Quyển ba
Kiếp lợn hoan lạc
21
Lại kêu oan trước điện Diêm La,
Bị lừa dối tái sinh ổ lợn.
Thoát khỏi hình hài trâu, linh hồn bất khuất của tôi lởn vởn trên mảnh ruộng một mẫu sáu sào của Mặt Xanh. Một đời làm trâu của tôi sao mà vừa hùng tráng vừa bi thương. Sau khi thoát khỏi kiếp lừa, Diêm Vương đã từng phán quyết kiếp sau của tôi sẽ làm người, nhưng oái oăm thay, tôi lại chui ra từ bụng một con trâu nái. Lần này tôi phải tìm gặp Diêm Vương, sẽ trách ông ta sao độc ác đùa với số phận của tôi như thế. Nhưng tôi vẫn cứ lưu luyến cái khoảng không gian trên mảnh đất của Mặt Xanh, không nỡ rời xa. Tôi nhìn thật kỹ cái nhục thân máu me bê bết của con trâu, nhìn Mặt Xanh đang ôm lấy đầu trâu khóc ngất, rồi nhìn cái thân thể cao lớn của con trai mình - Tây Môn Kim Long, khuôn mặt vẫn còn ngây ngây dại dại. Tôi cũng nhìn thấy đứa con trai của vợ tôi - Lam Giải Phóng và thằng bạn Mạc Ngôn của nó mũi dãi thò lò… Và còn bao nhiêu gương mặt quen biết nữa đang quây quần ở dưới. Linh hồn của tôi đã rời khỏi xác trâu, ký ức về trâu cũng dần dần biến mất để nhường cho ký ức của Tây Môn Náo lần lượt hiện về. Tôi là người tốt, không đáng chết nhưng lại bị người ta giết chết một cách thê thảm, không chỉ một lần mà đã ba lần! Ngay cả Diêm Vương cũng thừa nhận tôi là người tốt, không đáng bị giết cơ mà. Nhưng sai lầm ấy làm sao sửa được?
Diêm Vương cười nhạt hỏi tôi:
- Đúng rồi, họ đã sai! Nhưng ngươi nói đi, bây giờ phải làm sao? Ta không đủ quyền phép để cho Tây Môn Náo hồi sinh. Ngươi đã luân hồi mấy kiếp rồi, phải biết rằng thời đại của Tây Môn Náo đã kết thúc, con cái của Tây Môn Náo cũng đã trưởng thành, thi thể của Tây Môn Náo cũng đã thành bùn. Những gì của Tây Môn Náo đều đã hóa thành tro bụi… Sao ngươi không thể quên được những chuyện không vui kiếp trước để được hưởng những ngày hạnh phúc ở tương lai nào?
- Đại vương! Tôi quỳ trên nền đá lạnh băng dưới điện Diêm La, kêu gào một cách đau khổ: Đại vương! Tôi rất muốn quên quá khứ nhưng quên không được. Cái ký ức ấy như một căn bệnh quái ác cứ bám chặt lấy tôi, làm cho tôi khi là Tây Môn Lừa vẫn cứ nhớ oán cừu của Tây Môn Náo, khi làm Tây Môn Trâu vẫn cứ nhớ nỗi oan của Tây Môn Náo. Bao nhiêu là ký ức oan nghiệt làm cho tôi đau khổ, thưa Đại vương!
- Có lẽ nào loại thuốc quên quá khứ mà ta bảo cho ngươi uống chẳng có tác dụng gì sao? Diêm Vương băn khoăn hỏi. Hay là ngươi không uống thứ thuốc ấy mà đã rời khỏi đài Vọng Hương?
- Đại vương! Thực ra, khi làm lừa tôi đã không uống loại thuốc ấy mà bà già đưa cho. Nhưng khi làm trâu, hai tên quỷ nhỏ đã bóp mũi tôi và đổ vào mồm tôi một bát, lại sợ nôn ra nên đã dùng vải bịt miệng tôi lại kia mà.
- Thật là kỳ lạ! Diêm Vương nói với viên phán quan đang đứng bên cạnh: Lẽ nào bà Mạnh lại dám làm thuốc giả?
Viên phán quan lắc lắc đầu như muốn phủ nhận phỏng đoán của Diêm vương.
- Tây Môn Náo, ngươi nghe đây! Ta đã chịu hết nổi nhà ngươi rồi. Nếu hồn ma nào cũng ngang ngạnh như ngươi thì điện Diêm La của ta loạn mất. Nay nể tình ngươi tiền kiếp cũng làm được nhiều việc tốt, kiếp lừa kiếp trâu chịu khổ thế cũng đã đủ, ta lần này khai ân cho ngươi đến một quốc gia xa xôi để đầu thai. Ở xứ sở ấy xã hội bình an ổn định, nhân dân giàu có, cảnh vật đẹp tươi, bốn mùa như xuân. Bố ngươi vừa tròn ba mươi sáu tuổi, là một thị trưởng trẻ tuổi nhất ở đất nước ấy. Mẹ ngươi là một diễn viên xinh đẹp hát hay, đã từng giật nhiều giải quốc tế. Ngươi sẽ là đứa con duy nhất của họ, ngươi sẽ là quý tử. Vận mệnh bố ngươi vốn hanh thông, bốn mươi tuổi sẽ làm đến tỉnh trưởng. Mẹ ngươi sau bốn mươi tuổi sẽ bỏ nghề diễn viên chuyển sang buôn bán, trở thành một bà chủ của một công ty bán đồ trang sức nổi tiếng. Bố ngươi đi xe Mercedes, mẹ ngươi đi xe Toyota, còn ngươi sẽ đi xe gì tùy ngươi lựa chọn. Cả đời ngươi sẽ được hưởng vinh hoa phú quý để bù đắp những thống khổ mà ngươi đã chịu đựng ở kiếp trước.
Rồi Diêm Vương dùng ngón tay gõ gõ vào bàn ra chiều suy nghĩ, mắt ngước nhìn lên vòm điện cong cong tối tối, sau đó hỏi bằng một giọng ý vị:
- Ta đã an bài như thế, ngươi vừa lòng chưa?
Nhưng lần này, Diêm Vương cũng lừa tôi!
Lần đầu thai này, vừa rời khỏi đại điện, bọn tiểu quỷ đã lấy vải đen bịt kín mắt tôi. Trên đài Vọng Hương, gió mang đầy khí âm thổi ào ào khiến tôi rùng mình ớn lạnh. Bà lão ấy vừa chửi tôi dám nói với Diêm Vương về sự dối trá của bà ta, vừa dùng chiếc muỗng bằng cây Ô mộc cứng như sắt gõ côm cốp vào đầu tôi, sau đó xách tai tôi lên rồi đổ nước thuốc ồng ộc vào mồm tôi. Loại nước thuốc này mùi vị thật khó tả, giống như nước phân dơi hòa với những thứ đồ ăn mốc meo mà thành.
- Uống đi, đồ lợn ngu ngốc, uống cho chết luôn đi, dám nói với Diêm Vương tao cho mày uống thuốc giả. Chết đi những ký ức chết tiệt của mày, chết đi kiếp trước của mày, từ nay mày chỉ nhớ mùi cứt và thức ăn thiu thối mà thôi!
Trong lúc bà già vừa chửi vừa đổ nước cho tôi uống, hai tên tiểu quỷ cứ nắm chặt lấy hai cánh tay tôi, mặt luôn điểm nụ cười lạnh tanh, đểu cáng.
Tôi vừa xiêu xiêu vẹo vẹo bước xuống khỏi đài liền bị hai tên tiểu quỷ xốc lấy nách phóng chạy, chân không bén đất, hình như tôi đang bay thì phải. Chân tôi chạm phải vật gì mềm mềm như gấm, hình như là mây. Tôi định hỏi nhưng vừa há mồm là đã bị một bàn tay lông lá bịt lấy, rồi có một vật gì đó được nhét vào mồm tôi. Một mùi chua loét, giống như hèm rượu lâu ngày, lại vừa giống như bánh đậu đã thiu thối xộc lên. A! Đây chính là mùi quen thuộc ở trại chăn nuôi thuộc đại đội sản xuất Tây Môn! Trời ơi! Ký ức về kiếp trâu vẫn còn mơ hồ. Lẽ nào tôi lại vẫn là trâu, những việc đã xảy ra đều là mộng ảo cả sao? Để thoát khỏi cơn ác mộng, tôi giãy giụa một cách quyết liệt, mồm kêu lên những tiếng lạ lạ quen quen. Bị tiếng kêu lạ làm cho giật mình, tôi định thần mở mắt nhìn một loạt, phát hiện chung quanh tôi là mười mấy cục thịt, có đen, có trắng, có vàng, lại có cả cục vừa đen vừa trắng. Trước mặt tôi và những cục thịt ấy là một con lợn nái màu trắng. Một giọng nói cực kỳ quen thuộc vang lên một cách vui mừng:
- Con thứ mười sáu! Ông trời ơi! Lợn nái chúng ta đẻ mười sáu con!
Tôi dùng sức để mở to đôi mắt, cố gắng xuyên qua lớp màng nhầy nhụa để nhìn cho rõ sự tình. Trong lúc này tôi chưa thể nhìn ra bộ dạng của mình, nhưng tôi biết mình đã đầu thai thành lợn. Những hình dáng run rẩy, quằn quại, kêu eng éc nhặng xị kia chính là anh chị của tôi. Chỉ cần nhìn hình dáng của họ là tôi đã biết được hình dáng của mình. Tôi giận đến phát điên. Lão Diêm Vương kia lại một lần nữa đùa tôi! Tôi vốn ghét loài lợn vì đó là đồ súc sinh bẩn thỉu nhất. Tôi cam tâm làm lừa, làm trâu nhưng không đành lòng làm một con lợn lăn lộn trong cứt. Tôi sẽ tuyệt thực để mau chết, tôi sẽ tìm Diêm Vương để thanh toán món nợ này.
Đó là một ngày nắng nóng gay gắt. Nhìn cây hoa quỳ cành lá mập mạp chưa trổ hoa bên chuồng lợn, tôi đoán vào khoảng tháng sáu âm lịch. Trong chuồng lợn, ruồi bay từng đàn, cao hơn một tí là những con dơi bay qua bay lại. Bốn chân tôi cứng lên rất nhanh, thị lực cũng tăng lên gấp bội. Tôi nhận ra hai người đỡ đẻ cho con lợn nái là Hoàng Hỗ Trợ và con trai tôi - Tây Môn Kim Long. Vừa nhìn thấy gương mặt quen thuộc của nó, da thịt tôi bỗng dưng căng cứng, não tôi phình to lên đau đớn. Dường như có một thân hình con người đang lớn trong cái thân xác bé nhỏ, như có một bộ não người đang hoạt động trong bộ não tí tẹo của lợn con.
- Đau đớn quá! Thả tao ra, để cho tao lớn! Để cho tao xé toang cái thân xác xấu xí, bé nhỏ này và biến thành một Tây Môn Náo đường đường chính nhân quân tử… Nhưng rõ ràng là không thể. Mặc dù tôi ra sức quẫy đạp song vẫn bị Hoàng Hỗ Trợ núm lấy, sờ sờ đôi tai tôi và nói:
- Kim Long! Hình như con lợn này bị điên thì phải?
- Cho chết mẹ nó đi! Con lợn nái này chẳng lấy đâu ra đầu vú để cho mười sáu con cùng bú, chết đi vài con chẳng sao! Giọng Kim Long sao mà nhẫn tâm, ác độc.
- Không, không thể để chết con nào!
Hỗ Trợ đặt tôi xuống đất, dùng một dải lụa mềm bọc tôi lại. Động tác cô ấy thật mềm mại khiến tôi cảm thấy dễ chịu, không kềm lòng được kêu lên mấy tiếng khe khẽ. A! đó là tiếng kêu của loài lợn đáng ghét.
Một giọng nói quen thuộc vang lên từ ngoài chuồng:
- Sinh chưa? Được mấy con?
Đó là Hồng Thái Nhạc! Tôi tuyệt vọng nhắm nghiền mắt, không những nghe được giọng lão, mà còn cách hỏi, tôi biết lão đã được phục chức. Diêm Vương ơi là Diêm vương! Ông điêu ngoa quá! Ông quyết định cho tôi đầu thai ở nước khác làm công tử nhà quyền quý, sao lại có chuyện tôi sinh ra trong chuồng lợn làng Tây Môn? Một trăm phần trăm là ông lừa tôi, đồ vô liêm sỉ, đồ ngụy tặc, đồ gian trá! Tôi dùng hết sức lực giãy một cái, vuột khỏi tay Hoàng Hỗ Trợ rơi xuống đất, kêu lên một tiếng đau đớn, tôi hôn mê bất tỉnh.
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình nằm gọn lỏn trong một chiếc lá khoai môn to tướng, phía trên là một cành hạnh sum suê che ánh nắng, chung quanh lăn lóc mấy cái lọ thuốc thủy tinh sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời. Họ vừa cứu tôi! Họ không cho tôi chết! Trong tâm trí tôi đột nhiên một bóng dáng thân yêu hiện ra. Chích thuốc cứu tôi nhất định là nó, con gái tôi, Tây Môn Bảo Phượng. Nó vốn học thuốc cứu người nhưng lại thường trị bệnh cho gia súc. Nó đang mặc chiếc áo cộc tay màu lam, sắc mặt trắng xanh, đôi mắt đượm buồn như chất chứa nhiều tâm sự khó nói. À, đó là vẻ mặt quen thuộc của nó mà. Đưa tay sờ tai tôi, Bảo Phượng nói với mọi người:
- Không có việc gì cả đâu, đem vào chuồng cho nó bú tí!
Ngay lúc ấy, Hồng Thái Nhạc lao tới. Lão dùng bàn tay thô ráp vuốt vuốt cái bộ lông trơn mượt của tôi rồi nói:
- Bảo Phượng! Đừng vì cứu được con lợn này mà diệu võ giương oai nhé!
- Ông Hồng, tôi chẳng có ý đó đâu! Không giận dữ cũng chẳng khiêm tốn, Bảo Phượng vừa trả lời vừa lẳng lặng thu nhặt đồ đạc cho vào túi và nói tiếp: Trong suy nghĩ của tôi, súc vật và người cũng chẳng khác xa nhau lắm đâu!
- Nhận ra được điều ấy là tốt lắm rồi! Lão Hồng nói. Mao Chủ tịch kêu gọi nuôi lợn là làm chính trị. Nuôi lợn tốt là biểu thị sự trung thành với Mao Chủ tịch. Hỗ Trợ, Kim Long, chúng mày có hiểu không?
Hỗ Trợ lí nhí gì đó trong cổ họng, còn Kim Long thì không nói không rằng, đứng dựa vai vào cây hạnh, thò tay lấy ra khỏi túi một bao thuốc lá rẻ tiền.
- Kim Long, tao đang hỏi mày đấy! Lão Hồng nhắc lại.
- Không phải là tôi đang nghe đây à? Kim Long cười mỉa. Lẽ nào ông bảo tôi phải đem lời Mao Chủ tịch dạy về nuôi lợn đọc lại từng câu cho ông nghe sao?
Vỗ vỗ vào vai Kim Long, lão Hồng gằn giọng:
- Kim Long! Tao biết mày vốn là thằng có chí khí. Nhưng mày phải biết rằng, ở bên thôn Thái Bình có thằng cha Lý Nhân Thuận chỉ dùng tờ báo có in hình Mao Chủ tịch để gói cá đã bị phạt lao động cải tạo tám năm, bây giờ vẫn đang còn đổ mồ hôi ở ngoài bãi cát ấy. Việc của mày còn nghiêm trọng gấp mấy lần đấy, phải không?
- Tôi chẳng qua chỉ vô ý thôi, không giống như việc của hắn. Kim Long ấp úng.
- May cho mày đấy! Nếu mà mày cố ý thì mạng mày đã đứt lâu rồi. Lão Hồng nói một cách phẫn nộ rồi liếc nhìn Hỗ Trợ, hắn hạ giọng: Vì sao mà tao bảo vệ mày, biết không? Vì Hỗ Trợ, vì mẹ mày đã quỳ trước mặt tao van xin. Đương nhiên cái đó không quan trọng. Quan trọng hơn là tao nhìn nhận rất kỹ về mày. Mày xuất thân không tốt, song trưởng thành dưới ngọn cờ đỏ, trước Cách mạng Văn hóa là đối tượng bồi dưỡng của đảng. Mày học hết cấp hai, có văn hóa. Chúng tao làm cách mạng rất cần người có văn hóa. Mày đừng vì chuyện phân công nuôi lợn mà cho là vùi dập tài năng. Trong tình hình này, nuôi lợn là vinh quang nhất, chiếm cương vị cao nhất. Để mày làm ở đây là Đảng muốn kiểm chứng mày, là con đường cách mạng của Mao Chủ tịch thử thách mày!
Kim Long vứt tàn thuốc, ưỡn ngực, thẳng người, cúi đầu nghe hắn ta huấn thị.
- Vận mệnh của chúng mày rất tốt nhưng giai cấp vô sản không quan tâm đến vận mệnh, chỉ quan tâm thời thế. Hồng Thái Nhạc tiếp tục ve vuốt lông tôi, nâng tôi lên cao, nói: Lợn nái làng ta sinh được mười sáu con. Đây là chuyện hiếm có trong toàn tỉnh, toàn quốc. Huyện đang tìm kiếm đơn vị nuôi lợn điển hình đấy! Giọng lão bỗng trở nên thầm thì: Điển hình! Mày hiểu không? Ý nghĩa của hai chữ điển hình, mày hiểu nổi không? Làng Đại Thái là điển hình cho việc sửa đê; vùng Đại Khánh là điển hình cho việc khai thác dầu mỏ; vùng Hạ Đinh là điển hình của việc trồng cây; làng Từ Gia là điển hình cho cho việc tổ chức cho bà già khiêu vũ… Còn làng Tây Môn chúng ta sẽ trở thành điển hình về nuôi lợn! Ngay cả việc mấy năm trước mày bày trò buộc Lam Giải Phóng dắt trâu gia nhập công xã đáng ra cũng là một điển hình rồi đó.
Kim Long ngước đầu lên. Tôi nhìn thấy trong đôi mắt nó lấp lánh những tia sáng của sự hưng phấn, của sự tin tưởng. Tôi quá biết bản tính của con trai mình, biết nó rồi sẽ có một ngày thời vận đổi thay, nó sẽ làm được những chuyện mà ngày nay mọi người có thể cho là tức cười và ấu trĩ, nhưng trong thời ấy lại là một kỳ tích vinh quang.
- Tao đã già rồi. Hồng Thái Nhạc nói tiếp: Lần này đổi đời, tao chỉ có thể làm tốt những việc ở làng, không phụ lòng tín nhiệm của quần chúng và cấp trên, nhưng chúng mày thì khác, chúng mày còn trẻ, tiền đồ xán lạn huy hoàng. Làm đi! Hãy làm những điều tốt nhất, hãy thu nhặt những thành tích cao nhất! Đưa tay chỉ một số xã viên đang đào hố xây tường ở phía rừng hạnh xa xa, hắn nói tiếp: Trong vòng một tháng, chúng ta phải xây được hai trăm chuồng lợn, thực hiện chỉ tiêu một người năm lợn. Lợn nhiều, lợn béo; lương thực nhiều không phải để xưng hùng xưng bá mà để chi viện cho cao trào cách mạng thế giới. Mỗi con lợn là một quả bom ném vào bọn phản động đế quốc. Cho nên con lợn nái này sinh mười sáu con, cũng chính sản xuất ra mười sáu quả bom để tiêu diệt bọn đế quốc phản động! Cho nên nó chính là chiếc hàng không mẫu hạm đẻ ra vũ khí nhằm phát động cuộc tổng tiến công đấy! Bây giờ, chúng mày đã hiểu vì sao Đảng cắt cử những người trẻ tuổi đảm nhiệm cái cương vị trọng yếu và vinh quang này rồi chứ?
Tai tôi nghe những lời đầy tâm huyết và hùng tráng của hắn, còn mắt tôi thì chăm chú nhìn Kim Long. Qua mấy lần đầu thai, tình cảm bố con giữa tôi và nó chỉ còn trong ký ức như những tự dạng ghi trong gia phả mà thôi. Những lời nói của lão Hồng thực sự kích thích tâm trí Kim Long. Tim nó nhảy lên, máu nó sôi ào ào, sẵn sàng nắm đấm, sẵn sàng vung chưởng. Xoa xoa tay, nó bước về phía lão Hồng, hai cục thịt dưới cằm giật giật một cách vô thức, hai vành tai vừa mỏng vừa to rung rung. Tôi biết ngay đó là dấu hiệu của việc nó sẽ phát biểu một bài dài, nhưng lần này chuyện ấy lại không xảy ra. Có lẽ cuộc sống quá nhiều cạm bẫy đã dạy khôn cho nó. Nó tiếp lấy tôi từ tay lão Hồng, ôm chặt trước ngực đến nỗi tôi nghe tiếng tim nó đập dồn dập, nhịp tim không bình thường. Rồi nó cúi người xuống hôn vào vành tai tôi. Trong những tài liệu báo cáo điển hình về sự nghiệp nuôi lợn đầy hiển hách của Lam Kim Long sau này có đoạn ghi chép: “Để cứu con lợn sơ sinh, Lam Kim Long đã thực hiện phương pháp hô hấp nhân tạo, dùng miệng thổi không khí vào cho lợn, giúp cho nhịp tim nó đập bình thường, cứu sống con lợn tưởng như đã chết. Con lợn sống lại, song do vận dụng quá nhiều sức lực nên Kim Long đã ngã lăn ra chuồng lợn hôn mê bất tỉnh”. Nhưng lúc ấy nó chỉ nói:
- Bí thư Hồng! Bắt đầu từ nay, lợn đực là bố tôi, lợn nái là mẹ tôi!
- Đúng rồi! Hồng Thái Nhạc vô cùng vui vẻ nói: Điều mà chúng ta cần là các thành viên hãy xem việc nuôi lợn của tập thể cũng giống như nuôi dưỡng bố mẹ của chính mình!
22
Tây Môn Lợn độc quyền bú mẹ,
Bạch Hạnh Nhi nhiệm vụ vinh quang.
Cho dù rất nhiều người đầy nhiệt huyết khoác cho loài lợn bao nhiêu là vinh quang, nhưng suy cho cùng lợn vẫn cứ là lợn. Cho dù họ có thể cho tôi cơ man nào là đặc ân, tôi vẫn quyết tâm tuyệt thực để đoạn tuyệt với kiếp lợn đáng ghét này. Tôi muốn đi tìm Diêm Vương, đại náo công đường, giành giật quyền làm người, tái sinh một cách đường đường chính chính.
Lúc Kim Long ôm tôi trở về chuồng lợn, con lợn nái già nua đang nằm trên một đống cỏ, bốn chân duỗi thẳng, dưới bụng là một đàn lợn con đang chen chúc lổn ngổn. Mỗi con đang ngậm một đầu vú mút vội vã, đói khát, tiếng chùn chụt vang lên không ngớt. Những con còn lại không chiếm được đầu vú thì kêu lên eng éc, lăn xả vào cái đống lố nhố mà chen, mà giành giật. Có đứa xông vào, có đứa bị đạp bật ra, có đứa leo lên cả người mẹ mà nhảy, mà kêu. Con lợn nái nhắm nghiền mắt, miệng rên lên mấy tiếng không biết là đau đớn hay khoan khoái. Nhìn điệu bộ của nó, tôi vừa thấy thương vừa thấy ghét.
Kim Long đưa tôi cho Hỗ Trợ, khom lưng lôi một đứa đang bú ra khỏi bầy. Nó vẫn ngậm chặt khiến đầu vú mẹ nó bị kéo dài ra. Cái đầu vú vừa tuột khỏi miệng nó, ngay lập tức đã bị một con khác chiếm lĩnh. Kim Long kêu trời, lôi từng con một bỏ ra ngoài chuồng. Bọn chúng ở bên ngoài khóc ré lên, dùng ngôn ngữ của loài lợn chửi rủa con người. Trước bụng con lợn nái lúc này chỉ còn khoảng mười con, thừa lại hai đầu vú. Chúng đã bị những con lợn háu đói nhai đi nhai lại đến đỏ ửng, nhìn chúng tự nhiên tôi cảm thấy chán chường, ghét bỏ. Tôi muốn chết. Tôi không thể ngậm cái đầu vú bẩn thỉu, tanh tưởi kia. Tôi biết, chỉ cần ngậm vào đó một lần thì cái tính người trong con người tôi sẽ theo đó mà biến mất, sẽ biến thành một loài gia súc đúng nghĩa. Chỉ cần ngậm vào đó là bản tính lợn, những điều ham muốn của lợn sẽ chảy tràn ngập trong huyết quản tôi, biến tôi thành con lợn có mang một chút ký ức của con người, hoàn thành một kiếp luân hồi bẩn thỉu và sỉ nhục.
- Ăn đi, bú đi chứ!
Kim Long ôm lấy tôi, nhét đầu vú vào miệng tôi. Những chị em đáng ghét của tôi đã kịp để lại ở đầu vú một chất nước nhờn nhờn tanh lợm. Tôi ngậm chặt miệng, mím chặt lợi, cương quyết không bú.
