<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.01.2024 14:58:55 bởi Ct.Ly>
Cái Chum Vàng
Tác giả : Hà Ân
NXB KIM ĐỒNG Hà Nội 1986
Cái Chum Vàng
Anh Từ là người xứ Nghệ lưu lạc vào ấp Tây Sơn từ khi mới hơn mười tuổi. Nhớn lên một chút, anh Từ đi vào rừng kiếm ăn, mà anh chỉ đi một mình. Mỗi lần đi vài tuần trăng, có khi đẹp trời thì cả một mùa. Người ấp Tây Sơn đồ chừng anh Từ đi kiếm vị thuốc quý, nhưng cũng có người nói anh ta đi đãi vàng trên ngọn nguồn sông Côn. Như thế nhiều năm. Thế rồi có lần người hàng ấp tình cờ bắt gặp anh Từ trên nguồn. Anh đang đãi vàng thật. Người kia đứng xem anh làm việc, còn anh cứ lặng lẽ đãi cát. Cuối ngày làm việc, anh Từ được một số vàng bằng hạt mẩy. Người kia lắc đầu chịu sự kiên nhẫn bằng anh cả…
Đến sau có tin quê nhà báo cha anh Từ qua đời. Anh phải về quê chịu tang. Đường về thì xa, vợ con chưa có, không thể mang vàng theo người được, mà để lại thì phải tìm nơi cất giấu của cải. Anh đem số vàng đã tích góp được ra xem, không ngờ nó nhiều đến thế. Vàng đổ đầy một cái chum. Anh Từ phải chọn nơi chôn vàng.
Anh Từ lựa một đồi đất cao nằm bên bờ sông Côn, có một cây đa già tán sum suê. Cạnh đó là một tảng đá thật lớn soi bóng xuống vực sông. Anh Từ chôn chum vàng bên cạnh tảng đá này.
Rồi anh lên dường về quê.
Sau ba năm chịu tang cha, một vài việc giữ chân anh Từ, mãi vài năm sau nữa, anh mới trở lại được chỗ chôn vàng xưa. Khi đến nơi anh kinh ngạc thấy mảnh đất hoang ấy nay đã được khai phá thành một vườn cây tươi tốt, giữa vườn có một nếp nhà khang trang dựa lưng vào cái tảng đá mà anh đã chôn vàng bên dưới…
Anh Từ đi qua đi lại thăm thú trước ngõ mấy lần. Sau anh tạm bỏ ra chỗ vắng ngồi nghĩ cách lấy lại chum vàng thế nào cho gọn và kín đáo.
Đến chiều, anh giả làm khách nhỡ độ đường, vào nhà kia xin ngủ trọ một đêm. Cụ chủ nhà nom quắc thước tiếp anh rất niềm nở. Cụ có ba con trai, người lớn nom hiên ngang đĩnh đạc ; người út lại nhanh nhảu lanh lợi, còn người giữa thông minh rắn rỏi mà có oai. Nhà lại nuôi một đàn chó săn rất dữ rất thính.
Chủ nhà làm cơm cho anh Từ ăn, sau đó buông màn trải chiếu cho anh ngủ tốt.
Nhưng anh Từ thao thức cả đêm bởi vì anh thấy không thể nào lấy lại chum vàng như mình đã tưởng được …Cụ già tỉnh táo, các con trai linh lợi, cường tráng, đàn chó tinh khôn số một. Không thể mong đêm tối đào trộm lấy chum vàng…Tới sáng anh đành chào chủ nhà ra đi.
Trải qua mấy hôm suy nghĩ, anh Từ quay lại. Lần này anh xin được nói chuyện với cụ chủ nhà. Trước hết anh ngỏ ý xin mua lại ngôi nhà. Cụ già sửng sốt rồi ngẫm nghĩ và từ chối :
-Nếu anh cần ở nơi đây thì có khó gì. Cha con tôi xin giúp anh khai phá miếng đất bên kia sông. Chỉ một năm thôi, cơ ngơi sẽ nên mà.
