XXII. Ở TRỌ NHÀ LƠNHANHA
Tôi ở Pari.
Hôm tới Pari tôi bị sưng răng, Ông Lơnhanha, chủ nhà trọ, đã đón tiếp tôi với một vẻ kinh ngạc. Ông bảo vợ:“Đây không phải là học trò, mà là một cái bong bóng.”
Nhưng thôi, cái đó không ngăn trở trúng giải trong các kỳ thi.
“Cháu sẽ chăm học chứ?”
Và tôi, môi sưng lấp cả má, tôi đáp:
“B-âng, b-âng”
Ông thấy tôi không giỏi như ông tưởng. Tôi đưa những ýcủa tôi vào các bài làm.
“Không nên đưa ý của cháu vào, bác khuyên cháu: phải bắt chước cổnhân.”
Ông nói với tôi thường hay to tiếng, ngụ ý cho tôi thấy là tôi trả tiền trọ ít hơn các bạn khác.
Mới sang ngày thứ hai ông đã nói bóng gió tới chuyện đórồi. Có món rau ba lăng. Tôi không thích ăn rau balăng, và tôi để đĩa rau lại.
Ôngta đi qua.
“Cháu không thích ăn món này à?
- Thưa ông, vâng.
- Ở nhà cháu, có lẽ cháu ăn nem công? Hay người ta phải làm cả chả phượng cho cháu ăn chắc?
- Không, cháu thích ăn mỡ lợn hơn!”
Ổng nhún vai cười gằn, vừa bỏ đi, vừa lẩm bẩm: “Đồ nhà quê!”
Tối chủ nhật, ông mời khách. Tôi cũng được mời dự. Tôi hay nói:“Con khỉ!” Đấy là một thói quen; thói quen đó theo tôi vào tận phòng khách của ông.
“Ôn-g Vanhtrax, - ông thét tôi từ đầu bàn tới cuối bàn, - ông được dậy dỗ ở đâu vậy? Trước ông có đi chăn bò không?
- Thưa ông, có, với cô em họ tôi.”
Ông bối rối và đỏ bừng mặt.
“Bà xem thế đấy? Ông nói với bà ngồi bên cạnh. Và quay sang phía tôi:
“Về phòng ngủ!”
Tôi theo lớp học sinh lớn, chúng ít nhiều coi thường tôi, nhưng không làm tôi khó chịu; chúng làm ra vẻ láu lỉnh, nhưng tôi thấy chúng ngu, ngu ơi là ngu!... Có một đứa nổi tiếng, đã từng được giải ở kỳ thi, nó gầy, xanh lét, người như mắc chứng run gân, lúc nào cũng gãi tai, và đầu lưỡi luôn luôn liếm lên mũi.
Có một thằng nổi tiếng một nửa - Anatôly.
Nó chủ trương là phải có quan hệ tốt giữa học sinh với thầy giáo; nó muốn mọi người phải hòa thuận vớinhau, - tại sao vậy?
Tôi có vẻ thô kệch; chúng cho tôi là nặng nề khi chơi đuổi bắt, chê tôi là dân tỉnh lẻ. Anatôly che chở tôi.
“Rồi nó sẽ quen dần, đừng làm rầy rà nó! Một tháng nữa, nó sẽ như bọn mình thôi, hai tháng nữa các cậu sẽ thấy!”
Ừ! chúng cũng không làm rày rà gì tôi nhiều lắm! Tôi khỏe, và thầy mẹ tôi không có ở đây để làm tôi rụt rè, xấu hổ, vụng về. Chúng giễu tôi, tôi cóc cần, tôi không bị choáng mắt vì bạn.
Chà! tôi đã có một ý nghĩ khác về những thằng giỏi La-tinh ấy! Tôi thì tôi thấy là ở tỉnh lẻ vui hơn!
Chúng nói luôn miệng nhưng lúc nào cũng chỉ nói một chuyện, nào thằng này trúng giải, thằng khác suýt trúng; nào thằng Giécbiđông dùng sai chữ, thằng kia bị lỗi văn pháp...
“Ở lớp ông Labađăng, mày biết không, thằng bé đáng lẽ được nhất về môn dịch tiếng Hy-lạp, nó không đến thi vì thầy nó chết vào lúc buổi sáng. Ông Labađăng đi tìm nó, hứa sẽ cho xe đưa nó về để đưa ma thầy nó. Nó không nghe và cứ tiếp tục khóc.”
Chúng có vẻ cho thằng bé đó là ngốc.
Nhà trọ dẫn thẳng tới trường Bônapáctơ.
Thứ ba, học trò có quyền ở lại để gọt sửa bài thi, và tôi ở lại cho tới khi bóng ông giáo sư vừa khuất ở góc đường là tôi cũng chuồn. Tôi có trước mặt cả một tiếngđồng hồ tự do, hết giờ tôi sẽ đến gặp người gác cổng nhàông giáo, đưa bài làm mà người ta tưởng là lúc này tôi đang hoàn thành.
Tôi đi tha thẩn trong các phố đầy những phụ nữ để tóc trần; họ vui vẻ và xinh đẹp làm sao với những chiếc áo rộngđể thợ mặc ở xưởng! Tôi đưa mắt nhìn theo họ, tôi lắng nghe họ hát khẽ, và qua cửa kính tôi nhìn họ ngồi ăn sáng bên cạnh những người thợ chạm vận áo choàng trắng, và thợ in đội mũ gấp bằng giấy. Đó là tất cả những cái tôi ngắm nhìn.
Tôi không muốn đi xem các tượng đài, tuy tôi không còn vướng víu hành lý, tôi thấy là tất cả các tảng đá đều giống nhau, và tôi chỉ thích những cái gì biết đi lại và những cái gì sáng lấp lánh.
Vậy là tôi chẳng biết gì về Pari cả, chỉ biết loanh quanh chỗ ngoại ô Xanh-Ônôrê, đường tới trường học Bônapáctơ phố Mirômexnin, phố Véc, quảng trường Bôvô; ở đấy tôi thường gặp nhiều người đi ở thuê vận áo gi-lê đỏ, và nhiều chị hầu buồng đội khăn trùm đầu, các dải băng tay phấp phới trong làn gió nhẹ.
Chủ nhật chúng tôi đi chơi.
Chúng tôi thường hay đi chơi về phía điện Tuynlơri, trong con đường Lợn lòi.
Con Lợn lòi ấy! tôi ghét nó, nó làm tôi khó chịu với cái mõm đá của nó.
Tuy nhiên, từ ngày ông Seluy trở thành giám thị của chúng tôi thì tôi cũng đỡ buồn.
Ồng là người không tin cái gì cả; ngày chủ nhật, ông để mặc chúng tôi đi tản mát khắp các ngả, miễn là tới sáu giờ chúng tôi phải có mặt.
Chúng tôi thì chúng tôichuồn tới quán Người Hà-lan, ở gần khu Hoàng-Cung. Đó là tiệm cà-phê của bọn Xanh-xia
[81] và bọn gà vịt. Người ta đặt tên gà vịt cho những đứa dự định theo học tại các trường vận đồng phục, và hiện nay đã có một đồng phục, dải băng màu da cam, cổ áo màu cá hồi, với mũ kêpi vành cứng, lon vàng hoặc bạc.
Mặc dù là ở Khoa văn, tôi vẫn có quan hệ tốt với bọn gà vịt, nhất là với bọn Lôrion. Khổ một nỗi là hàng tuần tôi chỉ có hai mươi xu, và buộc lòng tôi phải suy đi tính lại trước khi chạm cốc.
Một hôm tôi bị một mẻhết hồn. Chúng tôi đánh bài và tôi đã thua mất một phơrăng rưỡi. Từ ván đầu, tôi đã nhấp nhổm muốn đứng lên; nhưng tôi không dám.
“Ơkìa, cứ ngồi đấy!”
Mồ hôi ở lưng, rờn rợn ở sọ.
Tôi chơi kém, và để người khác nhìn thấy cả bài cẩu. Mọi sự xong xuôi, tôi thua xiểng liểng! ...
May sao lúc đó người ta đánh nhau. Một cuộc cãi lộn nổi lên giữamột tay gà vịt vàng và một tay gà vịt đỏ, giữa bọn Xanh-Xia mới và bọn cũ, thế là chai lọ bay tứ tung.
Một cuộc ẩu đả loạn xạ và tôi cũng nhắm mắt nhắm mũixông vào.
Tôimong sẽbị đòn tả tơi. Nhưng không may! tôi tẩn người khác thì nhiều mà mình chẳng bị gì cả.
Nhưng dầu sao tôi vẫn thoát.
Người ta némchúngtôi racửa, cảmộtlũ, đểkhỏibậnchỗ, vàtôiđivềđườngLợn lòi, nợ quán Người Hà- lan ba mươi xu; nhưng đến chủ nhật sau tôi mới phải trả.
Tôi bán một bài văn tiếng La-tinh ở kỳ thi hôm thứ ba, - hai mươi xu trả ngay.
Thỉnh thoảng tôi làm cái trò buôn bán đó, như vậy tôi kiếm một chỗ xếp hạng cao cho một cậu nào đó đang chờ đón một ông bác hoặc muốn lòe nhân ngày sinh nhật của mình, hoặc vì một lợi ích gì đó muốn xếp hạng trong số mười người đầu!
Tôi quay lại quán Người Hà-lan, ba mươi xu nằm gọn trong lòng bàn tay. Người ta không muốn lấy tiền của tôi. Chính là quỹ trường Xanh-Xia hoặc một cuộc quyên góp của bọn gà vịt đã thanh toán xong xuôi vụ đổ vỡ và tiền rượu.
Thế là tôi thừa ra một số tiền và thêm vào đó lại được tiếng là một tay ưa đấm đá.
Dù sao, bao giờ ở quán rượu của những kẻ giàu có ấy ra về, tôi cũng đâm ra tư lự! Và ban đêm, nằm trong chiếc giường học sinh của tôi, tôi cứ tự hỏi thầm là tương lai của tôi sẽ ra sao, người ta định đưa tôi vào một trường học mà tôi rất sợ phải vào, vì tôi, chẳng như bọn gàvịt kia, là một kẻ không cóý chí, mụcđích, và không có của.
Cuộc sống của tôi trong những ngày chủ nhật bỗng thay đổi đột ngột.
Tại trường trung học Năngtơ trước có một học sinh gương mẫu tên là Matútxanh
[82].
Matútxanh tới ở Pari. Thầy tôi trao anh ta một bức thư cho anh có quyền được nhận tôi ra khỏi ký túc xá vào ngày chủ nhật.
Đến hai giờ chiều thì Matútxanh mới rảnh. Nửa ngày cũng là đủ quá rồi - chúng tôi không biết làm gì cho đếnnăm giờ, chúng tôi không muốn tới tiệm cà-phê vì sợ tốn tiền. Matútxanh đem đến cho tôi hai mươi phơrăng của mẹ tôi gửi: nhưng tôi phải tiêu pha dè xẻn.
Chúng tôi giết thì giờ buổi chiều chẳng ra đâu vào đâu cả. Tôi thấy ngán cái cảnh đi chơi rong trong khi tất cả mọi người khác cũng đi chơi rong, và ai nấy đều có vẻ ngu xuẩn. Chà! giá cứ như những ngày thường! Thiên hạ qua lại nghìn nghịt. Hôm nay, mọi người không làm ầm ĩ, ai nấy lướt đi như những thầy tu.
