Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

CUNG NGÀ XƯA - TIẾNG VỌNG MIỀN KÝ ỨC TRONG MIỀN TIẾP NHẬN HÔM NAY

3 trả lời, 8 lượt xem — Trang 1 / 1

CUNG NGÀ XƯA -
TIẾNG VỌNG MIỀN KÝ ỨC TRONG MIỀN TIẾP NHẬN HÔM NAY 

Bs, nhà văn: Trần Như Luận


CUNG NGÀ XƯA
Thơ Ngã Du Tử


Này em hỡi cung ngà còn vang vọng
Những âm thanh quá khứ có ươm chồi
Không mặc cả cùng tháng năm dĩ vãng
Mùa tương lai tươi lại cuộc đời ơi.

Nghe tiếng gọi bên kia bờ sông nhớ
Ai vô tình thả nốt nhạc tình rơi
Có tha thiết hay bâng khuâng từ đó
Tôi thương người thảng thốt một dòng trôi.

Cung ngà thắp cho đời thêm son phấn
Hoàng hôn còn ôm ấp dáng bình minh
Nghe trần thế bao chuyện tình chưa kể
Lòng lắng nghe ký ức gọi đời mình.

Và tạ lỗi một thời xuân nông nổi
Đã qua rồi miền nhớ thuở còn xanh
Một lần đến biết bao điều chiêm nghiệm
Cung ngà xưa về đậu mảnh đất lành.

(Trích từ tập thơ: Vàng Gieo Tâm Thức của Ngã Du Tử, NXB Thuận Hóa, tháng
12/2024).


Đọc Cung ngà xưa của Ngã Du Tử, tôi chợt nghe vang lên trong tâm tưởng một điệu nhạc xa xăm, vừa như từ tiếng đàn cổ, vừa như từ hồi ức của chính mình. Bài thơ khơi dậy nỗi buồn dịu dàng về thời gian, về tuổi trẻ đã qua, nhưng không chỉ để tiếc nuối, nó mở ra một hành trình chiêm nghiệm. Theo hướng Mỹ học tiếp nhận
(Rezeptionsästhetik), tôi cho rằng tác phẩm này sống động ở chỗ nó không cố định một ý nghĩa duy nhất, mà mời gọi độc giả nhập cuộc, tự mang theo ký ức riêng để cùng ngân lên với “cung ngà” xưa.

Chủ đề và cảm hứng trung tâm:
Chủ đề tổng quát của bài thơ là dòng chảy thời gian và ký ức con
người. Ở tầng sâu, Ngã Du Tử không chỉ hồi tưởng một thời tuổi trẻ, mà còn đặt lại câu hỏi về ý nghĩa tồn tại: điều gì còn đọng lại khi “âm thanh quá khứ” đã tàn phai?
Chủ đề cụ thể là sự hoài niệm và chiêm nghiệm về tuổi xuân, được diễn tả qua biểu tượng “cung ngà”. Ở đây, “cung ngà” không chỉ gợi đến một nhạc cụ, mà còn như một chiếc cầu nối giữa quá khứ – hiện tại – tương lai. Nó vừa là âm vang, vừa là ánh sáng, vừa là “chứng nhân” cho hành trình đời người.

Nghệ thuật và nhạc tính:
Về hình thức, bài thơ sử dụng thể thơ tám chữ, bốn khổ, song nhạc điệu lại giàu chất ngân vang nhờ sự lặp lại, nhịp chậm rãi và nhiều từ láy giàu âm hưởng… Những thanh bằng – trắc được phối hợp nhịp nhàng, tạo nên âm sắc vừa tha thiết, vừa man mác.

Ngôn ngữ thơ giàu biểu tượng:
• “Cung ngà” – Trung tâm của hồi ức, biểu trưng cho tiếng gọi nội tâm.
• “Hoàng hôn” và “bình minh” – vòng tuần hoàn thời gian, vừa gợi sự tàn phai, vừa khơi dậy một khởi đầu mới.
• “Tạ lỗi một thời xuân nông nổi” – không chỉ là lời thú nhận, mà còn là dấu hiệu trưởng thành trong chiêm nghiệm.
Nhạc tính của bài thơ khiến độc giả không chỉ “đọc” mà còn “nghe” được. Đây chính là hiệu ứng thẩm mỹ mà lý thuyết tiếp nhận gọi là sự cộng hưởng giữa văn bản và trải nghiệm cá nhân: Mỗi người sẽ tìm thấy trong “cung ngà” của thi sĩ tiếng vọng của chính thanh xuân mình.

So sánh tương đồng:
Trong dòng thơ thế giới, tôi nhận thấy Cung ngà xưa có một sự tương đồng đáng kể với Rainer Maria Rilke (Áo, đầu thế kỷ 20), đặc biệt trong Duino Elegies. Ở Rilke, âm thanh và ký ức thường trở thành kênh giao tiếp với cõi siêu hình: Tiếng gọi của thiên thần, tiếng ngân vang giữa hữu hạn và vô hạn.
Tương tự, ở Ngã Du Tử, “cung ngà” không chỉ là một âm thanh vật chất, mà là “tiếng gọi bên kia bờ sông nhớ”. Nếu Rilke đặt cái hữu hạn của đời người trong thế tương giao với cái vô tận của vũ trụ, thì nhà thơ Đất Quảng Ngãi đặt tiếng vọng của quá khứ trong thế đối thoại với hiện tại và tương lai. Cả hai đều dùng âm thanh như một ẩn dụ để con người nhìn lại chính mình và vì vậy thơ của họ mang tính “siêu cảm giác” – vượt khỏi ranh giới thời gian thông thường.