- Đồ con lợn ngu ngốc! Vú đưa đến miệng mà cũng chẳng biết mở miệng ra mà ăn!
Kim Long chửi toáng lên rồi phát vào mông tôi mấy cái.
- Tay chân anh thô bạo quá!
Hỗ Trợ nói rồi đẩy Kim Long tránh ra một bên, ôm lấy tôi, dùng những ngón tay mềm mại vuốt ve thân thể tôi. Ôi! Sao mà dễ chịu. Không kềm nén nổi, tôi rên lên mấy tiếng nhỏ, tuy vẫn là thứ âm thanh của loài lợn nhưng chẳng đến nỗi eng éc thô lỗ như những con lợn chính hiệu kia. Hỗ Trợ vỗ về:
- Ôi! Bảo bối của chị, lợn con thứ mười sáu đáng yêu. Sao mà mi ngốc thế, không biết là sữa mẹ ngon lắm à? Nào, thử tí nhé. Không bú sữa thì làm sao mà lớn được?
Qua lời nói của nó, tôi biết dưới mắt mọi người, tôi chỉ là một con lợn đúng nghĩa, con lợn cuối cùng trong tổng số mười sáu con lợn được sinh ra trong ngày hôm nay, mặc dù tôi là con lợn không bình thường, một con lợn có trí năng giữa người và lợn, đã từng trải qua không biết cơ man nào vui buồn giữa vòng âm dương đắp đổi.
Hỗ Trợ nắm đầu vú của con lợn nái cạ cạ quanh vòm miệng và mũi tôi. Mũi tôi ngứa ngáy và không kềm được, tôi hắt hơi một cái rõ to. Có lẽ Hỗ Trợ thoáng giật mình rồi bỗng nhiên cười phá lên:
- Ha… ha… ! Không ngờ lợn mà cũng biết hắt xì hơi như người! Lợn mười sáu, mi biết hắt xì hơi thì chắc mi cũng biết bú chứ!
Nói xong, Hỗ Trợ nắm lấy vú lợn nái nhét vào miệng tôi. Thượng đế ơi! Không ngờ sữa lợn lại ngọt, lại thơm và lại béo đến thế! Trong chớp mắt ấy, tôi quên cả nhục nhã, quên cả những điều suy nghĩ vừa rồi, quên cả việc tuyệt thực để được chết. Và cũng trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy con lợn nái đang nằm nhắm mắt cho chúng tôi bú kia sao mà cao thượng, thánh thiện và đẹp đẽ vô ngần. Tôi há miệng ngoạm lấy đầu vú, vội vã đến nỗi suýt ngoạm phải tay Hỗ Trợ. Từng đợt từng đợt sữa ngập miệng tôi, chảy vào trong người tôi, tôi thấy mình khỏe ra một cách nhanh chóng. Tình yêu của tôi đối với con lợn nái cũng tăng dần lên. Tôi nghe văng vẳng có tiếng cười vui vẻ của Kim Long và Hỗ Trợ. Tôi liếc nhìn gương mặt xinh đẹp của hai người, cho dù bỗng nhiên trong lòng bao nhiêu ký ức lại hiện ra rõ mồn một nhưng lúc này, tôi lại muốn quên tất cả. Tôi nhắm mắt lại, chú tâm tận hưởng lạc thú được ăn ngon của một con lợn.
Mấy ngày sau đó, tôi trở thành con lợn út hung dữ nhất trong cả đàn. Sự ham ăn quá mức của tôi khiến Kim Long và Hỗ Trợ kinh ngạc. Những cú đớp nhanh và chính xác đến tuyệt đối, sự lựa chọn khôn ngoan nhất trong cả đàn đều thuộc về tôi, dường như ông trời sinh tôi ra là để ăn vậy. Tôi biết chọn cái đầu vú nhiều sữa nhất, đó là cái đầu vú ở giữa bụng con lợn nái. Những anh chị ngu ngốc của tôi hễ vớ được đầu vú là nhắm mắt hút, riêng tôi thì không, khi bú đôi mắt của tôi vẫn mở thao láo. Trong lúc ngậm đầu vú này, tôi khôn ngoan dùng thân thể của mình che thêm một cái nữa, đôi mắt láo liêng nhìn hai phía, hễ có đứa nào muốn xông vào là tôi dùng mông tận lực đẩy nó sang một bên. Như thế, khi cái đầu vú này bị vắt kiệt một cách nhanh chóng thì đã có cái dự trữ. Lượng sữa tôi tiêu thụ hàng ngày gấp ba lần một con lợn bình thường khiến tôi không khỏi có một chút tự kiêu tự mãn, song đôi khi cũng có một chút xấu hổ. Nhưng thực ra, tôi ăn nhiều cũng có ý đồ riêng. Đối với con người mà nói, tôi ăn nhiều thì sẽ chóng lớn, cũng là một cách báo đáp, là điều làm con người vui nhất. Đương nhiên, với con lợn đã đẻ ra tôi thì điều ấy là quá sức. Tôi vắt kiệt thân thể nó, tôi ngậm đầu vú và nút một cách thô bạo khiến nó đau đớn. Ngay cả lúc nó đứng dậy để ăn, tôi vẫn đứng ở dưới bụng nó, ngước đầu ngoạm lấy đầu vú. Con ơi! Con lợn nái van nài: Con để cho mẹ ăn một tí gì đi chứ! Mẹ không ăn thì làm sao có sữa để cho anh em con bú? Lẽ nào con không thấy mẹ mỗi ngày mỗi gầy còm đi, chân của mẹ không đứng vững nữa rồi hay sao?
Bảy ngày sau khi sinh, Kim Long và Hỗ Trợ đem tám anh chị của tôi chuyển sang một chuồng khác cho ăn cháo. Phụ trách nuôi tám anh chị ấy là một người phụ nữ, bởi vách chuồng quá cao tôi chẳng thể nhìn thấy dáng vẻ, nhưng giọng nói thì rất quen thuộc, êm ái. Tôi không thể nhớ nổi tên bà ta. Khi tôi tập trung tinh lực để lục tìm trong ký ức thì ngay lập tức cơn buồn ngủ lại kéo đến. Giỏi ăn, giỏi ngủ, giỏi lớn - đó là ba tiêu chuẩn của một con lợn tốt, tôi hoàn toàn đáp ứng được. Có khi, tiếng nói nhẹ nhàng êm ái bên kia bức tường lại là lời ru để tôi ngủ thật nhanh, thật ngon. Mỗi ngày bà ta cho tám anh chị tôi ăn sáu lần, mùi thơm của cháo gạo xông lên ngào ngạt khiến tôi phát thèm. Tôi nghe rõ ràng tiếng kêu đầy khoái lạc của bầy lợn bên ấy khi được ăn, thi thoảng lại nghe tiếng vỗ về :
- Từ từ thôi, các con!
Gọi lợn là con, tôi hiểu ra, người đàn bà ấy tâm địa rất tốt.
Sau một tháng, tôi đã to cao gấp hai lần so với mấy anh chị của tôi. Tôi độc chiếm mười hai cái đầu vú của con lợn nái. Cũng có lúc, có đứa vì quá đói nên bất chấp sống chết mà lao vào ngậm lấy đầu vú, tôi liền dùng mõm húc cho một cái, ngay lập tức nó té lăn mấy vòng tận đến góc chuồng. Lợn mẹ chỉ biết van nài một cách bất lực:
- Con út ơi! Để cho anh chị con ăn một tí với, được không nào? Các con đều là máu thịt của mẹ, đứa nào chết đói thì làm sao mẹ sống nổi!
Tôi ghét lời nói của lợn mẹ; chẳng thèm phân bua gì, tôi ngoạm thật mạnh vào đầu vú khiến nó đau đớn đến nỗi trợn tròn đôi mắt trắng dã.
Tôi bắt đầu phát hiện ra, hai chân sau của tôi rất cứng cáp và linh hoạt, chẳng khác nào đôi chân của con lừa trong ký ức. Do vậy tôi chẳng cần phải nhả cái đầu vú ra để đối phó với những kẻ giành ăn, chỉ liếc thấy chúng mon men đến gần, mũi khìn khịt, mồm léo nhéo là tôi đứng bật dậy và vung chân sau lên, có lúc một chân, có lúc hai chân. Cái móng cứng như ngói đập ngay vào đầu chúng. Bọn giành ăn chỉ biết đứng xa nhìn tôi đầy đố kỵ và căm hận, chạy vòng quanh chuồng và đành phải liếm láp chút thức ăn thừa của lợn mẹ để lại cho khỏi chết.
Tình trạng này nhanh chóng bị Kim Long và Hỗ Trợ phát hiện. Họ mời Hồng Thái Nhạc và Hoàng Đồng đến bên ngoài chuồng để chứng kiến. Tôi biết họ im lặng để tôi không phát hiện ra, tôi cũng vờ như không biết sự có mặt của họ. Tôi ngoạm, mút bằng tất cả sức lực và sự hung bạo của mình khiến lợn mẹ kêu thét lên đau đớn. Tôi dùng chân sau đá loạn xạ khiến bọn anh chị đáng thương của tôi bò lăn bò lóc kêu lên thảm thiết. Tôi nghe giọng nói đầy kích động của Hồng Thái Nhạc:
- Mẹ kiếp! Đây mà là lợn à? Một con lừa thì đúng hơn!
- Vâng, những đòn đá hậu của nó lợi hại thật! Hoàng Đồng phụ họa.
Tôi nhả đầu vú, đứng dậy, khoan thai, lúc lắc đi đi lại lại trong chuồng. Tôi ngẩng đầu, hướng về họ kêu lên mấy tiếng, không eng éc như con lợn bình thường mà lại là “hu…oang hu… oang” khiến ai nấy mặt mày đều thất sắc.
- Đem cả bảy con kia sang chuồng khác! Hồng Thái Nhạc ra lệnh. Con lợn này để làm lợn giống, để nó bú mẹ một mình!
Kim Long nhảy vào chuồng, miệng chép chép mấy tiếng lạ tai rồi chuẩn bị tóm lấy bảy anh chị của tôi. Con lợn mẹ chồm dậy, ngẩng đầu, đôi mắt long lên sòng sọc nhìn Kim Long thị uy. Nhưng động tác của Kim Long rất nhanh gọn. Trong chớp mắt đã tóm được hai con. Lợn mẹ xông lên bị Kim Long đá cho một cú trúng đầu, thối lui mấy bước. Hai con lợn trên tay Kim Long vùng vẫy, kêu khóc vang trời. Hỗ Trợ và Hoàng Đồng mỗi người tiếp một con. Tôi biết chúng đã được thả vào chuồng bên cạnh cùng với tám anh chị trước. Hình như bọn bên ấy đang lao vào cắn hai đứa mới được thả vào vì tôi nghe chúng kêu thét lên, trong lòng cảm thấy khoái chí vô cùng. Hoàng Đồng chỉ hút xong điếu thuốc là Kim Long đã hoàn tất công việc, bắt gọn cả bảy con lợn chuyển sang chuồng bên cạnh. Tôi nghe rõ ở bên ấy tiếng kêu khóc hỗn loạn. Chắc là chúng đang chia làm hai phe và cắn nhau. Chỉ còn một mình, tôi khoan khoái hít thở không khí tự do không bị quấy rầy, nhắm mắt lại mà tưởng tượng tình hình ở chuồng bên. Liếc xéo mắt về phía con lợn mẹ, tôi biết trong lòng nó đau khổ nhưng vẻ mặt lại bình thản. Dù sao nó cũng là một con lợn chính hiệu, làm sao có thể biểu hiện được nỗi đau như con người. Xem kìa, vừa mất cả một đàn con mà nó vẫn đứng đó, vục mõm vào máng ăn ngon lành.
Mùi chua chua của thức ăn thoảng đến. Hỗ Trợ xách một thùng thức ăn hiện ra ở cửa chuồng. Nó khoác chéo vai một cái dải lụa màu trắng, trên đó thêu mấy chữ “Trại nuôi lợn Hạnh Viên làng Tây Môn” màu đỏ. Nó còn đeo cả một cái tạp dề màu trắng, một cái mũ mềm màu trắng, trông dáng vẻ rất giống mấy tay đầu bếp trong một cửa hiệu ăn sang trọng. Dùng một cái muỗng bằng sắt, nó múc thức ăn đổ vào trong máng. Con lợn nái ngẩng đầu kêu eng éc, chân trước đạp cả vào trong máng, thức ăn ngập đến tận mắt.
Thức ăn vương trên mặt nó trông giống như phân người vàng khô, mùi chua loét, thiu thiu khiến tôi lộn mửa. Đây là loại thức ăn cao cấp mà hai kẻ có tri thức nhất làng Tây Môn là Lam Kim Long và Hoàng Hỗ Trợ khổ công chế biến mà thành. Đó là một hợp chất giữa nước đái trâu và rất nhiều thực vật khác như bột ngô và một vài thứ rau nấu chín nhừ. Kim Long xách thùng lên, đổ ụp tất cả vào máng. Con lợn nái ăn một cách miễn cưỡng.
- Chỉ có thứ thức ăn này thôi à? Hồng Thái Nhạc hỏi.
- Trước đây hai ngày có cho thêm hai muỗng bột đậu, nhưng bắt đầu từ hôm nay Kim Long bảo không cho ăn bột đậu nữa. Hỗ Trợ trả lời.
Lão Hồng bước vào chuồng, quan sát con lợn nái rồi bảo:
- Để đảm bảo sức khỏe và sự phát dục của con lợn giống, phải cho con lợn nái này ăn uống thật đầy đủ!
- Thức ăn trong kho của đội sản xuất đã sắp hết rồi. Hoàng Đồng nói.
- Còn một kho gạo cơ mà! Lão Hồng hỏi như quát.
- Đó là kho gạo dự trữ chiến tranh. Muốn dùng kho gạo này phải được sự phê chuẩn của ủy ban công xã.
- Chúng ta đang nuôi lợn dự trữ cho chiến tranh đấy, ông biết không? Nếu chiến tranh nổ ra, giải phóng quân không có thịt ăn, làm sao thắng lợi?
Nhìn thấy vẻ do dự của Hoàng Đồng, lão Hồng ra lệnh một cách dứt khoát:
- Mở kho mau! Có việc gì tôi chịu trách nhiệm. Chiều nay tôi sẽ lên công xã trình báo và xin chỉ thị. Nuôi lợn là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất, cấp trên cũng chẳng dám ngăn cản đâu. Việc quan trọng nhất là… Bỗng nhiên lão ta hạ thấp giọng có vẻ bí mật: Chỉ cần chúng ta phát triển rộng việc nuôi lợn, số lượng cho thật nhiều; lúc ấy, kho của huyện sẽ là kho gạo để chúng ta nuôi lợn đấy!
Gương mặt Hoàng Đồng và Kim Long lúc này mới giãn ra, nở một nụ cười đồng tình, ngay lúc ấy mùi cháo gạo thơm lừng thoảng đến. Lão Hồng nói to:
- Bà Bạch! Bắt đầu từ hôm nay, bà phụ trách chăm sóc con lợn nái này!
- Vâng, thưa ông bí thư Hồng!
- Trước tiên bà đem thùng cháo ấy đến đây cho nó ăn. Nhanh lên!
- Vâng, thưa ông!
Bà Bạch! Cái tên này sao mà quen quá! Tôi cố gắng lục tìm trong ký ức mơ hồ của mình để cố nhớ xem bà ta có quan hệ gì với tôi. Một khuôn mặt thân quen hiện ra trước chuồng lợn. Vừa nhìn thấy khuôn mặt tiều tụy và u uất ấy, toàn thân tôi như bị điện giật, run lẩy bẩy. Ký ức dồn dập hiện về như nước triều cuồn cuộn. Tôi mở mồm kêu lên:
- Hạnh Nhi! Bà còn sống đấy sao?
Câu hỏi vừa thoát khỏi miệng tôi đã biến thành một tràng âm thanh kỳ quái khiến mọi người giật mình kinh sợ. Tất nhiên nó không phải là tiếng người, nhưng cũng không phải là tiếng kêu của loài lợn, mà là một hợp âm giữa người và lợn. Ngay cả tôi cũng giật mình vì giọng nói của mình. Tôi đau đớn nhận ra hiện thực. Bây giờ tôi là một con lợn, tôi không còn là Tây Môn Náo mà là một con lợn được sinh ra từ một con lợn nái lông trắng!
Tôi cố gắng nhớ lại tuổi của bà Bạch, nhưng mùi thơm của hoa quỳ thoảng qua khiến thần trí của tôi lại trở nên mơ hồ hỗn độn. Mùa hoa quỳ đang nở rộ, thân cây quỳ thô ráp, lá đen dày cứng, hoa to, cánh hoa cong cong như vòng thép… tất cả tạo nên ấn tượng không mấy dễ chịu, nhưng hoa quỳ lại rất thơm. Có lẽ tôi nhớ không chính xác, song chắc chắn là bà Bạch tuổi đã quá năm mươi, bởi vì mái tóc đã bạc quá nửa, đuôi mắt đã xuất hiện nhiều nếp nhăn sâu hoắm. Đôi hàm răng ngày xưa trắng đều, bây giờ đã vàng xỉn mà lại mất đi mấy chiếc. Không hiểu sao bỗng nhiên tôi nghĩ rằng, bà ấy đã có một thời kỳ khá dài ăn cỏ khô và vỏ đậu cứng ngắc để sống, khi nhai phát ra những tiếng kêu rau ráu, dòn tan…
Bà Bạch dùng một cái muỗng to bằng gỗ múc cháo đổ từ từ vào máng. Con lợn nái ngửi thấy mùi thức ăn ngon, lập tức đứng dậy, chúi mũi vào máng ăn ngon lành. Những anh chị của tôi ở phía chuồng bên kia cũng bị mùi thức ăn kích thích kêu réo om sòm.
Trong khi những con lợn đang say sưa với món ăn thì lão Hồng quay sang thuyết giáo bà Bạch. Giọng nói của lão thoạt nghe thì có vẻ vô tình nghiêm khắc, song đôi mắt lại nhìn bà Bạch hết sức ôn hòa và dịu dàng. Dưới ánh mặt trời, bà Bạch cúi đầu, hai tay buông thõng, mái tóc bạc rung rung, lấp lóa. Nhìn qua khe nứt của vách chuồng, tôi thấy đôi chân của bà run run như muốn qụy xuống.
- Những gì tôi nói, bà nghe rõ cả rồi chứ? Lão Hồng nói, giọng lạnh tanh.
- Thưa ông, ông cứ yên tâm. Giọng bà Bạch rất thấp song rất kiên quyết: Tôi cả đời chưa sinh chưa dưỡng, con lợn con này sẽ là con ruột của tôi!
- Được rồi! Lão Hồng nói với giọng mãn nguyện - Điều mà chúng tôi cần ở một người phụ nữ là có khả năng xem việc nuôi lợn giống như nuôi con ruột của mình.
23
Tây Môn Lợn vui chỗ ở mới,
Điêu Tiểu Tam ăn bánh say mèm.
-
Xin lỗi! Hình như ông có một chút phiền lòng phải không? Tôi nhìn thấy rất rõ làn da phù thủng đã che mất đôi tròng mắt ông, từ lỗ mũi ông, tôi nghe thấy những hơi thở nặng nhọc… Lam - Ngàn - Năm - Đầu - To nói với tôi bằng một giọng không chút cảm xúc: Nếu ông không thích những chuyện về kiếp lợn của tôi, tôi sẽ kể về cuộc đời làm chó của tôi cho ông nghe vậy!
- Không! Tôi rất hứng thú! Tôi nói: Cậu đã biết, những tháng ngày làm lợn của cậu, tôi không có cơ hội được ở bên cạnh cậu. Ban đầu thì tôi được làm việc ở trại nuôi lợn, song không được vinh dự chăm sóc cậu. Sau đó, tôi và Hoàng Hỗ Trợ được điều sang xưởng dệt gấm, những chuyện hiển hách của cậu phần nhiều là tôi được nghe người ta kể lại. Tôi rất muốn nghe cậu kể những gì cậu biết có liên quan đến tôi, đừng bỏ qua chi tiết nào cả. Cậu cũng đừng để ý đến làn da phù thủng của tôi. Khi nó che đôi mắt của tôi lại, chính là lúc tôi tập trung tinh lực để nghe cậu kể đấy!
- Những việc tiếp theo cực kỳ phức tạp, tôi chỉ có thể nhớ được những điều trọng yếu nhất để kể cho ông nghe. Lam - Ngàn - Năm - Đầu - To bắt đầu kể tiếp câu chuyện…
Cho dù bà Bạch chăm sóc con lợn nái rất tốt, song trước sự tạp ăn của tôi, thực ra là một kiểu thách thức của tôi với con người, nó mỗi ngày mỗi sa sút. Hai chân sau của nó giống như hai đoạn củi khô bất động, chỉ có hai chân trước là còn sức để kéo lê tấm thân nặng nề của mình trong chuồng. Lúc này, xác tôi đã không thua gì nó, lông tôi trơn mượt, da dẻ tôi hồng hào và thơm nức. Con lợn nái đáng thương kia lúc nào cũng bẩn thỉu, nửa thân sau dính đầy cứt đái, mùi hôi thối nồng nặc. Mỗi khi tôi ngoạm vú, nó vùng vẫy và kêu thét lên, nước mắt chảy ra từ đôi mắt hình tam giác. Nó lê lết cái thân hình tàn phế để trốn chạy tôi, van nài tôi:
- Con trai tốt của mẹ! Tha cho mẹ đi nào. Con đã ăn sạch hết cốt tủy của mẹ rồi, lẽ nào con không nhìn thấy tình cảnh thê thảm của mẹ hay sao? Con đã lớn rồi, hoàn toàn có thể tự ăn thức ăn được rồi mà…
Nhưng tôi chẳng quan tâm đến lời van nài của nó, chỉ cần một cái hích mũi của tôi là nó đã ngã lăn ra. Tôi vồ lấy hai đầu vú cùng một lúc ngoạm vào mồm. Trong khi con lợn nái kêu la thê thảm, tôi dần dần cảm thấy cái hương vị thơm ngon ngày nào đã không còn nữa mà thay vào đó là một chất nhờn nhờn vừa tanh vừa mặn. A! Không phải sữa mà là thuốc độc! Tôi tức giận húc mạnh một cú, con lợn nái lăn đi mấy vòng, kêu lên thảm thiết. Vì đau quá, nó hóa điên, chửi tôi:
- Con lợn mười sáu kia! Mày là đồ súc sinh tán tận lương tâm, là đồ ác quỷ. Bố mày không phải là lợn mà là một con chó sói…
Vì con lợn nái bị liệt hai chân sau, bà Bạch đã bị lão Hồng quở trách rất nặng lời. Bà ấy nuốt nước mắt, biện bạch:
- Bí thư Hồng! Không phải là tôi không hết lòng mà vì con lợn nhỏ này quá sức lợi hại. Ông chưa từng thấy cách nó bú phải không? Chẳng khác nào hùm sói đâu. Đừng nói là lợn nái mà trâu nái cũng bị nó rút hết xương tuỷ đi đấy!
Tựa người vào tường, lão Hồng cúi khom nhìn vào trong chuồng. Máu trong người tôi sôi sùng sục, hai chân trước dựng lên, người tôi thẳng đứng. Tôi cũng thực sự không ngờ là mình có thể đứng được trên hai chân sau. Những con lợn ở các đoàn xiếc được tập luyện kỳ công mới có thể hoàn thành được động tác này, còn tôi thì tự nhiên mà làm được. Tôi hạ hai chân trước vịn vào tường, đầu tôi sắp đụng vào bụng của lão Hồng khiến lão giật mình hoảng hốt, lùi về sau mấy bước. Liếc nhìn quanh không có ai, lão nói nhỏ với bà Bạch:
- Tôi trách oan bà rồi! Ngay lập tức tôi sẽ cho người đến, đem con lợn quái đản này nhốt nuôi riêng.
- Tôi đã đề nghị với phó chủ nhiệm Hoàng Đồng lâu rồi, nhưng ông ấy bảo để ông về quyết định…
- Đồ ngốc nghếch! Lão Hồng tức giận chửi: Có một việc cỏn con mà chẳng làm được.
- Mọi người đều kính sợ ông mà! Bà Bạch ngước nhìn lão rất nhanh rồi cúi đầu, lí nhí: Ông là nhà cách mạng lão thành, chính nhân quân tử, xử việc nghiêm minh…
- Được rồi! Từ nay bà đừng nói những lời này nữa nhé! Lão ta xua tay, nhìn gương mặt đang đỏ ửng của bà Bạch, nói tiếp: Bà vẫn còn ở trong cái lều trông coi cái phần mộ đấy à? Hay là bà chuyển đến ở trang trại chăn nuôi đi, ở chung với Hoàng Hỗ Trợ cũng được.
