6 Tỉ Đường Đến Hạnh Phúc

Lượt đọc: 542 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
⚝ 14 ⚝
những khoảnh khắc thăng hoa

“Mê ly” là một từ đẹp đẽ mà âm thanh của nó cũng đã gợi ra ý nghĩa rồi: một cảm giác hân hoan mãnh liệt. Một khoảnh khắc mà dường như toàn bộ thế giới được thắp sáng bởi hạnh phúc và hẳn là khoảnh khắc mà Rosa Luxemburg đang trải qua khi viết những dòng này: “Bạn có biết tôi đang ở đâu, tôi đang viết lá thư này từ đâu không? Tôi vừa mang một cái bàn nhỏ ra ngoài, và đang ngồi náu mình giữa hai bụi cây xanh. Bên phải tôi là những bông hoa phúc bồn tử vàng, tỏa mùi thơm như đinh hương, bên trái có một khóm thủy lạp, phía trước là những chiếc lá màu trắng của một cây bạch dương to lớn, nghiêm trang và mệt mỏi đang xào xạc... Thật đẹp làm sao, và tôi hạnh phúc làm sao, tôi gần như có thể cảm thấy hơi hướm của tiết hạ chí đang đến gần - cái sum suê căng tràn viên mãn của mùa hè và cái say sưa của chính bản thân sự sống.”

Rosa Luxemburg 50 đã viết bức thư này cho Sophie Liebknechtd 51 từ trong từ năm 1917. Đó là năm thứ ba bị tù đày của bà, và bà biết rằng với vị trí một người lãnh đạo của chủ nghĩa hòa bình, bà sẽ bị tù đày cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nhưng sự buồn chán, sự ngược đãi và tương lai bấp bênh dường như không chạm được vào bà. Một thứ gì đó ở trong bà còn mạnh mẽ hơn. “Tôi nằm một mình yên lặng, bị bao phủ bởi bóng tối, nỗi buồn chán, sự giam hãm của mùa đông - tuy vậy, tim tôi vẫn đập bởi một niềm vui không rõ và không hiểu nổi từ trong sâu thẳm, như thể tôi đang bước đi trên một cánh đồng đầy hoa dưới ánh nắng rực rỡ... Thật kỳ lạ, tôi luôn ở trong trạng thái hân hoan mê ly mà không vì một lý do cụ thể nào,” bà đã viết với niềm ngạc nhiên trong một bức thư khác vào cùng năm đó.

Nhưng bà biết chính xác nguồn hạnh phúc của bà là gì. Khả năng hóa giải những nỗi sợ hãi được tăng sức mạnh bởi niềm xác tín rằng bà bị giam giữ vì một sự nghiệp lớn lao hơn 52 . Bà cảm thấy sự chịu đựng của mình có ý nghĩa. Luxemburg sở hữu một khả năng hạnh phúc bẩm sinh phi thường nhờ năng lực nhận thức mãnh liệt của mình. Bà tự miêu tả trạng thái hân hoan của mình khi nghe tiếng chim hót và lá cây xào xạc như là cội nguồn của những cảm giác tích cực: “Tôi tin rằng điều bí mật ấy không là gì khác ngoài bản thân cuộc sống.”

Ngày nay ta biết giả thiết này đã được chứng minh là đúng như thế nào. Nhận thức và tâm trạng liên quan chặt chẽ với nhau. Một người trầm cảm thì không có hứng thú gì với thế giới cả. Anh ta hoàn toàn hướng vào thế giới nội tâm. Luôn chỉ bận tâm đến mỗi bản thân mình, anh ta nghiền ngẫm bản thân không ngừng nghỉ, cố gắng đi đến tận cùng đau khổ của mình. Nhưng khi ai đó cố gắng hướng sự chú ý của mình ra ngoài thì sẽ không còn chỗ cho lo lắng và sợ hãi nữa. Việc bận rộn với những người khác và những việc khác làm đứt cái vòng luẩn quẩn không ngừng những suy nghĩ và cảm giác đen tối. Một bộ não được cất khỏi gánh nặng như vậy sẽ hạnh phúc mà bắt đầu quên đi bản thân nó: chúng ta trở nên bận rộn hết mình với những thứ đang làm và những chuyện đang xảy ra xung quanh. Và sau đó - dù không có nguyên cớ bên ngoài nào - chúng ta có thể cảm nhận được cảm giác hạnh phúc thuần khiết nhất và có lẽ là đẹp đẽ nhất trong tất cả: hạnh phúc vì được sống.

Đi trên mặt nước

Bộ não hành xử như thể nó không chịu được sự trống rỗng. Hãy tưởng tượng bạn đang ngồi trong một căn phòng và không có việc gì để làm. Đâu đây có tiếng nhạc từ đài phát thanh. Dù muốn hay không, bạn cũng đang lắng nghe tiếng nhạc đó: sự chú ý không phải lúc nào cũng tuân theo ý chí của ta. Não bộ lao theo bất cứ kích thích nào xuất hiện. (Điều này giải thích tại sao chúng ta lại xem quảng cáo nhiều hơn là chúng ta thực sự quan tâm.) Bạn chỉ có thể lờ đi những thứ chen ngang trừ phi bạn có việc gì khác để làm. Chẳng hạn, khi bạn đang tập trung vào một cú

điện thoại quan trọng, não bộ sẽ ngăn lại mọi âm thanh xung quanh. Các tế bào xám có những thứ đáng kể hơn để chú ý.