So sánh khác biệt:
Tuy nhiên, nếu so với T.S. Eliot (Anh – Mỹ, thế kỷ 20), đặc biệt trong trường ca The Waste Land, ta sẽ thấy một khác biệt cơ bản.
Eliot cũng viết về ký ức, về sự hoang tàn của thời gian, nhưng ông thường đặt nó trong một bối cảnh lịch sử – văn hóa rộng lớn, với những mảnh vỡ hỗn độn của văn minh. Thơ ông có xu hướng hoài
nghi, bi quan, đầy tính phân mảnh.
Ngược lại, Ngã Du Tử nhìn về quá khứ với tâm thế dịu dàng và giàu nhân bản hơn. Dẫu có “tạ lỗi một thời xuân nông nổi”, bài thơ không gợi cảm giác sụp đổ, mà hướng tới sự an ủi: “Cung ngà xưa về đậu mảnh đất lành”. Nếu Eliot để lại dư vị trống rỗng, thì Ngã Du Tử của chúng ta để lại dư vị hàn gắn. Đây là sự khác biệt căn bản: Thơ Việt vẫn gắn bó thường xuyên với hồn quê, với khát vọng yên bình, ngay cả khi hồi tưởng quá khứ.

Đối thoại với văn hóa – lịch sử Việt:
Đặt trong bối cảnh văn hóa, “cung ngà” còn gợi đến truyền thống âm nhạc dân tộc, nơi tiếng đàn, tiếng sáo từng là phương tiện gắn kết cộng đồng. Người miền Trung – đặc biệt là Huế và xứ Quảng – vốn sống trong không gian khắc nghiệt, thường tìm đến âm nhạc như một nơi trú ngụ tinh thần. Vì vậy, bài thơ không chỉ là ký ức cá nhân, mà còn mang dấu vết của ký ức tập thể.
Đọc bằng nhãn quan này, ta thấy Cung Ngà Xưa như một bản hòa âm của lịch sử sống: Nó cho phép người đọc từ nhiều thế hệ khác nhau nhận ra bóng dáng mình – người từng đi qua chiến tranh, kẻ từng mất mát tuổi xuân, hay cả người trẻ đang tìm cách đối diện với thời gian.

Đa tầng ngữ nghĩa trong tiếp nhận hôm nay:
Theo Mỹ học tiếp nhận, Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser – Những người đặt nền tảng ở Đức – đã nhấn mạnh rằng tác phẩm văn học không bao giờ là một thực thể đóng kín. Nó chỉ thực sự sống khi bước vào mối quan hệ với độc giả, với “tầm đón đợi” (Erwartungshorizont) của họ. Cung ngà xưa minh chứng điều ấy.
• Với người lớn tuổi, bài thơ là sự đồng vọng với chính thanh xuân họ đã bỏ lại.
• Với người trẻ, đó có thể là lời nhắc nhở: hãy biết lắng nghe và trân trọng hiện tại, kẻo rồi sẽ phải “tạ lỗi” cùng tuổi trẻ.
• Với độc giả quốc tế, đây là minh chứng cho một tinh thần Việt Nam: Biết hoài niệm mà không bi lụy, biết tiếc nuối mà vẫn gìn giữ niềm tin.
Chính sự đa tầng ngữ nghĩa này đã làm cho bài thơ mở ra nhiều con đường tiếp nhận khác nhau và nhờ vậy, nó không bị trói buộc trong một thời điểm lịch sử duy nhất.

Kết luận:
Cung ngà xưa là một thi phẩm giàu nhạc tính, mang sắc thái hoài niệm sâu lắng, vừa chan chứa chất triết lý, vừa gợi mở tính tiếp nhận.
Trong dòng chảy thơ Việt đương đại, nó có thể coi như nhịp cầu nối giữa truyền thống trữ tình với tinh thần hiện đại hóa.
Nếu như Rilke cho thấy sự tương đồng ở chiều kích siêu hình của ký ức, thì so với Eliot, Ngã Du Tử lại khác biệt ở niềm tin và sự dịu dàng hướng về đời sống. Và trên hết, từ quan điểm Mỹ học tiếp nhận, bài thơ cho thấy sức mạnh của văn học: Nó không chỉ là tiếng nói cá nhân của một nhà thơ Đất Quảng Ngãi, mà còn là tiếng vọng của ký ức chung – Nơi quá khứ và hiện tại giao hòa trong cung bậc tinh khôi của con người Việt.

T.N.L
(Viết lúc Miền Trung chuyển mùa, 2025)


Đăng nhập để trả lời
0
Nhận định:
ĐỌC: LẶNG LẼ VƯỜN THƠ
Tập thơ của Nguyễn Thị Xuân Mãn
 
