Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

ĐẤT LỬA - Tiểu thuyết - Tác giả: Nguyễn Quang Sáng

20 trả lời, 44 lượt xem — Trang 1 / 1
 
 
 
ĐẤT LỬA

Tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Quang Sáng

Rút trong tập "NGUYỄN QUANG SÁNG - Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh",
Nhà xuất bản Văn học - 2007.
(Theo bản in năm 1963 của Nhà xuất bản Văn học)

Nguồn pdf: Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyển sang text: hoi_ls

 
 
 
 
 

I

 
Tiếng tù và từ đình làng túc lên “bun bun” dồi dội từng chập một, rồi buông một hơi dài lơ lửng trong mênh mông và vắng lặng.
Đường làng, nhà cửa, cụm xoài, và cả cánh đồng hoang đều im lìm, mê mệt dưới cái nắng chói chang của mùa mưa. Chỉ có dòng sông là còn hổn hển với những ngọn sóng lừ đừ, và ọp ẹp vỗ vào bờ. Và, từng bầy quạ đen, réo nhau “quang quác”, bay rảo theo ven sông tìm xác chết.
Sau hồi còi hiệu ấy, liền theo, tiếng ngựa chạy theo nước, kiệu, giòn giã gõ qua mặt đường. Người cưỡi ngựa lưng thẳng, mình mặc chiếc áo màu già dài phủ đến tận gối, sau ót tòn teng cái búi tóc, tay giữ cương, và tay phất ngọn cờ đuôi nheo màu già. Đó là người giữ chức trưởng ban trị sự đạo trong làng. Người làng vẫn quen gọi ông ta là Quản Dõng. Vì, hồi thời Pháp, ông ta làm hương quản. Ông ta dùng vó ngựa để đánh thức tín đồ.
Xóm Đìmh bắt đầu chộn rộn. Những tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, từ các nhà, các ngõ, các bóng mát, lần lượt kéo ra đường. Mỗi người có mỗi lối ăn mặc và trang bị khác nhau. Nhưng tất cả đều có chung một vẻ lạ kỳ. Người mặc bà ba đen có thắt lưng bằng vải trắng, hông đeo lủng lẳng cây gươm trần sáng chói; kẻ mặc quân phục đen, đầu chít khăn rằn, vai vác siêu đao. Người mang giày da, kẻ đi giày ống, kẻ đi chân. Có cô con gái mặc quần xanh áo trắng, lưng thắt vải hồng, và đầu chít chiếc khăn bằng miếng nhiễu màu xanh da trời. Họ hợp thành tốp ba, tốp bảy. Tốp kéo lại đình làng, tốp kéo ngược ra cầu, tốp kéo ra cây gừa ở bến sông. Mỗi tốp mỗi việc: học võ, canh gác, và dựng pháp trường. Họ đi dưới cái nắng hừng hực. Trên đầu họ, đàn quạ đen vẫn ngang dọc trên không réo nhau tìm xác chết.
Lúc đầu họ còn tán chuyện, cười, nói, la, ó; sau khi sắp thành hàng, họ vừa đi vừa cất tiếng hát:
Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường
Đoàn ngựa xe cuối cùng vừa khuất theo lối thôn
Phất phơ ngậm ngùi bay...(1)
 
Họ hát mỗi người mỗi giọng to nhỏ, và lệch lạc khác nhau, nhưng đều hòa hợp trong âm điệu u buồn.
Tiếng hát vờn lên trong ánh nắng, rồi theo hướng gió tan đi trong tiếng sóng vỗ ầm ì.
Quản Dõng phi ngựa đến từng tốp, nghiêng đầu nhìn. Ông ta thấy trong những tốp người ấy, vắng mất hai cha con nhà lão Ịnh.
 
*
*      *
 
Nhà của lão Ịnh cách đình làng không đầy năm tầm đất, và khoảng cách là con đường nhựa. Cửa ngó thẳng về hướng mặt trời mọc. Trước sân có con đường mòn chạy lẫn trong bãi ngô bãi mía đổ tận ra bờ sông. Nhưng bây giờ, đó là bãi cỏ hoang bị giẫm nát dưới vó ngựa và chân người. Nền nhà của lão là mảnh đất rìa của sân đình, hàng năm khỏi phải đóng thuế. Lão dời nhà lại đó cách đây đã tám năm, sau một vụ mất lòng với Quản Dõng. Trước đây, nhà của lão nằm sát mí hàng rào bông bụp của nhà Quản Dõng. Người ta còn nhớ, ngày ấy là một ngày tháng năm năm 1939. Quản Dõng tập trung tất cả tá điền ra chợ để đón chào quan chủ tỉnh về thăm làng. Trước khi đi, Quản Dõng bắt tá điền sắp hàng chỉnh tề để đón thử. Hắn căn dặn từng người một, hễ xe quan chạy qua thì tất cả phải đồng thanh hô to: “Quyu quơ mông xừ lắc mi nit tra tưa” (2). Hắn bắt mỗi người phải hô thử một lần, và xem chừng đã rành rọt nhuần nhã rồi hắn mới cho đi.
Nhưng đến khi xe quan chủ tỉnh chạy qua, thì lão Ịnh xăng áo, nắm quả đấm, đưa cao cái cánh tay đầy lông lá lên, và gào to: “Quyu quơ mông xừ nắc đít gà tơ”. Lão nhấn đi nhấn lại cái tiếng “mông xừ nắc đít gà tơ” ấy. Lão vừa hô vừa đưa quả đấm hướng theo xe. Tiếng của lão lại to lại rõ và át tất cả những tiếng chung quanh. Quản Dõng sợ điếng cả người. Hắn nửa muốn chạy lại bịt miệng lão, nửa lại sợ mất trật tự, nên hắn cứ trợn mắt nhìn lão, miệng cứ ú ớ, hai cái đuôi của bộ râu mũi cứ nhách lên nhách xuống và người cứ nhấp nhỏm. Bà con tá điền đứng trong hàng cứ nghiến chặt răng để khỏi bật tiếng cười. Sau khi xe quan đi qua, Quản Dõng liền đến cật vấn lão. Lão làm bộ như không biết gì, ra vẻ ngạc nhiên và đáp:
- Dạ! Thầy Hương quản hồi nãy dạy tôi làm sao thì tôi hô làm vậy, tôi là dân tá điền, tôi có biết tiếng Tây tiếng u gì!
Lão có nhiều mối cựu thù với gia đình Quản Dõng. Không biết làm cách nào, lão trả thù hắn bằng cách ấy. Quản Dõng biết thế, nhưng không dám làm gì lão. Vì hắn sợ cái tính liều của lão.
Sau đó, Quản Dõng trả thù lại bằng cách mở rộng sân nhà để lấy cớ đuổi lão đi. Khi lão gồng gánh đồ đạc qua nhà mới, lão không có vẻ gì buồn rầu cả. Gặp ai lão cũng nhếch miệng cười và nói mỉa lại:
- Chà! Nhờ thầy Hương quản mà nhà tôi khỏi phải đóng thuế hà hà...!
Sau đó một tháng, cũng như mọi năm, dòng Cửu Long bắt đầu đổi ngọn nước. Nước từ nguồn đổ xuống cuồn cuộn, mang theo từng ề củi riều trôi qua làng. Mùa nào cũng thế, vợ lão bơi xuồng ra giữa dòng vớt củi để chụm và lựa những loại củi quý, lấy mạt cưa làm hương để bán. Không may, gió nổi thình lình, những ngọn sóng to chen nhau tràn tới nhận chìm người đàn bà khắc khổ ấy. Vợ lão chết, để lại cho lão ba đứa con. Đứa con trai lớn mười năm tuổi, tên Hiếu, giữ lại trên gương mặt một hình ảnh của người mẹ là vầng trán hơi cao cao, khác hẳn cái trán thấp tè tè của cha, và hai đứa gái nhỏ một đứa lên tám, một đứa lên ba.
Từ đó, nhà của lão càng hiu quạnh hơn.
Người lão vốn to lớn, vai rộng, ngực nở nang và đầy lông. Gương mặt của lão hơi vuông, lầm lì, trán thấp; hai con mắt xếch to, rừng rực nhưng buồn rầu và cái mũi to như mũi lân. Lão, lúc nào áo cũng cởi phanh, ưỡn cái bộ ngực căng phồng và đầy lông về phía trước. Người ta bảo: lão lấy ngực ở đời. Tính tình của lão nóng nảy, sôi nổi và dữ dội. Lần biểu tình đấu tranh nào cũng có lão, lão luôn luôn đi đầu. Lão đi, vai hơi nghiêng với một vẻ ngang tàng như muốn đưa ngực mình ra đỡ đạn cho anh em.
Năm 1940, sau ngày khởi nghĩa, tưởng là Quản Dõng có dịp để trừ lão; nhưng không, cùng với cảnh tan tác chung, lão đã bỏ làng đi. Bỏ làng đi, lão mang theo hai đứa con nhỏ. Mấy năm sau, ông già Tư Ịnh ấy trở về, người khác hẳn: tóc dài chấm đến lưng, râu cằm che mất cả cổ. Lão mặc quần áo màu già và áo luôn luôn gài cúc. Ông về một mình. Còn hai đứa con nhỏ thì bị chết ở tận làng Hòa Hảo trong năm bị dịch tả.
Ông Tư Ịnh đã vào đạo Phật giáo Hòa Hảo.
Về đến làng, ông không kịp đi thăm hàng xóm, chưa chào hỏi ai một lời, đã vội vã vọt lên nhà Quản Dõng, ngồi chung bàn với Quản Dõng đàm đạo. Vì Quản Dõng cũng mới vừa vào đạo. Người làng nghe có người thuật lại: cách đó không bao lâu, Quản Dõng có lên tận làng Hòa Hảo để xin quy y theo đạo. Quản Dõng gặp lại ông ta, và ngỏ lời muốn mời ông ta trở về làng. Thế là từ đó, hai mối thù của hai gia đình từ lâu thắt chặt lại như cái nút, nay như đã cởi mở ra rồi.
Người ông trở nên đăm chiêu và trầm lặng hơn trước. Mỗi ngày, sau khi việc đồng áng xong là ông mang quyển kinh, quyển sấm đi lê la cùng xóm. Gặp ai, ông cũng gây chuyện, rồi khom mình xuống, kính cẩn lật quyển kinh ra đưa ngón tay to lớn chỉ vào một đoạn:
- Đây! Đây! Đoạn này đây, bổn đạo mình đọc thử câu này coi! - Rồi lão cất giọng trầm trầm:
Người tu có đất để cày
Có non có nước có thầy hộ thân...
và lão rỉ nhỏ vào tai người nghe:
- Đạo này là đạo của dân cày mình. Đạo này là đạo yêu nước, đánh Tây. Đạo này là đạo mưu toan việc nước có Phật trời phù hộ. Bà con không thấy đạo thờ trần điều hay sao? Trần điều màu đỏ là màu máu, màu cách mạng, đó là cờ của đạo mình...
Nếu không thế thì lão cũng đứng giữa mọi người, - tay nắm chặt lấy chòm râu như giữ lấy bộ mặt đừng vênh cao hơn nữa - lão nói về cái hội Long hoa sắp tới theo trí mơ tưởng của mình:
- Sắp đổi đời rồi! Đời sắp tới rồi! Chừng đó, bổn đạo ai mà thành tâm thì mặc sức mà coi - Tay lão đưa tròn lên như vẽ ra cái bầu trời mới - đủ các chư tiên chư phật, muôn thứ hào quang chớp nhoáng, có biết muôn vạn phép tắc thần thông nào mà nói. Con rồng bay phụng múa thì hằng hà sa số Phật!
Rồi, đôi mắt của lão dịu lại, mơ màng và giọng êm dần xuống như khuyên nhủ:
- Bổn đạo mình phải thành tâm theo đạo mới được. Ví như ông trưởng ban kia (ý muốn nói Quản Dõng) bây giờ còn biết cải tà quy chánh thay! Những người biết hồi tâm như vậy, chừng đó Phật trời đâu có bỏ.
Sau cùng, lão kết luận câu chuyện bằng hai câu thơ để nói cái viễn ảnh cuối cùng của đạo mình; lão vừa gật gù vừa ngâm:
Giàu nghèo nào có biệt phân
Người đời cũng hết nợ trần lao đao.
Người nào chịu theo đạo với lão, người đó dù trước đây có thù hằn với lão, lão cũng coi như người ruột thịt. Nếu ai tỏ ra chống lại đạo, thì người đó dù là ruột thịt của lão, lão cũng coi như là kẻ thù.
Lão giữ chức phó ban trong ban trị sự.
Nhờ đó nên Quản Dõng cho lão về với mảnh đất cũ, mỗi mùa được miễn nửa phần thuế và được Quản Dõng cấp riêng cho hai cha con lão một con ngựa lông hồng.
 
*
*     *
 
Đêm nay, lão là người xuống tay giết Sáu Sỏi, nguyên là chủ nhiệm Việt Minh huyện. - Tin ấy chưa có gì đích xác, nhưng tín đồ trong làng cứ nghĩ như vậy. Vì Sáu Sỏi là bạn thân của lão - Giờ này lão hãy còn nằm sải tay trên bộ phản đen mun. Lão hãy còn say nắng và đang chập chờn với giấc ngủ nặng nề. Đầu lão gối lên bộ truyện Tam quốc đã sờn gáy và hoe hoe vàng. Áo lão cởi phanh ra, phơi bộ ngực to lớn và xoắn xuýt những chòm lông, chòm râu dài vắt sang một bên cổ.
Trong tiếng sóng trầm trầm và trong tiếng gió rì rào qua hàng dương bên đình, quanh quẩn đâu đây bên tai lão, vờn vợn lên một giọng hát như mơ màng.
Giọng hát của bọn con trai là đà với một nỗi buồn man mác:
Ngựa đi ngoài xa hí vang trời
Chiêng trống khua trầm hồi
Ngần ngại trên núi đồi
Rồi vọng xa khắp nơi
Thắm bao niềm chia phôi.
Giọng nữ bỗng chen vào và vút lên:
Vui ra đi mà không ước hẹn ngày về
Bao nhiêu năm thời gian xóa bao thề
Người không rời khỏi kiếp gian nan
Người biến thành tượng đá ôm con...
Càng về cuối của câu sau cùng, giọng nữ càng nhỏ, vút cao lên, ngân run và vang xa như tiếng chuông đồng. Tiếng hát ấy len vào tâm hồn lão nhoi nhói như một lưỡi khoan. Tự dưng, lão nghe trong lòng mình xon xót nỗi biệt ly, cô đơn và tuyệt vọng.
Bên đình, tiếng ngựa hí vang lên và “độp” một tiếng vó.
Lão giật mình, giương mắt, buông thòng hai chân xuống bộ phản, vừa đưa tay gài cúc cổ vừa lồm cồm ngồi dậy. Lão thấy bàng hoàng. Tóc xõa xuống phủ cả đôi vai, lão ngồi thẫn thờ, và nhìn ra xa. Ngoài xa mênh mông: trắng xóa những ngọn sóng bạc đầu lấp lánh dưới ánh nắng. Từng bầy quạ như những đám tàn đen sau một đám cháy to, bay chấp chới theo ven sông, kêu lên những tiếng lạnh người. Mây khói đèn đọng dưới chân trời dài như một dải núi nằm dọc theo phía bên kia sông.
Cây gừa bên bến nước trước cửa nhà lão, lá chen nhau bum xùm như một cái đầu tóc rối. Dưới gốc, năm ba người đang lom khom dựng pháp trường, kẻ đào hố, người đóng cọc, họ vừa làm vừa cất tiếng hát. Thấy họ dựng pháp trường, ngực lão nhoi nhói đau. Lão kêu thầm: “Anh Sáu! Trời! Anh về mà làm gì?” Lão nghĩ đến cái chết của Sáu Sỏi, rồi cũng mang máng biết ai sẽ là người cầm đao giết Sáu Sỏi trong đêm nay. Lão chợt nhìn xuống hai bàn tay to lớn sần sùi và đầy lông của mình, lão khẽ rùng mình. Tự dưng lão đâm hoảng. Lão nhìn quanh quẩn, mắt lấm lét và sợ chạm phải mặt thằng con.
Lão đã hứa với Hiếu: lão sẽ xin ban trị sự tha chết cho Sáu Sỏi. Nhưng, làm gì...! Nếu Sáu Sỏi chịu đầu hàng, thì mới may ra mà thôi. Nhưng lão biết rằng: Sáu Sỏi vốn người cương trực. Trước đây, lão không đến khuyên nhủ Sáu Sỏi thì là gì? Lão đã nói với Sáu Sỏi biết bao nhiêu lần rồi. Nhưng Sáu Sỏi có chịu nghe đâu. Và mỗi lần gặp Sáu Sỏi là mỗi lần niềm tin của lão bị lung lay. Mỗi lời nói của Sáu Sỏi đều bắt lão phải suy nghĩ lại con đường đi của mình. Tiếng nói của Sáu Sỏi cứ lay thức sự suy nghĩ của lão. Mà lão thì lão không muốn suy nghĩ nữa. Lão chỉ muốn hướng trọn vẹn đời mình cho đạo. Lão nói rằng: hoài nghi là có tội lỗi với Phật Trời và, khi chết thì linh hồn sẽ sa xuống âm phủ. Thế nên, từ sáng đến giờ, mấy lần định đến Sáu Sỏi, lão đều lần lữa rồi lại thôi.
Lão nắm chặt lấy chòm râu theo thói quen, ngồi lặng và nghe xon xót trong đôi mắt.
Ngoài đường, tiếng vó ngựa đồm độp dồn dập phi nước đại trở về. Lão biết là vó ngựa của Hiếu. Lão lật đật đứng dậy định đi lánh mặt thì Hiếu đã thắng ngựa lại giữa sân. Không biết nó chạy đi đâu mà mình ngựa ướt đầm như tắm, mũi ngựa phập phồng, phì phò như hơi lò rèn. Mặt Hiếu đầm đầm và u uất. Hiếu vẫn ngồi trên mình ngựa, lườm mắt nhìn lão như muốn hỏi:
- Còn ở đây à?
Đôi mắt của lão bối rối, chớp lia lịa. Chợt thấy con gà trống ở góc sân đang vướng phải tóc, hai chân lấp vấp, lão vội cúi xuống để tránh luồng mắt của Hiếu, đưa tay vớ lấy cái tàn thuốc, khom mình chạy ra, suỵt một cái đuổi con gà, rồi thuận chân bước rẽ ra sau đường.



(1) Bài Hòn vọng phu của Lê Thương.
 

(2) Vive monsieur l’administrateur.
 




Đăng nhập để trả lời
0

II

 
Hiếu xuống ngựa, anh chưa kịp dẫn ngựa đi quần chân thì Hằng đến. Đấy là cô gái mặc quần xanh áo trắng, lưng thắt vải hồng, đầu chít chiếc nhiễu xanh da trời. Hằng hai mươi hai tuổi, mặt tròn, đôi gò má hơi cao, đôi lông mày uốn cong hình lưỡi liềm, mắt sáng lấp lánh và đôi môi son lúc nào cũng ướt mọng. Trong con mắt của trai làng và Hiếu thì Hằng là một cô gái lẳng lơ. Người ta thấy Hằng như muốn ve vãn tất cả bọn con trai. Trong những buổi họp, hoặc trên sân võ, hễ có mặt bọn con trai là Hằng cố làm duyên làm dáng. Khi đi thì lúc lắc cái đôi vai, đũng đĩnh cái đôi mông và mắt thì đảo nhìn tất cả mọi người. Mà nhất là đối với Hiếu, hễ gặp Hiếu là cô cứ lượn quanh qua Hiếu, tìm đủ cách để gây chuyện: “...Này, anh Hiếu! Đêm nào em cũng nghe anh, dậy thật sớm, phơi sương và tập dượt. Da em đã săn cón lại rồi đây này!...”. Càng nói, mắt cô càng sáng, nhất là đôi mi, mỗi lúc mỗi phơi phới lên. Vừa nói, cô vừa vén tay áo, cô vén khỏi cái làn da ram rám nắng, để he hé cái làn da trắng mịn như sữa ở gần nách, nói với một giọng nũng nịu lả lơi: “Anh cầm thử cái tay của em xem, nó cứng ngắt lại rồi đây này...!”. Cô vừa bảo vừa nâng tay đưa cho Hiếu. Nhưng Hiếu chẳng bao giờ sờ mó đến tay cô, mà chỉ lườm mắt, hoặc bậm môi, hăm dọa. “Mới đây mà nó đã quên thằng Phát rồi, đồ quỷ cái!”. Hiếu rủa thầm. Để chống chế lại sự ngượng ngùng, cô bĩu môi, hất mặt nhìn lại Hiếu, bướng bỉnh và thách thức. Rồi, bất chợt, cô ngửa mặt ra cười, cười một cách vô cớ, giọng cười ngân ngất nghe như điên dại.
Có thế mà người yêu của Hiếu lại đâm ghen. Hiếu cứ bị giày vò. Cho nên, mỗi lần gặp Hằng là Hiếu tìm đủ mọi cách để xa lánh.
Hôm nay thấy Hằng, anh lại càng bực bội và khó chịu hơn. Anh giương roi đánh “tróc” một cái, rồi phóng roi theo con ngựa đang chạy ra sân, như phóng lao. Anh không quay lại nhìn Hằng cũng không chào hỏi, anh vừa bước vào nhà vừa nâng vạt áo màu già bằng vải thô lên lau mồ hôi đang đầm đìa trên mặt.
- Anh đi đâu về đó? - Hằng đứng nép bên cửa, hỏi.
- Tôi đi gác! - Anh vừa trả lời nhát gừng vừa ngồi xuống phản.
Hằng chớp mắt nhìn Hiếu, len lẻn ngồi vào góc phản, nhưng cũng chỉ ngồi một bên mông phải, còn mông trái thì để ra ngoài.
Hằng có vẻ rụt rè. Hôm nay, Hằng đến, không phải là để ve vãn “bọn con trai” nữa. Hằng không đảo mắt nhìn Hiếu, cũng không vén tay áo đưa tay cho Hiếu sờ nắn. Hằng ngồi im, cắm mắt nhìn xuống nền nhà lồi lõm rác rưởi và đầy tàn thuốc.
Hằng muốn hỏi về tin tức của Sáu Sỏi.
 
*
*      *
 
Trước đây, Hằng yêu con trai của Sáu Sỏi là Phát. Ấy là một người con trai khỏe mạnh, đẹp trai và có một cuộc đời lận đận. Nhà của hai người sát vách nhau, cùng chung một bóng mát của cây xoài. Từ bé, hai người đã cùng tắm một bến sông, cùng tranh nhau một trái xoài rụng, cùng chung một con đường ra cánh đồng đi làm mùa.
Phát không vào đạo, nhưng hai người vẫn yêu nhau. Trong những ngày sôi nổi chuẩn bị cướp chính quyền, đêm đêm Phát thường đi tập dượt với anh em thanh niên Tiền phong, còn Hằng thì tập dượt với bà con tín đồ. Hai người ở hai đoàn thể, hai bãi tập khác nhau, nhưng hai người lúc nào cũng thấy mình cùng chung một ý chí: yêu nước. Nhiều lúc, Hằng cũng muốn Phát cùng vào đạo, nhưng mỗi lần nghĩ đến Phát phải để tóc dài như mình, Hằng lại ngại, nếu có bảo thì cũng bảo qua loa cho có chuyện vậy thôi. Hằng yêu mến tất cả anh em cùng đạo, nhưng khi nhìn thấy họ cũng có cái đầu tóc như mình, Hằng thấy họ như thế nào ấy: chẳng phải đàn ông, chẳng phải đàn bà, trông họ vừa ảm đạm, vừa bẩn như thế nào ấy, chẳng đẹp trai một tí nào. Những cô bạn mỗi lần hỏi Hằng sao không bảo Phát vào đạo thì Hằng múm mím cười: “Chừng nào đạo cho các anh ấy cắt tóc thì mình mới chịu cho anh ấy vào!”. Nói thế, nhưng Hằng cũng thấy sợ cho Phát, đôi lúc thấy như hai người có cái gì thật khác nhau. Hằng vẫn yêu mà lòng không yên ổn.
Sau Cách mạng tháng Tám, Sáu Sỏi từ nơi xa trở về, hai gia đình định cho hai người lấy nhau. Nhưng hai người vẫn còn muốn bay nhảy, muốn lo việc nước, nên cả hai đều trù trừ chỉ cứ muốn yêu nhau như thế thôi. Thế rồi, không bao lâu có một biến cố xảy đến thật bất ngờ. Một số bà con tín đồ Hòa Hảo ở Cần Thơ dưới sự cầm đầu của Năm Lửa đã kéo ra thị xã đòi cướp chính quyền và đã xảy ra một cuộc xung đột. Tin ấy tràn đến làng như một cơn dông. Tất cả đều xôn xao. Người trong đạo xầm xì với nhau: “Việt Minh là quỷ dương, Việt Minh là kẻ thù của đạo!” Người làng đều nhìn nhau bằng cặp mắt nghi ngờ. Lệnh trên lại truyền xuống cho tất cả tín đồ: “Nam tín đồ được quyền cắt tóc ngắn để chuẩn bị ra chiến trận. Gươm đao phải sắc bén, đâu đó phải sẵn sàng!”. Đêm đêm, một số tín đồ bắt đầu có những cuộc họp kín. Những người ngoài đạo cũng bắt đầu lên chợ ngũ tập trung. Những cô nữ tín đồ có người yêu ngoài đạo, họ lần lượt, kẻ trước người sau, họ khuyên nhau, bảo nhau hãy cắt đứt tình cảm với người yêu của mình. Có cô sau khi gặp lại người yêu lần cuối cùng, khi trở về, chạy vào buồng, ôm mặt khóc. Có cô tỏ ra dưng dưng, có cô tỏ ra hãnh diện, coi như đó là một chiến công của mình đối với đạo, mong được Phật thầy hiểu cho. Những cặp mắt của các cô bạn ấy bỗng trở nên ác độc đối với Hằng. Họ luôn luôn dòm ngó Hằng, khiến cho Hằng sợ. Hằng không dám gặp lại Phát, hễ thấy Phát và nhìn thấy bà con tín đồ là Hằng lẩn đi và cố gắng tránh những cuộc hẹn hò. Có một đêm, Hằng đang đi từ sân võ về, nghe tiếng gọi của Phát, Hằng dừng lại, ngập ngừng, bỗng thấy tên Bảy Thẹo mang gươm dài thoáng qua, tim Hằng liền đập rộn lên, rồi Hằng vụt chạy về. Như một đứa bé sợ ma, Hằng trùm chăn kín cả người. Nửa đêm thức giấc và nghe tiếng sóng, Hằng tự hỏi: “Sao mình lại sợ, sao mình lại bỏ chạy. Chắc là anh ấy giận mình lắm. Hay là mình bảo anh ấy vào đạo, đạo bây giờ đã cho đàn ông cắt tóc ngắn lại rồi, nhưng chắc gì anh ấy chịu, anh ấy đã nhìn những người có đạo với cặp mắt đã khác rồi!”. Đêm ấy, Hằng trằn trọc cho đến sáng.
Chuyện đêm ấy có thế mà tên Bảy Thẹo đã tung tin ra hai người hãy còn dan díu với nhau, còn hẹn hò, còn gặp nhau dưới gốc cây vông đồng. Tin đồn với những chi tiết bịa đặt nghe y như là thật vậy. Và người ta xầm xì buộc tội cho Hằng là một cô phản đạo. Hằng chẳng biết phân trần với ai. Đêm đêm, Hằng chỉ biết thắp hương, quỳ dưới trần điều mà minh oan với Phật thầy. Cha và anh của Hằng trước đây đã bằng lòng cho Hằng lấy Phát, bây giờ cũng đã bảo: “Thôi, mày đừng có gặp nó nữa!”. Hằng không gặp Phát, nhưng Hằng vẫn yêu Phát. Nhiều lúc, Hằng cũng muốn quên Phát đi, nhưng chẳng hiểu sao hình ảnh của Phát cứ hiện lên trước mắt Hằng. Không quên được Phát, không tự mình xua đuổi nổi hình ảnh của Phát, đêm đêm Hằng van vái Phật thầy, cầu mong Phật thầy xua đuổi hộ cho mình. Nhưng, đứng trước tình yêu của Hằng, Phật thầy như bất lực. Hằng không quên Phát, mà càng ngày càng yêu Phát nhiều hơn. Hằng không hiểu được tại vì sao? Hằng tự an ủi: “Có lẽ Phật thầy không muốn cho mình quên anh ấy đây thôi!”. Hằng muốn nói với Phát tất cả ý nghĩ đó. Nhưng làm gì được gặp Phát mà nói. Trước đây, những đêm gặp nhau dưới gốc cây vông, Phát thường hay bắt Hằng đứng tựa lưng vào cây vông, buông dài cả mái tóc về phía trước. Hằng biết Phát yêu thích cái hình ảnh ấy của mình.
Thế nên, chiều chiều, Hằng thường hay đứng tựa vào cây xoài trước cửa nhà hai người, đợi Phát từ xóm Đình về chợ. Thấy Phát đi qua, Hằng liền đưa tay xõa tóc, kéo cả cái mái tóc đen dài vắt ra trước ngực và đưa tay vuốt ve, mắt vừa lim dim vừa chớp nhìn theo Phát. Chiều nào nàng cũng làm như vậy cho đến khi Phát đi khuất rồi nàng mối bới lại tóc và tự hỏi: “Chẳng biết anh ấy có hiểu cho lòng mình không?”. Hằng băn khoăn, xốn xang, và chẳng biết sẽ ra sao? Hai người chưa gặp lại nhau lần nào nữa thì Tây trở lại làng. Khi tàu chiến của giặc Pháp từ Nam Vang đổ xuống, neo lại ở đầu Cù lao bắn vào làng, và đại đội lính lê dương cặp tàu sắt lại bến, chiếm lấy thị xã thì Quản Dõng, Bảy Thẹo, lão Ịnh, Chiến, và một tín đồ trong làng liền nổi đuốc, túc tù và kéo nhau đi bắt giết những người ngoại đạo, họ bảo là phải trả thù cho những tín đồ đã bị hy sinh ở Cần Thơ.
Một số người chết. Thây trôi trên dòng sông. Ban ngày, tiếng quạ đen kêu át tất cả tiếng chim.
Từ đó, Phát và Sáu Sỏi và một số người ngoại đạo đã bỏ làng đi nhưng nàng chẳng biết họ đi đâu.
Khi giữa Pháp và một số tín đồ Hòa Hảo đã bắt giết và đánh bật các cơ sở cách mạng ra khỏi làng thì một số tín đồ nhao nhao đòi ban trị sự đạo phải bàn mưu đánh Pháp. Một số tín đồ như lão Ịnh và cha anh của nàng cùng một số nữa đã tự động chặn đánh những chiếc xe ngựa của giặc Pháp đi từ chợ huyện về. Giặc Pháp, lính Việt gian coi những người Hòa Hảo là những kẻ sớm đầu tối đánh. Bọn chúng liền quay súng đánh lại nhân dân Hòa Hảo, càn quét xóm Đình, đốt nhà và giết người. Cơ sở chống Pháp của một số tín đồ bị đánh tan tác. Trong lúc ấy, phía bên kia sông Cửu Long của những làng nằm dọc theo những con kinh xuyên vào Tháp Mười bắt đầu có tiếng súng của các lực lượng kháng chiến. Cũng trong những ngày ấy, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra thông cáo kêu gọi tất cả bà con tín đồ và nhân dân hãy đoàn kết, đánh Tây cứu nước.
Không khí trong làng dần dần được thay đổi. Sáu Sỏi từ U Minh trở về, giữ chức chủ nhiệm Việt Minh huyện và chính quyền địa phương được thành lập. Phát cũng cùng về với một tiểu đội du kích. Xóm Đình bỗng trở thành khu căn cứ của xã.
Hằng không thể hiểu được rõ ràng vì sao cách đây có mấy tháng, hai bên bỗng dưng lại đánh nhau, rồi bây giờ lại đoàn kết với nhau? Hằng không hiểu, không đủ sức để hiểu và Hằng cũng không cần phải hiểu để làm gì. Hằng chỉ thấy tất cả tín đồ ai ai cũng hởi dạ, ai ai cũng vui mừng. Hằng chỉ biết rằng mình và Phát sẽ gặp lại nhau. Có lúc Hằng tự thấy mình ngây thơ quá, nhưng rồi nàng cũng tự an ủi: ngây thơ thì có tội gì? Một đêm nghe tin Phát về, Hằng liền nhờ cô bạn đồng cảnh ngộ là Hiền bảo Phát ra gốc cây vông cho nàng được gặp.
Đêm ấy là một đêm cuối năm năm 1945, gió bấc đã tràn về, nàng đứng đợi mà không thấy rét. Khi Phát đến, nàng thấy mình như đứng trước một người tướng. Phát oai vệ quá và khác xưa quá! Phát mặc chiếc áo mưa dài mở cả khuy. Phát đi ngược lại chiều gió, hai vạt áo bay như hai cánh chim, và bên hông xề xệ cây súng ngắn. Hằng vừa thấy yêu, vừa thấy kính. Hằng không dám chạy thẳng đến Phát củng không dám lẩn trốn như ngày xưa nữa. Người Hằng bỗng mềm nhũn và muốn lả đi. Gặp lại nhau, mới có hơn hai tháng mà nàng tưởng như xa nhau từ lâu lắm. Hằng định bụng khi gặp Phát, Hằng sẽ nói tất cả. Nhưng khi Phát đứng trước mặt thì cổ nàng bị tắt nghẹn. Nàng chỉ biết nhìn Phát, rồi khe khẽ lắc đầu:
- Anh! Không phải lỗi tại em! - Rồi nàng quay mặt vào cây vông và khóc. Nàng nghe bên tai mình có một giọng nói ấm áp quen thuộc và rụt rè. (Tiếng gió làm rung tiếng nói của anh ấy hay là tiếng anh ấy run thật? Sau này nhớ lại, nàng hay hỏi như vậy).
- Em! Đừng khóc! Anh hiểu! Chúng ta sẽ không xa nhau nữa đâu. Lần này, nếu có gì thì anh sẽ đưa em đi. Anh muốn em làm cứu thương cho bộ đội. Em có đi theo anh không?
Hằng nghe Phát hỏi, nàng muốn quay lại, áp mặt mình vào lồng ngực Phát và đáp lại, nhưng nàng không nói được, mà chỉ trả lời bằng tiếng khóc thôi.
Từ đó, đêm đêm hai người thường hay đi gác chung, cùng viết khẩu hiệu trên mặt đường; có khi, Hằng cùng theo Phát bắn bót, làm nhiệm vụ cứu thương. Có Phát, Hằng chẳng biết sợ là gì. Có Phát, mọi việc đối với Hằng đều trở nên yên ổn và tốt đẹp. Yêu Phát, nàng đã tự thêu dệt cho mình không biết bao nhiêu là ước mộng. Đêm nằm thao thức, Hằng thường mơ thấy: trong một cuộc chiến đấu, Phát bị trúng thương - nhưng bị trúng thương nhẹ thôi - Phát sẽ ngã trên cánh tay mình. Nàng sẽ nâng lấy Phát, băng bó cho Phát, vuốt ve lấy mái tóc của Phát, và nàng sẽ cúi hôn Phát như trong vở kịch “Nàng tiên với chiến sĩ” mà nàng đã được xem. Hoặc nàng sẽ ngã trên cánh tay của Phát, và trong những cơn mê, màng sẽ được Phát vuốt ve. Những hình ảnh ấy thường gây cho nàng một xúc cảm rờn rợn cả người. Hằng hãnh diện với mối tình của mình, Hằng không còn biết thẹn như lúc mối chớm yêu nhau nữa, Hằng muốn cùng đi với Phát trước mặt mọi người. Hằng không bao giờ nghĩ: hai người sẽ xa nhau, hai người sẽ sống có nhau, chết cũng có nhau.
Thế rồi, bỗng một hôm, tên Quản Dõng nhân danh là trưởng ban trị sự đạo, đã cho tên Bảy Thẹo gọi nàng đến nhà.
Quản Dõng hỏi:
- Bác nghe cháu với cháu Phát, hai người đã “thầm lén” với nhau có phải không? - Quản Dõng hỏi nửa đùa nửa thật như vậy.
“Không! Hai cháu yêu nhau thật sự chứ không phải thầm lén!”. Hằng muốn đáp lại nhưng Hằng không nói mà im lặng, e thẹn mà sung sướng.
- Hai cháu định chừng nào thì làm đám cưới?
- Dạ, đến độc lập!
- Cháu có khuyên bảo cháu Phát “quy y theo đạo” không?
Qua câu hỏi, Hằng biết có điều gì sắp xảy ra, Hằng hơi sợ và ấp úng.
Quản Dõng hỏi dồn:
- Cháu không khuyên bảo gì với cháu Phát à?
- Dạ... có!
- Sao ban trị sự không thấy cháu Phát xin vào đạo!
Hằng không dám nhìn hắn. Nàng cúi gầm xuống.
- Như vậy thì không nên đâu cháu ạ! Cháu không thấy cái đạo Thiên chúa hay sao? Người ngoại đạo nào mà muốn lấy con gái của họ, người ấy phải xin vào đạo thì Đức cha của họ mới chịu làm phép cưới. Nếu không thì chẳng được lấy nhau đâu. Còn cô con gái, một là bỏ chồng, hai là bỏ đạo, hai điều phải chọn lấy một điều. Nhưng thuở đời, bác chưa hề thấy ai mê trai mà bỏ đạo bao giờ - (Hằng ngượng đến chín người vì cái tiếng “mê trai” của hắn). Đó là cái chuyện của đạo Thiên chúa. Còn đạo của mình, nó “mầu nhiệm” hơn nhiều, thì lại càng không nên đâu cháu ạ! Một người thì ở cõi Niết bàn, còn một người thì bị sa xuống âm phủ, thì lấy nhau làm sao được? Bác nói như vậy, cháu nghe có phải không?
Hằng biết là Quản Dõng muốn nói thẳng với mình: nếu không kéo được Phát vào đạo thì một là bỏ đạo, hai là bỏ Phát. Không! Hằng không thể nào bỏ đạo được! Nghĩ đến những hình phạt về linh hồn, Hằng thấy ớn lạnh đến xương sống. Hằng rùng mình! Bỏ Phát? Không! Hằng cũng không thể bỏ Phát được! Nếu mất Phát, Hằng sẽ sống với ai? Mình không yêu ai nữa đâu! Cả hai, Hằng không muốn bỏ điều nào cả. Một trong hai lẽ sống ấy mà mất đi, thì cuộc sống của Hằng sẽ trở nên tàn tật. Những ý nghĩ ấy như đốt cháy người Hằng. Nàng ngồi im, nghẹn cổ, tự dưng nước mắt muốn trào ra.
- Cháu là người của đạo, ban trị sự có bổn phận phải lo cho cháu, cháu về mà nghĩ lại xem!...
Đêm hôm ấy, Hằng không ngủ được. Yêu Phát, Hằng như không thấy Phát là người ngoại đạo. Phát không có làm gì tội lỗi, Phát không có gì xấu xa, Phát không có gì đáng sợ, Phát chỉ đáng yêu mà thôi. Qua lời nói của Quản Dõng, Hằng như sực nhớ lại: hai người như có một cái gì thật khác nhau. Nhưng Hằng không sao tìm được cái khác nhau ấy cho rõ ràng. Hay là mình u mê quá? Hằng tự hỏi, tự dằn vặt mình. Hằng không sợ những lời đe dọa của Quản Dõng. Hằng sợ những lời đe dọa trong kinh sấm và những lời đồn đại nhiều hơn. Trong những năm tiêu điều vì cảnh nghèo, cảnh chết chóc của nạn dịch và cảnh khủng khiếp của chiến tranh giữa Nhật với Đồng minh, người trong đạo đã thì thầm với nhau: cuộc đời đã sắp đến ngày tận thế rồi. Một ngày gần đây, - nhưng chưa biết là ngày nào - ngày ấy sẽ tối trời tối đất trong ba ngày liền. Trong cái đêm tối dài dặc ấy, bọn quỷ dương sẽ đi rểu khắp các ngả đường. Bọn quỷ sẽ gõ cửa từng nhà, gọi tên từng người đàn ông và bắt hồn họ đi. Dưới sông thì sấu nổi, trên rừng thì hùm beo, ai không phải là người trong đạo thì hùm tha sấu bắt. Còn những người đã thật lòng quy y theo đạo thì được Phật thầy che chở. Sau đó, sẽ có ba tiếng sấm nổ long trời. Núi Cấm - Hằng vẫn chưa biết núi ấy ở đâu - sẽ nổ ra nhiều cửa. Núi Cấm sẽ biến thành cung đình và Phật thầy sẽ xuất thế trị vì. Những người có đạo, được quy tụ dưới chân Thầy, được dự hội Long hoa. Mấy tháng nay, vì vui say với kháng chiến, vì yêu Phát, Hằng như quên những điều đó. Nếu có nhớ thì niềm vui của kháng chiến và tình yêu đối với Phát cũng át đi. Giờ đây, lời nói của Quản Dõng như mang bóng đen đến cho Hằng. Trước mắt Hằng, cứ hiện lên một đêm tối. Đêm đen như mực và dày đặc. Nhà cửa im lìm. Nhà cửa như xếp vào nhau vì sợ sệt. Trên khắp các ngả đường, nghễu nghện những con quỷ với hình thù dị kỳ, con có sừng, con có nanh, chúng vừa đi vừa kêu vừa hú và gõ cửa từng nhà. - Người trong đạo đã dặn truyền cho nhau: trong nhà phải có sẵn vải rách. Nếu nghe chúng gọi đến, thì đàn bà cầm những cái giẻ rách, mở cửa he hé, đưa ra và nói “chồng tôi đã đi trước rồi, cho tôi gửi theo quần áo”. Bọn quỷ ấy tưởng thật, chúng sẽ cầm lấy giẻ rách và đi. - Dưới sông, sóng nổi ầm ầm, một đàn sấu khổng lồ, to bằng những chiếc ghe chài, mình gồ ghề, nước da đen sạm đầy rong rêu từ đáy nước trồi lên. Hùm beo từng đàn, nhe nanh, vờn quanh qua nhà và gầm gừ. Những người không theo đạo, người bị bắt, kẻ bị hùm sấu xâu xé. Đây đó, kẻ kêu người khóc. Trong tiếng sóng nổi, tiếng hùm beo, tiếng quỷ dương gõ cửa, tiếng kêu của người bị bắt. Hằng thấy một đàn quỷ ăn mặc rách rưới đến ghê sợ, sòng sọc vào nhà Phát. Bọn quỷ lôi Phát, tung bổng Phát lên. Người Phát chới với giữa khoảng không. Một đàn hùm beo, nhe nanh, múa vuốt, gầm hét chờ Phát. Phát rơi xuống, hùm beo vồ tới, xâu xé Phát ra làm đôi, xâu xé Phát ra từng mảnh nhỏ.
Nghĩ đến những hình ảnh ấy, nỗi khiếp sợ xâm chiếm lấy tâm hồn Hằng. Tim Hằng như có bàn tay của ai bóp chặt. Hằng sợ đến mất thở. Hằng vùng dậy. Bà mẹ không hiểu gì, cất tiếng hỏi, nhưng Hằng không nghe thấy. Hằng mở tung cửa, ù chạy.
Bên ngoài, đêm trăng yên tĩnh. Hằng chạy lẫn trong vườn xoài lốm đốm ánh trăng. Tóc Hằng bị vướng vào một cành cây thấp, giật Hằng lại. Hằng không biết gì hết. Hằng cứ cắm đầu chạy. Một lọn tóc bị đứt, Hằng cũng không đau. Hằng chạy băng qua đường, gõ cửa nhà Hiếu.
- Anh Hiếu, anh chạy lại đằng trạm gác, gọi anh Phát giùm tôi cái.
- Có chuyện gì vậy?
- Chạy giùm tôi cái, mau đi!
- Chuyện gì mới được chứ?
- Tôi đợi ảnh ở sau đình, mau lên đi!
Hiếu không biết gì, thấy cái vẻ hốt hoảng của Hằng, anh chạy ngay.
Hằng đợi Phát ở sau đình. Trong tiếng sóng vỗ về khuya, tiếng gió rào rào qua hàng dương - cho đến bây giờ nàng cũng không hiểu tại sao, khi thấy Phát thì nàng liền quỳ xuống, ôm lấy đôi chân của Phát, nói với một giọng vừa van xin vừa quyết liệt:
- Anh! Anh hãy xin vào đạo đi! Anh hãy xin vào đạo đi! Em sợ lắm! Em sợ lắm!
- Em làm sao vậy, đứng dậy đi em.
Hằng càng ôm chặt hai chân Phát:
- Không! Anh nói đi! Anh có xin vào đạo không? Hay là anh muốn em bỏ đạo? Anh có muốn em bỏ đạo không? Anh nói đi.
- Không! Anh không bao giờ muốn em bỏ đạo đâu! Đứng dậy đi em! Bình tĩnh lại đi em!... Đầu em nóng quá!
(Ôi! Nếu lúc ấy, anh ấy mà bảo mình bỏ đạo thì mình sẽ cắt đứt với anh ấy ngay, mình sẽ chạy trở về nhà thôi. Đằng này, anh ấy lại không bảo mình bỏ đạo. Những lần nhớ lại, nàng thường nói thầm như vậy). Lúc ấy, Phát cúi xuống, gỡ tay Hằng ra, và ngồi cạnh Hằng. Tự dưng, nàng thấy mệt mỏi đến rã rời. Phát vuốt qua mái tóc nàng. Trán nàng đầm đìa mồ hôi. Phát bảo:
- Anh không vào đạo, nhưng anh vẫn làm đúng lời răn của đạo. Đạo dạy mỗi người dân phải biết yêu nước, phải thù Tây. Anh là chính trị viên xã đội, lần nào giặc đi bố anh cũng đánh, anh không phải là người yêu nước hay sao? Anh không vào đạo, nhưng anh có làm điều gì sai đâu! Em có thấy như thế không?
Nghe Phát hỏi, Hằng không biết phải trả lời như thế nào. Anh ấy không vào đạo, nhưng anh ấy chẳng làm điều gì sai cả. Anh ấy yêu nước, anh ấy đánh giặc rất can đảm, chính mắt mình đã thấy, vả lại, anh ấy cũng không như những người ngoại đạo khác. Những bọn con trai ngoại đạo ở làng, họ thường hay chê giễu và tỏ ra khinh rẻ bà con tín đồ. Còn anh ấy, anh ấy chẳng bao giờ như thế, anh ấy bảo là anh ấy làm đúng theo lời dạy của đạo. Đúng như vậy!
- Nhưng mà em muốn anh vào đạo! - Được gần Phát, Hằng không thấy khiếp sợ như lúc nằm một mình nữa, cơn sốt của những ý nghĩ đen tối cũng dịu dần. Trước mắt nàng không phải đêm tối khủng khiếp. Trước mắt nàng: vườn xoài nằm im dưới ánh trăng. Ánh trăng xanh mờ. Đêm yên tĩnh và dịu dàng. Nép vào vai Phát, nàng nói với một giọng bình tĩnh hơn.
- Anh hiểu vì sao em lại vào đạo - (Anh ấy chẳng chịu trả lời ngay câu hỏi của mình mà lại nói như thế đấy).
- Anh hiểu như thế nào, nói đi!
- Anh hiểu, nhưng bây giờ anh chưa nói được...
- Sao vậy, anh?
- Vì bây giờ, anh chưa biết cách nói cho thật rõ ý nghĩ của anh. Nếu anh nói không được rõ, thì em rất có thể giận anh. Mà anh thì anh chẳng muốn cho em giận anh đâu!
Anh ấy hiểu mình. Nhưng anh ấy chưa muốn nói là vì sợ mình giận. Anh ấy thì bao giờ cũng như thế đấy: bình tĩnh, sáng suốt và giọng nói bao giờ cũng ấm áp dịu dàng - Hằng không nói sao được nữa. Nàng cũng thấy bình tĩnh và sáng suốt trở lại. - Anh ấy không có điều gì sai. Bọn ma quỷ cũng không bắt anh ấy đâu, không làm gì nổi anh ấy đâu! - Được ngồi gần Phát, nàng thấy mọi việc đều trở nên yên ổn. Hằng thấy ấm áp trong hơi thở và cái mùi quen thuộc của Phát. Hằng như thấy mình vừa qua một cơn vật vã điên dại, Hằng thấy mệt lả cả người.
- Anh ơi! Em mệt quá!
Nàng ngả lưng vào vai Phát, đưa tay vuốt ve mái tóc của Phát, nói như mơ.
Nghe tiếng sóng từ dòng sông dội lên và tiếng gió rào rào qua hàng dương, nàng lim dim mắt, muốn ngủ...
Sau đó một tháng, Phát được cấp trên điều về làm chính trị viên cho một đơn vị Vệ quốc đoàn. Đêm ấy, Hằng đưa Phát ra đi. Hằng đã tự tay đan cho Phát một chiếc nóp, khâu vá ba lô, quần áo. Hằng hãy còn nhớ rõ, đêm ấy là đêm tối trời. Hai người cùng đi một chiếc xuồng cui nhỏ, vượt sông. Phát ngồi lái, nàng ngồi mũi. Dòng sông, tàu địch thường hay tắt máy thả trôi. Hai người không nói với nhau một lời, hai người cứ cắm cổ mà bơi, chốc chốc, nàng lại quay ra sau lái. Hằng cứ sợ Phát bị sóng chồm lên cuốn mất. Nàng biết là mình sợ vô lý, nhưng nàng vẫn cứ sợ.
Qua đến bên kia sông, hai người cho xuồng cặp lại dưới bụi gừa khuất trong vàm kinh nhỏ. Thế là đã đến lúc phải xa nhau rồi. Từ lâu, yêu Phát, nhưng Hằng muốn giữ trinh tiết cho đến ngày cưới.
Nhìn cái bờ sông xa lạ - cây cối bị bom đạn, nằm gục đầu bên bờ, thoang thoảng mùi thuốc súng, nhìn những con đom đóm nhấp nháy lập lòe trên tàn gừa, nhìn những đợt sóng bủa ầm ì, tự dưng Hằng thấy lo sợ. Linh tính như báo trước cho nàng: hai người rồi sẽ không gặp lại nhau nữa. Anh ấy sẽ hy sinh, hoặc mình sẽ chết, hoặc có điều gì sẽ xảy ra, nàng không đoán trước được. Ôi! Nếu yêu nhau mà không yêu đến nơi đến chốn, thì sau này nàng sẽ hối hận vô cùng... Ngay trong đêm đó, Hằng hiến tất cả đời mình cho Phát... Nhớ lại lúc âu yếm, nghe tiếng sóng vỗ mạnh vào xuồng, xuồng tròng trành lắc lư, nàng bỗng chợt một ý nghĩ: cuộc đời của hai người rồi cũng lênh đênh như thế. Ý nghĩ ấy ám ảnh nàng, nàng thấy đau xót. Nàng bỗng òa lên khóc (Tội nghiệp anh ấy, anh ấy chẳng hiểu vì sao mình khóc, khi thì xin lỗi, khi thì tưởng mình không muốn cho đi, mình muốn nói, nhưng ngượng quá!)
Về làng, Hằng sống với một tâm trạng vừa băn khoăn vừa hãnh diện với mối tình của mình. Hằng thường mơ thấy Phát kéo quân về. Một đoàn quân gươm súng lấp lánh, đi giữa hai hàng dân xóm đứng dọc theo đường. Phát là người đi đầu. Phát oai vệ với bộ quân phục ka ki vàng, súng ngắn xề xệ bên hông, đầu đội nón cối hơi nghiêng. Hằng sẽ đứng đâu đó, ngắm nhìn theo Phát. Nàng sẽ được sung sướng nghe người làng vừa chỉ Phát vừa thì thầm “Chồng của con Hằng đấy!...”. Nhưng Phát chẳng kéo quân về. Rồi, độ ba tháng sau, một tai biến lại xảy ra, khiến cho hai người như mãi mãi xa nhau. Ấy là đêm tháng hai năm 1947, đêm nổi loạn của tín đồ Hòa Hảo. Hằng chẳng biết gì cả. Vì từ ngày Phát ra đi, nàng không mấy khi lui tới với bạn bè. Hằng cũng không đi gác đêm nữa - vì sợ người ta dị nghị, vả lại, anh em cũng chẳng kêu réo nàng như trước. Suốt ngày, Hằng chỉ thui thủi ở nhà. Cái chính là vì gia đình của nàng đang độ túng bấn quá. Cha của nàng - ông Năm Ngũ - anh của nàng - Phi Hùng - không màng gì đến việc đồng áng nữa. Mẹ của nàng ốm yếu, em của nàng thì nhỏ dại.
Trước đây, đến ngày mùa, cả nhà đều ra đồng. Sau ngày mùa, cha nàng, anh nàng, xoay qua nghề cá, còn nàng thì dệt mướn. Năm nay, cả làng đều bỏ ruộng, tất cả đều dồn vào việc đạo, đất bỏ hoang, một thân một mình, nàng không ra đồng được. Tằm không nuôi, dâu không trồng, tơ cũng không có mà dệt. Cày bừa vất bỏ bên hè. Nhện giăng đầy trên khung cửi. Ai cũng đinh ninh là sẽ đổi đời. Đời mới, mọi người sẽ ấm no. Lúa trong bồ mỗi ngày mỗi vơi, rồi dỡ cả bồ, quét sạch. Mấy giạ lúa giống cũng đem ra xay hết. Hết gạo, hỏi cha thì cha bảo:
- Đến nhà cậu Quản mà vay!
Hằng phải đi vay từng giạ lúa. Tín đồ tá điền cũng đi vay từng giạ lúa. Họ như không còn cần biết đến ngày phải trả. Công việc của đạo làm cho họ quên tất cả.
Hằng thấy mình có bổn phận phải lo cho gia đình. Nàng xoay ra làm lặt vặt, đan rổ, nuôi gà, nuôi heo. Vài hôm hái một vài buồng cau, một vài om trầu đem ra chợ bán. Công việc chẳng có gì nặng nhọc mà cứ túi bụi suốt ngày. Thỉnh thoảng, Hằng mới đi qua trụ sở ủy ban, mong gặp lại Sáu Sỏi hỏi thăm tin tức của Phát, rồi tất tả chạy về. Hằng chẳng còn thì giờ bè bạn với ai, Hằng chẳng hiểu gì hết.
Những lúc nhớ Phát, nàng thường len lén mở cánh cửa sau nhà Phát, vào ngồi bó gối trên bộ phản mà trước đây là chỗ ngủ của Phát. Bác Sáu Sỏi lâu lâu mới về một lần, đêm thì ngủ đâu chẳng ai biết. Nhà không ai dọn, nhà không có hơi người. Cột kèo, bàn ghế nổi mốc, đồ đạc bừa bãi - Nhiều lần, nàng muốn dọn dẹp, nhưng sợ người ta cười. Nhìn cảnh hoang vắng của nhà Phát, nàng thấy hoang vắng cả trong tâm hồn mình - Nhiều lúc, nàng muốn ngồi mãi, mong mỏi đừng có tiếng động gì, hãy để cho nàng được yên. Hằng muốn tìm lại hình ảnh của Phát còn để những dấu vết trong cảnh nhà, và nàng muốn sống với những hình ảnh ấy cho đến khi Phát trở về. Thế thôi! Hằng chẳng còn thì giờ bạn bè với ai, nàng chẳng hiểu gì hết. Đêm ấy, cũng như bao nhiêu đêm khác, sau khi đan xong chiếc rổ và lạy Phật, nàng lên giường ngủ với mẹ và em. Nàng chẳng để ý gì đến cặp mắt khác lạ của cha và anh. Nửa đêm, bỗng có tiếng tù và. Tiếng tù và đầu trên xóm dưới, cùng một lúc túc rộ lên nghe như những tiếng hú dài, tiếp theo là tiếng chó tru ông ổng. Nàng giật mình choàng dậy, mở cửa chạy ra sân, thấy chỗ nhà Ủy ban có một đám cháy, tiếng chân huỳnh huỵch, tiếng kêu réo. Hằng còn ngây ngủ, nàng tưởng người ta chữa cháy. Nàng vừa định chạy vào lấy cặp thùng thì có một đoàn người, tay đuốc, tay đao, tay kiếm, chạy tới. Hằng thấy Quản Dõng, lão Ịnh, cha nàng, anh nàng và tất cả tín đồ trong xóm. Tất cả các ngả trong làng, đâu đâu cũng có tiếng gào la. Quản Dõng tay phất đuốc, tay phất cờ, gào lên:
- Hỡi thiện nam tín nữ! Tiến lên!
- Tiến lên!
- Tử vì đạo!
- Tử vì đạo!
Trong ánh đuốc ngùn ngụt, Hằng thấy gương mặt của họ vừa hăm hở vừa hung bạo. Họ la hét, quơ kiếm, quơ đuốc, chen lấn nhau tràn về phía trước.
Tử vì đạo! Hằng như nghe tiếng gọi của thiêng liêng. Nàng hỏi:
- Cái gì vậy? Bà con?
Người ta vừa tràn về phía trước, vừa đáp lại:
- Ai hỏi đó?
- Con Hằng đó hả?
- Thời cơ đã đến rồi, không biết hay sao mà còn hỏi?
- Nó bị thằng Phát bỏ bùa mê thuốc lú, nó có còn biết đạo là gì đâu!
- Có phải là bổn đạo hay không mà còn đứng đó, hả?
Nhiều người cùng đáp trong một lúc, tiếng đáp của họ bị át đi trong tiếng gào la, tiếng gươm kiếm va vào nhau và tiếng chân. Hằng nghe không được đầy đủ, nhưng nàng hiểu. Hằng biết bà con đang trách mình. Thời cơ đã đến rồi! Ngày mà mọi người phải nhẫn nhục cầu mong và van vái thì nay đã đến rồi đấy ư? Thời cơ! Mọi người đang ào ào lao tới, còn mình thì chẳng biết được gì. Khoảnh khắc ấy, Hằng vừa tự trách vừa hối hận. Hằng thấy mình là người đi muộn. Nàng vội vàng chạy vào nhà, rút lấy ngọn kiếm dưới gầm tủ - ngọn kiếm đã sét rồi - lao ra đường, nhập vào bọn họ. Đi trong ánh đuốc, đi trong tiếng gào la, tiếng đao kiếm va vào nhau, những hình ảnh về ngày hội Long hoa lại đến với nàng. Hàng thấy mình như không phải là mình nữa, không phải là cái con Hằng tầm thường nữa. Mình là một nữ tín đồ, mình đang sống trong giờ phút thiêng liêng. Hằng thấy sung sướng và say sưa. Thấy người ta làm gì, Hằng làm theo cái ấy. Người ta la “Tử vì đạo!” nàng cũng hét lên: “Tử vì đạo!” Người ta vung kiếm choảng vào kiếm người khác, nàng cũng đưa kiếm đập vào kiếm người khác, góp vào một tiếng khua. Đi một đoạn, họ phóng đuốc đốt một cái nhà, họ phóng đuốc thì nàng cũng phóng đuốc. Hằng chẳng để ý nhà ấy là của ai. Hai bên đường, nhà bốc cháy rừng rực. Họ như những người đi trong lửa.
- Giết hết bọn quỷ dương!
- Giết hết!
Hóa ra là đêm nay bổn đạo mình đi trừ khử bọn quỷ! Hằng nghĩ, thế là không ai xé xác được Phát nữa đâu! Nhưng quỷ dương là ai, Hằng cũng chẳng hiểu. Hằng hiểu cái tiếng “quỷ dương” theo cái lối mê tín. Đạo quân của Phật mà đi trừ quỷ, thì bọn quỷ ấy làm gì mà chẳng tan hồn! Nàng thấy hăm hở, hào hứng và vui như đi biểu tình.
Đến lúc có súng nổ, Hằng mới rõ. Khi đoàn người vừa đến sân đình thì Chiến ở đầu cầu chạy ngược lại.
- Ông trưởng ơi! Bọn thằng Sáu Sỏi nó trốn hết rồi.
Quản Dõng liền chen đến trước, đưa cao ngọn kiếm như muốn chém xả vào người Chiến, hỏi với một giọng tức giận:
- Tại sao lại để cho nó chạy thoát hả?
- Tại con Hiền cho bọn nó hay. Nó phản đạo rồi!
Quản Dõng dậm chân, kêu trời một tiếng.
Chiến vẫn tiếp:
- Nó làm tình báo cho thằng Sáu Sỏi. Hồi nãy, đang lúc họp, nửa chừng, tôi không thấy nó.
- Còn thằng Bảy Thẹo đâu? - Quản Dõng quát lên.
- Anh Bảy Thẹo đang đuổi theo tụi nó. Ảnh kêu tôi về cho ông biết.
- Phải bắt cho được con quỷ cái đó! - Quản Dõng đưa kiếm chỉ về phía tiếng súng, quơ đuốc gào lên:
- Tiến lên! Bà con!
Người ta chen lấn nhau như một lượn sóng chồm về phía trước. Người ta gào la, tiến về phía súng nổ một cách hăm hở như lân mừng nghe tiếng pháo.
Tiếng súng mỗi lúc mỗi lui dần về phía bến đò. Khi đoàn xuồng của Sáu Sỏi vừa tách bến, thì họ cũng vừa tràn đến. Họ quên đem xuồng đuổi theo - mà có nhớ thì cũng không kịp nữa - họ lao xuống sông, bơi theo. Họ đuổi kịp chiếc xuồng cuối cùng. Trong xuồng ấy có hai anh du kích và Hiền. Họ nhận xuồng, họ dùng kiếm đâm chết hai anh du kích ở giữa dòng. Còn Hiền, họ nắm lấy tóc lôi vào bờ. Một số người còn muốn đuổi theo xuồng của Sáu Sỏi, nhưng vì đuối sức, bị súng bắn rát, nên phải quay về. Tiếng súng không làm cho họ bị thương, mà họ bị thương vì gươm kiếm của họ.
Họ kéo Hiền lên bờ. Họ buộc tóc Hiền vào cây mù u. Họ đốt đuốc vây quanh lấy Hiền, họ xô lấn, họ kêu la, họ tranh giành nhau hành hạ Hiền và mỗi người có mỗi lối hành hạ tàn nhẫn khác nhau. Người lấy đuốc châm vào mặt, vào vú, vào bụng Hiền, người thì lấy kiếm đâm chích Hiền.
Hiền chết, vẫn đứng bên thân cây mù u, đầu ngoẽo sang bên, hình dáng như chẳng còn ra con người nữa.
Thấy cái chết của Hiền, Hằng bỗng chợt nghĩ đến số phận của mình. Nếu Hằng mà biết được tin như Hiền chắc Hằng cũng cho Sáu Sỏi biết thôi và Hằng cũng sẽ chết như thế. Nàng bỗng thấy sợ tất cả mọi người. Nàng dụi đuốc, không dám cho mọi người thấy mặt. Nàng đi tìm cha và anh. Hằng nắm lấy vạt áo của cha như một đứa trẻ sự lạc. Nhưng cha nàng và anh nàng như chẳng chú ý gì đến nàng, thật xa lạ! Hằng thấy bơ vơ quá! Hằng muốn chạy về nhà với mẹ. Nhưng Hằng sợ. Nàng không dám đi một mình qua những đám cháy.
Sau khi giết Hiền, họ quơ đuốc, kéo về, bắt heo, bắt gà và mổ cả bò mở tiệc mừng chiến thắng. Họ mang tất cả ra sân đình. Quản Dõng cho hai chiếc đèn “măng sông”. Họ ăn uống, họ cười nói và chửi bới. Họ nhắc lại những chuyện thù xưa. Họ bàn về hội Long hoa. Họ mời ép nhau uống rượu. Rượu hũ, rượu chai, rượu thuốc, rượu tây, nhà nào có rượu gì, họ mang ra tất. Họ uống bằng bát, bằng tô, họ uống bằng chai. Hằng thấy họ khác xưa quá: toàn những gương mặt hằn học với những cặp mắt đỏ hoe. Đèn “măng sông” xì hơi như rắn khè. Họ hung dữ mà thân mật. Bảy Thẹo tuy là người cùng tín đồ, nhưng Hằng vốn không ưa hắn. Con người trông cứ sờ sợ, thấy gớm ghiếc làm sao. Ấy thế mà hắn cũng nâng chén mời Hằng. Hằng không muốn uống, nhưng Hằng sợ và cũng chính vì sợ nên Hằng cũng muốn uống. Nàng uống một hơi cạn một chén đầy, rồi uống cho đến lúc không còn biết gì nữa...
Qua cái đêm đó và qua nhiều cái đêm khác như thế nữa, dần dần, Hằng đã trở thành một con người khác. - Mình không phải là mình nữa rồi. Nhiều lúc, nàng cũng tự thấy rõ như vậy. Ai là người xấu? Hằng không biết được! Phát là người xấu? Không! Phát không phải là người xấu. Phát là một người tốt. Nếu thế thì cha nàng, anh nàng và tất cả tín đồ đều là người xấu hay sao?
Không! Cha nàng, anh nàng cũng không phải là người xấu! Thế thì ai là người xấu? Nàng không đáp được câu hỏi của mình. Còn quỷ dương? Quỷ dương là người như Phát hay sao? Nàng nghe nhiều người nói về quỷ dương, chẳng người nào nói giống người nào hết. Quỷ dương, những ông già bà cả thì cho đó là quỷ ma, là những âm hồn oan ức. Còn Quản Dõng và những người trẻ, thì bảo quỷ dương tức là Hủy vương, Hủy vương tức là bỏ vua - (Hủy vương hay quỷ dương, người Nam Bộ cũng đều đọc như nhau thôi). Bọn bỏ vua tức là bọn cộng sản, bọn ủy ban. Người trong đạo đánh Tây là để lập nên một triều vua mới, vua ấy tức là Phật thầy. Hằng chẳng hiểu thế nào nữa. Hằng chẳng biết phải theo ai. Hằng chỉ biết rõ có một điều: Phát và nàng sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa. Nàng vẫn yêu Phát, vẫn nhớ Phát, nhưng không dám nghĩ đến chuyện theo Phát nữa. Phát nghĩ đến nàng như thế nào, nàng cũng không hiểu.
Hằng cùng sống với cha, anh và tất cả tín đồ, nhưng nàng không hành động như họ, không có một mối thù như họ, nàng bị mất tất cả. Hằng chỉ còn mẹ với em. Nhưng mẹ và em cũng không sao an ủi được nỗi trống trải của nàng. Trống trải quá, có lúc nàng thấy hoảng sợ. Nàng muốn bấu víu vào một cái gì. Những lúc thấy hoảng sợ, nàng vội vàng đi lạy Phật, bất cứ lúc nào, có khi là buổi trưa, có khi là giữa đêm khuya. Nhất là giữa đêm khuya, tay cầm bó hương, mắt ngẩng nhìn lên những vì sao xa, tưởng đến Phật, nỗi đau khổ trong lòng nàng như tan đi theo hương khói. Nàng thấy nhẹ nhàng được đôi chút.
Còn sống ở làng, Hằng không thể xa lánh mọi người được. Hằng phải tham gia một việc gì đó với bổn phận của một người tín đồ. Hằng cũng không màng đến việc làm ăn nữa. Việc nhà đều dồn cho mẹ và đứa em trai. Gạo hết thì cứ vay nhà Quản Dõng. Hằng đi tập võ, đi canh gác. Thấy mặt người chung quanh, những người đã giết Hiền - cái chết của Hiền cứ hiện lên - Hằng sợ họ nhắc đến Phát. Hằng sợ, nhưng họ vẫn cứ nhắc đến Phát. Mỗi lần nghe họ nhắc đến Phát, là nàng tìm đủ lời lẽ để vừa chối, vừa tỏ ra khinh rẻ và thù hằn Phát.
- Nếu bây giờ mà bắt được thằng Phát thì cô làm sao? - Người ta hay hỏi như thế.
- Tôi sẽ giết nó chớ làm sao nữa. - Nàng đáp lại một cách sốt sắng. Nàng vừa nói vừa vung kiếm, bĩu môi: “Cái thằng đó à?”. Rồi nàng ngửa mặt ra cười, cười khanh khách. Nàng cười, nhưng nếu ai chú ý thì sẽ thấy ở khóe mắt nàng có một giọt lệ long lanh. Nhưng giọt lệ ấy như cũng biết sợ như nàng, nó không dám trào ra, nó chan đầy qua đôi mắt của nàng. Đôi mắt của nàng ướt lấp lánh. Hằng nói những lời đó, không chỉ để che giấu với mọi người, mà còn có ý muốn thanh minh, che giấu với Phật thầy nữa. Hằng sợ nhất là sự trừng phạt về linh hồn. Như thế, Hằng vẫn sợ là chưa đủ. Hằng lại tỏ ra như đang yêu một người nào đó trong bọn tín đồ. Nàng lượn quanh theo bọn con trai, cười đùa với họ... Dần dần, những cử chỉ ấy thành như một thói quen.
Nhớ Phát, những lúc không cưỡng nổi lòng mình, nàng thường chạy ra bờ sông, ngồi lẫn trong một lùm cây, nhìn về vết xanh đậm ở phía bên kia sông. Đó là tàn cây gừa, nơi mà hai người đã chia tay, nơi mà nàng đã... Rồi tưởng như gặp Phát, như một thói quen, nàng đưa tay xõa tóc, kéo mái tóc về phía trước và đưa tay vuốt tóc cho Phát ngắm nhìn. Mắt lim dim, và cứ thế, nàng ngồi đắm trong mơ tưởng. Khi có một tiếng động, chợt giấc mình, biết mình đang ngồi trong lùm cây, nàng bỗng thấy lạnh, nàng bỗng thấy sợ sóng bạc đầu: những ngọn sóng từ xa khơi bủa dậy, tràn lên nhau gầm thét, ào ào chạy vào. Nàng tưởng như những ngọn sóng ấy đang muốn vồ lấy mình để cuốn mình đi. Nàng vội vã chạy về. Nàng vừa chạy vừa lấy mái tóc lau nước mắt.
Hằng không dám nhắc đến Phát. Cả trong ý nghĩ, Hằng cũng không dám nhớ đến Phát nữa...
Nhưng, mấy ngày nay, từ khi Sáu Sỏi bị bắt, hình ảnh của Phát lại hiện lên. Đêm, Hằng không sao ngủ được. Linh tính như báo trước: Hằng sẽ gặp lại Phát. Khi thì Hằng mơ thấy Phát về đón mình đi, khi thì thấy Phát chĩa súng vào ngực mình. Hằng muốn gặp mặt Sáu Sỏi để tìm lại hình ảnh của Phát, để được nói với Sáu Sỏi về nỗi đau khổ của mình, may ra có một người hiểu được mình và nàng sẽ được khóc. Hằng muốn khóc. Hằng muốn khóc với một người hiểu mình. Rồi người ta có đem giết Hằng, Hằng cũng bằng lòng. Nhưng ai là người giúp cho Hằng được gặp mặt Sáu Sỏi? Hằng chẳng dám nhờ ai. Nhờ Hiếu là bạn thân của Phát, nên nàng mới đến tìm. Hằng muối hỏi, nhưng thấy cái vẻ mặt hầm hừ của Hiếu, Hằng sợ.
Còn Hiếu, anh như không thấy Hằng ngồi đó. Đầu anh đang căng lên vì một ý ghê gớm: phải giải thoát cho Sáu Sỏi. Từ sáng đến giờ, anh xải ngựa dọc theo sông, mong tìm một người để nhắn tin về cho Phát. Nhưng chẳng gặp được ai. Anh hối hận vì đã hy vọng một cách quá khờ dại: Ban trị sự sẽ thả Sáu Sỏi, sẽ cùng bàn bạc với Sáu Sỏi. Sáng nay, khi anh biết được tin thì đã muộn rồi. Lời hứa của cha anh chỉ là lời an ủi. Người quyết định chuyện này không phải là cha anh. Người quyết định là Quản Dõng. Nếu Sáu Sỏi có bề gì, anh còn mặt mũi nào mà nhìn lại Phát nữa? Phải giải thoát cho Sáu Sỏi! Chính vì ý nghĩ ấy mà anh thấy sợ bà con tín đồ. Nên khi trở về, anh không dám ghé qua đình dạy võ.
- Anh Phát! Giờ này anh ở nơi đâu? - Đầu Hiếu như bốc cháy. Anh ngồi thần thừ, lưng hơi còng, đưa cặp mắt vừa giận dữ vừa buồn rầu nhìn một đám mây đen vừa tách ra khỏi chân trời đang bay lang thang trong bầu trời vắng ngắt và chói chang.
Bên sân đình, tiếng đao kiếm của tín đồ học võ vẫn khua rổn rảng và chém vù vù.
- Sao hôm nay anh không dạy võ? - Hằng liếc nhìn Hiếu, hỏi, dò xét, môi hơi run run. Hằng hỏi câu đó để mở đầu cho câu chuyện. Nhưng Hiếu nào có hiểu được. Từ lâu, anh chỉ thấy cái vẻ bên ngoài của Hằng. Anh không biết Hằng muốn giở cái trò gì. Nghe Hằng hỏi, anh càng khó chịu.
- Tối hôm nay đang bận việc. Còn chị, sao chị không lo tập, mà sang ngồi đây? - Hiếu vừa đáp vừa lườm mắt nhìn Hằng. Sợ Hằng bắt chuyện, Hiếu liền bước xuống phản, tay kéo lấy cánh cửa. Cánh cửa rít lên như nghiến.
- Thôi, tôi phải đi đây!
Hằng biết Hiếu muốn đuổi mình. Hy vọng có một người hiểu mình bị sụp đổ, ngực Hằng như thóp lại.
Hằng cúi lặng, bước ra cửa. Hằng vừa tủi vừa ngượng. Hằng sợ mọi người biết mình bị Hiếu đuổi đi. Hằng chưa dám đi qua sân đình. Hằng đứng yên trước cửa, thẫn thờ nhìn ra xa. Trước mắt Hằng: đám mây đọng dưới chân trời dài như một dải núi nằm dọc theo phía bên kia bờ sông đã bốc bay lên. Đám mây ấy tan ra từng mảnh to mảnh nhỏ đủ thứ hình dạng, dính liền nhau như một miếng vải bẩn rách te tua, loang lổ, kéo trùm qua làng. Bầu trời liền nhỏ lại, tùm hum và tối sầm. Mặt sông Cửu Long lấp loáng như gương cũng liền sẫm lại mầu thâm thẫm với một dáng vẻ lầm lì. Và từ xa khơi, sóng bạc đầu chồm lên nhau, đuổi nhau, xô nhau, ào ào chạy vào và khi gần đến bờ thì ngọn sóng uốn cong lên như hót bụng, cất cao lên để đập vào bờ đánh ầm một cái, bắn bọt trắng xóa tung lên. Rồi như tức tối vì không phá vỡ được bờ, những ngọn sóng ấy lại rút ra, rồi cất lên, ụp vào mạnh hơn, bọt nước tung trắng cả thân cây gừa, và cứ như thế, gầm thét lên mãi mãi.
Đàn quạ đang rão theo mặt sông, như hoảng hốt, hay túa vào bờ, quang quác réo nhau chui vào tàn gừa, rồi lại réo nhau bay túa ra.
Gió từng cơn, từng cơn mang theo hơi nước lành lạnh và mùi tanh thối của xác người, thổi rạp bãi cỏ trước nhà, lốc rào rào qua hàng dương, và xa dần trên những đám vườn sau đình.
Thấy tốp người đang lúi húi dựng pháp trường dưới gốc cây gừa, nghĩ đến cái chết của Sáu Sỏi, Hằng chợt rùng mình.
Hằng đứng yên, muốn hỏi Hiếu thêm một câu nữa, may ra Hiếu có thể hiểu, nhưng Hằng vừa muốn nói thì Hiếu đóng sầm cửa, bỏ đi.
Ngượng quá! Hằng không còn đủ sức tạo ra những cử chỉ giả tạo để chống chế lại nữa. Sợ không cầm được nước mắt, Hằng ù chạy về nhà.
Nàng gục đầu lên gối, khóc ngon lành.
 
