<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.04.2023 23:27:34 bởi Thanh Vân>
Mật Mã Champa
Tiểu thuyết trinh thám.
Tác giả: Giản Tư Hải.
NXB HNV 2016
*
Giới thiệu Giản Tư Hải sinh năm 1977 tại Thanh Chương, Nghệ An. Là một nhà văn tay ngang, nghề chính là kiến trúc sư, nhưng Giản Tư Hải có số lượng sách được xuất bản đáng nể. Giản Tư Hải có nhiều trải nghiệm và vốn hiểu biết rộng, anh thường đưa vào tác phẩm những kiến thức rất đa dạng, phong phú, thú vị.
***
Mật mã Champa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên viết về mật mã, lịch sử và tôn giáo của nền văn minh Champa cổ xưa đầy huyền bí trên dải đất miền trung Việt Nam. Những đền tháp uy nghi có từ hàng thế kỷ trước, những pho tượng Bà-la-môn giáo nhuốm màu thời gian cùng hàng trăm tấm bia kí phai mờ đang ẩn chứa vô số bí ẩn mà hậu thế chưa thể giải mã. Sau nhiều năm trùng tu thánh địa Mỹ Sơn, một kiến trúc sư đã phát hiện ra nhiều mật mã bằng Phạn ngữ khắc trên bia đá tiết lộ các lễ hiến tế thần bí.
Điều làm ông bất ngờ và sợ hãi là những bí ẩn kho báu Champa và lễ hiến tế người gắn liền với một hội kín tà giáo có từ thời trung cổ. Lúc ông quyết định thám hiểm vào sào huyệt của hội kín thì bị sát hại đúng theo cách mà ông từng biết qua bia kí.
Rất may, trước khi chết ông đã kịp để lại một mật mã.
Ngay lập tức, một kiến trúc sư trẻ đã vào cuộc. Anh bắt đầu giải chuỗi mật mã mà nhà khảo cổ kì cựu này để lại rồi rơi vào một cuộc rượt đuổi kinh hoàng. Cuối cùng, anh đã sập bẫy rồi bị đưa lên đài cúng tế đúng như nghi thức man rợ cổ xưa.
Sau nhiều diễn biến kịch tính tại hang ổ của hội kín, bí ẩn về hội tà giáo Naga và kho báu của vương triều Champa lần lượt được đưa ra ánh sáng sau hàng thế kỉ chìm trong bí ẩn.
Tác giả
Giản Tư Hải sinh năm 1977 tại Thanh Chương, Nghệ An. Tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Hiện làm việc tại Phúc Kiến, Trung Quốc. Tiểu thuyết “Ổ buôn người” của anh đoạt giải C cuộc thi truyện ngắn, ký và tiểu thuyết về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” 2007 - 2010 do Hội Nhà văn và Bộ Công an phối hợp tổ chức. Những sáng tác của Giản Tư Hải đều theo thể trinh thám và chủ yếu lưu hành trên Internet.
Các tác Phẩm đã in.
1, Ổ buôn người. Tiểu thuyết trinh thám.
2, Âm mưu thay não. Tiểu thuyết trinh thám.
Chương 1
Dưới độ sâu 35 mét, người đàn ông cao lớn và một phụ nữ dắt theo một con dê trắng thắt nơ đỏ đang dò dẫm dọc một đường hầm lát đá để tìm một cánh cửa. Ông ta cầm đèn pin chiếu lên tường hầm rồi dừng lại trước một mảng tường khả nghi quan sát hồi lâu.
- Phòng 178. Chính căn phòng này.
Người phụ nữ trẻ mệt mỏi đến mức không buồn nói câu nào, cô chỉ mong chồng đứng lại để tranh thủ ngồi phệt xuống. Cô không ngờ thánh địa lại xa xôi hiểm trở đến mức đi ba ngày trời mới tới. Ngay cả con dê đực quen nhảy nhót trên núi cũng run chân và thè lưỡi ra để thở.
- Rốt cuộc cũng tới đích. – Người đàn ông Pháp nói - Chúng ta cứ trải chiếu nằm ở đây chờ cửa mở.
Ông ta xem đồng hồ rồi lấy thuốc ra vừa hút vừa đi đi lại lại nhưng mắt không rời cánh cửa đá mang số 178 đang đóng im lìm. Bỗng đất đá xung quanh rung lên báo hiệu một cơn địa chấn dữ dội bất ngờ ập đến. Cánh cửa đá bật mở rồi rút lên cao theo chiều thẳng đứng, ông ta thét vợ ngồi dậy rồi cúi xuống nhìn cái hố vuông sâu nơi cánh cửa đá vừa rút lên trần.
- Dê trắng đâu lại đây! – Ông thét to lên.
Ông quay lại nhặt sợi dây nhấc bổng con vật đáng thương lên cao rồi thả xuống cái hố đen ngòm đang ngoác to. Tiếng thét thê thảm của con dê trắng câm bặt trong tiếng đá nghiến. Viên Kiến trúc sư người Pháp cùng với phu nhân mau lẹ vọt qua miệng hố trước mặt để vào bên trong. Hành trình gian nan đi tìm kho báu Champa cổ xưa mà họ theo đuổi bấy lâu nay rốt cuộc đã tới đích. Trong hang đá tối đen như mực, người phụ nữ trẻ tỏ ra sợ sệt khi nhìn lại cánh cửa đã sập xuống sau lưng. Một dải sáng lân tinh bò ngoằn ngoèo trên vách đá nổi lên một dòng chữ Phạn cổ đập thẳng vào mắt cô:
“ Dâng máu cho Ngài! kẻ nào xúc phạm đến thần linh sẽ bị rút sạch máu ba đời dâng lên Ngài’’.
- Anh nhìn kìa... - Cô gái chỉ tay nói.
Viên kiến trúc sư đến từ EFEO (1) rùng mình hoảng sợ khi đọc kĩ dòng chữ khắc sâu trên mặt đá. Từng bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu bia mộ cổ, ông liên tưởng đến một lời nguyền được cho là thần bí nhất lịch sử, đó là câu khắc trên bia mộ các hoàng đế Ai Cập “ Bất cứ người nào đến quấy nhiễu sự yên ổn của Pharaông, thì cánh cửa tử thần sẽ giáng xuống đầu người đó. ’’
Đó không phải là lời dọa suông. Hàng ngàn năm nay, lời nguyền bí ẩn kia vẫn là bản án tử hình siêu linh đã giáng phạt bao nỗi chết chóc kinh hoàng cho giới khảo cổ và cả những tên săn trộm dám phớt lờ nó.
Viên kiến trúc sư chiếu đèn pin rồi xích lại gần, ông nhìn thấy những vẩy máu khô loang lổ trên vách cửa đúng vị trí mà ông và vợ vừa nhảy qua. Ông biết rằng mình không phải là người đầu tiên bước qua đây và số phận những kẻ đi trước ra sao thì đã rõ. Ông trấn an người vợ đang run rẩy trong làn hơi ẩm lành lạnh trong lòng núi.
- Đừng để tâm, anh đã có cách khắc chế cánh cửa đó.
Người đàn bà đầu tiên đặt chân nơi cung cấm này vẫn chưa hết sợ hãi.
- Em tưởng cả vách núi đã sập xuống rồi chứ. Làm sao mà nâng lên được?
- Anh đã nghiên cứu tấm bản đồ cổ rất kĩ rồi. Trong này có cỗ máy bằng đá dùng sức nước để điều khiển cánh cửa đó.
- Nhưng trong lòng núi này làm sao có nước được?
- Em đừng quên đây là thánh địa Naga nhé. Đã có thánh địa thì bắt buộc phải có nguồn nước thiêng. Ở đây không chỉ có nước mà có cả một dòng suối ngầm. Khi băng rừng đến đây, em có nhớ chúng ta đã vượt qua mấy con sông và dòng suối không? Một nhánh trong những dòng nước đó chảy qua lòng núi này đấy.
Cô gái vội liên tưởng đến Mỹ Sơn, Cát Tiên, Ăngkor Wat và nhiều thánh địa Balamon khác mà cô từng đến đều có cả những dòng sông và suối thiêng bao quanh ngàn năm không ngừng chảy.
Mặc dù chiếc đèn pin công suất sao, chùm sáng vẫn mờ lụi trong khoảng không mịt mù. Họ mò mẫm theo hướng nam như trong trí nhớ, đi qua một khoang rộng không rõ hình thù, cuối cùng một bức tường đá xám xịt đã hiện ngay trước mắt họ. Men theo bức tường cho tới khi nhận ra một cánh cửa vòm, ông liền đẩy mạnh. Tiếng nước rào rào bất ngờ phả ra từ một đoạn suối ngầm chảy qua lòng núi. Trước mắt ông là một guồng nước khổng lồ đang chuyển động để đưa dòng chảy lên một hệ thống phức tạp nằm trên cao mà ông không thể nào nhìn rõ. Trục quay bánh guồng được gá trên hai trụ đá lớn song song mọc lên từ lòng suối giúp cho chiếc bánh xe nặng hàng chục tấn vận hành trơn tru suốt mấy trăm năm nay chưa từng ngưng nghỉ. Thấy một chiếc thang đá dựng đứng, ông lội xuống bám tay vào những thanh giằng để tìm cách trèo lên. Thận trọng leo đến bậc cuối cùng, từ độ cao của một ngôi nhà ba tầng nhìn xuống, những lá guồng gạt nước trắng xóa dưới ánh đèn bàng bạc làm ông cảm tưởng như đang lạc vào gầm máy của một chiến hạm khổng lồ thời Trung cổ đang nhởn nhơ vô định giữa đêm đen trên đại dương. Nước từ hệ thống ống máng chằng chịt trên cao dội xuống ào ào xen lẫn với dòng suối réo von tạo thành một bản hòa tấu hoang sơ đến kì dị.
Nhìn quanh, viên Kiến trúc sư ngạc nhiên khi phát hiện trước mặt là một bể đá rất lớn ngỡ là một tầng lầu. Tuy nhiên bể nước này đã cạn khô và chỉ có một dòng nước đang nhỏ giọt vào bể. Chỉ mất vài phút, ông đã phát hiện ra quy luật vận hành của chiếc đồng hồ nước cổ đã được phác họa chi tiết trong tấm di chỉ quý báu. Nắm được cấu tạo và nguyên lí hoạt động khắc sẽ điều khiển được nó. Trên chiếc bàn điều khiển, ông tìm cách cài chế độ mở cửa đá. Tháo chiếc ống nhỏ đang rỉ nước đặt sang bên cạnh rồi ông dùng hết sức xoay một ống đồng có đường kính bằng miệng bát thay thế. Ống đồng lập tức truyền nước ào ào vào bể chứa. Toàn bộ lan can và hành lang đá dưới chân ông bắt đầu rung lên nhè nhẹ. Chỉ vài chục phút nữa thôi, mực nước sẽ đạt ngưỡng cực điểm để đẩy bật một chiếc lẫy. Mấy trăm khối nước cùng hàng chục tấn đá sẽ trút xuống để khởi động một chiếc đòn bẩy có khả năng ném bay một tòa nhà với một sức mạnh khủng khiếp. Năng lượng đang tích tụ với một tốc độ rất nhanh tỉ lệ thuận với mực nước dâng trong bể. Mặc dù muốn nán thêm vài phút để đo lại thể tích và vận tốc nước nhưng một giọng rất thanh át tiếng thác vọng lên.
- Xuống ngay, nó sẽ sập xuống mất!
Nhìn qua luồng sáng yếu ớt chiếu qua đám bụi nước bạc, ông phát hiện một máng đá dốc chéo xuống dưới. Không chần chừ, ông bò qua một dầm đá trơn nhẫy để nhảy vào lòng máng. Trong tích tắc, ông gần như trượt ùm xuống lòng suối làm nước bắn tung tóe lên mặt vợ.
- Xin lỗi!... - Ông vùng đứng lên đưa tay vuốt mặt. – Tốt rồi, cách cửa lát nữa sẽ tự mở ra.
- Cửa tự động ư? Hệ thống gì mà lạ vậy?
- Một cỗ máy bằng đá chạy bằng sức nước. Tổ tiên người Chăm của em đã chế tác ra nó đấy!
- Nó đủ sức nhấc cánh cửa mấy trăm tấn kia không? Anh cam đoan là chúng ta không bị kẹt lại đây chứ?
- Yên tâm, nếu cỗ máy kia chạy đúng, khoảng nửa tiếng nữa cửa sẽ mở ra.
- Sao nhanh vậy? liệu chúng ta còn thời gian đi khắp cung điện này không?
- Chỉ có hai ống đồng. Anh đã cài chế độ mở nhanh nhất. Thôi đừng hỏi nữa, nhanh chân lên!
Họ chui trở lại tiền sảnh, do thiếu ô-xy và vận động mạnh nên ông đã có dấu hiệu rối loạn phương hướng. Tránh mất thời gian, trong khi cúi mặt xuống ông tranh thủ mở tấm bản đồ cổ ra định vị lại lần nữa.
- Đằng kia kìa! – Người vợ trẻ chỉ tay phía sau lưng ông.
Ông quay lại bắt gặp một khoảng tối đen đặc đang phả hơi lạnh vào mặt mình, ông xoay đèn về hướng đó và lờ mờ nhận ra một miệng giếng. Ông nắm tay vợ đi nhanh về phía đó và thấy một cầu thang xoắn ốc dẫn xuống dưới. Không rời một bước theo chồng, mắt cô sợ sệt nhìn theo ánh đèn nhấp nhoáng trên các phiến đá ẩm ướt và cố không để trượt chân rơi xuống cái hố mà cô chưa nhìn thấy đáy. Để thêm an toàn, cô bám tay kia lên lan can có tay vịn bằng rắn đá ưa thích của người Khmer. Con rắn bảy đầu bằng đá hoa cương xoáy lượn hình trôn ốc xuống sâu hun hút nhìn như thể nó đang cố ngoi lên từ địa ngục. Bất chấp lối đi hiểm trở, cô nhắm mắt đi theo chồng cho đến khi ông ghìm tay cô lại.
- Kia mới là kẻ giữ đền đích thực, rắn thần Naga! – ông nói.
Người phụ nữ ngước lên, dưới ánh đèn yếu ớt xuyên qua không khí đặc quánh hiện lên một cuộn trắng căng tròn bềnh bệch.
- Trong truyền thuyết Khmer rắn giữ đền Naga có tới bảy đầu cơ mà? - Người phụ nữ hỏi. - Con này lớn nhưng chỉ một đầu.
- Đúng thế, nhưng đây là con rắn thật đang sống!
Cô gái thất kinh ôm chặt hông chồng mình. Người đàn ông từ tốn gỡ nhẹ tay cô:
- Đừng sợ, đây chính là rắn khổng lồ sống trong rừng nhiệt đới hạ lưu sông Mê Kông. Trước đây xuất hiện thường xuyên tại rừng U minh Thượng nhưng nay gần như tuyệt chủng. Truyền thuyết rắn thần Naga lấy cảm hứng từ loài bò sát khổng lồ có thật này. Sách cổ của người Khmer còn mô tả những con long xà to như cây Thốt nốt.
Vẫn nhìn con vật qua vai chồng mình, giọng cô chưa hết run:
- Nó đang ăn?
- Chính con dê trắng mà ta vừa thả xuống khi qua cửa đấy thôi, đây là bữa điểm tâm đầu tiên của nó sau 12 năm đấy.
Cô gái mắt mở to nhìn con rắn bất động, chỉ có mang tai đang phập phồng đẩy con vật bé bỏng khuất dần trong khoang miệng đang ngoác to.
- Đây là giống rắn sống nơi không ánh sáng nhưng mắt nó có thể nhìn xa hàng cây số trong bóng đêm.
Cô gái nhè nhẹ lùi xa hơn, mắt vẫn không rời con vật, cô hỏi.
- Nó nhịn đói tới 12 năm sao?
- Giữa chu kì mở cửa tháp dài tới một giáp, làm gì có ai vào được để cho nó ăn, nó rất đói. Nếu hôm nay chúng ta quên mang con dê cho nó, em có biết thức ăn của nó sẽ là gì không?
Cô kéo chồng quay lại nhưng người đàn ông to cao không hề nhúc nhích. Viên kiến trúc sư biết rằng họ đã rơi vào phạm vi tấn công của con vật từ lâu, nhưng hôm nay con dê đã thế mạng cho họ. Ông chỉ khe hở đủ một người đi phía sau con rắn và nói.
- Muốn vào thánh địa phải đi qua mặt con rắn này.
Người vợ định bỏ chạy, nhưng cô vội nhận ra phía ngoài là cánh cửa đá đã đóng chặt. Đã vào đến đây dù chết cũng phải đi đến tận cùng. Chẳng phải mười mấy năm nay cô chỉ mong ngày này đấy thôi.
- Đi tiếp! – Cô hạ quyết tâm.
Tuy lấy hết can đảm, không chỉ cô mà người đàn ông đầy chất thép kia cũng phải co mình nín thở để lách qua lưng con rắn đang phả hơi tanh nồng nặc. Ngay vừa đặt chân vào khu tiền điện, viên kiến trúc sư đã ngỡ ngàng sửng sốt với vô số pho tượng các vị thần Balamon giáo đặt trang trọng trong các khám thờ ăn sâu trong đá. Tượng Siva, Vishnu, Bharma, bò Nadin, dấu triện cổ và các thanh kiếm ánh lên màu sắc của vàng thật.
Do thời gian có hạn nên không thể xem kĩ từng chi tiết, ông muốn đi thật nhanh để bao quát quy mô thánh địa nhưng một pho tượng nữ thần vàng óng làm ông sững người lại. Đúng là pho tượng này được đúc bằng vàng khối, với kích cỡ lớn bằng người thật như vậy làm ông nghĩ đến tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng tại Po Nagar đã bị quân Khmer băng qua cao nguyên Langbian đến tấn công Nam Champa năm 945. Sự tập trung của ông bị cắt ngang khi có tiếng động vang lên từ xa. Lúc này ông mới giật mình nhớ lại người vợ đã biến đi đâu mất. May thay, nỗi sợ của ông tan biến khi thấy nàng từ xa chạy lại với một thứ gì đó nặng trĩu trước ngực. Ông lia đèn sang nhìn thứ trên tay vợ và không thể tin nổi vào mắt mình nữa.
- Lạy chúa! Em bê cái này từ đâu ra?
- Trên đài thờ.
Người đàn ông nhìn theo chỉ tay của vợ về cuối đường hầm hun hút và nhận ra rằng mình đang ở đoạn đầu của một cung điện. Còn vô số điều hấp dẫn và lạ mắt vẫn đang chờ ông ở phía trước. Định đi tiếp nhưng môt sức mạnh vô hình đã ghìm chặt ông lại. Kinh ngạc và giận dữ, ông chỉ tay lên linh vật.
- Em... em định mang nó đi đâu?
- Mang về Mỹ Sơn.
Ông chết lặng đi sau câu nói thản nhiên như không.
- Về Mỹ Sơn?
Mặc dù hiểu được nỗi lòng khao khát đến cháy bỏng trong trái tim vợ mình bấy lâu nay, nhưng ông không ngờ cô ta lại xốc nổi như vậy. Chỉ mấy phút trước đây, nàng còn là phụ nữ non gan e thẹn, vậy mà chỉ trong phút chốc, chả hiểu phép thuật nào đã biến cô trở nên ngang nhiên đến ngỗ ngược như thế.
- Không được! - Ông dứt khoát xua tay. - Những thứ nằm trên đài thờ là bất khả xâm phạm!
- Đây là báu vật của người Chăm. - Cô nói đầy thách thức. - Nó phải trở về với người Chăm.
- Nhưng không phải lúc này, hãy trả lại đài thờ ngay!
- Không được! - Cô bướng bỉnh đáp. – Chính anh thường nói cái gì của Cesar thì trả cho Cesar đó sao. Đây là Quốc bảo của Champa, là linh hồn của người Chăm, chúng ta phải có trách nhiệm trả về đúng chủ của nó.
- Hãy nghe anh nói đã. - Ông xòe hai tay phân bua. - Chúng ta sẽ hồi hương những gì đã bị lấy cắp nhưng chưa phải lúc này. Chúng ta chưa hiểu gì về thánh địa này và sẽ phải trả giá đắt cho sự xốc nổi và ngu dốt.
- Không bây giờ thì bao giờ? Ngoài tôi và anh ra còn ai nữa? – Cô lại lùi xa tầm tay của người chồng như tránh một kẻ phản trắc. - Tổ tiên tôi đã mất bao nhiêu công sức và xương máu để đi tìm linh vật này nhưng đều thất bại. Đây là cơ hội duy nhất và tôi không thể chờ thêm được nữa. Anh không thuyết phục nổi tôi đâu!
Không chần chừ, người vợ ôm chặt báu vật nặng hàng chục cân lao ra cửa với một sức mạnh kinh ngạc. Nàng bất chấp bóng đêm và sợ hãi khi băng ngang trước mũi thần rắn. Người đàn ông Pháp chỉ biết chạy theo soi đèn cho cô khỏi ngã mà không dám chạm vào người vợ đang nổi cơn tam bành.
Khi chạm cửa đá, người phụ nữ quay phắt lại nhìn ông thế thủ. Nhìn cặp mắt hoang dại mà ông chưa bao giờ nhìn thấy ở người phụ nữ đầu gối tay ấp mấy năm nay, bản năng sinh tồn mách ông không nên dồn ai đó vào đường cùng. Ông lùi lại và tỏ ra lịch lãm như một đàn ông Paris thứ thiệt.
- Anh hiểu và trân trọng suy nghĩ của em. Nhưng chúng ta không thể đón rước thần linh một cách thô bạo như vậy. Đây là di sản của Champa nhưng đã nằm trong lãnh thổ Camboge(2) mấy trăm năm nay. Để mang được nó về chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề lịch sử để lại. Dù sao chúng ta cũng sẽ hành xử đàng hoàng trong luật pháp chứ quốc tế không phải hành động như những tên mộ tặc.
- Không, sẽ không còn ngày nào nữa, em linh cảm rằng chúng ta không thể quay trở lại đây được nữa. Chúng ta sẽ vĩnh viễn mất linh vật này!
Quý ông Paris len lén nhích tới, chỉ đợi một cái chớp mắt của nàng, ông sẽ vồ cướp.
- Đừng động vào tôi. - Cô dơ cao pho tượng. - Nếu ông cướp, tôi sẽ đập đầu chết ngay trước mặt ông!
Lời nói này đã đánh gục ý chí của ông. Đứng chết lặng giữa phòng, mắt ông trân trối nhìn người phụ nữ xinh đẹp và tự hỏi rằng nàng có còn là vợ mình nữa hay không. Sai lầm! Không phải sai lầm khi cưới nàng mà sai lầm khi đưa nàng vào đây. Ngàn lần sai lầm.
- Cô có biết là cô đang xúc phạm thần linh không hả? – ông than lên.
Ông chỉ còn biết trút hết tức giận vào lời nói nhưng tiếng gào của ông dội vào vách đá rồi hắt thẳng vào chính mặt ông. Nàng vẫn im lìm dựa lưng vào cánh cửa và không thể nào nhìn thấy dòng chữ đang tỏa ám khí ngay trên đầu. Ông rùng mình nhận ra dòng chữ Phạn kia là dành cho ông, nó đang chiếu thẳng vào số mệnh ông. Họ nhìn thẳng mặt nhau trong bóng tối, câm lặng đến rợn người. Tiếng tích tích trên chiếc đồng hồ đeo tay đang nhắc nhở ông thời khắc sắp đến. Cửa sẽ mở.
Ông đưa tay nhìn đồng hồ và hốt hoảng khi nhận ra thời khắc đó chỉ tính bằng giây và cô ta sẽ dễ dàng thoát ra ngoài. Thời gian cứu vãn thần linh của ông sắp hết. Người phụ nữ vẫn nén lặng chờ đợi vì cô biết thời gian đang ủng hộ mình. Trong tích tắc ông biết mình vẫn hoàn toàn làm chủ tình huống. Cánh cửa sẽ không khởi động nếu ông kịp ngắt ống đồng. Nhanh như cắt, ông quay đầu lao vụt vào bóng tối, chưa đầy mười giây sau ông đã đứng trước thác nước.
- Khoan, anh làm gì thế?
Giờ là lúc ông trả đũa cô. Bất cần như chả nghe thấy gì, người Pháp phăm phăm lao ra suối.
- Dừng lại! - Tiếng vợ ông thảm thiết. – Chết đấy... !
Ông lội ùng ục đến giữa dòng rồi bất thình lình khự lại không phải vì tiếng thét sau lưng mà là âm thanh trên trời. Ông chiếu đèn lên và kinh hãi khi thấy trần nhà như đang hạ xuống. Tiếng rít của những phiến đá xanh miết vào nhau nghe lộng óc. Ông biết đã quá muộn, lúc này không có sức mạnh nào có thể ngăn cản cỗ máy khủng khiếp kia khi nó đã khởi động.
- Chạy đi! – Ông thét to về phía vợ rồi lao vọt lên bờ trước khi trần nhà sập xuống. Mặc dù bóng tối bao trùm, ông vẫn lao đúng hướng cánh cửa đá đang rung chuyển. Trước ông là tiếng bước chân dồn dập của người vợ.
- Dừng lại. Không kịp đâu! - Ông hét lên.
Người đàn ông ngũ tuần rướn hết sức lao theo, bốn bề rung chuyển tưởng như một cơn địa chấn đang ập đến. Một tiếng rít ghê tai vang lên cùng với luồng ánh sáng tràn vào. Hình ảnh mong manh bé nhỏ của vợ ông như đang bay khỏi mặt đất hướng về ánh sáng. Và đó cũng là hình ảnh nguyên vẹn cuối cùng mà ông còn thấy về người vợ đáng thương của mình. Tiếng động kinh hoàng vang lên. Tất cả lại chìm vào bóng tối.
Ông tin rằng vợ mình đã may mắn thoát qua cánh cửa. Định quay lại con suối thì tiếng động lạ trước mặt làm ông chú ý. Nhẹ nhàng ngồi xuống trong bóng đêm, ông linh cảm một sự thật kinh người đã bày ra trước mắt. Ông nhặt vội cây đèn trên sàn rồi chiếu vào nơi phát ra tiếng động. Lạy chúa tôi!
Thân thể nàng bị đứt lìa. Ông khụy xuống để hai cặp mắt kinh hồn của họ gặp nhau lần cuối. Một làn hơi thều thào hướng về phía ông.
- Hãy... mang nó về... Mỹ Sơn...
Làn hơi yết ớt tan biến vào hư vô. Người đàn ông Pháp mắt nhòa đi và không còn dám nhìn máu của nàng đang trào ra trước ngực và tưới đẫm lên cả linh vật đang nằm trên tay nàng. Phần thân còn lại của nàng đang ở ngoài hay rơi xuống hầm tối? Rõ ràng ông đã thấy nàng băng qua cửa nhưng không hiểu sao lại bị bật ngược vào trong.