Mẹ cha sinh ra để hiện hữu trên trần gian ấy là phúc được làm người, nhưng trời sinh tính. Vốn chị nhút nhát, ngại tiếp xúc, nhưng khi ai đã tiếp xúc, tôi chắc chắn các bạn sẽ yêu mến chị. Chị lặng lẽ nhưng thâm trầm, trong thể thân nhỏ nhắn ấy dung chứa sự bao dung và quảng đại, nhỏ nhẹ, hiền từ, ít nói nhưng yên lặng sấm sét. Chị chăm chỉ, miệt mài theo đuổi mục đích với lửa đam mê, ý chí vững vàn của chính mình từ thơ cho đến hội họa.
Không ngẫu nhiên, có chủ đích ở đầu sách, chị viết như lời trần tình: “Tự nguyện là mình từ ngày bé dại… đến hôm nay vẫn tính nhút nhát, luôn thiếu tự tin và sợ hãi… rất ít nói và thích đọc và mê sách. Tự tìm hiểu và làm mọi chuyện một mình…”. Một nhà văn đã nói: “Lòng trung thực là trang đầu tiên của quyển sách trí tuệ”. Chính sự trung thực này nên tôi đọc kỹ tác phẩm đầu tay của chị.
Ở cái tuổi 70 chị mới bắt đầu đi vào cõi thơ. Chị thú nhận là rất muộn. Thì muộn so với tuổi tác trước bạ trước trần gian đa gian nan, nhưng bù lại những trải nghiệm dày lên về chất liệu cuộc đời, cõi sống. Ngay cả đối đãi nhân gian với tha nhân rất tử tế. Trong thơ chị dù không thấy sự sôi nổi của tuổi trẻ, xuyên suốt tập thơ chỉ thấy hoài niệm, sự lãng mạn trong sáng chị cất giữ trong hồn mình từ tình yêu, tính thương yêu, cho đến tình mẹ cha, anh chị và cả cảm xúc cuộc đời, cõi sống tất thảy chị cảm thấy bình yên và tha thiết như cỏ dại. Cỏ rất đặc biệt về sức sống, biết vươn xa theo ánh nắng mặt trời để phát triển. Người ta dày xéo cỏ tan tác, nhưng vài ngày sau là xanh tươi, là thảm nhung để cho đôi chân trần bước đi êm ái như mở đầu bài thơ: Cho Gió Ngàn Bay:
Lòng như cỏ dại bên đường
Sáng đùa với nắng chiều vương gió ngàn.
 
Một khi tâm hồn thanh tịnh, con gió thiền thoảng hương chị nhận diện chính mình trung thực, không cầu kỳ chữ nghĩa, thậm chí đơn giản nhưng rất thiền vị:
Trong bóng buổi chiều nghiêng
Gió thoảng hương vị thiền
Mùi hương trầm dịu ấm…
(Nguyện Cầu)
 
Ý thức được thăng hoa. Có phải thế chăng mà tâm hồn chị như nụ hoa hàm tiếu, xanh như cánh đồng quá khứ xa xưa, đến tận hôm nay sự sống an bình: “Cánh đồng xa hôm nay đầy bóng nắng/ chợt vội vàng in dấu áo màu nâu” (Tình quê và mẹ). Tại sao chị không cho là màu khác mà là màu nâu? Màu nâu là màu của dãi dầu một nắng hai sương, là màu của tích cực cuộc sống gian nan, khó nhọc từng trải, màu của đất nhẫn nại và chịu đựng nhưng luôn chăm chỉ và miệt mài, hãy đi hôm nay sẽ có một ngày mai tương lai hương trầm bát ngát cho cuộc đời: “Mang theo trong gió hương trầm tỏa/ Một thoáng trời mây quyện lòng ta”.
Đôi khi nỗi buồn từ xưa xa nhớ như dồn nén sự cam chịu, bỗng trở mình trong hồn chị. “Vì sao em khóc hay Nỗi buồn có cuốn trôi theo thời gian”? Hóa ra chỉ là khi nhìn cảnh vật đất trời mênh mông, thơ mộng, gió mây tương ngộ, hoa lá trên cành trước mặt khoe sắc, đưa hương nhưng không còn anh san sẻ, bất chợt buồn, “nỗi buồn có cuốn trôi? Thế là hồn nhiên em khóc thật thà, nhưng không ủy mị (có thể từ vô thức): “Trời và em cùng biết/ tại chúng mình không nhau”.
 
Cuộc đời trùng trùng duyên khởi, hết buồn đến nhớ, nào bắt đầu gợi nhớ một bông hoa, nhớ một ngày hè rất xa, nhớ mùa thu xưa, nhớ một chiều quê, nhớ giấc mơ xuân, nhớ một dòng sông, nhớ mẹ… Nhớ ôi là nhớ những ngày tháng xưa. Bắt đầu là hoài niệm một bông hoa có lẽ loài hoa huyền thoại tình yêu – Hoa for get me not: “Đừng quên anh, em nhé/ ta sẽ mãi bên nhau” (For get me not /We will be together forever). Với một ngày hè, hãy nghe chị viết: “Một ngày đẹp của mùa hè năm ấy/ phượng hồng ơi bóng nắng ngập sân trường/ Gió bỗng ngừng cùng ai buồn lặng lẽ/ để cùng nghe mùa hạ đến bên đời”. Thì ra mùa hạ với ngập nắng sân trường cùng ai đó nghe mùa hạ xưa về cũng rộn ràng con tim thức giấc đối cảnh cùng người, thật thơ mộng. Có lẽ tuổi vừa biết thẹn thùng, xao xuyến yêu đương. Với mùa thu xưa: “Cho hồn say làm gió thoảng ngàn cây/ bay nhè nhẹ qua cánh đồng hoa dại/ rồi mơ màng sương phủ gió heo may/ mà tuổi thơ chỉ biết là mộng đẹp”. Với môt chiều quê – Nơi ấy có biết bao kỷ niệm từ thơ ấu đến trưởng thành, cho đến lúc rời khỏi làng quê, nỗi nhớ cứ da diết chênh vênh trong tâm hồn chị, tôi tin rằng ai cũng đồng cảm quan niệm ấy: “Lối đi về chênh vênh bờ cỏ dại/ mang tấm lòng thơm thảo… tấm lòng quê/ Thả hồn theo chút gió chiều đồng vọng/ khúc nhạc chiều xưa đón ánh trăng về”. Với giấc mơ xuân thì sao khi muôn loài cây phơi phới ra lộc, dâng hương khoe sắc, hãy nghe chị viết về xuân như lời thì thầm hiền lành đáng yêu: “Rất đổi mùa xuân, rất đổi xuân/ Nắng vàng ươm vội chút bâng khuâng/ Ngày ấy tuổi xuân em hồn nhiên/ môi xinh luôn nở nụ cười hiền”. Với một dòng sông, đại diện cho quê nhà cùng tháng năm gắn bó thì sao?: “Dòng sông nhỏ trôi cùng lời hò hẹn/ sông êm đềm xuôi chảy nhẹ nhàng trôi/ đẹp dịu dàng sông mang cả trời mơ/ để ngàn năm vang vọng tiếng đợi chờ”. Đặc biệt nỗi nhớ mẹ, người cho chị hình hài tắm gội buồn vui cùng trần gian này, mẹ như một Bồ tát hiển linh luôn luôn chở che, xoa dịu đau thương và xóa tan những ưu phiền của tục lụy gian nan đầy bất trắc, khi bên mẹ chị cảm nhận như dòng suối mát trong lành có phù sa tình thương yêu tưới tẩm tấm thân và tâm hồn: “Mẹ là giọt nước cành Dương/ cho con tưới mát mùi hương mẹ hiền/ mẹ là bóng mát cửa thiền/ cho con tan biến ưu phiền đời trao” – Đâu chỉ mẹ của chị được hạnh phúc như thế. Có lẽ người mẹ nào trên hành tinh này cũng như vậy, nhất là mẹ Việt Nam. Ôi chao! Lòng mẹ bao la dạt dào như biển cả mênh mông tình thương con.  
 
