực từ chối. Mục đích ra đi của tôi là làm mới bản thân. Tôi tuyệt đối không muốn đem theo dư âm của quê hương tới tận đây.
Tôi xuống ga Nishi-Shinjuku. Leo lên cầu thang, bước ra đường lớn, tôi liền bắt gặp một tòa nhà cao tầng vươn thẳng lên trời, với khối kiến trúc trông như chiếc đĩa tròn nằm trên nóc. Cao quá, tôi thầm nghĩ.
Tôi rẽ phải ở ngã tư Naruko Tenjin, vừa xem bản đồ vừa đi bộ chừng năm phút. Ngẩng đầu nhìn, tôi thấy hàng loạt cao ốc quy mô ngang ngửa tòa nhà lúc nãy bủa vây tứ phía.
Cảnh tượng thực choáng ngợp.
Tôi hình dung mình đang ngắm một rừng tháp.
Nơi này cũng là thành phố của tháp. Rừng tháp mọc lên giữa trung tâm đô thị Shinjuku lạnh lùng nhìn tôi từ trên cao, nhưng không gây sức ép. Nhờ vậy tôi rất yên tâm.
Đi bộ thêm khoảng mười phút, tôi thấy khung cảnh phố phường đột ngột thay đổi. Những cao ốc chen nhau xâm lấn không gian theo phương thẳng đứng bỗng biến mất, nhường chỗ cho khu dân cư cũ trải dài theo phương ngang như bám lấy mặt đất.
Sự biến đổi này rất mới mẻ đối với tôi, khi mà tâm trí đang từ chỗ thấp hướng lên trời bất ngờ bị lôi tuột sang ngang. Nhờ đứng trên dốc, tôi có thể ngắm toàn cảnh khu dân cư ở chỗ đất trũng, sự tương phản về cảnh sắc càng thêm ấn tượng.
Nhìn qua một lượt, tôi nhận thấy khu dân cư cũ thực sự cũ kĩ, hoàn toàn không có nét khoa trương. Tôi có cảm giác phố phường đưực giữ gìn nguyên vẹn từ khoảng giữa thời Chiêu Hòa. Phần lớn nhà cửa lợp mái ngói. Điều này khiến kẻ lớn lên ở xứ tuyết, chẳng mấy khi thấy ngói như tôi khá xúc động. Một khu phố đầy sinh khí. Hóa ra Tokyo không chỉ có những nơi như Shibuya, Harajuku hay Ginza.
Tôi thong thả bước xuống cầu thang đá uốn lượn dẫn xuống khu phố cũ. Dưới đó có kí túc xá nơi tôi sẽ sống trong ba năm tới.
Loay hoay hồi lâu, tôi tìm ra tòa kí túc tồi tàn, thuộc sở hữu của một tổ chức phúc lợi.
Mang danh kí túc xá, nhưng nó không phải kiểu kí túc truyền thống, nơi mọi người buộc phải sinh hoạt chung với nhau. Đến nơi tôi mới biết nó là một căn hộ hai tầng bằng gỗ, có kèm bếp. Phòng tôi ở tầng hai. Bố tìm cho tôi nơi này qua người quen ở chỗ làm.
Quan sát kĩ, tôi chắc mẩm căn nhà ra đời cách đây không dưới bốn mươi năm. Nhà tắm kết hợp nhà vệ sinh, không có bồn ngâm mình. Bù lại giá thuê rẻ đến khó tin. Âu cũng là tiền nào của nấy, chẳng có gì phải phàn nàn. Tôi vốn không trông chờ cuộc sống một mình nhàn nhã, miễn có chỗ ngủ thì những chuyện khác thế nào xong thôi.
Những thùng các tông gửi qua đường chuyển phát nhanh nằm chất đống ngổn ngang trong phòng tôi. Tôi lách qua đám thùng, băng ngang căn phòng, mở cửa sổ cho thoáng khí. Khi tôi đẩy tấm kính sang ngang, khung cửa sổ gỗ kêu ken két chói tai do không có rãnh trượt nhôm.
Hôm ấy trời đẹp. Nắng từ cửa sổ lọt vào căn phòng âm u, tạo cảm giác khá dễ chịu.
Tôi để mở cửa sổ, ra ngoài, lững thững dạo bộ. Tôi định bụng tìm hiểu sơ qua khu vực lân cận, chuẩn bị cho cuộc sống mới.
Tôi dừng chân ở sảnh trước, nhìn quanh. Hai bên kí túc lần lượt là tiệm giặt đồ tự động và nhà tắm công cộng. Đi thêm một đoạn là ra đến đường lớn, bên đường có cửa hàng tiện lợi cùng rất nhiều quán ăn. Tôi thầm ngạc nhiên khi thấy hai cửa hàng tiện lợi cùng hãng trong ngõ nhỏ đối diện.
Theo những gì tôi thấy, chỗ này không hề bất tiện, đúng hơn là cái gì cũng có.
Tôi đã hình dung đây là một khu phố ồn ào, đây tiếng xe cộ lẫn tiếng cãi cọ, bởi dù gì cũng thuộc Tokyo, nhưng hóa ra nó khá yên tĩnh.
Dọc con đường hẹp chẳng đủ chỗ cho ô tô đi qua, cây cối mọc dày như ở công viên, trông khá mát mắt. Tôi đi theo lối đó rồi vòng sang đường khác. Tôi thử rẽ trái rẽ phải, tất nhiên vẫn chú ý chừng mực để khỏi lạc. Một lúc sau, tôi ra đến phố Ome. Lang thang về phía Tây, tôi bắt gặp bên đường một khu đất bị vây kín bằng hàng rào kim loại. Có vẻ người ta sắp xây nhà ở đó.
Trong khoảnh khắc, tôi nhớ tới căn nhà của Sayuri, nay đã thành đất trống. Ở Tokyo này, nhà cửa hay cao ốc bị tháo dỡ rồi thay thế là chuyện hết sức bình thường. Nghĩ vậy, tôi trấn tĩnh trở lại. Mọi thứ hối hả đổi khác, chẳng có thời gian cho tôi chìm vào hồi tưởng. Nhìn từ góc độ nhất định, đó là điều có lợi với tôi.
Tôi bâng quơ nhìn trời. Rồi bàng hoàng.
Tồi vừa nhác thấy một đường thẳng mờ nhạt, dựng đứng như ruột bút chì kim phía trên những mái nhà, ở bầu trời phương Bắc.
Tôi nhắm mắt, rồi bừng mở, toàn thân nổi da gà.
Nó ở đó, không thể nhầm được. Ngọn tháp.
Không nghi ngờ gì nữa, chính là ngọn tháp trên đất Ezo, dù từ đây trông nó nhỏ, rất nhỏ so với khung cảnh ở Aomori.
Vô lý. Rõ ràng nó nằm ngoài tầm nhìn.
Tôi nhớ lại khoảng cách giữa Aomori và trung tâm Hokkaido, hình dung kích thước ngọn tháp nhìn từ Aomori, nhẩm tính đường kính tháp. Giả sử đường kính thực tế lớn gấp đôi con số đó, tôi cũng không thể nhìn thấy ngọn tháp từ Tokyo. Trên lý thuyết là vậy.
Nhưng lúc này nó đang ẩn hiện trước mắt tôi.
Tôi lên tiếng chào một ông cụ có vẻ là người sống gần đây tình cờ đi ngang, nói rằng mình mới chuyển đến, hỏi ông có phải vốn dĩ vẫn thấy ngọn tháp từ đây không. Ông cụ bảo mắt đã kém nên không nhìn rõ, nhưng đôi khi có thấy tháp cùng núi Phú Sĩ vào những ngày đẹp trời.
Sao có thể...
Ông cụ đi rồi, tôi vẫn đứng sững như trời trồng. Có chuyện ngược đời thế này ư? Tôi chạy đến tận đây chỉ để khỏi phải nhìn thấy nó kia mà?
Tôi lảo đảo, lưng va vào hàng rào kim loại “xoạch” một tiếng.
Lễ khai giảng kết thúc, năm học mới bắt đầu.
Tôi đã chuẩn bị tinh thần đón nhận nỗi lẻ loi khi học cấp ba xa nhà, không người quen biết, nhưng thực tế chẳng đến nỗi nào. Học sinh trong trường đa phần sinh ra ở Tokyo, song cũng có những đứa đến từ các vùng khác nhau trên cả nước. Ai nấy đều đã quen với chuyện này. Vì thế, tôi hầu như không thấy lạc lõng dù là dân tỉnh lẻ.
Dù chưa tới mức hiếm nhưng quả thật, số học sinh lặn lội lên thủ đô học trường này như tôi không nhiều. Bạn bè xung quanh tò mò, thậm chí ghen tị với cuộc sống một mình của tôi. Tôi đùa cợt về lối sống lặng lẽ chẳng có gì đáng ghen tị ấy để đổi lấy tiếng cười.
Tôi vốn dễ có được thiện cảm của người khác (đánh mất phẩm chất đó rồi tôi mới thấm thía nó vô cùng quan trọng), làm quen và sống hòa hợp với đám đông là chuyện không mấy khó khan. Chẳng mấy chốc tôi đã có kha khá bạn chơi cùng, cũng không thấy buồn vì sống một mình, chí ít là trong suy nghĩ.
Trường tôi nằm giữa khu quy tụ nhiều chung cư hoành tráng của Nishi-Shinjuku. Tuy ở trung tâm thành phố, sân vận động trong trường vẫn là sân đất chứ không trải bê tông.
Từ của sổ lớp học ở tầng ba, tôi có thể thấy rõ kiến trúc chọc trời ở đô thị mới.
Từ ngày tình cờ nhìn thấy ngọn tháp, tôi bắt đầu coi rừng cao ốc ở Nishi-Shinjuku là họ hàng của nó. Hễ nhìn những tòa nhà sừng sững vươn cao đầy ngạo nghễ, tôi lại thấy bất an. Sao lại tạo ra chúng? Xây vừa cao vừa to như vậy làm gì?
Đôi khi tôi tự hỏi, rốt cuộc người ta đang làm gì trong những tòa nhà ấy? Chẳng phải tôi muốn vào trong xem, nhưng vì lý do nào đó, tôi cảm thấy mình thực sự bị chối bỏ.
Tôi học cấp ba khá nghiêm túc.
Dù sao đi nữa, tôi đã viện cớ ôn thi đại học để trốn lên Tokyo, không nghiêm túc không được. Tôi từng nghĩ lên đến nơi là tha hồ làm theo ý mình, nhưng cuối cùng vẫn thấy chí ít phải học hành tử tế. Vả lại tôi chẳng muốn làm gì khác.
Vì thế tôi học hành chăm chỉ ngoài sức tưởng tượng của tôi hồi cấp hai. Việc ấy không hề dễ. Nhưng nó giúp tôi giết thời gian, tránh nghĩ ngợi linh tinh. Trường tôi thực sự chú trọng thi cử, nên tuyệt nhiên không ai có thái độ coi thường bài vở. Ở đây, học tốt là đúng, là lý do tôn trọng nhau. Nhờ thế tôi chiếm được vị trí nhất định trong môi trường mới. Bạn cùng lớp khá nể phục, coi tôi là đứa dễ gần. Cũng có vài đứa khó ưa, nhưng không thành vấn đề. Công bằng mà nói, tôi khá may mắn vì được ông trời ưu ái.
Nhưng chẳng hiểu sao, nỗi bất an vô cớ khi vắng mặt khỏi nơi mình muốn trốn chạy không chịu biến mất.
Tôi vốn không muốn lắp điện thoại ở kí túc, nhưng vẫn phải làm. Bố còn dư một suất đăng kí điện thoại nên đã kéo dây vào phòng tôi.
Lúc chúng tôi đang làm bài thi giữa kì một, một trận động đất nhỏ đã xảy ra ở Kanto. Nó nhỏ đến độ tôi còn chẳng biết có động đất. Vốn tính hay lo, mẹ gọi điện cho tôi. Tôi hỏi lại động đất xảy ra khi nào khiến bà ngạc nhiên.
Hai ngày sau, mẹ gửi lên một phong bì tiền mặt, cài tờ giấy nhớ bên trong, dặn tôi dùng tiền đó mua ti vi để theo dõi thông tin thiên tai.
Tôi nhét phong bì tiền vào túi quần, đến cửa hàng điện máy Yodobashi Camera. Bước vào khu trưng bày, tôi thấy đủ loại ti vi lớn bé được bày san sát, không chừa lại chỗ trống nào. Từ lâu tôi đã có cảm giác kì quặc rằng chương trình truyền hình ở cửa hàng điện máy cực kì ngớ ngẩn. Có lẽ vì quá nhiều màn hình chiếu cùng một thứ nằm cạnh nhau. Ý định mua ti vi bay biến sạch. Dù sao tôi cũng chẳng xem ti vi nhiều.
Tìm chỗ ăn tạm cái gì rồi về vậy, tôi nghĩ. Lúc đi tắt qua khu bày ti vi, ánh mắt tôi dừng lại ở một thứ. Nó khiến tôi liên tưởng đến con cá khổng lồ trơ xương.
Tôi nhìn kĩ. Ra là cây vĩ cầm chỉ có khung.
Một cây vĩ cầm vô thanh của hãng Yamaha. Cơ cấu tạo âm bị giản lược hoàn toàn, gần như không phát ra tiếng. Chỉ người chơi nghe được âm thanh vốn có của nó qua tai nghe. Đây là loại vĩ cầm không gây ồn, chuyên dùng để tập luyện.
Tôi chần chừ đôi chút trước khi mua nó. Cây đàn giúp tôi tích khá nhiều điểm vào thẻ. Tôi dùng số điểm đó mua thêm chiếc đài bỏ túi.
Tôi hỏi nhân viên cửa hàng xem quanh đây có chỗ nào bán sách dạy chơi nhạc cụ không. Nhân viên giải đáp rất tận tình. Tôi đến cửa hàng nhạc cụ theo chỉ dẫn, mua vài cuốn sách dạy chơi vĩ cầm.
Từ hôm đó, tôi bắt đầu tập vĩ cầm. Tôi học từ con số không theo đúng trình tự sách chỉ, lần lượt tự chơi được các bản nhạc trong đó.
Mỗi khi chán học, chơi nhạc cụ để thay đổi không khí là việc khá thú vị. Sau vài tháng, dù chưa giỏi, tôi đã đạt tới trình độ khá so với tay mơ. Rồi không rõ từ khi nào, tôi gần như nhớ được bản nhạc Sayuri chơi vào ngày hè đó.
Tôi chắt chiu chút kí ức mơ hồ, dùng đầu ngón tay dò tìm từng nốt. Mỗi lần như thế, đôi mắt nhắm hờ, ngón đàn hơi cứng và mái tóc đung đua của Sayuri lại hiện ra, đẩy tôi vào một thứ cảm xúc không lời nào diễn tả được.
Nhưng đương nhiên tôi không thể nhớ ra toàn bộ.
Tiếng gọi phương xa.
Thật may tôi nhớ tên bản nhạc. Tôi đến một thư viện nổi tiếng vì lưu trữ nhiều nhạc phổ, tìm bản nhạc đó rồi phô tô lại.
Thời gian tiếp tục trôi. Tôi dậy sớm, đến trường, trải qua một ngày với tâm trạng khá vui vẻ, vào thư viện tự học, đi mua đồ rồi về kí túc. Ngày nào cũng như ngày nào. Đôi khi, chỉ thỉnh thoảng thôi, tôi về phòng, đóng cửa, cảm nhận nỗi mỏi mệt nặng nề.
Những lúc đó, tôi sẽ chơi bản nhạc cùa Sayuri.
Cứ thế, một năm sắp qua.
Tôi chơi khá thân với vài đứa bạn cùng lớp. Mấy đứa này đều hòa đồng, lớn lên trong gia đình tử tế, nhưng cũng rất rành khoản chơi bời. Đám bạn tôi phần đông sinh ra ở Tokyo, sẵn lòng dẫn tôi đi thăm thú nhiều nơi trong thành phố. Tôi đã đến những chỗ hào nhoáng tựa tranh vẽ như Shibuya, Harajuku, Odaiba, cũng từng qua Kichijoji hay Shimokitazawa. Nhưng tôi lang thang nhiều nhất ở khu Shinjuku vì gần nhà. Thi thoảng tôi còn đến club, uống rượu thâu đêm. Tôi không rõ bây giờ thế nào, còn thời đó văn hóa club vẫn rất thịnh hành. Nhiều quán sẵn lòng để học sinh cấp ba vào, miễn là không mặc đồng phục.
Chơi bời như vậy quả thật rất vui. Tôi có bạn, có nơi để thuộc về, có những mối giao hảo đơn giản. Nhưng đôi khi, không hiểu sao, những điều tai nghe mắt thấy lẫn trải nghiệm trong lúc vui chơi cho tôi cảm giác thật giả tạo.
Lúc ấy tôi tự hỏi, “Đây là đâu?” Tôi căng thẳng, bối rối như đứng trên một sân khấu nhỏ, nơi mọi thứ đều là đồ giả. Tôi linh cảm nếu nhắm mắt, tất cả sẽ biến mất, như phông nền sân khấu bị dọn sạch.
Buổi chiều nọ, trên đường về nhà, tôi ngước nhìn rừng cao ốc của Shinjuku.
Gần như vô thực.
Tôi khép mi, tưởng tượng khung cảnh ấy vụt tan như cách phông nền sân khấu bị dẹp đi.
Nhưng điều đó không xảy ra. Đây chính là hiện thực. Tôi ngỡ mình đang nhìn ảo ảnh bên kia đại dương, nhưng chúng đều là thật. Những thứ tôi thấy thực sự tồn tại trên mặt đất.
Mi mới là ảo ảnh. Một cao ốc bảo tôi.
Tôi có cảm giác nó đang nói chuyện với mình.
Mi chỉ là một hồn ma không thực thể. Một cao ốc khác lên tiếng.
Cũng có thể.
Tôi lững thững bước như một hồn ma trắng xanh lang thang trên phố. Thứ vô thực là tôi, không phải thành phố này. Chắc đây mới là bản chất của sự việc lúc nãy.
Tôi ngước nhìn những tòa nhà chọc trời, tự hỏi rốt cuộc ở đó có ai, chuyện gì đang diễn ra.
Mi chẳng bao giờ vào được trong này. Mi không được đón nhận ở đây.
Ý nghĩ nặng nề ấy bủa vây tâm trí, dồn ép, đè bẹp tôi.
Mình bị cô lập. Mình không thuộc về thành phố này.
Tiếng nói của chính tôi vang vọng hỗn loạn trong đầu, giày vò tôi.
Nhưng bất chấp thực tế, tôi vẫn phải sống tiếp ở đây, hòa mình vào chốn này bằng mọi giá.
Một năm trôi qua, tôi lên lớp Mười một. Tôi chưa về nhà lần nào, kể cả dịp lễ Obon* và Tết.
Một ngày nọ, tôi lạc đường.
Chuyện xảy ra vào hôm đợt thi giữa kì một kết thúc, khi tiết xuân đã qua quá nửa. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình bị mù hướng, nhưng từ lúc lên Tokyo, tôi rất hay đi lạc. Lạc ở ga Shinjuku, nơi lộn xộn như khối mô sống phình ra mà thành. Lạc cả ở ga Ikebukuro, vốn được quy hoạch chỉnh tề như bàn cờ.
Tôi đang trên đường đi chơi đêm theo lời rủ rê của mấy đứa bạn, nhân dịp thi xong. Trời sâm sẩm tối. Chúng tôi thống nhất về nhà thay đồ rồi mới tập trung tại quán đã hẹn. Tôi chủ trương không từ chối lời mời kiểu này, trừ trường hợp bất đắc dĩ. Tôi cần làm thế. Làm quen với phố xá, con người nơi đây, trở thành một phần của nó. Vì vậy, dù chẳng thích thú, tôi vẫn đi cùng bạn bè, giấu tiệt vẻ chán nản.
Nơi chúng tôi hẹn gặp là một club nhỏ theo phong cách rock, phân nửa xây chìm dưới lòng đất ở Nishi- Shinjuku. Nó nằm sát khu dân cư, hơi tách biệt khỏi phố phường sầm uất. Tôi từng đến đây vài lần. Quán bé, ồn ào, rất thích hợp để vẫy vùng giải tỏa.
Chẳng hiểu sao, hôm đó tôi không tìm ra quán dù đã đi lòng vòng hồi lâu. Rẽ ở chỗ cần rẽ, đi đúng đường cần đi mà mãi chưa đến đích. Tôi không có di động nên cũng vô phương liên lạc với đám bạn.
Rõ ràng nó ở đây…Tôi luẩn quẩn gần vị trí mình nhớ được. Chính lúc ấy, một cô gái trạc tuổi tôi bước tới từ phía sau, lên tiếng gọi.
“Bạn làm gì thế?”
Tôi giật thót. Ban đầu tôi tưởng mình bị nhầm là kẻ mờ ám vì đi loanh quanh, nhưng hình như không phải.
Trông cô gái có vẻ khá thân thiện. Cô mặc áo mỏng hở vai và quần jeans bó, đứng nghiêng người như dồn hẳn trọng lượng cơ thể lên một chân.
Tôi bối rối đáp, “Không... Mình lạc đường.”
“Bạn đi đâu?”
“Ờ...”
Vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, tôi nhớ lại tên quán rồi trả lời cô. Gặp tình huống bất ngờ thế này (Được một cô gái lạ mặt vô cớ bắt chuyện là tình huống không thể bất ngờ hơn), tôi sẽ thật thà trả lời mọi câu hỏi như thằng ngốc, hồi lâu mới bắt kịp tình hình.
“À, mình biết chỗ đó. Bạn đi quá hai ngã rẽ rối.” Cô gái nói. “Phải đi hết đường này, rẽ ở lối thứ hai.”
“Cảm...”
Tôi chưa nói hết câu cảm ơn, cô đã tiếp lời.
“Bạn mù hướng hả?”
“Hình như vậy.”
Sỗ sàng quá nhỉ, tôi vừa đáp vừa nghĩ. Tôi muốn thanh minh rằng mình không mù hướng, ngặt nỗi đang đi lạc, nói ra cũng chẳng có sức thuyết phục.
“Bất ngờ thật đấy. Hóa ra Fujisawa đến cả những chỗ thế này.”
Tôi nhìn cô chằm chằm. Sao cô lại biết tên tôi?
Tôi không nhớ từng gặp cô. Nói đúng hơn, tôi hầu như chẳng có dịp tiếp xúc với con gái. Nhìn vẻ mặt hoang mang của tôi, cô chủ động lên tiếng.
“Mình biết bạn. Mình và bạn học chung lớp từ năm nay mà.”
“Ơ...”
“Bạn không nhớ à?”
“Ờ...”
Cô đưa tay túm mái tóc dài quá vai thành hai lọn. “Bình thường mình để tóc thế này.”
“À.”
Cuối cùng tôi cũng nghĩ ra. Đúng là có bạn gái như vậy trong lớp. “Xin lỗi, mình nhớ rồi.”
“May quá. Bạn mà không nhớ ra thì mình sẽ bị coi là đồ kì quặc mất.”
“Xin lỗi.” Nói xong, tôi tự nhủ sao mình phải làm thế. “Tại bạn không mặc đồng phục, còn để kiểu tóc khác nữa.”
“Ừ, cũng phải.” Cô nói tiếp với vẻ sắc sảo. “Nhưng mình biết kiểu tóc không phải lý do thực sự. Fujisawa là kiểu con trai đến cuối năm học cũng chẳng nhớ nổi mặt và tên con gái trong lớp, đúng chứ?”
Đúng chóc. Tuy nhiên, tôi chỉ ậm ừ kiểu nước đôi vì không muốn thừa nhận.
“Thật ra mình muốn bắt chuyện với Fujisawa từ lâu rồi.”
“Tại sao?” Tôi chân thành đặt câu hỏi. Nói thẳng, tôi không có điểm nào thu hút con gái.
“Tự nhiên muốn thôi.” Cô nối. “Nhưng Fujisawa lúc nào cũng ngẩn ngơ, mình nghĩ không nên làm phiền bạn nên chẳng dám đánh tiếng ở trường.”
“Ừm, vậy à?”
“Ừ. Bạn không biết sao? Bạn hay lơ đễnh nhìn chăm chăm vào một điểm trong không khí mà. Bạn nhìn gì vậy?”
“Mình không nhìn gì cả. Mắt mình còn chẳng tập trung vào đâu.”
“Vậy lúc đó bạn nghĩ gì?”
“Mình không nghĩ gì hết. Đầu mình trống rỗng...”
“Lạ thật. Bạn nên bỏ thói quen đó đi. Thỉnh thoảng bạn lại bất động như vật trang trí ấy.”
“Không, chuyện này...”
Tôi tự hỏi rốt cuộc cô gái này muốn gì. Tôi còn cuộc hẹn với bạn, điểm đến cũng biết rồi, phải đi ngay cho kịp.
“Sao bạn lại muốn đến quán đó?” Cô hỏi.
“Ý bạn là sao?”
“Lại ăn mừng sau kì thi đúng không? Fujisawa, đừng tới đó nữa.”
“Không tới đó thì đi đâu?”
“Cùng mình đến chỗ khác. Chỗ nào không có mùi thuốc lá ấy.”
Dường như tôi đã rơi vào một tình huống kì quặc. Được cô gái gần như mới quen bắt chuyện ở lề đường, rồi bị lôi đến quán nước, ngồi đối diện nhau. Tôi chẳng hề tự tin về bản thân nên tránh được hiểu lầm, tức là không ảo tưởng cô có hứng thú với tôi hay tương tự.