Phải tới Mơđông kia! Ở đó, người ta cười đùa, người ta vui chơi.
Nhưng phải mất mười xu, từ Pari tới Mơđông! Hãy đợi bao giờ giàu đã!
“Trời lạnh thế này đi bộ thì tốt”, Matútxanh nói, - anh muốn tôi tưởng là anh vui đùa, nhưng người anh run lên như cây đèn treo mà người ta phủi bụi.
Chẳng thà tôi ốm yếu hơn mà được ấm áp hơn.
Những ngày chủ nhật mưa, chúng tôi tới các viện bảo tàng.
“Bao giờ cũng có thể học được một điều gì đấy”, Matútxanh nói, khi bước vào phòng triển lãm.
“Học được cái gì chứ?
- Mày ngắm các bức họa, các tượng cẩm thạch!
- Thế rồi sao?”
Matútxanh bảo tôi là thằng thực tế, và chua chát nói: “Mày là đứa đã làm những câu thơ La-tinh hay thế!”
Kể cũng đúng!
Matútxanh thấy tôi có vẻ lung lay liền bồi thêm: “Mày khước từ các vị thần của mày, mày khạc nhổvào cây đàn của mày!
- Thưa các vị, người gác vận áo xanh vừa kêu lên vừa giơ chiếc gậy chỉ vào đống cám, nếu các vị muốn khạc nhổ thì xin vào xó kia.”
Mãi mới tới năm giờ. Quả thực là tôi không say mê những kiệt tác, và những đèn đài.
Lúc năm giờ thì Lơmétrơ đến với chúng tôi. Lơmétrơ là một thầy ký quèn, nên Matútxanh coi thường anh ta. Matútxanh chỉ biết những nghề cao quý thôi. Nhưng vì Lơmétrơ quen đám cóc vàng và bọn quấy nhộn, nên Matútxanh đón tiếp anh ta niềm nở.
Lơmétrơ đến và cả bọn đi uống rượu áp-xanh ở quán Rôtôngđơ, hoặc quán Pixôt, ở đấy, người ta hy vọng gặp Grátxô. “Ồ! Xanhvin kìa! - Không! A đúng!”
Rượu ápxanh một khi đã nhấp xong trong bóng nhánhem của lúc sáu giờ, chúng tôi chuồn về phía Hoàng-Cung, nơi chúng tôi sẽ gặp bạn bè của mình ở quán Tavécniê. Bao giờ họ cũng ngồi trong phòng to, ở chiếc bàn kê trong góc. Chúng tôi ăn bữa tối theo giá ba mươi hai xu một suất.
Các thầy ký, bạn của Lơmétrơ, ngồi với người yêu của họ, giầy dép lịch sự, cô nào nom cũng dễ thương, và các cô cười luôn miệng, chuyện gì cũng cười mà không có chuyện cũng cười...
Và những thức ăn mới ngon làm sao!
Khoai nghiền Crêxy, sườn lợn rán Xubidơ, nước xốt Môngmôrăngxy. Tiện nhịp lắm! Đấy, người ta học sử như thế đấy!
Những món ăn và nước xốt ấy mới cay làm sao, cay xé lưỡi!
Ông Rađigông, là tay vui nhộn nhất bọn, không thích những trò ấy.
“Bồi, một chân giò nướng... Muốn làm chân giò lợn, hãy cầm lấy chân của các cậu mà gãi.”
Mọi người cười. Tôi thì tôi chỉ nghe không nói gì cả.
“Bạn của ông câm đấy à, ông Matútxanh?”
Tôi nhăn mặt và thốt ra một tiếng, để chứng minh tôi không thuộc đám môn sinh của linh mục Êpê
[83]. Người ta bàn luận về tôi ở góc bàn.
“Cái đầu - đôi mắt. Nhưng trông hắn có vẻ ngố lắm!”
Tôi kéo lại bằng những trò đấm sức. Tôi đã hạ những cổtay, tôi bóp dí những ngón tay, tôi lấy răng nâng cao liễn xúp, tôi nhịn thở tám mươi giây, làm những người ngồi bên cạnh hoảng sợ vì thấy mạch máu của tôi căng lên, mắt tôi như lòi ra khỏi đầu.
“Trong lúc ăn, tôi không thích người ta làm thế bên cạnh tôi”, một người ngồi bên nói.
Chính Rađigông cũng ớn cái trò của tôi.
“Chà! rút cục hắn làm bọn mình khó chịu với cái trò nhịn hơi thở của hắn!”
Sau bữa ăntối, tôiphải về.
Những học sinh khác ở nhà trọ được đi chơi tới nửa đêm. Lão Lơnhanha - vì ác ý- buộc tôi phải có mặt từ tám giờ.
Tôi rời khỏi đám, và lại quayxuống phía ngoại ô Xanh-Ônôrê.
Tôi còn phải giết thì giờ khoảng mười lăm phút nữa trước khi về nhà trọ, nếu tôi về trước giờ, tôi sẽ có vẻ như không biết qua thì giờ ở đâu.
Thà về nhà trọ sớm tôi còn thích hơn. Tôi không sợ cảnh vắng vẻ của nơi buồng ngủ, nằm đấy tôi nghe thấy các bạn tôi lần lượt từng người một trở về. Tôi có thể suy nghĩ, nói chuyện với chính tôi, đấy là những giây lát duy nhất của tôi được hoàn toàn yên tĩnh. Tôi không bị đãng trí bởi tiếng ồn ào của đám đông, ở đó, tính nhút nhát thường làm tôi cách biệt, tôi không bị quấy rối vì tiếng tự vị cũng như những chuyện về kỳ thi lớn.
Tôi nhớ lại chuyện này, chuyện nọ - một cuộc đi chơi ởVuốczắc, một ngày gặt dưới nắng to! - và trong cảnh tịch mịch của nhà trọ đang yên ngủ, đầu quay về cửa sổ qua đó nhìn thấy khoảng mênh mông của bầu trời, tôi mơ màng, không phải về tương lai, mà về quá khứ.
Một hôm người ta gọi tôi tới buồng ông Lơnhanha.
Ông đưa tôi một gói của mẹ tôi gửi; ông có vẻ tức giận.
“Anh mang cả cái này đi nữa”, ông nói.
Đồng thời ông đẩy lại cho tôi một cái lọ và đưa tôi ra cửa.
Tôi không hiểu gì cả. Tôi mở cái gói ra. Trong đó có một bức thư:
“Con trai yêu quý của mẹ,
“Mẹ gửi cho con một chiếc quần mới mừng ngày sinh nhật của con, chính thầy con đã cắt từ một chiếc quần cũ của mình, chính mẹ đã khâu. Thầy mẹ muốn chứng tỏ với con tình thương yêu con. Thầy mẹ gửi kèm thêm một chiếc áo xanh cúc vàng. Cùng chuyến này, mẹ gửi biếu ông Lơnhanha một lọ dưa chuột để ông ấy chiếu cố đến con.
“Con cố học hành chăm chỉ, con ạ, và khi ngồi con nhớ vén vạt áo.”
Có thêm vài chữ của thầy tôi nữa.
Tôi đã viết cho thầy tôi biết rằng ông Lơnhanha muốn làm nhục tôi, rằng tôi muốn rời khỏi nhà trọ, vì ngày nào tôi cũng bị xúc phạm khổ lắm.
Thầy tôi viết một bức thư trả lời làm tôi hết sức bối rối. Thầy tôi đóng kịch chăng? Hay về cơ bản thầy tôi tốt?
“Hãy can đảm, con ạ! Thầy không muốn nói con phải đi Pari là lỗi tự con... Con hãy nhẫn nại, học hành chăm chỉ, lấy các giải thưởng mà trả tiền trọ, rồi con sẽ có thể nói thẳng sự thật vào mặt ông ta”.
Không một lời bóng gió nào về chuyện đã qua, tuyệt nhiên không? Không một lời trách mắng, hầu như có hảo ý, đôi chút buồn rầu!... Tôi sẽ nhẩy lên ôm cổ thày tôi, nếu thầy tôi ở đây.
Tôi sẽ làm theo lời thầy tôi: tôi sẽ đợi và cố giật giải thưởng.
Tuy nhiên cái tiếng La-tinh ấy và cái tiếng Hy-lạp ấy sao mà chán thế! và những chữ dùng sai với những lối văn pháp kia, tôi cần quái gì!
Rồi vẫn lại, vẫn lại kỳ thi lớn!
Giáo sư tên là Đ...
Ông có cái miệng nhỏ mím chặt, đi lạch bạch như vịt, cười thì như gà cục cục, và bộ tóc giả bóng láng như lông chim. Ông đã ba lần được giải danh dự ở cuộc thi toàn quốc, năm ngoái ông được thưởng huy chương, ông được một mào gà đỏ. Ông nói giọng na ná như bọn công tử bột thời Đốc-chính, ông nói: “Xixê-ông, đit-xcu-ơ Alma pa-ăng.”
Ông là giáo sư tiếng La-tinh, ông có một thứ tiếng Pháp riêng của ông.
Khi học sinh trốn học để ra tiệm cà-phê hoặc đi tắm, trông thấy những ghế trống không, ông nói:
“Ở đây tôi nhìn thấy nhiều học sinh không có mặt.”
Giáo sư tiếng Pháp tên là N..., đó là em của một viện sĩ hàn lâm có những hai thứ đạo đức chứ không phải một: rồi rào phúc đức thì không hại.
Ông ta, người cao ngẳng, gầy, đỏ da, vận chiếc áo rơ- đanh-gốt kiểu nhà tu, kính đeo như ở hội giả trang, tiếng nói vỡ, êm như huýt gió.
Bằng cái giọng đó, ông đọc những đoạn dài của Iphigiêni hoặc Exte, và đọc xong, ông chắp hai tay, nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện, và kêu lên: “Hãy quỳ xuống! quỳ xuống! trước Raxin thần diệu!”
Có lần một học sinh mới đã qùy xuống thật sự. Và bằng một cử chỉ khinh miệt, gạt quyển sách ở trước mặt đi, giáo sư nói tiếp:
“Chỉ còn việc gấp các sách khác lại thôi.”
Tôi không mong gì hơn.
“Và thú nhận là mình bất lực”!
Đấy là việc của ông ta.
Tôi bắt đầu được xếp hạng khá về làm văn tiếng Pháp, nhưng rồi tôi lại tụt xuống rất nhanh.
Từ thứ nhì, tôi rớt xuống thứ mười, thứ mười lăm!
Nói về nông dân chạm cốc với nhau, để chúc mừng nhà vua, một lần tôi đã nói:
Và tất cả quây quần lại, họ uống một cốc rượu vangNGON.
Ngon! - Thằng bé này chẳng có gì là văn hoa cả, chẳng có một tí gì; nó có phải là một thằng vũ phu thì tôi cũng không ngạc nhiên. NGON! Trong khi ngôn ngữ ta vốn giàu những từ ngữ hay đến thế để biểu hiện hành động của những người đưa lên môi nước ngọt của Tửu thần, mật nhụy của các thần linh! Và làm sao nó lại không nhớ hình ảnh vừa nhũn nhặn vừa táo bạo của Boalô
[84]:
Uống một cốc vang, nó cười trong cành phượng vĩ!