Đất trời vô thường như cuộc đời này, sáng nắng, chiều mưa, đông về buốt giá, hạ về nực nồng, thu về lành lạnh, mong tìm chút ấm, rồi xuân về hoa thơm cỏ lạ hiến dâng cho đời đem lại niềm vui và sự tươi mát cho cõi người vô biên. Trải nghiệm vô thường nên từ tốn tùy thời mà dụng, tùy đời mà dung:
Mang theo trong gió…hương trầm tỏa
Một thoáng trời mây quyện lòng ta”
(Viếng Cảnh ngày xuân)
Hoặc:
“Qua đêm lạnh trời xanh vươn nắng mới
Gom ấm nồng chờ đợi một ngày vui”.
(Đêm lạnh)
Hay: “Mây chiều như khăn lụa
           Bâng khuâng níu trăng mờ”.
           (Đợi một giấc mơ)
Đây là câu thơ thi tâm và thi ảnh rất đẹp, hình tượng hóa mây chiều như chiếc khăn lụa, chút bâng khuâng níu giữ vầng trăng để đón đợi giấc mơ về.
Cứ thản nhiên trong đổi thay từng tiết, từng mùa, làm sao hiểu chuyện đất trời, trong khi chưa chắc hiểu đời, hiểu người, thậm chí ta chưa hiểu ta? Tuy vậy mỗi người thơ trong thế gian muôn một vẫn mơ làm viên sỏi nhỏ ném vào đời tạo sóng âm thanh vang vang hầu mong giúp cho sự kiến tạo bình an trong lòng mỗi người, mỗi đời, nếu ai đó đọc được lời thơ giản dị, mộc mạc trong tập thơ: Lặng Lẽ Vườn Thơ của chị.
Nhà thơ Nguyễn Thị Xuân Mãn cũng vậy, dù đi qua tuổi “thất thập tòng tâm sở dục bất du củ”*, cũng mơ ước làm những gì có thể khi còn hiện diện trong trần gian, ít nhất là gieo tính trong sáng và niềm tin yêu thiện lành cho thế hệ phía sau. Tính thiện lành kiên cố trong tâm hồn sẽ xây dựng một nhân cách đạo đức trước cộng đồng xã hội hôm nay đang bị thực dụng bào mòn giá trị và danh dự con người trước trào lưu cuồng phong vật chất kinh khủng trong lịch sử đương đại:
“Và xin góp vào đây/ những nụ cười tươi thắm/ của tấm lòng thơm thảo/ của trái tim hiền hòa”. Trong bài thơ “Gọi giấc mơ về” hầu góp cho đời, chị vẫn hồn nhiên trong “hài nhi tinh thể”, nhẹ nhàng những ngôn từ thuần Việt, chẳng hàn lâm kinh điển, chẳng triết lý cao xa, ai đọc qua cũng biết, cũng hiểu:
Ta mơ là tia nắng/ đem hơi ấm cho đời/ cho hoa tươi nở thắm/ cho đời rạng ngời vui/ ta mơ là nụ cười/ để góp vào muôn nơi/ cho con tim đỏ thắm/ là ấm cả đất trời”. Chỉ mơ đến, nghĩ đến như thế là cả một tấm lòng độ lượng, rất nhân văn trong ý thức diễn bày. 
Rất tiếc, nếu như chị mẫn cán biên tập kỹ lưỡng hơn sẽ thêm sự mượt mà và nhạc tính phong phú trong thơ đẹp hơn.
Với tập thơ đầu tay: LẶNG LẼ VƯỜN THƠ cả trăm bài thơ của nhà thơ Nguyễn Thị Xuân Mãn, tôi đã chọn trích một số câu thơ hay, ý đẹp để giới thiệu cùng bạn đọc, với cảm xúc chân thành dành cho bạn đọc của chị, cùng nhiều bản nhạc được các nhạc sĩ phổ nhạc, cũng như vài nhận định của những tên tuổi trong làng văn như: Ts. Nguyễn Đại Hoàng, nhà văn Mai Văn Hoan và nhà văn, nhà thơ Hoàng Bích Hà chắc chắn chị sẽ vui với thi phẩm đầu tay này.
Chúc chị khỏe mạnh, nhiều sức khỏe thăng hoa hơn trong các đề tài sắp tới.
Chúng ta có quyền hy vọng tập thơ sau sẽ có nhiều cái hay, cái mới của chị trong tương lai rất gần.
 