Nỗi lo lắng cũng có thể cuốn hút bộ não khi nó đang trống rỗng. Ai không từng trằn trọc về những bấp bênh của ngày mai khi đang cố chìm vào giấc ngủ? Đó là lý do việc đếm cừu rất có tác dụng: các tế bào thần kinh bận rộn và khiến những nỗi lo lắng không xuất hiện được. Tưởng tượng những cảnh đầy màu sắc lại còn hữu ích hơn nữa, bởi vì chúng thú vị hơn.

Trong những lúc nhàn rỗi, chúng ta có xu hướng bị xâm chiếm bởi những tưởng tượng khó chịu hơn là những ký ức dễ chịu, điều này có liên quan đến việc lập trình của não bộ trong quá trình tiến hóa. Nếu cả ý nghĩ sợ hãi lẫn vui thích cùng xuất hiện một lúc thì ý nghĩ sợ hãi luôn luôn thắng.

Trong những lúc bối rối chúng ta bắt đầu ngẫm nghĩ về bản thân và thường sẽ bị nỗi sợ hãi và lòng tự nghi ngờ xâm chiếm. Sách Phúc Âm theo Thánh Matthew miêu tả mối liên hệ giữa nhận thức và cảm giác trong một cảnh tượng kỳ diệu trên biển Gaililee. Peter đang ngồi trên thuyền thì nhìn thấy Chúa Jesus bước đi trên mặt nước. Peter liền chạy theo Jesus, nhưng sau đó bị một cơn gió mạnh làm sao nhãng, ông quay mặt đi, nỗi sợ hãi xâm chiếm ông. Và ngay sau đó ông bắt đầu bị chìm. 2)

Nhà tâm lý học thần kinh Nilli Lavie đã chứng minh rằng những kích thích khó chịu không thể chạm đến hầu hết các trung tâm thần kinh của đại não và đến ý thức khi chúng ta tập trung vào một thứ gì đó. Trong thí nghiệm của bà, các tình nguyện viên được yêu cầu tập trung học các từ trên màn hình và càng ít để ý đến các hình chấm chấm rối rắm chạy ngang qua nền màn hình càng tốt.

Họ đã thành công khi bị cuốn hút vào nhiệm vụ của mình đến mức trí nhớ làm việc không còn khả năng nhận biết những dấu chấm nhảy múa nữa. Bởi vì kích thích mà đối tượng thí nghiệm muốn nhận thức (từ ngữ) khác biệt hoàn toàn so với sự gây rối (dấu chấm),nên Lavie có thể chỉ ra rằng các đối tượng thí nghiệm đã thực sự thoát khỏi sự sao nhãng. Đại não xử lý hình ảnh tĩnh và hình ảnh động ở những phần não bộ khác nhau. Quét hình ảnh não bộ trong thí nghiệm của Lavie cho thấy chỉ những trung tâm xử lý từ ngữ được kích hoạt. Ngược lại, những vùng não chịu trách nhiệm xử lý hình ảnh chuyển động thì không được kích hoạt (3)

Niềm vui của nhận thức

Khi chúng ta nhìn, nghe hoặc cảm một cách sâu sắc, chúng ta có thể quên hết mọi thứ khác, thậm chí cả chính bản thân mình. Đôi khi kiểu tập trung này xuất hiện như thế do chính nó, ví dụ khi chúng ta ngắm - giống như bị thôi miên - những con sóng biển tung trào, hoặc khi chúng ta đang làm tình.

Dùng ý chí để ép mình phải tập trung là rất khó. Nhưng việc trải nghiệm niềm vui khám phá, trải nghiệm niềm vui nhận thức thế giới một cách hoàn toàn khác biệt So với bình thường lại giúp ta tập trung. Bạn đã bao giờ lắng nghe nhiều âm thanh khác nhau của mưa khi mưa đập vào cửa sổ, đổ trên mái nhà hay rơi trên cây lá chưa? Hoặc bạn

đã bao giờ ngắm ánh nắng rọi xuyên qua các kẽ tay và tạo ra một lớp bụi ánh sáng nhỏ li ti trong bảy sắc cầu vồng?

Những khoảnh khắc như vậy có thể xua tan đi lo lắng và sợ hãi. Nhưng chỉ điều này thôi thì không giải thích được niềm hạnh phúc mà chúng ta đôi khi cảm thấy trong những khoảnh khắc ấy. Cái gì là cội nguồn của niềm vui khi chúng ta nghe và nhìn? Niềm vui trong khám phá đóng một vai trò quan trọng, bởi vì những kích thích mới sẽ kích hoạt hệ thống mong chờ. Chất dopamine giúp hướng sự quan tâm vào những tín hiệu này và đảm bảo rằng chúng ta sẽ cảm thấy một sự căng thẳng dễ chịu. Chương trình này thậm chí cũng hoạt động trong não của động vật - chẳng hạn như ở con mèo khi nó đang dán mắt vào một con chim.

Duy nhất con người là có thể cũng xúc động trước các biểu tượng. Những bông hoa trên bàn cũng có thể làm cho ta cảm thấy hạnh phúc, dù chúng không hề có một chút giá trị thực tế nào đối với cơ thể ta. Niềm hạnh phúc ấy không phải giống như ta chuẩn bị xơi những bông hồng đó. Đúng hơn, các cảm xúc của chúng ta là nhờ ở cùng những cảm giác khiến cho các con chữ trên trang tiểu thuyết làm ta bật cười. Trên thực tế chúng ta không nhìn thấy gì hơn là mực của máy in trên trang giấy,nhưng não bộ đã thêm vào đó ý nghĩa, và như vậy cả một dòng chảy những hình ảnh, cảnh tượng và cảm xúc tuôn hiện ra trước con mắt bên trong của ta, và chúng ta có thể dẫn vào trong nó như thể dấn vào một đời sống khác. Khả năng tưởng tượng này xuất phát từ một khuynh hướng bẩm sinh ở ta là giải mã tất cả các dấu hiệu trong môi trường quanh ta. Những cảm giác lãng mạn là một sản phẩm phụ của tiến hóa.