Nhưng tôi thấy khó xử vì chẳng nhớ nổi tên cô. Bầu không khí lúc này càng không thích hợp để hỏi. Lúc đi đường tôi đã cố lục tìm trong đầu. Bí quyết nhớ lại khi quên tên ai đó của tôi là dựa vào phụ âm và ấn tượng về hình ảnh. Cô bạn này gắn với gam màu lạnh thì phải. Còn âm tiết... Tôi lần lượt điểm qua k, s, t, n...
Cô dẫn tôi đến một quán cà phê sang trọng trên tầng hai một tòa nhà nhìn ra đường lớn. Mặt tiền của quán là vách kính nên khách có thể ngắm phố xá và người đi bộ bên dưới. Chúng tôi ngồi ghế giáp cừa sổ.
Mãi tới khi nhân viên đến lấy order, tôi mới nhớ ra cô là ai. Chúng tôi gọi cà phê và hồng trà. Đợi nhân viên đi khỏi, tôi lên tiếng thăm dò.
“Họ bạn là Mizuno phải không?”
“Bạn nhớ giỏi đó.” Cô chống cằm cười. “Vậy tên mình là gì?”
Trước bộ dạng lúng túng của tôi, cô cười bí ẩn, “Rika.”
“Rika?”
“Ừ, mình là Rika. Đừng quên nữa nhé.”
“Mình biết rồi. Giờ thì làm sao quên được nữa.”
“Tốt.” Mizuno Rika hài lòng gật đầu.
Cuối cùng tôi cũng đủ bình tĩnh để suy nghĩ. Tôi đã biết tên, nhưng chưa hiểu ý đồ của cô.
“Mizuno đang làm gì vậy? Bạn không mặc đồng phục, chắc là có việc ở khu đó?”
“Không... ừm...”
Mizuno ngó ra ngoài cửa sổ giây lát rồi quay lại nhìn tôi. “Mình hẹn gặp bạn nhưng bị cho leo cây. Đã cất công lên đồ, trang điểm, cứ thế đi về thì bực lắm.”
“Rồi bạn tình cờ thấy mình ở đó, bèn quyết định bắt chuyện?”
“Ừ.” Mizuno gật đầu không hề ngượng nghịu. “Mình càng đi càng tức. Đúng lúc ấy mình gặp Fujisawa ngẩn ngơ đi đi lại lại, sợ để mặc thì bạn sẽ ngã mất, mình gọi.”
Cách ăn nói sỗ sàng thật. Nhưng tôi lại thấy thuyết phục khi bị bảo là ngẩn ngơ. Có vẻ với cô gái này, “ngẩn ngơ” là từ khóa miêu tả tôi chính xác nhất.
“Mình lơ đãng lắm à?”
“Ừ. Ngay ban nãy đây thôi.” Mizuno khảng định chắc nịch. “Fujisawa lúc nào chẳng thế. Ngẩn ngơ, bần thần, tâm hồn lang thang tận đẩu đâu. Thình thoảng trông mặt bạn như đang thắc mắc ‘Sao mình lại ở đây?’. Nói thế nào nhỉ, mình có cảm giác Fujisawa luôn tự hoài nghi bản thân đang ở nhầm chỗ.”
Cô nhận xét như thể nhìn thấu tim gan tôi. Tôi im lặng. Tôi đã chú ý không bộc lộ thái độ đó ra ngoài cơ mà.
Dường như mặt tôi vừa biến sắc.
“Ấy, mình nối trúng tim đen phải không? Xin lỗi nha, tại mình khá nhạy cảm.”
Mizuno thẳng thừng nói đỡ. Cô có vẻ là người tốt, tính tình phóng khoáng.
Cô hỏi nhiều điều về tôi.
“Fujisawa là người thế nào?”
“Câu hỏi chung chung quá, mình không biết trả lời sao.”
“Vậy đổi câu khác, bạn sống ở đâu?”
“Trong quận Shinjuku. Cách trường mười phút đi bộ.”
“Ồ, thích thế! Bạn chọn trường vì gần nhà hả?”
“Không phải. Mình ở kí túc.”
Nghe nói tôi ở Aomori đến, bây giờ đang sống một mình, cô ngạc nhiên.
“Sao bạn lại chọn trường trên này?”
“Tại mình chán tuyết rồi.”
Tôi cười đáp, nhưng Mizuno không tin. Vì thế tôi trôi chảy nhắc lại lời giải thích dùng đi dùng lại cả năm nay. Thay vì ở quê, ngày ngày bắt tàu thường đến trường làng, thà lên thủ đô học trường điểm cho đỡ tốn thời gian, chi phí cũng chẳng chênh nhau mấy. Đại khái là vậy.
“Hừm...”
“Còn nữa, mình muốn đến nơi mình chưa biết.”
“À, chuyện đó thì mình hiểu.”
“Bạn hiểu thế nào?”
“Bố mẹ mình đều là người Tokyo.” Mizuno đưa tay chỉ mình. “Mình không có họ hàng ở quê, nên chỉ biết Tokyo thôi. Mình thực lòng ngưỡng mộ bạn đấy.”
“Chỗ nào ở Tokyo vậy?”
“Nhà mình á? Zoushigaya. Aomori là nơi thế nào?”
“Xứ tuyết. Nổi tiếng với táo, nhím biển, mực, lễ hội Nebuta và Dazai Osamu.”
“Mình không cần câu trả lời kiểu hiệp hội du lịch như thế. Cái mình muốn biết là lối sinh hoạt với không khí sống cơ.”
“Hỏi vậy cũng khó, chẳng có gì đáng nói đâu.”
Thú thật, tôi không muốn nhớ về quê lắm.
“Mình thắc mắc quá trớn à?”
“Không.” Tôi lắc đầu. “Mình mới phải xin lỗi vì chẳng nghĩ ra chuyện gì hay ho. Được các bạn nữ hỏi han mình cũng vui mà.”
“Cái này hơi khó nói, nhưng... Bạn đừng hiểu lầm nhé. Mình không có ý đó đâu...” Mizuno nghiêm mặt, ngồi thẳng dậy. “Mình có bạn trai rồi.”
“Cũng phải.” Tôi đáp.
Mizuno có vẻ phật ý. Tôi không biết vì sao.
“Sao bạn lại bảo ‘cũng phải’?”
Mấy năm nay tôi đã nghiệm ra, những cô nàng mà tôi thấy dễ thương đều có bạn trai cả rồi.
“Nhìn là biết. Bạn trai bạn là người thế nào? Cùng trường hả?”
“Ừ.” Cô khẽ gật đâu. “Bọn mình học chung hồi lớp Mười. Năm nay bị tách lớp rồi.”
Cô nói tên bạn trai. Tôi biết cậu, khá cao ráo, mặt mũi cũng ổn. Tôi nhớ lại mấy lần nói chuyện với cậu, không thấy ấn tượng xấu. Chắc là một thằng con trai tốt tính bình thường.
“Hai bạn bắt đầu hẹn hò thế nào? Một bên chủ động tỏ tình à?” Tôi hỏi.
“Sao nhỉ, tự nhiên đến với nhau thôi. Mình từng nghĩ giữ nguyên quan hệ mập mờ như thế cũng hay. Sau đó mình nghĩ lại, rồi quyết định bày tỏ trước.”
“Bạn nghĩ lại cái gì?”
“Cậu ấy đẹp trai.”
Câu trả lời tức thì của cô làm tôi bật cười. Dường như cô gái này có khả năng khiến những lời bình thường khó nghe trở nên lọt tai.
Đẹp trai nên thích, tôi thấy đó là cách nghĩ đúng. Đơn giản, dễ hiểu, tiêu chuẩn rõ ràng. Vướng mắc duy nhất là tôi không đời nào được xếp vào hàng trai đẹp...
“Vậy đứa như mình chắc chẳng hợp gu bạn đâu nhỉ?” Tôi thử hỏi cô.
“Ừ. Mặt bạn hoàn toàn không phải kiểu mình thích.”
Mizuno vừa cười vừa đáp dứt khoát. Tôi hơi thất vọng, song không giận.
“Nhưng có vẻ Fujisawa không hiểu lắm. Vậy là mình yên tâm rồi. Mình muốn hỏi bạn một chuyện. Thỉnh thoảng mình rủ bạn đi chơi được không?”
Tôi bất ngờ, lập tức hỏi tại sao. Cô vừa bảo đã có bạn trai, giờ lại nói những lời này, thật khó hiểu.
“Chỉ có bạn trai là bạn khác giới để nói chuyện, hơi tẻ nhạt phải không? Bạn đi với mình nhé, những lúc mình bị bỏ bom như hôm nay chẳng hạn, còn hơn cứ thơ thẩn một mình.”
Lối suy nghĩ thực khác người. Nhưng tôi cũng phần nào hiểu tâm trạng của cô.
Xét trên quan điểm đó thì Mizuno quả là có mắt nhìn người khi tìm ra tôi, đứa có thể yên tâm chơi cùng. Nhận định của cô khá chính xác. Tôi chẳng mấy hứng thú với vụ hẹn hò, dù việc này là rất bất thường trong trường hợp một thằng con trai đang tuổi lớn.
“Được thôi.” Tôi đáp. “Với điều kiện không nhầm lẫn linh tinh nhé.”
Chúng tôi chia tay trước quán cà phê. Tôi nhìn theo chốc lát khi cô hướng ra ga, rồi vừa đi bộ về nhà, vừa nhớ lại cuộc trò chuyện không đầu đuôi giữa hai đứa.
Cô nàng kì lạ thật, tôi nghĩ. Suy nghĩ, cảm nhận, cách nói chuyện đều khác thường.
Có đôi lúc tôi không bắt kịp tâm tư của cô. Cũng khó trách, mỗi người một khác mà. Đối với kẻ thơ thẩn sống từng ngày tẻ nhạt như tôi, gặp gỡ cô là một sự thay đổi. Nói ngắn gọn là mới mẻ và thú vị.
Đêm đó, tôi mơ về Sayuri.
Trong mơ, Sayuri ở một nơi lạ lùng mà tôi không biết đến. Không trung bao la nhuốm tông trầm như màu ảnh cũ. Tôi từng thấy sắc trời đó, nhưng không nhớ nổi thấy ở đâu.
Dưới vòm trời là rừng tháp nhọn xoắn. Nhiều vô kể. Hình dáng khác hẳn tháp Liên bang. Tháp Liên bang mang phong cách hiện đại, còn tháp ở đây toát lên tính nguyên thủy, tính dân tộc, tính hữu cơ nhiều hơn.
Chúng có màu ấm nóng của gốm nung sơ, vươn cao vút tựa trôn ốc, dài cỡ ngọn giáo.
Phần đỉnh bị cắt phăng như đầu nhọn của thanh lao bằng tre. Lõi có dạng trụ rỗng xoắn ốc, vừa vặn lộ ra ở đỉnh, tạo thành chỗ như đài quan sát với tầm nhìn bao quát tầng không.
Thứ duy nhất thấy được từ đỉnh là bầu trời. Ngẩng lên đương nhiên gặp trời, trông xuống cũng chỉ có trời bao la. Mặt đất không tồn tại nơi đây.
Sayuri đang ở đó.
Cô trưởng thành hơn đôi chút so với kí ức của tôi. Chắc hơn khoảng một, hai tuổi...
Cô ngồi ôm gối, cúi đầu. Hình bóng cô mong manh đến đáng sợ, trong suốt hệt linh hồn. Cô khóc thút thít. Trừ đôi lúc run rẩy bờ vai, cô hoàn toàn bất động. Giấc mơ chỉ xoay quanh Sayuri sụt sùi khóc không thôi.
Tiếng gió reo. Tiếng khóc rấm rứt.
Hai âm thanh ấy hòa vào nhau, vang vọng đây đau đớn giữa khoảng không vô tận.
Tôi tỉnh giấc, chìm trong tâm trạng bất lực, bứt rứt như có con sâu liên lục ngọ nguậy nơi lồng ngực. Tại sao Sayuri không ở bên tôi? Tại sao Sayuri biến mất? Tôi ngờ ngợ có gì đó nhầm lẫn. Cái sai ấy ngày càng tai hại. Cảm giác thật kì lạ, như vừa lạc sang thế giới khác.
Sao Sayuri lại ở nơi lạnh lẽo như vậy?
Không gian trong mơ vắng bóng sự sống.
Chính lúc đó, ý nghĩ Sayuri đã chết, không còn trên thế gian nữa nảy ra trong đầu tôi. Mọi thứ trước mắt tối sầm. Một năm rưỡi này, tôi chưa hề nghĩ đến điều đó. Có lẽ tôi đã vô thức trốn tránh.
Tôi đến trường, vào lớp, vừa bỏ cặp lên bàn thì bị vỗ “bộp” lên lưng. Tôi quay lại. Hóa ra là Mizuno Rika. Cô nhìn thẳng vào mắt tôi, mỉm cười đầy ẩn ý nhưng hình như không định nói chuyện, nhanh chóng lướt tới chỗ đám con gái đang tụ tập.
Tôi đưa mắt dõi theo Mizuno. Trong khoảnh khắc, tôi đã hi vọng cô là Sayuri. Rồi tôi lập tức nhận ra, ý nghĩ đó thật méo mó, sai lầm và thất thố, lòng tràn ngập cảm giác căm ghét chính mình.
Thứ Bảy tuần tiếp theo, tôi nghe Mizuno gọi khi đang đi dọc hành lang ở trường. Theo quy định của trường, cuối tuần vốn là ngày nghỉ. Nhưng sáng thứ Bảy có giờ ôn thi, luật bất thành văn là tất cả học sinh đều phải tham gia. Khi ấy là sau giờ học, tôi đang định về kí túc. Mizuno hỏi tôi có bận gì không.
“Không. Mình về nhà ăn trưa rồi mới tính tiếp.”
“Hôm nay là thứ Bảy mà sao bạn rảnh thế? Không tin nổi bạn là người hiện đại luôn.”
“Có vấn đề gì đâu.”
“Ừ, tất nhiên. Cũng chẳng liên quan đến mình.”
“Rồi sao, gọi mình làm gì?”
“Rảnh thì đi ăn với mình nhé? Rồi đi cùng mình đến chỗ này?
“Được thôi? Tôi đáp. “Mình là kẻ nhàn hạ hiếm hoi trong đám người hiện đại mà?
Tôi và Mizuno rời trường, đi bộ ra ga Shinjuku.
“Giờ bọn mình đi đâu?” Tôi hỏi.
“Lên tuyến Yamanote, đi Ikebukuro?
Xuống ga Ikebukuro, cô kéo tôi vào một quán cơm hộp có chỗ ngồi. Quán dùng sản phẩm trồng trọt không hóa chất làm nguyên liệu nấu nướng. Khách được phục vụ ba món tự chọn kèm cơm, đồ muối chua và xúp miso tận bàn. Đồ ăn ngon hơn tôi nghĩ, cũng khá rẻ.
“Chỗ này ổn nhỉ. Nếu có chi nhánh ở Shinjuku, chắc ngày nào mình cũng tới?
“Ừ. Ở Nagano có đấy, nhưng ghé vào trên đường đi học về thì hơi xa.”
“Mà này, giờ bọn mình sẽ làm gì?”
“Ừm.” Mizuno nhìn đồng hồ. “Cứ thong thả chừng hai mươi phút nữa. Rồi đi xem kịch.”
“Kịch?”
“Ừ. Kịch nói đó. Bạn có hay xem kịch nói không?”
“Không... Mình chưa chủ động đi xem bao giờ.”
“Lần cuối bạn xem kịch là khi nào?”
“Ờ...” Tôi ngẫm nghĩ. “Hồi tiểu học, lúc mình theo ông tới Osaka chơi và xem kịch mới* thì phải...”
“Bạn có ông à?” Mizuno hỏi. “Thích thế...”
“Ừ. Nhưng sao bạn lại dẫn mình đi xem kịch?”
“Mình thích sân khấu kịch nhỏ, kiểu diễn nghiệp dư chẳng hạn. Nhưng chẳng ai chịu đi xem với mình. Chỉ rủ được một lần, đến lần hai là bị từ chối. Hình như mọi người đều thấy chán, dù không nói thẳng ra.”
“Thế à...”
“Đoàn kịch này có chừng năm người, do người quen của mình điều hành. Mình khá thích kịch của họ, nhưng lại mắc cái tính kén chọn, lúc ưng lúc không. Fujisawa khác người, biết đâu lại hợp gu.”
“Mình không khác người nhé.” Tôi buột miệng, tự dưng muốn phản pháo. “Mình chẳng có gì lạ cả, cũng chưa bị ai nhận xét như vậy bao giờ.”
“Rồi rồi, bạn thích nghĩ vậy cũng được.” Mizuno đáp qua loa. “Nói chung là đi với mình thêm lúc nữa.”
Đây là lần đầu tiên tôi đến sân khấu kịch nhỏ. Nghiêm túc mà nói thì đó là một không gian hẹp, được miễn cưỡng cải tạo để cho thuê, nằm trên tầng ba một tòa nhà phức hợp.
Tôi và Mizuno đến nơi trước giờ diễn chừng mười phút. Chúng tôi leo lên cầu thang hẹp, bước vào khán phòng. Chỗ ngồi của khán giả là những hộp gỗ xếp thành hàng, bên trên trải đệm ngồi, có vẻ là loại đệm mua ở cửa hàng đồng giá 100 yên.
Dù nhồi nhét chật cứng, chỗ này cũng chỉ chứa được năm mươi người là cùng. Khoảng một nửa chỗ đã kín. Khán giả phần lớn có dáng dấp sinh viên hoặc ăn mặc theo kiểu bụi bặm, rất có thể là người trong giới hay diễn viên kịch. Chỉ có tôi, Mizuno cùng hai cô gái khác mặc đồng phục cấp ba.
Sự tồn tại của sân khấu mộc mạc này cùng thực tế có khán giả đến xem khá là mới mẻ với tôi, kẻ chi biết đến dạng khán phòng có chỗ ngồi đâu vào đấy như rạp chiếu phim.
Không lâu sau, hai tiếng buzz đơn điệu vang lên, đèn chiếu sáng ghế khán giả tắt phụt. Âm thanh chuẩn bị lạch cạch phát ra từ phía sân khấu. Một lúc sau, đèn sân khấu từ từ bật sáng.
Không gian trước mắt khán giả mô phỏng phòng chung cư khép kín với nội thất tối giản. Sau hiệu ứng âm thanh tái hiện tiếng mở cánh cửa thép, một cô gái trẻ bước ra sân khấu. Cô mệt mỏi cởi áo khoác, nói chuyện với mèo, vuốt ve nó, cho nó ăn. Nhưng trên sâu khấu chẳng có con mèo nào cả. Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh có một con mèo, dù nó không có thật. Đó là nội dung vở diễn.
Cô gái là nhân viên công sở, sống một mình, mang vẻ mệt mỏi thường thấy ở phụ nữ trẻ độc thân. Cô kể nhiều chuyện với con mèo, những câu chuyện ấy lại hé mở nhiều bối cảnh khác nhau.
Con mèo không có lời thoại hay hình dáng, nhưng nó dịu dàng và yêu thương cô gái. Khán giả nhận ra điều đó qua diễn xuất của cô. Thỉnh thoảng con mèo bỏ nhà đi với nàng mèo của nó, khi lại bị tai nạn không về được. Mỗi lúc như thế, cô gái vô cùng lo lắng. Nhưng cuối cùng, cô vẫn lấy lại được động lực bước tiếp nhờ con mèo. Vở kịch có nội dung như vậy.
“Hay hơn mình nghĩ rất nhiều.”
Tôi nói với Mizuno lúc hai đứa đang đứng trong hàng người có phần nhốn nháo hướng về phía cửa ra, sau khi vở kịch hạ màn.
“Chỗ ngồi chật có làm bạn khó chịu không?”
“Chỗ ngồi chật có làm mình khó chịu. Tôi thành thật đáp. “Nhưng nội dung vở kịch hay. Mình thích cảm giác thủ công toát lên từ mọi thứ. Đạo cụ sân khấu do diễn viên tự làm hết phải không?”
“Chắc thế. Toàn người không có tiền mà. Mình đoán họ tận dụng đồ đạc, có khi là đồ của chính họ, biến tấu đi để dùng trên sân khấu.”
“Cách làm hay thật.”
“Nội dung thì sao?”
“Bố cục chặt chẽ. Dòng thời gian đổi chiều liên tục, phức tạp, tưởng như chạm ngưỡng rối loạn, nhưng thú vị.”
“Có vẻ họ phải công phu như thế vì ít diễn viên.”
Ra khỏi tòa nhà, chúng tôi bắt gặp dàn diễn viên vừa diễn trên sân khấu khi nãy đang dàn hàng chào khán giả. Nhìn thấy Mizuno, anh chàng đeo kính đóng vai phụ cất tiếng gọi. Lúc sau hỏi Mizuno tôi mới biết, anh ta là trưởng đoàn kịch.
“Nhóc Rika, cảm ơn em đã đến xem nhé.Thấy thế nào?
“Anh chàng khó tính này bảo là hay tuyệt ạ.” Cô chỉ tôi, đáp.
“Ơ, cậu này khác cậu lần trước. Bạn trai mới hả?”
“Thật ra không phải, nhưng cũng đại loại thế ạ.” Mizuno nói bằng giọng trêu đùa.
“Cơ mà đẹp đôi đấy. Trông tự nhiên hơn cậu hồi trước.” Anh trưởng đoàn nói.
Sau đó tôi và Mizuno đi bộ ra ga. Đang đi, tôi chợt thắc mắc.
“Có phải bạn từng diễn trên sân khấu không?”
“Sao bạn lại nghĩ thế?”
“Chẳng biết, mình có cảm giác vậy thôi.”
“Ừ.” Mizuno gật đầu. “Mình tham gia một đoàn kịch không chuyên kiểu đó từ lớp Chín đến hết hè năm ngoái. Nhưng mình nghỉ rồi.”
“Tại sao?”
“Kể ra dài lắm. Một khi đã diễn cùng, quan hệ giữa con người ta với nhau sẽ rất sâu đậm. Dần dà nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh, nhóm giải tán, các thành viên tản mát rồi lần lượt gia nhập những đoàn kịch nhỏ khác nhau. Mình thì nản, có nhiều lời mời nhưng không nhận. Nhưng mình vẫn đi xem kịch của người quen cũ, như hôm nay chẳng hạn.”
“Ừm, vậy à.” Tôi đáp. Tôi không rõ lắm, có vẻ ý cô là kịch làm cho quan hệ giữa người với người sâu sắc hơn, kéo theo không ít áp lực. Nhìn lại chính mình, tôi thấy cô nói cũng đúng. Mối quan hệ càng khăng khít thì người trong cuộc càng mệt mỏi.
Chúng tôi xuống ga Ikebukuro. Mizuno kêu mệt nên sẽ về Higashi-Ikebukuro bằng tàu điện ngầm. “Gặp sau nhé”, tôi nói và dợm bước về phía sân ga đi Shinjuku của tuyến Yamanote, nhưng lại bị cô kéo tay áo, “Tiễn mình đi, đến cửa soát vé cũng được.” Tôi đành làm theo. Thế là cô quẹt thẻ đi qua cửa soát vé, leo thẳng lên cầu thang dẫn tới sân ga, không quay lại lần nào.
Chẳng phải bạn mới là người bất thường hả?
Đòi người khác tiễn mà chẳng thèm ngoái đầu nhìn, cũng chẳng vẫy tay chào. Thật không hiểu nổi cô gái này nghĩ gì nữa.
Tôi lên tàu với tâm trạng bức bối, trở về căn phòng của mình ở Nishi-Shinjuku.
Sau hôm đó, tôi và Mizuno còn hẹn hò thêm nhiều dịp, với tần suất khoảng hai lần một tháng. Tôi không gọi những buổi đi chơi đó là hẹn hò. Mizuno mới là người luôn miệng nói “Chúng mình hẹn hò đi” khi rủ tôi.
Có hôm chúng tôi chỉ uống trà, cũng có hôm tôi bị cô kéo đi mua sắm từ trưa đến hết ngày. Hình như cô chỉ tìm đến tôi khi không rủ được người bạn nào khác. Vậy thì hẳn là cô thường xuyên đi chơi kiểu này với nhiều người khác nhau, ở những chỗ khác nhau. Tưởng tượng thôi đã thấy vô cùng vất vả.
Những khi rủ tôi, trông cô luôn có vẻ mệt mỏi. Thi thoảng cô lại đột ngột chìm vào im lặng, nuốt xuống từng đợt sóng khó nhọc trào dâng trong lòng. Có lẽ cô đang cố thoát khỏi nỗi mỏi mệt bằng cách dịch chuyển không ngừng nghỉ dù chẳng thấy phương hướng. Tôi thích cách nghĩ đó và cũng đồng cảm với cô. Vì thế, tôi cố gắng ở bên cô hết mức có thể.
“Liệu bọn mình có bị hiểu lầm không nhỉ?”
Tôi nêu ra băn khoăn của mình khi hai đứa đang ở quán stand coffee* tự phục vụ.
“Ai hiểu lầm? Hiểu lầm cái gì?”
“X ấy.” Tôi nhắc tên cậu bạn cùng khóa đang hẹn hò với Mizuno. “Ngày nghỉ mà bọn mình còn gặp nhau thế này.”
“Sao? Bạn muốn nói về chuyện đó hả?”
“Mình không muốn nói đâu. Nhưng kiểu gì cậu ta chẳng để bụng.”
“Cũng phải, nếu biết chắc cậu ấy sẽ khó chịu.” Mizuno thản nhiên nói. “Nhưng chả sao, cậu ấy nghĩ thế nào cũng được. Mặc kệ đi.”