Mấy con trai cụ già cũng lặng lẽ cười theo. Anh Từ đâm ra ngần ngại. Nhưng nhìn ông cụ, anh Từ tin rằng đây là người nhân đức. Anh đành nói thật mục đích trở lại sông Côn của mình là để lấy lại chum vàng chôn giấu năm xưa. Cụ già cười. Người con cả ra hiệu cho hai em họ vào buồng trong khệ nệ khiêng ra chum vàng. Sau đó, người con trai cả Vác đòng ra cửa trước, người út cầm con dao phát ra mé cuối vườn, chỉ còn lại người con trai thứ hai đứng sau lưng cha. Anh mừng rỡ xin chuộc lại cái chum, thoạt đầu với giá mỗi bên một nửa. Cụ già cười, lắc đầu. Sau anh xin chỉ lấy một phần ba, rồi một phần tư. Cụ vẫn lắc đầu cười. Cuối cùng anh không biết phải làm thế nào nữa thì người con trai thứ hai của ông cụ nói :
-Mảnh vườn này cha con tôi trồng tỉa. Ngôi nhà này cha con tôi dựng lên. Còn cái chum này chúng tôi đào thấy đã lâu. Cha tôi vẫn giữ lại đó chờ trả lại cho chủ nó.
Cụ già cũng nói :
-Bây giờ tôi thấy anh đúng là chủ chum vàng này, tôi trả nó cho anh.
Anh Từ kinh ngạc đến nghẹn lời, anh nhìn người con chủ nhà đang lấy của trong chum bày ra ngoài. Cụ già nói :
-Anh kiểm lại cho kỹ đi. Xem có thiếu thứ gì không ?
Anh Từ sụp xuống lạy cụ già, miệng nghẹn ngào:
-Bấy lâu con cứ nghĩ trên đời này chỉ có vàng bạc là quý. Bây giờ con mới hiểu lòng người còn quý giá bội phần. Con xin cụ cho con được làm con cụ.
Ông cụ cười :
-Đây là thằng Hai Nhạc.
Cụ chỉ người con lớn đang canh cửa trước. Rồi cụ chỉ ra sau vườn :
-Kia là thằng Tư Lữ. Còn đây…
Cụ chỉ người đang soạn các thứ chứa trong chum :
-Đây là thằng Ba Huệ. Còn con nếu con làm con ta thì con sẽ là thằng Năm Từ. Chum vàng này là của con. Nhà này không coi trọng vàng bạc, nhà này không dùng nó làm giàu làm có.
Quả như lời cụ nói, số vàng đó sau góp vào việc sửa sang binh khí, mua trữ lương thảo cho quân khởi nghĩa Tây Sơn.
Võ Gà
Ở đất Tây Sơn, bốn bề rừng núi, thú dữ rất nhiều. Rắn độc, hổ báo thường đi kiếm ăn ven đường. Vì thế người Tây Sơn rất chuộng võ nghệ. Ngay đàn bà con gái cũng biết vài miếng giữ mình. Mấy anh em Nguyễn Nhạc đều học võ từ nhỏ. Hằng ngày họ vẫn đấu tay đôi. Trong ba anh em, cậu Tư Lữ có vóc người thấp nhỏ nhất. Trong những cuộc đấu với hai anh hoặc với những người khác. Út Lữ thường bị thua thiệt.
Có một lần, Út Lữ đấu với Nguyễn Nhạc. Trận đấu bề ngoài xem ra gay go nhưng thực ra bắp tay Út Lữ chạm bắp tay Nguyễn Nhạc như chạm cột. Tay Út Lữ ngắn hơn tay anh, chân Út Lữ ngắn hơn chân anh. Vì thế đòn Lữ chưa tới đích thì đối phương đã đặt tay đặt chân lên người Lữ rồi. Nguyễn Nhạc bảo em:
-Học võ cứ to cao đã được một nửa rồi. Em vóc người bé nhỏ phải chịu thua thiệt là đúng thôi.