Hầu hết mọi người đều nhận thấy thật nhiều điều trong một buổi hoàng hôn chứ không chỉ thấy hình ảnh một chiếc đĩa đỏ đang chầm chậm lặn dần. Vào lúc cuối ngày chúng ta tự nhiên nghĩ về giấc ngủ và những giấc mơ. Chúng ta có thể nhớ đến mối tình đầu, hoặc nhớ bọn trẻ con ta đã từng cùng chơi trên bãi biển lúc chạng vạng tối như thế nào. Một số người có thể nghĩ về dòng chảy thời gian, hoặc thậm chí cả về cái chết của chính mình. Như Heinrich Heinen 53 đã viết, để trêu chọc những người cùng thời về sự mềm lòng đối với những cảm giác lãng mạn:

Thiếu nữ xa xăm nhìn biển khơi

Thở dài não nuột những đầy vơi

Mặt trời lặn xuống, nàng bật khóc,

Xúc cảm chân thành, hẳn thế rồi.

Tại sao, nàng, chẳng có khổ đau,

Chẳng cần lo lắng, giản đơn sao.

Mặt trời lặn xuống, ngày mai đến,

Lại lén mọc lên, đẹp quên sầu.

Điều mà Heine đã không nhận ra là não bộ luôn tự động nạp cảm xúc vào hầu như mọi cảnh tượng. Cái khiến cho các nhà lãng mạn của thế kỷ 19 khác với người ở các thời đại ít đa cảm hơn không phải ở chỗ không phải việc họ xúc động bởi những biến đổi của thiên nhiên, mà ở chỗ họ tôn vinh những cảm giác này trong thơ ca, hội họa và âm nhạc.

Chúng ta nhận ra điều gì đó tương tự trong những lá thư của Rosa Luxemburg, vốn chắc chắn không phải là một con người nổi tiếng đa cảm. Khi bà ngắm nhìn, hít ngửi những bụi hoa đang nở và lắng nghe tiếng gió thổi qua những cây bạch dương, bà nhớ và mong đợi mùa hè đến gần. Nhưng sự liên tưởng của bà có lẽ còn xa hơn thế. Có lẽ bà nghĩ đến sự tiếp nối của các mùa, sự đơm hoa kết quả và biến hóa, và có lẽ cả niềm hy vọng của bà về một thế giới tốt đẹp hơn. Bà chỉ đơn giản hưởng thụ khoảnh khắc được sống. Đó, biết bao nhiêu những trải nghiệm hằng ngày có thể truyền cảm hứng cho ta, nếu chúng ta hòa với chúng chỉ cần trong khoảnh khắc. Chúng ta dễ dàng quên rằng niềm vui thú này phụ thuộc nhiều vào sức mạnh mãnh liệt của bộ não như thế nào. Ngay cả những con khỉ thông minh nhất cũng không thể lấy được niềm vui sướng từ những bông hoa và những áng hoàng hôn.(4)

Khi thời gian ngừng trôi

Hiến mình cho một hoạt động nào đó có thể mang lại sự tập trung sâu sắc cho cả sự chú ý lẫn nhận thức của ta và do vậy cũng dẫn đến những cảm giác tích cực. Không quan trọng hoạt động thuộc loại gì, miễn là chúng được thực hiện với sự tập trung. Trượt tuyết hoặc đọc sách, một cuộc nói chuyện, bất cứ việc gì được làm một cách nghiêm túc - điều quan trọng là tìm ra một nhiệm vụ để lợi dụng triệt để não bộ.

Bị cuốn vào một hoạt động nào đó có thể mang lại cảm giác vui thích đến mức chúng ta muốn làm đi làm lại vì chính hoạt động đó. Tại những lúc như vậy mọi việc dường như đang xảy ra không phải bởi hoạt động của chính ta, mà là tự động, như thể được điều khiển bởi một sức mạnh nó đang sử dụng ta như một công cụ của nó. Cái tôi bị lãng quên, và những bận tâm của ta cũng tan biến để chúng ta có thể tập trung tốt hơn vào nhiệm vụ trước mặt.

Thậm chí thời gian dường như cũng biến mất. Tiểu thuyết gia người Đức Heinz Konsalik 54 , tác giả không biết mệt mỏi của 155 cuốn sách, đã miêu tả trạng thái này như là “đánh mất bản thân trong những nhân vật và cốt truyện. Không có thời gian, không ăn uống, không yên bình. Sau tám hay mười tiếng bên máy chữ, tôi hoàn toàn kiệt sức. Sau đó, tôi mất hai mươi phút để quay trở lại thế giới của chúng ta.”(5)

Nhà tâm lý học Mihaly Csikszentmihalyi đã làm nên công trình của đời mình khi ghi chép lại những trải nghiệm như thế, mà ông gọi là dòng chảy 55 . Ông đã phỏng vấn các vận động viên, bác sĩ phẫu thuật, nhạc trưởng, và những người khác mà công việc chuyên môn đòi hỏi sự tập trung tuyệt đối. Nhưng đồng thời ông cũng nói chuyện với hàng trăm nhân viên văn phòng và những người có công việc bình thường khác. Ông đi đến kết luận rằng trong những khoảnh khắc tập trung cao độ thì trải nghiệm của mọi người đều giống nhau và hầu hết không phụ thuộc vào hoạt động cụ thể nào. Bởi Csikszentmihalyi biết rằng trí nhớ bóp méo trải nghiệm, nên ông không dựa hoàn toàn vào sự nhớ lại. Yêu cầu những người được phỏng vấn ghi lại những cảm giác của họ thường xuyên, ông phát hiện ra rằng mọi người thường có xu hướng lý tưởng hóa thời gian rảnh rỗi của mình. Nói chung, những người được phỏng vấn cảm thấy tốt hơn khi họ tập trung cao độ vào một hoạt động nào đó so với khi họ nghỉ ngơi buổi tối và cuối tuần mà không làm gì cả. Công nhân nhà máy cho thấy khi làm việc họ cảm thấy hạnh phúc gấp đôi so với khi nhàn rỗi. Đối với nhân viên văn phòng và các nhà quản lý sự khác biệt thậm chí còn lớn hơn nữa.(6)