Đăng nhập để trả lời
0

III

 
Lão Ịnh muốn tránh cặp mắt dòm ngó của tín đồ, nên lão không dám đi thẳng theo con đường xuyên qua xóm. Lão đi lẫn trong vườn chuối rậm. Lão cũng không ưỡn bộ ngực về trước với vẻ ngang tàng như thường ngày nữa. Lão đi lom khom, lùi lũi như con cuốc. Và lão dừng lại bên con mương nước sền sệt bùn, ngó qua cụm xoài.
Cụm xoài của nhà Quản Dõng chiếm một mảnh đất rộng hơn năm mẫu tây. Tàng xoài um tùm, lá chen nhau che kín cả ánh mặt trời, khu vườn lúc nào cũng tối om om và vắng lạnh. Lá khô từ mùa này qua mùa khác rụng xuống, ấp ủ thành một lớp phân dày, xông lên một mùi ẩm mốc.
Lứa xoài muộn hãy còn đang độ trổ hoa. Một cơn gió thổi qua, hoa xoài rơi trắng cả khu vườn như một trận mưa hoa.
Trong bóng tối nhờ nhờ ở gần mí vườn, có một người thoáng qua, thoáng lại, âm thầm như cái bóng ma. Người ấy là Bảy Thẹo. Người hắn vai rộng bè bè, nên người trở nên thấp xùng xình trong bộ quần áo kiểu nhà binh Nhật màu cứt ngựa, hông đeo cây gươm dài lếch thếch và tay cầm ngọn súng lăm lăm. Mặt hắn hình vuông, cằm to, nước da màu đồng điếu và cặp mắt lươn ti hí lúc nào cũng lầm lì. Hắn độ ba mươi tuổi. Hắn là người nhà của Quản Dõng. Hắn về ở với Quản Dõng hồi đầu năm bốn mươi. Theo Quản Dõng thuật lại thì hắn là người không cha không mẹ. Hắn đi theo xe từ nhỏ và lớn lên, hắn là một tên du côn, đứng bến cho hãng xe Long Thành ở Cần Thơ. Cuối năm 1939, hãng Phú Hòa cho ra một loạt năm chiếc xe mới hiệu “Citroen” để tranh khách Cần Thơ Sài Gòn với hãng Long Thành. Sáng sáng, năm chiếc xe của hãng Phú Hòa sắp một hàng dài tại bến, bóp kèn, rồ máy, xịch tới xịch lui để rước khách. Hãng Phú Hòa định giết chết hãng Long Thành nên hạ xuống phân nửa tiền cho hành khách. Và đứng bến là Hai Đẩu, nguyên là dân “anh chị bự” ở Cầu Muối đất Sài Gòn. Hai Đẩu khét tiếng là một tay võ nghệ cao cường. Chỉ nhìn con rồng xanh xâm ở lồng ngực của anh ta, thì cũng đủ biết anh ta là tay như thế nào rồi. Ngày nào Hai Đẩu cũng đến đứng trước đầu xe, tay vẹt một bên áo với tư thế sẵn sàng: đâm chém. Và sau lưng Hai Đẩu là một bầy em út. Thế là hãng Long Thành hoàn toàn bị mất khách.
Chủ hãng Long Thành bèn đưa Bảy Thẹo ra kình địch với Hai Đẩu. Bảy Thẹo lúc ấy độ mười chín hai mươi tuổi, nhỏ hơn Hai Đẩu mười tuổi và đứng thấp hơn Hai Đẩu một cái đầu. Chủ hãng Long Thành bảo với Bảy Thẹo:
- Nếu mày hạ được Hai Đẩu, hạ được hãng Long Thành thì tao sẽ chia cho mầy nửa cái gia tài.
Thế là một buổi trưa trong quán nước, Hai Đẩu đang ngồi chồm hổm uống cà phê thì, sau lưng bỗng có một tiếng kêu:
- Hai Đẩu! Đỡ!
Hai Đẩu vừa đưa tay xoay mình qua đỡ thì đã bị ngọn kiếm - rèn bằng nhíp xe - của Bảy Thẹo phạt rơi cánh tay trái rồi. Thừa thế thắng, Bảy Thẹo tấn Hai Đẩu vào tường, gí gí cái mũi kiếm vào bụng Hai Đẩu mà bảo:
- Anh Hai! (Hắn vẫn gọi Hai Đẩu bằng anh Hai theo lối xưng hô trong làng dao búa). Anh còn muốn thấy mặt vợ con, thì anh phải la lên cho làng phố biết.
Hai Đẩu vì mất một cánh tay, vì bị thất thế, đành phải nghe theo. Hai Đẩu chịu la lên, tức là đã chịu hàng. Đó là cái dấu hiệu của hãng xe đã chịu nhường khách cho kẻ thắng.
Sau đó hai hôm, Bảy Thẹo bị trả thù. Bọn em út của Hai Đẩu đón chém anh ta tại cầu Cái Đôi. Bảy Thẹo một mình đỡ gạt được một lúc, rồi phóng xuống sông lặn mất. Trở về, xem xét lại thân mình, anh thấy mình chỉ bị bảy vết thẹo xoàng trên tay, lưng và vai. Anh ta thành danh Bảy Thẹo là từ đó.
Hãng Phú Hòa vẫn chưa chịu thua. Tên chủ hãng kiện hãng Long Thành đến tòa vì tội cho người chém lén Hai Đẩu. Chủ hãng Thành Long đút tiền cho quan trên và đổ tội cho Bảy Thẹo. Thế là Bảy Thẹo phải đi tù.
Trong những ngày ấy, Quản Dõng đến Cần Thơ để lo cho đứa em út khỏi bị đuổi ra khỏi trường vì tội đánh ông giám thị. Nghe chuyện đó, Quản Dõng cho Bảy Thẹo người nhỏ mà gan, đáng là dân anh chị. Hắn nghĩ: cần phải đón Bảy Thẹo về làng để trị đám tá điền cứng cổ. Và nếu được Bảy Thẹo cầm cương xe cho hắn đi thì đố có một tên dân tá điền nào dám làm hỗn với hắn. Nhân có sự qua lại với quan chủ tỉnh, hắn bèn đến xin tha cho Bảy Thẹo và đích thân đưa Bảy Thẹo vào nhà thương để an trị.
Ra khỏi nhà thương, Bảy Thẹo liền quỳ dưới chân hắn để tạ ơn.
Từ đó, Bảy Thẹo về ở với hắn, tới mùa đi góp lúa, và ngày ngày thì giữ cương ngựa cho Quản Dõng đi việc quan. Hắn đã trở thành một tên tay sai trung thành cho Quản Dõng. Hắn được Quản Dõng hoàn toàn tin cậy. Hôm nay, Quản Dõng phân công cho hắn đứng gác thường trực hầm giam Sáu Sỏi.
Lão Ịnh đứng nhìn Bảy Thẹo, nghĩ đến cuộc đời của hắn, lão thấy ngài ngại.
Tình thương bạn bốc dậy trong người lão, lão “hừm” lên một tiếng và tự hỏi: “Nó cũng tín đồ thì sao lại sợ nó?”
Rồi, lão xòe bàn tay phải đưa lên ngực, ngẩng đôi mắt sầu não nhìn áng mây vẩn đục đang che kín mặt trời, miệng lẩm bẩm van vái với các vị chư tiên chư phật, mong cho Sáu Sỏi biết cải tà quy chánh.
Vái xong, lão thấy người trở nên cứng cỏi và tự dưng lão tin rằng: mình sẽ thuyết phục được bạn.
Lão nắm chòm râu kéo chằn qua một bên, nhảy phóc qua mương, đi thẳng lại Bảy Thẹo.
Bảy Thẹo rụp chân, đưa tay trái lên ngực, cúi đầu chào theo kiểu người có đạo.
- Cho tôi nói chuyện với thằng tù binh một chút. - Lão bảo với tư thế của ông phó ban trị sự ra lệnh cho một tín đồ.
Bảy Thẹo cúi đầu nhận lệnh, dựng súng bên một gốc xoài, rồi đi thẳng lại hầm.
Hắn đến gần một gốc xoài rễ bò ngoằn ngoèo trên mặt đất như một đàn rắn nằm khoanh. Hắn dùng chân hất mấy nhánh xoài khô chất đống trên cửa hầm, rồi cúi mình đưa tay cào lá phân sang một bên. Hắn hắt hơi mấy lần vì mùi ẩm ướt xông lên mũi. Dưới lớp phân là một miếng gỗ đậy cửa hầm. Hắn dỡ nắp, cửa hầm tròn như miệng lu, đen ngòm và hun hút như đường xuống âm phủ. Hắn thò đầu xuống cửa hầm, giọng hắn rền rền dưới lòng đất:
- Lên! Lên!
Hắn móc bật lửa, bật lên mấy lần đều bị hơi ẩm thổi tắt. Hắn rút gươm thọc xuống hầm, quậy quậy và kêu tiếp, vẫn không nghe tiếng tăm gì, hắn vứt gươm sang bên, ngại ngùng thò xuống một chân, rồi tụt dần vào hầm.
Lão Ịnh vẫn đứng như chân bị trồng xuống đất, tay vuốt cong chòm râu. Lồng ngực lão phập phồng, mắt lão lơ đãng nhìn những hoa xoài đang rơi rụng. Và lão khẽ rùng mình khi thấy Sáu Sỏi.
Sáu Sỏi từ hầm ngoi lên. Sau hai ngày chịu đói, khát và ngột ngạt, người bác gầy hẳn. Bộ quần áo đen của bác đã nhuộm màu bùn và nhớp nháp. Bùn nhầy nhụa bê bết trên mái tóc, chòm râu và gương mặt hốc hác của bác. Chỉ có đôi mắt chân thành của bác là còn trong sáng. Tay bác bị trói ra sau bằng một sợi lòi tói dài.
Thế là hơn bốn tháng, bác mới trở lại làng, từ cái đêm Hiền bị hy sinh.
Bác là người ít khi ở làng. Năm ba mươi tuổi, năm 1932, từ khi gặp Đảng và biết cách mạng, cuộc đời của bác cứ rày đây mai đó, khi thì phải trốn tránh, khi thì bị tù đày. Một hai năm, bác mới có dịp trở về làng một lần. Cũng như bao nhiêu người đã từng đi xa, mỗi lần trở lại làng là bác thấy bao nhiêu điều biến đổi, có những cái bị mất đi, có những cái vừa sinh sôi nảy nở và lớn lên, có điều khiến cho bác đau xót, có điều khiến cho bác vui mừng, lần nào cũng thế. Nhưng chưa bao giờ bác thấy làng mình có những biến đổi ghê gớm và lạ kỳ đến nỗi bác phải lạ lùng và khó hiểu như những năm gần đây. Sau đêm khởi nghĩa năm 1940, năm năm bị ngồi tù nơi Côn Đảo, khi trở về, nước nhà đã độc lập rồi, bác nghĩ làng mình chắc vui lắm, vui hơn và sôi nổi hơn những làng mà bác đã ghé qua. Làng của bác, một cái làng của những con người bất khuất, một cái làng mà anh em đồng chí trong tù thường hay nhắc đến - làng Mỹ Long Hưng, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên - mỗi lần nghe nhắc đến tên làng là mỗi lần bác thấy tự hào. Nhưng khi về đến làng thì cảnh làng và người làng đều khác hẳn với ý nghĩ của bác. Bác đã cảm thấy lạ từ khi tàu rúc còi quăng dây cập bến. Những người mà bác tưởng sẽ ra tận bến đón chào bác, đón chào anh em tù Côn Đảo trở về thì bác chẳng thấy ai ngoài đứa con, người trong gia đình, một vài đồng chí cũ và những người ở chợ. Xóm Đình, nơi mà trước đây thường hay nổi đuốc ngùn ngụt trong những đêm đi biểu tình thì bây giờ mỗi một sân nhà đều mọc lên một bàn thông thiên với khói hương buồn ngui ngút. Người như lão Ịnh, bác tưởng là đã vào Đảng rồi. Nhưng không, lão Ịnh đầu đã để tóc, râu dài chấm đến ngực. Và bà con tá điền của xóm Đình, những người đã cùng bác tham gia các cuộc biểu tình chống sưu, chống thuế, những người đã cầm dao, cầm đuốc nổi dậy trong đêm khởi nghĩa 40, những người đã giúp bác treo lá cờ đỏ búa liềm trên cột dây thép, bây giờ, cũng như lão Ịnh, đầu để tóc và ăn mặc quần áo màu già. Còn những thằng như Quản Dõng, bác tưởng là hắn đã bị đền tội rồi. Nhưng không, hắn vẫn còn. Hắn cũng thay đổi, đầu không đội nón cối, tay không xách cù ngoéo, người không mặc đồ tây, cũng như bà con tá điền, hắn mặc quần áo màu già và đầu để tóc. Mới nhìn thoáng qua, bác cũng tưởng hắn là dân tá điền. Bà con tá điền như quên hắn là Quản Dõng, quên hắn là người đã gây ra nợ máu, không thù ghét hắn, mà lại kính phục hắn và tôn hắn là người cầm đầu. Hắn đi đến đâu, người ta niệm Phật và cúi chào đến đấy. Và cũng như hắn, bà con tín đồ - những người dân tá điền ấy - họ nhìn bác, nhìn anh em đồng chí trong chính quyền với cặp mắt thù địch, ganh tỵ và nghi ngờ. Vì sao thế? Vì sao bà con tín đồ ở làng lại họp kín, tập đêm, rậm rịch muốn nổi dậy như một số tín đồ đã nổi loạn đòi cướp chính quyền ở Cần Thơ? Họ là những con người phản bội như một số người đã nói? Vì sao chính quyền ở làng lại quá nhiều những người ở chợ, những người mới lớn vừa nông nổi, vừa kiêu ngạo và lố lăng? Cuộc sống bị rối như tơ vò. Tơ vò người ta còn tìm ra mối, còn cuộc sống của làng, của con người thì bác chưa hiểu. Trong làng, đâu đâu cũng có cờ đỏ sao vàng, nhưng tâm hồn của con người thì như bị nhuộm màu nâu, màu xám.
Về làng, bác vẫn ở xóm Đình, vẫn lân la vẫn cùng sống với bà con. Trước đây, bác đến với họ thân thuộc như người nhà, nhưng bây giờ, đến họ, bác thấy như đến với một thế giới nào khác, bác vừa bỡ ngỡ vừa lạ lùng, cả những lời nói của họ cũng khác đi, họ không nói những lời nói của người bình thường, tiếng nói của họ là tiếng nói của kinh sấm, nào: cuộc thế, trần gian, trầm luân, bể khổ, chúng sanh, bá tánh...
Về làng chưa đầy một tháng, bác chưa kịp hiểu thật lòng của họ thì giặc đến. Khi giặc đến thì họ nổi dậy, bắt được một số người trong chính quyền. Bác cùng với một số anh em bị bắt giam trong hầm tối. Đêm nào cũng có một số đồng chí bị đưa đi thủ tiêu. Nằm trong hầm giam - một cái hầm dưới mặt đất, bùn đất nhòe nhoẹt - bác thấy đau đớn hơn lúc bị giam ngoài Côn Đảo. Nhà tù của giặc không giết được cuộc đời cách mạng của bác. Năm năm ngồi tù, khi trở về thì lại chết vì bàn tay của người làng và người thân! Nằm đợi cái chết của mình, bác chỉ mong gặp lại họ, người ấy là ai. Bác muốn nói với họ và muốn hỏi họ vì sao? Bác bị giam ba ngày. Rồi, bỗng một đêm, có một bóng người mò xuống, vừa quờ quạng vừa gọi tên bác, nắm lấy tay bác kéo lên.
Ra khỏi cửa hầm, trời tối đen như mực, không thấy đâu là xóm làng, chỉ nghe tiếng sóng từ xa dội lại, tuy thế, bác vẫn nhận ra người đang giữ lấy tay bác chính là lão Ịnh. Mình sẽ bị giết vì bàn tay của lão Ịnh chăng? Bác hãy còn đang nhìn lại lão Ịnh thì lão Ịnh đã nắm chặt lấy hai tay bác, tay run run và kêu tên bác với giọng nghẹn ngào trong nước mắt:
- Anh Sáu! Anh không còn nhận ra tôi nữa sao, anh Sáu? Anh phải đi ngay thôi. Hai ba đêm nay, anh em người ta đi lục hết các hầm để giết anh mà không thấy. Tôi cũng tìm anh với thằng cháu. Thằng cháu nó đi rồi. Tôi tưởng là anh đã chết rồi. Không ngờ, nhờ Phật thầy phù hộ, tôi còn gặp lại anh. Thôi, đi đi anh Sáu!
Nghe lão nói, bác vừa bàng hoàng vừa cảm động.
- Anh Sáu, anh đi không nổi sao? Anh đói lắm phải không? Tôi có mang cơm cho anh đây. Tôi sẽ đưa anh ra cây vông đồng.
Hai người đứng lại dưới gốc vông. Cũng dưới gốc cây vông ấy, những lần giao nhiệm vụ cho lão Ịnh, hai người cũng thường gặp nhau trong những đêm khuya như thế. Tàng vông lào xào như gợi nhắc lại những tiếng thì thầm trong những đêm xưa.
Sau khi trấn tĩnh lại, bác hỏi:
- Anh Tư! Sao anh không thả những anh em khác?
Nghe hỏi, lão Ịnh từ từ quay mặt nhìn mặt nước đầm sen đang gợn loang loáng trong bóng đêm, rồi lắc đầu, nhỏ giọng:
- Những người đó không phải như anh, mà tôi cũng không có quyền. Còn anh, anh là người... - lão không tìm ra tiếng nói - cho nên trời Phật đã xui khiến cho tôi đi tìm anh. Thôi, anh đi đi anh Sáu, đừng nấn ná ở đây mà sa vào tay của anh em.
Lão quay nhìn lại Sáu Sỏi, vừa cởi vừa mở bộ quần áo buộc qua hông vừa nói:
- Tôi có mang ra cho anh một bộ quần áo màu già với một cái giấy đi đường của tín đồ.
Lão dúi vào tay Sáu Sỏi:
- Anh mặc vào mà đi. - Lão ngẩng nhìn lên nền trời đen xám - Tôi cầu mong những vì sao của định mệnh soi dẫn con đường cho anh.
- Anh Sáu! - Lão kêu bác, mở tròn mắt nhìn bác như nhìn một lần cuối cùng, rồi quày quả đi...
 
Đăng nhập để trả lời
0

IV

 
Trong những ngày ấy, giặc Pháp đánh lan ra khắp các tỉnh của Nam Bộ. Bọn chúng đánh lại Nam Bộ với một lực lượng thiện chiến của hai sư đoàn số 3 và số 9 mà chúng gọi là hai sư đoàn 3è và 9è DIC (1).
Tháng 5-1945, phát xít Đức đầu hàng. Nước Pháp được giải phóng. Chánh phủ lâm thời của nước Pháp người đứng đầu là “Đờ Gôn”. Trong lúc ấy, Đông Dương vẫn còn nằm trong tay của phát xít Nhật và Nhật đang suy yếu vì bị Hồng quân Liên Xô đánh bại. Thừa nước đục thả câu và vấy máu ăn phần, “Đờ Gôn” cho hai sư đoàn ấy sang tham chiến ở Thái Bình Dương. Hai sư đoàn ấy sang Thái Bình Dương để đánh với một quân đội (Nhật) đang bại trận để mở đường chiếm lại Đông Dương. Nhưng khi hai sư đoàn ấy cùng với chiếm hạm “Ritsơliơ” nặng ba nhăm ngàn tấn vừa đến Sâylăng thì quân Nhật đã đầu hàng. Thế là hai sư đoàn ấy đành phải nằm lại Sâylăng chờ cơ hội mới.
Nhật đầu hàng, Cách mạng Tháng Tám thành công. Quân đội Anh - Ấn với danh nghĩa là quân đội Đồng minh đặt chân lên đất Nam Bộ với nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Trong lúc ấy, quân lính Pháp ở Nam Bộ đang bị giam giữ ở thành Ô Me Sài Gòn.
Trong tình thế ấy, chánh phủ “Đờ Gôn” liền xoay qua một nước bài khác: vận động Bộ Tư lệnh Đồng minh ở Đông Nam Á võ trang lại cho quân Pháp ở Đông Dương.
Quân Anh - Ấn vừa giải giáp quân đội Nhật vừa võ trang cho quân Pháp ở thành Ô Me. Sau khi được võ trang, tên đại tá “Xêđinnơ” liền đề nghị với “Đờ Gôn” cho đánh chiếm lại Sài Gòn. Thế là đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, bọn chúng bắt đầu nổ súng. Nhân dân Sài Gòn nổ súng kháng chiến. Quân Pháp không phá được thành Ô Me, không chiếm được Sài Gòn, mà bị nhân dân Sài Gòn dồn hãm vào các vòng vây, rồi xin đàm phán với Ủy ban hành chánh Nam Bộ.
Trong mười ngày đàm phán, bên ngoài bọn chính phủ “Đờ Gôn” và lực lượng Đồng minh đã thỏa thuận cho quân đội Pháp thay thế cho quân đội Anh - Ấn. Thế là, đầu tháng 10-1945, chiến hạm “Ritsơliơ” nhổ neo rời Sâylăng, đưa hai sư đoàn số 3 và số 9 sang Đông Dương. Tàu “Ritsơliơ” bắn tiếng súng đầu tiên vào Nhà Bè, mở màn cho một cuộc xâm lăng mới.
Sư đoàn số 3 và số 9 là hai sư đoàn gồm những người lính trẻ, những người lính đã từng tham gia những trận đánh giải phóng nước Pháp. Họ là những người lính vừa chiến thắng. Hai sư đoàn ấy cùng với sáu ngàn quân Pháp ở thành Ô Me đánh lan ra khắp Nam Bộ.
Trong những ngày ấy, Sáu Sỏi cùng với các lực lượng vũ trang của ta ở miền Tây vừa đánh vừa rút về U Minh. Về U Minh, bác gặp lại Phát và hầu hết anh em đồng chí trong tỉnh.
U Minh, một cánh rừng tràm bát ngát với những dòng nước đỏ đã trở thành khu căn cứ. Từ rừng sâu mọc lên những binh công xưởng đầu tiên với những dụng cụ thô sơ và dưới bóng tràm là trại lính.
Ngày 6-2-1946, Bà Rịa là tỉnh cuối cùng của Nam Bộ bị mất vào tay quân Pháp. Quân Pháp đã tưởng chúng chỉ đánh nhau với bốn sư đoàn có võ trang. Đó là sư đoàn một, sư đoàn hai, sư đoàn ba và sư đoàn bốn. Trong những ngày đầu bối rối, bốn sư đoàn ấy được thành lập một cách ô hợp. Những sư đoàn ấy gồm có những sĩ quan cũ của Pháp, những lính lệ, lính làng, những người lính đã theo Nhật mà người ta quen gọi là lính “hay hô” hoặc là lính Nhật “local”. Sau khi đánh đuổi bốn sư đoàn ấy ra khỏi hai mươi mốt tỉnh lỵ của Nam Bộ, quân Pháp tưởng rằng chúng đã bình định xong đất Nam Bộ. Những người lính Pháp của hai sư đoàn số 3 và số 9, họ tưởng rằng họ đã chiến thắng. Chúng nghênh ngang trên khắp nơi mà chúng vừa chiếm được. Chúng hãnh diện với chiến công của chúng, và hãnh diện với cả bộ quân phục của chúng nữa. Quân phục của chúng, phía bên vai trái có một “vòng tua” đỏ, đó là “vòng tua” danh dự của một đội quân chiến, thắng. Nhưng bọn chúng đã nhầm, bọn chúng không phải chỉ đánh nhau với bốn sư đoàn ấy, bọn chúng còn phải đánh nhau với một lực lượng nữa, đó là lực lượng của nhân dân. Trong đời sống bình thường, khi có sự tranh chấp giữa người này với người nọ, người Nam Bộ thường hay nói: “lấy ngực ở đời” - Bây giờ, người Nam Bộ đã “lấy ngực ở đời” với giặc Pháp. Quân lính Pháp không tìm thấy quân đội của đối phương, nhưng lúc nào cũng bị tấn công. Bọn lính “vòng tua đỏ” ấy lại đi học những tội ác của bọn Đức mà đánh lại nhân dân và thầy sao thì trò vậy, bọn chúng càng ngày càng bị rơi rụng đi. Trên khắp mọi nơi, người ta thấy, lác đác và rải rác mọc lên những nấm mồ có dựng thánh giá và bia mộ khắc bằng chữ Pháp.
Rồi, từ các chiến khu: Rừng Sác, Tháp Mười, U Minh, lực lượng của cách mạng lần lượt được dội trở về các tỉnh.
Sáu Sỏi lại được trở về làng. Trong những ngày chuẩn bị trở về, có một số anh em đồng chí nhớ đến những ngày nổi dậy của một số bà con tín đồ Hòa Hảo, nhớ những cái xác chết bập bềnh trên dòng sông, họ không thật tin lòng người Hòa Hảo, họ lo ngại và rụt rè. Còn bác, bác nhớ đến cái đêm mà lão Ịnh đã đưa bác ra khỏi hầm, đêm ấy là đêm tối, nhưng đêm tối ấy như lóe ra một tia sáng giúp cho bác thấy được lòng người tín đồ Hòa Hảo rõ hơn và sâu hơn. Bác và Phát, hai cha con của bác là hai người đầu tiên mạnh bước trở về. Người đứng đợi bác dưới gốc cây vông đồng trong một đêm đầy sao cũng chính là lão Ịnh.
Vừa thấy bác, lão Ịnh đã kêu lên:
- Anh Sáu đó phải không?
- Anh Tư đó hả?
- Tôi đây.
Lão Ịnh vừa kêu vừa chạy lại bác và ôm chầm lấy bác. Hai người ôm ghì lấy nhau một lúc. Trong khoảnh khắc im lặng, bác nghe tiếng thổn thức của lão Ịnh:
- Anh Sáu! Nghe tin anh về. Bà con ai cũng mừng, nhưng người nào cũng lo sợ. Bà con đã bảo nhau chỉ có tôi mới ra đón anh được thôi.
- Vì sao bà con bây giờ lại sợ tôi, anh Tư? Tôi về đây là muốn ở lại làng với bà con...
- Anh Sáu! Nếu như trước đây, tất cả những người trong chính quyền đều như anh thì làng mình đâu có ra nông nỗi đến như thế. Chỉ mới có gần một năm thôi mà làng mình bị vắng vẻ đi nhiều quá.
- Thôi, đừng khóc nữa anh Tư! - Bác quay nhìn cái đầm sen và tiếp - Anh thử cầm lấy một cục đất mà ném vào cái đám bèo dưới đầm mà xem, anh hãy nói với bà con, bèo bị tan đi còn biết họp lại, huống chi là người của chúng ta, anh Tư!...
Sáu Sỏi về làm bí thư huyện ủy huyện Chợ Mới, và giữ chức chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh huyện.
Những ngày ấy là những ngày sau hiệp định 6-3 năm 1946. Khắp mọi nơi - và hầu như ngày nào cũng có tiếng súng kháng chiến. Không khí kháng chiến như một ngọn lửa bắt nguồn từ tim người bùng lên, lan rộng ra và không thể nào dập tắt được. Tất cả các nơi, hầu như mỗi xã cũng đều có một khu căn cứ. Xóm Đình là khu căn cứ của làng.
Qua cuộc chiến đấu dằng dai ấy, càng ngày người ta càng thấy rõ lời tuyên bố của tướng Lơcờle: “Bình định Nam Bộ trong ba tuần” là những lời huênh hoang và ngu xuẩn một cách bất hủ.
Trong các thành phố và các đồn bốt, bọn lính có “vòng tua đỏ” mỗi ngày mỗi vắng và được thay vào những người lính lê dương đầu đội kê bi trắng.
Đầu năm 1947, trong một cuộc họp cao cấp ở Pháp, Đạtgiăngliơ và Bôla Et có thống nhất một nhận định: “Nếu hiểu biết được một cách sâu sắc về tôn giáo về tâm lý và phong tục, về mâu thuẫn nội bộ của đối phương thì sự hiểu biết đó có một sức mạnh bằng hai sư đoàn số 3 và số 4 và nếu biết sử dụng được sự hiểu biết đó thì sức mạnh sẽ vô cùng...”.
Sau đó các báo chí Sài Gòn càng bị kiểm soát một cách gắt gao hơn. Bọn bồi bút lần lượt trườn mặt lên các trang báo, vu cáo Cộng sản, cổ động và tuyên truyền cho thứ độc lập bánh vẽ.
Ở những vùng có tín đồ Hòa Hảo, người ta lại bắt đầu nghe lại những tin đồn nhảm, lại có những lời bàn xầm xì về hai tiếng quỷ dương.
Tên “Pettanh” Liễu - người Việt mà lấy tên Tây, tên phòng nhì đội lốt đạo, làm tham mưu trưởng của quân đội Hòa Hảo - ra mật lệnh thủ tiêu những người nghi ngờ là cộng sản hoặc ngoại đạo.
Tín đồ Hòa Hảo các nơi lại bắt đầu họp kín, tập kín, quyên tiền mua súng, cho nữ tín đồ đi dụ dỗ anh em du kích mang súng sang quân đội Hòa Hảo. Các ban trị sự đòi tham gia vào chánh quyền một cách gay gắt. Các nơi, đã bắt đầu có những cuộc xung đột lẻ tẻ. Trong huyện Chợ Mới, tình hình có vẻ gay gắt nhất là làng Mỹ Long Hưng. Ban trị sự đạo đề nghị mở hội nghị bàn về việc chánh quyền, hội nghị đang sôi nổi thì các đại biểu trong ban trị sự đạo lại đứng dậy, xua tay, lớn tiếng, bỏ ra về. Trong tình hình ấy, Sáu Sỏi và các cấp ủy đều đoán biết việc sẽ xảy ra. Sáu Sỏi liền trở về làng. Bác trở về làng, đang họp với cấp ủy xã thì đêm ấy đã nổ ra. Nếu đêm ấy mà không có Hiền, thì bác và một số đồng chí chắc đã hy sinh rồi.
Sau cái đêm ấy, các đơn vị vũ trang của Năm Lửa, Ba Cụt, Hai Ngoán, Nguyễn Giác Ngộ cũng đã phản lại nhân dân tín đồ, các đơn vị ấy đã nổ súng bắn giết cán bộ cách mạng, chiếm lấy tất cả các vùng có tín đồ trong các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc và Cần Thơ. Sau khi các đơn vị vũ trang của Hòa Hảo chiếm được những vùng ấy thì các đơn vị chính quy của Pháp lần lượt giao quyền kiểm soát cho Hòa Hảo và rút dần đi đến các chiến trường khác. Những tên quan lại Pháp ngày cũ lại bắt đầu trở lại. Quận trưởng Ghiđi lại trở về làm Quận trưởng quận Chợ Mới.
Sau khi chiếm được một số vùng có tín đồ, các lực lượng vũ trang của bọn phản động mượn danh Hòa Hảo lại cùng với các lực lượng quân sự địa phương của Pháp tấn công vào các khu căn cứ của Cách mạng. Nhưng bọn chúng đã vấp phải sức chống trả mãnh liệt của các lực lượng Cách mạng. Các đơn vị vũ trang của Cách mạng cũng không ngừng tấn công vào các lực lượng phản động ấy.
Hơn bốn tháng, những cuộc chiến đấu hỗn độn ấy đã thức tỉnh được một số tín đồ. Số tín đồ ấy đã tự mình tách ra khỏi hàng ngũ phản động, tìm vào khu căn cứ, kêu gọi cán bộ trở về.
Sáu Sỏi và các đồng chí trong huyện ủy đã chia nhau trở về một số làng và đã gây được cơ sở.
Vị trí của làng Mỹ Long Hưng như cái cổng đi vào vùng đất rộng lớn của Hòa Hảo, huyện ủy huyện Chợ Mới xét thấy cần phải có người trở về.
Qua nhiều cuộc hội nghị, bác thấy anh em đồng chí vẫn hãy còn ngại, thấy anh em ai ai cũng ít nhiều có sai lầm với bà con, bác tự thấy mình là người hiếu được người làng, mình là người hầu như không có điều gì sai trái với dân làng, cho nên bác đã xin về. Trước khi về, bác có gửi một lá thư cho lão Ịnh. Nhưng bác đã không ngờ.



(1) Division infanterie colonial.
 


 
Đăng nhập để trả lời
0

V

 
Một buổi sáng, cách đấy ba hôm, để tránh sự hiểu lầm, để tỏ ra thiện ý của mình, bác tự mình bơi một con xuồng vượt qua sông. Xuồng của bác cặp lại bến Đình vào lúc trời vừa ngả xế. Bác vừa bước lên bến thì bị Hùng, Chiến và Bảy Thẹo nấp sẵn dưới gốc cây gừa, xông ra bắt. Chúng túc tù và từng hồi một, báo động và tri hô. “Bắt được một tên do thám”. Tức thì cả làng bị náo động. Khắp các ngả đường, đồng bào tín đồ kẻ đao, người kiếm, nghìn nghịt kéo đến vây chặt lấy cây gừa. Đội canh phòng của Quản Dõng quất ngựa sải dài theo ven sông.
Họ chen lấn nhau nhìn mặt người bị bắt.
Bác bị trói, nhìn quanh, thấy tất cả đều là người làng của mình. Với những vẻ mặt thù hằn và tăm tối, họ quơ đao, quơ kiếm, gầm thét, đòi trả thù. Hình như họ đã quên rằng: bác chính là Sáu Sỏi, bác chính là anh thợ cắt tóc quen thuộc ở xóm Đình, bác chính là chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chánh của làng.
Đứng trước cảnh đó, bác không thấy run sợ, cũng không thấy thù hằn họ, mà chỉ thấy mình nhoi nhói đau. Họ đã đi sâu vào con đường lầm lạc quá rồi. Bác nghiến chặt răng để cầm nước mắt. Bác ngước nhìn quanh và cất tiếng:
- Bà con! Tôi là Sáu Sỏi đây này! Tôi không phải là do thám. Tôi về đây để cùng với đồng bào đoàn kết đánh Tây, cứu nước!
Sau câu nói ấy, bác thấy ông Năm Bầu, người bạn già của mình, từ trong đám đông lách ra, quay mặt về đám người, dang rộng cánh tay ra, thụp đầu xuống, và nói với một giọng như van lơn:
- Thưa tất cả bà con bổn đạo! Bà con cho tôi xin. Chuyện đâu còn có đó. Mình có ban trị sự, mình nên để cho ban trị sự xử. Anh Sáu đi về đây như là người đi sứ. Mình không nên đánh đập, giết chóc người đi sứ. Vậy, tôi xin bà con ai về nhà nấy đi.
Làn sóng người dừng lại, có nhiều ngọn đao, ngọn kiếm bắt đầu rụt xuống. Và trong đám người chen chúc ấy, liền như chia ra thành hai khối. Kẻ lấn tới trước, người nắm áo kéo lại. Rồi, họ bắt đầu la ó, cãi nhau.
Trong lúc đó, Sáu Sỏi bước tới một bước, vừa định nói thêm thì đã bị Bảy Thẹo bóp lấy cổ và bị đút vải vào miệng. Trong khi mọi người lảng dần ra về, bác thấy ông Năm Bầu ngoái nhìn mình với cặp mắt đau xót và bạn bè.
Sau đó, chúng đưa bác thẳng về hầm giam. Nghe họ gọi lên, bác nghĩ chắc là họ đã chịu bàn bạc với mình.
Tuy bị bắt, nhưng bác vẫn giữ tư thế của người chiến thắng, vẻ mặt hốc hác, xương xương của bác vẫn trầm tĩnh. Thấy lão Ịnh, bác bỗng chợt nhớ những lần dưới gốc cây vông. Bác nhìn lão Ịnh với đôi mắt vừa vui mừng, vừa rộng rãi, vừa xót thương.
Còn lão Ịnh, lão vẫn đứng dưới bóng tối của tàng xoài. Nhìn Sáu Sỏi, lão thấy hơi nao núng và phập phồng lo sợ hơn lúc cầm ngọn đao ra trận. Lão chớp mắt ra hiệu cho Bảy Thẹo. Bảy Thẹo hiểu ý, liền cho gươm vào vỏ, vác súng lên và đi lảng ra chỗ khác. Hắn vừa đi vừa ngoái cổ nhìn lại.
Lão Ịnh vẫn đứng nguyên chỗ cũ, người hơi run, lưng hơi còng và sắc mặt biến dần xuống. Rồi tự dưng, lão nảy ngực lên, cố trấn tĩnh và tập trung tất cả nghị lực vào mắt để nhìn thẳng vào Sáu Sỏi. Lão thấy tức giận vì cái vẻ đường hoàng, hiên ngang của Sáu Sỏi mỗi lúc mỗi tiến gần về mình.
- Anh Sáu! Anh nên cải tà quy chánh đi!
Lão định mở đầu câu chuyện bằng lời khuyên ấy. Nhưng lão chưa kịp nói, trong lúc đôi môi tái xám của lão đang mấp máy thì, Sáu Sỏi đã đứng trước mặt lão, và đã nói trước lão rồi:
- Anh Tư! Tôi hôm nay về đây là để cùng anh với bà con trong làng mình đoàn kết lại đánh Tây cứu nước!
Lão Ịnh thấy như mình bị tấn công trước, lão đâm bối rối vì thấy câu chuyện vừa mở đầu đã khác với ý định của mình. Lão chớp nhìn Sáu Sỏi, rồi vừa ngồi xuống vừa hỏi vặn:
- Tại sao lúc trước các anh không đoàn kết với chúng tôi?
- Lúc nào là lúc tôi không đoàn kết với các anh?
Sáu Sỏi vừa nghe cái giọng gay gắt vừa thấy sắc mặt giận dữ của lão Ịnh và thấy hai tay mình vẫn chưa được mở trói, bác chợt hiểu được số phận của mình. Nhưng bác vẫn trầm tĩnh, bác ngồi dựa lưng vào gốc xoài và ngẩng mặt nhìn lão Ịnh. Lão Ịnh ngảnh mặt nhìn chỗ khác và hỏi tiếp:
- Các anh nói đoàn kết, tại sao hồi năm ngoái, các anh không đồng ý cho ông trưởng ban chúng tôi ngồi ghế chủ tịch?
Cái gì là bạn bè là thân thiết trong đôi mắt của Sáu Sỏi liền sụp tắt. Bác mở tròn mắt nhìn lão Ịnh như nhìn một người xa lạ nào. Vẻ mặt sắt lại, nghiêm nghị, bác nói chắc từng tiếng một:
- Chúng tôi không đồng ý để Quản Dõng làm chủ tịch là vì Quản Dõng không phải là người đại diện của các anh.
Lão Ịnh quay nhìn Sáu Sỏi với một vẻ lạ lùng và hỏi lại:
- Quản Dõng là trưởng ban trị sự của chúng tôi, tại sao anh nói là không phải đại diện của chúng tôi?
Giọng của Sáu Sỏi trầm lại:
- Anh Tư! Anh đừng thấy Quản Dõng mặc đồ già, đầu để tóc mà anh cho nó là người theo đạo. Đó chỉ là cái vỏ. Anh lật áo nó lên mà xem, nó vẫn là thằng chủ điền. Còn anh và tín đồ trong làng vẫn là tá điền của nó. Anh quên nó rồi sao anh Tư?
Câu hỏi cuối cùng ấy gợi lại dĩ vãng của cuộc đời lão và như đánh thức lão. Lão đưa cặp mắt tối tăm và buồn rầu nhìn một đường ánh sáng từ kẽ lá của tàng xoài rọi thẳng về mình, đọng dưới mặt đất một đốm vàng.
Lão vội vàng chống chế lại:
- Quản Dõng là như vậy thì đã đành, nhưng còn tôi? - Lão cong năm ngón tay gõ vào lồng ngực mình và tiếp -Tôi là Tư Ịnh! - Lão xưng tên với một vẻ tự hào - Tại sao lúc đó các anh không đồng ý cho tôi giữ chức ủy viên công an?
Rồi, lão có vẻ chủ động hơn, lão nắm chòm râu, hất mặt hướng về Sáu Sỏi, hai lông mày rậm giương cong lên.
Sáu Sỏi vẫn bình tĩnh:
- Anh Tư! Vì lúc đó, anh không phải là anh nữa!
- Tại sao tôi không phải là tôi? Hả?
- Anh Tư! Anh bình tĩnh để tôi nói. Tôi nói, anh đừng giận! Đêm, anh nằm gác tay lên trán mà nghĩ lại. Trong lúc đó và cũng có thể là hiện bây giờ, anh quả thật không phải là anh nữa. Tại sao tôi dám nói như vậy. Vì, anh không phải làm việc cho tín đồ, anh cũng không phải làm việc cho anh nữa; mà, anh làm theo mệnh lệnh của người khác. Người khác là ai? Là thằng Quản Dõng, là những thằng như Quản Dõng. Anh Tư, chắc là anh còn nhớ đến Cao Hoài Đức là tôi trung thần của thời nhà Tống chứ? Cao Hoài Đức không phải là tên nịnh thần có lòng phản tặc. Thằng Dư Hồng, Dư Triệu đã dùng mưu gian kế quỷ, dán bùa mê lên lưng Cao Hoài Đức, nên Cao Hoài Đức đã trở ngựa lại mà đánh vua mình. Anh Tư, tôi thấy anh...
Lão Ịnh xua tay ra và cắt lời của Sáu Sỏi:
- Anh, anh Sáu! Tôi nghe đã đủ rồi!
Sáu Sỏi tiếp:
- Cái việc Quản Dõng và anh có được vào chánh quyền hay không, không phải là do tôi, hay là do một nhóm người nào, mà do tất cả nhân dân trong làng. Tại sao lúc đó các anh không chịu đưa ra cho nhân dân bầu cử? Anh còn nhớ...
Lão Ịnh không đủ can đảm để nghe nữa rồi, lão đưa tay phạt ngang, cắt lời của Sáu Sỏi, phẫn nộ và to tiếng:
- Chính vì chỗ đó mà chúng tôi không đoàn kết với các anh.
Sáu Sỏi vẫn bình tĩnh, nhấc lưng ra khỏi thân xoài, khe khẽ lắc đầu:
- Không phải vì chỗ đó đâu anh Tư! Mà vì một chỗ khác! Anh là người trong đạo, tôi xin lỗi anh, chắc anh cũng chưa biết rõ được chuyện này. Những người như Quản Dõng nằm trong đạo anh rất nhiều. Hỏi ai là người nắm giềng mối trong đạo. Từ trên cho tới dưới, có phải là những thằng chủ điền như Quản Dõng không? Làng Mỹ Long Hưng này là Quản Dõng, làng Mỹ Nhân là Tổng Định, làng Mỹ Nghĩa là Cả Kẹo, còn huyện thì ai? Là thằng Tổng Nghệ. Hồi thời Pháp thuộc, hỏi vậy những thằng đó đã làm cái gì? Nó làm hội tề của giặc, là những thằng tay sai, là những thằng bán nước. Nó bán nước, bán dân cho giặc từ lâu rồi. Bây giờ, nó chui vào đạo để lường gạt tín đồ, để bán rẻ tín đồ cho giặc. Bọn nó muốn nắm chánh quyền cách mạng, để nhân đó dễ dàng tiêu diệt cách mạng. Nhưng cặp mắt của nhân dân là ánh sáng, nhân dân biết, nên nhân dân không đồng ý cho nó chui vào. Âm mưu đó bị thất bại, bọn nó mới lấy cớ đó mà đưa tín đồ vào con đường chống lại cách mạng, chống lại nhân dân. Đó, chỗ đó mới là lý do chính. Hỏi anh, trong làng này có biết bao nhiêu người không được làm chủ tịch, tại sao họ không đi theo giặc mà phản lại cách mạng?
Nghe đến đây, lão Ịnh thấy như bị sỉ nhục, lời nói cuối cùng của Sáu Sỏi, lão nghe đau như ai đánh trúng vào tim. Phút chốc lão không thấy Sáu Sỏi là bạn của mình nữa, lão mất tất cả bình tĩnh. Người lão trở nên hung hãn. Gân trên thái dương lão nổi gồng như con rắn trung. Lão đưa bàn tay to lớn đầy lông lên, năm ngón tay cong lại như cái vấu, run run, chụp xuống đốm nắng trước mặt, năm ngón tay lún sâu xuống mảnh đất phân. Lão hất chòm râu, vênh mặt nhìn Sáu Sỏi, rít lên từng tiếng:
- Đạo của tôi không phải theo giặc. Đạo tôi theo giặc là theo diệu kế của chúng tôi. Chúng tôi đầu nó là đầu đỡ, dựa vào thế của nó để tiêu diệt Việt Minh quỷ dương trước, rồi sau này chúng tôi sẽ lấy súng nó mà đánh lại nó.
Lão quay mặt và định đứng dậy đi.
Sáu Sỏi ôn tồn:
- Anh Tư, đừng nóng. Anh ngồi xuống đây, tôi với anh không còn có dịp gặp nhau nữa đâu.
Đôi mắt của Sáu Sỏi thoáng một vẻ xao xuyến, giọng của bác lại trầm xuống, chậm rãi và tha thiết như lòi trăn trối:
- Tôi cũng như anh, đều là những người biết thương nước thương nòi. Tôi là Sáu Sỏi, anh còn nhớ chứ?
Mỗi lần nghe đến tiếng Sáu Sỏi là mỗi lần lão Ịnh như sực nhớ lại một cái gì rất thân thiết gắn bó với cuộc đời đau khổ của mình, vẻ mặt hừng hực của lão dịu dần. Lão khẽ ngồi lại chỗ cũ và lơ đãng nhìn những hoa xoài giăng giăng rơi trắng cả khu vườn. Trong lúc đó, giọng của Sáu Sỏi to dần lên:
- Tôi cũng như anh, đều là những người thương nước, thương nòi. - Sáu Sỏi lặp lại câu đó và tiếp - Tôi muốn anh nói cho tôi được rõ vì sao anh lại thù hằn tôi? Vì sao các anh lại đi thù những người kháng chiến, những người cách mạng, những người cộng sản? Tôi biết, tôi gặp anh lần này là lần cuối cùng, tôi muốn anh cho tôi biết rõ điều đó!
Sáu Sỏi nhìn cái mái tóc buông xòa của lão Ịnh và tiếp:
- Chắc anh còn nhớ! Năm bốn mươi lăm, sau khi mình cướp chánh quyền, thì từ cửa miệng của những người như Quản Dõng đã nói với tín đồ là: những người yêu nước không thờ đạo như chúng tôi là quỷ dương, là những con quỷ đi hốt hồn người trong những đêm tối đổi đời, là những con quỷ đi phá phách Phật trời, cần phải tiêu diệt. Khi bà con tín đồ thấy tôi và anh em vẫn là người thì chúng nó nói lại, chúng tôi là bọn không vua không chúa, là quân làm loạn. Rồi đây, khi đồng bào tín đồ hiểu được chúng tôi là những người muốn xây dựng một cuộc đời như thiên đàng, là tự mình làm chủ cho mình thì họ còn sẽ nói chúng tôi như thế nào?
Dòng sông Cửu Long tự nãy giờ như im lặng, bỗng nổi lên những tiếng sóng hầm hì và mỗi lúc mỗi to.
Sáu Sỏi ngồi thẳng lưng lên. Hai cánh tay bị trói ngoặt ra sau, bác đưa bộ ngực ưỡn về phía trước, đường khuy áo nứt ra, giọng bác vẫn ôn tồn nhưng sôi nổi và hòa theo tiếng sóng:
- Âm mưu của bọn giặc với chúng nó đã sắp sẵn từ lâu rồi, anh Tư! Lúc đầu, chúng nó bảo với tín đồ là: phải tiêu diệt Việt Minh, Việt Minh là quỷ dương, là dân làm loạn và bán nước. Nhưng, chúng nó không thể nào tiêu diệt được cách mạng, mà ngược lại, cách mạng mỗi ngày cứ mỗi lớn lên. Chúng đã đưa đồng bào tín đồ đến một chỗ cùng đường, không có cách nào khác hơn là dựa vào giặc. Nhưng chúng nó biết rằng: đồng bào tín đồ là những người yêu nước. Để che giấu cái bộ mặt bán nước, chúng đưa ra luận điệu là: đầu đỡ Tây, rồi sau sẽ đánh lại Tây. Chính cái bọn đó mới là quỷ. Nó dám cả gan mệnh danh là Phật trời để bán rẻ tín đồ cho giặc. Anh Tư! Chính bọn đó mới là kẻ thù. Chúng đã đốt lên một ngọn lửa thù hằn giữa nhân dân mình, mình còn tiếp tục xô xát lẫn nhau thì mình cũng như con thiêu thân tự mình lao vô lửa để tự giết mình mà thôi. Tôi nhớ một lần, anh có nói với tôi: “Ai thắng ai thua rồi sẽ biết!” Nếu chúng ta vẫn cứ xô xát với nhau thì cuối cùng anh và tôi không ai thắng ai cả! Mà, kẻ thắng chính là giặc! Chuyện đó rõ ràng lắm rồi! Anh còn nhớ làng Mỹ Long Hưng này chứ? Lúc nhân dân đoàn kết cùng một dạ một lòng, hỏi vậy có thằng Tây nào dám bén mảng tới xóm Đình này không? Rồi bây giờ, khi các anh chống lại chúng tôi, thì ai đã đi đón thằng Ghiđi thằng Cò về đây? Có phải là bọn thằng Quản Dõng không?
Cả hai đều nín lặng.
Tiếng sóng của dòng sông Cửu Long lại nổi lên và nghe như những ngọn sóng to ấy mỗi lần ập vào bờ là mỗi lần hắt lên những cơn gió ào ào.
Lão Ịnh ngồi im, chừng như hãy muốn nghe những lời nói lạ lùng ấy nữa thì tiếng vó ngựa của đội canh tuần đồm độp chạy qua đường làm lão giật mình. Lão ngẩng đầu dậy, mắt chơm chớp. Lão đưa tay phẩy qua mặt, chớp nhìn Sáu Sỏi, nói với một giọng van xin:
- Thôi anh Sáu! - Và lão cố tạo một vẻ chống chế lại - Tôi nghe đủ rồi!
Chợt lão rút nhanh bàn tay dúi vào kẽ áo ngực như sợ Sáu Sỏi thấy được cái gì trong bàn tay của mình. Đoạn lão vội vàng đứng dậy, chần chờ một lúc, rồi nhấc lên từng bước một.
Sáu Sỏi cũng đứng dậy, kéo xích, nặng gót bước theo.
Gió mang theo tiếng sóng của dòng sông Cửu Long, từng cơn, từng cơn thổi thốc vào khu vườn. Những chiếc lá khô rải rác khu vườn, im lìm, bỗng động đậy như một bầy chim bị trúng tên nằm gục xuống mặt đất, vừa tỉnh dậy, chấp chới đôi cánh nhỏ muốn bay lên khỏi lớp hoa xoài.
Hai người trước sau đi trong những giọt mưa hoa rơi chéo rơi xiên trắng dã cả khu vườn.
Sáu Sỏi nhìn theo mái tóc màu nuối tiêu của lão Ịnh bị gió thổi tung lên khỏi ót, mà nói:
- Anh Tư! Tôi về đây, tôi biết là tôi có thể... - Sáu Sỏi không nói được tiếng cuối cùng, bác bị nghẽn lại. Nhưng lão Ịnh hiểu được tiếng cuối cùng ấy. Một cái gì buốt lạnh rợn qua xương sống lão và da mặt nổi đầy gai ốc. Trong tiếng gió, tiếng hoa rơi, tiếng lá chạy rào rào, lão vẫn nghe tiếng của Sáu Sỏi từ phía sau vọng tới - Nhưng tôi không hề sợ! Nếu tôi sợ thì tôi không về kiếm anh mà làm gì. Tôi không sợ, nhưng tôi rất đau đớn. Nếu tôi lỡ cơ sa vào tay giặc mà tôi chết, thì tôi rất hài lòng, vì đó là lẽ tất nhiên, vì nó là kẻ thù. Còn anh? Còn các anh? Nhưng... thôi... Anh về xóm, anh cho tôi gởi lời thăm bà con, tôi muốn nhắn với bà con một điều. Tôi có chết, anh và bà con có thể quên tôi, quên thằng Sáu Sỏi này, nhưng tôi xin anh, xin bà con hãy nhớ cho tôi điều này.
Lão Ịnh vẫn bước với những bước nặng nề trên những cánh hoa vừa rụng và đầu cúi nhìn xuống đất. Lão vẫn nghe giọng nói trầm trầm vừa như tha thiết, khuyên nhủ, vừa như gay gắt như răn dạy thốt ra từ đáy lòng của Sáu Sỏi, mỗi lúc mỗi vang to bên tai lão.
- Anh Tư, anh cũng như bà con tín đồ trong làng, đều là dân tá điền, cũng như tôi, là những người bị mất nước! Nếu muốn cho đất nước mình được độc lập tự do, nếu muốn có đất cày thì phải đi theo cách mạng, phải làm cách mạng! Chỉ có một con đường đó thôi! Anh Tư! Anh Tư!
Tên Bảy Thẹo thấy lão Ịnh đã bỏ đi, thì từ xa, hắn đã chong mũi súng hướng về phía Sáu Sỏi, trợn tròn mắt, xông tới và quát lên:
- Đứng lại! Đứng lại!
Sáu Sỏi dừng lại trước mũi súng của Bảy Thẹo, nhưng mặt vẫn ngẩng lên, nghiêng người, nhìn theo lão Ịnh, cái bóng người to lớn nhưng ủ rũ mỗi lúc mỗi xa, Bác kêu theo:
- Anh Tư! Hãy nhớ!...
 