Nguyễn Lữ chịu không cãi lại được nhưng anh nghĩ : ‘‘ Nếu vậy thì những người bé nhỏ còn học võ làm gì nữa ?’’
Câu hỏi đó làm cho Út Lữ mất ngủ nhiều đêm.
Vùng Quy Nhơn có tục nuôi gà nòi và tục chọi gà. Cả một phủ rộng lớn từ ven biển lên tới bìa cao nguyên chỗ nào cũng có gà nòi. Những lúc rảnh việc đồng áng, người ta lại đem gà ra chọi tập với nhau, còn đến phiên chợ huyện là cho gà chọi thi.
Út Lữ rất thích xem chọi gà. Những phiên chợ An Khê bao giờ cũng có mặt Út Lữ. Cậu đi chơi chợ chỉ là phụ, còn cái chính là đến xem chọi gà.
Lần này Út Lữ được xem một trận gà mà cậu nhớ mãi. Hai con gà đều là gà nòi nổi tiếng đến nỗi có cả biệt hiệu. Một con là con Tía siêu đao. Sở dĩ có tên thế vì lông nó màu tía, còn cặp cựa của nó quớt lên như đôi siêu đao. Khi nó tung hai chân lên đá đối phương, cặp cựa của nó màu tía, còn cặp cựa của nó quớt lên như đôi siêu đao.
Khi nó tung hai chân lên đá đối phương, cặp cựa của nó chém rất ác liệt. Còn con gà kia cũng có một biệt hiệu nghe kêu không kém nó là con Ô quạ tha. Màu lông nó đen nhưng nhức và thuở nhỏ nó quả có bị quạ tha thật. Lúc đó nó mới bằng nắm tay, một con quạ sà xuống quắp được nó bay lên. Chủ nhà nhặt đất đá ném theo, miệng hò la inh ỏi. Quạ sợ, sểnh chân để gà rơi từ trên cao xuống sân, nằm giãy đành đạch tưởng đi đứt. Sau nó hồi dần, lớn lên, nhưng có lẽ vì cái rơi lúc trước đâm chột nên nó còi cọc mãi rồi cũng chỉ thành một con gà nòi bé nhỏ. Nhưng ai biết xem tướng gà nhìn đến con Ô quạ tha cũng phải kêu lên mà khen. Mắt nó nhỏ như mắt chim cắt. Mỏ nó ngắn mà khỏe, hơi khoằm lại như mỏ diều hâu. Hai hàng vảy chân đàng trước đều tăm tắp nhưng ở gần cuối chỗ giáp tới ngón chân giữa có hai cái vảy kẹ rất bé giắt vào. Người ta bảo đấy là vảy cáo. Con gà nào có vảy cáo là con gà có miếng đá cực hiểm, cực dữ dội, chuyển thua thành thắng. Út Lữ xem con Ô quạ tha khen nức nở nhưng rồi lại chê một câu:
-Ô ơi ! Tướng mày đẹp thật, dáng mày hùng thật, nhưng chỉ tiếc cái tầm nhỏ bé của mày thôi. Mày phải biết đấu gà cũng như đánh võ, cứ to khỏe đã kể được một nửa rồi. Còn cái nửa kia, cái nửa miếng đòn thế đánh thì con Tía siêu đao nó chẳng kém cạnh gì mày đâu.
Thế là Út Lữ đánh cuộc con Ô quạ tha …thua.
