Sau khi đã lếch thếch lôi cái xác mụ Maggot xuống cầu thang để đưa ra xe bò, Bruce cho người lính gác năm ghi-nê để đừng báo cáo với tòa thị chính, vì chàng không muốn có người hộ lý nào khác đến nhà nữa. Chàng đã cảm thấy khá khỏe để chăm sóc Amber, dù cho có gặp khó khăn.
Sáng hôm sau Bruce thấy mụ Maggot đã để lại một cái bếp còn tồi tệ hơn mụ Sykes. Rau và hoa quả đã thối rữa. Thịt chỉ còn lại là một đống giòi, bánh mì thì phủ mốc xanh. Không còn gì có thể ăn được; chàng chưa đủ khả năng để lập lại trật tự trong bếp, chàng nhờ người lính gác đi mua những thức ăn làm sẵn trong một khách sạn gần đấy.
Dần dần, Bruce trở nên khỏe khoắn hơn, chàng đã đủ sức để lau toàn bộ căn phòng. Vào một ngày, khi Amber còn đang ngủ, chàng đã mang cô sang cái giường lớn vừa mới được dọn dẹp xong, còn chàng thì nằm ở cái giường con. Cả hai đều vui đùa về tài bếp núc của chàng. Lần đầu tiên thấy cô cười thoải mái là vào một buổi sáng tỉnh dậy thấy chàng trần truồng như nhộng, trừ một cái khăn quấn quanh thắt lưng, đang lau sàn.
Chẳng bao lâu chàng đã đi ra ngoài được, làm nhiệm vụ một mình, vì người lính gác đã rút về, chàng thấy phố xá vắng ngắt và trống rỗng.
Số người chết theo nhịp độ 10.000 một tuần và còn hơn thế. Thật đáng ghê sợ, số những người chết, một tỷ lệ rất cao không được thông báo. Những chiếc xe bò đi trong mọi giờ, thế mà vẫn còn hàng trăm xác chết ngổn ngang trong các phố và những nơi công cộng, nhiều khi hàng tuần liền để bầy chuột cắn xé.
Vào trung tuần tháng Chín, Amber đã khá khỏe có thể dậy được và hàng ngày ra ngồi ngoài sân. Những lần đầu, Bruce phải bế cô lên xuống, chẳng bao lâu cô đề nghị được đi một mình, cô mong được khỏe để rời bỏ thành phố này. Cô cho rằng Luân Đôn bị Trời đất trừng phạt, tất cả những người ở lại trong đó đều bị kết tội chết. Dù đã khỏe nhiều, cô vẫn bi quan rầu rĩ. Trái lại Bruce hoàn toàn bình phục, đã lấy lại được lòng hăng say và tin tưởng, chàng tìm mọi cách làm cô vui, điều đó thật không dễ dàng.
Một buổi sáng, khi hai người ở ngoài sân, chàng nói:
- Anh tin là anh đã tìm được cách để thoát khỏi thành phố này.
Chàng ngồi, trên một viên đá đối diện với Amber, mặc quần đùi và áo sơ mi, mớ tóc xõa xuống trán, mỉm cười nhìn cô và hấp háy mắt vì ánh nắng mặt trời.
- Như thế nào? - Cô hỏi.
- Chiếc thuyền buồm của Almsbury vẫn còn ở đây, bỏ neo dưới chân cầu thang, ta có thể đem theo lương thực cho nhiều tuần lễ, vì nó khá lớn.
- Nhưng đi đâu? Chúng ta không thể đi dạo chơi trên mặt biển bằng một chiếc thuyền buồm bé tí tẹo được.
- Chẳng cần phải thử nữa. Chúng ta sẽ ngược dòng Thames đến triều đình Hampton, phía bên kia Windsor và Maidenhead. Đến khi đã khá khỏe, không còn sợ truyền bệnh nữa, ta sẽ đến lãnh địa của Almsbury.