Có điều là tôi, tôi không bao giờ hiểu được câu thơ đó! Uống một cốc vang, cốc vang lại ôm bụng cười trong cỏ, dưới cây trăn!
Tôi khô khan, còn khô khan hơn ông ta tưởng rất nhiều, vì có vô khối thứ tôi cũng chẳng hiểu gì hơn.
“Có rất ít cái ở trong này”, giáo sư vừa nói vừa đặt một ngón tay lên tim.
Ông ngừng lại một lát:
“Nhưng ở trong này thì hoàn toàn không có gì cả, chắc chắc là thế”, ông nói thêm, vừa lấy tay vỗ vào trán, vừa lắc đầu ra vẻ thương hại vô cùng. “Nó thành công được một lần, vì nó đã đọc Pierô, - nhưng, hỏng, nó là một đứa bao giờ cũng thích viết “súng”hơn là viết: vũ khí khạc ra cái chết.”
Có điều là chữ đó đến với tôi tự nhiên như thế! Người ta nói như thế ở nhà tôi, -người ta nói như thế ở các nhà tôi đến chơi. - Chúng tôi giao thiệp với cái xã hội nghèo lắm!
Tôi bèn quay sang cái món thơ La-tinh, và tôi thành công ở thơ La-tinh.
Thật là vừa kịp thời.
Tôi cảm thấy đã đến lúc lão Lơnhanha khốn nạn ấy bực tức vì thấy tôi học hành không kết quả, sẽ đánh tôi nhiều đòn ngầm. Một buổi sáng nào đó, tôi sẽ đánh lão gẫy lưng.
Tôi cũng đã có lần tính đến chuyện chuồn thẳng: không phải để đi lang thang ở Săng-Êlidê hoặc trước đám leo dây múa rối, như tôi thường làm khi trốn học, mà là để bỏ hẳn nhà trọ và lăn vào đáy sâu của Pari như một tên tù vượt ngục.
Tôi sẽ làm gì? Tôi không biết.
Nhưng tôi thường tự hỏi là giá như tôi chuồn đi ngay ngày hôm ấy, và quyết định ngay tức khắc rằng đời tôi sẽ là một chuỗi vật lộn thế thôi chăng? Rất có thể như thế.
Tôi hầu như đã quyết định. Chính thằng Anatôly - Ôn Hòa làm thay đổi, vì nó cho rằng nên báo cho lão Lơnhanha biết thì tốt hơn.
Lão gọi tôi đến và bảo rằng lão biết tôi đang định làm cái gì. Lão nói thêm là lão đã báo trước với sở cảnh sát rồi, và nếu tôi bỏ trốn, tôi sẽ thuộc về tay cảnh binh. Lời ấy làm tôi sợ. Chính giữa lúc đó tôi đang làm một bài theo thể đối liên, hình như bài đó là một phát hiện. Nếu tôi mà làm như thế ở kỳ thi, chắc chắn tôi sẽ được giải.
Trúng giải ở kỳ thi, tôi rất muốn, là để trả nợ, và ở trường Xoócbon ra, ngay giữa sân, tôi sẽ béo tai lão Lơnhanha.
Ngày thi đã tới.
Chúng tôi dậy từ sáng sớm. Người ta đưa cho chúng tôi một cái túi lưới là một trong những vật kỷ niệm chiến thắng của nhà trọ, và người ta bỏ vào đó rượu vang, thịt gà nguội. Lơnhanha chìa tay cho tôi hắt. Tôi không thể từ chối được, nhưng tôi giơ tay ra uể oải, và cử chỉ thân thiện giả dối đó còn tệ hơn là thái độ thù địch và lặng thinh.
“Anh hãy cố gắng trội lên...”
Lão cười một cái cười nhạt nhẽo.
Anatôly và tôi, chúng tôi đi; trời rét căm căm.
Chúng tôi suýt đến muộn.
Tôi chưa bao giờ thấy Pari trong ánh mặt trời tươi mát của buổi sáng, vắng vẻ và yên tĩnh, và tôi dừng lại năm phút trên cầu để nhìn bầu trời trắng và nghe nước chảy. Nước róc rách đập vào vòm cầu.
Trên bờ sông Xen có một người đội mũ đang giặt mù-soa. Ông ta quỳ gối như một thợ giặt; ông đứng dậy, vắt một đầu và hong ra một giây đồng hồ trước gió. Tôi đưa mắt theo dõi ông. Rồi ông gấp mù-soa lại cẩn thận, và ủ cho nó khô hẳn trong chiếc áo rơđanhgốt mà ông mở hé ra, rồi cài cúc lại, len lén như mộtthằng ăn cắp.
Ông nhặt một vật gì đó mà tôi đã để ý thấy ở dưới đất. Đó là một quyển sách trông như quyển tự vị.
Anatôly giật vạt áo tôi, phải đi thôi, nhưng tôi còn kịp nhìn thấy một gương mặt nhợt nhạt, thình lình nhô lên trên các bậc đá.
Tôi bây giờ vẫn còn trông thấy gương mặt đó ở trước mắt và suốt ngày hôm đó nó cứ lởn vởn giữa tôi và tờ giấy trắng, có lẽ nói đúng hơn là gương mặt đó cứ ở trước mặt tôi suốt cả đời.
Là vì trên gương mặt của cái người giặt đồ tã ấy, còn trắng hơn cả chiếc mù-soa giặt không sạch kỹ, tôi đã đọc thấy cả cuộc đời của ông ta!
Quyển sách kia nói cho tôi biết rằng ông ta xưa kia cũng là chân học trò, thi đỗ rồi cũng nên. Tôi bỗng nhớ lại cả cuộc đời của thầy tôi, những ông hiệu trưởng ngu xuẩn, bọn học sinh độc ác, viên thanh tra hèn hạ, và ông giáo bao giờ cũng bị sỉ nhục, khốn khổ, bị đe dọa cách chức!
“Tao đánh cuộc là cái nhà ông nghèo khổ tao vừa nhìn thấy ở dưới cầu kia, là một ông tú tài”, tôi nói với Anatôly.
Tôi đoán không lầm.
Đúng lúc người ta gọi chúng tôi vào trường Xoócbon, một học sinh trường Sáclơmanhơ kêu lên, tay chỉ một bóng đen đang từ cuối phố đi lên:
Kìa, thày giáo dạy tư cũ của thằng Jôffrê đấy!”
Đúng là gương mặt nhợt nhạt ấy, cái ông giặt mù-soa, cái người nghèo cầm quyển sách.
Người ta đọc đầu đề bài thi.
Có nên làm bài thi hay không đây? Để làm gì kia chứ!
Để đi dạy tư như cái nhà ông kia, rồi thành người giặt mù-soa dưới chân cầu ư? Lịch sử của cái con người đang ám ảnh trí óc tôi kia ra thế nào?
Tôi không biết. Có lẽ ông ta đã tát một viên giám thị, cũng không phải tát, mà chỉ là chế nhạo thôi.
Có lẽ ông ta đã viết một bài trên báo Người sáng suốt ở Dijông hoặc Người bé nhỏ áo xám ở Ixanhgiô, và vì lý do đó, người ta đã cách chức ông.
Không làm cái nghề ấy, không, nhất định không!
Tuy vậy tôi vẫn phải xử sự một cách lương thiện, tôi vẫn phải làm cái gì tôi có thể làm được.
Tôi không tìm ra được cái gì cả, tuyệt nhiên không - tôi thấy kinh tởm như một lần, hồibé, tôi ăn nhiêu mật quá.
Cuối cùng, đó, bốn mươi câu thơ mười-hai-âm đã ghép xong! Đấy là bài thi của tôi.
“Mày xong rồi à?, thằng bạn ngồi cạnh hỏi.
- Ừ.
- Tao cũng xong rồi. Mày có muốn rán xúc-xích không?”
Nó rút ra một chiếc lò nhỏ đun bẳng cồn và giấu vào giữa những quyển tự vị, rồi lấy ra một cái chảo con.
“Nó sẽ kêu xèo xèo lên đấy, cẩn thận!”
Giáo sư coi thi là ông Đêsanen, một người hóm hỉnh,- ông nghe thấy tiếng xúc-xích xèo xèo. - Học sinh có quyền ăn đồ sống trong các giờ thi dài, - thì ông nghĩ là chúng cũng có thể ăn đồ chín được. Mặc kệ anh chàng nào cầm chảo mà không cầm tự vị trong cuộc chiến đấu!
“Bây giờ uống cà-phê. Tao thích cà-phê lắm, còn mày?”
Thằng học sinh trường Sáclơmanhơ pha cà-phê.
Nó thiếu rượu để cho vài giọt vào cà-phê. Chúng tôi liền bán những mẩu bài thi, những đoạn chép bài cho bọn độn chỗ của trường Xtanixlax và trường Rôlanh chúng đeo cổ cồn cứng, có gối tựa lưng bằng dạ mịn, và có tiền trong túi. Bọn tôi được kha khá rượu tráng chén và một ít rượu mạnh. Để kết thúc, tôi phụ trách, đặc biệt về món rượu pha đường.
“Bản nháp của mày đâu?, Anatôly - Ôn hòa hỏi, lúc tôi vừa về tới nhà trọ.
Lão Lơnhanha tới, và họ cùng xem bản nháp của tôi.
Tôi biết là bài thi của tôi hỏng rồi, và bây giờ, hình ảnh gương mặt nhợt nhạt kia đã nhòa bớt đi trong trí nhớ của tôi, và hơi men bữa tiệc của chúng tôi đã hả, tôi cảm thấy buồn bã, hầu như thấy hối hận.
Lão Lơnhanha không nói với tôi một lời. Lão hằn học lườm tôi.
Đã có kết quả. - Tôi chẳng được gì cả!
Nhưng Anatôly cũng không được gì, cả lớp đều không được gì, cả trường cũng không được gì to tát lắm. Thật là một thảm họa cho trường trung học.
Những đứa học gạo và những đứa láu cá cũng chẳng hơn gì tôi, tôi thấy lương tâm yên ổn hơn.
Lễ phát thưởng đã tới. Tôi đến dự lễ, âm thầm và không vinh quang! Fractix ốccombăng inglôriúyx ácmix!
[85]
Rồi mỗi người đi một nẻo...
Tôi thì tôi ở lại.
Tôi đợi một bức thư của thầy tôi, và những lời dặn bảo. Chẳng thấy gì cả. Người ta để mặc tôi ở đây, trong tay lão Lơnhanha, lão căm thù tôi.
Chúng tôi còn bốn đứa ở lại nhà trọ.
Một đứa mồ côi bố mẹ, tiền trọ do người giám hộ gửi đến; một thằng bé lai đen quê ở Ăngtiơ
[86] họa hoằn mới đi chơi phố; và một thằng bé người Nhật-bản không đi chơi phố bao giờ.
Mấy thằng ấy, chúng phải trả tiền trọ đắt: tôi thì được nhận vào nhà trọ với giá hạ, nhưng tôi có nhiệm vụ phải giật được giải thưởng. Tôi không được gì cả, mà tôi lại ăn khỏe.
Tôi đã viết thư gửi đi. Nếu ngày mai thầy mẹ tôi không đến, nếu tôi không có thư trả lời, tôi sẽ bỏ nhà trọ mà đi.
Lão Lơnhanha lần này vì tiết kiệm sẽ để mặc tôi chuồn mà không đi báo cảnh sát.