Trận đấu ước là trong năm hồ. Người ta thắp lên một nén hương, hễ cứ hết một đốt ngón tay là được một hồ lại cho gà nghỉ một lát. Vào hồ đầu, hai con gà giao cần cổ. Cả hai con đều giỏi đá buông, chúng không cần mỏ mổ vịn, cứ tung chân lên buông những cái đá chắc nịch. Đôi cựa quớt siêu đao của Tía chém lia như chớp. Hồ đầu huề nhưng Ô quạ tha cũng đã kém vài đá. Hồ thứ hai, cái to cao của Tía siêu đao mới tỏ ra lợi hại. Tía tung chân đá sập xuống, nó đá liên tiếp dồn con Ô lùi tới tấp. Người chung quanh tính con Ô đã sút một nửa rồi. Hồ thứ hai và hồ thứ ba, thứ tư không khác nhau bao nhiêu. Con Tía cứ đánh, con Ô cứ lì ra chịu đòn. Nhưng đến giữa hồ thứ năm thì Ô thay đổi đột ngột. Nó lượn quanh con Tía buộc con Tía phải quay theo rồi thình lình buông một đá quặt vào mang tai Tía. Tía bị hai đá quặt như thế liền còn chưa lại hồn thì con Ô trầm thấp đầu xuống, ngước mỏ níu lấy hầu con Tía và đá hất ngược lên. Cái đá này quả là cái đá của gà có vãy cao, nó khô gọn, nhanh và ác liệt đến nỗi chỉ nghe tiếng chân con Ô bật đánh bịch một cái là con Tía siêu đao đã lăn quay ra nằm giãy.
HINH
Người ta ùa vào bế gà, con Tía ngáp vài cái rồi rướn mình duỗi hai chân ra. Nó đã bị đá đức hầu rồi.
Út Lữ thua cuộc trận gà này nhưng cậu tư lự mãi. Té ra không phải lo cao đã kể được một nửa. Con Ô quạ tha giỏi thật. Út Lữ theo con Ô mấy trận chọi nữa, xem Ô đá ngược, đá quặt, xem nó trầm thấp, đi nghiêng… trong đầu Út Lữ dần dần hình thành những đòn đánh mới.
Một năm sau, trong một trận đấu tập với hai anh, Út Lữ làm mọi người kinh ngạc. Những thế tấn trầm thấp, cách lượn của cặp chân, cách đánh quặt của đôi tay, cách đá thuận, đá ngược của đôi chân… có thể nói cách đánh của Út Lữ đã khiến cho hai anh mình phải gắng sức lắm mới giữ huề được với võ sĩ em có tầm vóc thấp nhỏ hơn mình nhiều.
Út Lữ đặt tên cho bài võ của mình là Hùng Kê quyền -Bài quyền Gà.
Tác giả : Hà Ân
NXB KIM ĐỒNG Hà Nội 1986
Cái Chum Vàng
Anh Từ là người xứ Nghệ lưu lạc vào ấp Tây Sơn từ khi mới hơn mười tuổi. Nhớn lên một chút, anh Từ đi vào rừng kiếm ăn, mà anh chỉ đi một mình. Mỗi lần đi vài tuần trăng, có khi đẹp trời thì cả một mùa. Người ấp Tây Sơn đồ chừng anh Từ đi kiếm vị thuốc quý, nhưng cũng có người nói anh ta đi đãi vàng trên ngọn nguồn sông Côn. Như thế nhiều năm. Thế rồi có lần người hàng ấp tình cờ bắt gặp anh Từ trên nguồn. Anh đang đãi vàng thật. Người kia đứng xem anh làm việc, còn anh cứ lặng lẽ đãi cát. Cuối ngày làm việc, anh Từ được một số vàng bằng hạt mẩy. Người kia lắc đầu chịu sự kiên nhẫn bằng anh cả…
Đến sau có tin quê nhà báo cha anh Từ qua đời. Anh phải về quê chịu tang. Đường về thì xa, vợ con chưa có, không thể mang vàng theo người được, mà để lại thì phải tìm nơi cất giấu của cải. Anh đem số vàng đã tích góp được ra xem, không ngờ nó nhiều đến thế. Vàng đổ đầy một cái chum. Anh Từ phải chọn nơi chôn vàng.
Anh Từ lựa một đồi đất cao nằm bên bờ sông Côn, có một cây đa già tán sum suê. Cạnh đó là một tảng đá thật lớn soi bóng xuống vực sông. Anh Từ chôn chum vàng bên cạnh tảng đá này.
Rồi anh lên dường về quê.