- Nhưng anh đã nói là các tàu thuyền không được phép rời bến cảng kia mà?
Chàng thấy kế hoạch đơn giản nhất hình như lại có những khó khăn không thể vượt qua được.
- Đúng thế. Phải thận trọng, ta sẽ đi vào ban đêm, nhưng em đừng có hoảng hốt. Anh chịu trách nhiệm. Anh đã bắt đầu…
Bruce ngừng lại vì thấy mắt Amber đang trừng trừng nhìn, đột nhiên mặt tái nhợt, đứng lên lắng tai nghe. Đến lượt chàng cũng nhận thấy từ xa có tiếng bánh xe bò lăn trên hè phố và tiếng đàn ông:
- Đem xác chết ra ngoài!
Amber khuỵu xuống, chàng vội ôm lấy cô đưa lên nhà, nhẹ nhàng đặt cô nằm lên giường, vài phút sau tỉnh lại, cô mở mắt ra nhìn chàng, hoàn toàn phụ thuộc vào chàng; trông chờ ở chàng: sức khỏe, niềm tin, và giải pháp cho tất cả những gì làm cô phải lo lắng. Đối với cô chàng vừa là người yêu, vừa là thần thánh, vừa là bố đẻ. Cô thì thầm:
- Không bao giờ em có thể quên được tiếng kêu rùng rợn ấy. Nghe rõ tiếng kêu ấy trong giấc ngủ và nhìn rõ những chiếc xe bò ấy trong giấc mơ - mắt cô rực sáng và hơi thở hổn hển - Hình ảnh rùng rợn ấy ám ảnh suốt cả cuộc đời em.
Bruce cúi xuống, đặt môi lên má cô:
- Amber, anh xin em, không nên nghĩ đến nó nữa. Không được nhắc đi nhắc lại những ý nghĩ đó mãi. Em phải quên đi. Em cần phải và có nghĩa vụ…
Ít ngày sau Amber và Bruce từ giã Luân Đôn trong chiếc thuyền buồm của Almsbury. Nông thôn thật thơ mộng. Cánh đồng ven sông phủ đầy nụ hoa vàng, những bụi cây xanh rờn và rừng hoa bách hợp ngâm mình trong nước. Cây cỏ nhiệt đới, từng đám hỗn độn, như những mớ tóc xanh phất phơ trước gió. Buổi chiều từng đàn gia súc nhìn họ đi qua, với con mắt bình tĩnh và trịnh trọng.
Con thuyền từ từ tiến lên vượt qua Hampton, Staines, Windsor và Maidenhead, họ dừng lại nghỉ ngơi ở những nơi có phong cảnh đẹp, rồi lại lên đường. Hai mươi bốn giờ sau khi từ biệt Luân Đôn đầy tang tóc, cảm giác như đi vào một thế giới khác, Amber lại sức với một tốc độ nhanh chóng kỳ lạ. Giống như Bruce cô xua đuổi khỏi ý nghĩ những hình ảnh rùng rợn ấy, mỗi khi chúng tái hiện, cô lại cương quyết đẩy lùi.
Cô tự nhủ: “Ta muốn quên đi, như không bao giờ xảy ra bệnh dịch”. Dần dần bệnh của Bruce, của cô, và tất cả những gì đã xảy ra từ mấy tháng qua lùi vào quá khứ như đã từ xa xưa lắm rồi. Đôi khi cô thấy hình như nó xảy ra với những người khác chứ không phải cho cô và Bruce. Cô tự hỏi, không hiểu Bruce có những phản ứng như vậy không, đó là điều kị giữa hai người, nên cô không dám hỏi chàng.
Amber lo ngại về hình thức, sắc đẹp của mình đã vĩnh viễn qua đi. Mặc dù đã được Bruce hết sức an ủi, cô vẫn khóc và buồn tủi, thất vọng mỗi khi soi gương. Cô than vãn:
- Trời ơi! Thà được chết đi còn hơn sống mà như thế này! Ôi, anh Bruce! Em biết là không bao giờ em còn được như xưa! Ôi! Em ghê tởm em lắm!