- Không được đâu! Bà Bạch kêu lên: Tôi xuất thân không tốt, vừa già vừa bẩn thỉu, đừng làm cho bọn trẻ khó xử…
Hồng Thái Nhạc liếc nhìn bà Bạch rồi quay đầu, đăm đắm nhìn cây hoa quỳ đang trổ hoa nói nhỏ:
- Bà Bạch! Nếu bà không là vợ địa chủ thì hay biết mấy…
Nghe đến đây, đột nhiên mồm tôi phát ra tiếng “hu…oang hu..oang” lạ tai, lòng trăm mối ngổn ngang. Thực lòng, lúc ấy tôi không hề suy nghĩ sâu xa gì, chẳng qua là nhìn thấy lão Hồng và bà Bạch dần dần thân thiết thì từ bản năng, tôi cảm thấy không vui…
Họ chuyển tôi đến một cái chuồng rất rộng rãi. Lúc chia tay với nơi mình đã sinh ra, tôi nhìn kỹ xung quanh, rồi nhìn con lợn nái đang nằm run rẩy dưới đất, trong lòng chẳng một cảm xúc nào. Nhưng dù gì đi chăng nữa thì tôi cũng từ bụng nó chui ra với đời, bú sữa của nó mà lớn. Cái ơn sinh dưỡng ấy, tôi nhất định báo đáp. Nhưng lúc ấy tôi chẳng nghĩ ra cách báo đáp nào. Cuối cùng, tôi đành phải đái một bãi vào máng đựng thức ăn của nó. Tôi nghe người ta kháo nhau rằng, nước đái lợn đực chưa giao phối có chứa nhiều chất kích thích, với những con lợn nái vì sinh nở quá nhiều lần mà kiệt sức có tác dụng phục hồi rất tốt.
Nơi ở mới của tôi là một cái chuồng độc lập rất rộng rãi cách trại chăn nuôi tập trung khoảng hơn năm mươi mét. Phía trước là một cây hạnh rất to, cành lá sum suê che mát nửa mái chuồng. Mái chuồng sau dài trước ngắn, ánh nắng có thể chiếu rọi vào đến tận bên trong. Sàn chuồng được lát bằng gạch vuông, mỗi góc có một lỗ hổng để phân dễ dàng chảy ra ngoài. Chỗ nằm của tôi có đặt một tấm thảm bện bằng cỏ màu vàng, mùi cỏ thơm dễ chịu. Tôi đi đi lại lại trong nơi ở mới, hít thở mùi vôi vữa, mùi đất, mùi thơm của cây ngô đồng mới toanh. Tôi vô cùng vừa lòng. Nếu so với nơi tôi mới sinh ra, chỗ ở mới này đúng là hơn gấp bội phần. Không gian thoáng đãng, màu sắc tươi mát, những chi tiết kiến trúc đều rất hoàn mỹ. Trên cao là những dầm trính đều là loại gỗ ngô đồng thơm nức. Mùi cỏ thơm thơm trên tấm thảm khiến tôi muốn nhai, nhất định sẽ rất ngọt. Nhưng đó là chỗ nằm, tôi không thể vì chút ham muốn nhất thời mà nhai nó, nhưng cắn lấy vài ngọn mà nhâm nhi thì cũng chẳng hại gì…
Tôi đã phát hiện ra mình có khả năng đi thẳng bằng hai chân sau như người. Nhưng tuyệt kỹ này không thể để cho ai biết, phải bí mật thôi. Tôi mơ hồ nhận ra rằng, tôi đã sinh ra trong thời đại huy hoàng nhất của loài lợn. Trong lịch sử loài người, loài lợn chưa bao giờ trở nên cao quý và quan trọng như lúc này. Hưởng ứng lời kêu gọi của các cấp lãnh đạo, hàng vạn con người phải cúi đầu hành lễ trước loài lợn chúng tôi. Tôi chợt nghĩ, có thể rất nhiều người đang sống kia mơ ước được đầu thai thành lợn để hưởng những ân sủng đột xuất này. Té ra lão Diêm Vương chẳng hề lừa tôi. Tôi muốn trong thời đại của loài lợn này mà làm nên những kỳ tích cho mình, nhưng trước mắt, tôi vẫn chưa có thời cơ. Thôi thì đành phải giả vờ ngu ngơ ngốc nghếch như một con lợn đích thực để chờ thời, tập luyện gân cốt, tăng thêm thể trọng, bồi bổ sức khỏe, rèn luyện ý chí để chờ ngày vinh quang. Do vậy, chuyện đi được như người nhất thiết không thể để cho ai biết, bởi tôi mơ hồ nhận thấy kỹ năng này nhất định sẽ có ngày dùng đến. Tôi quyết tâm mỗi đêm, khi không còn ai dòm ngó, tôi sẽ tập luyện kiểu đi này cho thuần thục hơn.
Tôi ra sức dùng cái mõm cứng của mình húc mạnh vào tường, ngay lập tức nó vỡ toác và hiện ra một cái lỗ hổng. Tôi dậm mạnh chân sau một cái, một viên gạch lập tức bị vỡ làm đôi. Tôi đứng thẳng lên, mồm đụng đến mái. Tôi đớp một cái, một thân cây cao lương bị rút xuống. Để người ta không phát hiện, tôi nhai thật nhanh, nuốt gọn, ngay cả một chút xác cũng không bỏ thừa. Sau lần thử nghiệm này, tôi đã vỡ lẽ nhiều điều. Cái chuồng này có thể là vô cùng kiên cố với những con lợn bình thường khác, song với tôi, nó vẫn chỉ là một món đồ chơi, chỉ cần nửa tiếng không hơn, tôi có thể biến nó thành bình địa. Đương nhiên, tôi chẳng ngu ngốc như thế. Trước khi thời cơ đến, tôi không thể phá hỏng chỗ ở của mình, không những thế, tôi còn phải bảo vệ nó, phải giữ vệ sinh. Tôi ngầm quy định chỗ ỉa đái, cố gắng kìm hãm sự ngứa ngáy muốn phá phách của mình. Cần phải tạo ấn tượng tốt cho mọi người. Trước khi làm bạo chúa, hãy làm một người dân lương thiện. Tôi là một con lợn thông kim bác cổ, tôi phải noi gương Vương Mãng đời Hán thôi.
Điều làm tôi vui nhất là chuồng của tôi có điện. Một bóng điện tròn trăm oát treo trên xà nhà, chỗ cao nhất. Sau này tôi mới biết ở bên trại chung cũng đã có điện, song ở đó chỉ có loại bóng hai lăm oát. Công tắc điện đính ở trên tường. Tôi giương một chân trước lên bấm vào công tắc, bóng đèn sáng trưng. Trò chơi này thật thú vị. Ngọn gió hiện đại hóa theo chân Cách mạng Văn hóa vào đến làng Tây Môn rồi! Tắt ngay thôi, không thể để cho con người biết là tôi có thể bật đèn. Tôi nghĩ, bọn họ bắt đèn trong chuồng lợn là để giám sát hành vi của tôi. Lúc ấy tôi tưởng tượng ra một loại dụng cụ, nếu họ bí mật đặt ở đâu đó thì có thể quan sát được tất cả những hoạt động của tôi. Loại dụng cụ ấy đến nay đã có rồi, từ các nhà máy, trường học, ngân hàng, ngay cả nhà xí công cộng cũng có, người ta gọi là camera tự động gì đó. Nhưng nói cho mà biết, cho dù lúc ấy đã có camera đặt ở chuồng tôi, tôi cũng biết và dùng cứt bôi đầy lên đó để cho họ thấy toàn cứt lợn cho mà xem.
Lúc tôi về nơi ở mới, trời đã sang thu. Ánh nắng mặt trời như hồng hơn, màu trắng dường như ít đi. Tôi nhận ra vì nhìn lên cây hạnh, tôi thấy lá hạnh nhuộm một màu hồng phơn phớt, chẳng khác nào với lá phong đỏ ở Hương Sơn. Đương nhiên tôi biết rõ Hương Sơn ở đâu. Tôi đương nhiên cũng biết lá phong đỏ tượng trưng cho tình yêu, còn có thể đề thơ trên lá. Mỗi sáng sớm và chiều tà, lúc mặt trời lên và lặn, cũng là lúc những người chăm lợn ăn cơm sáng và cơm tối, trong trại lợn yên tĩnh đến lạ thường, tôi thường đứng thẳng dậy, hai chân trước vòng trước bụng, thong thả đi lại, mồm nhâm nhi mấy chiếc lá hạnh bị gió thổi vào trong chuồng. Lá hạnh đắng chát, có thể chữa trị bệnh cao huyết áp, làm trắng răng. Tôi nhai lá hạnh một cách ngon lành như thể ngày nay bọn thanh niên say sưa nhóp nhép những thanh kẹo cao su. Nhìn về phía Tây Nam, những chuồng trại lúp xúp chỉnh tề trông giống như doanh trại quân đội. Mấy trăm gốc hạnh cao ngất che rợp trại lợn, dưới những tia nắng sớm hoặc chiều tà, lá hạnh đỏ rực, lấp loáng như ngọn lửa. Cảnh mới đẹp làm sao! Phải chi đến lúc này, rừng cây hạnh và cái trại lợn kia vẫn còn, nó sẽ là một nơi hấp dẫn để du khách thị thành đến thưởng thức phong cảnh. Mùa xuân tổ chức ngày hội thưởng hoa, mùa thu tổ chức ngày hội xem lá đỏ. Có thể ăn ngủ trong trại lợn. Tôi đã lạc đề mất rồi. Tôi là một con lợn có trí tưởng tượng phong phú và có quá nhiều ảo tưởng phải không? Tôi vẫn thường bị những ảo tưởng kỳ diệu ấy làm cho mê mẩn, đến nỗi đái ỉa lúc nào cũng không biết, có khi lại cười lên sặc sụa, tiếng cười kỳ lạ nửa như lợn, nửa như người. Lợn đái lợn ỉa thì thời đại nào và quốc gia nào cũng có, song lợn cười như tôi thì chỉ có một mà thôi. Việc này sau này hãy kể tiếp, bây giờ xin tạm ngừng.
Rồi một ngày nọ, mặt trời vừa mọc lên, Kim Long lại đến. Có lẽ đó là ngày mười tháng mười âm lịch, vâng, đúng ngày ấy, tôi tin vào trí nhớ của mình. Lâu lắm rồi nó không xuất hiện ở đây. Nó dẫn theo những kẻ đã từng phò tá nó trước kia, đó là bốn anh em nhà họ Tôn, tay kế toán đại đội Chu Hồng Tâm cùng một ngàn không trăm năm mươi bảy con lợn mua từ vùng núi Nghi Mông về. Người ta chỉ dùng có năm nghìn nhân dân tệ để mua về cơ man nào là lợn, mỗi con chưa đến năm đồng, sao mà rẻ thế! Lúc nó đến, tôi đang ở trong căn phòng đẹp đẽ của mình tập thể dục buổi sáng. Tôi đang dùng hai chân trước với lấy cành hạnh buông rủ trong chuồng để làm điểm tựa cho những động tác thể dục. Loài cây hạnh rất dẻo và có tính đàn hồi, tôi đu lên cành cây, cái thân thể nặng nề của tôi nhiều khi được nhấc lên khỏi mặt đất, những chiếc lá hạnh đẫm sương đêm rụng xào xạc. Động tác của tôi nhiều ý nghĩa, một là rèn luyện sức khỏe, hai là tôi thể nghiệm khoái cảm được thoát ly khỏi lực hấp dẫn của trái đất, ba là có được lá hạnh để tôi lót vào ổ nằm cho êm, cho ấm. Tôi đã tự chuẩn bị cho mình một chỗ nằm thật sự tươm tất bởi cảm thấy một mùa đông lạnh giá đang đến gần. Lúc buông chân khỏi cành hạnh để xuống đất, tôi bỗng nghe tiếng ô tô gầm rú. Ngước mắt nhìn lên, tôi phát hiện ba chiếc ô tô lấm lem bụi đất như vừa chui từ sa mạc ra lừ đừ đi trên con đường đất dẫn vào trại. Bụi dày đến nỗi không nhận ra màu sắc của chúng. Ba chiếc xe dừng lại ở khoảng đất trống bên dãy chuồng mới xây. Như những con quái vật, ba chiếc xe cứ quay ngang ngửa, tiến tiến lùi lùi giây lâu mới chịu dừng lại. Từ trên buồng lái chiếc xe thứ nhất, Kim Long nhảy xuống và sau đó là Chu Hồng Tâm và Tôn Long. Ba anh em còn lại của họ Tôn và thằng tiểu quỷ Mạc Ngôn cũng lần lượt xuất hiện từ chiếc xe thứ ba. Cả bọn lấm lem bụi đất, mới nhìn tưởng chúng là tượng đất mới khai quật từ lăng mộ Tần Thủy Hoàng. Rồi từ trong ba chiếc xe, tiếng eng éc đặc trưng của loài lợn vang lên đồng loạt đinh tai nhức óc. Tim tôi nhảy dựng lên, biết ngay rằng ngày vinh quang của loài lợn, của tôi đã đến. Đến lúc ấy tôi vẫn chưa nhìn thấy hình dáng của loài lợn Nghi Mông, chỉ nghe thấy tiếng kêu và ngửi thấy một thứ mùi khăm khẳm của cứt đái. Có lẽ đây là bầy lợn xấu xí, tôi nghĩ thế.
Hồng Thái Nhạc cưỡi chiếc xe đạp mới toanh hiệu Đại Kim Lộc phóng vù tới. Lúc bấy giờ, xe đạp vẫn còn là hàng phân phối, đại đội sản xuất chỉ có mỗi mình bí thư chi bộ là được hưởng quyền lợi này. Dựng chiếc xe đạp vào một gốc cây hạnh, không thèm khóa, xem ra lão ta đang rất phấn khích. Giống như nghi lễ nghinh tiếp những chiến sĩ từ chiến trường trở về, lão dang rộng đôi tay như muốn ôm choàng lấy Kim Long. Ông đừng tưởng lão thực sự muốn ôm Kim Long, mà đó là nghi thức lão học lóm được từ phim ảnh nước ngoài thôi. Trong thời kỳ loài lợn lên ngôi, nghi thức ấy vẫn chưa phổ biến lắm. Cho nên khi cánh tay sắp đụng vào vai Kim Long, đột nhiên lão lại buông thõng xuống, rồi đưa một tay lên, lắc lắc vai Kim Long, hỏi:
- Mua được rồi chứ?
- Một ngàn không trăm năm bảy con, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ! Kim Long hồ hởi nói rồi bỗng nhiên lảo đảo, lão Hồng chẳng kịp đỡ lấy, anh ta đã lăn đùng ra đất.
Tiếp sau Kim Long, bốn anh em họ Tôn và thằng có cái mặt đen xì giống như mặt nạ Chu Hồng Tâm cũng xụi lơ. Chỉ có Mạc Ngôn là tỉnh táo. Thằng bé nhảy nhót loạn xạ, mồm hét điên loạn:
- Chúng tôi đã trở về! Chúng ta thắng lợi lớn rồi!
Ánh nắng đỏ rực chiếu rọi, cảnh tượng sao mà bi hùng và tráng lệ! Lão Hồng luôn miệng chào hỏi các cán bộ đại đội và dân quân, tán dương tinh thần vượt khó và công trạng vĩ đại của những người mua lợn, kể cả ba tay lái xe cũng được vinh dự lây. Cuối cùng, lão cao giọng ra lệnh:
- Hỗ Trợ, Hợp Tác và các chị em! Mau mau lấy miến, luộc trứng gà để bồi dưỡng cho họ. Những người còn lại ra xe mau!
Nắp đậy thùng xe được bung ra, tôi hoảng kinh khi nhìn thấy những gì bên trong. Thế mà cũng gọi là lợn à? Một lũ nhóc hỗn tạp, trắng chẳng ra trắng, đen chẳng ra đen, đầy cứt đái, thối um. Tôi vội vàng chộp lấy chiếc lá hạnh nhét vào lỗ mũi. Tôi cứ nghĩ là họ đang mang về một bầy lợn con thật đẹp để làm bạn với tôi, để tôi - một con lợn đẹp nhất của loài lợn - có thể tận hưởng diễm phúc. Nào ngờ đó lại là một bọn quái vật lai tạp giữa lợn và chó sói. Tôi chẳng muốn nhìn thêm, song những âm thanh là lạ của chúng khiến tôi không thể kiềm chế nổi lòng hiếu kỳ. Cho dù tôi có linh hồn của một con người, nhưng suy cho cùng tôi cũng chỉ là một con lợn, ông đừng đặt niềm tin quá cao vào tôi nhé. Con người còn có lòng hiếu kỳ, huống hồ là loài lợn chúng tôi. Để giảm bớt những âm thanh lạ tai của chúng, tôi vo viên mấy chiếc lá hạnh nhét vào lỗ tai. Bám hai chân trước lên cành hạnh, tôi mở to mắt cố thu hết cảnh tượng đang diễn ra vào trong tâm trí mình. Tôi đã hình dung ra trách nhiệm nặng nề của mình. Trong những gì quan trọng nhất của lịch sử Đông Bắc Cao Mật những năm bảy mươi của thế kỷ trước, chuyện của tôi là ly kỳ nhất, do vậy đã được thằng bé Mạc Ngôn ghi chép thành kinh điển. Tôi nhất thiết phải bảo vệ sức khỏe, thị lực, khứu giác, thính giác của mình mới có thể sáng tạo được những kỳ tích làng Tây Môn và cho cuộc đời này…
Tôi rướn người lên, tì ngực hẳn vào cành hạnh để giảm bớt trọng lực cho đôi chân sau. Cành hạnh dưới sức nặng của tôi oằn xuống sát đất, rung rinh chực gãy. Một chú chim nhỏ đang đậu trên cành gIương đôi mắt tò mò nhìn tôi. Tôi muốn nói chuyện song không hiểu ngôn ngữ loài chim, chỉ gật gật đầu với nó. Con chim có vẻ sợ hãi, đập cánh bay mất. Qua kẽ lá thưa, tôi thấy người ta ôm từng con lợn đang nhắm nghiền đôi mắt, bốn chân mềm oặt trông thật đáng thương xuống xe. Một con lợn nái có vẻ như không chịu nổi cuộc hành trình quá vất vả nên đã hôn mê, nằm bất động trên đất, đôi mắt trợn tròn trắng dã, mồm đầy bọt mép. Hai con khác có vẻ là anh em cùng mẹ đang oằn lưng nôn thốc nôn tháo. Dường như mùi thối từ bụng chúng nôn ra tạo nên phản ứng dây chuyền khiến cho cả hơn một nửa bầy lợn cong người nôn đồng loạt. Còn lại con thì lảo đảo, con thì bò lê, con thì ép người vào gốc cây hạnh gãi ngứa. Trời ơi! Da chúng mới xù xì đáng sợ làm sao. Phải rồi, toàn thân chúng đầy bọ chét và ghẻ lở, tôi phải tránh xa chúng thôi. Chỉ có một con lợn đực là gây cho tôi sự chú ý. Nó có vẻ gầy nhưng nhanh nhẹn, mồm rộng và dài, đuôi quét đến đất, lông dày và cứng, đôi vai rộng nhưng mông thì nhọn, hai chân to, đôi mắt ti hí song ánh mắt rất linh hoạt, hai chiếc răng nanh vàng khè thò ra khỏi miệng. Rõ ràng đây là một con lợn hoang chưa được thuần hóa. Do vậy mà trong khi hầu hết đàn lợn không chịu nổi cuộc hành trình gian khổ thì nó vẫn ung dung đi lại, dáng dấp và thái độ trông như một tay lưu manh thứ thiệt. Mấy ngày sau đó, Kim Long đặt cho nó cái tên thật kêu là Điêu Tiểu Tam. Đây là nhân vật phản diện trong vở kịch cách mạng “Sa gia tân” rất thịnh hành lúc bấy giờ, một kẻ chuyên cưỡng hiếp phụ nữ và giết người cướp của.
Dưới sự chỉ huy của Hồng Thái Nhạc, các xã viên lần lượt đưa bọn chúng về dãy chuồng gần hai trăm chiếc mới xây ở phía trước mặt tôi. Bọn chúng kháng cự và kêu thét inh ỏi. Ở vùng núi Nghi Mông, chúng được thả rông quen rồi, chưa biết được niềm hạnh phúc khi được nuôi dưỡng trong chuồng. Chúng cứ ngỡ việc đưa chúng vào chuồng là đưa vào lò mổ không bằng nên lồng chạy loạn xạ, con bị bắt lại thì vùng vẫy bằng chút sức lực cuối cùng để được hưởng dư vị của một cuộc sống thả rông. Hồ Tân, kẻ làm không biết bao nhiêu chuyện đồi bại trong thời đại huy hoàng của trâu khi xưa bị một con lợn điên khùng đâm thẳng vào bụng ngã lăn ra đất, hắn cắn răng chịu cơn đau đến độ mặt mày trắng bệch, mồ hôi túa đầy người, không kêu tiếng nào mà chỉ lấy tay xoa bụng. Cái thằng người lòng dạ độc ác này, tự cho mình có tài nên chỗ nào hắn cũng chõ mũi vào. Ông còn nhớ lúc làm trâu, trên bờ sông đào tôi đã từng trị hắn thế nào không? Mấy năm không gặp, trông hắn già đi nhiều quá, răng rụng quá nửa, miệng nói phều phào. A ha! Hắn thì già đi, còn tôi vẫn là một con lợn đang độ thanh xuân. Đừng nói luân hồi là khổ, kỳ thực luân hồi cũng có chỗ hay. Đúng không ông?
Trần Đại Phúc bị một con lợn mất nửa vành tai và mũi đeo một cái vòng đồng cắn vào tay, máu chảy ròng ròng. Thằng cha này đã từng làm trò đồi bại với Thu Hương. Hắn đang tru tréo như thể cả bàn tay của hắn bị đứt lìa vậy. Đối lập với bọn đàn ông vô dụng này là Nghinh Xuân, Thu Hương, Bạch Liên, Triệu Lan… Cử chỉ của những người đàn bà này rất dịu dàng, tay đưa miệng nói, khuôn mặt người nào cũng tươi cười thân thiện. Bọn lợn này thối inh, song ai nấy dường như chẳng quan tâm, ôm chặt lấy chúng một cách nhiệt thành. Ôi! họ đối xử với bọn lợn sao mà chân thành thắm thiết! Bọn lợn bị bắt tuy vẫn kêu thét om sòm song dường như chẳng có ý định trốn chạy. Dưới bàn tay đàn bà, được gãi ngứa thì động vật cảm thấy thỏa mãn và rên rỉ, còn đàn ông được đàn bà vuốt ve thì của quý dựng đứng phải không? Vì vậy mà ý chí đấu tranh của bọn lợn như biến đi đâu mất, từng đứa từng đứa mắt mũi láo liên và ngoan ngoãn nằm im. Họ nhanh chóng chuyển những con lợn bị sự vuốt ve làm cho mụ mẫm vào chuồng.
Quan sát toàn cảnh, Hồng Thái Nhạc lên tiếng tán dương những người đàn bà, đồng thời cũng quay sang mắng nhiếc bọn đàn ông vô dụng. Lão nói với Hồ Tân:
- Thế nào? Của quý trong quần bị lợn cắn mất tiêu rồi hả? Xem bộ dạng của mày kìa, đứng dậy đi, tránh sang một bên, đừng cản trở việc của chị em! Rồi quay sang Trần Đại Phúc, lão nói tiếp:
- Còn anh, anh có phải là đàn ông không? Mà dẫu có bị cắn đứt tay cũng chẳng phải ngồi đấy mà tru tréo đến như thế đâu!
Trần Đại Phúc đưa bàn tay bị cắn lên, nói:
- Bí thư! Đây là thương tật do công việc chung, ông phải bảo họ trợ cấp cho tôi tiền chữa trị vết thương và bồi dưỡng sức khỏe.
Hồng Thái Nhạc cười nhạo:
- Ông hãy về mà chờ Quốc vụ viện và Quân ủy trung ương phái máy bay trực thăng đến chở ông về Bắc Kinh điều trị nhé. Chưa có lệnh của trung ương, tôi nào dám tự mình quyết định!
- Ông đừng có cười cợt tôi. Tôi tuy điếc song những gì ông nói tôi đều hiểu cả đấy! Trần Đại Phúc nhăn nhó.
Phun một bãi nước bọt và đá một cái thật mạnh vào mông lão ta, Hồng Thái Nhạc lên tiếng chửi:
- Cút mẹ đồ trứng thối ông đi! Ông điếc, tại sao lúc trộm gà bắt chó, lúc tranh công tranh ăn ông không điếc? Rồi đá thêm cho lão một cái nữa.
- Đảng Cộng sản mà đánh nhân dân sao? Lão ta kêu thét lên.
- Đảng Cộng sản không đánh nhân dân tốt, với những kẻ như ông, ngoài việc đánh ra còn có loại thuốc gì chữa trị được nào? Tốt nhất là ông hãy tránh mặt tôi. Mỗi lần nhìn thấy ông là tôi lại muốn đấm muốn đá. Người ghi công ở tiểu đội hai đâu rồi? Ai tham gia bắt lợn hôm nay đều ghi nửa công, riêng Trần Đại Phúc và Hồ Tân thì không ghi.
- Ông dựa vào gì mà không ghi công cho chúng tôi? Trần Đại Phúc và Hồ Tân đồng thanh hỏi.
- Chẳng dựa vào gì cả, chỉ thấy không ưa ghi!