Đăng nhập để trả lời
0

VI

 
Khi Sáu Sỏi gọi với theo lúc bị tên Bảy Thẹo bắt phải dừng lại, lão Ịnh vẫn không quay lưng lại, chân cứ bước thẳng, nhưng hai tai lão cứ nhanh nhách như muốn xoay hai cái loa tai ngược ra sau để hứng những lời gọi ấy: - Anh Tư! Hãy nhớ!...
Những lời nói của Sáu Sỏi vừa rồi như những hạt giống của chân lý gieo xuống mảnh đất lòng của lão, một mảnh đất tuy đang khô khan nhưng là một mảnh đất màu mỡ, tuy khó khăn, nhưng những hạt giống ấy cũng đã bắt đầu nảy mầm. Những lời nói của Sáu Sỏi khiến cho lão nhớ lại tất cả cuộc đời của mình, nhớ lại cuộc đời của Quản Dõng trước đây và nhớ lại những kỷ niệm bè bạn với Sáu Sỏi. Tất cả hình ảnh đó cùng hiện lên trong óc lão, khiến cho lão bắt đầu hoài nghi con đường đi của mình. Lão lẩm bẩm:
- Cao Hoài Đức! Cao Hoài Đức! Mình là Cao Hoài Đức chăng? Quản Dõng! Quản Dõng là Dư Hồng, Dư Triệu chăng ...
Lão vừa hoài nghi nhưng cũng vừa cố bấu víu vào.
Dòng sông Cửu Long như tức tối một điều gì, mỗi lúc mỗi gầm thét to hơn. Gió ào ào trên tàng xoài, xua những đám mây đen tan đi; rồi những ngọn gió khác lại mang những mây đen khác ùn ùn trùm qua làng. Hoa xoài vẫn rơi trắng xuống. Lão Ịnh, tóc vẫn rủ, đầu vẫn cúi và vẫn đi chậm trong bóng tối của khu vườn.
Con đường theo kháng chiến, con đường theo đạo, hai con đường ấy đối với lão bây giờ như hai dòng sông trong đục đang chảy lẫn vào nhau, mà con mắt (theo lão là con mắt của người trần tục) không thể nào phân biệt được đâu là đen trắng.
- Ôi! Giá mà đầu óc của ta chỉ cứ biết tin tưởng vào đấng thiêng liêng, không còn biết suy nghĩ gì nữa như những tín đồ khác! Giá mà ta được như các vị thiên lôi chỉ có biết đánh theo lời truyền của trời Phật! Giá mà lòng dạ ta được lạnh như đồng với tất cả người thân, để ta được sung sướng khi giết được một người ngoại đạo như sung sướng được bước lên một nấc thang của cõi Niết bàn... - Lão lẩm bẩm và hoài nghi con đường đi của mình. Cái tình nghĩa người thân làm cho lương tâm lão giãy giụa lên những cơn đau đớn.
Tự dưng lão dừng lại, mắt vụt sáng lên và ngẩng nhìn những tàng xoài đang quằn lên quằn xuống trong cơn gió. Trong đầu lão vừa nảy ra một ý nghĩ lạ: lão sẽ về núi Cấm! Núi Cấm là một cái núi lớn nằm bên kia vùng hậu giang thuộc tỉnh Châu Đốc. Vì nghe theo tin đồn huyễn hoặc khi mới bước vào đạo, nên lão nghĩ núi Cấm là cái nơi của đất Phật. Nơi ấy, sau này sẽ nổ ra ba tiếng long trời lở đất, núi nổ ra nhiều cửa, từ trong lòng núi sẽ hiện lên một ngôi đài, rồi mở hội Long hoa, rồi các chư phật xuất thế trị vì.
Hiện giờ, ở núi Cấm đã có cái hang ăn vào cái ngôi đài ấy. Nếu ai được phước vào đó, khi trở ra nếu định mở miệng muốn nói với ai điều ấy thì sẽ bị câm ngay. Đó là hình phạt của nhà Phật. Do đó mà núi đặt tên là núi Cấm. Bây giờ, nếu ai được đến đó với lòng thành thì tâm hồn sẽ tan đi hết những nỗi ưu phiền. Nơi ấy có áng mây ngũ sắc, có dòng suối cam lồ, có đủ thứ chim muông biết ca hát, có những nàng tiên thỉnh thoảng chắp cánh về trần đi tắm suối. Trên những áng mây ngũ sắc đó có các chư tiên chư phật tọa trên đài sen phất trần nhìn cuộc thế. Nơi ấy có các nhà sắp đắc đạo, những vị ấy là những người truyền đi lời dạy của Đức Phật cho người đời. Chỉ có cái đất thần thánh thiêng liêng ấy mới chỉ cho người đời biết được đâu là tà chánh.
Nghĩ đến đây, lòng lão vừa nhẹ, nhưng cũng vừa se thắt lại. Lão thấy mình như sắp phải xa làng, xa nhà và xa con. Hơn nữa, núi Cấm đối với lão xa vời quá! Trong cái lúc hỗn độn này, làm sao đến được! Ý nghĩ ấy lại tắt dần trong trí lão.
Trong cái lúc tối tăm này, lão thấy cần có một người thân sáng suốt hơn mình, để chỉ cho mình những điều sai trái. Lão lần lượt nhớ đến bạn bè trong làng.
- À! Thằng Năm Bầu! - Lão thầm reo lên.
Ông Năm Bầu trước đây vốn là người ngang ngạnh. Cách đây hơn mười năm, có những ông thầy chùa đến xin xây chùa trong mảnh đất của ông, những người ấy nói với ông rằng:
- Chúng tôi thấy mảnh đất đó là mảnh đất lành dám xin ngài cho chúng tôi dựng lên ngôi chùa. Hàng năm, chúng tôi sẽ quyên tiền bá tánh đóng thuế cho ngài. Vậy, dám xin ngài vui lòng.
Miếng đất ấy là miếng đất sống của ông và vốn không thích họ, nên ông không bằng lòng. Những ông thầy chùa ấy lại cứ nằn nì và sau cùng thì nịnh bợ và ve vuốt ông:
- Trong mảnh đất đó, chúng tôi thấy có mồ mả tổ tiên của ngài. Nếu ngài nghĩ đến đấng Thích Ca Mô Ni mà cho chúng tôi xây lên ngôi chùa, thì đêm đêm chúng tôi sẽ cầu nguyện cho vong hồn ông bà tổ tiên của ngài được siêu thăng. Rồi, chúng tôi sẽ mở một con đường chạy thẳng tới gia thất của ngài, để chiều chiều ngài ra thăm tổ tiên ông bà!
Ông Năm Bầu ngồi lặng một lúc, rồi gật đầu ừ một tiếng và bảo:
- Được, nhưng các ông phải đắp con đường trước cho tôi ra thăm mồ mả ông bà rồi hãy xây chùa, có được không?
Những ông thầy chùa ấy chịu lời và chắp tay xá ông ta. Sau đó, họ đắp một con đường - vì có ba cây dừa mọc ở gần bờ đất nên con đường chạy thẳng đến đó phải cong hình cánh cung rồi mới chạy thẳng tiếp vào nhà ông. Sau khi họ đắp xong, ông kêu những ông thầy chùa ấy lại, ông chỉ cái khúc quẹo của con đường ấy, bảo họ với giọng lè nhè trong men rượu:
- Các ông! Người ta nói: đạo là đường, đường là đạo, mà đường không ngay thì đạo cái con cặc gì, hả? Thôi, các ông đi đi, đường mà đắp cũng không ngay thì tu với niệm cái gì?
Con người ngang ngược như thế mà sao cũng theo đạo Phật giáo Hòa Hảo? Chắc là ông ta cũng có thấy cái gì đó chứ! Rồi trong năm 40, Năm Bầu cũng xách gậy chạy theo anh em. Và sau đó, khi trong làng bị tan tác, người bị giết, người bị cầm tù, thì Quản Dõng đã cho người nhà đến nói thẳng với ông ta rằng: “Ông đã vô sổ bìa đen rồi. Vậy, ông định liệu cho ông như thế nào? Một trong hai lẽ: hoặc là làm giấy chịu giao đất cho cậu Hương quản, hai là bỏ vợ bỏ con để ra đi chết rục xương ngoài Côn Đảo?”. Ông Năm Bầu đành “kêu trời” giao đất cho hắn và cam chịu số phận làm tá điền cho hắn. Sau khi giao đất, ông lấy len đào sâu xuống mảnh đất mình một lỗ nhỏ, rồi thò tay xuống, móc lên một ít đất ướt cho đầy vào một cái nồi con. Ông cắm cây “Hoa nha” xuống nồi đất ấy và để nó bên đầu nằm để đêm ngày ghi nhớ lấy mối thù. Năm Bầu cũng có một mối thù với Quản Dõng như vậy, ấy thế mà sao bây giờ ông không chạy theo Sáu Sỏi mà lại chịu dưới quyền của Quản Dõng? Chắc là ông đã có thấy được cái gì rồi đấy chứ? Biết rằng, ông vẫn không thích cái tính hung hăng của thằng Chiến là con mình, nhưng tại vì sao trong lúc này ông không chạy theo kháng chiến mà vẫn còn ở lại đây? Vì sao?
Càng nghĩ đến ông Năm Bầu, lão Ịnh càng thấy người bạn thân của mình là người sáng suốt. Và lão càng hy vọng được ông Năm Bầu gỡ rối cho.
Lão vừa bới lại tóc vừa vội vã đi.
Cũng cùng trong lúc đó, ông Năm Bầu đang đi tìm lão và hai người sắp gặp nhau. Ông Năm Bầu lúc còn nhỏ, thân hình ông no tròn như trái bầu và cả con mắt cũng giống hình hạt bầu, (ông là người con thứ năm) nên hàng xóm gọi là thằng Bầu, thằng Năm Bầu. Vì thân hình ông cứ như thế mà phát triển từ ngực đến bụng - từ bụng đến mông cứ no tròn và thẳng đuồn đuột như trái bầu dài, nên cái tên Năm Bầu ấy vẫn còn lưu mãi cho đến ngày nay. Ông mặc chiếc áo bà ba màu già không gài khuy và chiếc quần tiều màu đen trước rốn có cái thắt to như quả cà. Ông cầm cây chĩa ba từ sau sân đình ra vườn xoài. Bất cứ đi đâu ông cũng cầm cây chĩa ba ấy, hễ gặp chuột thì ông đâm chuột, gặp rắn thì ông đâm rắn, gặp cá thì ông đâm cá để đem về làm món nhậu, vốn tính ông ngày nào cũng phải nhậu, thường thường là phải một xị thì mới ăn cơm được. Nhậu xong, nếu có bạn, ông đem chuyện đời ra bàn bạc. Ông thường hay dẫn tích các bộ truyện Tàu để ví chuyện đời nay và chửi xiên xéo bọn hống hách trong làng. Cũng vì cái tính đó mà ông thường gọi Chiến, con ông là thằng Lữ Bố, hữu dũng vô mưu, chẳng ra cái tích sự gì! Nếu không có bạn thì ông gật gù bên cây đàn cò (1) kéo lên những điệu nhạc buồn.
Ông cũng như bao nhiêu tín đồ khác, ông theo đạo với tất cả tấm lòng thành của mình. Nhưng theo đạo để đầu giặc giết lại người kháng chiến, thì ông thấy không phải. Ông nghĩ về cuộc đời theo sự hiểu biết của ông, chứ ông không nghe theo lời của Quản Dõng, mặc dù Quản Dõng là người hiện đang giữ chức trưởng ban trị sự. Vì theo ông, Phật không ở trong cửa miệng của Quản Dõng, mà ở trong tâm mình. Ông là người còn đủ lý trí để nhìn thấy bộ mặt của Quản Dõng. Trước đây, ông hiểu cái nghĩa “quỷ dương” là Tây, bây giờ ông lại hiểu rộng thêm ra nữa, quỷ dương cũng là bọn Việt gian đang đội lốt đạo, chui vào để đưa tín đồ theo con đường “tà đạo”. Quản Dõng là hạng người ấy. Ông còn ở lại làng là vì muốn gần gũi với thằng con, để lựa lời nhỏ to khuyên dạy nó.
Mấy đêm nay, ông không ngủ được, cứ lăn trở và trằn trọc vì cái âm mưu giết Sáu Sỏi của thằng Quản Dõng. Ông muốn giải thoát cho Sáu Sỏi, nhưng không tìm được cách nào. Có đêm ông muốn vượt qua bên kia sông để báo tin, nhưng chân vừa chấm đến bờ nước thì ông quay lại. Dòng sông to quá, ông không thể nào vượt nổi. Đi bằng xuồng bằng ghe thì tàu tuần của chúng sẽ thấy. Và nếu vắng mặt mà không có phép của ban trị sự thì lưỡi kiếm của họ không thể nào bỏ qua ông. Ông biết rằng: họ dòm ngó ông lâu rồi.
Nhưng không thể đành chịu bó tay ngồi nhìn cái chết của Sáu Sỏi. Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng ông nghĩ đến lão Ịnh. Nghĩ rằng: lão Ịnh là bạn chí thân của Sáu Sỏi, là phó ban trị sự và lão Ịnh tuy là hăng hái với đạo nhưng lão chưa hề xuống tay giết một người nào, chắc là lão hãy còn lương tri? Nghĩ thế nên ông đánh bạo đi đến nhà lão Ịnh. Nghe Hiếu nói: lão Ịnh đang gặp Sáu Sỏi ở cụm xoài, ông khấp khởi mừng và vội cầm chĩa ba đi ngay.
Hai người gặp nhau ở giữa cụm xoài. Sau khi biết ý định của nhau thì hai người đứng đối diện với nhau và to tiếng cãi nhau.
Ông Năm Bầu không nén được cơn giận, ông cắm cây chĩa ba phập xuống đất, cán chĩa rung rung. Ông đưa tay kéo một mảnh áo vẹt lồng ngực ra, ngẩng mặt nhìn thẳng vào lão Ịnh và hỏi gằn từng tiếng:
- Sáu Sỏi qua bên này như là người đi sứ, mình là người quang minh chính đại thì tại sao lại giết người đi sứ hả?
Lão Ịnh đưa tay nắm lấy cây chĩa ba và nói:
- Anh Năm đừng nóng! Có phải tại nơi tôi đâu!
Lão Ịnh biết không thể nào khác được, nên cố giữ lấy ý kiến của ban trị sự, nhưng không nóng nảy, mà nhỏ nhẹ như van xin Năm Bầu hãy bằng lòng cho mình. Cách đấy năm hôm, trong một cuộc họp của ban trị sự, lão đã đưa lá thư của Sáu Sỏi ra hội nghị để bàn bạc. Sau khi xem xong, Quản Dõng liền vẫy tay xuống một cái và nói:
- Đúng là nó về do thám chứ không ai! Phải lấy đầu nó mà tế sống cho vong linh bổn đạo tín đồ! Cứ để cho nó về!
Rồi hắn nhìn quanh và hỏi:
- Ý của các vị như thế nào?
Ông Bảy Đẩu liền vỗ đùi một cái và kêu lên:
- Ý của anh Trưởng thật là thượng sách!
Chiến vung quả đấm lên và tiếp theo:
- Chuyện đó để cho tôi!
Lúc ấy, lão Ịnh không thể nào trái với ý họ được, nên cũng đành phải vuốt râu mà gật đầu.
Quản Dõng liền phân cho Chiến và Bảy Thẹo bố trí việc đón bắt Sáu Sỏi. Rồi hắn lần tay lẩm bẩm một lúc nói:
- Hai hôm nữa nó về, sau đó ba hôm thì nhằm ngày lành tháng tốt! Tôi đã tính rồi đó các vị ạ!
Nhớ đến đây, lão Ịnh nhìn Năm Bầu với đôi mắt u buồn và khe khẽ lắc đầu.
Ông Năm Bầu vẫn nhìn thẳng vào lão Ịnh, nói tiếp với một giọng to và sôi nổi:
- Từ cổ cho chí kim, anh có thấy vua nào, nước nào giết người đi sứ không? Anh Tư! Chắc là anh không quên cái thời Phiên Hán tranh nhau chứ? Khi Tô Vũ từ Hán sang Phiên để chịu hàng, nhà Phiên còn không giết Tô Vũ thay! Anh còn nhớ vua Phiên bắt Tô Vũ đi chăn một trăm con dê đực và nói: Chừng nào dê đẻ thì mới cho về chứ? Người ta có thù lắm thì cũng đày đọa người đi sứ đến như vậy là cùng! Huống chi là Sáu Sỏi! Là người cùng đồng bào với mình!
Ông dừng lại một chút, đưa mắt nhìn những hoa xoài rơi rụng rồi cắt nghĩa cái danh từ “đồng bào” theo sự hiểu biết của mình, ông tiếp:
- Sáu Sỏi với mình là người cùng đồng bào, anh Tư ạ! Đồng bào là gì? Đồng bào là đồng chung một bào thai, đồng chung dòng giống Lạc Long Quân, mà hễ là đồng bào thì phải đồng bạo, đồng bao và đồng bảo.
Ông Năm Bầu cắt nghĩa tiếp về những danh từ “đồng bạo, đồng bao, đồng bảo” ấy, ông nói:
- Đồng bạo, là người cùng nhau bạo động. Tôi với anh, với anh Sáu Sỏi, hồi ba mươi, bốn mươi đã cùng nhau đứng lên để bạo động đi đòi nước rồi. Mà hễ đồng bạc rồi thì phải đồng bao, đồng bảo chứ! Đồng bao đồng bảo là đồng bao che cho nhau, đồng bảo vệ cho nhau. - Ông vừa nói vừa đưa hai cánh tay vòng ra như ôm lấy một người nào trước mặt mình và hỏi tiếp - Sao bây giờ anh đành để cho anh Sáu bị nó giết, hả anh Tư? Cái lòng trung nghĩa khí của anh, anh bỏ nó đi đâu rồi anh Tư?
Nói xong, ông hếch mặt nhìn lão Ịnh với một vẻ thách thức. Lão Ịnh như bị dồn vào thế bí, tự dưng ông hơi lùi lại trước cặp mắt rực sáng của Năm Bầu, rồi đưa tay nắm lấy chòm rầu, ưỡn ngực ra và ngẩng đầu chống chế lại:
- Thôi anh Năm, đừng nói nữa, tôi nghe đủ rồi. Tôi với anh Sáu là bạn chí thân. Nhưng bây giờ... có phải là tại nơi tôi đâu mà đây là lệnh truyền của đạo.
- Đạo! Đạo mà ra lệnh tầm bậy như vậy à? - Ông Năm Bầu không chịu được nữa, ông rướn người tới và quát to lên.
Lão Ịnh nghe câu đó, trong người liền như có một ngọn lửa bất thần bùng cháy lên, rừng rực. Với dáng vẻ hung hãn, ông đưa ngực tràn tới trước, tay nắm chòm râu kéo qua vai, nghếch mặt và mở tròn mắt nhìn Năm Bầu, nói như hét:
- Anh nói đạo nào tầm bậy, hả?
Lão Ịnh nóng thì ông Năm Bầu thụt lại sau, nén giận và cố nhỏ giọng để làm lành:
- Anh Tư đừng nóng, để cho tôi nói. Tôi, - ông đưa tay chỉ cái búi tóc to sau ót mình và tiếp - đầu tôi còn đầu tóc, nhà tôi còn thờ trần điều, tôi không nói đạo mình tầm bậy đâu anh Tư. Nhưng tôi muốn nói cái người ra lệnh ấy là tầm bậy. Đạo mình thì không ai ra lệnh giết người đi sứ đâu! Chính cái người ra lệnh đó làm hư đạo mình. Nhưng, nhân hư chứ đạo bất hư anh Tư à! Người hư chứ đạo không thể nào hư được! Đạo mình bây giờ, người thì đông nhưng gạn lọc lại thì tín đồ không được là mấy đâu! Chắc là anh còn nhớ câu kinh câu sấm này: “Bây giờ bổn đạo thì đông - Nửa sau chở một xuồng vông không đầy!” Đấy, đấy! Đấy mới thật là kinh sấm của nhà Phật đó anh Tư! Tôi với anh đây mới thật là tín đồ. Còn thằng Chiến, con tôi, thằng Quản Dõng, tôi nghiệm ra rồi, nó không phải là tín đồ của mình đâu! Thằng Chiến! Anh Tư ơi! Tôi sanh ra nó mà không sanh được lòng dạ nó, tôi thật là có lỗi với anh em làng nước quá!
Qua những lời lẽ chí lý và dịu dàng của Năm Bầu, lão Ịnh nghe ai như rỏ nước xuống lồng ngực nóng rừng rực của mình. Lão lại đứng ủ rũ, đưa cặp mắt sầu não nhìn những chiếc lá xoài khô từ tàng rụng xuống như những cánh chim sa.
Dòng sông Cửu Long lại nổi lên những tiếng sóng trầm trầm.
Tự dưng, lão nghe trong lòng mình dâng lên một nỗi buồn. Lão càng hoài nghi con đường đi của mình hơn và ý nghĩ về núi Cấm liền trở lại với lão. Lão khe khẽ lắc đầu:
- Thôi! Anh Năm! Rồi đây, tôi sẽ về núi Cấm!
- Anh về núi Cấm à? - Ông Năm Bầu ngạc nhiên và kêu như vậy. Lão Ịnh xua tay, không nói rõ là về núi Cấm để làm gì, nhưng nghe qua ông Năm Bầu vẫn hiểu được. Ông liền đưa tay xua xua và can ngăn lại:
- Đừng đi, anh Tư, không được đâu. Anh chưa đến núi Cấm thì anh đã bỏ thây ở dọc đường rồi. Anh không biết thời này đang “loạn lạc” như thế nào à? Anh không biết đạo mình bây giờ đang bắt đầu chia ra nhiều phe phái sao anh Tư? Mà anh lên đó để làm gì mới được chứ? Đừng có nghe lời đồn huyễn hoặc mà bỏ mạng. Người ta đi lên đó nhiều rồi. Ở trên đó, ngoài những thằng thầy chùa ngậm xôi của chúng sanh thì không có ai nữa đâu. Nếu nói ở trên đó là có người truyền lời dạy của Phật thầy cho bá tánh, thì đây với đó có xa gì, những ngài đó sẽ biết mình đang lận đận, những ngài đó sẽ không nệ công mà đến mình đâu, cần gì mình phải đến! Đừng, anh Tư!
Ông Năm Bầu ngưng lại, nhìn cái vẻ mặt tối tăm và buồn thảm của lão Ịnh một lúc rồi tiếp:
- Anh Tư! Tôi vẫn biết anh là người trong ban trị sự, nhưng anh cho tôi mạn phép mà nói về cái ý nghĩa cao xa của đạo mình một chút. Mình là người tín đồ, mình phải biết cái nguồn gốc của đạo mình. Đạo mình đây chung quy lại cũng là đạo Phật mà thôi. Nhưng tại sao đạo mình không giống như các ông thầy chùa ngậm xôi? Đạo mình là cái đạo hiểu biết cái sâu xa của đức Phật. Hồi năm ba mươi chín, người đi truyền đạo mình vì giả khùng giả dại nên mới gọi là đạo khùng. Cho đến cái năm bốn mươi, sau những ngày “nước non ly loạn” tín đồ các nơi mới quy về cái làng Hòa Hảo mà dựng lên cái đạo của mình. Vì đạo lập lên ở làng Hòa Hảo nên gọi là đạo Phật giáo Hòa Hảo vậy thôi! Thật ra thì nguồn gốc của đạo mình cũng là nguồn gốc của đạo Phật, chứ có gì lạ đâu! Mà đấng thiêng liêng cao cả nhất trong trời đất này là ai? Có phải là đức phật Thích Ca Mô Ni không anh Tư? Mà Phật Thích Ca Mô Ni thì dạy cho bá tánh chúng sanh mình điều gì? Đức Thích Ca Mô Ni dạy cho mình là: “Phải xét đoán điều gì mình đã làm. Hễ thấy sai thì phải từ bỏ, hễ thấy đúng thì cứ như thế mà làm!” Đấy, lời dạy đó mới chính là lời dạy của Phật.
Ông Năm Bầu một tay rút cây chĩa ba lên, một tay vỗ vỗ vào trán mình và nói một lời cuối cùng:
- Con đường đi nó nằm ở trong cái đầu, cái óc của mình, anh Tư à!



(1) Đàn cò: đàn nhị.
 


 
Đăng nhập để trả lời
0

VII

 
Sau khi tìm cách đuổi Hằng ra khỏi nhà, Hiếu đi lại nhà ông Năm Bầu. Anh thấy tội nghiệp cho Hằng. Nhưng biết làm thế nào được! “Con quỷ cái!” Anh lại rủa thầm. Mới đây mà nó đã quên anh Phát rồi! Hiếu đi qua sân đình.
Những người dượt võ đã ra về.
Ngôi đình trở nên vắng lạnh. Gió từ dòng sông thổi qua hàng dương, kéo lên một âm điệu trầm trầm, dai dẳng. Gió bứt những lá dương rơi rải xuống mặt đường.
Hiếu đi qua một đoạn đường vắng dài hơn năm trăm thước. Hai bên đường chỉ còn những cái nền tro xám, kèo cột bị cháy sém, vất vưởng, chơ vơ. Trước đây là xóm mộc, một cái xóm đóng bàn tủ nổi tiếng, chỗ cưa, chỗ bào, chỗ đóng, chỗ sơn, lúc nào cũng nhộn nhịp thầy thợ và khách hàng. Xóm mộc, họ cất những ngôi nhà rất đẹp, nhà họ sàn cao và vách ván, cửa màu xanh, vừa xinh vừa mát mắt. Hầu hết, họ là những người ngoại đạo. Chính vì thế, mà nhà của họ bị đốt. Mỗi lần đi ngang qua xóm, Hiếu đều thấy nhớ cái mùi gỗ mùi xăng, nhớ những bác thợ già, những người thợ đã cho anh nào củi vụn, dăm bào và hay nói với anh về lý lẽ ở đời. Những người thợ mộc ấy, rất yêu quý bác Sáu Sỏi. Nếu họ biết cha anh là người giết Sáu Sỏi, họ sẽ nghĩ về anh thế nào?
Hiếu nghĩ miên man, càng nghĩ, anh càng thấy mình mỗi lúc mỗi bị mất thêm những người thân, càng đơn độc. Khi Phát được lệnh chuyển về làm chính trị viên cho một đơn vị Vệ quốc đoàn, anh muốn bỏ làng đi theo Phát. Nhưng Phát đã bảo anh ở lại, giúp đỡ và giác ngộ bà con tín đồ, anh đã nghe Phát. Nhưng những ngày nay, anh đã thấy mình bất lực.
- Lần này thì tôi đi theo anh thôi, anh Phát ạ!
Hiếu nói thầm rồi rẽ vào con đường mòn xuyên qua vườn chuối um tùm.
Nhà của ông Năm Bầu nằm gọn trong vườn chuối, cạnh bên con kinh nhỏ chạy qua cánh đồng. Từ ngày mất đất, nhà của ông mỗi ngày mỗi thu nhỏ lại, lụp xụp, tùm hum như cái tum đâm cá. Nhà chỉ đủ chỗ để một bộ phản - vừa là chỗ ngủ cho hai người đàn ông, vừa là chỗ ăn, vừa là chỗ tiếp khách - cái buồng nhỏ cho đứa con gái và chỗ để bàn thờ ông bà ông vải.
Hiếu đi lại nhà ông Năm Bầu như người nhà. Nhưng hôm nay, vừa nghe tiếng chày giã gạo của Lành thì anh thấy hồi hộp như đã đi đâu từ lâu lắm. Có nên nói thật với Lành không? Anh đắn đo và lòng se thắt lại. Anh ngập ngừng, đi chầm chậm. Tiếng lá rụng xạc xào.
Lành đang giã gạo ở giữa sân dưới bóng cây vú sữa và cây trứng cá. Lành độ hai mươi mốt tuổi. Lành không có một vẻ đẹp gì đặc sắc, nhưng dễ thương. Gương mặt của Lành hơi tròn đầy đặn và cặp chân mày thưa với một vẻ đôn hậu, đôi mắt hơi to mà âm thần và phảng phất một tâm hồn dịu dàng. Lành có một vẻ đẹp giản dị và khỏe mạnh. Lành mặc bộ quần áo đen bạc màu, áo có những đốm vá ở vai và cùi chỏ. Nghe tiếng động, Lành gác chày lên cối, kéo khăn lau mồ hôi, nghiêng tai nghe ngóng.
- Anh Hiếu! Anh mà em tưởng là ai? - Giọng của Lành nhỏ nhẹ, dễ thương.
- Có ai ở nhà không em?
- Ba đi tìm ba anh từ nãy giờ rồi. Anh không gặp à?
- Còn anh Chiến?
- Anh Chiến ảnh đi đâu, em làm gì mà biết được.
Mỗi lần nhắc đến tên Chiến thì giọng của Lành đượm một nỗi buồn trách.
Hiếu bước đến cối gạo, đưa tay nắm lấy một nắm, nhìn, rồi để gạo rơi lọt xuống kẽ tay.
- Anh đi đâu mà mồ hôi đầm đìa vậy?
Lành kéo chiếc khăn bàn trắng đang đội trên đầu, đưa cho Hiếu. Hiếu cầm lấy, lau mặt. Lành đứng dáng nghiêng nghiêng, nhìn Hiếu, miệng tủm tỉm cười. Đôi mắt âm thầm của Lành phảng phất một nỗi buồn. Mấy ngày hôm nay, Lành thấy Hiếu thay đổi nhiều. Mặt Hiếu hốc hác, mắt thâm quầng. Đôi mắt của Hiếu lúc nào cũng u uất và giận dữ. Người Hiếu lúc nào cũng băn khoăn và bối rối. Hiếu đi đâu, Lành cũng lo sợ. Lúc nào, Lành cũng mong Hiếu trở về. Lành muốn hỏi Hiếu một câu, nhưng nghĩ mình là phận gái, nên lại thôi. Chỉ nhìn qua anh ấy cũng đủ hiểu rồi, cần gì phải hỏi. Anh ấy và cha mình muốn giải thoát cho bác Sáu Sỏi. Rồi, việc gì sẽ xảy ra? Lành nhìn khắp người Hiếu với vẻ âu yếm và tò mò. Hiếu lấy khăn lau mặt. Chiếc khăn ủ lấy mùi mồ hôi, mùi tóc quen thuộc của Lành, gây cho anh một cảm giác ngây ngây, anh hít một hơi dài và muốn áp mãi chiếc khăn vào mặt mình. Những ý nghĩ đã bốc lửa trong người anh như nguôi dần. Thế là anh như quên tất cả những lời định nói. Anh không còn đủ can đảm nhìn thấy vẻ đau khổ của Lành, anh không muốn cho Lành phải nghe những việc sẽ xảy ra: anh sẽ bỏ làng ra đi, anh sẽ lao vào cái chết. Anh muốn sống một cuộc sống bình thường. Anh muốn quên đi tất cả những điều đang xảy ra: chém giết, máu đổ, lửa cháy và tiếng kêu khóc. Anh muốn gần gũi bên người yêu, cùng nhau lo làm ăn, anh muốn được vuốt ve, muốn được nhìn một cách âu yếm, muốn nghe những tiếng nói dịu dàng.
Nghe hơi thở của Hiếu trong chiếc khăn, Lành có cảm giác như Hiếu đang hôn mình. Lành đỏ mặt, thẹn, quay mặt đi.
- Làm gì mà lau mãi vậy? Trả khăn lại cho em đi anh - Giọng của Lành nũng nịu, dễ yêu.
Hiếu trao khăn lại cho Lành, anh cũng thấy thẹn, anh cười:
- Em đi lấy chày cho anh giã với!
- Thôi, anh nghỉ đi. Ừ! Anh với em giã chày đôi nhé!
Được cùng làm với nhau, Lành vui lên như một đứa trẻ. Lành ném chiếc khăn lên vai Hiếu.
- Cho anh đấy! Em không thèm đâu! - Lành ù chạy vào nhà, suýt va đầu vào góc bàn thờ.
Lành mang ra thêm hai cái chày, một cái to, một cái nhỏ để cạnh bên cối:
- Đó! Anh muốn giã chày nào? - Lành ngẩng nhìn Hiếu, mắt lấp lánh một niềm vui. Đã lâu lắm rồi, Lành mới được trở lại một cuộc sống bình thường cùng nhau giã gạo chày đôi. Lâu nay, làm gì, Lành cũng thui thủi một mình như con cuốc.
Hiếu chọn lấy cái chày to nhất, lâu ngày không ai giã đến chày ấy, nó đã lên mốc ở hai đầu.
Lành nhón chân, với tay, bẻ lấy một cành lá vú sữa, rồi hai người, cùng lau lại đầu chày, mỗi người lau lấy một đầu.
Cối gạo ở giữa, hai người đứng hai bên, đối mặt nhau, chân trái đứng trước, chân phải đứng sau, tay trái nắm gần đuôi cán, tay phải đưa thẳng nắm ở gần đầu chày. Lành cất chày lên khỏi đầu:
- Em xuống trước, đừng có giã vào đầu em đấy nhé! - Lành liếc nhìn Hiếu với đôi mắt tinh nghịch.
Hiếu vừa gõ nhịp “cum”, rút chày ra khỏi thì đầu chày của Lành nện xuống “phụp”. Đầu chày của Lành lách sang bên, gõ nhịp, vừa rút ra thì đầu chày của Hiếu nện xuống “phụp”. Đầu chày của hai người cái lên, cái xuống thật đều tay.
... Phụp, cùm, phụp, cum, phụp, cùm, phụp, cum...
Tiếng giã, tiếng nhịp, đều đều vang đi trong nắng xế, dội xuống lòng kinh và vang xa. Đàn gà nằm rúc dưới bóng cây, nghe tiếng giã gạo, kéo nhau chạy túa ra, rối rít quanh cối gạo, giành nhau những hạt gạo rơi. Một bầy gà to nhỏ có hơn ba mươi con. Một bầy gà con, lông tơ màu trắng vàng phơn phớt. Một bầy gà giò, năm ba con gà trống mái. Đám gà giò đứng xa, giương cổ, đầu nghiêng nghiêng, mắt lấp lánh, nhìn đầu này đầu nọ, hễ có một hạt bắn ra, là năm ba con chạy đến, giành nhau, mổ vào đầu vào lưng nhau, mổ chộp lấy hạt gạo rơi, rồi chạy bắn ra ngoài. Còn đám gà con, như những đứa trẻ tinh nghịch không biết sợ đòn, chúng chạy rốỉ lên, chạy thẳng đến cái nia để quanh cối, mổ lia mổ lịa, khi nghe một tiếng suỵt thì túa chạy ra, thập thò một lúc, rồi lại chạy vào, mổ lia mổ lịa trên cái nia.
Con gà mái bông xám, hễ mỗi lần giành được một hạt gạo là túc lên, vừa túc vừa mổ lia mổ lịa chung quanh miếng mồi. Con gà trống được mồi, cũng túc. Khi gà mái chạy đến, mổ lấy mồi thì nó dè một bên cánh, nghiêng mình, chạy rè rè theo con mái.
Thấy cái cảnh rối rít của đàn gà, được sống lại một cuộc sống bình thường, Hiếu thấy vui vui. Vui tay, anh giã chệch qua một bên cho một ít gạo bắn xa ra cho đàn gà.
- Kìa! Văng gạo hết anh! Anh mệt rồi à?
Hiếu cười. Đã lâu lắm rồi, chẳng biết từ lúc nào, hình như hơn một hai tháng nay, Lành không thấy được cái nụ cười ấy của Hiếu. Chẳng biết, có lúc nào anh ấy vui không, Lành chẳng hiểu. Mỗi lần thấy anh đến nhà, Lành đều thấy vẻ mặt của anh khi thì héo hắt, khi thì thờ thẫn. Anh ngồi bên bộ phản được một lúc, như muốn nói gì, khi nghe tiếng chân của Chiến thì vội vã ra về. Cái bóng ảm đạm trên vẻ mặt của anh như tan đi trong nụ cười của anh. Đôi mắt của anh trở nên trong trẻo, lấp lánh, tỏa sáng cả gương mặt của anh. Lành thấy vui lây, Lành nghĩ mọi việc của Hiếu chắc là đã được yên ổn. Lành thấy yên tâm hơn, Lành càng giã mạnh và đều tay.
- Nghỉ một chút đi anh.
Họ ngừng chày, Lành vốc lên một nắm gạo, thổi. Cám bay lờ mờ trước mặt Lành.
- Trắng rồi anh ạ!
- Nhà có còn gạo không em?
- Còn chừng hai cối.
- Đem ra giã hết đi em!
- Giã nữa, anh nhé!
Hiếu giúp Lành nghiêng cối, đùa gạo vào thúng. Xong, họ bắt đầu giã thêm cối thứ hai.
... Phụp, cùm, phụp, cum, phụp, cùm, phụp, cum... Tiếng giã, tiếng nhịp, lại đều đều vang đi, dội xuống lòng kinh và vang xa.
Những con chim đứng rúc cổ trong các chòm cây, nghe tiếng động, cũng bay đi, xập xòe trên tàng cây trứng cá, như ganh với đàn gà quanh cối gạo, nó kêu chiu chít.
 
*
*      *
 
Ông Năm Bầu từ vườn xoài nhà Quản Dõng trở về, cây chĩa ba gác lên vai, tiếng lá xào xạc dưới bước chân. Trước mắt ông cứ hiện lên những hình ảnh của Sáu Sỏi. Sáu Sỏi đang xách bộ đồ hớt tóc, lê la qua các xóm nhà. Sáu Sỏi vừa cắt tóc vừa nói chuyện “quốc sự”. Trong những cuộc họp kín, Sáu Sỏi đầu bịt khăn khất, ngồi giữa, nói với mọi người với một giọng sôi nổi và chân thành. Sáu Sỏi, hai tay bị trói ngoặc ra sau, ngực bầm tím, áo tả tơi, đi giữa hai hàng súng cắm lưỡi lê của bọn lính khố đỏ. Sáu Sỏi trở về, đầu đội bê rê, tóc lún phún và đã ngả màu muối tiêu. Rồi cái chết của Sáu Sỏi lại hiện lên: tay bị trói vào cây, đầu rơi xuống, còn dính lại một ít da, nhùng nhằng một bên người, máu từ cổ phọt lên... Ông nhớ đến cái chết của người khác mà nghĩ đến cái chết của Sáu Sỏi. Ông khẽ rùng mình. Tội nghiệp thằng Phát, thằng nhỏ mồ côi! Chỉ còn có hai cha con. Ông thấy mình bất lực, tự giận lấy mình và bực bội trong người. Những lúc như thế này, ông lại thấy thèm rượu. Uống! Ông muốn uống cho say mèm, để có cớ mà không đi ra pháp trường nhìn cái chết của Sáu Sỏi. Thật là ngao ngán!
Ông đến cái đường mương to nước đã lên đầy - hết cái ranh giới vườn xoài nhà Quản Dõng - phía bên kia là vườn chuối của nhà ông. Ông phóng cây chĩa phập sâu vào bờ mương bên kia, rồi nhảy qua.
Mặt trời đã ngả xế rồi. Ánh nắng xiên qua vườn chuối từng vệt dài.
Ông ngồi xuống bờ ruộng, lướt mắt nhìn dòng nước tìm cá. Ông định quay về. Bỗng chợt, ông nghe tiếng chày giã gạo ở phía nhà vang lại. Tiếng giã chày đôi.
Phụp, cùm, phụp, cum, phụp, cùm, phụp, cum... Tiếng chày nghe thật bình tĩnh và đều tay. Ông biết là tiếng chày của “hai đứa”.
Như một người đang lao mình trong cuộc chiến đấu dữ dội, chung quanh là cảnh chết chóc, tiếng đạn réo qua tai, mùi thuốc súng khét, mịt mù, cái chết đang sầm sập tràn đến như một bóng đen, đầu óc căng thẳng; trong một khoảnh khắc im lặng của chiến trường, người lính bỗng chợt nghe tiếng gà gáy ở phía xa.
Tiếng giã gạo chày đôi như gợi lại cho ông một cuộc sống thanh bình - ông không muốn quay về, sợ mất đi tiếng chày giã gạo.
Tiếng chày giã gạo vang đi, như phá vỡ từng mảng cái không khí chết lặng đang đè nặng xuống xóm làng. Đã lâu lắm rồi, người ta bỏ tất cả công ăn việc làm, như quên cả việc giã gạo, rủ nhau giã vần công, họ mải lao vào cuộc chém giết như những con thiêu thân lao vào lửa. Tiếng chày đôi giã gạo vang đi, như gọi những người đang lao vào cuộc chém giết vô lý hãy trở về với cuộc sống thanh bình.
Ông Năm Bầu ngả lưng vào bụi chuối, mắt lim dim.
Phụp, cùm, phụp, cum... tiếng chày nghe bình tĩnh và đều đều. Tiếng chày giã gạo gợi cho ông nhớ lại cuộc sống bình thường của mọi người. Những đêm trăng. Trên những sân nhà rộng, trai gái rủ nhau giã gạo chày đôi, giã gạo chày ba, giã gạo chày tư.
Ở đầu xóm gần chợ, có một cái nhà máy xát gạo nằm cạnh bờ sông. Đêm nào, đèn cũng sáng rực như một chòm sao. Máy chạy rì rầm suốt đêm. Dưới bến, xuồng ghe tấp nập. Thỉnh thoảng, chợt lên một hồi còi đổi ca. Nhà máy xát gạo nằm ngay đầu xóm, nhưng dân xóm ở đây vẫn giã gạo bằng tay. Cái cảnh giã gạo đêm đã thành là một cuộc họp, một cuộc vui của trai gái trong làng. Những cô thợ dệt nước da trắng mịn, tóc xõa dài, tay dịu dàng, những cô gái có dáng điệu tha thướt ấy, hễ nghe tiếng chày là rời ngay khỏi khung cửi, rủ nhau, tìm nhau, chia nhau, ngồi quanh một cối gạo trước sân nhà. Những anh thợ mộc trẻ, những chàng trai con ông con chú, cũng rủ nhau đi giã gạo chày ba.
Trong xóm, không có chỗ chơi, không có phòng họp, không có rạp hát, không có sàn múa, trai gái họ tìm nhau quanh cối gạo. Họ bắt cặp và giã thi với nhau. Và từ đấy, nảy nở ra những cuộc tình duyên. Ngày xưa, lúc còn trẻ, đêm đêm, hễ nghe tiếng chày giã gạo là lòng ông rộn lên. Ông bỏ tất cả việc nhà, chạy đi tất cả các cối gạo trong xóm, để tìm một cô gái. Cô gái ấy, tính thật trớ trêu. Chẳng bao giờ cô ấy giã gạo trong một cái cối nhất định ở sân nhà nào. Mỗi đêm, cô mang gạo đến mỗi cối khác, ở mỗi sân nhà khác nhau. Nhưng tính ông cũng chẳng vừa. Hễ nghe tiếng chày của cô ấy thì ông biết rồi, chẳng bao giờ nhầm lẫn. Tiếng chày của cô ấy nghe rất khác thường, rất lạ và rất hay. Hình như cô gái ấy cũng muốn giã một cách khác thường để gọi đến tên ông. Cô nhịp một lần ba tiếng: cụp, cắc, cụp... rồi mới nện xuống “phùm”. Cho đến khi thành vợ thành chồng, hai người vẫn còn thích giã gạo chày đôi...
Giờ đây, nghe tiếng giã gạo chày đôi, ông lại nghĩ đến cuộc tình duyên của hai đứa. Thật ra thì Hiếu và Lành không phải yêu nhau vì “cái cối gạo”. Họ yêu nhau với một hoàn cảnh khác. Lúc lão Ịnh bỏ làng ra đi, Hiếu về ở với nhà ông. Năm ấy, Hiếu mười bảy tuổi, Lành mười lăm tuổi. Ba năm sau, hai đứa chớm yêu nhau trong một mùa nước lũ.
Ở đây, những làng nằm dọc theo bờ sông Cửu Long, người ta có câu: “Tháng bảy nước nhảy lên bờ”. Mỗi năm, sau những ngày mưa ròng rã, mưa sướt mướt, dòng sông Cửu Long mỗi lúc mỗi dâng lên. Nước từ nguồn đổ xuống, mang theo chất phù sa, ngầu đục, mang theo củi riều, cuồn cuộn chảy qua làng. Khi tháng bảy đến thì nước dàng lên tràn về. Nước không dâng lên một cách bất ngờ, hay hung hãn dữ dội như bão lụt, mà dâng lên một cách hiền từ, năm nào cũng vậy, đã thành như một thói quen của dòng sông. Nước tràn lên bờ, tràn qua những con đường xe, chảy qua các sàn nhà, tràn ngập cả cánh đồng. Tất cả các con đường làng đều biến thành kinh rạch. Ô tô, xe ngựa ngưng chạy. Người ta đi lại bằng xuồng. Nhà cửa trong xóm, những ngôi nhà to nhỏ cao thấp ẩn hiện trong vườn cây xanh, trông như những ngôi nhà xây trên bè và lúc nào cũng như đang bập bềnh trên mặt nước. Những giống lúa chịu nước như nàng tây, nàng rừng, nha sáp, thâm đưng, bông bói... những giống lúa không đòi hỏi con người phải nhọc nhằn nhiều về việc cấy dày, cấy thưa, mà chỉ cần gieo xuống đó, rồi những ngày nước lũ này, lúa sẽ cao lên cùng với mặt nước. Nước mang phù sa về bồi đắp cho đồng ruộng, bờ bãi và tắm mát cho lúa. Và nước mang cá về. Cá he, cá chày, cá lòng tong, cá sặc, cá lóc... hàng đàn, hàng bầy, kéo nhau về đồng. Mùa nước, dân cư ở đây xoay qua mùa cá, đặt nò, đặt lọp, kéo xịp... (đất nhà ai nấy làm. Đất thuộc của ai thì phải đóng thuế). Cá ăn không hết, người ta đem muối làm khô làm mắm dành cho mùa khô. Những người có ăn thì lấy việc đi câu làm thú vui. Họ ngồi trên sàn nhà, buông câu xuống sân nhà, họ chòng những chiếc xuồng con cặp vào các bóng cây.
Ông Năm Bầu thì đặt lọp và xây tum đâm cá bông.
Mỗi năm, Chiến và Lành, hai anh em thường đi đổ lọp. Năm ấy có Hiếu, nhà có thêm người, ông che thêm một cái tum cho Chiến, còn việc đổ lọp thì để cho “hai đứa nhỏ”. Một đêm, thấy trời sắp đổ mưa, ông gọi Hiếu và Lành, bảo hai đứa ra đồng đổ lọp. Năm ấy, hai đứa đã thấy thích khi được đi làm chung với nhau. Hai đứa cùng vâng lời một cách sốt sắng.
Hai đứa xô xuồng ra đi. Hiếu đứng sau lái, chống xuồng bằng cây sào. Lành ngồi trước mũi, cầm dầm vừa bơi vừa rà đường. Một đám mây che mất tất cả các vì sao. Nước ngập đầy đồng, mênh mông như biển cả. Xuồng lướt rào rào qua ngọn lúa. Gió thổi rạp đầu ngọn lúa, lào xào lào xào như tiếng tằm ăn dâu trong một cái nia khổng lồ.
Xuồng ra xa. Gió mỗi lúc mỗi to. Gió thổi đám mây dạt về một chân trời, để hé ra một vài vì sao. Gió lại đưa một đám mây khác kéo đến. Mặt nước bắt đầu gợn sóng, đánh róc rách vào mạn xuồng. Lúa lào xào mỗi lúc mỗi to, nghe như một cơn dông ở từ xa.
Mây khói đèn mỗi lúc mỗi đùn đến, đen đặc.
- Trời sắp mưa rồi! Em quên mang theo áo lá! Anh có thấy lạnh không, anh Hiếu? Lấy khăn em đây mà quấn cổ. - Giọng của Lành đượm vẻ lo lắng.
Lành quay lại, tháo chiếc khăn bàn lông, đưa cho Hiếu.
- Anh không lạnh đâu. Cây vông đồng kia, sắp đến nơi rồi. Thế nào về cũng kịp. Đêm nay, cá chắc là đầy khoang! - Hiếu ho một tiếng.
- Đêm nay, anh làm gì mà ho dữ vậy. Khăn đây nè!
- Em quấn cổ đi, anh không lạnh đâu!
- Không lạnh mà cứ ho suốt cả đêm - Giọng của Lành đượm vẻ trách móc - Sao không gài nút cổ lại!
Hiếu thấy hơi lạnh, anh đưa tay gài lấy nút cổ.
Gió đã thổi mạnh. Gió thổi xuồng dạt ngang. Lành phải lấy dầm chống qua bên trái tiếp Hiếu, giữ cho xuồng đi thẳng. Ngọn lúa ngã rạp. Mặt nước gợn lên những đợt sóng dài. Gió mỗi lúc mỗi to. Gió nổi ù ù. Mây trời vần vũ.
- Dông rồi! - Lành kêu lên. Mũi xuồng bị gió thổi dạt đi. Lành ngồi nghiêng qua một bên, đem hết sức, chống dầm, đẩy mũi xuồng trở lại.
- Sắp đến nơi rồi! - Hiếu kêu to.
Hiếu vừa khom người, chống sào, vừa giương to mắt tìm đám ruộng của mình - Hàng trâm bầu lờ mờ kia!
- Đến nơi rồi!
- Hả?
Gió cuốn cả tiếng nói của Hiếu bay đi, Lành không nghe.
- Ruộng mình đây này! - Hiếu nói thét lên.
Lành cho dầm lại trước mũi, chống dầm lại trước mũi, giữ xuồng lại, đưa tay sờ lúa, biết là cộng lúa nàng tây của ruộng mình.
Gió mỗi lúc mỗi to, chạy rào rào qua hàng trâm bầu, ào ào trên tàng vông. Gió cuốn những chiếc lá khô rãi vào khoang xuồng, đánh lên .những tiếng “lạch khạch”.
- Em giữ xuồng nhé! - Hiếu vừa bảo vừa cởi áo, cởi quần dài bước xuống nước. Nước ngập đến thắt lưng anh. Lành ngồi trên xuồng. Hiếu nắm mũi xuồng, kéo xuồng đi tìm lọp.
Anh giở lên một chiếc lọp đầu tiên. Chiếc lọp đầy cá. Hai cái bóng đen lờ mờ, họ chỉ nhìn rõ ánh mắt của nhau. Lành giúp Hiếu một tay đưa lọp lên xuồng. Lành giở miệng lọp, trút cá vào khoang. Cá sặc chạy rộ trong khoang xuồng. Hiếu kéo xuồng tìm cái thứ hai, thứ ba, thứ tư..., khoang xuồng đã đầy cá.
- Về đi anh! Lên xuồng đi, mặc áo vào, trời sắp mưa rồi.
Trời bắt đầu đổ mưa.
Xuồng về, vừa ra khỏi mảnh ruộng nhà thì gặp một con trốt. Con trốt xoáy theo một cột nước, quây tròn trên mặt lúa, từ xa xoáy đến, ù ù.
- Ông trốt! Ông trốt, anh Hiếu ơi! - Lành sợ quá, thét lên.
- Mạnh tay lên em! - Hiếu lấy hết sức chống sào, cố đưa chiếc xuồng ra khỏi đường đi của cơn lốc. Nhưng không kịp, con trốt đã xoáy tới.
Con trốt xoáy chiếc xuồng quay tròn trên mặt nước.
- Anh ơi! - Lành kêu lên.
Lành bị sút tay dầm, ngã xuống nước. Hiếu đứng loạng choạng, thấy đứng không yên, anh nhảy nhanh xuống giữ lấy xuồng.
- Lành ơi!
- Em đây!
- Có sao không em?
- Em ướt hết rồi!
Con trốt đã xoáy đi, họ nhìn nhau thấy vui vui.
Nước đã tràn vào, xâm xấp trong khoang xuồng. Ván đậy khoang nổi lềnh bềnh. Cá chạy trong khoang, tìm đường và nhảy vọt ra.
- May quá! Xuồng chưa chìm!
- Đỡ lấy xuồng đi em!
Hai người hai đầu, lấy tay đỡ lấy xuồng.
- Làm sao bây giờ, anh? Trời sắp đổ mưa nữa rồi!
- Cho xuồng vào gò, tát cho khô hẳn rồi về.
- Vào gò nào bây giờ anh?
- Đem lại cây vông.
- Trời tối quá! - Giọng của Lành bỗng lịm xuống.
Họ vừa đưa xuồng đến gò dưới gốc cây vông thì trời đổ mưa. Họ đẩy xuồng lên gò, tát đi một ít nước rồi ngồi dựa vào gốc vông trú mưa. Hai người ngồi gần bên nhau. Mưa như trút nước. Nền trời mây khói đen dày đặc. Cánh đồng như một cái biển sẫm sì. Giọt mưa rơi xuống mặt nước, bắn lên những tia nước mùa mù. Tiếng sấm nổ rền rền.
Gió ào ào trong vườn cây, gió uốn quằn tàng vông trên đầu Lành. Lành không thấy, nhưng Lành nghe tiếng lá bị cuốn, tơi tả bay đi. Gió cuốn mưa quất rát mặt Lành. Lành không nhìn thấy mặt nước mênh mông của cánh đồng, nhưng Lành nghe cánh đồng đang nổi sóng, tiếng sóng đập tràn lên gò. Có những năm nước lớn, nước ngập cả cái gò cây vông sau một vài cơn mưa. Nghe tiếng sóng, Lành như thấy mặt nước mỗi lúc mỗi dâng cao, đang tràn lên gò. Lành thấy lạnh. Một cơn gió bỗng rít qua. Lành rùng mình. Lành như vô ý nép lưng vào ngực Hiếu, run run:
- Anh ơi! Em sợ quá!
- Đừng sợ! Có anh!
Lành nghe bàn tay ấm áp của Hiếu đặt lên vai mình. Tự dưng Lành như giật mình, hốt hoảng. Nhưng Lành thấy sợ đêm tối hơn. Lành sợ tiếng sấm, Lành sợ những ánh chớp lằng nhằng trên nền trời, Lành sợ những đợt sóng hung dữ của cánh đồng. Lành sợ tiếng gió, Lành không muốn rời khỏi người Hiếu.
- Anh ơi! Em sợ lắm!
- Đừng sợ, có anh!
Lại một cơn gió rít qua, Lành ép lưng sát vào ngực Hiếu. Hiếu kéo Lành sát vào người. Lành đã nằm vào lòng Hiếu. Một luồng mưa to ào đến; Hiếu khom người áp lên ngực Lành, như muốn che mưa che gió cho Lành. Lành thấy mình như bị lả đi. Lành nằm im, nhắm nghiền mắt. Lành không thấy mưa, không thấy ánh chớp chạy lằng nhằng, không nghe tiếng sóng, cũng không tiếng gió... Lành không biết sợ cái gì nữa. Lành như đang sống trong một thế giới khác...
Sau đó ít lâu, lão Ịnh từ làng Hòa Hảo trở về. Hiếu phải theo lệnh cha, đi lên làng Hòa Hảo học võ.
Khi Hiếu trở về, lão Ịnh đã tự mình đến nhà ông Năm Bầu hỏi Lành cho Hiếu. Ông Năm Bầu không thể hiểu được rõ ràng những chuyện đó, nhưng ông biết là “hai đứa” nó yêu nhau. Năm nay, Lành đã hai mươi mốt, Hiếu đã hai mươi ba. Tội nghiệp hai đứa! Ông Năm Bầu nghĩ thầm. Đáng lý ra thì năm nay, ông cho hai đứa nó làm đám cưới. Mỗi năm, mùa mưa đến là mùa đi ăn đám nói. Người ta dạm hỏi cho con cái của nhau. Rồi mỗi năm khi đến mùa nước xuống, khi có gió bấc thổi về thì đến mùa cưới. Năm nay, trong làng, ông không nghe ai bàn đến việc cưới hỏi bao giờ. Con người, như không cần phải yêu nhau nữa.
Ông thấy ngao ngán và thở một hơi dài.
Tàu lá quật quờ như phẩy gió cho ông.
Phụp cùm, phụp cum, phụp cùm, phụp cum... Tiếng chày giã gạo của hai đứa vẫn vang đến, bĩnh tĩnh, đều đặn và nhịp nhàng. Bây giờ, ông lại muốn nghe tiếng giã gạo chày ba, cái tiếng chày giã gạo quen thuộc của nhà ông. Tiếng chày của Lành, tiếng chày của Hiếu, và tiếng chày của Chiến, thằng con lớn của ông. Nghe mất một tiếng chày, ông thấy như nhà ông đã bị mất đi một người. Lâu nay, Chiến không phải là thằng Chiến của ông ngày xưa nữa. Nó đã thành là người của kẻ khác rồi. Mỗi lần nghĩ đến Chiến là nỗi đau khổ lại quặn lên trong người ông. Mẹ nó hiền từ, cha nó như thế này, mà sao nó lại như thế? Mỗi lần nghĩ đến con, ông đều tự hỏi mình như vậy. Năm nay, nó cùng một tuổi với Hiếu. Hồi còn nhỏ, nó là một đứa con ngoan, hiền từ, ít nói, suốt ngày cứ quần quật với công việc làm ăn, biết yêu mẹ và kính cha. Bây giờ thì... Mỗi lần nghĩ đến Chiến là ông thường hay chợt nhớ những hình ảnh của vợ. Vợ ông, lúc còn con gái thì tinh nghịch, làm nghiêng ngả không biết bao nhiêu người con ông cháu cha, đối với ông thì cô ta như một con ngựa chứng - thời ấy, những lúc giận nhau thì ông hay chửi thầm như vậy - nhưng khi về nhà chồng, thì một lòng phụng sự cho chồng.
Cuộc đời của ông nghèo, nhưng ấm áp. Nhưng người đàn bà hiền từ ấy không cùng với ông đi đến trọn đời. Vợ ông bị mắc bệnh lao hạch ở cuối cổ bên trái gần yết hầu. Lúc đầu nó như cái mụn nhọt, nó vỡ ra, mủ cứ chảy ra và mỗi ngày mỗi khuyết sâu vào. Năm ấy, lại nhằm cái năm ông bị cướp đất. Nhà có gì, ông bán hết. Ông đưa vợ đi khắp các thầy thuốc ở làng, thầy thuốc ta, thầy thuốc Tây, thầy thuốc Tàu. Bệnh tình của vợ ông cũng không giảm, bao nhiêu xương xóc đều lòi ra, không nằm giường được, suốt ngày suốt đêm nằm trên võng, trong căn buồng tối. Ông lại đưa đi lên huyện, lên tỉnh. Khốn nỗi cho người đàn bà yêu con, đi vắng nhà mới có mấy ngày là cứ nằng nặc đòi về nhìn mặt con. Chiến và Lành phải bỏ công ăn việc làm, thay phiên nhau đi thăm mẹ, để mẹ được yên lòng. Vợ ông mỗi ngày mỗi xanh xao, người lép xuống như một con khô mực, mắt lờ đờ như mắt cá chết. Hết tiền, hết gạo, ông lại đưa vợ về. Vợ ông, từ lâu đã chịu lây cái tính “ngỗ nghịch” của chồng, chẳng hề biết tin dị đoan như những người đàn bà khác. Nhưng đến cái lúc ấy, vợ ông lại muốn đi cúng chùa, muốn xem bói. Vì thương vợ, ông cũng chiều theo. Lúc ấy, ở làng có một ông thầy bói già, thường mặc quần áo đen và mang kính trắng. Sau này, người ta được biết, người thầy bói ấy là người của đạo Hòa Hảo. Ông Năm Bầu cho mời ông ta về. Sau khi hỏi tên hỏi tuổi của hai vợ chồng ông, ông ta lần chỉ tay lẩm nhẩm “tý, mẹo, thìn, tỵ, mùi...”, rồi ông ta ngẩng lên bảo: “Vợ nhà ông mắc nạn trời”. - Chỉ nghe đến thế, ông Năm Bầu đã thấy nóng đầu. Nhưng vì muốn chiều vợ, ông đành phải ậm à, ậm ừ. Người thầy bói nói một thôi một hồi về đạo lý của nhà Phật. Người thầy bói nói toàn những tiếng khác lạ và nghe thật buồn tai. Nào là “bá tánh, chúng sanh” nào “thiện nam tín nữ”. Ông ta nói về đời sống khổ cực của nhân dân, nào cuộc đời là “trầm luân bể khổ”, nào là “cảnh đọa đày của chúng sanh”. Rồi ông ta khuyên gia đình bệnh nhân phải “biết nghe lời thầy, phải cải tà quy chánh”, phải “quy y theo đạo”... Rồi ông bảo có như thế thì mới “tai qua nạn khỏi”. Ông không tin, nhưng vì thương vợ, thâm tâm ông cũng cầu mong được như thế.
Nhưng tai không qua mà nạn cũng không khỏi. Vợ ông mỗi ngày lại mỗi gầy mòn nhiều hơn, không thể rời khỏi chiếc võng nữa. Trong nhà, như có một người chết chưa chôn. Dạo ấy, trong làng, lại có tiếng đồn: ở làng Hòa Hảo có thầy Tư ở núi Cấm mới về. Thầy đem theo thuốc tiên về cứu chữa cho “chúng sanh bá tánh”. Chiến đã nghe được những lời đồn đại ấy, về nói với mẹ. Vợ ông đòi đi. Ông không tin nhưng ông cũng muốn chiều vợ và nghĩ thầm: “Thôi thì cứ đi chữa cầu may vậy”. Trong nhà đang độ túng bấn, ông không đi được, Lành thì còn nhỏ, lại là con gái, không thể chèo chống được, - vợ ông không thể đi xe được - Chiến phải một mình chèo chống đưa mẹ đi. Chiến đưa mẹ đi với chiếc xuồng con che rèm, mang theo nào gạo củi, nồi niêu.
Ông Năm Bầu xuống bến tiễn vợ con ra đi, trở về nhà ngồi một mình, lấm nhẩm tính nợ nần, ông chợt nhớ đến số tiền cúng cho tên thầy bói.
- Cái thằng này thì phải chơi cho nó một trận mới hả!
Ông bảo Lành gọi ông thầy bói đến, bảo Hiếu đến hàng xóm bắt vê một con chó mực. Ông cho chó mang kính trắng. Ông bắt con chó nằm trên bộ phản và chăng màn che nó.
Người thầy bói mặc đồ đen đeo kính trắng đến, ông mời ngồi, bảo:
- Hôm nay tôi mời ông đến, để nhờ bói cho một người. Tôi thật là có lòng ngưỡng mộ ông. Ông nói đâu thì có đó. Nhà tôi cũng đã sắp tai qua nạn khỏi rồi. Nhờ lời khuyên dạy của ông, nhà tôi nay đã đi về thăm đất Phật.
Người thày bói nhún nhường:
- Tôi chẳng qua là người phàm, mắt tục, làm gì mà biết được cái số mệnh của con người. Chẳng qua là tôi mượn con mắt của thầy mà nhìn “chúng sanh bá tánh”. Nói vậy, té ra là bà nhà ta đây đã về thăm đất Phật. Thật là phúc đức quá! Nếu nhà bà mà tốt phước, biết đâu lại được gặp thầy...
Ông Năm Bầu không muốn cho người thầy bói cà kê dài dòng, ông cắt lời:
- Thôi thì muôn sự là nhờ ông. Nay nhà tôi lại có một người muốn xem bói, vậy nhờ thầy chỉ bảo cho.
- Người ấy là ai đâu vậy?
- Người ấy đang nằm đây. - Ông Năm Bầu liền vén màn. Con chó mực đeo kính trắng chồm dậy, sủa lên. Người thầy bói kêu lên một tiếng hoảng hốt, mặt tái xanh và cắm đầu chạy.
Hiếu đứng trước sân, cười lăn ra. Lành đứng thập thò trong buồng, vừa cười vừa sợ đến run lên.
Ông Năm Bầu xích chó đuổi theo, vừa hả dạ, vừa căm giận, ông cười gằn trong cuống họng.
Chuyện ấy truyền đi khắp làng. Từ đó người ta không thấy người thầy bói ấy đâu nữa. Người thầy bói ấy trở về làng Hòa Hảo. Chuyện ấy xảy ra vào một ngày cuối năm năm 1941. Độ nửa tháng sau, Chiến đưa mẹ trở về. Cái chết của vợ ông đã sắp đến nơi rồi, bà đòi về, vì không muốn chết ở quê người. Mới đi có nửa tháng, trở về, Chiến bỗng trở thành một con người khác. Chiến vừa lầm lì vừa thẫn thờ. Nhất là đôi mắt, đôi mắt đượm một nỗi u sầu và mỗi lần nhìn cha thì mắt lóe lên như giận dữ. Mới có mười bảy tuổi mà Chiến đã có cái vẻ ưu tư trầm lặng của một người già. Chiến cũng bắt đầu nói những tiếng lạ với một giọng chậm rãi và buồn rầu. Vợ ông cũng thế, vợ ông nhìn chồng với cặp mắt trách móc, hờn giận và xót thương. Chiến kể lại câu chuyện lên làng Hòa Hảo cho cả nhà nghe. Cái bến ấy, xuồng ghe của “bá tánh” tấp nập như bến chợ. “Bá tánh chúng sanh ở tứ phương” đều về xin thuốc của thầy. Mẹ Chiến không được gặp thầy mà chỉ gặp được đệ tử của thầy thôi. Người “đệ tử” ấy to lớn, nước da nâu, cằm có bộ râu đỏ hoe hoe, trang phục màu già và đầu có búi tó. Ấy là người “đệ tử” thay mặt thầy để xem bệnh cho tín đồ. “Bá tánh chúng sanh” đông quá, mẹ Chiến phải nằm chờ đến bảy ngày. Người “đệ tử” ấy coi bệnh cho “bá tánh” và mẹ Chiến bằng một nhánh sầu đâu. Người “đệ tử” đưa nhánh lá sầu đâu lên trước mặt mẹ Chiến, quơ qua quơ lại, mắt nhìn lom lom vào mắt người bệnh một lúc rồi khẽ lắc đầu nói với một giọng trầm, kéo dài, nghe thật buồn thảm:
- Bà đây là vợ của ông Nguyễn Văn Bầu ở làng Mỹ Long Hưng có phải không?
- Dạ phải.
- Trước mặt bà có một con quỷ nó ám ảnh. Mắt tôi không nhìn được rõ mặt của bà.
Người “đệ tử” để nhánh sầu đâu lên bàn, móc túi lấy ra một cái hộp màu đỏ như son. Người “đệ tử” mở hộp một cách thận trọng, cầm lên một chiếc cà rá (nhẫn) có đính hạt cườm - hạt kim cương mà Chiến không biết - chói lấp lánh.
- Chiếc cà rá này là bửu bối của thầy để lại cho tôi đây.
Người “đệ tử” đưa chiếc nhẫn gần tận mắt mẹ Chiến, lắc lắc chiếc nhẫn, ánh kim cương chói qua chói lại trên gương mặt xanh xao của mẹ Chiến, người “đệ tử” nói:
- Số kiếp của bà đây là mắc tội thay chồng. Ông của nhà bà chắc là ngỗ ngược lắm!
Người “đệ tử” lại đưa chiếc nhẫn lại gần cái hạch lao trên yết hầu của mẹ Chiến, thở dài lắc đầu:
- Số kiếp của bà không qua khỏi được rồi. Bà hãy sớm tu tâm dưỡng tánh, hồn mới khỏi sa xuống âm phủ. Tôi không thể nào xin được rồi!
Nước mắt của mẹ Chiến chảy ròng ròng xuống đôi má xanh xao.
Chiến bế mẹ đưa xuống xuồng, nước mắt chảy ướt cả áo ngực của mẹ. Chiến nghĩ thương cho số phận của mẹ và đâm ra giận cha. Về đến nhà, nghe Lành kể lại chuyện cha cho chó đuổi người thầy bói, Chiến càng căm giận cha nhiều hơn. Chính vì cái tính ngang bướng của cha, mà mẹ phải chịu tội thay. Chiến nghĩ như thế!
Về đến nhà, mẹ Chiến không còn nói được nữa. Trong cái đêm cuối cùng, nằm trên chiếc võng trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn con trong căn buồng tối, tóc bà xõa ra, bà cho gọi các con đến. Cái chết đã đến rồi. Bà ráng hết sức đưa tay để lên vai chồng. Cái bàn tay đã suốt một cuộc đời vất vả vì chồng con, nay chỉ còn là một mảnh xương gầy. Cái bàn tay xanh gầy ấy như muốn nắn bóp lấy cái bả vai của chồng, nhưng không còn đủ sức nữa. Gương mặt của bà, hai gò má nhô cao, đôi má bầu đã hóp xuống, hố mắt sâu, nước da xanh xao phảng phất một nỗi buồn ảm đạm. Đôi mắt mở to, bà nhìn chồng vừa trìu mến, lưu luyến, thương hại vừa hờn dỗi và thẫn thờ. Những ý nghĩ của cả một cuộc đời muốn nói lại với chồng đều tràn đầy cả đôi mắt bà. Bà thều thào:
- Thôi, mình... ở lại... tu... tâm... còn có hai đứa con... mình... ráng... Hai con đâu...
Đôi mắt của bà trợn lên, bà đưa tay quờ lấy hai con, rồi hắt hơi, nhắm mắt.
Lành ôm lấy mẹ, rồi ngã lăn xuống đất khóc ngất. Khi mẹ nhắm mắt, trong ánh đèn lờ mờ, Chiến như thấy có một cái bóng rời khỏi thân thể của người mẹ. “Cầu cho hồn mẹ được siêu thăng!” Chiến thụp đầu xuống như lạy và oán thầm.
Ông Năm Bầu nhìn cái chết của vợ, lòng ông tan nát rã rồi. Vốn ông là người không mê tín dị đoan, nhưng khi nhớ đến cuộc đời vất vả của vợ, phút chốc ấy, ông bỗng ao ước có hai cuộc sống cho con người: một cuộc sống ở đời và một cuộc sống ở cõi hư vô. Và trong cuộc sống hư vô ấy, vợ ông được sống một cuộc đời thanh thản. Ý nghĩ ấy thoáng qua óc ông lúc ông ôm lấy hai vai của vợ, lắc mạnh và kêu thất thanh.
- Mình ơi! Mình...
Bà vợ ông vẫn nằm im. Nhìn vợ, lòng ông bỗng thêm một nỗi đau đớn vì hối hận. Như một trẻ đứng trước một hình phạt ghê gớm, đã hoảng hốt nhận lấy tất cả tội lỗi, kế cả những tội lỗi mà mình không có. Ông hối hận vì từ trước đến nay mình không biết tin trời Phật.
 
*
*       *
 
Sau đó, nhà ông lúc nào cũng tối om om. Giữa nhà, một bàn thờ, một ngọn đèn dầu leo lét, khói nghi ngút, tỏa lờ mờ. Chiến lại trương lên một cái trang thờ trần điều. Chiến để tóc dài đến tận mang tai. Trước sân nhà, Chiến dựng lên một cái bàn thông thiên. Ông biết là Chiến đã vào đạo Phật giáo Hòa Hảo, ông không hoàn toàn tán thành, nhưng cũng không phản đối. Người làng củng đã lần lượt vào đạo như nó rồi.
Có một hôm, ông thấy Chiến để lên trần điều một tấm ảnh nhỏ. Tấm ảnh của một người không phải là đàn bà, cũng không phải là đàn ông. Ảnh của một người khoảng độ hai mươi hai, hai mươi ba tuổi, gương mặt dài, mày đậm và uốn cong, mắt vừa mênh mông sáng vừa đượm một vẻ buồn, nước da trắng xanh, cổ như có ba ngấn và tóc thì xõa đến vai. Ông lật ngửa lật nghiêng, nhìn đi nhìn lại. Thật là một con người kỳ lạ. Khi Chiến về, ông hỏi:
- Chiến, mày để hình ai trong trang thờ, đàn bà không ra đàn bà, đàn ông không ra đàn ông vậy?
Chiến mở tròn cặp mắt nhìn ông. Ông giật mình và ngạc nhiên. Chưa bao giờ ông thấy Chiến nhìn ông với cặp mắt nảy lửa và dữ dội như vậy, một cái nhìn của kẻ thù chứ không phải là cái nhìn của đứa con nữa.
- Của tôi ông hỏi làm gì, hả? - Chiến hét lên với ông.
Thật lòng là ông không biết cái ảnh ấy là ai, nhưng Chiến thì lại tưởng ông mỉa mai. Lần đầu tiên, ông thấy sợ thằng con. Sau này, ông mới hiểu đó là ảnh Phật thầy, mà người ta cũng thường gọi là thầy Tư, tên là Huỳnh Phú Sổ, người ở làng Hòa Hảo, con của Hương cả Huỳnh Văn Bộ. Đấy là người sáng lập ra đạo Hòa Hảo. Ông có nghe nói đến tên “Thầy”, nhưng có được gặp bao giờ đâu mà biết. Từ đó, Chiến làm điều gì, ông cũng không hỏi. Chiến bỏ tất cả những công ăn việc làm, ngày đi đâu chẳng biết. Đêm đêm, Chiến thường hay nằm đọc kinh...
Những ngày đầu năm năm 1944, lão Ịnh trở về, Hiếu đã nghe lời cha đi học võ. Bên ngoài, thế giới chiến tranh lần thứ hai đã xảy ra. Trong làng, lúc nào cũng xôn xao về thảm họa của chiến tranh. Rồi Nhật vào Đông Dương không biết bao nhiêu là biến đổi. Năm ấy cũng là năm “kinh tế”, “củi quế gạo châu”, mọi thứ đều khan hiếm. Màu sắc tươi đẹp của xóm làng cũng phai mờ đi. Ngoài đường, ngoài chợ, áo trắng, áo hoa của các cô gái không còn thấy nữa. Người ta mặc quần áo màu già, rách rưới và bạc màu. Lác đác có một vài người mặc quần áo bằng bố tời. Những chiếc áo bố tời sùi lông như mang đến một điềm gở cho mọi người.
Sau những ngày khởi nghĩa bị thất bại, sau lần bị mất đất, những ngày chạy vạy nợ nần thuốc thang cho vợ, rồi một cái tang, bao nhiêu cái đau đớn dồn dập đến cho ông! Trong những ngày u sầu ấy, đêm đêm, cái giọng buồn thảm của Chiến cứ vẳng đên tai ông.
Đờn kêu vợ lại xa chồng
Đờn kêu mẹ lại quên bồng con thơ.
Đờn kêu sắp đến bây giờ
Đờn kêu đời tới ráng thờ chữ tu

Đờn kêu như nước bèo trôi
Đờn kêu thế sự đứng ngồi không an
Đờn kêu gió thổi mây tan
Đờn kêu dông bão, nước tràn non cao.

Đờn kêu cá nước chim trời
Đờn kêu bể cạn, cá thời ao khô
Đờn kêu chim ở lồng mô
Đờn kêu trần thế như mồ bỏ hoang.
Trước mắt, ngọn đèn leo lét trên bàn thờ vợ, trong tiếng gió thì thầm ở ngoài hiên, nghe cái giọng sầu thảm của Chiến, ông thấy buồn đến thối cả ruột gan. Không chịu được nỗi buồn, không chịu nổi những bực dọc vì cảnh nghèo, nhiều lúc ông muốn hét lên:
- Mày câm miệng lại đi, Chiến! Không lo làm ăn, cứ lo đờn với đờn, đòn cái ông cố tổ mày!
Nhưng ông không dám. Ông chỉ hầm hừ một mình, rồi bỏ nhà đi cho khuây khỏa. Ông đến nhà ai? Ông tìm đến những người bạn tá điền.
Ông đến nhà ông Năm Ngũ. Vừa bước tới sân nhà, ông đã nghe cái giọng khàn khàn của ông Năm Ngũ đang đọc kinh theo điệu nói thơ Lục Vân Tiên:
Đờn kêu huyết đỏ như son
Đờn kêu nhân vật chỉ còn một hai
Đờn kêu những nỗi đắng cay
Đờn kêu chanh khế ngậm hoài chát chua.
Cũng lại đờn! Ông bỏ đi. Đền nhà lão Ịnh, nhìn qua kẽ cửa, ông thấy lão Ịnh mặc quần áo màu già phủ phục đến gối, đầu để tóc, mái tóc chảy mướt, ngồi chỉnh tề trên bàn và cũng lại “đờn”!
Đờn kêu hối thúc nhơn dân
Đờn kêu khổ não tới gần một bên
Đờn kêu phải gắng chí bền
Đờn kêu nam nữ không êm bớ người
Đờn kêu chớ có dễ ngươi
Đờn kêu thế sự như rơi phiếm đàn... à...
Ông lại quay ra. Đó đây, nhà nào, trước sân cũng có một bàn thông thiên, khói hương đang nghi ngút. Khói hương có mang được lòng người không? Và gió sẽ đưa về đến tận nơi nào? Trên đường im lìm. Nhà nhà cửa đóng then gài. Đâu đâu, cũng vẳng những lời kinh não nùng. Trước mắt ông: cuộc đời như một đám sương mù.
 
*
*      *
 
Những người bạn cũ đã mất hết rồi. Những lúc đơn độc quá, đôi khi ông cũng muốn vào đạo cho có bạn có bè. Không thể thui thủi một mình được, ông đi tìm bạn mới. Ông đến tìm Phát, con của Sáu Sỏi. Phát lớn hơn Chiến mấy tuổi, đáng là tuổi con ông, nhưng ông thấy ở Phát đối với ông có một cái tình của người bạn. Mỗi lần gặp được Phát là ông thấy cuộc sống trở lại bình thường, Phát không như Chiến, Phát không như một số con trai làng. Đầu Phát không có búi tóc, tóc Phát vẫn hớt ngắn, nhất là đôi mắt của Phát, đôi mắt không đượm một cái gì u uất và thấy sợ, đôi mắt của Phát vẫn trong sáng, thân thích và dễ gần. Phát không nói những lời lẽ của một thế giới khác, giọng của Phát cũng không đượm buồn và trong cái dáng vẻ của Phát có một cái gì của Sáu Sỏi. Phát nói với ông về những chuyện làm ăn bình thường. Phát vừa làm ruộng, vừa học nghề mộc, Phát nói lại những câu chuyện của Sáu Sỏi mà trước đây ông đã từng nghe. Phát nói về những chuyện xảy ra ở bên ngoài, chuyện của những người yêu nước chân chính. Có đêm, ông cùng ngủ với Phát. Một ít lâu sau, Hiếu lại trở về. Hiếu đã vào đạo, đi dạy võ cho tín đồ. Nhưng Hiếu không giống như những người tín đồ trong làng. Hiếu không như Chiến, Hiếu vẫn làm bạn với Phát và Hiếu vẫn là thằng Hiếu của ông ngày xưa. Thế là ông bỏ hẳn cái ý nghĩ vào đạo.
Nhưng rồi, một đêm đầu năm 1945, ông nghe Chiến hỏi:
- Ngày mai, cha có đi không?
- Đi đâu?
- Đi phá nhà việc, đi đốt hình Pêtanh chớ đi đâu!
Ông ngẩn người nhìn thằng con một lúc. Sau đó, Chiến giải thích, đạo Hòa Hảo sẽ dựa vào lực lượng Nhật Bổn là “giống da vàng máu đỏ” để đánh Tây cứu nước. À! Hóa ra nó cũng là người yêu nước! Thế mà mình không biết! Ông thấy hối hận với cái tình nhạt nhẽo của ông đối với con. Ông nhìn Chiến với cặp mắt khác, yêu thương và kính trọng. Thế là đêm đó, ông không đến tìm Phát nữa. Ông ở nhà với con và nghe Chiến nói chuyện. Lần đầu ông nghe con nói về lý lẽ ở đời. Những chuyện viển vông về cuộc sống ở cõi hư vô, ông để ngoài tai, khi nào Chiến nói đến chuyện đánh Tây cứu nước thì ông lắng nghe và xen vào những lời bàn. Dù sao, ông thấy con mình cũng là một người yêu nước.
Khuya hôm ấy, ông cùng ra đi với con. Đến gốc cây vông đồng, là nơi tập trung ông gặp lại hầu hết những người bạn tá điền cũ, ông gặp cả Hai Đôn và Sáu Phẩm nữa hai người cộng sản cũ. Người ta nhìn ông với cặp mắt thân thiện, người ta tỏ ra kính trọng Chiến, phút chốc ông thấy kiêu hãnh vì thằng con.
Buổi sáng hôm ấy, ở giữa sân chợ, lão Ịnh và Chiến đã leo thang lên nóc nhà dài, giật tấm ảnh Pêtanh ném xuống đất. Bà con tín đồ ở dưới thì trương cờ Nhật, cờ Đạo đi biểu tình thị uy. Bọn lính làng chạy hoảng đi hết. Những người ở chợ thì hoan hô và nhìn bà con tín đồ với cặp mắt khâm phục và lạ lùng. Chưa bao giờ ông thấy hả hê đến như vậy. Và ngay hôm đó, vô tình, ông ngang nhiên trở thành một tín đồ.
Về đến xóm, gặp ai ông cũng khoe:
- Hình thằng Pêtanh bị liệng xuống đất rồi. Thằng Chiến nhà tôi với anh Tư lên nóc nhà dài, kéo nó xuống.
- Hình thằng Pêtanh bị liệng xuống đất rồi!...
Gặp ai ông cũng vồn vã, khoe đi nói lại cái tin vui ấy có gần trăm lần. Lần nào, vẻ mặt ông cũng hớn hở như lần đầu. Gặp Phát, ông cũng báo cái tin mừng ấy.
- Hình thằng Pêtanh bị liệng xuống đất rồi à? - Phát cũng lộ vẻ mừng hả hê như vậy. Nhưng sau đó thì Phát lại bảo:
- Nhưng mà...
- Nhưng mà làm sao?
- Không nên dựa vào thằng Nhật đâu bác Năm à. Nó là thằng phát xít.
Phát xít, ông chẳng hiểu được danh từ đó. Trong lúc đang mừng với chiến thắng, bác cũng không cần phải biết đến cái chuyện đó làm gì.
- Nó cũng là thằng cướp nước thôi. Nó ác hơn thằng Tây nữa đó bác Năm!
- Vậy à? - Ông hỏi lại, nhưng ông để ngoài tai. Chẳng biết nó sẽ như thế nào, chỉ biết là nó giúp dân mình đánh Tây là ông thấy thú rồi. Chẳng những đánh Tây, mà còn kéo nhau đi bắt hội tề, điền chủ để trả thù, trả oán nữa. Suốt mấy đêm liền, đêm nào ông cũng theo bà con tín đồ đi trả thù trả oán. Ban ngày ông lại đi khoe với Phát.
Phát hỏi:
- Người ta cho bác đi à?
- Cho chứ! Sao lại không cho!
- Thế là bác đã vào đạo rồi à?
- Ừ... mà chưa...
- Hay là bác cứ vào đạo đi bác Năm. Có chuyện gì, bác cho cháu biết với.
- Ừ. Được đấy. Có gì thì cháu cứ bảo ban cho bác!
Sau đó, ông chính thức quy y theo đạo. Tất nhiên là ông vào đạo theo ý nghĩ của ông. Và tất cả những người vào đạo, họ đều vào đạo với ý nghĩ khác nhau. Người vào đạo với lòng mê tín một cách chân thành. Người vào đạo vì bị mất niềm tin ở bản thân mình, muốn đi tìm niềm tin ở một thế giới khác. Người vào đạo để lánh nạn. Người vào đạo vì mưu đồ cho một sự nghiệp riêng. Bao nhiêu con người, bao nhiêu cuộc đời lận đận khác nhau, cùng quỳ dưới một tấm trần điều, mong mỏi và mưu đồ cho những ý nghĩ riêng của mình.
Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi Sáu Sỏi trở về, ông càng hiểu rõ hơn: mình vào đạo để làm gì?
Ông và Chiến, hai cha con tuy cùng thờ một đạo, nhưng cách nghĩ chỉ gặp nhau trong những ngày ném ảnh Pêtanh, kéo nhau đi trả thù trả oán, rồi dần dần, cái nếp nghĩ của hai người lại tách xa và xa nhau.
Con thương cha, con muốn cha phải nghĩ theo ý nghĩ của mình, cha thương con, cha cũng muốn con phải nghĩ theo ý nghĩ của mình.
Hai cha con chưa bao giờ để xảy ra một cuộc xung đột lớn, nhưng ngấm ngầm, cứ giằng co với nhau trong cái tình thương ấy và cả hai đều bị giày vò.
 