Thế là chàng ôm lấy cô, vuốt ve như với một đứa bé nhõng nhẽo:
- Chắc chắn là em sẽ lại được như cũ, em yêu! Nhưng em đã bị ốm nặng, cần phải kiên nhẫn chứ!
Vả lại, vừa mới lên tàu, sức khỏe của cô đã có những tiến bộ làm cho vẻ ngoài gần như bình thường.
Cả hai đều vui thích như chưa từng có, chỉ với một lý do đơn giản là họ vẫn còn sống. Họ nằm dài trên boong thuyền phơi nắng…
Dần dà họ xuống các làng mạc mua thức ăn, đôi khi còn ăn một bữa làm sẵn.
Amber rất lo lắng về Nan và bé Susanna, nhất là sau khi được biết là ở nông thôn cũng có bệnh dịch. Nhưng Bruce tìm cách để cô tin tưởng, là tất cả đều tốt lành.
- Nan là một người thông minh có thể hoàn toàn tin tưởng. Nếu có nguy hiểm, chắc chắn là chị ta đã đi nơi khác rồi. Hãy tin tưởng, em ạ. Không nên lo lắng quá lại phát ốm lên.
- Ôi! Em rất tin ở con người đó. Nhưng em không thể nào không lo lắng được. Ôi! Em sẽ sung sướng biết bao khi được tin bọn chúng vẫn mạnh khỏe và an toàn.
Tất cả những cảnh vật Amber thấy trên đường đi đều làm cho cô nhớ tới Marygreen, cuộc sống mà cô đã trải qua với cô Sarah và bác Matt. Cũng như Essex, đó là một vùng nông thôn trù phú gồm nhiều ấp trại thịnh vượng, làng mạc xinh xắn thanh bình.
Cô tìm cách giải thích cho Bruce những cảm nghĩ và nói thêm:
- Em không thể thấy được như vậy, chừng nào mà em không muốn quay về đấy. Chàng mỉm cười dịu dàng:
- Em già mất rồi, của báu của anh ạ!
Amber nhìn chàng ngạc nhiên và bực mình:
- Già rồi!!! Xin anh biết cho, em mới hai mươi hai tuổi đời, có vậy thôi!
Bruce cười:
- Anh không nói là em đã trở thành bà già, mà chỉ muốn nói là em đã sống khá nhiều năm để có những kỷ niệm, và những kỷ niệm thì bao giờ cũng ưu tư sầu muộn.
- Cũng có thể. - Cô suy nghĩ và thú nhận. Rồi đột nhiên cô ngẩng mặt lên nhìn anh nói tiếp - Anh Bruce, anh có tin là số phận của chúng ta đã gắn bó với nhau không? Bây giờ phải tin anh à!
- Tại sao bây giờ?
- Thì… tại sau khi tất cả những gì chúng ta đã cùng nhau trải qua. Tại sao anh ở lại để chăm sóc em? Sau khi anh khỏi bệnh anh đã có thể ra đi và để em ở lại một mình, nếu không phải là anh đã yêu em.
- Trời ơi! Amber! Em cho anh là một thằng khốn nạn xấu xa đến như thế nào! Nhưng tất nhiên là anh yêu em rồi. Và, về một phương diện nào đó, anh đồng ý với em là số phận chúng ta đã gắn bó với nhau - Chàng đưa hai cánh tay ra ôm lấy cô, lùa những ngón tay vào mớ tóc mềm mại của cô, môi chàng lướt qua môi cô. - Đây là điều anh muốn nói, em là một phụ nữ rất đẹp, và anh là một thằng đàn ông! Tất nhiên là số phận chúng ta gắn bó với nhau!