- Công điểm là sự sống của xã viên, không ghi không được! Trần Đại Phúc quên mất vết thương ở tay, nắm lại thành quyền, huơ qua huơ lại trước mặt lão Hồng, hét lên: Ông trừ công của tôi, bộ muốn vợ con tôi chết đói à? Tối nay, tôi sẽ mang vợ con đến ngủ ở nhà ông đấy!
- Ông cho rằng lão Hồng tôi đây bị người ta dọa mà trưởng thành à? Tôi đây làm cách mạng mấy mươi năm, việc gì mà chẳng gặp. Cái cách mà ông nói có thể dọa được người khác, còn lão đây thì đừng hòng! Hồng Thái Nhạc nói một cách khinh miệt.
Muốn cùng Trần Đại Phúc ăn vạ nhưng Hồ Tân đã bị vợ là Bạch Liên dùng đôi bàn tay dính đầy phân bịt chặt lấy mồm. Rồi cô ta cười cười nói với lão Hồng:
- Bí thư Hồng! Ông đừng chấp nhặt những kẻ hèn hạ này.
Hồ Tân vừa như muốn khóc, lại vừa không dám khóc đẩy tay vợ ra. Hồng Thái Nhạc mỉa mai:
- Đứng dậy đi! Lẽ nào lại phải gọi kiệu bốn người khiêng đến để đỡ mày lên à?
Hồ Tân uể oải đứng dậy, đứng nấp sau thân xác to cao của vợ, nhìn quanh rồi rón rén rời khỏi hiện trường đi về nhà.
Một nghìn không trăm năm mươi bảy con lợn hầu hết đã bị nhốt vào chuồng, chỉ còn ba con vẫn ở bên ngoài, trong đó có hai con đã chết, con còn lại là Điêu Tiểu Tam đang đứng dưới gầm xe kiên quyết không ra. Tay dân quân Vương Thần chạy vào dãy trại mang ra một chiếc gậy bằng cây ngô đồng, cúi người xuống chọc vào gầm xe. Chiếc gậy bị Điêu Tiểu Tam cắn chặt. Người và lợn xô đẩy nhau. Tôi không nhìn rõ tình hình ở dưới gầm xe nhưng tôi vẫn hình dung ra bộ dạng của Điêu Tiểu Tam: Mồm ngậm chặt đầu gậy, lông dựng đứng, đôi mắt xanh lục phát ra tia nhìn hung dữ. Nó không phải là gia súc mà là lợn hoang. Sau này chính nó đã dạy cho tôi nhiều điều. Ban đầu nó là địch thủ của tôi nhưng dần dà, nó lại là mưu sĩ cho tôi. Những chuyện giữa tôi và nó sẽ được tôi kể sau.
Cuộc đấu giữa Vương Thần và Điêu Tiểu Tam vẫn chưa kết thúc. Bọn họ chính là kỳ phùng địch thủ khiến mọi người đều đứng ngây người mà nhìn. Lão Hồng cúi người nhìn xuống gầm xe, mọi người cũng bắt chước cúi người nhìn theo. Bộ dạng của tất cả đều rất quái dị, không biết con lợn kia có cảm thấy sợ hãi trước những bộ dạng ấy không? Cuối cùng thì cũng có mấy người đến giúp đỡ Vương Thần. Tôi tự nhiên sinh ác cảm với những người này. Cuộc đấu nào cũng phải công bằng, lẽ nào lại có mấy người đấu nhau với một con lợn. Thế mà gọi là con người sao? Tôi lo lắng cho con lợn kia, chắc chắn nó sẽ bị đè xuống dưới sức mạnh của con người thôi. Nhưng không, một tiếng rắc vang lên, cả nhóm người đều bật ngửa ra đất thành một đống. Chiếc gậy đã bị con lợn hoang cắn gãy!
Ở đời nhiều khi cũng có lắm chuyện buồn cười. Người ta ghét những chuyện tai quái, nhưng càng tai quái thì con người càng thích thú và kính trọng. Việc của Điêu Tiểu Tam không hẳn là lớn, song nhất định nó không phải là chuyện bình thường. Có người thử đưa đầu gậy thêm một lần nữa, nhưng nghe tiếng gầm gừ của nó đã vội vàng quăng gậy thối lui. Người ta chụm đầu vào nhau bàn luận tìm cách đối phó. Có ai đó đề nghị dùng súng bắn, có người nói nên dùng lửa đốt… Những cách thức man rợ này đều bị lão Hồng gạt phắt:
- Toàn là những ý kiến thối như cứt! Chúng ta cần nuôi lợn sống, không nuôi lợn chết!
Một người đề xuất ý kiến rằng, cử một người đàn bà nào đó thật can đảm chui xuống gầm xe, tiếp cận ve vuốt và gãi ngứa cho nó! Cho dù có hung bạo đến đâu, con lợn cũng phải biết tôn trọng phụ nữ, cũng phải thuần phục trước bàn tay phụ nữ thôi! Đề nghị này hợp lý, song ai đảm nhận sứ mệnh vẻ vang này? Đang giữ chức vụ phó chủ nhiệm nhưng chẳng có tí quyền lực nào, Hoàng Đồng lên tiếng:
- Được thưởng lớn sẽ có nữ anh hùng xuất hiện! Ai dám xông vào hàng phục con lợn này sẽ được thưởng công điểm bằng ba ngày lao động!
Hồng Thái Nhạc cười lạnh:
- Thế bảo vợ ông làm đi!
Thu Hương đang nấp sau lưng mọi người chửi Hoàng Đồng:
- Ông im cái mồm lại đi không, tự gây chuyện khó cho mình. Đừng nói là ba ngày công mà ba trăm ngày bà đây cũng không làm đâu!
Đang lúc căng thẳng, Kim Long đột nhiên hiện ra từ trại lợn, hai bên là hai người đẹp họ Hoàng. Được mấy bước, hai người đẹp bị gạt ra hai bên vì hình như Kim Long thấy mọi người đang nhìn mình chăm chú. Hai cô gái này vẫn bám sau như sẵn sàng bảo vệ cho anh ta. Tiếp sau ba đứa là Tây Môn Bảo Phượng với túi thuốc sau lưng, rồi Lam Giải Phóng, Bạch Hạnh Nhi và cả thằng oắt Mạc Ngôn. Gương mặt Kim Long dày dạn phong trần, gầy guộc nhưng cương nghị. Bà Bạch, Giải Phóng, Mạc Ngôn đều xách trên tay những thùng thức ăn thơm phức. Tôi biết ngay thứ thức ăn này được chế biến từ đậu đen và các loại rau ngon nhất ở Cao Mật. Dưới ánh mặt trời vàng rực, những làn khói trắng thơm tho bốc lên và lan tỏa vào không gian…
Đoàn người ấy tuy cao thấp nhấp nhô song dáng điệu rất trang nghiêm, trông chẳng khác nào một đội quân chính quy đang mang cơm ra tiền tuyến cho bộ đội. Những con lợn sắp chết đói kia rõ ràng đang tận hưởng hạnh phúc nhất đời của loài lợn là được ăn ngon. Cuộc sống mới sẽ mở ra trước mắt chúng. Cho dù tao xuất thân cao quý, chẳng bao giờ kề vai sát cánh bên chúng mày, nhưng suy cho cùng, tao đã đầu thai thành lợn, thôi đành nhập gia tùy tục vậy, xem chúng mày là đồng loại. Nào các anh chị em! Tôi chúc phúc cho các bạn nhé: Chúc các bạn khoẻ mạnh, ăn ngon, ngủ tốt. Chúc các bạn thích ứng nhanh với cuộc sống ở nơi này. Vì chủ nghĩa xã hội, vì con người, các bạn hãy lớn nhanh lên. Con người nói, mỗi con lợn chúng ta là một kho tàng, trên người chúng ta tất cả đều quý giá. Này nhé: Thịt là thức ăn ngon, da để thuộc, xương để nấu cao, lông làm chăn đệm. Ngay cả túi mật của chúng ta cũng là một loại dược liệu đấy!
Thấy Kim Long đến, mọi người đều reo lên mừng rỡ. Tốt rồi! Cởi lục lạc cần tay người buộc lục lạc mà. Kim Long đã đưa được con lợn bất kham này lên xe và chuyển về đây, tất phải có cách bắt nó vào chuồng chứ! Hồng Thái Nhạc đưa cho Kim Long một điếu thuốc, còn tự tay châm lửa cho anh ta. Được bí thư chi bộ mời thuốc là một đặc ân lớn mà chưa ai dám mơ tưởng. Lần này Kim Long lập nên công lớn, nhìn thần sắc của anh ta: đôi môi trắng bệch, hai mắt thâm quầng, đầu tóc rũ rượi... là biết anh ta đã gian khổ thế nào mới đưa được bầy lợn Nghi Mông về đây. Uy tín của anh ta đã được bí thư khẳng định! Lần này được mời thuốc, chắc anh ta sẽ cảm động lắm.
Hút chừng nửa điếu thuốc, Kim Long thận trọng đặt mẩu thuốc còn lại trên một viên gạch vỡ - mẩu thuốc này bị Mạc Ngôn lượm hút lấy hút để - rồi cởi chiếc áo bạc thếch ra, để lộ một chiếc áo lót màu hồng, trước ngực có ba chữ “Tỉnh Cang sơn” thật to, cúi người nhìn vào gầm xe. Hồng Thái Nhạc kéo kéo vai anh ta, nói:
- Kim Long! Chớ có vội vàng. Con lợn này hình như đã điên rồi thì phải. Ta không muốn anh làm nó bị thương, càng không muốn anh bị nó cắn. Anh và nó đều là của quý của làng Tây Môn đấy!
Kim Long lấy một miếng ngói vỡ quăng vào dưới gầm xe. Tôi đoán là Điêu Tiểu Tam đã chụp lấy miếng ngói mà nhai rau ráu vì nhìn thấy sắc mặt ai cũng lộ vẻ kinh sợ. Kim Long đứng dậy, gương mặt cười cười bí hiểm. Tôi rất quen với kiểu cười này của anh ta, chỉ cần anh ta cười như vậy là tôi biết ngay không chỉ nó đã có cách, mà lại là cách hay. Kim Long thầm thì gì đó vào tai lão Hồng, dường như sợ Điêu Tiểu Tam nghe được. Các người quá lo xa rồi đấy, ngoài tôi ra, trên đời này còn có con lợn thứ hai có thể hiểu được tiếng người đâu. Tôi hiểu được tiếng người là chuyện cá biệt vì lúc ở Vọng Hương đài, nước thuốc của bà già họ Mạnh không hề có tác dụng gì đối với tôi cả, nếu không thì tôi cũng giống như bao nhiêu chúng sinh khác, quá khứ, hiện tại, vị lai đều quên sạch. Mặt lão Hồng tươi hẳn lên, lắc lắc vai Kim Long nói:
- Thằng bé này khá thật! May mà anh đã đến!
Kim Long phóng vù đi đâu đó, giây lát sau quay lại với hai chiếc bánh bao trên tay, mùi men rượu xông lên ngào ngạt. A! Té ra cách của Kim Long là muốn Điêu Tiểu Tam ăn bánh rượu cho say để mất đi sức phản kháng. Nếu tôi là nó, chắc chắn tôi sẽ không ăn, nhưng nó là một con lợn thứ thiệt, trí tuệ của nó làm sao so được với tôi. Kim Long vứt hai chiếc bánh bao tẩm rượu vào gầm xe. Lòng tôi chợt trào lên một sự tức giận: Này anh bạn, chớ có ăn. Ăn vào là trúng quỷ kế của loài người đấy! Nhưng nó vẫn cứ ăn, tuy không thấy nó ăn nhưng nhìn mặt mọi người ai cũng biểu lộ niềm vui, tôi biết. Kim Long vỗ tay, hét: “Ngã” Cách nói này là anh ta bắt chước từ tiểu thuyết cổ điển. Trong tiểu thuyết, rất nhiều tay hảo hán bỏ thuốc mê vào trong rượu, để cho người khác uống say thì vỗ tay và hét “Ngã”, ngay sau đó là họ đổ gục xuống như cây chuối bị chặt đứt. Kim Long chui xuống gầm xe, kéo Điêu Tiểu Tam đang say ngất ngư ra. Nó chỉ kêu lên eng éc mà chẳng còn chút sức lực nào, để mặc cho mọi người mang đến cái chuồng chỉ cách nơi ở của tôi một bức tường vứt đánh bịch xuống đất. Đây là hai cái chuồng đặc biệt, dành riêng cho những con lợn giống. Họ nhốt Điêu Tiểu Tam vào đây là muốn biến nó thành con lợn giống như tôi. Rõ ràng là một quyết định hoang đường. Bốn chân tôi khỏe mạnh, thân xác cao lớn, mồm ngắn tai to, là một thanh niên anh tuấn nhất của loài lợn, nuôi tôi trở thành lợn giống là chuyện đương nhiên. Còn nó hình dạng xấu xí, hoang dã thì làm sao sản sinh ra những thế hệ lợn tốt nào? Mấy năm sau này tôi mới nhận ra quyết định của Hồng Thái Nhạc và Kim Long là rất chính xác. Trong những năm bảy mươi của thế kỷ này, cuộc sống vẫn còn đói khổ, thịt động vật còn thiếu trầm trọng cho nên con người có thể ăn bất cứ loại thịt gì, miễn ngon và dễ tiêu hóa. Nhưng đến lúc này - tức những năm đầu của thế kỷ hai mốt, cuộc sống đã được nâng cao, con người ngày càng chán với những món ăn bình thường mà chỉ thích những mùi vị hoang dã. Những thế hệ sau do Điêu Tiểu Tam truyền lại, tuy không phải là lợn rừng thuần túy, song vẫn có thể đáp ứng được phần nào nhu cầu quay về với hoang dã của con người. Đó là chuyện sau này, không cần phải kể ở đây.
Đương nhiên, với tư cách là một con lợn siêu đẳng, tôi không quên tự bảo vệ mình. Khi mọi người chuẩn bị khiêng Điêu Tiểu Tam lên và liếc nhìn về phía tôi, tôi hiểu ngay ý đồ của họ. Tôi nhanh chóng buông người khỏi cành hạnh, chui vào góc chuồng, nơi có chiếc ổ bằng cỏ khô và lá hạnh, giả vờ ngủ ngon lành. Tôi nghe rõ ràng tiếng họ vứt Điêu Tiểu Tam xuống nền một cách nặng nề, rồi tiếng nó kêu rống lên. Tôi còn nghe tiếng khen ngợi của lão Hồng và Kim Long về sự ngoan ngoãn của tôi. Hé mắt nhìn, tôi nhận ra toàn bộ những con người đang đứng trước chuồng. Mặt trời đã lên cao, ánh nắng chiếu rọi làm khuôn mặt tất cả mọi người như được dát bằng vàng, lấp lánh, sáng rực.
24
Xã viên cuồng nhiệt mừng đại hội,
Vua lợn lén nghe chuyện bốn phương.
Bằng chất giọng Bắc Kinh chính gốc, Lam - Ngàn - Năm tiếp tục kể:
- Đó là những ngày mùa thu đầy vinh quang của tôi. Lá hạnh trong vườn đỏ như máu, bầu trời không một gợn mây, đại hội bàn về việc nuôi lợn toàn vùng Đông Bắc Cao Mật đã được triệu tập tại làng Tây Môn. Đó là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng trong thời kỳ hoàng kim của loài lợn. Hội nghị được đánh giá là có tính sáng tạo, ngay cả báo tỉnh cũng đăng cả một bài tường thuật rất tỉ mỉ chiếm cả trang báo. Những cán bộ huyện, xã tham gia hội nghị ấy đồng loạt được đề bạt lên những cương vị cao quý hơn. Nó được ghi lại như một mốc son chói lọi trong lịch sử Cao Mật, trở thành sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử cách mạng làng Tây Môn.
Để chuẩn bị cho đại hội chính thức, xã viên làng Tây Môn dưới sự lãnh đạo của Hồng Thái Nhạc, Kim Long và cả phó chủ nhiệm công xã đại đội Quách Bảo Hổ, những công tác chuẩn bị đã được tiến hành suốt mấy ngày đêm liền. Rất may là đúng lúc nông nhàn, ngoài ruộng chẳng còn gì để chăm sóc nên toàn làng ai nấy cũng đều tham gia công tác một cách tự giác. Mà ngay cả nó diễn ra đúng vào mùa cày vụ gặt cũng chẳng hề gì. Công tác chính trị là trước tiên, kế đến mới là sản xuất. Nuôi lợn là công tác chính trị, chính trị là tất cả, mọi việc phải lấy chính trị làm đầu.
Cái tin đại hội nuôi lợn toàn huyện sẽ diễn ra ở đây vừa mới hé lộ thì toàn làng đã ngập tràn không khí lễ hội. Trước tiên là bí thư Hồng bằng một giọng rất phấn khích thông báo tin vui qua loa phóng thanh, sau đó là tất cả mọi người không hẹn mà đổ cả ra đường. Lúc này đã hơn chín giờ đêm. Bình thường thì sau khi đài phát thanh cử xong bài Quốc ca là toàn thôn chuẩn bị giường chiếu, các cặp vợ chồng mới cưới bắt đầu ôm lấy nhau. Nhưng hôm ấy thì khác, tin vui đã làm toàn thôn không ngủ. Tại sao ông không cật vấn rằng, tôi là một con lợn đang nằm khểnh trong chuồng, sao lại biết được tất cả những điều diễn ra trong thôn? Kỳ thực là thế này: Trong những ngày ấy, tôi đã bắt đầu thực hiện những chuyến đi chơi đêm của mình, đầu tiên là quanh quẩn bên chuồng của những con lợn mới đến để tán tỉnh và chửi bới, sau đó mới bắt đầu đi dạo quanh thôn. Do vậy, những bí mật của con người đều không qua được mắt tôi.
Đèn lồng đỏ rực đường làng, gương mặt ai cũng bộc lộ niềm hoan hỉ. Tại sao họ lại vui mừng như vậy, ông biết không? Rất đơn giản. Trong những năm ấy, danh hiệu làng điển hình là gắn liền với lợi ích. Mọi người tập trung trong sân của trụ sở chờ bí thư chi bộ và các vị chức sắc của đại đội sản xuất. Hồng Thái Nhạc mặc áo đại cán, khuôn mặt lấp loáng như được mạ một lớp đồng thau rực rỡ dưới ánh đèn sáng rực. Ra hiệu cho mọi người yên lặng, lão cất tiếng:
- Bà con xã viên yêu quý! Hội nghị điển hình toàn huyện về công tác nuôi lợn được tiến hành tại làng ta. Đó là sự quan tâm nhưng cũng là một thử thách lớn của Đảng dành cho chúng ta. Chúng ta nhất định cố gắng hết sức để phục vụ cho hội nghị, đồng thời cũng nhân cơ hội này mà đẩy công tác nuôi lợn lên một tầm cao mới. Lúc này chúng ta mới chỉ có hơn một nghìn con lợn, mai sau chúng ta nhất định sẽ nâng lên đến bốn, năm, rồi đến mười nghìn, hai mươi nghìn… Bao giờ đến con số hai mươi nghìn, chúng ta sẽ lên Bắc Kinh để báo công với Mao Chủ tịch vĩ đại!
Lời diễn thuyết của lão đã xong, song bà con xã viên vẫn chưa chịu giải tán, nhất là các cô cậu thanh niên đang hừng hực tinh thần cách mạng, tràn trề sức vóc cứ hít hà mãi là chưa có dịp để lên trời xuống biển, xông thẳng vào chủ nghĩa đế quốc để quyết một trận sống mái đền đáp ơn Đảng và Mao Chủ tịch. Trong không khí hào hùng như thế này, ai đành về ngủ? Bốn anh em họ Tôn chưa được bí thư cho phép đã chạy vụt vào trụ sở, lôi cái thanh la lâu nay để cho bụi phủ xuống, khiêng ra ngoài. Thằng bé Mạc Ngôn chẳng bao giờ chịu lép vế trước ai cũng mặt dạn mày dày, chạy vào và vác cái trống to đùng lên vai. Những người còn lại thì nhặt lấy những lá cờ đầy màu sắc trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa cầm trên tay. Cả một rừng người nào chiêng nào trống, nào cờ nào đèn tràn cả ra đường. Họ đi loanh quanh trong làng, tiếng chiêng trống, tiếng hô khẩu hiệu vang trời khiến mấy con chim cú đang ngủ gà ngủ gật hoảng kinh, đập cánh bay loạn xạ. Cuối cùng, đoàn diễu hành tập trung ở mảnh đất trống giữa trại lợn. Chỗ này trước đây vốn có rất nhiều cây hạnh, nhưng khi làm trại, người ta đã chặt phá hết, lá và cây hạnh vẫn còn chất đống hai bên. Thằng Mạc Ngôn gan đầy mình, bật lửa. Lửa bén rất nhanh, lá hạnh khô và thân cây hạnh còn tươi bị đốt cháy, một mùi thơm nồng xông lên. Hồng Thái Nhạc ban đầu muốn bảo Mạc Ngôn dừng lại, song nhìn thấy đám thanh niên khí thế hừng hực, vừa nhảy vừa hát điên cuồng thì cũng bị kích động lây, bắt đầu múa may quay cuồng bên đống lửa. Người vui làm đất trời vui lây, song cũng làm loài lợn chúng tôi sợ đến vãi cứt.
Mạc Ngôn vác những cành cây hạnh nằm rải rác chung quanh chất thêm vào đống lửa. Ánh lửa rực trời chiếu sáng gương mặt giống như quỷ dạ xoa của nó. Tôi chưa phải là vua của bầy lợn ở đây, song cũng cần phải cho chúng thấy uy thế của mình. Tôi chạy thật nhanh đến chuồng đầu tiên, ở đó có năm con lợn nái tôi cho là thông minh và xinh đẹp nhất trong bầy, bảo:
- Hãy thông báo với tất cả rằng, chẳng có gì phải sợ hãi. Ngày vinh quang của chúng ta đã đến!
Rồi chạy đến chuồng thứ hai, ở đó có sáu con lợn trông rất hoang dã, thì thầm:
- Nói cho các bạn biết nhé, ngày vinh quang của chúng ta đã đến. Đừng sợ gì cả!
Ở chuồng thứ ba, ba con lợn có màu lông lốm đốm rất đẹp như cánh bướm vểnh tai lên nghe tôi nói nhỏ:
- Yên chí, đừng sợ gì cả. Ngày vinh quang của chúng ta đã đến!
Ba con bướm nhỏ cụp mắt gật đầu. Ôi sao mà dễ thương! Tôi không cầm lòng được, cúi xuống hôn vào mắt, vào miệng chúng. Cả ba đứa quẫy đạp, kêu ré lên. Cố kiềm chế dục vọng đang dâng trào, tôi chạy đến chuồng thứ tư. Bốn con lợn đực ở đây được tôn xưng là “Tứ đại kim cương”, mơ mơ hồ hồ khi nghe tôi lặp lại câu nói ấy, tròn mắt nhìn tôi:
- Anh nói gì thế?
- Đại hội nuôi lợn toàn huyện sắp diễn ra ở đây! Ngày vinh quang của chúng ta đã đến!
Tôi hét lên rồi vội vã trở về chuồng. Chưa trở thành vua lợn, tôi không muốn cho mọi người biết tôi vẫn thường đi đêm. Mà cho dù có biết, họ cũng chẳng ngăn cản được tôi. Tôi đã nghĩ ra ít nhất ba diệu kế để rời khỏi chuồng, nhưng dù gì thì kế giả vờ ngốc nghếch vẫn là tốt nhất. Tôi chạy thật nhanh, cố tránh ánh lửa, nhưng toàn khu trại sáng như ban ngày. Tôi nhìn thấy chính mình khi đang chạy - vua lợn tương lai - toàn thân rực sáng như được dát bởi bạc và vàng. Như một ánh chớp, tôi bay lên, dùng hai móng chân trước cực kỳ linh hoạt đến độ có thể khắc được huân chương chiến công, có thể vẽ được đôla giả của mình bám vào cành cây hạnh, rất uyển chuyển và nhẹ nhàng, theo lực quán tính thân hình tôi vượt qua bờ tường và rơi đúng vào cái ổ ấm áp của mình.