“Kệ được sao?”
“Ừ. Mình đã quyết định bơ cậu ấy một thời gian.”
Tôi không biết nên can thiệp đến mức độ nào, bèn gật đầu qua loa.
Chúng tôi chuyển chủ đề tán gẫu được một lúc thì cô đột nhiên bảo.
“Tóm lại là, cậu ấy rất tò mò về cơ thể mình.”
Ban đầu tôi bối rối không hiểu đầu đuôi ra sao, lúc sau mới nhận ra cô đang nói về bạn trai.
“Âu cũng là chuyện đương nhiên thôi.” Tôi nói.
“Đương nhiên?”
“Mình thấy bình thường mà?”
“Ừ... Cũng đúng.” Cô im lặng một lúc rồi nói.
“Nhưng mình không thích thế.”
Tôi lựa lời thật cẩn thận, tránh đả động đến hàm ý kia.
“Tức là bạn không thích cậu ấy đến vậy?”
Mizuno đột ngột tỏ vẻ nghiêm nghị, nhìn thẳng vào tôi, “Bạn đừng nói những lời như thế.”
Tôi cười trừ, lên tiếng xin lỗi, “Cậu ta được đấy, mình chỉ muốn nói vậy thôi.”
“Mình biết.”
“Mình thích cậu ấy. Nhưng hai chuyện khác nhau. Fujisawa hiểu mà. Cậu ấy thì không.”
“Ừm.” Tôi khịt mũi, thầm cảm thông với cả hai. Có vẻ tình cảm của họ không êm ấm cho lắm. “Mình hiểu cảm giác ấy...”
“Cảm giác của ai?”
“Tất nhiên là của con trai rồi.”
“Ơ, thật sao?” Cô ngạc nhiên thấy rõ. “Fujisawa cũng tơ tưởng đến chuyện đen tối hả?”
“Từ từ đã, bạn nói gì thế? Bạn nghĩ mình là kiểu người gì vậy?”
“Không được. Mình không thích.” Mizuno nhổm dậy, nói. “Fujisawa đừng dính đến mấy chuyện đó. Đừng nghĩ đến. Mình không muốn Fujisawa dây vào. Bạn cứ thơ thơ thẩn thẩn còn hơn...”
“Bạn nói vô lý quá...”
Rốt cuộc cô nghĩ thế nào về tôi nhỉ? Mà dù sao tôi cũng chẳng bận tâm...
Có lẽ trong hoàn cảnh này, người khác sẽ nổi cáu hoặc khó xử vì không được coi là đàn ông. Nhưng tôi vốn có đức tính không để bụng chuyện nhỏ nhặt như vậy.
Lơ đãng nhìn những ngón tay mảnh dẻ của Mizuno nắm lấy cốc trà đá, tôi bỗng nhớ về Sayuri, nhớ lại giây phút giữ chặt tay Sayuri lúc cô sắp rơi xuống nước ở nhà ga bỏ hoang, vào ngày tôi gặp cô lần cuối.
Ngẫm mới thấy, đó gần như là lần duy nhất tôithực sự chạm vào cơ thể Sayuri.
Tôi nhìn tay mình. Xúc giác hầu như không còn đọng lại. Nhưng tôi nhớ mình đã hoảng hốt và hôi hộp thế nào. Tôi ngạc nhiên trước bản thân khi kịp nắm lấy tay Sayuri trong gang tấc, trước cảm giác mảnh khảnh, lạnh lẽo, mềm mại nơi cổ tay cô.
Hành động ấy là một kì tích, hệt như trong phim điện ảnh Hollywood. Chắc chắn nó không bao giờ xảy đến lần thứ hai.
Không... không phải.
Nếu quay lại mùa hè năm lớp Chín, chắc chắn tôi có thể làm điều tương tự, dù bao nhiêu lần đi nữa. Ít nhất, khi đó tôi có lòng tin vững vàng rằng mình làm được. Không hiểu sức mạnh dồi dào khi đó đã biến đi đâu?
Đúng rồi... Có lẽ tôi đã truyền hết cho Sayuri vào ngày hè ấy.
Dường như tôi đang bị ám ảnh bởi kí ức về cái ngày dùng hết sức bình sinh giữ lấy Sayuri. Tôi muốn trân trọng kí ức này chăng?
Ý nghĩ thật ngu ngốc. Sayuri không còn nữa, cũng chẳng có cơ hội gặp lại.
Nhưng mất một lúc lâu, tôi vẫn không thể rời mắt khỏi bàn tay đã mất hết vết chai sần của mình.
Cái nóng oi bức của mùa hè qua đi, cuối cùng mùa thu cũng tới.
Hôm đó, trông Mizuno bồn chồn, xuống tinh thần hơn mọi ngày.
Có vẻ cô ghét bị hỏi han chi li về sức khỏe hay tâm trạng, nên lúc đầu tôi vờ như không thấy. Nhưng nhìn cô gõ ngón tay lên bàn, vô cớ nhìn quanh, tôi không kìm được thắc mắc.
“Có chuyện gì à?”
Tan học, chúng tôi đi Ikebukuro. Tôi đứng lại, hỏi bằng giọng dịu dàng nhất có thể.
“Ừ.”
Mizuno gật đầu đáp cho qua. Có vẻ cô không muốn nói. Cũng chẳng sao. Ai cũng có bí mật cả.
Nhưng sau đó cô liên tục thở dài. Không phải tiếng thở dài vì chán nản, mà là tiếng thở khó nhọc như phải tìm cách hô hấp. Đó là hơi thở cùa người đang cố giữ bình tĩnh. Sắc mặt cô cũng không tốt.
Tôi chăm chú nhìn cô, “Bạn khó chịu hả?”
Cô im lặng gật đầu.
“Hôm nay đừng đi nữa. Mình đưa bạn về nhà.”
“Không.” Mizuno lắc đầu quầy quậy, “Ở nhà chẳng có ai. Hôm nay mình không muốn một mình.”
“Đúng là có chuyện rồi.”
Cô khẽ gật. Không phải vì đồng ý mở lòng mà vì hết năng lượng để bác bỏ, đành cúi đầu thừa nhận. Tôi đỡ cô tựa vào bức tường ốp gạch của quán pizza trước mặt. Sau đó tôi cũng đứng dựa vào tường, đợi cô bình tình lại.
“Bạn mình...”
“Ừ?”
“Mình có một đứa bạn...”
Mizuno bắt đầu kể bằng giọng nhỏ, ngắt quãng.
Tôi nghĩ nên vừa nghe vừa xen vào đôi lời cho cô dễ giãi bày.
“Bạn gái à?”
“Ừ.”
“Mình có biết không?”
“Chắc là không.”
“Ừ.”
“Mình cãi nhau với bạn ấy. Bọn mình vẫn hay cãi cọ, nhưng đây là lần đầu lớn chuyện như vậy. Mấy tháng nay bọn mình tuyệt giao hoàn toàn, gặp nhau ở trường cũng chẳng nói câu nào. Nhìn thấy mặt bạn ấy là mình tức.”
“Lý do là gì?”
“... Mình không muốn nói.” Cô cọ đế giày xuống mặt đường lát gạch. “Nhưng mình không sai. Rõ ràng bạn ấy mới có vấn đề. Nghĩ đến chuyện lúc đó là mình tức. Mình bực suốt từ bấy đến giờ. Chừng nào bạn ấy chưa chịu nhượng bộ, mình tuyệt đối không tha thứ.”
Nói tới đây, cô im lặng.
Đúng hay sai thì trái tim vẫn tổn thương, thỉnh thoảng lại đau nhói. Tôi định nói để khuyến khích cô kể thêm, nhưng lại thôi.
“Theo lời bạn kể, bạn đã chơi với cô ấy khá lâu phải không?”
Cô ừ một tiếng qua hơi thở, “Bọn mình quen nhau từ lúc lên cấp hai, bốn, năm năm rồi.”
Tôi cố gắng không nhớ lại thời cấp hai của mình. Nhưng tôi vẫn lên tiếng với sự đồng cảm từ thâm tâm.
“... Khó chịu thật.”
“Hà Lan ấy.” Cô đột ngột nói. “Đất nước của hoa tulip rồi cối xay gió gì đó. Đồ ngốc.”
“Bạn bảo sao?”
“Bạn ấy qua đó. Đi bằng máy bay. Vì chuyện gia đình.” Cô nhát gừng đáp như cái máy.
“Khi nào?”
“Hôm nay.”
“Bạn không đi tiễn à?”
“Không. Hiển nhiên còn gì. Mình không thích. Bạn ấy sẽ lại giận mình cho xem... Giận là phải, mình còn chẳng hỏi địa chỉ mới của bạn ấy mà. Mình ngẫm ra, bạn bè cũng chỉ đến thế mà thôi. Đành chấp nhận chứ biết làm sao. Nhưng mình cứ bứt rứt khó chịu, mình muốn có ai đó để san sẻ. Nên hôm nay Fujisawa phải đi cùng mình đến tối. Hiểu chưa?”
Nghe lời kể dài dòng của cô, càng lúc tôi càng bực. Cơn giận như một thứ chất lỏng dâng lên tận cổ họng. Cố lắm tôi mới nhịn được mà nghe cô nói hết. Cô dứt lời, tôi liền nổi đóa.
“Đồ ngốc! Còn đứng đó làm gì!”
Mizuno giật mình co người lại.
“Mấy giờ bay?”
“Mình không biết... “
“Chắc chắn bạn biết!”
“Hình như là 7 giờ gì đó... Này!”
Tôi nắm lấy cổ tay Mizuno, kéo cô theo, vừa đi vừa nhẩm lại bản đồ đường sắt nội đô. Tháng đầu tiên ở Tokyo, tôi đã chăm chỉ nghiên cứu bản đồ, ghi nhớ từng điểm đổi tuyến để quen với đường sá trong thànhphố. Ra ga Ikebukuro, đón tàu tuyến Yamanote, xuống ga Nippon, chuyển sang tàu tốc hành tuyến Keisei Honsen, đi thêm một giờ. Chừng tiếng rưỡi là đến nơi. Vẫn kịp. Đầu óc tôi bừng bừng vì tức giận.
“Này, đau mình. Này! Bạn kéo mình đi đâu thế?”
“Narita* chứ còn đâu nữa!”
“Không thích! Mình không đi!”
“Mình không cho phép.”
Giọng tôi vừa trầm, vừa như gầm gừ, chính tôi cũng thấy đáng sợ. Tôi sẽ không buông tay. Không thể để cô trốn chạy ở đây. Tôi bước nhanh về phía ga, nửa như lôi cô theo.
Vào đến ga Ikebukuro, Mizuno lên tiếng.
“Chờ chút! Mình không chạy đâu, bạn cứ bỏ tay ra đã.”
Nghe giọng điệu nghiêm túc của cô, tôi đồng ý buông tay.
“Nghe mình nói này. Bạn đang giận hả? Sao lại giận?”
“Mình đang giận.” Tôi nói. “Mình không chấp nhận được chuyện như thế.”
“Chuyện như thế nào?”
“Trốn tránh điều quan trọng vào thời khắc quan trọng.”
“Mình chẳng hiểu gì hết.” Cô nói. “Chỉ là đi tiễn hay không thôi mà. Bạn ấy đâu ở nước ngoài mãi, mình cũng biết địa chỉ và số điện thoại nhà bạn ấy ở đây. Sao phải làm quá lên?”
“Mình không hề làm quá. Bạn không hiểu đâu.” Tôi chặn lời cô. “Có thể đây là lần chia ly suốt đời đó, hoàn toàn có thể. Bạn chẳng biết gì cả. Địa chỉ liên lạc sẽ thay đổi ngay thôi. Danh bạ hay sổ địa chỉ cũng sẽ biến mất lúc nào không hay. Kí ức còn phai mờ cơ mà. Con người ta chia lìa mãi mãi chỉ vì những lý do giản đơn như thế đấy. Nếu hôm nay không đi, chắc chắn bạn sẽ hối hận. Ngày này sẽ là ngày hai bạn cách biệt mãi mãi, về sau muốn gặp cũng không thể. Không phải lúc giận dỗi vì những chuyện cỏn con đâu.”
“Đâu phải chuyện cỏn con...”
“Được rồi. Không cỏn con. Kể cả thế cũng không phải lúc.” Tôi đanh giọng khẳng định như thể dựng lên bức tường sắt.
“Để mình nghĩ chút đã.”
“Được. Lên tàu tha hồ nghĩ.”
Biết tôi hoàn toàn không có ý nhượng bộ, nét mặt cô cứng lại.
“Mình đi mua vé đây.”
Tôi mua hai vé rồi quay lại. Mizuno không bỏ đi mà ngoan ngoãn đứng đợi. Nhận lấy tấm vé tôi đưa, cô uể oải đi qua cổng soát vé. Dường như cô bỏ cuộc không phải vì bị tôi thuyết phục, mà vì cảm xúc đã dịu đi, chẳng còn sức kháng nghị nữa.
Chúng tôi lên tàu tuyến Yamanote, xuống ga Nippori. Chuyển sang tuyến Keihan hai đứa mới có chỗ ngồi. Cả hai im lặng trên tàu. Mizuno cứ nắm vào rồi xòe ra hai bàn tay đặt trên đùi. Tàu điện tốc hành tiến vào ga sân bay Narita rồi dừng lại.
“Đến nơi rồi.”
Cô vẫn ngồi im.
“Phải rồi.” Vừa dợm đứng dậy, tôi lại ngồi xuống. “Bọn mình cùng nghĩ thêm lúc nữa nhé.”
“Không cần đâu. Mình sẽ đi.” Cô nói khẽ qua tiếng thở.
Chắc lúc nãy tôi đã quá lời với cô bạn tâm tình bất ổn. Tôi bỗng thấy áy náy.
Trông cách cô uể oải đứng lên, tôi không yên tâm nổi, bèn nắm lấy tay cô, không hề có suy nghĩ bậy bạ trong đầu. Cô cũng nhẹ nhàng nắm lại.
Hai đứa cầm tay nhau đi vào sảnh sân bay.
Cô không biết số hiệu chuyến bay và giờ cất cánh chính xác, nên tôi ra quầy thông tin gần đó kiểm tra, xem luôn cổng lên máy bay. Tôi hỏi nhân viên cách yêu cầu sử dụng loa phóng thanh. Rồi tôi dẫn cô đến trước sơ đồ sân bay, giơ tay chỉ, nói rằng chắc chắn bạn cô sẽ đi từ điểm hẹn gặp đến quầy này, hãy thử tìm quanh đó, không thấy thì gọi qua loa phóng thanh xem sao. Cô ngoan ngoãn gật đầu.
“Bạn đi đi. Cố lên.”
Lúc này can thiệp thêm chính là gây cản trở. Tôi vẫy tay rồi quay người đi.
“Không được. Khoan đã.”
Bị cô kéo lưng áo, tôi đứng lại.
“Sao thế?”
“Ở lại đây đợi mình.”
“Nhưng...”
“Đợi đi!”
Nói rồi cô chạy đi luôn, không chờ câu trả lời. Tôi đành tựa vào tường, đợi cô quay lại. Dòng người đông đúc kéo va li ra vào gian sảnh rộng hơn cả sân vận động trường cấp ba.
Tôi nhắm mắt, ngăn tâm trí khỏi âm thanh ồn ào.
Mizuno thật may mắn. Tôi ghen tị với cô.
Giữ được mối liên hệ với người mình hằng tin tưởng là một niềm hạnh phúc. Muốn là có thể nói chuyện qua điện thoại, tưởng hiển nhiên, nhưng lại ngoài tầm với của tôi.
Tôi nghĩ về Sayuri, lòng đau nhói. Tôi chẳng có phương thức nào để kết nối với cô.
Mizuno gặp bạn chưa nhỉ? Không nghe tiếng loa, chắc họ gặp nhau rồi. Tôi mừng cho cô, như thể chính tôi tìm thấy bạn.
Tôi nghĩ mình nên gọi điện cho Shirakawa Takuya ngay bây giờ. Tôi hiếu chứ, nhưng chẳng làm nổi. Tôi không muốn. Đụng đến chuyện của bản thân là tôi bất lực. Tôi hoàn toàn không có tư cách dạy đời Mizuno.
Chẳng biết mất bao ỉâu...
Ngẩng đầu lên, tôi thấy Mizuno Rika đứng ngay trước mắt. Mặt cô lem nhem vù khóc nhiều, mắt đò hoe. Cô đưa tay quệt mắt và mũi như trẻ con, cảm ơn
tôi hết lân này tới lần khác. Cảm ơn nhé... cảm ơn bạn... Cứ thế.
Tôi chạm vào bờ vai mảnh khảnh của cô. Trót làm thế rồi tôi mới nhận ra, từ nay tôi không thể chối bỏ trách nhiệm với cô gái này nữa.
Trên chuyến tàu về nhà, Mizuno mệt mỏi ngả đầu lên vai tôi.
“Mình cứ tưởng Fujisawa lạnh lùng lắm cơ.”
“Thế à?”
“Ừ. Mình từng nghĩ, bạn cư xử thân thiện với tất cả nhưng thực chất không hề quan tâm người ta ra sao. Bạn thờ ơ với mọi người, mọi việc, nên mới có thể trò chuyện với bất cứ ai, nhờ khéo léo nên chưa để lộ ra thôi.”
“Có khi bạn nói đúng đấy...”
“Không, mình đã nhầm.”
Cô khẽ nhấc đầu dậy, lắc trái lắc phải rồi lại ngả vào vai tôi. Lần này không còn là dựa mà là vùi hẳn xuống.
“Mình có bố và mẹ.”
Nói đoạn, cô bắt đầu kể về mình. Chi tiết mở màn “có bố và mẹ” đã kịp hé lộ nhiều điều.
“Họ thuộc kiểu người bận rộn đầy rẫy ngoài xã hội ấy. Tối mắt tối mũi vì công việc và chuyện riêng tư. Chẳng hiểu đấy có phải lý do không, chỉ biết họ ít quan tâm đến mình. Trước giờ vẫn vậy. Từ bé đã thế nên mình cũng quen, coi như lẽ đương nhiên. Nhưng quen không có nghĩa là mình không buồn.”
“Ừ.” Tôi lên tiếng đồng tình thay cho cái gật đầu, tránh đánh động tới cô.
“Chẳng liên quan đến chuyện vừa rồi đâu...” Cô nói. “... Nhưng mình không tin những thứ như tình bạn, gắn kết hay lòng tin. Mình là vậy đấy.”
“Ừ.”
“Hồi bé, mình ghét chuyển lớp. Sau khi sang lớp khác, đứa bạn thân thiết khi còn học chung bỗng dưng cư xử lạnh nhạt, xa cách. Mình bị đả kích nặng nề lắm. Chuyện đó cứ lặp đi lặp lại, lần nào cũng khiến mình tổn thương. Mình càng đau lòng hơn khi biết người ta không bị ảnh hưởng nhiều như mình.”
Tôi lại lên tiếng đồng tình.
“Mình luôn thắc mắc, tại sao những người xung quanh không buồn? Nhưng đến một ngày, mình hiểu ra. Đừng đón nhận ai, đừng đón nhận gì cả. Đấy chính là mấu chốt. Mình ngạc nhiên vô cùng, nhưng lại thấy làm thế rất đúng. Không muốn sống khổ sở thì đừng quá chú trọng các mối quan hệ. Phải coi nó là thứ tạm bợ, đến rồi đi. Mình nghiệm ra như vậy. Hiểu rồi thì mọi việc dễ chịu hơn nhiều. Mình tự nhủ, ‘cuối cùng cũng được chào đón rồi’. Mình để ý Fujisawa cũng vì lý do đó. Bạn và mình đang làm cùng một việc, có điều bạn giỏi hơn hẳn. Mình đoán bạn cũng chủ ý hành xử theo lối đó, nên mới muốn bắt chuyện với bạn. Mình nghĩ, ở cùng cậu này chắc sẽ vui lắm. Bạn thấy sao?”
“Cách nghĩ của bạn hay thật.”
“Nhưng mình đã lầm. Fujisawa là người hết mực tin tưởng hai chữ gắn kết. Mình ngạc nhiên đó.”
“Thế à?”
“Cô bạn mình vừa tiễn là ngoại lệ duy nhất. Bọn mình chưa bao giờ bỏ rơi nhau. Hai đứa học cùng lớp suốt từ cấp hai cho đến năm ngoái. Mình rất thích bạn ấy, coi trọng bạn ấy. Rồi bọn mình giận nhau, bạn ấy lại phải ra nước ngoài. Nên mình nghĩ, đúng là chỉ đến thế thôi, chẳng qua mình hiểu lầm vì hai đứa tình cờ học với nhau lâu quá. Mình đã từ bỏ... Thiếu chút nữa là mình đánh mất bạn ấy rồi...”
Nói tới đây, cô lại thút thít khóc.
Tôi ngồi yên lắng nghe tất cả.
Thông qua tôi, Mizuno đang cố tìm lại nơi mình thuộc về. Có lẽ cô cần tôi.
Có thể Mizuno đang cầu cứu tôi. Giống như Sayuri cố nói gì đó với chúng tôi khi xưa.
Nhưng liệu tôi bây giờ có đủ sức giúp cô? Những gì cô nhận xét về tôi đều đúng. Lúc này tôi đang để mặc mọi thứ lướt qua mà sống. Sức mạnh dâng trào vào ngày hè oi ả năm lớp Chín đã biến mất.
Tôi không thể khiến Velaciela bay lên.
Sức mạnh bay cao trong tôi và Shirakawa Takuya khi ấy nay không còn nữa. Nó đã biến mất cùng Sayuri. Giờ tôi còn chẳng cứu nổi chính mình.
Nhưng thực tế, tôi đã can thiệp quá sâu vào cuộc sống của Mizuno Rika, không quay đầu được nữa. Lúc này tôi có trách nhiệm với cô.
Có vẻ hôm nay tôi đã làm được một việc, đó là chỉ cho cô hướng đi đúng đắn. Ít ra tôi vẫn còn khả năng này. Vậy thì chỉ còn cách bắt đầu từ những điều nhỏ nhất.
Tôi đặt tay lên tóc cô.
Hơi ấm truyền sang mái tóc.
Cô nhắm mắt, dồn thêm sức nặng cơ thể lên vai tôi.
Tôi xua đi hình ảnh Sayuri rấm rứt khóc mãi giữa rừng tháp ở nơi xa lạ trong giấc mơ. Chí ít tôi đã cố xua…
Sayuri ở trên đỉnh một ngọn tháp giữa rừng tháp khổng lồ có hình dáng tựa măng đá, làm bằng vật liệu giống như gốm nung sơ.
Sayuri ở một mình. Hoàn toàn đơn độc. Ngoài cô ra, chỉ có tiếng gió thổi.
Cô đứng chơi vơi bên thành tháp. Trên đầu là bầu trời màu nâu đen. Nhìn xuống cũng là sắc trời ấy. Ngọn tháp vươn dài đến khôn cùng. Càng lên cao nó càng mảnh, mờ dần rồi biến mất khỏi tầm nhìn, nhưng có lẽ vẫn không ngừng vươn cao.
Cô ngồi sụp xuống, ôm lấy đầu gối.
Chỉ nghe tiếng gió.
Lẻ loi, chênh vênh đến thắt lòng.
“Có ai không...” Tiếng cô đứt đoạn. “Cô đơn quá... Tôi sợ cô đơn... Tôi ghét ở một mình... Ai đó...”
Giọng nói khẽ như hơi thở tan vào gió.
“Xin hãy ở lại.”
Chẳng ai lắng nghe lời nguyện cầu.
“Hiroki, Takuya, ở đây cô đơn lắm. Không có ai cả. Sao mình lại ở chỗ thế này?”
Sayuri tiếp tục độc thoại.
“Mình không muốn ở chốn này đâu. Nhưng chẳng hiểu sao, mình có cảm giác đã ở đây suốt từ thời xa xưa. Hai bạn ơi...”
Sayuri nhắn nhủ, như thể viết lá thư không bao giờ gửi cho những người bạn tồn tại trong trái tim.
“Cứu mình...”
Tôi nghe thấy tiếng cô trong mơ.
Ông Okabe gửi thư cho tôi.
Một buổi tối nọ, về đến kí túc, mở hòm thư ra, tôi thấy một phong bì trắng. Tôi vào phòng, đặt túi xuống, mở thư ra đọc dù thực tâm không hề muốn.
Ông kể tình hình ở quê. Mức độ căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Nhật và Liên bang vượt xa mấy năm trước, vì thế xưởng Emishi rất bận. Ông chêm vào đôi lời phàn nàn, trách Takuya bỏ làm thêm, đẩy xưởng vào cảnh thiếu người. Có vẻ Takuya đang tập trung học hành. Cậu vốn là đứa chẳng cần cố cũng đạt thành tích tốt ở trường, nên tôi đoán cậu chăm chỉ tự học cái gì đó chứ không phải học trên lớp. Ông Okabe bảo tôi muốn quay về lúc nào cũng được, luôn có cả núi việc chờ sẵn. Ông không đả động đến Sayuri hay Velaciela. Tôi thở phào.
Ông còn dặn tôi biên thư trả lời.
Tôi không muốn.
Tôi buông thõng cánh tay cầm lá thư, thở ra một hơi. Phải rất nỗ lực tôi mới đọc hết hai trang giấy.
Mỗi lần nghĩ về quê nhà, tôi thấy người nặng trĩu, tâm tình khó chịu. Đừng nhắc tôi nhớ lại nữa. Nhớ về thứ đã đánh mất đau đớn lắm.