Mặc dù lúc này cô không muốn nhấn mạnh, đó là điều mà cô không muốn nghe. Lúc cô quên thân mình để ở lại Luân Đôn với chàng, cô không có một ẩn ý nào, và không mong ân huệ. Nhưng khi đến lượt chàng, chàng đã chăm sóc cô cũng dịu dàng âu yếm như một người mẹ, đã làm cô tưởng là chàng đã thay đổi ý kiến và thỏa thuận lấy cô làm vợ. Và cô đã chờ đợi, với một nỗi lo sợ ngày một tăng, chàng sẽ nói, nhưng chàng không nói gì cả.
Cô mong đợi một cách tuyệt vọng sẽ được nói với chàng, nhưng e rằng sẽ phá vỡ sự hòa hợp hoàn hảo tạm thời của cuộc sống hiện tại giữa hai người; cô chờ một dịp thuận lợi khác.
Thời gian trôi đi rất nhanh. Rặng ô-rô đã chuyển thành màu đỏ, những chiếc xe bò chở đầy trái cây chờ đợi trong các vườn, không khí đã trở nên tươi mát của mùa Thu. Mùa mưa đã bắt đầu.
Đến Abingdon họ rời thuyền lên bờ, ngủ đêm tại một quán trọ yên tĩnh. Cuối cùng rồi vợ chồng chủ quán cũng phải chấp nhận sức khỏe của họ sau khi Bruce đã biếu năm ghi nê, đó là gần hết số tiền mà lúc này hai người có. Sáng hôm sau họ thuê ngựa và người dẫn đường để đi về lãnh địa của Almsbury, cách đó chừng sáu mươi dặm. Họ đi theo đường cái đến Gloucester, qua đêm ở đó và hôm sau lại đi. Khi tới Barberry Hill vào giữa buổi sáng, Amber đã kiệt sức.
Almsbury từ trong nhà ra, vui mừng reo lên. Anh hôn Amber và giơ tay đấm vào lưng Bruce, kể cho hai người nghe mình đã cho đi tìm, không đoán được là hai người ở với nhau, anh đã lo lắng, và sung sướng biết bao được gặp lại họ còn sống và mạnh khỏe. Emily cũng tỏ ra rất hân hoan tuy không bộc lộ bằng chồng; rồi mọi người vào trong nhà.
Barberry Hill không phải là lãnh địa quan trọng nhất của họ nhà Almsbury, nhưng đó là cái độc nhất mà họ lấy lại được để cho gia đình ở.
Almsbury lập tức phái người đi tìm Nan về ngay. Sau khi Amber đã được nghỉ ngơi, mượn quần áo của Emily để thay, mọi người đi đến nhà trẻ. Đã hơn một năm nay hai người chưa được nhìn thấy con trai. Đứa trẻ đã lớn nhiều và thay đổi một cách đáng kể.
Bây giờ em đã bốn tuổi rưỡi, lớn so với tuổi, rắn rỏi và khỏe mạnh, đôi mắt cũng màu xanh hơi xám như Bruce, mái tóc satanh sẫm rũ xuống thành từng mớ bao quanh khuôn mặt. Em đã thay đổi quần áo - từ bốn tuổi trở lên bao giờ cũng vậy - quần áo mặc giống hệt Bruce Carlton cho đến thanh kiếm nhỏ xíu và cái mũ dạ rộng vành có cắm lông chim.
Những bộ quần áo kiểu người lớn cho trẻ con mặc, tượng trưng cho sự giáo dục bắt buộc đối với em, vì từ bây giờ em đã tập đọc, tập viết và học tính. Em cũng học cả cưỡi ngựa, khiêu vũ và dáng điệu. Chỉ ít lâu sau, em còn học thêm nhiều nữa: tiếng Pháp, tiếng La tinh, tiếng Hy Lạp, tiếng Hebrew, đấu kiếm, âm nhạc, thanh nhạc. Tuổi thơ ấu là rất ngắn ngủi, và tuổi thanh niên đến rất sớm, vì cuộc sống bấp bênh và không nên để mất thời gian.