Sau ba năm chịu tang cha, một vài việc giữ chân anh Từ, mãi vài năm sau nữa, anh mới trở lại được chỗ chôn vàng xưa. Khi đến nơi anh kinh ngạc thấy mảnh đất hoang ấy nay đã được khai phá thành một vườn cây tươi tốt, giữa vườn có một nếp nhà khang trang dựa lưng vào cái tảng đá mà anh đã chôn vàng bên dưới…
Anh Từ đi qua đi lại thăm thú trước ngõ mấy lần. Sau anh tạm bỏ ra chỗ vắng ngồi nghĩ cách lấy lại chum vàng thế nào cho gọn và kín đáo.
Đến chiều, anh giả làm khách nhỡ độ đường, vào nhà kia xin ngủ trọ một đêm. Cụ chủ nhà nom quắc thước tiếp anh rất niềm nở. Cụ có ba con trai, người lớn nom hiên ngang đĩnh đạc ; người út lại nhanh nhảu lanh lợi, còn người giữa thông minh rắn rỏi mà có oai. Nhà lại nuôi một đàn chó săn rất dữ rất thính.
Chủ nhà làm cơm cho anh Từ ăn, sau đó buông màn trải chiếu cho anh ngủ tốt.
Nhưng anh Từ thao thức cả đêm bởi vì anh thấy không thể nào lấy lại chum vàng như mình đã tưởng được …Cụ già tỉnh táo, các con trai linh lợi, cường tráng, đàn chó tinh khôn số một. Không thể mong đêm tối đào trộm lấy chum vàng…Tới sáng anh đành chào chủ nhà ra đi.
Trải qua mấy hôm suy nghĩ, anh Từ quay lại. Lần này anh xin được nói chuyện với cụ chủ nhà. Trước hết anh ngỏ ý xin mua lại ngôi nhà. Cụ già sửng sốt rồi ngẫm nghĩ và từ chối :
-Nếu anh cần ở nơi đây thì có khó gì. Cha con tôi xin giúp anh khai phá miếng đất bên kia sông. Chỉ một năm thôi, cơ ngơi sẽ nên mà.
Mấy con trai cụ già cũng lặng lẽ cười theo. Anh Từ đâm ra ngần ngại. Nhưng nhìn ông cụ, anh Từ tin rằng đây là người nhân đức. Anh đành nói thật mục đích trở lại sông Côn của mình là để lấy lại chum vàng chôn giấu năm xưa. Cụ già cười. Người con cả ra hiệu cho hai em họ vào buồng trong khệ nệ khiêng ra chum vàng. Sau đó, người con trai cả Vác đòng ra cửa trước, người út cầm con dao phát ra mé cuối vườn, chỉ còn lại người con trai thứ hai đứng sau lưng cha. Anh mừng rỡ xin chuộc lại cái chum, thoạt đầu với giá mỗi bên một nửa. Cụ già cười, lắc đầu. Sau anh xin chỉ lấy một phần ba, rồi một phần tư. Cụ vẫn lắc đầu cười. Cuối cùng anh không biết phải làm thế nào nữa thì người con trai thứ hai của ông cụ nói :
-Mảnh vườn này cha con tôi trồng tỉa. Ngôi nhà này cha con tôi dựng lên. Còn cái chum này chúng tôi đào thấy đã lâu. Cha tôi vẫn giữ lại đó chờ trả lại cho chủ nó.
Cụ già cũng nói :
-Bây giờ tôi thấy anh đúng là chủ chum vàng này, tôi trả nó cho anh.
Anh Từ kinh ngạc đến nghẹn lời, anh nhìn người con chủ nhà đang lấy của trong chum bày ra ngoài. Cụ già nói :
-Anh kiểm lại cho kỹ đi. Xem có thiếu thứ gì không ?
Anh Từ sụp xuống lạy cụ già, miệng nghẹn ngào:
-Bấy lâu con cứ nghĩ trên đời này chỉ có vàng bạc là quý. Bây giờ con mới hiểu lòng người còn quý giá bội phần. Con xin cụ cho con được làm con cụ.
Ông cụ cười :
-Đây là thằng Hai Nhạc.