Ôi chao! những bức thư mong đợi! người đưa thư mà mình rình đón! những lời van xin của tôi mà thầy mẹ tôi sẽ chế giễu.
Tôi hầu như đã khóc trong thư, xin người ta đến đón tôi đi, vì lão Lơnhanha cứ rỉa rói tôi những lời trách móc muôn thuở.
“Nuôi tôi trong niên học đã là quá rồi, lão ta lại còn phải nuôi tôi cả trong vụ nghỉ hè nữa!”
Một hôm đã nổ ra một vụ to tiếng; thầy tôi là đối tượng. Lão Lơnhanha chạy tới, đầu tóc rối bù.
“Sao! lão ta nói với tôi, sùi cả bọt mép, tôi vừa được biết là thầy anh kiếm ra tiền, trong năm nay thầy anh làm được tám ngàn; tôi vừa được biết vỡ lẽ là tôi bị thầy anh lừa, tôi đã tính tiền trọ cho anh như cho một thằng khố rách, thế mà anh có thể trả như kẻ có máu mặt. Như thế là bất lương, anh nghe không?”
Lão ta giậm chân, xông lại tôi...
Ô! không, đứng lại! cẩn thận đấy, Lơnhanha!
Lão ta đoán được và bỏ đi, trút giận lên cánh cửa mà lão đập mạnh vào tường.
Lão đi rồi, tiếng lão chửi đã dứt, tôi suy nghĩ về những điều lão vừa nói, và tôi thấy lão ta có lý.
Ôi chao! Thầy tôi! Thầy có thể tránh cho con những điều sỉ nhục ấy!
Có đúng thầy không phải là một người nghèo không? Đúng. - Người đã nói cho lão Lơnhanha biết chính là em vợ lão ta ở Năngtơ tới hôm qua.
Sau chuyện ầm ĩ ấy, lão Lơnhanha tới gặp tôi ở trong sân. Lão nói:
“Nếu thầy anh lôi anh về sau khi lớp bế giảng thì tôi đã không nói gì cả, nhưng đến nay, đã tám ngày rồi mà người ta để anh ở đây chẳng tin tức gì hết; cái đó có vẻ như là giễu tôi, anh hiểu đấy!”
Tôi lúng búng không biết trả lời thế nào; tôi cũng nghĩ như lão ta.
“Thầy tôi sẽ trả tiền trọ tám ngày này.
- Thầy anh có thể trả lắm... Thầy anh năm nay kiếm được nhiều hơn tôi, và đúng là không cần phải đến xin tôi bớt ba trăm tiền trọ của anh.
Chỉ vì ba trăm phơrăng mà tôi đã phải khổ đến thế!
*
XXIII. BÀ VANHTRAX TỚI PARI
“Jắc!”
Mẹ tôi! Mẹ tôi bước tới và như cái máy, vò lấy đầu tôi, Thằng bé Nhật-bản cười, thằng bé lai đen ngáp, - lúc nào nó cũng ngáp.
Đầu tôi bị ôm nghiêng, làm mẹ tôi vất vả lắm mới tìm được một chỗ thích đáng để hôn tôi.
Người ta đưa mẹ con tôi vào một căn buồng, trong đó chỉ nhìn thấy lờ mờ vì lúc ấy trời đã tối, mà ngọn nến của người gác cổng đem đến thì chiếu sáng yếu ớt.
“Con chóng lớn quá! trông con khỏe ra!”
Đấy là câu nói đầu tiên của mẹ tôi, Mẹ tôi không để cho tôi kịp nói: mẹ tôi quay tôi đi, quay tôi lại, và xoay mình trên đôi chân nhỏ bé.
“Con hôn mẹ tử tế đi nào; nào, con đừng giận dỗi mẹ.”
Giọng nói khá thật lòng. Mẹ tôi vẫn nói to:
“Con có tư thế lắm! Mẹ đem đến cho con một bộ áo may theo kiểu Pháp; mẹ sẽ đưa con đi đóng ủng. Nhưng để xem nào: có ria mép rồi; con tôi để ria mép!”
Mẹ tôi không ghìm nổi nỗi vui sướng và niềm hãnh diện. Mẹ tôi giơ hai tay lên trời và sắp khuỵu đầu gối xuống.
“Hóa ra con giỏi trai lắm, con biết không?”
Mẹ tôi lại ngắm nghía tôi.
“Giống hệt mẹ nó!”
Điều đó tôi không tin. Đầu tôi như vạc bằng dao quắm, lưỡng quyền dô, hàm cũng dô, răng nhọn như răng chó. Tôi có chỗ giống chó. Tôi cũng giống cả con cù, nước da vàng như cây hoàng dương.
Còn mắt tôi, theo lời bà Ala, bà vẫn giặt giũ quần áo, có lần bà đã hỏi tôi xem người bà có mũm mĩm không tôi không thể giấu được tôi là người xứ Ôvécnhơ; mắt tôi giống như hai hòn than mới.
“Con lại có vẻ đứng đắn nữa, con biết không?”
Cũng có thể. Năm ấy là năm gay go nhất. Tôi đã bị sỉ nhục thật sự và chẳng có gì vui để bù lại.
Trong lòng tôi cũng có cả sự chán nản nữa. Tôi đã thất vọng sâu sắc về Pari.
Tôi thấy chân trời ngu xuẩn, cuộc sống tẻ lặng, tương lai xấu xí. Tôi đang ở trong đại đô thành Babylon! Nhưng thành Babylon chỉ là thế thôi!
Mọi người ở đó mới nhỏ bé làm sao! Tôi chỉ nghe thuần nói tiếng La-tinh!
Chủ nhật cũng như trong tuần, tôi bị lão Lơnhanha ấy tha hồ hành hạ, tuy lão bản tính nhu nhược, đố kỵ, hèn nhát, vì không thành đạt mà lão thêm cay nghiệt.
Nhất là mười ngày cuối cùng này đã đè nặng lên tôi như một cực hình.
“Sao mẹ không viết thư cho con?
- Mẹ cứ nhấp nhổm chực đi hết ngày này sang ngày khác, mẹ tôi nói.”
Để hà tiện một con tem.
Tôi kể cho mẹ tôi nghe những lời người ta quở mắng tôi vì nhà nghèo, những sỉ nhục mà tôi đã phải chịu đựng.
“Ông ta mà chê nhà mình nghèo à! Khi nào ông ta kiếm nổi số tiền thầy con kiếm được trong năm nay, ông ta muốn nói gì hãy nói...
- Nhưng như thế, nếu thầy kiếm ra tiền, tại sao không trả tiền trọ của con như những đứa khác, khi con đã viết thư cho thầy mẹ biết là ông ấy chửi con, và con rất khổ?
- Chửi, chửi? - Thế rồi sao? Có phải vì thế mà con sinh ra ốm đau không, hả con? Dù sao đi nữa thì nhà mình vẫn tiết kiệm được ba trăm phơrăng, và con sẽ rất hài lòng được có số tiền đó sau khi thầy mẹ chết. Có ba trăm phơrăng và hơn nữa, ở trong này này... Nhưng không phải ông Lơnhanha được số tiền này đâu!”.
Mẹ tôi cười và vỗ vào túi.
“Ở đời phải thế, con ạ; bây giờ con đã lớn, con phải biết chuyện đó. Con tưởng ông ấy nhận con vì đôi mắt đẹp của con và để bố thí cho nhà mình đấy hẳn? Không đâu, họ nhận con như một con bò cái mắn. Con không đẻ ra được bò con như họ muốn, con không được giải thưởng ở kỳ thi lớn của họ. Đúng ra họ phải biết kén chọn hơn; họ phải sờ nắn con cho kỹ trước khi con bắt đầu. Được, để mẹ, mẹ sẽ nói cho lão ta biết phận của lão con hãy đợi mẹ một chút!.”
Tôi rất khổ vì thấy mẹ tôi nổi giận lên như vậy. Con người mà tôi ngỡ là căm ghét ấy, bây giờ tôi lại thấy ái ngại!
Vừa báo cho tôi biết ý định là cho ông một trận nên thân, mẹ tôi vừa nói:
“Con gói ghém các thứ của con lại!”
Mẹ con tôi đã ra tới hành lang-người gác cổng cũng cómặt ở đó.
“Thưa bà, không ai được đem gì ra khỏi nhà này.
- Đồ đạc của con tôi! - Tôi không có quyền lấy quần áo của nó à? Bít tất của con tôi!... có phải cái lão Nha- nhanha của bác bảo thế không?
- Không phải. Đấy là chủ nhà mà ông Lơnhanha mắc nợ, đã dặn tôi như thế”
Lại còn ông chủ hiệu bánh mì cũng thúc giấy đòi nợ, rồi bác hàng thịt...
Con người thảm hại, phải, thảm hại! Hắn thô bạo với người nghèo, vì không phải hắn chỉ ngược đãi có mình tôi. Tất cả những đứa nào bị gia đình bỏ rơi hoặc trả giá hạ đều bị hắn phỉ nhổ, và có những đứa bé còn bị đánh đập nữa.
Hắn thật ngu dại - trong các nhà trọ, người ta nói về hắn như một điển hình. Người ta dùng tên hắn trỏ một kẻ thô bỉ, ngu xuẩn, và hơi rầu rĩ.
Cách lập luận vừa rồi của mẹ tôi, lý lẽ về con bò cái đã cất cho tôi khỏi mọi băn khoăn, đã đập mạnh vào óc tôi.
Con bò cái… đúng thế! Họ nhận tôi không phải vì đôi mắt đẹp của tôi, dĩ nhiên rồi! “Không, mặc đấy con có thể yên tâm”, mẹ tôi lại nói, vì mẹ tôi đã đoán được ý nghĩ của tôi trong sự im lặng và trong con mắt tôi.
Dù sao tôi vẫn thấy ái ngại cho lão, gã khốn khổ ấy. Tôi xin được với mẹ tôi là đừng làm ầm lên, và chúng tôi được chủ nhà bằng lòng cho đem quần áo của tôi đi.
Chúng tôi rời khỏi nhà trọ không hiểu bằng cách gì. Chúng tôi đi xe ngựa thuê đến lấy các hòm xiểng mà mẹ tôi để lại ở buồng giấy bến xe ngựa chở khách.
Mẹ tôi lẩm bẩm chửi lão Lơnhanha; những tiếng cười gằn, những tiếng la; mẹ tôi chế giễu và xô đẩy ông ta bằng giọng nói, bằng cử chỉ, tựa hồ ông ta có mặt tại đó:
“Ông có im đi không! Chà! ông mà nói với tôi những câu như ông đã nói với nó! (quay sang tôi). Mày thật hèn mới chịu để người ta đối xử với mày như thế! Chà! Mày không phải là con trai của mẹ mày!”
Phải chăng tôi là đứa con nhặt được? Phải chăng tôi đã bị đòn oan mười ba năm trời? Hãy nói đi, người mà tới nay tôi vẫn gọi là giênitrix
[87], mẹ tôi mà tôi là caraxôbôléx
[88], hãy nói đi!
“Ta đi đâu bây giờ?”
Mẹ tôi hỏi tôi câu đó, khi hai mẹ con đã ngồi lèn chặt trênxe. Bác đánh xe đợi.
“Chẳng lẽ ta lại ngủ ở trên xe ngựa, phải không? Mày đã ởPari một năm rồi thế mà mày vẫn khôngbiết dẫn mẹmày đi đâu, mày không biết một chỗ trọ nào à?