Phạm Ngọc Dũ/ SG
(Mùa Phật đản 2025)
Chủ biên Diễn Đàn Văn Học Nghệ Thuật Sông Quê
 
*Người 70 tuổi tùy tâm mình mà làm những việc mình muốn nhưng phải tuân theo pháp luật của chính quyền  
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nhận định:
ĐỌC: NỖI NHỚ DỊU DÀNG THU
Thi phẩm của nhà thơ Nguyễn Thị Xuân Mãn
 
Sau khi đọc tập thơ đầu tay: Lặng Lẽ Vườn Thơ, tôi đã viết nhận định cho thi tập này. Tôi tin chị sẽ có tập thơ thứ 2. Lần này, tôi được chị tặng: NỖI NHỚ DỊU DÀNG THU một trời hoài niệm trong sáng, đâu chỉ riêng thu mà cả thời kỷ niệm ngày xưa thân ái tái hiện trong ngôn ngữ thơ của chị.
 
Thời gian cứ miệt mài trôi đi, không chờ đợi ai, từng tháng năm đi qua chóng mặt. Mới tuổi xanh ngày nào dưới mái học đường cùng thầy cô, bạn bè, sách vở, cuộc đời vui vẻ hồn nhiên như trang giấy mới thơm lừng chẳng có chút muộn phiền.
Bốn mùa xuân hạ thu đông cứ bình thản, vô tư lặng lờ trôi đi - Dòng thời thời gian chẳng trở lại bao giờ. Có điều đất trời thay đổi theo mùa, mỗi mùa đều có sự tuyệt vời của tạo hóa.
Với mùa xuân tiết trời hiền hòa, vạn vật như nâng lên sức sống, con người cảm nhận được sự phơi phới tin yêu bắt đầu một mùa mới, năm mới bởi muôn loài hoa thức giấc dâng hương, khoe sắc, rực rỡ, nên loài người cũng hưng phấn yêu đời: Chị viết trong tinh thần ấy:
“Tình xưa là những gấm hoa
Hương xưa còn lại đã hòa gió mây”
Hay là:
“Hồn ta ngây ngất trong nắng gió
Và mây ơi bay theo gió nhé
Gửi đến muôn nơi nụ hồng vừa chớm nở sáng nay”.
(Theo Gió mùa Xuân)
Nụ hồng là nụ hoa tình yêu, muôn sự ngọt ngào, yêu kiều của chị muốn gửi đến mọi người thông điệp tình yêu thương. Rốt ráo cuộc đời này chỉ có tình yêu thương là trường tồn, mọi thứ khác chỉ là phù phiếm. Ôi chao, sao quá đổi dễ thương và nhân văn đến thế.
Sắc màu thời gian của không gian đất trời cũng biến hóa ảo diệu, tùy cảm nhận của mỗi người sẽ nhìn nhận khác nhau qua lăng kính cảm thụ khi đối cảnh sinh tình. Thi hào Nguyễn Du đã viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nghĩa là người vui đối cảnh mới thấy vui. Nhà thơ nữ Xuân Mãn đã viết:
 
“Bốn mùa xuân hạ thu đông
Niềm vui nỗi nhớ trong lòng chứa chan
Cuộc đời là giấc mộng vàng
Thoảng trong chốc lát mơ màng đời vui”.
(Ôi, Sắc màu thời gian)
Hay là:
“Môi ai nở thắm nụ cười
Như hoa hé nụ bên đời thênh thang
Nắng vàng ươm nhẹ mây vàng
Cho lòng vui với gió ngàn ngày xuân”
(Gió ngàn ngày Xuân)

Ai trong chúng ta cũng bắt đầu cắp sách từ mái học đường. Tôi chắc chắn ai cũng nhớ về thuở học trò trinh nguyên, trong trắng ấy như một kỷ niệm đẹp suốt đời mang theo trong hành trình cuộc sống.
Rồi mùa hè về, nắng hạ vàng tô thắm những cánh phượng hồng làm xuyến xao cuộc chia tay ngày hạ cũ. Khi đến tuổi bắt đầu cảm nhận được phái khác có những rụt rè, bâng khuâng, lưu luyến một bóng hình ai. Nhà thơ nữ Xuân Mãn dẫu có nhút nhát, e dè cũng có những xúc cảm mùa chia tay, nỗi nhớ hạ lần về trong tiềm thức, có một điều thật lạ là chị không nhận diện như các cô nàng khác, “Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi khiến lòng tôi buồn buồn” mà phượng nở chỉ là báo hiệu ngày hè chia tay mà thôi, chẳng có gì phải u buồn, tâm hồn vui như nhà thơ Xuân Tâm: “Chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê/ Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ”, chị hồi tưởng và viết rất tích cực lạ thường:
“Màu hoa đỏ lửa tin yêu nhiệt huyết/ Vết thời gian hoa lửa hẹn tương lai”. Tuy lãng mạn nhưng trong trắng quá đổi. Tôi rất thích sự an vui trong cách diễn đạt này. Tuy nhiên, mỗi cuộc đời mỗi người trong niềm vui còn có cả nỗi buồn vẫn tiếp diễn đan xen trong suốt cuộc đời này: “Những cuồng phong giông bão chẳng hạn kỳ/ bao đau thương tận đáy lòng chôn kín”, chỉ có cách nhìn nhận tích cực tin yêu ấy nỗi buồn mới tổn giảm, niềm vui mới tăng trưởng tâm hồn, đó là cách lựa chọn để tâm mình an vui.
 
NỖI NHỚ DỊU DÀNG THU với tiêu đề tập thơ có lẽ chị yêu mùa thu nhất chăng? Hay là còn vấn đề gì khác. Suy nghĩ rồi liên tưởng đến một nhà thơ tượng trưng rất đặc biệt trong làng thơ Việt: Đinh Hùng với tùy bút: Cảm Thu ông viết như thơ: “Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ...
Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng cung nữ thời xưa và trong vườn nhà ai thấp thoáng hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn trẻ?
Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước”… “Tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ, và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh. Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ?