Lá thư được viết cho tôi của thời còn mạnh mẽ, không sợ hãi bất cứ điều gì. Nó là thứ tôi muốn trốn tránh hơn tất thảy. Ánh sáng và sức mạnh trong tôi vài năm trước đã không còn, bị thế chỗ bởi một tảng quặng ngang trái.
Tôi tựa lưng vào tường, từ từ ngồi sụp xuống.
Tôi muốn để nước mắt tuôn rơi, muốn khóc, muốn nôn hết mọi thứ. Nhưng nước mắt không chịu chảy. Tảng quặng vẫn hiện hữu trong thâm tâm.
Một lần nữa, tôi cảm nhận trọn vẹn nỗi đau do sự biến mất của Sayuri gây nên. Tôi biết được sự hổ thẹn vì không cho chiếc máy bay cất cánh, không đi tới tháp đã hủy hoại mình nhiều thế nào. Lá thư của ông Okabe đã gợi lại tất cả những điều tôi cố quên, buộc tôi đối mặt với chúng.
Một lần nữa, suy nghĩ của tôi được khẳng định. Không thể quay về nơi ấy. Không được sống với tàn dư của giấc mơ đã tan vỡ, của khả năng từng tồn tại.
Tôi ném lá thư đi, ra khỏi phòng, khóa cửa. Tôi muốn khóa chặt lá thư trong phòng.
Tôi lang thang trong khu phố cũ giữa đêm. Những căn hộ cho thuê xây bằng gỗ và vữa nằm san sát, trông như chỉ cần gặp động đất cỡ vừa là đổ sập. Tường nhà dân cũng trát vữa là chính, giờ đã ngả màu xám xịt. Ánh sáng từ máy bán hàng tự động le lói hắt xuống đường. Trong ngõ là những quầy hàng rong bỏ hoang cũ nát. Tắm mình trong hơi lạnh ban đêm, tôi dần trấn tĩnh lại.
Mùi đất bay tới, thu hút ánh mắt tôi.
Hàng rào sắt được dựng bên đường, chặn lối vào công trường. Bên trong có máy xúc, một phân đất đã bị xới lên.
Phóng tầm mắt qua công trường, tôi thấy những cao ốc rực rỡ mang dáng dấp tương lai của Nishi- Shinjuku đang tỏa sáng ở rất xa. Hầu hết cửa sổ đều sáng đèn. Các bức tường phủ vật liệu giả gương hoặc ốp gạch cao cấp được rọi sáng từ bên dưới.
Rốt cuộc người ta đang làm gì trong đó?
Tôi không hình dung nổi. Chẳng có vẻ gì là thật. Những kiến trúc cao tầng kia thực sự thuộc về thế giới này sao? Trong mắt tôi, thành phố này vốn thuộc về một cộng đồng phi nhân ở thế giới khác, hiện diện nơi đây dưới dạng ảo ảnh. Hoàn toàn không chân thực. Chỉ là hình ảnh giả tạo được dựng lên giữa trời bằng công nghệ hologram*.
Tôi nheo mắt, nhăn mặt ngắm những ngọn tháp vô tính chọc thẳng lên trời hồi lâu.
Chỉ có thể ở lại đây. Phải làm thế nào để quen với khung cảnh kia?
Tôi nhìn mãi cho đến lúc mỏi cổ.
Khi quay đi, tôi thấy hình ảnh rừng tháp tựa măng đá trong giấc mơ về Sayuri chồng lên những cao ốc. Đó chỉ là ảo giác xuất hiện trong khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng lại tác động đến tôi mạnh mẽ không ngờ.
À
Đây là thực.
Vài tháng sau, Rika chia tay bạn trai. Tôi chẳng quan tâm cô hẹn hò với ai, nhưng cô chủ động nói rằng muốn rạch ròi trong vấn đề này.
“Mình sẽ không dùng thái độ mập mờ trước người khác nữa.”
“Ngầu ghê.”
“Đương nhiên.” Cô cười, đáp lại bằng một câu lạ lùng. “Nhưng sao lại thế này nhỉ? Ban đầu mình rất coi thường Fujisawa cơ mà?”
“Coi thường?”
“Ừ. Vì thế mình đã định tùy tiện đem bạn ra chơi đùa. Lạ thật. Fujisawa hẳn là người cực kì đặc biệt.”
“Đặc biệt chỗ nào? Mình còn khổ tâm vì chằng có gì nổi bật ấy chứ.”
“Đừng giả ngây.” Rika mím môi cười chế giễu. “Mình nhạy cảm với chuyện này lắm. Bạn biết bạn khác biệt, độc nhất vô nhị. Mình cũng hay nghĩ về bản thân như vậy nên mình hiểu.”
Tôi không nói gì.
Mối quan hệ giữa tôi và Rika hầu như không thay đổi so với trước đây. Có chăng là thỉnh thoảng hai đứa cùng ăn trưa, hoặc dành thời gian ở cạnh nhau sau giờ tan học.
Hôm đó, trận mưa dai dẳng suốt mấy ngày tạnh hẳn, Rika rủ tôi rời trường, đi ăn ở nhà hàng gia đình trên tầng hai tòa nhà gần đó. Cô gọi món gratin, còn tôi chọn phần cháo zosui* với thịt gà. Ăn đồ bán sẵn ở cửa hàng tiện lợi mãi, tôi đâm ngán cả mì Ý lẫn đồ rán, nên khi vào nhà hàng, tôi luôn chọn những món nhẹ nhàng kiểu này.
“Bạn cứ như ông cụ ấy.”
Cô cười.
“Sống một mình như thế, bình thường bạn ăn gì?”
“Sáng cà phê, trưa bánh mì, tối ra cửa hàng tiện lợi.”
“Trời ạ, thói quen ăn uống tệ như trong truyện tranh vậy. Có hại cho sức khỏe đó.”
“Ừ.”
“Không ừ được đâu.”
“Mình có uống viên vitamin tổng hợp mà. Mình cũng chẳng mấy hứng thú với vụ ăn uống.”
“Đúng là kì quặc. Sao lại không có hứng ăn uống cơ chứ?”
Vẻ mặt Rika trầm ngâm như đang cân nhắc chuyện gì đó.
“Sao thế?” Tôi hỏi.
“À, mình đang nghĩ, nếu giờ bạn nhờ mình làm cơm hộp, chắc mình sẽ đồng ý ngay tắp lự.’’
Tôi cười nói, “Không cần nhọc công vậy đâu.”
“Ừ. Bỏ đi. Bạn ghét mấy chuyện lằng nhằng kiểu đó mà.”
“Cũng đúng. Mình không biết nên nhận với vẻ mặt thế nào.”
“Mình chẳng dậy sớm được. Nếu bạn đổi ý thì cũng đừng trông chờ gì hết.”
“Yên tâm, mình sẽ không đổi ý.”
“Nhưng mà, cách từ chối thẳng thừng của bạn làm mình khó chịu đấy?
Rika lại khiến tôi khó xử. Ngẫm nghĩ một lúc, cô lên tiếng.
“Mình tự lo chuyện ăn uống từ lâu rồi. Bề ngoài trông giống tay mơ thế này thôi nhưng trình độ nấu nướng cũng khá. Trước hết bạn cứ nhớ như vậy nhé.”
“Mình có nghi ngờ gì đâu.” Tôi nhớ lại hoàn cảnh gia đình mà cô từng kể sơ qua.
“Ý mình là nếu bạn muốn, mình có thể đến nấu cơm giúp bạn. Mình nói nghiêm túc đấy, bạn thấy sao?”
“Ơ...”
Bối rối trước câu hỏi bất ngờ, tôi cân nhắc một lúc. “Thôi, không cần đâu. Làm phiền bạn ra.” Tôi đáp.
Nhắc mới nhớ, tôi chưa rủ bạn bè đến phòng bao giờ.
“Phòng mình bẩn kinh khủng, ngại lắm.”
“Mình không để ý đâu.”
“Chắc là bẩn hơn mức bạn tưởng tượng nhiều.”
Tôi bắt đầu miêu tả kí túc mình ở xập xệ, tối tăm, ẩm thấp ra sao, vừa kể vừa chêm vào vài phần phóng đại. Rika khúc khích cười.
“Mình tò mò đấy nhé. Ở nhà bạn thường làm gì?”
“Hầu như chẳng làm gì cả. Mình chỉ quanh quẩn làm bài tập, ôn bài cũ, chuẩn bị bài mới, nghe nhạc, đọc sách... Thi thoảng lôi vĩ cầm ra chơi nữa.”
“Vĩ cầm? Bạn biết chơi à?” Cô có vẻ khá ngạc nhiên.
“Ừ, cũng tạm.”
“Ồ, tại sao?”
“Sao là sao? Học là chơi được thôi.”
“Mình muốn nghe!”
Rika nhoài người lên bàn. Nếu là nhân vật truyện tranh thì hẳn mắt cô đang sáng lấp lánh.
“Không được.” Tôi lắc đầu quầy quậy. “Mình chơi dở lắm."
“Có sao đâu, hay dở mình đều nghe. Ra phòng nhạc luôn nhé?”
“Thôi, tha cho mình đi. Riêng vụ này tuyệt đối không được.”
“Hừ, rõ chán.”
Lờ mờ nhớ tới cảnh tượng tương tự trong quá khứ tôi phát hiện mình không muốn cho bất kì ai nghe tiếng vĩ cầm của bản thân.
Tôi vui khi ở cùng Rika. Có cô bên cạnh, tôi thả lỏng được cảm xúc. Nhưng vì lý do nào đó, tôi không muốn để cô thấy hình ảnh tôi chơi nhạc cụ. Dù tôi biết ý nghĩ ấy thật buồn cười, thật sai lầm...
Bốn mùa cứ thế xoay vần, đông qua xuân tới, tôi bước vào năm cuối cấp.
Tôi và Rika bị xếp khác lớp, nhưng tình bạn giữa chúng tôi gần như không thay đổi. Chúng tôi cố gắng đăng kí cùng giờ phụ đạo, ngồi cạnh nhau. Hai đứa còn thay phiên sang tận phòng học đón đứa còn lại rồi cùng về, dẫu không bàn bạc trước.
Chỉ có một điều đổi khác, đó là tôi bắt đầu mơ về Sayuri thường xuyên hơn. Vài ngày tôi lại mơ thấy cô một lần. Chẳng hiểu sao, không gian kì lạ tựa nước ảnh phai màu nơi Sayuri hiện diện khiến tôi có cảm giác rất đỗi thân quen.
Dần dà, những gì tôi thấy khi tỉnh giấc gần như mất hết cảm giác chân thực. Trong mắt tôi, bầu trời, khu phố, cây cối ven đường có màu như màu tranh sơn dầu. Mỗi khi nheo mắt ngắm nhìn những khung cảnh ấy, tôi đều hoang mang. Lúc ở bên Rika, tôi có thể tạm quên đi nỗi bất an, nhưng cảm giác xa rời hiện thực vẫn còn nguyên trong thâm tâm.
Thỉnh thoảng, vào giữa đêm, tôi ra ga tàu gần nhà. Tôi xuống cầu thang, đứng chôn chân chừng một giờ đồng hồ trước cửa soát vé tuyến Marunouchi ở ga Nishi-Shinjuku, hay tuyến Oedo ở ga Shinjuku - Nishiguchi, ra vẻ đợi ai đó. Tôi nghĩ, nếu hòa vào dòng người xa lạ, tôi sẽ dần quen với cảnh sắc xung quanh.
Nhưng không. Tôi chỉ khiến đôi chân mệt nhoài vì chống chịu cảm giác lạc lõng nặng nề.
Đợi mãi cũng chẳng có ai đến. Đương nhiên rồi. Đây không phải chốn quê nhà khi xưa, nơi mà chỉ cần kiên nhẫn đứng chờ ở ga là sẽ gặp được người quen trên đường đi học về.
Những người có gương mặt giống nhau ùa ra khỏi của soát vé hoặc bị hút vào đó. Đám đông vô danh cứ thế bị cuốn đi như một tập hợp không tên họ. Trông như đại cảnh của một bộ phim kinh phí thấp, không hề chân thực. Nửa vô thức, tôi mong tìm thấy một gương mặt khác biệt trong dòng người vô danh ấy. Nhưng tôi thậm chí còn chẳng có hình dung cụ thể về gương mặt khác biệt đó. Dòng người cứ dồn vào rồi lại tuôn ra khỏi cửa soát vé. Tôi cứ bất động, không thể cất bước. Tôi muốn trở thành kẻ vô danh. Muốn trở thành một phần của cái tập hợp kia. Muốn trở thành linh hồn.
Nhưng đương nhiên tôi không làm được. Tôi không thuộc về thành phố này.
Tôi sẽ kể đôi điều về sự việc xảy ra sau khi mọi chuyện kết thúc đã lâu.
Về lá thư.
Tốt nghiệp đại học, tôi vào cao học rồi ra trường lúc 26 tuổi. Mùa xuân năm ấy, tôi nhận được lá thư duy nhất từ Takuya.
Thật ra nó giống một gói bưu kiện nhỏ hơn là một lá thư.
Không lời hỏi thăm, cũng chẳng tái bút ôn lại tình bạn năm xưa. Cậu còn không thèm ghi địa chỉ và số điện thoại. Gói bưu kiện sau tám năm đằng đẵng. Cậu đã biệt tích suốt thời gian đó. Cậu không ghi địa chỉ liên lạc là vì chủ ý muốn giấu. Shirakawa Takuya sẽ không bỏ sót chi tiết ấy vì quên.
Gói nhỏ đó chứa sổ nhật kí. Lần đầu tiên tôi biết, ngày nào Takuya cũng viết nhật kí. Cậu gửi cho tôi sổ nhật kí ghi lại trọn vẹn quãng thời gian ba năm cấp ba.
Tôi đọc chúng, những chuyện xảy đến với cậu, suy nghĩ của cậu trong ba năm chúng tôi không gặp nhau.
Tôi hiểu rõ ý đồ của Takuya khi gửi tôi chồng nhật kí. Cậu muốn nói “Không được quên!”. Không được quên cậu. Không được quên Sayuri. Không được quên mùa hè năm lớp Chín quá đỗi đặc biệt cùng ba năm trung học tựa kỉ Băng hà. Không được quên những thứ tôi và cậu đã lựa chọn trong vài năm ngắn ngủi ấy. Không được quên con người quá đặc biệt của cả hai
Không được xóa khỏi kí ức. Không được để trôi đi. Không được coi như chưa từng xảy ra. Cậu đang cảnh cáo tôi.
Đương nhiên, tôi không quên. Tôi chưa bao giờ quên lời thì thầm “không muốn bị quên lãng” mà Sayuri từng thốt ra trong quá khứ xa xôi.
Đó là lý do tôi viết lại những dòng này.
Hôm ấy trời mưa nhỏ suốt từ sáng. Nhiệt độ và độ ẩm trong khuôn viên Học viện Quân sự được kiểm soát chặt chẽ, nhưng Takuya vẫn cảm nhận được hơi thở của cơn mưa thấm qua lớp bê tông.
Năm cuối cấp ba, Shirakawa Takuya vào Học viện Quân sự của quân đội Mỹ tại thành phố Aomori với tư cách nghiên cứu sinh của tổ chức liên kết. Tổ chức ấy có tên “Phòng Nghiên cứu Xử lý Thông tin Chiến lược Đặc biệt thời chiến”, gọi tắt là “Phòng nghiên cứu Tomizawa”. Cậu được mời gia nhập mùa xuân cùng năm. Năm trước đó, Takuya tham gia cuộc thi viết luận của tạp chí khoa học về vật lý lượng tử và đoạt giải. Nhờ đó cậu nhận được lời mời. Rất lâu sau Takuya mới biết, ông Okabe đã dùng tầm ảnh hưởng sâu rộng để âm thầm tiến cử cậu.
Như lẽ dĩ nhiên, lời mời đi kèm suất tuyển thẳng vào đại học sau khi tốt nghiệp phổ thông và ưu đãi miễn học phí, vì vậy Takuya gật đầu không chút do dự. Cậu lấy đủ số học trình bắt buộc ở cấp ba rồi bỏ hẳn việc lên lớp. Trong mắt cậu lúc này, những giờ học tập, sinh hoạt ở trường gần như không còn giá trị.
Vào phòng nghiên cứu, cậu tham gia các giờ seminar với học viên cao học. Cậu thường xuyên phải nộp bài luận, đóng vai trò nhân viên phụ trách vận hành khi có thí nghiệm quy mô lớn. Vấn đề thực sự là cậu không có thời gian đi học trên trường cấp ba. Phòng nghiên cứu Tomizawa dùng máy tính để phân tích vật lý lượng tử, nên nghiên cứu sinh phải có kĩ năng lập trình giỏi, đó lại là lĩnh vực sở trường số một của cậu. Lần đầu tiên trong đời, cậu tìm được chốn học hành mà không buồn chán.
Hôm nay có một thí nghiệm quy mô lớn, Takuya bận tối mằt từ sáng với khâu chuấn bị.
Phòng thí nghiệm nằm trên tầng tám tòa nhà nghiên cứu bê tông mới xây hai năm trước.
Takuya cùng hai nghiên cứu sinh ngồi đối diện console*, trước mặt mỗi người là màn hình tinh thể lỏng và bàn phím. Takuya mang bàn phím của mình đến dùng, vì tốc độ gõ trên đồ do phòng nghiên cứu cung cấp chậm khiến cậu ức chế.
Sau dãy màn hình là vách kính. Bên kia tường kính là trung tâm phòng thí nghiệm, rộng chừng 36 mét vuông, khép kín hoàn toàn, đến không khí cũng chẳng lọt vào nổi. Một cây cột to cỡ ba vòng ôm người lớn dựng đứng chính giữa không gian đó. Cột có thiết kế xoắn vặn khá rắc rối, từa tựa một tác phẩm nghệ thuật đương đại.
Cây cột đó là ăng ten tiếp nhận tín hiệu từ thế giới song song.
Sau lưng Takuya cũng là vách kính. Bên kia bức tường trong suốt đó, giáo sư Tomizawa và trợ lý Arizaka ngồi ở ghế giám sát chính đặt trên cao. Đằng sau họ, viên sĩ quan quân đội Mỹ hôm nay mặc quân phục cùng một người đàn ông to con đang đứng quan sát.
“Các em đừng để ý khách, cứ thoải mái như mọi khi nhé.”
Tiếng giáo sư Tomizawa truyền qua loa, vang lên trong phòng theo dõi nơi nhóm Takuya ngồi.
“Pha I hoàn thành. Bắt đầu bước tiếp theo thôi.”
“Vâng.” Takuya cùng hai đàn anh đáp lời. Cả ba đồng loạt gõ phím.
“Tiếp theo, giai đoạn lọc. Triển khai Pha II.” Takuya nói vào micro.
“Độ phân giải tính định hướng tăng 25% so với lần trước.” Một đàn anh nói tiếp.
Giáo sư Tomizawa hài lòng. “Tốt lắm, lần này chắc sẽ thành công. Chọn thuật toán cẩn thận vào.”
Trợ lý Arizaka ở sau lưng kiểm tra phần Takuya phụ trách lên tiếng. “Shirakawa, thuật toán đó là sao?”
“Em đã điều chỉnh bộ lọc tách xuất nhóm, dựa trên bài nghiên cứu của Ekusun Tsukinoe...”
“Cái...”
“Hiệu quả tách xuất thực sự đang tăng ạ.”
“Giỏi lắm, Shirakawa.” Giáo sư Tomizawa vui vẻ khen.
Viên sĩ quan mặc quân phục hỏi bằng tiếng Anh.
“Ekusun Tsukinoe là ai?”
Giáo sư Tomizawa đáp bằng tiếng Anh.
“Nhà nghiên cứu của Liên bang, người đâu tiên chứng minh sự tồn tại của thế giới song song. Ông ta được cho là người thiết kế tháp Ezo.”
“Cái ốc vít kia...” Viên sĩ quan chi ăng ten trong phòng thí nghiệm, “Là mô hình tháp hả?”
“Đúng vậy. Sau đây chúng tôi sẽ hoán đổi không gian có kích thước vài inch xung quanh trung tâm cột với vũ trụ khác.”
Âm báo vang lên. Mọi người căng thẳng.
“Thu được rồi!” Takuya đanh giọng thông báo. Tất cả những người có mặt chăm chú nhìn màn hình. “Ghi nhận phản ứng rò rỉ ở hướng XA, YC, ZC. Có năm... không, sáu vũ trụ phân nhánh.”
Đồ thị trên màn hình cho thấy sáu đường gấp khúc chuyển động không ngừng.
“Sáu à. Tìm được nhiều đấy.” Giáo sư Tomizawa đan hai tay vào nhau. “Bắt đầu giai đoạn đồng bộ hóa. Hi vọng kết nối được...”
Trợ lý Arizaka nhận lệnh, ra chỉ thị. “Bắt đầu Pha III. Ba em hãy lần lượt tiếp cận vũ trụ song song gần nhất.”
Takuya và hai đàn anh gõ phím, kết nối hệ thống với vũ trụ phân nhánh vừa tìm ra. Tiếng gõ phím vang lên khô khốc. Nhìn đôi tay của Takuya, đàn anh ngồi bên phải bất giác thốt lên “Nhanh quá”.
“Shirakawa ở gần nhất.” Trợ lý Arizaka lẩm nhẩm. Còn 12 êxa* nữa là vào đến khu vực có thể kết nối. Mười một, mười, chín phẩy tư, chín phẩy hai...”
Âm báo lại kêu.
Ông sĩ quan mặc quân phục chồm về phía trước.
“Đã kết nối!” Takuya gấp gáp nói. “Kết nối thành công với một vũ trụ phân nhánh ở gần. Phản ứng rò rỉ cũng ổn định.”
Giáo sư Tomizawa vừa phấn khích đứng bật dậy, giờ mới ngồi lại xuống ghế.
“Tốt lắm, chuyển sang giai đoạn hoán đổi.” Rồi ông quay sang giải thích cho viên sĩ quan. “Sau đây chúng tôi sẽ tiến hành hoán đổi không gian với vũ trụ phân nhánh.”
“Pha IV. Bắt đầu hoán đổi không gian với thế giới song song.” Arizaka ra chỉ thị.
Một đường gấp khúc xuất hiện trên biểu đồ màu đỏ.
Cao độ âm báo thay đổi.
“Ghi nhận hoán đổi pha không gian với bán kính 60 nanomet. Vùng hoán đổi đang lan rộng với tốc độ cao. Sẽ sớm nhìn được bằng mắt thường.”
Một trong các màn hình theo dõi chuyển sang hiển thị hình ảnh từ máy quay. Chính giữa màn hình có một chấm đen nhạt.
“Đó là phần duy nhất hình thành từ kết cấu của vũ trụ khác. Một không gian hoàn toàn khác.” Giáo sư Tomizawa giải thích bằng tiếng Anh.
“Tháp Ezo cũng làm được điều này hả?”
“Đúng vậy. Nguyên lý giống hệt nhau. Nhưng tháp có quy mô lớn và độ chính xác cao hơn hẳn. Mất nhiều lần thí nghiệm chúng tôi mới thành công một lần, hơn nữa chỉ có thể hoán đổi không gian với kích thước cỡ hạt cát.”
Takuya cùng hai nghiên cứu sinh còn lại không hề ngơi nghỉ, liên tục nhập những dòng lệnh phức tạp. Nhưng rồi họ dừng tay.
“Hỏng rồi...” Takuya nói.
“Thất bại. Phản ứng rò rỉ suy giảm. Không thể duy trì kết nối với thế giới song song.” Giọng thông báo của Arizaka nghe có vẻ nóng ruột.
Biên độ của đường gấp khúc trên biểu đồ nhỏ dần. Sau đó tiếng buzz vang lên. Dòng chữ “DISCONNECTED” màu đỏ xuất hiện trên tất cả màn hình theo dõi.
Chấm đen trên hình ảnh do máy quay ghi lại cũng biến mất.
Giây phút căng thẳng đã qua. Takuya thở dài, ngả người ra lưng ghế.
Trong phòng giám sát đằng sau cậu, giáo sư Tomizawa cũng thở dài gần như cùng lúc, có điều, đó là tiếng thở dài hài lòng.
“Hàm sóng hội tụ. Vũ trụ phân nhánh biến mất hoàn toàn. Hoán đổi pha thành công với bán kính 1,3 milimet, trong thời gian một phút mười tám giây.”
Giọng thông báo đều đều của Arizaka vang lên giữa căn phòng im ắng.
“Chị Maki.”
Sau khi tổng hợp tài liệu, ra khỏi phòng thí nghiệm, Takuya thấy Kasahara Maki đang đứng nói chuyện với gáo sư Tomizawa.
Kasahara Maki là nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ, đóng vai trò người hướng dẫn của Takuya. Chuyên môn của chị là khoa học não. Vì chuyên ngành khác nhau nên Takuya chưa bao giờ được chị hướng dẫn trực tiếp, nhưng Takuya phải báo cáo với chị chi tiết các vấn đề như sử dụng trang thiết bị hay tiến độ bài tập.
“Vất vả cho em rồi.” Chị mỉm cười chào Takuya rồi nói với giáo sư Tomizawa. “Thưa thầy, em dẫn Shirakawa theo được không ạ?”
“Được, còn chỗ đấy. Hai đứa lúc nào cũng đi cùng nhau nhỉ?”
“Thầy dặn em theo sát cậu ấy đến hết năm nay mà.”
“Thế à... Mai thầy đi Tokyo công tác, nhờ cả vào em nhé.”
“Thầy đi để tham gia buổi công bố kết quả nghiên cứu ạ?”
“Ừ, một phần. Hình như người ta tìm ra cái chìa khóa kia rồi. Khả năng nhóm nghiên cứu não các em sẽ bận rộn đấy...”