Tôi biết trường Xoocbon? -Conđường Lợn lòi?Liệu người ta có cho mẹ tôi thuê giường ngủ ở quánNgười Hà-lan không?
“Thôi được, để tao dẫn mày đi! Chà con cái”
Mẹ tôi ẩy tôi về phía cửa xe.
“Gọi bác đánh xe đi.
- Bác đánh xe ơi!”
Bác đánh xe dừng lại và cúi người xuống.
“Bác có biết khách sạn Tiền-vàng-Pháp không?
- Đấy là ở Đijông cơ, bà khách quí ạ!
- Ở tất cả các thành phố, đâu cũng có một khách sạn lấy tên là Tiền-vàng-Pháp kia mà!
- Ở đây tôi không biết!”
Hất chiếc khăn choàng trên vai, một tay cầm túi du lịch, tay kia nắm lấy cửa xe, mẹ tôi nhảy xuống đất.
“Tôi không ngồi trên chiếc xe này thêm một phút nào nữa.
- Tùy các người thôi; đây không thích chở những hạng người chuế như thế! Trả tiền giờ đi, và hòm xiểng của các người đây”
Chúng tôi trả tiền, -và câu chuyện ở Oóclêăng, ởquảng trường cô Trinh nữ, ở Năngtơ và ở bến tầu lại tái diễn. Mẹ con tôi đứng trước những gói và những hộp đựng mũ cứ đổ xụp xuống. Mẹ tôi không thể vào một thành phố nào mà không làm cản trở giao thông!...
Mẹ tôi lấy cán ôđánh tôi.
“Mày phải nhúc nhích lên chứ!”
Tôi cố nhúc nhích cái gì còn có thể nhúc nhích dược, tôi phải giữ các hộp, trên người tôi chẳng còn mấy chỗ rảnh, tất cả đều mắc hết rồi, chỉ còn rỗi độc một ngón tay.
“Gọi chiếc xe khác đi”
Tôi ra hiệu cho một bác xà ích khác, nhưng thế thăng bằng có những quy luật ác nghiệt mà ta không nên vi phạm, và việc ra hiệu đó làm tôi lâm nguy! Quả núi hành lý đổ sập. - Mẹ tôi thét lên một tiếng! Xe cộ dừng lại cảnh sát chạy tới,- cứ thế mãi! thế mãi! Chuyên khoa lạ đời!
Mẹ con tôi sẽ ra sao nếu không cónhững người từ tâm đi qua đấy?
Họ không yêu cầu một điều gì có thể xúc phạm tới chính kiến hoặc tín ngưỡng của mẹ con tôi! Không, hoàn toàn không. Họ giúp đỡ mẹ con tôi bằng những lời khuyên mà không đòi lương tâm phải thỏa hiệp hoặc phải hèn nhát. Bọn thầy dòng Jêduýt ắt là không làm như thế.
Họ khuyên mẹ con tôi nên đi thẳng phía trước mặt, “đúng ở trước mặt, chỗ có cái bảng nhỏ”, và họ cho mẹ con tôi biết rằng những buồng cho thuê chính là dành cho những người không có buồng.
“Vậy mà mày không biết hả, Jắc! Mẹ tôi nói. Thơ La-tinh đã làm nó trở thành như thế này đây! hay có lẽ tại mày bị ai đánh. Mày không ngã lộn đầu xuống đấy chứ?
Không, con chỉ ngã bệt đít xuống thôi”
Mẹ con tôi có vẻ an tâm một chút.
Mẹ con tôi đã yên vị trong nhà trọ: một căn buồng và một phòng nhỏ.
Có những tiếng kêu thét trong buồng mẹ tôi...
“Jắc, Jắc!
- Con đây”
Tôi chỉ vừa kịp xỏ quần, nhưng tôi chật vật hết sức mới giữ được cho quần khỏi bị tụt.
Mẹ tôi nắm lấy đũng quần, và kéo tôi đi ngược lại gần chỗ mẹ tôi.
“Mày có phải là con tao không?”
Tôi bắt đầu thấy lo ngại thực sự. Mẹ tôi đã hỏi tôi như vậy một lần rồi.
Tôi thấy hai chiếc quần chẽn và hai chiếc áo mà tôi đã mặc suốt cả năm nay vứt bừa bãi trên bàn.
Mẹ tôi thình lình xoay người tôi lại, và nhìn tôi chầm chầm như thể mẹ tôi vẫn nghi là tôi đưa một người lạ nào lộn xòng vào thế chân tôi.
Cuối cùng gần như đã chắc chắn là tôi không nhầm lẫn, vả lại có tiếng nói của máu mủ mách bảo biết, mẹ tôi liền tuôn nỗi đau khổ của mình ra.
“Jắc, mẹ tôi nói, Jắc, đây có phải là quần, là áo, có phải là cái áo màu xanh hoa mua mà tao gửi cho mày không? Tao biết quần áo mà vào tay mày là bẩn ngay lập tức, tao biết, nhưng tao không thể nào tin được là mày lại tinh nghịch ăn cả màu đi thế này, hơn nữa quần áo tao gửi cho mày rộng hơn!Quần áo vốn may rộng rãi phòng lớn, may thoáng khí! Đằng này chẳng ra gì cả! chẳng ra gì cả!”
“Jắc, thầy mày với tao đã cùng may cho mày! Tao đã viết thư cho mày, mày biết rồi! - Người ta đã làm gì con tôi thế này?”
Đây là lần thứ ba mẹ tôi có vẻ lo lắng! Tôi tự nắn mình.
“Nhưng mày nói tại làm sao chứ, đồ ngu!”
Ôi chao không, mẹ tôi đã nhận ra đúng là tôi.
Tôi giải thích về chuyện quần áo.
Tôi đã mặc nát cả bộ quần áo vận khi mới đến. Còn quần áo mà người ta gửi cho tôi, do thầy tôi cắt, mẹ tôi khâu, thì rộng quá, có thể chứa được cả tôi và một người nữa. Nhưng tôi không quen biết ai cả.
Tôi vớ được thằng Raju to béo gấp đôi tôi, mà quần áo của nó thì lại quá chật.
Nó hỏi xem tôi có muốn đánh đổi không, vì trông dáng người tôi thật ngộ nghĩnh với quần áo rộng thùng thình. Nhiều người thấy tôi đi lại khó nhọc đâm lo! Còn thiếu điều gì người ta không nói?
Một hôm chúng tôi đồng ý với nhau ở phòng ngủ, nó đưa quần áo của nó cho tôi, tôi vận quần áo của nó, và tôi lại chơi chạy đuổi được.
Mẹ tôi lặng thinh. Tôi ủ rũ chờ đợi! cuối cùng mẹ tôi mới chịu nói.
“Ồ đây không phải là thứ dạ xấu!... Nhưng chắc cái thằng Raju ấy không biết gì cả, đáng lẽ mày phải đòi các thêm một cái gì đó, một chiếc gi-lê bằng nỉ, một chiếc quần cộc Ồ! giá phải tay tao! Phải, thứ dạ này tốt đây. Cóđiều là nhàmình không có mụn vá (mẹ tôi xem xét một cái nền vải kẻ sọc); như cái nền này, tao chỉ thấy có chiếc thảm ở trong buồng tao là giống thôi. Tao có thể lấy rèm cửa cũ để sửa lần lót này được”
Chết thật!
“Ăn vận thế này thì con gái đứa nào nó mê mày được. Như tao thì tao thích người đàn ông ăn vận hơi đỏm dáng một chút, - áo rơđanhgốt xanh lục, - quần kẻ ô… Ồ! Tao không muốn người ta làm đỏm quá quắt! Làm cho mọi người thích, chứ không lao vào thói hư tật xấu; mình ăn vận đẹp, không phải là để lăn lóc trong cuộc sống xa hoa, không! nhưng mày muốn nói gì thì nói, một chút khác người cũng không hại gì, và tao cũng chẳng giận mày nếu người ta ngoái lại để nhìn mày trong lúc khoác tay tao đi ở ngoài phố. Có ai quay lại để nhìn mày không? Chẳng có ma nào hết! Mày đi qua mà chẳng ai để ý. Mà ví bằng mày khiêm tốn!... (có chút ít mỉa mai và thất vọng trong giọng nói), nhưng đây là thứ dạ tốt, tao không nói đây không phải là thứ dạ tốt”.
“Mày đưa tao đi ăn cơm tối ở đâu đấy?”
Mẹ tôi vừa nói vậy, gần như cô Hécmini nói với Rađigông, vừa vuốt ve tôi.
Cái vẻ hồn nhiên đó là tôi thấy thích và cảm động, và tôi nói ngay với mẹ tôi là nên đến quán Tavécniê, ăn cơm bữa ba hào hai xu.
“Mẹ muốn tới hiệu Anh-Em-Prôvăngxơ hoặc hiệu Vêfua một lần, - một lần, cũng chả chết ai; vả lại thầy mày năm nay làm ăn khám khá thế cơ mà!”
Tôi vất vả lắm mới tránh được hiệu Vêfua. Mẹ tôi sẵn sàng không dè sẻn; nếu cần đến mười phơrăng cũng bỏ ra! “Chà! mặc xác! ăn chơi một cái!”
Mười phơrăng, chậc! - tôi mường tượng thấy đơntính tiền lên tới một lui
[89], mẹ tôi sẽ gọi họ làbọn ăn cắp. “Tôi biết giá thịt chứ! Các người đừng dậy tôi thế nào là quả bù dục. Những hai mươi xu một miếng phó-mát!”
Tôi nói dối một chút, tôi nói là có bạn đã ăn ở đó, và họ đã thề với tôi là sườn lợn rán ở đấy bán những bamươi xu.
“Người ta giễu mày đấy, con ạ! Chà! ở cái đất Pari nhà mày mà mày chẳng lanh lợi hơn chút nào! Mày đừng hòng làm tao tin rằng người ta bán những ba hào một chiếc sườn rán. Với ba hào ở quê mình có thể mua được một con lợn con rồi!
- Ở đấy ăn không ngon như người ta tưởng đâu (tôirụt rè đưa ra câu đó cầu may).
- Nếu ăn tồi, tao sẽ vò đầu họ cho bõ mười phơrăng, mày cứ yên trí!”
Tôi không yên trí, và tôi lại nói:
“Ta cứ thử đến hiệu Tavécniê trước đã, mẹ cứ tin ở con”
Mẹ con tôi đến hiệu Tavécniê.
Mẹ tôi vừa vào đã nói:
“Ở đây đẹp quá chắc ăn không ngon, tất cả những cái này chỉ là để lòe khách thôi, mày thấy không?”
Mẹ tôi nói to tướng, như ở nhà mình, và tôi hết sứcxấu hổ khi thấy bà bán hàng ngồi ở quầy tráng miệng nghe thấy. Để tìm ra một chỗ ngồi mẹ con tôi đã đi vòng quanh phòng ăn ba lượt.
Người ta bắt đầu xì xào là chúng tôi đi qua lại nhiều quá! Cuối cùng mẹ tôi có vẻ đã quyết định.
“Mẹ con mình ngồi đây tốt - không, ở phía bên kia... - Mày tới xem có thể ngồi ở chỗ gần cửa sổ, trong cùng được không?”
Tôi đi ngang qua buồng ăn, đỏ dừ cả hai tai.