Khi họ vào trong phòng trẻ, cậu bé Bruce đang ngồi cùng với con trai lớn của Almsbury, bên cái bàn nhỏ học vần. Rõ ràng là cậu bé có biết bố mẹ sắp đến thăm nên lúc cánh cửa vừa mở ra, cậu đã ngẩng nhanh đầu lên. Quyển sách học vần lăn xuống đất và cậu vui vẻ lao về phía họ. Nhưng với một câu nói gọn của cô giáo, cậu đứng phắt lại, ngả mũ ra và trịnh trọng nghiêng mình trước Bruce, rồi trước Amber:
- Thưa ông, tôi rất sung sướng được gặp ông. Và thưa bà!…
Nhưng Amber không để cho cô giáo kịp có ý kiến, đã lao đến quỳ xuống và ôm cậu bé trong tay, hôn lấy hôn để lên cặp má hồng của cậu bằng những cái hôn nồng cháy. Những giọt nước mắt long lanh trong mắt cô, những giọt nước mắt hạnh phúc và sung sướng.
- Ôi! Con yêu quý! Mẹ đã tưởng không bao giờ còn được thấy mặt con nữa!
Cậu bé đã quàng cánh tay nhỏ bé xung quanh cổ mẹ:
- Nhưng thưa bà, tại sao? Tôi đã tin chắc là một ngày kia sẽ được gặp lại bà mà!
- Thôi, quỷ nó bắt cô giáo đi! Đừng gọi mẹ là bà và đừng xưng hô tôi nữa. Mẹ là mẹ của con, mẹ muốn được con gọi như thế!
Cả hai mẹ con đều phá lên cười và cậu bé thì thầm “Mẹ” và đưa mắt lo lắng nhìn cô giáo. Đối với bố, cậu bé dè dặt hơn, hình như cậu có cảm giác là đàn ông với nhau, những biểu lộ tình cảm quá mức là không hợp. Nhưng rõ ràng là cậu rất mến cha, Amber có vẻ hơi ghen tỵ, nhưng cô lại tự trách mình ngay. Khoảng một giờ sau họ từ giã phòng trẻ, đi trong hành lang dài về phòng riêng. Đột nhiên Amber nói:
- Em thấy để con như vậy không nên đâu. Nó là đứa con hoang. Dạy con những tư cách của một nhà quý tộc để mà làm gì, khi nó lớn lên, có Trời mà biết được nó buộc phải làm gì!
Cô liếc nhìn chàng, nhưng chàng vẫn thản nhiên, khi tới buồng chàng mở cửa để cô vào. Cô quay nhanh lại và biết chàng muốn nói điều gì mà cô không thích.
- Amber, đã từ lâu anh muốn nói với em, anh muốn cho con làm người thừa kế anh. - Một tia hi vọng lóe lên trong mắt Amber, chàng vội nói thêm - Ở bên Mỹ sẽ không ai biết nó là con hợp pháp hay không, người ta sẽ cho nó là con người vợ trước.
Cô nhìn chàng ngờ vực và lùi lại như bị roi quất vào giữa mặt:
- Con vợ trước? Vậy là anh lấy vợ rồi à?
- Chưa. Nhưng rồi một ngày kia anh sẽ lấy…
- Như vậy có nghĩa là anh vẫn không có ý định lấy em?
Bruce im lặng một lúc lâu, bàn tay chàng giơ lên một cách vô tình rồi lại để rơi xuống; cuối cùng chàng nói:
- Không Amber ạ! Em biết rõ rồi đấy. Chúng ta đã nói đến chuyện ấy từ lâu rồi.
- Nhưng bây giờ khác. Anh yêu em, chính anh đã nói với em như thế! Và em biết điều đó là đúng. Ôi! Bruce, hay anh đã nói với em để…
- Không, Amber. Đúng là như thế. Anh yêu em, nhưng…
- Vậy, đã yêu em, tại sao lại không lấy em?