Ông soi đèn lên vết cắt ngang người của nàng và rùng mình kinh hãi khi thấy một bàn tay gân gốc bị chặt ngang cổ tay đang bấu lấy ngực áo vợ mình. Một câu hỏi xoẹt ngang óc ông. Ngoài cửa đá là ai? Là người hay quỷ dữ. Hay chúng là người của hội kín Naga? Không lẽ lời cảnh báo của cha ông từ nửa thế kỉ trước rằng hội này còn sống vẫn đúng đến hôm nay? Ông lạnh gáy khi nghĩ rằng, mình cũng không thể toàn mạng khi ra khỏi đây. Làn máu nóng hổi đã tràn ướt dưới chân ông. Đứng chết lặng trên sàn, ông hãi hùng nhìn cách cửa táp đầy máu đang rỏ ròng ròng xuống đất như một máy chém vừa xong ca hành quyết để bảo vệ một chân lí hùng hồn khắc sâu trên đá.
“ Dâng máu cho Ngài! kẻ nào xúc phạm đến thần linh sẽ bị rút sạch máu ba đời dâng lên Ngài’’
Chương 2
Mười hai năm sau. Đà Nẵng, 22 giờ 17 phút ngày 30 tháng 11.
Người đàn ông Pháp gầy gò đang sửa soạn đống tài liệu trong căn phòng của một khách sạn bên bờ biển Đà Nẵng. Suốt mười hai năm lánh nạn sau biến cố kinh hoàng, nỗi ân hận và sợ hãi đã vắt kiệt một kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ tài ba đang đà sung mãn trở thành một ông lão tiều tụy hơn so với cái tổi 67 của mình. Mỗi khi chợp mắt, hình ảnh người vợ không toàn thây và bàn tay cụt lại hiện lên như đang réo đòi thảm thiết. Niềm an ủi lớn nhất giữ ông lại trên cõi trần là đứa con gái hết mực yêu thương– một kỉ niệm duy nhất với người vợ xấu số. Đến nay, ông còn nợ nàng một nửa lời thề lúc lâm chung. Ông phải sống. Món nợ lớn nhất mà ông phải sống để trả lại cho người Chăm là một kho báu đang bị lịch sử chôn vùi trong quên lãng. Mối thù lớn nhất của ông cần phải thanh toán là một hội kín tà giáo khủng khiếp nhất lịch sử mà ông là nạn nhân số một. Ngày đó đã đến, ngày ông rửa hận và hoàn tất chuỗi sứ mệnh lớn lao trên đã đến.
Mọi khâu chuẩn bị cho ngày trọng đại sẽ diễn ra vào hôm sau đã hoàn tất, ông lôi cuốn nhật kí đặt lên bàn định chép nốt vài dòng. Dở cuốn sổ dày cộp luôn cạnh ông suốt mấy mươi năm nay, trên khuôn mặt phong sương hốc hác của nhà khảo cổ Viện Viễn Đông Bác Cổ lừng danh thoáng hiện một nỗi buồn. Cuốn sổ chỉ còn đúng một trang.
Bất giác, ông linh cảm có chuyện khác lạ, những trang giấy nâu chi chít những phát hiện, những sự kiện đáng nhớ và cả những ngày đau đớn cùng cực trong đời. Nó là người bạn duy nhất luôn ở bên ông. Càng nghĩ ông lại thấy nó giống mình đến lạ. Cũng thô mộc, nhàu nhĩ và cô độc nhưng đầy ắp tri thức và dấu ấn khủng hoảng còn nóng rực đến tận hôm nay. Nó chính là bản sao y chang đời ông nhưng ông không mong giống nó như lúc này. Bởi, nó chỉ còn đúng một trang. Một nỗi ám ảnh chết chóc bỗng dưng sống lại. Lời nguyền độc địa đã cướp đi người vợ hết lòng yêu thương. Hôm nay nó như đang hiện về để mang đi nốt bố con ông.
Cố xua đuổi cảm giác bất an của một kẻ có tuổi độc thân, Paul Morierre cầm bút định viết vài dòng nhưng nghĩ sao lại thôi. Theo lịch đã sắp xếp, đúng 7 giờ sáng mai ông sẽ đẫn đầu phái đoàn khảo cổ vào thánh địa Mỹ Sơn để khai quật một thần bảo hộ của Vương quốc Champa cổ xưa. Trừ ông ra, không một ai biết báu vật này là gì và chôn vị trí nào cho đến phút chót.
Bất chấp sự háo hức và nôn nóng dâng cao trong giới khảo cổ như một nồi súpde đang sôi, ông vẫn giữ phong thái lãnh đạm và dửng dưng của một người Pháp. Chỉ vài giờ nữa thôi thiên hạ sẽ vỡ òa vì ông. Giây phút lịch sử của ngành khảo cổ Việt Nam nói chung và Chămpa học nói riêng sẽ bước qua một trang mới.
Paul đứng dậy mở toang cửa sổ, một làn gió biển Đông mát rượi lùa vào căn phòng nhỏ. Hít một hơi tràn đầy lồng ngực, ông đứng lặng mình hồi lâu. Hướng đông, theo quan niệm của người Chăm là hướng của thần linh và cội nguồn của sự sống. Là một kẻ đã dành hết tâm lực cho đất thánh Mỹ Sơn, cùng với lòng thành kính của mình, ông có quyền tin rằng ở chốn linh thiêng các Đấng đang nhìn thấu và sẽ phù hộ cho ông trong sứ mệnh cuối đời này. Ta chỉ cần sống thêm hai ngày nữa. Đúng vậy, chỉ cần 48 tiếng nữa, món nợ lịch sử dài đằng đẵng hơn một ngàn năm mà nhân loại đang vay của người Chăm sẽ được ông thanh toán rốt ráo. Sòng phẳng trước khi chết.
Tiếng chuông điện thoại bàn reo vang, Paul nhấc máy, giọng nói quen thuộc ập đến vào cái giờ cấm làm ông kinh ngạc.
- Anh nói gì? ... Sao hả? – Paul thốt lên lạc cả giọng. - Chắc chắn không?... Được rồi, tôi sẽ mở máy ra ngay bây giờ.
Đặt tai nghe xuống rồi khởi động nhanh chiếc laptop, Paul mở hộp thư điện tử của mình. Tấm ảnh trong email đẩy sự kinh sợ của ông lên đến đỉnh điểm. Chính nó đây rồi. Không thể nhầm lẫn được. Chúa ơi! Sự bí mật tuyệt đối mà ông đã giữ kín mười hai năm nay đã bung bét. Linh vật vừa bị ai đó đào lên. Ai đã cướp của ông? Trời đất bỗng quay cuồng chao đảo. Nhưng mất linh vật chưa phải là tất cả, vấn đề là nó giống như cái chốt an toàn của một trái phá đã bị rút. Paul rùng mình nghĩ đến một đại họa khủng khiếp sẽ nổ tung trong nay mai.
Mồ hôi lạnh túa ra đầy trán, trong giây phút hoang mang tột độ, ông không còn nhiều sự lựa chọn. Ông cảm thấy mình phải làm một việc gì đó ngay tức thì, phải gọi ngay cho ai đó trợ giúp. Điện báo cho ban di tích Mỹ Sơn hay cho cảnh sát? Báo cho đồng nghiệp trước hay tự mình đến đó trước?
Paul cuống cuồng lục tìm các số điện thoại nhưng tai quái là ông không có di động còn cuốn danh bạ thì đã quên ở nhà. Mà dù có gọi cho ai thì ông cũng không thể không đến đó. Trong lúc cuốn loạn, những linh cảm quái gở cũng thi nhau ập về xâu xé ông. Phải trao bí mật cho ai đó phòng khi một đi không trở lại. Trao kho báu cho ai mới là vấn đề. Paul bỗng nhiên nhớ tới một người Pháp rất nổi tiếng thế kỉ 18 – tên hải tặc khét tiếng Labis. Khi đứng trước giá treo cổ y đã ném tấm da dê vẽ đầy hình thù kì dị xuống pháp trường và nói lớn “ Kho báu của ta sẽ thuộc về ai có thể hiểu được nó’’. Khi nghĩ đến kẻ đồng hương huyền thoại này, Paul bỗng thấy mình tự tin khác lạ. Ông mỉm cười. Cho dù linh vật bị mất thật đi chăng nữa nhưng kho báu Champa khổng lồ vẫn đang trong tay ông. Thế nhưng nếu đêm nay ông bị giết? Làm sao để nó không bị thất truyền đây? Phải rồi. Mã hóa nó!
Xé trang giấy cuối cùng và chấm bút, ông bóp trán viết ra một dãy kí tự rồi lập tức bỏ đi.
Chương 3
Chiếc Ford Rangercũ kĩ phanh két ngoài gara thưa thớt của sân bay, một người trung niên vội vã bước ra rồi rảo nhanh lên đón khách. Kì Phương có mặt tại sân bay Đà Nẵng trong một tâm trạng bồi hồi hiếm có ở một kiến trúc sư quen sống trầm lặng. Với anh, chưa bao giờ thời gian lại truy đuổi dồn dập như hôm nay. Anh đã lái xe xuyên rừng trong đêm để đi đón một nhân vật mà hơn chục năm nay chưa gặp lại, đó là Thi Nga. Nàng là tiểu thư danh giá của Paul Morierre - người thầy cũ của anh. Ấn tượng về cô bé lai Tây này trong anh không nhiều ngoài thân hình nhẳng nhiu với sở thích bơi lội trên con suối quanh co chảy qua vùng đất thánh.
Một tháng thực tập nhoáng trôi đi, Kì Phương trở về đất bắc và sau đó không lâu anh biết tin cả gia đình ông không còn ở Mỹ Sơn nữa. Hơn mười năm trôi qua không một tin tức gì về họ cho đến hôm qua, ông bất ngờ xuất hiện trở lại trong một cuộc khảo cổ sẽ diễn ra ngày mai.
Quá xúc động vì ông còn nhớ cậu học trò cũ năm xưa, Kì Phương không biết nói gì hơn. Ông còn ngỏ ý nhờ anh qua sân bay đón con gái cũng bay từ Paris trở lại. Thật không có gì vui hơn được gặp lại những người đã từng coi anh như thành viên trong gia đình.
Bảng điện tử thông báo chuyến bay đã hạ cánh xuống Đà Nẵng an toàn. Kì Phương đưa tay nhìn đồng hồ. 23 giờ 25 phút.
Anh lách qua đám đông ngoi lên, mắt nhìn dòng người đang ùn ùn đổ ra với tâm trạng không thể hồi hộp hơn. Ánh mắt anh không sót một ai, những cô trẻ đẹp phải nhìn kĩ hơn bởi anh tin chắc chắn rằng nàng phải thế. Một thiếu nữ đôi mươi mang hai dòng máu Pháp - Chăm chắc phải có cái gì đó rất lạ. Nàng sẽ diện váy ngắn hay là khép mình trong bộ áo dài thổ cẩm truyền thống đây? Dòng khách nhanh chóng trôi qua nhưng không ai khớp với trí tưởng tượng của anh. Cũng chẳng một ai gọi tên anh nốt. Đúng khi đó, có bàn tay vỗ nhẹ lên vai.
- Anh là Kì Phương? - Anh quay giật lại, sát sau là một cô gái rất trẻ vận váy đen, đi giày cao gót.
- Vâng, cô đây là... ?
- Tôi là Thi Nga.
- Còn tôi là Kì Phương. Tôi lên để đón cô đây.
Kì Phương gần như không thể rời ánh mắt khỏi cô ta được nữa, những nét thân thuộc ẩn sâu trong kí ức vùng xé thời gian ùa về.
- Anh đúng là kiến trúc sư Kì Phương không? - Khác hẳn anh, đôi mắt đen dửng dưng của cô đã nói lên một sự thật rằng, cô đã quên tất cả.
- Đúng rồi, nếu cần cô có thể xem chứng minh thư trước khi ra xe cùng tôi.
Cô gái nhìn ảnh mỉm cười.
- Hình như cô đã quên tôi? – Anh hỏi và hồi hộp đợi câu trả lời.
Vẫn nở nụ cười xã giao, cô đáp:
- Thực ra hồi ấy tôi còn nhỏ quá.
- Chả ai trách trẻ con hay quên. – Anh nhìn ngang vào má cô và cố gắng đưa ra một nhận xét tinh tế. – Còn cô, trông khuôn mặt cô... – Anh định nói là béo hơn xưa nhưng kịp chữa lại. - Không khác trước là mấy đâu.
- Vậy mà lúc nãy anh không nhận ra tôi? – cô nói vẻ hờn dỗi.
Kì Phương gật đầu mỉm cười. Hai người không nói gì cho đến khi chiếc xe ford của anh nặng nhọc lăn bánh hướng về thành phố.
- Bây giờ chúng ta về khách sạn chứ? – Cô gái đột nhiên hỏi từ hàng ghế sau.
- Sao cô biết?
- Thì ba tôi đang ở đó mà, đúng không?
- Ừ, hôm nay ông ấy nhắc cô suốt ngày. Đã khuya nhưng có lẽ ông ấy đang chờ cô về ăn tối đấy.
Kì Phương bịa như thế chứ thực ra anh thừa hiểu tính lãng trí của Paul chẳng ai bì nổi. Cuôc đời nhà khảo cổ này gắn liền với sách vở và gạch đá. Ông có thể đọc vanh vách từng niên đại của tất cả hiện vật trong bảo tàng Chăm nhưng lại quên tịt ngày sinh nhật của vợ con.
Sáng nay ông ta bận đánh vật với khối bia kí tại bảo tàng Chăm. Thú thực, người chờ đợi cô nhất chính là anh. Chiều nay, từ khi biết tin cô về, anh luôn nghĩ về cô với bảo kỉ niệm ngọt ngào xa xưa, nhưng cái anh tò mò nhất là giờ đây cô xinh đến mức nào. Anh đã quên ăn và bất chấp mớ công việc bù đầu để đi đón cô.
- Ba em ở một mình tại khách sạn hả anh? – cô hỏi vẻ lo lắng.
- Ừ, ba cô bảo thế. Mà tôi không hiểu vì sao hai người không chờ nhau để đi cùng chuyến bay?
- Vâng, lẽ ra tôi đã bay cùng chuyến ba tôi hôm kia, nhưng do phải thi nốt một môn quan trọng nên phải đi sau một ngày mặc dù biết rằng để ba đi một mình là không nên.
- Trông ba cô quắc thước lắm, tôi nghĩ không có vấn đề gì về sức khỏe đâu.
- Anh chưa hiểu hết đâu, đêm nay rất quan trọng với ông ấy, tôi rất lo vì các rủi ro khác.
Đúng là Kì Phương không hiểu nhiều về Paul ngoài những giai thoại chứng tỏ đây là một người Pháp có nhiều duyên nợ nhất với xứ sở này. Nhưng điều mà bất cứ ai cũng biết là ngày mai đích thân Paul sẽ khai quật một báu vật của vương triều Champa. Tin này lập tức thu hút các nhà khảo cổ khắp thế giới. Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm thì đây là một tiếng sét vang dội báo hiệu cơn dông hiếm hoi sau nhiều năm khô cằn hạn hán.
Không giống như các cuộc khai quật thông thường vẫn thầm lặng diễn ra ở đâu đó hàng ngày, điều bất thường là Paul dường như biết trước cổ vật là cái gì và đang nằm ở đâu dưới lòng đất hệt như hàng ngàn năm trước tổ tiên của ông ta chôn xuống và truyền lại bản đồ cho chính ông ta vậy. Sự kì bí của báu vật và thói úp mở của người khởi xướng vừa gây thêm tò mò vừa sinh lắm kẻ hiềm ghét. Ông độc quyền báu vật lẫn thông tin. Nói dại, ngộ nhỡ đêm nay ông có mệnh hệ gì thì tất cả cũng đi theo ông nốt.
- Cô yên tâm. - Anh trấn an. - Không đầy năm phút nữa tôi sẽ bàn giao cô cho ông ta, hai cha con tha hồ mà hàn huyên!
Rex Hotel tráng lệ tọa lạc trên bãi biển lộ dần trước ánh đèn pha. Kì Phương cua xe vào trong sân rồi bước xuống dẫn cô vào trong sảnh. Gã nhân viên có chiếc nơ trên cổ áo mau miệng chào anh nhưng cặp mắt của hắn ta lại hướng về cô gái phía sau.
- Anh chị cần thuê phòng?
- Phiền anh gọi lên phòng 307, báo cho ông Paul Morierre có người đến gặp. – Kì Phương nói.
Gã nhướng mày ra chiều suy nghĩ.
- Vâng, anh chờ lát. – Anh ta cầm máy ấn số rồi áp lên tai khá lâu, mắt liếc thêm cô gái mấy chập mà hắn cho là ăn đứt mấy ả người mẫu quen mặt thường lui tới đây cùng các đại gia.
- Chẳng ai nghe máy cả. – Anh ta lắc lắc cái đầu húi cua rồi nói. - Có lẽ ông ta đang bận?
- Ông ta có ra ngoài không? – Kì Phương hỏi.
- Cũng có thể. - Gã đảo ánh mắt lơ đãng một cung tròn rồi nhìn Thi Nga gợi ý. - Cô là người nhà của ông Paul à? Khách khứa ra vào quá đông, tôi không để ý lắm. Nếu cần nghỉ ngơi, anh chị cứ đặt thêm phòng?
- Chúng tôi không có nhu cầu thuê phòng. – Thi Nga cắt ngang lời anh ta.
- Không thuê phòng? - Anh chàng lễ tân chỉ tay về phía ghế sôfa. - Vậy thì xin mời anh chị!
- Vâng, chúng tôi sẽ đợi. – Cô đáp.
Thi Nga biết nhược điểm của ba cô là hay quên. Nếu ông ta ra ngoài đi dạo một mình, cô chỉ hi vọng rằng đêm nay ông nhớ đường về. Cô không thể liên lạc cho ông vì ông không dùng điện thoại di động nhưng cô cho rằng như vậy tốt hơn, bởi hễ cứ mua tặng ông hôm nay thì lại mất vào hôm sau.
Ngồi trong sảnh có tường kính nhìn ra bãi biển, Thi Nga xua tan sự lo âu của mình bằng cách thả hồn theo những đám mây lởn vởn ngoài biển xa.
Trong khi cô ngắm biển thì Kì Phương ngắm cô. Da trắng, tóc dài, mũi thanh, môi hồng... không trang điểm. Không giống đồng tử xanh leo lẻo của cha, cô giữ sắc tố đen thăm thẳm của mẹ trong đôi mắt to tròn đầy vẻ ngây thơ. Tạo hóa đã mang cho cô sự hợp bích giữa nét thanh nhã của người phương tây và sắc màu đằm thắm dung dị của phụ nữ An nam. Nàng như một công chúa Chămpa kiều diễm vừa bước ra từ truyện cổ tích. Ánh trăng vàng lả lướt bên khung cửa làm cho khuôn mặt đầy mộng mơ của cô càng sáng lên đầy huyền ảo. Nàng ngồi đó, chỉ cách một tầm tay mà anh ngỡ như một thiên thần đang bay xa vạn dặm. Máu nghệ sĩ bất chợt nổi lên, anh khẽ nói:
- Tuyệt quá! Thi Nga cói thể cho tôi kí họa được không?
Cô gái quay lại với nụ cười hiếm hoi. Tuy nhiên dù cô có đồng ý hay không thì cuốn sổ và chiếc bút đã nằm gọn trên tay anh. Từng vẽ hàng trăm khuôn mặt danh tiếng và nhiều người mẫu khoả thân nhưng chưa bao giờ anh lại run tay như vậy. Vẽ kí họa chỉ cần chộp lấy thần sắc của nhân vật và ghi lại bằng vài nét chấm phá. Tuy sơ lược nhưng người họa sĩ phải tài hoa mới mong thổi được vào bức tranh cả tâm hồn lẫn tính cách. Vừa được vài nét thì giọng the thé của gã nhân viên làm anh cụt hứng.
- Cô Thi Nga có đây không?
- Tôi đây - Thi Nga quên mất đang làm mẫu đứng vụt lên. - Gì vậy anh?
Chàng lễ tân sẵn nụ cười duyên từ xa kèm với một lá thư trên tay. Điệu bộ hệt như sắp ban cho cô một niềm vui lớn.
- Có một lá thư của ông Paul gửi lại đây đấy.
- Thư ba tôi? sao lúc nãy anh không nói ngay.
- Xin lỗi, tôi... quên.
Thi Nga tin rằng gã này có vấn đề. Không đợi anh ta nói hết câu, cô đưa tay đón lấy nhưng bị anh chàng “ có vấn đề’’ này vội rụt tay lại. Lần này gã mạnh dạn nhìn thẳng.
- Khoan đã, lấy gì chứng minh cô là người nhà của Paul?
Thi Nga đành rút cuốn hộ chiếu màu hạt dẻ đưa cho anh ta. Chàng nhân viên nhìn xuống rồi lại nhìn lên mặt cô đối chiếu. Không thể tìm ra lí do níu cô lâu hơn, anh ta trao trả toàn bộ giấy tờ.
Nói là bức thư chứ thực ra là tờ giấy nâu kẻ ô li gấp làm tư. Hi vọng ba cô nhắn lại điều gì trước khi đi đâu đó, cô vội mở ra. Khi trang giấy dang rộng trước mắt, cô không thể ngạc nhiên hơn khi thấy mấy kí tự lạ hoắc:
Cô quay lại hỏi ngay người thanh niên.
- Liệu anh có đùa tôi không? Đúng là ông Paul Morierrre ở phòng 307 viết bức thư này?
- Ơ hay, cô nghĩ tôi vẽ ra để trêu cô chắc.
- Xin lỗi, đúng là ông tây cao cao gầy gầy, râu tóc bạc phơ biết tiếng Việt đúng không?
- Sống mũi dọc dừa và đôi môi màu dưa hấu như cô nữa đấy! – Anh ta bổ sung.
- Phiền anh cho tôi hỏi thêm, ông đưa cho anh lúc nào, ông ấy đi cùng ai, và có dặn gì thêm nữa không?
Chàng lễ tân cảm thấy vinh hạnh ngần nào khi đôi mắt đẹp như mộng kia đang nhìn xoắn lấy mình, cho dù đó là cái nhìn riết ráo đến điên dại. Gã ước gì được chia ra năm câu hỏi và mỗi câu trả lời tương ứng gã sẽ thêm thắt cho thêm phần lì kì hồi hộp để đứng ngắm người đẹp đến hết cái buổi trực đêm buồn tẻ này. Nhưng nhìn khuôn mặt có phần tím tái và một anh chàng hầm hầm đeo bám phía sau buộc gã phải hủy sự bông đùa của mình.
- Ông ta viết lúc rời khách sạn cách đây chừng hai tiếng. Viết xong ông đưa cho tôi và bỏ đi, hình như đi một mình...
- Anh có nhớ ông đi đường nào không?
Anh chàng lại tỏ ra động não nhưng Kì Phương kéo nhẹ tay cô. Mắt anh nãy giờ không rời tờ giấy rồi nói:
- Tôi biết đây là đâu. Ta đi thôi.
Thoáng chút ngạc nhiên nhưng không hỏi thêm, cô bước theo anh. Chiếc Ford Ranger như một mũi tên vùn vụt trực chỉ Mỹ Sơn.
Chương 4
Sau cú điện báo kèm theo những tấm ảnh hiện vật vừa bị đào trộm gửi đến, Paul rất kinh ngạc và hoảng hốt bởi đúng nó là báu vật mà ông đã mang về từ kho báu Naga mười hai năm trước. Thật khó tin là có kẻ đã biết vị trí bí mật đó.
Trên đường đến Mỹ Sơn, ruột gan ông như lửa đốt và chỉ mong tang vật vẫn nguyên vẹn tại hiện trường. Chỉ có ông mới biết được rằng cổ vật này là chiếc chìa khóa để ông tìm lại kho báu Naga đang thất lạc trong rừng sâu. Nếu cổ vật này bị mất thì con đường đến Naga sẽ vĩnh viễn khép lại hoặc mất hẳn vào tay thế lực xấu. Mười hai năm trước, sau hơn một tháng ẩn mình trong thánh địa Naga, ông tin những kẻ phục kích bên ngoài tưởng ông đã chết nên chúng cũng bỏ đi. Quyết định rời Naga, Paul đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã: Nếu mang cổ vật này về quê như đã hứa với vợ, ông sẽ vi phạm tày đình lời nguyền của hội kín, ngược lại, đến chết ông cũng không được thanh thản. Sau những đêm trăn trở suy tính, ông chấp nhận sự trừng phạt của hội kín để cho người xưa được mỉm cười nơi chín suối.
Sau khi thoát ra ngoài hang núi, ông đã mang cổ vật trở về sau nhiều đêm đói khát vượt núi băng rừng như một tên tù vượt ngục. Đến Mỹ Sơn, biết mình khó thoát khỏi sự trừng phạt tàn khốc, ông tính cách đào tẩu. Ông sẽ trốn về Pháp một thời gian chờ tình hình lắng xuống rồi sẽ trở lại trình báo báu vật cho nhà chức trách. Trong tay ông lúc này gồm báu vật, một tập tư liệu về Naga và tấm bản đồ. Báu vật sẽ ở lại Mỹ Sơn đúng như ước nguyện của vợ ông. Còn bản đồ và tư liệu thì ông biết không nên mang theo người. Bởi nếu hai thứ này cùng lúc rơi vào tay kẻ xấu thì lập tức Naga sẽ bị bại lộ. Sau khi cân nhắc, ông quyết định chỉ mang theo tập tài liệu.
Sáng nay, ông đã dạo vòng quanh thung lũng sau nhiều năm vắng bóng. Điều ông mừng là công tác trùng tu đã được nhà nước quan tâm hơn trước. Nhiều hạng mục di tích đã được được công nhận và có kế hoạch trùng tu phục chế bài bản. Đây không còn là sân riêng của người Pháp mà còn rất nhiều chuyên gia Ý, Anh và Nhật đã nhập cuộc. Sáng nay ông cũng không quên dò lại vị trí mà ông đã lén lút chôn báu vật và thấy nó vẫn nguyên xi. Ông đã lặng lẽ đứng đó hồi tưởng rất lâu. Thôi chết rồi, cái giây phút thả lòng kia đã bị ai đó theo dõi. Chúng sẽ đoán ông đang tìm gì ở đó.