*
*       *
 
Tiếng giã gạo đã im bặt rồi. Ông Năm Bầu vẫn ngồi dựa lưng vào bụi chuối, mắt lim dim, ông như còn muốn để cái dư âm của tiếng chày lắng vào lòng. Hình ảnh của những chuyện đã xảy ra, mờ dần trong trí óc ông.
Ông mở mắt, người bần thần như vừa qua một giấc ngủ chập chờn sau một cơn say.
Gió ngoài dòng sông mang theo hơi thối của xác người thổi lao xao. Trong ánh nắng chiều gay gắt, tàu chuối buông xuôi hai cành lá, ủ rũ và mệt mỏi quật quờ.
Cái không khí chết lặng lại tràn đến tâm hồn ông. Ông hắt hơi liền mấy cái, như muốn tống cái không khí ấy ra khỏi người.
Ngoài đường vang lại tiếng vó ngựa của đội tuần tra, và đâu đây vẳng lại giọng hát “Hòn vọng phu”. Tiếng hát mỗi lúc mỗi tách rời ra trên các con đường mòn vào xóm. Một giọng hát trầm rè như thùng thiếc bễ mà nghe buồn, mỗi lúc mỗi đến gần.
Ông Năm Bầu cầm chĩa ba trở về. Ông vừa đi được mấy bước thì có tiếng gọi:
- Cha! Cha!
- Cái gì! - Ông Năm Bầu trả lời nhưng không quay lại.
- Cha ơi! Cha đứng lại con nói cái này cho cha nghe! - Giọng nói của Chiến nghe hớn hở như sắp báo một tin mừng.
Ông Năm Bầu miễn cưỡng đứng lại. Chiến bước đến, chắc là vừa mới tắm xong, đầu còn ướt, nước còn chảy ròng ròng xuống người. Chiến vừa đi vừa cầm áo lau mình một cách qua quýt.
- Chuyện gì?
- Cha ơi! Cha ra ngoài cây gừa mà coi cái pháp trường, bà con mình đã dựng xong rồi, cái cây cột xăn bóng như ván ngựa gõ vậy, đẹp lắm!
Nói đến cái chỗ giết người mà giọng nó vui như một đứa trẻ con. Ông nhìn Chiến, thầm nghĩ một cách cay đắng. Vầng trán của con lão đã thấp lại bị tóc rủ xuống che mất, nó như là người không có trán vậy, trông nó vừa ngốc vừa lì. Cặp mắt nó vằn lên những tia máu đỏ. Nó cười, đuôi mắt nó rẽ ra nhiều đường nhăn chạy gần đến mép, trông như hai sợi cương ngựa! Mặt nó rạng rỡ một cách khó coi. Những lần sắp được giết người thì cái gương mặt của nó lại rạng rỡ lên như vậy, giết xong một người thì nó thắp hương, quỳ trước bàn thông thiên, lẩm nhẩm kể lại với một vẻ thành kính và hài lòng. Lúc ấy, nó như “tâu” lên Phật thầy về công cán của nó. Giết được một người - theo nó là kẻ thù của đạo - thì nó như leo lên được một nấc thang của cõi Niết bàn. Nếu nó không được giết người một cách trực tiếp, - người ta giết rồi, - nó cũng chém bồi thêm vài dao cho đỡ “ngứa tay”. Không khéo rồi đêm nay, nó lại cầm dao giết Sáu Sỏi cũng nên.
Nhìn thằng con, ông đau nhói cả ruột gan.
- Nhà sắp hết gạo rồi! - Ông cố nói dịu giọng.
Chiến nhăn mặt khó chịu:
- Tối ngày cha cứ lo chuyện gạo với nước, như là đàn bà.
- Thế là mày nhịn đói được à?
- Tôi ăn cơm trên ban trị sự!
- Được phần mày, mày không nghĩ đứa em với thằng cha mày à?
- Ở trong xóm người ta ăn cái gì? Làng này hết gạo rồi à?
- Tao không muốn đi vay. Đi vay rồi lấy đâu mà trả, hả?
- Làm việc cho đạo mà cha cứ nghĩ cái gì ở đâu không ấy!
Thấy giọng của thằng con có vẻ đuối lý, ông bỗng nảy ra một ý nghĩ: đêm nay sẽ đưa nó đi chỗ khác.
- Tao định xoay qua nghề chữa cối đấy! Tao thấy cối nhà người ta dạo này răng cỏ đểu long ra hết rồi. May ra đổi được một ít gạo cho con em của mày.
- Cha muốn làm gì đó thì cha làm.
- Tao làm gì tao làm thì tao cần hỏi mày làm gì? Mày không giúp được một tay cho việc nhà sao?
- Thì có gì cha cứ bảo con.
- Tao định đi qua làng Nhân Mỹ kiếm gỗ. Tao định đi tối nay, mày đi với tao một tay dầm.
- Sao lại đi chiều nay? - Chiến mở tròn mắt nhìn cha.
- Gạo ở nhà sắp hết rồi.
Chiến quay mặt, không nhìn cha và như đang nghe ngóng một cái gì ở phía xa:
- Chiều nay còn bận việc. Bảo con Lành nó đi. Chiều nay tôi có việc ở trên ban trị sự. Bây giờ thì tôi đi đây.
Chiến quay lưng, trở ra đường cái. Đi một vài bước, Chiến quay lại:
- Chiều nay con mang gạo về cho!
- Tao không cần! - Ông hét lên.
Chiến không giận ông, vẫn vui vẻ, như muốn trêu ông:
- Tôi mang về cho con Lành chớ mang về cho cha đâu mà cần với không! - Rồi, với một dáng điệu hí hửng, nó quay lại, vắt áo qua vai, nhảy cẫng lên một cái.
- Đồ chết tiệt! - Ông chửi thầm và đứng lặng nhìn theo Chiến. Nó đi trên con đường mòn. Ông thấy như nó đang đi trên mình một con rắn to nằm ngoằn ngoèo dưới khu vườn rậm. Nó vừa đi vừa nhảy. Nó hí hửng như một đứa trẻ sắp được quà. Nó đi vào con đường tội lỗi thật hồn nhiên. Một đứa trẻ thì đầu óc chưa biết nghĩ, còn nó, cái óc trong đầu nó như đã chết khô rồi.
Ông lắc đầu, quay trở về, mắt rơm rớm, mặt thẫn thờ.
 
Đăng nhập để trả lời
0

VIII

 
Về đến nhà, ông thấy Hiếu đang giúp Lành dọn sân. Hiếu lăn cối vào gốc cây vú sữa. Lành quét sân, vừa đuổi gà vừa quét gom tấm cám lại bằng cái chổi kết bằng gié lúa, đẹp như lông chồn. Lành ngừng chổi, nhìn cha:
- Cha đi đâu mà lâu vậy? Con đã giã hết ba cối gạo rồi.
- Tao đi đằng xóm, tao nghe. Thôi, chiều rồi, nấu cơm đi con.
- Để con quét cái sân đã.
Lành cắm cúi quét. Cái sân nhà sạch bóng, điểm một vài hoa trứng cá rơi li ti.
Lành lại ngừng chổi, hỏi:
- Cha nghe tin gì về bác Sáu không hở cha?
- Thôi, tao đang nát lòng đây này, đừng có hỏi nữa.
Lành thấy vẻ khổ sở của cha, Lành không dám hỏi nữa. Lành liếc nhìn Hiếu và quơ chổi lia lịa.
Hiếu cũng muốn hỏi về tin Sáu Sỏi, nhưng vì có Lành, anh không muốn hỏi. Anh cứ lúi húi với cái cối, anh xoay qua xoay lại, cái cối đã nằm được đúng chỗ rồi mà chẳng được yên. Anh nhìn Lành, ra hiệu: “Đừng hỏi”. Ông Năm Bầu vào nhà, dựng cây chĩa ba vào kẹt vách, ngẫm nghĩ thế nào ông lại cầm cây chĩa ba bước ra.
- Hiếu! Cháu ra ngoài vườn giúp cho bác một tay cái việc này một chút.
- Dạ! - Hiếu biết ý, buông cối, phủi tay, theo ông Năm Bầu, đi ra vườn.
Lành đoán biết là hai người đi bàn về chuyện bác Sáu Sỏi. Lành thấy lo lo. Lành hỏi với theo:
- Anh Hiếu! Anh có về ăn cơm không?
Hiếu vừa đi vừa gật đầu. Lành yên tâm, thế là anh ấy chẳng đi đâu xa.
Ông Năm Bầu và Hiếu đi theo con đường mòn qua vườn chuối. Hai người ngồi dưới hàng chuối cuối cùng giáp với cánh đồng. Ông Năm Bầu cắm cây chĩa ba xuống con mương trước mặt.
Cánh đồng bị bỏ hoang, cỏ mọc um tùm và chạy dài đến rặng cây mờ mờ ở bên kia làng. Mặt trời bị một đám mây che mất. Cánh đồng hoang lặng lẽ trong mênh mông. Xa xa, nổi lên một vài tàng vông, lác đác một vài con cò đang chập chờn đôi cánh. Có một đám mây đen tan mỏng ra và sà xuống chân trời.
Ông Năm Bầu nhìn cánh đồng, lòng bỗng thắt lại.
Ông bứt lấy một cọng cỏ, rồi bảo:
- Bác đã gặp cha của cháu rồi. Chắc là không xong, Họ đã dựng xong cái pháp trường.
- Cháu có thấy.
- Cháu không gặp được ai sao?
- Cháu đi từ cầu đến bến đò, đến những chỗ mà anh em thường về, cháu đều dừng lại mà không thấy ai hết. Cháu đi lên chợ, cháu đi lục hết các quán cà phê mà không gặp bác Hai thợ bạc ở đâu. Cháu đến nhà thì nhà đóng cửa, người ta nói là cả gia đình đã tản cư qua cù lao Giêng hết rồi.
- Cháu không tìm được người nào khác nữa hay sao?
- Cháu không tìm được, nhưng cháu đã tìm cách bắn tin qua bên ấy rồi.
- Vậy à? - Ông Năm Bầu nắm tay thành quả đấm, như đang chụp được một cái gì ở trong tay, ông mừng, giọng run run:
- Con bắn tin bằng cách nào? - Bất giác, ông gọi Hiếu bằng con - Anh em có hay kịp không cháu?
- Người ở cạnh nhà bác Hai, hỏi cháu kiếm bác Hai để làm gì. Cháu không biết người ấy như thế nào, nhưng cháu cứ nói: bác Sáu Sỏi là em của bác Hai thợ bạc đã bị Quản Dõng bắt rồi. Tối nay, người ta sẽ giết bác Sáu Sỏi ở dưới gốc cây gừa xóm Đình. Tôi lên tìm cho bác Hai thợ bạc biết, để bác đến xin xác về chôn.
- Người đó là người thế nào?
- Cũng là người ở chợ, nhưng cháu không biết.
Ông Năm Bầu thở dài thất vọng:
- Vậy thì làm sao anh em mình biết tin được?
- Cháu nghĩ là thế nào người đó cũng nói chuyện cho người khác. Thế nào người ta cũng đồn đi đồn lại. Anh em bên mình thế nào rồi cũng nghe được!
- Như vậy thì không chắc đâu!
Hai người ngồi im. Hai người cùng nhìn ra cánh đồng. Một mảng mây khác lại tan mỏng ra như một tấm màn đen buông xuống chân trời. Cánh đồng cỏ rào rào như những tiếng thì thầm. Bồ cào, châu chấu bay nhảy trước mặt hai người, kêu “lách bách”. Đâu đây có một con rắn ngoạm được một con nhái bầu, nhái kêu eo éo. Ông Năm Bầu ngẩng đầu nghe nhái kêu. Mắt ông sáng lên. Con mồi nó đến với ông rồi. Phút chốc ông như quên tất cả. Ông nhổ cây chĩa ba, đi qua bồ cỏ lưa thưa. Ông đi lom khom. Ông nhìn thấy con rắn hổ mây to bằng cườm tay, nằm dưới mương, miệng đang ngoạm một con nhái to bằng quả đấm. Ông thò cây chĩa xuống, rồi kéo lên, dồn tất cả sức lực vào cánh tay, ông phóng mạnh. Cây chĩa ba phập vào mình con rắn. Con rắn uốn cong lại. Nhìn con rắn vặn mình giãy chết và con nhái bầu phóng ra khỏi cái miệng độc của nó, bỗng ông chợt nghĩ:
- Thế là mình đã giết được con rắn độc để cứu con nhái! Còn bạn mình đang bị nằm trong tay của bọn phản bội, thì mình lại bó tay!
Ý nghĩ ấy khiến cho ông đau nhói đến ruột gan. Ông cầm cây chĩa ba, vít con rắn lên. Ông quên đó là con mồi, ông đập con rắn nát nhừ. Ông vít con rắn ra đám cỏ, rồi lửng thửng trở lại chỗ Hiếu.
Ông ngồi lặng, chẳng nói một điều gì và thấy người như rã ra.
- Bác có đâm được con mồi không? - Hiếu hỏi.
Vẫn còn đuổi theo ý nghĩ riêng của mình, ông lắc đầu: “Không!”. Hiếu cũng chẳng còn đầu óc gì để nghĩ đến con rắn, anh cũng đang đuổi theo ý nghĩ riêng của mình:
- Cháu định về bên ấy đấy bác Năm!
- Sao? - Ông Năm Bầu giật mình.
- Cháu định về bên ấy, bác Năm à! Cháu không còn ở đây được nữa. Bọn tụi nó để ý cháu nhiều quá! Cháu sẽ đi tìm anh Phát!
- Cháu định đi thật à? - Ông Năm Bầu hỏi, giọng lịm xuống buồn rầu. Ông không nghĩ đến Hiếu sẽ ra đi như thế nào. Hiếu sẽ ra sao, mà ông nghĩ đến Lành, đứa con gái của ông. Nó là đứa con gái hiền lành. Nó giống mẹ. Mẹ nó chẳng biết chuyện gì ngoài việc nhà, mẹ nó chẳng nghĩ đến ai ngoài người chồng. Lâu nay, nó chẳng giống những đứa con gái ở làng. Nó không ăn mặc lố lăng như kiểu “Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính”, nó không đòi giết người, nó không đi ngồi lê đôi mách. Suốt ngày nó thui thủi ở nhà. Nó sống âm thầm trong cái cảnh tan tác của làng và gia đình. Nhiều lúc, nó như một cái bóng. Nhiều lúc, ông chẳng hiểu nó đang nghĩ gì. Nó chỉ vui cười, nói năng khi có Hiếu. Nó như chỉ có hiện lên thành người khi có Hiếu, như một đóa hoa chỉ rực lên khi có ánh mặt trời. Bây giờ thằng Hiếu cũng lại đi nữa rồi! Và ông nghĩ đến thân phận của ông. Rồi ông sẽ sống với ai? Ai là người hiểu được ông hơn Hiếu? Khi ông đau khổ ông sẽ tìm đến ai? Khi có chuyện gì, ông sẽ đến nói với ai? Ai là người chia sẻ những nỗi đau khố của ông? Cái ánh sáng cuối cùng trong gia đình ông cũng sắp mất rồi! Ông thấy cuộc đời của ông tối sầm lại, ông bàng hoàng cả người.
- Cháu sẽ đi tìm anh Phát, cháu sẽ kể cho anh ấy nghe chuyện làng. Cháu sẽ cho ảnh biết về con Hằng, bảo ảnh đừng có nghĩ đến nó nữa. Nó đã thành quỷ rồi. Bác Năm có thấy thằng Bảy Thẹo nó đeo theo con Hằng không?
Ông Năm Bầu, người đờ đẫn, ông khe khẽ lắc đầu, không đáp lại câu hỏi của Hiếu, mà nói theo ý nghĩ của mình:
- Bác Sáu cháu dại quá! - Giọng ông nói với giọng trách móc - Tại sao lại bơi xuồng về một mình? Về mà không cho ai hay biết.
- Bác Sáu có gửi thư cho cha cháu biết trước! Nhưng cha cháu... - Hiếu đau đớn, không nói nữa.
Cánh đồng không một bóng người, không một cánh chim, cỏ rạp đầu trong những cơn gió miên man, chạy dài đến tận chân trời. Nhìn cánh đồng, Hiếu thấy trong người mình mênh mông một nỗi buồn. “Thằng Phát thì giờ này sao lại chưa chịu về!”. Ông Năm Bầu nói với giọng trách móc, rồi ngẩng mặt thở dài.
Mặt trời đã ngả về phía rặng cây xa, bừng lên như một đám mây.
Chân trời như ứa máu.
 
Đăng nhập để trả lời
0

IX

 
Cùng trong lúc ấy, phía bên bờ sông, Phát đang nhìn về làng. Anh ngồi tựa lưng vào cây vú sữa của một sân nhà bị cháy trên vàm kinh chảy vào giữa cù lao.
Mặt trời chưa lặn, nhưng trời nhiều mây. Bóng tối của đám mây đen buông xuống dòng sông như một chiều u ám.
Dòng sông từ mạn trên đổ xuống đến đây thì rẽ ra làm đôi chia ra làm hai dòng ôm tròn lấy cù lao. Cù lao nổi lên giữa dòng sông như một con cá khổng lồ. Cù lao chia ra bốn làng. Cù lao có một nhà thờ lớn với ngọn tháp chuông cao màu xám tro. Cái chỗ của Phát ngồi là đầu cù lao.
Bờ sông vắng. Dưới bến, một chiếc vó rách te đang cất lên và thôi không bao giờ buông xuống để cất lên nữa. Nó cất lên và hướng ra khơi như một bàn tay gầy đang chìa ra chờ đợi một cái gì và không biết mỏi. Người chủ của nó không chịu nổi súng đạn đêm ngày của tàu địch, đã tản cư đi rồi.
Sóng vỗ vào bờ ọp ẹp nghe uể oải và đều đều.
Ở xa nhìn về, Phát không thấy được cảnh làng một cách rõ ràng, không thấy người, không thấy nhà, nhưng anh nhìn cái cảnh làng được đầy đủ hơn. Làng của anh đấy một hàng cây xanh sẫm ở phía trên kia bờ sông. Cái bóng cây xanh đậm của cây đa, chếch về phía tay phải tay anh là bến đò, nơi giáp ranh với làng Long Điền. - Làng Long Điền cũng một rặng cây chạy dài lên chợ huyện - Cái tháp chuông của ngôi nhà thờ nhỏ nhô lên khỏi hàng cây, chếch về phía tay phải anh là nơi giáp ranh với một làng thuộc tỉnh Sa Đéc. Thị trấn nằm ở giữa làng, lô nhô những mái ngói, lờ mờ những con tàu đang cặp bến, khói đang tan ra thành mây mỏng. Và trước mặt anh, cao vọt lên khỏi rặng cây là hàng dương trước sân đình. Đấy là xóm Đình của anh. Từ chợ đến tháp chuông nhà thờ nhỏ là xóm du kích. Từ chợ đến xóm Đình, xóm bến đò và thẳng lên chợ huyện là một vùng đã do tín đồ Hòa Hảo chiếm lấy. Sau xóm Đình, qua một cánh đồng, những cái làng ở bên bờ tả ngạn bờ Hậu Giang, và phía bên kia Hậu Giang - một vùng đất có núi Cấm, núi Dài, núi Ba Thê... là vùng của các đơn vị vũ trang của Hòa Hảo chiếm đóng. Từ cái xóm Đình của anh đến chợ huyện như là cái cửa ngõ của vùng Hòa Hảo thuộc tỉnh Long Xuyên. Cái cửa ngõ ấy dài mười hai cây số, nằm dọc theo bờ sông, đối mặt với bờ sông vùng căn cứ kháng chiến. Hai bên cái cửa ngõ ấy là hai cái đồn lớn của quân đội Pháp; đồn của Mỹ Long Hưng và đồn của huyện Chợ Mới. Cái cửa ngõ ấy là nơi thường có những cuộc gặp gỡ của các đơn vị vũ trang, thường xảy ra những cuộc chiến đấu dữ dội. Là nơi đã xảy ra những cảnh ngộ thật éo le, cha giết con, anh giết em, người thân giết người thân. Những người đã chết, họ không còn biết gì nữa, nhưng họ đã để lại những nỗi đau khổ cho những người còn sống, và những nỗi đau khổ ấy sẽ sống mãi mãi trong đời sau. Và đêm nay nữa, anh sẽ gặp lại người làng, anh sẽ gặp lại người yêu, anh sẽ gặp lại cha - có chắc gì gặp lại cha? - rồi sẽ xảy ra những điều gì nữa? Phát tự hỏi. Không tìm được câu trả lời, anh thấy băn khoăn. Anh không ngồi yên được nữa. Anh đi đi lại lại dưới tàng cây vú sữa. Người anh khỏe mạnh, thân hình cân đối, có vẻ oai vệ trong bộ quân phục màu đen và chiếc súng ngắn hơi xề xệ ở bên hông. Bước đi của anh hơi nhanh và bối rối.
Trưa nay, trinh sát đã báo cái tin đồn về Sáu Sỏi. Huyện ủy liền mở ngay một cuộc họp bất thường. Sau đó, đơn vị của Phát - một đơn vị ở gần nhất, đang đóng ở cù lao, có thể về kịp trong đêm - được điều đi cứu Sáu Sỏi. Đơn vị của anh phải dừng lại đây, chờ khi mặt trời sụp để vượt sông.
Đơn vị đang nghỉ trong xóm nhỏ cạnh bên cụm bần thưa. Những anh lính người làng Mỹ Long Hưng cũng đang ngồi rải rác dưới các gốc cây. Họ nói với nhau về chuyện làng, mỗi người mỗi câu chuyện khác nhau. Anh Hoàng, trinh sát của đơn vị, độ hơn ba mươi tuổi, vốn là người đánh xe ngựa, anh đang ngồi kể cho bạn đồng đội nghe những đoạn đường của anh.
- Một chiếc xe hình lá liễu, đánh “vẹt - ni” láng bóng, mui vải xanh, nệm lò so - anh nói - tôi bắt một con ngựa hồng từ mờ sáng.
Chiếc xe của anh đầy khách lắc lư, chạy bon bon trên con đường rải đá rợp mát những tàng cây. Xe chạy qua xóm mộc, thoảng mùi ét xăng và mùi gỗ, xe chạy qua xóm dệt, tiếng khung cửi nghe rộn ràng, xe lướt qua các khung cửi của những cô thợ dệt tóc xõa dài và nước da trắng mịn. Xe chạy qua đoạn đường gừa trồng ven hai bên đường.
Mỗi ngày, anh mỗi gặp gỡ những con người xa lạ, những kiểu người khác nhau: một cô gái đẹp, một ông già nho hay nói chữ, một người đàn bà đi thăm chồng, một người có cái vẻ bí mật thích ngồi ở phía trong... những người ấy, có khi anh chỉ gặp một lần, nhưng đều để lại cho anh những kỷ niệm hay hay. Ngày nào, xe anh cũng chạy qua làng. Anh yêu cái nghề đánh xe và yêu cái làng của mình. Mơ ước của anh thật giản đơn. Độc lập, anh sẽ không đánh xe thuê nữa, anh sẽ cưới một cô thợ dệt, sắm một cỗ xe riêng, và ngày ngày anh sẽ đưa anh em đồng chí đi qua làng. Lúc nào anh cũng có thể nói cái chuyện đánh xe của anh. Nhờ tiếp xúc với nhiều người, anh biết đủ thứ chuyện ở trên đời.
Nghe câu chuyện của anh, không ai có thể nghĩ đó là chuyện của những người lính đang chuẩn bị chiến đấu. Qua giọng nói và cử chỉ của anh, người chung quanh như nghe được tiếng vó ngựa của anh đang gõ vang trên mặt đường trong một chiều thanh bình.
Ở một nhóm khác, có những anh đang nhìn về làng với cặp mắt căm hờn. Họ điểm lại những tên phản động đầu sỏ ở làng. Anh tiểu đội trưởng Hồng là người yêu của Hiền cô gái đã bị giết trong đêm đầu nổi loạn của Hòa Hảo mặt lầm lì, anh đang lần ngón tay lẩm nhẩm những tên người:
- Thằng Quản Dõng, thằng Bảy Nghĩa, thằng Bảy Thẹo, thằng Chiến, thằng Ịnh, thằng Năm Ngũ, thằng Phi Hùng, còn thằng nào với con nào nữa? Đêm nay, nó mà giết chết bác Sáu Sỏi thì tao sẽ chém sạch, tao đốt không chừa một cái nhà!
Anh nói, giọng rít lên trong hai hàm răng và giọng nói của anh như mang theo cái hơi lửa đang bốc lên ngùn ngụt ở bên trong.
- Ông Phát, ông ấy không cho bọn mình ra tay đâu! - Một người lính nói.
Tiểu đội trưởng Hồng bĩu môi, cười gằn:
- Tụi mày đừng có lo! - Anh đưa tay vỗ vỗ vào ngực - Tao làm tiểu đội trưởng, tao hoàn toàn chịu trách nhiệm, tụi mày cứ việc thi hành theo mạng lịnh của tao mà thẳng tay. Lần này thì ông ấy cũng chẳng cản tụi mình đâu. Trước đây, gia đình của ông ta không có ai bị giết, ông ta còn nói chánh trị được, bây giờ, cha ông ta bị giết, ông ta không biết căm thù à? - Đôi mắt của tiểu đội trưởng Hồng vằn lên những tia máu đỏ.
Một không khí nặng nề trùm lên cái nhóm của anh.
Ở một chỗ khác, dưới gốc cây bần già, cành lá buông rủ dài như tóc, có một nhóm khác đông hơn. Đấy là cái nhóm có nhạc sĩ Hoài Nam và Bảy Thâm, người chỉ huy trưởng của đơn vị - Nhóm ấy có hơn mười người. Họ ngồi vây quanh anh nhạc sĩ. Hoài Nam ngồi tựa lưng vào gốc bần, tay cầm cây ghi ta một cách hững hờ, mặt hướng về chợ làng. Hoài Nam độ hai mươi lăm tuổi, người mảnh khảnh, gương mặt anh hơi xương xương, nước da trắng xanh, mái tóc mềm hay buông rủ xuống trán, cái mũi dọc dừa thanh tú, đôi môi son nhỏ hình quả tim, đôi mắt của anh có vẻ trong sáng nhưng thường hay phảng phất một nỗi buồn. Anh vẫn còn giữ được cái vẻ đẹp của một người thư sinh. Anh mặc bộ quân phục ka ki vàng may theo kiểu quân phục của quân đội viễn chinh Pháp, bộ quân phục ấy không được hợp với cái dáng mảnh khảnh của anh. Hoài Nam vừa nói chuyện vừa buông ra những tiếng đàn theo một thói quen. Anh em đều quý mến anh, không chỉ thích nghe anh hát, mà còn thích nghe anh kể chuyện nữa, đặc biệt là chuyện đời tư của anh, và nhất là những mối tình trắc trở của anh. Người thích anh nhất có lẽ là Bảy Thâm. Bảy Thâm nằm cạnh bên Hoài Nam. Bảy Thâm tuổi độ bốn mươi, người to lớn trong bộ quân phục màu đen hơi rộng, lưng anh hơi gù như lưng gấu. Gương mặt anh hơi vuông, tóc rễ tre, trán thấp, cặp chân mày rậm đen, mắt xếch sáng quắc và dữ dội, nước da của anh màu đồng điếu. Anh lại có thêm một bộ râu quai nón. Anh có một vẻ đẹp khỏe mạnh, dữ tợn và gan lì. Dáng vẻ của anh đúng là con nhà tướng! - Anh em thường nói như vậy - Anh cũng là người làng Mỹ Long Hưng, ở xóm nhà thờ. Anh là người đầu tiên gây dựng ra đơn vị này. Từ hai bàn tay không, anh ra chợ đánh Tây, giật súng, diệt tề, trừ gian, đánh những tên lính đi bắt heo, gà, đánh những đồn lẻ, từ một tổ ba người, đến một tiểu đội, và bây giờ, đơn vị của anh quân số có gần một trăm người, đầy đủ súng ống. Đơn vị của anh lưu động khắp tỉnh, đánh đâu thắng đó, nhân dân đâu đâu cũng quý mến, nhiều đơn vị phải ghen với anh. Đơn vị anh là đơn vị số sáu mươi tám, nhưng nhân dân cứ quen gọi là bộ đội ông Bảy Thâm. Nhân dân còn gọi anh là con hùm xám.
Trước khi ra trận, bao giờ anh cũng có một vẻ bình thản, như chẳng có xảy ra một chuyện gì. Khi thì anh ngồi uống một ấm trà, nói chuyện đùa, cười ha hả để chờ trinh sát, khi thì nằm lim dim nghe tiếng đàn của Hoài Nam.
Bảy Thâm nằm gối đầu trên rễ cây, mắt lim dim. Anh đặt tay lên vế Hoài Nam, nắm bóp một cách âu yếm:
- Này, Hoài Nam, chú kể lại cái ngày chú “ra đi” cho anh em nghe đi!
Câu chuyện ngày ra đi của Hoài Nam, anh nghe không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng thỉnh thoảng anh vẫn muốn nghe lại. Vì câu chuyện ấy của Hoài Nam có dính đến cái tên tuổi của anh. Hoài Nam mỉm cười, một nụ cười mơ hồ thường có trên nét mặt của anh. Tay anh rời khỏi phiếm đàn. Anh vuốt lại mái tóc, mắt nhìn về những mái ngói lô nhô đang mờ dần ở phía bên kia bờ. Vẻ mặt anh trở nên xa xăm. Trước mắt anh như hiện lên cái căn nhà của anh, một cái phố hai tầng, tầng dưới là tiệm vàng, tầng trên nhà ở, cái phòng nhỏ xinh xinh dành riêng cho anh, gần bên cửa sổ nhìn xuống mặt đường.
- Hồi ấy, tôi đi học ở trường Collège Cần Thơ mới về. Về nhà, tôi định đi ra chiến khu. Nhưng tôi đã không ngờ. - Giọng của anh nhỏ và êm như nghe lời tâm sự lúc về khuya. - Tôi đã gặp một cô gái lạ kỳ. Cô ấy là đứa ở của người chủ tiệm cầm đồ, ở phía bên kia đường. Người chủ của cô ta là bạn của cha tôi. Tôi gọi ông ta là bác Hai. Cô ấy tên Nhung. Trước đó, những năm nghỉ hè, năm nào tôi cũng về, năm nào tôi cũng gặp cô ta nhưng cô ta hãy còn nhỏ, quần quật suốt ngày, quần áo rách rưới, tôi xem cô ta là một đứa bé, thỉnh thoảng cô ta cũng có sang nhà tôi và gọi tôi là cậu Năm. - Vì tôi là người con trai thứ năm của gia đình - Năm rồi, tôi trở về, gặp lại cô ta, tôi như không đoán ra được nữa. Cái tuổi dậy thì, cô ta như con gà trổ mã, sắc đẹp của cô ta bật lên như một vì sao. Cả chợ đều xôn xao. Tôi đi đây đi đó kể cũng nhiều, quen biết không biết bao nhiêu nữ sinh, nhưng tôi chưa hề gặp ai đẹp đến như vậy. Gương mặt của cô ta là gương mặt trái xoan, nước da trắng hồng và mịn màng như rửa mặt bằng sữa, mái tóc xõa dài đẹp như một dòng suối, đôi chân mày uốn cong hình lưỡi liềm, còn đôi mắt thì không thể nào tả nổi, đôi mắt sáng như sao, nhưng lại buồn buồn và mơ mộng, đôi mắt có một sức quyến rũ lạ lùng. Cái nhìn của cô ta, làm cho tôi bàng hoàng cả người. Một cô bé đi ở mà sao lại đẹp đến như vậy, tôi không thể nào hiểu được. Tôi yêu cô ta, tôi yêu một cách đắm đuối, nhưng cô ta là một người ở, sợ người ta nói ra nói vào, sợ cha mẹ anh em tôi không bằng lòng, nên tôi chỉ yêu thầm. Tôi chỉ yêu thầm. Tôi yêu với một mối tình câm. Tôi định đi ra chiến khu, đưa bộ đội trở vê đánh vào làng, tôi sẽ giải thoát cô ta ra khỏi vòng áp bức, rồi hai đứa sẽ cùng đi chiến đấu. Tôi còn lưu luyến chưa muốn đi, thì bỗng một hôm có súng nổ, rồi có tiếng loa kêu gọi. Sau đó, tôi nghe người ta đồn là bộ đội của ông Bảy Thâm. Sau cái đêm đó, nhiều đêm tôi không ngủ được. Tôi cứ nhớ mãi cái bài hát trong tiếng loa lúc im tiếng súng. Giọng hát nghe không hay, nhưng bài hát ấy đã thôi thúc lòng tôi:
“Mùa thu rồi, ngày hăm ba...
Trước mặt tôi cứ hiện lên một đoàn quân với một người chỉ huy oai dũng và anh hùng. Lòng yêu nước của tôi đã dâng lên như một cốc nước đầy. Và cái tiếng hát đêm ấy như những giọt nước rỏ vào. Cốc nước tràn ra. Thế là tôi bỏ nhà ra đi. Trước khi đi, tôi có gặp cô ta. Tôi nói:
- Nhung! Thôi, xin tạm biệt em. Anh đã đến lúc phải ra đi rồi. Một ngày nào đó, không xa lắm, anh sẽ trở về. - Hoài Nam dừng lại, tay lướt qua dây đàn, rải ra một âm điệu buồn. Tiếng nhạc tan ra và những âm thanh ấy gợi lại cho anh hình ảnh của cô gái. Mắt anh nhìn vào khoảng không một cách đắm đuối. Bảy Thâm cựa mình. Anh đang sốt ruột chờ nghe đoạn cuối.
- Rồi sao nữa? - Anh hỏi.
- Rồi, tôi ra đi. Tôi tìm gặp cơ quan huyện. Người ta định điều tôi về ban tuyên truyền huyện, nhưng tôi không chịu. Người ta lại điều tôi về bộ đội số ba mươi ba tôi cũng không chịu. Người ta hỏi tôi:
- Anh muốn đi bộ đội nào?
- Tôi muốn đi bộ đội ông Bảy Thâm.
- Bộ đội ông Bảy Thâm nhiều rồi, bộ đội khác đang cần người, bộ đội nào mà không phải bộ đội.
- Nhưng tôi thích bộ đội của ông Bảy Thâm hơn.
Sau đó, tôi bỏ cơ quan huyện, hỏi thăm nhân dân bộ đội ông Bảy Thâm. Thế là người ta bắt tôi và giao cho anh, anh có còn nhớ không anh Bảy?
Bảy Thâm mỉm cười, cố che giấu niềm kiêu hãnh đang hiện dần lên vẻ mặt.
Bảy Thâm vốn là người nông dân. Hơn nửa đời người quần quật vì miếng cơm, manh áo, anh chẳng bao giờ được ai vuốt ve và phỉnh nịnh. Bây giờ, là người chỉ huy trưởng của một đơn vị, tên tuổi anh nổi như “cồn”. Đi đâu anh cũng nghe những lời ca ngợi, những cử chỉ khâm phục, có cả lời phỉnh nịnh. Cuộc đời anh phơi phới lên như diều gặp gió. Lúc đầu, anh thấy ngượng nghịu vì những lời ca ngợi ấy, nhưng rồi dần dần, nó như đã thành cái lẽ sống của anh. Lời ca ngợi của Hoài Nam đối với anh, anh thấy có giá trị hơn những lời ca ngợi của anh em khác. Hoài Nam là con nhà giàu, có học, đã học đến “đíp lôm”, một con người như thế mà bây giờ đã thấy sung sướng khi được dưới quyền chỉ huy của anh! Chỉ nghĩ đến điều đó, ruột gan của anh cũng đủ nở to lên rồi. Có Hoài Nam trong đơn vị, anh lại càng được nổi danh hơn. Từ ngày có Hoài Nam, nhân dân càng khen ngợi đơn vị của anh nhiều hơn. Bộ đội ông Bảy Thâm đánh giặc cừ mà diễn kịch cũng hay! Đến đâu, sau một trận đánh là sân khấu được dựng lên. Bảy Thâm lại có dịp đứng lên trước sân khấu, trước mặt hàng nghìn người, nói một vài câu trước khi mở màn và được nghe tiếng vỗ tay vang trời. Và Bảy Thâm được ngồi ghế danh dự. Bảy Thâm được nghe người ta xì xào nhắc đến cái tên của mình.
Sung sướng, Bảy Thâm cầm lấy bàn tay của Hoài Nam. Hai bàn tay thật khác nhau: một bàn tay to lớn, xù xì đầy chai, một bàn tay nhỏ với những ngón thon dài và dịu mềm. Anh nhìn mãi cái bàn tay của nhạc sĩ. Mỗi lần ra trận, anh đều bảo Hoài Nam:
- Hãy coi chừng cái bàn tay của anh đấy!
Trong những cuộc chiến đấu gay go, anh thường ra lệnh cho Hoài Nam phải nằm sâu dưới hầm. Anh sợ Hoài Nam bị mất bàn tay, cái bàn tay dịu mềm khi lướt qua cung đàn thì xao xuyến cả lòng người. Hai bàn tay to lớn của anh ấp lấy bàn tay nho nhỏ của Hoài Nam.
- Hát cho anh em nghe một bài đi! - Anh bảo, mắt lim dim.
Hoài Nam ngồi thắng lại, dây buộc đàn móc qua vai, hai tay anh ôm lấy đàn một cách hững hờ. Bàn tay của anh buông ra từng tiếng nhạc. Một âm điệu buồn, từng tiếng, từ trầm đến thanh, nối theo nhau rơi ra và âm vang trong lòng người.
Ta chiến tranh vì công
Sa trường hăng hái đi không về…
Đấy là bài hát “Buồn tàn thu”. Những năm đầu kháng chiến, vì còn thiếu bài hát, người ta thường đặt thêm những lời mới cho những bài hát cũ - Bảy Thâm đang mơ màng nghe tiếng hát, bỗng thấy những bước đi băn khoăn và vẻ mặt bối rối của Phát, lòng anh bỗng nảy lên một niềm vui ác độc, anh mỉm một nụ cười. Bảy Thâm vốn là người nông dân, thất học. Anh nhìn những hiện tượng ở bên ngoài một cách giản đơn, nhưng cương trực và nhiệt tình. Đứng trước một việc gì, anh ít muốn suy xét, không thích một cái gì rắc rối và phức tạp, anh chỉ thích giản đơn - thấy sao nói vậy, như anh thường nói - và chỉ hành động theo bản năng. Người lính nào chiến đấu cam đảm thì anh khen ngợi vỗ về, người nào tỏ ra nhút nhát thì anh khinh bỉ ra mặt và đòi tống cổ ra khỏi đơn vị. Ai đánh được nhiều trận, thu được nhiều súng ống, “chiêu binh mãi mã” - danh từ mà anh thường hay nói - thì người đó làm lớn. Lính của ai người ấy giữ, súng của ai cướp được người ấy dùng. Tại sao lại bày ra cái việc biên chế, san sẻ chỗ này chỗ nọ và thuyên chuyển người này thế người kia? Anh thường càu nhàu như vậy và tìm đủ mọi cách để “giữ vững” cái đơn vị của anh. Anh không thích những người chính trị viên. Vì những anh chính trị viên thường hay thuyết phục anh thi hành những mệnh lệnh mà anh không thích, những mệnh lệnh không có lợi cho anh, như mệnh lệnh biên chế và chia xẻ đơn vị chẳng hạn. Và những anh chính trị viên lại thường hay có vẻ lãnh đạo anh. Trong đơn vị, anh là người chỉ huy, thế thì sao anh lại chịu dưới sự lãnh đạo của một anh khác? Tất cả những người trong đơn vị phải dưới quyền của anh, phải phục tùng tuyệt đối những mệnh lệnh của anh. Anh nghĩ vậy và bực tức hằn học đối với những anh chính trị viên. Những anh chính trị lúc ấy, phần lớn là những người không quen với tiếng súng, điều đó cũng làm cho anh có thêm lý do để đả kích. Anh có đủ lời lẽ để thóa mạ những người chính trị viên. “Những thằng đánh giặc bằng miệng - mặt gà mái! v.v...” vì cái tính không thích suy nghĩ những điều rắc rối, anh rất ghét học chính trị. Giặc vào thì đánh, tại sao lại phải học chính trị? Chính trị không cản được đầu xe tăng! Tại sao lại phải học những bài cách mạng dân tộc giải phóng? Nó cướp nước mình thì mình đánh nó! Anh lập luận như vậy. Có một lần, anh làm một chuyện thật buồn cười, nhưng cũng lại nổi danh. Một hôm, anh đem đốt tất cả sách chính trị và cho vào thùng nước uống. Anh em lấy làm lạ, hỏi anh, anh đáp lại một cách thản nhiên:
- Học làm gì cho nó mệt, cứ uống vô bụng cho thấm vào xương thịt, học như vậy mau và chắc hơn!
Những anh lính cùng một tính như anh, lấy đó làm thích thú và họ dựa vào uy tín của anh mà bỏ học chính trị. Người chính trị viên cũ bất lực, nên đã xin về một đơn vị khác. Bảy Thâm hơi hối hận, nhưng lại hài lòng và thấy nhẹ người. Sau đó, cấp trên điều Phát về. - “Lại một thằng gà mái!”. Nghe anh thư ký đọc công văn, anh lẩm bẩm, rồi giật lấy tờ công văn vò nát. Nghe nói đến chính trị viên là người anh mất hết bình tĩnh. Nhưng lần đầu gặp Phát, anh thấy có cảm tình. Đứng trước hàng quân, khi được giới thiệu, Phát có một cái vẻ oai vệ của nhà quân sự. Người Phát to khỏe, gương mặt hơi dài, cằm to, trán rộng và nước da bánh mật. Gương mặt anh vừa có vẻ gan dạ, vừa có vẻ thông minh. Cái dáng vẻ của anh không mảnh khảnh, không thư sinh, không có gì quá khác lạ với những anh lính. Nhất là cặp mắt của Phát, cặp mắt sáng và đôi chân mày đậm. Phát đội nón cối hơi nghiêng, vừa oai, vừa có vẻ ngang tàng. Người nhỏ tuổi, nhưng không có cái vẻ trẻ con. Bảy Thâm vốn thích cái kiểu người như vậy. Đứng trước hàng quân. Phát lướt nhìn anh em, cặp mắt sáng lấp lánh, không có chút rụt rè, mặt anh đanh lại, anh không nói với cái giọng diễn thuyết dài dòng. Nhìn lướt quân ngũ một lúc, Phát nói:
- Tôi được cấp trên điều về đây làm chính trị viên. - Giọng của anh nghiêm nghị - Tôi biết, đây là một đơn vị có một người chỉ huy dũng cảm, các đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm. Tôi cũng là con nhà quân sự, tôi không thích nói nhiều. Trong “trận mạc”, rồi chúng ta sẽ hiểu biết nhau nhiều hơn!... - Phát đưa tay chào theo kiểu quân sự, rồi ngước nhìn hàng quân với một vẻ thách thức.
Trong hàng quân, bỗng nổi lên một tràng vỗ tay. “Đây là một đơn vị có một người chỉ huy dũng cảm” - Bảy Thâm sung sướng quá, anh cũng vỗ tay. “Thằng cha này nói nghe được!”. Anh tự nghĩ và thấy có cảm tình ngay với người chính trị viên mới. Anh muốn chạy ra, ôm chầm lấy Phát, nhưng anh kịp kìm lại, anh còn muốn giữ gìn, còn muốn thử thách người chính trị viên trong “trận mạc”. Sau đó không bao lâu, anh đã có dịp hiểu được người chính trị viên mới. Lần ấy, đơn vị anh bị một trung đoàn của quân đội viễn chinh Pháp bao vây. Trên máy bay, dưới xe tăng và trên sông thì tàu chiến. Phải mở đường máu. Đơn vị vừa phá được vòng vây thì anh thiện xạ trung liên bị tử thương và anh thì bị một viên đạn xuyên qua bụng. Vốn anh là người can đảm, anh xé áo buộc vết thương, giữ lấy trung liên, nã vào quân địch. Lúc ấy, Phát vừa đến. Phát giằng lấy cây trung liên và bảo:
- Anh cho đơn vị rút lui đi anh Bảy!
- Tại sao tôi lại phải rút lui? - Anh thoáng nghĩ là Phát xem thường lòng quả cảm của anh. Anh quát lên.
- Anh bị thương rồi! Anh phải đưa đơn vị đi. Để lại đây cho tôi một tiểu đội. Nhanh lên. - Phát cũng quát vào mặt anh. Phát giằng lấy súng, gọi một anh lính, ra lệnh:
- Đồng chí có nhiệm vụ phải bảo vệ anh Bảy cho đến cùng! Nghe chưa?
Bảy Thâm nghe vết thương nhói lên, người muốn lả đi. Nghe Phát ra lệnh cho anh lính phải bảo vệ mình, anh xúc động, muốn ứa nước mắt.
Phát một mình một cây trung liên với một tiểu đội, đã chặn được bước tiến của kẻ địch và yểm hộ được an toàn cho đơn vị rút lui về đến vị trí. Bảy Thâm nằm bệnh viện mất một tháng. Anh vừa mến phục vừa ganh tị với Phát. Anh sợ Phát chiếm mất ảnh hưởng của anh. Anh luôn luôn dò xét và giữ gìn. Nhưng Phát không hề tỏ ra thái độ gì có vẻ tranh giành ảnh hưởng với anh. Đến một nơi nào, cần nói chuyện với nhân dân, Phát cũng nhường cho anh. Phát không như người chính trị viên cũ, ngoài mặt trận thì rúc đầu dưới hầm, về đến vị trí an toàn thì lúc nào cũng tổ chức mét tinh và đứng lên diễn thuyết. Phát luôn luôn tỏ ra nâng niu uy tín của anh. Những lần học chính trị, Phát không bắt anh phải ngồi nghe. Nếu anh em có hỏi thì Phát bảo: “Anh Bảy bận nhiều việc!” Thấy anh em dựa vào thế lực của anh mà bỏ học thì Phát đến tìm anh và bảo: “Anh em bữa nay bỏ học chính trị nhiều quá. - Phát nói với giọng như báo cáo với một cấp trên, anh rất hài lòng và sẵn sàng nghe - Anh em bảo là chỉ huy sao thì lính vậy, tôi nói là anh bận việc, nhưng anh em vẫn không chịu nghe. Nay mai nếu có rỗi, anh nên có mặt để động viên anh em”. - Có mặt để “động viên” anh em? Bảy Thâm thấy hài lòng cái tiếng “động viên” ấy. Ngồi để động viên anh em, đó cũng là nhiệm vụ của người chỉ huy. Anh tự nghĩ một cách sung sướng. Mấy lần ngồi để “động viên”, có dịp hiểu thêm những điều mới lạ. Nghe Phát đặt một số câu hỏi, tự anh, anh thấy không thể trả lời được. Anh em lính thì đáp lại một cách rõ ràng, anh giật mình, vừa xấu hổ vừa lo lo. Sau buổi học, Phát thường bảo anh em: “Có gì không hiểu, các đồng chí cứ đến hỏi ban chỉ huy hoặc hỏi tôi, hoặc hỏi anh Bảy, hoặc hỏi đồng chí Sanh”. Bảy Thâm vừa sung sướng vừa lo sợ. Nếu lỡ như anh em hỏi mình một câu gì đó thì sao? Vì cần giữ uy tín, anh bắt đầu muốn học. Lần học nào, anh cũng có mặt để “động viên”, rồi dần dần, anh thấy ham học. Thâm tâm anh, anh không coi Phát là chính trị viên, anh coi Phát như Sanh người trung đội phó trung thành của anh. Càng ngày, anh càng yêu mến Phát, có khi, anh coi Phát như một người anh, có khi, anh coi Phát như một người em và Phát là cánh tay phải của anh. Nhưng, từ ngày một số tín đồ Hòa Hảo nổi dậy, đi theo giặc, chống lại cách mạng, thì hai người luôn luôn xảy ra những cuộc tranh luận sôi nổi, xung đột đến đỏ mặt, đập bàn, đập ghế, và cuối cùng không ai chịu ai. Nhìn những hành động của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, hai người có hai ý nghĩ khác nhau. Có một lần, Phát đã nói với anh:
- Đồng bào Hòa Hảo, đa số là bà con nông dân yêu nước, nhưng vì mê tín, nên họ bị lợi dụng, họ bị lầm lạc. Mình không nên thù hằn họ, họ theo giặc nhưng họ không giống như những tên Việt gian khác, mình phải kiên trì lôi kéo họ!
Trước mắt Bảy Thâm, những người tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là những con người đáng căm hờn, đáng khinh bỉ và đáng ghét. Họ là đám người bán nước, họ là những con người lố bịch ăn mặc theo lối phường tuồng, họ là kẻ giết người một cách man rợ, họ giết người bằng gươm dao, giết người không gớm tay. Bao nhiêu cái xác hãy còn trôi nổi dưới sông. Bao nhiêu con người bồng bế nhau, dắt díu nhau, bỏ nhà bỏ cửa ra đi. Những cảnh tượng đau đớn ấy cứ ám ảnh anh như cái bóng đen. Cho nên, khi nghe Phát nói những lời đó, thì tay anh thấy ngứa. Anh đập bàn, anh đưa tay nắm chặt bá súng lắc run lên và lồng ngực anh như bốc cháy. Anh hét lên. Anh nói theo cái kiểu thấy sao nói vậy:
- Tụi nó đi theo giặc, giết không biết bao nhiêu đồng chí mà anh còn dám nói nó là yêu nước à? Anh bảo là không được quyền thù hằn nó à? Anh là thằng gì mà dám nói như vậy, hả? Thằng nào đi theo Tây, thằng đó là Việt gian, tôi thì bắn nát óc, tôi tru di tam tộc nó, tôi bắn không còn một con đỏ! Anh không muốn đánh họ, anh đừng có ở bộ đội của tôi nữa. Anh đi mà nói chánh trị với bọn nó. Anh không có ai bị nó giết, anh biết gì là căm thù?
Phát bối rối vì không tìm được lời để thuyết phục, Phát cũng nổi nóng, nhưng anh cố ghìm lại. Phát nhìn anh với cặp mắt sắc và lạnh lùng, hỏi lại:
- Thế còn anh? Anh cũng như tôi, gia đình anh có ai bị giết đâu?
Bảy Thâm giận tím cả mặt, đưa tay vỗ vào ngực:
- Nhưng tôi là người yêu nước! Tôi căm thù những thằng bán nước!
Phát biết mình hỏi sai, nhưng anh cũng cứ cãi lại:
- Thế còn tôi, tôi không phải là người yêu nước à?
- Điều đó tôi còn phải coi lại.
Phát mỉm cười. Thế là hai người tìm cách bỏ đi, không ai thuyết phục ai và cả hai đều khổ tâm.
Những sự xung đột như vậy, không chỉ xảy ra lúc nghỉ quân, mà xảy ra ngay cả lúc chiến đấu. Trong chiến đấu, Bảy Thâm khi thì ra lệnh, khi thì cho phép, khi thì làm ngơ cho anh em mặc tình hành động: đốt nhà, bắn bừa và đập đổ bàn thờ. Còn Phát, khi thì ra lệnh cấm, khi thì can ngăn, khi thì khuyên lơn anh em. Và trong chiến đấu, nếu gặp phải lực lượng quần chúng nhân dân thì anh đề nghị rút lui.
- Bộ đội của Bảy Thâm mà rút lui à? Anh nào nhát gan thì cứ bỏ súng lại đây, rút đi!
Không cưỡng được mệnh lệnh của anh, Phát ngầm bảo anh em bắn chỉ thiên và chỉ chiến đấu thực sự khi cần phải tự vệ. Dần dần, đơn vị của Bảy Thâm như chia ra làm hai: một bên theo Bảy Thâm, một bên theo Phát. Số người của Phát ít hơn, nhưng hầu hết là đảng viên. Bảy Thâm thấy rõ tình trạng đó. Bao nhiêu thiện cảm của anh đối với Phát đều tan biến đi. Nhiều lần, anh cũng muốn Phát xin chuyển về một đơn vị khác như người chính trị viên cũ. Nhưng Phát lại là một anh chàng gan lì và quần chúng của anh mỗi ngày mỗi thêm đông. Bảy Thâm thấy rõ cái tình trạng đổ vỡ đã sắp đến nơi rồi. Anh bực dọc, hằn học, nhưng không làm gì được. Có lần, anh đã nói thẳng với Phát:
- Bây giờ, chúng ta chia bộ đội ra làm hai đi! Cứ tập họp bộ đội lại, hỏi người nào theo anh thì đứng ra bên trái, người nào theo Bảy Thâm thì đứng qua bên phải. Rồi của ai người ấy chỉ huy.
Phát cười:
- Tại sao lại chia ra làm đôi. Bộ đội này là của anh, anh là người chỉ huy. Anh phải chỉ huy anh em chứ?
- Tôi là chỉ huy, nhưng tại sao anh em không tuân theo mạng lệnh của tôi, hả?
- Đó là nhiệm vụ của anh, anh phải thuyết phục anh em!
Bảy Thâm nổi nóng, hét to:
- Thuyết phục? Gặp giặc thì phải đánh, còn thuyết phục cái gì nữa?
- Những lần như vậy là anh em thấy những người ấy không phải là giặc, mà là đồng bào của mình.
- Không phải giặc thì cái gì hả?
Thế là hai người lại to tiếng với nhau. Và cuối cùng không ai thuyết phục được ai, hai người lại tìm cách bỏ đi. Tình trạng ấy cứ kéo dài. Nội bộ ban chỉ huy mất đoàn kết, anh em cũng mất đoàn kết. Cả hai đều muốn kết đơn vị lại thành một khối, nhưng cả hai đều hành động theo ý nghĩ riêng của mình. Cái kẽ hở của đơn vị mỗi ngày mỗi to ra.
Trong ngày hôm nay, khi nghe tin Sáu Sỏi bị bắt và sắp bị giết, Bảy Thâm vừa thấy tội nghiệp cho Phát, vừa thấy đó là một dịp để đánh gục cái tư tưởng của Phát. Thử xem, nó sẽ nghĩ về những thằng Hòa Hảo Việt gian ấy như thế nào? Có giỏi thì nói chính trị nữa đi?
Nhìn cái vẻ băn khoăn của Phát, Bảy Thâm không giấu được nụ cười.
Phát đang đi đi lại lại, nghe tiếng đàn, anh quay lại. Anh thấy rõ cái nụ cười ác độc của Bảy Thâm. Trong đơn vị, anh thuộc tâm tính từng người một. Anh hiểu Bảy Thâm đang nghĩ gì về mình. Anh thấy khổ tâm.
Mẹ mất sớm, cha đi hoạt động cách mạng, sớm lập thân, vì miếng cơm manh áo, trải qua nhiều nỗi lao đao và được dịp nghe những câu chuyện của những nhà cách mạng, anh sớm hiểu được đời sống của nhiều người. Anh nhớ mãi một cuộc chiến đấu. Một buổi sáng, đơn vị anh dừng lại một xóm nhà bên dòng sông nhỏ. Nhân dân Hòa Hảo nghe bộ đội đến, họ đã tản đi hết rồi. Phát đã qua những xóm nhà vừa xảy ra những cuộc chiến đấu hoặc những cuộc ruồng bố của địch, những ngôi nhà bị cháy, khói còn ngui ngút, một bãi tro đen, những cột kèo bị cháy đứng chơ vơ, tàng cây bị úa, thân cây nằm vắt qua đường, một cái xác chết, một vũng máu còn tanh, mùi thuốc súng còn khét, nhưng anh không bị xúc động bằng cái cảnh hoang của xóm này. Nhà của họ vẫn còn đấy, những ngôi nhà nhỏ nằm nấp dưới bóng cây. Cái sân nhà sạch bóng, điểm một vài chiếc lá vừa rơi. Con đường đất chạy xuyên qua xóm cũng sạch bóng, một đôi chỗ hãy còn dấu vết của đường chổi vừa mới quét và hoa lá vừa rơi rụng. Những tàng cây vô tư lự, xòe lá đón mặt trời. Trong ánh nắng rực rỡ của ban mai, cái cảnh hoang vắng của xóm nhà càng hiện rõ lên. Nhà vắng, đường vắng, dòng sông lạnh và đồng không. Không nghe một tiếng gà, không nghe một tiếng chó. Tất cả đều im lìm. Chỉ còn có khói hương trên những bàn thông thiên trước sân nhà là hãy còn nghi ngút, rồi cũng phảng phất và mất, những cái tàn uốn cong lại. Họ mới vừa đi đấy thôi. Và trước khi đi, họ hãy còn van vái.
Một cảm giác lạnh lẽo và kỳ lạ xâm chiếm lấy tâm hồn anh. Anh thấy mình như đi vào một cái bẫy, anh vừa thấy sợ vừa chua xót. Anh em lính cũng chẳng nói với nhau một điều gì, họ đi nhẹ bước nhưng gấp rút và lặng lẽ.
Dưới bến không một chiếc xuồng. Đơn vị dừng lại dưới bãi, đang tìm cách qua sông thì, bỗng có tiếng tù và rú dài lên, và một tiếng súng nổ, “bốc bùm”, và cũng chỉ một tiếng súng thôi, cảnh vật lại vắng lặng và nặng nề hơn. Anh em đều biết đó là tiếng súng của tín đồ Hòa Hảo. Một tiếng súng nổ rồi im, Phát thấy sợ hơn là những loạt súng điên cuồng của quân đội Pháp. Một tiếng nổ rồi im. Sự im lặng ấy sẽ xảy ra điều gì, và từ đâu đến? Xương sống anh rợn lên. Sau đó một lúc, thì bất thần, tiếng gào thét bỗng dậy lên từ cánh đồng. Đơn vị liền tản ra chiếm lấy những bờ mương. Ngoài cánh đồng, từ xa, một làn sóng người đang chen chúc nhau tràn đến. Gươm, giáo trên tay họ sáng lấp loáng. Họ mặc quần áo màu già và phất một lá cờ già. Đàn ông, đàn bà, nam, nữ, ông già và trẻ con đều có. Họ là nhân dân. Họ không có súng. - Chắc là họ chỉ có một cây súng và một viên đạn thôi.
- Bắn chỉ thiên. - Phát ra lệnh cho những tiểu đội ở gần anh.
- Bắn chỉ thiên. - Bảy Thâm cũng ra lệnh cho những tiểu đội ở gần anh.
Cùng một mệnh lệnh nhưng hai ý nghĩ khác nhau. Phát không muốn bắn vào họ. Còn Bảy Thâm, anh muốn để họ đến gần, cho vừa tầm súng, rồi quét họ ngã hàng loạt.
Nghe tiếng súng, cái lớp người ấy không tan ra, mà lại hùng hổ hơn. Họ gào thét to hơn và tràn đến như một cơn dông, mỗi lúc một gần. Không thể để cho đến gần. Tất cả họng súng đều hạ xuống ngay tầm ngực của họ. Một lớp bị ngã. Lớp sau xô nhau tràn đến. Cuối cùng, tất cả đều rút chạy hết chỉ còn một người thanh niên tay cầm ngọn kiếm cứ hăm hở lăn vào tiếng súng như lân mừng tiếng pháo.
- Đừng bắn! Bắt sống lóc thịt nó! - Có một anh hét lên.
Nhưng người con trai ấy vừa đến trước mắt Phát, nhỏm dậy, vung ngọn kiếm thì có một tiếng nổ. Người con trai đầu chít khăn xanh có thêu hai chữ H ấy lảo đảo, buông rơi ngọn kiếm, một tay bịt lấy vết thương trổ qua tim, một tay xòe ra đưa lên ngang ngực như lúc niệm Phật. Miệng anh lẩm bẩm, giọng run run “Nam mô a di đà Phật!” Anh nằm xuôi xuống, rồi bỗng như chợt nhớ một điều gì cần phải làm trước khi chết, anh cố vùng dậy, nhưng người chỉ uốn cong lên, một tay cất lên run lẩy bẩy, phều phào trong tiếng rên: “Việt Nam - độc lập - vạn tuế!” Anh nằm xuống, buông xuôi, bất động và mặt tái xanh. Ánh nắng rực lên cái xác của anh, những ngọn cỏ dài cúi rạp, lất phất qua gương mặt non trẻ của anh. Nhìn cái chết ấy, Phát đau nhói cả ruột gan và rủn cả người. Đôi mắt anh nóng ran và mờ đi. Anh muốn cúi xuống, ôm lấy cái xác người thanh niên Hòa Hảo ấy, muốn lay anh tỉnh dậy và muốn nói: “Anh đã lầm rồi!” Họ chết cho kẻ thù, mà họ cứ tưởng là họ chết vì đạo vì Tổ quốc!
Nhớ cái chết của người thanh niên ấy, anh cứ nghĩ đến những ngày đen tối của dân làng.
 