Một tiếng kêu thét và tôi cảm thấy thân thể mình đè lên một vật gì đó mềm mềm. Định thần nhìn kỹ và bỗng nhiên tôi nổi giận. Thì ra thừa lúc tôi ra ngoài, đồ tạp chủng Điêu Tiểu Tam đã lẻn vào và ngủ ngon lành trên cái ổ ấm áp của tôi. Toàn thân tôi ngứa ngáy, ánh mắt phát ra những tia lửa hung bạo. Cái thân hình bẩn thỉu kia lại dám ngang nhiên chiếm cứ chỗ ngủ mà tôi đã dày công tôn tạo ư? Đáng thương thay những sợi cỏ mềm mại, đáng thương thay những lá hạnh thơm lừng! Đồ tạp chủng này đã làm bẩn giường tôi, những con bọ chét chắc đã bò lổn ngổn, thân hình đầy ghẻ lở của hắn đã vấy sang giường tôi rồi. Chắc là không chỉ lần đầu đâu! Lửa giận bốc lên, sức mạnh tích tụ, răng tôi nghiến vào nhau nghe kèn kẹt. Thật là đồ vô sỉ! Thế mà hắn vẫn đang nhìn tôi cười cười, gật gật đầu tỏ vẻ rất thân thiện rồi làm như chẳng có chuyện gì, ỉa ra một đống to bự. Tôi là con lợn có giáo dục và có văn hóa, sống rất vệ sinh. Chỗ ỉa đái của tôi là góc tường phía tây nam, chỗ có cái lỗ to tướng; lần nào ỉa đái, tôi cũng ngắm nghía thật chuẩn xác trước khi hành sự để tất cả dễ dàng trôi tuột ra ngoài. Đằng này nó đang đứng dưới cành hạnh, chỗ tôi luyện tập thể dục hàng ngày mà hành sự. Cùng với chỗ ngủ, đó là nơi sạch sẽ nhất trong chuồng. Mỗi lần tôi làm một động tác thể dục, bốn vó tôi chạm đất là lúc nào cũng nghe những âm thanh rất trong vang lên. Thế mà, đồ tạp chủng này lại biến nó thành chỗ ỉa!
Khổng Tử đã từng nói một câu, đại ý là, việc này mà có thể nhẫn nại dằn lòng thì liệu còn có điều gì mà ta không chịu đựng nổi. Câu nói này của thánh nhân trở thành châm ngôn sống của người thời ấy, ngày nay ít nghe, nhưng mỗi thời có một châm ngôn sống khác nhau, đúng không ông? Thuộc nằm lòng câu nói ấy, song tôi lại ngầm vận công lực - những tay hiệp khách võ nghệ siêu quần vẫn làm thế - rồi nhắm ngay cái mông của Điêu Tiểu Tam, chính xác hơn là nhắm ngay vào hòn dái của nó mà húc mạnh. Một lực phản hồi đẩy tôi thối lui mấy bước và ngã ngồi trên nền chuồng. Tôi nhìn thấy cái thân hình loẻo khoẻo của nó bay lên như một viên đạn, đâm thẳng vào tường rồi bật trở lại. Toàn bộ chỉ trong chớp mắt, nửa như thực, nửa như mơ, nhưng thực nhất vẫn là nó như đã chết đang nằm đó, ngay chỗ vệ sinh của tôi. A! đó mới là chỗ nằm xứng đáng của mày! Bốn chân nó duỗi thẳng, toàn thân run rẩy, cái sống lưng vốn rất oai của nó lúc này cong lại, hai mắt trợn trừng toàn một màu trắng, chỉ có tí màu xanh. Tôi cảm thấy thương hại nó, lòng thương giống như của người bần cùng trong xã hội mới thương xót cho một kẻ trí thức tư sản vừa bị chính họ hành hạ xong. Sống mũi tôi cay cay, nước mắt của tôi chực trào ra. Đồ tạp chủng này làm bẩn chỗ ở của tôi, tất nhiên là rất đáng giận, song chưa đủ để phải nhận cái chết như thế. Sức lực tích lũy qua quá trình bú sữa của tôi quả thật là ghê gớm, nếu cú húc vừa rồi không trúng vào nó mà lại trúng vào tường, e rằng tường gạch cũng vỡ nát thôi. Đương nhiên, dẫu Kim Long và Hồng Thái Nhạc có biết tôi giết chết Điêu Tiểu Tam, họ cũng chẳng làm gì tôi cả, vì họ vẫn kỳ vọng vào tôi, nói chính xác hơn là cái của quý dưới háng tôi sẽ chu cấp cho họ cả một đàn lợn khỏe mạnh sau này. Điêu Tiểu Tam lại chết ngay trong chuồng tôi, nói như người Thượng Hải là ai vượt qua giới tuyến quân sự, người ấy tự đi tìm cái chết. Con người dùng máu và tính mạng để bảo vệ lãnh địa, của lợn lại không đáng bảo vệ hay sao? Hổ, sư tử, chó… và cả con người đều có lãnh địa riêng, tất nhiên lợn cũng không ngoại lệ. Nếu như tôi xông đến chuồng nó mà hành hung, đó là lỗi của tôi, đằng này nó lại đến chuồng tôi, nằm trên ổ của tôi, ỉa trên đất của tôi, chính là nó tự tìm cái chết.
Miên man trong những ý nghĩ tự biện hộ ấy, tôi dần trở lại bình tĩnh. Điều duy nhất khiến tôi trăn trở là, tôi tấn công từ phía sau đúng vào lúc nó đang đái. Thực tình tôi không cố ý chọn thời điểm này, nhưng rõ ràng là không quang minh chính đại tí nào, mai kia tiếng đồn vang xa, e rằng thanh danh của tôi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Có lẽ là nó đã chết, tuy tôi chẳng muốn nó chết tí nào. Tôi nhìn thấy ở nó tiềm tàng một ý thức tự do phóng khoáng hoang dã. Sự hoang dã này bắt nguồn từ rừng núi, từ hoang mạc… giống như hình tượng những anh hùng lục lâm thảo khấu tôi vẫn thường nghe trong truyện kể dân gian. Điêu Tiểu Tam chính là một trong những cảm hứng nghệ thuật mang tính nguyên thủy này. Thời đại này chỉ lo chạy theo những thứ phù phiếm, thiếu hẳn cái tinh thần nguyên sơ ấy. Bỗng nhiên tôi trở nên yếu mềm, tôi khóc và đi đến bên nó, giơ chân trước lên và vuốt vuốt vào bộ lông thô nhám trên lưng nó. Nó run rẩy và kêu lên vài tiếng nho nhỏ, yếu ớt. A! Nó vẫn chưa chết. Tôi vui mừng cào mạnh hơn, nó kêu cũng to hơn, và từ đôi mắt nó, hai con ngươi màu đen cũng xuất hiện trở lại tuy thân thể vẫn nằm yên bất động. Tôi đoán là bộ dái của nó đã vỡ nát dưới cú húc của tôi. Đây là tử huyệt của loài động vật. Ở trong làng, tôi đã từng biết có rất nhiều đàn bà, khi đánh nhau với đàn ông chỉ nhằm vào một chỗ duy nhất này mà bóp chặt. Người đàn ông nào mà bị đàn bà nắm phải cái này thì coi như đi đứt, trở thành mềm nhũn dưới tay đàn bà, bảo họ thành cái gì thì họ sẽ là cái ấy. Tôi nghĩ, Điêu Tiểu Tam mà không chết cũng đã thành phế thải. Có lẽ nào hòn dái đã bị vỡ nát lại có thể phục hồi?
Tôi đã nghe được ở đâu đó, hình như trên tờ “Tin tức tham khảo” thì phải, rằng nước đái của con đực chưa giao phối có tác dụng cải tử hoàn sinh. Trong cuốn “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân cũng có ghi chép chuyện này nhưng chưa thực sự đầy đủ. Trong thời đại ấy, “Tin tức tham khảo” được xem là tờ báo có lượng thông tin chân thực nhất, còn lại đều là những tờ quảng cáo láo lếu cả. Tôi mê tờ “Tin tức tham khảo”, đêm đêm tôi rời khỏi chuồng để đến trụ sở đại đội nghe Mạc Ngôn đọc. Thằng bé Mạc Ngôn cũng thích tờ báo này nhất. Tôi thấy đầu nó lúc nào cũng trọc lóc, hai tai đỏ tái vì lạnh, áo và giày đều rách, song được cái lúc nào cũng yêu tổ quốc và muốn nhìn ra thế giới. Để được đọc tờ “Tin tức tham khảo”, nó đã cầu khẩn lão Hồng và được đặc ân là trực trụ sở đại đội vào ban đêm.
Trụ sở đại đội cũng chính là gian nhà chính của Tây Môn Náo xưa, được đặt thêm một chiếc máy điện thoại cũ nối với hai viên pin cỡ lớn treo trên tường. Trong phòng vẫn còn bộ bàn và chiếc giường của Tây Môn Náo, trên bàn có thêm một chiếc đèn để bàn có chụp đèn bằng pha lê. Đây là của hiếm thời ấy. Thằng bé Mạc Ngôn cứ đêm đêm, mùa hè chịu muỗi cắn, mùa đông chịu rét để đọc tờ “Tin tức tham khảo”.
Cánh cổng nhà Tây Môn đã bị chẻ làm củi đun lò trong thời kỳ luyện gang thép, bây giờ trông giống như cái mồm của ông già rụng hết răng, cứ mở toang suốt ngày khiến tôi mỗi đêm có thể ra vào một cách dễ dàng. Sau ba lần đầu thai, ký ức về Tây Môn Náo đã dần dần phai nhạt trong tôi. Nhưng khi nhìn thấy Mặt Xanh lợi dụng trăng sáng ra đồng làm việc, nghe thấy Nghinh Xuân rên rỉ vì đau lưng, Hoàng Đồng và Thu Hương chửi nhau hàng đêm, trong lòng tôi cũng cảm thấy có cái gì đó thấp thỏm, bất an.
Cho dù tôi là con lợn biết chữ song làm gì có cơ hội cầm được tờ báo mà đọc. Thằng ranh Mạc Ngôn đêm nào cũng thế, dưới ngọn đèn cầm tờ “Tin tức tham khảo” đọc đi đọc lại, có lúc cao hứng lên thì đọc thành tiếng. Thằng bé này đúng là thừa sức lực, lại chẳng có việc gì, nên đọc tờ báo đến thuộc lòng. Hai mắt nó đỏ ngầu, trán bị khói đèn bám vào đen kịt. Có lẽ nó được diễm phúc dùng dầu của đại đội mà không phải trả tiền nên tranh thủ hưởng thụ, và nhờ đó mà tôi trở thành một con lợn có văn hóa nhất, bác học nhất của thập niên bảy mươi ở thế kỷ trước. Tôi biết được tổng thống Nixon của Mỹ cùng rất nhiều tùy viên bay trên chiếc máy bay ba màu vàng, xanh và trắng đáp xuống sân bay Bắc Kinh. Tôi còn biết Mao Chủ tịch đã từng tiếp kiến Nixon tại thư phòng, trong buổi tiếp kiến ngoài phiên dịch còn có Thủ tướng Quốc vụ viện Chu Ân Lai và Ngoại trưởng Henry Kissinger. Tôi biết là Mao Chủ tịch đã nói với Nixon rằng, lần bầu cử trước, tôi đã bỏ cho ông một phiếu! Nixon cũng nói, ngài là người thức thời nhất! Tôi còn biết Mỹ đã phóng phi thuyền Appolo 17 lên mặt trăng và các phi công vũ trụ đã ở trên mặt trăng khảo sát, thu thập được nhiều loại đá, cắm cờ Mỹ, còn đái một bãi trên đó. Vì lực hấp dẫn trên mặt trăng rất nhỏ nên bãi nước đái này cứ như những đóa hoa vàng bay lượn mãi trên không gian. Tôi còn biết đủ loại máy bay Mỹ, trong đó có cả B.52 rất hiện đại chỉ trong một đêm muốn đẩy Việt Nam trở về với thời kỳ đồ đá! Tôi còn biết con gấu mà Trung Quốc đã tặng cho Anh Quốc đã chết vào ngày bốn tháng năm, năm bảy hai vì không qua được cơn bạo bệnh khi ở tuổi mười lăm. Tôi còn nghe ở Nhật Bản, những người trí thức đang rủ nhau trị bệnh bằng niệu liệu pháp, nghe đâu nước tiểu của thanh niên chưa vợ còn đắt hơn cả vàng bạc châu báu… Thực ra tôi còn biết nhiều lắm, không thể kể hết được. Điều quan trọng nhất là tôi không phải là loại học để mà học, tôi học để dùng, để áp dụng vào thực tiễn. Ở lĩnh vực này thì Kim Long có chỗ gần gũi với tôi, vì dù sao thì mấy chục năm trước, tôi đã từng là bố của anh ta.
Tôi nhắm thẳng và thật chuẩn xác đái vào mồm Điêu Tiểu Tam một bãi. Tôi nhìn cái răng nanh vàng khè của nó và nghĩ: Đồ tạp chủng, lão đây sẽ chải răng cho mày vậy. Lưu lượng dòng nước đái của tôi rất mạnh, cho dù tôi đã cố gắng kiềm lại song nó vẫn tưới đầy mặt của nó. Đồ tạp chủng, lần này ông cho mày một loại thuốc đã sát trùng khử độc, còn công hiệu hơn các loại thuốc tây chính hiệu của Mỹ nữa đấy! Điêu Tiểu Tam hé hé miệng, nuốt sạch dòng nước đái của tôi rồi kêu lên ư ử, đôi mắt từ từ hé mở. Quả là loại thuốc cải tử hoàn sinh thần kỳ! Nó đứng bật dậy và bước thử mấy bước, thân hình phía sau xiêu xiêu vẹo vẹo đảo qua bên phải rồi qua bên trái giống như một con cá đang vẫy đuôi dưới nước. Nó dựa người vào tường, lắc đầu thật mạnh như vừa tỉnh khỏi cơn ác mộng, rồi gào lên:
- Tây Môn Lợn! Tao sẽ giết mày!
A! Đồ tạp chủng này biết tôi là Tây Môn Lợn, tức là Tây Môn Náo đầu thai! Tôi hoảng kinh. Qua mấy kiếp luân hồi, tôi khó lòng nhớ hết những điều mà Tây Môn Náo đã trải qua. Người trong làng Tây Môn chắc cũng không ai biết tôi xuất thân thế nào, nhưng con lợn hoang ở Nghi Mông này lại gọi tôi là Tây Môn Lợn, đúng là không thể nào hiểu nổi. Nhưng phương châm sống của tôi là: Phàm cái gì mà nghĩ mãi không ra thì quên đi cho khỏe. Tây Môn Lợn là Tây Môn Lợn, Tây Môn Lợn là kẻ mạnh, còn Điêu Tiểu Tam mày là kẻ yếu. Thế thôi.
- Thằng họ Điêu kia! Hôm nay ông mày còn cho mày một cơ hội để sống đấy. Mày đừng nghĩ là uống phải nước đái của tao là một điều sỉ nhục, mày còn phải cảm ơn tao. Không có nước đái của tao, có lẽ bây giờ mày đã ngừng thở rồi. Nếu mày chết hôm nay, làm sao mày có thể biết được ngày mai huy hoàng. Làm một con lợn mà không có lấy một ngày huy hoàng thì sống làm đếch gì? Vì thế mày không chỉ cảm ơn tao mà mày còn phải cảm ơn cái tay Nhật Bản nào đó đã phát hiện ra cách cứu mạng bằng nước đái, còn phải cảm ơn ông Lý Thời Trân, cảm ơn thằng Mạc Ngôn đêm nào cũng đọc “Tin tức tham khảo”. Nếu không có những người này, bây giờ bốn chân của mày đã duỗi thẳng, máu trong người mày đã đông kết lại, bao nhiêu con bọ chét sống ký sinh trên thân thể mày vì hút phải máu đông nên đã giã từ thân thể mày. Thoạt nhìn thì bọn bọ chét là đồ xuẩn ngốc nhưng hành động của chúng thì rất nhanh nhẹn. Loài người bảo rằng loài bọ chét biết bay, kỳ thực bọn chúng không có cánh thì làm sao mà bay được. Chúng chỉ nhờ vào sức gió mà bay thôi, hiểu chưa. Nếu mày chết, bọn chúng sẽ chuyển hết sang người tao. Một con lợn mang đầy bọ chét thì làm sao mà làm vua được chứ! Từ việc này mà xét, tao chẳng mong mày chết tí nào, tao phải cứu sống mày. Bây giờ, mày hãy mang theo đàn bọ chét mà về chỗ ở của mày đi. Mày từ đâu tới thì quay về chỗ ấy!
- Thằng vô lại! Điêu Tiểu Tam nghiến răng nói: Chuyện tao và mày chưa xong đâu. Rồi sẽ có ngày, tao sẽ cho mày biết sự lợi hại của loài lợn Nghi Mông chúng tao. Tao muốn cho mày biết, đã là hổ thì không ăn thịt chuột nhắt, tao cũng muốn nhắc nhở mày chớ quên chuyện dương vật của thổ địa là bằng đá, chuyện đời khó lường lắm, biết không?
Chuyện thổ địa có dương vật bằng đá, ông có thể đọc trong truyện “Ghi chép mới về tượng đá” của Mạc Ngôn. Trong truyện này, Mạc Ngôn kể về một người thợ đá chưa có con. Để tích đức cho mai sau, ông ta dùng một tảng đá xanh để tạc một tượng thổ địa, đặt tại đền Thổ Cốc đầu làng. Tượng thổ địa do đá tạc thành, đương nhiên dương vật của thổ địa cũng bằng đá. Rồi một năm sau, bà vợ sinh cho ông thợ đá một đứa con trai đầu to tai lớn. Người trong thôn đều cho rằng ông thợ đá làm việc thiện nên được thiện báo. Thằng con của họ lớn lên, trở thành một tên cướp khét tiếng tàn bạo, đánh cha chửi mẹ như loài cầm thú. Người thợ đá lê lết đôi chân bị đứa con con quý dùng gậy đánh cho tàn tật trên đường, mọi người nhìn thấy không khỏi phát sinh lòng thương cảm. Chuyện đời biến hóa khôn lường, chuyện thiện chuyện ác trong đời không thể chỉ dùng ngòi bút mà lột tả được mọi chân tướng.
Tôi chỉ cười khi nghe lời dọa dẫm của Điêu Tiểu Tam. Tôi nói:
- Tao đang chờ mày đây, lúc nào cũng sẵn sàng ứng chiến. Một rừng tất nhiên không thể có hai hổ. Dương vật của thổ địa làm bằng đá, chắc chắn cái ấy của bà thổ địa không thể là đồ bình thường. Trong cái trại lợn này chỉ có một vua lợn. Giữa tao và mày sớm muộn gì cũng sẽ có một đứa phải chết, chuyện hôm nay không tính, là kẻ ác đối mặt với kẻ ác, kẻ hạ lưu đối mặt kẻ hạ lưu, sau này chúng ta sẽ đường đường chính chính giao đấu, thắng bại phân minh để mày khẩu phục tâm phục. Trước tiên là chúng ta phải tìm một vài con lợn tuổi tác kha khá, vô tư và hiểu phép tắc giao đấu để làm trọng tài… Còn bây giờ, mời ngài ra khỏi chỗ của tôi mau! Tôi giơ vuốt lên, làm một động tác lịch thiệp. Dưới ánh lửa bập bùng, đôi vuốt của tôi lóe sáng trông như được tạc bằng ngọc thạch.
Tôi cứ tưởng Điêu Tiểu Tam sẽ rời khỏi chuồng tôi bằng một phương thức đặc biệt gì, nhưng nó đã làm tôi thực sự thất vọng. Nó cong người chui đầu qua cửa sắt, rồi toàn thân nó như thu nhỏ lại, chui tọt ra ngoài. Tôi biết tỏng nó cũng dùng cách này để chui vào chuồng của nó. Chui lỗ hổng là cách thức của loài chó, loài mèo, còn một con lợn đường đường chính chính sống trong thời đại hoàng kim của loài lợn, tuyệt đối không dùng cách này. Cho dù là lợn ăn rồi ngủ, ngủ rồi ăn, vì chủ mà lớn, mà mập mạp, nhiều thịt để cho chủ nhanh đưa vào lò mổ song cũng phải sống cho ra sống, ít ra cũng như tôi. Tôi chỉ cần xuất vài ba chiêu đơn giản đã khiến họ kinh hồn táng đởm. Cho nên thấy Điêu Tiểu Tam chui qua lỗ hổng mà ra vào, tôi càng thêm khinh bỉ.
25
Trên đại hội, quan nói yêu nước,
Dưới vườn nhà, lợn diễn tài năng.
Thật là khiếm khuyết vì cho đến bây giờ tôi vẫn chưa kể những gì trong đại hội nuôi lợn đã diễn ra. Để cho đại hội thành công, xã viên toàn đại đội đã chuẩn bị đến cả tuần, cho nên tôi sẽ dùng đến cả chương để miêu tả công tác chuẩn bị này.
Trước tiên xin kể về bức tường ở trại lợn. Người ta quét vôi mới, nghe đâu là quét vôi có thể tiêu độc. Trên bức tường trắng toát không biết cơ man nào là khẩu hiệu, câu nào cũng nói về việc nuôi lợn và cách mạng thế giới. Viết khẩu hiệu ngoài Kim Long còn có Mạc Ngôn. Hồng Thái Nhạc đã nhận xét rằng: cái tài của Kim Long là đường đường chính chính, còn cái tài của Mạc Ngôn là tài vặt, là tà đạo. Mạc Ngôn nhỏ thua Kim Long bảy tuổi. Khi Kim Long đã xuất đầu lộ diện thì Mạc Ngôn vẫn còn là một mầm măng ẩn tàng dưới đất để tích tụ sức lực. Lúc ấy chưa có ai xem Mạc Ngôn ra gì vì tướng mạo của nó rất xấu xí, hành vi thì điên điên khùng khùng, lời nói thì khiến người ta phải đau đầu. Người trong thôn không ai ưa, ngay cả người nhà của nó cũng xem nó là đồ lộn giống. Chị của nó đã từng chỉ vào mặt nó và hỏi mẹ: Mẹ ơi! Nó có đúng là do mẹ sinh ra không? Hay là bố lượm nó về từ đống phân trong đám ruộng dâu? Cả anh và chị nó đều cao ráo, mặt mũi sáng sủa, xem ra tư cách chẳng khác Kim Long, Bảo Phượng, Hỗ Trợ, Hợp Tác là mấy, nhưng nó thì khác hoàn toàn. Mẹ nó thường kể với mọi người rằng: Lúc nó chào đời, bố nó mơ thấy một tên tiểu quỷ cầm cây bút thật lớn đi vào giữa nhà. Bố hỏi hắn đến từ đâu, hắn trả lời rằng từ âm tào địa phủ, từng làm thư ký cho Diêm Vương. Bố mở mắt, mộng dứt thì nghe tiếng khóc trẻ con ở nhà trong, người đỡ đẻ chạy ra nói: Ông chủ, chúc mừng ông. Một công tử đã ra đời! Những lời này có lẽ là do mẹ nó muốn người trong thôn có một cái nhìn khác về nó nên đơm đặt ra thôi, có lẽ bà ta cũng bắt chước bao nhiêu là truyền thuyết về những con người khác thường vốn đếm không hết trong truyền thuyết dân gian mà nghĩ ra. Nếu bây giờ anh về làng Tây Môn - đã biến thành một khu kinh tế mới - hỏi truyền thuyết về Mạc Ngôn vốn là thư ký của Diêm Vương đầu thai thì ai cũng biết.
Những năm bảy mươi của thế kỷ trước là thời đại của Kim Long, Mạc Ngôn nổi đình nổi đám chẳng qua cũng chỉ hơn mười năm nay. Bây giờ tôi kể về công việc chuẩn bị cho đại hội nuôi lợn vậy. Lúc này, trước mắt tôi là Kim Long đang cầm cây bút lông to tướng viết những câu khẩu hiệu thật kêu trên các bức tường trắng, Hỗ Trợ xách thùng sơn đỏ, Hợp Tác xách thùng sơn vàng theo sát bên cạnh. Mùi sơn hăng hắc bao trùm không gian. Trước đây, những biểu ngữ, khẩu hiệu trong làng thường chỉ dùng phấn màu để viết, lần này dùng sơn bởi kinh phí hội nghị từ huyện chuyển về tương đối lớn. Những câu khẩu hiệu nhìn rất bắt mắt. Anh ta dùng bút lớn nhúng sơn đỏ để viết chữ, còn bút nhỏ nhúng sơn vàng thì làm viền. Chữ đỏ viền vàng nhìn sao mà rực rỡ, giống như các cô gái đẹp ngày nay mắt xanh môi đỏ. Rất nhiều người đứng xem viết chữ, tiếng trầm trồ thán phục vang lên không ngớt. Bà vợ của Mã Lục - bạn thân của Thu Hương, còn nổi tiếng hơn cả Thu Hương về chuyện trai gái, xuýt xoa:
- Người anh em Kim Long! Chị đây mà trẻ lại khoảng hai mươi tuổi, chị quyết liều chết để bắt em làm chồng, làm vợ chính không được thì chị đây tự nguyện làm vợ bé vậy.
Có người nào đó chế nhạo:
- Làm vợ bé cũng chẳng đến lượt bà đâu!
Vợ Mã Lục dùng cặp mắt lúc nào cũng ươn ướt ngắm nghía Hỗ Trợ và Hợp Tác, nói:
- Đúng rồi! Có hai nàng tiên này bên cạnh thì việc làm vợ bé cũng chẳng đến tay tôi. Này Kim Long, nên hái hai cành hoa này rồi đấy, nếu chậm trễ e rằng có người khác cướp mất, chỉ còn lại hương thừa!
Hai chị em nhà họ Hoàng mặt đỏ bừng bừng, Kim Long cũng cảm thấy xấu hổ, giơ bút lên, uy hiếp:
- Im đi, đồ lang chạ! Chị cẩn thận chứ không tôi dùng sơn trám miệng chị lại đấy!