Chiếc taxi đã tiến sát bìa rừng, ông tìm lối tắt đi thẳng tới thánh địa. Không một bóng người, ánh trăng vằng vặc phủ tràn thung lũng trong veo đến diệu kì. Họ đi đâu cả rồi? Hay có kẻ bày chuyện đùa ông? Ông tìm đến vị trí đó rồi gạt đám lá mục phủ đầy mặt đất và nhìn xuống thảm cỏ dại vẫn y nguyên như sáng nay, không có vết đào bới. Té ra mấy bức ảnh kia là đồ giả mạo mà kẻ đó đã bày mưu để lừa ông. Định cất bước trở về thì có tiếng loạt soạt sau lưng ông rồi một bóng đen đi tới.
- Đứng im tại chỗ!
Paul giật nảy người định bỏ chạy nhưng trước sau đều bị chặn. Biết đã trúng kế, ông chỉ biết đứng chôn chân mà nhìn. Một người đàn ông lực lưỡng lao tới bẻ quặt tay ông về phía sau để cho người khác trói lại.
- Có đúng chỗ này không? - Một người chỉ tay xuống đất hỏi.
- Mày nói gì? – Paul hỏi lại.
- Đừng giả vờ nữa. - Người to con dằn giọng. - Đào nó lên cho lão trắng mắt ra!
Một người thấp đậm dáng rất thạo việc vẽ một vòng tròn quanh vạt cỏ nơi ông vừa gạt đám lá khô. Tiếng cuốc xẻng chan chát thi nhau bập xuống xới tung cả khoanh đất rộng. Khi hố đã sâu ngang thắt lưng, một người dùng xẻng nhảy xuống cẩn thận xén sâu thêm từng lát đất nhỏ.
- Nhẹ tay thôi, kẻo làm hỏng việc. – Người đứng trên nhắc nhở.
Khi mũi xẻng chạm nhẹ vào một vật cứng vang lên một tiếng “ coong’’ trong ngần, y reo lên.
- Đây rồi! chính nó đây.
Đầu óc Paul chao đảo, ông sụm xuống bất lực nhìn hai kẻ lạ mặt nẫng báu vật mà ông phải đánh đổi cả máu và nước mắt mới có được. Vậy là sau bao năm ấm ủ những sứ mệnh thiêng liêng cao cả nay đã tan theo sương khói.
Hai tên trộm cho linh vật vào bao rồi đẩy ông đi về phía bờ suối rậm rạp cánh đó mấy chục bước chân.
- Cả sư! – Một kẻ cất tiếng. – Phần việc chúng tôi đã xong!
Paul ngỡ ngàng khi nghe danh xưng này, ông liền nhìn quanh xem còn ai nữa không. Dưới tán cây tối om lờ mờ hiện ra một người khoác áo choàng trắng đang tọa thiền trên một tảng đá lớn bên bờ suối. Paul căng hết thị lực nhìn người đó có đúng là kẻ mà ông suýt giáp mặt ở kho báu Naga năm xưa hay không. Nhưng nhận diện sao nổi khi ông chưa thấy mặt kẻ nằm bên ngoài vách đá và chỉ để một bàn tay bị cắt cụt trên ngực áo vợ ông. Một bàn tay cụt. Đó là tất cả những gì thuộc về xác thịt mà ông tận mắt chứng kiến về một hội kín khét tiếng trong lịch sử bán đảo Đông Dương cổ đại. Không lẽ hắn sống dai đến thế và còn đeo bám ông đến tận nơi đây hay sao.
Nếu đúng là hắn, thì nhận định bao nhiêu năm nay của ông về kẻ tà giáo cuối cùng đã chết hoàn toàn sai lầm. Đôi mắt ông đã quá mờ để nhìn kẻ đang ngồi trước mặt. Nếu không phải hắn thì là đồng bọn của hắn. Chúng chưa chết. Chúng đã trở lại đây để đòi lại linh vật và trừng phạt hai cha con ông cho trọn một lời nguyền độc ác đã tồn tại từ ngàn đời nay.
Hóa ra bao nhiêu năm nay ông vẫn chưa thoát được sự bủa vây của hội kín này. Chúng không lụi tàn, ngược lại, chúng đã cài người trong giới khoa bảng để leo cao rồi luồn sâu khắp hang cùng ngõ ngách nhằm bóp nghẹt những phát hiện và manh mối kho báu từ trong trứng nước. Chúng khoác lên vai những chiếc áo tu sĩ và trà trộn trong giới chức sắc Bàlamon. Chúng có mặt khắp nơi, từ đời thực cho đến cả trong ác mộng. Hắn là Cả sư ư? Paul nhìn kẻ đang tọa thiền trước mặt mà cười thầm một cách chua chát rồi bất chợt chỉ tay hắn rít lên.
- Chính mày? Mày đã theo tao từ Naga? mày là con rắn độc, rắn độc Naga!...
Tiếng gào vang lên một góc rừng rồi tắt nghẹt khi một tấm khăn đen chụp kín mặt. Trời đất tối sầm khi ông bị nhấn chìm xuống suối. Bộ quần áo giản dị trên người lần lượt rơi xuống. Toàn thân lạnh toát rồi từng mảng da bợt bạt co dúm trong làn nước lạnh. Con suối thiêng. Nếu được chết trong làn nước trong vắt này vẫn là diễm phúc nhưng Paul biết đây chỉ là khúc dạo đầu trong một nghi lễ tế thần rùng rợn mà ông đã từng nhìn thấy tranh khắc trên vách đá ở thánh địa Naga. Nghĩ đến đây ông rùng mình rồi ngất lịm.
Chương 5 Thực ra, chỉ liếc dòng kí tự trên Kì Phương đã biết ngay Paul muốn nói gì, và nó cũng chẳng có gì là bí mật cả. Các nhóm kí hiệu A1, A2,... B1, B2... do nhà khảo cổ kiêm kiến trúc sư người Pháp Henri Parmentier phân loại và đặt tên cho các di tích đền tháp khi ông nghiên cứu thánh địa Mỹ Sơn từ những năm đầu thế kỉ XX. Vì tính khoa học và đảm bảo sự nhất quán trong nghiên cứu nên các kí hiệu đó vẫn được tiếp tục sử dụng đến nay. Nó cũng phổ biến trong các bản đồ và tập san du lịch đến nỗi nhiều du khách cũng thuộc nó vanh vách. Kì Phương đoán Paul đang có mặt tại một trong bốn ngôi tháp đó. Paul là người rất kiệm lời, ưa chơi chữ, mê thơ ca và đặc biệt là hay dùng các kí hiệu khoa học vào đời thường. Có giai thoại kể rằng, khi công tác ở Mỹ sơn, sống kiếp vô gia cư, không phương tiện đi lại nên Paul đã căng lều ngay bên cạnh tháp cho tiện làm việc. Lúc in danh thiếp để liên lạc, trên phần “ địa chỉ văn phòng’’ ông chỉ ghi độc một chữ “ B1’’
Đường sá về khuya vắng tanh vắng ngắt, sau hơn một tiếng lao nhanh trên những con đường rừng quanh co họ đã đến gần khu di tích. Chiếc Ford tiếp tục phá tan giấc ngủ của rừng núi để tiến về thung lũng thiêng.
- Tôi thật lấy làm lạ. - Kì Phương cất giọng trách móc. – Đêm hôm thế này cha cô đến Mỹ Sơn mà không nói cho tôi một câu, dù sao đây cũng là thổ địa của tôi.
Thi Nga nãy giờ nín thinh suy nghĩ miên man và sợ làm anh phân tán nên không dám hé môi. Khi anh nói, cô mới chịu lên tiếng.
- Hay là ba tôi bị ai bắt cóc vào đây?
Hôm nay Kì Phương đã chứng kiến tận mắt Paul được nhiều người săn đón không khác gì minh tinh màn bạc. Nhưng kẻ hâm mộ ông đến mức bắt cóc thần tượng lôi vào rừng khuya thế này thì anh không tin.
- Chắc không ai bắt cóc ông cả. Ba cô còn viết thư, mà gã đeo nơ nói ông đi một mình mà. – Kì Phương trấn an. - Mà biết đâu ông vào đây thăm lại nhà cũ thì sao.
Tuy lí do này không thực tế nhưng Thi Nga vin vào đây để tự trấn an mình. Từ thủa tấm bé, cô biết ba mình đã coi Mỹ Sơn là nhà. Nơi đây là cảm hứng vô tận của đời ông và còn là nơi bắt nguồn tình yêu giữa ba và mẹ cô. Nhưng đời cho ông cái gì thì cũng lấy đi cái đó, Mỹ Sơn lại là nơi chứng kiến cuộc chia lìa đầy tang thương của gia đình họ.
- Hình như ba tôi sáng nay đã thăm Mỹ Sơn rồi cơ mà? - Thi Nga hỏi.
- Đúng, nhưng chắc là ba cô bỏ quên cái gì đó nên quay lại, chẳng phải tính ba cô dạo này lãng trí mà.
Chiếc xe giảm tốc khi đường hẹp lại. Khi không thể chạy tiếp qua con dốc cao, Kì Phương bảo cô xuống.
- Cô leo núi được chứ? – Anh chỉ đôi giày cao gót.
- Được, anh đi trước đi!
Đáp xong, cô chợt rùng mình khi nghĩ phải đi vào rừng vắng với một người đàn ông mà cô chưa hiểu biết. Cô đã quên mất rằng thủa tấm bé trên chính con đường mòn này anh đã dẫn cô đi hái trái me dại mỗi khi chiều về. Cô dũng cảm tiến bước với ý nghĩ rằng cha cô đã chọn mặt gửi vàng, nên chắc anh ta không dám đi quá giới hạn tại một nơi linh thiêng như thế này.
- Tuy khó đi nhưng đường rất ngắn. - Anh nói. - Qua con dốc nhỏ này nữa là tới.
Sau một hồi luồn lách trong rặng cây tối om, một quang cảnh thần tiên lấp lánh dưới ánh trăng rằm hiện ra.
- Nhìn kìa! – Kì Phương thốt lên.
Hằng hà sa số những giọt sương li ti đang phủ trắng trên những ngọn tháp nâu mờ ảo. Khu đền run rẩy hiện lên đầy huyền diệu. Mặc dù đã ngắm khu tháp tới ngàn lần nhưng Kì Phương không khỏi thẫn thờ trước cảnh trăng đêm nay.
- Tuyệt quá! - Thi Nga cũng thốt lên. - Không lẽ ba tôi một mình đến đây ngắm tháp sao?
Kì Phương tỏ ra am hiểu Paul như hiểu về ba ruột của mình:
- Ba cô vẫn lãng mạn như hồi nào, dân kiến trúc mà. Sống lâu năm ở đây, ông ấy biết lúc nào là đẹp nhất. Có điều là cảnh đẹp thế này mà cha cô đi một mình thì hơi phí.
Kì Phương cầm nhẹ tay cô rồi bước lên những bậc thềm rêu phong tiến về chân tháp gần nhất nhưng cô không sao nhấc chân nổi. Cô nao lòng ngước nhìn những ngọn tháp tuyệt mỹ của tổ tiên để lại nay chỉ còn là những hình hài cụt đầu đổ nát nằm giữa rừng hoang rồi một cảm giác nhói lên trong tim làm cô muốn khụy xuống. Những thây ma tróc lở.
Cô xót xa nhìn những thứ không hề giống như người ta bấy lâu nay ca tụng mà thay vào đó là quang cảnh quạnh hiu điêu tàn. Đúng như một nhà thơ Chăm đã viết mà ba cô thường ngâm nga mỗi khi chiều về:
“ ... Tháp hoang, như thình lình mọc lên từ đất...
Lông lá... âm u... dọa nạt... tháp hoang.
Nổi cộm giữa chiều trời ma quái.
Ung nhọt trên làn da mềm mại.
Thảm rừng già xanh... ’’.
Cô gắng kìm khỏi òa khóc. Mỹ Sơn đây ư? Ai đã tàn phá thánh địa linh thiêng? Ai đã đánh cắp linh hồn của tôi? Vậy là sau hơn mười năm dài đằng đẵng, cuối cùng cô đã được đặt chân trở lại chốn xưa, nơi cốt nhục ngàn đời không thể nào quên. Mẹ ơi! Trong thoáng chốc, một linh cảm lạ lùng làm cô sực tỉnh.
- Hãy tìm ba ngay!
Kì Phương lấy tờ giấy xem lần nữa rồi soi đèn lên bảng sơ đồ bằng bảng gỗ mặc dù anh đã thuộc như lòng bàn tay.
- Cô thấy các khu A, C, D, E chưa? - Anh lại chỉ về phía ngọn tháp gần nhất bên phải. - Trước mặt ta là khu B và C, nếu không tìm thấy ta qua suối để đến khu E và A. Ba cô chắc đang ở một trong bốn khu tháp kia.
- Vâng! – Thi Nga chỉ lên tờ giấy. - Thế còn cái dấu móc { úp trên đầu là gì?
- À, kí hiệu chóp nhọn, ý nói rằng bốn chữ cái đó chỉ bốn nóc tháp.
Thực ra, chỉ vài tháp thuộc nhóm B và C là còn có nóc nên bên trong rất kín và còn có những bệ thờ hoặc hiện vật, còn lại làm gì còn nóc. Nhưng để không bỏ sót, Kì Phương quyết định vào tất cả các tháp kín khu B, C tìm kiếm. Sau một hồi lùng sục cả trong lẫn ngoài tháp, Kì Phương lắc đầu nói.
- Không có, ra khu D ngay.
Khu D trải rộng phía sau khu B và C. Kì Phương cầm đèn chạy ngay ra phía ngôi tháp D6. Tuy nhiên tháp này hiện đã sụp đổ và chỉ còn vài bức tường vụn nát nằm trong cỏ dại. Kì Phương định đi về phía hai ngôi tháp dài khá nguyên vẹn tuy đã sụp mái là D1 và D2 im lìm trong đêm nhưng hai gã khổng lồ cụt đầu đang đứng gác. Khi soi đèn xuống đất, anh nhận ra những dấu chân nhàu nát trên cỏ.
- Xem này. - Anh khẽ gọi.
Hai người hồi hộp soi đèn lần theo và nhận thấy những dấu chân này đi ngược ra cổng rồi mất hút trong ngôi tháp B3. Kì Phương lấy làm lạ vì tháp này không được Paul ghi trong tờ giấy. Ngôi tháp này vuông vắn, khá cao còn tương đối nguyên vẹn ngoại trừ đang bị nghiêng và có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Anh ghìm tay Thi Nga ra dấu im lặng rồi soi đèn nhìn vào khe cửa như miệng một con quái thú khổng lồ đang há chờ mồi trong bóng tối. Không thấy gì, anh vỗ nhẹ vai Thi Nga nói khẽ:
- Cô đứng đây, một mình tôi vào là đủ. – Nói xong anh bước qua khe cửa hẹp sâu hun hút, mùi ẩm mốc trộn lẫn mùi tanh lợm xộc vào mũi. Trong lòng tháp lạnh đến rợn người, choán gần hết không gian chật hẹp là một bệ thờ chỉ còn mỗi yoni cao ngang thắt lưng nhưng cái thứ đang nằm trên đó mới làm anh giật mình lùi lại. Tay run run soi đèn lên yoni và anh không tin nổi thứ chất lỏng đang đọng lại trên đó. Máu? Kì Phương lạnh buốt xương sống khi nghĩ một chuyện khủng khiếp vừa diễn ra nơi đây. Tiếng giày lộc cộc ập đến phía sau.
- Gì thế anh?
- Có lẽ do... nước mưa! – Anh lúng túng đáp.
- Tháp này có nóc mà! – Cô sấn sát bệ đá rồi thốt lên. - Không lẽ đây là máu?
Thi Nga rút trong túi ra một mẩu giấy rồi chấm vào thứ chất lỏng. Nó có màu đỏ tươi.
- Máu thật sao? – Cô uôm người về phía trước và chỉ cách bệ đá vài phân.
- Máu thật, không lẽ... ? – Giọng cô òa lên đầy sợ hãi.
- Đứng lùi ra. – Kì Phương chộp lấy vai cô ghìm lại, tưởng chừng như nếu nắm hụt, cô nàng sẽ đổ nhào lên bệ thờ.
- Máu? ba tôi bị làm sao rồi... ba ơi, ba ở đâu? – Cô òa lên.
Kì Phương biết không sớm thì muộn cô cũng thốt ra điều hãi hùng đó. Điều mà anh đã nghĩ tới nhưng không dám nói trước. Có một mạng sống tươi rói nào đó vừa được hiến dâng cho thần linh. Một bữa tiệc sặc mùi tà giáo ghê tởm nào đó vừa diễn ra ngay trước mắt và ngay trên chiếc mâm đá có tên yoni kia. Mùi tanh nồng đang xông tỏa ngập ngụa gan ruột làm cô chạy vội ra ngoài tránh nôn tháo ra một cách bất nhã không thể tha thứ chốn linh nghiêm. Lau miệng xong, cô lấm lét bước vào. Không xông xáo như lúc nãy, trông mặt cô tái mét và bơ phờ như vừa trút hết sinh lực ra khỏi cơ thể. Kì Phương biết mọi thứ vẫn chưa bắt đầu. Điều khủng khiếp nhất vẫn đang chờ cô phía trước.
Kì Phương tuy bình tĩnh hơn nhưng cũng không thể giấu sự nao núng. Anh không muốn tin đó là máu, nhưng mùi tanh, và màu đỏ tươi đã là câu trả lời. Vết máu trên các dụng cụ thờ cúng không phải là hiếm. Từ thời cổ đại, máu đã chảy thành suối trên các đài thờ Thần Mặt trời của người Maya, người Da đỏ và nhiều bộ tộc Châu phi gần đây vẫn còn giết gái trinh và trẻ em để lấy máu tưới lên các biểu tượng tôn giáo. Mà chẳng cần viện dẫn đâu xa, ngay trên thánh địa Mỹ Sơn này có nhiều tài liệu chép lại những nghi lễ hiến sinh cho thần Siva. Trên các bia kí có nói đến lễ hiến tế bằng máu ngựa trắng, dê trắng, trâu trắng bị cắt cổ để cúng thần trên các chùa tháp. Nay một người đàn ông da trắng có lẽ là một món tế không tồi. Trên nhiều tấm bia kí còn kể triều đình đã hiến đàn ông, đàn bà và cả tù binh và cho các vị thần. Kì Phương cố xua đuổi những ý nghĩ rợn người vừa ùa đến, và vẫn để trấn an Thi Nga là chính, anh nói:
- Chắc không phải máu, mà nếu máu thì chưa hẳn là máu người.
Kì Phương đứng lên và thấy nhột lạnh ngón chân, anh nhìn xuống mũi giày vải và nhận ra vài giọt máu rỉ từ phễu yoni đã thấm đẫm một vệt lớn. Rút bàn chân lại, máu đã đọng thành vũng dưới nền gạch cũ. Kì Phương thầm nghĩ, một người già yếu như Paul có sống nổi sau khi mất nhiều máu thế này không. Bỗng nhiên Thi Nga loạng choạng đổ sụp xuống trước bệ đá như thể đó chính là ba cô đang trong cơn hấp hối.
- Ba ơi!
Khoa học chưa thể chứng minh được hiện tượng thần giao cách cảm, nhưng họ không thể phủ nhận có một sợi dây thông tin sinh học kì diệu giữa con người cùng huyết thống. Kì Phương loay hoay cố gắng tìm mọi cách để Thi Nga không suy sụp lúc này nhưng vô ích. Anh dìu cô ra ngoài rồi nói.
- Cô đừng hoảng, chưa có cơ sở nào chỉ ra ba cô đã chết đâu.
Kì Phương lại rút bút tích của Paul ra như một bảo bối, mặc dù anh biết nó đã hết thiêng.
- Chúng ta phải sang bên khu A, biết đâu ông đang ở bên đó thì sao? – Kì Phương không tin lắm điều mình vừa nói, vấn đề là anh muốn kéo Thi Nga ra khỏi đây và nuôi dưỡng thêm niềm hi vọng đang thoi thóp của cô. Sự gợi mở làm cô gái kịp trấn tĩnh giây lát, niềm lạc quan như được đánh thức. Cô giằng lấy đèn pin trong tay Kì Phương và gạt nước mắt.
- Cha tôi bỏ khách sạn rất đột ngột, nhất định ông không thể một mình đến đây.
- Cứ bình tĩnh! Mọi việc sẽ tốt đẹp thôi.
Kì Phương không nghĩ là cô ta đã thay đổi suy nghĩ nhanh như vậy. Trong vài giây từ chỗ tin cha mình đã chết bỗng quay ngoắt tin cha cô đang sống. Bây giờ anh mới nhận ra niềm tin tích cực có sức mạnh như thế nào. Kì Phương thở phào vì đã thắp lên chút niềm tin nhỏ nhoi trong cô tuy anh biết rằng nó có thể vụt tắt bất cứ lúc nào. Kì Phương biết đang có nguy hiểm rình rập họ nhưng anh không muốn chạy khỏi sự thật là một ai đó có thể đang hấp hối đang cần cứu quanh đây. Anh chỉ tay về phía bên kia con suối nói:
- Chạy nhanh xem.
Lần này không để anh dẫn lối, cô băng qua cây cầu nhỏ bắc qua con suối đang chảy ào ào. Mặt đất trơn và đôi giày cao gót đã buộc cô đôi ba lần phải vồ ếch. Qua suối có một ngã ba nhỏ trên triền dốc, cô dừng lại chờ anh. Kì Phương nói:
- Bây giờ chia ra để tìm cho nhanh, cô đi về bên phải bên có khu F đang bảo tồn. - Anh quay đầu chỉ ngược lại. - Còn tôi sẽ chạy sang nhóm A xem sao. Cô dám đi một mình không?
- Tôi dám!
Kì Phương đi được chục mét thì thấy sờ sợ bèn đứng lại nghe ngóng. Phía trước mặt anh lồ lộ dưới ánh trăng những hố đào và những đống gạch đá lởm chởm mà các chuyên gia Ý vừa quy tập chiều nay. Mặc dầu tối trời nhưng do quen thuộc địa hình nên anh đã chạy một quãng khá xa. Đất dưới bàn chân trơn nhẫy như được dội mỡ. Kì Phương chỉ kịp kêu “ ối’’ lên một tiếng rồi té nhào xuống một hố sâu. Chưa kịp định thần thì anh đã sởn gai ốc khi sờ trúng một dị vật cộm lên dưới mặt. Anh trương mắt ra nhìn. Dưới ánh trăng yếu ớt chiếu qua vòm lá, anh nhận ra dưới mặt mình là tột đỉnh của một bi kịch. Điều kiêng kị nhất cuối cùng vẫn đến. Khuôn mặt trắng bệch của Paul lộ ra dưới lớp đất tươi.
Chương 6
Trên quốc lộ 1A, chiếc Audi A6 màu đen lao với tốc độ chóng mặt tiến vào thành phố Đà Nẵng từ cửa ngõ phía nam. Trời đã mờ sáng nhưng các con phố và giao lộ hầu như vắng ngắt trong ánh đèn đường vàng vọt. Đến một ngã ba, chiếc xe rẽ vào phố Lê Đại Hành rồi lại tăng tốc nhằm hướng sân bay. Trên hàng ghế sau có hai người đàn ông, một to cao, một gầy nhỏ. Mặc dầu không nói gì suốt quãng đường dài nhưng có vẻ họ khá lưu luyến trước khi chia tay. Ngồi cạnh nhau, người thấp bé chốc chốc ngước lên nhìn trộm người kia đang ngả mình lim dim trên nệm ghế.
Dung mạo người to cao mới trông đã biết ngay là ngoại quốc: lông lá, mùi hăng, mũi cao, mắt sâu, nước da đen sạm chắc bền như được xông khói từ suốt mấy kiếp trước. Chỉ vài phút nữa là tiễn khách, không để không khí tẻ nhạt kéo dài mãi, người thấp bé với tư cách là chủ nhà bèn lên tiếng trước.
- Tôi hỏi khí không phải, ông anh là người... Ấn Độ?
Người to cao cựa mình cười mỉm, mắt phóng về phía trước rồi đáp lại bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ.
- Ông nói chỉ đúng một nửa.
- Sao cơ? - Người nhỏ bé giương to mắt. - Đúng là đúng mà sai là sai chứ?
- Xác mọc đất Miên, hồn ngự Mêru(3). – Anh ta đáp.
Người thấp bé vẫn láng máng cho đến khi nhìn thấy hình ảnh Siva bằng kim cương lủng lẳng trên sợi dây chuyền trước ngực. Người Miên theo theo đạo Bàlamôn. Thú vị với phát hiện của mình, người nhỏ thó càng tò mò. Mới chỉ vài phút quen nhau nhưng đã để cho anh ta không ít ấn tượng về thanh niên ngoại quốc này. Người to cao vẫn nhìn phía trước, chỉ có đôi tròng mắt như hai hòn bi đang động đậy. Ánh đèn pha của những ô tô ngược chiều phả những luồng sáng thoắt đỏ thoắt vàng trên nước da đen cháy tựa như thân xác y được đúc tạc bằng đồng thau vậy.
- Tiếng Việt của anh không tồi, chắc anh thường sang Việt Nam làm ăn?
- Tôi vẫn thường đón bình minh trên các resort bãi biển Sơn Trà, tiếc rằng lần này về cứ như chạy trốn.
- Vâng... - Người thấp bé cúi xuống tỏ chút ngượng ngập. – Chúng ta đều thừa lệnh Cả sư thôi mà.
Nghe đến “ Cả sư’’ người to cao ngoái lại nhìn chiếc vali đang an toàn trong cốp sắt mới an tâm quay lên nhưng không giấu nổi nét căng thẳng bất chợt. Xe lao nhanh hơn. Anh ta ngước cặp mắt đầy chất latin đượm buồn ngoái ra ngoài cửa sổ nhìn xa xa về phía đằng đông đầy vẻ tiếc nuối. Thấy vẻ mặt đầy tâm trạng của một kẻ sắp rời xa chốn mình yêu thích, người nhỏ bé chẳng nỡ gây xáo trộn khoảng khắc yên lặng ngắn ngủi này của y. Hai người im lặng cho đến khi chiếc Audi dừng hẳn. Người nhỏ bé xuống chạy vòng ra sau mở cốp xách vali cho y vào sâu trong sảnh đón rồi chủ động đưa tay ra bắt.
- Chúc đạo sĩ thượng lộ bình an!
Gã to cao suýt bật cười khi lần đầu tiên có người gọi mình là “ đạo sĩ’’. Thấy người bỏ bé lưỡng cưỡng chưa muốn dứt ra, y hỏi.
- Hình như ông có điều gì muốn dạy tôi?
- Ấy, không dám... tôi thấy đạo sĩ có nét gì đó hơi... quen quen, có phải tên ngài là... Shi...
- Xuỵt! - Người cao lớn trỏ vội ngón tay lên môi. - Thốt tên người khác nơi công cộng là không nên.