Đăng nhập để trả lời
0

X

 
Những ngày đen tối ấy là những ngày cuối năm 1944 đến giữa năm 1945.
Hễ qua một tin đồn, qua một tai nạn xảy ra, thì người làng lại rủ nhau vào đạo. Ngày thường, ô tô Sài Gòn Nam Vang cặp bến một ngày một lần. Sau khi Sài Gòn bị máy bay Huê Kỳ bỏ bom, ô tô từ Sài Gòn chạy về mỗi ngày mươi chuyến, hai mươi chuyến. Tàu cặp bến một ngày hai ba chuyến. Tiếng còi tàu rúc lên nghe như tiếng thét báo động. Tàu cũng như xe, chuyến nào cũng chật ních những gia đình tản cư. Xe ngựa đưa các gia đình chạy loạn ấy về các xóm, xe trước xe sau cứ nườm nượp. Những người đánh xe không biết vì muốn tranh nhau đi nhiều chuyến hay vì bị sợ lây mà họ mất tất cả bình tĩnh. Họ không ngồi trên nệm mà giữ cương nữa. Người đánh xe nào cũng đứng lên, tay lúc nào cũng vung roi quất “rong róc”, rồi bóp kèn, thét ngựa phi nhanh đòi vượt qua xe trước. Tiếng vó ngựa không còn giữ được nhịp điệu giòn giã êm tai nữa. Vó ngựa nghe như loạn, mặt đường lúc nào cũng bốc bụi mịt mù. Thấy những chuyến xe ấy, người ta có cảm tưởng như chiến tranh đang đuổi theo họ và đã sắp đến nơi rồi. Những gia đình chạy loạn ấy, họ mang về cho người làng tất cả tai nạn của chiến tranh trong cách đi cách đứng, cách nói năng và những câu chuyện của họ. Lúc nào và gặp ai họ cũng kể lại cảnh bị bom của Sài Gòn. Họ kể: Ngày ấy, tiếng máy bay rền cả trời đất. Còi báo động nghe như xé tai, xé óc. Tiếng bom như tiếng sấm. Đất rung rinh. Nhà lắc qua lắc lại như đưa võng. Nhà nào không sập thì kiến cũng rạn nứt hết. Những cây me hai bên đường to bằng hai người ôm bị mảnh bom cắt ra làm đôi. Mảnh bom cắt thân cây không bị bựa một tí nào, mặt gỗ bị chém đứt láng trơn như bào vậy - Cây cối còn bị chém đứt như vậy, đầu của con người thì còn ra cái gì nữa? - Người đứng nghe chêm vào một câu, tắc lưỡi và thở dài - Còn người thì bị chết một cách kinh khủng: người bị nhà đè lòi cả ruột gan, người bị chia làm hai ba khúc, người bị tan ra, tay chân bị văng ra móc tòn teng trên các ngọn cây và rơi xuống từng giọt máu trên mặt đường. Mỗi lúc có còi báo động, người ta đạp lên nhau mà chạy, ô tô phóng trên mặt đường như tên, chẹt ai cũng chẳng biết. Sau mỗi lần báo động, người ta bảo nhau đi tìm trẻ con bị đạp chết...
- Bây giờ, ở Sài Gòn, tất cả các vườn hoa đều đào hầm núp. Người nào có bà con gốc gác ở lục tỉnh thì kêu bán nhà bán cửa, bán đồ đạc, bán đổ bán tháo - Cái tủ bằng gỗ giá bán hai trăm bấy giờ chỉ bán hai mươi đồng - để thu vén chạy về quê. Bọn lưu manh thừa nước đục thả câu. Vé tàu vé xe về lục tỉnh phải mua lậu, mỗi vé đắt gấp ba gấp bảy ngày thường. Bọn lưu manh thừa cơ ấy, giả làm nghề đi xách mướn, va li vừa trao tay cho chúng là chúng biến mất. Có người vừa khóc vừa trở lại cái nhà trống trải của mình chờ bom nổ để chết cho rồi! Cũng bọn lưu manh ấy, chúng kéo vào các tiệm ăn, cứ ngồi ăn mãi, ăn “giò chéo quảy xí mại”, xong rồi lại ăn bánh bao, ăn bánh bao xong lại uống cà phê sữa, uống cà phê sữa xong rồi lại uống chè tàu ăn bánh ngọt, chúng ngồi mãi, đợi có còi báo động là đá bàn, đá ghế chạy mất, chẳng phải trả tiền - Đúng là cảnh ly loạn thật! Người nghe lại chêm vào một câu và lại thở dài... Và không biết bao nhiêu chuyện đáng sợ khác nữa. Cũng trong lúc ấy, tin đói của miền Bắc lại tràn vào. Chỉ nghe chứ chẳng ai thấy, những người xầm xì kể cho nhau nghe như là người ở Bắc mới chạy đói về làng vậy. Người ta kể: một bà mẹ kiệt sức ngã ra chết một bên đường, miệng còn ngậm cỏ đã héo khô, quần áo rách như xơ mướp, người dẹp xuống như con khô mực, bao nhiêu khớp xương trong người đều nhô ra, hai gò má nhọn như hai cái bánh ú. Kiến khoét cả hai mắt. Đứa con không biết mẹ mình đã chết cứ bò quanh theo xác mẹ đòi bú. Đàn kiến ở trong hai hố mắt của người mẹ bị động, bò ra khắp người đứa bé. Đứa bé như mặc một chiếc áo màu vàng. Đứa bé bị kiến cắn, da thịt rúm lại, rồi ngã lăn ra bên xác mẹ... Người ta bảo bọn Nhật lấy lúa đem đốt thay cho than đá. Người ngoài Bắc chết như rạ, thây người nằm chật đường.
Trong những nhóm dụm ba dụm bảy, kể cho nhau nghe những chuyện ấy, thỉnh thoảng có một người thở dài và kêu lên những tiếng than:
- Quả là sắp đến ngày tận thế rồi!
Và những người có đạo lại lim dim mắt, đọc chen vào một vài đoạn kinh thơ:
Trong lục tỉnh nghe rền tiếng nổ
Khắp thị thiền không chỗ nào yên
Sài Gòn tiếng nổ đầu tiên
Làm cho các tỉnh ngả nghiêng tan tành...
Người chạy loạn từ Sài Gòn về mỗi ngày một đông, câu chuyện về những tai nạn của chiến tranh của nạn đói càng ngày càng nhiều. Giá gạo, giá củi cũng như thịt cá rau cải ở thị trường mỗi ngày mỗi tăng cao. Ruộng bị bỏ hoang, đời sống của tá điền càng ngày càng eo hẹp, cái gì còn lại trong nhà cũng đem ra bán. Nhiều tá điền mang một ít vàng của ông bà để lại đem ra chợ bán, lấy tiền, bơi xuồng qua những làng bên Tháp Mười mua về một ít lúa - Người làm ruộng bây giờ lại phải đi mua lúa!
Có một đêm Phát gặp Hằng dưới gốc cây vông, Hằng nắm lấy tay Phát bảo:
- Anh sờ vào tai em thử xem!
- Gì đấy em?
- Đôi bông (1) của em bán rồi!
Và Hằng khe khẽ lắc đầu rồi ngả đầu vào ngực anh, hình như muốn khóc. Phát vuốt mái tóc Hằng, an ủi:
- Thôi em đừng buồn. Đến đám cưới, anh sẽ bảo bác Hai làm cho em một đôi đẹp hơn.
Hằng lắc đầu:
- Không phải em muốn nói với anh như vậy đâu. Nhà không còn gì nữa. Em sợ nhà em rồi sẽ đói!
- Không đói đâu.
- Sao anh biết?
Phát chẳng biết nói sao, chỉ biết lo buồn và đứng im.
- Nếu nhà em bị đói, em sẽ ốm (2), tóc của em sẽ bị rụng, tóc của em không dài nữa, em sẽ... anh có còn thương em nữa không, hở anh?
Hằng không nói được những tiếng bị nghẹn, nhưng Phát hiểu Hằng muốn nói rằng mình sẽ xấu đi, lòng anh nao nao, anh thấy thương Hằng quá. Anh cúi hôn nhẹ lên mái tóc Hằng:
- Anh lại càng thương em nhiều hơn chứ!
- Có thật không anh? Nếu mà như thế thì em không cho anh thấy mặt nữa đâu!
- Em đừng sợ! Không đói đâu.
- Vì sao anh biết?
- Rồi em sẽ thấy.
- Thật hở anh?
- Thật!
Hằng liền ngửa mặt, nhìn vào đôi mắt của Phát. Phát thấy rõ ánh sáng từ đôi mắt u buồn của Hằng lóe ra lấp lánh. Anh không thể quên được cái nhìn hy vọng ấy của Hằng...
Những ngày ấy, đời sống của dân làng mỗi lúc mỗi nghèo. Trước đấy, đêm đêm, những nhà giàu thắp đèn “măng sông”, nhà kém hơn thì thắp đèn khí đá, còn tất cả thì thắp bằng đèn dầu lửa: đèn hoa kỳ, đèn trứng vịt. Lúc ấy, dầu lửa, khí đá không còn. Đêm, người ta thắp đèn bằng mỡ heo. Đèn là một cái chén hoặc một đĩa bể, đựng một ít mỡ và tim đèn là một sợi giẻ rách được xe lại. Ngọn đèn nhỏ như hạt đậu leo lét mập mờ. Ánh sáng của ngọn đèn như ánh sáng của cuộc đời vậy(!) chẳng biết tắt vào lúc nào!
Số phận của con người bị thay đổi như lật bàn tay. Kẻ giàu người nghèo, kẻ được trọng người bị khinh hầu như bị lật ngược lại. Ở chợ có ông Hai Song, một mình mà làm không biết bao nhiêu thứ chủ: chủ xưởng sửa chữa ô tô xe đạp, chủ tiệm cầm đồ, chủ tiệm may, chủ chợ... Ông là một trong những người nổi bật nhất trong làng. Người ông to lớn, đầu hớt trọc, bụng to. Có lẽ vì bụng ông to quá, nên ông ít khi mặc quần, ông thường vận chiếc xà rông tơ và có lẽ vì béo quá, mỡ nhiều, ông cũng ít khi mặc áo, ông chỉ mặc một thứ áo lót ba lỗ thôi. Ngang hông ông thắt sợi thắt lưng da mỏng và đeo một xâu chìa khóa, ông đi đến đâu, chùm chìa khóa kêu xủng xẻng đến đấy. Người lôi thôi như vậy, nhưng ông đi đến đâu người ta chào đến đấy: “Ông Hai, chú Hai, cậu Hai, bác Hai”. Trong làng có đình đám gì, các vị trong hội tề cũng đều nài nỉ ông đến dự. Ông ngồi đâu, nổi bật lên đến đó, to béo và thù lù như ông địa. Người xuềnh xoàng vậy, chẳng những giàu mà lại học cao nữa. Người làng bảo ông ta nói tiếng Tây nghe như chim chìa vôi. “Cò mi” ở làng và quan quận Ghiđi người Tây mà nói tiếng Tây không đúng “luật lệ” bằng ông ta. Thật ra thì ông ta chỉ nói tiếng bồi thôi. Đồng tiền đã làm sáng thêm cái tài học của ông! Ông ta có hai vợ, hai dòng con. Mỗi vợ ở một nơi. Vợ lớn ở phố, vợ nhỏ ở ngoại ô. Hai bà vợ và hai dòng con của ông ta sống với nhau rất êm ấm. Hai dòng con của ông ta, trên dưới mười hai người, năm trai bảy gái. Các cô gái cô nào cũng diêm dúa, vòng vàng nữ trang lúc nào cũng đỏ cổ đỏ tay, nay kiểu này, mai kiểu khác, Sài Gòn có kiểu nào, các cô có kiểu ấy. Đi đâu, người ta cũng thấy các cô, không cô này thì cô nọ. Con của ông ta cô nào cũng xảnh xẹ. Còn các cậu con, đứa đi học ở tỉnh, đứa đi học ở Sài Gòn. Mùa hè, ông cho xe đến tận các trường đón con về. Các cậu về làng thôi thì phải biết. Cách sống của các cậu thật khác thường. Các cậu đi câu cá bằng ô tô mui vải. Các cậu hát nhạc Tây. Ban đêm quay đĩa hát Tây, các cậu ôm lấy các em gái mà nhảy đến giữa khuya. Người ta hơi ngờ con trai con bà lớn “tò tí” với con gái con bà nhỏ. Và các cậu đi phá gái làng.
Người ta chẳng hiểu ông ta bị phá sản vào lúc nào.
Đến những ngày ấy người ta chỉ thấy các cửa tiệm, cửa xưởng của ông đều đóng cửa. Xưởng sửa chữa của ông chỉ còn là căn phố trống. Ông kêu bán từng thanh sắt. Ngôi nhà sàn của bà vợ nhỏ ở ngoại ô, ông cũng kêu bán, cả hai bà vợ về ở chung. Chủ chợ ông nhường cho anh Bảy Chà và đen. Bảy cô con gái ông ta bán vòng bán vàng đi lúc nào chẳng ai biết, cả bảy cô đều xoay ra nghề bán bánh kiếm ăn. Cô bán bánh kẹp, cô bán bánh tầm, cô bán cháo, cô bán trái cây, cô nhỏ nhất thì bán thuốc lá. Mỗi cô ngồi một góc chợ, vừa đứng bán, vừa xấu hổ không dám mời mọc, không dám nhìn mặt người mua, khăn trùm kín cả mặt. Còn hai cô đẹp nhất, diêm dúa nhất, nghe nói đã đi làm tiền ở đất Sài Gòn. Các cậu con trai không hiểu đi đâu, chẳng thấy về. Có người bảo anh đi làm thư ký, anh đi đánh đàn cho người ta nhảy, anh đi dạy học ở trường tư, một anh không nghe tông tích, còn một anh thì lang thang chẳng biết làm gì. Hai bà vợ của ông ta cũng chẳng êm ấm với nhau nữa. Hai bà đã đánh nhau, xé tan cả áo của nhau, bà lớn xách guốc đuổi bà nhỏ chạy cùng các phố. Người ta cũng chẳng nghe thấy tiếng xủng xẻng của xâu chìa khóa ông ta nữa.
Suốt ngày ông ta ngồi ru rú trong nhà.
Một anh thợ, trước làm công cho ông ta, bây giờ lại phất lên. Anh thợ ấy đã mua lại chiếc ô tô mui vải của ông. Chiều chiều, anh thợ ấy, chở cả con cái chạy khắp cả làng, chạy đến đâu kèn bí bo tò te đến đấy. Cô gái ở trong nhà ông, người ta chẳng để ý cô bé ấy lớn lên vào lúc nào, trong những lúc ấy, người ta thấy cô bé Nhung ấy bỗng trở nên đẹp nhất làng. Những trai làng, trước đã mê các cô con của ông, bây giờ lại đâm mê người con gái ở của ông. Chuyện gia đình ông Hai Song làm xôn xao cả chợ cả làng. Trong làng, có một số nghèo đã bỏ đi, lúc ấy, khi trở về, mỗi người có mỗi kiểu phất khác nhau, ở chợ có một “lăng-ton” của nhà việc. Anh tên Dẫm, người không cao lắm nhưng gầy nên thấy cao lêu nghêu như sậy, lúc nào cũng mặc cái quần “soóc” ka ki vàng lốm đốm những miếng vá. Làm lăng ton, anh luôn luôn bị hội tề sai vặt, bị chửi bới và đánh đập. Làm nghề lăng ton không khá, không đủ nuôi vợ con, anh xin ra làm bồi cho nhà ngủ. Làm bồi cũng không khá, anh đâm ra ăn cắp, rồi bị bắt, bị đóng trăng. Mãn tù, anh bỏ đi đâu chẳng biết, khi trở về, anh mặc quần áo nhà binh Nhật, đội mũ Nhật, gươm đeo bên hông, kéo rà rà dưới mặt đường. Hội tề gặp anh cứ lấm lét. Có người thấy gươm anh, sợ quá, chắp tay chào. Như thế anh thấy chưa đủ, anh còn rút gươm ra rồi lắp gươm vào, hếch mặt, cười cười rồi lại lê gươm đi nơi khác. Anh trả thù lại họ bằng cách đi vay tiền. Anh vay bao nhiêu, họ đưa bấy nhiêu, chẳng dám nói một lời.
Lúc nào người ta cũng thấy anh mang gươm đi nghênh đi ngang ở giữa các đường.
Những chuyện ấy làm xôn xao cả chợ cả làng. Những người tín đồ Hòa Hảo lấy những chuyện đó để nói rằng: Đã sắp đến ngày đổi đời rồi, y như lời dạy của kinh sấm. Họ đọc ra những câu kinh sấm, dẫn chứng bằng những chuyện ấy.
Cuộc trần thế khuyên ai sớm ngắm,
Danh mà chi lợi lắm mà chi,
Bả công danh bọt nước có ra gì,
Mùi phú quý vừng mây tan hiệp...
Cùng trong lúc ấy, tín đồ Hòa Hảo lại đồn ra một tin: Ngày tận thế sắp đến rồi. Ngày ấy sẽ đến trong những ngày đầu năm 1945 này. Ngày ấy trời đất sẽ tối mịt mù, trời đất sẽ tối sầm lại trong ba ngày đêm liền. Trong cái đêm dài ấy, bọn quỷ sẽ đi bắt hồn những người ngoại đạo. Tin ấy, người ta nói đi nói lại mỗi ngày mỗi nhiều. Chuyện về những tai nạn của chiến tranh, của nạn đói mỗi ngày mỗi ít đi, người ta có nhắc đến là để lấy đó làm bằng chứng để chứng minh cho ngày tận thế. Ngoài chợ, ngoài đường, trong nhà, các tiệm ăn, bóng cây, bến xe, bến tàu, đâu đâu hễ chỗ nào có nhóm ba nhóm bảy là người ta nói với nhau về cái tin đồn ấy. Người ta nói với vẻ mặt lo lắng và sợ sệt. Tin ấy như một đám mây đen kéo đến, xâm chiếm tất cả tâm trí mọi người. Đôi mắt của dân làng trở nên tăm tối và u buồn. Và người ta lo chuẩn bị cho cái đêm dài ấy. Lão Ịnh, Quản Dõng và người trong đạo bảo nhau: “Đêm ấy, nhà không được có khói. Hễ có khói thì quỷ sẽ vào”. Thế là người ta bảo nhau làm lương khô. Người ta xay bột làm bánh tổ, phơi cơm và chen nhau mua cá làm khô. Người ta tranh nhau đi mượn cối xay, nếu không mượn được thì mướn. Những chiếc cối xay của những gia đình sống bằng nghề bánh tầm, bánh xèo, bánh khọt... không bao giờ được nghỉ, lúc nào cũng có người ra người vào, bột vây trắng cả áo quần. Trên các sân nhà, nhà nào cũng để phơi ngoài nắng một nia cơm, hoặc một nia cá, một quày bánh tô - Những con người ác nhất, sống không lương thiện thì bấy giờ lại rối rít nhất. Hình như ho biết tội lỗi của ho, nên họ sợ. Nhà Quản Dõng lúc nào cũng có người thay phiên nhau đến xay bột, làm bánh. Quản Dõng đưa bánh tổ lên xe ngựa, đem bố thí cho các gia đình nghèo.
Những người trước đây tỏ ra không mê tín, trong cái cảnh nhốn nháo xung quanh ấy, bây giờ cũng đâm ra lo lo. Họ không hẳn tin, nhưng rồi cũng phơi cơm và làm luôn bánh tổ như tất cả mọi người. Họ bảo khẽ với nhau: “Nếu không có gì thì cũng của mình, có mất đi đâu, nếu có thật thì cũng có mà ăn với người ta!
Những ngày ấy, Phát thấy đàn ông trong làng để tóc mỗi ngày mỗi nhiều, người mặc quần áo màu già mỗi ngày mỗi thêm đông. Người mặc áo trắng, áo hoa bỗng trở thành lạc lõng và xa lạ. Những ngày ấy, gia đình của Hằng đến Quản Dõng và lão Ịnh xin vào đạo, Hằng cũng vào đạo. Trước sự lo lắng của một tình thương mù quáng, anh không nỡ từ chối, nhưng anh cũng không muốn vào đạo. Do đó, anh đã bỏ nhà, bỏ xóm Đình, trở về chợ ở với người khác.
Tất cả sinh hoạt của cuộc sống bình thường đều bị ngưng lại.
Thợ cắt tóc bị thất nghiệp, có người xoay qua nghề làm tóc giả cho những người mới xin vào đạo mà muốn có ngay một mái tóc dài. Thợ mộc dẹp tất cả bàn ghế, lo đóng bàn thông thiên và trang thờ cho những người mới vừa quy y theo Phật. Những người trai tráng trong đạo tập hợp ở các sân học võ, dạy võ và dượt võ để chuẩn bị thành lập một đội quân của nhà Phật. Người ta cầm kiếm, đi ngựa, vác gậy, rủ nhau, kêu nhau nghễu nghến các ngả đường. Có những người thuộc đạo khác bấy giờ cũng đã bỏ đạo của mình mà theo đạo Hòa Hảo. Ông Tám Thế, thầy thuốc Nam, người bé nhỏ, mặt rỗ, trẻ con nghịch ngợm thường hay gọi trêu ông ta là ông Tám té thùng đinh. Ông vốn là tín đồ đạo Cao Đài, thờ một con mắt, lúc nào cũng mặc quần áo trắng, mũ trắng, cổ quấn khăn trắng và giầy cũng trắng - đấy là trang phục của đạo Cao Đài - Gặp ai, trong câu chuyện, bao giờ ông cũng nhắc đến Cường Để. Cường Để đang ẩn náu ở đất “Nhật Phù Tang”. Cường Để là bạn của Thiên hoàng. Quân Nhật sang Đông Dương là quân Cường Để đã mua của Thiên hoàng - Quân Nhật đánh đâu thắng đó, đánh như chẻ tre. Người Nhật là giống da vàng máu đỏ. Người Nhật là người khí khái, dám mổ bụng móc lấy ruột cho mọi người xem. Người Nhật là người có chí lớn. Người Nhật đi học ở các nước Tây, lấy được “âm mưu” làm máy móc của các nước ấy, vì không mang về nước nhà được, có người đã nuốt vào bụng rồi tự vận chết để cho Thiên hoàng mổ bụng lấy ra. Và còn bao nhiêu chuyện khác nữa của người Nhật, gặp ai ông cũng tuyên truyền cái thế lực của Nhật và kết luận: “Nhật sẽ đưa Cường Để về làm vua”. Ấy thế mà lúc bấy giờ ông lại bỏ đạo Cao Đài, xin theo đạo Hòa Hảo. Tấm trần một mắt ở giữa nhà, ông kéo xuống và thay lên đó một tấm trần điều. Hương trầm ông đốt nhiều hơn. Bao nhiêu quần áo trắng ông nhuộm lại màu già, ông nhuộm cả mũ và cả giày nữa. Đi đâu gặp ai, ông cũng bảo: “Có lẽ tôi lầm. Tôi theo đạo Cao Đài gần hết một đời người rồi, mà chẳng thấy gì, bây giờ tôi xin quy y theo đạo Hòa Hảo”. Chuyện ấy cũng làm xôn xao cả làng. Người ta thấy đạo Hòa Hảo như thiêng liêng hơn.
Cuộc sống mỗi ngày mỗi rối lên. Mỗi chuyến ô tô về, mỗi một chuyến tàu cặp bến, bao nhiêu người về chợ, về làng là bao nhiêu thứ tin tức, bao nhiêu chuyện tai nạn của chiến tranh, của nạn đói và đủ thứ lời bàn khác nhau. Người thì ca ngợi chiến thắng của Nga, của Đồng minh, người thì tung hô chiến thắng của Nhật Bổn, người lại bảo rồi đây sẽ xuất hiện một ngọn cờ mới, ngọn cờ của cách mạng, cụ Nguyễn Ái Quốc sẽ trở về, người lại bảo Nhật sẽ đưa Cường Để về làm vua, người lại nói: đền vua sau này sẽ mở ra ở núi Cấm.
Người làng chẳng biết nghe ai và tin ai. Những thứ tin tức, tin đồn và lời bàn ấy từ các nơi thổi về như một con trốt xoáy tròn lấy ý nghĩ và tình cảm của con người. Bảy Hĩ, một ông chủ tiệm buôn hàng tạp hóa, chẳng biết theo ai, bèn cho ba đứa con, mỗi đứa vào mỗi đảng, mỗi phái khác nhau. Đứa con lớn ông cho đi học tiếng Nhật, đứa kế ông cho theo đạo Hòa Hảo, đứa con thứ ba thì ông cho đi tìm đoàn thể bí mật. Còn bản thân ông, ông đứng giữa để mà nhìn “cuộc sống thế” như lời ông nói. Bên nào thắng ông cũng được phần.
Người ta đang xôn xao, rồi bỗng có một hôm cả làng đều nhốn nháo lên một tin đồn: ông đạo Cậy vừa đến làng. Ông đạo Cậy chính là người sẽ thành một con sấu khống lồ trong những ngày tối trời. Người ta bảo: sau ót ông đạo Cậy đã nổi thành vẩy rồi, giống y như vẩy sấu vậy. Ông đạo Cậy đang đứng ở bến xe. Thế là người làng rủ nhau, kéo nhau, kêu nhau, chạy ra bến xe tìm ông đạo Cậy. Người ta chạy bộ, người ta đi xe đạp, người ta đi xe ngựa, chen lấn nhau đổ ra bến xe.
Bến xe đông nghịt hàng mấy nghìn con người. Ra đến nơi, người ta không thấy ông đạo Cậy, người ta không thấy được con người sau ót có vẩy sấu. Người ta bảo: ông đạo Cậy mới vừa lên xe đi đấy thôi. Người ta bảo ông đạo Cậy đi xem lại các dòng sông. Trong số người nhốn nháo ấy như là có người mới vừa thấy ông ấy vậy. Người ta đồn, rồi người ta bàn và người ta tin theo những lời bàn của mình.
Sau đó người ta lại làm lương khô nhiều hơn.
Có những gia đình sợ quá, dỡ cả nhà cửa, bỏ làng, gồng gánh dắt díu nhau về đất Láng Linh, đất Hòa Hảo - đó là những làng được gọi là đất Phật - để được gần với Phật hơn. Người trong nhà thấy vậy, chạy theo họ, hỏi thăm đường đi đến đất Phật, rồi người ta tìm nhau bàn bạc xầm xì, người ta hỏi nhau về con đường sống, sống thế nào, đi đâu và làm gì?
Người ta không muốn sống trên mảnh đất này nữa. Người ta không thể nào ngồi yên đứng yên một chỗ. Đứng chỗ này một lúc, nói một vài câu về ngày tận thế, rồi bỏ đi đến một nhà khác hỏi một vài câu, rồi lại bỏ đi, đi lang thang, đi hấp tấp, tìm một nhóm ở đầu xóm, cuối xóm, bến xe, bến tàu, các tiệm nước, tiệm rượu... Người ta lúc nào cũng chộn rộn như là đứng trên mảnh đất lửa vậy.
Rồi cái ngày tận thế ấy đến.
Ngày hôm ấy, ngoài đường không một người, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe chạy vụt qua đường. Đêm đến, trời chưa tối mà cả bàn thông thiên đều nghi ngút khói hương. Nhà im thin thít. Người ta không dám qua lại, không nói to, không dám gây ra tiếng động và cố dỗ cho trẻ con nằm im. Tiếng động chỉ còn tiếng sóng, tiếng gió và tiếng chó thỉnh thoảng tru lên ông ổng. Tất cả đều ngồi trong nhà và thu người lại. Nhà cửa cây lá như cũng muốn thu lại cho nhỏ hơn và gần nhau hơn.
Đêm ấy, Phát không tin, nhưng anh cứ thấy lo lo. Anh không dám ngủ, thỉnh thoảng lại hé cửa ra nhìn trời, trời vẫn cao, vẫn trong xanh và đầy sao nhưng mênh mông và vắng lạnh. Cứ trằn trọc mãi rồi anh cũng thiếp đi. Vì thức nhiều, nên anh ngủ quên. Khi tỉnh dậy, nhớ đấy là một đêm dài để đổi đời anh không dám choàng dậy. Trời đã trưa rồi mà anh chẳng biết. He hé mắt, anh thấy vệt nắng xuyên qua màn. Có nắng! Anh choàng dậy. Bao nhiêu nỗi lo lắng, liền tan đi. Và anh nhìn cái ánh nắng với một cảm giác ngỡ ngàng. Có nắng rồi! Anh kêu lên, báo cho mọi người biết cái tin mừng ấy. Anh vùng dậy, chạy ra ngoài. Nắng như ngập đầy cả mọi nơi. Nắng lấp lánh trên các chòm cây. Nắng lấp lánh trên dòng sông. Nắng vàng như mật. Chưa bao giờ, Phát và người làng yêu ánh sáng mặt trời đến như thế.
Hầu như tất cả người làng đều đứng ra sân phơi nắng, họ vừa mừng vừa ngơ ngác lạ lùng.
Tưởng rằng đấy là một cơ hội tốt để đánh thức những người mê tín. Nhưng không, liền trong buổi sáng hôm đó, người trong đạo lại đi khắp các nhà, các nơi, bàn luận lại cái tin đồn ấy. Họ bảo kinh sấm có dạy năm dậu là năm đổi đời, dậu này chưa đổi đời thì tức là năm dậu của con giáp sau. Tức là còn mười hai năm nữa. Họ bảo nhau như thế vừa để tự an ủi, để khỏi phải xấu hổ, vừa để củng cố niềm tin cho họ và mọi người. Còn mười hai năm nữa, mọi người còn có đủ thì giờ để ăn năn hối lỗi, còn thì giờ để rũ sạch bụi trần, còn thì giờ để hương khói, còn thì giờ đi tìm những dấu chân của Phật thầy... Ánh sáng của mặt trời không chiếu tan nổi đám mây đen trong tâm hồn họ...
Những ngày ấy, ôi! nếu anh không được gặp những người bạn của cha anh, thì cái năm tan tác đã qua - cái năm đã xảy ra nhiều tai họa, tai họa của ngày khởi nghĩa bị thất bại, tai họa của chiến tranh đang tràn đến, tai họa của cảnh đói đang hăm dọa, tai họa của cảnh chết vì nạn dịch, tai họa của những cảnh chia ly - thì biết đâu, trong cái đêm tối của đời sống, anh cũng đã bị những câu kinh buồn thảm ru ngủ anh, mê hoặc anh, đưa anh đi tìm một con đường sống ở cõi hư vô và số phận của anh cũng sẽ đáng thương như người thanh niên ấy. Những người bạn của cha anh, đều mang đến cho anh một ánh sáng, một ánh sáng nhỏ, nhưng không bao giờ bị tắt và ánh sáng ấy đã đưa anh đi. Anh là người may mắn hơn họ. Rồi anh chợt nhớ đến Hằng và những người cùng làng. Anh hiểu vì sao họ vào đạo, anh hiểu rõ từng cuộc đời, từng hoàn cảnh riêng của họ. Cái chết của người thanh niên ấy cứ ám ảnh anh. Biết đâu, rồi anh sẽ lại gặp Hằng, hình ảnh của Hằng và hình ảnh của người thanh niên ấy cứ cùng hiện trong một lúc, rồi lẫn lộn vào nhau, gây cho anh một mối lo sợ và nỗi đau đớn cứ giày vò anh. Hãy thương lấy họ. Hãy tha thứ cho những hành động mù quáng của họ. Hãy quay mũi súng về kẻ thù. Anh muốn nói những lời tha thiết ấy với mọi người, anh muốn van xin với tất cả mọi người. Hãy đến những người lầm lỗi ấy với một lòng yêu!
Có một số đảng viên đã nghe theo anh.
Nhưng, trong những cuộc xung đột đã xảy ra, anh em đồng chí chung quanh, ai ai cũng đều bị một vết đau. Có người, cả gia đình cha mẹ, vợ con và anh em đều bị giết, ít nhất là một trong những người thân thuộc bạn bè. Những cái xác chết vẫn còn trôi nổi trên dòng sông. Những đứa bé đầu chít khăn tang hãy còn thất thểu trên đường. Những người vợ góa chồng hãy còn vừa lau nước mắt vừa ôm con đi tản cư, những ngôi nhà hãy còn đang bốc cháy. Tất cả những hình ảnh ấy như đang kêu gọi những người còn sống hãy trả thù. Thế là càng ngày càng xảy ra những cuộc xung đột lớn. Những hành động trả thù mù quáng, những hành động không cộng sản đều được đổ dồn lên đầu những người cộng sản, và những người cộng sản phải mang lấy tất cả! Dòng máu căm thù của người chung quanh cứ cuồn cuộn như một dòng suối lũ. Anh và những người như anh đã cố hết sức dang tay cản lại, nhưng bất lực và yếu sức, nhiều lúc anh đã bị dòng suối lũ ấy cuốn đi.
Sáng nay, nghe tin cha anh bị bắt và sắp bị giết, anh bàng hoàng cả người. Trong anh em đã có tiếng xì xào: “Thử xem ông ấy có thù cái bọn Hòa Hảo không, cho biết!”. Cuộc đời của anh chỉ còn có cha, anh yêu cha, anh muốn cứu cha anh ra khỏi cái chết, nhưng anh vẫn giữ vững được tình cảm và ý nghĩ của anh đối với người Hòa Hảo. Anh thấy đau đớn và cay đắng hơn thù hằn họ. Đôi lúc anh không muốn tự mình đưa đơn vị về làng. Nếu cha anh có bề gì, anh sợ không kìm được lòng mình, anh không muốn người làng phải chết khi anh trở về. Huyện ủy, từ lâu vốn rất tin anh, nhưng lần này, các đồng chí cũng thấy ngại như anh. Nhưng không cách nào khác hơn. Các đơn vị khác đang ở xa, không thể nào về làng anh kịp trong đêm nay. Trước khi đơn vị rời khỏi chỗ đóng quân, đồng chí phó bí thư huyện ủy - bạn già của cha anh - đứng dưới bến, cầm tay anh rất lâu, với giọng ân cần, đồng chí đã dặn dò:
- Huyện ủy từ lâu rất tín nhiệm cháu, đây là một hoàn cảnh khó khăn, cũng là một lần thử thách, cháu nên cẩn thận.
Trong cái bàn tay siết chặt và giọng nói buồn buồn của đồng chí phó bí thư, tự dưng Phát bị xúc động mạnh và chẳng hiểu sao anh muốn khóc.
Trên đường hành quân, anh chỉ nghĩ đến người cha. Mọi lần, mỗi khi hành quân, được ngồi trên xuồng, đi đến đâu, anh cũng nhìn cảnh vật. Anh hay chú ý đến những mùa hoa, thường hay hỏi anh em những cây cỏ lạ mọc theo ven sông. Lần này, anh chẳng thấy gì hết. Hai bên ven sông, chỉ là một màu xanh. Anh chỉ ngồi im, mắt đăm đăm và thẫn thờ.
Phát vốn có cái tính bình tĩnh, đứng trước một việc gì, anh cũng đều suy xét thận trọng, kỹ lưỡng, anh đào sâu sự việc đến tận gốc, nhận định một việc gì, rất ít khi bị nhầm lẫn. Nhưng lần này, nhận định về số phận của cha anh, anh chẳng căn cứ vào một điều gì cả. Trong những ngày này, cái việc bắt giết những người kháng chiến đối với người Hòa Hảo là một việc thông thường, đã thành là một việc tất nhiên. Họ đã nêu khẩu hiệu: “Thà giết oan chứ không thả oan”. Phát như quên tất cả những điều đó. Anh vẫn tin là cha anh sẽ không thể chết được, hai cha con sẽ gặp lại nhau. Niềm tin của anh không căn cứ nhưng chắc chắn, không gì lay chuyển nổi. Không phải là anh không nghĩ. Nhưng mỗi khi chợt nghĩ đến điều không may sẽ xảy ra, anh liền dập tắt ngay, cố bảo vệ cho trọn vẹn cái niềm tin của mình.
Cha anh không thể nào chết được! Anh cứ nghĩ như thế và cố nghĩ như thế.
Phát mồ côi mẹ từ năm lên bốn. Mẹ anh chết sau một cơn đau bụng quằn quại - Bà nội anh kể lại như vậy. - Anh không thể nào nhớ được tình yêu của người mẹ. Mẹ anh mất đi, chẳng để lại cho anh một dấu vết gì, để từ đó, anh lần mò ra hình ảnh và tình yêu của mẹ. Tình yêu đối với mẹ, anh dồn tất cả cho người cha. Cha anh sớm giác ngộ cách mạng, ít khi ở nhà, lúc thì xách cái hòm cắt tóc, đi lang thang từ làng này sang làng khác, khi thì lẩn tránh hằng năm, khi thì bị tù đày. Lúc còn nhỏ, Phát thường ở với nhà người bà, được sự chăm sóc của bà. Người bác cho anh ăn học. Tuy xa cha, nhưng Phát biết rất rõ về cuộc đời của cha, Phát biết cả những câu chuyện của cha mình lúc hãy còn bé nữa kia! Năm lên chín, lên mười, đến lúc biết nghĩ, đêm đêm, bà thường kể cho anh nghe về cuộc đời của cha anh. Bà anh có sáu người con, nhưng chỉ nuôi được hai người. Giọng của bà nghe như kể chuyện thần thoại, Phát ngồi trọn trong lòng bà, lắng nghe từng tiếng một và hình ảnh của người cha cứ hiện ra trước mắt anh. Bà anh kể “- Hai anh em thật khác nhau. Người anh vui vẻ, hoạt bát và lanh lợi. Người em - cha anh - trầm lặng, ít nói, đôi mắt lúc nào cũng phảng phất một nỗi buồn. Lớn lên, người anh chọn nghề thợ bạc, một cái nghề dễ làm giàu. Người em không thích chọn nghề gì, tối ngày cắm cúi trên trang sách, những quyển sách cấm và đọc cho đến khi đèn cạn hết dầu. Đến năm phải đi kiếm ăn, chưa có nghề gì, người em đi thu thuế chợ cho một người bà con xa. Người em đã trở thành là người góp chợ thuê. Những buổi đi thu tiền, người góp chợ có để ý đến một cô gái bán bánh cam. Đó là cô gái người mảnh khảnh và hiền từ. Người góp chợ đòi bao nhiêu, cô trả bấy nhiêu, cô không hề giật nài, không cười cợt, không có lời đanh đá như những cô bán hàng khác. Cô gái ấy mồ côi từ bé, ở với người dì trong xóm ruộng. Người góp chợ đem thương cô gái mồ côi. Nhân lúc thu tiền, người góp chợ đã để rơi lại một lá thư. Lá thư là một tờ giấy trắng, không thấy một dòng chữ. Lá thư ấy viết bằng nước chanh. Đêm khuya, một mình ngồi chiên bánh, người con gái đem lá thơ giấy trắng ấy hơ lửa. Những dòng chữ từ từ nổi lên. Và hai người yêu nhau. Nhưng người dì của cô gái ấy không chịu gả, vì hai người cùng một họ Nguyễn, cùng một họ là người cùng một dòng máu, không lấy nhau được. Người góp chợ buồn quá, bỏ làng đi, rồi học lấy cái nghề cắt tóc. Người con gái mồ côi ấy không chịu lấy ai, cứ chờ mãi người góp chợ, nhưng không thấy người góp chợ trở về. Người con gái mồ côi ấy mỗi ngày mỗi héo hon, rồi định bỏ nhà đi tu. Người dì thấy vậy, liền cho người lên đánh tiếng với đàng trai. Người góp chợ thuê trở về với một cái hòm cắt tóc. Hai người thành vợ chồng. Hai người dựng lên một mái nhà nhỏ ở mé sông. Chồng đi cắt tóc, vợ bán bánh cam. Hai năm sau, hai vợ chồng ấy sanh được một đứa con trai, đặt tên là Phát. Đến năm đứa con lên bốn thì mẹ của đứa nhỏ qua đời. Người cha cứ ở vậy nuôi con. Nhưng người cha là người lo việc nước, lận đận lao đao, vào tù ra khám. Hai cha con không mấy lúc được gần nhau. Đứa bé phải ở lại với bà và làm khổ cho cái thân già!”.
Bà kể đến đây thì dừng lại, suỵt bảo im, rồi nghiêng tai nghe ngóng. Bà bỗng chồm dậy:
- Ai như là cha con về!
Phát chạy theo bà ra mở cửa. Nhưng bên ngoài trời vẫn tối. Tiếng động mà bà nghe là tiếng lá rơi trước sân nhà.
Bà anh đã chết rồi, nhưng anh vẫn nghe mãi cái giọng buồn buồn của bà.
Phát chịu đựng tất cả cái thiếu thốn của một đứa bé mồ côi. Rồi cha sẽ lại về thôi! Phát đã biết tự an ủi mình. Phát nhẫn nhục và chờ đợi. Rồi, bất thình lình, nửa đêm, cha anh trở về thật. Có một lần, đang ngủ, nghe cái cảm giác có người cúi hôn mình, Phát liền choàng dậy, dang tay và ôm chặt.
- Con biết ai mà ôm chặt dữ vậy? - Bà vừa cười vừa khóc, hỏi anh.
- Cha! Con nghe hơi là con biết mà.
Có cha về, những ngày tủi nhục được bù lại. Phát hãnh diện với bạn bè về những món quà của cha. Những món quà rẻ tiền: một hộp bút chì màu, một quyển sách con gà... nhưng đó là quà của cha. Đến ngày khôn lớn, bà mất, hai cha con về dựng nhà ở xóm Đình, anh đi học nghề thợ mộc, cha đi cắt tóc, lần đầu tiên hai cha con được sống với nhau trong ba năm. Rồi Nam Kỳ khởi nghĩa. Cha anh lại bị bắt. trở về ở với người bác độ nửa năm, tự thấy mình cần phải có một nghề và nhớ cô con gái ở cạnh nhà, anh lại trở về với cái ngôi nhà nhỏ của mình. Nghe nhiều người bị giết, anh không tin là cha mình trở về nữa. Nhưng anh vẫn chờ đợi và hy vọng. Đến Cách mạng Tháng Tám thành công, tù Côn Đảo về làng, anh gặp lại cha. Cuộc đời của anh ấm hẳn lên. Anh đã khôn lớn rồi - đã trở thành một đảng viên cộng sản như cha - nhưng lớn khôn đến mấy, khi được gặp cha, anh vẫn là một đứa trẻ con. Anh muốn mách với cha những điều đã xảy ra, muốn khoe với cha những việc làm, và thấy tiếc tại sao mình lại quá lớn, để bị mất những cái hôn. Từ đó đến nay, hai cha con, mỗi người mỗi việc và lại xa nhau. Hai cha con sống với nhau ít quá! Cha anh không thể nào chết được!
Đi đi lại lại dưới tàng cây vú sữa, anh cứ nghĩ như thế. Anh tìm đủ lý do để gây dựng cho mình một niềm tin. Cha anh trở về với giấy tờ của người lãnh tụ của họ. Họ mê tín, họ tin “Phật thầy”, họ không dám giết người có mang đầy đủ giấy tờ của “Phật thầy”. Cha anh về một mình với một chiếc xuồng, không có gì khiêu khích họ. Cha anh là người làng. Và ở xóm còn có những người không mù quáng. Hằng, Phú, lão Ịnh, ông Năm Bầu. Có việc gì, những người ấy sẽ cứu nguy cho cha mình.
Niềm tin của anh mỗi lúc mỗi vững thêm. Nhưng khi chợt nhìn cái nụ cười ác độc của Bảy Thâm, thì niềm tin trong người anh như bị lung lay. Nụ cười ấy như kéo anh trở về với một sự thật. Anh tránh cái nhìn và cái nụ cười của Bảy Thâm.
Anh quay mặt, nhìn vê làng. Hàng cây bên kia bờ sông xanh sẫm, phẳng lặng.
Mặt trời đã ngả xuống khỏi rặng cây, lẫn trong một đám mây đen và hừng lên. Chân trời trước mặt anh như ứa máu.



(1) Đôi bông: đôi hoa tai
 

(2) ốm: gầy.
 


 
Đăng nhập để trả lời
0

XI

 
3 giờ chiều ngày 29 tháng 6 năm 1947 tại dinh quận quận Chợ Mới.
Dinh quận nằm ngoài ngoại ô cách trung tâm thị trấn gần nửa cây số. Phía sau dinh là dòng sông, trước cửa dinh là con đường nhựa phẳng lì.
Quận trưởng Ghiđi người Pháp - vốn có bệnh thần kinh. - Chẳng biết có phải như vậy hay không - Mỗi một tiếng động đều có thể làm cho hắn giật mình. Hắn cấm người ta gây ra tiếng động. Nửa đêm, nhà ai có chó sủa, hoặc gà gáy thì sáng hôm sau nhà ấy bị lính đến bắt phạt. Khoảng đường trước cửa dinh của hắn là con đường từ Mỹ Long Hưng chạy lên chợ quận. Nhưng hắn cấm tất cả các tiếng động của những tiếng kèn, tiếng chuông, tiếng vó ngựa và tiếng máy. Người ta gọi đó là con đường cấm. Do đó, tất cả các loại xe từ Mỹ Long Hưng lên bến chợ, qua khỏi cầu - cách dinh hắn độ hơn nửa cây số - phải rẽ vào con đường vòng chạy qua xóm nhà lá. Xe cộ từ chợ quận đi Mỹ Long Hưng cũng phải chạy theo con đường vòng ấy.
Trên khoảng đường cấm, hai bên đường có hai hàng cây dái ngựa thân to, cao ngất và tàng lá um tùm. Khoảng đường ấy vừa âm u vừa trang nghiêm và phẳng lặng. Người có việc cần đến quan đều đi nép hai bên đường, đi với những bước rụt rè và người như thu lại. Tiếng động chỉ có tiếng gió rào rào qua tàng cây và thỉnh thoảng một trái dái ngựa già rơi xuống nổ tách lên một tiếng.
Chẳng có một chiếc xe nào dám chạy qua con đường ấy trừ những chiếc xe nhà binh và những ngày sau này thì có thêm một chiếc xe ngựa kết bằng mây trắng của Ngô Quang Vĩ.
Chiếc xe ngựa mây của Ngô Quang Vĩ đang đỗ nép một bên đường đối diện với người lính gác. Con ngựa lông hồng nghiêng tai nghe tiếng chân người từ cửa dinh bước ra, nó rung đầu, gõ vó và cất lên một tiếng hí.
Cuộc hội nghị giữa quận trưởng Ghiđi và Ngô Quang Vĩ với các ngài trong ban trị sự Hòa Hảo của quận vừa giải tán. Nói cho đúng hơn, đó là cuộc họp giữa tên quận Ghiđi và Ngô Quang Vĩ với các người trong hội tề cũ đã len vào ban trị sự của đạo Hòa Hảo.
Quận Ghiđi khoảng hơn bốn mươi tuổi, người tầm thước trong bộ âu phục trắng và thẳng nếp. Gương mặt của hắn hơi xương, hai gò má nhô cao, mắt sâu, đầu sói với mái tóc mềm hoe hoe vàng, nước da trắng bệt như bột và hầu như không có râu. Hắn ra tận thềm bắt tay từng người hội tề. Các người hội tề cũ, nay đã mặc quần áo màu già, đầu để tóc đứng dưới hắn hai bậc thềm - đã thấp hơn hắn lại càng thấy thấp hơn - vừa đưa tay lên vừa mọp đầu chào.
Ngô Quang Vĩ đứng cạnh bên Ghiđi cười và bảo:
- Các ngài không nên cứ cái thói quen mà mọp đầu như vậy. Bà con tín đồ có ai đi ngang qua đây, người ta thấy. Phải đứng thẳng lưng lên!
Bảy người hội tề vừa gật gật vừa dạ dạ vừa cười chữa thẹn và lần lượt ra về. Quản Dõng thẳng lưng một cách rụt rè:
- Lần nào đứng trước mặt quan quận, anh em chúng tôi cũng cứ hay quên như vậy.
Quận Ghiđi giữ lấy tay Quản Dõng, nghiêng đầu nhìn, cười một bên mép, gật gù rồi nói:
- Như vậy cũng là tốt thôi. - Hắn nói tiếng Việt, hắn xòe tay chém chém vào cổ mình và tiếp - Nhớ coi chừng cái đầu, dân xóm Đình Mỹ Long Hưng của “toi” cứng đầu lắm. Phải khéo hơn nữa. Phải khéo như ngài Ngô Quang Vĩ đây mới được, từ cái lớn cho đến cái nhỏ. À! À mà hôm may, ai đánh xe cho “toi” đi, hả?
- Dạ, thằng Phi Hùng!
Quận Ghiđi trố mắt:
- Ồ! Một thằng mới à? Còn Bảy Thẹo đâu? Sao mà tin người quá vậy?
- Dạ dạ. Thằng Bảy Thẹo tôi bắt nó ở nhà canh giữ thằng Việt Minh Sáu Sỏi, thưa quan!
- À như vậy cũng được.
Ngô Quang Vĩ nói chen vào:
- Như vậy là anh không còn trách móc gì chúng tôi nữa chứ?
- Dạ, dạ. Trong lúc đi lên đây, tôi cứ sợ quan quận với ngài lại chính trị với nó một lần nữa.
Ngô Quang Vĩ nói:
- Nói như vậy tức là anh chưa thấu đáo hai cái tiếng chính trị rồi. Cái gì cũng phải đúng lúc mới được. - Ngô Quang Vĩ nhìn lên tàng cây bên đường, nói tiếp - Một con chim bay qua, muốn bắn thì phải tính toán, phải bắn mũi tên bay lên khi nó vừa bay tới và mũi tên phải cắm ngay yết hầu của nó. Nếu mũi tên bay lên trước, nó sẽ dội lại hoặc bay vòng đi chỗ khác. Như vậy có nghĩa là không đúng thời cơ. Hoặc, nếu nó bay qua rồi mà mũi bên mới bay lên thì tức là mất thời cơ. Mất thời cơ, nó chẳng những bay mất mà thôi, có khi nó còn ỉa xuống mặt mình một bãi nữa là khác. Có phải như vậy không ngài Quận trưởng?
Quận trưởng Ghiđi liếc Ngô Quang Vĩ, nhún vai, cười rung cả người rồi nói với Quản Dõng:
- Chính trị là vậy đó, “toi”! “Toi” thì chỉ biết có thằng Sáu Sỏi thôi. Chẳng phải chỉ có một mình nó mà thôi đâu. Còn nữa, nhiều lắm. Những đứa đáng sợ nhất là những tá điền mặc đồ già của “toi”.
Ngô Quang Vĩ nói chen vào:
- Dòi trong xương dòi ra!
- Ngài Ngô Quang Vĩ thông minh lắm!
Được khen, đang thích chí, Ngô Quang Vĩ chẳng biết làm gì, hắn đưa tay nắm lấy chiếc cà vạt trắng sọc xanh, cầm quơ qua quơ lại và gật gật cười cười. Trong lúc ấy, tên Ghiđi nói:
- “Moi” đã nói với “toi”, thế nào rồi nó cũng trở về thôi. Bọn cộng sản đó nó không bỏ dân đâu. Nó mà bỏ dân thì như “Ăng tê” rời khỏi mặt đất vậy. “Toi” có biết “Ăng tê” không?
Quản Dõng không hiểu, nhưng cũng giả vờ như đã biết, vừa gật vừa cười hì hì.
- Ngài Ngô Quang Vĩ lúc nào rảnh nói cho “lui” biết. - Hắn siết chặt tay Quản Dõng - Thôi, “toi “về!
- Dạ, chào quan! Dạ, chào ngài. Tối nay ngài có về làng không?
- Anh Quản về trước, tôi sẽ đi sau.
 
*
*      *
 
Trong cuộc họp, Ghiđi đoán biết Ngô Quang Vĩ không muốn nói hết những ý nghĩ của mình. Vì cuộc họp toàn những hội tề cũ, những người mà Ngô Quang Vĩ thường hay chế giễu là những tay chính trị nhà quê. Quận Ghiđi vốn quý mến Ngô Quang Vĩ và có phần hơi ghen với tài học của ông ta nữa. Bà vợ của hắn, một cô đầm rất yêu văn chương, cô ta đang đeo đuổi theo cái bằng cử nhân văn chương, nhưng vì yêu hắn nên đã bỏ học mà sang Đông Dương. Bà vợ hắn thường hay khen Ngô Quang Vĩ là người Pháp hơn cả người Pháp. Hơn mười năm du học ở Pháp, Ngô Quang Vĩ đã đỗ bằng cử nhân văn chương. Bà vợ của hắn rất thích đàm đạo văn chương với Ngô Quang Vĩ. Nghe Ngô Quang Vĩ nói suốt cả buổi mà bà ta chẳng biết chán, có khi vì quá mê mà trễ cả buổi ăn. Bà ta thường gợi cho Ngô Quang Vĩ kể đi kể lại những mẩu chuyện nhỏ về đời tư của các nhà văn, nhà thơ Pháp, nhất là những mẩu chuyện tình. Ngồi nghe, thỉnh thoảng, bà ta đọc chêm vào một đoạn văn hoặc một đoạn thơ của những tác giả ấy. Và trong câu chuyện, Ngô Quang Vĩ như gợi lại cho bà ta tất cả cái cảnh sống từ tiếng động đến hương vị và không khí của Paris. Còn Ghiđi thì thích Ngô Quang Vĩ ở điểm khác.
Theo hắn, Ngô Quang Vĩ là người có nhiều âm mưu, khá sâu sắc, khá nhạy bén với thời cuộc, người đã phát hiện cho hắn nhiều điều đáng chú ý, người đã giúp cho hắn sử dụng được lực lượng quần chúng đạo Phật giáo Hòa Hảo. Nhưng hắn chưa thật tin Ngô Quang Vĩ. Trong con mắt của hắn, Ngô Quang Vĩ là tên Trốtkít khó hiểu, Ngô Quang Vĩ chưa hết lòng làm tôi cho nước Pháp. Hắn còn lo ngại cho cả cái quan hệ giữa Ngô Quang Vĩ và vợ của hắn nữa. Theo hắn, văn chương là một thứ nhựa độc, có thể gắn chặt giữa hai người. Hắn lo ngại nhưng hắn không hề để lộ ý nghĩ ấy cho hai người được biết. Hắn tự nhủ không vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn.
Khi Quản Dõng đi đã khuất, hắn xoay qua Ngô Quang Vĩ và hai người nói bằng tiếng Pháp.
- Cuộc họp hôm nay ngài thấy thế nào? - Hắn hỏi.
- Tốt, nhưng theo tôi thì các ông không nên để tình hình này kéo dài nữa.
- Ngài cứ nói, tôi đang mong ý kiến của ngài.
Ngô Quang Vĩ nói sôi nổi:
- Tình hình gần đây đã không như dự kiến của chúng ta. Bọn Việt Minh đang tấn công lại chúng ta rất dữ dội như các ngài đã biết. Bọn chúng đã tập trung lực lượng. Bọn chúng đã điều một đại đội từ Sóc Trăng lên đây, đó là một đại đội thiện chiến mà chúng gọi là đại đội Hồ Chí Minh, chúng điều một đại đội Bến Tre lên đó là một đại đội thiện chiến của Đồng Văn Cống. Tất cả các đơn vị của hai tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên đều được tập trung và tổ chức lại. Vùng căn cứ của Hòa Hảo là các vùng cù lao và ở phía bên này sông. Những cuộc chiến đấu vừa qua, theo tôi chẳng cần phải nhiều lắm, chỉ cần một vài đơn vị với tàu chiến chạy trên các ngả sông là đủ cho chúng bị tiêu diệt. Đơn vị của các ngài chẳng cần phải tham chiến, chỉ chờ bọn nó đâm xuồng rút về căn cứ là có thể tiêu diệt được bọn nó rồi. Tàu chiến chiến đấu với những chiếc xuồng như thế mà không chiến thắng được bọn chúng nó hay sao? Nếu bọn nó không dám đâm xuồng rút về căn cứ mà nấn ná ở lại trên các khu đất Hòa Hảo thì nó cũng chết. Bọn chúng sẽ bị chết thiêu vì ngọn lửa thù hằn của bọn tín đồ. Ngài không nghe người ta nói đất của Hòa Hảo là đất lửa hay sao? Thế nhưng, từ khi lực lượng Hòa Hảo ngả về phía chúng ta thì các ngài mang quân đi hết, phó mặc cho tất cả những thằng chính trị nhà quê.
Ghiđi gật gù, nói:
- Ngài nói tôi nghe có lý, nhưng ngài hãy nhớ cho một điều là nước Pháp và chúng tôi không phải không hiểu được điều này. Con cháu của Napôlêông mà không hiểu thế nào là quân sự hay sao? Chúng tôi chưa muốn làm vội. Cứ để cho chúng nó - Ghiđi nắm hai quả đấm đụng vào nhau - tự nó tiêu diệt nó cái đã. Hãy để cho chúng nó khơi lên ngọn lửa ấy!
Ngô Quang Vĩ cắt lời Ghiđi:
- Điều đó chẳng lẽ tôi cũng không hiểu hay sao? Nhưng các ngài nên nhớ rằng: bọn Việt Minh nó không phải là những thằng mù, nếu nó có mù thì nó cũng chỉ mù trong một lúc nào đó thôi. Các ngài cứ hãy tin là chúng nó hơn các ngài nhiều. Hơn một tháng nay, nó không chỉ tấn công bằng súng, bằng lửa. Nó chỉ dùng lửa với một số nào đó thôi, còn đối với tín đồ, đối với nông dân thì nó dùng nước, nó đã giội tắt dần những ngọn lửa thù hằn của tín đồ rồi. Đối với tín đồ, nó mua chuộc, nó dụ dỗ, chính vì như thế mà đã có một số đã len lỏi trở về, chính vì thế mà thằng Sáu Sỏi mới dám về Mỹ Long Hưng. Nếu chúng ta còn có lực lượng ở đấy thì bọn chúng làm gì dám hoành hoành trong tất cả các vùng như những ngày gần đây?
Ghiđi nói:
- Ngài nói tôi nghe cũng phải. Nhưng ngài nên hiểu cho là nước Pháp không chỉ có một vùng này. Còn nhiều nơi khác nữa. Lực lượng chính cần phải được, tập trung ở những chiến trường chính nhất là chiến trường Việt Bắc, chiến trường miền Đông.
- Nói như thế tức là vì thiếu lực lượng là chính hay là vì chiến lược mà rút lực lượng ra khỏi vùng này là chính?
Ghiđi gật ngù, ngẫm nghĩ, không nói.
Ngô Quang Vĩ cười mỉa:
- Có lẽ là vì cả hai? Các ngài tham quá. Theo tôi thì không nên rải quân ra như vậy. Một nắm trong tay hơn là hai sẽ có.
Ghiđi cũng nghĩ như Ngô Quang Vĩ. Thật lòng hắn thì hắn không muốn rút quân như vậy, nhưng bên ngoài hắn muốn bảo vệ cho nước Pháp, hắn nói:
- Chúng ta hãy tin tưởng Đátgiăng Liơ. Chính Đátgiăng Liơ là người châm ngòi đốt lên ngọn lửa này, một ngọn lửa huy hoàng, ngọn lửa làm sáng lại bộ mặt của nước Pháp ở Đông Dương, dưới bàn tay của Đátgiăng Liơ, ngọn lửa này sẽ không bao giờ tắt.
Ngô Quang Vĩ liếc nhìn Ghiđi, cười vì những lời trống rỗng của Ghiđi và nói:
- Cái đất này, lửa sẽ không bao giờ tắt, nhưng nếu như thế mãi thì cái đất lửa này sẽ đốt cháy các ngài thôi.
Ghiđi nhún vai chống chế lại, rồi cũng thú nhận:
- Chẳng phải tôi là người không hiểu điều ấy. Gia đình tôi sống ở đây, chẳng phải mới đây, cái quận Chợ Mới này, tôi biết; những người khác sướng hơn tôi nhiều, họ yên ổn hơn tôi. Tôi đã làm báo cáo lên trên rồi. Còn ngài, theo hệ thống của ngài, ngài cũng nên làm một báo cáo chính thức, nước Pháp vốn là nước dân chủ, nghe nhiều tiếng nói, cấp trên sẽ quan tâm nhiều hơn.
Nói xong câu đó, Ghiđi thấy mình quá thật thà, hắn sợ lại bị lộ thêm nhiều điều khác, hắn không nói gì nữa, đưa mắt nhìn trời và lắc đầu:
- Trời sắp mưa. Cảnh vật lúc này buồn quá. Cảnh vật nước Pháp không âm u như ở đây.
Ngô Quang Vĩ biết mình đã đắc thắng và đoán hiểu được tâm trạng của Ghiđi, ông ta nói với giọng an ủi:
- Ngài đừng ngại. Tôi là người ở đây, tôi hiểu họ. Họ như con ngựa chứng, thỉnh thoảng lại lồng lên, nhưng nếu biết được tính nó và nắm vững dây cương thì nó sẽ chạy theo tất cả các con đường mà mình muốn. Thôi, tạm biệt! - Tự dưng Ghiđi thấy xúc động, thấy thân với Ngô Quang Vĩ hơn, hắn muốn ôm hôn Ngô Quang Vĩ nhưng vẫn thấy ngại ngùng, hắn siết chặt tay Ngô Quang Vĩ và giữ lại rất lâu.
*
*      *
 
Ngô Quang Vĩ lên xe. Chiếc xe mây nhỏ chỉ có hai chỗ ngồi. Nhìn chiếc xe của hắn, người ta có thể tưởng đó là chiếc xe của một quý tộc Pháp thời Trung cổ. Bà vợ của Ghiđi thường hay bảo như vậy.
Ngô Quang Vĩ nhịp lưng ngựa bằng dây cương. Ngựa biết ý chủ, nhẹ vó chạy chầm chậm trên khoảng đường cấm, vó ngựa gõ giòn. Ngô Quang Vĩ quay nhìn lại cửa dinh, vẫy chào hai vợ chồng Ghiđi, rồi giật cương cho ngựa phi nhanh.
Hắn tự đánh xe lấy. Vốn hắn thường hay nghĩ: mọi vật và cuộc đời luôn luôn có mâu thuẫn, người với người luôn luôn xâu xé nhau tranh nhau về mọi thứ quyền lợi. Cho nên, không thể tin ai một cách tuyệt đối. Con người, có nhiều khi chẳng phải chết vì một sự nghiệp gì lớn lao, mà thường hay chết vì những chuyện rất nhỏ nhen và thường hay do người thân cận của mình gây ra. Hắn luôn luôn nghĩ như thế, nên hắn không muốn thuê hoặc mượn người đánh xe, mặc dù các ủy viên trong ban trị sự Hòa Hảo cứ nài nỉ muốn dâng người phục dịch cho hắn. Ngoài lý do ấy, hắn còn có những việc quan trọng khác nữa. Hắn không muốn cho người ta biết mình đi đâu, đến đâu, gặp ai và làm gì. Vả lại, vốn tính của hắn, về đời tư, hắn có những hành động rất bất ngờ và lạ lùng. Những chuyện ấy, hắn không thể nào để cho người khác biết được. Hắn thường tự bảo đó là những chuyện sống để bụng, chết đem theo.
Tự đánh xe, được đi một mình, hắn thấy dễ chịu hơn.
Hắn cho xe chạy về Mỹ Long Hưng, định dự tiệc chiều nhà Quản Dõng và xem cái chết của Sáu Sỏi, nhưng khi xe vừa đến đầu cầu thì hắn cho ngựa dừng lại.
Mây khói đèn kéo đi đầy cả trời. Trời âm u và ảm đạm. Gió mỗi lúc mỗi to. Tiếng sóng từ dòng sông dội lại, hắn nghe như có gì rất khác thường, tiếng sóng không lao xao mà nghe như nặng nề. Nhìn con đường trống với những ngôi nhà bị cháy, những bãi tro xám nằm dọc hai bên, tự dưng hắn thấy sợ. Một cơn gió to rít qua, một trái dái ngựa già rơi cạnh bên xe nổ tách một tiếng và một tiếng sấm xa bỗng nổ rền. Hắn rùng mình thấy lạnh. Hắn thấy như có linh tính báo trước cho mình điều gì. Hắn tự hỏi: sao mình lại đi xem cái chết? Đó không phải là cái chết của một người bình thường, cái chết của Sáu Sỏi!
Hắn nhìn trời, ngẫm nghĩ một lúc rồi quay ngựa trở về.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.09.2024 09:08:01 bởi hoi_ls>

XII

 
Cũng chiều hôm ấy, bóng tối ảm đạm của mây đen vẫn đè nặng xuống xóm làng, đem tới cho lòng người những nỗi buồn u ẩn và những mối lo sợ rợn người.
Trong nhà của Quản Dõng, một ngôi nhà sàn to mà sàn nhà là những miếng gỗ gõ ghép khít lại đen mun và bóng mượt như thoa mỡ, nhìn xuống có thể soi được mặt mình. Những vẻ mặt vừa tối tăm vừa giận dữ, với những cặp mắt đỏ hoe như mắt cá chài, họ đứng nhốn nháo, hút thuốc, tán gẫu để chờ hội nghị.
Họ là tá điền của Quản Dõng, trước đây họ không mấy khi được bước chân lên ngôi nhà này, nay là người cùng đạo, nên họ như không còn sợ sệt gì và cứ đi luôn tuồng. Người thì xem các bộ tranh Tam quốc Tây du diễn nghĩa treo trên vách, người thì nhún thử cái giường lò xo, người thì mân mê cái bộ trà kiểu xưa, anh lại rờ rẫm và không ngớt lời khen cái tủ kính. Chỗ bàn về đạo lý, chỗ nói tin tức các nơi, chỗ nói về cái tương lai khi trời mở hội Long hoa.
Còn Chiến, anh chàng to lớn, đầu chít khăn đen bít qua trán có thêu hai chữ H màu đỏ, hông đeo một cây gươm dài, anh ta đang ngồi xâm xoi chiếc xe đạp con ba bánh của con nhà Quản Dõng. Anh ta lật qua lật lại một lúc, rồi dựng nó dậy và ngồi lên. Anh ta dạng chân chỏi xuống sàn nhà, đạp cho xe chạy vòng quanh nhà, thỉnh thoảng cất tiếng đánh chuông miệng “kính keng! kính keng!” rồi ngửa mặt ra cười.
Ai nấy, xem chừng cũng có vẻ hăm hở và vui tươi lắm. Duy có riêng lão Ịnh là khác thường. Lão ngồi trên chiếc ghế xa lông giữa nhà, im lặng như một pho tượng, chỉ có bộ râu đen dài tận ngực là động đậy rung rinh, lất phất vì những ngọn gió bên ngoài tạt vào.
Thường thường, trong những dịp hội hè như thế này, người lớn tiếng nhất và hăng hái nhất thường là lão. Lão luôn mồm giảng cho mọi người nghe những điều sâu xa trong kinh sấm.
Từ ngày vào đạo, được ngồi ngang với Quản Dõng, lão lấy làm kiêu hãnh lắm. Cái tình nghĩa bổn đạo tuy đã xóa hết mối thù xưa nhưng khi đứng trước mặt Quản Dõng, lão vẫn thấy cần phải tỏ ra là người ngang hàng, là người hiểu biết những lẽ màu nhiệm của Phật trời. Cái kiêu hãnh đó cũng an ủi được ít nhiều cho nỗi nhục nhã và cay đắng của đời lão.
Nhưng giờ đây thì lão chỉ ngồi trơ ra như đá. Ngọn lửa rừng rực trong đôi mắt cũng đã tắt đi rồi. Lão nhìn con nhện hùm đang giăng lưới bắt mồi trên trần nhà với con mắt tối đờ như cặp mắt của người chết còn mở ra nuối lại để chờ ai.
Bên ngoài, mưa rơi từng hạt như những giọt nước mắt nghẹn ngào.
Tiếng hát của đoàn người đi dự pháp trường ở bờ sông bị tiếng sóng ì ầm đập tan đi và vẳng vào.
Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường
Đoàn ngựa xe cuối cùng, vừa khuất theo thôn
Phất phơ ngậm ngùi bay...
Tiếng hát ấy không có gì giận dữ hằn học của kẻ sắp giết người mà mang theo một âm điệu vừa não nùng vừa u uất như tiếng rên của những người đang quằn quại trong cõi chết.
Tiếng hát ấy mang đến cho tâm hồn lão một nỗi buồn nản ê chề. Lão khẽ thở dài và kêu thầm:
- Trời! Anh Sáu! - Lão đưa bàn tay to lớn và đầy lông chụp lấy chùm râu, run run.
Lão chớp mắt nhìn Quản Dõng đang ngồi ngang mặt mình, đầu đang cúi xuống đống công văn, chỉ thị của đạo. Tự dưng, lão thấy con người cũ của hắn cứ hiện lên: đầu đội nón cối, mặt để râu trê, tay cầm cù quéo, đi theo sau là một đám lính mã kỵ mặt mũi đen sì, cù quéo hắn chỉ nhà nào thì nhà nấy liền bốc lửa. Trong cái ngày đất nhà lão bị mất vì cha hắn, hắn cưỡi con ngựa ô, đầu cũng đội nón cối, tay cầm cù quéo, dừng ngựa trước nhà lão, nghiêng mắt nhìn vào, một cái nhìn nham hiểm và đe dọa... Tất cả hình ảnh đó quay cuồng trong đầu lão, và cái tiếng “Quản Dõng đúng là Dư Hồng” của Sáu Sỏi lại dồi dội vào tai lão.
Quản Dõng ngồi đối diện với lão Ịnh, miệng ngậm ống vố, khói tỏa lù mù. Hắn đã thay đổi nhiều. Bộ râu ngạnh trê của hắn đã cạo nhẵn và sau ót có thêm cái búi tóc to bằng cái kèn bí bo. Hắn mặc trang phục màu già và dài, trông có vẻ là một nhà tu lắm. Duy có cặp mắt của hắn ta là vẫn như xưa, vẫn nấp dưới hàng lông mày rậm và ẩn sâu vào bên trong như ẩn giấu những điều gì khó hiểu, vẫn nham hiểm với cái nhìn như chích vào tim người và chiếc mũi vẫn gầy đét khô khan trên gương mặt vừa nhọn vừa vuông của con người vừa gian giảo vừa ba đá. Hắn là một tay chúa đất trong làng. Hồi Pháp thuộc, hắn giữ chức Hương quản trong ban hội tề. Hắn khét tiếng là một tên tàn ác, đã từng dẫn lính Tây về đàn áp phong trào cách mạng và lùng bắt những người yêu nước.
Sau năm Nam Kỳ 40 khởi dậy, cũng vì tay hắn mà làng xã trở nên tiêu điều. Rồi, đời lại biến đổi: Nhật vào và Tây xuống thế. Chỗ dựa của hắn bị lung lay. Hắn bắt đầu lo cho số phận và muốn thay đổi hướng đi. Trong làng bỗng xuất hiện ra một ngọn cờ mới với những con người khác lạ: đàn ông đầu để tóc, mình mặc áo già múa kiếm, phi ngựa lúc ban chiều và những cô con gái ăn mặc theo lối Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính dượt võ dưới ánh trăng. Tất cả những người đó là tá điền của hắn. Người nào hắn cũng đều có mang nợ máu cả. Họ đã vào đạo Phật giáo Hòa Hảo. Họ như những con người của những thời trong các bộ truyện Tàu vừa sống lại; nhìn vào họ, hắn thấy có một cái gì ghê gớm sắp xảy ra. Trong cái cảnh tiêu điều của làng, đêm ngày cứ khói hương ngui ngút và rền rĩ những câu kinh sấm não nề, một không khí vừa huyền ảo vừa ghê rợn bao vây hắn, hắn bắt đầu lo sợ, rồi cũng như bao nhiêu người khác, hắn mượn kinh sấm về xem. Những cái câu: “Ác lai ác báo” cứ ám ảnh hắn như những giấc mộng nặng nề.
Rồi những tín đồ ấy, ở một số nơi khác, kéo nhau ra nhà việc xé cờ “Đại Pháp”, đạp chân lên hình Pêtanh và vác dao mác đi trả thù, đòi những điền chủ phải trả nợ máu.
Trong những ngày ấy, nhờ quận Ghiđi đánh mật tin cho biết trước, nên hắn kịp lánh mặt ra xe đi thẳng lên Sài Gòn và ẩn náu trong nhà đứa em út trên con đường “Sátsơluha”. Sau đó hắn gặp quận Ghiđi lúc quận Ghiđi sắp sửa xuống tàu về Pháp. Trong giờ phút gặp gỡ ấy, tên quận Ghiđi chỉ kịp dặn dò hắn là phải vào đạo Hòa Hảo. Hắn không hiểu được cái ý nghĩa sâu xa trong lời dặn ấy mà tương rằng: đó là những lời khuyên bảo thật thà. Hắn nghĩ: quận Ghiđi là một người Tây mà còn tỏ ra tôn sùng đạo như vậy thì huống chi là hắn. Trong giây phút ấy, hắn có một ý nghĩ chân thành là muốn cải tà quy chánh để chuộc lại tội lỗi của mình. Hắn liền cạo nhẵn bộ râu ngạnh trê, vứt bỏ cù quéo và tìm đến một gánh hát cải lương nài nỉ cho kỳ được một bộ tóc giả để trùm lên đầu. Rồi, hắn lên xe, đi thẳng một mạch lên tận làng Hòa Hảo.
Đến nơi, trước mặt hắn là cả một việc lạ lùng, những người nắm quyền tối cao trong đạo toàn là những người bạn cũ của hắn; nào Cai tổng, nào Hương cả và một số tay anh chị trong làng dao búa. Đối với hắn, quả là việc không ngờ. Trong số người cầm đầu đó, hắn đặc biệt chú ý đến một người tên là Ngô Quang Vĩ, con người có một gương mặt nhọn, miệng hô, nhòn nhọn như mỏ chuột và cả bộ râu mũi cũng xệ dài như râu chuột. Người ta gọi ông ta là ông Vĩ mặt chuột. Đối với hắn, con người ấy quả là con người kỳ lạ, khó hiểu và đáng tôn là quân sư. Năm phong trào bình dân, ông ta luôn luôn đi sát cánh với Tạ Thu Thâu, khi thì viết báo, khi thì tranh cử hội đồng, khi thì mở diễn đàn. Con người ăn nói thật lưu loát và hùng hồn. Theo hắn ta biết thì đó là người cộng sản. Lúc ấy, hắn ta thấy sợ hơn là thấy thù. Năm phong trào bình dân xẹp xuống, có một hôm, con người Ngô Quang Vĩ bất thình lình xuất hiện ra trong làng hắn. Hắn sợ ông ta về “gây cộng sản”, liền đem lính đến bắt ngay và lập tức báo lên cho quận Ghiđi. Quận Ghiđi liền gọi hắn lên, bảo phải thả ra và trách hắn là người không biết luật pháp.
Hắn không hiểu vì sao quan quận Ghiđi lại có vẻ nể nang người cộng sản như vậy, quan quận Ghiđi lầm chăng? Hắn liền thưa lại. Quan quận Ghiđi cho hắn biết bằng một giọng quát tháo ầm ĩ:
- Nó là thằng Trốtkýt!
Lần đó là lần đầu tiên hắn biết thêm một danh từ “Trốtkýt”. Hắn không hiểu rõ lắm, nhưng hắn cũng hiểu đại khái cái ý của quan quận Ghiđi là: cộng sản Trốtkýt thì không nên bắt.
Bây giờ, gặp lại Ngô Quang Vĩ trong số người cầm đầu đạo, hắn càng khâm phục tên quận Ghiđi, quả thật là người Tây thấy xa hiểu rộng. Và bấy giờ, hắn mới hiểu được lời dặn của tên quận Ghiđi vào đạo không phải để tu hành mà để mưu lại cơ đồ(!), dùng đạo Phật để lôi kéo tín đồ. Hiểu được điều đó hắn cảm thấy như vừa phá được cái bí mật của trời đất. Có lúc ngẫm nghĩ lại, hắn tự cười và tự nhạo mình là có lúc đã định đi theo Phật. Và cũng vì đó mà con đường “sự nghiệp” của hắn bị sa sút.
Trong những ngày ở đó, hắn được gặp lão Ịnh. Ngô Quang Vĩ liền bày mưu cho hắn là nên mời lão Ịnh trở về làng. Trong cuộc họp lần cuối trước khi hắn trở về làng, Ngô Quang Vĩ bảo là nên để lão Ịnh làm trưởng ban trị sự, còn hắn thì giữ chức phó, vì lão Ịnh là người cùng một cảnh ngộ với tá điền, như vậy họ dễ tin hơn. Rồi, không biết ông ta suy nghĩ như thế nào, ông ta lại bảo lại: “Không được! Tôi thấy là nên đổi lại”. Quản Dõng còn nhớ rõ câu ông ta nói: “Tôi xin lỗi anh Quản! Tiền bạc đất đai thì anh còn không kém, nhưng về nước cờ chánh trị thì anh kém lắm! Để anh làm phó ban, anh khó lòng mà giữ được giềng mối lắm. Rồi sau này, muốn nhấc cho anh leo lên thì cũng mệt lắm!”
Thế rồi hắn về làng và làm theo lời chỉ bảo của quan thầy Ngô Quang Vĩ. Hắn mở kho bố thí cho kẻ nghèo, hắn bỏ tiền vào quỹ để mua ngựa cho tín đồ tập dượt.
Hắn thấy rằng: Tá điền chẳng những không đòi hắn phải trả nợ máu, mà còn tôn kính và yêu mến hắn nữa. Và cũng chính vì nước cờ ấy mà hắn đã bắt họ phải quay đầu lại và quét sạch bọn “Việt Minh cộng sản”.
Những lần hội nghị chuẩn bị có cuộc nổi loạn, ý của hắn là muốn có sự giúp đỡ của quân đội Pháp - Những lần hội nghị ấy đều do Ngô Quang Vĩ làm chủ tọa - Một số hội tề cũ cũng đều đồng ý với hắn. Nhưng Ngô Quang Vĩ đã bác hết. Hắn còn nhớ cái lý lẽ của Vĩ. Trước khi nói, Vĩ điểm một nụ cười, nụ cười của người hiểu biết, Vĩ nói:
- Tất nhiên là chúng ta dựa vào lực lượng của quân đội Pháp. Nhưng ngay trong lúc đầu thì chưa nên công khai, mà phải hết sức kín đáo, kín đáo một cách tuyệt đối, kín đáo như là đàn bà đi lấy trai vậy. - Vĩ cười hóm hỉnh, chuyện lớn mà vẫn bình tĩnh, coi như chuyện đùa - Nếu không, bọn Việt Minh cộng sản sẽ dựa vào đó mà phản tuyên truyền chúng ta, đồng bào tín đồ vốn là người đã bị nó mê hoặc, họ rất dễ tin theo nó. Chúng ta không phải là không có lực lượng. Bộ đội Ba Cụt, bộ đội Năm Lửa, Hai Ngoán, Nguyễn Giác Ngộ, không phải là ít. Nếu đem so với lực lượng vũ trang của bọn cộng sản thì chúng ta có phần kém hơn, nhưng cái chính là lực lượng của bà con tín đồ. Nói như vậy, không có nghĩa là quân đội Pháp không giúp gì cho chúng ta. Xin thưa để cho các ngài được yên tâm là có. Chánh phủ Pháp sẽ giúp cho ta những cái lớn. Vả lại trong lúc này, quân đội Pháp cần phải dồn sức ra Bắc Kỳ. Những ngày đầu, chúng ta sẽ gặp nhiều gay go, nhưng không đáng ngại, mà ngược lại, rất là đáng mừng. Tạm thời, chúng ta sẽ chịu nhiều thất bại. Những khi bị nhiều thất bại, thế nào mà không có người chết. Bà con tín đồ sẽ căm thù bọn chúng hơn. Đến lúc đó, không cần phải nói, bà con sẽ tự hiểu là mình “thế cô sức yếu”, thấy cần phải có một chỗ để dựa lưng. Chừng đó, ta sẽ nêu khẩu hiệu “Tạm hàng Tây để diệt trừ quỷ dương cộng sản” như Quan Công tạm hàng Tào. Chừng đó, cái chủ trương ấy sẽ thành là nguyện vọng của tín đồ. Bọn cộng sản sẽ không nói vào đâu được. Nó càng chửi đồng bào là Việt gian, đồng bào sẽ càng nổi điên, nổi khùng với bọn chúng nó. Sao? Các ngài và các vị thấy thế nào? - Vĩ hỏi mọi người với một vẻ hài lòng. - Thật là chí lý! Đúng là một nhà chính trị! Quản Dõng tấm tắc như vậy. Nhưng đến cái đêm nổi loạn, xuồng của Sáu Sỏi vượt được sông thoát khỏi, thì hắn chửi rủa Ngô Quang Vĩ không tiếc lời. Nếu có một chiếc tàu tuần của quân đội Pháp thì Sáu Sỏi có chạy đàng trời!
Sáu Sỏi còn, là tai họa của hắn sẽ còn. Hắn cứ phập phồng.
Trong những ngày gần đây, hắn lại được một cái công văn của Ngô Quang Vĩ. Công văn có đoạn viết: “...Gần đây, bọn Việt Minh cộng sản đã bí mật trở về, bọn chúng nó mang theo cả giấy tờ của Phật thầy. Một số nơi, có một vài cá nhân tín đồ tỏ ra hèn nhát, đã bắt liên lạc với bọn chúng. Đồng bào đâu đâu cũng xôn xao về những chuyện “mọi rợ” đó. Cần phải trừ khử tất cả bọn cộng sản trở về. Nếu đồng bào có hỏi thì phải giải thích - “hoàn cảnh khó khăn này, thầy phải nói ngược lại. Thầy bảo đoàn kết thì tức là phải đánh, thầy bảo đánh tức là đoàn kết”.
Quản Dõng có phong phanh nghe những chuyện “cộng sản mang giấy Phật thầy đi các nơi, kêu gọi đoàn kết”. Tình thế thay đổi bất ngờ, hắn không yên. Được cái công văn ấy, hắn thở phào, nhẹ nhõm.
Khi lão Ịnh mang thư của Sáu Sỏi báo tin về, hắn có một cảm giác sung sướng và phập phồng như được thấy một con cọp đang đi vào bẫy.
- Phải giết ngay tức khắc! - Hắn lẩm bẩm và nói với lão Ịnh: - “Phải giết tức khắc!” - Hắn coi Sáu Sỏi là kẻ thù riêng của hắn.
Giết được Sáu Sỏi, người hắn sẽ nhẹ nhàng như rút được cây đinh ra khỏi mắt. Trước đây, Sáu Sỏi đã cầm lèo lái cho tá điền nổi dậy bắt hắn phải giảm tô, giảm thuế. Năm 40, bắt được Sáu Sỏi đày ra Côn Đảo, hắn tưởng là trừ được cái mũi nhọn ấy rồi. Không ngờ, năm 45, Sáu Sỏi lại trở về và giữ chức chủ nhiệm Việt Minh. - Nhờ giữ chức trưởng ban trị sự nên Sáu Sỏi không dám làm gì hắn. Hắn nghĩ như vậy, nhưng hắn vẫn lo sợ. Hắn biết: Sáu Sỏi còn, là hắn còn nhiều kẻ thù. Sáu Sỏi luôn luôn nhắc lại chuyện cũ của hắn để vạch mặt hắn với tín đồ. Hắn muốn tự tay mình giết Sáu Sỏi thì mới hả cái nư giận, nhưng hắn không muốn. Hắn nghĩ: phải giết một mà thành hai thì mới thượng sách. Ở đời phải khôn như Tào Tháo mới được. Hắn nghĩ đến lão Ịnh. Lão Ịnh là bạn của Sáu Sỏi, trước đây lão luôn luôn theo chân Sáu Sỏi mà chống lại hắn. Bây giờ, lão Ịnh tuy là người dưới tay hắn, nhưng hắn vẫn ghét và khinh bỉ. Hắn ghét nhất là lão luôn luôn muốn tỏ ra người ngang hàng với hắn. Và hắn biết rằng: lão Ịnh là một tay nguy hiểm. Nếu lão Ịnh giết Sáu Sỏi rồi, sau này dù có gì đi nữa lão cũng không thể nào chạy về với kháng chiến.
Nghĩ đến đây hắn chớp mắt nhìn lão Ịnh, rồi quay sang mọi người, cất tiếng hỏi:
- Ngài đội trưởng Hiếu tới chưa các vị?
Hiếu không có chân trong ban trị sự, cũng không có chân trong ban ám sát, nhưng hội nghị hôm nay anh vẫn được mời đến dự. Vì anh là thầy dạy võ. Quản Dõng vừa hỏi thì Hiếu cũng vừa đến. Hiếu bước vào, mặt ngó thẳng không nhìn mặt ai, tấm vải hồng bên vai tung lên chập chờn theo bước đi, cây gươm dài bên hông kéo rà rà dưới mặt sàn, anh đi thẳng lại một góc kẹt, rồi ngồi xuống, mặt lầm lì, chẳng nói chẳng rằng.
Quản Dõng đứng dậy, vỗ tay bôm bốp:
- Xin các vị vào họp!
Tất cả đều quây quần, kẻ đứng người ngồi quanh bộ ghế giữa.
Quản Dõng lấy ống vố ra khỏi miệng, và bắt đầu nói, khói từ trong lồng ngực hắn bay theo từng lời nói của hắn, tỏa lù mù:
- Hôm nay là ngày lấy đầu thằng quỷ dương Sáu Sỏi để tế sống cho vong linh tín đồ, ban trị sự mời các vị đến đây để bàn xem ai là người xứng đáng đứng ra hạ thủ.
Chiến liền nghiêng vai chen vào, chồm mặt ra giữa bàn, vung quả đấm thẳng ra trước mặt và nói:
- Bổn phận của ban ám sát thì để cho ban ám sát chớ còn ai nữa?
- Ban ám sát thì còn nói gì. Chú bình tĩnh, chú không mất phần đâu! - Quản Dõng đưa tay đè quả đấm của Chiến xuống và nói tiếp - Thằng Sáu Sỏi thì các vị cũng không lạ gì. Hồi trước, anh Phó của mình đây - Hắn liếc nhìn lão Ịnh và tiếp - là bạn bè chí thiết với nó.
Hiếu từ góc kẹt liền đứng dậy phản đối lại:
- Cha tôi không phải là ban ám sát!
Mọi người đều kinh ngạc trước cái giọng hét phát ra từ cái lồng ngực to lớn và mạnh mẽ của anh. Cặp mắt mở tròn của anh nhìn mọi người sáng quắc lên như thu hết tất cả ánh sáng của những cặp mắt chung quanh. Mọi người đều không dám nhìn lâu đôi mắt ấy, họ nhìn nhau lẳng lặng như thầm hỏi và dồn tất cả sự bất bình vào lão Ịnh. Mái đầu màu muối tiêu của lão Ịnh như bị cái nhìn của họ đè xuống nên cứ cúi gầm gầm.
Riêng Quản Dõng vẫn giữ được thái độ bình tĩnh, hắn đưa tay hướng về Hiếu và vẫy xuống, ra lệnh cho Hiếu ngồi:
- Có gì mà chú Hiếu phải nóng! Nếu đưa cho ban ám sát xử thì hội họp mà làm gì? Đây là mình muốn người đứng ra xử là người thuộc trong họ hàng hoặc thân thích để khỏi mang tiếng giết người là vì thù nhơ oán chạ, mà vì đạo, vì nước, mà mình làm. Cao quý hay không, vì đạo hay không là ở chỗ đó. Chú đừng vội nóng, ngồi xuống bình tĩnh mà suy xét.
Một người nói tiếp:
- Thôi! Mình cũng không nên ép.
Câu nói có vẻ dịu dàng và an ủi ấy không làm dịu được cặp mắt rừng rực và giận dữ của Hiếu, anh vẫn tiếp:
- Tôi không muốn mấy người bắt ép cha tôi phải giết người.
Nói xong, tay sẵn giữ đốc gươm, anh rút gươm ra rồi đập vào đánh rốp một cái. Không nói gì nữa, anh vuốt mái tóc cho ngược lên đầu, để lộ một vết sẹo vắt dài theo bên chân mày phải, nện mạnh cái bàn chân to lớn xuống sàn nhà, bước ra.
Mọi người nhìn theo anh với vẻ bất bình và sờ sợ. Họ không lạ gì cái tính của anh, như lão Ịnh hồi trẻ, hễ nổi nóng lên thì không biết sợ ai bao giờ. Khi anh đi khuất, mọi người xì xào: “Nó ỷ quá!” Không làm gì được anh, họ lại dồn mắt nhìn vào lão Ịnh.
Lão Ịnh ngồi trơ ra đó, lão đã hiểu rõ thêm về sự thay đổi của con mình, nhưng lão không thấy đau đớn gì thêm như lão tưởng.
Không dám nhìn mọi người, lão lơ đãng nhìn ra ngoài.
Những cơn gió bên ngoài rú lên như tiếng hú. Ngọn cờ màu già trước ngõ phành phạch vỗ tung lên. Tự dưng lão phát rùng mình. Lão cảm thấy mình như có những phút xa đạo. Lão liền đưa tay chụp lấy chòm râu và ngẩng mặt lên:
- Xin anh em miễn thứ cho nó. Mời anh em bàn tiếp xem ai là người giết Sáu Sỏi - Lão cố ý nói lớn những tiếng “giết Sáu Sỏi” để lấy nghị lực cho mình và để xoa dịu cái tức giận của chung quanh đối với Hiếu.
Quản Dõng liền tiếp lời:
- Thôi! Xin mời bổn đạo mình bàn tiếp, về phần chú Hiếu mình sẽ dạy dỗ thêm sau, trai tráng thì nóng nảy vậy thôi, xin các vị bỏ qua cho. Các vị xem ai là người giết Sáu Sỏi? - Và hắn nói luôn - Theo ý tôi, nếu không chú Hiếu thì nên anh Phó, có phải không các vị?
Nhiều người cùng nhao nhao lên:
- Đúng. Đúng lắm!
Ông Năm Ngũ vừa nói vừa đưa chân trèo lên ghế cho cao lên và nói tiếp với một giọng rõ to:
- Anh Tư mà hạ Sáu sỏi thì phải lắm, không miệng nào dám nói là mình vì thù nhơ oán chạ, có phải vậy không anh em?
- Phải! Phải!
Thấy lão Ịnh còn trù trừ, Quản Dõng đưa mắt ra hiệu cho Năm Ngũ ngồi xuống và sau khi phà ra một hơi khói dài, hắn liếc nhìn chung quanh, hắn nói tiếp với một giọng trang trọng:
- Các vị không nên ép anh Phó! Anh Phó nên nghĩ kỹ lại và tùy ở anh, nhưng tôi muốn nhắc lại với các vị một câu chuyện này. - Giọng hắn sôi nổi lên - Chắc các vị còn nhớ hai anh em Sùng Hầu Hổ với Sùng Hắc Hổ thời Trụ Vương chứ? Thời ấy, hai anh em họ Sùng cùng thờ vua Trụ. Nhưng khi Châu Võ Vương đứng lên phạt Trụ thì em là Sùng Hắc Hổ mới sang đầu Châu mà trở lại phạt Trụ. Trước khi sang Châu, Sùng Hắc Hổ đã bắt anh mình là Sùng Hầu Hổ mà nạp Châu Võ Vương. Sùng Hắc Hổ thời đó vì theo chân chúa mà cắt đứt tình em. Đó là gương xưa, còn mình bây giờ, vì đạo vì nước mà sao anh Phó lại ngại? Hơn nữa, Sáu Sỏi với anh Phó có phải là ruột thịt gì cho cam, anh Phó nên nghĩ lại đi anh Phó!
Nói xong, hắn đưa mắt nhìn quanh để dò hỏi. Mọi người rầm rộ khen ý kiến của hắn.
Ông Năm Ngũ lại trèo lên ghế, nói dồn tới:
- Anh Trưởng nói đúng đó anh Tư! Người xưa mà còn vậy thì huống chi là mình? Anh Tư à! Anh là người cầm đầu, anh phải làm gương cho bổn đạo chớ, phải không anh em trị sự?
- Phải! Phải rồi! - Mọi người đều la rân lên và đưa tay đồng tình.
Chiến thì mặt đỏ bừng bừng, anh chồm tới và nói như hét:
- Ông Phó không nhận thì cho ban ám sát chúng tôi. - Rồi anh trở giọng cằn nhằn - Chuyện có như vậy mà cứ bàn qua bàn lại! Hừ!
Trong lúc đó, lão Ịnh thò bàn tay vào làn áo, nắm lấy một chòm lông ngực giữ chặt và run run như sắp dứt ra một cái gì thật đau đớn và khó khăn, rồi gật đầu xuống một cái:
- Được! Để cho tôi!
Tiếng vỗ tay liền nổ vang lên giòn giã như ốc đổ. Chiến thì nhìn lão Ịnh, nói mát:
- Dữ không!
Ngoài Quản Dõng ra thì Năm Ngũ là người hài lòng nhất. Vì con của ông ta - là Hằng - trước là người yêu của Phát. Hai người đã sắp sửa kết nghĩa xuôi gia. Nếu lão Ịnh mà không nhận, người ta rất có thể đùn cho ông. Giết ai, ông cũng có thể xuống tay được, nhưng nói đến giết Sáu Sỏi thì ông cứ thấy sờ sợ.
Lúc mọi người tản ra về, ông ta còn đi kề bên lão Ịnh, nói:
- Không có gì khó đâu anh Tư, anh thấy tôi thì biết, tôi lúc đầu cũng như anh vậy thôi! Một vài lần rồi thì nó quen tay đi!
Lão Ịnh không nói không rằng, lững thững như cái xác không hồn, đầu cúi gầm xuống đất, từng bước, từng bước đi về cái hướng con ngựa hồng đang sẵn yên cương và đang gõ vó đồm độp ở bên đường...
Vừa lúc ấy, tháp chuông bên Cù lao Giêng đổ lên một hồi dài. Đấy là tiếng chuông thường lệ của nhà thờ công giáo. Thường thường, dân làng mỗi khi nghe hồi chuông ấy là biết: đã sáu giờ. Nhưng hôm nay, hồi chuông ấy, người ta nghe như tiếng chuông của tử thần đang kéo đến. Tiếng chuông ngân rền theo bóng tối đang tràn về.
 