Cụ chỉ người con lớn đang canh cửa trước. Rồi cụ chỉ ra sau vườn :
-Kia là thằng Tư Lữ. Còn đây…
Cụ chỉ người đang soạn các thứ chứa trong chum :
-Đây là thằng Ba Huệ. Còn con nếu con làm con ta thì con sẽ là thằng Năm Từ. Chum vàng này là của con. Nhà này không coi trọng vàng bạc, nhà này không dùng nó làm giàu làm có.
Quả như lời cụ nói, số vàng đó sau góp vào việc sửa sang binh khí, mua trữ lương thảo cho quân khởi nghĩa Tây Sơn.
Võ Gà
Ở đất Tây Sơn, bốn bề rừng núi, thú dữ rất nhiều. Rắn độc, hổ báo thường đi kiếm ăn ven đường. Vì thế người Tây Sơn rất chuộng võ nghệ. Ngay đàn bà con gái cũng biết vài miếng giữ mình. Mấy anh em Nguyễn Nhạc đều học võ từ nhỏ. Hằng ngày họ vẫn đấu tay đôi. Trong ba anh em, cậu Tư Lữ có vóc người thấp nhỏ nhất. Trong những cuộc đấu với hai anh hoặc với những người khác. Út Lữ thường bị thua thiệt.
Có một lần, Út Lữ đấu với Nguyễn Nhạc. Trận đấu bề ngoài xem ra gay go nhưng thực ra bắp tay Út Lữ chạm bắp tay Nguyễn Nhạc như chạm cột. Tay Út Lữ ngắn hơn tay anh, chân Út Lữ ngắn hơn chân anh. Vì thế đòn Lữ chưa tới đích thì đối phương đã đặt tay đặt chân lên người Lữ rồi. Nguyễn Nhạc bảo em:
-Học võ cứ to cao đã được một nửa rồi. Em vóc người bé nhỏ phải chịu thua thiệt là đúng thôi.
Nguyễn Lữ chịu không cãi lại được nhưng anh nghĩ : ‘‘ Nếu vậy thì những người bé nhỏ còn học võ làm gì nữa ?’’
Câu hỏi đó làm cho Út Lữ mất ngủ nhiều đêm.
Vùng Quy Nhơn có tục nuôi gà nòi và tục chọi gà. Cả một phủ rộng lớn từ ven biển lên tới bìa cao nguyên chỗ nào cũng có gà nòi. Những lúc rảnh việc đồng áng, người ta lại đem gà ra chọi tập với nhau, còn đến phiên chợ huyện là cho gà chọi thi.
Út Lữ rất thích xem chọi gà. Những phiên chợ An Khê bao giờ cũng có mặt Út Lữ. Cậu đi chơi chợ chỉ là phụ, còn cái chính là đến xem chọi gà.
Lần này Út Lữ được xem một trận gà mà cậu nhớ mãi. Hai con gà đều là gà nòi nổi tiếng đến nỗi có cả biệt hiệu. Một con là con Tía siêu đao. Sở dĩ có tên thế vì lông nó màu tía, còn cặp cựa của nó quớt lên như đôi siêu đao. Khi nó tung hai chân lên đá đối phương, cặp cựa của nó màu tía, còn cặp cựa của nó quớt lên như đôi siêu đao.