Chúng tôi làm cản trở sự đi lại của đám bồi đang bưng các món ăn đến cho khách. Hai ba lần tôi đã chặn hẳn lại không cho một con cá bơn và một quả trứng tráng đi qua. Người bồi tạt sang trái, tôi cũng vậy! - Sang phải, nán lại vẫn thấy tôi. Hắn đi thẳng - đứng lại!
Người ta đánh cuộc với nhau ở phía trong cùng.
- Qua được, không qua được!
Mẹ tôi nói: Con trai tôi đấy!
“Thưa bà, chúng tôi xin có lời mừng bà!”
Tôi tới được chỗ mẹ tôi; người bồi đã chui tọt qua dưới nách tôi, giữa tiếng hoan hô của khán giả. Những người bị thua cuộc vì tôi, vừa trả tiền thua cuộc, vừa đưa mắt giận dữ lườm tôi.
Chúng tôi những hai người thì mạnh hơn, mẹ tôi không muốn rời tôi nữa.
“Mẹ con ta cứ ở liền bên nhau, - mẹ tôi nói!”
Mẹ con tôi tới một địa điểm chiến lược trông có vẻ chắc chắn nhất rồi mở cuộc hội đàm.
Người ta nhìn chúng tôi tợn.
“Mày đói à? tội nghiệp con tôi!”
Tại sao mẹ tôi lại nói tội nghiệp con tôi trước đông người như thế?
Người ta tổ chức chòng ghẹo chúng tôi.
“Đi rửa cho thằng bé tội…
- An ủi thằng bé tội...
- Nhồi nhét cho thằng bé tội... nghiệp”
[90]
Nhưng người ta đã đi báo cho ông chủ hiệu ăn đang đóng rượu vang vào chai, ông ta bước tới với chiếc khăn run rẩy ở cánh tay run lên.
“Có phải là mẹ con bà tới đây để ăn không? Hở!”
Tôi táo tợn đáp “không”
Ông chủ hiệu ngạc nhiên. - Đám đông xì xào.
Tôi đã nói không, vì thấy ông ta có vẻ rất giận dữ.
“Không ăn? Vậy các người đến để làm gì?
- Thưa ông, tôi là bà Vanhtrax, tôi ở Năng-tơ đến. Còn nó, tên nó là Jắc!”
Người ta hoan hô ầm lên trong hiệu ăn. -Hãy nghe! Hãy nghe! để diễn giả nói!
Tai tôi kêu ù ù. Tôi không còn nghe thấy gì nữa. Tôi chỉ phân biệt được mỗi tiếng ông chủ hiệu nói: Phải chấm dứt cái trò này đi!
Người ta giải quyết được mẹ con tôi: người ta dồn chúng tôi vào một góc.
Rốt cuộc tôi thú thật là chúng tôi đến để ăn.
Người ta vừa phục vụ chúng tôi, vừa giữ thế thủ.
“Tớ biết cái trò này lắm, một người bồi già nói; đây là bọn vờ vịt, họ giả vờ làm con lừa để được ăn cỏ, rồi lát nữa họ sẽ chuồn thẳng không trả tiền cho mà xem.”
“Mẹ thích ăn ở hiệu khác hơn, con thì sao? mẹ tôi hỏi.
- Con cũng vậy, ồ! vâng con cũng vậy. Con ghét cái bài hát: Rửa thằng bé tội... Đổ thằng bé tội[91]... Mẹ con mình đến hiệu Bétxay, cách đây có vài bước, mà chỉ mất hai hào hai.”
Mẹ tôi đến hiệu Bétxay.
“Ông sẽ cho chúng tôi ăn gì đây, ông bồi?
- Mẹ, không ai gọi Ông bồi!
- A! bây giờ mày lại sinh ra vô lễ đấy! Không nên kiêu kỳ với mọi người thế, con ạ, không ai biết được mình sẽ ra sao đâu!”
Người bồi không đáp lại câu hỏi lễ phép của mẹ tôi, anh ta đang bận với một ông khách, anh nói với ông ta:
“Thế chúng ta có một đầu bê, phải không ạ?”
Ông khách gật đầu, ông không chối, đúng là ông có cái đầu bê.
Người bồi quay lại chỗ chúng tôi.
“Thế nào? Ông mách cho mẹ con tôi ăn gì nào? Mẹ tôi nói.
- Bà nên dùng món cá nhồi mỡ.
- Tôi không tới Pari để ăn những món ở nhà tôi cũng có thể ăn được, - không. - Thế như ông, thì ông ăn gì? Nói cho chúng tôi biết.”
Mẹ tôi đinh ninh là người bồi sẽ nói với mình như vớimột người bạn. “Kìa, xem nào, có món gì ngon? Ông quê ở đâu thế?.”
Người bồi đề nghị một món, mẹ tôi có vẻ ưng, nhưng không, không, mẹ tôi nghĩ lại...
“Jắc, gọi ông ta lại!
- Bồi!”
Tôi gọi một tiếng rụt rè, như người ta gõ cửa nhà người chữa răng. Tôi mong là anh ta không nghe thấy.
“Mày không trông thấy là ông ấy vẫn cứ đi à; chạy theo đi, chạy đi kìa!”
Tôi đuổi kịp người bồi, đang giơ một chân lên trời, đầu ngược xuống dưới, hét oang oang xuống cầu thang:
“LÒNG CỦA TÔI ĐÂU?”
Anh ta đột ngột quay lại:
“Cái gì thế?
- Không lấy thịt quay.
- Thế thì lấy gì?”
Mẹ tôi, từ cuối buồng:
“Một sườn lợn ngon, đừng mỡ quá; nếu mỡ quá thì không lấy đâu; và đĩa phải thật nóng đấy, ông nhé!”
“Sườn lợn... xin mời!
- Tôi đã bảo ông: đừng mỡ mà!
- Cái này có mỡ đâu, thưa bà!
- Xem này, ông bạn ạ, nếu ông thật thà...”
Người bồi đã biến mất.
Mẹ tôi lấy đầu dĩa lật đi lật lại miếng sườn lợn; cuối cùng mẹ tôi đưa ra đề nghị như sau:
“Jắc, mày xuống bếp hỏi xem người ta có bằng lòng đổi cho không.
Mẹ!
- Có tiền mà không được ăn những thức mình thích! Cứnhư là mẹ con mình đi ăn xin không bằng!(giọng âu yếm): Vậy con muốn mẹ ăn những thức làm mẹ sinh bệnh à? Con xin họ đổi cho mẹ đi, đi, con.”
Tôi không còn biết chui vào đâu nữa; người tachỉ còn nhìn thấy tôi, chỉ còn nghe thấy mẹ con tôi; tôi tìm ra một cách thoát, và vẻ tinh nghịch và hờn dỗi (hình như tôi còn cắn cả ngón tay út nữa):
“Con thì con thích có mỡ kia!
- Vậy ra bây giờ con lại thích mỡ à? Mẹ đã chẳng nói với con, khi mẹ buộc lòng phải đánh con để bắt con ăn mỡ - là có ngày con sẽ hám ăn mỡ đấy ư? - Đây, con, ăn cho thích!” Tôi vẫn ghét ăn mỡ, nhưng tôi chỉ thấy có mỗi cách ấy để không phải đem trả lại món sườn lợn, và rồi có thể tôi sẽ gạt được chỗ mỡ ấy đi. Quả nhiên tôi tìm được cách nhét một miếng vào túi áo gi-lê và một miếng nữa vào túi quần sau.
Nhưng một buổi tối mẹ tôi gọi tôi ra một chỗ; mẹ tôi có chuyện nghiêm chỉnh cần nói với tôi:
“Tất cả mọi thứ đó chưa phải là việc chính, con ạ, bây giờ cần biết mẹ con mình phải làm gì. Thế là một tuần nay mẹ con mình đi xem hát tràn, ăn hiệu lu bù, mà vẫn chưa quyết định được gì cho tương lai của con.”
Mỗi lần mẹ tôi sắp sửa trịnh trọng, tôi lại toát mồ hôi lưng. Mẹ tôi đã làm một người mẹ hiền trong bảy ngày; đến ngày thứ tám mẹ tôi lưu ý tôi rằng mẹ tôi đã tiêu pha tốn kém quá, mà tôi thì cứ nhởn nhơ như không. “Rõ ràng là không phải mày kiếm ra tiền. Ăn hiệu chỉ mất có hai hào hai một suất, nhưng hai suất mất bốn hào tư, không kể tiền cho bồi. Mày muốn cho bồi những ba xu! Tao đã cho ba xu, được lắm, tuy chỉ cho hai xu thôi cũng đủ rồi; giá như tao, tao chẳng cho gì cả, không có chuyện đó!”
Mẹ tôi có lối nhấn mạnh vào những thú vui mà mẹ tôi cho tôi hưởng, nó làm mất thú đi một chút.
Khi mẹ con tôi đi xem ở Hoàng-Cung, chẳng hạn, trở về tôi phải cười liền trong hai ngày - để tỏ rõ rằng đấy không phải là tiền vứt đi. - Nếu tôi không ôm bụng cười ngặt nghẽo, mẹ tôi sẽ nói: - Tiêu bốn phơ-răng thật chẳng đáng!
Tôi ra sức cười! Hễ mẹ tôi quay đi, tôi lại nghỉ một chút, nhưng dù sao như vậy cũng mệt!
Mẹ tôi đã dẫn tôi đi xem Trường đua ngựa - lúc về hai mẹ con đi bộ. Mẹ tôi thích đi bộ, tôi thì không. Tôi có vẻ rầu rĩ.
“Cậu cả bây giờ làm mặt buồn! Mày chẳng làm mặt buồn cho lúc mày đóng vai công tử ở ghế hạng nhì và, ngồi nhìn các cô cưỡi ngựa.
Đóng vai công tử???
- Thế nào! rồi đây mày sẽ làm gì?
- Con không biết!
- Mày có ý định gì không?
- Không.
- Phải tiếp tục học cho xong.”
Tôi thấy không cần thiết.
Mẹ tôi đoán biết ý nghĩ thầm kín của tôi.
“Tao đánh cuộc, - phải, tao đánh cuộc! - là nó sẽ sẵn lòng để cho bao nhiêu hy sinh người ta chịu vì nó trở thành công cốc cả. Nó sẽ bằng lòng thôi học ngay đấy! Nó sẽ phá ngang!...”
Nào tôi thích thú gì cái đó, và nào cái đó giúp ích gì cho tôi!... (tôi có những suy nghĩ đó thì bao giờ cũng vẫn là ở trong thâm tâm tôi).
“Nhưng mày có trả lời tao không, - mẹ tôi kêu lên, - mày có trả lời tao không?
Mẹ muốn con trả lời cái gì mới được chứ?
Mày định làm gì! Mày có ý kiến gì, có cái gì ở trong đầu không? “
Tôi không đáp, nhưng tôi nghĩ thầm:
Phải, tôi có ý kiến và có cái gì đó ở trong đầu! Tôi có ý kiến là thời giờ để học tiếng La-tinh ấy, tiếng Hy-lạp ấy - những chuyện ba láp ấy! - là thời giờ vứt đi; trong đầu tôi có cái điều là tôi thấy mình đúng, ngay từ hồi còn bé, khi tôi muốn học lấy một nghề! Tôi sốt ruột muốn kiếm sống cho sớm và muốn tự túc!