Đăng nhập để trả lời
0

XIII

 
Ngoài pháp trường cây gừa, giờ giết Sáu Sỏi chưa đến, nhưng đã có một số người đến trước để giành chỗ rồi. Họ ngồi đứng bao quanh lấy cây gừa. Trong lúc chờ đợi, người ra mí nước đưa tay hứng lấy bọt sóng, người đốt đuốc quơ qua quơ lại cho thấy mặt nhau và bắt đầu cất tiếng hát:
Lệnh vua hành quân trống kêu dồn...
Họ cũng lại hát bài “Hòn vọng phu”...
Trong lúc đó, lão Ịnh cũng đã về đến nhà. Ngọn đèn dầu trên bàn thờ ông bà ở giữa nhà nhỏ như một giọt máu và lay lắt tỏa ra một thứ ánh sáng mơ hồ. Người lão in trên vách. Cái đầu to tướng, tóc xõa dài, cùng với cây gươm trường đeo bên hông biến hóa thành một hình thù dị kỳ.
Cái bóng đêm u ẩn dưới mây đen, những tiếng chó đầu trên xóm dưới tru rú lên và tiếng sóng vỗ ì ầm, tất cả cái ấy như mang nặng những nỗi đau đớn đến vò xé tâm can lão. Cái thân người quằn quại của Sáu Sỏi dưới ngọn gươm của lão sắp xảy ra, cái gương mặt giận dữ của Phát, tất cả hình ảnh ấy cùng hiện lên trước mặt lão như một cái bóng đen.
Lão ngước mắt lên hướng tay phải nhìn tấm trần điều trên trang, lão ngước mắt về giữa nhìn bàn thờ ông bà, lão ngước mắt qua trái nhìn chân dung của Quan Công và lão cúi nhìn Hiếu đang nằm quay mặt vào vách.
Nhìn quanh nhà, thấy ghế bị ngã, thấy cột nhà bị nhiều lằn gươm mới chém, thấy cây gươm dài của Hiếu còn dính sâu trong cạnh phản, thì lão hiểu: Hiếu vừa qua một cơn điên loạn.
Nhìn con, lão thấy tội nghiệp làm sao! Trước đây, khi Hiếu là một tay học trò giỏi trong nghề võ, lão hằng mơ tưởng: Hiếu sẽ đi khắp nơi để truyền nghề cho bổn đạo, Hiếu sẽ trở nên một vị anh hùng. Mỗi lần mơ tưởng đến, lòng lão tuy có se thắt lại vì nghĩ đến cái cảnh phải xa con, nhưng lão vẫn cứ hằng ao ước như thế. Lão nghĩ: con đi vì đạo, lão cũng được phúc lây. Nhưng sau khi Phát, Sáu Sỏi từ U Minh trở về làng không bao lâu thì lão đã thấy Hiếu không còn hăng hái nữa, đã sanh ra buồn rầu và ủ dột rồi. Và sau nầy, hễ có dịp là nó hỏi lão:
- Tại sao lại đi theo giặc?
- Đồ ngu! Đây là diệu kế của đạo, đạo gì mà đạo theo giặc hả! Đồ ngu! - Lão trả lời lại với con bằng một giọng quát tháo và đàn áp như vậy. Nhưng đêm nay, đứng nhìn con thì lão tự hỏi:
- Trời! Ai ngu? Nó ngu hay là mình ngu?
Trong lúc cần có người an ủi, lão càng thấy thương con hơn.
Lão đến bàn thờ giữa nhà cầm lấy chai rượu cặp vào nách, đến lay chân Hiếu dậy, khẽ bảo:
- Hiếu! Ngồi dậy uống một miếng rượu cho ấm bụng, con!
Rồi lão đưa chai lên miệng, uống ừng ực một hơi dài. Như bất thình lình, Hiếu ngồi bật dậy, quát vào mặt lão:
- Có phải cha giết bác Sáu không?
Hiếu nhìn thẳng vào lão với con mắt tròn xoe sáng quắc và đầy vẻ căm hờn. Lão phát sợ đôi mắt ấy, lão buông chai rượu xuống phản, lùi ra, người hơi khom xuống và môi run run:
- Có phải tại tao đâu!
- Bác Sáu là cái gì của cha mà cha giết, hả?
Hiếu vừa quát vừa bỏ chân xuống bộ phản, bước tới, ngực anh như trùm lên đầu lão.
“Hừm!” Cái hung hãn và hơi men trong người lão bốc lên, lão đứng phắt dậy, nghiêng vai, mặt kề sát vào con và rít lên trong hai hàm răng:
- Hừ! Tao giết! - Và toàn thân lão run lên vì giận. Bốn con mắt nảy lửa chòng chọc nhìn nhau. Hồi lâu, thấy không thể xúc phạm nhau được, đôi bên cùng lùi dần ra.
Hiếu lại nằm ngả xuống bộ phản. Còn lão, lão ngồi xuống ghế, nhìn ra, đánh một hơi thở dài.
Lão ngồi im như một pho tượng. Phút chốc, những chuyện đau khổ đâu đâu và xa xôi đã xếp thành dĩ vãng từ dưới đáy đời bỗng sống dậy lên trong lòng lão. Lão thấy người như đang rụng dần từng khớp xương thớ thịt. Nước mắt của lão trào tuôn ra, lăn dài theo chòm râu. Lão thấy cần có một bàn tay an ủi, lão nhớ đến vợ, lão muốn làm lành lại với con.
- Mày là con, dầu gì thì mày cũng phải nhớ chớ! Con người ta thương mẹ thương cha không hết, có đâu như mày.
Lão bước đến bộ phản, tay nắm giữ lấy chòm râu, tay cầm chai rượu đưa lên miệng, uống ừng ực. Rượu theo hai bên mép lão chảy dài xuống râu. Đặt chai rượu xuống, khà một cái, lão nhìn con, nói với một giọng phân trần, nho nhỏ và tha thiết:
- Con có biết đâu, cha đã gặp bác Sáu con, khuyên giảng không biết là bao nhiêu lần rồi. Con cũng biết, có người nào bị bắt mà được đối đãi như bác Sáu con đâu! Hồi trưa này, cha đã tới xin cho bác Sáu con được lên khỏi hầm bí mật để mà giảng cho bác Sáu con nghe cái điều phải trái. Cha đã nói, nếu bác chịu quy y theo đạo thì cha sẽ xin tha cho. Nhưng bác thì cứ một mực, bác còn chửi cha là đầu hàng, là mắc mưu giặc. Cha đã hết lời hết tiếng, nhưng tại cái phần số của bác, cha còn biết ăn nói làm sao!
Hiếu lồm cồm ngồi dậy, cơn nóng vẫn còn sôi sục trong lòng anh, anh vẫn hỏi gằn lại từng tiếng:
- Bác Sáu về đây có phải để trả thù trả oán gì đâu. Bác về để giải hòa đôi bên, hợp tác lại để đánh Tây, tại sao không chịu?
Vẫn cái đôi mắt sáng và nảy lửa của Hiếu khiến cho lồng ngực lão nóng ran lên, nhưng lão cố đè giọng nói cho dịu bớt xuống:
- Ảnh nói điều gì tao nghe, tao biết hơn mày, mày tưởng muốn đánh Tây là được liền sao? Hả? Tao đẻ ra mày! Hồi trước, cuộc khởi nghĩa nào ở trong làng mà tao không đi theo bác Sáu mày? Năm ba mươi, bốn mươi, bao nhiêu người chết, hỏi vậy đã làm gì được nó? Hả?
Nói đến đây, lão bỗng vụt nhớ đến những hình ảnh thất bại đau đớn trong ngày Nam Kỳ 40 trỗi dậy: người chết, nhà cháy, kẻ bỏ nhà “vong gia thất thổ”, kẻ bị đày đi lưu xứ, những bàn tay bị xỏ xâu... mất đất, mất vợ, mất chồng, xa con lạc mẹ, tiêu điều và nước mắt...
Nghĩ đến đây, lão quay nhìn qua con, rồi buông xuống một tiếng thở dài:
- Con ơi! Muôn sự là tại trời!
Những lời phân trần của lão không đủ để xoa dịu cơn tức tối của Hiếu, đôi mắt anh vẫn nảy lửa và giọng nói vẫn giận dữ:
- Nếu không chịu hợp tác với người ta thì thôi, tại sao thừa lúc người ta đi tay không mà bắt giết hả?
Lão không ngờ Hiếu cứ vẫn hung hãn như vậy, vẫn cứ xoáy vào cái đau đớn của lão, lão không êm dịu được nữa rồi, lão đưa bàn tay run run chụp lấy chòm râu, nhìn thẳng vào Hiếu, tia mắt của lão như hai luồng lửa, lão rít lên:
- Hiếu! Ai đã mê muội mày hả?
- Không ai mê muội được tôi hết. Tôi thấy bác Sáu không phải là là... - Anh không tìm được tiếng, cứ là là... như người cà lăm.
- Là cái gì hả?
- Không phải là người bán nước.
- A!... Mày muốn theo bọn đó rồi hả?
- Tôi không biết! Ai đánh Tây thì tôi theo.
- Trời! - Lão rít lên với giọng đầy kinh hãi; đôi mắt của lão như to hơn và như lấn ra khỏi mí mắt. Mặt lão xám lại, lão buông chòm râu ra, hai tay khuỳnh lên, tràn tới, hung hãn như con gà trống phùng mang, phùng cánh trước một kẻ thù.
- Hiếu! Mày giỏi thì mày đi thử tao coi! Hiếu!
Tiếng hầm hừ trong cổ họng lão như tiếng gầm gừ của một con thú dữ.
Hiếu không chịu nhịn lão, anh nhổ cây gươm trường chém dính ở cạnh phản ném xuống đất:
- Cha có giỏi thì cha giết tôi nữa đi! - Anh ngước nhìn lão với một vẻ thách thức.
Cái tiếng gươm khua khiến cho lão rợn người. Đôi mắt của lão hoa lên dưới ánh thép và thằng con của lão đứng dạng hai chân bên ngọn gươm, cái thân người nghiêng tràn tới với gương mặt bừng lửa, nó như vụt lớn lên.
- A! Mầy muốn đấu gươm với tao đó à?
Lão lùi lại, một tay chụp lấy chòm râu, một tay xua ra lia lịa và giọng run lên:
- Đi! Mầy đi ra khỏi mắt tao, đi, đi ngay lập tức!
- Cha khỏi đuổi. - Giọng Hiếu cộc lốc. Anh vừa nói vừa quay mình bước ra sân.
Khi bóng của Hiếu hòa tan trong bóng tối thì lão buông mình ngồi phệt xuống phản.
- Thôi! Thế là hết!
Lão khẽ lắc đầu, rãi rơi những giọt nước mắt.
Trời bên ngoài, gió vẫn xao xuyến qua hàng dương bên đình.
Vừa lúc ấy, tiếng tù và từ cây gừa túc lên “bun bun” từng chập một, như giội vào đêm tối từng luồng khói đục.
Giờ giết Sáu Sỏi đã đến rồi. Lão Ịnh ngồi nghe tiếng tù và như tiếng gió độc thổi vào lồng ngực mình. Lần đầu tiên lão nghe một cảm giác buồn nặng khác thường và có cái gì nhoi nhói qua tim mình. Lão đưa năm ngón tay sờ lên đốc gươm và lẩm bẩm:
- Giết hay là không giết?
Lão bỗng vùng đứng dậy chạy ra sân, nắm lấy bờm ngựa và nhảy thốc lên yên. Trời, không khí nhuộm đen màu mực tàu, như bị mây đè ép xuống dày đặc, khó thở và nặng nề. Và mưa bắt đầu rúc rích.
Lão ngồi trên yên ngựa trơ như bức tượng đồng đen. Lão đưa mắt nhìn những ngọn đuốc cháy chấp chới ở pháp trường cây gừa. Lão đưa tay lên ngực, mắt ngẩng nhìn lên trời và lẩm bẩm:
- Dám xin thưa các vị thiên thần hai bên vai vế, các vị có linh thiêng hãy về đây xua đẩy giùm tà ma, quỷ quái ra khỏi người tôi, giúp cho tôi quên đi tất cả tình nghĩa bạn bè chí thiết. Hãy giúp cho lòng dạ tôi được cứng như sắt, vững như đồng. Hãy giúp cho tôi được trung thành với đạo. Nam mô a di đà phật!
Vái xong lão khẽ chợt rùng mình, rồi dang rộng hai chân đạp mạnh vào hông ngựa, tay phải giật cương, cúi rạp mình xuống, nhựa cất vó phóng lên và sải tới. Cái búi tóc sau ót lão bị sút ra, xõa dài sau lưng, bay tung lên và chập chờn trong những bóng đêm tràn xuống.
 
Đăng nhập để trả lời
0

XIV

 
Họ đã giết xong Sáu Sỏi. Họ quơ cao ngọn đuốc ra về và trổ giọng hát. Họ cũng hát bài hát Hòn vọng phu. Lão Ịnh ngồi lắc lư trên mình ngựa. Hai bàn tay của lão như dính phải chất nhờn, run buốt lên vì cái chết của Sáu Sỏi, như hãy còn giãy giụa trong lòng lão. Đầu lão choáng váng. Lão xuống ngựa, nhờ Năm Ngũ dắt ngựa về giùm, rồi tách ra khỏi đám đông. Bỗng lão sờ soạng.
Ngựa đi ngoài xa hí vang trời
Chiêng trống khua trăm hồi
          Ngần ngại trên núi đồi
          Rồi vọng ra khắp nơi
          Thắng bao niềm chia phôi…
          Giọng hát hòa tan trong tiếng sóng tràn theo sau lưng lão. Họ gào thét bài hát ấy, nhưng giọng hát cũng chỉ não nề, ai oán một tâm hồm u uất. Giọng hát cùng ánh đuốc vờn lên đêm tối. Ánh đuốc của họ không làm sáng được bầu trời, mà ngược lại, ánh đuốc vừa đi qua thì bóng tối tràn ụp vào, tối tăm hơn.
          Tiếng hát ấy hiện lên trước mắt lão rõ ràng hình ảnh một người đàn bà bế con, đứng trên đỉnh núi cao trông ngóng chồng về. Trông mãi, trông mãi, người thành ra tượng đá thành Hòn vọng phu. Âm điệu của bài hát Hòn vọng phu mang theo tâm trạng tuyệt vọng của người đàn bà trông chồng đi chinh chiến. Độc nhất bài hát đó. Họ hát bài hát đó khi họ chào cờ, khi động viên nhau ra mặt trận, hát trong lúc mặc niệm và hát cả trong lúc vui mừng chiến thắng nữa.
- Vì sao thế?
Họ đang vui mừng chiến thắng mà sao từ dưới đáy lòng họ lại thốt lên lời ca tuyệt vọng? Vì sao thế?
Đêm nay, tự dựng lão Ịnh đặt ra câu hỏi ấy. Có lẽ linh tính báo cho họ và ta biết, ta và họ đang đi trên con đường tuyệt vọng chăng? Lão nghĩ như thế, rồi bước đi những bước chậm và nặng nề.
Quản Dõng ngồi trên lưng con ngựa ô, tay cầm đuốc, thấy một người to lớn mập mờ ở phía xa, hắn biết đó là lão Ịnh. Hắn muốn cất tiếng kêu, nhưng không hiểu nghĩ thế nào rồi hắn lại thôi. Hắn thúc ngựa chạy lên phía trước, thẳng tay quay tròn ngọn đuốc và hô to:
- Hòa Hảo vạn tuế!
- Vạn tuế!
Mọi người dừng lại, quơ kiếm, quơ đuốc và gào lên.
- Hòa Hảo vạn tuế!
- Vạn tuế!
- Vạn tuế!
- Vạn, vạn tuế!
Rồi họ lại hát, tiếng hát lan dần ra khắp nẻo. Khi mọi người tan về, Quản Dõng mới quày ngựa về hướng lão Ịnh.
Hắn sợ và cứ rùng mình vì những lời cuối cùng của Sáu Sỏi. Trước khi bị chém, Sáu Sỏi còn kêu lão Ịnh và ngẩng mặt về hắn mà nói: “Anh Tư! Thằng mà anh giết là thằng Quản Dõng kia kìa!” Chính vì cái câu ấy mà lão Ịnh trù trừ. Trong khi lão Ịnh trù trừ, Sáu Sỏi đã có đủ thời giờ ngước nhìn mọi người, có đủ thì giờ để nói với tất cả mọi người xung quanh: “Bà con! Nếu bà con có gặp thằng con của tôi, bà con hãy nói lại giùm tôi, bảo với nó, bảo nó phải bắn vào đầu kẻ giặc, phải bắn vào đầu tên Quản Dõng kia, còn đối với bà con, thì bảo nó đừng có trả thù!” “A! Cái thằng...!” Lúc ấy, hắn điếng lên. Không thể chần chờ được nữa. Hắn liền thúc ngựa tới, hét to. Hắn chẳng nhớ rõ là hắn hét cái gì nữa. Hình như là hắn hét lão Ịnh. Đến lúc đó, lão Ịnh mới dám bước tới trước mặt Sáu Sỏi. Trong ánh đuốc chập chờn, hắn thấy lão Ịnh vừa chém vừa nhắm mắt. Hắn hối hận: tại sao mình lại giết “nó” trước mặt mọi người. Tại sao không cho “nó” mò tôm? Cái đau đớn, cái trầm lặng có vẻ suy nghĩ của lão Ịnh khiến cho hắn lo sợ. Hắn thúc ngựa chạy nhanh hơn.
Gặp lão Ịnh, hắn liền xuống ngựa, tay cầm cây đuốc, tay chụp vai lão Ịnh lắc rung lên:
- Anh Phó! Anh làm tôi coi cũng được đấy! - Rồi hắn ngả người ra sau nhìn lão và tiếp - Nhưng tiếc cái anh Phó còn hơi trù trừ, để nó còn kêu đạo mình ra mà chửi.
Đoạn, hắn đưa tay lên ống vố đỏ rực lửa, hít một hơi dài, rồi vừa nhả khói vừa nói:
- Anh Phó chắc còn nhớ lúc đức Phật Thích Ca Mô Ni hồi còn là một vị bồ tát? Hồi đó, đức Phật đi che chở một đàn năm trăm người xuống biển mò ngọc trai, khi về thì có một tên cướp định giết năm trăm người đó mà đoạt của quý. Đức Phật là người nhân đạo, không giết tới con kiến chớ đừng nói đến chuyện giết người. Lúc đó đức Phật mới nghĩ, nếu không trừ tên tướng cướp đi thì năm trăm người kia sẽ bị giết, vì thương năm trăm người đó mà Đức Thích Ca đâm cái thằng tướng cướp đó. Đức Phật giết nó, không những để cứu năm trăm mạng người mà còn cứu cả cái thằng cướp đó nữa. Nếu để cho nó giết năm trăm người kia, nó sẽ bị tội, linh hồn nó sẽ bị sa xuống địa ngục, cũng vì thương nó mà đức Phật chịu nhận cái tội giết người cho nó. Cũng như anh giết Sáu Sỏi hôm nay, chẳng qua là anh cứu cho Sáu Sỏi khỏi cái tội quấy nhiễu con đường mưu sự cơ đồ cho đất nước mình đó thôi.
Hắn đưa tay vỗ nhẹ vào vai lão Ịnh:
- Chuyện làm của mình như vậy, có gì mà anh Phó phải buồn. Anh làm như vậy, bổn đạo biết được họ cười chết, anh Phó!
Cái gương cao cả và xa xôi không căn cội ấy của Quản Dõng đưa ra không an ủi được nỗi đau đớn của lão. Giờ đây, bao nhiêu kỷ niệm tình chí thiết với Sáu Sỏi đều sống dậy trong lòng lão, nhưng lão vẫn đưa tay nắm lấy chòm râu kéo đầu gật xuống, gật lên. Lão cố tạo ra một thái độ hài lòng và vừa đi vừa nói:
- Không! Tôi không buồn về việc Sáu Sỏi đâu anh Trưởng. Tôi biết, mình làm đây chẳng qua là vì đạo. Tôi buồn đây là buồn cái thằng Hiếu của tôi nó dám lớn tiếng với anh em... - Nói đến đây, lão ngừng lại và chớp mắt nhìn Quản Dõng. Lão thấy mình đã lỡ lời để lộ cái không hay của con cho người khác biết. Nó có bề gì, lão không thể sống được, lão đã thấy mọi người không được vừa ý nó rồi. Lão im lặng và đi những bước chậm. Cái im lặng của lão khiến cho Quản Dõng suy nghĩ. Hắn vừa đi vừa liếc nhìn cái vẻ ủ rũ của lão. Hắn thấy rõ cái nỗi đau đớn của lão hiện rõ lên trong cái vẻ ủ rũ ấy. Lão khổ khi lão giết một kẻ thù của hắn. Hắn thấy cần phải đề phòng cái nỗi khổ này của lão. Cái ý nghĩ phải đánh rơi cái chức phó ban của lão Ịnh liền trở lại với hắn. Có như thế, sau này, nếu lão Ịnh có trở tay chống hắn, lão Ịnh cũng không còn quyền hành gì, lão sẽ không lôi kéo được ai. Nghĩ đến đây, bỗng nhiên hắn thấy sợ con người to lớn với chòm râu đen dài đang lầm lì đi bên cạnh hắn. Hắn nhảy phóc lên lưng ngựa, định chạy đi; nhưng hắn cố giữ lại trầm tĩnh và nghiêng mình đưa tay níu lấy vai lão Ịnh:
- Anh Phó ghé qua nhà tôi uống rượu một chút cho ấm bụng!
- Thôi được anh Trưởng, tôi cần đi đốc thúc anh em canh gác cho cẩn mật.
- Anh Phó nghĩ tới đó là phải. Mình giết nó mình phải đề phòng cho cẩn thận mới được. Hay là như thế này, anh bảo thằng Chiến phi ngựa qua Nhân Mỹ. Nghe nói là bộ đội của Ba Kềnh Càng đang đóng ở đó. Bảo thằng Chiến phải khéo lời, mời bộ đội Ba Kềnh Càng, tốn bao nhiêu “sở hụi” ban trị sự mình sẽ chịu. Còn tôi, tôi báo với quan hai Tây được biết, có gì thì ủng hộ cho mình một vài trái đại bác! Như vậy nghe anh Phó! Đêm nay tôi nghi quá! Thôi, tôi về! - Hắn thúc mạnh vào hông ngựa, ngựa chồm sải tới.
Lão Ịnh vẫn trầm lặng và đi những bước chậm.
 
*
*      *
 
Sau khi gặp Chiến, bảo Chiến đến nhà Năm Ngũ bắt ngựa; về đến nhà, không thấy Hiếu lão có ý hơi mừng. Lão pha vào diệm nước một ít rượu và xòe hai bàn tay run run ngâm vào. Hai bàn tay của lão cứ run run, buốt buốt, tê tê, lão thấy như không phải chính hai bàn tay của mình: Cái bàn tay cầm ngọn đao làm rụng đầu người bạn chí chiết!
- Bàn tay của anh có thể cắt được tình nghĩa anh em, nhưng bàn tay anh không thể che được ánh sáng của chánh nghĩa đâu!
Lồi nói của Sáu Sỏi lúc phản đối lời kêu hàng của lão trước đây, vẳng đến tai lão như lời nguyền rủa. Càng nhớ, lão càng kỳ cọ hai bàn tay. Nhưng bàn tay của lão vẫn chưa trở lại bình thường, lão trút thêm rượu và nhổm mình cao lên, dồn tất cả sức lực vào tay và kỳ cọ từng ngón một. Nước rượu vỗ vào thành diệm trào lên. Chốc chốc, lão đưa bàn tay lên, nhìn, rồi nhúng vào, rồi kỳ cọ. Dòng máu của Sáu Sỏi làm hoa mắt lão, lão thấy nước rượu trắng trong qua ánh sáng của ngọn đèn dầu đã đỏ ngầu như máu, mà hai bàn tay của lão vẫn chưa hết chất nhờn nhờn và tê tê, buốt buốt ấy.
Bây giờ, lão mới bấu víu lấy cái gương xa xôi của đức Phật do Quản Dõng nói ra mà an ủi nỗi đau đớn của mình. Lão kêu thầm:
- Anh Sáu ơi! Linh hồn của anh sẽ không sa xuống địa ngục!
Đoạn, lão chùi nhanh hai bàn tay vào quần, đi nhanh về hướng trang thờ, đốt lấy ba nén hương và ra đứng trước bàn thông thiên. Thân lão đứng thẳng, hai bàn chân khít lại, hai bàn tay chấp ba nén hương đưa lên ngang trán, đầy đủ cái tư thế thành kính nhất, lão thì thầm:
- Nam mô a di đà Phật. Cầu Phật tổ Phật thầy, chư vị năm ông, trăm quan cựu thần, chư vị sơn thần năm non bảy núi phổ độ bá tánh vạn dân tiêu tác, tỉnh sự giải thoát mê ly...
Ngoài cái câu chánh thức ấy, lão lại vái thêm:
- Nam mô a di đà Phật! Tôi là Nguyễn Văn Ịnh năm nay năm mươi tư tuổi, sanh đẻ ở làng Mỹ Long Hưng, thuộc quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên, đêm nay tôi có giết anh Sáu Sỏi là người bạn thân. Hôm nay, anh Sáu vì đi sai con đường của trời Phật mà tôi phải xuống tay. Tôi giết anh không phải vì thù nhơ oán chạ, mà vì lòng trung với đạo với nước. Xin các vị chư phật chứng kiến cho. Nam mô a di đà Phật...
Lão cúi đầu xá, cắm hương, rồi hai bàn tay chắp khít lại để ngang ngực, mọp đầu lạy: hai đầu gối, hai cánh và đầu mọp cho tới đất, hai bàn tay thì lật ngửa lên kèm theo hai bên trán. Lão lạy như thế là ba lạy.
Sau khi cầu nguyện xong, lão thấy trong người được nhẹ nhàng đi một ít. Và cho đến bây giờ, lão mới sực nhớ ra rằng: từ chiều đến giờ, lão chưa ăn một hột cơm nào.
Lão vào nhà, soi đèn xuống bếp. Nồi niêu đều trống rỗng và bếp thì lạnh tanh. Lão biết Hiếu không có nấu cơm chiều. Bụng lão cồn cào vì bị chất men đốt cháy. Nếu như mọi lần, lão đã đến nhà Quản Dõng để nhậu rồi, nhưng hôm nay thì lão nghĩ đến ông Năm Bầu, người bạn nghèo của mình.
Lão đến nhà ông Năm Bầu, thập thò ngoài cửa nhìn vào.
Thằng Chiến đi rồi, chỉ thấy ông Năm Bầu một mình trên bộ phản. Cạnh bên ông là một cái xương cá lóc nướng trui nằm vắt ngang miếng lá chuối. Chai rượu đã cạn, thân vẩy cá nằm đen trên manh chiếu.
Còn ông Năm Bầu, ông ta đang ngoẻo đầu bên cần cây đàn cò.
“Í i i ò, i ỉ ì ỉ í i ò...”
Đó là tiếng đàn hay là tiếng khóc? Lão nhìn ông Năm Bầu đang cầm cây cung đàn kéo qua kéo lại mà tưởng như ông ta đang cầm con dao cứa qua cứa lại khúc ruột mình. Rồi, lão thẫn thờ quay ra và đi lẫn trong bóng tối mịt mù.
 
Đăng nhập để trả lời
0

XV

 
Đêm hãy còn sớm mà trời như giữa khuya.
Nhà của Hằng lạnh tênh. Phi Hùng đã đi gác. Mẹ Hằng đang mọp đầu dưới trang thờ. Hằng đang quỳ dưới bàn thông thiên trước sân nhà. Ông Năm Ngũ đang ngồi uống rượu suông trên bộ phản. Nhà không để đèn. Chỉ có ánh sáng của những đóm lửa li ti của bó hương.
Ông đang vắt óc tìm ra những tội lỗi của Sáu Sỏi để chứng minh cho cái chết của Sáu Sỏi là phải. Ông mở trừng mắt, nhìn vào đêm tối. Hình ảnh của Sáu Sỏi hiện dần ra trước mắt ông. Tháng giêng năm 1932, Sáu Sỏi về xóm, dựng nhà cạnh bên nhà ông với đứa con trai mười hai tuổi. Cái thằng con thích đuổi theo chim én là đà trên mặt đường, mà Hằng rất thích. Sáu Sỏi cắt tóc cho Hằng, Phi Hùng, và cắt tóc cả cho ông mà không lấy tiền. Một anh thợ lành nghề! Trước khi cắt, tay lần tóc nhổ cho ông một sợi tóc bạc, rồi gãi gãi cái chỗ ngứa cho ông. Còn “cái nước” cạo nữa chứ! Cái dao cạo từ ót cạo dài đến nửa lưng, đã ngứa làm sao! Cả câu chuyện của Sáu Sỏi cũng gãi đúng cái chỗ ngứa của ông, nào chuyện làm ăn, chuyện “quốc sự”, chuyện Trương Định đánh Tây ở đám lá tối trời, chuyện những đâu đâu đang biểu tình chống sưu chống thuế. Những câu chuyện ấy cứ làm cho ông rộn rực mãi, vừa lo vừa thú, không ngủ được.
Ông đang tìm, đang moi móc những tội lỗi của Sáu Sỏi, thì những hình ảnh ấy lại đến với ông. Ông đưa tay gãi gãi ngay cái sợi tóc mà Sáu Sỏi đã nhổ cho ông cách đây đã hơn mười năm. Ông vội lắc đầu, xua đuổi những hình ảnh ấy! Và ông cố nhớ lại từng cử chỉ nhỏ của Sáu Sỏi từ lúc ở tù về. Một ông chủ nhiệm của huyện mà chẳng có vẻ gì là ông chủ nhiệm cả. Vẫn những bộ quần áo bà ba bạc màu, vẫn như xưa, chỉ có khác trước là tay không xách cái va li nhỏ đựng bộ đồ nghề, mà tay ôm một chiếc cặp bàng công văn giấy tờ. Vào đạo, ông để tóc, ông chủ nhiệm không cắt tóc cho ông nữa, nhưng thỉnh thoảng lại cạo râu cho ông. Sau khi được cạo râu, ông lại còn được ngoáy tai nữa chớ! Vừa được cạo râu vừa được nghe chuyện. Không như những người ngoại đạo khác, - cha cũng như con - ông chủ nhiệm không bao giờ cười cái đầu tóc của ông, không bao giờ hỏi ông chừng nào thì đi dự hội Long Hoa với giọng chế giễu, một ông chủ nhiệm ngoại đạo mà lại hiểu về đạo lý một cách sâu xa.
- Anh Năm có biết cái trần điều ở trang thờ có cái ý nghĩa gì không?
Ông là tín đồ, ông không biết sao được! Nhưng ông không nói, mà hỏi vặn lại:
- Vậy theo anh thì nó có cái nghĩa gì?
Ông “chủ” vừa cạo râu cho ông vừa nói:
- Tấm trần điều màu đỏ. Màu đỏ là máu, màu máu là màu cách mạng. Thờ trần điều tức là thờ cách mạng, tức là phải làm cách mạng, phải đánh Tây, phải đoàn kết với mọi người để đánh Tây.
Như được gãi đúng vào chỗ ngứa, ông thấy hãnh diện cho cái đạo của mình... Trong những cuộc vui trước anh em, vui miệng đôi khi nửa đùa nửa thật, Sáu Sỏi thường gọi ông là anh xuôi. Được làm xuôi với ông chủ nhiệm! Ông thấy tự hào!
Ông Năm Ngũ lại lắc đầu, xua đuổi những hình ảnh đó. Ông bỗng chợt nhớ ra rồi. Có, có một lần. Ông lẩm bẩm. Lần ấy, cũng là lần Sáu Sỏi cạo râu cho ông. Ông cố bám vào hình ảnh, cố nhớ lại thật rõ ràng. Một buổi chiều ba mươi Tết. Gió bấc non thổi rao rao qua cây xoài. Chim én lượn qua sân. Ông ngồi trên chiếc ghế đẩu dưới gốc xoài. Một lá xoài, rơi xuống trước mặt ông. Sáu Sỏi mặc bộ quần áo bà ba đen. Sáu Sỏi lấy ra con dao cạo trong chiếc cặp bàng, liếc con dao trên gan bàn tay.
Sáu Sỏi vừa cạo râu cho ông, vừa nói về đạo lý. Bỗng ông chợt hỏi:
- Chú biết nhiều đạo lý, thuộc nhiều kinh sấm, hay là chú vào đạo với tôi đi.
Sáu Sỏi cười, (ông nhớ cái nụ cười ấy) nói:
- Tôi không nói anh cũng biết, tôi thì tôi không tin trời Phật đâu!
Nghe nói, ông thấy nóng mặt, ông hỏi lại:
- Vậy thì ông chủ tin ai? Làm người ông không theo một cái đạo nào à?
- Tôi không tin ở trời Phật, nhưng tôi tin ở sức lực, ở con người và tôi cũng có một cái đạo, đạo làm người.
Lúc ấy, ông nổi nóng thật, nhưng ông cố dằn, ông hỏi lại với giọng châm chọc:
- Ông tin ở cái sức của ông, vậy ông quên cái ngày Nam Kỳ bốn mươi rồi à? Ông tin ở cái sức của ông, sao lại đi tù?
Nói xong câu đó, ông nghĩ là ông chủ nhiệm sẽ nổi điên lên. Nhưng không, ông chủ nhiệm cũng lại cười, cái nụ cười có vẻ coi ông là một đứa trẻ con, thế mới ức chớ! Ông chủ nhiệm cười, rồi nói:
- Anh là người có đạo mà anh lại quên cái câu kinh, câu sấm này rồi à? - Ông chủ nhiệm đọc luôn, giọng trầm trầm: - “Chuyện thế gian như thể cuộc cờ, thắng với thối một hai nước tướng”. Đấy! Ăn thua nhau một hai con cờ mà nhằm gì, ăn thua nhau là ở nước cuối. Nam Kỳ bốn mươi bị thất bại thì Cách mạng Tháng Tám lại thành công!
- Cách mạng Tháng Tám thành công là nhờ có lá cờ già của đạo Phật giáo Hòa Hảo.
- Anh nói cũng đúng thôi! Nhưng nếu chỉ có lực lượng của bà con Hòa Hảo không thì cũng chưa đủ, cái chính là lực lượng của toàn dân.
Lúc ấy, ông đuối lý, nhưng ông vẫn tin theo ý nghĩ của ông. Nếu ở “thế gian” này mà không xuất hiện lá cờ già thì làm gì lấy lại nước được.
Đúng rồi, anh ta có bảo là anh ta không tin trời Phật. Làm người mà tại sao không tin trời Phật? Có cái tội nào to hơn như thế nữa không? Nhưng rồi ông thấy cái câu nói ấy của Sáu Sỏi không đủ cho cái chết. Ông lại thấy bứt rứt.
- Đúng! - Ông bỗng kêu thầm lên. - Làm chủ nhiệm của huyện mà không tin trời Phật, nên làng xóm mới ra nông nỗi này. Chết là đáng! - Ông nói thầm. Nhưng ông lại thấy mình nói gượng.
Ông lại lắc đầu. Đầu ông căng lên như muốn vỡ tung ra. Thôi. Không nghĩ nữa! Ông tự giận lấy mình. Ông cầm chai rượu, uống ừng ực, uống một hơi cạn cả hai phần ba lít. Ông uống một hơi dài.
Ruột gan ông nóng như lửa đốt. Đầu ông nặng như đá. Ông đưa tay chùi hai mép. Ông nằm ngả xuống. Ông lấy cái chai làm ghế kê đầu. Nhưng cái chai không nằm im, cái chai trượt xuống ót ông, thành ra ông kê cái cổ lên chai.. Đầu ông ngửa lên, miệng ông há ra. Bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu ý nghĩ lẫn lộn vào nhau, xoay tròn trong óc ông. Và ông không còn thấy gì nữa.
Mẹ Hằng lạy xong, lấy manh chiếu đắp cho chồng, ngồi cạnh bên chồng.
 
*
*      *
 
Hằng quỳ dưới bàn thông thiên nhưng không mơ thấy những hình ảnh ở cõi hư vô nữa. Cái chết của Sáu Sỏi cứ hiện lên trước mắt nàng.
Đầu hôm, Hằng định không đi dự pháp trường. Nhìn cái cảnh ấy Hằng sẽ chết mất. Nhưng khi tiếng tù và vừa dội lên thì Bảy Thẹo đã đi qua nhà, hỏi vọng vào:
- Cô Hằng có dự pháp trường không? Bà con lối xóm, người ta đã đi hết rồi.
- Anh đi trước đi, tôi sẽ đi sau.
Đêm chập choạng, nhìn thấy cái bóng to, lùn của tên Bảy Thẹo, Hằng bỗng nhố đến những lời đồn: đêm đổi đời, bọn quỷ dương đi nghểu nghến ngoài đường, gõ cửa gọi tên người. Hằng rùng mình.
Hằng định vào giường, trùm chăn cho kín, thì hai cô ả con gái của Quản Dõng bước vào. Một cô cùng tuổi Hằng, một cô nhỏ hơn Hằng hai tuổi. Cô em hơi xinh, cô lớn xấu như quỷ. Cả hai cô đều ăn mặc theo điệu Phàn Lê Huê, Lưu Kim Đính. Cả hai cô đều giắt kiếm, vỏ kiếm bằng da may rất khéo. Cô lớn hỏi:
- Sao bây giờ mày còn ở đây, hả?
Cô nhỏ hỏi:
- Mày có thấy anh Bảy Thẹo đi ngang qua đây không?
- Dạ có!
- Anh có rủ mày đi không?
- Em bảo ảnh đi trước, rồi em đi sau.
Hằng biết là họ muốn ghép mình cho tên Thẹo, nàng thấy kinh tởm và buồn cười. Họ làm như cả làng này không được một người đàn ông nào vậy.
Một hồi tù và lại dội lên. Cô lớn giục:
- Thôi, mặc quần áo vào, đi đi chớ?
- Mấy cô đi trước đi, em cho heo ăn rồi em sẽ đi.- Hằng tìm cách từ chối.
- Bây giờ mà còn heo với củi. - Cô nhỏ nói.
- Em có được như các cô đâu. Nhà em dạo này bấn lắm.
- Thôi, đừng có viện lẽ. Chắc là còn nghĩ tình cha chồng rồi! Không đi thì cứ nói thật thôi. Ai làm gì đâu mà sợ.
Câu nói ấy ác quá! Nếu cô ta cứ cầm ngọn kiếm kia mà đâm vào tim mình, mình còn gì đau hơn. Hằng nghĩ. Nhưng Hằng lại cười ngất lên, mái tóc cứ rung lên theo chuỗi cười của nàng. Cái cách cười của nàng khiến cho hai cô của nhà Quản Dõng phát sợ.
Hằng luôn luôn chống chế lại bằng một chuỗi cười như vậy, rất nhạy như một thói quen của bản năng.
- Cha chồng của em đấy à? Thằng ấy thì để em giết mới vừa. - Nước mắt cùng tràn lên theo câu nói ấy của Hằng, nàng vội quay đi, rồi nàng nói với giọng liến thoắng. - Ừ! Đi đi hai cô.
- Thay quần áo đi! - Cô nhỏ bảo.
- Em cứ ăn mặc thế này thôi. Quần áo em đã giặt hết rồi.
- Tiếng tù và đang túc kên nữa kìa, đi đi thôi!
Thế là Hằng phải đi pháp trường. Hằng đi với hai cô con nhà Quản Dõng. - Cô tên Loan, cô tên Phượng. - Hằng đi giữa, hai cô đi hai bên. Hai bên hai ngọn kiếm. Hằng như bị họ giải đi. Hằng đi dự pháp trường, mà thấy mình như bị đem ra xử. Tất cả ống xương trong người nàng như mềm lại. Nàng thấy mình yếu như một cộng bún.
Đến nơi, pháp trường đầy đủ mặt người, có hơn nghìn người, những người ở xóm khác cũng đến.
Pháp trường là cái cột bằng cây săn, chôn dưới đất, cao hơn thước, dùng để buộc chặt người bị giết vào đó. Sau pháp trường là dòng sông, dòng sông lúc nào cũng hằm hè và từ xa khơi bủa lên những ngọn sóng bạc đầu.
Họ đốt đuốc vây một vòng hình cánh cung trước cây cột của pháp trường. Những ngọn đuốc, lửa không rực rõ, không tươi sáng. Ngọn lửa đỏ sậm, bốc lên một làn khói đen. Cái màu lửa thật tối tăm. Hằng bỗng chợt nhớ đến ngọn lửa dưới địa ngục của một bầy quỷ hình thù dị kỳ mà người ta vẽ trong các bức tranh. Trong ánh đuốc, mắt của mọi người đều đỏ hoe như những cặp mắt nhuộm bằng máu.
Quản Dõng ngồi trên mình ngựa cạnh bên cây cột. Hắn mặc bộ đồ già phủ phục đến gối. Tóc của hắn không bới, buông xõa và bị gió thổi tung lên. Bảy Thẹo đứng cạnh bên, cầm đuốc, thẳng tay đưa cao lên, gần mặt Quản Dõng. Trong ánh đuốc, nước da của Quản Dõng biến thành màu đồng điếu. Ngồi trên mình ngựa, tay giữ đốc gươm, tay cầm một tờ giấy màu đỏ đưa lên trước mặt, hắn cố gào lên cho át tiếng sóng, đọc xong một câu, hắn dừng lại, trợn mắt như muốn hăm dọa mọi người:
- Đêm nay, ta đem ra xử một thằng Việt Minh cộng sản, một thằng phản quốc, một thằng quỷ dương - thằng Sáu Sỏi. Nó đã chỉ huy bọn Việt Minh, giết hại bà con tín đồ chúng ta, bà con bổn đạo của làng chúng ta, đã chết hơn mười lăm người, đốt hai mươi ngôi nhà. Nó đã đập phá không biết bao nhiêu trang thờ của chúng ta, xé không biết bao nhiêu tấm trần điều của chúng ta, đốt không biết bao nhiêu hình ảnh đáng ngưỡng mộ của Phật thầy!
- Giết nó! Giết nó! Đả đảo.
Có nhiều tiếng bỗng thét lên. Tất cả đều gào theo, quơ đuốc, vung gươm vung kiếm. Gươm kiếm chạm vào nhau, nghe lạnh cả người. Quản Dõng tiếp:
- Nó độc tài, nó giành hết chánh quyền để đàn áp bà con bổn đạo của chúng ta. Nay, bọn nó đang bắt ép Thầy.
Cả một khối người liền xôn xao, nhìn nhau, xầm xì.
- Nó định mang giấy của Thầy về đây để do thám, nói là đế đoàn kết kháng chiến, nhưng nó là bọn tà tâm, nó về đây để lập mưu giết hại bà con bổn đạo chúng ta. Phật thầy đã vì bá tánh chúng sanh mà phải lao đao lận đận...
Trong khối người có tiếng sụt sịt khóc, có tiếng tắc lưỡi, tiếng thở dài và tiếng nghiến răng. Thầy bị nạn và cái chết của Sáu Sỏi, cả hai cái tin, Hằng đều bị xúc động. Hằng không đứng vững nữa. Hằng phải vịn vào vai của một người đứng cạnh. Giọng của hắn vẫn gào lên nhưng có vẻ đau xót:
- Trong cái cảnh gian truân này, như người bị nạn vì bá tánh, Thầy phải nói ngược lại. Thầy bảo đánh thì đoàn kết, mà Thầy bảo đoàn kết thì phải đánh. Giấy của Thầy đưa cho nó đi viết là đoàn kết, tức là Thầy dạy chúng ta phải giết nó.
- Đả đảo! Đả đảo!
Khối người bỗng vung đuốc, vung đao kiếm, gào thét lên như tiếng sấm.
Lúc ấy, ở phía sau, có tiếng lòi tói khua lên mỗi lúc mỗi gần. Chiến đang đưa Sáu Sỏi ra pháp trường.
- Đả đảo! - Quản Dõng vung tay gào lên.
- Đả đảo! - Mọi người đều gào theo, mỗi lúc mỗi to, mỗi lúc mỗi dữ dội hơn.
Chiến đưa Sáu Sỏi đến trước mọi người, rồi buộc chặt Sáu Sỏi vào cái cột. Tiếng gào thét, chửi rủa, thù hằn cứ nổi lên. Quản Dõng cho ngựa trở về, đứng cạnh bên khối người.
Khi Sáu Sỏi ngước nhìn thì, tiếng gào thét mỗi lúc mỗi thưa, mỗi dịu đi, rời rạc rồi im hẳn.
- Lão Ịnh đâu?
Quản Dõng quát hỏi. Mọi người nhìn nhau, lơ láo và kêu réo một hồi. Một hồi tù và dội lên, rồi lại một hồi nữa. Mọi người xôn xao, hỏi nhau, ngó quanh ngó quất, tìm lão Ịnh. Một lúc sau, người ta nghe tiếng vó ngựa. Và lão Ịnh đến. Trong ánh đuốc nhập nhoạng, người ta vẫn thấy được người lão Ịnh ướt đẫm mồ hôi. Lão Ịnh xuống ngựa, tay cầm một ngọn kiếm dài.
Hằng không dám đứng ở hàng đầu. Hằng ẩn ở giữa. Hằng thấy Sáu Sỏi bị buộc vào cây. Hằng quên hẳn cái tin của Thầy đang bị nạn (cái tin bịa của Quản Dõng). Vả lại, Thầy bị nạn thế nào, người ta không nói rõ và Thầy là một đấng thiêng liêng đáng ngưỡng mộ, nhưng đối với Hằng thì Thầy là một người không quen biết, trước mắt Hằng là Sáu Sỏi, một thân hình thật đáng thương, quần áo nhơ nhớp, mặt mày hốc hác. Nước mắt của Hằng dâng đầy và mờ đi. Những nét nhăn của Sáu Sỏi như mờ dần, Sáu Sỏi như trẻ lại, đôi mắt sáng, mũi dọc dừa, trán hơi cao, mái tóc húi cao và Hằng thấy như Phát đang bị trói, không phải là Sáu Sỏi nữa. Ánh đuốc chờn vờn qua gương mặt của Sáu Sỏi. Hằng thấy như hình ảnh của Phát đang lởn vởn đâu đây.
Hằng đưa tay bóp chặt lấy bụng, người run lên.
Khi lão Ịnh vừa xuống ngựa thì Quản Dõng phất cờ, hét lên một tiếng dài, “Sát!” và tất cả đều quơ đuốc gào theo.
Lão Ịnh bước tới. Hằng đưa tay bịt mắt lại trong cái cảnh hỗn độn ấy, Hằng nghe rất rõ tiếng của Sáu Sỏi.
- Anh Tư!
Rồi tất cả im lặng, như một cái máy xộc xệch đang rít, đang nghiến, bỗng dừng lại. Chỉ còn nghe tiếng nổ lách tách của ngọn đuốc.
- Thằng mà đáng giết là thằng Quản Dõng kia kìa! - Hằng như mất hết cảm giác, nàng chỉ thấy lạnh cả người.
Quản Dõng lại hét lên một tiếng dài “Sát”, nghe như tiếng rống của một con thú dữ bị thương. Khối người lại quơ đuốc, quơ kiếm, gào theo.
- Anh Tư!
Tiếng gào la, tiếng gươm kiếm va vào nhau lại nhỏ dần, rời rạc, rồi im lặng.
Giọng của Sáu Sỏi vang lên. Hằng nghe như từ xa vẳng đến:
- Bà con ạ!... Nếu bà con có gặp lại thằng Phát con của tôi, bà con nhớ nói lại nó giùm cho tôi, bảo với nó, bảo nó hãy bắn vào kẻ giặc, bắn thẳng vào thằng Quản Dõng kia, còn đối với bà con thì bảo cho nó đừng có trả thù.
Hằng nghe rõ tiếng cờ phất trên tay của Quản Dõng và tiếng con ngựa rùng mình bỏ vó - có lẽ nó cất đầu chồm lên.
- S a a á t!
Khối người lại ùn lên. Đuốc, đao, kiếm, gươm giáo lại quơ. Lần này, Hằng nghe cái tiếng gào la của mọi người như không thật. Có một vài tiếng kêu thét, nạt nộ nổi lên:
- A! Thằng Tư Ịnh!
Hằng thấy lão Ịnh bước tới và ngọn kiếm đưa cao lên.
Hằng vội ôm lấy mặt. Hằng không thấy, nhưng Hằng nghe tiếng ngọn kiếm xả xuống người Sáu Sỏi.
Từ lâu, tuy không gặp lại Phát, nhưng giữa Hằng và Phát hãy còn một sợi dây ràng buộc lấy hai người. Sợi dây ấy vô hình và mong manh, nhưng không bao giờ bị đứt, Hằng vẫn hy vọng, hai người sẽ lần theo sợi dây ấy mà tìm lại nhau. Sợi dây ấy như đã giữ Hằng lại những lúc sắp ngã. Hằng đã nắm chặt sợi dây và nhờ đó mà Hằng đã đứng vững. Hằng không đi theo con đường của mọi người, Hằng vẫn không yêu ai. Sợi dây ấy như đã bị ngọn kiếm của lão Ịnh chặt đứt rồi. Hằng thấy chới với và mắt tối sầm lại.
Cái chết của Sáu Sỏi làm rung động cả lòng người. Những người đi dự pháp trường, họ chờ đợi người bị giết khạc ra những lời thù hằn. Nhưng người bị giết lại nói ra những lời tha thiết và bạn bè. Trước khi chết, còn lo cho số phận của họ.
Lồng ngực họ đã căng lên vì căm thù, như một quả bóng đầy hơi, chực nổ tung ra thì bỗng thóp lại và xẹp dần xuống. Họ chờ đợi những tia lửa thù hằn trong đôi mắt của người bị giết nhìn về phía họ, để họ lấy đó mà đốt lên ngọn lửa trong lòng mình. Nhưng người bị giết lại nhìn họ với đôi mắt đau khổ và chan chứa một tình yêu. Và tia mắt của người bị giết như chia tách họ ra với một số người.
Ra khỏi pháp trường, họ cố gào la để át đi những kỷ niệm tốt đẹp của người bị giết đang lần lượt trở về. Họ cố gào la để ghìm lại những giọt nước mắt. Họ gào la đến khàn cả cổ. Họ không dụm ba dụm bảy để bàn thêm cái chết như mọi lần nữa. Họ không giết gà, mổ heo, uống rượu, cười nói và la ó như mọi lần nữa.
Họ đã kiệt sức rồi.
Họ tản ra về, mỗi người một ngọn đuốc mập mờ trong các lùm cây trên khắp các ngả đường. Đuốc tắt và tiếng hát cũng tan đi.
Còn Hằng thì ôm mặt chạy về nhà, vội vàng thắp lấy một nắm hương, quỳ dưới bàn thông thiên. Cùng với cái chết của Sáu Sỏi, hình ảnh của Phát cứ hiện lên trước mắt Hằng. Nàng thấy Phát trở về, khi thì Phát đốt nhà, đập phá, khi thì Phát nổ súng, bắn người này đến người khác. Hằng thấy mình đang chạy đến Phát, ôm lấy đôi chân của anh ấy như ngày nào, nàng khóc và kêu lên:
- Anh! Anh! Bác bảo anh hãy bắn vào thằng giặc, hãy bắn vào tên Quản Dõng, còn đối với đồng bào thì đừng có trả thù.
Hằng thấy khi thì Phát xô nàng ra, tay cầm súng lao vào ngọn lửa, khi thì cúi xuống, đỡ nàng đứng dậy.
Cây cỏ, nhà cửa và cả cái làng Mỹ Long Hưng đều chìm sâu trong đêm tối. Bầy đom đóm đậu trên tàn gừa chỗ pháp trường như những ngọn đuốc vừa thu nhỏ lại, thoi thóp và lập lòe. Tiếng động chỉ còn có tiếng sóng của dòng sông, tiếng lá khô lông lốc trên mặt đường và tiếng gió rít qua hàng dương. Mây đen vẫn cứ vần vũ và không mưa được. Trời oi bức.
Một vài tiếng sấm rền lên ở nơi xa.
Hằng quỳ dưới bàn thông thiên mà không niệm Phật. Hằng quỳ dưới bàn thông thiên, mà tưởng mình như đang quỳ dưới chân Phật.
Và nước mắt đầm đìa cả mặt nàng.
 