Y lần tay sau quần móc một tấm card rồi đưa cho người nhỏ bé. Người này đón lấy đọc ngấu nghiến, một thoáng sau ngửng lên vẻ mặt muôn phần kinh ngạc. Vua đồ cổ. Lúc này anh ta mới nhận ra trước mặt là một con người mà không phải ai cũng có cơ may được gặp một lần trong đời. Thảo nào từ đầu đã toát lên vẻ uy nghiêm khó gần, một chút lịch lãm và thừa ngạo mạn. Miệng lưỡi người nhỏ bé vốn đã sống sượng nay lại càng xơ cứng không thốt nên lời. Người to cao vỗ nhẹ vai anh ta.
- Nếu có cơ hội, đừng ngại gọi cho tôi. Nhiều người đã đổi đời sau khi họ gọi cú đầu tiên cho tôi đấy!
Người nhỏ thó xúc động đến nỗi mặt co lại, từng nhúm da bên khóe mắt giật lên từng hồi. Với công việc và chức năng của mình, anh ta hiểu từ “ cơ hội’’ ở đây là gì. Đó là đồ cổ.
- Đứng lâu nơi công cộng cũng không tốt đâu. Tạm biệt! - Người cao lớn vỗ vai cho anh ta tỉnh lại rồi ném một nụ cười bí hiểm trước khi bỏ đi.
Luôn luôn “ gieo hạt’’ là phương châm làm việc của y. Một thói quen tốt và rất đơn giản, với xấp card dày cộp đầy hai túi sau chiếc quần bò Levi’s, y không ngừng gieo xuống các mảnh đất tiềm năng. Với con mắt nhà nghề, y biết đâu là những đối tượng cần thiết lập quan hệ, đâu là đối tượng không nên la cà. Không hề vung vãi danh hão như một số doanh nhân học đòi, những tấm danh thiếp của y luôn đặt đúng nơi đúng chỗ. Đó là những nhà khảo cổ có tâm địa, những tên bảo vệ bảo tàng tham lam, và tất nhiên không thể thiếu những tên trộm đồ cổ người bản địa-kẻ mà hắn cho rằng sẽ mang niềm vui bất ngờ nhất.
Trong quá khứ đã có không ít những nhà sư biến chất trước khi từ giã cõi tu hành đã không quên ẵm về cho y bức tượng Phật vô giá. Bây giờ điểm lại, tài sản nhiều trăm triệu đô la của y đang ngày một phình to mà một phần không nhỏ đã đến từ những tấm card nhỏ xíu đó. Thật khó tin.
Sân bay quốc tế hiện đại này đã mở chuyến bay thẳng Đà Nẵng – Pnompenh càng làm cho “ con đường đồ cổ’’ của y ngày một hanh thông nhưng hôm nay còn sớm nên chỉ lác đác vài người. Bước về phía quầy check in, y cúi gầm mặt nhìn những áng đèn phản chiếu rực rỡ trước mỗi bước chân.
Mọi giấy tờ được y chuẩn bị kĩ lưỡng đã lọt qua khe thủ tục sân bay suôn sẻ như bao phi vụ trước đây. Ngồi khép lặng một góc trong phòng chờ, y mở lại chiếc vali ngó vào lần nữa. Một nỗi nghi hoặc bắt đầu nảy sinh từ khi y nhìn thấy báu vật thiêng này, nhưng giờ đây nó dâng cao và đẩy y đến suy nghĩ phải hành động gì đó ngay lập tức.
Chiếc Boing737 cất cánh khỏi đường băng rồi vếch chiếc đầu da cam như một mãnh thú hướng về phía tây nam. Trót lọt. Y ngả người trên hàng ghế VIP tận hưởng cảm giác khó tả đang dâng trào. Nhưng một sự thật phũ phàng mà y không thể ngờ tới đó là: cổ vật trong chiếc vali này là một trái bom nổ chậm sắp giáng xuống dấu chấm hết cuộc đời đầy dông bão của một vua đồ cổ tầm cỡ thế giới.
*
Mặc dù Kì Phương đã lường trước một kết cục tồi tệ từ khi nhìn thấy máu, nhưng anh không ngờ cái chết của Paul lại thê thảm đến như vậy. Anh vội vã lay gọi rồi ghé nghe nhịp tim. Thấy ông ta đã chết anh bèn lấy máy gọi ngay cho giáo sư Huỳnh Lẫm. Phía đằng xa, Thi Nga có anh bên cạnh, sự can đảm của cô đã rơi mất nửa. Sự sợ hãi bất giác lan tỏa trên những bước chân run rẩy của cô. Ánh đèn trong tay cô chiếu loang loáng tứ phía và tim cô giật thót mỗi khi thấy những pho tượng không đầu của thần Siva và những đứa con mình người đầu voi của Ngài ẩn hiện trong bóng tối.
- Kì Phương, anh ở đâu? - Cô khẽ gọi.
Phủi mặt mũi rồi ngồi dậy, Kì Phương định leo lên miệng hố thì bỗng nghe thấy tiếng cô văng vẳng phía xa. Anh hét với lên.
- Cẩn thận kẻo ngã đấy.
Nhận ra giọng anh, cô gào to.
- Đừng đùa tôi nữa, anh trốn ở đâu?
- Đừng chạy, đứng tại chỗ, tôi sẽ đến.
- Anh làm sao thế? - Nhận ra âm thanh khản đặc của anh thoát lên từ lòng đất, cô ta cuống cuồng chạy về phía anh.
Trong lòng hố sâu, Kì Phương nghe rõ tiếng bước chân rung chuyển mặt đất. Ánh đèn loang loáng ngày một sáng hơn. Cô ta sẽ nhìn thấy tất cả. Kì Phương bỗng dưng thấy hoang mang như chính mình vừa gây một tội ác ghê gớm, và không hiểu sao anh thấy sợ hãi, không phải sợ xác chết sau lưng mà sợ con người sống trước mặt. Anh ước cô ta biến mất khỏi đây. Cô ấy không đủ can đảm để nhìn cha mình lúc này. Kì Phương sợ sẽ phải chứng kiến trái tim non nớt kia tan nát. Cô đang chạy thình thịch trước khi quỵ ngã. Mỗi bước chân cô là một nắm đấm dội thẳng vào lồng ngực anh. Rồi bằng một động tác bản năng, anh ngã ngửa như một khúc cây bị đốn.
- Dừng lại ngay! – Kì Phương hét lên khi nhìn thấy một mũi giày thòi trên mép hố, một tràng đất đá dội xuống mù mịt kèm một chùm sáng chiếu vào mắt.
- Trời ơi! – Cô thét lên. - Anh có làm sao không?
Rõ ràng là cô chưa thấy cái mà anh đang cố che lấp. Vừa nói, cô vừa khom người túm chặt lấy miệng váy rồi duỗi chân nằm dọc theo mép hố. Bàn tay còn lại thõng sâu xuống nhưng vẫn thiếu vài tấc nữa để chạm vào điểm cao nhất của người anh. Kì Phương co rúm người lại một cách vụng về vô tình để cái xác to tướng dưới vai anh lộ ra.
- Đưa tay đây tôi kéo lên!
- Tôi bị chuột rút rồi. - Kì Phương luống cuống chỉnh lại thế nằm. - Hãy để tôi nằm đây chốc lát.
Thấy anh lúng ta lúng túng và có ý không muốn lên, cô giục.
- Nào, đưa tay đây tôi kéo lên!
- Không! Cô ra khỏi đây ngay đi.
Kì Phương cự nự như một đứa trẻ ăn vạ làm cô nổi cáu. Rồi như chợt nhớ ra điều gì, cô kiểm tra lại tư thế của mình rồi ngượng ngịu thu hai vế đùi lên trước khi chuyển sang thế khác mà cô cho là kín đáo hơn. Đặt chiếc đèn bên mép hố, cô nằm sấp trên mặt đất rồi thõng toàn bộ thân trên xuống hố nhưng càng không ổn. Với chiếc áo cổ rộng trễ xuống này, Kì Phương chỉ còn nước nhắp tịt mắt. Đôi bàn tay cô vớt liên hồi trong không khí và cô suýt nữa tóm trúng cái thắt lưng đang phập phồng của anh.
- Đồ hâm, chìa cái tay ra đây!
Bất chấp vòng tay nhiệt huyết đang dang ra, Kì Phương vẫn cự tuyệt. Anh biết rằng chỉ cần cựa quậy, cái vật dưới lưng sẽ làm cô ta ngã lộn cổ xuống đây. Anh không thể tàn nhẫn như vậy được. Cách hành xử kì quặc của Kì Phương lại càng làm cô ta sinh nghi. Cô không vồ vập như trước mà tập trung soi đèn từ mặt đến bàn chân anh hòng tìm ra lí do. Thấy tình hình đã đến lúc nguy ngập, Kì Phương buộc phải tìm cách tống cổ cô ta.
- Tắt đèn đi. – Anh quát.
Ánh đèn vụt tắt nhưng khối thịt vẫn y nguyên và có thể đổ úp lên người anh bất cứ lúc nào.
- Để tôi nằm một lát. - Anh dằn từng chữ. - Cô hãy ra khỏi đây ngay.
- Không được, đưa tay đây! – Cô ta bất thần phóng tay xuống cố vồ một cú quyết định để kết thúc cái trò đùa quái gở này. Đất đá được dịp tuôn xuống lấp đầy mặt nhưng anh vẫn lấy làm mừng vì nó lấp luôn cái xác dưới lưng.
- Cô hãy quay lại khách sạn đi. - Anh gào lên. - Biết đâu ba cô đã quay lại tìm cô.
Kì Phương không hiểu sao lại vuột một câu như vậy, nhưng câu này liền tỏ ra hiệu quả tức thì. Thi Nga thu bàn tay chưng hửng trở về rồi ngồi thượt trên mép hố, nhưng vẫn bướng bỉnh không chịu bỏ đi.
- Cô lái được xe chứ?
- Để làm gì?
- Cô hãy nhanh nhanh quay lại khách sạn ngay, nếu không tìm thấy cô, ba cô sẽ lên sân bay tìm cô đấy.
- Nếu ông ấy đã rời khỏi đây, tôi nghĩ sẽ phải sang Camboge tìm ba tôi mất? Anh đi với tôi chứ?
- Campuchia à? – Kì Phương tưởng cô nói nhầm. - Cô nói nghiêm túc đấy chứ?
- Tôi không đùa vào lúc này!
Kì Phương cho rằng cô nàng láu lỉnh đang bịa chuyện để dụ anh đứng lên nhưng anh không dễ dãi mắc mưu đến vậy.
- Vậy ông hẹn cô sang Campuchia để làm gì nào?
- Thám hiểm một di tích gì đó chưa ai biết tới. Anh chưa nghe ba tôi nói về một thánh địa hay kho báu Naga nào đó sao?
Nghe đến đây Kì Phương chỉ muốn ngồi bật dậy để hỏi cho ra nhẽ, nhưng vừa dựng gáy lên anh đã phải giả vờ mệt mỏi hạ xuống. Không biết từ phía sau Paul có xác nhận điều con mình vừa nói hay không nhưng quả thật mấy hôm nay anh đã nghe phong phanh về chuyện đó. Kì Phương đã định hỏi trực tiếp Paul nhưng ông vẫn chưa dành cho anh một chút thời gian nhưng dù bất luận đúng hay sai thì đây là cơ hội để đẩy cô ra khỏi đây.
- Vậy cô nên nhanh nhanh quay về Rex đi, nếu không ba cô sẽ đi thánh địa Naga mất.
- Nhưng anh đang nằm đây thì tôi không nỡ bỏ đi được.
- Khổ quá, đừng lo. Tôi chỉ bị chuột rút thôi mà, vả lại đồng nghiệp tôi và cảnh sát cũng sẽ có mặt ở đây ngay bây giờ.
Kì Phương rút chùm chìa khóa rồi ném lên miệng hố. Thi Nga đang tần ngần thì có tiếng ô tô vang lên từ xa.
- Họ đến rồi đấy. Cô đi ngay đi!
Chỉ trong vài giây, tiếng sột soạt của đôi giày 9 li đã mất hút. Áp lực tưởng như đã vơi đi nhưng một nỗi ân hận lập tức ập đến giày xéo lấy anh. Mình quá ác với cô ta. Nhưng để cô chứng kiến cảnh này còn tàn nhẫn hơn nhiều. Anh thầm nghĩ sẽ gặp lại cô tại Rex rồi nói hết sự thật này, lúc đó dù có ngất xỉu cũng đã có giường ấm nệm êm. Anh cũng có thể ở đó an ủi vỗ về hàng giờ dù sao cũng dễ chịu hơn là để cô chuầy chòa nơi bùn lầy nhớp nhúa này. Kì Phương nặng nề ngồi dậy dũ bớt bùn đất rồi tìm cách leo lên miệng hố. Xung quanh chìm đắm vào bóng đêm mịt mùng.
Anh nhận ra các kí hiệu mà Paul để lại chẳng liên quan gì đến cái hố mới đào này cả. Còn chỗ tháp có yoni đầy máu cũng chẳng có trong bảng kí hiệu. Paul có một ý nguyện duy nhất là khi chết, tro cốt của mình được rắc xuống Mỹ Sơn. Kì Phương trộm nghĩ hay tờ giấy này là di chúc yêu cầu vị trí rắc tro sau khi chết? Tuy nhiên nhận định của anh có thể làm linh hồn ông nổi giận. Có nhiều học giả nói các đền tháp là nơi mai táng của vua chúa và các tu sĩ nhưng đến nay chưa có bằng chứng khoa học nào khẳng định điều đó. Paul là người phản bác giả thiết này nên càng không thể có ý nghĩ mạo phạm như vậy. Vậy thì bảng kí hiệu kia nói gì? Anh nhìn lại và tiếp tục vắt óc suy nghĩ.
Bây giờ anh mới nhìn kĩ và phát hiện sự hời hợt của mình. Trong danh mục của H. Parmentier không hề có kí hiệu C8. Chỉ có từ C1 đến C7 mà thôi. Nếu C8 không phải là tháp thì là cái gì? Mà ngẫm lại, cả ba ngôi tháp còn lại đều thành phế tích, thậm chí tháp A5 hay D6 đã bị xóa sổ gần như hoàn toàn. Kì Phương băn khăn không biết Paul muốn gửi gắm điều gì trong tờ giấy kia. Việc của ông ta là khai quật báu vật như đã hứa. Nếu biết không sống nổi thì lẽ ra ông ta phải chỉ ra vị trí cho người khác đào. Nhưng thay vì ghi rõ địa điểm thì ông ta lại chơi một mớ chữ hỗn độn thế kia. Hay là ông ta sợ kẻ xấu đọc được nên viết theo dạng mật thư?
Kì Phương nhìn lại mẩu giấy và anh nhận ra rằng đây có dáng dấp của một mật mã cổ điển. Thế nhưng mật mã thế này thì quá ư đơn giản. Cách mã hóa này có từ thời La Mã cổ đại và được sử dụng trong nhiều thế kỉ, nay đã lạc hậu và có thể bị hóa giải bởi bất cứ ai trong vòng vài phút.
Kì Phương không biết Paul đã bí mật trao mã khóa cho ai chưa nhưng anh tin loại mật mã “ vỡ lòng’’ này anh chỉ bẻ gọn mà không cần đến mã khóa. Thực ra bản khóa loại này cũng quanh đi quẩn lại mấy phương pháp cũ mèm như “ thay thế’’, “ đọc ngược’’, “ mưa rơi’’ hay “ chuồng bò’’ gì gì đó... Nghĩa là, khi không có mã khóa thì bất cứ ai bắt gặp mật thư này cũng sẽ thử mò mấy phương pháp kia và rồi cũng ra cả. Rất may là chỉ có 8 kí tự. Bản mã vừa có chữ cái La tinh vừa có chữ số nên ý nghĩ đầu tiên của anh là “ thay thế’’.
A5D6
E3C8
Thay các số thứ tự 1,2, 3... tương ứng với bảng chữ cái A, B, C, đoạn kí tự trở thành: AEDF
ECCH
Nhìn mãi Kì Phương vẫn không thấy có nghĩa gì cả. Nếu đảo lộn bốn chữ AEDF rồi sắp xếp lại theo một trật tự khác thì tạo ra một từ đáng chú ý là “ DEAF “ Từ này trong tiếng Anh có nghĩa là “ điếc’’.
Phương pháp này trong thuật mật mã gọi là “ phép thế Caesar’’ do vị Hoàng đế Lã Mã Julius Caesar sử dụng khi gửi các bức thư mật ra chiến trường bằng cách thay các chữ cái trong thư bằng các chữ khác cách đó 3 chữ trong bảng chữ cái. Trong trường hợp này, Kì Phương biết có thể phải tịnh tiến thêm hai hoặc vài chữ cái nữa nhưng phương pháp thủ công này sẽ ngốn nhiều thời gian và tạo ra vô số nghiệm. Anh tạm gác cách này để chuyển sang cách ngược lại. Đó là biến chữ thành số. Thử thay A, B, C thành 1,2, 3. Dòng kí tự “ A5D6’’ lập tức trở thành: “ 1546’’ Chữ số này trùng với vĩ độ đi qua di tích Mỹ Sơn. Kì Phương nhanh chóng giải dòng tiếp theo trong tâm trạng hồi hộp nhưng số kinh độ đầu tiên đã làm anh thất vọng. E3C8 chuyển thành “ 5338’’ trong khi kinh độ của Mỹ Sơn du di quanh số 108’50’’. Vậy đây không thể là tọa độ chôn báu vât rồi.
Kì Phương dừng tay nhìn lại tổng thể mật thư lần nữa và anh càng chú ý đến cái dấu móc úp trên đầu. Lúc đầu anh cứ tưởng đó là biểu tượng cho cái tháp nhọn, nhưng bản thân các chữ cái kia đã chỉ đích danh tháp rồi thì cần quái gì thêm chóp nữa. Hay nó là cái gì khác đây? Anh chưa biết làm gì tiếp theo thì nghe thấy tiếng động cơ gầm rú, tiếng còi rít kèm ánh đèn sáng chói xé tan cánh rừng. Kì Phương đút tờ giấy vào túi, xốc lại quần áo và phủi qua đầu tóc trước khi nhìn thấy một tốp cảnh sát xuất hiện.
Chương 7
Không hiểu vô tình hay hữu ý mà cổ nhân Champa một thời đã đặt ba trung tâm Tôn giáo - Chính trị - Kinh tế của mình nằm trên một đường kẻ thẳng tắp có tâm điểm là kinh đô Sư Tử (Simhapura). Hơn một thiên niên kỉ trải qua bao biến động phải di dời kinh đô và thánh địa, ngoại trừ biểu tượng chính trị đã lụi tàn nhưng trái tim Tôn giáo Mỹ Sơn và trung tâm kinh tế Hội An vẫn trường tồn đầy sức sống mãnh liệt như thủa xưa.
Lúc này, đón những tia nắng đầu tiên là một nhóm người trong căn nhà cổ kính ven sông Thu Bồn. Đó là ba người đàn ông lớn tuổi và một nữ phóng viên trẻ Mộc Trân. Trước mặt cô là chiếc máy ghi âm đang ở chế độ tắt, một cây viết và một quyển sổ đang mở rộng chưa có dòng chữ nào. Nét mặt của họ đăm chiêu ngó ra mặt sông phẳng phiu như lụa trải ngoài khung cửa.
Người lớn tuổi nhất là giáo sư Huỳnh Lẫm - một nhà khảo cổ và nghiên cứu văn hóa Chăm có tên tuổi nhất nước hiện nay. Ông bấm máy di động rồi áp lên tai lần này là lần thứ năm. Rồi cũng như mấy lần trước, ông thả xuống bàn với cái lắc đầu nặng trĩu:
- Đến giờ này vẫn chưa liên lạc được, tôi e rằng lão đã xảy ra trục trặc gì đó.
- Xin thầy đừng sốt ruột ạ. - Một người tóc xoăn lên tiếng. - Người Pháp có thói quen dậy muộn, ta đợi lát nữa xem.
Người đàn ông khác đeo cravat đỏ có phần sốt sắng hơn:
- Có lẽ chúng ta nên bắt taxi lên khách sạn xem sao, ông ta phải biết rằng khán giả cả nước và nhất là người Chăm trên toàn thế giới đang nằm phục bên tivi từ đêm qua.
Mộc Trân với đôi mắt thâm quầng do mất ngủ bỗng ánh lên, cô đặt li cà phê xuống bàn rồi phụ họa theo:
- Cánh phóng viên chúng em có người cả tuần nay ăn chực nằm chờ ở Mỹ Sơn, lề mề nhất như em thì tối qua cũng đã hạ trại rồi.
Người đeo cravat đỏ lộ dần là một quan chức nặng kí, ông vung tay:
- Không gì tệ bằng để mất lòng tin trong nhân dân, ông ta mà bỏ trốn như hồi trước, tôi sẽ lôi cổ ông ta ra tòa.
Nghe đến từ “ bỏ trốn’’, người tóc xoăn không thể không xen vào:
- Anh Trọng cứ bình tĩnh, dù bê tha đến mấy thì người Pháp cũng không thất hứa đâu.
Giáo sư Huỳnh lẫm không hé môi, ông đưa cặp mắt sâu hoắm nhìn ra mặt sông như tìm kiếm một câu trả lời về buổi lỡ hẹn không đáng có này. Tuy không bổ nhát cuốc lịch sử xuống Mỹ Sơn sáng nay, nhưng ông vẫn là thành viên cốt cán của đoàn khảo cổ. Ông tin tưởng vào vị đồng nghiệp đến từ EFEO như tin chính bản thân mình, nhưng để xảy ra sự cố ngay từ phút đầu trong sự kiện trọng đại này lại là một điềm không lành. Dù gì đi chăng nữa, Paul vẫn được nhìn nhận như một người đầu tiên hồi sinh cho Mỹ Sơn sau hai cuộc chiến tranh tàn phá.
Hơn một thế kỉ nay các nhà khảo cổ Pháp luôn phô cái bóng to kềnh của họ che lấp những nhà khoa học da vàng mũi tẹt như ông. Từ khi nhà thám hiểm Camille Paris tìm ra Mỹ Sơn đến nay đã có không ít nhà khoa học Tây phương để lại dấu ấn trong lịch sử hàn lâm khoa học Việt Nam hiện đại. Và ngày mai, lại một người Pháp nữa. Cô phóng viên ngước nhìn lần lượt ba tinh hoa nước nhà như như thể đang khiêu khích.
- Không biết linh vật Champa là thứ gì mà ông Paul kín như bưng vậy, chẳng lẽ các bác không ai biết gì hay sao?
Người tóc xoăn lập tức quay sang trừng mắt nhìn cô ta qua cặp kính dày cộp, giọng đục ngầu.
- Cô muốn chúng tôi ngồi tù chắc? Đã nói là bí mật quốc gia, cô nên tìm Paul mà hỏi.
Giáo sư Huỳnh lẫm nhấp một li cà phê cố che một cái nhếch mép. Bởi, ông biết rằng sau cái cặp kính trí thức kia cũng chả biết gì. Ngay cả ông đây, từng là viện trưởng Viện khảo cổ, nhà nghiên cứu Chămpa có số có hạng mà cũng chẳng rõ Paul sẽ diễn trò gì trên khoảnh đất đã nén chặt dấu chân ông. Nhìn những khuôn mặt khó đăm đăm, cô phóng viên biết mình đã hỏi không đúng lúc, không đúng người và không đúng chỗ. Gấp cuốn sổ trống trơn trên bàn, cô đưa ánh đầy cam chịu nhìn chan chứa ra mặt sông lờ đờ. Ngay lúc đó, chất giọng trầm trầm u ất hơn lên tiếng.
- Chị Mộc Trân cứ bình tĩnh. - Giáo sư Huỳnh Lẫm nói. - Cô mới đợi có một đêm, còn tôi, nói cô đừng cười, tôi đợi ngót một đời người rồi.
Người đeo kính cười khổ rồi phụ hoa theo.
- Cô Trân chắc không lạ gì với thầy Lẫm đây, nếu nói về thâm niên nghề nghiệp còn hơn cả tuổi đời của tôi, vậy mà tôi năm nay đã ngót năm mươi. Cái tuổi sắp đuổi gà nhưng nhìn lại mình vẫn chưa làm nên trò trống gì so với ông Paul. Thực lòng mà nói, chúng tôi rất ghen tị với ông ta - Người đeo kính lén nhìn thầy của mình rồi lại tiếp. – Nhưng nghĩ đi thì phải nghĩ lại, ở cái xứ này có ai dám xả thân bầu bạn với rắn rết trong rừng hoang để làm khoa học như ông ta đâu.
Giáo sư Huỳnh Lẫm đồng tình, ông nói thêm.
- Đợt này ông ta thề sẽ mang cho chúng ta một báu vật quý báu hơn tất cả các báu vật trong viện bảo tàng Chăm cộng lại.
- Ông ta điên chắc! - Người thắt cravat vốn kiệm lời nhất, nhưng lần này ông cũng không kìm nổi. - Có cái gì đó rất kì quặc, tôi cảm thấy chúng ta hình như đang bị lừa.
Giáo sư Huỳnh Lẫm vung tay như chặn chiếc lưỡi quá khích đang nhằm vào người bạn của mình.
- Nói bậy, anh suy xét cho thật kĩ, trước khi sang đây ông ta lập hồ sơ chứng cứ rất cặn kẽ cho cơ quan chủ thể của mình. Với uy tín của cá nhân và cả EFEO, mọi khâu thủ tục đã khơi thông với tốc độ ngoài mong đợi. Đây là sự kiện lớn do một nhân vật uy tín khởi xướng.
Cả nhóm không nói thêm, lúc đó chiếc di động lại reo vang. Không phải là Paul gọi đến xin lỗi như ông tưởng, đó là một học trò của ông.
- Ai đấy?... Paul bị giết sao?... Nói to lên... Trời, không thể!
Chiếc điện thoại nhỏ bé ruốt cuộc đã đánh khụy vị giáo sư. Sau tiếng gào khô khốc, ông lẩy bẩy ôm lấy đầu. Mộc Trân nhổm người dậy, mắt dáo lên hỏi dồn:
- Có giết người hả bác, ở đâu?
Sau cơn choáng nhẹ, vị giáo sư thở sâu rồi ngả lên thành nghế, mắt mở to lơ lác nhìn lên trần nhà.
- Thầy! thầy có làm sao không thầy? - Ba người đồng thanh hỏi.
- Paul... đã bị giết rồi! - Vị giáo sư già nói hắt ra đầy khó nhọc.
- Ở đâu bác? chúng ta sẽ đến đó ngay bây giờ. – Mộc Trân nhanh tay lùa mớ đồ nghề vào bao.
- Thánh địa Mỹ Sơn. Nhanh lên!
Một phút sau, chiếc xe con nhằm hướng tây lao đi.
Tiểu thuyết trinh thám.