Nói về quan hệ giữa hai chị em nhà họ Hoàng và Kim Long, tôi biết ông - Lam Giải Phóng, trong lòng rối như tơ vò. Nhưng đã nói về lịch sử thì không thể không nói chuyện này. Cho dù tôi không kể thì thằng ranh Mạc Ngôn cũng không thể không viết. Từ trong những trang sách chẳng lấy gì làm thơm tho của nó, mỗi người làng Tây Môn đều tìm thấy bóng dáng của chính mình.
Công việc viết khẩu hiệu vừa xong thì người ta lại bắt đầu quét vôi trắng cho toàn bộ các gốc cây hạnh. Trên cành cây, bọn học sinh tiểu học chuyền qua chuyền lại như khỉ để treo những dải vải lụa đủ sắc màu.
Phong trào nào cũng thế, nếu thiếu học sinh thì không thể nào rộn ràng. Có học sinh thì sự náo nhiệt càng tăng, cho dù bụng có réo ầm ầm song không khí lễ hội vẫn cứ hừng hực. Dưới sự chỉ huy của Mã Lương Tài và một cô giáo có cái bím tóc thật to mới về trường, hơn một trăm học sinh tiểu học Tây Môn từ trên cây nhảy xuống. Cách nơi tôi ở khoảng năm nươi mét về phía nam có hai cây hạnh đứng cách nhau khoảng năm mét song cành lá giao thoa, có mấy đứa vì quá ham vui đến nỗi áo xống bị rách toang, để lộ cả lưng, bám vào cành cây hạnh dẻo dai chuyền qua chuyền lại như khỉ vẫn thường chơi.
Được rồi, tôi tiếp tục kể về đại hội đây. Tất cả những cây hạnh đều được trang điểm lòe loẹt khiến chúng trông giống như những con yêu tinh vậy. Hai bên con đường chạy theo hướng nam - bắc giữa trại lợn, cứ cách năm mét lại có một lá cờ hồng. Ở giữa khoảng đất trống, người ta dựng một cái đài cao, bốn phía dùng chiếu lau che chắn, phía sau đài treo màn nhung, trên đó tất nhiên là có dán chữ. Kiểu khán đài này hễ ai là người Trung Quốc sinh ra trong thời ấy tất biết, tôi không cần kể nữa.
Để chuẩn bị cho đại hội, Hoàng Đồng đánh xe lừa đến hợp tác xã cung tiêu của công xã mua về hai chiếc nồi Bác Sơn to tướng, ba trăm cái bát Đường Sơn, mười cái thìa sắt, mười cân đường đen và mười cân đường trắng. Như vậy trong đại hội mọi người có thể uống nước đường miễn phí. Tôi biết Hoàng Đồng đã kiếm chác được chút ít trong lần mua bán này khi nhìn thấy thần sắc lão ta có vẻ hoảng loạn lúc bị tay kế toán đại đội căn vặn. Ngoài ra, lão ta chắc chắn đã ăn vụng không biết bao nhiêu là đường trong lúc chở về. Cho dù lão đổ cho là nhân viên hợp tác xã cân không đúng nhưng tôi đã nhìn thấy lão nôn ọe sau gốc cây hạnh ra toàn là đường.
Kim Long là một đứa cực kỳ hoang tưởng. Đối tượng chính của đại hội lần này là lợn, lợn quyết định sự thành bại của đại hội. Cho dù Kim Long và Hồng Thái Nhạc ra sức tô hồng cho trại lợn Tây Môn, nhưng nếu lợn không ra gì thì liệu có thuyết phục được ai? Tất nhiên trong đại hội sẽ có tiết mục tham quan trại lợn, nhưng lợn trong trại vẫn còm nhom và nhếch nhác thì thất bại là cái chắc. Lúc ấy ý đồ biến làng Tây Môn thành điển hình của toàn huyện, toàn tỉnh làm sao thành hiện thực được? Trong suy nghĩ của Hồng Thái Nhạc, Kim Long sẽ là người kế thừa của lão ta, đặc biệt là khi Kim Long trở về sau chuyến mua lợn ở Nghi Mông, uy tín của anh ta càng tăng. Những lời nói của Kim Long luôn được Hồng Thái Nhạc ủng hộ.
Ý đồ của Kim Long là đem những con lợn ở Nghi Mông cáu bẩn tắm liên tục ba lần, sau đó dùng kéo cắt bớt bộ lông dài của chúng. Lão Hồng sai Hoàng Đồng và nhân viên bảo quản của đại đội mua năm cái chảo lớn và hai trăm cân thức ăn hỗn hợp, ngoài ra còn mua năm mươi chiếc kéo cắt tóc và một trăm bánh xà phòng, loại thơm nhất, quý nhất lúc ấy về. Nhưng kế hoạch này khó thực hiện ngoài sức tưởng tượng của Kim Long. Ông có đoán ra không? Dễ hiểu thôi. Bầy lợn Nghi Mông này tính tình hoang dã, muốn tắm và tỉa lông cho chúng còn khó hơn xỉa răng cho hổ, trừ phi chúng trở thành những xác chết. Kế hoạch được bắt đầu trước khi hội nghị khai mạc ba ngày, nhưng phí cả một buổi sáng mà một con lợn cũng không bắt nổi, cái mông của nhân viên bảo quản còn bị mất một miếng to vì một con lợn điên tiết cắn càn.
Không thực hiện được kế hoạch là một nỗi lo lớn nhất của Kim Long. Trước đại hội hai ngày, anh vỗ vỗ vào trán rồi như tỉnh khỏi cơn mộng, nói một mình: “Sao mình lại ngốc thế này. Đúng thế! Mình ngốc thật”. Anh ta nghĩ đến việc mười mấy ngày trước đã dùng bánh bao tẩm rượu để nhử Điêu Tiểu Tam. Phải đến gặp Hồng Thái Nhạc để báo cáo thôi. Lão Hồng đại ngộ, lập tức sai người đến cửa hàng cung tiêu mua rượu. Rượu cho lợn tất nhiên chẳng cần rượu ngon, chỉ cần năm hào là đã có một can mười lít. Bánh bao thì bảo mọi người trong làng làm. Với bọn lợn đói có thể nhai đá rau ráu này thì cần gì phải bột trắng, bột loại ba cũng được. Mà cũng chẳng cần, cứ dùng rượu trộn với thức ăn hàng ngày của bọn chúng là được thôi mà! Do vậy mà ngoài cổng của trại lợn đặt một trạm rượu, cứ mỗi thùng thức ăn đổ vào ba bốn bát rượu. Chính ông - Lam Giải Phóng phụ trách việc này, đúng không? Ngày ấy cả bầu trời làng Tây Môn sực nức mùi rượu. Những con lợn có tửu lượng thấp, chưa cần ăn, chỉ cần ngửi thấy mùi rượu này đã say túy lúy.
Tôi là lợn giống, tương lai không xa sẽ đảm nhiệm trọng trách đặc biệt, tôi mà không đẹp là không xong. Nguyên tắc này trại trưởng Kim Long rõ nhất. Cho nên, ngay từ những ngày đầu tôi đã hưởng một chế độ chăm sóc riêng. Thức ăn của tôi không có hạt bông, vì nghe đâu loại hạt này có thể giết chết tinh trùng. Thức ăn của tôi là bột đậu, khoai và một số loại rau giàu dinh dưỡng nhất, thơm lừng. Loại thức ăn này đừng nói là dành cho lợn, mà cho người vẫn còn tốt chán. Theo sự phát triển của thời đại và sự biến đổi về quan niệm, sau này mọi người mới nhận ra được rằng, những thức ăn của tôi ngày ấy mới đúng là những thực phẩm tốt hơn cả thịt gà, thịt vịt, cá và các loại sơn hào hải vị mà người ta vẫn thường tung hô.
Khẩu phần ăn của tôi cũng có ba bát rượu. Nói một cách công bằng, tửu lượng của tôi không tồi, tuy không dám huyênh hoang là ngàn chén không say, song cỡ nửa lít thì chưa ảnh hưởng gì đến sự linh hoạt của tư duy và sự nhanh nhạy về động tác của tôi. Tôi quyết không phải là thằng Điêu Tiểu Tam kia, chỉ ăn có hai miếng bánh bao tẩm rượu mà đã đổ gục như cây thịt. Nhưng lần này, chỉ có ba bát rượu, khoảng nửa lít không hơn mà sao tôi đã đầu chóng mắt hoa thế này?
Mẹ nó chứ! Tôi say thật rồi. Chân tôi mềm nhũn, toàn thân nhẹ tênh như đang bay, dưới chân tôi như có lót đệm hoa làm cho thân thể tôi nhún nhảy, bay lên, hạ xuống. Cái chuồng như quay nghiêng, mấy cây hạnh như giơ gốc lên trời. Bình thường những tiếng kêu của loài lợn Nghi Mông vốn đáng ghét mà sao hôm nay lại êm ái như một khúc dân ca văng vẳng bên tai tôi. Tôi say quá đỗi! Phía vách bên kia, Điêu Tiểu Tam ngấm rượu ngáy khò khò và đánh rắm như sấm. Nhưng tôi say thì tôi muốn nhảy nhót, muốn hét. Dù sao tôi cũng là vua lợn, có say rượu cũng phải giữ phong độ chứ! Tôi quên mất chuyện tôi phải giấu nhẹm những sở trường của mình, tung người một cái, toàn thân nặng nề của tôi đã nằm gọn trên nhánh cây hạnh, bốn chân tôi bám chặt vào hai nhánh nhỏ và áp bụng lên cành cây lớn. Loài cây hạnh rất dẻo, nếu là dương liễu chắc chắn đã gãy dưới sức nặng của tôi. Nằm trên cành cây, tôi thấy mình như nổi dập dềnh trên sóng biển, như đã rời khỏi trái đất để bay lên cung trăng.
Tôi nhìn thấy Lam Giải Phóng và nhiều người khác đang xách những thùng thức ăn chạy đi chạy lại trong trại, bên ngoài là những cái bếp lâm thời lửa đang cháy phừng phừng, thức ăn trong nồi sôi sùng sục, bốc hơi nghi ngút. Tôi cũng nhìn thấy hai chị em xinh đẹp họ Hoàng, chị của Mạc Ngôn và nhiều người khác đang mặc đồ bảo hiểm lao động, trước ngực có hàng chữ “Trại nuôi lợn Hạnh viên” chăm chú nghe ông Lâm, một thợ cắt tóc được đại đội mời đến để hướng dẫn cách xén lông cho lợn. Cái tay họ Lâm này đầu tóc rễ tre, cứng như lông lợn, gương mặt gầy nhom, những ngón tay gầy guộc giơ xương, giọng đặc sệt ngôn ngữ phương nam đến nỗi các cô gái nghe lão nói đều tỏ ra ngô nghê chẳng hiểu gì sất. Trên cái khán đài treo đầy chiếu lau, cô giáo dạy tiếng phổ thông đang chỉ đạo tập kịch. Rất dễ nhận ra đó là tiết mục “Lợn nhỏ Hồng Hồng đến Bắc Kinh”, một tiết mục rất phổ biến thời ấy, cải biên từ khúc “Phấn tình lang” trong ca kịch cổ điển, vừa ca vừa múa. Đóng vai lợn nhỏ Hồng Hồng là con bé đẹp nhất trường tiểu học Tây Môn, còn lại đều là con trai, tất cả đều đeo mặt nạ lợn. Nghe thấy tiếng hát và xem bọn trẻ nhảy nhót, máu văn nghệ trong người tôi nổi dậy. Tôi bắt đầu ngọ ngoạy bốn chân và lúc lắc thân hình khiến cành cây hạnh run rẩy, kêu lào xào. Tôi mở miệng cất tiếng hát, không ngờ âm thanh phát ra là của loài lợn khiến tôi giật mình. Tôi vẫn cứ nghĩ là mình sẽ nói được tiếng nói của loài người, hát được tiếng hát của loài người, song không ngờ vẫn cứ là âm thanh của lợn. Nhưng tôi vẫn chưa hoàn toàn thất vọng. Tôi đã từng nghe loài chim khướu nói được tiếng người, nghe đâu cả chó và mèo cũng có thể nói được tiếng người nữa cơ mà. Vả lại, trong ký ức của tôi thời làm lừa và trâu, có một vài việc rất quan trọng, tôi đã có thể nói được một vài câu na ná như tiếng người.
Tiếng kêu của tôi đã khiến các cô gái đang học cắt lông ở bên ngoài chú ý. Trước tiên là chị của Mạc Ngôn kêu lên thảng thốt:
- Xem kìa, lợn biết trèo cây!
Thằng ôn con Mạc Ngôn thì nhấp nháy đôi mắt nói:
- Người Mỹ đã lên đến cung trăng, lợn leo cây có gì là lạ!
Câu nói của nó bị tiếng kêu thét của các cô gái át đi, không ai nghe thấy. Nó kiên trì nói tiếp:
- Ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ có một loài lợn làm ổ trên cây, tuy là loài động vật có vú song lại mọc lông cánh, khi sinh ra là trứng, bảy ngày sau mới đập vỡ trứng chui ra đấy!
Lần này cũng thế, thông tin của nó vẫn bị tiếng các cô gái át đi, chẳng ai nghe. Tự nhiên tôi muốn kết bạn với thằng ôn con này. Hướng về nó, tôi hét lên:
- Người anh em Mạc Ngôn! Nếu bạn hiểu tôi, có ngày nào rảnh, tôi sẽ mời bạn uống rượu!
Nhưng tiếng nói của tôi lại bị át đi giữa tiếng huyên náo của các cô gái. Dưới sự chỉ đạo của Kim Long, họ tiến về phía tôi, nét mặt cô nào cũng tỏ ra cực kỳ kích động và tò mò. Tôi đưa chân trước lên, làm một động tác chào: Chào các cô! Họ chẳng hiểu lời tôi nhưng có lẽ họ đã thấy được sự thân thiện trong động tác của tôi, ai nấy ôm bụng cười sặc sụa. Tôi nghiêm trang bảo: Cười cái gì thế? Nghiêm túc một tí nào! Họ lại càng cười lớn hơn. Kim Long nhíu mày suy nghĩ rồi nói:
- Anh bạn nhỏ! Quả nhiên mày có chút tài vặt đấy. Nếu ngày đại hội khai mạc, mày có thể làm được thế này nữa thì hay biết mấy!
Anh ta mở chuồng và nói với những người ở phía sau:
- Đến đây, chúng ta sẽ bắt đầu từ con lợn này!
Rồi đến bên tôi, đưa tay vuốt nhẹ khắp người tôi. Kiểu vuốt của anh ta sao mà có văn hóa đến thế, khiến tôi cảm thấy thư thái vô cùng. Anh ta nói:
- Lợn mười sáu! Chúng tao sẽ tắm rửa cho mày thật sạch, cắt bớt lông, khiến mày trở thành một con lợn đẹp nhất thế giới. Hy vọng mày sẽ phối hợp với bọn tao, làm gương cho tất cả nhé.
Anh ta quay lại phía sau ra hiệu, bốn tay dân binh tiến tới, mỗi đứa nắm lấy một chân tôi, khiêng tôi từ trên cành cây hạnh xuống. Động tác của bọn chúng sao mà thô bạo, quả là đôi tay bọn chúng mạnh thật khiến tôi đau điếng, khó lòng mà vùng vẫy. Điên tiết tôi cất tiếng chửi:
- Đồ con cháu bất hiếu! Chúng mày không biết cúng tế gì cả! Chúng mày đang chế nhạo tổ tiên và thần linh đấy!
Dường như đó chỉ là những tiếng gió rít qua tai, chúng vẫn ngửa mặt lên trời cười cười rồi khiêng tôi vứt vào nồi nước ấm. Một nỗi sợ hãi từ trong sâu thẳm linh hồn khiến tôi mạnh mẽ hẳn lên, những thức ăn có trộn rượu biến thành sức mạnh. Tôi tỉnh lại rồi! Tôi nghĩ ngay đến cách thức mới mà con người muốn làm thịt lợn, trước khi muốn ăn da gặm xương lợn, người ta cũng vất nó vào nồi nước nóng để rồi sau đó dùng dao cạo sạch lông, sau đó là chặt đầu chặt chân, mổ bụng moi lòng treo lên giá. Bốn chân tôi vừa co lại đã vọt ra khỏi nồi nước, nhanh đến nổi bọn chúng chẳng kịp trở tay, hoảng kinh đứng nhìn. Nhưng bất hạnh làm sao, tôi nhảy ra khỏi nồi nước nhưng không rơi xuống đất mà lại rơi đúng vào một chiếc nồi khác lớn hơn đặt ở kế bên. Toàn thân tôi chìm trong nồi nước nóng và lập tức, một sự thích thú điên rồ xâm chiếm toàn thân khiến tôi mất hết ý chí. Tôi không còn sức để nhảy khỏi nồi nước nữa rồi! Các cô gái xông đến và dưới sự chỉ huy của Kim Long, dùng loại bàn chải thô nhám chà xát da thịt tôi. Khoan khoái quá! Tôi rên lên khe khẽ, mắt mở mắt nhắm như muốn ngủ ngay lập tức. Cuối cùng bốn đứa dân quân khiêng tôi ra khỏi nước. Gió mát mơn man làn da tôi, dường như tôi chẳng còn tí sức lực nào, cảm thấy mình nhẹ tênh như hóa thành tiên bay trên không trung. Rồi bọn con gái dùng kéo, dùng dao tỉa tót lông tôi. Theo ý của Kim Long, bọn chúng sẽ cắt xén lông tôi và tạo thành hai cái hoa mai ở hai bên bụng, nhưng cuối cùng không thành, lông bụng tôi bị cạo sạch, trắng hếu. Chẳng phiền lòng, Kim Long dùng sơn đỏ viết hai câu khẩu hiệu lên đó, bên phải là câu “Vì cách mạng mà phối giống”, bên trái là câu “Thay dân tạo phúc”. Rồi để tôn vinh hai câu khẩu hiệu thật kêu này, anh ta tiếp tục dùng sơn đỏ sơn vàng vẽ nào hoa mai, hoa quỳ lên thân tôi, biến tôi thành một tấm biển quảng cáo. Vẽ xong, anh ta lùi ra hai bước ngắm nghía kiệt tác, trên mặt biểu lộ một nụ cười vừa quái ác vừa bằng lòng. Những người đứng chung quanh đều lên tiếng tán dương rằng tôi là một con lợn đẹp nhất thế gian!
Nếu đem toàn bộ số lợn trong trại này mà tắm, mà cạo, mà vẽ giống như tôi thì là chuyện không tưởng, ngay cả việc tắm cho đồng loạt hơn một nghìn con lợn đã là một chuyện khó. Mà đại hội cũng sắp sửa khai mạc rồi, Kim Long đành phải thay đổi kế hoạch. Nó phác họa ra mấy bức tranh đơn giản nhưng có tính thẩm mỹ rất cao rồi chọn khoảng hai mươi thanh niên thông minh, nhanh nhạy dạy cho. Mỗi đứa được phát một thùng sơn và hai cây cọ, thừa lúc bọn lợn say rượu mà vẽ. Lợn trắng dùng sơn hồng, lợn đen dùng sơn trắng, loại không đen không trắng thì dùng sơn vàng. Bọn thanh niên ban đầu rất phấn khởi và hăng say vẽ, nhưng chỉ được vài con là đã đầu váng mắt hoa. Cho dù lúc này là mùa thu, không khí rất mát mẻ và thoáng đãng, song mùi thối trong chuồng lợn khiến người ta chịu không nổi. Lao động trong hoàn cảnh ấy thì liệu ai có thể vui vẻ và phấn khởi được. Bọn con gái vốn có trách nhiệm với công việc, tuy trong lòng không vui song cũng không gây náo loạn như bọn con trai. Bọn này dùng cọ nhúng sơn vẽ loạn xị lên toàn thân lợn khiến thân thể chúng trở nên loang lổ. Bọn lợn trắng bị sơn đỏ phết vào giống như những vết thương đang túa máu, còn bọn lợn đen bị phết sơn trắng trông giống như mặt của bọn gian thần. Thằng bé Mạc Ngôn cũng ở trong số ấy, dùng sơn trắng vẽ một đôi gọng kính to tướng quanh mắt của những con lợn đen, lại dùng sơn đỏ vẽ những cái móng thật to, thật nhọn lên chân của bọn lợn trắng…
Đại hội nuôi lợn cuối cùng cũng đến ngày khai mạc. Những tuyệt kỹ của tôi đã bị người ta phát hiện, thế thì tôi chẳng cần khách sáo nữa. Để cho bọn lợn khỏi làm ồn ảnh hưởng đến đại hội và cũng để tạo ấn tượng tốt cho các đại biểu tham dự, thức ăn ngon đã được tăng gấp đôi số lượng, rượu cho vào cũng nhiều hơn. Do vậy mà trong ngày khai mạc, bầy lợn ngủ say như chết. Cả trại bốc mùi rượu nồng nặc. Kim Long dày mặt nói rằng, đó là phương pháp nuôi lợn mới, rằng anh ta đã thành công trong việc chế xuất ra một loại thức ăn mới, vừa tiết kiệm mà lại vừa có hàm lượng dinh dưỡng cao, lợn ăn vào là không kêu không nhảy, chỉ biết ngủ triền miên. Mấy năm nay vì thiếu lương thực mà việc nuôi lợn gặp rất nhiều khó khăn, phát minh để thức ăn lên men rượu này của Kim Long về cơ bản là đã giải quyết được vấn đề, đưa sự nghiệp nuôi lợn toàn huyện bước sang một trang sử mới!
Trên khán đài Kim Long oang oang nói:
- Thưa quý vị lãnh đạo, thưa các đồng chí! Chúng tôi hoàn toàn nghiêm túc tuyên bố rằng, thức ăn được lên men của chúng tôi đã cứu cả thế giới. Chúng tôi dùng lá cây, cỏ tạp, rơm khô để chế thành một loại thức ăn lên men mà quý vị thấy là nhằm đem tất cả những gì thừa thãi vô dụng biến thành thịt lợn để cung cấp dinh dưỡng cho con người, cho xã viên công xã, cũng là đào thêm phần mộ cho bọn đế quốc phản động…
Tôi nằm vắt trên cành hạnh, những cơn gió nhẹ mơn man da thịt tôi. Một đàn ruồi nhặng đậu kín mặt tôi, dùng những chiếc mồm cứng lượm lặt những thức ăn rơi vãi bám trên đó. Những chiếc mồm nhấm nháp thức ăn có lúc cắn vào da thịt khiến tôi cảm thấy đau, song cũng vừa khoan khoái như đang được châm cứu. Tôi biết Kim Long muốn tôi ngủ trên cành cây này để anh ta mặc sức khoe khoang về thành tích kỳ diệu của anh ta và của đại đội trong công việc nuôi lợn. Nhưng tôi không muốn ngủ chút nào. Trong lịch sử dài lâu của loài người, đây là lần đầu tiên đại hội nuôi lợn diễn ra, từ nay về sau có còn nữa hay không nào có ai biết. Trong thời điểm lịch sử trọng đại này mà ngủ thì sẽ là niềm ân hận đến mấy nghìn năm sau. Tôi ve vẩy mạnh đôi tai khiến chúng đập vào má, những âm thanh lạch bạch vang lên. Nói đến đây chắc ai cũng hiểu đôi tai của tôi rất đặc biệt, khác hẳn với đôi tai vểnh giống như loài chó của những con lợn Nghi Mông kia. Đương nhiên những năm sau này, ở các thành phố người ta đã tạo ra giống chó có đôi tai cụp xuống như những chiếc vớ phủ đến mõm. Người ta quá nhàn nhã nên đã làm những chuyện trái tự nhiên, đem các loài động vật cho tạp giao để đẻ ra những con quái vật. Đó là sự đùa bỡn với Thượng đế, ắt có ngày sẽ bị Thượng đế trừng phạt thôi.
Tôi ve vẩy đôi tai để đuổi ruồi rồi vươn chân trước hái mấy lá hạnh đỏ như máu bỏ vào mồm nhai. Lá hạnh đắng chát khiến tôi tỉnh táo hẳn, tai như nghe rõ hơn, mắt như sáng hơn trước. Từ trên cao nhìn xuống, tôi nghe thấy toàn bộ cảnh tượng đại hội đang diễn ra và nhớ như in trong tâm trí mình. Trí nhớ của tôi còn hơn cả những chiếc máy camera hiện đại ngày nay, vì máy chỉ biết thu hình, tiếng và cảnh, còn tôi ngoài những việc ấy, tôi còn thu được cả mùi vị và ghi nhớ cả những cảm nghĩ chủ quan của mình.