- Em thân mến ạ, bởi vì tình yêu không có nghĩa gì trong đó cả.
- Không có nghĩa gì! Trái lại thì có. Chúng ta không còn là những đứa trẻ cha mẹ đặt đâu ngồi đấy. Chúng ta được tự do muốn làm gì tùy thích…
- Đó cũng là ý nghĩ của anh.
Cô lặng im quan sát chàng mấy phút, muốn lao vào cắn xé chàng. Nhưng ký ức về vẻ nghiêm khắc trong cặp mắt sáng của chàng đã giữ tay cô lại. Bruce quan sát Amber, như để chờ đợi phản ứng của cô, rồi cuối cùng quay đi, rời bỏ căn phòng.
Mười lăm ngày sau Nan đến cùng với bé Susanna, vú nuôi, Tansy và John Lớn. Họ đã trải qua bốn tháng lang thang từ làng này qua làng khác, chạy trốn bệnh dịch. Đã thế, một xe lại bị mất cắp, riêng tất cả quần áo và đồ dùng riêng của Amber còn nguyên vẹn. Amber tỏ ra rất biết ơn và hứa sẽ cho họ một trăm livrơ mỗi người khi về đến Luân Đôn.
Bruce rất hân hoan về đứa con gái của chàng, lớn, khỏe tuy mới được bảy tháng. Bé Susanna không có cặp mắt xanh sẫm nhưng xanh lá cây sáng, tóc của em trông như vàng nhẹ, không có gì là nâu vàng như của mẹ. Em không giống mẹ, cũng không giống bố, nhưng hứa hẹn sẽ là một sắc đẹp thực sự.
Cùng ngày hôm Nan đến, Amber thay cái áo đáng sợ của Emily màu đen không thích hợp với cô, sau khi đã suy nghĩ chín chắn, cô mặc một chiếc áo của mình, khá hở cổ, bằng sa tanh màu đồng và cái váy rất rộng. Xoa phấn son tí chút, đặt hai, ba cái nốt ruồi và là lần đầu tiên trong nhiều tháng nay, Nan làm đầu cho cô với những mớ tóc lớn và hình củ hành to trên đỉnh đầu. Trong số những đồ trang sức, Amber phát hiện một đôi hoa tai và một cái vòng cổ tay bằng ngọc thạch.
- Trời ơi! - Cô nói và nhìn vào trong gương với vẻ thỏa mãn, - ta đã quên mất trước đây ta thế nào!
Sau mùa hè nóng một cách khác thường và khô hạn, đến cuối tháng Mười thời tiết bỗng thay đổi đột ngột. Những trận mưa dữ dội nối tiếp nhau; vào giữa tháng sau xuất hiện những cục băng lớn.
Bruce sốt ruột. Chàng lo lắng tự hỏi những con tàu cùng với những chiến lợi phẩm chàng đã mang về hiện nay ra sao? Chàng muốn về Luân Đôn thật nhanh và đi ngay sang Mỹ. Amber hỏi chàng định khi nào thì giương buồm.
- Đến chừng nào mà anh có thể. Nhưng khó mà bọn thủy thủ chịu ký giao kèo ngay.
- Em muốn được cùng về với anh.
- Amber, anh thấy như thế không nên. Trước tiên anh đến Oxford đã, vì lúc này triều đình đang ở đó, anh rất cần được gặp nhà Vua về một việc nhượng đất đai. Thời tiết rất xấu và anh không thể mất thì giờ đi xe. Một khi tới Luân Đôn, anh sẽ bận đến nỗi không thể gặp em được. Em nên ở lại đây một vài tháng nữa, thành phố chưa được bảo đảm trong lúc này.
- Điều đó em không cần! - Amber ngoan cố cãi, - bảo đảm hay không, em cần quái gì! Nếu em còn có thể nhìn thấy anh, dù chỉ trong chốc lát, em sẽ đi theo anh. Dù có phải đi ngựa cũng chẳng hề gì đối với em!