Có phải thế chăng mà chị lấy tập thơ: Nỗi nhớ dịu dàng thu? Vậy 3 mùa còn lại thế nào? Rõ ràng dịu dàng thu trong thi phẩm này hình ảnh ấy gợi lên nhiều nhất đến những 13 bài. Cả 3 mùa đi qua, cũng dịu dàng đâu kém cạnh. Ví như Đêm Bình Yên:
“Đêm dịu dàng gửi vào hương gió thoảng
Mùi thơm nồng nhè nhẹ chốn bình an,
Thoáng nụ cười ấm dịu nở môi hiền
Lòng thấy vui khi khi đêm bình yên diệu vợi”.
Nếu như khoa học triết học cho rằng hành vi bắt đầu từ ý thức thì Phật Giáo xác định chắc chắn Nhất thiết duy tâm tạo, hơn nữa chị đang đi trên con đường đến với đạo Phật và chị đã xác quyết với mọi người rằng: 70 tuổi bắt đầu làm thơ, với thường tình người ta có thể nghĩ, đã 70 rồi còn gì phải thơ với thẩn, nhưng với tôi tôi kính nể bởi chị đến với thơ như cuộc dạo chơi với con chữ như thú vui bậc nhất của trần gian để giải bày tâm hồn, bởi thơ là cách gần gũi nhất đến với chữ tình, ngoài ra chị chẳng vụ gì danh và lợi. Chất liệu đời sống đã đủ, đối đãi nhân gian đã đầy, cái cao cả hơn còn hiển hiện trần gian là còn làm việc như thú vui để con cháu, người đời vẫn còn thấy rằng chị có ích cho nhân quần, xã hội, nhất là tư tưởng tin yêu, không phiền muộn và lạc quan để có được tâm hồn, nhân cách cao đẹp:
“Gió hiền đã cuốn ưu phiền
Gửi vào mây trắng nắng hiền hôm qua
Lòng vui như nở bông hoa
Vườn khuya thơm ngát cùng hòa ánh trăng”
(Ngắm Trăng bình yên)
Với từng tuổi này, chỉ có tâm thanh tịnh, an vui là hạnh phúc nhất. Chị đã làm được điều ấy ít nhất trong thơ của chị.
Tôi may mắn là gần gũi chị hiểu tâm tư chị và nhất là đã đọc kỹ 2 tập thơ chị đã xuất bản nên càng hiểu thêm chị hơn bởi thơ là tình. Đọc xuyên suốt 2 tập thơ: Lặng Lẽ Vườn Thơ và Nỗi Nhớ Dịu Dàng Thu. Hầu như tính chân thực, ngôn ngữ chân phương của hoài niệm trong sáng, vui tươi với tâm thể lạc quan yêu đời, yêu người, đặc biệt không có nỗi buồn, nếu có chăng là buồn cho kẻ khác, rõ nhất là nỗi buồn của Mỵ Nương. Một câu chuyện tình giữa Trương Chi, Mỵ Nương bạn văn chương ai cũng biết người nghệ sĩ sáo tài hoa đã thổi sáo trên sông làm cho Mỵ Nương – Lá ngọc cành vàng tương tư tiếng sáo bèn xin cha cho Trương Chi vào gặp mặt. Nhưng Trương Chi quá xấu xí nên nàng sợ hãi và không còn yêu thương nữa. Trương Chi khi chết đi, trái tim yêu Mỵ Nương hóa ngọc, Mỵ Nương làm chung trà, khi rót trà bỗng hiện hình bóng Trương Chi, giọt lệ Mỵ Nương nhỏ xuống tan tành chén ngọc. Chị thương cảm cuộc tình này khi ngang qua nỗi nhớ đã đọc. Chị viết:
“Xa nhau nắng cũng ngỡ ngàng
Chiều về mây trắng giăng ngang nỗi buồn

Ngàn năm lòng mãi mơ màng
Trái tim vỡ nát của chàng Trương Chi”.
(Nỗi buồn Mỵ Nương)
Lòng chớm đông, nhưng chị hiểu lý vô thường, tiết trời cũng thay đổi theo mùa là thường tình của tự nhiên, mùa đông lạnh lẽo, cây lá cũng co ro buồn thu mình trong từng cánh lá, nhưng với tâm bình yên nương theo mùa mà vui đó là quan niệm an nhiên, vì thế chị viết trong tâm thể yên bình:
“Em trở về cành hoa dại lung linh
Với chút nắng vàng đầu đông nhẹ lướt
Thảm cỏ xanh vương vấn bóng chiều tà
Mà ngày xưa đã một thời thương nhớ”
(Trở về lại mùa đông xứ lạnh)
Hay:
“Ngày em đi nhẹ chân hiền qua ngõ
Để sương chiều chớm lạnh một vòng tay

Trong phút chốc nghe tiếng cười rộn rã
Mùa thu nào đã ấm một niềm tin”
(Lòng chớm đông)
 
Viết đến đây tôi muốn chia vui cùng chị, thời gian đến với thơ chưa nhiều nhưng tập thơ: NỖI NHỚ DỊU DÀNG THU có một bước dài trong thơ của chị từ ngôn ngữ đến thi ca.
Tôi thích sự lạc quan yêu đời của chị để “cho lòng bình yên” dù ngoài kia đời luôn biến động không ngừng, trong mấy bài thơ cuối trong thi phẩm này:
“Hoa bay theo gió cuốn/ Hồng trần cuốn giấc say/ với bao nhiêu phiền muộn/ để thấy đời vô thường” và rồi được ngồi bên hoa lòng thấy vui, bởi mọi sự quá khứ đã trôi xa, chỉ còn lại cái hiện tại đang là, sống thật trọn vẹn trong ý thức an vui:
“Giờ đây bên những sớm mai
Lòng vui chợt thấy cùng ai hoa cười”
Chúc mừng nhà thơ Xuân Mãn với thi phẩm thứ hai NỖI NHỚ DỊU DÀNG THU đã dự phần vào làng văn TPHCM nói riêng và cả văn chương Việt nói chung. 
 