Tác giả: Giản Tư Hải.
NXB HNV 2016
*
Giới thiệu Giản Tư Hải sinh năm 1977 tại Thanh Chương, Nghệ An. Là một nhà văn tay ngang, nghề chính là kiến trúc sư, nhưng Giản Tư Hải có số lượng sách được xuất bản đáng nể. Giản Tư Hải có nhiều trải nghiệm và vốn hiểu biết rộng, anh thường đưa vào tác phẩm những kiến thức rất đa dạng, phong phú, thú vị.
***
Mật mã Champa là một cuốn tiểu thuyết trinh thám đầu tiên viết về mật mã, lịch sử và tôn giáo của nền văn minh Champa cổ xưa đầy huyền bí trên dải đất miền trung Việt Nam. Những đền tháp uy nghi có từ hàng thế kỷ trước, những pho tượng Bà-la-môn giáo nhuốm màu thời gian cùng hàng trăm tấm bia kí phai mờ đang ẩn chứa vô số bí ẩn mà hậu thế chưa thể giải mã. Sau nhiều năm trùng tu thánh địa Mỹ Sơn, một kiến trúc sư đã phát hiện ra nhiều mật mã bằng Phạn ngữ khắc trên bia đá tiết lộ các lễ hiến tế thần bí.
Điều làm ông bất ngờ và sợ hãi là những bí ẩn kho báu Champa và lễ hiến tế người gắn liền với một hội kín tà giáo có từ thời trung cổ. Lúc ông quyết định thám hiểm vào sào huyệt của hội kín thì bị sát hại đúng theo cách mà ông từng biết qua bia kí.
Rất may, trước khi chết ông đã kịp để lại một mật mã.
Ngay lập tức, một kiến trúc sư trẻ đã vào cuộc. Anh bắt đầu giải chuỗi mật mã mà nhà khảo cổ kì cựu này để lại rồi rơi vào một cuộc rượt đuổi kinh hoàng. Cuối cùng, anh đã sập bẫy rồi bị đưa lên đài cúng tế đúng như nghi thức man rợ cổ xưa.
Sau nhiều diễn biến kịch tính tại hang ổ của hội kín, bí ẩn về hội tà giáo Naga và kho báu của vương triều Champa lần lượt được đưa ra ánh sáng sau hàng thế kỉ chìm trong bí ẩn.
Tác giả
Giản Tư Hải sinh năm 1977 tại Thanh Chương, Nghệ An. Tốt nghiệp Đại học Kiến trúc Hà Nội. Hiện làm việc tại Phúc Kiến, Trung Quốc. Tiểu thuyết “Ổ buôn người” của anh đoạt giải C cuộc thi truyện ngắn, ký và tiểu thuyết về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” 2007 - 2010 do Hội Nhà văn và Bộ Công an phối hợp tổ chức. Những sáng tác của Giản Tư Hải đều theo thể trinh thám và chủ yếu lưu hành trên Internet.
Các tác Phẩm đã in.
1, Ổ buôn người. Tiểu thuyết trinh thám.
2, Âm mưu thay não. Tiểu thuyết trinh thám.
Chương 1
Dưới độ sâu 35 mét, người đàn ông cao lớn và một phụ nữ dắt theo một con dê trắng thắt nơ đỏ đang dò dẫm dọc một đường hầm lát đá để tìm một cánh cửa. Ông ta cầm đèn pin chiếu lên tường hầm rồi dừng lại trước một mảng tường khả nghi quan sát hồi lâu.
- Phòng 178. Chính căn phòng này.
Người phụ nữ trẻ mệt mỏi đến mức không buồn nói câu nào, cô chỉ mong chồng đứng lại để tranh thủ ngồi phệt xuống. Cô không ngờ thánh địa lại xa xôi hiểm trở đến mức đi ba ngày trời mới tới. Ngay cả con dê đực quen nhảy nhót trên núi cũng run chân và thè lưỡi ra để thở.
- Rốt cuộc cũng tới đích. – Người đàn ông Pháp nói - Chúng ta cứ trải chiếu nằm ở đây chờ cửa mở.
Ông ta xem đồng hồ rồi lấy thuốc ra vừa hút vừa đi đi lại lại nhưng mắt không rời cánh cửa đá mang số 178 đang đóng im lìm. Bỗng đất đá xung quanh rung lên báo hiệu một cơn địa chấn dữ dội bất ngờ ập đến. Cánh cửa đá bật mở rồi rút lên cao theo chiều thẳng đứng, ông ta thét vợ ngồi dậy rồi cúi xuống nhìn cái hố vuông sâu nơi cánh cửa đá vừa rút lên trần.
- Dê trắng đâu lại đây! – Ông thét to lên.
Ông quay lại nhặt sợi dây nhấc bổng con vật đáng thương lên cao rồi thả xuống cái hố đen ngòm đang ngoác to. Tiếng thét thê thảm của con dê trắng câm bặt trong tiếng đá nghiến. Viên Kiến trúc sư người Pháp cùng với phu nhân mau lẹ vọt qua miệng hố trước mặt để vào bên trong. Hành trình gian nan đi tìm kho báu Champa cổ xưa mà họ theo đuổi bấy lâu nay rốt cuộc đã tới đích. Trong hang đá tối đen như mực, người phụ nữ trẻ tỏ ra sợ sệt khi nhìn lại cánh cửa đã sập xuống sau lưng. Một dải sáng lân tinh bò ngoằn ngoèo trên vách đá nổi lên một dòng chữ Phạn cổ đập thẳng vào mắt cô:
“ Dâng máu cho Ngài! kẻ nào xúc phạm đến thần linh sẽ bị rút sạch máu ba đời dâng lên Ngài’’.
- Anh nhìn kìa... - Cô gái chỉ tay nói.
Viên kiến trúc sư đến từ EFEO (1) rùng mình hoảng sợ khi đọc kĩ dòng chữ khắc sâu trên mặt đá. Từng bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu bia mộ cổ, ông liên tưởng đến một lời nguyền được cho là thần bí nhất lịch sử, đó là câu khắc trên bia mộ các hoàng đế Ai Cập “ Bất cứ người nào đến quấy nhiễu sự yên ổn của Pharaông, thì cánh cửa tử thần sẽ giáng xuống đầu người đó. ’’
Đó không phải là lời dọa suông. Hàng ngàn năm nay, lời nguyền bí ẩn kia vẫn là bản án tử hình siêu linh đã giáng phạt bao nỗi chết chóc kinh hoàng cho giới khảo cổ và cả những tên săn trộm dám phớt lờ nó.
Viên kiến trúc sư chiếu đèn pin rồi xích lại gần, ông nhìn thấy những vẩy máu khô loang lổ trên vách cửa đúng vị trí mà ông và vợ vừa nhảy qua. Ông biết rằng mình không phải là người đầu tiên bước qua đây và số phận những kẻ đi trước ra sao thì đã rõ. Ông trấn an người vợ đang run rẩy trong làn hơi ẩm lành lạnh trong lòng núi.
- Đừng để tâm, anh đã có cách khắc chế cánh cửa đó.
Người đàn bà đầu tiên đặt chân nơi cung cấm này vẫn chưa hết sợ hãi.
- Em tưởng cả vách núi đã sập xuống rồi chứ. Làm sao mà nâng lên được?
- Anh đã nghiên cứu tấm bản đồ cổ rất kĩ rồi. Trong này có cỗ máy bằng đá dùng sức nước để điều khiển cánh cửa đó.
- Nhưng trong lòng núi này làm sao có nước được?
- Em đừng quên đây là thánh địa Naga nhé. Đã có thánh địa thì bắt buộc phải có nguồn nước thiêng. Ở đây không chỉ có nước mà có cả một dòng suối ngầm. Khi băng rừng đến đây, em có nhớ chúng ta đã vượt qua mấy con sông và dòng suối không? Một nhánh trong những dòng nước đó chảy qua lòng núi này đấy.
Cô gái vội liên tưởng đến Mỹ Sơn, Cát Tiên, Ăngkor Wat và nhiều thánh địa Balamon khác mà cô từng đến đều có cả những dòng sông và suối thiêng bao quanh ngàn năm không ngừng chảy.
Mặc dù chiếc đèn pin công suất sao, chùm sáng vẫn mờ lụi trong khoảng không mịt mù. Họ mò mẫm theo hướng nam như trong trí nhớ, đi qua một khoang rộng không rõ hình thù, cuối cùng một bức tường đá xám xịt đã hiện ngay trước mắt họ. Men theo bức tường cho tới khi nhận ra một cánh cửa vòm, ông liền đẩy mạnh. Tiếng nước rào rào bất ngờ phả ra từ một đoạn suối ngầm chảy qua lòng núi. Trước mắt ông là một guồng nước khổng lồ đang chuyển động để đưa dòng chảy lên một hệ thống phức tạp nằm trên cao mà ông không thể nào nhìn rõ. Trục quay bánh guồng được gá trên hai trụ đá lớn song song mọc lên từ lòng suối giúp cho chiếc bánh xe nặng hàng chục tấn vận hành trơn tru suốt mấy trăm năm nay chưa từng ngưng nghỉ. Thấy một chiếc thang đá dựng đứng, ông lội xuống bám tay vào những thanh giằng để tìm cách trèo lên. Thận trọng leo đến bậc cuối cùng, từ độ cao của một ngôi nhà ba tầng nhìn xuống, những lá guồng gạt nước trắng xóa dưới ánh đèn bàng bạc làm ông cảm tưởng như đang lạc vào gầm máy của một chiến hạm khổng lồ thời Trung cổ đang nhởn nhơ vô định giữa đêm đen trên đại dương. Nước từ hệ thống ống máng chằng chịt trên cao dội xuống ào ào xen lẫn với dòng suối réo von tạo thành một bản hòa tấu hoang sơ đến kì dị.
Nhìn quanh, viên Kiến trúc sư ngạc nhiên khi phát hiện trước mặt là một bể đá rất lớn ngỡ là một tầng lầu. Tuy nhiên bể nước này đã cạn khô và chỉ có một dòng nước đang nhỏ giọt vào bể. Chỉ mất vài phút, ông đã phát hiện ra quy luật vận hành của chiếc đồng hồ nước cổ đã được phác họa chi tiết trong tấm di chỉ quý báu. Nắm được cấu tạo và nguyên lí hoạt động khắc sẽ điều khiển được nó. Trên chiếc bàn điều khiển, ông tìm cách cài chế độ mở cửa đá. Tháo chiếc ống nhỏ đang rỉ nước đặt sang bên cạnh rồi ông dùng hết sức xoay một ống đồng có đường kính bằng miệng bát thay thế. Ống đồng lập tức truyền nước ào ào vào bể chứa. Toàn bộ lan can và hành lang đá dưới chân ông bắt đầu rung lên nhè nhẹ. Chỉ vài chục phút nữa thôi, mực nước sẽ đạt ngưỡng cực điểm để đẩy bật một chiếc lẫy. Mấy trăm khối nước cùng hàng chục tấn đá sẽ trút xuống để khởi động một chiếc đòn bẩy có khả năng ném bay một tòa nhà với một sức mạnh khủng khiếp. Năng lượng đang tích tụ với một tốc độ rất nhanh tỉ lệ thuận với mực nước dâng trong bể. Mặc dù muốn nán thêm vài phút để đo lại thể tích và vận tốc nước nhưng một giọng rất thanh át tiếng thác vọng lên.
- Xuống ngay, nó sẽ sập xuống mất!
Nhìn qua luồng sáng yếu ớt chiếu qua đám bụi nước bạc, ông phát hiện một máng đá dốc chéo xuống dưới. Không chần chừ, ông bò qua một dầm đá trơn nhẫy để nhảy vào lòng máng. Trong tích tắc, ông gần như trượt ùm xuống lòng suối làm nước bắn tung tóe lên mặt vợ.
- Xin lỗi!... - Ông vùng đứng lên đưa tay vuốt mặt. – Tốt rồi, cách cửa lát nữa sẽ tự mở ra.
- Cửa tự động ư? Hệ thống gì mà lạ vậy?
- Một cỗ máy bằng đá chạy bằng sức nước. Tổ tiên người Chăm của em đã chế tác ra nó đấy!
- Nó đủ sức nhấc cánh cửa mấy trăm tấn kia không? Anh cam đoan là chúng ta không bị kẹt lại đây chứ?
- Yên tâm, nếu cỗ máy kia chạy đúng, khoảng nửa tiếng nữa cửa sẽ mở ra.
- Sao nhanh vậy? liệu chúng ta còn thời gian đi khắp cung điện này không?
- Chỉ có hai ống đồng. Anh đã cài chế độ mở nhanh nhất. Thôi đừng hỏi nữa, nhanh chân lên!
Họ chui trở lại tiền sảnh, do thiếu ô-xy và vận động mạnh nên ông đã có dấu hiệu rối loạn phương hướng. Tránh mất thời gian, trong khi cúi mặt xuống ông tranh thủ mở tấm bản đồ cổ ra định vị lại lần nữa.
- Đằng kia kìa! – Người vợ trẻ chỉ tay phía sau lưng ông.
Ông quay lại bắt gặp một khoảng tối đen đặc đang phả hơi lạnh vào mặt mình, ông xoay đèn về hướng đó và lờ mờ nhận ra một miệng giếng. Ông nắm tay vợ đi nhanh về phía đó và thấy một cầu thang xoắn ốc dẫn xuống dưới. Không rời một bước theo chồng, mắt cô sợ sệt nhìn theo ánh đèn nhấp nhoáng trên các phiến đá ẩm ướt và cố không để trượt chân rơi xuống cái hố mà cô chưa nhìn thấy đáy. Để thêm an toàn, cô bám tay kia lên lan can có tay vịn bằng rắn đá ưa thích của người Khmer. Con rắn bảy đầu bằng đá hoa cương xoáy lượn hình trôn ốc xuống sâu hun hút nhìn như thể nó đang cố ngoi lên từ địa ngục. Bất chấp lối đi hiểm trở, cô nhắm mắt đi theo chồng cho đến khi ông ghìm tay cô lại.
- Kia mới là kẻ giữ đền đích thực, rắn thần Naga! – ông nói.
Người phụ nữ ngước lên, dưới ánh đèn yếu ớt xuyên qua không khí đặc quánh hiện lên một cuộn trắng căng tròn bềnh bệch.
- Trong truyền thuyết Khmer rắn giữ đền Naga có tới bảy đầu cơ mà? - Người phụ nữ hỏi. - Con này lớn nhưng chỉ một đầu.
- Đúng thế, nhưng đây là con rắn thật đang sống!
Cô gái thất kinh ôm chặt hông chồng mình. Người đàn ông từ tốn gỡ nhẹ tay cô:
- Đừng sợ, đây chính là rắn khổng lồ sống trong rừng nhiệt đới hạ lưu sông Mê Kông. Trước đây xuất hiện thường xuyên tại rừng U minh Thượng nhưng nay gần như tuyệt chủng. Truyền thuyết rắn thần Naga lấy cảm hứng từ loài bò sát khổng lồ có thật này. Sách cổ của người Khmer còn mô tả những con long xà to như cây Thốt nốt.
Vẫn nhìn con vật qua vai chồng mình, giọng cô chưa hết run:
- Nó đang ăn?
- Chính con dê trắng mà ta vừa thả xuống khi qua cửa đấy thôi, đây là bữa điểm tâm đầu tiên của nó sau 12 năm đấy.
Cô gái mắt mở to nhìn con rắn bất động, chỉ có mang tai đang phập phồng đẩy con vật bé bỏng khuất dần trong khoang miệng đang ngoác to.
- Đây là giống rắn sống nơi không ánh sáng nhưng mắt nó có thể nhìn xa hàng cây số trong bóng đêm.
Cô gái nhè nhẹ lùi xa hơn, mắt vẫn không rời con vật, cô hỏi.
- Nó nhịn đói tới 12 năm sao?
- Giữa chu kì mở cửa tháp dài tới một giáp, làm gì có ai vào được để cho nó ăn, nó rất đói. Nếu hôm nay chúng ta quên mang con dê cho nó, em có biết thức ăn của nó sẽ là gì không?
Cô kéo chồng quay lại nhưng người đàn ông to cao không hề nhúc nhích. Viên kiến trúc sư biết rằng họ đã rơi vào phạm vi tấn công của con vật từ lâu, nhưng hôm nay con dê đã thế mạng cho họ. Ông chỉ khe hở đủ một người đi phía sau con rắn và nói.
- Muốn vào thánh địa phải đi qua mặt con rắn này.
Người vợ định bỏ chạy, nhưng cô vội nhận ra phía ngoài là cánh cửa đá đã đóng chặt. Đã vào đến đây dù chết cũng phải đi đến tận cùng. Chẳng phải mười mấy năm nay cô chỉ mong ngày này đấy thôi.
- Đi tiếp! – Cô hạ quyết tâm.
Tuy lấy hết can đảm, không chỉ cô mà người đàn ông đầy chất thép kia cũng phải co mình nín thở để lách qua lưng con rắn đang phả hơi tanh nồng nặc. Ngay vừa đặt chân vào khu tiền điện, viên kiến trúc sư đã ngỡ ngàng sửng sốt với vô số pho tượng các vị thần Balamon giáo đặt trang trọng trong các khám thờ ăn sâu trong đá. Tượng Siva, Vishnu, Bharma, bò Nadin, dấu triện cổ và các thanh kiếm ánh lên màu sắc của vàng thật.
Do thời gian có hạn nên không thể xem kĩ từng chi tiết, ông muốn đi thật nhanh để bao quát quy mô thánh địa nhưng một pho tượng nữ thần vàng óng làm ông sững người lại. Đúng là pho tượng này được đúc bằng vàng khối, với kích cỡ lớn bằng người thật như vậy làm ông nghĩ đến tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng tại Po Nagar đã bị quân Khmer băng qua cao nguyên Langbian đến tấn công Nam Champa năm 945. Sự tập trung của ông bị cắt ngang khi có tiếng động vang lên từ xa. Lúc này ông mới giật mình nhớ lại người vợ đã biến đi đâu mất. May thay, nỗi sợ của ông tan biến khi thấy nàng từ xa chạy lại với một thứ gì đó nặng trĩu trước ngực. Ông lia đèn sang nhìn thứ trên tay vợ và không thể tin nổi vào mắt mình nữa.
- Lạy chúa! Em bê cái này từ đâu ra?
- Trên đài thờ.
Người đàn ông nhìn theo chỉ tay của vợ về cuối đường hầm hun hút và nhận ra rằng mình đang ở đoạn đầu của một cung điện. Còn vô số điều hấp dẫn và lạ mắt vẫn đang chờ ông ở phía trước. Định đi tiếp nhưng môt sức mạnh vô hình đã ghìm chặt ông lại. Kinh ngạc và giận dữ, ông chỉ tay lên linh vật.
- Em... em định mang nó đi đâu?
- Mang về Mỹ Sơn.
Ông chết lặng đi sau câu nói thản nhiên như không.
- Về Mỹ Sơn?
Mặc dù hiểu được nỗi lòng khao khát đến cháy bỏng trong trái tim vợ mình bấy lâu nay, nhưng ông không ngờ cô ta lại xốc nổi như vậy. Chỉ mấy phút trước đây, nàng còn là phụ nữ non gan e thẹn, vậy mà chỉ trong phút chốc, chả hiểu phép thuật nào đã biến cô trở nên ngang nhiên đến ngỗ ngược như thế.
- Không được! - Ông dứt khoát xua tay. - Những thứ nằm trên đài thờ là bất khả xâm phạm!
- Đây là báu vật của người Chăm. - Cô nói đầy thách thức. - Nó phải trở về với người Chăm.
- Nhưng không phải lúc này, hãy trả lại đài thờ ngay!
- Không được! - Cô bướng bỉnh đáp. – Chính anh thường nói cái gì của Cesar thì trả cho Cesar đó sao. Đây là Quốc bảo của Champa, là linh hồn của người Chăm, chúng ta phải có trách nhiệm trả về đúng chủ của nó.
- Hãy nghe anh nói đã. - Ông xòe hai tay phân bua. - Chúng ta sẽ hồi hương những gì đã bị lấy cắp nhưng chưa phải lúc này. Chúng ta chưa hiểu gì về thánh địa này và sẽ phải trả giá đắt cho sự xốc nổi và ngu dốt.
- Không bây giờ thì bao giờ? Ngoài tôi và anh ra còn ai nữa? – Cô lại lùi xa tầm tay của người chồng như tránh một kẻ phản trắc. - Tổ tiên tôi đã mất bao nhiêu công sức và xương máu để đi tìm linh vật này nhưng đều thất bại. Đây là cơ hội duy nhất và tôi không thể chờ thêm được nữa. Anh không thuyết phục nổi tôi đâu!
Không chần chừ, người vợ ôm chặt báu vật nặng hàng chục cân lao ra cửa với một sức mạnh kinh ngạc. Nàng bất chấp bóng đêm và sợ hãi khi băng ngang trước mũi thần rắn. Người đàn ông Pháp chỉ biết chạy theo soi đèn cho cô khỏi ngã mà không dám chạm vào người vợ đang nổi cơn tam bành.
Khi chạm cửa đá, người phụ nữ quay phắt lại nhìn ông thế thủ. Nhìn cặp mắt hoang dại mà ông chưa bao giờ nhìn thấy ở người phụ nữ đầu gối tay ấp mấy năm nay, bản năng sinh tồn mách ông không nên dồn ai đó vào đường cùng. Ông lùi lại và tỏ ra lịch lãm như một đàn ông Paris thứ thiệt.
- Anh hiểu và trân trọng suy nghĩ của em. Nhưng chúng ta không thể đón rước thần linh một cách thô bạo như vậy. Đây là di sản của Champa nhưng đã nằm trong lãnh thổ Camboge(2) mấy trăm năm nay. Để mang được nó về chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề lịch sử để lại. Dù sao chúng ta cũng sẽ hành xử đàng hoàng trong luật pháp chứ quốc tế không phải hành động như những tên mộ tặc.
- Không, sẽ không còn ngày nào nữa, em linh cảm rằng chúng ta không thể quay trở lại đây được nữa. Chúng ta sẽ vĩnh viễn mất linh vật này!
Quý ông Paris len lén nhích tới, chỉ đợi một cái chớp mắt của nàng, ông sẽ vồ cướp.
- Đừng động vào tôi. - Cô dơ cao pho tượng. - Nếu ông cướp, tôi sẽ đập đầu chết ngay trước mặt ông!
Lời nói này đã đánh gục ý chí của ông. Đứng chết lặng giữa phòng, mắt ông trân trối nhìn người phụ nữ xinh đẹp và tự hỏi rằng nàng có còn là vợ mình nữa hay không. Sai lầm! Không phải sai lầm khi cưới nàng mà sai lầm khi đưa nàng vào đây. Ngàn lần sai lầm.
- Cô có biết là cô đang xúc phạm thần linh không hả? – ông than lên.
Ông chỉ còn biết trút hết tức giận vào lời nói nhưng tiếng gào của ông dội vào vách đá rồi hắt thẳng vào chính mặt ông. Nàng vẫn im lìm dựa lưng vào cánh cửa và không thể nào nhìn thấy dòng chữ đang tỏa ám khí ngay trên đầu. Ông rùng mình nhận ra dòng chữ Phạn kia là dành cho ông, nó đang chiếu thẳng vào số mệnh ông. Họ nhìn thẳng mặt nhau trong bóng tối, câm lặng đến rợn người. Tiếng tích tích trên chiếc đồng hồ đeo tay đang nhắc nhở ông thời khắc sắp đến. Cửa sẽ mở.
Ông đưa tay nhìn đồng hồ và hốt hoảng khi nhận ra thời khắc đó chỉ tính bằng giây và cô ta sẽ dễ dàng thoát ra ngoài. Thời gian cứu vãn thần linh của ông sắp hết. Người phụ nữ vẫn nén lặng chờ đợi vì cô biết thời gian đang ủng hộ mình. Trong tích tắc ông biết mình vẫn hoàn toàn làm chủ tình huống. Cánh cửa sẽ không khởi động nếu ông kịp ngắt ống đồng. Nhanh như cắt, ông quay đầu lao vụt vào bóng tối, chưa đầy mười giây sau ông đã đứng trước thác nước.
- Khoan, anh làm gì thế?
Giờ là lúc ông trả đũa cô. Bất cần như chả nghe thấy gì, người Pháp phăm phăm lao ra suối.
- Dừng lại! - Tiếng vợ ông thảm thiết. – Chết đấy... !
Ông lội ùng ục đến giữa dòng rồi bất thình lình khự lại không phải vì tiếng thét sau lưng mà là âm thanh trên trời. Ông chiếu đèn lên và kinh hãi khi thấy trần nhà như đang hạ xuống. Tiếng rít của những phiến đá xanh miết vào nhau nghe lộng óc. Ông biết đã quá muộn, lúc này không có sức mạnh nào có thể ngăn cản cỗ máy khủng khiếp kia khi nó đã khởi động.
- Chạy đi! – Ông thét to về phía vợ rồi lao vọt lên bờ trước khi trần nhà sập xuống. Mặc dù bóng tối bao trùm, ông vẫn lao đúng hướng cánh cửa đá đang rung chuyển. Trước ông là tiếng bước chân dồn dập của người vợ.
- Dừng lại. Không kịp đâu! - Ông hét lên.
Người đàn ông ngũ tuần rướn hết sức lao theo, bốn bề rung chuyển tưởng như một cơn địa chấn đang ập đến. Một tiếng rít ghê tai vang lên cùng với luồng ánh sáng tràn vào. Hình ảnh mong manh bé nhỏ của vợ ông như đang bay khỏi mặt đất hướng về ánh sáng. Và đó cũng là hình ảnh nguyên vẹn cuối cùng mà ông còn thấy về người vợ đáng thương của mình. Tiếng động kinh hoàng vang lên. Tất cả lại chìm vào bóng tối.
Ông tin rằng vợ mình đã may mắn thoát qua cánh cửa. Định quay lại con suối thì tiếng động lạ trước mặt làm ông chú ý. Nhẹ nhàng ngồi xuống trong bóng đêm, ông linh cảm một sự thật kinh người đã bày ra trước mắt. Ông nhặt vội cây đèn trên sàn rồi chiếu vào nơi phát ra tiếng động. Lạy chúa tôi!
Thân thể nàng bị đứt lìa. Ông khụy xuống để hai cặp mắt kinh hồn của họ gặp nhau lần cuối. Một làn hơi thều thào hướng về phía ông.
- Hãy... mang nó về... Mỹ Sơn...
Làn hơi yết ớt tan biến vào hư vô. Người đàn ông Pháp mắt nhòa đi và không còn dám nhìn máu của nàng đang trào ra trước ngực và tưới đẫm lên cả linh vật đang nằm trên tay nàng. Phần thân còn lại của nàng đang ở ngoài hay rơi xuống hầm tối? Rõ ràng ông đã thấy nàng băng qua cửa nhưng không hiểu sao lại bị bật ngược vào trong.