Điều này hoàn toàn không có nghĩa bàn thợ ở nhà máy hay bàn văn phòng là môi trường tốt hơn so với khu vườn ở nhà. Đúng hơn, hầu hết mọi người đều bị bắt buộc bận rộn với công việc, và điều này nâng cao tinh thần của họ. Ngược lại, ở nhà, họ có thể biếng nhác. Theo ghi nhận được thì cảm giác uể oải khó chịu trong khi nghỉ ngơi thường nhiều hơn gấp ba lần trong khi làm việc.

Quá dễ và quá khó đều không tốt

Sisyphus có hạnh phúc được không? Người anh hùng trong thần thoại Hy Lạp này không hề bị khổ sở vì nhiệm vụ gian khổ mà các vị thần giao cho - nỗ lực cơ bắp để vần một tảng đá lên đỉnh núi ngày này qua ngày khác không phải là vấn đề lớn. Và cũng chẳng có gì quá khủng khiếp khi thành công của anh ta chỉ là nhất thời, khi mỗi lần lên tới đỉnh, tảng đá lại lăn xuống chân núi. Tựu trung lại, có rất nhiều công việc (ví như lau nhà) mà kết quả chỉ mang tính nhất thời. Phần khủng khiếp nhất trong nhiệm vụ của Sisyphus chính là tính đơn điệu của nó.

Như Csikszentmihalyi đã biết được trong quá trình phỏng vấn, dòng chảy chỉ xảy ra khi hoạt động đòi hỏi não bộ phải gắng sức ở mức độ hợp lý. Trong những trường hợp này, nỗ lực không cứ phải dẫn đến tình trạng kiệt sức hay tiêu cực. Đúng hơn, nó còn giải phóng ra một kích thích dễ chịu, thậm chí là hưng phấn nhẹ. Nhưng nếu như nhiệm vụ quá khó hoặc quá dễ thì những cảm giác tích cực không thể xảy ra.

Không thể nào có sự thỏa mãn khi những đòi hỏi vượt quá khả năng của ta. Điều này có lý do của nó không trải nghiệm thành công tức là mời gọi đến nỗi thất vọng, nỗi nghi ngờ bản thân và cảm giác mình vô dụng. Nhưng ngược lại - ở trong điều kiện quá dễ dàng - thì cũng chẳng dễ chịu hơn. Buồn chán là một trong những cảm giác mà ta chịu đựng kém nhất. Não bộ không thích sự trống rỗng. Khi các tế bào xám không đủ bận rộn thì những suy nghĩ khó chịu, nỗi sợ hãi và trầm cảm liền xâm nhập. Chúng ta luôn cố gắng làm mọi thứ để tránh rơi vào những hoàn cảnh thế này, hoặc ít nhất cũng khuấy động bộ não bằng các kích thích. (Đây hẳn là lý do mà rất nhiều người bật radio ngay khi vừa đóng cửa xe ô tô.)

Các nghiên cứu của Nilli Lavie cho thấy rằng những nhiệm vụ quá đơn giản thì quả thật cũng có tác động đến não bộ tương tự những nhiệm vụ quá khó khăn. Khi não bộ không được kích thích đủ, nó không thể phân biệt được kích thích quan trọng với kích thích thông thường nữa.

Trong những thí nghiệm của Lavie, các đối tượng bắt đầu chú ý vào những hình gây nhiễu trên màn hình nền cũng ngang bằng với tập trung vào các từ ngữ. Điều sau đây đã xảy ra khi các tế bào xám bị đòi hỏi quá nhiều. Khi Lavie yêu cầu các đối tượng nhớ lại những hàng chữ số và tên của các chính trị gia và cùng lúc đó ảnh của các ngôi sao nhạc pop được chiếu trên màn hình, thì các đối tượng tham gia không thể tập trung lâu được. Ngay khi những hàng số trở nên phức tạp hơn, thì ảnh chụp não bộ cho thấy não dần dần bị các khuôn mặt không liên quan xâm chiếm vào thay vì tập trung vào nhiệm vụ trước mắt (7)

Lý do là bộ nhớ làm việc đã bị yêu cầu quá nhiều. Các nơ ron thần kinh ở thùy trước trán thường xuyên lọc ra cái không quan trọng để nó không chạm đến ý thức. Khi bộ nhớ làm việc phải lưu giữ quá nhiều thông tin, như tên và các hàng SỐ, thì nó kiệt sức, khi đó ý thức của chúng ta tràn ngập bất cứ loại kích thích nào tình cờ lọt vào. Dù có quá nhiều hay quá ít việc để làm, não bộ đều mất khả năng tập trung.