Đăng nhập để trả lời
0

XVI

 
Trong lúc ấy, mẹ Hằng ngồi bó gối trên bộ phản, miệng nhóp nhép nhai trầu. Bà ngồi đấy, khi thì nhìn chồng đang ngủ trong cơn say, khi thì nhìn đứa con gái đang quỳ dưới bàn thông thiên, khi thì lắng tai nghe tiếng động chờ đứa con trai trở về.
Mẹ Hằng cũng là người đàn bà mê tín. Chính bà là người đầu tiên khuyên bảo chồng con hãy vào đạo. Nhưng lòng mê tín của bà không bị cuốn đi. Bà là người mẹ, người đàn bà trong gia đình, cũng như bao nhiêu người đàn bà khác, lúc nào bà cũng lo cho cái ăn cái mặc và thu vén cho gia đình. Chính những điều lặt vặt như cơm cá, mắm muối, tiêu hành, đèn dầu luôn luôn níu lấy ý nghĩ của của bà trở về với cuộc sống thực.
Trước đây, Hằng còn lo lắng việc nhà, nhưng gần đây nó cũng bỏ mặc cho bà, như thế là một tay của bà phải xoay xở cho năm miệng ăn. Không như chồng con, như người khác, bà biết rằng đất mà bỏ hoang thì nhà không gạo, tằm không nuôi, dâu không trồng, khung cửi không dệt thì quần áo sẽ rách rưới, không nuôi con gà, con heo thì không có tiền để mua lấy những vật dụng trong nhà. Lúa đã đi vay nhà Quản Dõng thì sau này phải trả. Bà không tin Quản Dõng, bà thấy thương lão Ịnh và tất cả tín đồ. Bà mong muốn mọi người hãy yêu thương nhau, hãy cùng nhau đánh Tây cứu nước, hãy quần tụ dưới ngọn cờ của Phật và đức Cha già đáng tôn kính của dân tộc - đó là Hồ Chí Minh. Bà thấy anh em trong làng không có để thù hằn nhau cả, tất cả đều là con một cha, nhà một mẹ. Bà hiểu nhiều lắm, và bà cũng hiểu trong cái lúc hỗn độn này, trong lúc tâm trạng của mọi người đang sôi nổi như điên, tốt nhất không nên nói một điều gì trái với ý nghĩ của họ. Bà biết mình đang bất lực, cho nên bà đành phải âm thầm. Bà chỉ biết lo và tìm mọi cách chăm sóc, an ủi chồng con thôi. Hai ba lần thấy chồng từ xa về, chân đi chữ bát, quần dài không mặc, chỉ còn mặc một cái quần đùi, quần dài quấn qua đầu, thì bà vội vàng đi lùi một củ khoai, nấu nước khoai để cho chồng uống để giã rượu.
Thấy con trai đi khuya thì bà dọn dẹp giường ngủ cho con, thấy con gái bận đi hội họp thì bà lo thổi nấu. Bà vừa đau xót cho cái chết của Sáu Sỏi, người bạn sắp lập sui gia, vừa thương xót cho mối tình dang dở của con, vừa vu vơ nghĩ đến những ngày nước lũ sắp về.
Sẽ không còn bao nhiêu ngày nữa, dòng sông Cửu Long sẽ dâng tràn cả đường xá và cánh đồng. Nước sẽ đưa cá Biển Hồ về làng, cá từng bầy từng lũ dưới  mặt nước dày đặc như bánh canh. Bà thầm đếm lại những cái lờ, cái lọp, cái đó, cái đăng. Bà tính đến những gì trong nhà còn có thể bán được để có thể lấy tiền mua muối. Mùa nước năm nay bà sẽ chăm chút hơn, bà sẽ thức khuya dậy sớm để đổ lờ, đổ lọp nhiều hơn. Bà sẽ làm khô, làm mắm nhiều hơn để đổi cái ăn cho cả nhà. Con gà, con heo bà mang ra chợ bán lấy tiền mua gọi để khỏi phải đi vay từng giạ lúa của nhà Quản Dõng nữa.
Nghĩ hết mùa cá bà lại nghĩ đến mùa xoài. Bà chẳng có vườn xoài nào cả, đất để ở còn phải đọng thuế, đất đâu mà làm vườn. Mùa xoài sắp tới chắc là ít người lo tới. Bà sẽ dành dụm, nếu không thì mua trước trả sau. Bà sẽ đi buôn xoài, mỗi ngày ít nhất sẽ thu đôi ba đồng.
Bà cứ ngồi đấy nghĩ miên man. Chợt nhớ đến việc nhà, bà đốt ngọn đuốc bước ra sau hè, đóng lại cánh cửa chuồng gà.
Hiếu không đi dự pháp trường. Giận cha, anh bỏ đi nhưng chưa biết phải đi đâu. Anh định đến Lành nhưng Lành cũng không an ủi anh được nữa rồi. Khi nghe tiếng tù và túc lên báo hiệu giờ giết Sáu Sỏi đã đến, anh liền chạy thẳng đến cây cầu trong làng, chỗ bến đò, cây đa. Anh vào trạm gác nói khào với mấy anh lính gác một lúc rồi tìm cách lẻn đến khoảng vắng của khu vườn. Đấy là nơi vắng vẻ, nhà cửa thưa thớt, cây cối um tùm, nơi mà những đồng chí kháng chiến hay trở về. Hiếu vừa chạy vừa kêu thầm: “Anh Phát ơi! Đến bây giờ mà sao anh chưa chịu về?”.
Gió rít ù ù và thổi bay manh áo anh. Anh vẫn cứ chạy, thỉnh thoảng anh ngoái đầu nhìn lại.
Khi đã ra khỏi xóm, tai không nghe tiếng tù và, và mắt không thấy những ánh đuốc chỗ giết Sáu Sỏi nữa, thì anh dừng lại.
Anh vừa thở vừa nhìn vào những lùm cây để mong gặp lại một người về, nhưng chung quanh anh cũng chỉ là lùm cây, bóng tối và tiếng sóng vỗ ì ầm. Dòng sông vẫn mênh mông, vẫn vắng lạnh và vẫn trào lên những ngọn sóng bạc đầu. Thế là không có một ai về rồi! Hy vọng cứu Sáu Sỏi không còn nữa, Hiếu nghĩ đến việc đã xảy ra với cha mình. Anh thấy hối hận và đau đớn. Anh không khóc, nhưng anh nhớ lại những giọt nước mắt đọng long lanh trên chòm râu của cha. Cha anh suốt đời có bao giờ biết khóc! Anh nghe những giọt nước mắt hiếm hoi ấy từng giọt, từng giọt rỏ buốt xuống lòng mình. Bao nhiêu hình ảnh của người cha suốt đời chịu cay đắng nhọc nhằn vì con, lũ lượt quay về trước mắt anh.
Cái cảnh bao la mờ mịt của dòng sông và tiếng ầm ì của sóng gió như mang một nỗi buồn trơ trọi đến vò xé tâm can anh. Đôi mi anh nóng ran lên vì nước mắt. Bỗng chốc anh thấy tha thiết nhớ đến cha như đã xa nhau từ lâu lắm. Giờ này, chắc cha anh đang vật vã vì đã giết Sáu Sỏi, và đang cần đến sự an ủi, đang nhớ anh?
Thấy những ngọn đuốc của những người đi dự pháp trường rải rác trở về trên các ngả đường, anh lững thững trở về.
Hiếu về đến nhà thì lão Ịnh đã ra đồng. Anh chỉ thấy hương khói trên các trang thờ, cảnh nhà thật âm u.
Thấy diệm rượu còn để trên bộ phản, tưởng là diệm nước, anh đưa tay vốc lên rửa mặt. Rượu thấm vào mắt anh cay xè. Thuận tay, anh ném cả cái diệm ra ngoài. Cái diệm vỡ tan.
Hiếu ôm mặt nằm sấp xuống mặt phản. Anh không còn muốn nghĩ gì nữa. Anh muốn quên tất cả. Anh nhắm nghiền đôi mắt cay xè, cố dỗ giấc ngủ...
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.09.2024 11:08:47 bởi hoi_ls>

XVII

 
Lão Ịnh bước ra khỏi nhà ông Năm Bầu, trong lúc lẩn quẩn chưa biết đi đâu, sẵn đi trên con đường mòn, thuận chân, lão bước thẳng ra cánh đồng và ngồi lại dưới gốc cây vông cạnh những đầm sen. Những cơn gió dữ dội đã gom đám mây đen về một bên trời. Trên trời tây nhấp nháy một vài vì sao.
Cánh đồng trước mặt lão chỉ còn là cánh đồng hoang của cỏ lác, cảnh vắng lặng ấy chỉ còn có cánh vạc đi ăn đêm, những bầy đôm đốm lập lòe và tiếng dế giun ri rỉ. Những cơn gió miên man đưa hương sen dìu dịu thổi vào lồng ngực lão. Lão nghe như những cơn gió trong của cánh đồng khuya ấy đang thổi tan dần những chất độc đã thấm đen trong người mình, lão thấy tâm hồn được mát nhẹ, thấy mình như người đang mê trong cơn điên loạn của giết chóc và tang tóc được dần dần tỉnh lại.
Lão ngước mắt nhìn những vì sao và đưa tay vuốt vuốt lại những lọn tóc như sắp xếp lại những ý nghĩ bị lôi cuốn ở trong đầu.
Một đàn chuột có hơn mười con - đã được sống và lớn lên trong sự thờ ơ về mùa màng của con người - to bằng con chồn, nối đuôi nhau chạy qua trước chân lão, nó vừa chạy vừa kêu rúc rích như cười. Con cuối cùng bỗng dưng quay đầu lại, nhúc nhích bộ râu, kêu “chúc chích” mấy tiếng như muốn nói “cám ơn bác” rồi như giật mình, nhảy ngược lại một cái và phóng chạy theo đàn.
Nhưng lão Ịnh có nghĩ gì đến việc mùa màng ấy, lão hãy còn đang nghĩ về việc làm của mình. Nói cho đúng hơn là lão đang nghĩ lại về con đường đi của mình.
- Tà hay chánh? - Lão lẩm bẩm và tự hỏi.
Như để trả lời cho câu hỏi đó, lão nhớ lại lần lượt tất cả những cái gì đáng nhớ một cách tuần tự, rõ ràng và bình tĩnh. Lão nhớ rõ lại cái ngày mà lão bỏ làng đi, và cũng là cái ngày mà lão bỏ hàng ngũ của mình. Ngày ấy là ngày... năm bốn mươi của Nam Kỳ khỏi nghĩa.
Đêm hôm đó, tất cả chuông trống, mõ và tù và cùng một lúc đều nổi dậy. Cũng như bao nhiêu tá điền trong làng, lão cũng cầm đuốc, cầm dao đi cướp đồn của tên quận Ghiđi giành nước, giành lại đất cho dân cày. Và lão là một trong những người đi đầu. Bao nhiêu sự chờ đợi và hy vọng của lão đều hướng vào cái đêm ấy. Niềm tin chất chứa trong lồng ngực căng phồng của lão cháy lên ngùn ngụt không khác nào những ngọn đuốc của đoàn biểu tình. Cái đêm ấy, người lão cứ ngây ngất như say. Đôi vai to lớn của lão lách người này, người nọ, chen ra phía trước để được đi gần Sáu Sỏi.
Nhưng... chuyện không thành.
Sáng hôm sau, khi mà tên quận Ghiđi và Quản Dõng bọn lính mã kỵ mặt mũi đen sì về làng đốt phá, lùng bắt và khi mà Sáu sỏi mặt mày bị sưng húp, áo rách te tua như xơ mướp, ngực bị bầm đen, tay bị trói ngược ra sau đi giữa hai hàng lưỡi lê sáng chói, thì lão nằm trốn dưới bệ thờ thần của đình làng. Nằm nghe những tiếng súng nổ, tiếng nhà cháy, tiếng kêu khóc của trẻ con, tự dưng lão thầm van vái nhờ các thần linh của đình làng che chở cho.
Giữa đêm, lão đến ông Năm Bầu gửi Hiếu, rồi cùng với hai đứa con nhỏ bơi chiếc xuồng cui, vượt sóng đến tận làng Hòa Hảo xin ẩn náu trong gia đình của người anh bà con họ.
Lão còn nhớ rõ cái buổi chiều đi trên chiếc xe ngựa do người anh họ xa ấy đưa đi. Lão nhìn ra bên đường, thấy sân nhà nào cũng dựng lên một bàn thông thiên. Khói hương cứ quẩn quất một nỗi buồn. Và người thì già trẻ, trai gái gì sau ót cũng tòn teng cái búi tóc. Quả là một đất nước lạ lùng. Chỉ có mấy năm mà thay đổi hẳn đi rồi.
Trong tiếng vó ngựa chậm rãi và đều đều của buổi chiều hiu hắt ấy, ông Chín Cối, người anh họ của lão, với một giọng trầm trầm và thành kính, ông ta đã cắt nghĩa cho lão rằng:
- Cái làng Hòa Hảo này bây giờ đã thành cái đất Phật rồi đó, chú Tư!
Ông Chín gò cương cho ngựa chạy chậm lại, chốc chốc ngoảnh cái gương mặt đượm vẻ buồn tư lự về phía lão mà bảo:
- Chú thấy người trong làng ai nấy đều để tóc chắc là chú tức cười lắm, phải không? Không nên đâu chú Tư ạ! Ông bà tổ tiên mình ngày xưa có ai đi cắt tóc như mình bây giờ đâu! Cái đám hậu sanh của mình đây, vì bị cái thằng “Tây lỗ mũi lõ” nó qua đây, nó “truyền nhiễm” cho mình đó chớ!
Nói đến đây, ông Chín Cối chồm lên đưa roi đánh đốp vào lưng ngựa một cái. Ngựa chồm lên, xe chạy lắc lư. Ông Chín Cối lại gò cương cho ngựa chạy êm lại, rồi với một vẻ mặt hối hận, ông nói:
- Tôi hối lắm chú Tư à! Chú thấy cái đầu của tôi bây giờ mà còn trụi lủi đây thì chú biết, thật là tôi có lỗi với ông bà, trước đây vì bị con mắt trần tục mà tôi không thấy, nên tôi sợ người ta cười. Ngay từ lúc này, tôi đã bắt đầu để tóc rồi đó, chú Tư!
Ông Chín càng nói càng say sưa, và đôi mắt càng trở nên mơ màng, ông xoay người hẳn lại đối diện với lão, cho ngựa chạy chậm lại và tiếp:
- Tôi biết chú lên đây là không phải lên để làm thuê làm mướn gì đâu! Mà chú lên đây để mưu việc nước, tôi biết, chú đừng giấu... Nhưng mà... - Ông Chín Cối ngừng lại như ngại ngùng không muốn nói và đưa mắt nhìn khắp người lão hồi lâu rồi mới tiếp: - Không làm gì nổi nó đâu, chú Tư! Tụi nó là giặc trời chứ có phải là giặc thường đâu! Giặc trời mà không có phép Phật thì nó không tan đâu chú Tư! Chú cũng nhớ cái câu “mưu sự tại nhân mà thành sự thì tại thiên” chứ? Nằm đêm, chú ngẫm lại mà xem, từ xưa cho đến nay, dân mình có biết bao nhiêu lần nổi dậy, nhưng hỏi chú, có lần nào được nó không? Nào là thời Trương Định, thời Nguyễn Trung Trực, thời Nguyễn An Ninh, cái thế của mình như một ngọn lửa dưới một trận mưa, bởi vậy, không bị dập tắt làm sao được. Rồi bây giờ, qua đến cái thời của những ông làm cách mạng, hỏi vậy cái năm bốn mươi này, mình làm gì được nó? Tại sao mà cơ sự nó ra nông nỗi như vậy, hở chú? Có phải là tại vì mình không chịu quy y theo đạo để nhờ phép tắc thần thông của Phật thầy không? Hồi ngày xưa, lúc Tam Tạng đi thỉnh kinh, Tôn Hành Giả là người biết thăng thiên độn thổ, đã từng làm náo động cả thiên cung, mà đến lúc hiểm nghèo, Tôn Hành Giả còn phải đi cầu Phật thầy! Chú lên đây rồi chú sẽ thấy. Chú có biết ông Ngô Quang Vĩ không? Đi làm cộng sản từ ở xứ Badi (Pari) về bên này, bây giờ ông còn quy y theo đạo thầy, huống chi là mình, hở chú!
Trong cái tiếng vó ngựa thưa thớt và đều đều ấy, giọng của ông Chín Cối tuy sôi nổi, nhưng mỗi lúc một buồn tênh, ông tiếp:
- Cái việc năm nay, chết chóc như vậy chưa phải là hết đâu! Còn nữa - ông ta kéo dài cái tiếng còn nữa ấy - còn chết như là rạ chú Tư à! Chú đi làm việc nước, chắc là chú cũng biết cái thời ly loạn này rồi chứ? Nhật vào Đông Dương rồi Đồng minh đánh phe trục, còn nữa, có phải như vậy mà thôi đâu! Bởi vậy cho nên kinh sấm có truyền lại rằng... - Ông Chín Cối ngẩng đôi mắt mơ màng nhìn lên xa xăm một lúc, rồi cất lên một giọng trầm trầm như một dòng nước đục:
Mười phần chết bảy còn ba
Chết hai còn một mới ra thanh bình!...
và ông cắt nghĩa luôn:
- Đấy! đấy! Nghĩa là mười phần thì phải chết hết bảy còn ba, rồi phải chết hai còn một thì mới ra được cái sự đời chú Tư ạ! Bởi thế cho nên, lời Phật có khuyên bảo bá tánh chúng sanh như thế này... -  Rồi ông ngâm luôn:
          Người đời nay như ốc mượn hồn
          Chim tìm tổ mới gọi chim khôn
          Người hiền đức mới là người chí
          Xin bổn đạo từ nay kim chỉ
          Đói với nghèo sắp đến bây giờ...
Cái giọng ngâm nga trầm trầm và buồn bã ấy của ông Chín Cối, lão nghe như tiếng ai ru cho hồn mình và ngọn lửa hừng hực sẵn có trong ngực lão tự dưng dìu dịu xuống.
Lão xin ở nhờ trong cái chòi giữ lúa của ông Chín Cối. Ban ngày, lão gửi hai con cho bà Chín. Đêm, lão mang hai con ra chòi, một cái chòi trơ trọi giữa đồng. Ngày ngày, lão đi làm mướn, lão biết khá nhiều nghề: gặt, xắc thuốc, tát đìa, đào mương, bẻ dừa và những công việc nặng nhọc khác. Lão chỉ muốn làm đủ sống qua ngày, nuôi con để chờ cơ trở về làng. Nhưng lão sống không yên. Lão đi đâu cũng bị người ta dòm với cặp mắt dò xét, nghi ngờ. Người ta đang xầm xì to nhỏ với nhau, hễ thoáng thấy lão thì người ra hiệu, suỵt bảo nhau hãy im và dồn mắt nhìn khắp cả người lão. Lão luôn luôn thấy mình là con người xa lạ, luôn luôn bị người ta xa lánh. Bởi một lẽ rất giản đơn: lão không ăn mặc quần áo màu già, đầu không để tóc.
Lão toan trở về làng, nhưng sợ cảnh khủng bố. Hình ảnh của Sáu Sỏi bị trói giữa hai súng lưỡi lê hiện lên, lão lại thôi. Lão muốn đi lánh mặt ở những làng khác, nhưng làng nào cũng bị lùng bị bắt. Chỉ còn có cái đất Phật bọn lính kín và Tây mới ít qua ít lại thôi. Trong lúc ấy, những người ở khắp mọi nơi kéo nhau về đây xin theo đạo, nườm nượp như ngày hội lớn. Xuồng ghe trên các bến chen nhau như bến chợ. Xe ngựa qua lại dập dìu trên các ngả đường. Mỗi một chiếc ghe, trước mũi đều có bàn thông thiên, trầm hương ngui ngút suốt ngày. Đi trên đường, họ cũng cầm một bó hương, mùi thâm trầm của khói hương như tạo ra một không khí huyền bí luôn luôn phảng phất trong đời sống con người. Người ta như không dám làm gì gây ra tiếng động. Gặp nhau người ta không mừng nhau bằng cách vồ vập, không bắt tay theo kiểu Âu, mà chắp hai tay lên trước ngực xá chào, vừa thâm nghiêm, vừa kính cẩn như gặp nhau trong cảnh chùa. Người ta không to tiếng, nói gì cũng xầm xì, thỉnh thoảng lại suỵt một tiếng, bảo im. Những người ấy, đến đây, họ mang theo những nỗi buồn khổ của họ, mỗi một con người với mỗi cuộc đời, mỗi số phận khác nhau.
Đâu đâu, người ta cũng nghe nói đến cảnh khổ và mọi sự chán chường. Đất Hòa Hảo bỗng trở thành là nơi tố khổ của mọi người! Ngoài những cảnh ngộ riêng, người ta còn xì xầm với nhau về những chuyện khủng bố của giặc Pháp. Lão lắng nghe tất cả những tin đó, mặc dù người ta không nói với lão. Những người cộng sản, những người cầm dao cầm đuốc trong ngày khởi nghĩa, lần lượt đều bị bắt. Người bị bắt bị xỏ vào gan bàn tay thành từng xâu người, bị đày ra Côn Đảo, bị bắn ở giữa chợ, bị thả ra biển khơi. Đâu đâu, bọn cò Tây, bọn lính mật thám cũng đi lùng. Chúng lùng từng nhà, từng bụi rậm. Người nào chúng cũng xét hỏi giấy tờ. Ai là người có đạo, có để tóc, có mặc quần áo màu già, chúng mới cho tự do. Làng nào, xóm nào chúng cũng đến, chỉ còn có cái làng Hòa Hảo nầy, bọn chúng mới còn nể mặt thôi.
Đêm nằm gần hai con trong cái chòi giữa cánh đồng không hiu quạnh ấy, bao nhiêu tin tức ấy cứ hiện lên trước mắt lão bằng những hình ảnh do lão tạo ra. Lão thấy mình bị bắt, bị đày đi Côn Đảo. Chân tay lão bị xiềng. Lão nằm co ro trong ngục tối, bên ngoài là sóng biển gào thét ầm ì. Lão thấy mình bị xỏ vào gan bàn tay với Sáu Sỏi, bị đẩy xuống tàu sắt đen sì, bị xô xuống biển, bị sóng dồi dập, bị ngạt, rồi xương thịt rã tan ra. Ôi! Nếu lão mà bị bắt như thế, thì con của lão sẽ sống với ai? Mẹ nó đã mất rồi. Nhìn hai đứa con đang ngủ, nhớ Hiếu, lòng lão cứ se thắt lại.
Gần một năm sống lẩn lút, lão chưa hề gặp được người anh em đồng chí nào. Không có ai để bàn bạc đế lo lắng. Không có ai cắt nghĩa cho lão hiểu tường tận vì sao khởi nghĩa bị thất bại. Không có ai thêm sức cho lão. Không có ai mang đến cho lão một điều gì hy vọng đế lão nhìn theo đó mà đi. Suốt ngày, lão chỉ thấy có những con người trầm tư, lúc nào lão cũng nghe những tin đồn hoặc khủng khiếp, hoặc huyền bí một cách lạ lùng. Lúc nào lão cũng nghe kinh sấm với những lời lẽ cũ kỹ, chán nản với nhiều giọng buồn nản khác nhau. Kinh sấm ru người ta ngủ như một thứ thuốc mê, càng ngày càng thấm sâu vào tâm hồn. Nhiều đêm, lão thấy buồn như thắt ruột thắt gan. Làng, đã bỏ đi, nhà không có, hy vọng không còn, tiền làm mướn chỉ đủ nuôi con, không được thừa cho một cút rượu để khỏi phải nghĩ ngợi đến chuyện đời. Nghị lực sắt đá trong người lão như rã dần. Lão không muốn, nhưng lão cũng bắt đầu nghĩ đến lời lẽ trong kinh sấm, càng nghĩ lão càng thấy nản đời. Một đêm, lão đang trằn trọc thì ông Chín Cối mò ra chòi, gọi lão.
Lão vừa đánh diêm châm đèn thì ông Chín Cối thổi tắt và bảo:
- Đốt đèn mà làm gì. Ánh hào quang của nhà Phật - ông Chín Cối vừa nói vừa ngẩng nhìn những vì sao - đang chớp nháy đầy trời kia, không đủ soi sáng cho lòng dạ của mình hay sao? Chú tắt đèn đi chú Tư, tôi ra đây khuya khoắt như thế này kể cũng phiền cho giấc ngủ của chú. Nhưng vì tôi có một chuyện muốn “trần tình” với chú.
Qua giọng nói nghiêm nghị và vẻ mặt trang trọng của ông Chín Cối, lão đoán biết là chuyện gì rồi. Lão hơi bối rối:
- Anh Chín ngồi xuống đây... Tôi đến đây, tôi sống, tôi chết là cũng nhờ anh. Có chuyện gì, anh nói đi, tôi sẽ nghe theo lời khuyên bảo của anh.
Lão không ngờ mình lại nói được những lời dịu dàng và có vẻ đàn em như vậy. Từ xưa đến nay, lão vốn là con người ngang tàng. Lão vừa thấy nhục, vừa thấy mủi lòng.
Ông Chín Cối nhìn vào đôi mắt của lão một hồi lâu, rồi nói:
- Chuyện nói với chú đây, chẳng có gì là mới lạ. Vốn tôi là người không thích nói nhiều, mà tôi cũng đã nói với chú nhiều rồi. Đêm nay, tôi không ngủ được. Tôi biết là Phật trời khiến cho tôi ra đây để trần tình với chú lần cuối cùng. Chú lên đây đã gần một năm rồi, nhưng mà chú ngẫm nghiệm chưa ra cái lẽ đời. Những người “làm cộng sản” hơn chú, bao nhiêu lần bị tù đày, bị lưu vong, bị thất bại, người ta cũng đã hồi tâm mà quy y theo đạo rồi, ai ai cũng quy tụ dưới chân Thầy. Còn chú? Kinh thơ của nhà Phật có câu: “Người đời nay như ốc mượn hồn. Chim tìm tổ mới gọi chim khôn”.
Chú như chim đã về đến tổ rồi mà chú chưa biết. Chú ở đây mà hồn của chú cứ vỗ cánh bay đi như một con chim lạc đàn vậy. Thôi thì cũng tùy chú, tôi không dám ép, âu cũng là cái số phận của chú thôi. Nhưng phiền một nỗi, nếu bọn Tây tà biết chú mà mò tới đây thì ai là người che chở cho chú? Tôi sẽ vì chú mà bị liên can, rồi tan nhà nát cửa, rồi cả cái làng Hòa Hảo này có khi vì chú mà bị cháy ra tro. Nếu mà như vậy, tôi sẽ có lỗi với Phật trời, với bà con bổn đạo đến dường nào. Chú vì bị nạn mới lên đây nương náu, tôi không nỡ, nhưng chú cũng nên nghĩ cho cái tình cảnh của tôi. Thôi, đêm nay tôi ra đây là để trần tình với chú mấy lời như vậy nữa thôi. Chú hãy tùy theo lòng dạ mình mà lo liệu.
Ông Chín Cối nói xong, liền đứng dậy ra về.
Thế là ông Chín Cối muốn đuổi lão ra khỏi cái chòi rồi! Lão thấy nghẹn đắng ở cổ và nước mắt cứ trào ra.
Lão kêu theo:
- Anh Chín! Anh Chín!
Ông Chín Cối như không nghe, cứ lầm lũi đi. Lão chạy theo:
- Anh Chín!
Lão đuổi kịp ông Chín Cối, nắm lấy vai ông Chín Cối, nói nghẹn ngào trong nước mắt:
- Anh Chín! Anh hiểu cho tôi. Tôi chẳng phải là người không biết nghĩ. Nhưng tôi không muốn vào đạo cho lấy có, đã vào đạo thì phải thờ đạo cho hết lòng. Anh Chín nói với bà con để cho tôi vài hôm nữa.
- Tôi thương chú, tôi mới nói. Chứ đừng có giận tôi.
- Tôi biết, anh Chín! Gần một năm nay, ba cha con tôi sống là nhờ anh.
Chia tay với ông Chín Cối, lão đi lang thang mãi trên những con đường bờ. Lão có biết một số anh em đồng chí đã vào đạo rồi. Anh Sỏi ơi! Hiện giờ anh ở nơi đâu? Anh đã bị đày ra Côn Đảo hay đã bị vùi sâu dưới đáy biển, hay là anh cũng đã vào đạo rồi? Những anh em đồng chí ấy vào đạo với lòng thành hay vào đạo để che mắt bọn Tây, bọn mật thám? Sao mình không vào đạo để che mắt bọn Tây như anh em? Lão tự hỏi rồi bỗng chợt một ý nghĩ: tại sao lúc bỏ làng đi mình không băng qua sông về ở với người cháu bên Tháp Mười, mà lại ngược dòng sông, cưỡi sóng lên đây? Hay là Phật trời đã xui khiến cho mình? Câu hỏi ấy cứ giày vò tâm trí lão...
Trở lại chòi, nghe tiếng động, hai đứa con của lão giật mình thức giấc. Đứa lớn như hiểu được tâm trạng của lão, nó hỏi:
- Ba ơi! Sao ba không vào đạo đi?
Hai đứa vì không phải là con của người có đạo, cho nên nó không được trẻ con hàng xóm rủ đi chơi. Một đứa lên mười, một đứa lên tám. Cả hai đứa đều không có quần áo màu già, cả hai là con gái mà vẫn chưa để tóc. Còn những đứa trẻ khác, cùng một lứa tuổi với chúng nó, con trai nghèo không quần mặc mà cũng đã có cái búi tóc nhỏ như củ tỏi rồi. Hai đứa đều mang máng hiếu rằng: nếu ba vào đạo thì nó sẽ được lũ trẻ hàng xóm rủ đi chơi, sẽ được bà Chín cho quà.
Sau khi bảo lão vào đạo, đứa lớn lại đưa tay chỉ một ngôi sao và hỏi:
- Ngôi sao ở đây sao mà lớn quá vậy ba? Con sợ quá. Như là con mắt cứ nháy nháy với con hoài.
Trước đây, ở nhà, đêm nó ngủ đến sáng, nó có được ngắm sao khuya bao giờ đâu! Bây giờ, nó thấy ngôi sao là con mắt!
- Ừ! Thì ba vào đạo. Con ngủ đi! - Lão gãi lưng con, dỗ con ngủ, rồi lại lăn trở, trằn trọc và ngắm nhìn những ngôi sao. Nhìn những vì sao, lão lại vơ vẩn nhớ những chuyện đâu đâu. Mỗi một con người là một vì sao. Sao mờ, sao tỏ là định mệnh của con người. Một vì sao sa là một người chết. Chẳng biết vì sao nào là vì sao định mệnh của mình.
Sau đó, lão xin vào đạo. Lão mặc quần áo màu già, lão để tóc, để râu. Những lúc cúi nhìn xuống ao nước, lão không nhận ra mình được nữa. Bọn lính kín khó mà nhận ra mình lắm, lão thấy yên tâm hơn và được mọi người gần gũi yêu mến hơn.
Vào đạo, ba cha con lão được về ở chung với gia đình ông Chín, lão được đi hội họp, được bàn luận, được đọc kinh thơ và các thứ sấm. Kinh sấm của đạo đối với lão và mọi người như những mồi thuốc phiện. Đọc xong, trầm tư ngẫm nghĩ, lão vừa thấy buồn nản, vừa chê chán cuộc đời. Được nghe kinh sấm nói về nỗi khổ con người, lão thấy mình như được ai đó an ủi, vỗ về, được ru ngủ và như tìm thấy một lẽ sống đẹp đẽ hơn. Bao nhiêu lời kinh sấm, đọc đi đọc lại, lão ngẫm nghiệm ra được những ý chính: con người Việt Nam là loại người bị nạn, bị đau khổ. Muốn hết đau khổ thì phải đánh Tây, giành lại đất nước, giành lại đất cho dân cày. Muốn đánh được Tây, giành được đất thì phải theo đạo, phải hành động theo lời chỉ dạy của Phật. Rồi sau đó sẽ lập nên một triều vua mới... Càng ngẫm nghiệm những điều ấy, lão càng thấy đúng, càng thấy hợp với ý nghĩ của mình. Lão càng ngẫm, lão càng thấy thích cái câu “mưu sự tại nhân mà thành sự thì tại thiên” - Sức của con người không thể làm nên chuyện lớn!
Vào đạo, phần hồn, lão thấy được yên ổn, phần xác - thời thế ấy - lão thấy mình được tự do hơn. Lão đi ra chợ huyện đầu có búi tóc, quần áo màu già, lão không bị khám xét. Có một buổi chợ, vào quán uống chén rượu, đi ngang qua nhà dài chợ, thấy ảnh Pêtanh, hứng chí, lão đưa tay chỉ mặt Pêtanh chửi đổng mấy tiếng mà chẳng ai dám làm gì lão. Lão vừa chửi vừa phanh áo ngực vừa nghiêng vai nhìn mọi người. Lão thấy bọn lính đang cầm dùi cui nhìn lão lấm lét rồi lảng tránh. Còn người chung quanh thì nhìn lão với con mắt vừa khâm phục vừa lạ lùng. Đúng là cái bọn Tây đã phải nể mặt cái đạo Hòa Hảo này rồi! Thế là lão thấy hãnh diện. Lão nghĩ thương Sáu Sỏi, nghĩ thương anh em đồng chí. Lão muốn tìm gặp lại anh em đồng chí để bàn luận, lão mong muốn anh em đồng chí cũng cùng vào đạo như mình.
Lão muốn trở về làng. Nhưng lão chưa kịp về thì một tai nạn xảy đến. Nạn dịch tả từ Sài Gòn Chợ Lớn tràn đi khắp mọi nơi. Đứa con lớn của lão bị đi chảy có một đêm rồi lăn ra chết. Nấm mồ của đứa con lớn chưa khô thì đứa con nhỏ của lão lại chết theo. Trong làng, ngày nào cũng có người chết. Người chết như rạ. Ngày nào cũng có đám ma. Đám ma đi bằng xe ngựa, đám ma đi bằng xuồng, người chết cứ nối nhau nhiều đến nỗi không có hòm để chôn nữa. Người ta bó người chết bằng chiếu, bằng đệm. Lúc nào cũng nghe tiếng khóc, đâu đâu cũng thấy khăn tang. Người trong đạo cắt nghĩa cái cảnh tượng ấy bằng một câu kinh:
Mới thấy đó bỗng liền mất đó
hoặc:
Mười phần chết bảy còn ba,
Chết hai còn một mới ra thái bình...
Và người ta cắt nghĩa thêm: “Những người chết ấy là những người không thật lòng với đạo. Còn những đứa bé kia là những đứa chịu tội thay cho cha mẹ nó!”. Đứa con nhỏ của lão trước khi nhắm mắt, nó vừa đưa tay bắt chim chim, vừa gọi lão mà hỏi: “Ba ơi! Sao ba không vào đạo đi?...”. Có phải chăng, nó muốn nhắn nhủ lại lão lời cuối cùng? Khiến cho lão nhớ lại ý nghĩ đầu tiên của mình khi vào đạo - vào đạo để che mắt bọn Tây tà với mật thám - Lão vừa xót xa hối hận, vừa sợ sự trừng phạt về linh hồn.
Cảnh làng như một đám tang. Rồi người ta lại tự an ủi bằng một câu kinh khác:
- Ai chết trước được mồ được mả
Ai chết sau sẽ rã thây thi…
Mất hai đứa con, tâm hồn lão như một đêm tối và quạnh hiu như một dòng sông vắng. Lão càng nhớ đến Hiếu và thấy cần phải trở về làng.
Trong những ngày sắp sửa về làng, lão gặp lại Quản Dõng. Lão gặp Quản Dõng trong một buổi chiều sau khi đi chôn cất một người đàn bà ở đầu xóm bị chết vì nạn dịch. Lão đi một mình trên con đường đất xuyên qua xóm, đang thẫn thờ vì cái chết, bỗng lão nghe tiếng gọi:
- Anh Tư!
Lão quay lại. Nhìn một lúc, lão mới nhận ra người gọi mình là Quản Dõng. Sau khi vào đạo, lão luôn luôn hy vọng: ngày nổi dậy, lão sẽ tìm bắt cho kỳ được tên Quản Dõng, lão sẽ tự tay hành hình hắn và sẽ lấy đất của hắn trả lại cho mọi người. Nhưng bấy giờ, khi gặp lại Quản Dõng thì lão thấy thương thương. Quản Dõng không còn là tên Quản Dõng hống hách và ác hiểm như ngày xưa nữa. Bộ râu ngạnh trê của hắn đã cạo nhẵn đi từ lúc nào, đầu không đội nón cối, đầu hắn đã có một mái tóc dài, tay không cầm cù quéo nữa, tay hắn cầm một bó hương thơm và người thì mặc một chiếc áo màu già phủ phục đến tận gối. Hắn cũng đã vào đạo rồi ư? Lão hãy còn đang ngỡ ngàng thì Quản Dõng tay chấp lấy bó hương đưa lên trước ngực xá chào lão. Hắn bước gần đến lão một cách rụt rè:
- Anh Tư! Mới có mấy năm mà anh đã quên tôi rồi sao anh Tư?
- Cậu Quản đó à? Cậu dạo này khác quá.
Quản Dõng nói:
- Tôi quy y vào đạo rồi anh Tư ạ! Đêm nằm nghĩ đến chuyện xưa, tôi hối quá. Tôi quả là người có lỗi đối với anh.
Chưa bao giờ lão nghe hắn nói với giọng buồn buồn như vậy, lão mềm lòng, không nỡ nói một câu gì cho nặng lời.
Quản Dõng bước gần đến lão nói tiếp:
- Bấy lâu nay, tôi tưởng anh đi đâu, không ngờ anh đã về với đất Phật. Sao anh không trở về thăm làng thăm nước? Bà con ở làng mình cũng đã quy theo đạo nhiều rồi. Tôi cũng muốn xin vào đạo ở tại làng. Nhưng ngẫm vì mình có nhiều tội lỗi, nên tôi muốn lên đây để được gần với Phật hơn. Kể cũng may cho tôi, anh Tư ạ! Lệnh trên đã phán xuống cho tôi, tôi chưa phải là người đến nỗi đã đi muộn. Thì giờ vẫn hãy còn đủ cho tôi tu tâm dưỡng tánh...
Sau đó, Quản Dõng còn nói cho lão nghe bao nhiêu câu chuyện về làng nữa.
Đã gần ba năm rồi, lão mới nghe nhắc đến chuyện làng. Cuộc đời của lão nghèo khổ, nhưng lão chưa hề lận đận như thế. Trước đây, lão cũng có nghe người làng đến xin vào đạo, nhưng lão chẳng tìm ra. Ôi! Cái làng! Cái làng của lão, làng Mỹ Long Hưng! Một cái làng nằm dài theo Cửu Long giang. Làng có một cái chợ to như thị trấn lớn, mấy làng chung quanh đều quần tụ về đấy mua bán. Chợ có bến ô tô, bến xe ngựa và bến tàu, lúc nào cũng rộn rịp, ồn ào. Từ thị trấn có ba con đường lớn đi về các nơi. Một con đường đá chạy về chợ huyện - huyện Chợ Mới -đấy là con đường xuyên qua xóm Đình của lão. Một con đường nhựa chạy thẳng Sài Gòn và một con đường đất chạy tắt qua cánh đồng đỗ tận bờ Hậu Giang, nhìn về thị trấn tỉnh Long Xuyên. Một cái làng với cánh đồng bát ngát, nhà cửa san sát cặp dài theo những con đường, những con kinh. Một cái làng xanh bóng cây, bờ bãi xanh mướt những hàng dâu. Cả làng đều nghe tiếng sóng, tiếng gió rì rầm trên tàng cây, tiếng vó ngựa gõ trên mặt đường, tiếng khung cửi, tiếng còi với mùi ét xăng của ô tô và tiếng còi tàu từ Nam Vang, Sài Gòn đổ về xin bến và chào bến ra đi. Một cái làng trù phú và sầm uất. Nhưng cuộc sống của con người thì cay đắng và nhọc nhằn. Tuy thế, lão vẫn nhớ, vẫn yêu nó, xa nó nhưng bước chân của tâm hồn lão bao giờ cũng quanh quẩn ở xóm Đình.
Lão hỏi thăm con và tất cả người làng. Nghe Quản Dõng nhắc đến làng với giọng trầm buồn, lão tưởng như Quản Dõng mang cả cái làng đến cho mình. Lão thấy thân với Quản Dõng hơn.
Vì chuyện làng, lão không muốn vội chia tay. Và khi chia tay, lão còn nhận lời gặp lại nhau một lần nữa.
Đêm ấy, lão vừa nhớ làng, nhớ con, vừa nghĩ đến Quản Dõng.
Lão quỳ dưới bàn thông thiên rất lâu. Tay chấp hương trước ngực, mắt ngẩng nhìn những vì sao của định mệnh, lão thành kính hứa với Phật trời, sẽ hiến trọn đời mình cho đạo:
- Ôi! Nếu như đạo không thiêng liêng, nếu đạo không quyền lực, nếu đạo không có sức mạnh của Phật trời thì những con người như Quản Dõng làm gì biết ăn năn, biết hối lỗi, biết cải tà quy chánh và quy y theo đạo!...
Nhớ tới cái đêm thề dưới bàn thông thiên, lão chợt kêu thầm:
- Anh Chín ơi! Anh đã chết rồi! Linh hồn của anh đã lên cõi Niết bàn hay là đã sa xuống địa ngục? Con đường tà chánh đang lẫn lộn trên cõi đời này, chỉ có anh và tất cả những bổn đạo tín đồ đã chết mới là người biết rõ nhất, hồn anh có linh thiêng thì hãy về đây mách bảo cho tôi với!
Chung quanh lão, chỉ có cánh đồng hiu quạnh với bầy đôm đốm lập lòe và những cơn gió rì rào trên tàng vông, không có ai trả lời cho lão hết.
Lão lại lẩm bẩm đến lời dạy của đức Thích Ca Mô Ni: “Xét phải đoán những điều gì mà ta làm...” và lão tự hỏi:
- Nếu ta theo Sáu Sỏi để đánh Tây thì có làm trái lại lời dạy của Phật không? Linh hồn của ta sẽ ra sao? Nếu ta gạt bỏ tình nghĩa riêng tư cứ một lòng theo đạo thì còn gì nhục nhã bằng, ta là người đầu giặc! Mà không, đạo ta có phải đầu giặc đâu, ta đã lẩn thẩn rồi, nam mô a di đà Phật, đạo ta hàng giặc đây là hàng đỡ... Nhưng, trong tất cả kinh thơ, có câu nào dạy cho ta tạm hàng giặc? Tại sao những người kháng chiến không vô đạo mà lại đánh Tây? Ai bảo ta đi tạm hàng giặc? Lệnh trên! Trên là ai? Việt Minh là kẻ thù của đạo ta ư? Vì sao? Việt Minh là quỷ dương thực đấy ư? Hay là những người như Quản Dõng? Hay chỉ là Tây thôi?
Đầu óc của lão lại rối lên vì những câu hỏi đó.
- Ôi! Lòng dạ ta tối tăm quá!
- A! - Lão bỗng vụt kêu lên. Lão vừa nảy ra một ý nghĩ mới:
- Ta sẽ không hàng giặc, ta sẽ đánh Tây, vì Tây là kẻ cướp nước, ta không thể hàng nó được. Như thế, sẽ không ai dám nói ta là kẻ đầu giặc và ta đánh cả Việt Minh, như thế, sẽ không có bổn đạo nào dám nói ta là phản đạo! Ta là người làm đúng lời Phật nhất! Đúng nhất!
Ý nghĩ mới mẻ và táo bạo ấy lôi cuốn lão. Lão vùng đứng dậy, đi thẳng vào nhà. Lão định đến ông Năm Bầu và tìm Hiếu đế nói rõ cái ý định đó. Rồi lão và con lão sẽ lập thành một đạo quân, sẽ chiếm cứ cả một vùng này. Lão vừa đi vừa say mê, sung sướng nghĩ đến tương lai: lão là chủ tướng một đạo quân, lão sẽ cùng con xông vào các chiến trận, sẽ tung hoành như các vị tướng của thời xưa.
Lão đi qua mảnh đất cũ của mình nằm cạnh bên một đìa cá. Những con cúm núm giật mình hốt hoảng, lũi đầu chạy rào rào trong đám cỏ. Lão đang đi nhanh như chạy, tự dưng lão dừng lại. Lão nhìn mảnh đất cũ của mình. Mảnh đất mà ngày xưa đời ông cố, ông nội của lão về đây khai phá và để lại cho con cháu sau này. Rồi đến khi thân sinh của lão chết, mảnh đất này thuộc về tay nhà Quản Dõng. Từ đó cho đến nay, tuy vẫn cày bừa trên mảnh đất phù sa màu mỡ này, nhưng lão không phải là người chủ của nó nữa. Lão vẫn hằng khao khát một hy vọng: sẽ giành lại mảnh đất này!
Mùi đất, mùi cỏ dại, mùi bùn xông lên như nhắc với lão: “Đừng bỏ ruộng hoang nữa!”. Đáng lý ra, những ngày này đã cày bừa xong, lúa cũng đã cao lên đến rốn rồi. Nhưng trong năm nay, cũng như bao nhiêu tín đồ khác, lão đã nghe lời dạy “Lấy phảng mài thành gươm giáo”, và tin rằng: đời sắp đổi rồi, cần gì đến ruộng nương nữa.
Lão đứng nhìn mảnh đất một hồi lâu và nghe lòng thổn thức. Cái ý nghĩ mới mẻ lúc nãy lại lôi cuốn lão. Đi đúng theo lời Phật, thì không những có lại mảnh đất, mà sẽ có tất cả những cái gì trên đời này. Lão lại bước đi theo bờ mẫu nổi gồng lên dưới ánh sáng của các vì sao. Như ý chừng sợ cái ý định của mình là táo bạo và không thành, lão dừng lại, ngẩng mắt nhìn lên, lẩm bẩm cầu khẩn xin các thần sao soi sáng cho bước đường đi của mình. Nhưng lão có biết đâu, các vì sao xa xôi trên trời kia chỉ có thể soi sáng được con đường đi trên mặt đất, chứ có bao giờ soi rõ được con đường đời cho con người...
 
Đăng nhập để trả lời
0

XVIII

 
Sau khi Sáu Sỏi đã bị giết và những người đi dự pháp trường đã về hết, đơn vị của Phát mới về đến làng. Ở ngoài khơi, họ nhìn thấy một đám đuốc, nhưng họ không biết rõ là chuyện gì. Hơn hai mươi chiếc xuồng cui cặp lại bờ, cách bến đò cây đa hơn ba trăm thước - nơi có một trạm gác đầu làng của lực lượng Hòa Hảo. Đêm tối. Đấy là một khoảng vắng của vườn xoài rậm lưa thưa năm bảy cái nhà - thuộc làng Long Điền. Theo kế hoạch: Hoành và ba đồng chí trinh sát sẽ cầm thư đến trạm gác ở cây đa, nhờ họ chuyển cho ban trị sự đạo. Nhưng xuồng vừa cặp lại, Hoành chưa kịp đi thì có tiếng tù và túc lên.
Tiếng tù và thôi thúc từng hồi ngắn rồi dội ra một hồi dài. Tiếng tù và của lệnh báo động. Tiếng tù và nghe lạnh cả người.
Nhanh nhẹn và vội vàng, tất cả đơn vị đều nhảy lên bờ, xuồng cặp lại bến, chiếm lấy khu vườn.
Bảy Thâm đứng cạnh bên đường, gầm gừ trong cuống họng:
- Được! Tao sẽ cho mày báo động! Cứ tập trung lại đây!
Anh nói với giọng thách thức.Anh nhìn anh em đang tìm vị trí trong khu vườn, anh hỏi:
- Hoài Nam đâu?
- Dạ, tôi đây!
- Coi chừng cái bàn tay! - Trước khi nổ súng, bao giờ anh cũng căn dặn Hoài Nam như vậy. Rồi anh liếc nhìn Phát như muốn bảo: “Anh đã thấy chưa, hả?”.
Phát đưa tay chữa lại chiếc nón cối, anh nghĩ đến đám lửa ở cây gừa, anh cố trấn tĩnh:
- Họ báo động như thế là thường thôi! - Phát nói mà không tin vào lời nói của mình. Anh hỏi:
- Hoành đâu? Ba đồng chí trinh sát đâu?
- Tôi đây! - Hoành, người gầy và cao từ trong khu vườn bước ra, đứng trước mặt anh. Ba đồng chí trinh sát mang súng tiểu liên cũng đứng cạnh bên anh.
- Nó đang báo động mà anh định cho anh em đi đấy à? - Bảy Thâm hỏi.
- Không! Tình hình này thì chưa nên đi đâu. - Phát vừa trả lời với Bảy Thâm vừa nói với Hoành và ba đồng chí trinh sát - Nhưng các đồng chí phải luôn luôn chuẩn bị. Khi ban chỉ huy gọi đến, các đồng chí cứ theo kế hoạch mà thi hành. Thôi, các đồng chí về vị trí.
- Chúng ta đi quan sát vị trí đi anh Bảy! - Phát nói. Hai người như làm lành lại với nhau.
Bảy Thâm dẫn một tiểu đội đi len theo khu vườn, tiến dần lên. Trung đội phó Sanh chỉ huy anh em đào công sự. Phát đi đến các tiểu đội, tìm các đồng chí đảng viên, dặn dò anh em.
Trong lúc ấy, tiếng tù và mỗi lúc mỗi rộ lên.
- Đúng là một cái cảnh thần sầu quỷ khốc ma kêu! Thà nó cứ bắn lên, tao nghe còn thích hơn. - Một anh lính tên An nói với bạn.
Minh nói:
- Hồi nhỏ, nửa đêm, hễ nghe tiếng tù và của ghe đò, là tao cứ tưởng là tiếng ma hú, tao cứ nằm rúc đầu vào chị tao.
- Lần này tao đập nát những cái tù và! Nếu nó không có súng thì cho nó vài cây, cần thì cứ bắn lên, nghe nó còn hay hơn.
- Đánh với Hòa Hảo hoài như thế này, bàn tay của tao bây giờ ngán bóp cò quá!
- Tao cũng vậy, mấy tháng nay, chẳng đánh với một thằng Tây nào hết. Nó rút đi đường nào ấy.
- Có Hòa Hảo ở đây, tụi nó đã bị điều đi các chiến trường khác hết rồi. Ở đây, chỗ nào quan trọng lắm, nó mới để lại một vài thằng.
- Nhiều đêm, tao muốn xin đi bộ đội các tỉnh khác, đánh với tụi lính lê dương, có chết cũng hả được cái dạ. Còn ở đây...
- Tao cũng nghĩ như mày. Này Ân, trước đây, đồng bào Hòa Hảo họ cho mình ăn đến ngập mặt, trong nhà có cái gì, họ cho mình ăn cái nấy, bây giờ, sao họ lại như vậy? Nhiều lúc, tao chẳng hiểu nữa.
- Đầu đuôi mối nhợ gì thì cũng tại thằng Tây hết! Đ... mẹ, “dùng người Việt đánh người Việt”, như thế là nó đã thành công! Tao ngẫm nghĩ ra, cũng tại nơi mình một phần. Ai đời, có ai như ông Bảy Thâm nhà mình không. Người ta sắp chạy theo mình, thì ổng đánh người ta đi. Mày còn nhớ cái buổi diễn thuyết ở tại Ba Răng không. Đồng bào Hòa Hảo ở đó, người ta muốn ngả theo mình, người ta kéo nhau dự mét tinh của mình, thế mà khi lên diễn đàn, ổng lại chào: “Xin chào tất cả quý đồng bào, nhưng xin chừa đồng bào Hòa Hảo ra!”. Đưa tay chào người ta mà mặt thì hầm hầm. Tao thấy đồng bào Hòa Hảo cúi mặt xuống hết. Họ mà giết được ông ta thì họ đã moi gan ông ta ra rồi. Còn ông Phát thì mặt tái như tàu lá chuối, cứ tặc lưỡi và kêu trời. Lúc đó, tao cũng không dám nhìn đồng bào, mặt tao sượng quá.
- Ban chỉ huy mình dạo này lục đục quá. May là nhờ có ông Phát. Nếu không, ông Bảy Thâm cứ cho mình đánh với Hòa Hảo đánh suốt ngày suốt đêm cho mà xem. Rồi thì cả hai không còn con đỏ. Lần này, tao không bắn nữa đâu. Có bắn, tao cũng bắn chỉ thiên thôi.
- Ông Phát thì lần này, tao cũng chưa chắc. Cái đám lửa hồi nãy, tao nghi quá. Cha ảnh mà bị giết, không biết chừng, ảnh còn hơn Bảy Thâm nữa là khác.
- Không có đâu!
- Chưa chắc! Lần này tao cũng bắn chỉ thiên thôi. Tao chỉ muốn đập cho nát mấy cái tù và thôi.
Có tiếng động, Minh đưa tay bấm vào vai Ân.
- Ông Phát!
Phát đi ngang qua chỗ hai anh lính:
- Ai nằm đây?
- Minh, Ân.
- Hai đồng chí nhớ đừng có đập phá bàn thờ, nhà cửa bà con nghe!
- Dạ!
- Dạ! Anh Phát ơi!
Phát dừng lại. Minh hỏi:
- Làm thế nào để đừng nghe cái tiếng tù và, anh Phát?
Trong bóng tối, hai anh lính thấy hình như người chính trị viên đang cười.
- Tôi sẽ bảo họ. - Phát vừa nói vừa đi đến chỗ khác.
Ở một nơi khác, tiểu đội trưởng Hồng nằm phục gần một ngôi nhà bỏ hoang, về đến gần làng, anh nhớ đến cái chết của Hiền, vết thương trong lòng anh như tấy lên. Sau khi cắt đặt, bố trí cho đơn vị, anh bước đến ngôi nhà, rút vách, bó lại thành một cây đuốc và lẩm bẩm những tên người cần phải trả thù: Chiến, Ịnh, Quản Dõng, Bảy Thẹo. Người anh như căng lên. Anh định sẵn: trước khi nổ súng, anh sẽ đốt cái nhà này để thị uy. Bó đuốc trong tay anh cứ run run. Thấy có bóng người bước đến nhà, tưởng là Phát, anh vội vàng rút trở về vị trí. Người bước đến nhà, ấy là anh lính tên Thông. Đấy là ngôi nhà của anh. Gia đình anh tản cư về Đồng Tháp đã hơn bốn tháng rồi. Anh tưởng, khi anh trở về, anh chỉ còn thấy một nền tro lạnh. Không ngờ, ngôi nhà anh vẫn còn nguyên. “Nhà mình vẫn còn nguyên, má à”. Anh nói với mẹ. Anh như thấy mẹ đang vui. Thông đưa tay sờ qua sờ lại cánh cửa một hồi lâu. Cánh cửa đã mọc rêu, gan bàn tay anh lành lạnh. Anh xô cửa, bước nhẹ vào nhà, đưa mắt tìm những đồ vật quen thuộc. Không có diêm, anh đưa tay sờ soạng. Tay anh chạm cái sa quay tơ. Anh đưa tay sờ cái sa quay. “Chiếc sa quay tơ của má vẫn còn!” Trước mắt anh lại hiện lên hình ảnh của mẹ. Ngày nào, mẹ anh cũng ngồi bên chiếc sa quay này. Và chiếc sa quay đã nuôi anh và cả một đàn em của anh.
Thông như không nghe tiếng tù và đang túc lên nữa. Anh như nghe chiếc sa quay tơ đang chạy. Anh ngồi bệt xuống đất, tay đặt lên chiếc sa quay và ve vuốt nó một cách thân yêu...
Ở một chỗ khác, ngồi dưới con mương khô, nhạc sĩ Hoài Nam đang đưa tay vuốt sợi dây mi từ thấp đến cao.
- Thằng nào địt (1) hoài vậy?
- Thằng Hoài Nam nó vuốt dây đàn.
- Làm gì mà vuốt dây đàn hoài vậy đồng chí Nam?
- Tôi đam tìm âm điệu của tiếng tù và anh ạ!
Bảy Thâm bố trí xong tiểu đội trinh sát, trở về, anh cùng đứng ở đấy. Anh nói:
- Cậu làm gì mà tôi cứ nghe “ủn ủn” hoài vậy?
Một vài người cười bật lên.
Phát bước ra đường cái, chờ trinh sát trở về.
Tiếng tù và mỗi lúc mỗi nhiều, tiếng gần, tiếng xa, hồi ngắn hồi dài, cứ chen nhau, dội vào đêm tối. Tiếng tù và nghe như từ cõi âm u nào ở tận dưới lòng đất dội lên. Cái âm thanh đùng đục ấy vừa u uất, vừa rùng rợn và tối tăm. Tiếng tù và như mang theo một luồng khói đục và những luồng khói đục ấy đang chen đầy đặc cả bầu trời, làm đục cả không khí, làm cho tâm hồn của con người tối lại.
Trước đây mỗi lần có dịp hành quân qua làng, mỗi một tiếng động, mỗi một cảnh vật hiện ra trước mắt, tiếng sóng, dòng sông, bông xoài rơi rụng, mùi hoa bưởi, mùi cây cỏ... tất cả đều gợi cho Phát những kỷ niệm của làng. Giờ đây, tiếng tù và như dìm tất cả những kỷ niệm ấy vào tăm tối. Phát chỉ thấy nó hiện lên trí óc anh một cách lờ mờ, thoáng hiện rồi thoáng mất, như lẫn vào nhau và quay cuồng trong óc anh. Phát không nghĩ đến số phận của cha nhiều như lúc chiều nữa.
Anh cố trấn tĩnh nghe tiếng tù và - như nghe tai họa đang kéo đến - và chờ đợi những việc sẽ xảy ra.
 
*
*      *
 
Hiếu đang mơ ngủ, bỗng nghe tiếng tù và báo động, anh liền choàng dậy, chạy thẳng đến nhà ông Năm Bầu.
Ông Năm Bầu đang ngoẻo đầu bên cây đàn cò, cũng liền tỉnh dậy.
“A! Thằng Phát về!” Ông reo lên. Ông không kịp mang cây đàn cò lên, cũng không kịp dẹp chai rượu, ông nhảy xuống đất, rút cây chĩa ba, đưa ba cái mũi nhọn lên ánh đèn, lấy vạt áo chùi ba cái chĩa cho sạch đất, chạy ra sân. Ông định bụng: nếu bộ đội của Phát qua đây, ông sẽ bảo Phát kéo thẳng đến nhà Quản Dõng, ông sẽ có dịp đốt nhà, dập đổ nhà nó cho hả hê, rồi, nếu cần, ông sẽ đốt cả ngôi nhà của ông, ông sẽ dắt Lành cùng về bên kia vùng kháng chiến.
- Bác Năm hả bác Năm?
- Ừ, tao đây, Hiếu hở Hiếu?
- Dạ, cháu đây!
Hiếu bước đến:
- Bác Năm ơi! Chắc là bộ đội của anh Phát kéo về !
- Tao cũng nghĩ như vậy!
- Cháu định lội qua kinh, chạy đi cho ảnh biết.
- Ừ! Vậy thì mau đi...
- Thôi, cháu đi - Hiếu nghĩ là sẽ đi luôn, nên anh trù trừ, còn muốn gặp lại Lành lần cuối cùng.
- Đi thì đi nhanh đi, sao còn ở đó. Bác đứng bác đợi, mau đi! - Ông Năm Bầu khoát tay giục Hiếu.
Hiếu vừa bước đi thì Lành từ trong nhà liền chạy vụt ra.
- Anh Hiếu! - Lành kêu như nấc.
Ông Năm Bầu xoay lại, nắm lấy vạt áo của Lành kéo lại, ông thét lên:
- Mày chạy đi đâu vậy? Để cho nó đi!
Sợ cha, Lành không dám cưỡng lại, nàng riu ríu bước vào nhà. Nhìn con, ông bỗng thấy thương tâm. Ông cũng lại quát lên:
- Này! Chạy theo nó, bảo nó đi mau lên!
Lành đang bỡ ngỡ vì thái độ thay đổi bất ngờ ấy, ông lại hét to hơn:
- Sao còn đứng đó, hả?
Lành vụt chạy theo con đường mòn xuống bến kinh.
Hiếu biết Lành sẽ chạy theo, anh đứng chờ ở bến.
- Anh Hiếu!
Hai người đứng sát lại nhau, rồi lẳng lặng. Lành bỗng ôm mặt khóc. Hiếu nghe nhói đến tim, anh nghẹn ngào:
- Anh đi rồi anh về!
Từ sân nhà, ông Năm Bầu quát theo:
- Nó đã đi chưa, hả?
Hiếu vội vàng:
- Anh đi nhé! - Hiếu quay đi
- Anh Hiếu! - Hiếu dừng lại. Hai người lại nhìn nhau, lại lẳng lặng.
- Anh đi nhé! - Hiếu quay đi.
- Anh Hiếu!
Hiếu lại dừng lại.
- Anh đi đi! - Giọng của Lành đầm đìa trong nước mắt. Tàu chuối quơ qua quơ lại như vẫy chào ai.
Hiếu bước xuống bến, cởi áo vo tròn lại cầm tay, bơi qua kinh. Tiếng tù và thôi thúc Hiếu bơi nhanh.
Hiếu chạy lẩn trong khu vườn. Hiếu lại bơi qua kinh ranh làng. Hiếu chạy vào khoảng vườn vắng.
- Ai? Đứng lại! Giơ tay lên.
Hiếu vừa giơ tay cho ba anh lính trinh sát khám xét vừa hỏi:
- Có phải là bộ đội của anh Phát không mấy anh?
- Anh ở đâu mà hỏi?
- Tôi là người bà con của anh Phát, tôi tìm ảnh suốt một ngày nay.
- Vậy à. Đồng chí Hoành đưa đồng chí này đến gặp đồng chí Phát đi.
- Đồng chí đi theo tôi.
Lâu lắm, Hiếu mối nghe được hai tiếng đồng chí. Cũng con đường vắng vẻ này lúc nãy anh đi tìm Phát, bây giờ, nó bỗng trở nên thênh thang. Sẽ nói với anh Phát như thế nào đây? Câu hỏi ấy như dìm mất tất cả cái cảm giác được tự do đang đến với anh.
- Có đồng chí Phát đó không? - Hoành hỏi.
- Có!
- Có người bà con đi tìm đồng chí đấy!
Trong bóng tối, hai người nhận ra nhau. Bảy Thâm, Hoành và một vài anh lính đứng vây lấy hai người. Họ cảm động khi thấy hai người cùng hấp tấp bước đến ôm lấy nhau.
- Anh Phát! - Hiếu nghẹn ngào. Một tiếng tù và buông dài, rồi như tan ra, làm đục thêm đêm tối.
Nghe cái giọng nghẹn ngào của Hiếu, Phát thấy rởn lạnh cả người.
- Đồng chí Sỏi hiện bây giờ ở đâu, đồng chí?
Bảy Thâm hỏi với một giọng như tra hỏi.
- Anh Phát! Bác Sáu đã bị...
Nghe cái tin đó, người chung quanh tưởng là Phát lồng lộn lên, sẽ móc súng bắn liền mấy phát và sẽ thét xung phong và lập tức sẽ xảy ra một cảnh khói lửa ghê gớm.
Nhưng Phát vẫn đứng im. Người chung quanh chỉ nghe được hơi thở hấp tấp và nặng nề của anh.
Đau đớn quá, Phát như mất hết cảm giác.
Lúc ấy người đang lồng lên lại là Bảy Thâm.
- Giết hồi nào? Ai giết? - Bảy Thâm vừa quát vừa nắm lấy vai Hiếu lắc rung lên. - Ai giết? - Hiếu lạnh cả người.
- Thằng Quản Dõng phải không?
Hiếu lập bập:
- Chính là tại nó!
Phát ngước nhìn Bảy Thâm:
- Thôi anh Bảy! - Phát nói, giọng đau đớn và lạnh lùng. - Dù sao thì cha tôi cũng đã chết rồi. Có làm gì đi nữa thì cha tôi cũng không sống nữa đâu. Chúng ta rút thôi, anh Bảy.
- Chú Sáu không chỉ là cha anh! - Hai mắt của Bảy Thâm rực lên như hai ngọn lửa. Anh trờ tới, lưng hơi cong, anh như một con gấu. - Tại sao lại rút hả? Bắt lấy nó! - Bảy Thâm liền quay người vào khu vườn, móc súng, nổ lên hai phát và hét dài: “Xung phong!”
Tất cả các tay súng đều nổ lên. Những luồng tù và ngắn dài đang tuôn vào đêm tối như bị bắn tan ra.
Tất cả đều chồm lên khỏi vị trí, tràn vào làng như một cơn dông.Trong lúc ấy, tiểu đội trưởng Hồng châm lửa. Ngôi nhà bừng cháy.
Một anh lính đang tiến, bỗng quay trở lại, kêu hoảng lên:
- Ai đốt nhà đó? - Anh lượm một cái cây, đập vào lửa.
- Thằng nào đập lửa đó, hả?
Anh lính đang đập lửa quay lại:
- Ai đốt đây hả?
- Tao đốt!
- Tại sao anh đốt nhà người ta, hả?
- Tao đốt, mày hỏi làm gì? Sao không tiến lên mà còn ở đây hả? - Thông cầm cây gậy cháy sém, bước chầm chậm lại tiểu đội trưởng Hồng. Tiểu đội trưởng Hồng thấy cái vẻ hung hăng kỳ lạ của Thông, anh lùi lại.
- Nhà của tôi, tại sao anh đốt, hả?
Tiểu đội trưởng Hồng ngớ ra, nhưng đang lúc hăng máu, anh không nhịn, anh quát bừa lại:
- Tại sao nhà mày lại ở đây, hả?
Anh lính Thông ngớ ra vì câu hỏi kỳ quặc ấy. Anh vừa tức giận lại vừa buồn cười.
Những người ở phía sau tiến lên, hỏi:
- Sao không tiến, mà còn đứng đó, hả?
- Anh Hồng, anh ấy đốt nhà tôi.
- Tao có biết nhà của mày đâu mà nói!
- Thôi, tiến lên đi, độc lập rồi cất lại. - Tiểu đội trưởng Hồng vọt lên, tiến theo tiểu đội. Anh lính Thông mãi còn nhìn ngọn lửa của ngôi nhà. Anh muốn lao vào kéo chiếc sa quay tơ của mẹ. Nhưng lửa đã bốc lan ra và bốc cao rồi.
Anh tiến theo đơn vị mà cứ nghĩ đến cái sa quay tơ.
Tiểu đội trưởng Hồng chạy đến một ngôi nhà khác, anh nhìn lại, nhìn chung quanh, đưa tay lên miệng làm loa:
- Nhà này của ai đây?
- Có đốt thì đốt nhanh lên, ông Phát ông ấy thấy bây giờ!
Tiểu đội trưởng Hồng vừa châm lửa vừa nói:
- Độc lập rồi tao sẽ cất lại - Anh khoái trá nhìn ngọn lửa đang lan ra. Anh vừa tiến vừa ngoái lại nhìn ngọn lửa.
Bảy Thâm dẫn đầu. Cả đơn vị, hơn sáu mươi tay súng đánh lui những người ở trạm gác dưới gốc đa, rầm rập vượt qua chiếc cầu cây bắc qua con sông nhỏ. - ranh giới của hai làng.
Hơn sáu mươi tay súng tràn lên con đường xuyên qua xóm nhà.
Tiểu đội trưởng Hồng bỏ hẳn tiểu đội mình, phó mặc cho anh tiểu đội phó, anh rơi lại sau cùng. Đây là làng anh. Anh biết rõ từng người chủ của những ngôi nhà đang hiện lên trước mắt anh.
- Hiền ơi! Anh trả thù cho em đây! - Anh vừa lẩm nhẩm với người con gái đã chết, vừa châm lửa đốt. Anh đốt liền năm cái. Khi thấy ngọn lửa bốc lên và có thể cháy lan cả xóm, anh mới tiến lên tìm đơn vị.
 
*
*      *
 
Lão Ịnh đang cắm cúi đi vào nhà thì giật mình và dừng lại. Sau những tiếng nổ súng, trước mắt lão: ngọn lửa ở xóm Bến đò bỗng bùng cháy. Tiếng nổ lốp đốp, tiếng phù phù càng lúc càng to như cái lò rèn khổng lồ, ngọn lửa mỗi lúc mỗi lan ra dữ dội, thè cái lưỡi cao lên, lia qua lia lại như liếm lấy bóng tối một cách thèm khát. Lão đoán biết là Phát kéo bộ đội về để trả thù. Những ý định tốt đẹp đang rạo rực lên trong lòng lão đều tan hết. Lão hoảng sợ, lão quay lại, chạy thẳng ra cây vông. Lão không chạy theo bờ mẫu, lão chạy tắt, lão chạy bừa trong cỏ lác, lão chạy cắm đầu, cỏ lác rạch nát cả da mặt lão.
Lão đứng dưới gốc vông, vừa thở vừa vuốt râu, nhìn vào đám lửa.
Tiếng tù và của các trạm canh trong xóm Đình túc rộ lên, báo động và truyền lệnh tập trung. Tiếng “bun bun...” của tù và túc lên không dồn dập, không thúc giục, không rung động không gian, mà kéo ra những hồi dài u ẩn nghe như tiếng hú của từ cõi xa xăm nào vẳng lại và như một đường khói đục đang quằn quại trong đêm tối. Tiếng chó đầu trên xóm dưới tru lên ông ổng hòa theo.
Đèn, đuốc nổi lên rải rác, lập lòe. Tiếng la, tiếng kêu, tiếng gào, tiếng thét, hỗn độn như ong vỡ ổ. Các ngọn đuốc rải rác gom dần về tiếng tù và, và tiếng hò hét. Tiếng hò hét ấy không rõ là tiếng gì, chỉ “hươi, hươi”, vang vọng ra như tiếng dội của rừng núi... Những bó đuốc gom lại rừng rực như một đám cháy. Tiếng hát “Hòn vọng phu” của trăm thứ giọng khác nhau dội lên. Đám đuốc ngùn ngụt là đà khi tắt khi sáng qua các lùm cây và tiếng hát tiếng hò trào lên như sóng ấy tiến dần về đám cháy.
Từ xóm Bến đò, súng lại nổ. Tiếng nổ từng hồi dài giòn giã như ốc đổ. Những viên đạn đỏ kéo thành đường dài tới tấp bay lại xóm.
Đám cháy ở cuối làng mỗi lúc mỗi ngùn ngụt và thè cái lưỡi cao lên, lia qua lia lại như khao khát một cái gì, như chờ đợi cái đám đuốc rừng rực kia đang ồ ạt tiến tới để chụp xuống và nuốt lấy. Hai khối lửa của hai mối căm thù vờn lên, tiến dần vào nhau. Cái khoảng đêm giữa hai khối lửa mỗi lúc mỗi thu dần lại. Lòng lão Ịnh như có một sợi dây đang thắt dần lại và lão nghe đau như sắp đứt.
Hai đám lửa lẫn vào nhau. Đám đuốc dày đặc như một khối lửa tan ra, từng ngọn lập lòe, tắt cháy, lẫn lộn trong bóng cây, rồi tan tác như một đám tàn. Lão vẫn đứng yên dưới gốc cây vông, bứt rứt, đau đớn và khó chịu.
- Ôi! Nếu ta biết được rõ đâu là tà chánh thì ngọn gươm của ta sẽ không vị nể một người nào, bất cứ là ai.
Lão bứt tóc, bứt tai, miệng ngứa ngáy muốn gào thét lên lời kêu đó. Phút chốc, lão muốn chạy vào, muốn chém giết tất cả mọi người bất cứ là ai, chém rụi hết những con người đang quần nhau trong đám cháy ấy, chính họ, những người làm khổ đời lão, họ dồn lão vào con đường không biết đâu là phải trái.
- Trời! - Lão muốn thét lên cho động đến trời. Bàn tay của lão tự dưng thấy ngứa ngáy, muốn đâm và muốn chém.
Nhìn cái đám cháy ấy, lão như thấy những người bạn tín đồ của mình: Năm Ngũ, Chiến, Hằng, Hiếu đang vung ngọn kiếm, đang lao vào đối phương, đang chém giết, rồi ôm ngực ngã xuống. Và trang thờ như đang cháy ra thành tro bụi.
Những cơn gió ào ào thổi tới, thổi bay manh áo lão, lão nghe như linh hồn của tín đồ từ khắp các nơi cũng đang vùng dậy, quay về bảo vệ đạo. Chỉ có riêng lão là vẫn còn đứng ở đây. Tại sao lão không lăn xả vào đám cháy ấy? Lão là một tên phản đạo, phản nước ư? Ngọn lửa thù hằn trong lòng lão liền bốc dậy theo câu hỏi đó. Đầu lão nóng bừng lên như bốc cháy.
Và lão chạy xông vào...



(1) Đánh rắm.
 