Ông soi đèn lên vết cắt ngang người của nàng và rùng mình kinh hãi khi thấy một bàn tay gân gốc bị chặt ngang cổ tay đang bấu lấy ngực áo vợ mình. Một câu hỏi xoẹt ngang óc ông. Ngoài cửa đá là ai? Là người hay quỷ dữ. Hay chúng là người của hội kín Naga? Không lẽ lời cảnh báo của cha ông từ nửa thế kỉ trước rằng hội này còn sống vẫn đúng đến hôm nay? Ông lạnh gáy khi nghĩ rằng, mình cũng không thể toàn mạng khi ra khỏi đây. Làn máu nóng hổi đã tràn ướt dưới chân ông. Đứng chết lặng trên sàn, ông hãi hùng nhìn cách cửa táp đầy máu đang rỏ ròng ròng xuống đất như một máy chém vừa xong ca hành quyết để bảo vệ một chân lí hùng hồn khắc sâu trên đá.
“ Dâng máu cho Ngài! kẻ nào xúc phạm đến thần linh sẽ bị rút sạch máu ba đời dâng lên Ngài’’
Chương 2
Mười hai năm sau. Đà Nẵng, 22 giờ 17 phút ngày 30 tháng 11.
Người đàn ông Pháp gầy gò đang sửa soạn đống tài liệu trong căn phòng của một khách sạn bên bờ biển Đà Nẵng. Suốt mười hai năm lánh nạn sau biến cố kinh hoàng, nỗi ân hận và sợ hãi đã vắt kiệt một kiến trúc sư kiêm nhà khảo cổ tài ba đang đà sung mãn trở thành một ông lão tiều tụy hơn so với cái tổi 67 của mình. Mỗi khi chợp mắt, hình ảnh người vợ không toàn thây và bàn tay cụt lại hiện lên như đang réo đòi thảm thiết. Niềm an ủi lớn nhất giữ ông lại trên cõi trần là đứa con gái hết mực yêu thương– một kỉ niệm duy nhất với người vợ xấu số. Đến nay, ông còn nợ nàng một nửa lời thề lúc lâm chung. Ông phải sống. Món nợ lớn nhất mà ông phải sống để trả lại cho người Chăm là một kho báu đang bị lịch sử chôn vùi trong quên lãng. Mối thù lớn nhất của ông cần phải thanh toán là một hội kín tà giáo khủng khiếp nhất lịch sử mà ông là nạn nhân số một. Ngày đó đã đến, ngày ông rửa hận và hoàn tất chuỗi sứ mệnh lớn lao trên đã đến.
Mọi khâu chuẩn bị cho ngày trọng đại sẽ diễn ra vào hôm sau đã hoàn tất, ông lôi cuốn nhật kí đặt lên bàn định chép nốt vài dòng. Dở cuốn sổ dày cộp luôn cạnh ông suốt mấy mươi năm nay, trên khuôn mặt phong sương hốc hác của nhà khảo cổ Viện Viễn Đông Bác Cổ lừng danh thoáng hiện một nỗi buồn. Cuốn sổ chỉ còn đúng một trang.
Bất giác, ông linh cảm có chuyện khác lạ, những trang giấy nâu chi chít những phát hiện, những sự kiện đáng nhớ và cả những ngày đau đớn cùng cực trong đời. Nó là người bạn duy nhất luôn ở bên ông. Càng nghĩ ông lại thấy nó giống mình đến lạ. Cũng thô mộc, nhàu nhĩ và cô độc nhưng đầy ắp tri thức và dấu ấn khủng hoảng còn nóng rực đến tận hôm nay. Nó chính là bản sao y chang đời ông nhưng ông không mong giống nó như lúc này. Bởi, nó chỉ còn đúng một trang. Một nỗi ám ảnh chết chóc bỗng dưng sống lại. Lời nguyền độc địa đã cướp đi người vợ hết lòng yêu thương. Hôm nay nó như đang hiện về để mang đi nốt bố con ông.
Cố xua đuổi cảm giác bất an của một kẻ có tuổi độc thân, Paul Morierre cầm bút định viết vài dòng nhưng nghĩ sao lại thôi. Theo lịch đã sắp xếp, đúng 7 giờ sáng mai ông sẽ đẫn đầu phái đoàn khảo cổ vào thánh địa Mỹ Sơn để khai quật một thần bảo hộ của Vương quốc Champa cổ xưa. Trừ ông ra, không một ai biết báu vật này là gì và chôn vị trí nào cho đến phút chót.
Bất chấp sự háo hức và nôn nóng dâng cao trong giới khảo cổ như một nồi súpde đang sôi, ông vẫn giữ phong thái lãnh đạm và dửng dưng của một người Pháp. Chỉ vài giờ nữa thôi thiên hạ sẽ vỡ òa vì ông. Giây phút lịch sử của ngành khảo cổ Việt Nam nói chung và Chămpa học nói riêng sẽ bước qua một trang mới.
Paul đứng dậy mở toang cửa sổ, một làn gió biển Đông mát rượi lùa vào căn phòng nhỏ. Hít một hơi tràn đầy lồng ngực, ông đứng lặng mình hồi lâu. Hướng đông, theo quan niệm của người Chăm là hướng của thần linh và cội nguồn của sự sống. Là một kẻ đã dành hết tâm lực cho đất thánh Mỹ Sơn, cùng với lòng thành kính của mình, ông có quyền tin rằng ở chốn linh thiêng các Đấng đang nhìn thấu và sẽ phù hộ cho ông trong sứ mệnh cuối đời này. Ta chỉ cần sống thêm hai ngày nữa. Đúng vậy, chỉ cần 48 tiếng nữa, món nợ lịch sử dài đằng đẵng hơn một ngàn năm mà nhân loại đang vay của người Chăm sẽ được ông thanh toán rốt ráo. Sòng phẳng trước khi chết.
Tiếng chuông điện thoại bàn reo vang, Paul nhấc máy, giọng nói quen thuộc ập đến vào cái giờ cấm làm ông kinh ngạc.
- Anh nói gì? ... Sao hả? – Paul thốt lên lạc cả giọng. - Chắc chắn không?... Được rồi, tôi sẽ mở máy ra ngay bây giờ.
Đặt tai nghe xuống rồi khởi động nhanh chiếc laptop, Paul mở hộp thư điện tử của mình. Tấm ảnh trong email đẩy sự kinh sợ của ông lên đến đỉnh điểm. Chính nó đây rồi. Không thể nhầm lẫn được. Chúa ơi! Sự bí mật tuyệt đối mà ông đã giữ kín mười hai năm nay đã bung bét. Linh vật vừa bị ai đó đào lên. Ai đã cướp của ông? Trời đất bỗng quay cuồng chao đảo. Nhưng mất linh vật chưa phải là tất cả, vấn đề là nó giống như cái chốt an toàn của một trái phá đã bị rút. Paul rùng mình nghĩ đến một đại họa khủng khiếp sẽ nổ tung trong nay mai.
Mồ hôi lạnh túa ra đầy trán, trong giây phút hoang mang tột độ, ông không còn nhiều sự lựa chọn. Ông cảm thấy mình phải làm một việc gì đó ngay tức thì, phải gọi ngay cho ai đó trợ giúp. Điện báo cho ban di tích Mỹ Sơn hay cho cảnh sát? Báo cho đồng nghiệp trước hay tự mình đến đó trước?
Paul cuống cuồng lục tìm các số điện thoại nhưng tai quái là ông không có di động còn cuốn danh bạ thì đã quên ở nhà. Mà dù có gọi cho ai thì ông cũng không thể không đến đó. Trong lúc cuốn loạn, những linh cảm quái gở cũng thi nhau ập về xâu xé ông. Phải trao bí mật cho ai đó phòng khi một đi không trở lại. Trao kho báu cho ai mới là vấn đề. Paul bỗng nhiên nhớ tới một người Pháp rất nổi tiếng thế kỉ 18 – tên hải tặc khét tiếng Labis. Khi đứng trước giá treo cổ y đã ném tấm da dê vẽ đầy hình thù kì dị xuống pháp trường và nói lớn “ Kho báu của ta sẽ thuộc về ai có thể hiểu được nó’’. Khi nghĩ đến kẻ đồng hương huyền thoại này, Paul bỗng thấy mình tự tin khác lạ. Ông mỉm cười. Cho dù linh vật bị mất thật đi chăng nữa nhưng kho báu Champa khổng lồ vẫn đang trong tay ông. Thế nhưng nếu đêm nay ông bị giết? Làm sao để nó không bị thất truyền đây? Phải rồi. Mã hóa nó!
Xé trang giấy cuối cùng và chấm bút, ông bóp trán viết ra một dãy kí tự rồi lập tức bỏ đi.
Chương 3
Chiếc Ford Rangercũ kĩ phanh két ngoài gara thưa thớt của sân bay, một người trung niên vội vã bước ra rồi rảo nhanh lên đón khách. Kì Phương có mặt tại sân bay Đà Nẵng trong một tâm trạng bồi hồi hiếm có ở một kiến trúc sư quen sống trầm lặng. Với anh, chưa bao giờ thời gian lại truy đuổi dồn dập như hôm nay. Anh đã lái xe xuyên rừng trong đêm để đi đón một nhân vật mà hơn chục năm nay chưa gặp lại, đó là Thi Nga. Nàng là tiểu thư danh giá của Paul Morierre - người thầy cũ của anh. Ấn tượng về cô bé lai Tây này trong anh không nhiều ngoài thân hình nhẳng nhiu với sở thích bơi lội trên con suối quanh co chảy qua vùng đất thánh.
Một tháng thực tập nhoáng trôi đi, Kì Phương trở về đất bắc và sau đó không lâu anh biết tin cả gia đình ông không còn ở Mỹ Sơn nữa. Hơn mười năm trôi qua không một tin tức gì về họ cho đến hôm qua, ông bất ngờ xuất hiện trở lại trong một cuộc khảo cổ sẽ diễn ra ngày mai.
Quá xúc động vì ông còn nhớ cậu học trò cũ năm xưa, Kì Phương không biết nói gì hơn. Ông còn ngỏ ý nhờ anh qua sân bay đón con gái cũng bay từ Paris trở lại. Thật không có gì vui hơn được gặp lại những người đã từng coi anh như thành viên trong gia đình.
Bảng điện tử thông báo chuyến bay đã hạ cánh xuống Đà Nẵng an toàn. Kì Phương đưa tay nhìn đồng hồ. 23 giờ 25 phút.
Anh lách qua đám đông ngoi lên, mắt nhìn dòng người đang ùn ùn đổ ra với tâm trạng không thể hồi hộp hơn. Ánh mắt anh không sót một ai, những cô trẻ đẹp phải nhìn kĩ hơn bởi anh tin chắc chắn rằng nàng phải thế. Một thiếu nữ đôi mươi mang hai dòng máu Pháp - Chăm chắc phải có cái gì đó rất lạ. Nàng sẽ diện váy ngắn hay là khép mình trong bộ áo dài thổ cẩm truyền thống đây? Dòng khách nhanh chóng trôi qua nhưng không ai khớp với trí tưởng tượng của anh. Cũng chẳng một ai gọi tên anh nốt. Đúng khi đó, có bàn tay vỗ nhẹ lên vai.
- Anh là Kì Phương? - Anh quay giật lại, sát sau là một cô gái rất trẻ vận váy đen, đi giày cao gót.
- Vâng, cô đây là... ?
- Tôi là Thi Nga.
- Còn tôi là Kì Phương. Tôi lên để đón cô đây.
Kì Phương gần như không thể rời ánh mắt khỏi cô ta được nữa, những nét thân thuộc ẩn sâu trong kí ức vùng xé thời gian ùa về.
- Anh đúng là kiến trúc sư Kì Phương không? - Khác hẳn anh, đôi mắt đen dửng dưng của cô đã nói lên một sự thật rằng, cô đã quên tất cả.
- Đúng rồi, nếu cần cô có thể xem chứng minh thư trước khi ra xe cùng tôi.
Cô gái nhìn ảnh mỉm cười.
- Hình như cô đã quên tôi? – Anh hỏi và hồi hộp đợi câu trả lời.
Vẫn nở nụ cười xã giao, cô đáp:
- Thực ra hồi ấy tôi còn nhỏ quá.
- Chả ai trách trẻ con hay quên. – Anh nhìn ngang vào má cô và cố gắng đưa ra một nhận xét tinh tế. – Còn cô, trông khuôn mặt cô... – Anh định nói là béo hơn xưa nhưng kịp chữa lại. - Không khác trước là mấy đâu.
- Vậy mà lúc nãy anh không nhận ra tôi? – cô nói vẻ hờn dỗi.
Kì Phương gật đầu mỉm cười. Hai người không nói gì cho đến khi chiếc xe ford của anh nặng nhọc lăn bánh hướng về thành phố.
- Bây giờ chúng ta về khách sạn chứ? – Cô gái đột nhiên hỏi từ hàng ghế sau.
- Sao cô biết?
- Thì ba tôi đang ở đó mà, đúng không?
- Ừ, hôm nay ông ấy nhắc cô suốt ngày. Đã khuya nhưng có lẽ ông ấy đang chờ cô về ăn tối đấy.
Kì Phương bịa như thế chứ thực ra anh thừa hiểu tính lãng trí của Paul chẳng ai bì nổi. Cuôc đời nhà khảo cổ này gắn liền với sách vở và gạch đá. Ông có thể đọc vanh vách từng niên đại của tất cả hiện vật trong bảo tàng Chăm nhưng lại quên tịt ngày sinh nhật của vợ con.
Sáng nay ông ta bận đánh vật với khối bia kí tại bảo tàng Chăm. Thú thực, người chờ đợi cô nhất chính là anh. Chiều nay, từ khi biết tin cô về, anh luôn nghĩ về cô với bảo kỉ niệm ngọt ngào xa xưa, nhưng cái anh tò mò nhất là giờ đây cô xinh đến mức nào. Anh đã quên ăn và bất chấp mớ công việc bù đầu để đi đón cô.
- Ba em ở một mình tại khách sạn hả anh? – cô hỏi vẻ lo lắng.
- Ừ, ba cô bảo thế. Mà tôi không hiểu vì sao hai người không chờ nhau để đi cùng chuyến bay?
- Vâng, lẽ ra tôi đã bay cùng chuyến ba tôi hôm kia, nhưng do phải thi nốt một môn quan trọng nên phải đi sau một ngày mặc dù biết rằng để ba đi một mình là không nên.
- Trông ba cô quắc thước lắm, tôi nghĩ không có vấn đề gì về sức khỏe đâu.
- Anh chưa hiểu hết đâu, đêm nay rất quan trọng với ông ấy, tôi rất lo vì các rủi ro khác.
Đúng là Kì Phương không hiểu nhiều về Paul ngoài những giai thoại chứng tỏ đây là một người Pháp có nhiều duyên nợ nhất với xứ sở này. Nhưng điều mà bất cứ ai cũng biết là ngày mai đích thân Paul sẽ khai quật một báu vật của vương triều Champa. Tin này lập tức thu hút các nhà khảo cổ khắp thế giới. Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm thì đây là một tiếng sét vang dội báo hiệu cơn dông hiếm hoi sau nhiều năm khô cằn hạn hán.
Không giống như các cuộc khai quật thông thường vẫn thầm lặng diễn ra ở đâu đó hàng ngày, điều bất thường là Paul dường như biết trước cổ vật là cái gì và đang nằm ở đâu dưới lòng đất hệt như hàng ngàn năm trước tổ tiên của ông ta chôn xuống và truyền lại bản đồ cho chính ông ta vậy. Sự kì bí của báu vật và thói úp mở của người khởi xướng vừa gây thêm tò mò vừa sinh lắm kẻ hiềm ghét. Ông độc quyền báu vật lẫn thông tin. Nói dại, ngộ nhỡ đêm nay ông có mệnh hệ gì thì tất cả cũng đi theo ông nốt.
- Cô yên tâm. - Anh trấn an. - Không đầy năm phút nữa tôi sẽ bàn giao cô cho ông ta, hai cha con tha hồ mà hàn huyên!
Rex Hotel tráng lệ tọa lạc trên bãi biển lộ dần trước ánh đèn pha. Kì Phương cua xe vào trong sân rồi bước xuống dẫn cô vào trong sảnh. Gã nhân viên có chiếc nơ trên cổ áo mau miệng chào anh nhưng cặp mắt của hắn ta lại hướng về cô gái phía sau.
- Anh chị cần thuê phòng?
- Phiền anh gọi lên phòng 307, báo cho ông Paul Morierre có người đến gặp. – Kì Phương nói.
Gã nhướng mày ra chiều suy nghĩ.
- Vâng, anh chờ lát. – Anh ta cầm máy ấn số rồi áp lên tai khá lâu, mắt liếc thêm cô gái mấy chập mà hắn cho là ăn đứt mấy ả người mẫu quen mặt thường lui tới đây cùng các đại gia.
- Chẳng ai nghe máy cả. – Anh ta lắc lắc cái đầu húi cua rồi nói. - Có lẽ ông ta đang bận?
- Ông ta có ra ngoài không? – Kì Phương hỏi.
- Cũng có thể. - Gã đảo ánh mắt lơ đãng một cung tròn rồi nhìn Thi Nga gợi ý. - Cô là người nhà của ông Paul à? Khách khứa ra vào quá đông, tôi không để ý lắm. Nếu cần nghỉ ngơi, anh chị cứ đặt thêm phòng?
- Chúng tôi không có nhu cầu thuê phòng. – Thi Nga cắt ngang lời anh ta.
- Không thuê phòng? - Anh chàng lễ tân chỉ tay về phía ghế sôfa. - Vậy thì xin mời anh chị!
- Vâng, chúng tôi sẽ đợi. – Cô đáp.
Thi Nga biết nhược điểm của ba cô là hay quên. Nếu ông ta ra ngoài đi dạo một mình, cô chỉ hi vọng rằng đêm nay ông nhớ đường về. Cô không thể liên lạc cho ông vì ông không dùng điện thoại di động nhưng cô cho rằng như vậy tốt hơn, bởi hễ cứ mua tặng ông hôm nay thì lại mất vào hôm sau.
Ngồi trong sảnh có tường kính nhìn ra bãi biển, Thi Nga xua tan sự lo âu của mình bằng cách thả hồn theo những đám mây lởn vởn ngoài biển xa.
Trong khi cô ngắm biển thì Kì Phương ngắm cô. Da trắng, tóc dài, mũi thanh, môi hồng... không trang điểm. Không giống đồng tử xanh leo lẻo của cha, cô giữ sắc tố đen thăm thẳm của mẹ trong đôi mắt to tròn đầy vẻ ngây thơ. Tạo hóa đã mang cho cô sự hợp bích giữa nét thanh nhã của người phương tây và sắc màu đằm thắm dung dị của phụ nữ An nam. Nàng như một công chúa Chămpa kiều diễm vừa bước ra từ truyện cổ tích. Ánh trăng vàng lả lướt bên khung cửa làm cho khuôn mặt đầy mộng mơ của cô càng sáng lên đầy huyền ảo. Nàng ngồi đó, chỉ cách một tầm tay mà anh ngỡ như một thiên thần đang bay xa vạn dặm. Máu nghệ sĩ bất chợt nổi lên, anh khẽ nói:
- Tuyệt quá! Thi Nga cói thể cho tôi kí họa được không?
Cô gái quay lại với nụ cười hiếm hoi. Tuy nhiên dù cô có đồng ý hay không thì cuốn sổ và chiếc bút đã nằm gọn trên tay anh. Từng vẽ hàng trăm khuôn mặt danh tiếng và nhiều người mẫu khoả thân nhưng chưa bao giờ anh lại run tay như vậy. Vẽ kí họa chỉ cần chộp lấy thần sắc của nhân vật và ghi lại bằng vài nét chấm phá. Tuy sơ lược nhưng người họa sĩ phải tài hoa mới mong thổi được vào bức tranh cả tâm hồn lẫn tính cách. Vừa được vài nét thì giọng the thé của gã nhân viên làm anh cụt hứng.
- Cô Thi Nga có đây không?
- Tôi đây - Thi Nga quên mất đang làm mẫu đứng vụt lên. - Gì vậy anh?
Chàng lễ tân sẵn nụ cười duyên từ xa kèm với một lá thư trên tay. Điệu bộ hệt như sắp ban cho cô một niềm vui lớn.
- Có một lá thư của ông Paul gửi lại đây đấy.
- Thư ba tôi? sao lúc nãy anh không nói ngay.
- Xin lỗi, tôi... quên.
Thi Nga tin rằng gã này có vấn đề. Không đợi anh ta nói hết câu, cô đưa tay đón lấy nhưng bị anh chàng “ có vấn đề’’ này vội rụt tay lại. Lần này gã mạnh dạn nhìn thẳng.
- Khoan đã, lấy gì chứng minh cô là người nhà của Paul?
Thi Nga đành rút cuốn hộ chiếu màu hạt dẻ đưa cho anh ta. Chàng nhân viên nhìn xuống rồi lại nhìn lên mặt cô đối chiếu. Không thể tìm ra lí do níu cô lâu hơn, anh ta trao trả toàn bộ giấy tờ.
Nói là bức thư chứ thực ra là tờ giấy nâu kẻ ô li gấp làm tư. Hi vọng ba cô nhắn lại điều gì trước khi đi đâu đó, cô vội mở ra. Khi trang giấy dang rộng trước mắt, cô không thể ngạc nhiên hơn khi thấy mấy kí tự lạ hoắc:
Cô quay lại hỏi ngay người thanh niên.
- Liệu anh có đùa tôi không? Đúng là ông Paul Morierrre ở phòng 307 viết bức thư này?
- Ơ hay, cô nghĩ tôi vẽ ra để trêu cô chắc.
- Xin lỗi, đúng là ông tây cao cao gầy gầy, râu tóc bạc phơ biết tiếng Việt đúng không?
- Sống mũi dọc dừa và đôi môi màu dưa hấu như cô nữa đấy! – Anh ta bổ sung.
- Phiền anh cho tôi hỏi thêm, ông đưa cho anh lúc nào, ông ấy đi cùng ai, và có dặn gì thêm nữa không?
Chàng lễ tân cảm thấy vinh hạnh ngần nào khi đôi mắt đẹp như mộng kia đang nhìn xoắn lấy mình, cho dù đó là cái nhìn riết ráo đến điên dại. Gã ước gì được chia ra năm câu hỏi và mỗi câu trả lời tương ứng gã sẽ thêm thắt cho thêm phần lì kì hồi hộp để đứng ngắm người đẹp đến hết cái buổi trực đêm buồn tẻ này. Nhưng nhìn khuôn mặt có phần tím tái và một anh chàng hầm hầm đeo bám phía sau buộc gã phải hủy sự bông đùa của mình.
- Ông ta viết lúc rời khách sạn cách đây chừng hai tiếng. Viết xong ông đưa cho tôi và bỏ đi, hình như đi một mình...
- Anh có nhớ ông đi đường nào không?
Anh chàng lại tỏ ra động não nhưng Kì Phương kéo nhẹ tay cô. Mắt anh nãy giờ không rời tờ giấy rồi nói:
- Tôi biết đây là đâu. Ta đi thôi.
Thoáng chút ngạc nhiên nhưng không hỏi thêm, cô bước theo anh. Chiếc Ford Ranger như một mũi tên vùn vụt trực chỉ Mỹ Sơn.
Chương 4
Sau cú điện báo kèm theo những tấm ảnh hiện vật vừa bị đào trộm gửi đến, Paul rất kinh ngạc và hoảng hốt bởi đúng nó là báu vật mà ông đã mang về từ kho báu Naga mười hai năm trước. Thật khó tin là có kẻ đã biết vị trí bí mật đó.
Trên đường đến Mỹ Sơn, ruột gan ông như lửa đốt và chỉ mong tang vật vẫn nguyên vẹn tại hiện trường. Chỉ có ông mới biết được rằng cổ vật này là chiếc chìa khóa để ông tìm lại kho báu Naga đang thất lạc trong rừng sâu. Nếu cổ vật này bị mất thì con đường đến Naga sẽ vĩnh viễn khép lại hoặc mất hẳn vào tay thế lực xấu. Mười hai năm trước, sau hơn một tháng ẩn mình trong thánh địa Naga, ông tin những kẻ phục kích bên ngoài tưởng ông đã chết nên chúng cũng bỏ đi. Quyết định rời Naga, Paul đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã: Nếu mang cổ vật này về quê như đã hứa với vợ, ông sẽ vi phạm tày đình lời nguyền của hội kín, ngược lại, đến chết ông cũng không được thanh thản. Sau những đêm trăn trở suy tính, ông chấp nhận sự trừng phạt của hội kín để cho người xưa được mỉm cười nơi chín suối.
Sau khi thoát ra ngoài hang núi, ông đã mang cổ vật trở về sau nhiều đêm đói khát vượt núi băng rừng như một tên tù vượt ngục. Đến Mỹ Sơn, biết mình khó thoát khỏi sự trừng phạt tàn khốc, ông tính cách đào tẩu. Ông sẽ trốn về Pháp một thời gian chờ tình hình lắng xuống rồi sẽ trở lại trình báo báu vật cho nhà chức trách. Trong tay ông lúc này gồm báu vật, một tập tư liệu về Naga và tấm bản đồ. Báu vật sẽ ở lại Mỹ Sơn đúng như ước nguyện của vợ ông. Còn bản đồ và tư liệu thì ông biết không nên mang theo người. Bởi nếu hai thứ này cùng lúc rơi vào tay kẻ xấu thì lập tức Naga sẽ bị bại lộ. Sau khi cân nhắc, ông quyết định chỉ mang theo tập tài liệu.
Sáng nay, ông đã dạo vòng quanh thung lũng sau nhiều năm vắng bóng. Điều ông mừng là công tác trùng tu đã được nhà nước quan tâm hơn trước. Nhiều hạng mục di tích đã được được công nhận và có kế hoạch trùng tu phục chế bài bản. Đây không còn là sân riêng của người Pháp mà còn rất nhiều chuyên gia Ý, Anh và Nhật đã nhập cuộc. Sáng nay ông cũng không quên dò lại vị trí mà ông đã lén lút chôn báu vật và thấy nó vẫn nguyên xi. Ông đã lặng lẽ đứng đó hồi tưởng rất lâu. Thôi chết rồi, cái giây phút thả lòng kia đã bị ai đó theo dõi. Chúng sẽ đoán ông đang tìm gì ở đó.