Cho nên, tình trạng quá ít thách thức cũng gây ra những hậu quả tàn phá đối với sự cân bằng cảm xúc trong tự với tình trạng quá nhiều thách thức. Theo như những nghiên cứu tâm lý học chuyên sâu, những người làm công việc có quá ít kích thích có khả năng bị trầm cảm và lo lắng nhiều hơn. (8) Ví dụ, những đứa trẻ thần đồng bị ép phải thích nghi với nhịp độ học bình thường thì sẽ phải chịu đựng nỗi buồn chán khủng khiếp có thể dẫn đến đau khổ thực sự về tâm lý và thậm chí cả những ý nghĩ tự sát. Chỉ khi các học sinh này được thách thức đúng với khả năng thì chúng mới cảm thấy dễ chịu. Giải pháp là để cho chúng nhảy lớp hoặc giao cho chúng nhiều việc khó hơn. Chẳng hạn, một số phụ huynh thường gửi những đứa con tài năng của họ đến các khóa học tiếng Nhật ngoại khóa.

Nếu muốn cho học sinh hoặc những người đi làm thực hiện tốt nhiệm vụ thì trách nhiệm được giao phải tương ứng với khả năng của họ. Để đạt được sự cân bằng này trong một lớp học ba mươi học sinh thì thực sự là một thách thức cho giáo viên, bởi vì ranh giới giữa quá dễ và quá khó quả thật rất mỏng manh. Nhưng người ta chỉ có thể đạt tới giới hạn khả năng của mình - và tận hưởng nó - khi sự cân bằng hợp lý đó được đáp ứng.

Bí mật của dòng chảy tâm trí

Vậy những cảm giác tích cực đến từ đâu khi chúng ta bận rộn hết mình vào một hoạt động nào đó? Đây vẫn là một lĩnh vực cần được nghiên cứu nhiều hơn. Nhưng có lẽ dopamine đóng một vai trò quan trọng, bởi vì chất truyền dẫn này (như tôi đã giải thích) kiểm soát sự tập trung và đánh thức niềm vui sướng.92

Dopamine gây tác động trực tiếp lên các nơ ron thần kinh ở thùy trước trán vốn chịu trách nhiệm về bộ nhớ làm việc. Một số nhà khoa học thậm chí còn nghĩ rằng một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của chất truyền dẫn thần kinh này là đảm bảo bộ não có thể lọc được thông tin quan trọng từ đống lộn xộn. Khi chúng ta tập trung thì dường như mức dopamine cũng tăng lên. Đồng thời, dopamine cũng là một loại chất bôi trơm tinh thần. Nhờ tác động của nó mà não bộ xử lý dữ liệu nhanh hơn, do đó chúng ta phản ứng và suy nghĩ nhanh hơn, tạo ra các liên kết tinh thần dễ dàng hơn, và sáng tạo hơn. Điều này có lẽ giải thích cho một phát hiện không phải bằng trực giác rằng sự tập trung tăng lên vừa giúp ta duy trì mức độ thành công cao vừa đem lại cảm giác tích cực.

Tác dụng của dopamine thậm chí còn giải thích lý do tại sao mọi người thích tham gia vào những hoạt động cực nhọc kể cả là “vô ích” như chèo thuyền vượt ghềnh, bóng đá và đánh cờ. Có khả năng những người say mê thực thụ trải nghiệm một trạng thái kiểu như nghiện đối với loại thuốc phiện tự nhiên này, được giải phóng ra trong thời khắc tập trung đặc biệt.

Ngoài đó ra còn có sự kỳ vọng vào thành công nữa. Nếu như ta có một mục đích phía trước và nghĩ rằng cố gắng một chút nữa thôi là chúng ta có thể đạt được, chúng ta phấn khích bởi thách thức đó. Khi đạt được sự tiến triển nào đó, chúng ta nhận ra rằng cố gắng đã được đền đáp, và chúng ta được trải nghiệm một cảm giác chiến thắng nho nhỏ. Sau đó, chúng ta đối mặt với bậc tiếp theo - một thách thức mới - và ham muốn lại bừng lên. Theo cách này, tình trạng trầm cảm nhẹ thường xuất hiện tiếp sau một thành tựu sẽ không trở thành hiện thực. Nếu độ khó của nhiệm vụ được giao là ở mức độ thích hợp, thì chiếc bập bênh khoái lạc chủ nghĩa sẽ liên tục bập bênh giữa một bên là dục vọng và một bên là phần thưởng, cả hai bên đều giải phóng ra chất dopamine và opioid. Nếu như hoạt động quá đơn giản thì không có thách thức, và do vậy cũng không có kích thích. Nếu hoạt động quá khó khăn thì sẽ chẳng có phần thưởng nào.

Để dòng chảy khởi phát, trước tiên ta phải ép bản thân tập trung. Khi chúng ta bị sao nhãng, điều đó giúp cho não bộ quay lại nhiệm vụ trước mắt càng nhanh càng tốt, để có thể vượt qua cái ngưỡng mà quá nó thì sức mạnh tập trung tự nó duy trì được. Từ đây trở đi, con người đi đúng đường một cách dễ dàng, đặc biệt khi nhiệm vụ đòi hỏi nhiều hơn một chút so với ta thường quen. Vì lý do này, ép bản thân mình đôi chút để thực hiện một nhiệm vụ thách thức thường là việc đáng làm.

Sẽ là ý hay nếu vào lúc bắt đầu chúng ta đặt cho mình những mục tiêu nhỏ. Khó có nhà leo núi nào có thể tập trung được sức lực cần thiết để leo lên vách núi nếu như chỉ nghĩ đến mục đích cuối cùng, ấy là đỉnh núi, vốn thường không thể nhìn thấy từ dưới chân núi được. Mọi nhà leo núi một cách vô thức đều chia đường đi lên sao cho giúp họ được trải nghiệm thành công nhiều lần ngay từ điểm khởi đầu. Họ rất hạnh phúc khi đã đẩy mình lên được sáu mét vách núi nhờ một chiếc móc kẹp leo núi khó nắm, và lại có cảm giác ấy sau mười lăm mét khi lên đến một mỏm núi nhô ra, và cuối cùng sau ba mươi mét khi họ đã leo hết chiều dài của sợi dây thừng, tìm thấy một gờ núi để đứng. Mọi chuyện cứ diễn biến như vậy đến hàng trăm, thậm chí hàng nghìn mét qua những đoạn đường lúc dễ dàng hơn lúc khó khăn hơn để lên đến đỉnh.