Takuya không hiểu nội dung câu chuyện nên chỉ im lặng đứng nghe.
Takuya và Maki sóng bước trên hành lang, nơi cả tường lẫn sàn đều phủ vật liệu bóng. Kasahara Maki vốn có thói quen đi nhanh. Takuya cho rằng đây là xu hướng thường thấy ở người tự tin. Rất nhiều nghiên cứu sinh có thói quen này, Takuya cũng vậy. Tòa nhà nghiên cứu rộng nên đi nhanh âu cũng hợp lý. Họ đi ngang qua viên sĩ quan mặc quân phục và người đàn ông mặc vest. Là hai người quan sát thí nghiệm khi nãy.
“Ông sĩ quan dạo này hay đến ghê.” Kasahara Maki nói.
“Người mặc vest chắc thuộc NSA.” Takuya đáp.
“NSA?”
“Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ.”
“Giống cảnh sát ấy hả?”
“Tình báo quân đội ạ.”
“Hừm...” Maki có vẻ chẳng hứng thú. “Tại dạo này nhiều tin đồn về hoạt động ngầm của khủng bố đây mà.”
Takuya cúi mặt. Càng ngày cậu càng tệ khoản che giấu suy nghĩ. May là Maki không phát hiện. Cả hai đứng trước cửa thang máy, chăm chú nhìn số tầng trên bảng hiển thị tăng dần.
“Thí nghiệm hôm nay suôn sẻ chứ?”
“Bọn em lấy được dữ liệu, nhưng vẫn chưa đâu vào đâu ạ. Mới hoán đổi được ở mức độ đủ nhìn thấy bằng mắt thường. Không thể so với tháp Liên bang.”
“Chịu thôi. Người ta vượt xa mình từ vật lý cơ sở kia mà. Chị xem ảnh chụp từ máy bay của thứ bên Ezo ấy rồi.”
Takuya nhớ lại nỗi ghê sợ khi xem bức ảnh đó lần đâu tiên. Ảnh chụp tháp Liên bang từ trên cao, do phi cơ thám hiểm không người lái của quân đội Mỹ gửi về qua fax.
Điểm dị thường không nằm ở bản thân ngọn tháp, mà ở xung quanh nó. Lấy tháp làm tâm, vùng không gian phụ cận vẽ nên một hình tròn đen kịt. Mặt đất trông như bị nhuộm đen, nhưng thực chất không phải.
Ở đó chẳng có gì hết. Hoặc chỉ có hư vô.
Takuya nghĩ, chắc lỗ đen cũng có bề ngoài thế này. Một vòng tròn tối tăm liên tục hút lấy ánh sáng. Cảm giác tỏa ra từ bóng tối đó giống hệt đốm đen họ tạo ra trong phòng thí nghiệm.
Hình ảnh nghịch đảo của thế giới. Thế giới xung quanh ngọn tháp bị lật ngược. Không gian vốn có đã biến mất, bị thế giới khác thế chỗ.
Chuông reo, cửa thang máy mở ra.
“Cái em không hiểu là tại sao vùng hoán đổi pha chỉ dừng lại ở bán kính 2 kilomet quanh tháp.”
Đứng trong chiếc hộp sắt, Takuya vừa nói vừa nhìn số tầng nơi màn hình hiển thị nhỏ dần. Đây là một trong những thói quen của cậu. Takuya hay chăm chú nhìn bộ đếm thời gian hoặc màn hình giải phân mảnh* trên máy tính. “Quân đội Mỹ nhận định ngọn tháp là một loại vũ khí mạnh, có khả năng đảo ngược không gian. Nhưng nếu dùng với mục đích tấn công thì coi như đồ bỏ. Khác gì đào hố kiểu hú họa trên lãnh thổ của chính bọn họ.”
“Biết đâu tính năng của tháp bị gián đoạn do sự cố, hay chỉ mang tính chất thử nghiệm?”
“Hoặc hoán đổi pha là tính năng tự phát, nằm ngoài ý đồ của kĩ sư thiết kế. Giáo sư Tomizawa bảo, có khả năng hoạt động của tháp bị kìm hãm bởi nhân tố ngoại lai nào đó.”
Bên ngoài tòa nhà nghiên cứu, trời xám xịt, mưa đang rơi. Takuya để ô trong tủ khóa ở tòa nhà giảng đường. Maki mang theo ô gấp nên hai người đi chung, rảo bước qua khu vườn gần nhà để xe.
“Shirakawa này. Ngày mai em định làm gì? Được nghỉ học mà.” Mai là thứ Bảy.
“Em định tìm hiểu chút chuyện...” Takuya đáp. Vai Maki vừa chạm vào vai cậu.
“Ở thư viện à?”
“Không ạ, em đến xưởng chỗ người quen.”
“Xưởng?”
Maki muốn đi cùng nếu không phiền. Takuya chối khéo, lấy lý do xưởng ở xa, lại chẳng có gì, nhưng Maki một mực bảo không thành vấn đề. Cậu để chị đứng đợi, vào bốt điện thoại quay dãy số quen thuộc.
“Xem cái gì mà xem, chỗ ta không tiếp khách tham quan đâu.”
Ông Okabe cáu bẳn đáp qua điện thoại, nhưng sau khi nghe giải thích sơ qua về Kasahara Maki, ông lập tức đổi thái độ.
“Hả? Con gái? Bao nhiêu tuổi?”
“Cháu không biết. Nhưng chị ấy đẹp lắm. Chắc tầm..
Maki đang quay lưng đứng đợi bên ngoài bốt điện thoại. Nhìn khuôn mặt trông nghiêng của chị, Takuya đoán chị mới ngoài hai mươi.
“Ồ... Vậy bọn ta đợi.” Ông Okabe vui vẻ nói.
Hôm sau, Takuya và Maki đi ô tô đến Okawadai. Takuya là người cầm lái chiếc xe tối màu. Cậu học lái xe và lấy bằng khi vừa tròn 18 tuổi. Cậu vào thành phố Aomori đón Maki, băng qua tỉnh lộ 208 men theo bờ biển, đến xưởng Emishi sau một tiếng rưỡi.
Thời tiết đẹp. Có tiếng diều hâu kêu. Tốp chiến đấu cơ của quân đội Mỹ vừa gầm vang vừa vẽ nguệch ngoạc nhũng vệt mây máy bay lên trời. Takuya đỗ xe cạnh cái cây lớn trong vườn. Vừa xuống xe, Kasahara Maki liền thích thú nhìn đám tháp sắt đặt trong khu đất của xưởng.
“Ồ... Dàn ăng ten hoành tráng quá.”
“Tôi có thêm thắt vài món phi pháp.” Ông Okabe nói, miệng ngậm thuốc, hai tay đút túi quần. Takuya biết không chỉ vài mà gần như tất cả đều phi pháp, nhưng cậu im lặng. “Cái này kết nối với mấy chỗ hay ho lắm.”
“Ồ. Đây là sở thích của anh ạ? Hay công việc?”
“Có lẽ là cả hai.”
Ông Okabe có vẻ hài lòng vì Kasahara Maki thực sự đẹp như lời Takuya kể. Con mèo nửa hoang sống trong xưởng xuất hiện. Takuya lại gần gãi tai nó.
Sau khi cửa cuốn thay thế một phía tường được kéo lên hết cỡ, trông xưởng Emishi như một gara khổng lồ. Gió thu nhè nhẹ thổi vào tận bên trong. Hôm nay xưởng không làm việc, nhân viên vắng mặt hết, ngoài ông Okabe chỉ có chú Sato. Maki mang bánh ngọt đến làm quà, vì vậy Takuya vào phòng đun nước pha trà. Bốn người ngồi quanh chiếc bàn nhôm đặt dưới mái hiên.
“Chuyên môn cùa cô Maki là não bộ à?” Ông Okahe hỏi.
“Vâng, tôi nghiên cứu về những thứ như kí ức, giấc ngủ, giấc mơ.”
Chú Sato hỏi, “Nhưng cô làm cùng phòng nghiên cứu với Takuya mà? Takuya, sao bảo chú mày nghiên cứu về ngọn tháp?”
“Vâng, cháu nghiên cứu về tháp...” Cậu ngẫm nghĩ một hồi. “Nhưng về cơ bản, mục đích của hai bên giống nhau ạ. Nói sao nhỉ, cả hai nghiên cứu đều hướng tới thế giới song song.”
“Thế giới song song?” Chú Sato hỏi lại.
Maki cắm dĩa vào miếng bánh. “Vũ trụ cũng nằm mơ, giống như con người nằm mơ vào ban đêm ấy ạ.”
“Vũ trụ...?” Chú Sato lẩm bẩm.
“Dùng từ ‘thế giới’ có lẽ dễ hiểu hơn.” Maki từ tốn nói. “Thế giới cất giấu nhiều khả năng khác nhau trong mơ, ví dụ như thế giới ta đang sống có thể đã trải qua lịch sử thế này, hay từng mang diện mạo thế kia. Chúng tôi gọi đó là thế giới song song, hoặc vũ trụ phân nhánh.”
“Nghe như khoa học viễn tưởng ấy nhỉ.” Chú Sato nói. “Ngày xưa tôi có đọc tiểu thuyết về cái ‘parallel world’ ấy thì phải...”
“Chúng có thật đấy ạ.” Maki nói. “Người ta đã biết điều đó từ khoảng năm mươi năm trước.”
“Chúng có thật sao?” Ông Okabe hỏi.
“Vâng. Có một ví dụ nổi tiếng thế này...” Maki diễn tả động tác tung đồng xu bằng ngón cái. “Các anh biết trò chơi tung đồng xu rồi đoán sấp ngửa chứ ạ? Trước khi tung, xác suất đồng xu lật mặt trước hay mặt sau đều là 50%. Tung xong, giả sử đồng xu lật ngửa, vậy 50% khả năng lật sấp đã biến đi đâu?”
Ông Okabe và chú Sato nghiêm mặt lắng nghe.
Chú Sato nói. “Phải chăng khả năng đồng xu lật ngửa vốn là 100%, chỉ có điều con người không biết?”
“Sự co của sóng.” Maki nói. “Đúng vậy. Người ta từng nghĩ thế suốt nhiều năm. Nhưng 50% vẫn là 50%. Không phải từ đầu một bên đã chiếm 100% khả năng, mà vào thời điểm đồng xu được tung lên, thế giới phân làm hai nhánh, thế giới nơi đồng xu lật mặt trước và thế giới nơi đồng xu lật mặt sau, diễn giải như vậy mới hợp lý. Ngay lúc này, thế giới ta sống cũng đang phân nhánh thành vô vàn thế giới, như bảng lịch trình của giải đấu thể thao ấy ạ.”
“Ồ...”
“Theo đó, tôi nghiên cứu về ảnh hưởng mà thế giới song song tác động lên não và giấc mơ của con người.” Nói tới đây, Maki quay lại chủ đề chính. “Giả thuyết tháp Liên bang được xây lên để quan trắc thế giới song song khá thuyết phục. Shirakawa tiếp cận vấn đề từ góc độ khoa học công nghệ, còn tôi tiếp cận theo hướng khoa học não bộ. Có thể từ ngàn xưa, não của sinh vật sống đã vô thức tiếp nhận thông tin từ thế giới song song. Biết đâu những thông tin ấy chính là khởi nguồn của hiện tượng linh cảm cũng như tiên tri ở con người... Đó là nội dung nghiên cứu của tôi. Nhưng chắc hai anh thấy giống chuyện siêu nhiên nhỉ.”
“Không đâu, hoàn toàn không.” Ông Okabe dốc bao thuốc lá, vừa châm thêm điếu nữa vừa khoa trương nói. “Ý cô là vũ trụ và con người mơ cùng một giấc mơ? Lãng mạn đấy chứ.”
“Lãng mạn?” Takuya và chú Sato đồng thanh lẩm bẩm. Hiếm người đàn ông nào không hợp với hai chữ ấy đến mức này.
“Sao hả?”
“Dạ không.”
“Không có gì ạ.” Chú Sato và Takuya lần lượt đánh trống lảng.
“Cô có nhắc đến linh cảm và tiên tri, vậy nếu nghiên cứu của cô Kasahara thành công, con người có thể đoán trước tương lai bằng phương pháp nhân tạo không?” Chú Sato hỏi.
“Không ạ... Có lẽ là bất khả thi. Tôi nghĩ việc đó đòi hỏi siêu năng lực, chứ không tiến hành được trên thực tế.”
“Tại sao?”
“Vì con người không có ăng ten phục vụ việc đó.” Takuya trả lời. “Con người có ăng ten tiếp nhận các loại sóng điện từ nhất định* để xác định hình dáng và màu sắc của vật thể, đó là mắt. Tai là ăng ten tiếp nhận sóng âm lan truyền trong không khí... Nhưng con người không có cơ quan thu nhận thông tin từ thế giới khác. Dù có xảy ra trên thực tế, hiện tượng chú Sato nói vẫn mang tính chất ngẫu nhiên, như cái loa khuyết dữ liệu đầu vào tình cờ bắt được sóng vô tuyến ấy ạ.”
Nói đoạn, Takuya lơ đãng nhìn đám tháp sắt không dây đứng san sát ngoài vườn.
“Đúng rồi. Muốn nhận thức bảng não thì con người phải có ăng ten nhân tạo kết nối trực tiếp với bộ óc...”
“Ọe, nghe như phim kinh dị máu me ấy”. Chú Sato thoáng nhăn mặt.
“Vẫn có người làm thí nghiệm trên động vật theo kiểu ấy đấy ạ”. Maki vừa nói vừa thản nhiên ăn bánh. “Dù hiện nay nghiên cứu đó chẳng còn mấy giá trị thực tiễn…”
“Nhưng cô Maki giỏi thật.” Ông Okabe vừa nhả khói thuốc vừa mở lời khen, có vẻ cố ý. “Đẳng cấp của học viện ở Aomori khác hẳn mấy trường đại học xung quanh. Cơ quan tư vấn cho chính phủ kia mà. Cô còn trẻ mà đã là nhân viên cốt cán...”
“Chưa đến mức ấy đâu ạ.” Maki xấu hổ. “Có điều vì ngưỡng mộ ngọn tháp, nên tôi cảm thấy công việc có ý nghĩa.”
Takuya bất giác nhìn chị. Cậu mới nghe chuyện này lần đầu.
“Người thực sự xuất sắc là Shirakawa cơ ạ.” Maki đột nhiên khẳng định chắc nịch.
“Takuya?” Chú Sato nói.
“Vâng! Trở thành nghiên cứu sinh liên kết ở tuổi 18 là chuyện chưa từng có tiền lệ. Cậu ấy năng nổ khó ai bì kịp, năng lực lại vượt xa những nhân viên lớn hơn nhiều tuổi. Tôi đã cảm thán, ‘hóa ra trên đời còn có người thế này, ngầu thật’ đấy ạ.”
Ông Okabe lén trưng lên vẻ mặt nhăn nhó mà không để Maki nhìn thấy. Chú Sato tủm tỉm với Takuya, ra vẻ thương cảm.
“Không ạ. Em đâu có...”
Takuya nhỏ giọng chữa ngượng. Cậu chia cho con mèo đang quanh quẩn dưới chân một miếng bánh, nó liền nhào tới ăn.
“Ơ, gì đây?! Con mèo này bị sao vậy?!” Maki tròn mắt.
Chiều tối, Takuya đưa Maki về nhà cô trong thành phố Aomori. Ông Okabe đi nhờ xe vì có việc trên thành phố. Nghe lời đề nghị của ông, chú Satao ngạc nhiên thốt lên “Hả?”, Maki tỏ vẻ thất vọng, riêng Takuya bình thản đồng ý, “Vâng, được thôi”. Cậu còn thấy may vì có ông Okabe đồng hành.
Cậu tiễn Maki xuống xe trước cửa nhà cô, nhìn cô vẫy tay chào rồi đi vào trong, ông Okabe vừa thắt lại dây an toàn vừa nói, “Cho ta xuống ga.”
“Bác Okabe định đi đâu sao? Hachinohe ạ?
“Không, ta đi shinkansen. Từ mai ta phải lo công việc trên Tokyo.”
“Việc bên nào ạ?”
Ông Okabe nhả khói thuốc, không đáp.
Xe Takuya chạy trên con đường hai làn giữa khu dân cư. Gặp đèn đỏ, cậu dừng lại, hỏi tiếp,”Bác Okabe, bác xem xét nguyện vọng của cháu chưa ạ?”
Ông Okabe ngả ghế nhìn trần xe nãy giờ. Nghe Takuya hỏi, ông đáp bằng giọng mập mờ, miệng vẫn ngậm thuốc, “Nguyện vọng gì nhỉ?”
“Cháu xin gia nhập Uilita.”
Đó là tên tộc người bản địa ở Sakhalin*, cũng là tên tổ chức khủng bố vũ trang chống Liên bang hoạt động mạnh nhất tại Nhật Bản.
“À, chuyện đó hả.” Ông lại phả khói. “Thằng này cũng cứng đầu nhỉ. Chú mày có vẻ tâm huyết với công việc ở phòng nghiên cứu mà, còn tìm hiểu về tháp nữa. Làm sao tham gia với bọn ta được?”
Ông Okabe rất hay lảng tránh vấn đề bằng kiểu nói chuyện vòng vo này.
“Không hẳn đâu ạ. Ngược lại... Cháu muốn sớm dọn dẹp hết.”
Lúc đó Takuya đã để ý thấy đường thẳng mảnh màu trắng bên ngoài kính chắn gió. Cậu vừa lườm nó vừa nói, “Đúng thế, cháu muốn sớm dọn dẹp cho xong. Ngọn tháp kia.”
Biên bản
Hội nghị công bố kết quả nghiên cứu
quân sự Mỹ - Nhật lần thứ 23
(Trích)
Thời gian: Ngày X tháng Y năm Z
Địa điểm: Hội trường Yasuda, Đại học Tokyo
Người công bố: Tomizawa Tsuneo, Phòng Nghiên cứu Xử lý Thông tin Chiến lược Đặc biệt thời chiến, Học viện Quân sự Aomori.
“... Bằng cách xác định độ chệch của vũ trụ đa nguyên trong quá trình phân nhánh, chúng ta có thể dự đoán tương lai với độ chính xác rất cao. Đây cũng là mục đích cuối cùng mà phòng nghiên cứu của tôi hướng đến. Thông tin được lấy từ kết quả xác thực của sự việc trong tương lai, nói cách khác là sự việc đã xảy ra trên thực tế tại vũ trụ phân nhánh, chứ không dựa trên lý thuyết xác suất hay bất cứ mô hình lý luận sẵn có nào. Giống như ta mở trang sách kế tiếp để biết trước nội dung câu chuyện. Điều này có thể gây ảnh hưởng ngoài sức tưởng tượng đến những quyết định về chính trị và quân sự.
“Tuy nhiên, thành thật mà nói, công nghệ ứng dụng thuyết trọng lực lượng tử của Liên bang đã đạt đến trình độ mà chúng tôi không thể với tới. Nếu tình trạng hiện tại tiếp diễn, Liên bang sẽ hiện thực hóa việc dự đoán tương lai nhờ áp dụng cơ học lượng tử trước chúng ta.”
Màn hình hiển thị bốn bức ảnh.
Hình ảnh khu vực trung tâm Hokkaido chụp từ không trung năm 1974 (Trích lược)
Hình ảnh khu vực trung tâm Hokkaido chụp từ không trung năm 1984 (Trích lược)
Hình ảnh khu vực trung tâm Hokkaido chụp từ không trung năm 1994 (Trích lược)
Hình ảnh khu vực trung tâm Hokkaido chụp từ không trung năm 1997 (Trích lược)
“Quá trình xây dựng ngọn tháp mang tính biểu tượng ở trung tâm đảo... trung tâm Ezo bắt đầu năm 1975, ngay sau khi Bắc-Nam bị chia cắt. Chúng tôi cho rằng tháp đi vào hoạt động từ khoảng năm 1996. Có thể thấy rõ hiện tượng hoán đổi pha sóng quanh tháp qua hình ảnh do thám năm 1997.
“Ekusun Tsukinoe, người giữ vai trò chủ chốt trong việc thiết kế tháp, vốn là người Honshu. Thực tế này quả là sự mỉa mai đối với phía đồng minh chúng ta.
“... Tiếp theo, tôi xin giới thiệu một số thử nghiệm về công nghệ mới mà chúng tôi sử dụng để thu thông tin từ thế giới song song.”
Vài ngày trôi qua. Trong thời gian đó, công việc của Takuya tiến triển thuận lợi. Cậu không về nhà mà ở lì trong phòng nghiên cứu dành cho học viên cao học, viết xong hai bài luận. Cậu xếp ghế thành hàng rồi tranh thủ chợp mắt khi mệt.
Takuya khá mệt vì phải ngồi trước màn hình suốt đêm. Sau khi gửi bài luận cho giáo sư Tomizawa qua mail, cậu làm vài việc linh tinh hết buổi sáng. Thấy mỏi, cậu ra bãi đỗ xe, chui vào ô tô ngủ. Cậu thức giấc lúc trời đã tối, lòng khó chịu như thể mình là kẻ duy nhất bị cả thế giới lẫn dòng thời gian bỏ rơi.
Takuya bật nguồn điện thoại. Có hai cuộc gọi nhỡ từ Kasahara Maki. Tâm trạng cậu khá hơn đôi chút. Tuy nhiên, Takuya không định gọi lại cho chị mà bấm một dãy số khác. Cậu thường xuyên gọi đến số này nhưng không lưu vào danh bạ, hơn nữa còn xóa sạch lịch sử cuộc gọi ngay khi gác máy.
“Cháu Shirakawa đây.”
“Ừ...” Ông Okabe đáp bằng giọng uế oải như mọi khi.
“Cháu có thể sớm gặp bác ở đâu đó không ạ?”
Chẳng mấy khi ông Okabe ra thành phố. Cậu dựng ghế lên, nổ máy.
Quán nhậu cũ kĩ do ông lão gần tám mươi một mình quản lý nằm cạnh cảng cá Aomori. Takuya tiến lên cầu vịnh Aomori trắng tinh với kiến trúc hiện đại từ đầu cầu phía Tây. Vừa lái xe về đầu cầu phía Đông, cậu vừa nghĩ thầm, nếu quân Liên bang tràn sang, hẳn cây cầu này sẽ bị công kích đầu tiên.
Kéo cánh cửa lùa bằng gỗ, bước vào quán rượu, cậu thấy ông Okabe đã một mình nâng chén tự bao giờ. Takuya ngồi xuống ghế trước quầy, bên cạnh ông. Chủ quán ngủ gật bên kia quầy, cậu vừa rót rượu cho ông Okabe vừa hỏi.
“Chuyến công tác Tokyo trót lọt chứ ạ?
“Hả?” Ông Okabe hầm hè với vẻ nghi hoặc.
“Bác đi công tác vào thời điểm này chắc chắn liên quan đến Uilita.”
Ông Okabe khịt mũi “Hừ” một tiếng, “Bỏ qua vụ đó đi. Thằng Hiroki thế nào rồi? Ta định đi thăm nó nhân dịp lên Tokyo mà không liên lạc được.”
Takuya biết mặt mình đang nhăn nhó như ăn phải ớt.
“Cậu ta... Cháu không biết. Cháu và cậu ta chẳng còn liên hệ gì nữa.”
“Hừm...”
“Khi nào phá tháp ạ?”
Ông Okabe đành vào chuyện, “Thật ra bọn ta đã xoay được bom bọc PL*.”
“PL...”
“Biết chứ?”
“Không ạ. Cháu không rành mảng đó.”
“Ta cũng chẳng rõ. Hình như là cho paladi và hydro nặng phản ứng với nhau...”
“À, ra thế...” Takuya vỡ lẽ. “Hay thật...”
“Hay chỗ nào?”
“Cháu không dám khẳng định khi chưa xem thông số, nhưng chắc sức công phá phải tương đương vũ khí hạt nhân loại siêu nhỏ.”
“Vậy à. Lòe loẹt quá.” Ông Okabe châm điếu thuốc mới. “Vấn đề là nó có đánh sập được tháp không.”
“Được chứ ạ...” Takuya đáp ngay. “Kết cấu tháp không quá kiên cố đâu ạ. Để xây nên kiến trúc cao tầng tinh vi như thế, buộc phải có độ đàn hồi nhất định. Phần vỏ sẽ bốc cháy trong nháy mắt. Phần lõi hình như được gia cố bằng nút thắt lưới nano, nhưng rồi cũng cháy thôi ạ. Cháu nghĩ mọi thứ sẽ bị thiêu rụi không chừa mảnh nào.”
“Thế hả.”
Takuya châm thuốc cho mình rồi nói, “Nhưng một nhóm khủng bố đơn lẻ chẳng đời nào sở hữu được thứ vũ khí như thế.”
“Đúng.”
“Rốt cuộc quân Mỹ muốn gì đây? Nếu chúng ta dùng thứ đó, việc Mỹ núp sau giật dây sẽ lộ ra hết.”
“Chịu thôi. Ai biết bọn họ đã chuẩn bị bài ca tẩy trắng hay đang lục đục nội bộ... Không chừng còn lường trước kịch bản khỏi cần phủ nhận ấy chứ.”
“Khai chiến.”
“Chắc thế.”
“Lẽ nào mục đích của họ là đẩy nhanh thời điểm khai chiến?”
“Cũng có thể.”