Chiếc taxi đã tiến sát bìa rừng, ông tìm lối tắt đi thẳng tới thánh địa. Không một bóng người, ánh trăng vằng vặc phủ tràn thung lũng trong veo đến diệu kì. Họ đi đâu cả rồi? Hay có kẻ bày chuyện đùa ông? Ông tìm đến vị trí đó rồi gạt đám lá mục phủ đầy mặt đất và nhìn xuống thảm cỏ dại vẫn y nguyên như sáng nay, không có vết đào bới. Té ra mấy bức ảnh kia là đồ giả mạo mà kẻ đó đã bày mưu để lừa ông. Định cất bước trở về thì có tiếng loạt soạt sau lưng ông rồi một bóng đen đi tới.
- Đứng im tại chỗ!
Paul giật nảy người định bỏ chạy nhưng trước sau đều bị chặn. Biết đã trúng kế, ông chỉ biết đứng chôn chân mà nhìn. Một người đàn ông lực lưỡng lao tới bẻ quặt tay ông về phía sau để cho người khác trói lại.
- Có đúng chỗ này không? - Một người chỉ tay xuống đất hỏi.
- Mày nói gì? – Paul hỏi lại.
- Đừng giả vờ nữa. - Người to con dằn giọng. - Đào nó lên cho lão trắng mắt ra!
Một người thấp đậm dáng rất thạo việc vẽ một vòng tròn quanh vạt cỏ nơi ông vừa gạt đám lá khô. Tiếng cuốc xẻng chan chát thi nhau bập xuống xới tung cả khoanh đất rộng. Khi hố đã sâu ngang thắt lưng, một người dùng xẻng nhảy xuống cẩn thận xén sâu thêm từng lát đất nhỏ.
- Nhẹ tay thôi, kẻo làm hỏng việc. – Người đứng trên nhắc nhở.
Khi mũi xẻng chạm nhẹ vào một vật cứng vang lên một tiếng “ coong’’ trong ngần, y reo lên.
- Đây rồi! chính nó đây.
Đầu óc Paul chao đảo, ông sụm xuống bất lực nhìn hai kẻ lạ mặt nẫng báu vật mà ông phải đánh đổi cả máu và nước mắt mới có được. Vậy là sau bao năm ấm ủ những sứ mệnh thiêng liêng cao cả nay đã tan theo sương khói.
Hai tên trộm cho linh vật vào bao rồi đẩy ông đi về phía bờ suối rậm rạp cánh đó mấy chục bước chân.
- Cả sư! – Một kẻ cất tiếng. – Phần việc chúng tôi đã xong!
Paul ngỡ ngàng khi nghe danh xưng này, ông liền nhìn quanh xem còn ai nữa không. Dưới tán cây tối om lờ mờ hiện ra một người khoác áo choàng trắng đang tọa thiền trên một tảng đá lớn bên bờ suối. Paul căng hết thị lực nhìn người đó có đúng là kẻ mà ông suýt giáp mặt ở kho báu Naga năm xưa hay không. Nhưng nhận diện sao nổi khi ông chưa thấy mặt kẻ nằm bên ngoài vách đá và chỉ để một bàn tay bị cắt cụt trên ngực áo vợ ông. Một bàn tay cụt. Đó là tất cả những gì thuộc về xác thịt mà ông tận mắt chứng kiến về một hội kín khét tiếng trong lịch sử bán đảo Đông Dương cổ đại. Không lẽ hắn sống dai đến thế và còn đeo bám ông đến tận nơi đây hay sao.
Nếu đúng là hắn, thì nhận định bao nhiêu năm nay của ông về kẻ tà giáo cuối cùng đã chết hoàn toàn sai lầm. Đôi mắt ông đã quá mờ để nhìn kẻ đang ngồi trước mặt. Nếu không phải hắn thì là đồng bọn của hắn. Chúng chưa chết. Chúng đã trở lại đây để đòi lại linh vật và trừng phạt hai cha con ông cho trọn một lời nguyền độc ác đã tồn tại từ ngàn đời nay.
Hóa ra bao nhiêu năm nay ông vẫn chưa thoát được sự bủa vây của hội kín này. Chúng không lụi tàn, ngược lại, chúng đã cài người trong giới khoa bảng để leo cao rồi luồn sâu khắp hang cùng ngõ ngách nhằm bóp nghẹt những phát hiện và manh mối kho báu từ trong trứng nước. Chúng khoác lên vai những chiếc áo tu sĩ và trà trộn trong giới chức sắc Bàlamon. Chúng có mặt khắp nơi, từ đời thực cho đến cả trong ác mộng. Hắn là Cả sư ư? Paul nhìn kẻ đang tọa thiền trước mặt mà cười thầm một cách chua chát rồi bất chợt chỉ tay hắn rít lên.
- Chính mày? Mày đã theo tao từ Naga? mày là con rắn độc, rắn độc Naga!...
Tiếng gào vang lên một góc rừng rồi tắt nghẹt khi một tấm khăn đen chụp kín mặt. Trời đất tối sầm khi ông bị nhấn chìm xuống suối. Bộ quần áo giản dị trên người lần lượt rơi xuống. Toàn thân lạnh toát rồi từng mảng da bợt bạt co dúm trong làn nước lạnh. Con suối thiêng. Nếu được chết trong làn nước trong vắt này vẫn là diễm phúc nhưng Paul biết đây chỉ là khúc dạo đầu trong một nghi lễ tế thần rùng rợn mà ông đã từng nhìn thấy tranh khắc trên vách đá ở thánh địa Naga. Nghĩ đến đây ông rùng mình rồi ngất lịm.
Chương 5 Thực ra, chỉ liếc dòng kí tự trên Kì Phương đã biết ngay Paul muốn nói gì, và nó cũng chẳng có gì là bí mật cả. Các nhóm kí hiệu A1, A2,... B1, B2... do nhà khảo cổ kiêm kiến trúc sư người Pháp Henri Parmentier phân loại và đặt tên cho các di tích đền tháp khi ông nghiên cứu thánh địa Mỹ Sơn từ những năm đầu thế kỉ XX. Vì tính khoa học và đảm bảo sự nhất quán trong nghiên cứu nên các kí hiệu đó vẫn được tiếp tục sử dụng đến nay. Nó cũng phổ biến trong các bản đồ và tập san du lịch đến nỗi nhiều du khách cũng thuộc nó vanh vách. Kì Phương đoán Paul đang có mặt tại một trong bốn ngôi tháp đó. Paul là người rất kiệm lời, ưa chơi chữ, mê thơ ca và đặc biệt là hay dùng các kí hiệu khoa học vào đời thường. Có giai thoại kể rằng, khi công tác ở Mỹ sơn, sống kiếp vô gia cư, không phương tiện đi lại nên Paul đã căng lều ngay bên cạnh tháp cho tiện làm việc. Lúc in danh thiếp để liên lạc, trên phần “ địa chỉ văn phòng’’ ông chỉ ghi độc một chữ “ B1’’
Đường sá về khuya vắng tanh vắng ngắt, sau hơn một tiếng lao nhanh trên những con đường rừng quanh co họ đã đến gần khu di tích. Chiếc Ford tiếp tục phá tan giấc ngủ của rừng núi để tiến về thung lũng thiêng.
- Tôi thật lấy làm lạ. - Kì Phương cất giọng trách móc. – Đêm hôm thế này cha cô đến Mỹ Sơn mà không nói cho tôi một câu, dù sao đây cũng là thổ địa của tôi.
Thi Nga nãy giờ nín thinh suy nghĩ miên man và sợ làm anh phân tán nên không dám hé môi. Khi anh nói, cô mới chịu lên tiếng.
- Hay là ba tôi bị ai bắt cóc vào đây?
Hôm nay Kì Phương đã chứng kiến tận mắt Paul được nhiều người săn đón không khác gì minh tinh màn bạc. Nhưng kẻ hâm mộ ông đến mức bắt cóc thần tượng lôi vào rừng khuya thế này thì anh không tin.
- Chắc không ai bắt cóc ông cả. Ba cô còn viết thư, mà gã đeo nơ nói ông đi một mình mà. – Kì Phương trấn an. - Mà biết đâu ông vào đây thăm lại nhà cũ thì sao.
Tuy lí do này không thực tế nhưng Thi Nga vin vào đây để tự trấn an mình. Từ thủa tấm bé, cô biết ba mình đã coi Mỹ Sơn là nhà. Nơi đây là cảm hứng vô tận của đời ông và còn là nơi bắt nguồn tình yêu giữa ba và mẹ cô. Nhưng đời cho ông cái gì thì cũng lấy đi cái đó, Mỹ Sơn lại là nơi chứng kiến cuộc chia lìa đầy tang thương của gia đình họ.
- Hình như ba tôi sáng nay đã thăm Mỹ Sơn rồi cơ mà? - Thi Nga hỏi.
- Đúng, nhưng chắc là ba cô bỏ quên cái gì đó nên quay lại, chẳng phải tính ba cô dạo này lãng trí mà.
Chiếc xe giảm tốc khi đường hẹp lại. Khi không thể chạy tiếp qua con dốc cao, Kì Phương bảo cô xuống.
- Cô leo núi được chứ? – Anh chỉ đôi giày cao gót.
- Được, anh đi trước đi!
Đáp xong, cô chợt rùng mình khi nghĩ phải đi vào rừng vắng với một người đàn ông mà cô chưa hiểu biết. Cô đã quên mất rằng thủa tấm bé trên chính con đường mòn này anh đã dẫn cô đi hái trái me dại mỗi khi chiều về. Cô dũng cảm tiến bước với ý nghĩ rằng cha cô đã chọn mặt gửi vàng, nên chắc anh ta không dám đi quá giới hạn tại một nơi linh thiêng như thế này.
- Tuy khó đi nhưng đường rất ngắn. - Anh nói. - Qua con dốc nhỏ này nữa là tới.
Sau một hồi luồn lách trong rặng cây tối om, một quang cảnh thần tiên lấp lánh dưới ánh trăng rằm hiện ra.
- Nhìn kìa! – Kì Phương thốt lên.
Hằng hà sa số những giọt sương li ti đang phủ trắng trên những ngọn tháp nâu mờ ảo. Khu đền run rẩy hiện lên đầy huyền diệu. Mặc dù đã ngắm khu tháp tới ngàn lần nhưng Kì Phương không khỏi thẫn thờ trước cảnh trăng đêm nay.
- Tuyệt quá! - Thi Nga cũng thốt lên. - Không lẽ ba tôi một mình đến đây ngắm tháp sao?
Kì Phương tỏ ra am hiểu Paul như hiểu về ba ruột của mình:
- Ba cô vẫn lãng mạn như hồi nào, dân kiến trúc mà. Sống lâu năm ở đây, ông ấy biết lúc nào là đẹp nhất. Có điều là cảnh đẹp thế này mà cha cô đi một mình thì hơi phí.
Kì Phương cầm nhẹ tay cô rồi bước lên những bậc thềm rêu phong tiến về chân tháp gần nhất nhưng cô không sao nhấc chân nổi. Cô nao lòng ngước nhìn những ngọn tháp tuyệt mỹ của tổ tiên để lại nay chỉ còn là những hình hài cụt đầu đổ nát nằm giữa rừng hoang rồi một cảm giác nhói lên trong tim làm cô muốn khụy xuống. Những thây ma tróc lở.
Cô xót xa nhìn những thứ không hề giống như người ta bấy lâu nay ca tụng mà thay vào đó là quang cảnh quạnh hiu điêu tàn. Đúng như một nhà thơ Chăm đã viết mà ba cô thường ngâm nga mỗi khi chiều về:
“ ... Tháp hoang, như thình lình mọc lên từ đất...
Lông lá... âm u... dọa nạt... tháp hoang.
Nổi cộm giữa chiều trời ma quái.
Ung nhọt trên làn da mềm mại.
Thảm rừng già xanh... ’’.
Cô gắng kìm khỏi òa khóc. Mỹ Sơn đây ư? Ai đã tàn phá thánh địa linh thiêng? Ai đã đánh cắp linh hồn của tôi? Vậy là sau hơn mười năm dài đằng đẵng, cuối cùng cô đã được đặt chân trở lại chốn xưa, nơi cốt nhục ngàn đời không thể nào quên. Mẹ ơi! Trong thoáng chốc, một linh cảm lạ lùng làm cô sực tỉnh.
- Hãy tìm ba ngay!
Kì Phương lấy tờ giấy xem lần nữa rồi soi đèn lên bảng sơ đồ bằng bảng gỗ mặc dù anh đã thuộc như lòng bàn tay.
- Cô thấy các khu A, C, D, E chưa? - Anh lại chỉ về phía ngọn tháp gần nhất bên phải. - Trước mặt ta là khu B và C, nếu không tìm thấy ta qua suối để đến khu E và A. Ba cô chắc đang ở một trong bốn khu tháp kia.
- Vâng! – Thi Nga chỉ lên tờ giấy. - Thế còn cái dấu móc { úp trên đầu là gì?
- À, kí hiệu chóp nhọn, ý nói rằng bốn chữ cái đó chỉ bốn nóc tháp.
Thực ra, chỉ vài tháp thuộc nhóm B và C là còn có nóc nên bên trong rất kín và còn có những bệ thờ hoặc hiện vật, còn lại làm gì còn nóc. Nhưng để không bỏ sót, Kì Phương quyết định vào tất cả các tháp kín khu B, C tìm kiếm. Sau một hồi lùng sục cả trong lẫn ngoài tháp, Kì Phương lắc đầu nói.
- Không có, ra khu D ngay.
Khu D trải rộng phía sau khu B và C. Kì Phương cầm đèn chạy ngay ra phía ngôi tháp D6. Tuy nhiên tháp này hiện đã sụp đổ và chỉ còn vài bức tường vụn nát nằm trong cỏ dại. Kì Phương định đi về phía hai ngôi tháp dài khá nguyên vẹn tuy đã sụp mái là D1 và D2 im lìm trong đêm nhưng hai gã khổng lồ cụt đầu đang đứng gác. Khi soi đèn xuống đất, anh nhận ra những dấu chân nhàu nát trên cỏ.
- Xem này. - Anh khẽ gọi.
Hai người hồi hộp soi đèn lần theo và nhận thấy những dấu chân này đi ngược ra cổng rồi mất hút trong ngôi tháp B3. Kì Phương lấy làm lạ vì tháp này không được Paul ghi trong tờ giấy. Ngôi tháp này vuông vắn, khá cao còn tương đối nguyên vẹn ngoại trừ đang bị nghiêng và có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Anh ghìm tay Thi Nga ra dấu im lặng rồi soi đèn nhìn vào khe cửa như miệng một con quái thú khổng lồ đang há chờ mồi trong bóng tối. Không thấy gì, anh vỗ nhẹ vai Thi Nga nói khẽ:
- Cô đứng đây, một mình tôi vào là đủ. – Nói xong anh bước qua khe cửa hẹp sâu hun hút, mùi ẩm mốc trộn lẫn mùi tanh lợm xộc vào mũi. Trong lòng tháp lạnh đến rợn người, choán gần hết không gian chật hẹp là một bệ thờ chỉ còn mỗi yoni cao ngang thắt lưng nhưng cái thứ đang nằm trên đó mới làm anh giật mình lùi lại. Tay run run soi đèn lên yoni và anh không tin nổi thứ chất lỏng đang đọng lại trên đó. Máu? Kì Phương lạnh buốt xương sống khi nghĩ một chuyện khủng khiếp vừa diễn ra nơi đây. Tiếng giày lộc cộc ập đến phía sau.
- Gì thế anh?
- Có lẽ do... nước mưa! – Anh lúng túng đáp.
- Tháp này có nóc mà! – Cô sấn sát bệ đá rồi thốt lên. - Không lẽ đây là máu?
Thi Nga rút trong túi ra một mẩu giấy rồi chấm vào thứ chất lỏng. Nó có màu đỏ tươi.
- Máu thật sao? – Cô uôm người về phía trước và chỉ cách bệ đá vài phân.
- Máu thật, không lẽ... ? – Giọng cô òa lên đầy sợ hãi.
- Đứng lùi ra. – Kì Phương chộp lấy vai cô ghìm lại, tưởng chừng như nếu nắm hụt, cô nàng sẽ đổ nhào lên bệ thờ.
- Máu? ba tôi bị làm sao rồi... ba ơi, ba ở đâu? – Cô òa lên.
Kì Phương biết không sớm thì muộn cô cũng thốt ra điều hãi hùng đó. Điều mà anh đã nghĩ tới nhưng không dám nói trước. Có một mạng sống tươi rói nào đó vừa được hiến dâng cho thần linh. Một bữa tiệc sặc mùi tà giáo ghê tởm nào đó vừa diễn ra ngay trước mắt và ngay trên chiếc mâm đá có tên yoni kia. Mùi tanh nồng đang xông tỏa ngập ngụa gan ruột làm cô chạy vội ra ngoài tránh nôn tháo ra một cách bất nhã không thể tha thứ chốn linh nghiêm. Lau miệng xong, cô lấm lét bước vào. Không xông xáo như lúc nãy, trông mặt cô tái mét và bơ phờ như vừa trút hết sinh lực ra khỏi cơ thể. Kì Phương biết mọi thứ vẫn chưa bắt đầu. Điều khủng khiếp nhất vẫn đang chờ cô phía trước.
Kì Phương tuy bình tĩnh hơn nhưng cũng không thể giấu sự nao núng. Anh không muốn tin đó là máu, nhưng mùi tanh, và màu đỏ tươi đã là câu trả lời. Vết máu trên các dụng cụ thờ cúng không phải là hiếm. Từ thời cổ đại, máu đã chảy thành suối trên các đài thờ Thần Mặt trời của người Maya, người Da đỏ và nhiều bộ tộc Châu phi gần đây vẫn còn giết gái trinh và trẻ em để lấy máu tưới lên các biểu tượng tôn giáo. Mà chẳng cần viện dẫn đâu xa, ngay trên thánh địa Mỹ Sơn này có nhiều tài liệu chép lại những nghi lễ hiến sinh cho thần Siva. Trên các bia kí có nói đến lễ hiến tế bằng máu ngựa trắng, dê trắng, trâu trắng bị cắt cổ để cúng thần trên các chùa tháp. Nay một người đàn ông da trắng có lẽ là một món tế không tồi. Trên nhiều tấm bia kí còn kể triều đình đã hiến đàn ông, đàn bà và cả tù binh và cho các vị thần. Kì Phương cố xua đuổi những ý nghĩ rợn người vừa ùa đến, và vẫn để trấn an Thi Nga là chính, anh nói:
- Chắc không phải máu, mà nếu máu thì chưa hẳn là máu người.
Kì Phương đứng lên và thấy nhột lạnh ngón chân, anh nhìn xuống mũi giày vải và nhận ra vài giọt máu rỉ từ phễu yoni đã thấm đẫm một vệt lớn. Rút bàn chân lại, máu đã đọng thành vũng dưới nền gạch cũ. Kì Phương thầm nghĩ, một người già yếu như Paul có sống nổi sau khi mất nhiều máu thế này không. Bỗng nhiên Thi Nga loạng choạng đổ sụp xuống trước bệ đá như thể đó chính là ba cô đang trong cơn hấp hối.
- Ba ơi!
Khoa học chưa thể chứng minh được hiện tượng thần giao cách cảm, nhưng họ không thể phủ nhận có một sợi dây thông tin sinh học kì diệu giữa con người cùng huyết thống. Kì Phương loay hoay cố gắng tìm mọi cách để Thi Nga không suy sụp lúc này nhưng vô ích. Anh dìu cô ra ngoài rồi nói.
- Cô đừng hoảng, chưa có cơ sở nào chỉ ra ba cô đã chết đâu.
Kì Phương lại rút bút tích của Paul ra như một bảo bối, mặc dù anh biết nó đã hết thiêng.
- Chúng ta phải sang bên khu A, biết đâu ông đang ở bên đó thì sao? – Kì Phương không tin lắm điều mình vừa nói, vấn đề là anh muốn kéo Thi Nga ra khỏi đây và nuôi dưỡng thêm niềm hi vọng đang thoi thóp của cô. Sự gợi mở làm cô gái kịp trấn tĩnh giây lát, niềm lạc quan như được đánh thức. Cô giằng lấy đèn pin trong tay Kì Phương và gạt nước mắt.
- Cha tôi bỏ khách sạn rất đột ngột, nhất định ông không thể một mình đến đây.
- Cứ bình tĩnh! Mọi việc sẽ tốt đẹp thôi.
Kì Phương không nghĩ là cô ta đã thay đổi suy nghĩ nhanh như vậy. Trong vài giây từ chỗ tin cha mình đã chết bỗng quay ngoắt tin cha cô đang sống. Bây giờ anh mới nhận ra niềm tin tích cực có sức mạnh như thế nào. Kì Phương thở phào vì đã thắp lên chút niềm tin nhỏ nhoi trong cô tuy anh biết rằng nó có thể vụt tắt bất cứ lúc nào. Kì Phương biết đang có nguy hiểm rình rập họ nhưng anh không muốn chạy khỏi sự thật là một ai đó có thể đang hấp hối đang cần cứu quanh đây. Anh chỉ tay về phía bên kia con suối nói:
- Chạy nhanh xem.
Lần này không để anh dẫn lối, cô băng qua cây cầu nhỏ bắc qua con suối đang chảy ào ào. Mặt đất trơn và đôi giày cao gót đã buộc cô đôi ba lần phải vồ ếch. Qua suối có một ngã ba nhỏ trên triền dốc, cô dừng lại chờ anh. Kì Phương nói:
- Bây giờ chia ra để tìm cho nhanh, cô đi về bên phải bên có khu F đang bảo tồn. - Anh quay đầu chỉ ngược lại. - Còn tôi sẽ chạy sang nhóm A xem sao. Cô dám đi một mình không?
- Tôi dám!
Kì Phương đi được chục mét thì thấy sờ sợ bèn đứng lại nghe ngóng. Phía trước mặt anh lồ lộ dưới ánh trăng những hố đào và những đống gạch đá lởm chởm mà các chuyên gia Ý vừa quy tập chiều nay. Mặc dầu tối trời nhưng do quen thuộc địa hình nên anh đã chạy một quãng khá xa. Đất dưới bàn chân trơn nhẫy như được dội mỡ. Kì Phương chỉ kịp kêu “ ối’’ lên một tiếng rồi té nhào xuống một hố sâu. Chưa kịp định thần thì anh đã sởn gai ốc khi sờ trúng một dị vật cộm lên dưới mặt. Anh trương mắt ra nhìn. Dưới ánh trăng yếu ớt chiếu qua vòm lá, anh nhận ra dưới mặt mình là tột đỉnh của một bi kịch. Điều kiêng kị nhất cuối cùng vẫn đến. Khuôn mặt trắng bệch của Paul lộ ra dưới lớp đất tươi.
Chương 6
Trên quốc lộ 1A, chiếc Audi A6 màu đen lao với tốc độ chóng mặt tiến vào thành phố Đà Nẵng từ cửa ngõ phía nam. Trời đã mờ sáng nhưng các con phố và giao lộ hầu như vắng ngắt trong ánh đèn đường vàng vọt. Đến một ngã ba, chiếc xe rẽ vào phố Lê Đại Hành rồi lại tăng tốc nhằm hướng sân bay. Trên hàng ghế sau có hai người đàn ông, một to cao, một gầy nhỏ. Mặc dầu không nói gì suốt quãng đường dài nhưng có vẻ họ khá lưu luyến trước khi chia tay. Ngồi cạnh nhau, người thấp bé chốc chốc ngước lên nhìn trộm người kia đang ngả mình lim dim trên nệm ghế.
Dung mạo người to cao mới trông đã biết ngay là ngoại quốc: lông lá, mùi hăng, mũi cao, mắt sâu, nước da đen sạm chắc bền như được xông khói từ suốt mấy kiếp trước. Chỉ vài phút nữa là tiễn khách, không để không khí tẻ nhạt kéo dài mãi, người thấp bé với tư cách là chủ nhà bèn lên tiếng trước.
- Tôi hỏi khí không phải, ông anh là người... Ấn Độ?
Người to cao cựa mình cười mỉm, mắt phóng về phía trước rồi đáp lại bằng một thứ tiếng Việt lơ lớ.
- Ông nói chỉ đúng một nửa.
- Sao cơ? - Người nhỏ bé giương to mắt. - Đúng là đúng mà sai là sai chứ?
- Xác mọc đất Miên, hồn ngự Mêru(3). – Anh ta đáp.
Người thấp bé vẫn láng máng cho đến khi nhìn thấy hình ảnh Siva bằng kim cương lủng lẳng trên sợi dây chuyền trước ngực. Người Miên theo theo đạo Bàlamôn. Thú vị với phát hiện của mình, người nhỏ thó càng tò mò. Mới chỉ vài phút quen nhau nhưng đã để cho anh ta không ít ấn tượng về thanh niên ngoại quốc này. Người to cao vẫn nhìn phía trước, chỉ có đôi tròng mắt như hai hòn bi đang động đậy. Ánh đèn pha của những ô tô ngược chiều phả những luồng sáng thoắt đỏ thoắt vàng trên nước da đen cháy tựa như thân xác y được đúc tạc bằng đồng thau vậy.
- Tiếng Việt của anh không tồi, chắc anh thường sang Việt Nam làm ăn?
- Tôi vẫn thường đón bình minh trên các resort bãi biển Sơn Trà, tiếc rằng lần này về cứ như chạy trốn.
- Vâng... - Người thấp bé cúi xuống tỏ chút ngượng ngập. – Chúng ta đều thừa lệnh Cả sư thôi mà.
Nghe đến “ Cả sư’’ người to cao ngoái lại nhìn chiếc vali đang an toàn trong cốp sắt mới an tâm quay lên nhưng không giấu nổi nét căng thẳng bất chợt. Xe lao nhanh hơn. Anh ta ngước cặp mắt đầy chất latin đượm buồn ngoái ra ngoài cửa sổ nhìn xa xa về phía đằng đông đầy vẻ tiếc nuối. Thấy vẻ mặt đầy tâm trạng của một kẻ sắp rời xa chốn mình yêu thích, người nhỏ bé chẳng nỡ gây xáo trộn khoảng khắc yên lặng ngắn ngủi này của y. Hai người im lặng cho đến khi chiếc Audi dừng hẳn. Người nhỏ bé xuống chạy vòng ra sau mở cốp xách vali cho y vào sâu trong sảnh đón rồi chủ động đưa tay ra bắt.
- Chúc đạo sĩ thượng lộ bình an!
Gã to cao suýt bật cười khi lần đầu tiên có người gọi mình là “ đạo sĩ’’. Thấy người bỏ bé lưỡng cưỡng chưa muốn dứt ra, y hỏi.
- Hình như ông có điều gì muốn dạy tôi?
- Ấy, không dám... tôi thấy đạo sĩ có nét gì đó hơi... quen quen, có phải tên ngài là... Shi...
- Xuỵt! - Người cao lớn trỏ vội ngón tay lên môi. - Thốt tên người khác nơi công cộng là không nên.