Những thắng lợi từng phần như vậy đảm bảo sự tập trung nhiều hơn là mục đích cuối cùng. Không những chúng tạo được nhiều cảm giác tích cực hơn, mà chúng ta còn kiểm soát những chiến thắng nhỏ tốt hơn là kiểm soát một mục đích xa vời. Chỉ một cơn bão bất chợt cũng có thể phá tan mọi hy vọng leo đến đỉnh của một nhà leo núi, và nhiều nhà khoa học đã đánh mất đi cơ hội nổi tiếng sau nhiều năm nghiên cứu khi mà hóa ra đối thủ đã công bố kết quả nghiên cứu đó trước vài tuần. Vì lý do này người ta thường nói rằng chính con đường mới nên là mục đích. Chúng ta không thể quá dễ dàng quên đi sự đấu tranh và một phần thưởng được, bởi vì hệ thống mong chờ bẩm sinh rất mãnh liệt. Nhưng chúng ta có thể chọn lựa tìm ở đâu và dưới hình thức nào, để cuối cùng kiếm được phần thưởng cho ta.

Trạng thái an định

Từ thời Hy Lạp cổ đại cũng như trong nhiều nền văn hóa phương Đông cổ đại, con người đã hiểu rằng trạng thái hạnh phúc tột cùng chính là một món quà của thần linh. Đây là lý do tại sao những nhà huyền bí của mọi tôn giáo xưa nay đều thử nghiệm nhiều phương pháp để nhằm đạt được những trải nghiệm này. Các phương pháp mà họ khám phá ra dựa vào các cơ chế tương tự như niềm vui ta trải nghiệm khi ta dán mắt vào thứ gì hoặc khi tiến hành một hoạt động đầy tập trung. Ví dụ, thiền là nhận thức được kiểm soát sao cho ta có thể quên bản thân đi và trải nghiệm trạng thái hân hoan.

Khi một thiền sư đếm hơi thở của mình, khi một Yogi lặp đi lặp lại câu thần chú, hoặc khi một tín đồ Thiên Chúa giáo chìm đắm trong lễ cầu nguyện - ấy là người đang hành thiền luôn hướng nhận thức đến một sự tập trung đơn giản. Theo cách này, họ chiếm giữ đầu óc họ, ngăn không cho nghĩ đến những mối bận tâm hằng ngày, làm cho tâm trí thanh thản, và thư giãn thân thể.

Ba thập kỷ trước, hai nhà thần kinh học trường Harvard là Herbert Benson và Robert Wallace đã lần đầu tiến chứng minh thiền có tác dụng mạnh mẽ thế nào. Điều này cũng được nhiều nghiên cứu sau đó khẳng định. Khi những suy nghĩ tĩnh tại thì cơ bắp thư giãn, và hoạt động điện não chuyển sang nhịp độ ổn định hơn gọi là sóng alpha. Cuối cùng mạch đập chậm lại, huyết áp và việc sử dụng ôxy cũng giảm. Cùng lúc các hoóc môn căng thẳng cũng lưu thông ít hơn trong mạch máu, đó là lý do tại sao người ta cho rằng hành thiền thường xuyên có thể tăng cường hệ thống miễn dịch. Toàn bộ cơ thể khi đó đạt được trạng thái cân bằng hơn - và bộ não hiểu trạng thái ấy là thư giãn, dễ chịu và không còn lo lắng.(1)

Ngồi bất động không phải ai cũng làm được, nhưng nhiều người luyện thiền trải nghiệm một loại niềm vui thanh tĩnh ngay khi những suy nghĩ của họ nghỉ ngơi. Chỉ điều này thôi có thể đã cực kỳ dễ chịu rồi, nhưng những thiền sư giàu kinh nghiệm còn nói đến nhiều thứ hơn chứ không chỉ những tác dụng của sự thư giãn thuần khiết này - họ kể lại những khoảnh khắc của trạng thái tinh thần mãnh liệt. Khi chìm đắm sâu hơn bao giờ hết, bạn không còn ý thức đến bản thân, cũng không còn cảm giác về thời gian và không gian, mà thay vào đó trải nghiệm trạng thái hòa nhập vào toàn vũ trụ. Michael Baime, một bác sĩ đã tiến hành nghiên cứu bệnh căng thẳng tại Đại học Pennsylvania và cũng là người đã hành thiền Phật giáo ba mươi năm nay, tả lại cái khoảnh khắc đó như sau: “Có một cảm giác về năng lượng tập trung trong tôi... đi ra không gian vô tận rồi quay lại... Sự giải tỏa ý thức nhị nguyên, và một cảm giác tình yêu mãnh liệt... sự sáng tỏ, thấu suốt và hân hoan. Tôi cảm thấy sâu sắc sự kết nối với mọi thứ, tôi nhận ra rằng một sự chia tách thực sự chưa bao giờ từng tồn tại.”(12)

Nghiên cứu chủ nghĩa thần bí

Baime là một trong những người đầu tiên được các nhà khoa học nghiên cứu để tìm xem điều gì xảy ra trong não bộ suốt những trải nghiệm về sự vô tận đó. Phải chăng sự trải nghiệm huyền bí có nền tảng từ các nơ ron thần kinh? Thậm chí trong não người có thể có cả một mạng thần kinh dành cho Chúa, như báo chí và một vài nhà khoa học giả định chăng?