Tôi đã ngán những nỗi đau khổ tôi phải chịu đựng và ngán cả những vui thú người ta cho tôi được hưởng. Thà tôi không được học hành mà không bị chửi mắng còn hơn. Tôi không muốn đi xem hát hôm thứ hai, để đến thứ ba người ta lại mắng tôi là đã đi xem hát; mẹ ạ, con cảm thấy con sẽ làm khổ mãi với mẹ, chừng nào mẹ có thể nói con làm tốn của mẹ mất một xu!...
Đó, những điều con nghĩ là thế đó, mẹ ạ.
Con còn có điều khác nữa cần nói với mẹ; - mặc dù không muốn, con vẫn nhớ tới ngày con bé nhỏ, con phải khổ vì những cơn giận dữ của mẹ. Đôi lúc trong người con khi qua những cơn thù oán, và mẹ có biết không, con chỉ được hả lòng, ngày nào con xa mẹ!...
Những ý nghĩ đó, tới một lúc, buột ra ngoài miệng tôi!
Mẹ tôi nghe thấy thì tái mặt đi.
“Vâng, con muốn vào một nhà máy, con muốn làm ở một xưởng thợ, con sẽ khuân hòm, lắp cửa, quét sân nhưng con sẽ học lấy một nghề. Con sẽ có năm phơrăng một ngày khi đã học được. Khi ấy con sẽ trả lại mẹ số tiền đi xem ở Hoàng-Cung, và ba xu cho bồi bàn...
- Mày định làm thầy mày phải tuyệt vọng đấy à, thằng khốn nạn!
- Xin mẹ đừng nói đến nỗi tuyệt vọng của thầy nữa! Điều con muốn, là không làm cái nghề của thầy con, nghề con chó thông thái! Con không muốn trở thành ngu như ông N..., ngu như ông D... Con ưng vận chiếc áo vét như chú Jôdếp, tới thứ bảy lĩnh lương, và ngày chủ nhật có quyền muốn đi đâu thi đi.”
“Và mày không muốn nhìn mặt chúng tao nữa, mày nói thế phỏng?”
Mẹ tôi đã quên tất cả những nỗi giận khác chạm đến lòng kiêu hãnh của mẹ tôi, làm hỏng các kế hoạch, làm rối ren cuộc sống của mẹ tôi, để chỉ nhớ có mỗi một câu, là câu tôi kêu lên rằng tôi không yêu thầy mẹ tôi, tôi không muốn nhìn mặt thầy mẹ tôi nữa!
Vẻ buồn bã của mẹ tôi làm tôi hết sức xúc động; tôi cầm lấy tay mẹ tôi.
“Mẹ khóc à?”
Mẹ tôi không nén được một tiếng nấc, và mẹ tôi lả đầu vào hai bàn tay với một cử chỉ buồn bã làm sao, như tôi đã trông thấy trên các bức tranh ở nhà thờ...
Khi mẹ tôi ngảnh mặt lên, tôi không nhận ra mẹ tôi nữa: trên gương mặt người đàn bà nông thôn ấy, có tất cả chất thơ của đau khổ; mặt mẹ tôi trắng bệch như một bà quý phái, với những giọt lệ như hạt ngọc trong khóe mắt.
“Con xin lỗi mẹ!”
Mẹ tôi cầm lấy tay tôi. Tôi xin lỗi mẹ tôi một lần nữa.
“Mẹ không có gì để tha lỗi con cả... Mẹ chỉ xin con, con thấy không, từ rày đừng nói với mẹ những lời tàn tệ ấy nữa”
Mẹ tôi hạ thấp giọng và thì thào;
“ Nhất là nếu quả thật mẹ đáng trách, con ạ...
- Không, không, tôi nói qua nước mắt. Cũng có lẽ thế thật mẹ tôi nói. Tối nay mẹ muốn ở nhà một mình, con có thề đi chơi... Để mẹ yên. Để mẹ yên.”
Mẹ tôi bảo người ta đưa chìa khóa cho tôi - “để nó có thể đi chơi đến nửa đêm”, mẹ tôi nói với ông Môlay, chủ nhà.
Tôi đi theo con đường đầu tiên mở ra trước mặt tôi, tôi lạc vào trong một phố vắng, và suốt buổi tối tôi suy nghĩ về những lời lẽ cảm động nó vừa mới xóa đi bao nhiêu lời tàn tệ và cử chỉ độc ác...
“ Jắc? con có muốn tiếp tục đi học để cho thầy mẹ vui lòng không?
- Có, mẹ ạ.”
Từ hôm ấy, tôi toàn gọi mẹ bằng tiếng “mẹ” âu yếm cho tới khi mẹ tôi chết.
“Ôi chao! con làm mẹ vui lòng! Mẹ cảm ơn con! Con thấy không! Mẹ sẽ khổ biết mấy, nếu thấy con đã học hết các lớp rồi mà lại dừng lại trước khi tới đích. Chính vì nghĩ đến thầy con mà chuyện đó đã làm mẹ buồn phiền. Con sẽ làm thầy con vui lòng, con sẽ đỗ tủ tài, rồi sau đó... Sau đó con muốn làm gì thì tùy con... bởi vì con thấy khổ nếu phải làm theo ý muốn của thầy mẹ...”
Hôm sau, sau ngày mẹ tôi khóc, đã quyết định là từ nay sẽ không nói đến chuyện Trường sư phạm nữa, và tôi chỉ chuẩn bị thi tú tài thôi.
Tôi đã ưng thuận, sung sướng vì lời hứa đó và sự hy sinh đó đã lau được nước mắt của người đàn bà tội nghiệp!
Me tôi không nói với tôi như xưa nữa.
Mẹ tôi mới nghiêm trang làm sao, và rất sợ làm phật ý tôi!
“ Mẹ đã làm khổ con nhiều về những cái lố lăng của mẹ, phải không?”
Mẹ tôi cảm động nói thêm:
“ Bây giờ thì đến lượt con trách mẹ. Trước hết con sẽ được học bổng. Con đừng nói là không, mẹ muốn thế, nhất định thế. Và rồi mẹ là một bà già, lúc nào cùng ở bên mẹ chắc con phát chán. Mẹ rất có thể ở nhà chuyện trò với bà Môlây được. Bà ấy có thể thay con dẫn mẹ đi xem các cảnh đẹp được lắm. Mẹ muốn ít ra con cũng có những tối vui của con. Con hãy đi gặp bạn bè của con; con hãy đến chơi nhà Matútxanh.”
Tôi gặp lại Matútxanh trong một căn buồng ở xóm La-tinh, nơi anh ở với một người lớn hơn anh mười tuổi, một người Jacôbanh
[92] và thường viết cho một tờ báo cộng hòa. Ông đang soạn một cuốn sử về thời kỳ Quốc ước
[93].
Ông đọc cho Matútxanh viết.
Họ đang trò chuyện với nhau, vẻ nghiêm trang. Họ đón tiếp tôi vồn vã, nhưng rồi họ lại tiếp tục câu chuyện.
Những câu họ nói nghe như tiếng sắt thép:
“Một nhà bảo phải đồng thời là một chiến sĩ.” -”Phải có một thanh gươm ở bên ngòi bút” - “Sẵn sàng nhỏ máu vào nghiên mực” - “Có những giờ phút nghiêm trọng trong cuộc đời các dân tộc.”
Matútxanh và ông bạn nhà báo của anh, như chúng tôi gọi ông ta, cho tôi mượn những quyển sách mà tôi đem đi hôm thứ năm. Tới chủ nhật sau, tôi không còn là tôi nữa.
Tôi đã đi vào lịch sử cuộc Cách mạng.
Người ta vừa mở ra trước mặt tôi một quyển sách trong đó có nói về bần cùng và đói khát, trong đó tôi thấy diễu qua những bộ mặt làm tôi nhớ đến chú Jôdép hoặc chú Sađơna, những người thợ mộc với chiếc compa mở rộng ra làm vũ khí, và những nông dân cầm chĩa sắt có vấy máu ở đầu răng.
Có những phụ nữ đi tấn công Vécxay, vừa đi vừa hét lên là bà Vêtô
[94] làm nhân dân đói; và ngọn giáo có xiên ổ bánh mì đen - một lá cờ - đâm thủng các trang sách và chọc vào mắt tôi.
Chính vì thấy rằng họ là những người bình thường như ông bà tôi, và có những bàn tay chằng chịt sẹo như các chú bác tôi; chính vì thấy những phụ nữ giống nhau như những người đàn bà nghèo khổ mà chúng ta cho một xu ở ngoài phố, và trông thấy cùng đi với họ có những đứa bé mà họ nắm cổ tay dắt đi; chính vì nghe thấy họ nói như tất cả mọi người, như bác Fabrơ, như mẹ Vanhxăng, như tôi; chính những cái đó đã tác động đến tôi, và làm tôi xao xuyến từ gan bàn chân tới đầu ngọn tóc.
Lần này thì không còn là tiếng La-tinh nữa. Họ nói: “Chúng tôi đói! Chúng tôi muốn tự do!”
Tôi đã ăn thử bánh mì quá cay đắng ở gia đình nhà tôi, tôi đã bị hành hạ quá nhiều ở nhà nên những tiếng kêu đó không thể không thể làm kinh động trái tim tôi.
Rồi trong tưởng tượng tôi xé toạc những bộ quần áo may quá xấu tôi vẫn phải mặc, và bao giờ cũng làm mọi người cười; tôi thay tất cả bằng bộ đồng phục của bọn áo xanh
[95] tôi chui vào những bộ đồ rách rưới của những người ở Xămbrơ và Mơdơ.
Không còn bị mẹ, cha đánh đòn nữa, mà bị kẻ thù xử bắn, và chết như Bara
[96]. Nhân dân muôn năm!
Chính những bà con đeo tạp-dề da, khoác áo thợ và mặc quần vá, là nhân dân trong những quyển sách người ta vừa cho tôi mượn và tôi chỉ yêu những người ấy thôi vì chỉ có những người nghèo đối xử tốt với tôi, hồi tôi còn bé.
Bây giờ tôi nhớ lại những lời mà tôi đã nghe thấy trong những tối thức khuya, những bài hát mà tôi đã nghe, thấy trên đồng ruộng, những tên Rôbexpie hoặc Buônapactơ ở những điệp khúc bằng tiếng địa phương; và một cụ già, già lắm với bộ tóc bạc phơ, sống một thân một mình ở đầu làng mà người ta gọi là ông cụ điên. Một đôi khi cự chụp lên mái đầu bạc một chiếc mũ trùm đầu đỏ, và nhìn đăm đăm vào đống tro tàn.
Tôi nhớ tới cái nhà ông mà người ta gọi là tên xăngquylốt
[97], và là người không dung được bọn thầy tu. Ông ta đã bước ra khỏi nhà hôm bà vợ ông, trước khi chết, đã gọi đến đức Chúa lòng lành.
Tôi cũng nhớ tới những cử chỉ mà người ta đã làm trước mặt tôi, vừa vỗ vào báng súng, hoặc vừa chĩa nòng, với cái nhìn tức giận, về phía lâu đài.
Và tất cả máu huyết của đứa con một người mẹ nông dân, đứa cháu của những người thợ, chồm lên trong mạch máu một người thông thái có học thức mặc dù tôi không muốn là có học thức bất đắc dĩ!