“Nhưng đối với Uilita, đó không phải vấn đề cần quan tâm. Miễn là việc phá hủy ngọn tháp giúp xúc tiến công cuộc thống nhất Bắc-Nam. Cả những người sống ở Honshu lẫn quân Mỹ đều sợ ngọn tháp. Hình ảnh choáng ngợp bí ẩn của nó khiến người ta nghĩ Liên bang là bất khả xâm phạm. Cho nên phải phá tháp.”
“Thấu đáo lắm. Đúng là thiên tài.”
“Bác đừng nói thế.” Takuya dụi điếu thuốc vào gạt tàn, “Bác Okabe, xin hãy cho cháu gia nhập Uilita ngay bây giờ, tại đây.”
“Bỏ cuộc đi.” Ông Okabe nốc cạn chén rượu. “Giờ chú mày đã can dự quá sâu rồi. Mà chú mày có hiểu hoạt động là thế nào không? Vứt bỏ hết cuộc sống tử tế đang có, sơ sểnh là rơi vào cảnh chui lủi cả đời đấy.”
“Cháu biết. Cháu vẫn muốn tham gia.”
“Ta từ chối vì nghĩ cho chú mày thôi. Quên sạch những gì đã biết cho đến giờ phút này đi, ngoan ngoãn thành học giả cho ta nhờ.”
“Cháu không thích. Cháu không thể. Nếu bác nhất quyết bác bỏ nguyện vọng của cháu, cháu sẽ báo với cảnh sát mọi điều vừa nghe...”
Chưa kịp nói hết, Takuya đã bị túm ngực áo, dúi vào tường, xách cổ lên. Hai chiếc ghế đẩu gỗ đổ lăn lóc. Chủ quán vẫn ngủ gật sau quầy. Cũng có thể ông ta cố tình nhắm mắt.
“Mày có hiểu mày vừa nói gì không?”
Giọng nói ấy trầm, gần như tiếng thì thào, nhưng chứa đựng áp lực ngang ngửa cả cú đấm. Ông Okabe gí vật gì đó cưng cứng trong túi áo khoác vào bụng Takuya, làm cậu chợt nhận ra mình sống xa bạo lực đến mức nào. Một cậu ấm không hơn không kém.
Takuya biết mình đang run. Cậu muốn nói, lắp bắp mở miệng, chật vật mãi mới thốt nên lời, “Dù sao đi nữa cháu vẫn muốn làm. Cháu phải tự tay phá hủy ngọn tháp. Sự hiện diện của nó, khung cảnh nó tạo ra khiến cháu khó chịu. Nó còn đứng đó, cháu còn bứt rứt, chẳng thể đi đến đâu. Không có gì đổi khác.”
“…”
Cậu bất động hồi lâu trong tư thế bị ông Okabe xách cổ, gần như nhấc bổng. Takuya chỉ nghe thấy tiếng thở gấp của chính mình.
Ông Okabe nới lỏng bàn tay đang túm Takuya. Trước khi Takuya kịp thở phào, ông lấy khẩu súng lục trong túi ra, ấn vào tay cậu, “Cầm lấy.”
Nặng trịch. Sức nặng trên tay làm cậu bừng tỉnh, Ông Okabe bốc đạn dự phòng từ túi còn lại, lạo xạo thả vào túi áo khoác của Takuya.
“Tìm chỗ tập đi. Đừng nho nhoe cố bắn trúng vội. Để cơ thể quen với sức nặng và độ giật của nó trước đã. Quan trọng nhất là không được đánh rơi hay chĩa vào đồng đội.”
Thứ nằm trong lòng bàn tay cậu cứng ngắc, lạnh toát. Takuya rùng mình.
Cậu tìm thấy bãi đất ven sông khi lái xe qua tỉnh lộ số 4. Cậu dừng xe, đi xuống bờ sông. Trên đầu là cầu đường sắt tuyến Tohoku Honsen. Cậu đứng ngay dưới cầu, nhìn lên. Có thể thấy trời qua khe hở đường ray. Mỗi lúc tàu đi qua, trông cây cầu như sắp sụp đến nơi.
Cậu quan sát bờ sông một lượt từ phải sang trái. Đằng xa có sân bóng, nhưng không thấy cầu môn. Có vài bóng người trên sân, song cậu không hề nghĩ đến chuyện vì thế mà lén lút. Takuya rời khỏi gầm cầu, đắm mình trong ánh hoàng hôn.
Dời tầm nhìn khỏi con sông, cậu có thể ngắm ngọn tháp phía bầu trời xa.
Mắt cậu tự nhiên nhíu lại. Cũng có thể gò má cậu nhếch lên, chứ không phải mắt nheo lại.
Takuya châm thuốc, chờ đợi. Số thuốc cậu hút tăng đều đều từ năm này sang năm khác. Nhưng môi trường sống càng ngày càng không thích hợp để hút. Nếu được hút thuốc lá trong phòng nghiên cứu, có khi hiệu suất công việc đã tăng gấp đôi...
Lúc điếu thứ năm cháy hết, Takuya nghe âm thanh báo hiệu thanh chắn đường tàu sắp hạ xuống vọng lại từ xa. Cậu vứt điếu thuốc đi, cho tay vào túi. Khẩu súng nằm đó, cứng và lạnh. Cậu vừa tiến về phía trước vài bước vừa rút súng, tháo chốt an toàn, lên đạn, hoàn toàn không để ý người xung quanh.
Cậu giương súng, nhắm thẳng vào ngọn tháp.
Tàu đến. Khi cảm thấy tiếng ồn đã đủ lớn, cậu bóp cò, dùng lực giữ chặt khẩu súng đang muốn vùng ra khỏi tay.
Cậu bắn liên tục. Bắn tiếp, bắn mãi.
Vỏ đạn lần lượt rơi xuống. Vệt khói mảnh bốc ra từ thuốc súng bị đốt cháy vờn lên má nghe nhoi nhói. Khẩu súng trong tay lồng lên. Mùi của sự kích thích. Cậu say thứ mùi ấy.
Tàu đi qua, cậu buông thõng cánh tay.
Không ai nhận ra. Dù để ý, người ta cũng không đời nào nghĩ đây là súng thật. Cậu buồn nôn vì điều đó. Cậu thấy ghê tởm bản thân trong quá khứ, tính đến ngày hôm qua.
Cất súng xong, dấn bước, cả gương mặt lẫn trái tim Takuya đều đã cứng lại, lạnh ngắt.
“Mình ở trên ngọn tháp kì lạ hình xoắn ốc, cứng và lạnh.”
Có cả rừng tháp, trông giống phế tích của nền văn minh nào đó đã diệt vong. Sayuri ngồi ôm gối trên đỉnh ngọn tháp mất trần, phân nửa đổ nát, phong hóa.
“Ở đây, gió lạnh hun hút như thổi đến từ vũ trụ xa xôi, không khí có mùi của vũ trụ khác.”
Cô bưng mặt, lẩm nhẩm không ngừng. Cô nói với ai đó, người cô tưởng tượng ra trong tâm trí. Nếu dừng lại, cô sẽ suy sụp.
Bầu trời tối tăm, xù xì như bị cạo bằng đá bọt. Gió không khó chịu nhưng vẫn vướng vất cảm giác kì lạ.
Sayuri cảm nhận được một âm thanh nằm ngoài ngưỡng nghe. Lúc sau luồng siêu âm* ấy mới tới gần và rơi vào miền nghe thấy*. Là tiếng va chạm của kim loại vọng xuống từ không trung. Nhận ra đó là tiếng máy bay phản lực ở xa, Sayuri khẽ reo lên, ngẩng đầu.
Cô đứng dậy. Vào khoảnh khắc ấy, ngọn tháp biến mất.
Khung cảnh thay đổi. Lúc này Sayuri đứng giữa khoảnh sân bê tông của một trường học nào đó. Ngôi trường cũ nát. Mặt đất um tùm cỏ dại. Toàn bộ ngói rạn vỡ. Tường học xá cũng đầy vết nứt. Hiện trạng cho thấy nơi này đã bị bỏ hoang ít nhất mười năm.
Sayuri ngẩn người nhìn quanh. Quang cảnh thị trấn đằng xa cũng không còn dấu hiệu của sự sống, mọi thứ đều đã sụp đổ.
Ánh sáng đỏ hiện ra nơi khóe mắt. Nó vừa giống màu lửa, vừa ngả màu hoàng hôn. Một sắc đỏ dịu dàng. Ánh sáng đó phát ra từ phòng học ở tầng ba tòa học xá. Vài con bồ câu trắng tụ lại thành đàn ngoài cừa sổ phòng học nhuốm đỏ.
Chúng còn sống.
Trong thế giới đã chết, đó là nguồn sinh khí duy nhất.
Chúng mang hơi ấm.
Sayuri chạy về hướng đó, tìm kiếm thứ hằng khao khát.
Tù giày ở sảnh ra vào trống trơn, phủ đầy cát bụi. Cô mang nguyên giày, tiến vào hành lang. Cô dừng chân, nhìn quanh.
Cầu thang.
Cô chạy lên cầu thang. Cô vượt qua tầng hai, bước vào hành lang tầng ba. Sayuri đối mặt với hành lang thẳng tắp.
Ánh sáng ấm áp lọt ra ngoài.
Cô đến trước phòng học treo biển “Lớp 12-3”, chần chừ đứng lại giây lát.
Thế rồi cô dứt khoát kéo cánh cửa lùa sang ngang.
Ánh sáng ấm áp xuất phát từ chiếc bàn cạnh cửa sổ. Chiếc bàn phát sáng nằm đơn độc bên khung cửa. Số bàn còn lại bị dồn ra xa. Không gian quanh chiếc bàn phát sáng hoàn toàn trống vắng. Các bàn khác như đang tránh né, cô lập nó.
Cảnh tượng ấy thật đáng buồn, nhưng lại rất đỗi thân thuộc.
Sayuri vừa đặt chân vào phòng, ánh sáng liền biến mất như cách ngọn nến bị thổi tắt.
Dường như nó muốn trốn tránh cô.
Cô bị hơi ấm khước từ.
Cô biết nét mặt mình vừa héo đi.
Không bỏ cuộc, cô chầm chậm bước tiếp. Từ cửa sổ, cô nhìn thấy rừng cao ốc hoang phế của Shinjuku. Hệt như có chiến tranh quét qua. Cô chạm vào chiếc bàn cô độc khi nãy còn phát sáng. Chẳng có hơi ấm. Nó đã nguội lạnh.
Cô dựa vào tường phía cửa sổ, từ từ ngồi sụp xuống. Chiếc bàn cô độc ở ngay trước mắt. Cô ôm lấy mình.
“Sao mình lại ở đây... Ai đó... này... có ai không...” Cô ôm đầu. “Takuya… Hiroki...”
Cô nhắm mắt, rồi mở ra. Cô lại ở trên ngọn tháp lúc đầu. Không nghe tiếng máy bay phản lực nữa. Chỉ cồn tiếng gió.
Bên kia bầu trời, ngọn tháp Liên bang vô cảm màu trắng lờ mờ ẩn hiện.
Thi thoảng, tùy theo cơn gió, từ nơi này, cô nhìn thấy ngọn tháp sau những đám mây.
Tiếng phấn cọ vào bảng kèn kẹt đầy đe dọa làm tôi tỉnh giấc. Hình như tôi đã thiếp đi một lúc giữa giờ học vì chịu thua cơn buồn ngủ. Tiếng viết bảng vang đều đều trong khôn gian yên ắng.
Lại giấc mơ đó...
Hình bóng Sayuri lang thang xuất hiện trong giấc ngủ của tôi hết lần này tới lần khác. Cô thường bước một cách vô định giữa cảnh thành phố đổ nát. Cô đang tìm thứ gì đó.
Lớp 12-3. Đó là lớp tôi.
Tôi trông ra cửa sổ. Điều chỉnh góc nhìn đôi chút là thấy trọn khung cảnh bên ngoài.
Chiếc bàn màu đỏ ấy chính là bàn tôi.
Tiết trời nắng ráo. Gió lùa vào làm tấm rèm mỏng đung đưa. Gặp những ngày kiểu này, tôi sẽ trở nên u uất. Sau ba năm sống ở đây, tôi dần nghiệm ra. Nếu gió thổi thế kia...
... Chắc chắn nó sẽ lọt vào tầm nhìn.
May mà cửa sổ lớp học quay về hướng khác.
Mở hòm thư, tôi thấy lá thư mới. Chỉ có một người viết cho tôi. Tôi leo lên cầu thang gỗ chật hẹp, về phòng, ném lá thư xuống chiếc bàn thấp. Tôi nhặt tai nghe lăn lóc dưới sàn, đeo vào, nhắm mắt chơi vĩ cầm, cố không nhìn đến chiếc phong bì.
Tôi nỗ lực dọn trống tâm trí bằng cách ấy chừng một giờ đồng hồ, rồi lại bỏ cuộc, bóc bì thư ra. Mỗi lần nhận thư tôi đều tự nhủ sẽ không đọc, nhưng cuối cùng vẫn xem dù biết sẽ hối hận khi đọc xong. Tôi lờ mờ biết nguyên nhân đằng sau, nhưng cố không nghĩ đến.
Nội dung thư chủ yếu xoay quanh tình hình ở quê. Lính Mỹ cùng phương tiện quân sự đã xuất hiện lác đác. Aomori rơi vào tình trạng căng thẳng. Nhìn bầu không khí là đủ biết thời điểm khai chiến với Liên bang chẳng còn xa. Nhanh thì trong năm nay, chậm thì sang năm chiến tranh sẽ bùng nổ. Nhưng ông Okabe cho rằng xung đột là chuyện khó tránh nếu muốn thống nhất Bắc-Nam. Việc chia cắt hai miền đã đẩy nhiều gia đình, bạn bè vào cảnh xa cách vì rào cản quân sự. Thật đau khổ khi muốn gặp nhau mà không thể, càng ngang trái vì bị ngăn trở theo kiểu cưỡng chế. Thư viết vậy. Hiếm khi ông Okabe chủ động thể hiện quan điếm dù chưa được hỏi.
Takuya đã trở thành nghiên cứu sinh đặc biệt tại Học viện Quân sự Aomori. Chuyên ngành của cậu là vật lý lượng tử. Tôi khá ngạc nhiên. Không ngờ cậu lại bỏ qua bậc đại học để làm nghiên cứu sinh luôn. Cậu giỏi đến thế ư? Chắc chỉ đại học của quân đội Mỹ mới chấp nhận kiểu vượt cấp ấy. Ông Okabe bảo, do thay đổi môi trường nên Takuya có vẻ đa sầu đa cảm hơn xưa, gợi ý tôi liên lạc nói chuyện với cậu. Đọc xong, tôi bỏ thư vào phong bì, kẹp giữa một cuốn sách rồi nhét vào góc kệ.
Đêm đó tôi lại mơ thấy Sayuri.
Cô lững thững đi giữa thành phố nhuốm màu u ám. Có vẻ là khu Kita-Shinjuku. Cửa hiệu và nhà dân nằm lẫn với nhau hai bên con đường hẹp. Tuy nhiên, mọi kiến trúc đều hư hỏng, nứt vỡ, chỉ chực đổ sập. Cột điện nghiêng ngả, dây điện rũ xuống. Phía xa, những cao ốc sắp sụp đổ đứng phơi mình với dáng vẻ tiêu điều. Thành phố bị bỏ hoang. Không một bóng người. Chính điều đó làm tổn thương Sayuri.
Sayuri lê bước trong vô định, dường như đang tìm kiếm ai đó. “Ai đó” chứ không phải “bất kì ai”. Cô muốn gặp một người nhất định, nhưng ý thức lại bị khóa chặt, không thể mường tượng ra hình ảnh cụ thể của người ấy. Cô tuyệt vọng kiếm tìm người mà chính cô chẳng biết là ai, rồi từ từ bị cơn mệt mỏi xâm chiếm.
Có mùi gió. Gió như thổi từ tận cùng vũ trụ. Bất kể đi bao lâu, bao xa, Sayuri vẫn một mình.
Tôi tỉnh giấc, ngồi dậy trên giường. Đây là thực. Khung cảnh đổ nát của Shinjuku rất quen thuộc. Tôi sợ cảm giác quen thuộc ấy. Có lẽ đó là cảnh tượng sau chiến tranh. Nghĩa là tôi muốn chiến tranh xảy ra ư?
Hình như không phải. Nhưng tôi cũng không rõ trong thâm tâm, mình chờ đợi điều gì.
Mùi gió trong cơn mơ vẫn thoang thoảng đâu đây. Không khí cũ kĩ, bụi bặm. Thứ mùi đó gợi cảm giác hoài niệm, giúp tôi yên lòng.
Điện thoại kêu.
Sau ba hồi chuông, tôi với lấy điện thoại. Chưa nhấc ống nghe tôi đã biết người ở đầu dây bên kia là Rika. Quả không sai. Số người gọi điện cho tôi rất ít, nhìn thời điểm là đoán được. Ngoài cô, chẳng ai gọi tôi vào sáng Chủ nhật.
“A, bạn đây rồi.” Rika nói. “Này, mình nói mãi rồi, mua di dộng đi. Thời nay ai lại không cô di động chứ.”
“Thôi, không cần đâu.” Tôi trả lời như mọi khi. “Mình cũng không thấy bất tiện...”
“Mình thì có đấy. Không liên lạc được với bạn. Tối qua mình có gọi. Bạn đi đâu à?”
“Không, mình chẳng đi đâu cả. Tôi nghĩ lại xem tối qua điện thoại có reo không. “Chắc lúc đó mình đang ngủ...”
“Sống một mình thích nhỉ. Muốn ngủ, muốn dậy lúc nào cũng được.”
Tôi có thể hình dung một cách sống động vẻ mặt cô khi nói những lời châm chọc này.
“Bạn gặp mình được không?” Cô nói.
“Được chứ. Hôm nay không có giờ phụ đạo hay giờ tự chọn, bạn biết mà.”
“Không học phụ đạo là bạn rảnh hả? Fujisawa, bạn không còn việc gì khác để làm à?”
“Ừ.” Tôi vô tư đáp.
Lắm lúc mình không hiểu nổi, bạn là người kiểu gì vậy? Vắng mình thì bạn sống sao vào ngày nghỉ?”
“Mình chưa từng nghĩ đến.” Tôi lầm bầm. “Chắc mình vẫn sống như thường thôi.”
Cô cố ý thở dài để tôi nghe được. “Mình đến chỗ bạn được không?”
“Chờ mình dọn phòng xong đã. Chắc phải vài tháng nữa.”
“Lại cái cớ đó. Vậy bạn đến nhà mình đi.”
“Được. Nhưng còn bố mẹ bạn?”
“Mấy người đó có bao giờ ở nhà đâu. Không cần ngại.”
“Chừng một tiếng nữa mình đến.”
“Nhớ mua quà đấy.”
Cô nói rồi cúp máy. Tôi thay quần áo, ra ga Shinjuku, mua thạch hoa quả đủ vị ở cửa hàng bánh kẹo trước ga. Tôi đón tàu tuyến Yamanote, xuống ga Ikebukuro rồi đi bộ đến nhà Rika. Vừa đi tôi vừa nghĩ, dạo này cô có vẻ không vui.
Chúng tôi đã bước vào năm cuối cấp, chuẩn bị thi đại học.
Rika nhắm tới một trường đại học nữ sinh, nổi tiếng là nơi nhiều tiểu thư con nhà danh giá theo học. Cô chắc mẩm sẽ được nhận (quả thật sau đó cô đỗ ngon ơ), nhưng vẫn bị cuốn theo bầu không khí ôn thi căng thẳng, nên gần đây khá lo lắng. Không ít lần cô đột ngột gọi cho tôi giữa đêm, khi đồng hồ đã điểm sang ngày mới. Những lúc đó, tôi chỉ biết ậm ừ tiếp chuyện cô ở bên kia đầu dây đến sáng. Cô chỉ cần có vậy, mà tôi cũng chỉ làm được đến thế.
Tôi không khó chịu khi làm chỗ dựa cho cô. Tôi thích kiểu nói chuyện liến thoắng, cũng như cách cảm nhận mới lạ của cô. Nhờ cô mà tôi thấy mình chưa đến nỗi vô giá trị. Có thể nói hai chúng tôi bù trừ cho nhau.
Nhưng dạo gần đây, càng ngày tôi càng dễ mất tập trung khi nói chuyện với cô. Đây là vấn đề của riêng tôi, không liên quan đến Rika. Tôi đang nhanh chóng dần mất hứng thú với hiện thực trước mắt.
Rika sống trong căn biệt thự kiểu tây giữa khu dân cư yên tĩnh. Hầu như không có vườn, nhưng không gian trong nhà khá rộng. Căn nhà nằm bên rìa dốc, vì vậy từ cổng vào đến tiền sảnh có cầu thang hẹp bằng đá mười bậc. Một căn nhà đẹp và tiện nghi.
Tôi phấn nút trên thiết bị liên lạc nội bộ, nghe tiếng cô trả lời, “Bạn tự vào đi.” Rika đang ủ rũ tựa vào sofa trong phòng khách. Vở ghi, bộ đề tuyền sinh đại học các năm, sách hướng dẫn đi kèm sách giáo khoa, tập đề thi thử do trường cấp ba soạn nằm la liệt trên chiếc bàn thấp. Tôi đặt hộp quà màu trắng lên bàn, khoanh chân ngồi xuống sàn, đối diện với cô.
“Nước ở trong tủ lạnh ấy.” Cô uể oải nói.
Tôi tự đi vào bếp, pha hai phần cà phê đá rồi quay lại.
“Trông bạn không khỏe lắm.”
Rika ngồi thẳng dậy, “Fujisawa thấy gì nói đấy nhỉ, kể cả những chuyện hiển nhiên.”
“Không được à?”
“Không phải không được. Nhưng bạn cố tình, đúng chứ?”
“Làm gì có. Mình chỉ biết mấy câu nhàm chán vì con người mình vốn nhàm chán mà.”
“Đấy, lại cái giọng ấy. Thừa hiểu bản thân không nhàm mà vẫn nói.”
Tâm trạng cô có vẻ xấu hơn tôi tưởng.
Rika đột ngột đổi chủ đề. “Này, bạn đọc cuốn Hoa trên mộ Algernon* chưa?”
“Rồi. Sao?”
“Có lúc mình muốn biến thành người như thế cho xong.”
“Như thế là…”
“Là không phải thi cử nữa đó.”
Tôi hiểu ra, bèn nhắc cô, “Bạn ăn nói vô ý quá đấy.”
“Mình biết chứ. Biết nhưng vẫn nghĩ. Tránh sao được. Đừng có mắng mình.”
“Được rồi. Mình xin lỗi.”
“Fujisawa có bao giờ nghĩ vậy không? Lo lắng đến mức bế tắc, chỉ muốn vứt bỏ hết ấy?”
“Có, mình cũng nghĩ như mọi người thôi.”
“Nhưng bạn không để lộ ra.”
“Chắc vì trong thâm tâm, mình buông xuôi từ lâu rồi, để mặc mọi chuyện ra sao thì ra. Cứ thi thật nhiều trường, chắc sẽ đỗ vào đâu đó thôi. Trượt cũng chẳng chết được. Đâu sẽ có đó, không thành cũng chẳng sao...
“Sợ quá. Bạn có thể nghĩ vậy sao. Mình chịu...” Cô lại ngả người ra sofa. “Này, bạn ngồi lên đây đi.”
Tôi nghe lời, ngồi cạnh cô. “Mình xin chút năng lượng nhé.” Rika nói, ngả đầu vào vai tôi. Một bên bím tóc của cô quệt vào cổ tôi ngưa ngứa. Đầu người ta đem đến cảm giác về sức nặng rất đặc biệt, không biết ví với cái gì. Kí ức, suy nghĩ, tâm tình của một con người được gói gọn trong sức nặng đó, đem gửi gắm nơi tôi. Nghĩ thế, tôi hơi bồn chồn.
Trong vài giây, tôi đã nghĩ đến chuyện chạm vào má, vòng tay quanh eo, đặt cô nằm xuống sofa rồi cởi bộ đồ cô đang mặc.
Tôi nghĩ, nếu muốn, tôi có thể ôm cô bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên, ý nghĩ ấy thật tồi tệ... Song tôi hiểu, cô cho phép tôi làm thế, chưa biết chừng còn chủ động chờ đợi điều đó.
Nhưng tôi không muốn. Sẽ có người bảo tôi nhu nhược... Nhưng làm vậy khi tinh thần cô đang thế này khác nào phạm tội. Đây chẳng phải lý do duy nhất. Mọi thứ trong mắt tôi như khuất sau màn sương. Ngay cả Rika cũng không còn mang cảm giác chân thực. Việc không cảm nhận được thực tại khiến tôi hơi sợ, dù tuyệt nhiên không bộc lộ ra. Cách cảm nhận ấy là sai, không được phép tồn tại...
Thật kì quặc. Ở cạnh cô, không phải tôi không hứng thú với chân váy ngắn dập dềnh, đôi chân thon, bộ ngực sữa. Nhưng chẳng hiểu sao, hứng thú đó dễ dàng bị tấm kính ngăn cách tôi và thế giới chặn dứng.
Chúng tôi rời nhà, đón tàu tuyến Yamanote đi ăn trưa. Rika bảo muốn đến quán ăn kiểu tây ở Kanda, tuy hơi xa. Ra đường, sắc mặt Rika tươi tỉnh hẳn lên. Tôi thông cảm với cô. Dành gần trọn thời gian ở một mình trong căn nhà rộng lớn, đấu tranh với áp lực thi cử, không căng thẳng mới lạ.
Đến quán, Rika gọi mì Ý xốt nấm thông, còn tôi chọn set trứng ốp lết và đồ rán. Đồ ăn quả thật khá ngon.