Y lần tay sau quần móc một tấm card rồi đưa cho người nhỏ bé. Người này đón lấy đọc ngấu nghiến, một thoáng sau ngửng lên vẻ mặt muôn phần kinh ngạc. Vua đồ cổ. Lúc này anh ta mới nhận ra trước mặt là một con người mà không phải ai cũng có cơ may được gặp một lần trong đời. Thảo nào từ đầu đã toát lên vẻ uy nghiêm khó gần, một chút lịch lãm và thừa ngạo mạn. Miệng lưỡi người nhỏ bé vốn đã sống sượng nay lại càng xơ cứng không thốt nên lời. Người to cao vỗ nhẹ vai anh ta.
- Nếu có cơ hội, đừng ngại gọi cho tôi. Nhiều người đã đổi đời sau khi họ gọi cú đầu tiên cho tôi đấy!
Người nhỏ thó xúc động đến nỗi mặt co lại, từng nhúm da bên khóe mắt giật lên từng hồi. Với công việc và chức năng của mình, anh ta hiểu từ “ cơ hội’’ ở đây là gì. Đó là đồ cổ.
- Đứng lâu nơi công cộng cũng không tốt đâu. Tạm biệt! - Người cao lớn vỗ vai cho anh ta tỉnh lại rồi ném một nụ cười bí hiểm trước khi bỏ đi.
Luôn luôn “ gieo hạt’’ là phương châm làm việc của y. Một thói quen tốt và rất đơn giản, với xấp card dày cộp đầy hai túi sau chiếc quần bò Levi’s, y không ngừng gieo xuống các mảnh đất tiềm năng. Với con mắt nhà nghề, y biết đâu là những đối tượng cần thiết lập quan hệ, đâu là đối tượng không nên la cà. Không hề vung vãi danh hão như một số doanh nhân học đòi, những tấm danh thiếp của y luôn đặt đúng nơi đúng chỗ. Đó là những nhà khảo cổ có tâm địa, những tên bảo vệ bảo tàng tham lam, và tất nhiên không thể thiếu những tên trộm đồ cổ người bản địa-kẻ mà hắn cho rằng sẽ mang niềm vui bất ngờ nhất.
Trong quá khứ đã có không ít những nhà sư biến chất trước khi từ giã cõi tu hành đã không quên ẵm về cho y bức tượng Phật vô giá. Bây giờ điểm lại, tài sản nhiều trăm triệu đô la của y đang ngày một phình to mà một phần không nhỏ đã đến từ những tấm card nhỏ xíu đó. Thật khó tin.
Sân bay quốc tế hiện đại này đã mở chuyến bay thẳng Đà Nẵng – Pnompenh càng làm cho “ con đường đồ cổ’’ của y ngày một hanh thông nhưng hôm nay còn sớm nên chỉ lác đác vài người. Bước về phía quầy check in, y cúi gầm mặt nhìn những áng đèn phản chiếu rực rỡ trước mỗi bước chân.
Mọi giấy tờ được y chuẩn bị kĩ lưỡng đã lọt qua khe thủ tục sân bay suôn sẻ như bao phi vụ trước đây. Ngồi khép lặng một góc trong phòng chờ, y mở lại chiếc vali ngó vào lần nữa. Một nỗi nghi hoặc bắt đầu nảy sinh từ khi y nhìn thấy báu vật thiêng này, nhưng giờ đây nó dâng cao và đẩy y đến suy nghĩ phải hành động gì đó ngay lập tức.
Chiếc Boing737 cất cánh khỏi đường băng rồi vếch chiếc đầu da cam như một mãnh thú hướng về phía tây nam. Trót lọt. Y ngả người trên hàng ghế VIP tận hưởng cảm giác khó tả đang dâng trào. Nhưng một sự thật phũ phàng mà y không thể ngờ tới đó là: cổ vật trong chiếc vali này là một trái bom nổ chậm sắp giáng xuống dấu chấm hết cuộc đời đầy dông bão của một vua đồ cổ tầm cỡ thế giới.
*
Mặc dù Kì Phương đã lường trước một kết cục tồi tệ từ khi nhìn thấy máu, nhưng anh không ngờ cái chết của Paul lại thê thảm đến như vậy. Anh vội vã lay gọi rồi ghé nghe nhịp tim. Thấy ông ta đã chết anh bèn lấy máy gọi ngay cho giáo sư Huỳnh Lẫm. Phía đằng xa, Thi Nga có anh bên cạnh, sự can đảm của cô đã rơi mất nửa. Sự sợ hãi bất giác lan tỏa trên những bước chân run rẩy của cô. Ánh đèn trong tay cô chiếu loang loáng tứ phía và tim cô giật thót mỗi khi thấy những pho tượng không đầu của thần Siva và những đứa con mình người đầu voi của Ngài ẩn hiện trong bóng tối.
- Kì Phương, anh ở đâu? - Cô khẽ gọi.
Phủi mặt mũi rồi ngồi dậy, Kì Phương định leo lên miệng hố thì bỗng nghe thấy tiếng cô văng vẳng phía xa. Anh hét với lên.
- Cẩn thận kẻo ngã đấy.
Nhận ra giọng anh, cô gào to.
- Đừng đùa tôi nữa, anh trốn ở đâu?
- Đừng chạy, đứng tại chỗ, tôi sẽ đến.
- Anh làm sao thế? - Nhận ra âm thanh khản đặc của anh thoát lên từ lòng đất, cô ta cuống cuồng chạy về phía anh.
Trong lòng hố sâu, Kì Phương nghe rõ tiếng bước chân rung chuyển mặt đất. Ánh đèn loang loáng ngày một sáng hơn. Cô ta sẽ nhìn thấy tất cả. Kì Phương bỗng dưng thấy hoang mang như chính mình vừa gây một tội ác ghê gớm, và không hiểu sao anh thấy sợ hãi, không phải sợ xác chết sau lưng mà sợ con người sống trước mặt. Anh ước cô ta biến mất khỏi đây. Cô ấy không đủ can đảm để nhìn cha mình lúc này. Kì Phương sợ sẽ phải chứng kiến trái tim non nớt kia tan nát. Cô đang chạy thình thịch trước khi quỵ ngã. Mỗi bước chân cô là một nắm đấm dội thẳng vào lồng ngực anh. Rồi bằng một động tác bản năng, anh ngã ngửa như một khúc cây bị đốn.
- Dừng lại ngay! – Kì Phương hét lên khi nhìn thấy một mũi giày thòi trên mép hố, một tràng đất đá dội xuống mù mịt kèm một chùm sáng chiếu vào mắt.
- Trời ơi! – Cô thét lên. - Anh có làm sao không?
Rõ ràng là cô chưa thấy cái mà anh đang cố che lấp. Vừa nói, cô vừa khom người túm chặt lấy miệng váy rồi duỗi chân nằm dọc theo mép hố. Bàn tay còn lại thõng sâu xuống nhưng vẫn thiếu vài tấc nữa để chạm vào điểm cao nhất của người anh. Kì Phương co rúm người lại một cách vụng về vô tình để cái xác to tướng dưới vai anh lộ ra.
- Đưa tay đây tôi kéo lên!
- Tôi bị chuột rút rồi. - Kì Phương luống cuống chỉnh lại thế nằm. - Hãy để tôi nằm đây chốc lát.
Thấy anh lúng ta lúng túng và có ý không muốn lên, cô giục.
- Nào, đưa tay đây tôi kéo lên!
- Không! Cô ra khỏi đây ngay đi.
Kì Phương cự nự như một đứa trẻ ăn vạ làm cô nổi cáu. Rồi như chợt nhớ ra điều gì, cô kiểm tra lại tư thế của mình rồi ngượng ngịu thu hai vế đùi lên trước khi chuyển sang thế khác mà cô cho là kín đáo hơn. Đặt chiếc đèn bên mép hố, cô nằm sấp trên mặt đất rồi thõng toàn bộ thân trên xuống hố nhưng càng không ổn. Với chiếc áo cổ rộng trễ xuống này, Kì Phương chỉ còn nước nhắp tịt mắt. Đôi bàn tay cô vớt liên hồi trong không khí và cô suýt nữa tóm trúng cái thắt lưng đang phập phồng của anh.
- Đồ hâm, chìa cái tay ra đây!
Bất chấp vòng tay nhiệt huyết đang dang ra, Kì Phương vẫn cự tuyệt. Anh biết rằng chỉ cần cựa quậy, cái vật dưới lưng sẽ làm cô ta ngã lộn cổ xuống đây. Anh không thể tàn nhẫn như vậy được. Cách hành xử kì quặc của Kì Phương lại càng làm cô ta sinh nghi. Cô không vồ vập như trước mà tập trung soi đèn từ mặt đến bàn chân anh hòng tìm ra lí do. Thấy tình hình đã đến lúc nguy ngập, Kì Phương buộc phải tìm cách tống cổ cô ta.
- Tắt đèn đi. – Anh quát.
Ánh đèn vụt tắt nhưng khối thịt vẫn y nguyên và có thể đổ úp lên người anh bất cứ lúc nào.
- Để tôi nằm một lát. - Anh dằn từng chữ. - Cô hãy ra khỏi đây ngay.
- Không được, đưa tay đây! – Cô ta bất thần phóng tay xuống cố vồ một cú quyết định để kết thúc cái trò đùa quái gở này. Đất đá được dịp tuôn xuống lấp đầy mặt nhưng anh vẫn lấy làm mừng vì nó lấp luôn cái xác dưới lưng.
- Cô hãy quay lại khách sạn đi. - Anh gào lên. - Biết đâu ba cô đã quay lại tìm cô.
Kì Phương không hiểu sao lại vuột một câu như vậy, nhưng câu này liền tỏ ra hiệu quả tức thì. Thi Nga thu bàn tay chưng hửng trở về rồi ngồi thượt trên mép hố, nhưng vẫn bướng bỉnh không chịu bỏ đi.
- Cô lái được xe chứ?
- Để làm gì?
- Cô hãy nhanh nhanh quay lại khách sạn ngay, nếu không tìm thấy cô, ba cô sẽ lên sân bay tìm cô đấy.
- Nếu ông ấy đã rời khỏi đây, tôi nghĩ sẽ phải sang Camboge tìm ba tôi mất? Anh đi với tôi chứ?
- Campuchia à? – Kì Phương tưởng cô nói nhầm. - Cô nói nghiêm túc đấy chứ?
- Tôi không đùa vào lúc này!
Kì Phương cho rằng cô nàng láu lỉnh đang bịa chuyện để dụ anh đứng lên nhưng anh không dễ dãi mắc mưu đến vậy.
- Vậy ông hẹn cô sang Campuchia để làm gì nào?
- Thám hiểm một di tích gì đó chưa ai biết tới. Anh chưa nghe ba tôi nói về một thánh địa hay kho báu Naga nào đó sao?
Nghe đến đây Kì Phương chỉ muốn ngồi bật dậy để hỏi cho ra nhẽ, nhưng vừa dựng gáy lên anh đã phải giả vờ mệt mỏi hạ xuống. Không biết từ phía sau Paul có xác nhận điều con mình vừa nói hay không nhưng quả thật mấy hôm nay anh đã nghe phong phanh về chuyện đó. Kì Phương đã định hỏi trực tiếp Paul nhưng ông vẫn chưa dành cho anh một chút thời gian nhưng dù bất luận đúng hay sai thì đây là cơ hội để đẩy cô ra khỏi đây.
- Vậy cô nên nhanh nhanh quay về Rex đi, nếu không ba cô sẽ đi thánh địa Naga mất.
- Nhưng anh đang nằm đây thì tôi không nỡ bỏ đi được.
- Khổ quá, đừng lo. Tôi chỉ bị chuột rút thôi mà, vả lại đồng nghiệp tôi và cảnh sát cũng sẽ có mặt ở đây ngay bây giờ.
Kì Phương rút chùm chìa khóa rồi ném lên miệng hố. Thi Nga đang tần ngần thì có tiếng ô tô vang lên từ xa.
- Họ đến rồi đấy. Cô đi ngay đi!
Chỉ trong vài giây, tiếng sột soạt của đôi giày 9 li đã mất hút. Áp lực tưởng như đã vơi đi nhưng một nỗi ân hận lập tức ập đến giày xéo lấy anh. Mình quá ác với cô ta. Nhưng để cô chứng kiến cảnh này còn tàn nhẫn hơn nhiều. Anh thầm nghĩ sẽ gặp lại cô tại Rex rồi nói hết sự thật này, lúc đó dù có ngất xỉu cũng đã có giường ấm nệm êm. Anh cũng có thể ở đó an ủi vỗ về hàng giờ dù sao cũng dễ chịu hơn là để cô chuầy chòa nơi bùn lầy nhớp nhúa này. Kì Phương nặng nề ngồi dậy dũ bớt bùn đất rồi tìm cách leo lên miệng hố. Xung quanh chìm đắm vào bóng đêm mịt mùng.
Anh nhận ra các kí hiệu mà Paul để lại chẳng liên quan gì đến cái hố mới đào này cả. Còn chỗ tháp có yoni đầy máu cũng chẳng có trong bảng kí hiệu. Paul có một ý nguyện duy nhất là khi chết, tro cốt của mình được rắc xuống Mỹ Sơn. Kì Phương trộm nghĩ hay tờ giấy này là di chúc yêu cầu vị trí rắc tro sau khi chết? Tuy nhiên nhận định của anh có thể làm linh hồn ông nổi giận. Có nhiều học giả nói các đền tháp là nơi mai táng của vua chúa và các tu sĩ nhưng đến nay chưa có bằng chứng khoa học nào khẳng định điều đó. Paul là người phản bác giả thiết này nên càng không thể có ý nghĩ mạo phạm như vậy. Vậy thì bảng kí hiệu kia nói gì? Anh nhìn lại và tiếp tục vắt óc suy nghĩ.
Bây giờ anh mới nhìn kĩ và phát hiện sự hời hợt của mình. Trong danh mục của H. Parmentier không hề có kí hiệu C8. Chỉ có từ C1 đến C7 mà thôi. Nếu C8 không phải là tháp thì là cái gì? Mà ngẫm lại, cả ba ngôi tháp còn lại đều thành phế tích, thậm chí tháp A5 hay D6 đã bị xóa sổ gần như hoàn toàn. Kì Phương băn khăn không biết Paul muốn gửi gắm điều gì trong tờ giấy kia. Việc của ông ta là khai quật báu vật như đã hứa. Nếu biết không sống nổi thì lẽ ra ông ta phải chỉ ra vị trí cho người khác đào. Nhưng thay vì ghi rõ địa điểm thì ông ta lại chơi một mớ chữ hỗn độn thế kia. Hay là ông ta sợ kẻ xấu đọc được nên viết theo dạng mật thư?
Kì Phương nhìn lại mẩu giấy và anh nhận ra rằng đây có dáng dấp của một mật mã cổ điển. Thế nhưng mật mã thế này thì quá ư đơn giản. Cách mã hóa này có từ thời La Mã cổ đại và được sử dụng trong nhiều thế kỉ, nay đã lạc hậu và có thể bị hóa giải bởi bất cứ ai trong vòng vài phút.
Kì Phương không biết Paul đã bí mật trao mã khóa cho ai chưa nhưng anh tin loại mật mã “ vỡ lòng’’ này anh chỉ bẻ gọn mà không cần đến mã khóa. Thực ra bản khóa loại này cũng quanh đi quẩn lại mấy phương pháp cũ mèm như “ thay thế’’, “ đọc ngược’’, “ mưa rơi’’ hay “ chuồng bò’’ gì gì đó... Nghĩa là, khi không có mã khóa thì bất cứ ai bắt gặp mật thư này cũng sẽ thử mò mấy phương pháp kia và rồi cũng ra cả. Rất may là chỉ có 8 kí tự. Bản mã vừa có chữ cái La tinh vừa có chữ số nên ý nghĩ đầu tiên của anh là “ thay thế’’.
A5D6
E3C8
Thay các số thứ tự 1,2, 3... tương ứng với bảng chữ cái A, B, C, đoạn kí tự trở thành: AEDF
ECCH
Nhìn mãi Kì Phương vẫn không thấy có nghĩa gì cả. Nếu đảo lộn bốn chữ AEDF rồi sắp xếp lại theo một trật tự khác thì tạo ra một từ đáng chú ý là “ DEAF “ Từ này trong tiếng Anh có nghĩa là “ điếc’’.
Phương pháp này trong thuật mật mã gọi là “ phép thế Caesar’’ do vị Hoàng đế Lã Mã Julius Caesar sử dụng khi gửi các bức thư mật ra chiến trường bằng cách thay các chữ cái trong thư bằng các chữ khác cách đó 3 chữ trong bảng chữ cái. Trong trường hợp này, Kì Phương biết có thể phải tịnh tiến thêm hai hoặc vài chữ cái nữa nhưng phương pháp thủ công này sẽ ngốn nhiều thời gian và tạo ra vô số nghiệm. Anh tạm gác cách này để chuyển sang cách ngược lại. Đó là biến chữ thành số. Thử thay A, B, C thành 1,2, 3. Dòng kí tự “ A5D6’’ lập tức trở thành: “ 1546’’ Chữ số này trùng với vĩ độ đi qua di tích Mỹ Sơn. Kì Phương nhanh chóng giải dòng tiếp theo trong tâm trạng hồi hộp nhưng số kinh độ đầu tiên đã làm anh thất vọng. E3C8 chuyển thành “ 5338’’ trong khi kinh độ của Mỹ Sơn du di quanh số 108’50’’. Vậy đây không thể là tọa độ chôn báu vât rồi.
Kì Phương dừng tay nhìn lại tổng thể mật thư lần nữa và anh càng chú ý đến cái dấu móc úp trên đầu. Lúc đầu anh cứ tưởng đó là biểu tượng cho cái tháp nhọn, nhưng bản thân các chữ cái kia đã chỉ đích danh tháp rồi thì cần quái gì thêm chóp nữa. Hay nó là cái gì khác đây? Anh chưa biết làm gì tiếp theo thì nghe thấy tiếng động cơ gầm rú, tiếng còi rít kèm ánh đèn sáng chói xé tan cánh rừng. Kì Phương đút tờ giấy vào túi, xốc lại quần áo và phủi qua đầu tóc trước khi nhìn thấy một tốp cảnh sát xuất hiện.
Chương 7
Không hiểu vô tình hay hữu ý mà cổ nhân Champa một thời đã đặt ba trung tâm Tôn giáo - Chính trị - Kinh tế của mình nằm trên một đường kẻ thẳng tắp có tâm điểm là kinh đô Sư Tử (Simhapura). Hơn một thiên niên kỉ trải qua bao biến động phải di dời kinh đô và thánh địa, ngoại trừ biểu tượng chính trị đã lụi tàn nhưng trái tim Tôn giáo Mỹ Sơn và trung tâm kinh tế Hội An vẫn trường tồn đầy sức sống mãnh liệt như thủa xưa.
Lúc này, đón những tia nắng đầu tiên là một nhóm người trong căn nhà cổ kính ven sông Thu Bồn. Đó là ba người đàn ông lớn tuổi và một nữ phóng viên trẻ Mộc Trân. Trước mặt cô là chiếc máy ghi âm đang ở chế độ tắt, một cây viết và một quyển sổ đang mở rộng chưa có dòng chữ nào. Nét mặt của họ đăm chiêu ngó ra mặt sông phẳng phiu như lụa trải ngoài khung cửa.
Người lớn tuổi nhất là giáo sư Huỳnh Lẫm - một nhà khảo cổ và nghiên cứu văn hóa Chăm có tên tuổi nhất nước hiện nay. Ông bấm máy di động rồi áp lên tai lần này là lần thứ năm. Rồi cũng như mấy lần trước, ông thả xuống bàn với cái lắc đầu nặng trĩu:
- Đến giờ này vẫn chưa liên lạc được, tôi e rằng lão đã xảy ra trục trặc gì đó.
- Xin thầy đừng sốt ruột ạ. - Một người tóc xoăn lên tiếng. - Người Pháp có thói quen dậy muộn, ta đợi lát nữa xem.
Người đàn ông khác đeo cravat đỏ có phần sốt sắng hơn:
- Có lẽ chúng ta nên bắt taxi lên khách sạn xem sao, ông ta phải biết rằng khán giả cả nước và nhất là người Chăm trên toàn thế giới đang nằm phục bên tivi từ đêm qua.
Mộc Trân với đôi mắt thâm quầng do mất ngủ bỗng ánh lên, cô đặt li cà phê xuống bàn rồi phụ họa theo:
- Cánh phóng viên chúng em có người cả tuần nay ăn chực nằm chờ ở Mỹ Sơn, lề mề nhất như em thì tối qua cũng đã hạ trại rồi.
Người đeo cravat đỏ lộ dần là một quan chức nặng kí, ông vung tay:
- Không gì tệ bằng để mất lòng tin trong nhân dân, ông ta mà bỏ trốn như hồi trước, tôi sẽ lôi cổ ông ta ra tòa.
Nghe đến từ “ bỏ trốn’’, người tóc xoăn không thể không xen vào:
- Anh Trọng cứ bình tĩnh, dù bê tha đến mấy thì người Pháp cũng không thất hứa đâu.
Giáo sư Huỳnh lẫm không hé môi, ông đưa cặp mắt sâu hoắm nhìn ra mặt sông như tìm kiếm một câu trả lời về buổi lỡ hẹn không đáng có này. Tuy không bổ nhát cuốc lịch sử xuống Mỹ Sơn sáng nay, nhưng ông vẫn là thành viên cốt cán của đoàn khảo cổ. Ông tin tưởng vào vị đồng nghiệp đến từ EFEO như tin chính bản thân mình, nhưng để xảy ra sự cố ngay từ phút đầu trong sự kiện trọng đại này lại là một điềm không lành. Dù gì đi chăng nữa, Paul vẫn được nhìn nhận như một người đầu tiên hồi sinh cho Mỹ Sơn sau hai cuộc chiến tranh tàn phá.
Hơn một thế kỉ nay các nhà khảo cổ Pháp luôn phô cái bóng to kềnh của họ che lấp những nhà khoa học da vàng mũi tẹt như ông. Từ khi nhà thám hiểm Camille Paris tìm ra Mỹ Sơn đến nay đã có không ít nhà khoa học Tây phương để lại dấu ấn trong lịch sử hàn lâm khoa học Việt Nam hiện đại. Và ngày mai, lại một người Pháp nữa. Cô phóng viên ngước nhìn lần lượt ba tinh hoa nước nhà như như thể đang khiêu khích.
- Không biết linh vật Champa là thứ gì mà ông Paul kín như bưng vậy, chẳng lẽ các bác không ai biết gì hay sao?
Người tóc xoăn lập tức quay sang trừng mắt nhìn cô ta qua cặp kính dày cộp, giọng đục ngầu.
- Cô muốn chúng tôi ngồi tù chắc? Đã nói là bí mật quốc gia, cô nên tìm Paul mà hỏi.
Giáo sư Huỳnh lẫm nhấp một li cà phê cố che một cái nhếch mép. Bởi, ông biết rằng sau cái cặp kính trí thức kia cũng chả biết gì. Ngay cả ông đây, từng là viện trưởng Viện khảo cổ, nhà nghiên cứu Chămpa có số có hạng mà cũng chẳng rõ Paul sẽ diễn trò gì trên khoảnh đất đã nén chặt dấu chân ông. Nhìn những khuôn mặt khó đăm đăm, cô phóng viên biết mình đã hỏi không đúng lúc, không đúng người và không đúng chỗ. Gấp cuốn sổ trống trơn trên bàn, cô đưa ánh đầy cam chịu nhìn chan chứa ra mặt sông lờ đờ. Ngay lúc đó, chất giọng trầm trầm u ất hơn lên tiếng.
- Chị Mộc Trân cứ bình tĩnh. - Giáo sư Huỳnh Lẫm nói. - Cô mới đợi có một đêm, còn tôi, nói cô đừng cười, tôi đợi ngót một đời người rồi.
Người đeo kính cười khổ rồi phụ hoa theo.
- Cô Trân chắc không lạ gì với thầy Lẫm đây, nếu nói về thâm niên nghề nghiệp còn hơn cả tuổi đời của tôi, vậy mà tôi năm nay đã ngót năm mươi. Cái tuổi sắp đuổi gà nhưng nhìn lại mình vẫn chưa làm nên trò trống gì so với ông Paul. Thực lòng mà nói, chúng tôi rất ghen tị với ông ta - Người đeo kính lén nhìn thầy của mình rồi lại tiếp. – Nhưng nghĩ đi thì phải nghĩ lại, ở cái xứ này có ai dám xả thân bầu bạn với rắn rết trong rừng hoang để làm khoa học như ông ta đâu.
Giáo sư Huỳnh Lẫm đồng tình, ông nói thêm.
- Đợt này ông ta thề sẽ mang cho chúng ta một báu vật quý báu hơn tất cả các báu vật trong viện bảo tàng Chăm cộng lại.
- Ông ta điên chắc! - Người thắt cravat vốn kiệm lời nhất, nhưng lần này ông cũng không kìm nổi. - Có cái gì đó rất kì quặc, tôi cảm thấy chúng ta hình như đang bị lừa.
Giáo sư Huỳnh Lẫm vung tay như chặn chiếc lưỡi quá khích đang nhằm vào người bạn của mình.
- Nói bậy, anh suy xét cho thật kĩ, trước khi sang đây ông ta lập hồ sơ chứng cứ rất cặn kẽ cho cơ quan chủ thể của mình. Với uy tín của cá nhân và cả EFEO, mọi khâu thủ tục đã khơi thông với tốc độ ngoài mong đợi. Đây là sự kiện lớn do một nhân vật uy tín khởi xướng.
Cả nhóm không nói thêm, lúc đó chiếc di động lại reo vang. Không phải là Paul gọi đến xin lỗi như ông tưởng, đó là một học trò của ông.
- Ai đấy?... Paul bị giết sao?... Nói to lên... Trời, không thể!
Chiếc điện thoại nhỏ bé ruốt cuộc đã đánh khụy vị giáo sư. Sau tiếng gào khô khốc, ông lẩy bẩy ôm lấy đầu. Mộc Trân nhổm người dậy, mắt dáo lên hỏi dồn:
- Có giết người hả bác, ở đâu?
Sau cơn choáng nhẹ, vị giáo sư thở sâu rồi ngả lên thành nghế, mắt mở to lơ lác nhìn lên trần nhà.
- Thầy! thầy có làm sao không thầy? - Ba người đồng thanh hỏi.
- Paul... đã bị giết rồi! - Vị giáo sư già nói hắt ra đầy khó nhọc.
- Ở đâu bác? chúng ta sẽ đến đó ngay bây giờ. – Mộc Trân nhanh tay lùa mớ đồ nghề vào bao.
- Thánh địa Mỹ Sơn. Nhanh lên!
Một phút sau, chiếc xe con nhằm hướng tây lao đi.