Những câu hỏi như vậy được đưa vào chương trình bàn luận khoa học nghiêm túc chỉ mới vài năm nay. Suốt một thời gian dài, nhiều học giả có xu hướng bàn luận qua loa về những báo cáo như của Baime, coi đây là những tưởng tượng cuồng loạn và kỳ quặc. Cùng lắm thì họ thích cái khả năng đây là một trường hợp hệ thần kinh khiếm khuyết. Từ lâu người ta đã biết rằng những người bị động kinh đều có những trải nghiệm khác thường trong lúc bị lên con, những trải nghiệm mà đôi khi sau này họ giải thích là cuộc gặp gỡ với Chúa. Có lẽ một tình huống như vậy đã cải đạo Saul trên đường đến Damascus, khi ông trở thành một tông đồ của Chúa và tự đặt lại tên mình là Paul 56 . Dù thế nào, ảo ảnh mà Thánh Paul đã miêu tả trong Kinh Thánh tương ứng khá chặt chẽ với những triệu chứng động kinh thùy thái dương. Trên đường đến Damascus ông đã nhìn thấy một ánh sáng rực rỡ lóe trên đầu, ông ngã xuống đất và nghe có tiếng hỏi,“Saul, Saul, tại sao người lại ngược đãi ta?”(13) Sau đó ông bị mù mất ba ngày, trong lúc đó không thể ăn uống được. Sau này những nhà thần bí như Thánh Theresa của Avila 57 cũng kể lại những tình huống ngã quy tương tự, và từ thế kỷ mười chín trở đi, chứng động kinh được ghi nhận ở rất nhiều người nổi tiếng mà sùng đạo. Fyodor Dostoyeoksi, mà các tiểu thuyết của ông có không dưới ba mươi nhân vật bị chứng động kinh, đã bị lên con động kinh lần đầu lúc chín tuổi. Khi đã trưởng thành ông đôi khi vẫn bị lên cơn vài ngày một lần. Khi những ánh sáng lóe lên trước con mắt bên trong của ông, ông thường cảm thấy một niềm hạnh phúc gần như siêu phàm trước khi bất tỉnh.(14)

Nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu - trong đó có bác sĩ X-quang Andrew Newberg, cũng như Baime tại Đại học Pennsylvania - đều đang nghiên cứu để chứng minh rằng những người khỏe mạnh lâm sàng cũng có thể có những trải nghiệm huyền bí, và rằng những trạng thái như vậy khoa học đều có thể tiếp cận được. Newberg đã biến đổi tối đa bối cảnh thí nghiệm của mình: những cây nến chiếu sáng phòng thí nghiệm tối mò, đối tượng thí nghiệm được bao phủ trong làn khói hương hoa nhài để anh ta không nghĩ đến y học công nghệ cao mà là nghĩ đến một ngôi đền.

Anh ta ngồi thiền theo tư thế kiết già với một cái chăn len để giữ khỏi bị lạnh. Cơ thể anh ta bất động, tâm trí trở nên càng lúc càng tập trung cao độ. Một cái ống được gắn vào tĩnh mạch của anh ta, và một sợi chỉ quấn quanh ngón tay anh ta.

Đối tượng thí nghiệm ra tín hiệu đạt đỉnh cao trải nghiệm bằng một cái giật nhanh, và Newberg đưa một chất lỏng cản quang qua cái ống. Chất lỏng này chảy vào não và tụ lại trong các nơ ron thần kinh đang hoạt động đặc biệt tích cực. Sau một khoảng thời gian ngắn, Newberg dẫn anh ta sang phòng kế bên, để anh nằm lên bàn máy chụp nhằm ghi lại xem chất lỏng cản quang và theo đó hoạt động của não bộ được phân bổ như thế nào.(15)

Newberg khảo sát tám tình nguyện viên, những người giống như Baime đã trải nghiệm lâu dài với thiên Phật giáo. Ông cũng mời ba xơ thuộc dòng Thánh Francis đến phòng thí nghiệm để họ đắm mình trong cầu nguyện. Một trong ba nữ tu, xơ Celeste, tả lại: “[Tôi có] một cảm giác tập trung, tĩnh lặng, hư vô, [cũng như] những khoảnh khắc đầy ắp sự hiện diện của Chúa. [Chúa] tràn ngập trong bản thể của tôi.”(16)

Hòa nhập với vũ trụ

Theo Newberg, những trạng thái hạnh phúc tột cùng này không phải là tưởng tượng mà hoàn toàn có thật. Để làm bằng chứng, ông đưa ra ảnh chụp các nơron thần kinh chức năng chứng minh khẳng định của ông rằng trải nghiệm huyền bí đó tương ứng với một quá trình sinh học trong bộ não. Cũng như những thay đổi mà thiền tạo ra cho trạng thái cơ thể là có thể đo lường được, những tác động của thiền lên não là có thể chứng minh được.