Sau đó chúng tôi lên tàu tuyến Chuo đi Shinjuku. Tàu vắng khách, hai đứa tha hồ chiếm nguyên một dãy ghế. Rika xem chỉ tay cho tôi, nói tôi sẽ sống lâu nhưng không giàu được. Tôi cũng nghĩ vậy. Tôi đang sống cuộc đời bất định, với con mắt mơ hồ.
Khi đó, tôi nhìn thấy... Bên kia kính cửa sổ tàu điện.
Tàu dừng ở ga Ochanomizu, ngoài cửa sổ là sân ga.
Tôi vừa thấy gì đó ở sân ga đối diện.
Sương mù bay đến. Ánh mắt tôi sững lại trong khoảnh khắc. Ngay sau đó, tôi vô thức đứng bật dậy, chạy về phía cửa ra vào.
Đó là Sayuri! Tôi vừa thấy Sayuri!
Của bắt đầu đóng. Khó mà lách được người qua khe cửa hẹp.
Không hề chần chừ, tôi chèn cùi chỏ vào khe hở, cố sức đẩy cánh cửa sang ngang. Cửa tàu điện vốn không phải thứ có thể mở bằng sức người, nhưng cảm biến đã làm việc. Tiếng máy nén khí vang lên, cửa mở. Tôi lao xuống sân ga.
Tôi chăm chăm nhìn sân ga đối diện ở bên kia đường ray.
Không có. Mất dấu rồi.
Nhân viên nhà ga lại gần, nói gì đó nhưng tôi bỏ ngoài tai. Tôi xuống cầu thang rồi đi lên, tới chỗ Sayuri vừa đứng, không quên để ý xung quanh, phòng khi lướt qua cô.
Tôi đi từ đầu này sang đầu kia sân ga, chăm chú quan sát dòng người ra vào qua cửa soát vé. Khoảng ba mươi phút sau, tôi bỏ cuộc, thẫn thờ lê bước. Không thấy Sayuri.
Trong lúc đi lòng vòng, có một lần tôi cảm nhận được mùi không khí cũ thoảng qua, nhưng chẳc chỉ là ảo giác.
Tôi chợt nhớ đến Rika. Tôi đã bỏ đi mà không nói gì với cô. Tôi phóng ra bốt điện thoại công cộng trên sân ga, gọi vào di dộng của cô, luống cuống giải thích. Rằng tôi nhác thấy người bạn cũ mất liên lạc từ lâu nên mới vội vàng như vậy.
“Không sao.” Cô đáp. “Cũng có lúc vậy mà.” Cô nói thêm.
Ở đầu dây bên kia, có lẽ cô đang khóc.
Mùa đông lại đến. Mùa đông thứ ba của tôi ở Tokyo.
Không khí ôn thi ở trường sôi nổi hơn bao giờ hết. Bước vào giai đoạn nước rút, ai nấy đều tham gia lớp phụ đạo. Tôi thi khối tự nhiên, ôn luyện rất quan trọng. Vì thế tôi cố gắng không bỏ sót bài giảng nào. Nhưng một ngày học tám chín tiếng thì đúng là khó ngăn được mệt mỏi tích tụ. Nhiều lúc tôi vừa ghi chép vừa ngủ gật.
Tôi thường mơ thấy Sayuri, cả ở nhà và ở trường.
Không, nói đúng hơn là mơ về chính tôi lang thang đi tìm Sayuri. Tôi cật lực chạy quanh thành phố đổ nát, mắt không ngừng tìm kiếm, đôi khi ngỡ trông thấy đuôi tóc hay vạt váy áo của Sayuri ở góc phố, nhưng nhìn kĩ thì chẳng có ai.
Sau đó tôi đến được trường cấp ba bỏ hoang. Tôi biết chắc Sayuri ở đây. Chỗ này phảng phất hơi hướm Sayuri cùng mùi từ vũ trụ khác. Tôi biết Sayuri đang ở nơi lạnh lẽo nào đó một mình. Ngước lên, tôi thấy ánh sang màu hoàng hôn lọt qua cửa sổ phòng học.
Tôi đi vào lớp mình.
Ánh sang đỏ chập chờn trên bàn tôi.
Rồi nó vụt tắt, mùi của Sayuri cũng biến mất cùng mọi thứ. Tôi đứng chôn chân tại chỗ, hơi thở nghẹn lại.
Giấc mơ như vậy đấy.
Sayuri đang gọi.
Tôi tìm Sayuri, Sayuri tìm tôi. Tôi tin chắc như vậy. Bình tĩnh xem xét thì tinh thần của tôi đang ở trạng thái nguy hiểm. Nhưng tôi không cho đây là chuyện lạ. Chúng tôi cần nhau, đó là lẽ đương nhiên. Trong mơ, khi hình bóng Sayuri tan biến, tôi đau đớn như thể chính mình bị xé thành từng mảnh.
Ngày tháng trôi qua, tôi tiếp tục chìm sâu dưới dòng nước lạnh, hơi thở ngưng trệ. Tôi có cảm giác bịcả thế gian bỏ rơi, chỉ còn lại một mình.
Một lọn tóc phủ xuống làm tôi tỉnh giấc.
“Hết giờ rồi.” Rika đến đón tôi. Cô vốn học lớp khác, ở phòng học khác. “Bạn mệt à?”
“Ừ, dạo này mình hay buồn ngủ.”
“Vậy à. Mình yên tâm rồi. Hóa ra Fujisawa cũng có lúc thế này.”
“Đương nhiên. Mình đâu phải bò.”
Nhân dịp tôi tiễn Rika về nhà, chúng tôi quyết định dạo bộ một lát ở Ikebukuro.
Ra khỏi cửa soát vé ga Ikebukuro, chúng tôi dựa vào rào chắn nói chuyện. Cả hai đều cố tránh chủ đề thi cử. Mỗi đứa đeo một bên tai nghe, thưởng thức bài hát chủ đề mới thu âm vào MD*. Rika nhắm mắt, khẽ đung đưa theo điệu nhạc.
Phải chăng vì bầu trời mùa đông quang đãng nên tôi mới để ý.
Ngọn tháp hiện ra ở phía Bắc.
Hoàn toàn bất ngờ. Bình thường tôi luôn chuẩn bị sẵn tâm lý nên không bị ảnh hưởng quá nặng nề. Còn hôm nay, tôi bị tấn công trực diện, như trúng một viên đạn trong suốt. Toàn thân bị cảm giác đen tối xâm chiếm. Tôi cố trấn tĩnh, không để Rika biết.
Giữa lúc nhón chân băng qua đường ray tuyến Toden Arakawa, Rika hỏi.
“Fujisawa học đại học ở đây nhỉ. Học xong bạn về quê à?”
“Không... Mình không định về.”
“Hừm, tiếc thật.”
“Sao lại tiếc?”
“Mình muốn thăm nơi Fujisawa sinh ra và lớn lên, muốn thử sống ở đó.” Cô đột ngột nói như thể đây là chuyện hết sức bình thường, làm tôi bối rối.
Tôi thận trọng đáp, “Chỗ mình chẳng có gì đâu. Toàn biển, núi và ruộng. Không có ô tô thì không sống nổi. Chỉ có một tuyến tàu chặng ngắn phục vụ giao thông công cộng. Mọi người sống ở khu lân cận đều đi lại bằng tuyến tàu đó, không biết tên cũng nhớ mặt nhau vì gặp trên tàu. Bạn sẽ sốc văn hóa bởi bất tiện đấy.”
“Hay mà.”
“Bạn hiểu lầm theo hướng lãng mạn rồi.” Tôi cười. “Thời gian trôi chậm gấp đôi ở đây. Chắc được vài ngày là bạn bắt đầu khó chịu.”
“Giờ mình cũng khó chịu đấy thôi. Không thành vấn đề đâu, chắc luôn. Mình không hề có ý định sống mãi ở chốn như Tokyo. Hối hả, ồn ào, mọi thứ đều mập mờ. Chẳng có gì chắc chắn, thậm chí còn khiến người ta nửa vời theo... Bạn có thấy thế không?”
“Ừm... có không nhỉ.” Tôi tránh trả lời thẳng.
“Mình sinh ra, lớn lên bên trong vòng tròn tuyến Yamanote* vẽ ra, không có thôn làng gì cả. Sống như vậy mệt mỏi lắm. Bạn hiểu không?”
“Không. Tại sao?”
“Vì không thể thoát khỏi chỗ này chứ sao. Có lúc mình muốn bỏ đi đâu đó, nhưng chẳng biết nơi nào cụ thể. Rốt cuộc vẫn phải ở lại đây, cam chịu sống tiếp. Thỉnh thoảng ý nghĩ ấy khiến mình tuyệt vọng.”
Giọng Rika không mảy may nghiêm trọng, chẳng khác lúc bông đùa là mấy. Chính vì thế lời cô nghe càng thấm thía.
“Bạn hay nghĩ đến chuyện bỏ đi à?”
“Ừ. Bạn không biết à?”
“Không, làm sao mình biết được.”
“Fujisawa kể thêm về quê bạn đi.”
“Tả thế nào nhỉ...” Tôi cố giữ bình tĩnh, chậm rãi nói. “Quê mình gần như ở cực Bắc Nhật Bản. Tuyết rơi nhiều lắm. Mùa này mọi thứ đều chìm trong tuyết. Muốn ra ngoài, ngày nào cũng phải cào tuyết trước nhà. Lạnh nữa. Không tiếng động. Âm thanh bị tuyết át mất.”
“Nghe thích vậy.”
“Chỗ mình sống tên là Minmaya...”
“Minmaya?”
“Ừ. Ghép chữ ‘Tam’ và chữ ‘Cứu’. Gần đó có chùa Gikeiji khá nổi tiếng, thờ Miyamoto no Yoshitsune. Truyền thuyết kể rằng, khi Yoshitsune bị quân Yoritomo đuổi đánh, trời đã gửi xuống ba con long mã cho ông đường thoát thân. Vì thế mới có cái tên ‘Tam Cứu’. Theo truyền thuyết, Yoshitsune cưỡi long mã biết bay, trốn sang Hokkaido và sống sót...” Tôi không thể kể hết câu chuyện. “Đại loại là vậy.”
“Tuyệt thế còn gì.”
Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện, gặp thanh chắn đường ray của hãng đường sắt quốc gia thì dừng lại. Đoàn tàu dài thật dài chở hàng chầm chậm di chuyển trước mặt cả hai.
Thứ đoàn tàu vận chuyển là xe tăng đời 1990. Hơn mười chiếc xe tăng lần lượt lướt qua hai đứa. Chắc tàu sẽ đi về phía Bắc qua tuyến Tohoku Honsen. Chiến tranh sắp đến thật rồi.
“Chỗ xe tăng kia được đưa tới quê Fujisawa phải không?”
“Ừ, đúng rồi.” Tôi đáp chậm mãt mấy giây.
“Tàu này chạy thong thả nhỉ? Có khi nhảy lên được đấy. Bọn mình trốn vé đến Aomori đi?”
Tôi định cười, nhưng nhận ra mình vừa nhăn mặt.
Không nhịn nổi nữa. Tôi đưa tay che miệng, cúi xuống, sống chết kìm nén thứ đang chực trào ra khỏi họng. Tôi nuốt nước bọt, nín thở, dần dần lấy lại được bình tĩnh. Tôi đứng thẳng dậy, cố gắng hô hấp bình thường.
Ngọn tháp lọt vào tầm mắt tôi.
Trên nền trời nhuốm sắc đỏ của hoàng hôn, trông nó gần đến khó tin.
Ngọn tháp dần xâm chiếm tôi.
Tôi lấy cớ không khỏe, quay về Nishi-Shinjuku một mình. Tôi vịn vào hàng rào sắt dọc đường, thất thểu bước đi. Về đến kí túc, tôi kiểm tra hòm thư. Ông Okabe lại gửi thư. Tôi cầm nó lên phòng, không mở nổi phong bì. Đóng cánh cửa sau lưng, trở về với không gian u ám của riêng mình, tôi trút đồ đạc khỏi vai, tựa vào cửa rồi từ từ ngồi sụp xuống.
Toàn thân tôi đau nhói như bị xương cốt khắp người chọc thủng da thịt.
Tại sao cơn đau trong thâm tâm lại biến thành nỗi đau thể xác?
Tôi chịu đựng cảm giác này bao lâu rồi?
Khi tôi đủ sức đứng dậy, trời đã tối. Tôi cởi đồng phục, mặc áo len và quần jeans, ngồi xuống sàn, tựa vào giường. Rồi tôi đeo tai nghe, nhắm mắt, chơi đàn bằng cây vĩ cầm vô thanh, lắng nghe giai điệu mình tạo ra. Thật dễ chịu. Tôi cảm thấy ý thức bắt đầu hoạt động trở lại, cơ thể được xoa dịu.
Tôi chuyên tâm kéo vĩ, lần lượt chơi hết những bản nhạc tôi biết.
Chẳng rõ từ lúc nào, tôi bắt đầu lặp đi lặp lại bản nhạc Sayuri từng đàn cho tôi nghe. Giờ này nó là bản nhạc của riêng tôi, chỉ dành cho tôi. Tôi chơi mãi bản nhạc không muốn chia sẻ cùng ai.
Qua một lúc lâu, cổ và khuỷu tay căng cứng, tôi dặt cây vĩ cầm xuống, nhẹ nhõm thở ra.
Tiếng động cùng tiếng người phát ra từ khu sinh hoạt chung bên kia cánh cửa. Cửa gỗ vừa mỏng vừa lỏng lẻo mở ra tự bao giờ.
Rika mặc đồ thường, đứng dưới ánh sáng mờ mờ của đèn huỳnh quang sắp hết đát, Cô đưa tay bưng miệng, mắt mở to ngạc nhiên. Trông cô như đang khóc, dù không thấy nước mắt.
“Mình lo nên...”
Tôi ra cửa, dịu dàng nói, “Sao thế?”
Rika ấp úng đáp. “Cửa mở... Nhìn Fujisawa ngồi một mình, mình rất sợ...”
“Sợ?” Tôi hỏi lại.
“Fujisawa, lúc ở nhà mặt bạn luôn rùng rợn như vậy à...?”
Tôi nhẹ nhàng đưa tay, định nắm lấy khuỷu tay cô. “Đứng đây là bị cảm đấy. Vào đi.”
“Không.” Cô lùi ra xa. “Fujisawa đâu muốn mình vào.”
Tôi im lặng, hạ tay xuống, “Không có chuyện đó đâu.”
“Nói dối!”
Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Mọi thứ xoay chuyển nhanh quá...
Vấn đề là những gì cô nói đều đúng.
“Sao Fujisawa lại như thế? Vì cớ gì bạn vẫn cô đơn? Có mình ở đây mà...”
“Trước tiên... Để mình đưa bạn về đã.”
“Khỏi cần.”
“Quanh đây đường tối lắm, trị an cũng không tốt.”
“Mình không thích!”
Rika quay gót chạy đi. Tôi im lặng lắng nghe tiếng cô bước xuống cầu thang.
Tôi đứng yên tại chỗ hồi lâu.
Tôi không muốn ở nhà nữa. Mặc áo khoác đồng phục, tôi khóa cửa, ra ngoài. Cái lạnh mùa đông thật dễ chịu. Tôi lang thang giữa khu dân cư cũ kĩ nhem nhuốc quanh kí túc.
Khu này nhiều nhà gỗ cũ nên thường xuyên có công trường xây dựng. Trong lúc tôi không hay biết, lại thêm một ngôi nhà cổ bị dỡ bỏ, biến thành bãi đất trống. Vật liệu đã tháo dỡ chưa được chuyển đi, chất đống cao ngất. Mảnh đất được vây kín bởi hàng rào kim loại.
Căn nhà đã thành đất trống nên tôi có thể nhìn thấy quang cảnh đằng xa. Bên kia hàng rào là rừng tháp chọc trời của Nishi-Shinjuku. Trong bóng đêm, những tòa nhà màu xanh lá cùng khách sạn sang trọng phung phí năng lượng để thắp sáng bản thân. Gần như mọi cửa sổ đều sáng đèn. Khung cảnh thật đẹp. Tuy có phần phản cảm đối với tôi, nhưng nó thực sự đẹp.
Nhưng hàng rào vướng quá.
Tôi bỗng kích động, túm lấy hàng rào.
Cái gì thế này? Sao vật này lại ở đây? Vì nó mà tôi bị bỏ lại một mình. Tại sao tôi lại bị cản trở? Tại sao tôi không thể sang bên kia?
Tôi lắc mạnh hàng rào. Kim loại kêu lên chát chúa, oằn mình nghiêng ngả. Tôi tống nắm đấm vào nó. Vì thứ này mà tôi và Rika không thể tiếp tục ở bên nhau.
Nhưng thật ra tôi hiểu. Hàng rào ngăn cách tôi với thế giới không phải do người ngoài dựng lên. Nó không ở ngoài mà nằm trong tôi. Chẳng phải thế giới đóng cửa với tôi, mà là tôi quay lưng với thế giới. Chính tôi từ chối Rika. Thành phố này đã cố gắng dung nạp tôi, Rika cũng muốn đón nhận tôi.
Nhưng tôi cự tuyệt tất cả.
Velaciela.
Tôi nghĩ đến chiếc phi cơ trắng. Nó là công cụ để tôi vượt qua trở ngại. Sức mạnh giúp tôi vượt qua hàng rào nằm ở đó. Tôi đã dồn hết tâm sức vào nó. Khi quyết định không cho nó bay, tôi đã tự nhốt mình vào một chiếc hộp con con.
Tôi biết mình đã phạm sai râm chí mạng. Lẽ ra tôi phải cho nó bay bằng mọi giá. Tôi đã gói ghém tất thảy những thứ giúp tôi tiếp tục sống trong Velaciela, rồi bỏ mặc nó.
Tuyết rơi.
Bên ngoài tuyết đang rơi, nhưng người trong phòng làm việc của nghiên cứu sinh phòng nghiên cứu Tomizawa tại Học viện quân sự Aomori chẳng cảm nhận được, vì ở đây không có cửa sổ, nhằm mục đích bảo mật.
Trong phòng chỉ có Takuya và Maki. Nhà xa nên Takuya hay ngủ lại trường. Ở phòng nghiên cứu có gian nghỉ và buồng tắm đàng hoàng nên không về nhà vài ngày cũng chẳng sao. Ngược lại, ngày nào Mâki cũng về muộn vì lý do nhà gần. Chị chủ tâm ở lại cùng khung giờ với Takuya, nhưng Takuya giữ ý, vờ như không biết.
Khi giáo sư Tomizawa bước vào, Takuya đang pha cà phê trong phòng uống nước.
“Maki, có quyết định di chuyển bệnh nhân rồi.
Chắc sẽ phát sinh nhiều việc linh tinh lắm, nhờ cả vào em nhé.”
“A, thật ạ? Chúc mừng thầy.” Maki rạng rỡ nói.
“Thật tình, phòng nghiên cứu ở chính quốc lắm chuyện quá, toàn gây cản trở nên mất tận nửa năm từ lúc phát hiện đến lúc đưa về chỗ chúng ta. Tại bọn họ mà đối tượng thí nghiệm quan trọng mới chuyển đến chỗ bất ổn này vào đúng thời điểm biến động. Chán thật. Tuy than phiền nhưng giọng giáo sư Tomizawa nhẹ tênh.
“Nhưng nhờ đây nghiên cứu về tháp có thể sẽ tiến triển rõ rệt.”
Nghe thế, Takuya ló đầu ra khỏi phòng uống nước.
“Thưa thầy, bệnh nhân là...”
Nhìn thấy Takuya, giáo sư Tomizawa thoáng bối rối. Takuya khổng hiểu vì sao.
“Côngchúa ngủ trong rừng ấy.”
“Công chúa...”
“Bệnh nhân mắc chứng ngủ lịm đặc biệt. Trước chị có nói với em về chứng ngủ rũ* năm 96 rồi mà.” Maki giảng giải. “Kì lạ lắm. Sóng não kiểu đó vốn không thể bắt gặp ở người thường. Chưa kể, dao động sóng não và hoạt động của ngọn tháp trùng khớp đến khó tin.”
“Ồ...”
“Thầy tìm thấy bệnh nhân trên Tokyo đầu mùa thu.” Giáo sư Tomizawa nói. “Ngủ sâu suốt ba năm từ khi phát bệnh, không tỉnh giấc lần nào. Khi so sánh ghi chép sóng não và ghi chép hoạt động của ngọn tháp, thầy rùng mình. Có thể phòng nghiên cứu của chúng ta cũng cần bổ sung hệ thống bảo vệ đó...”
“Phát hiện tuyệt vời thật. Em mới nghe nói lần đầu ạ.”
“Đương nhiên. Đây là phần do nhóm nghiên cứu khoa học não của Maki phụ trách mà. Thầy lại sắp phải lên Tokyo một thời gian để lo thủ tục.” Rồi ông nói với Maki. “Nhờ em chuẩn bị phòng bệnh đặc biệt nhé.”
“Vâng,” Maki đáp.
Điện thoại trong túi Takuya rung lên. Tin nhắn của ông Okabe. Nội dung không có gì đặc biệt, chỉ hỏi han tình hình, thực chất là ám hiệu tập hợp.
“Tưởng ai, ra là anh Okabe.”
Maki nghiêng người ngó vào màn hình điện thoại rồi nói. Giọng cô nghe có ý thở phào.
“Shirakawa này, gần đây Oka có khỏe không?” Giáo sư Tomizawa đột nhiên hỏi. Takuya bất giác ngẩng đầu lên.
“Thầy quen bác Okabe ạ?”
“Quen lâu lắm rồi ấy chứ. Hồi tháng Chín bọn thầy cũng tình cờ chạm mặt ở Tokyo. Cậu đến để chế nhạo buổi công bố kết quả nghiên cứu.”
“Ồ...”
“Thật ra bọn thầy là bạn học cấp ba.”
“Từ hồi đó cơ ạ?”
“Đúng thế.” Giáo sư Tomizawa mỉm cười sâu xa. “Đến tuổi này, bạn bè như vậy quý lắm. À không, tuổi tác chẳng liên quan...”
Biển sáng sớm lạnh buốt. Dù đã sang tháng Ba, thời tiết ở Tsugaru vẫn chưa có dấu hiệu bớt khắc nghiệt.
Takuya cùng ông Okabe và ba nhân viên xưởng Emishi lên tàu cá, ra biển Tsugaru. Nhân viên xưởng Emishi đều là người của Uilita. Năm người ngồi trong cabin, lắng nghe tiếng động cơ nổ đều đều. Chỉ có Takuya căng thẳng ra mặt. Cậu liên tục đan các ngón tay vào nhau rồi lại buông ra.
Tàu cá đang hướng tới mũi Shirakami, điểm cực Nam của lãnh thổ Liên bang.
Ezo.
Hokkaido...
Mồ hôi chảy đầy tay Takuya.
Tàu dừng lại bãi neo đậu gần mũi đất.
“Cháu cứ mơ có ngày đến được Ezo. Không ngờ lại dễ thế này.”
Takuya nói trên boong tàu. Chú Sato uống một ngụm cà phê lon lạnh ngắt rồi bảo.
“Đây mới là cực Nam Ezo thôi. Nhà có ai bên Liên bang à?”
“Không ạ...”
“Đúng rồi. Chú mày ra đời sau chia cắt mà.”
Chú Sato đứng dậy, nhìn về đảo Honshu khuất sau bóng tối mờ mịt.
“Liên bang là đất nước của công nghệ. Chú cũng hiểu cảm giác ngưỡng mộ của chú mày. Nhưng cảm nhận của người có gia đình ly tán vì Bắc-Nam chia cắt như giám đốc lại khác.”
“Ơ... Vậy ạ?”
“Phải. Hơn hai mươi năm nay anh ấy không liên lạc được với vợ.”
“Bác Okabe...”
Takuya nhìn chiếc xe hơi hạng sang đỗ ở góc cảng.
Khoảng cách khá xa nên khó nhìn rõ, nhưng ánh đèn yếu ớt trong xe đủ để cậu thấy ông Okabe ngả người uể oải ở ghế sau. Cạnh ông là một người mặc quân phục Liên bang, đội mũ Nga. Hai người đang bí mật trao đổi thông tin. Quân nhân kia là lính thám báo, tay trong của Uilita. Cuộc nói chuyện xoay quanh việc xác nhận lộ trình xâm nhập Liên bang bằng đường không.
“Nhưng bất ngờ thật.” Chú Sato đột ngột lên tiếng.
“Chuyện gì ạ?”
“Chú không nghĩ giám đốc lại lôi chú mày vào cuộc.”
“Cháu phải ép bác ấy đấy ạ. Cháu bảo nếu không để cháu giúp, cháu sẽ báo cảnh sát.”
“Thằng này, dám làm chuyện nguy hiểm như thế...” Chú Sato kinh ngạc. Người gặp nguy hiểm ở đây dĩ nhiên là Takuya.
Đúng lúc đó... Ba tiếng nổ khô khốc lần lượt vang lên.
Sống lưng Takuya lạnh toát. Là tiếng súng.
Takuya và chú Sato phản ứng cùng lúc. Nhân viên trong buồng lái lập tức chuẩn bị cho tàu rời càng.
Kính chắn gió xe nứt chẳng chịt như mạng nhện. Thiệt hại may mắn dừng lại ở mức đó là do ô tô được trang bị kính chống đạn. Tài xế gấp rút lùi xe tránh đạn. Xe tấp vào sườn một gian nhà kho, ông Okabe lập tức lao ra từ ghế sau, chạy thẳng về tàu. Tiếng súng đuổi theo ông.
“Đừng có đùa!”