Khi nó tung hai chân lên đá đối phương, cặp cựa của nó chém rất ác liệt. Còn con gà kia cũng có một biệt hiệu nghe kêu không kém nó là con Ô quạ tha. Màu lông nó đen nhưng nhức và thuở nhỏ nó quả có bị quạ tha thật. Lúc đó nó mới bằng nắm tay, một con quạ sà xuống quắp được nó bay lên. Chủ nhà nhặt đất đá ném theo, miệng hò la inh ỏi. Quạ sợ, sểnh chân để gà rơi từ trên cao xuống sân, nằm giãy đành đạch tưởng đi đứt. Sau nó hồi dần, lớn lên, nhưng có lẽ vì cái rơi lúc trước đâm chột nên nó còi cọc mãi rồi cũng chỉ thành một con gà nòi bé nhỏ. Nhưng ai biết xem tướng gà nhìn đến con Ô quạ tha cũng phải kêu lên mà khen. Mắt nó nhỏ như mắt chim cắt. Mỏ nó ngắn mà khỏe, hơi khoằm lại như mỏ diều hâu. Hai hàng vảy chân đàng trước đều tăm tắp nhưng ở gần cuối chỗ giáp tới ngón chân giữa có hai cái vảy kẹ rất bé giắt vào. Người ta bảo đấy là vảy cáo. Con gà nào có vảy cáo là con gà có miếng đá cực hiểm, cực dữ dội, chuyển thua thành thắng. Út Lữ xem con Ô quạ tha khen nức nở nhưng rồi lại chê một câu:
-Ô ơi ! Tướng mày đẹp thật, dáng mày hùng thật, nhưng chỉ tiếc cái tầm nhỏ bé của mày thôi. Mày phải biết đấu gà cũng như đánh võ, cứ to khỏe đã kể được một nửa rồi. Còn cái nửa kia, cái nửa miếng đòn thế đánh thì con Tía siêu đao nó chẳng kém cạnh gì mày đâu.
Thế là Út Lữ đánh cuộc con Ô quạ tha …thua.
Trận đấu ước là trong năm hồ. Người ta thắp lên một nén hương, hễ cứ hết một đốt ngón tay là được một hồ lại cho gà nghỉ một lát. Vào hồ đầu, hai con gà giao cần cổ. Cả hai con đều giỏi đá buông, chúng không cần mỏ mổ vịn, cứ tung chân lên buông những cái đá chắc nịch. Đôi cựa quớt siêu đao của Tía chém lia như chớp. Hồ đầu huề nhưng Ô quạ tha cũng đã kém vài đá. Hồ thứ hai, cái to cao của Tía siêu đao mới tỏ ra lợi hại. Tía tung chân đá sập xuống, nó đá liên tiếp dồn con Ô lùi tới tấp. Người chung quanh tính con Ô đã sút một nửa rồi. Hồ thứ hai và hồ thứ ba, thứ tư không khác nhau bao nhiêu. Con Tía cứ đánh, con Ô cứ lì ra chịu đòn. Nhưng đến giữa hồ thứ năm thì Ô thay đổi đột ngột. Nó lượn quanh con Tía buộc con Tía phải quay theo rồi thình lình buông một đá quặt vào mang tai Tía. Tía bị hai đá quặt như thế liền còn chưa lại hồn thì con Ô trầm thấp đầu xuống, ngước mỏ níu lấy hầu con Tía và đá hất ngược lên. Cái đá này quả là cái đá của gà có vãy cao, nó khô gọn, nhanh và ác liệt đến nỗi chỉ nghe tiếng chân con Ô bật đánh bịch một cái là con Tía siêu đao đã lăn quay ra nằm giãy.
HINH
Người ta ùa vào bế gà, con Tía ngáp vài cái rồi rướn mình duỗi hai chân ra. Nó đã bị đá đức hầu rồi.
Út Lữ thua cuộc trận gà này nhưng cậu tư lự mãi. Té ra không phải lo cao đã kể được một nửa. Con Ô quạ tha giỏi thật. Út Lữ theo con Ô mấy trận chọi nữa, xem Ô đá ngược, đá quặt, xem nó trầm thấp, đi nghiêng… trong đầu Út Lữ dần dần hình thành những đòn đánh mới.
Một năm sau, trong một trận đấu tập với hai anh, Út Lữ làm mọi người kinh ngạc. Những thế tấn trầm thấp, cách lượn của cặp chân, cách đánh quặt của đôi tay, cách đá thuận, đá ngược của đôi chân… có thể nói cách đánh của Út Lữ đã khiến cho hai anh mình phải gắng sức lắm mới giữ huề được với võ sĩ em có tầm vóc thấp nhỏ hơn mình nhiều.
Út Lữ đặt tên cho bài võ của mình là Hùng Kê quyền -Bài quyền Gà.