Ảnh chụp não bộ cho thấy rõ ràng khi nào người hành thiền thành công trong việc tập trung nhận thức vào hơi thở của mình hoặc vào một mục tiêu khác. Những phần của thùy trước trán chịu trách nhiệm kiểm soát sự tập trung đã hoạt động đặc biệt tích cực trong những khoảnh khắc này. Hơn nữa, một số trung tâm khác phía dưới vỏ não giám sát các quá trình trong cơ thể cũng hoạt động mạnh bất thường.17)

Những thay đổi trong hoạt động phía dưới đỉnh sọ não và phía sau thái dương - thùy đỉnh và thùy thái dương của võ não - không hoàn toàn đúng như được Công bố. Các thùy đỉnh, trong nhiều vai trò khác, có vai trò tạo ra một hình ảnh về cơ thể trong não bộ. Không có nó, chúng ta sẽ không biết tay chân ta ở đâu trong không gian. Bộ não cần những hình ảnh này khi chúng ta học những chuyển động mới hoặc muốn tìm đường đi trong một môi trường lạ lẫm. Bởi vì người hành thiền duy trì trạng thái bất động, nên dữ liệu đến thùy đỉnh ít hơn so với bình thường. Newberg cho rằng sự tập trung hoàn toàn như vậy vào một điểm tập trung cụ thể sẽ làm giảm hơn nữa dòng chảy thông tin đến các thùy đỉnh. Khi những mạch thần kinh trong thùy đỉnh bị ngắt ra, có thể nói vậy, chúng chỉ có thể giải mã trạng thái này như là sự vô hạn của cơ thể và sự hòa tan bản ngã trong không gian, như thể nó đã tiếp cận với cái vô tận, như thể nó đã hòa nhập với toàn thể vũ trụ.

Gặp Chúa?

Mặt khác, thùy thái dương lại có những trung tâm liên quan đến việc tạo ra các cảm giác và lưu trữ bộ nhớ dài hạn. Chúng được kết nối với những mạch thần kinh phía dưới võ não, do đó liên kết những nhận thức bên ngoài với các cảm giác cơ bản như đói, ham muốn tình dục và sợ hãi, cũng như với lịch sử cuộc đời của một người. Vì lý do đó mà các nhà nghiên cứu não bộ gọi vùng não này là người gác cổng cho ý thức. Khi nó được kích thích theo cách bất thường, người ta thường trải nghiệm những cảm giác mãnh liệt tràn trề, đôi khi đạt đến mức xuất thần. Về sau, các đối tượng thí nghiệm đều thông báo có những thất thị sâu sắc và những trải nghiệm huyền bí. Đây chính xác là điều xảy đối với những người bị động kinh: các nơ ron thần kinh của họ bắn nổ dữ dội giây lát trong một cơn động kinh, cùng lúc đó cả một cơn bão táp xung điện trút như mưa vào các thùy thái dương.

Giờ đây các nhà khoa học đã biết cách tạo ra những trải nghiệm nhân tạo như vậy. Nhà tâm lý học thần kinh Michael Persinger tại Đại học Laurentian ở Ontario, Canada, dùng một chiếc mũ điện từ mà đôi khi còn được gọi là “máy tạo Chúa”. Chiếc mũ trùm đầu này chứa những ống từ phát từ trường vào một số vùng nhất định của não bộ với độ chính xác cao. Tác động của nam châm ảnh hưởng lên hoạt động điện của nơ ron thần kinh cũng tương tự như từ trường trong một chiếc ti vi làm lệch hướng dòng điện. Áp dụng phương pháp “kích thích từ trường xuyên sọ”, các nhà nghiên cứu có thể kích thích được những vùng được chọn của não bộ. Tự lấy mình làm đối tượng thí nghiệm, Persinger đặt thùy thái dương của mình vào kích thích từ. Sau đó, ông thuật lại là đã có trải nghiệm về Chúa lần đầu tiên trong đời. Chín trong số mười lăm người ông thực hiện lại cùng thí nghiệm đó đều thuật lại những trải nghiệm tương tự. (18)

Thí nghiệm này gợi ra một câu hỏi hấp dẫn: phải chăng những người hành thiền trong quá trình luyện tập dài ngày đã học cách tạo ra những hiệu ứng trong não bộ tương tự như một máy kích thích từ? Nếu là như vậy, họ có thể kích thích một số vùng nhất định của não bộ đạt đến trạng thái hoạt động phi thường và tắt những vùng khác đi - như vậy dẫn họ đến với những trải nghiệm rất lạ thường. Sự tái lập trình chính nó theo cách này báo hiệu một thắng lợi siêu phàm của bộ não con người.

Persinger đã kích thích thùy thái dương bên trái mạnh hơn bên phải bởi vì ông đồ rằng thùy bên phải đóng vai trò quan trọng hơn trong việc tạo ra cảm giác về bản thân. Ông nghĩ rằng kích thích thùy bên trái trong khi để thùy bên phải tương đối tĩnh lặng sẽ dẫn đến một kiểu nghịch lý tinh thần. Có lẽ bộ não chỉ có thể giải mã dữ liệu mâu thuẫn này như một sự chia tách giữa tinh thần và thể xác, hoặc như ảnh hưởng của một quyền năng bên ngoài có khả năng chạm vào phần sâu nhất của một con người - tức là Chúa?

Bất cứ khi nào có thể, bộ não tự động tìm cách sao cho tránh bị xáo trộn và để lý giải được những mâu thuẫn. Nó có xu hướng đưa ra lý giải cụ thể về các mâu thuẫn đó), điều này phụ thuộc phần lớn bởi lịch sử cuộc đời của mỗi người. Một người có gốc đạo Cơ Đốc hoặc một tôn giáo hữu thần khác sẽ thấy trải nghiệm của mình như là một cuộc gặp gỡ với Chúa. Một tín đồ Phật giáo tin vào cốt lõi cá nhân bất tử song không tin vào một tồn tại cao hơn thì hiểu trải nghiệm như vậy là một khoảnh khắc giác ngộ, như một sự thấu suốt chân lý bản thể của chính mình. Theo cách này thì cùng một trải nghiệm huyền bí như nhau, kèm theo là những quá trình trong não bộ như nhau, lại dẫn đến những lý giải khác nhau ở các tôn giáo khác nhau.

« Lùi
Tiến »