Nhưng vào một buổi trưa, khi đang đứng ở cửa sổ nhìn đám mây lớn màu xám quét về phía nam và mải quan sát một bọn kỵ sĩ đang tiến lại gần nhà, bỗng nhiên cô có cảm giác kỳ lạ, lo lắng và nghi ngờ. Cô xuống đến chân cầu thang thì gặp Almsbury bước vào.
- Bruce đâu anh?
Almsbury mặc một chiếc áo khoác đi săn, chân đi ủng cao, đầu tóc ướt đẫm và những cái lông trên mũ nghiêng ngả một cách thảm hại. Anh có vẻ bối rối nhìn thấy cô:
- Anh ấy đi rồi, Amber ạ! Đi Luân Đôn.
- Đi không có em à?
Amber nhìn anh không tin, cô nổi khùng:
- Nhưng em phải đi theo anh ấy. Em đã bảo anh ấy rồi mà!
- Anh ấy nói với anh là đã bảo em là anh ấy ra đi một mình.
- Quỷ nó bắt anh ấy đi. - Amber làu bàu, cô chạy đi. - Vậy thì em cũng sẽ đi.
Almsbury gọi, nhưng hình như cô không nghe, cứ chạy nhanh lên cầu thang. Tới nửa chừng, gặp một người đàn ông lạ, đã đứng tuổi, quần áo sang trọng. Mặc dù người đó quay lại nhìn theo, cô hoàn toàn không để ý. Cô chạy ào vào trong buồng gọi to:
- Nan! Đóng gói cho chị một ít quần áo, chị đi Luân Đôn đây.
Nan giật nảy mình, nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời vẫn mưa và gió bẻ cong những cây nến.
- Thưa bà, đi Luân Đôn vào thời tiết này?
- Mặc xác thời tiết! Đóng gói ngay những quần áo cho tôi, bất cứ thứ gì cũng được, tùy thích.
Amber giựt đứt những dây buộc áo, vào bàn trang điểm, vứt lên đó các vòng tay. Người cô đỏ nhừ, hàm răng nghiến lại; cô nghĩ thầm: “Bệnh dịch nó bắt anh ấy đi! Anh ấy phải mang ta đi theo chứ! Ít nhất cũng phải có trách nhiệm với ta chứ! Rồi ta sẽ cho biết tay!”
Nan cuống quýt, đưa ra những cái áo dài, sơ mi, giày của chủ. Cả hai đều bận rộn đến nỗi không thấy Almsbury bước vào và đóng cửa lại:
- Amber! Cô làm cái quái gì thế?
- Em đi Luân Đôn đây, anh thấy thế nào?
Cô cũng chẳng thèm đưa mắt nhìn anh, vẫn cứ tiếp tục rút những cái kim gài trên đầu ra, để cho tóc xõa xuống hai vai… Almsbury đi nhanh qua phòng và mặt anh xuất hiện trong tấm gương Amber đang soi. Cô nhìn anh dữ tợn, anh bảo Nan:
- Chị hãy vui lòng ra khỏi đây một lúc đã - thấy Nan còn lưỡng lự nhìn Amber, anh nói tiếp - Tôi nói gì chị hãy nghe đã.
Nan đi rồi, Almsbury nói với Amber:
- Hãy nghe anh nói đã, em lên cơn điên hay sao? Anh ấy không muốn có em ở Luân Đôn. Anh ấy nói là thành phố còn chưa được an toàn và không muốn mất thì giờ vì em, anh ấy rất bận.
- Anh ấy muốn gì mặc anh ấy! Dù thế nào em cũng cứ đi, Nan!