Phạm Ngọc Dũ
(Mùa Vu Lan 2025)
Chủ biên Diễn Đàn Nghệ Thuật Sông Quê.
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0

Mời các bạn đọc nhận định của nhà văn, dịch giả Trần Như Luận - Món quà văn cho ngày sinh nhật tôi, viết cho bài thơ:
Khi Làm Thơ Yêu Em của NDT.
Tks nhà văn, bs nhiều.Thân mến, NDT



KÝ ỨC TÌNH YÊU & DƯ ÂM CHỮ NGHĨA:
Đọc “KHI LÀM THƠ YÊU EM” của
Ngã Du Tử


Bài thơ “Khi làm thơ yêu em” của Ngã Du Tử gợi nhắc một miền thanh xuân rực rỡ mà thoáng chốc đã trở thành quá vãng. Ngay nhan đề, tác giả đã định hình mối quan hệ mật thiết giữa tình yêu và thi ca: tình yêu chính là động lực khai mở con chữ, còn thơ là hình hài của những xúc cảm yêu thương chưa kịp ngỏ. Người đọc bước vào tác phẩm như mở một cánh cửa trở về quá khứ, nơi có nắng hồn nhiên, gió lãng mạn, hoa phượng đỏ và bóng dáng người con gái ngập ngừng trong khung trời học trò.

Ở đây, tình yêu không được miêu tả như một câu chuyện hoàn chỉnh mà như một chuỗi dư ba ký ức. Nhà thơ để thiên nhiên làm chứng nhân cho tình cảm, từ “nắng hồn nhiên thổi qua bờ sông nhớ” đến “gió lãng mạn trôi theo từng hơi thở”. Thiên nhiên trở thành ngôn ngữ thay thế cho sự ngập ngừng của lòng người, một kiểu song hành giữa ngoại giới và nội giới. Cũng chính vì thế, nhạc điệu bài thơ không theo một khuôn phép niêm luật nghiêm ngặt mà thiên về tiết tấu nội tâm, ngập ngừng, đôi khi như dừng lại ở một tiếng thở dài. Sự ngập ngừng này, với độc giả, lại chính là sức hấp dẫn: nó cho phép mỗi người tự đặt vào khoảng lặng ấy ký ức tình yêu của riêng mình.

Tiếp cận tác phẩm từ quan điểm Mỹ học tiếp nhận, có thể nói bài thơ mở ra một “tầm đón đợi” rộng rãi. Người đã đi qua tuổi học trò sẽ bắt gặp lại chính mình trong những trang giấy viết vội, trong sự vụng dại chưa dám thổ lộ. Người trưởng thành, đang đối diện với đời sống áo cơm, sẽ thấy chua xót trong câu “mộng mị áo cơm mùa giông bão”. Và những ai từng nếm trải nỗi xa cách sẽ nhận ra bóng dáng bản thân nơi câu hỏi bỏ lửng: “Em xưa ơi, còn nhớ buổi hẹn hò”. Chính sự để ngỏ ấy làm cho bài thơ không đóng kín trong hồi ức cá nhân mà trở thành hồi ức chung, nơi độc giả đồng sáng tạo nghĩa cùng tác giả.

Đặt bên cạnh dòng thơ tình thế giới, dễ thấy tác phẩm của Ngã Du Tử có nhiều điểm tương đồng với Pablo Neruda, thi sĩ người Chile, thế kỷ XX. Trong tập Hai mươi bài thơ tình và một bài ca tuyệt vọng (1924), Neruda đã để thiên nhiên hòa nhập với tình yêu. Khi ông viết “Đêm nay anh có thể viết những câu thơ buồn nhất” rồi để gió đêm và tinh cầu làm bạn đồng hành cho nỗi nhớ, ta bắt gặp sự cộng hưởng với Ngã Du Tử trong hình ảnh nắng, gió, hoa phượng. Ở cả hai, thiên nhiên không chỉ là khung nền mà chính là phương tiện biểu đạt tình cảm - Gió có thể chuyên chở hơi thở lãng mạn, nắng có thể mang theo ánh sáng hồn nhiên của tình yêu. Sự hòa quyện này làm nên một kiểu ngôn ngữ lưỡng thể: Vừa là tiếng nói của ngoại giới, vừa là ẩn dụ cho tâm trạng. Đồng thời, ở cả Neruda và Ngã Du Tử, tình yêu luôn gắn với nỗi hoài niệm. Với Neruda, đó là tình đã qua, là đêm buồn nhất vì người yêu không còn ở bên với Ngã Du Tử, đó là mùa phượng đã rụng, tình yêu ngập ngừng còn sót lại trong con chữ. Hai thi sĩ, hai bối cảnh khác nhau, nhưng cùng gặp gỡ trong cách biến tình yêu thành kỷ niệm chan chứa dư âm.