Ông không phải tranh luận với tôi, vì trí óc của ông đã bị những chuyện đau lòng vừa qua làm cho mụ mẫm mất rồi. Ông chỉ mới hơn năm mươi tuổi nhưng mắt đã kèm nhèm, phản ứng chậm chạp. Đó là dấu hiệu của tuổi già, do vậy ông đừng bảo thủ cố chấp mà tranh biện với tôi. Tôi có trách nhiệm nói cho ông hay rằng, lúc đại hội nuôi lợn diễn ra, làng Tây Môn vẫn chưa có điện thắp sáng. Đúng vậy! Ông đã nói rằng, lúc ấy trên cánh đồng phía trước làng, người ta đã bắt đầu giăng dây điện, song đó là điện cao áp của nông trường quốc doanh. Lúc ấy, nông trường quốc doanh thuộc Quân khu Tế Nam, tên gọi chính thức của nó là Doanh trại Binh đoàn sản xuất độc lập, người trong doanh trại đều là quân nhân tại ngũ, còn số ít là những thanh niên trí thức đến từ Thanh Hải và Tế Nam. Một đơn vị như thế tất nhiên cần phải có điện, còn việc làng Tây Môn có điện là chuyện của mười năm sau. Có nghĩa là, trong lúc đại hội tiến hành, ngoài trại lợn của đại đội là có điện, còn lại cả làng đều chìm trong màn đêm đen kịt.
Đúng thế, như trước đây tôi đã kể, chuồng của tôi có mắc một bóng điện một trăm oát, tôi đã biết dùng chân để bật tắt điện, nhưng đó là điện được phát ra từ cái máy phát điện tự có của trại lợn. Một chiếc máy nổ hai mươi mã lực gắn với một động cơ điện là có ánh sáng thôi mà. Đây là phát minh của Kim Long. Nếu ông không tin, cứ đi hỏi thằng Mạc Ngôn. Thằng bé này đã từng làm một chuyện kinh thiên động địa với chiếc máy ấy, chuyện này tôi sẽ kể ngay bây giờ.
Hai bên khán đài diễn ra đại hội có trồng hai cây trụ, trên đó mắc hai cái loa phóng thanh to tướng. Lời phát biểu của mọi người ít nhất cũng được khuếch đại đến năm trăm lần, có lẽ cả vùng Đông Bắc Cao Mật đều nghe được bài phát biểu của Kim Long. Trên khán đài là nơi của chủ tịch đoàn. Sáu chiếc bàn học sinh của trường tiểu học được kết lại để làm bàn chủ tịch đoàn, phủ vải đỏ. Ngồi phía sau bàn là các cán bộ huyện, cán bộ công xã mặc lễ phục màu lam hoặc màu tro. Bên phải có một người mặc bộ quân phục bạc màu ngồi ở vị trí thứ năm là cán bộ Đoàn thanh niên từ công xã nhân dân cử về, phía bên trái ngồi ở vị trí thứ nhất là bí thư chi bộ làng Tây Môn Hồng Thái Nhạc. Lão mới cạo râu, cắt tóc và để che cái đầu hói, lão đội một cái mũ quân nhân. Mặt lão ta đỏ rực như một cái bóng đèn dầu. Tôi đoán chắc là lão ta đang mơ đến con đường thăng quan tiến chức, thằng cha Trần Vĩnh Quý ở công xã nhân dân là tấm gương của lão. Nếu Quốc vụ viện cho phép thành lập bộ chỉ huy nuôi lợn, chắc lão sẽ được điều lên làm phó tổng chỉ huy. Những quan chức ngồi trên đài có mập có gầy nhưng tất cả đều ngoảnh mặt về phía Đông đón ánh mặt trời, do vậy mà mặt ai cũng đỏ rực, mắt nheo nheo vì chói nắng, trong đó có một người đen đen đeo một đôi kính gọng và mắt đều đen, mồm phì phèo điếu thuốc lá đầu lọc, chẳng khác nào một kẻ trộm cướp. Kim Long đang đứng phát biểu trước đài, trước mặt là chiếc micro được bọc nhung đỏ. Thời bấy giờ, chiếc micro là vật còn lạ khiến người ta sinh lòng hiếu kỳ. Thằng Mạc Ngôn đã từng lợi dụng lúc không có ai để ý, vọt lên đài ghé miệng sát micro, giả tiếng chó sủa lên hai tiếng. Tiếng chó sủa này vang động cả Hạnh viên, làng Tây Môn và dưới sự khuếch tán của chiếc loa cực đại, lan truyền đến tận hang cùng ngõ hẻm của vùng Đông Bắc Cao Mật. Trong một bài tản văn, Mạc Ngôn đã từng miêu tả chuyện này.
Như tôi đã nói, dòng điện để khởi động micro và chiếc loa phóng thanh không phải là điện cao áp của quốc gia mà là từ chiếc máy phát điện chạy bằng dầu. Với dân làng Tây Môn, chiếc máy điện này là một điều quá sức thần kỳ, đừng nói là những người nông dân chất phác mà ngay cả tôi - một con lợn bác học cũng cảm thấy rất đỗi lạ lùng. Đúng vậy! Chẳng thấy dòng điện đâu cả mà đèn lại sáng. Suy cho cùng thì nó sinh ra và biến mất như thế nào? Củi cháy còn tro, thức ăn tiêu hóa còn phân, còn điện thì sao? Nó biến thành cái gì? Nghĩ đến đây, tôi nhớ đến chuyện Kim Long ngày đêm miệt mài dùng gạch xây một cái phòng nhỏ ở phía nam của trại lợn, trong căn phòng ấy đặt chiếc máy phát điện. Đêm nào cũng thế, anh ta thắp đèn dầu đánh vật với chiếc máy. Anh ta phải tranh thủ ban đêm vì ban ngày còn phải đi làm những việc khác. Việc này quá đỗi kỳ diệu khiến dân làng Tây Môn đêm nào cũng tề tựu đến để xem. Đêm nào cũng thế, thằng Mạc Ngôn cũng chen lên trước, không chỉ xem mà còn la ó, chọt chỗ này chỗ kia khiến Kim Long bực mình. Có đến mấy lần, Hoàng Đồng véo tai nó lôi ra ngoài, nhưng chỉ khoảng nửa tiếng sau là nó đã chen vào, lại la hét đến nỗi nước bọt bắn cả vào người Kim Long.
Tôi không dám chen vào để xem, cũng chẳng có cách nào trèo lên cây hạnh gần đó vì cành thấp nhất cũng cao đến hai mét, thân cây lại trơn tuột. Nhưng ông trời lại thương tôi, đằng sau căn phòng nhỏ ấy có một nấm đất lớn, dưới ấy người ta chôn một con chó có nghĩa đã từng xả thân cứu người. Nó đã nhảy xuống dòng nước đang chảy cuồn cuộn để cứu được một đứa bé gái, vì kiệt sức mà chết.
Tôi đứng trên mộ con chó, qua cửa sổ căn phòng chưa kịp làm cửa, tôi nhìn rất rõ những gì xảy ra trong phòng. Trong phòng đèn măng-sông sáng rực, bên ngoài tối thui, tôi chợt nhớ một câu nói về nghệ thuật đấu tranh giai cấp phổ biến thời bấy giờ: Địch ở chỗ sáng, ta ở chỗ tối. Muốn xem cứ xem, chỉ có tôi xem họ, họ nhìn chẳng thấy tôi. Kim Long đang lật lật cuốn sách hướng dẫn sử dụng nhàu nát và lấm lem dầu mỡ, cau mày dùng bút chì viết viết gì đó lên một trang giấy cũ. Hồng Thái Nhạc móc túi lấy thuốc, đánh lửa rít một hơi rồi gắn lên miệng Kim Long. Bí thư Hồng trọng thị trí thức, tôn trọng nhân tài, là một cán bộ hiếm có của thời ấy. Hai chị em họ Hoàng thi thoảng thay phiên nhau thấm mồ hôi trên mặt Kim Long. Tôi cũng nhìn thấy ông cau mặt mỗi khi Hỗ Trợ lau mồ hôi cho anh ta. Ông không biết tự lượng sức mình, nhưng cũng là một tay dám nghĩ dám làm. Sự thực sau này đã chứng minh, cái bớt xanh trên mặt ông không những không cản trở phụ nữ đến với ông mà còn là điểm hấp dẫn đặc biệt đối với họ. Tôi xin nhắc lại một bài thơ được phổ nhạc cho trẻ con hát lưu hành ở phố huyện vào những năm chín mươi:
Chớ khinh mặt quỷ một bên xanh,
Dưới mắt người yêu dữ hóa lành.
Vợ con sự nghiệp coi thường hết,
Dắt gái bôn ba khắp huyện thành.
Tôi chẳng có ý chê cười gì ông, tôi vốn rất kính trọng ông. Một vị phó huyện trưởng đường đường oai phong lại bỏ chức bỏ tước để trốn đi với tình nhân, lao động vất vả để kiếm sống. Ông đúng là thiên hạ có một không hai!
Mọi công việc chuẩn bị cho máy phát điện đã xong, phát thử điện cũng đã sáng, Kim Long trở thành người có quyền lực thứ hai ở làng Tây Môn. Tôi biết ông có thành kiến rất sâu với người anh cùng mẹ khác cha này, nhưng nhờ anh ta mà ông cũng vinh dự lây. Nếu không có anh ta liệu ông có được làm đội trưởng đội nuôi lợn không? Nếu không có anh ta, liệu năm sau ông có thể trở thành công nhân hợp đồng của xưởng dệt không? Nếu không có hợp đồng làm công nhân, sau này ông có thể thành quan chức không? Bây giờ ông rơi vào hoàn cảnh này, đừng nên oán người khác mà hãy tự trách mình, hãy trách chính mình không làm chủ được dục vọng của mình. Nhưng mà tôi nói chuyện này để làm gì nhỉ? Hãy để cho Mạc Ngôn chép vào tiểu thuyết của nó có lẽ hay hơn.
Đại hội tiến hành một cách thuận lợi, trình tự diễn ra hết sức êm thắm. Sau khi nghe Kim Long trình bày những kinh nghiệm mới trong việc nuôi lợn, vị quan chức mặc áo quân nhân lên tổng kết đại hội. Vị này hùng dũng bước ra khán đài, không cần giấy tờ gì cả, cứ đứng nói thao thao bất tuyệt. Anh ta nói thật lưu loát, hùng hồn; thật là một cán bộ có khí độ hơn người. Một tay thư ký khom người kéo cái micro cho nó cao lên ngang tầm với người nói nhưng không được, anh ta nhanh trí xách ngay một chiếc ghế đặt lên bàn rồi đặt chiếc micro lên đó. Đúng là một người ứng biến nhanh nhẹn, do vậy mà mười năm sau anh ta đã được đề bạt làm chánh văn phòng ủy ban huyện. Nhờ đó mà lời tổng kết của vị cán bộ này được truyền đạt khắp vùng Đông Bắc Cao Mật:
- Mỗi con lợn chính là một viên đạn đại bác công phá thành trì phản động của bọn đế quốc…
Hai tay nắm lại thành quyền, vị quan chức này vừa vung quyền vừa nói. Nhìn thấy động tác và nghe lời nói của anh ta, một con lợn bác học như tôi nghĩ ngay đến một cảnh quay trong một bộ phim nổi tiếng. Tôi cũng liên tưởng đến chuyện, nếu tôi được nằm trong nòng súng mà bắn đi, trong không trung tôi sẽ lộn tùng phèo rồi rơi đúng vào một lô cốt của bọn đế quốc phản động và nổ tung lên khiến bọn chúng được chết một cách an lạc!
Đã đến khoảng mười giờ trưa, những lời diễn thuyết của vị quan chức nọ vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Bên cạnh khán đài, hai chiếc xe Jeep màu cỏ úa nằm im lặng, hai người lái xe mệt mỏi dựa vào cửa xe, nhàn nhã hút thuốc và thi thoảng liếc nhìn đồng hồ. Thời ấy, xe Jeep quý giá gấp nhiều lần so với những Mercedes, Camry, Toyota... trong thời hiện đại, một chiếc đồng hồ lên giây Liên Xô quý giá gấp ngàn lần so với đồng hồ Thụy Sĩ ngày nay. Ánh nắng mặt trời chiếu vào mặt đồng hồ lấp lóa làm cho bao ánh mắt của thanh niên làng Tây Môn liếc nhìn thèm muốn. Sau hai chiếc xe Jeep là hai hàng xe đạp xếp ngay ngắn chỉnh tề. Thời ấy, xe đạp nói lên thân phận con người, là phương tiện của cán bộ huyện, xã, đại đội. Mười mấy dân quân tay lăm lăm súng sắp thành vòng tròn để bảo vệ những tài sản đắt giá này.
- …Chúng ta phải kế thừa ngọn gió mát lành của Cách mạng Văn hóa, thực hiện tốt chỉ thị nuôi lợn của Mao Chủ tịch vĩ đại, học tập kinh nghiệm tiên tiến của làng Tây Môn, đem công tác nuôi lợn biến thành công tác chính trị trọng đại…
Vị quan chức tiếp tục một cách say sưa bài diễn thuyết của mình, vung tay vặn lưng đủ tư thế để tạo thêm sự hùng hồn cho lời nói. Miệng anh ta sủi đầy bọt trắng, văng tứ tung trên khán đài.
- Chuyện gì đang xảy ra vậy?
Điêu Tiểu Tam đang ngủ say như chết vì ăn phải bã rượu bỗng nhiên thức dậy, bò ra khỏi chỗ ỉa, ngoác mồm, nheo mắt hỏi tôi từ phía bên kia bức tường. Nó cũng cố gắng đưa chân trước lên chồm qua tường để nhìn cảnh tượng bên ngoài, nhưng men rượu đã làm cho nó mất hẳn sức lực, không giữ được thăng bằng. Vừa mới đứng dậy, hai chân sau của nó đã khụyu xuống, cả người ngã lăn trên đống cứt. Đồ tạp chủng này chẳng biết giữ vệ sinh, ỉa khắp chuồng. Với kẻ hàng xóm như thế này, đúng là bất hạnh cho tôi. Tôi nhìn thấy trên đầu nó phết đầy sơn trắng, còn hai chiếc răng nanh thì lại được phết màu vàng, nhìn xa giống như những chiếc răng bọc vàng mà con người vẫn ưa thích vậy.
Một bóng đen chen ra khỏi đám người đông đúc. Người tham dự đại hội nhiều vô số kể, nói đến hàng vạn thì hơi cường điệu, song chí ít cũng phải đến bốn năm ngàn. Người ấy lao đến hai chiếc nồi Bác Sơn đặt dưới gốc cây hạnh, cúi đầu nhìn chăm chú. Tôi biết người ấy muốn uống nước đường, nhưng trong hai chiếc nồi đã không còn ngụm nào vì đã bị người ta tranh thủ uống hết. Người ta uống không phải vì khát nước, mà vì đường. Đường lúc này là một loại thực phẩm quý hiếm chỉ có thể mua bằng tem phiếu. Lúc ấy mà được uống một bát nước đường cũng hạnh phúc giống như ngày nay được cùng với người yêu làm tình vậy. Những vị lãnh đạo của làng Tây Môn muốn gây ấn tượng tốt trong toàn huyện nên đã tập trung toàn bộ xã viên lại và tuyên bố nghiêm cấm tất cả mọi người làng Tây Môn từ lớn đến bé uống nước đường, ai vi phạm thì phạt một trăm công điểm. Nhìn những người ngoài thôn tranh nhau uống nước đường khiến tôi cũng vì những người trong làng mà tức lây. Cho dù tôi nhìn thấy rất nhiều ánh mắt khác lạ cũng như hiểu thấu những tâm lý phức tạp của người làng Tây Môn khi thấy những người xa lạ uống nước đường, song tôi khâm phục họ. Họ đã nhịn được, thật không dễ dàng!
Nhưng giờ đây, có một người không nhịn nổi, không cần tôi nói tên, chắc ông cũng đoán ra đó là ai. Đó chính là đứa ăn tham nhất trong lịch sử một trăm năm mươi năm ra đời của làng Tây Môn. Đúng, chính là con khỉ đội lễ phục để làm thân sĩ trong hiện tại Mạc Ngôn đấy! Thằng này đang cúi gập nửa người vào trong chiếc nồi giống như một con ngựa đang vục đầu uống nước, song thân hình nó thì quá ngắn mà chiếc nồi thì quá sâu, cho nên nó tìm đâu đó chiếc thìa sắt, kề vai vào chiếc nồi đẩy mạnh khiến nó nghiêng sang một bên rồi bắt đầu cạo vét những vảy đường đọng lại trong nồi, múc lên. Nhìn thấy nó cầm chiếc thìa một cách cẩn thận, tôi biết nó đã thành công. Nó đưa chiếc thìa lên miệng, cũng có thể nói là nó đưa miệng ngang với chiếc thìa rồi từ từ thưởng thức thành quả. Nhìn nét mặt, tôi biết đây là giây phút hạnh phúc nhất đời của nó. Rồi nó lại tiếp tục như thế. Tiếng cạo của thìa sắt vào đáy nồi kêu ken két khiến tôi rợn cả da gà. Tiếng cạo này so với tiếng gầm rú của chiếc loa còn kinh khủng hơn nhiều, làm bấn loạn thần kinh tôi. Tôi mong có ai đó đến để ngăn cản cái hành vi đáng xấu hổ cho cả làng Tây Môn này, chỉ cần vài phút nữa mà không có ai ra thì có lẽ tôi sẽ nhảy từ trên cành cây xuống mất. Những con lợn trong chuồng cũng bị âm thanh kỳ dị này làm cho giật mình, kêu lên the thé:
- Đừng cạo nữa, đừng cạo nữa, răng cắn vào lưỡi khiến chúng tôi chết mất!
Càng lúc Mạc Ngôn càng táo tợn, nó lật nghiêng cái nồi rồi chui hẳn vào trong, lẽ nào nó lại dùng lưỡi để liếm đáy nồi? Thèm ăn như thế cũng là một kỷ lục! Cuối cùng thì nó cũng đứng dậy. Chiếc áo rách trên người nó lấm lem, từ đó phát ra một mùi ngọt ngọt. Nếu bây giờ là mùa xuân thì chắc chắn sẽ có những đàn ong mật hoặc bươm bướm vây lấy nó rồi. Nhưng lúc này là đầu đông, không thấy bướm ong mà chỉ thấy từng đàn ruồi nhặng bay quanh rồi bám vào đầu vào mặt nó.
- … Chúng ta cần phải tăng lòng nhiệt tình gấp mười, gấp trăm để nhân rộng kinh nghiệm tiên tiến của làng Tây Môn. Các công xã, các đại đội, công nhân, thanh niên, phụ nữ và các tổ chức quần chúng khác phải cùng nhau phối hợp. Cần thắt chặt tình hữu ái giai cấp để đấu tranh và quản lý các phần tử địa chủ, phú nông, phản động, phái hữu, đặc biệt là phải đề phòng những kẻ xấu đang âm thầm trong bóng tối chống phá chủ nghĩa xã hội…
Gương mặt Mạc Ngôn đầy mãn nguyện, huýt sáo mồm vui vẻ và rảo bước về phía phòng đặt máy phát điện. Tôi bị hành vi của nó làm cho tò mò nên chú ý theo dõi. Nó đi vào phòng máy. Chiếc máy đang nổ ầm ầm, điện từ đó chảy ra thành nguồn sống của chiếc loa phóng thanh.
- … Các đại đội phải chú ý bảo quản những loại thuốc trừ sâu, chớ để bọn phản động ăn trộm nhằm đầu độc trại lợn…
Tay trực ban trông coi máy phát điện Tiêu Nhị đang dựa lưng vào tường ngủ gà ngủ gật khiến Mạc Ngôn dễ dàng thực hiện kế hoạch phá hoại của nó. Nó mở thắt lưng, tuột cái quần rách tươm xuống đất, hai tay bụm lấy của quý. Đến lúc ấy tôi vẫn không hiểu nó định làm gì. Nhắm ngay chiếc dây curoa kéo động cơ điện, một dòng nước đái bắn ra, dây curoa văng ra ngoài nằm im giống như một con lươn chết. Chiếc loa phóng thanh câm bặt. Chiếc máy dầu hai mươi sức ngựa thoát khỏi sức kéo nặng nề rống lên khủng khiếp. Ngoài diễn đàn, mấy ngàn người bỗng nhiên câm lặng giống như đang chìm dưới đáy nước, lời diễn thuyết của vị quan chức cũng vo ve như tiếng muỗi kêu. Hồng Thái Nhạc đứng bật dậy, Kim Long cũng đứng bật dậy rồi lao về phía phòng máy. Tôi biết chắc Mạc Ngôn đã gặp đại họa, quả đắng đang chờ nó ăn rồi đấy!
Gặp đại họa mà Mạc Ngôn chẳng biết đường chạy trốn, vẫn đứng trước đầu máy, gương mặt tỏ ra phiền não vô cùng. Tôi đoán nó đang suy nghĩ vì sao mình lại đái vào đấy, tại sao dây curoa lại văng ra? Kim Long nhảy vào phòng, việc đầu tiên là giáng một cái tát thật mạnh vào mặt Mạc Ngôn, việc thứ hai là nhắm ngay cái mông đít thằng bé đá một cái thật mạnh và việc thứ ba là cầm sợi dây curoa gắn vào chỗ cũ. Nhưng nó vừa thả tay thì chiếc dây lại văng ra. Hình như nước đái của Mạc Ngôn có chất nhờn thì phải. Cuối cùng thì Kim Long cũng mắc được dây curoa vào động cơ phát điện. Xong xuôi, nó xoa tay hỏi Mạc Ngôn:
- Ai bảo mày làm việc này?
- Không ai bảo cả, tự em làm ...
- Vì sao mà làm?
- Em muốn cho nó miếng nước vì thấy nó khô quá ...
Vị quan chức huyện vì việc mất điện mà cảm thấy bị xúc phạm, kết thúc luôn bài phát biểu. Sau một lúc lộn xộn, cô giáo Kim Mỹ Lệ xinh đẹp của trường tiểu học Tây Môn bước lên khán đài. Cô ta dùng tiếng phổ thông không chuẩn song ngữ điệu rất du dương êm ái nói với mọi người, nhưng chủ yếu là để cho các vị quan chức nghe:
- Chương trình văn nghệ của của đội tuyên truyền tư tưởng Mao Trạch Đông trường tiểu học Tây Môn bắt đầu!
Vì buổi diễn hôm nay mà cô Kim đã cắt mái tóc dài chấm đất của mình. Với mái tóc ngắn, trông cô càng khỏe mạnh và xinh đẹp. Những quan chức trên khán đài đều nhìn cô ta một cách thèm muốn. Có người chú mục vào mái tóc, có người nhìn mặt, có người nhìn ngực và có cả người nhìn vào cặp mông nở nang của cô ta. Người nhìn rất chăm chú vào cặp mông là Trình Chính Nam, bí thư thứ nhất của công xã Ngân Hà. Mười năm sau, trải qua bao nhiêu gian truân, Kim Mỹ Lệ trở thành vợ bí thư Ủy ban Hành chính pháp luật huyện Trình Chính Nam. Hai người lệch nhau hai mươi sáu tuổi nên cũng không ít người dị nghị, dèm pha.
Cô Kim đọc lời giới thiệu xong thì tránh sang một bên khán đài. Ở đó có một chiếc phong cầm đặt trên ghế. Lớp mạ bóng loáng của chiếc đàn sáng rực dưới ánh nắng mặt trời. Mã Lương Tài đang đứng cạnh đàn, trên tay cầm ống sáo trúc, nét mặt tỏ ra căng thẳng. Cô Kim ôm chiếc đàn lên, tiếng phong cầm thánh thót, rộn ràng hòa cùng tiếng sáo cao vút của Mã Lương Tài. Đó là khúc nhạc dạo đầu, tiếp theo sau là một bầy lợn mập mạp ủn ỉn trên những đôi chân ngắn ngủn, con nào cũng đeo trên lưng một mảnh vải đỏ có thêu chữ “Trung” bằng chỉ vàng lần lượt diễu qua sân khấu. Bọn lợn này đều là lợn đực, còn nhỏ nên chẳng biết lễ phép gì cả, cứ nghênh ngang đi lại, mồm kêu điếc tai. Định thần nhìn kỹ, tôi mới nhận ra đó là học sinh tiểu học hóa trang. Tiếp theo sau là tiết mục biểu diễn của cô lợn con có tên là Hồng Hồng. Hồng Hồng đi giày màu hồng hùng dũng bước lên khán đài. Mẹ của nó là người Thanh Đảo có máu văn nghệ và máu văn nghệ này đã di truyền lại cho con, học gì biết nấy, diễn gì giống nấy. Hồng Hồng bước lên khán đài, nay lập tức tiếng vỗ tay nổi lên vang trời, khác với bầy lợn kia chỉ được nhận những tràng cười rộ. Nhìn thấy những con lợn con này, tâm trí tôi vô cùng phấn khởi. Từ xưa đến nay, trong lịch sử chưa từng có việc lợn leo lên sân khấu con người, đây là một sự thay đổi lớn về quan niệm, là vinh quang và tự hào của loài lợn chúng tôi. Do vậy mà tôi đưa chân trước lên, hướng về cô giáo Kim - người đạo diễn của vở diễn này vái chào một cách kính trọng theo nghi lễ cách mạng. Tôi cũng vái chào Mã Lương Tài vì tiếng sáo tuyệt vời của anh ta. Tôi cũng vái chào mẹ của Hồng Hồng vì cô ta hạ mình kết hôn cùng một nông dân, sinh ra một đứa con kế thừa một cách xứng đáng tài năng nghệ thuật của mẹ. Cô ta đang đứng sau khán đài vừa nhắc vừa xướng những lời ca của lợn cũng là một điều đáng kính nể. Cô ta hát bằng một giọng nam cao, rất hùng hồn. Thằng tiểu tử Mạc Ngôn chẳng hiểu âm luật gì cả, sau này trong tiểu thuyết của mình, nó cho rằng lời ca của cô này là giọng nữ trầm làm cho nhiều người hiểu âm luật chê cười không ngớt. Lời ca vang lên:
Chúng tôi là những chú lợn con,
Từ Cao Mật đến Thiên An Môn ...