Tôi ngứa ngáy muốn viết thư cho chú Jôdép và chú Sađơna... “Chú hãy tin rằng cháu không quên các chú, rằng cháu thích ở với các chú, ở bên cái cầy hoặc ở bên chuồng bò, hơn là ở nhà nói tiếng La-tinh. Nhưng nếu các chú đi đánh bọn quý tộc, các chú nhớ gọi cháu!”
“Ít lâu nay, con có vẻ phấn chấn thế”, mẹ tôi hỏi.
Đúng vậy - tôi đã nhảy từ một thế giới chết sang một thế giới sống. - Cuốn lịch sử mà tôi đang đọc ngấu nghiến, không phải là lịch sử thần thánh, vua chúa, - đây là lịch sử của Pie và của Jăng, của Matuyrin và Flôrimông, lịch sử của nước tôi, lịch sử của làng tôi; có nước mắt của người nghèo, máu của người nổi loạn, nỗi khổ của họ hàng thân thích tôi trong các tập biên niên sử đó, viết bằng một thứ mực còn chưa khô hẳn.
Tôi say sưa lợi dụng sự tự do mà mẹ tôi để cho tôi! Ngày nào tôi cũng tới phố Jacôp để thả lòng vào những quyển sách ở đấy, hoặc để nghe ông nhà báo nói về lá cờ cộng hòa đã phất trên các mặt cầu, và được các binh đoàn bảo vệ với tiếng thét: “Tổ quốc muôn năm! - Đả đảo các vua chúa!- Tự do hay là chết”
Được tự do? Tôi không biết nó là thế nào, nhưng tôi biết thế nào là làm nạn nhân, tôi biết, mặc dù tôi còn non trẻ.
Một đôi khi cùng với Matútxanh chúng tôi tưởng tượng là chúng tôi đang chiến đấu, và mỗi đứa mơ mộng theo kiểu của mình.
Anh ta thì muốn đội mũ của Xanh-Juxt khi ở quân đội, đeo ngù vai vàng và thắt lưng tam tài to bản.
Tôi thì tôi mơ thấy tôi đóng thượng sĩ, tôi nói: Tiến lên! Hỡi anh em! Mọi người đều cùng quê với nhau, cùng quây quần xung quanh một ngọn lửa trại đóng quân, và trò chuyện về vùng Loa-thượng.
Tôi mơ ngù vai bằng len, giải đeo gươm bằng dây nhỏ.
Tôi muốn ở trung đoàn vùng Môden. Với dân cày và thợ thuyền. Chú Jôdép sẽ là đại úy và chú Sađơna, trung úy.
Chúng tôi sẽ về làm nghề thợ mộc, hoặc gặt lúa “sau ngày thắng lợi”.
PHỐ CỐC-HÊRÔNG
Một tối ông nhà báo dẫn chúng tôi tới nhà in, ở trong tầng dưới tối om, nơi người ta in báo; ông là bạn thân của một người thợ.
Máy in quay tròn, ngốn những tờ giấy vào và nhả những tờ giấy ra, dây cua-roa kêu vo vo. Có mùi nhựa thông và mùi mực ướt.
Ngửi cũng thấy thú như mùi phân ủ. Cũng thấy ấm như trong chuồng bò. Những người thợ vận sơ-mi trần, đội mũ gấp bằng giấy. Có những hiệu lệnh chỉ huy như trên một con tầu gặp nạn. Người thợ đặt giấy, như một chú thủy thủ, nhìn người thợ cả, trông coi như một viên thuyền trưởng.
Một máy in bị gẫy. - Ô này! - Ô!
Người ta hãm máy lại và, năm phút sau, con vật bằng gỗ và bằng sắt lại thở phì phò.
Tôi đã tìm thấy cái nghề thích hợp với tôi..
Tôi cũng sẽ có áo thợ xanh và chiếc mũ bằng giấy xám, tôi sẽ ấn tay lên trên chiếc bánh xe ấy cho quay mạnh những chiếc trục ấy, tôi sẽ thở hít hương vị ấy, - thật là say sưa, đúng! như rượu vang mạnh.
Thợ sắp chữ chăng! Không. - Thợ in, tốt lắm! Một nghề thật là đẹp, được nghe thấy máy hoạt động và rền rĩ, và tới một lúc mọi người đều xúc động như trong một trận đánh.
Phải khỏe, - cử động phải khoáng đạt. Có sắt, có tiếng động, tôi thích thế. Người ta kiếm sống, và được đọc báo trước mọi người.
Tôi không nói với ai chuyện đó; tôi giữ kín ý định của tôi! Tôi cảm thấy im lặng là một sức mạnh, khi điều mình muốn là điều những người khác không muốn. Tôi sẽ không nói gì hết, nhưng tôi vui sướng làm sao!
Có một chút kiêu hãnh độc ác trong niềm vui đó.
Tôi nghĩ là tôi hơn hẳn những thằng bạn đang sống một cuộc đời lang thang! - khỏi phải nói - vì chúng không có công việc chắc chắn; còn như tôi muốn sao thì sao, tôi kiếm được mỗi ngày năm phơrăng, mà chỉ phải mỏi có hai cánh tay thôi.
Tôi sẽ không phụ thuộc vào ai cả, và ban đêm tôi sẽ đọc sách, ngày chủ nhật tôi sẽ viết. - tôi sẽ tham gia một hội kín, nếu tôi muốn. - Tôi muốn ăn thì đi ăn, và tôi còn có thể tặng một cái gì cho tù chính trị hoặc mua vũ khí...
Sống trong lao động chết trong chiến đấu!
“Jắc, mẹ nhận được thư của thầy con, thầy con quyết định mẹ con mình sẽ trở về Năngtơ để con chuẩn bị thi tú tài ở bên cạnh thầy con.”
Tôi không còn nghĩ tới chuyện đó nữa. Tôi đã chìm ngập vào trong cách mạng đến tận cổ, và bây giờ tôi yêu Pari. Cái nhà in ấy!... Hơn nữa chúng tôi đã tới ăn cơm thường tại những quán nhỏ bán thức ăn nhẹ, nơi lui tới của những người thợ đã từng có chân trong các hội Mùa, và đã dính dáng vào các vụ nổi loạn.
Áo thợ và áo rơđanhgốt cùng ngồi một bàn, và mọi người chạm cốc.
Ngày chủ nhật, chúng tôi tới những quán ca nhạc, quán Gảy đàn thất huyền hoặc quán Đàn tỳ bà, tôi không còn nhớ rõ nữa.
Tôi hơi thấy chán khi người ta hát những bài khôi hài; nhưng thình lình có người nói: “Fextô đấy, Gilơ đấy.” Và tôi như nghe thấy ở xa xa có tiếng trống cộng hòa trầm đục, rồi tiếng trống rõ lên, Gilơ cất tiếng hát, và bản nhạc đó như nhằm vào trái tim tôi.
Tuy nhiên tôi không biết có phải là so với những bài hát nói về những người đi chiến đấu và hy sinh, tôi thích những bài hát của người đập lúa hoặc người thợ rèn hơn, do một người thợ máy, nom hiền lành như cừu non nhưng khỏe như bò mộng, hát lên oang oang. Người đó nói về cái chất thơ của xưởng thợ, - tiếng ầm ầm và lửa hồng, - người đó nói về người nội trợ bảo chồng: “Anh hãy gắng lên, - hãy cố làm việc, - ấy là vì con chúng ta. “
Tới một lúc, người ca sĩ hạ thấp giọng xuống. “Đóng cửa sổ lại “, có ai nói. Và mọi người chào ở điệp khúc:
Lá cờ mà nhân dân đã phất ở Xanh-Mery!
Có tinh thần nổi loạn trong những vần thơ. - Ít ra thì cũng là tôi gán vào, chính tôi, kẻ hôm qua đã mở cuốn Sử mười năm, tôi không còn ở Thời kỳ năm 93 nữa. Tôi đang ở thời kỳ Lyông, với lá cờ đen. Những người thợ dệt nổi giận, và họ thét lên: Bánh mỳ hay là đạn!
“Jắc, đến thứ hai mẹ con mình sẽ về Năngtơ.”
Một nhát dao đâm cũng không làm tôi đau đớn hơn.
Một tháng trước đây, tôi sẽ vui lòng ra đi, và có thể khi ra khỏi cửa ô tôi còn khạc nhổ lên Pari nữa là khác, vì tôi đã bị ngạt thở trong thành phố đó không biết chừng nào, tôi đã thất vọng không biết chừng nào khi trông thấy bạn bè và thầy giáo.
Nhưng từ một tháng nay, đã có nước mắt của mẹ tôi, và sau ngày xảy ra chuyện đó, là tự do hoàn toàn; thỉnh thoảng tôi lại được bốn hào, để chén một chút thịt lợn với các bạn thân, và ngày chủ nhật, ăn thịt bò hầm ở quán Ramponnô.
Tôi đã hòa mình vào đám đông, tôi đã nghe thấy họ cười nói bằng thứ tiếng Pháp bồi nhưng cười thẳng thắn. Tôi đã nghe nói về nhân dân và công nhân, người ta nói Libéctê chứ không nói Libéctax.
Quanh tôi bao giờ cũng là chuyện nghèo khổ; thầy tôi đã bị sỉ nhục vì nghèo, tôi cũng đã bị như thế, và giờ đây thay vào những diễn từ của Catông, của Xixêrông, thay vào những người tên toàn những ô, ônix, ux, i, ôrom, tôi thấy người ta tụ tập trên quảng trường để bàn cãi về sự cùng khổ và đòi có công ăn việc làm hoặc là chết.
“Này! Jăng-Mari, ở nhà không có bánh mì thì chẳng thà quên phắt đi vị bánh mì đi, có hơn không?”
Quay về Năngtơ ư?
Tôi sẽ nói chuyện về nền Cộng hòa và chuyện nổi loạn với ai?
Xưa nay có nổi loạn ở Năngtơ đâu? Ở Lyông thì lại khác!
Ồ! nếu tôi đã không hứa với mẹ tôi! - nếu mẹ tôi đã không khóc!
Nếu mẹ tôi đã không khóc, tôi sẽ nói: “Con không muốn về”. Ông nhà báo thanh bạch sẽ đưa tôi vào làm chân chạy giấy, làm lao công, trong một tòa báo. Vừa hay (thật là may!), có một chỗ làm trong tòa báo Quốc gia; người ta trả ba mươi phơrăng một tháng để giữ nguyên-cảo, để đọc cho người chữa bản in. Tôi sẽ sống với ba mươi phơrăng đó. Công việc xong xuôi, tôi sẽ xuống nhà in để ngửi mùi giấy mực, và nhờ anh em thợ truyền nghề cho tôi.
Hay tôi cứ nói chuyện ấy với mẹ tôi?
Tôi nói với mẹ tôi về chuyện đó.
“Nhưng con đã nói với mẹ...
- Vâng, đúng vậy.”
Tôi tới từ biệt ông nhà báo và Matútxanh.
Ông nhà báo an ủi tôi.
“Rồi anh sẽ trở lại đây, anh bạn thân mến ạ.
- Ít nhất ông cũng viết thư cho tôi nhé!
- Được rồi. Ngay cả trường hợp, ông vừa nói vừa mỉm cười, gọi anh đi tấn công điện Êlydê.
Nhất là trong trường hợp đó, công dân ạ!”