Tuy nhiên, nếu đem so sánh với Federico García Lorca, thi sĩ Tây Ban Nha cùng thế kỷ, sự khác biệt lại trở nên rõ rệt. Lorca, trong Romancero Gitano (1928), thường vẽ tình yêu bằng những gam màu bạo liệt, gắn liền với bi kịch thân phận và định mệnh oan nghiệt. Ở ông, người tình đi kèm với con dao, với vầng trăng máu, với bóng tối chết chóc. Tình yêu ở Lorca không chỉ là cảm xúc cá nhân mà còn là biểu tượng của một xung lực văn hóa, nơi cái đẹp và cái chết quyện vào nhau. Ngược lại, Ngã Du Tử giữ tình yêu trong biên độ ký ức thanh xuân. Ông không dùng hình ảnh máu lửa hay định mệnh, mà chỉ có nắng, gió, hoa phượng, áo trắng, sân trường. Lorca biến tình yêu thành trường ca bi thương, còn Ngã Du Tử viết tình yêu như một khúc ca bâng khuâng, dịu dàng, nhiều hơn là mất mát.

Ngay cả nhạc tính cũng đối lập. Lorca khai thác tiết tấu dân ca Andalusia, dồn dập, gấp gáp, cuốn hút người đọc như một điệu múa đầy ma lực. Ngã Du Tử lại chọn nhịp chậm rãi, lửng lơ, nhiều khoảng ngắt, như hơi thở hồi tưởng. Điều này làm cho bài thơ Việt Nam mang màu sắc lặng lẽ, gần với tiếng nói thầm thì, khác xa sự bùng nổ dữ dội trong thơ Lorca. Chính sự đối lập này làm nổi bật bản sắc riêng: Nếu Lorca là nhà thơ của bi kịch và cái chết, thì Ngã Du Tử là nhà thơ của ký ức dịu dàng và tình yêu vụng dại.

Điểm đáng chú ý là bài thơ của Ngã Du Tử không khép lại trong hoài niệm buồn, mà vẫn mở ra niềm tin vào sức sống của thơ ca. Câu kết “Hương con chữ còn thơm theo ngày tháng” là một tuyên ngôn ngầm: Dù tình yêu đã qua, con chữ vẫn lưu giữ hương tình và qua chữ nghĩa, tình yêu ấy vẫn tiếp tục sống trong lòng người đọc. Ở đây, ta thấy một quan niệm nghệ thuật quen thuộc trong thi ca hiện đại: Thơ ca không chỉ là ghi chép cảm xúc, mà còn là nơi tình yêu được bảo tồn và truyền tiếp qua thế hệ độc giả.

Đọc “Khi làm thơ yêu em” hôm nay, ta không chỉ thấy một câu chuyện tình riêng của tác giả, mà còn nhận ra một mảnh ký ức chung của cộng đồng. Thế hệ nào cũng từng có một thời phượng đỏ, từng có những buổi hò hẹn chưa kịp nói lời yêu, từng trải qua nỗi xuyến xao của ánh mắt đầu đời. Bài thơ trở thành tấm gương để mỗi người soi lại chính mình, để hiểu rằng tình yêu tuổi trẻ, dù mong manh, vẫn là một phần bản sắc tinh thần của con người. Và chính vì thế, bài thơ này không chỉ thuộc về tác giả, mà thuộc về mọi độc giả đã từng đi qua tình yêu.

Nếu nhìn ở bình diện rộng hơn, “Khi làm thơ yêu em” còn cho thấy một nét đặc trưng của thơ tình Việt Nam đương đại: Sự hòa quyện giữa cá nhân và cộng đồng, giữa ký ức riêng và ký ức tập thể. Thơ tình ở đây không phải là độc quyền của kẻ viết, mà là tài sản chung của những ai từng biết yêu, từng biết nhớ, từng một lần vụng dại. Đó cũng là điều làm cho bài thơ sống mãi: Nó không khép lại ở một cuộc tình, mà mở ra trong vô số cuộc tình khác, của vô số độc giả khác nhau.

Kết lại, “Khi làm thơ yêu em” là một tác phẩm giàu dư ba, vừa gợi liên tưởng đến Neruda với sự gắn bó giữa tình yêu và thiên nhiên, vừa khác biệt với Lorca trong cách biểu đạt: Không bi kịch, không dữ dội, mà dịu dàng, ngập ngừng và chan chứa hoài niệm. Đọc bài thơ từ góc nhìn Mỹ học tiếp nhận, ta thấy nó như một mảnh đất màu mở, để mỗi người gieo trồng ký ức tình yêu của riêng mình. Chính sự mở ấy là sức sống lâu bền của bài thơ: Nó không chỉ là tiếng nói của một thời thanh xuân, mà còn là bản hòa âm vô tận giữa con chữ, ký ức và trái tim người đọc./.

Bs. Trần Như Luận
(Quy Nhơn, 2025)


KHI LÀM THƠ YÊU EM


Khi tôi làm thơ yêu em
Nắng hồn nhiên thổi qua bờ sông nhớ
Gió lãng mạn trôi theo từng hơi thở
Tôi ngập ngừng những con chữ yêu thương

Thắng năm xác phượng ngập đường
Còn thơm mùi hương góc phố
Em eo thon tóc bay sân trường, đại lộ
Làm xuyến xao ánh mắt những chàng trai

Làm thơ yêu em ngây thơ vụng dại
Viết thành thơ chưa dám ngỏ, lạ kỳ
Ngày suy tư ngây ngất đến mê ly
Về chung lối cứ tha hồ đùa giỡn

Em mỹ lệ dưới khung trời thơ mộng
Vẫn ngại ngần nhút nhát cánh thơ trao
Tháng tư ơi, thương nhớ chẳng kịp chào
Rồi mộng mị áo cơm mùa giông bão


Xa tít tắp phía nghìn trùng mưa nắng
Em xưa ơi, còn nhớ buổi hẹn hò
Vẫn như thuở yêu em viết vội thành thơ
Hương con chữ còn thơm theo ngày tháng

NDT
(Trích: Vàng Gieo Tâm Thức)

















Đăng nhập để trả lời
0