Cô đứng vội lên, nhưng Almsbury nắm lấy cổ tay giữ cô lại:
- Cô sẽ không đi đâu cả, dù tôi có phải trói chân cô vào chân giường. Người ta rất có thể mắc bệnh dịch hạch lần thứ hai, cô cũng biết đấy. Nếu còn một chút hiểu biết, cô sẽ không đòi về đó chẳng để làm gì cả. Bruce đã đi vì cần phải như vậy. Tàu bè của anh ấy có thể bị phá hoại và cướp bóc, nếu chưa thì cũng sắp bị khi mà thành phố đông người lên đôi chút. Thôi nào, em thân mến, hãy biết điều một chút. Anh ấy sẽ trở lại, anh ấy nói như vậy.
Amber ngước mắt nhìn anh, giận dỗi, những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài xuống má. Cô hít mạnh và không phản kháng khi anh đưa tay quàng lấy người cô. Sau cùng cô nén tiếng nấc và hỏi:
- Nhưng tại sao, tại sao người ta lại không từ biệt em một câu? Đêm hôm qua… đêm hôm qua như mọi đêm trước…
Anh ghì cô vào người và vuốt tóc cô:
- Có thể, cưng ạ! Nhưng anh không muốn một cuộc cãi vã.
Amber rên rỉ và khóc nức nở, hai tay quàng lấy cổ Almsbury.
- Em… em sẽ không cãi nữa! Ôi! Almsbury, em yêu anh ấy biết chừng nào!
Anh để cô khóc và cứ ôm lấy cô cho đến khi cô bình tĩnh lại. Anh rút chiếc khăn mùi xoa ra, đưa cho cô:
- Em có để ý đến một người quý phái mà em gặp trên cầu thang không?
Amber xì mũi, lau cặp mắt đỏ hoe, mặt cô hằn những vệt nước mắt:
- Không. Nhưng sao?
- Anh ấy hỏi tôi cô là ai. Anh ta cho cô là người phụ nữ đẹp nhất mà anh chưa từng gặp.
Một niềm kiêu hãnh làm dịu cơn buồn của Amber:
- Có thật không?
Cô hít mạnh hai ba cái nữa, vẫn cứ nhìn cái khăn mùi xoa mà cô vặn trong các ngón tay. Cô xì mũi một lần nữa rồi lại hỏi:
- Ai đấy?
- Bá tước Radclyffe, một trong những gia đình cổ và hãnh diện nhất nước Anh. Thôi lại đây em! Xuống ăn điểm tâm. Anh ấy muốn được giới thiệu với em.
Amber thở dài và quay mặt đi:
- Làm quái gì hả anh? Em chẳng còn muốn biết ai nữa!
Almsbury mỉm cười khuyến khích:
- Em chỉ muốn vào trong phòng ngủ để mà hờn dỗi có phải không? Thôi được, tùy em! Nhưng anh ta sẽ thất vọng đấy! Nói thật để em biết, rất có thể anh ấy sẽ hỏi em làm vợ.
- Hỏi em làm vợ à? Em còn lấy một người chồng khác làm quái gì nữa? Không bao giờ em còn lấy chồng nữa!
- Cả với một vị bá tước sao? Thôi em yêu, tùy em! Nhưng hình như một buổi tối hôm nào đó, anh nghe thấy em bảo Bruce đại thể như thế này: “Chỉ xin anh hãy đợi đến khi nào em sẽ là bá tước phu nhân…” gì gì đó. Vậy đây là một dịp may, em bỏ lỡ nó hay sao?
- Em nghĩ có lẽ anh đã nói với tên già lẩm cẩm đó là em giàu lắm phải không?
- Phải. Có thể. Anh không nhớ nữa?
- Thôi được, với những điều kiện đó em sẽ xuống. Nhưng em sẽ không lấy hắn. Em làm nữ bá tước để làm gì?…
Nhưng cô không thể không nghĩ: “Nếu lần về tới, Bruce thấy ta đã là bà bá tước quyền quý, hẳn anh ấy phải xúc động lắm! Anh ấy mới chỉ là nam tước thôi mà!”