 
Đăng nhập để trả lời
0

XIX

 
Đơn vị của Bảy Thâm đang ào ạt tiến tới thì phải dừng lại bên này cầu bắc qua con kinh nhỏ chảy vào đồng - con kinh chảy qua nhà ông Năm Bầu - vì phía bên kia cầu là bức thành người đang đứng chen chúc chắn ngang, đao kiếm tua tủa lấp loáng trong ánh đuốc cháy ngùn ngụt.
Hai bên cách nhau một chiếc cầu, khoảng cách độ hơn hai mươi thước, cùng gườm nhau với cặp mắt thù hằn, thách thức, chỉ trở gào thét và chửi bới nhau:
- Đồ bán nước! Đồ phản động!
- Bọn mày là đồ bán nước, đồ quỷ dương.
- Đồ theo giặc, Việt gian, bán nước!
- Mày là quỷ dương, mày bán nước chớ ai bán nước.
- Tổ cha mày!
Cứ như thế mà họ chửi nhau, mỗi người mỗi tiếng mỗi câu, hỗn độn, ồn ào như một bầy ong. Ngần ấy tiếng chửi, ngần ấy tiếng gào la, hai bên vẫn chiếm lấy đầu cầu, không bên nào tiến lên một bước. Bức thành người với đao kiếm ở phía bên kia cầu chỉ nhích tới nhích lui chứ chưa dám xông vào các họng súng. Nếu như trước đây, họ đã chen nhau tràn lên rồi. Vì họ cho là súng của Việt Minh không nổ, nếu súng có nổ thì họ cho rằng súng nổ mà không chết và nếu có người chết thì họ bảo: chết ba ngày sống lại, và khi thấy những người chết không bao giờ sống lại thì họ tự an ủi: những người chết được về với cõi Phật.
Nhưng, sau những lần xung đột, Niết bàn đâu không thấy, họ chỉ thấy những cảnh mất chồng, mất con và bao nhiêu sự mất mát mà họ là người phải chịu lấy.
Nhìn về đám cháy, lửa cũng đang cháy trong lòng họ, nhưng họ chưa dám lao vào các họng súng.
Quản Dõng và số người trong ban trị sự đều đứng ở phía sau. Họ có mấy cây súng, nhưng họ không dám bắn. Quản Dõng càu nhàu với Bảy Thẹo:
- Mày nói thế nào mà bây giờ ổng chưa cho tiếp viện, Bảy Thẹo?
- Ổng nói là khi nào tụi nó về, thì ổng sẽ bắn mọt chê vào.
- Bắn mọt chê à? Ổng biết đường đâu mà ổng bắn, hả?
Bảy Thẹo quay mặt chỗ khác, làm thinh.
Quản Dõng tay cầm loa, vừa gào lên “Thiện nam tín nữ” vừa nhìn ra sau, dọn đường rút lui và chờ Chiến đưa bộ đội Ba Kềnh Càng kéo về.
Quản Dõng để loa xuống khỏi miệng, càu nhàu với Bảy Thẹo:
- Mày muốn giết tao hả Bảy Thẹo?
Bảy Thẹo không đáp, hắn đang đưa mắt tìm Hằng.
Phía bên này cầu, Bảy Thâm cũng đứng ở phía sau, anh dựa vào cây, nghe những tiếng chửi nhau ở phía trước, anh vừa căm giận vừa buồn cười. “Không đánh thì rút đi chớ!”. Anh càu nhàu và bắn một phát chỉ thiên.
Phát đi lẫn vào anh em, dặn dò anh em bằng sự có mặt của mình. Anh muốn bàn với Bảy Thâm cho rút nhưng đã như thế này thì không rút được nữa. Nếu đơn vị của Phát mà quay súng rút đi thì đao kiếm của họ sẽ chém vào lưng của anh em. Nếu bộ đội nổ súng xông lên thì họ sẽ rút và nếu bộ đội rút đi thì họ sẽ lao theo. Đánh nhau với lực lượng của Hòa Hảo thì bao giờ cũng vậy cả. Phát muốn ra lệnh nổ một loạt súng để giải tán họ, nhưng lại ngại xảy ra một cuộc xung đột lớn. Đứng lẫn trong anh em, nhìn qua bên kia, Phát gặp lại hầu hết bà con trong làng. Thấp thoáng ở phía sau, trong ánh đuốc, anh thấy ai như là Hằng. Tim anh đập dồn dập và nhoi nhói. Anh đi tìm Bảy Thâm.
- Chúng ta tìm cách cho rút đi anh Bảy.
Bảy Thâm không đáp ngay câu hỏi của Phát, mà đưa tay sờ râu vừa càu nhàu:
- Hòa Hảo cái làng này không có được một cây súng à? - Anh hỏi lại Phát.
- Cho rút cách nào bây giờ? - Ý của Bảy Thâm là chưa muốn rút.
- Cho rút dần dần thôi anh Bảy.
- Chờ một chút nữa coi.
Phía trước, hai bên vẫn cứ chửi nhau. Bỗng một giọng trong loa vang lên:
- Hỡi thiện nam tín nữ!
Bao nhiêu tiếng chửi, tiếng gào la liền tắt lặng. Những ngọn đuốc bên kia cầu cháy rào rào. Ánh đuốc vờn qua vờn lại các gương mặt khác nhau, nhưng cùng một vẻ tăm tối và hầm hừ giống nhau.
Từng bầy thiêu thân li ti như cám, nối theo lao vào những ngọn đuốc, cháy lèo xèo. Cái tiếng loa của Quản Dõng từ phía sau vẫn vang tới:
- Hỡi thiện nam tín nữ! Bọn quỷ dương Việt Minh đang đứng trước mặt, đang tràn vào xóm, hãy chặn chúng lại! Hỏi vậy, ai là người dám tử vì đạo?
Bao nhiêu ngọn đuốc, bao nhiêu ngọn kiếm, ngọn đao liền dấy lên cùng với tiếng gào la:
- Tử vì đạo!
- Tử vì đạo!
Tất cả họng súng ở phía bên này cầu liền hạ xuống ngang với tầm ngực của họ. Họ gào thét xôn xao, xích tới xích lui, nhưng vẫn bám lấy đầu cầu.
Lúc ấy, Quản Dõng nghe có tiếng vó ngựa từ xa trở về.
- Thằng Chiến nó về? - Quản Dõng quay nhìn lại. Đúng là Chiến phi ngựa về.
Chiến vừa thắng ngựa, Quản Dõng và số người trong ban trị sự liền bước tới, vây lấy Chiến:
- Sao? Ông Ba Kềnh Càng có về không?
Chiến ngồi trên mình ngựa vừa đưa tay chỉ ra sau:
- Ổng về sắp tới rồi.
- Ổng đi bằng gì ?
- Đi bằng xe ngựa, đi vòng qua chợ, có hơn mười lăm chiếc, mỗi chiếc chở hơn năm người, có hai cây “luột”.
- Vậy à?
- Ổng đòi ăn hai trăm giạ lúa.
- Hai trăm kia à? - Quản Dõng vặn lại - Ổng đã về tới chưa?
- Ổng về tới ở phía sau kia kìa. Tôi thấy lửa cháy, một mình một ngựa, tôi chạy trước đây. Bây giờ tụi nó ở đâu rồi, hả? - Giọng Chiến hăm hở và sôi nổi, như truyền thêm sức nóng cho mọi người.
- Nó ở bên kia cầu kia kìa.
- Hả? ở bên kia cầu à? Sao không tiến lên mà còn dồn ở đây?
Chiến vừa hỏi vừa cúi người, móc lấy cây súng ngắn của Quản Dõng, bắn liền mấy phát. Con ngựa lồng lên, Chiến đưa ngọn súng giật dây cương thét dài:
- Tiến!
Ngựa anh chồm tới. Khối người trên đầu cầu liền nép vào nhau dạt ra hai bên. Chiến như một vị tướng xông vào mặt trận. Người, ngựa, tay giơ cao ngọn súng, hình ảnh oai vệ của Chiến như mang đến cho họ một niềm tin. Người họ sôi nổi lên.
Ngựa Chiến phi qua giữa các ngọn đuốc đang quơ lên. Đầu Chiến bốc nóng, người rộn rực. Nghe tiếng gào thét mỗi lúc mỗi dấy to, anh tưởng mình như một vị anh hùng. Anh háo hức, sôi nổi, muốn gây ra trước mắt mình một cuộc chém giết ghê gớm. Anh không còn biết nguy hiểm là gì nữa. Súng đưa cao, tay buông lỏng dây cương, anh rạp đầu xuống mình ngựa cho ngựa phi về phía trước. Ngựa anh chồm lên đầu cầu, nó như biết sợ súng, muốn quay lại. Nhưng Chiến đã thúc vào hông nó.
Chiến trận thay đổi một cách bất ngờ. Bộ đội của Bảy Thâm đang gào lên những tiếng chửi, bỗng thấy khối người ở bên kia xô đẩy nhau gào thét lên, họ chưa kịp đoán được điều gì thì có một con ngựa đang chồm lên với một con người đầu chít khăn xanh, tay cầm súng ngắn. Tiểu đội trưởng Hồng thấy rất rõ, anh nhận ra Chiến. Không cần có lệnh, anh cất tiểu liên lên, bắn một loạt thẳng vào người Chiến.
Con ngựa của Chiến vừa chồm lên đầu cầu thì Chiến buông súng nhào lộn xuống. Rất nhanh, có một số người ào đến, bế lấy Chiến, luồn vào đám đông. Con ngựa lồng lên, quay trở lại, chạy bừa trong đám người. Và súng nổ. Bảy Thâm liền có mặt trước hàng quân, anh khoát tay, thét lên:
- Xung phong!
Súng nổ vào đám người đang chạy tán loạn. Bảy Thâm dẫn cả đơn vị xông qua cầu.
Phút chốc, cái khối người tay đuốc, tay đao liền rã tan ra. Họ ném đuốc, có người ném cả đao kiếm, xô nhau, chen nhau, đạp lên nhau, chạy khắp các ngả đường. Bảy người bị trúng đạn, kẻ bò, người lết, họ lẩn vào các lùm cây và bóng tối.
- Xung phoong - Sáu mươi tay súng vừa tiến, vừa thét vang. Họ tiến thẳng vào xóm Đình. Bảy Thâm quyết kéo đơn vị tiến thẳng đến nhà Quản Dõng.
Phát không giữ được bước tiến của đơn vị nữa, anh đang khom mình đuổi theo Bảy Thâm thì anh dừng lại. Anh đứng nép bên đường, vừa nhìn các chiến sĩ lao lên, vừa nghiêng tai lắng nghe trong bóng tối. Tiếng rên của ai đâu đấy vẳng lại tai anh? Rõ là tiếng kêu rên của một người con gái. Phát mở tròn mắt nhìn vào những bóng tối đang chập chờn trong ánh lửa của một ngôi nhà đang cháy. Anh lom khom, rón rén bước đến vườn chuối rậm um tùm nằm cạnh bên đường. Tiếng kêu rên mỗi lúc mỗi rõ, lòng anh bỗng đau xôn lên như có một mũi thép khoan vào.
Phát dừng lại, rụng rời cả chân tay. Trước mặt anh: một người con gái được che đậy bằng những tàu lá chuối khô, đang ôm bụng, quằn quại, vật vã và rên xiết. Nghe có tiếng người xào xạo bước đến, người con gái cố nằm im, hai tay bịt lấy vết thương ở bụng, nhắm nghiền mắt lại.
Trong bóng tối, Phát vẫn nhận ra những nét quen thuộc của người bị thương. Anh không tin vào mắt mình. Anh mở to mắt và cúi nhìn. Mùi máu tanh hắt lên mũi anh. Anh giật mình lùi lại, kinh ngạc đến sững sờ.
- Hằng!
Anh liền cởi áo, xé lấy vải lưng, cúi xuống, nâng Hằng lên, băng bó lại vết thương cho Hằng. Máu của Hằng thấm ướt cả tay anh. Anh lay khẽ đôi vai Hằng, kêu lên với giọng run rẩy và nghẹn ngào:
- Hằng! Hằng!
Phút chốc, anh như quên nhiệm vụ của mình. Anh bế Hằng lên.
Anh không nghe tiếng súng, không nghe tiếng gào thét của đơn vị đang lao vào mặt trận, anh không thấy những ngọn lửa của những ngôi nhà đang bốc cháy, anh không có cảm giác gì đối với mùi thuốc súng, anh không nghe thấy gì nữa, anh chỉ nghe hơi thở phập phồng của Hằng, anh chỉ thấy những nét đau đớn trên vẻ mặt của Hằng.
Hằng, người con gái có một vẻ đẹp thùy mị và hiền từ mà trước đây... Đêm đêm, khi mà trong làng đã tắt tiếng thoi đưa qua khung cửi, khi mà trai gái trong làng buông chày giã gạo và tản ra về trên các sân nhà, khi mà trong làng chỉ còn nghe tiếng gió reo qua hàng dương trước sân đình và, hương thơm của các mùi hoa lan ra khắp xóm, khi mà trai gái lén cha lén mẹ đi tìm nhau; thì, anh ra đứng dưới gốc cây vông đồng cạnh đầm sen để đón đợi Hằng, cũng có đêm Hằng ra đứng đấy để đợi anh và khi gặp nhau thì anh nghe Hằng bảo: “Sương đêm thấm ướt cả hai vai của em rồi! Sao lâu thế?”... Người con gái, đêm đêm đã cùng anh đi gác. Người con gái đã tiễn anh ra đi... Và từ ngày xảy ra cảnh nồi da xáo thịt, kẻ thù đã treo mặt nạ thù hằn giả dối lên gương mặt của những tín đồ Hòa Hảo, khiến cho mọi người nhìn họ khác đi, còn anh, đôi mắt anh vẫn thông suốt, anh đã nhìn thấu qua cái mặt nạ giả ấy, anh thấy rõ được mọi người, anh vẫn thấy rõ được người yêu của mình. Người chung quanh anh thù hằn họ, đốt phá nhà cửa họ, còn anh, chiếc nóp mà Hằng đã đan và tiễn anh đi, anh vẫn còn ngủ trong chiếc nóp ấy, ngủ trong hơi ấm của nàng.
Hình ảnh của Hằng vẫn luôn luôn hiện lên trong mơ ước của anh: một ngôi nhà nhỏ bên bờ sông, anh làm thợ mộc, còn nàng thì dệt vải quay tơ. Hai người sẽ cùng sống với nhau cho đến suốt cả một đời người.
Trong những cuộc chiến đấu, hễ mỗi lần gặp một nữ tín đồ nào cầm đao kiếm, anh cũng đều nghĩ đến Hằng, nơm nớp lo cho số phận của Hằng.
Bao nhiêu lần anh muốn gặp lại Hằng, muốn tìm cách đưa Hằng cùng đi với mình. Đã bốn lần trở về làng, lần nào hai người cũng đứng hai bên trận tuyến khác nhau. Những lần ấy anh không muốn cho Hằng thấy mặt. Khi gặp lại nhau thì sẽ xảy ra chuyện gì? Anh đã được gặp những nữ tín đồ đã cầm đao lao vào họng súng. Anh không muốn Hằng cầm đao lao vào họng súng của mình. Và anh không muốn Hằng phải chết như một người con trai mà anh đã thấy. Hai người như cùng một con đường, nhưng kẻ ngược người xuôi nên cứ mãi xa nhau. Anh mong mỏi, nhưng tưởng là sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.
Hôm nay, cái chết của cha anh đã đưa đường cho hai người gặp lại nhau. Một cuộc gặp gỡ phải trả bằng một mạng người! Và người ấy lại là cha anh. Và khi gặp lại, thì đây, Hằng đang hấp hối trên đôi tay của anh.
Anh đau đớn đến tê tái và thấy người bàng hoàng như khi nghĩ lại một cơn ác mộng. Anh bế Hằng đi, nhưng cũng chẳng biết đưa Hằng đi đâu.
Anh bế Hằng nhích lên từng bước trong vườn chuối um tùm.
Trong cơn đau, Hằng mơ màng biết mình đang được bế lên. Hằng từ từ mở mắt. Hằng thấy một đôi mắt quen thuộc, đôi mắt trong sáng mà đau đớn đang cúi nhìn mình. Hằng giật mình, ngực thóp lại. Rồi Hằng cố mở to mắt, gương mặt của Phát hiện dần lên trước mắt Hằng. Mình mơ chăng? Nàng tự hỏi. Hằng muốn đưa tay lên sờ cái gương mặt đang cúi nhìn mình nhưng nàng không còn đủ sức nữa. Gương mặt của Phát cứ chập chờn trước mắt Hằng như hư như thật. Và tất cả cái gì chung quanh cũng chập chờn: tiếng súng, tiếng gào thét, tiếng lửa cháy, tất cả đều lẫn vào nhau lào xào bên tai nàng. Đúng là một giấc mơ. Nàng tự nghĩ và cố mở to mắt. Gương mặt của Phát bỗng hiện lên trước mắt nàng thật rõ ràng. Nàng cố giơ cánh tay đặt lên vai và kêu lên: “Anh!” Nàng muốn kêu cái tên thân thiết. Nàng muốn hỏi có phải là anh không. Hằng muốn trách vì sao anh lâu về. Nàng muốn nói những nỗi đau khổ của mình. Nàng muốn nói người ta đã bao vây nàng như thế nào, nàng đã chống chế lại, cầu khẩn van xin và mong mỏi anh thế nào. Bao nhiêu lần nàng đã khóc - những lúc khóc thành tiếng, những lúc khóc thầm. Nàng sẽ nói về chuyện của hai cô con nhà Quản Dõng đã có ý muốn ghép nàng cho thằng Bảy Thẹo. Nàng sẽ trách anh, đi sao không cho tin về, anh là người chỉ huy sao anh để cho anh em đốt phá nhà cửa của dân làng. Hằng muốn nói tất cả. Hằng muốn khóc, muốn cười với anh. Và Hằng muốn nghe anh nói lại những lời trách giận mà tha thiết và dịu dàng. Tất cả những ý nghĩ bị chôn chặt dưới đáy lòng đều sống dậy trong người nàng. Nhưng cổ của nàng nóng bỏng. Nàng đang bị khát, nàng không kêu thành tiếng.
Hằng cố hết sức, đưa hai tay ôm choàng lấy cổ Phát. Nàng mở tròn mắt, đôi mắt to mông mênh và đầy lệ.
- Anh! - Hằng vừa gọi, vừa đưa tay bấu chặt lấy vai Phát và nàng muốn nói:
- Cha đã chết rồi... Sao bây giờ anh mới về? Cha có bảo anh... đừng có trả thù... Nhà ai đang bị cháy đấy anh... Đưa em đi đi anh. Đưa em ra khỏi chỗ nầy nhanh đi anh. Em không sống ở đây nữa đâu. Nhớ anh, mong anh, người ta sẽ giết em chết mất thôi. Người ta đang gán ghép em cho thằng Bảy Thẹo. Em sợ lắm! Ở đây, lúc nào người ta cũng bắt em phải nguyền rủa anh. Mỗi lần nguyền rủa anh là mỗi lần em khóc. Đưa em đi đi anh. Em sẽ làm cứu thương cho bộ đội của anh như cái đêm anh đã bảo em dưới gốc cây vông đồng. Em sẽ đi với anh. Em sẽ sống với anh và chết với anh thôi!...
Ôi! Hằng muốn nói nhiều, nhưng cổ của nàng như bị cháy, nàng không nói được gì. Nàng chỉ còn đủ sức mở to đôi mắt để nhìn cho rõ mặt người yêu của mình thôi. Chẳng biết làm cách nào cho Phát hiểu, nàng cố hết sức hít một hơi đầy ngực, rồi vùi đầu vào người Phát, cắn nghiến vào cánh tay Phát, cắn rất lâu. Đuối sức, nàng ngả mặt ra, chớp mắt nhìn Phát, khe khẽ lắc đầu, hai giọt nước mắt trào ra.
Phát bị Hằng cắn, anh chẳng biết đau, nhưng nhìn thấy Hằng cứ vật vã anh không cầm được nước mắt. Anh cúi mặt cho gần Hằng. Nước mắt anh từng giọt rơi xuống tóc Hằng, trán Hằng, má Hằng và môi Hằng.
Hằng đưa lưỡi liếm những giọt nước mắt của Phát đọng trên môi mình và uống hết những giọt nước mắt mằn mặn ấy mà vẫn còn thấy khát. Hằng lại muốn cố lấy sức một lần nữa, nhưng vết thương lại nhói lên, nàng quậy mình và tất cả đều chập chờn.
Trong cơn đau mê mệt, ước mơ của những ngày trước lại trở về với nàng: “Trong một cuộc chiến đấu nào đó, nàng sẽ bị thương, anh ấy sẽ băng bó cho mình và mình sẽ được vuốt ve”... Đau đớn như chỉ còn đọng lại ở vết thương, ngoài ra, tất cả trên cơ thể của nàng đều rợn lên và nàng có một cảm giác lâng lâng...
Bảy Thâm đang dẫn đơn vị lao tới thì phải thối lại vì một loạt súng đại liên. Được nghe tiếng súng của quân địch, Bảy Thâm vừa hăm hở vừa bình tĩnh và sáng suốt lạ thường. Những lúc như thế này, anh hoàn toàn làm chủ tình cảm của mình.
Bảy Thâm nép vào cây xoài, lắng nghe thêm tiếng súng. Đúng là đại liên của thằng Ba Kềnh Càng chó đẻ đây. Tiếng súng nổ từng loạt, chắc chắn, như có vẻ tiếc đạn, luồng đạn thường bay đi ngang tầm ngực.
Không thể đâm đầu vào họng súng của nó, cũng không thể cho nó bọc ra sau, chiếm lấy đầu cầu, chiếm lấy bờ kênh mà bắn vào lưng của mình được! Phải cho đơn vị trở về, chiếm lấy khoảng vườn vắng, nằm vào vị trí, bắn tỉa từng thằng và chờ nó xung phong, quét cho hàng loạt.
Nhanh nhẹn, Bảy Thâm nhảy từ cây này qua cây khác, tìm tiểu đội trưởng Hồng.
- Hồng đó hả?
- Dạ! - Hồng đứng nép vào cây xoài chong tiểu liên về phía trước. Bảy Thâm cùng nép một cạnh bên Hồng, vừa đưa mắt nhìn về phía trước vừa hỏi:
- Có biết tiếng súng của ai đó không?
- Của thằng Ba Kềnh Càng chớ ai.
Bảy Thâm đưa cùi chỏ thúc khẽ vào ngực tiểu đội trưởng Hồng:
- Khá lắm! Ráng lên, tao sẽ cho chú mày lên làm phó. Tiểu đội của chú mày bây giờ phải chặn bọn chúng nó lại...
- Rút à? - Tiểu đội trưởng Hồng vặn lại với giọng gay gắt.
- Phải nghe lệnh cho hết đã. Đừng có hữu dõng vô mưu! Phải trở lại vị trí cũ, ở đây trống trải lắm, như nằm trong cái bẫy, hiểu chưa? Chú mày ở đây với cây F.M. chặn nó, hút tàn một điếu thuốc thì cho anh em rút lần về, nghe chưa? Có chuyện, tao sẽ trở lên. Không được bắn nhiều. Rút một đoạn, bắn trả lại một loạt, làm mồi dụ nó, biết chưa?
- Biết!
- Đi bố trí đi!
Hai người liền rời khỏi cây xoài.
Lệnh rút lui được truyền từ miệng người này qua người khác. Hơn năm mươi tay súng lần lượt rút đi, thoăn thoắt trong vườn cây. Tiếng tù và lại túc lên.
 
*
*      *
 
Nghe một loạt đại liên và tiếng đạn rào rào, Phát giật mình. Bóng tối bị rạch ra bằng những đường đạn lửa. Phát dừng lại, nhìn quanh quẩn, nhưng vẫn bế Hằng.
Một loạt súng nữa lại nổ. Phát thấy xa xa có ánh đuốc lập lòe. Rồi tiếng chân người mỗi lúc mỗi nhiều.
Nhìn ra đường, trong bóng tối, Phát thấy anh em đơn vị đang chạy ngược trở về. Phát bối rối. Anh để Hằng xuống rồi lại bế Hằng lên. Anh loay hoay một lúc rồi lấy chân dẹp một khoảng đất, để nhẹ Hằng xuống. Anh kê miệng cắn lá chuối, đắp lên mình cho Hằng. Anh tự nhủ: một chốc nữa, anh sẽ trở lại. Anh sẽ đưa Hằng đi.
Phát bước ra đường, thấy Bảy Thâm đang chạy tới.
- Anh Bảy! - Anh muốn hỏi nhưng lại thôi.
Bảy Thâm dừng lại:
- Phát đó hả? Ba Kềnh Càng! Cho đơn vị rút về vị trí, nhanh lên.
- Đồng chí y tá đâu?
Bảy Thâm mở tròn mắt:
- Ai bị thương đấy?
- Không! Thôi anh đi đi.
- Bảo anh em rút về vị trí, nhanh lên.
Bảy Thâm vừa nói vừa khoát tay bảo chiến sĩ chạy nhanh lên. Bóng Bảy Thâm hút mất bên kia đầu cầu.
Một loạt đại liên lại nổ dài. Phát không nhìn thấy ai nữa. Anh quay vào vườn chuối. Anh áp mặt xuống lồng ngực Hằng. Nghe Hằng hãy còn thở, anh thấy yên yên. Anh vuốt qua mái tóc Hằng rồi trở về với đơn vị.
Tiếng súng mỗi lúc mỗi nổ gần, tiếng gào la và tiếng hét mỗi lúc mỗi rõ dần.
Trong vị trí, Phát tìm gặp lại Hiếu.
Hai người cùng nấp một bờ mương, mắt nhìn vào một đám cháy đang tàn. Hình ảnh của Hằng cứ hiện lên trước mắt Phát. Anh muốn nói với Hiếu, muốn bàn với Hiếu tìm cách cứu Hằng. Nằm cạnh bên Phát, Hiếu cứ sợ Phát hỏi đến Sáu Sỏi. Nếu anh ấy hỏi ai giết thì mình sẽ trả lời như thế nào?
- Tôi không ở lại đây nữa, anh Phát ạ! Ban trị sự nó ghìm tôi lắm. Một mình tôi tôi không làm thế nào cứu được bác Sáu. Tôi đã bênh vực bác Sáu trước mặt bọn nó. Tôi ở lại không được nữa đâu, anh Phát!
- Hiếu đi thì cũng được thôi. Nhưng còn bác Tư thì bác sống với ai?
Cho đến lúc này, anh ấy vẫn còn nghĩ đến cha mình. Hiếu cảm động, cay đắng và thấy thương Phát nhiều hơn. Hay là cứ nói thật với anh ấy? Anh ấy sẽ hiểu và anh ấy sẽ tha thứ cho cha mình. Anh đưa mắt nhìn Phát, dò ý.
Vừa lúc đó thì đối phương bắt đầu xuất hiện.
Đơn vị của tiếu đội trưởng Hồng vừa bắn vừa rút, dụ được đơn vị của Ba Kềnh Càng lọt vào tầm súng. Thấp thoáng những cái bóng và những họng súng chớp lửa. Tiếng tù và, tiếng hò hét ở phía sau mỗi lúc mỗi to và hình như có tiếng hát nữa.
Bảy Thâm đi lom khom trước các họng súng, theo sau anh là Hoành, anh liên lạc, Bảy Thâm dặn:
- Chừng nào thấy rõ thì mới bắn. Được lệnh thì mới bắn. Ai sai lệnh thì tao chặt đầu.
Bảy Thâm mò đến chỗ Phát. Anh vừa nhìn về phía trước vừa vỗ vai Phát:
- Thằng Ba Kềnh Càng! Phen này thì phải cho nó ngã kềnh ngã càng ra mới được! - Giọng Bảy Thâm háo hức hẳn lên. Những lúc như thế này anh dễ gần gũi và dễ thân thiết với mọi người.
- Ai đây?
- Đồng chí ở làng - Phát đáp.
- Đồng chí hồi nãy đấy à?
- Dạ.
- Có muốn đi theo bộ đội không?
- Dạ muốn.
- Biết bắn súng không?
- Dạ biết!
- Tốt lắm! Có biết nghề võ không?
- Dạ biết!
- Vậy thì cứ theo tôi dạy nghề võ cho anh em để đánh giáp lá cà.
Anh đưa tay nắn bóp lấy vai Hiếu.
Trước mặt mọi người, đối phương như dừng lại. Và cả hai bên đều im lặng.
- A, cái thằng này khôn thật! - Bảy Thâm càu nhàu, - Hoành, chú lại chú Sanh, bảo chú ấy cho một tổ với một cây “mi”, chạy tuốt ra sau cho thật xa, rồi bắn lên vài phát, nhanh lên.
Hoành thoắt đi.
Một lát sau, một loạt tiểu liên và súng trường từ phía sau vọng tới.
Đúng như ý định của Bảy Thâm, phía bên đối phương liền dấy lên, súng nổ và tiếng gào la. Nhiều cái bóng lao tới. Phát đưa họng súng ngắn dõi theo một cái bóng. Anh mang theo hình ảnh của cha và người yêu, lao vào cuộc chiến đấu.
- Bắn!
Ba cây trung liên cùng thổi lên và tất cả các tay súng thi nhau nổ. Đạn rít lên, rào rào như một cơn dông.
Không thấy, nhưng anh em biết đối phương đang thối ngược lại. Bảy Thâm chồm lên, khoát tay, thét dài “Xung phong!...” Bảy Thâm lao lên như một con hổ.
Cả đơn vị đều chồm lên. Họ cướp lấy súng của kẻ chết, bắn đuổi theo kẻ đang bỏ chạy, rồi lần lượt rút về vị trí.
Lại im lặng!
Phía bên kia đối phương, những ngọn đuốc lại nổi đỏ cả một khoảng vườn, tiếng tù và, tiếng gào thét cùng dấy lên. Tiếng gào la của họ nghe ầm ầm ì ì như tiếng sấm xa. Tiếng tù và ở phía sau họ cũng lại nổi lên. Dân làng Long Điền cũng đã kéo đến rồi. Xa xa, có tiếng động cơ tàu và tiếng súng ở đồn Mỹ Long Hưng đang vọng tới.
Phát đi tìm Bảy Thâm. Hai người ngồi nấp dưới gốc cây.
- Cho rút thôi anh Bảy! Bọn nó dồn nhân dân đi trước. Bốn bên đều có. Không rút thì nhân dân sẽ chết hết.
Bảy Thâm gật gù.
- Được! Rút thôi. - Rồi anh văng tục - Đ... mẹ cái thằng Ba Kềnh Càng này, không có nhân dân thì mày chết với tao!
Những ngọn đuốc mỗi lúc mỗi đến gần, đã nghe rõ được tiếng người và hình như có tiếng hát nữa.
Bảy Thâm cho một tiểu đội ở lại chặn đường tiến của đối phương, còn tất cả, một nửa đi bằng xuồng, một nửa đi dọc theo hai bờ kênh.
- Anh Bảy đưa đơn vị đi đi, còn tôi với đồng chí Hiếu ở lại với tiểu đội. Bảo anh em để cái loa lại cho tôi.
Trong hàng người đang rút đi có tiếng nói:
- Ẩn ơi, tao lấy được một cái tù và!
Hiếu chồm qua Phát:
- Anh Phát. Bảo để cái tù và lại.
- Để lại làm gì? - Bảy Thâm hỏi.
- Cần thì tôi sẽ túc lên, bọn nó sẽ tưởng mình là nó.
- Vậy kia à? Đưa cái tù và lại đây! - Bảy Thâm ra lệnh.
- Tôi biết được mật hiệu của nó.
- Vậy thì đồng chí ở lại với đồng chí Phát. - Bảy Thâm đưa cái tù và cho Hiếu.
- Dạ.
Bảy Thâm thấy có cảm tình với anh bộ đội mới.
- Thôi anh đi đi! - Phát giục.
Nhìn Phát, Bảy Thâm bỗng chợt nhớ lại lần rút lui mà anh bị thương. Lần ấy Phát đã cứu anh. Lần này, Phát muốn ở lại để đồng bào đừng đỡ chết. Anh thấy thương Phát. Nhớ đến cái chết Sáu Sỏi, anh đau đớn cho Phát, muốn ôm chầm lấy Phát.
- Thôi, anh Bảy đi đi.
Bảy Thâm dang hai tay đặt lên vai Phát, bóp mạnh:
- Tôi sẽ chờ anh.
Bảy Thâm đi xa rồi, không thể còn thấy gì nữa, nhưng anh vẫn nhìn lại. Anh chợt nhớ đến nụ cười ác độc của mình lúc ban chiều. Nhìn đám đuốc mỗi lúc mỗi đến gần, anh nghĩ, hối hận và bực dọc lấy mình.
 
*
*      *
 
Ông Năm Bầu đứng thập thò trong vườn chuối cạnh bên nhà, hai tay giữ chặt cây chĩa ba, ngong ngóng nhìn ánh lửa.
Tiếng súng, tiếng chửi bới ở ngoài cầu ông đều nghe, nhưng ông chẳng thấy một anh lính nào chạy qua. Ông ngóng chờ đợi. Rồi một loạt súng nổ, những tiếng thét vang và tiếng chân chạy.
Chắc là bộ đội đang xung phong. Ông chạy ra đường, định nhập theo bộ đội, thì một đám người chạy tràn lại phía ông, rồi một bàn tay nắm lấy vạt áo ông kéo lại:
- Việt Minh! Việt Minh!
Một loạt đạn lửa bay qua trên đầu ông, ríu ríu qua người ông. Đám người liền kéo ông nằm xuống.
Sợ đạn lạc, ông vội bò trở lại nhà, ẩn mình dưới con mương nước.
Ông nghe tiếng súng từ nhà Quản Dõng bắn trả lại. Rồi lại im. Rồi tiếng tù và lại túc lên.
- Việt Minh rút lui rồi!
- Việt Minh rút lui rồi!
Những người đang nằm rạp trong vườn chuối chung quanh, họ ngóc đầu lên, gọi nhau, bảo nhau đi tập trung.
Từ các ngõ xóm, từ các lùm cây, đầu này đầu nọ, xôn xao tiếng gọi, tiếng chân và đuốc bắt đầu nổi lên.
Lệnh vua hành quân trống kêu dồn...
Quan với quân lên đường...
Và tiếng hát lại bắt đầu trỗi dậy, mỗi lúc mỗi gần như một đám mưa rào.
Ông biết bộ đội đã rút thật rồi. Ngọn lửa chưa tràn đến nhà Quản Dõng. Nhìn một đám người với những ngọn đuốc bốc ngùn ngụt kéo qua nhà, ông thấy buốt lạnh cả người. Bao nhiêu hy vọng của ông chờ đợi bộ đội của Phát thế là hết rồi.
Ông bước lên mương, vác cây chĩa ba, thẫn thờ bước vào nhà.
- Bác Năm ơi! Bác Năm!
Tiếng kêu của Bảy Thẹo lạc lõng và thất thanh nghe thật lạ thường. Ông Năm Bầu sững lại, nhìn cái bóng thấp lùn đang hấp tấp bước vào nhà mình, ông cất tiếng:
- Cái gì đó chú Bảy?
Cái bóng ấy quay lại:
- Thằng Chiến nó bị thương rồi!
- Cái gì? Hả? - Ông Năm Bầu buông rơi cây chĩa ba, hấp tấp bước vào, lập bập hỏi.
Bảy Thẹo nhìn ông, nói gằn từng tiếng, như mỗi tiếng đều có một dấu phẩy:
- Tôi, nói, thằng, Chiến, nó, bị, thương, rồi!
Bao nhiêu tiếng nói ấy như bao nhiêu viên đạn và từng viên, từng viên bắn vào lồng ngực ông. Hai bàn tay ông đưa lên như chực ôm lấy cái gì rồi buông xuống. Ông đứng lặng, mồm há hốc, mắt trố ra và đứng như trồng.
- Nó đang nằm ở nhà cậu Quản ấy, có đi thì đi mau lên. Cậu Quản sửa soạn cho nó đi nhà thương. Sao ông còn đứng đó?
- Ở... ở đâu?
- Tôi nói đằng nhà cậu Quản. Có đi thì đi mau đi!
Trước đây, có nhiều lúc, ông không muốn nhìn mặt Chiến nữa, nhưng giờ đây, khi nghe Chiến bị thương thì tình cha con liền trở lại với ông trọn vẹn và đầy đủ như bát nước đầy.
Mặt ông sầm tối. Ông nghiến răng, cố ghìm nước mắt, từng bước nặng nề, ông đi về phía nhà Quản Dõng.
Lành sợ đạn lạc, nằm nấp ở phía sau vườn - cái chỗ đứng chia tay với Hiếu - nghe trước nhà có tiếng người, nàng rón rén bước vào.
- Chuyện gì vậy anh Bảy?
- Chuyện gì tôi đã nói rồi. Muốn biết thì cứ đi đến nhà cậu Quản.
Bảy Thẹo chủ nói thế rồi đi thẳng. Lành chẳng hiểu được gì. Lành muốn đi lại nhà Quản Dõng, nhưng ngại không dám đi một mình. Trù trừ rồi nàng quay lại chỗ nấp, hy vọng sẽ được gặp Hiếu trở về.
Bảy Thẹo đang bực dọc. Trong lòng anh cũng đang bị một vết thương. Anh đi báo tin cho người khác, còn người khác thì chẳng biết gì đến việc của anh.
Hằng đã bị thương. Anh đã chen lấn với mọi người để giấu Hằng vào vườn chuối. Suýt nữa thì anh cũng đã chết rồi! Nếu không có một loạt đạn bay đến chỗ anh, thì anh không bỏ chạy một mình đâu. Hằng chết hay sống? Ruột gan anh như cháy bỏng. Thế mà chẳng có ai hiểu cho anh cả. Người ta - Quản Dõng - còn bảo anh đi báo tin cho người khác, đã thế mà còn bảo phải quay về để cầm đầu một toán người. Thằng trưởng ban ám sát bị thương mà cả đám cứ vây quanh, lo xe, lo cộ, đưa nó đi nhà thương, còn Hằng thì chẳng ai nói tới. Càng nghĩ, anh vừa tủi vừa giận. Bảy Thẹo không quay lại để cầm đầu một đám người nữa. Nhìn thấy những ngọn đuốc đã qua khỏi bên kia cầu, anh liền chạy thẳng lại vườn chuối. Anh đi sâu vào vườn, tìm lại cái chỗ mà anh đã giấu Hằng. Anh đánh diêm, anh đến nơi và sững sờ. Trước mắt anh chỉ còn là một khoảng trống và những tàu lá bị vứt đi. Anh hốt hoảng, mồ hôi vã ra ướt đầm cả trán. Anh nhìn quanh quất, bước tới bước lui, đưa tay sờ soạng. Chợt có tiếng rên anh dừng lại rồi len theo vườn, chạy lom khom.
Hằng còn đây. Anh cúi nhìn Hằng, nghe Hằng vẫn còn thở. Anh không nghĩ vì sao Hằng lại đến đây và ai đã đưa Hằng đi.
Anh không cần biết. Anh cúi xuống, luồn hai tay xuống lưng Hằng và bế Hằng lên.
Anh đưa Hằng ra vườn. Trong bóng tối, anh vẫn nhìn thấy vẻ mặt xanh xao mà xinh đẹp của Hằng. Nghe hơi thở của Hằng, ngửi cái mùi là lạ của Hằng, không cưỡng được lòng mình, anh cúi hôn môi, mũi của Hằng và hôn cái lồng ngực phập phồng của Hằng.
Còn Hằng, trong cơn đau và mê mệt, nàng vẫn đeo đuổi theo cái ước mơ của mình: “... Trong một cuộc chiến đấu nào đó, nàng sẽ bị thương, anh ấy sẽ băng bó cho mình và mình sẽ được vuốt ve”. Rõ ràng là nàng đã thấy đôi mắt trong sáng và thân thiết đang nhìn nàng. Nàng thấy rõ gương mặt của anh ấy nữa. Hằng không hay Phát đã bỏ đi. Hằng nghĩ là Phát vẫn còn bế mình và đang cúi hôn lên đôi môi và lồng ngực của mình. Trong cơn mê, vết đau của nàng như dịu lại và tan đi. Anh ấy đang hôn mình. Trong cơn mê, nàng tự nghĩ và chập chờn thấy Phát. Tuy trong cơn đau, nàng vẫn nghe một cảm giác kỳ lạ đang chạy ran khắp cả người khiến cho người nàng uốn cong lên. Nàng muốn vùng dậy, muốn ôm ghì lấy anh ấy và muốn hôn anh ấy. Nhưng nàng không đủ sức.
Nàng sung sướng, nàng đau đớn, nàng bực dọc lấy mình và nàng muốn khóc.
 
*
*      *
 
Trong vườn xoài rậm, những tay súng của Ba Kềnh Càng và dân tín đồ với đao kiếm, gươm giáo, đuốc, đang kéo nhau đuổi theo đối phương. Ông Năm Bầu phải vất vả lắm mới đi ngược lại được dòng người đó.
Người ta nạt ông, bắt ông đứng lại, kéo áo ông, bắt ông quay trở lại.
- Thằng Chiến nhà tôi bị thương! - Ông vừa hét lên vừa nắm giật lại áo, người ta mới chịu buông tha ông.
Đang đi, ông gặp lão Ịnh tay cầm ngọn đao, tay cầm đuốc, tóc xổ tung. Lão Ịnh cầm đầu một đám người. Năm Ngũ, Phi Hùng cũng đang cầm đầu một đám người - Hai cha con Năm Ngũ chưa biết Hằng bị thương - Quản Dõng đầu chít khăn đen, tay cầm đuốc, tay cầm loa. Ba Kềnh Càng, một con người cao lênh khênh tay dài như vượn, đầu đội mũ sắt Nhật, hông đeo kiếm dài, tay cầm súng ngắn, đang bàn bạc với Quản Dõng.
- Ai đó? - Lão Ịnh đang đi, bỗng quơ ngọn đuốc qua mặt ông hỏi. - Anh Năm hả? Thằng Chiến nó bị thương rồi. Anh có thấy thằng Hiếu nhà tôi ở đâu không?
- Thằng Hiếu nó đi rồi! - Ông vừa đáp vừa đi.
Lão Ịnh tưởng là Hiếu cũng đang cầm đầu một đám người và đang lao về phía trước. “Nó tuy thế mà là người trung thành”. Lão tự nghĩ và thấy thương con. Lão không muôn để con phải xông xáo một mình. Lão quơ đuốc, hướng về đám người không hàng không ngũ đang lúc nhúc trong vườn. Lão gào lên:
- Bà con bổn đạo! Tiến lên! Tử vì đạo!
Cái đám người ở phía sau rùng lên.
Ông Năm Bầu đi ngang qua chỗ Quản Dõng và tên Ba Kềnh Càng.
- Anh Năm đó hả? - Quản Dõng hỏi.
Năm Bầu dừng lại:
- Con tôi ở đâu?
- Anh đi mau đi, xe cứu thương sắp sửa đưa cậu Chiến lên nhà thương chợ đấy. Anh chạy mau lên mà đi với nó.
Ông Năm Bầu liền chạy ra đường. Trong bóng tối, lờ mờ những chiếc xe ngựa đậu dọc theo đường. Mùi mồ hôi, mùi nước đái và mùi cứt của đám ngựa xông lên nồng nặc. Một vài tiếng vó gõ lộp cộp, một vài tiếng hí và tiếng ngựa rùng mình.
Ông Năm Bầu vừa chạy đến các cỗ xe vừa kêu:
- Chiến ơi! Chiến!
Những người bị cưỡng bức phải đưa xe đi, đang ngồi nấp dưới các gốc cây, nghe tiếng người hớt hải, họ biết đấy là thân nhân của người bị thương. Một người hỏi:
- Chiến nào?
- Thằng Chiến nhà tôi!
- Phải cái anh bị thương không?
- Phả... ải!
- Người ta đã đưa ảnh đi rồi.
Ông Năm Bầu sựng lại, nhìn theo con đường loang loáng trải dài và hút mất trong bóng tối.
Chiến mặt xanh xao đang quằn quại và kêu rên! Hình ảnh đau đớn của con hiện lên trước mắt ông và hình ảnh ấy như quằn quại trong lòng ông.
Ông bỗng đưa tay vẫy và thét lên: “Xe”. Rồi ông cắm cổ đuổi theo. Xe của Chiến đã đi xa rồi, nhưng ông lại như nghe tiếng vó ngựa đang gõ vang trên mặt đường và chiếc xe như đang lúc lắc chạy ở trước mặt mình. Ông vừa chạy vừa vẫy tay, vừa gọi: “Xe!” Con đường im ắng, giữa hai hàng cây lào xào trong đêm tối mỗi lúc mỗi trải dài ra. Đầu óc ông quay cuồng. Ông cắm cúi chạy. Vấp phải một hòn đá, ông ngã sấp, mặt đập xuống mặt đường. Ông không còn đủ sức để chạy nữa, cũng không đưa tay chùi dòng máu từ mũi tuôn ra. Ông chỉ khẽ nghiêng qua, nằm áp má trên mặt đường, hai vai run lên, Gió từ dòng sông hắt lên, cuốn theo cát bụi và lá khô rải qua người ông như muốn chôn ông xuống giữa mặt đường.
 
Đăng nhập để trả lời
0

XX

 
Cái đám người của lão Ịnh, Phi Hùng, Năm Ngũ và Quản Dõng vừa qua khỏi cầu, đang hò hét lao theo những tay súng của Ba Kềnh Càng thì đạn bay vào họ như cám rãi.
Đạn réo qua người họ, cắm vào các thân cây cạnh bên người họ, rít qua những cành lá. Lá tơi tả rơi rãi quanh người họ. Nghe tiếng “xung phong” thét vang bên kia khu vườn và thấy những tay súng của Ba Kềnh Càng thối ngược lại, không ai bảo ai, họ liền quay mặt lại, chen nhau, xô nhau, đạp vào nhau, dồn trở lại. Có người khỏe tay, khỏe chân, họ nhảy ùm xuống dòng kinh, mang theo cả đao kiếm và đuốc. Đuốc tắt lèo xèo trên mặt nước, họ lóp ngóp bơi vào. Ba Kềnh Càng vung ngọn kiếm, hét vang:
- Đứng lại!
Cây đại liên liền nổ lên trên một tràng dài, yểm hộ cho toán xung kích tháo ngược về. Tất cả những tay súng của Ba Kềnh Càng lần lượt lui ra phía sau, dồn cái đám người đao kiếm ra phía trước.
Phía bên kia vườn bỗng im lặng. Đám người đao kiếm bắt đầu tìm nhau. Họ không có tổ chức gì hết, không có đơn vị, không có tiểu đội, không có tổ, cũng không người chỉ huy chính thức. Người nào hăng hái là người chỉ huy của họ. Họ thích ai, tin ai, họ chạy theo người ấy. Trong lúc không có chuyện gì, họ có một đội ngũ hẳn hoi: đại đội, trung đội, tiểu đội, nhưng đến lúc chiến đấu thì họ lại rã ra, rã ra nhưng lại là một khối, và tất cả đều dưới quyền chỉ huy của một người cầm loa, bất cứ là người nào. Ông già, bà già, đàn bà con gái, trai tráng và trẻ con, tất cả đều có. Có người bị bắt buộc, có người tình nguyện và mỗi người chiến đấu với mỗi ý nghĩ riêng của mình. Kẻ đi đánh quỷ dương, người đi đánh cộng sản, kẻ đi đánh những người đã giết người thân của mình, kẻ thì đánh vì đạo, vì Thầy. Đám người hỗn độn ấy bị dồn ra phía trước. Họ tìm nhau, ra lệnh cho nhau, giành nhau một chỗ nấp, chửi nhau và thổi tù và.
- Có súng mà sao lại nằm ở phía sau hả? Đánh giặc cái con cặc gì vậy?
- Con ơi!
- Má ơi!
- Thằng nào muốn tử vì đạo thì lên trước đi.
- Thằng nào muốn về đất Phật thì cứ xung phong.
- Đ... mẹ cái bọn quỷ dương nó đốt nhà tao rồi.
- Mày có giỏi thì lên trước đi, tao còn một bầy con của tao.
- Đ... mẹ thằng nào nói đó? Thằng nào làm mất tinh thần bà con đó?
- Chém mẹ nó đi.
Bao nhiêu người, bao nhiêu tiếng chửi, bao nhiêu gương mặt khác nhau đều chờn vờn trong ánh đuốc. Họ quần nát cả một khu vườn. Lão Ịnh cầm đuốc len lỏi qua đám người đó, soi mặt từng người, nhìn mặt từng người để tìm Hiếu.
- Bà con có ai thấy thằng Hiếu nhà tôi không?
- Hiếu nào? Thằng Hiếu dạy võ hả?
- Thằng đó nó ở nhà ôm đít vợ rồi!
- Câm cái mồm! - Lão Ịnh quay ngọn đuốc lại phía người nói, hét lên - Tao chém thằng cha mày bây giờ.
- Ông Phó ơi! Ông giết người ta thì ông lên trước đi, đi tìm thằng Hiếu làm gì?
- Tao tìm mặc tao!
- Đâu trở về đó đi, bọn quỷ dương nó tới kia kìa.
Một tràng đại liên rít lên, kéo một đường nhì nhằng bay qua bên kia khu vườn. Họ xôn xao lên, giấu người vào chỗ nấp, rồi lại im.
Im lặng.
Cho đến lúc ấy, họ mới nghe được tiếng sóng của dòng sông, tiếng gió reo qua khu vườn, tiếng đuốc nổ lách tách, và những con thiêu thân lao vào lửa cháy lèo xèo. Trên nền trời, mây mỗi lúc mỗi dồn về, bóng tối mỗi lúc mỗi dày đặc. Tử thần như đang dừng lại trước mặt họ.
- Hỡi bà con bổn đạo tín đồ... ồ... ồ!
Tiếng loa của Quản Dõng từ phía sau vang tới. Tiếp theo có tiếng xì xào ở phía sau truyền đến, từ người này sang người khác:
- Nghe súng của ông Ba nổ thì xông lên.
- Nghe súng nổ phải xông lên.
- Thằng nào, con nào không xung phong thì bị đâm vô lưng.
- Tử vì đạo!
- Chết vì Thầy.
- Nó đốt nhà của mầy đó, xông lên mà lấy đầu nó.
Lão Ịnh nằm nấp dưới cây xoài to, chờ lệnh mà lòng vẫn nghĩ đến Hiếu.
Tiếng loa từ phía sau vẫn vang tới:
- Bọn quỷ dương Việt Minh cộng sản đang vật vờ trước mặt, chúng đã đem lửa đốt cháy cả xóm làng, đốt cháy trang thờ, đốt cháy cả trần điều, giết hại cả anh Dương Văn Chiến đệ tử. Hỡi bổn đạo của làng Mỹ Long Hưng, hãy đứng lên, hãy làm sáng danh cho đạo! Hỡi bổn đạo! Hỡi ai là người dám tử vì đạo, chết vì Thầy... - Cái tiếng loa ấy vang lên khắp khu vườn chung quanh họ, gió như dừng lại. Cây cối như đứng im. Tiếng loa vừa ấm vừa tha thiết như tiếng than và lời van đối với mọi người. Lời than van ấy đã khơi động lòng yêu đạo của họ. Họ nằm im, có người nín cả thở để lắng nghe.
Cái tin Thầy bị nạn - do Quản Dõng bịa ra - khiến cho lão Ịnh rưng rưng nước mắt. Hình ảnh của ngày đi gặp mặt Thầy chập chờn lên trong trí lão. Thầy đứng trên đài cao. Thầy mặc chiếc áo dài đen, người dong dỏng.. Dáng Thầy tha thướt và dịu dàng. Tóc Thầy xõa đến vai, mái tóc đen huyền. Thầy cúi nhìn “chúng sanh bá tánh”. Gương mặt của Thầy đẹp với vẻ từ bi. Đôi mắt của Thầy trong sáng mà xa xăm. “Bá tánh chúng sanh” bao chặt bốn bên lễ đài, đều quỳ mọp xuống.
- Hỡi thiện nam tín nữ! (Lúc ấy, Huỳnh Phú Sổ nói trước mi-cơ-rô nhưng lão Ịnh và hầu hết dân làng thì có biết cái mi-cơ-rô là cái gì. Trong làng, trong quận, ai muốn nói lớn tiếng thì phải cầm cái loa bằng thiếc) Tiếng của Thầy rền như tiếng sấm, vang ra đến tận bốn phương và nghe như từ cõi xa xôi nào đưa tối. Người trần thì làm gì nói được như vậy! Nghe như là tiếng thiên thần. Lúc ấy, lão mọp đầu nghe và tự nghĩ như vậy. Từ ấy đến nay, lão không gặp được Thầy nữa.
Nghe cái tiếng loa của Quản Dõng, giọng nói ấm áp và huyền bí của Thầy lại vẳng đến tai lão. Một nỗi xúc động kỳ lạ xâm chiếm tâm hồn lão. Tất cả những gì chung quanh lão như mờ đi và chập chờn như hư như thật. Tự dưng, lão muốn ngủ. Lão dựa đầu vào gốc cây, mơ màng và rưng rưng nước mắt. Lão thấy mình không phải là Tư Ịnh nữa, mình là một tín đồ, là đệ tử của Phật thầy!
Một loạn đại liên nổ lên, đêm tĩnh mịch như vỡ tan ra. Đạn rít ào ào. Lão giật mình, vùng dậy. Tất cả người chung quanh đều dấy lên, ào ào như một cơn dông.
- Tử vì đạo!
Người ta quơ đuốc, vung đao, vung kiếm, gào thét như sấm, chen lẫn với tiếng tù và, và tràn lên như một lượn sóng.
Lão Ịnh vung đao, chém bừa vào một cành cây, như một con mãnh hổ, lão xông lên hàng đầu.
Tiếng súng bên kia khu vườn lại nổ lên, đạn rít qua đầu họ. Có một số người thối ngược trở lại. Lão Ịnh thì như không nghe tiếng súng. Lão vừa thét “Tử vì đạo!” vừa xông lên. Có một người nắm lấy áo lão kéo lại lão cũng không biết. Lão tưởng áo mình bị vướng một cành cây, lão vừa đưa ngọn đao ra chặt, thì bên kia vườn cũng lại nổi lên tiếng loa:
- Hỡi bà con bổn đạo!
Lão Ịnh và mọi người đều sựng lại và ngớ ra. Tiếng loa bên kia khu vườn vẫn vang tới:
- Anh em bộ đội về đây không phải là để trả thù. Anh em bộ đội về đây để cùng với bà con bổn đạo đoàn kết đánh Tây cứu nước. Người Việt không đánh người Việt. Xin bà con hãy dẹp đao kiếm, trở về.
Những người đang lắng nghe, bỗng có một tiếng chửi:
- Đoàn kết cái con cặc đây nè! Tao chém đầu cha mày bây giờ.
Tiếng loa bên kia khu vườn vẫn vang tới:
- Tôi là Hiếu đây! Hiếu dạy võ của bà con đây! Tôi xin bà con hãy trở lại, hãy cùng với anh em bộ đội đánh Tây cứu nước...
Khối người đao kiếm liền xôn xao hẳn lên, họ kêu lên những tiếng kinh ngạc, lạ lùng và sợ sệt. Còn lão Ịnh thì ngơ ngác và không tin vào lỗ tai của mình.
- A! Thằng Hiếu!
- Thằng Hiếu!
- Thôi! Bỏ mẹ rồi.
- Lão Ịnh đâu?
- Thằng Hiếu, con của ông đó!
- Thằng phản đạo! Tiến lên đi!
- Chém lấy đầu nó.
- Mổ mật nó!
- Thằng nào mình đồng gan sắt thì lên đi. Nó chém một nhát ba cái đầu!
Cái khối đao kiếm dừng lại ở mí vườn, họ cứ nhao nhao lên và như rã rời ra từng nhóm từng người.
Còn lão Ịnh - lão đứng cạnh một cây xoài, tay cầm đao, mình trần, áo bịt qua đầu, - tiếng nói của Hiếu như kéo lão trở về với sự thực. Lão không còn là đệ tử của Thầy nữa. Lão là lão Ịnh. Lão là một người cha. Người cha có một đứa con, cuộc đời của lão chỉ còn có hai cha con. Và hiện giờ con của lão đang đứng ở phía bên kia vườn. Hai cha con, hai trận tuyến khác nhau. Lão bủn rủn cả tay chân. Lão muốn xông lên, chém lấy nó. Lão muốn đưa tay kéo nó trở về. Cả hai thứ tình cảm ấy giằng xé trong người lão. Và chung quanh người ta đang nguyền rủa lão.
Trong lúc ấy, tiếng loa của Quản Dõng cứ gào lên như muốn át lấy tiếng loa của Hiếu.
- Tiến lên!
- Tử vì đạo!
Người ta cũng gào theo, nhưng những tiếng hô đã rời rạc, chỗ này, chỗ nọ và người ta chỉ hô mà không tiến.
Hô xong, họ lại kêu nhau, tìm nhau, chửi nhau, người đòi về, người la hét bảo phải đứng lại.
Tiếng súng ở phía sau lại bắt đầu nổ. Mọi người liền nằm rạp xuống. Tiếng súng nổ như điên, như loạn.
Khu vườn phía bên kia vẫn im lặng, không bắn trả lại một phát nào và tiếng loa cũng đã im.
Những tay súng của Ba Kềnh Càng bắt đầu xông lên, và cái khối người đao kiếm được dồn lại phía sau.
Ba Kềnh Càng tổ chức thêm một đợt tấn công.
Cây đại liên đặt cạnh bên cây xoài khạc qua bên kia khu vườn một tràng dài. Khu vườn bên kia vẫn im. Những tay súng bắt đầu bò lên. Số người đao kiếm thấy những tay súng tiến trước, họ bắt đầu yên, bắt đầu củng cố lại tinh thần, họ lò mò theo sau.
Một tràng đại liên lại khạc qua bên kia khu vườn một tràng dài nữa, tiếng súng nổ dài nghe như đứt hơi. Tiếng súng dứt, Ba Kềnh Càng vung kiếm hét vang:
- Tiến lên!
Những tay súng liền chồm tới. Khối người đao kiếm liền dấy lên.
Lão Ịnh sợ mọi người, xấu hổ với mọi người và sợ nhìn cái chết của con, lão nép vào bóng tối, lưng còng xuống như muốn thu người lại, lão vừa nhìn dáo dác, vừa bước từng bước trở về.
Những tay súng của Ba Kềnh Càng và khối người đao kiếm vừa xông đến khu vườn, thì khu vườn chỉ toàn là cây và những cái hầm không.
Tiểu đội của Phát và Hiếu đã đuổi theo đơn vị. Đơn vị của Bảy Thâm, tốp đi xuồng, tốp đi trên bờ kinh, đang đi vòng theo con kinh chảy qua đồng. Đơn vị của Bảy Thâm đang rút về xóm du kích thuộc xóm nhà thờ công giáo. Ở đó, ngày mai, họ sẽ chặn đường về của Ba Kềnh Càng. Cho đến lúc ấy, tiếng súng của đồn Tây làng Mỹ Long Hưng mới bắt đầu bắn ra. Bảy Thâm đi cạnh bên đơn vị, anh mở cúc áo cho mát lồng ngực, nhìn đồn Tây và nghe tiếng súng. Đúng là tiếng súng của cái thằng quan hai Tây. Không ai chạm tới nó, tiếng súng của nó nghe thật bình tĩnh. Nó cố ý bắn theo một điệu nhạc, nếu tiếng súng ấy chỉ nổ, mà không chết người, thì nghe thật sướng tai. Tiếng đầu nó cho bắn một viên đạn đum đum “bóc bùm”, tiếp theo là một tràng trung liên, mỗi chùm ba tiếng: “Bùm, bùm, bùm. Bùm, bùm, bùm” rồi lại “bóc bùm”, rồi tiếp theo là một tràng “hốt kít” tiếng nổ nghe ấm như gõ thùng, và kéo một tràng dài, rồi nó đệm lên một tiếng “mót chê” “phụp... ầm...”. Rồi nó bắt đầu bắn lại “bóc bùm”. Bảy Thâm nhìn những đường lửa nhằng nhịt trong đêm tối, anh nghiến răng chửi thầm: “Không có cái bọn Hòa Hảo thì cha mày cũng chết! Rồi mày sẽ biết tay tao, xem mày có bắn điên lên không cho biết”. Bảy Thâm dừng lại, nhìn đoàn quân của mình vẫn còn nguyên, lại cướp thêm được một số súng, anh thấy hãnh diện và khoan khoái với cái tài chỉ huy của mình.
Cùng lúc ấy, trong khu vườn, khối người đao kiếm bắt đầu nổi đuốc, họ quơ đuốc lùng khắp cả khu vườn. Xem như là đi tìm địch, nhưng thật ra thì họ đang tìm đồ vật của “Việt Minh” xem có cái gì còn rơi lại sau khi đã rút lui. Họ tự thấy mình đã chiến thắng. Họ đi tìm nhau, kêu nhau, gọi nhau và một vài người bắt đầu cất tiếng hát:
Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường...
Lão Ịnh thẫn thờ đi qua những ngôi nhà bị cháy, tiếng hát ấy vẳng đến, mang đến cho lão một nỗi buồn hiu quạnh.
 
*
*      *
 
Mặt trận đã tàn, ai về nhà nấy, việc ai nấy lo. Nhà ai mất người thì đốt đuốc chia nhau đi tìm. Nhà ai bị cháy thì xúm lại dập lửa, lượm lặt, gom góp những gì còn có thể dùng được: cái chén, cái nồi, hủ mắm, cái lu... Bảo an lại đi gác.
Nhà Quản Dõng lại thắp đèn “măng sông”, kẻ lên người xuống, yến tiệc bày ra. Ban trị sự, ban chỉ huy của Ba Kềnh Càng lại bắt đầu “hội nghị” chung quanh những bàn thức ăn, lại uống rượu, lại bàn thêm những âm mưu mới. Lính của Ba Kềnh Càng chia ra ở các nhà dân, họ bắt đầu nói chuyện với người trong gia đình, và liếc nhìn những cô nữ tín đồ.
Họ bắt đầu nghe lại tiếng sóng muôn thuở của dòng sông, và nhìn trời, đoán có mưa không và dự tính những chuyện làm ăn trong mùa mưa. Cuộc sống bình thường đã bắt đầu trở lại với những gia đình còn nguyên vẹn.
Suốt một ngày nay, mây đen cứ vần vũ mà không mưa được. Trời thấp xuống, đen sì như một cái lồng chảo úp xuống làng. Một vài tiếng sấm rền rĩ ở xa xa. Gió liu riu thổi qua hàng dương, hơi gió ẩm lạnh, cuốn theo tro bụi và tàn than của những ngôi nhà bị cháy rào rào qua các khu vườn.
Những gia đình có người bị thương, bị chết, lác đác ở đầu xóm cuối xóm, họ bắt đầu khóc lóc, kể lể, nguyền rủa, chạy đi tìm đuốc, chạy đi tìm ván đóng hòm. Đèn đuốc lại nổi lên, tiếng búa đóng hòm lại vang đi.
Lão Ịnh đi ngang qua một ngôi nhà bị cháy, khói hãy còn ngui ngút, người đàn bà đang lom khom bới tro nhặt những cái chén, thấy lão, người đàn bà ấy liền kêu lên:
- Này ông trị sự. Ông là trị sự sao ông để cho con ông đi đón quỷ dương về đốt nhà của tôi, hả? Ông giỏi giết người sao ông không giỏi ra chận người ta lại, ông để người ta đốt cái nhà của tôi. Ông có thấy đàn con của tôi không? Đêm nay rồi nó ngủ đâu, ăn đâu, hở ông Phó? Tôi cho ông biết, ngày mai tôi sẽ dẫn cả đàn con tôi đến ở nhà ông đấy. Còn ông, thì ông về đất Phật mà ở.
Người đàn bà ấy xói xỉa lão với giọng vừa đau đớn, căm giận, chua xót lẫn mỉa mai, và đầm đìa trong nước mắt. Và không chỉ riêng người đàn bà ấy, người nào đang bị thiệt, hễ gặp ông là họ kêu tên ông, chửi mắng và mỉa mai đủ lời.
Lão mất hết cái tính nóng nảy của mình. Lão đau khổ đến đờ đẫn cả người. Ai chửi mặc ai, ai kêu đến, lão cũng mặc họ. Lão cứ đi, đầu cúi gầm, lưng còng xuống, áo bịt qua đầu, tóc xõa dài xuống cái lưng trần. Lão muốn tránh mọi người, nhưng lão cứ đi ở giữa đường, đi qua những ngôi nhà bị cháy.
Đến một đoạn đường vắng gần đình, lão gặp ông Năm Bầu đi ngược lại. Trong bóng tối, hai người vẫn nhận ra nhau.
- Anh Năm đó hả?
Ông Năm Bầu dừng lại trước mặt lão:
- Anh Năm ơi! - Lão kêu lên như tuôn ra những tiếng than. Tay lão run và giọng lão cũng run run - Thằng Hiếu! Thằng Hiếu của tôi nó đã đi rồi!
Lão muốn khóc, muốn ôm chầm lấy người bạn già, muốn được nghe lời an ủi. Nhưng ông Năm Bầu lại “hừm” lên một tiếng:
- Tôi đã nói với anh mà - Giọng của ông đay nghiến. Đau đớn và căm giận bị đè nén từ nãy giờ và hằng bao nhiêu lâu nữa, như có dịp, ông liền trút vào lão Ịnh. -Anh đã bằng lòng chưa anh Tư? Tôi nói với anh mà anh không nghe tôi! Anh đã thấy cái gì chưa? Tại sao anh lại đi giết Sáu Sỏi, đi giết một người cộng sản, hả?
Ông hỏi gằn, nghiến răng, mắt mỏ tròn và nảy lửa, hai tay run lên và giọng ông cũng run lên:
- Hỏi vậy, làng Mỹ Long Hưng nầy đã nhờ ai mà đã làm nên bao nhiêu chuyện. Hồi thời bí mật, ai là người đánh Tây bị tù đày, ai là người “cầm binh” đánh Tây giành được ngày độc lập? Hiển vinh biết bao nhiêu! Anh còn chưa muốn hay sao? Rồi thằng Tây trở lại, biết bao nhiêu là kẻ mất người còn, hỏi vậy ai là người kháng chiến đánh Tây cứu nước? Hỏi vậy tại sao lại bắt giết người kháng chiến, hả? Anh Tư, tại sao lại đi đầu Tây? Từ ngày những người trong ban trị sự các anh lên cầm quyền, hỏi vậy, các anh đã làm nên được một cái gì? Bao nhiêu là người chết, bao nhiêu là nhà cháy? Tôi cũng tưởng khi các anh đánh đuổi được Việt Minh, cộng sản ra khỏi làng, thì cái làng này là thiên đường, là đất Phật, nhưng lại hóa ra là địa ngục.
Càng nói, càng xúc động, giọng ông càng sôi nổi, càng căm giận:
- Rồi hôm nay nữa, chỉ có nửa ngày với nửa đêm thôi, khi anh đã giết chết chú Sáu Sỏi, giết chết ông chủ nhiệm, giết chết một người cộng sản, thì cái làng Mỹ Long Hưng này xảy ra chuyện gì? Anh đi mà nhìn lại cái làng này, bao nhiêu nhà cháy, bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu người chết? Còn anh? Anh nói: giết hết bọn cộng sản quỷ dương thì được lên đất Phật, sao anh không đi lên đất Phật đi? Sao lại còn đứng ở đây? Để làm gì, hả? Hỏi anh, trong ngày nay, anh đã được cái gì? Anh mất một người bạn, anh mất một đứa con. Còn tôi? Thằng Hiếu chưa phải là chồng của con Lành, nhưng tôi vẫn coi nó như con. Tôi mất một thằng rể, con tôi mất thằng chồng, nhà tôi mất một đứa con. Thằng Phát đã mồ côi mẹ, bây giờ tại anh mà nó bị mất cha. Quản Dõng nó muốn tranh quyền đạt lợi, nó gây thù gây oán, anh theo nó để làm gì? Anh vào sống ra chết để làm gì? Anh nói cho tôi nghe coi! Có phải anh là một con thiêu thân hay không?
Ông Năm Bầu nói mà không nhìn lão Ịnh.
Càng nói, ông càng nhớ đến những chuyện đã xảy ra. Đau đớn và căm giận trào nghẹn lên cổ ông. Hai tay ông nắm chặt, run run và hai hàm răng nghiến chặt như cố ghìm người lại. Ông cau mày nhìn sâu vào đêm tối. Hàng cây bên kia bờ sông đã tan trong bóng tối. Dòng sông lấp loáng những ngọn sóng bạc đầu và ào ào. Gió vẫn dồn mây đen kéo về. Một vài tiếng sấm rền lên. Một tia chớp rạch nứt đêm tối. Cảnh vật chớp hiện lên, rồi tắt ngấm.
Lão Ịnh đứng trơ ra như đá. Những lời đay nghiến của ông Năm Bầu, lão nghe đau như bị rứt ra từng miếng thịt. Đầu óc lão như không còn chỗ để mà nghĩ suy nữa, đầu óc của lão như đã cứng đặc lại. Và lão đã kiệt sức rồi. - Cái đói cũng đang cồn cào lão - Lão không còn sức mà giận nữa. Lão chỉ muốn thấy lại mặt con thôi, lão chỉ muốn nghe những lời an ủi thôi. Lão khe khẽ lắc đầu, nói như hơi gió:
- Thôi, anh Năm, đừng nói nữa!
- Hừ, đừng nói à? - ông Năm Bầu vẫn tiếp với những ý nghĩ của mình - Ngày mai, ngày kia, rồi sẽ ra làm sao đây? Tôi còn được cái gì. Tôi còn một cái nhà như một cái tum. Tôi còn một đứa con gái, tôi sẽ còn bị mất cái gì nữa đây?
Câu nói ấy như mang một tai nạn không rõ ràng đe dọa lại ông, ông bỗng nổi giận, ông nhìn thẳng vào lão Ịnh và giọng ông cất cao lên:
- Anh muốn làm gì tôi thì làm! Còn tôi, tôi cho anh biết trước, tôi sẽ đi rước những người cộng sản trở về.
Như sét đánh qua tai, lão Ịnh nghe lạnh và rùng mình.
Trời có sét đánh thật. Một tiếng nổ nghe như tức tối, một tia chớp kéo lằng nhằng, tiếng sấm rền ra những nơi xa. Trời bắt đầu mưa. Và mưa gió là chuyện của trời. Mưa gió ở đây từ trước đến nay, nó không chiều theo lòng người. Mỗi năm, bắt đầu tháng tư, tháng năm, tháng sáu thì mưa lại đến. Mưa cứ ròng rã ngày này qua ngày khác. Mưa cho nước từ trên nguồn đổ xuống, mưa cho nước đổi màu, nước mang theo phù sa ngầu đục, mang theo từng ề củi riều cuồn cuộn trôi qua làng. Mưa đầy ngập cả dòng sông. Mưa cho dòng sông dâng lên, tràn ngập cả đường sá, tràn ngập cả ruộng đồng. Và nước sẽ mang cá về cho các ao đầm. Nước tắm mát cho cánh đồng. Nhưng năm nay, dòng sông nào có biết là cánh đồng đang bỏ hoang. Nó mang nước về cho ai, nó nào có biết. Đó là chuyện của con người. Con người chưa làm chủ được nó!
Sau những ngày nắng gắt và chói chang, mặt nước trên sông, mặt nước các hồ ao và các con mương đã bốc hơi, chuyển thành những đám mây, khi những đám mây trắng đã chuyển thành đen như khói đèn, và khi đã ứ  đầy cả bầu trời, có những tia chớp thì mưa đổ xuống.
Mưa mỗi lúc mỗi nặng hạt. Mưa dập tắt những ngôi nhà còn đang cháy. Mưa thấm lạnh những nền nhà nóng bỏng. Mưa tắm mát cho những khu vườn và cỏ cây. Mưa lạnh những con người không nhà.
Mưa mù mịt và dầm dề...
 
15-4-1963
 
HẾT
 
Đăng nhập để trả lời
0
ĐẤT LỬA - Tiểu thuyết - Tác giả: Nguyễn Quang Sáng
 
Đã mang vào thư viện
Cảm ơn hiệp sĩ hoi_Ls nhiều đã góp sức cho thư viện 
Chúc vui




Đăng nhập để trả lời
0