Một viên đạn sượt qua cánh tay, xé toạc da ông Okabe, nhưng ông mặc kệ, tiếp tục chạy. Xe thám báo rút lui theo hướng khác, bị xe cỡ lớn của bên truy đuổi bám sát. Có tiếng nhả đạn của súng phóng lựu. Vụ nổ xảy ra ngay giữa khu nhà kho. Ông Okabe nhảy được vào thuyền gần như cùng lúc ngọn lửa đen ánh đỏ pha khói đặc trưng do xăng bén lửa tạo thành bùng lên.
“Đúng là một đám viên chức ngu ngốc. Gián điệp bị lộ rồi... Cho tàu chạy đi!”
Nghe hiệu lệnh của ông Okabe, tàu cá lập tức rời cảng. Xử lý xong xe thám bảo, kẻ tấn công quay lại nhắm vào tàu cá. Súng máy nã đạn như mưa lên thân tàu, nhưng mọi người đều đã lánh vào cabin. Tàu cá phóng hết tốc lực về phía Nam. Tiếng súng bán tự động dai dẳng phát ra từ bãi neo đậu, vang vọng vô nghĩa trên mặt biển rồi tan biến.
“Lần này nguy hiểm thật.” Chú Miyakawa nói trong lúc thành thạo băng vết thương cho ông Okabe.
“Ừ, nhưng ta đã có manh mối về lộ trình xâm nhập.” Ông Okabe bảo Takuya. “Coi như bõ công đến tận đây, nhỉ?”
Câu trả lời của Takuya bị thông báo từ buồng lái át mất, “Giám đốc! Có tàu! Tàu tuần tra!”
“Cái gì!?”
Ông Okabe huỳnh huỵch bước vào buồng lái, nhìn ra biển. Một chiếc tàu quân sự đang đuổi theo, chạy gần như song song với tàu cá. Còi báo động hú vang kèm lời cảnh báo bằng tiếng Nga. Chẳng hiểu tiếng Nga cũng đoán được nội dung. Chiếc tàu tuần tra sơn trắng to gấp nhiều lần tàu cá. Mức chênh lệch kích thước lớn hơn cả người trưởng thành đứng cạnh trẻ con, chưa kể nó còn chạy nhanh hơn.
Ông Okabe tặc lưỡi, “Đã xác định khai chiến mà còn ra vẻ làm việc nghiêm chỉnh. Chết dở... Cắt đuôi nó đi!”
“Rõ!” Nhân viên phụ trách lái tàu cao giọng đáp như muốn khích lệ chính mình.
“Ba phút nữa là về đến biên giới, phải cố cầm cự. Sato! Miyakawa! Ra bệ súng!”
Trước khi nhóm chú Sato kịp chuẩn bị phản công, hải pháo bên tàu tuần tra đã khai hỏa.
Âm thanh trầm đục rền vang. Riêng sóng âm đã đủ làm tàu cá nghiêng ngả. Đạn pháo đục lỗ trên hông tàu. Đối phương không hề có ý bắn cảnh cáo. Tiếp đó, súng máy đồng loạt nhả đạn. Dưới mưa đạn, vò tàu bằng gỗ bị chọc thủng chẳng khác gì tờ giấy.
Đạn bay theo phương ngang vào cabin, văng loạn xạ. Takuya hét lên, cúi thấp người. Thần chết bé nhỏ bay quanh cậu với tốc độ mắt thường không theo kịp.
Mắt cậu bỗng tối sầm.
Cậu tưởng mất điện, nhưng không phài. Cảm giác tê dại ập đến, biến thành cái lạnh, rồi đau. Cậu ngỡ cánh tay trái bị thổi bay, tuy nhiên hình ảnh lờ mờ trước mắt cho thấy nó còn nguyên. Chẳng biết đạn nảy hay một phần của con tàu bị bắn nát đã xuyên qua cánh tay. Chỗ Takuya tựa lưng trơn dính vì chất lỏng. Quần áo ướt sũng máu, khó chịu thật... Bên ngoài, tiếng súng máy vẫn rền vang tựa công trường xây dựng, nghe như âm thanh từ thế giới khác.
Ai đó đang gọi tên cậu.
Người đó giận dữ hỏi cậu có sao không.
Ai vậy?
Có vẻ là giọng trầm của ông Okabe, lại như không phải.
Takuya từ từ gục sang ngang. Nóc tàu gần như đã bị súng đạn thổi bay. Ánh bình minh xuất hiện giữa tầm nhìn bị thu hẹp. Không trung tối đen loáng thoáng sắc đỏ. Vầng dương vẫn chưa nhô khỏi đường chân trời.
Một cánh chim biển màu trắng bay trên cao, trông rất nhỏ, quả thật chỉ như hạt cát.
“Đừng bay...”
Rồi cậu ngất đi.
Lúc đầu cô nghĩ đó là chim.
Cánh chim trắng muốt bay trên bầu trời âm u, nhạt màu dù không có lấy một gợn mây. Dấu hiệu của sinh mệnh. Sayuri đứng dậy. Nhìn kĩ thì đó không phải chim.
Là máy bay.
Máy bay trắng.
“Đôi cánh…Mình biết đôi cánh đó.”
Sayuri chạy theo. Vào khoảnh khắc cô dấn bước khung cảnh xung quanh biến đổi. Giờ đây cô chạy trong thành phố bỏ hoang. Cô tiến vào Tokyo, nơi mọi tòa nhà đổ nát, hoàn toàn vắng bóng người.
“Đợi đã! Velaciela!”
Mắt Sayuri chỉ dõi theo chiếc máy bay. Trong khi đó tôi lại bị thu hút bởi cảnh sắc phố phường. Quen quá. Tuy đã trở nên hoang phế, đây vẫn là nơi tôi hay đi dạo suốt ba năm.
Dù chạy bao lâu Sayuri vẫn không đuối sức. Nhưng cơ thể càng lúc càng nặng nề. Cô cô cảm giác cả người từ từ biến thành kim loại. Riêng gương mặt là không thôi ngẩng lên nhìn trời, kéo cơ thể về phía trước. Tôi có chung cảm giác với cô.
Velaciela bắt đầu lượn vòng.
Dường như nó đang đợi Sayuri đuổi theo.
Cô đứng lại.
Khung cảnh lại thay đổi.
Gió ngừng thổi. Sayuri bị vây quanh giữa bốn bức tường màu kem. Chỗ này là một phòng bệnh cứng nhắc, lạnh lẽo, không có sinh khí.
Phòng rộng, có khi đủ cho sáu người nằm, nhưng lại gần như trống rỗng. Chỉ có một chiếc giường bên cửa sổ. Cạnh giường là máy theo dõi thông số sinh tồn* cùng vài thiết bị y tế. Chốc chốc máy lại phát ra âm báo thể hiện nhịp tim.
Sayuri nhìn người nằm trên giường, kinh ngạc.
Đó là...
Chính là Sayuri.
Dù rất gầy, tóc dài ra khá nhiều, nhưng đó chính là thân thể của Sayuri.
Cơ thể cô đang ngủ.
Cô vẫn để tay che miệng, rụt rè lại gần.
Khó mà xác định cô có đang hô hấp hay không. Không nghe tiếng thở, ngực cũng chẳng lên xuống. Dấu hiệu duy nhất chứng minh sự sống của cô là âm báo nhịp tim từ máy theo dõi.
Mặt, Sayuri nghĩ. Khuôn mặt trưởng thành hơn so với hình dung của cô.
Sayuri đứng cạnh giường, trân trối nhìn xuống thân thể say ngủ của chính mình. Cô không biết mình ngủ thế này bao lâu rồi. Cô đã mất khái niệm thời gian. Có thể là một khoảnh khắc, cũng có thể là vài năm.
Cánh cửa trượt to nặng dàn ra hành lang bị kéo sang ngang, phát ra tiếng động. Một chiếc cáng đẩy tiến vào qua cánh cửa vừa mở. Theo sau là ba người đàn ông áo đen. Không ai nhận thấy sự hiện diện của Sayuri.
Họ tháo thiết bị y tế khỏi cơ thể Sayuri, lặng lẽ đặt cô lên cáng.
Giữa chừng, một người đàn ông mặc vest xám đi vào. Không rõ tuổi tác, chỉ biết ông đã đứng tuổi, rất gầy. Ông đứng quan sát từ xa. Mãi sau này tôi mới biết đó là giáo sư Tomizawa.
Cơ thể Sayuri bị đưa đi. Bánh của chiếc cáng kêu lọc cọc.
Sayuri bất lực chứng kiến tất cả.
Trước khi rời phòng, giáo sư Tomizawa quay đầu về phía cô, nhìn chăm chú.
Sayuri căng thẳng.
Thời gian ngừng trôi một lúc.
Giáo sư Tomizawa bước đi. Cánh cửa nặng nề đóng lại, phát ra âm thanh vô cảm. Ánh đèn và tiếng động tràn vào từ hành lang ngưng bặt. Chỉ còn tường, sàn và trần nhà lạnh lẽo.
Lần này cô thực sự bị giam cầm trong một chiếc hộp vuông tĩnh lặng, vắng bóng sự sống.
Cô lại đơn độc.
“Giấc mơ vừa rồi... là sao...”
Tôi ngồi dậy, lẩm bẩm. Bếp sưởi bằng ga bị đặt ở nhiệt độ cao quá lâu kêu rè rè. Trong lúc ôn thi, tôi đã úp mặt xuống bàn mà ngủ lúc nào không hay. Bên ngoài trời đã sáng.
Velaciela.
Bệnh viện.
Tôi chưa từng gần cô đến thế. Trong mơ tôi là Sayuri. Không... Diễn đạt vậy chưa đúng. Ở đó, tôi là một sự tồn tại vô hình rất gần mắt Sayuri. Điểm nhìn ấy cho phép tôi cảm nhận mọi thứ như thể mình chính là Sayuri.
Tôi không nghĩ đó đơn thuần là mơ.
Tôi chẳng mấy hứng thú với việc giải mã các giấc mơ hay tìm hiểu điềm báo thông qua chúng, nhưng cứ thấy lấn cấn. Vừa ngủ dậy nên đầu óc chưa kịp tỉnh táo, tôi bèn mở cửa sổ kiếm thêm ô xi. Không khí tươi mới lành lạnh ban sớm ùa vào phòng.
Nhác thấy thứ gì đó động đậy, tôi giật mình. Nó màu trắng nên trong một giây tôi đã nghĩ đến Velaciela. Hóa ra là phong bì ông Okabe gửi, lúc này đã nhàu nhì mà vẫn chưa được mở. Tôi cầm lấy món đồ vừa bị gió thổi bay phất phơ.
Tôi đặt nó lên bàn học, nhìn chăm chú một hồi.
Giấc mơ thôi thúc tôi mở thư. Nhưng khi nắm dao rọc giấy trong tay, lòng tôi nặng trĩu không cách nào ngăn được. Tôi đứng dậy, đun nước, pha cà phê để bình tình lại.
Tôi dùng dao rọc phong bì. Bên trong là một phong thư nhỏ cùng một mẩu giấy nhớ. Mẩu giấy khác với giấy viết thư bình thường, trông như bị xé từ trang vở bằng thước kẻ. Thư rất ngắn. “Ta giật được từ người quen. Vất vả lắm đó. Về đây nói tiếng cảm ơn đi.” Chỉ có thế.
Dưới những dòng này là ba chữ “Nơi nhập viện”, kèm địa chỉ và tên bệnh viện.
Bệnh viện Tổng hợp Đường sắt Quốc gia ở Shibuya. Khoa thần kinh.
Nơi nhập viện?
Tôi kiểm tra phong thư. Có dán tem nhưng không thấy dấu hủy. Nghĩa là nó chưa được gửi qua bưu điện. Địa chỉ người nhận là Okawadai, quận Tsugaru, tinh Aomori. Gửi ông Okabe, Fujisawa Hiroki, Shirakawa Takuya...
Linh cảm khiến tôi rùng mình.
Tôi lật mặt sau, xem tên người gửi.
Mồ hôi đột ngột túa ra.
Hiroki. Takuya. Mình xin lỗi vì đã lẳng lặng bỏ đi.
Lá thư mở đầu như vậy.
Mình rất tiếc vì không thể cùng hai bạn tận hưởng kì nghỉ hè như mong muốn. Mình tỉnh giấc trong bệnh viện ở Tokyo và vẫn nằm viện suốt thời gian qua. Bác sĩ bảo mình phải cắt đứt mọi mối quan hệ từ trước tới giờ để chú tâm vào việc điều trị, như vậy tinh thần sẽ thoải mái hơn, bệnh mới nhanh khỏi. Nhưng mình đã tìm mọi cách xin được viết lá thư này. Có lẽ lời bác sĩ là đúng, song với mình, giải thích ngọn ngành cho hai bạn quan trọng hơn.
Mình định gửi thư đến chỗ bác Okabe để hai bạn cùng đọc. Nhưng mình chẳng biết nên viết gì nữa. Mình bối rối lắm.
Bác sĩ bảo mình bị bệnh. Nhưng mình không sao quen được với chuyện đó. Hễ mình thức dậy trong phòng bệnh là bác sĩ lại chạy đến, chắc nhờ máy móc theo dõi. Mình mắc chứng rối loạn giấc ngủ, nên ai nấy đều ngạc nhiên mỗi lúc mình tỉnh giấc. Một khi đã ngủ, mình ngủ suốt nhiều tuần, nhiều tháng.
Mình mơ một giấc mơ hết lần này đến lần khác.
Giấc mơ chỉ có mình mình giữa vũ trụ trống rỗng không người. Trong mơ, cả cơ thể mình, từ ngón tay và má, móng và gót chân, cho đến chân tóc, đều đau đớn vì cô đơn.
Mình bắt đầu nhớ nơi ấy, nơi ba chúng ta bên nhau.
Chốn ngập tràn hơi ấm cùng quãng thời gian ba chúng ta từng chia sẻ cũng như mơ vậy.
Mình sắp không phân biệt được mơ và thực nữa rồi. Màu tường phòng bệnh, khung cảnh khu vườn dưới cửa sổ trở nên mờ ảo. Đôi khi mình còn nghĩ, biết đâu mình cũng là một giấc mơ. Chảng rõ liệu mình có thật sự tồn tại hay không.
Những lúc như thế, mình nhớ tới nhà ga trên núi.
Giờ đây mình chỉ muốn nhớ về nơi ấy. Phải chăng trong suốt quãng đời mình đã sống, đó là khoảng thời gian hạnh phúc duy nhất?
Thời gian mình ngủ ngày càng dài. Không biết lần tỉnh giấc tiếp theo là bao giờ. Cũng có thể mình sẽ không thức dậy nữa.
Nhưng chừng nào chưa đánh mất thời gian cùng kỉ niệm ba chúng ta bên nhau, mình vẫn giữ được sợi dây kết nối với hiện thực, dù mong manh. Mình nghĩ vậy đó. Mình không dám chắc đâu là hiện thực, nhưng với mình, đó là hai bạn.
Hiroki, Takuya, và chiếc máy bay trắng đẹp đẽ...
Đọc tới đây, tôi nhắm mắt, muốn dừng lại nhưng không thể.
... đã an toàn bay đến ngọn tháp bên kia đại dương chưa?
Ngày tháng trong thư thuộc về mùa đông ba năm trước. Đọc xong, tôi uống cà phê. Rồi tôi xem lại từ đầu. Tâm trạng quá kích động, tôi phải đọc thêm lần nữa để nghĩ thông.
Cuối cùng tôi cũng đón nhận nội dung bức thư. Tôi thay đồ, mặc áo khoác rồi ra khỏi nhà. Tôi đếm từng bước trên con dốc có hàng rào men theo kênh nước, leo lên cầu thang đá uốn lượn. Tôi đón tàu tuyến Yamanote ở ga Shinjuku. Ngồi xuống ghế, tôi lấy lá thư ra đọc lại.
Trong mơ, cả cơ thể mình, từ ngón tay và má, móng và gót chân, cho đến chân tóc, đều đau đớn vì cô đơn.
Câu đó khiến tôi bận lòng, không rời mắt ra được. Hệt như cô đang thay tôi giãi bày nỗi lòng. Đúng, tôi cô đơn. Ở thành phố hơn ba mươi triệu người này, tôi cô đơn đến cùng cực.
Chẳng mấy chốc tàu đã vào ga Shibuya. Tôi bắt xe buýt, đi thêm khoảng mười lăm phút đến Bệnh viện Tổng hợp Đường sắt Quốc gia. Tôi băng qua khu vườn rộng trước tòa nhà, tiến vào trong, tìm sơ đồ chỉ dẫn rồi xem thật kĩ. Khoa thần kinh nằm ở tầng sáu. Tôi đi lên bằng thang máy.
Giờ thăm bệnh bắt đầu từ chiều, nhưng tôi mặc kệ, ra thẳng quầy lẽ tân hỏi.
“Bệnh nhân Sawatari Sayuri chuyển viện rồi.” Y tá trà lời ngay, chẳng cần kiểm tra giấy tờ.
“Chuyển viện?” Tôi cuống cuồng hỏi lại, nhoài cà người vào quầy.
“Phải, một tuần trước. Cậu có thể hỏi chi tiết ở nơi bệnh nhân chuyển đến. Ừm...”
Tôi không mang theo sổ tay hay bút nên đành nhờ y tá ghi lên giấy nhớ. Tôi nói cảm ơn, nhận tờ giấy rồi bỗng nhớ ra một chuyện, bèn hỏi thêm.
“Em có thể xem phòng bệnh bạn Sawatari từng nằm không ạ?”
Hành lang khoa thần kinh tối lờ mờ, sàn lạnh ngắt. Bầu không khí gai người đặc trưng của bệnh viện như dồn cả về đây. Phải chăng não hay thần kinh cần đến sự u ám lẫn cái lạnh kiểu này? Tôi đi dọc hành lang trước giờ thăm khám, dừng lại trước phòng bệnh y tá chỉ.
Trên tường không có biển tên. Trước mắt tôi là cánh cửa trông khá nặng cùng màu với bức tường. Đây là loại cửa trượt có thể bít kín hoàn toàn căn phòng. Tôi nắm lấy tay cầm hình trụ, dồn sức kéo nó sang ngang.
Tôi bước vào. Cửa tự đóng nhờ sức nặng sẵn có, căn phòng biến thành một cái hộp vuông. Đèn không bật, nguồn sáng duy nhất là cửa sổ. Ánh sáng từ cửa sổ chiếu rọi chiếc giường độc nhất. Giường trống.
Chắc chắn đây là phòng bệnh của Sayuri mà tôi thấy trong mơ.
Tôi chầm chậm nhìn quanh, tiến ra giữa phòng.
Cái hộp đóng kín, vậy mà tôi lại nghe tiếng gió.
Cơn gió giống như trong mơ, cố mùi cũ kĩ như thể thổi tới từ thế giới khác.
Hơi thở phảng phất.
Chiếc máy bay xinh đẹp màu trắng...
“Sawatari.”
Tôi thử thì thầm gọi tên cô. Trong mơ, Sayuri đã ở đây.
Hướng về ngọn tháp bên kia đại dương...
“Sawatari, bạn có đó không?”
Tôi vươn tay vào khoảng không trống vắng.
Đúng lúc ấy, mọi thứ trước mắt tôi tan biến. Bốn bức tường cháy rụi trong chớp mắt. Bệnh viện không còn. Khung cảnh xung quanh bị hoán đổi với thế giới khác.
Tôi đứng giữa không gian mênh mông.
Thảo nguyên. Thảo nguyên chỗ nhà ga bỏ hoang.
Tất cả vẫn vẹn nguyên nhưt rong kí ức. Cây cầu bộ hành cũ nát do mưa gió, sân ga bê tông xây dở, bầu trời rộng, đường chân trời thấp...
Một đợt sóng kích động khẽ cuộn lên, lan khắp cơ thể. Tháp Liên bang bên kia đại dương bốc cháy đỏ rực. Biển lửa hừng hực khiến không gian xung quanh nhuốm đỏ tựa hoàng hôn. Gió thổi, thảm cỏ gợn sóng. Không có tuyết, mặt đất xanh rì. Đây là cảnh sắc mùa hè. Ngọn gió đầy sức sống đang thổi.
Thế rồi, cô xuất hiện trước mắt tôi. Cô gái tôi hằng kiếm tìm.
Mái tóc dài lay động.
Cô nắm lấy đầu ngón tay tôi chìa ra.
Sayuri đứng đó. Đầu ngón tay tôi chạm vào ngón tay cô. Đây không phải giấc mơ bất định thường thấy. Không, có lẽ là mơ thật. Nhưng tôi lại cảm nhận được cô, rõ ràng như ở thực tại. Gió thổi, cỏ ướt, hương hoàng hôn đưa tới từ cuối trời. Và Sayuri hiện diện ngay phía trước đầu ngón tay tôi.
“Mình tìm bạn mãi...” Cô nói. Không, có thể là tôi nói. “Mình cô đơn... Lạnh nữa, Hiroki...”
“Mình biết.” Tôi nói.
Cô bưng mặt, khóc không thành tiếng.
Tôi lặng lẽ ngắm bờ vai mảnh dẻ, từng sợi tóc mỏng manh cùng bàn tay bé nhỏ cùa cô.
Bầu trời mang màu đỏ ấm áp như ngày cuối cùng tôi gặp Sayuri.
Tiếng ve kêu văng vẳng đâu đây.
Sayuri ở trước mắt tôi.
Tôi thấy hô hấp khó khăn, phải thở sâu liên tục. Ra vậy, cảm xúc trào dâng là thế này ư...
Nhưng tôi cũng hiểu đây không phải hiện thực. Đây là mơ. Hoặc cái gì đó tương tự. Nơi này chỉ là giao điểm kì diệu giữa, ý thức của tôi và cô, chỉ là ảo ảnh chúng tôi tình cờ chia sẻ.
Dẫu biết vậy, tôi vẫn đắm chìm trong giây phút này. Tôi muốn ở bên Sayuri cho đến ngày tàn cùa thế giới. Tôi nghĩ mình có thể.
Nhưng...
Tôi nên chọn cách khác. Tim tôi đau thắt.
Tôi từ từ nhắm mắt, rồi mở ra.
Thế là tôi và Sayuri đứng bên nhau trên cây cầu bộ hành, nơi hai đứa từng rơi xuống.
Tôi có thể nhìn xuống biển. Mặt nước phủ sương mù trông tựa biển mây. Ánh sáng đỏ loang ra từ ngọn tháp nhuộm đỏ biển mây ấy.
Ánh chớp trắng đỏ bùng ra từ bụng tháp giữa lúc nó bốc cháy. Ngọn tháp vẫn đứng thẳng tắp trong ngọn lửa, thản nhiên, xinh đẹp. Tôi và Sayuri cùng chăm chú ngắm cảnh tượng đó.
“Mình sẽ đến đón bạn. Tôi nói. “Mình muốn đường hoàng gặp lại bạn. Không phải ở đây, mà ở nơi khác chân thực hơn. Mình muốn chạm vào bạn. Mình muốn được bạn chạm vào. Mình muốn tận tay xác nhận sự tồn tại của bạn. Vì thế...”
Sayuri lo lắng nhìn tôi.
“Mình đi đây.”
Sayuri im lặng.
Tôi sẽ ra khỏi cơn mê này. Tôi biết phải làm gì tiếp theo rồi.
“Bạn đi đâu?” Sayuri nhỏ giọng hỏi. “Bạn sẽ đến đâu?”
“Đến chỗ Sawatari.” Rồi tôi chỉ thẳng vào ngọn tháp. “Chỗ đó.”
Tôi và Sayuri được kết nối bởi lời ước hẹn.
Đó là sợi dây duy nhất gắn kết chúng tôi.
“Sawatari, lần này mình nhất định sẽ hoàn thành lời hứa. Mình sẽ cho Velaciela bay lên, đưa Sawatari đến tháp. Làm thế, chúng mình có thể gặp lại. Không phải trong mơ như thế này, mà ở nơi hai ta có thể cảm nhận nhau rõ hơn.”
Sayuri im lặng.
“Mình hứa.” Tôi vô thức siết chặt bàn tay đến mức thấy đau.
Đang ngước lên nhìn tôi chăm chú, Sayuri bỗng cúi đầu, bưng lấy khuôn mặt. Cô òa khóc thành tiếng như đứa trẻ, vai run rẩy. Cô dùng hai ngón trỏ dụi mắt nhiều lần, gạt đi dòng lệ. Rồi cô nói bằng giọng nức nở ngắt quãng, “Ừ... Bạn hứa nhé...”
“Mình cùng nhau bay đến tháp nhé.”
Bầu trời vẫn đỏ. Thế giới của Sayuri luôn mang sắc đỏ. Tôi mường tượng cảnh Velaciela màu trắng bay trên không trung màu đỏ, nhỏ xíu tựa dấu chấm, hệt như chú mòng biển đi lạc. Từ tận thâm tâm, tôi thầm cầu mong cánh chim lạc đường trong mơ sẽ bình an về lại bầy.
Tôi đứng một mình trong phòng bệnh trống rỗng, có thể đó chỉ là giấc mơ ban ngày. Nhưng hơi ấm của Sayuri vẫn còn trên đầu ngón tay. Hơi ấm nhỏ nhoi đó tiếp tục sưởi ấm cơ thể tôi. Tôi chùi mạnh tay áo lên mặt.
Vào cái ngày xa xôi ấy, chúng tôi đã lập lời hẹn ước không thực hiện được. Đến giờ phút này, ngọn tháp trắng nhìn từ thảo nguyên nơi có nhà ga bỏ hoang vẫn tỏa sáng rực rỡ trong tâm hồn tôi.