Ngày nay nhìn lại, ca từ như thế là chưa hay, chưa sâu sắc, nhưng thời ấy được xem là tuyệt vời. Tiết mục này của làng Tây Môn đã được công diễn trước hội diễn văn nghệ huyện và giành được giải thưởng cao nhất; các diễn viên đóng vai lợn đã được tiếp kiến bí thư huyện ủy - vị lãnh đạo cao nhất huyện. Tấm ảnh bí thư huyện ủy Lục ôm Hồng Hồng đã được báo tỉnh đăng trang trọng ở trang nhất.
Tiết mục biểu diễn kết thúc trong thắng lợi, tiếng vỗ tay không ngừng. Sau đó đến lượt người lớn biểu diễn, không có gì đáng xem.
Kể từ ngày đầu thai làm lợn, bình tâm mà xét, Kim Long đã đối xử với tôi chẳng bạc. Cho dù trong kiếp làm trâu, quan hệ giữa tôi và anh ta không mấy tốt đẹp, song lần này tôi phải vì nó mà biểu hiện cho thật tốt, ít ra là vì tương lai của anh ta. Tôi thử vận động toàn thân, cảm thấy hơi choáng đầu, hoa mắt, tai kêu lên ong ong. Mười mấy năm sau, tôi ước hẹn với một đám anh chị em chó tại quảng trường Thiên Hoa trên phố huyện cử hành một buổi vũ hội dưới ánh trăng, uống rượu Ngũ Lương Tứ Xuyên, rượu Mao Đài Quý Châu, rượu Whisky, rượu Brandy... tôi mới nhận ra rằng, lần này không phải là tửu lượng của tôi thấp khiến tôi đầu choáng mắt hoa mà là do người ta nấu rượu không đủ nồng độ nên cho cồn công nghiệp vào. Tôi thừa nhận rằng thời ấy người ta chưa quan tâm lắm đến đạo đức nhưng việc đổ cồn vào làm rượu lừa người quả là chuyện hi hữu xưa nay. Sau này, khi đầu thai làm chó, một người bạn đến từ nước Đức xa xôi có kiến thức rất uyên thâm, xuất khẩu thành thơ làm công việc canh cổng cho trụ sở ủy ban huyện đã tổng kết thế này: Con người của những năm năm mươi thuần khiết, những năm sáu mươi cuồng nhiệt, những năm bảy mươi bình thản làm điều ác, những năm tám mươi cạnh tranh và đố kỵ, đến những năm chín mươi thì con người đã trở thành ác độc cực kỳ. Xin lỗi vì tôi đã vội vàng kể những chuyện sau này. Cách kể này thì thằng Mạc Ngôn là số một, nhưng tuyệt đối là tôi không chịu ảnh hưởng gì từ nó đâu nhé!
Mạc Ngôn đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng nên tần ngần đứng tại phòng máy chờ Kim Long quay lại trừng phạt. Tay trông coi máy Tiêu Nhị đã tỉnh ngủ hẳn, nhìn thấy Mạc Ngôn đứng đó thì chửi vang:
- Thằng chó chết này! Mày đứng đây làm gì? Muốn phá hoại à?
- Anh Kim Long bảo tôi đứng ở đây mà! Mạc Ngôn vẫn ương ngạnh như mọi ngày, đáp.
- Kim Long là cái thá gì! Nó không bằng con c. trong quần tao! Tiêu Nhị nói một cách cuồng ngạo.
- Được! Tôi sẽ đi nói chuyện với anh ấy! Nói xong nó xoay người dợm bước.
- Mày có quay lại không! Tiêu Nhị chụp lấy vai Mạc Ngôn lôi lại. Chiếc áo trên người Mạc Ngôn bị xé toạc, để lộ một thân hình gầy nhom, nước da vàng ệch. Mày nói lại với hắn, tao lấy mạng mày! Nắm tay của Tiêu Nhị vung lên trước mặt Mạc Ngôn.
- Bảo tôi không nói, trừ phi anh lấy mạng tôi ngay bây giờ! Mạc Ngôn vẫn cứng cỏi.
Bỏ qua chuyện những thằng hạ đẳng nhất làng Tây Môn này đi. Lúc này, đoàn người trùng trùng điệp điệp dưới sự dẫn dắt của Kim Long đã đến trước chuồng của tôi. Không cần Kim Long mở miệng giới thiệu, mọi người đã bắt đầu trầm trồ vui vẻ rồi. Bình thường họ chỉ thấy lợn nằm dưới đất, tuyệt đối chưa thấy lợn leo nằm trên cây. Họ thường thấy khẩu hiệu đỏ viết trên tường chứ chưa hề nhìn thấy khẩu hiệu đỏ viết trên bụng lợn. Tất cả cán bộ cao cấp đều há miệng cười sặc sụa. Người cán bộ phụ trách công xã mặc quân phục mắt nhìn tôi song miệng thì hỏi Kim Long:
- Nó tự mình leo lên cây à?
- Vâng, tự nó leo đấy!
- Có thể bảo nó biểu diễn lại không? Anh ta hỏi tiếp: Ý của tôi là bảo nó từ trên cây bò xuống rồi từ dưới đất leo lại lên cây, được không?
- Hơi khó đấy, song tôi sẽ cố gắng xem sao. Con lợn này khôn ngoan vô cùng, rất khỏe song tính nết cũng rất ngang ngạnh, chủ yếu thích thì làm chứ chẳng chịu nghe lời ai cả.
Rồi Kim Long dùng cành cây chọc nhẹ vào ngực tôi, nói bằng giọng thân tình có chút năn nỉ:
- Lợn mười sáu, tỉnh dậy đi, đừng ngủ nữa. Xuống mà ỉa đái đi!
Rõ ràng là muốn tôi biểu diễn nhưng anh ta lại bảo tôi xuống ỉa đái. Cách nói này khiến tôi không vui lắm, mặc dù tôi hiểu Kim Long đang rất lúng túng. Tôi sẽ làm vừa lòng anh ta, nhưng không thể cụp đầu cụp tai nghe theo, bảo gì làm nấy để đánh mất cả tính cách của mình, biến mình thành một con chó chỉ biết lăn lộn để vừa lòng chủ. Tôi ngoác mồm ngáp mấy cái rõ dài, đảo tròng mắt mấy vòng rồi vặn lưng một cái khiến đám người chung quanh cười rộ lên:
- Ôi! Đây mà là lợn à, là người thì có! Cái gì cũng biết làm!
Đồ ngốc, bọn bay tưởng ông đây nghe không hiểu tiếng người à? Ông đây không chỉ hiểu tiếng Cao Mật mà còn hiểu cả tiếng Nghi Mông, tiếng Thanh Đảo. Ông đây đã từng muốn xuất ngoại để học cả tiếng Tây Ban Nha nữa chứ! Tôi há miệng xổ ra một loạt tiếng Tây Ban Nha tưởng tượng, nhưng đúng là đồ trứng thối, bọn họ sững sờ rồi há miệng ra cười. Chúng mày cứ cười đi, cười chết thì thôi, tiết kiệm cho nhân dân bao nhiêu là lương thực! À chúng mày muốn ông xuống khỏi cây để đái à? Đái thì cần gì phải xuống đất, ở trên cao đái càng thích, nước đái bay càng xa. Vì một niềm vui thích bồng bột và có chút độc ác, tôi quên mất thói quen vệ sinh, nằm úp trên cây, lúc cương lúc nhu tôi đái một cách thoải mái. Mọi người càng cười lớn hơn. Tôi trừng mắt nói, giọng rất gay gắt:
- Cười cái gì? Nghiêm chỉnh lại nào! Tao là một viên đạn bắn vào bọn đế quốc phản động. Đạn nổ, nước đái văng tứ tung, chứng tỏ là bên trong thuốc nổ rất mạnh. Thế mà chúng mày còn cười được à?
Bọn người ngốc nghếch này hình như nghe hiểu lời tôi vừa nói nên tiếng cười bỗng dưng ngưng bặt. Tay cán bộ mặc quân phục đổi ngay sắc mặt, chỉ vào tôi nói:
- Đúng là một con lợn tuyệt vời, nên tặng cho nó một huân chương vàng!
Tôi vốn không màng danh lợi, song sự thừa nhận của một vị quan chức cấp cao khiến tôi đắc ý quá đỗi và quên mất mình là ai. Tôi muốn biểu diễn nhào lộn như Hồng Hồng trên khán đài, do vậy mà tôi chọn một cành hạnh rồi móc hai khuỷu chân sau của mình vào đó và từ từ buông hai chân trước ra khỏi cành, mông chổng lên trời, đầu lộn xuống đất. Thân thể tôi quá nặng, buổi sáng nay vì quá ham vui mà chưa kịp ăn cho nên tôi thấy trời đất quay cuồng. Tôi dùng lực bám chặt hai khuỷu chân sau vào cành hạnh, máu huyết toàn thân như dồn cả lên đầu, hai mắt đau nhói như muốn nổ con ngươi. Phải kiên trì, chỉ cần mười giây là coi như thắng lợi, là hoàn thành một động tác mà con người bình thường cũng khó có thể làm được này. Tôi nghe rõ tiếng vỗ tay rào rào. Tôi đã thành công! Nhưng lúc ấy, bất hạnh ập đến: Cành hạnh rất trơn vì lâu nay bụng tôi đã mài nó nhẵn thín, một chân tôi trượt ra khỏi cành. Hình như đầu tôi va phải một vật gì cứng, hai mắt tối sầm, tôi chìm trong hôn mê!
Mẹ cha nó, đó là hậu quả của loại rượu pha cồn mà con người đã cho tôi ăn!
26
Đố kỵ, Tiểu Tam phá chuồng lợn,
Kế hay, Kim Long giải cơ hàn.
Mùa đông năm một nghìn chín trăm bảy hai là thời gian khảo nghiệm cơ cực nhất của bầy lợn trại Hạnh Viên. Cho dù sau đại hội nuôi lợn, huyện đã có lệnh ban thưởng cho trại gần hai mươi tấn thức ăn nhưng đó chỉ là những con số trên miệng mọi người. Cuối cùng, dưới sự đốc thúc của ủy ban cách mạng công xã, người ta mới sai lão Kim - tay này rất mê thịt chuột nên có biệt hiệu là Kim Hao tử - kho trưởng kho lương thực của công xã đưa về một ít thức ăn để lâu năm đến độ mốc meo, trong đó chủ yếu là cao lương. Không đủ về số lượng đã đành, chất lượng kém một tí không sao, nhưng trong số đó ít nhất phải có cả tấn cứt chuột khiến cả trại Hạnh Viên suốt mùa đông phải ngửi mùi cứt chuột. Đúng thế! Trước và sau đại hội nuôi lợn, chúng tôi được ăn ngon uống tốt một thời gian, tôi cảm thấy như mình đã được trở lại thời còn là địa chủ Tây Môn Náo. Nhưng sau đại hội chừng một tháng, kho thức ăn của đại đội đã cạn veo, thời tiết cũng bắt đầu chớm lạnh. Tuyết bay đầy trời trông rất lãng mạn nhưng lại kèm theo những đợt rét đậm làm tím tái da thịt. Chúng tôi biến thành một bầy lợn vừa đói vừa rét.
Mùa đông năm ấy, tuyết rơi sao mà dày. Tôi không hề có ý nói thêm tí nào cả. Cục khí tượng của huyện có ghi chép việc này, địa chí của huyện và ngay cả tiểu thuyết “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” của Mạc Ngôn cũng miêu tả rất tận tường.
Từ nhỏ Mạc Ngôn đã biết dùng lời lẽ mê hoặc con người. Trong cuốn tiểu thuyết này, việc nó tả vừa thật vừa giả, không thể không tin, nhưng cũng không thể tin hoàn toàn. Thời gian, địa điểm trong đó là đúng, cảnh tuyết rơi cũng được miêu tả thật đúng, thật hay, nhưng số lượng đầu lợn và lai lịch của bọn chúng đều bị nó biến đổi. Rõ ràng ở đây toàn là lợn Nghi Mông nhưng nó lại đổi thành lợn Ngũ Liên Sơn, một ngàn không trăm năm bảy con nhưng nó chép chỉ có hơn chín trăm. Nhưng đó chỉ là tiểu tiết. Với người viết tiểu thuyết thì chẳng hơi sức đâu mà cải chính, mà có cãi cũng chẳng được với cái miệng hàm hồ của nó đâu.
Cho dù tôi có chút khinh bỉ với bầy lợn Nghi Mông này, thậm chí cảm thấy sỉ nhục khi là đồng loại với chúng, song suy cho cùng thì chúng vẫn là đồng loại của tôi. Cổ nhân có nói “Thỏ chết chồn thương”, đúng không? Bọn chúng thay nhau chết làm cho không khí của trại lợn thêm nặng nề, bi thương. Để giữ sức, những ngày ấy tôi đã giảm đi chơi đêm. Tôi dùng móng chân xua tất cả những cọng cỏ đã nát bươm vì dùng lâu ngày về phía một góc chuồng rồi nằm lên đó, hai chân trước bợ lấy má nhìn tuyết rơi, hít hít cái khí lạnh đặc biệt của tuyết, trong lòng không thể kiềm chế được nỗi bi thương. Nói thực lòng, tôi không phải là một con lợn đa sầu đa cảm như những kẻ tiểu tư sản yếu đuối mà ẩn chứa trong tôi là một dục vọng về sự hoan lạc, một ý chí đấu tranh không bao giờ biết mệt mỏi.
Gió bấc gào thét, băng vỡ trên sông ầm ầm. Tuyết đọng dày cả thước trên đất, những cành hạnh bị tuyết phủ đầy rũ xuống tận mặt đất trông như những ngọn núi tuyết nho nhỏ nhấp nhô, thi thoảng có những cành bị tuyết đọng quá nặng nên gãy lìa, phát ra những âm thanh khô giòn, liền theo âm thanh ấy là tuyết từ trên cây đổ xuống nghe rào rào. Trước mắt tôi, một màu trắng xóa lấp lóa trong đêm. Dầu đã hết, máy phát điện không hoạt động. Tôi lay hoay với những sợi dây điện, cắn đứt nó ra mà không tìm thấy một chút điện nào. Công bằng mà nói, cảnh tuyết về đêm thật đẹp, nếu cuộc sống no ấm hơn một tí, có lẽ đó sẽ là cảm hứng của thơ ca nhạc họa. Nhưng lúc này, cái đói cái rét khiến người ta chẳng hơi sức đâu mà nghĩ đến những chuyện lãng mạn ấy. Tôi nói những điều tự đáy lòng là, trong những ngày đói rét ấy, khi những con lợn Nghi Mông phải cúi đầu nhai những lá đậu đắng chát và uống những chậu nước nấu từ hạt bông phế thải của xưởng dệt để cầm hơi thì Kim Long ngày nào cũng đảm bảo cho tôi một phần thức ăn tươm tất, tuy không bằng trước song cũng đã là một sự ưu ái tột cùng. Tôi nằm đây, cô đơn và khổ sở qua từng đêm, lúc mơ, lúc ngủ. Trên trời, thi thoảng cũng có vài ngôi sao lóe sáng. Tôi không thể ngủ yên vì bầy lợn Nghi Mông đang rên rỉ giãy giụa trước cái chết gần kề. Tình đồng loại khiến tôi cảm thương cho bọn chúng, nước mắt tôi ứa ra nhưng chỉ kịp chảy đến má, nó đã nhanh chóng thành băng và rơi xuống đất. Bên kia tường, Điêu Tiểu Tam cũng đang rên rỉ. Bây giờ nó mới thấy hiệu quả của việc không giữ vệ sinh. Trong ổ của nó chẳng có chỗ nào khô, khắp nơi toàn là phân và cứt đã biến thành băng. Nó rên rỉ, gào rú như sói, chửi bới sự bất công của con người, của cuộc đời. Mỗi lần người ta đưa thức ăn đến là nó chửi, chửi cả Hồng Thái Nhạc, cả Kim Long, Lam Giải Phóng, chửi bà Bạch, người đàn bà còn sót lại của đại ác bá Tây Môn Náo. Bà Bạch ngày nào cũng xách hai chiếc thùng đến cho chúng tôi ăn. Đôi chân nhỏ nhắn yếu ớt của bà bước đi xiêu vẹo trên tuyết, chiếc áo rách phất phơ trong gió bấc và tuyết trắng. Từ đầu tóc đến lông mày, lông mi, vai bà đều có tuyết. Đôi tay đen đúa, nhăn nheo giống như cành cây khô đã cháy. Từ hai chiếc thùng, mùi thức ăn bay ra, theo đó mà tôi nhận ra thùng nào là thức ăn của tôi, thùng nào là thức ăn của Điêu Tiểu Tam. Bà Bạch đặt hai chiếc thùng xuống đất, lấy thìa cạo cạo lớp tuyết bám trên tường và trong máng ăn của tôi rồi đổ thức ăn vào. Lúc nào cũng thế, tôi chúi mõm ăn một cách vội vã, thức ăn vấy cả lên đầu và tai. Bà Bạch sẽ lau sạch những thức ăn vấy trên người sau khi tôi đã ăn xong. Thức ăn không ngon lắm, không thể nhai nhỏ được vì nếu nhai kỹ, mùi thiu thối sẽ xộc lên mũi. Tôi không bằng lòng kêu lên mấy tiếng nhưng vẫn ăn hết, bà Bạch xoa đầu tôi cảm khái:
- Lợn mười sáu! Mày đúng là một con lợn tốt, chẳng bao giờ bỏ ăn.
Cho tôi ăn xong, bà Bạch quay sang cho Điêu Tiểu Tam ăn. Bà ấy có lẽ rất hạnh phúc khi nhìn thấy tôi ăn một cách ngon lành như thế, nếu không vì Điêu Tiểu Tam kêu ré lên, tôi nghĩ bà ấy đã quên mất nó. Tôi không hề quên được ánh mắt trìu mến của bà ấy khi nhìn tôi ăn. Bà ấy tốt với tôi, tôi mơ hồ nhận ra nguyên nhân nhưng tôi chẳng muốn tìm hiểu sâu làm gì. Chuyện qua lâu rồi, động vật và con người vốn có hai vận mệnh khác nhau.
Điêu Tiểu Tam đang cắn cái muỗng của bà ấy rồi hai chân trước bám vào tường, vươn cái mặt ra khỏi tường kêu rống lên. Hai chiếc răng nanh như dài thêm ra, đôi mắt đỏ như máu. Bà Bạch dùng cái muỗng gõ vào mõm nó mấy cái, tiếng kêu lộc cộc như gõ vào bức tường gỗ. Đổ thức ăn của nó vào máng, bà chửi:
- Đồ lợn thối tha, bẩn thỉu. Sao cái rét không làm mày chết quách đi cho rồi!
Điêu Tiểu Tam chỉ ăn một vài miếng rồi ngoác mồm chửi:
- Vợ lão địa chủ Tây Môn Náo kia! Bà là kẻ không công bằng. Bà đem thức ăn ngon cho lợn mười sáu ăn hết, còn thức ăn của tôi toàn là lá đậu úa. Tôi ỉa vào mặt bà, kể cả người đã đẻ ra bà! ...
Chửi xong thì khóc rống lên trông rất thê thảm. Bà Bạch hình như chẳng quan tâm gì đến lời chửi độc địa ấy, xách chiếc thùng bỏ đi. Nó ngoác mồm chửi vọng sang:
- Con lợn mười sáu kia! Thế này gọi là công bằng à? Vì sao họ lại đối xử phân biệt như vậy? Lẽ nào vì mày trắng tao đen à? Lẽ nào mày là lợn bản địa, còn tao là lợn nhập cư? Lẽ nào vì mày đẹp tao xấu? Thực ra, mày có đẹp gì hơn tao đâu...
Với đồ ngu này, tôi chẳng có gì để nói cả. Cả thế giới này vốn chẳng tìm đâu ra sự công bằng. Quan lớn cưỡi ngựa, lẽ nào binh lính cũng cưỡi ngựa à? À có đấy! Tôi có nghe nói trong đội kỵ binh của Hồng quân Liên Xô xưa, nguyên soái cưỡi ngựa, quân sĩ cũng cưỡi ngựa, song ngựa của nguyên soái là ngựa tốt, ngựa của quân sĩ là ngựa gầy, ngựa đói. Rõ ràng ở bên ấy mà cũng có phân biệt, huống chi là ở Trung Quốc thời này, làm gì có chuyện bình đẳng.
- Rồi sẽ có ngày tao cắn chết mày, tao sẽ moi tim gan mày ra! Điêu Tiểu Tam nghiến răng nói tiếp: Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh, mày có tin không? Mày có thể không tin, nhưng tao thì tin chắc!
- Mày nói rất đúng! Tôi nghĩ mình không làm gì nên tội nên đồng ý: Tao tin vào sự gan dạ của mày. Tao đang chờ mày sẽ làm nên chuyện kinh thiên động địa gì đó đấy!
- Thế thì mày hãy đem những thức ăn còn thừa trong máng mày để cho anh em ăn nhé! Nó nuốt nước bọt ừng ực, nói.
Tôi nhìn cái mồm bẩn thỉu và đôi mắt hèn hạ của nó, trong lòng cảm thấy ghê tởm. Vốn tôi đã xem nó chẳng ra gì, bây giờ lại càng thêm khinh bỉ. Để nó vục cái mồm bẩn thỉu kia vào cái máng của mình là điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới, nhưng trước một yêu cầu nhỏ mọn và đáng thương ấy, tôi thật khó mà từ chối. Tôi tìm cách đưa đẩy:
- Lão Điêu à! Kỳ thực thức ăn của tao cũng chẳng khác gì của mày cả... Mày trẻ con quá, cứ tưởng cái bánh trong tay người khác là to hơn của mình...
- Câm cái mồm thối của mày lại đi! Mày tưởng tao đui tao điếc à? Điêu Tiểu Tam lại nổi cơn điên: Che sao nổi mắt tao! Nó cúi xuống chiếc máng của mình ngậm một miếng thức ăn rồi dùng móng trước hất thật mạnh. Miếng thức ăn rơi xuống cạnh máng của tôi. Rõ ràng nó quá khác biệt so với những thức ăn thừa của tôi: Mày cứ nhìn mà xem, mày ăn gì, tao ăn gì. Mẹ kiếp, đều là lợn giống, dựa vào đâu mà chế độ đãi ngộ lại khác nhau. Mày vì cách mạng mà cho giống, lẽ nào tao vì bọn phản cách mạng mà cho giống à? Con người đã bị họ chia làm cách mạng và phản cách mạng, lẽ nào lợn cũng phân giai cấp sao?
Tôi dùng móng chân nhón lấy cục thức ăn nó đã vất sang, dùng lực ném ra bên ngoài, nói một cách khinh miệt:
- Tao vốn đang tìm cách để đáp ứng lời thỉnh cầu của mày, nhưng mày đã dùng những lời nói như thế để nhiếc móc tao, xin lỗi, lão Điêu! Tao đành đem những thức ăn này ném vào đống cứt còn hơn cho mày.
Dùng một móng trước, tôi vón từng cục thức ăn và ném vào một góc chuồng, nơi tôi thường ỉa đái rồi khoan thai trở về nằm trong chiếc ổ tinh tươm của mình: Điêu tiên sinh, nếu ngài muốn ăn thì... xin mời!
Mắt Điêu Tiểu Tam phát ra những tia sáng xanh lè, răng nó va lập cập vào nhau:
- Con lợn mười sáu kia! Cổ nhân nói, lên khỏi mặt nước mới nhận ra chân mình đầy bùn! Mặt trời luân chuyển, không phải lúc nào cũng chiếu vào ổ của mày đâu!
Nói xong mấy câu này, nó tụt người xuống khỏi bức tường. Tôi nghe tiếng chân bực dọc đi đi lại lại bên kia, rồi thỉnh thoảng có tiếng húc vào cửa sắt hoặc vào tường. Sau đó tôi nghe thấy những âm thanh là lạ, té ra, để trút cơn giận và cũng là để làm ấm cái ổ của mình, nó đã vươn người lên dùng miệng rút những cây cao lương khô lợp mái nhà. Nó rút nhiều đến nỗi ngay mái lợp trên đầu tôi cũng bị thủng một khoảng to. Tôi thò người ra khỏi bức tường, phản đối hành vi phá hoại của nó:
- Điêu Tiểu Tam, tao không cho phép mày làm như thế!
Nó tiếp tục cắn một thân cây cao lương, rút xuống rồi dùng đôi hàm răng có hai chiếc răng nanh cắn ra từng đoạn, gằn từng tiếng:
- Mẹ nó chứ, muốn chết thì cùng nhau chết! Ông trời chẳng có mắt, để quỷ dữ vào miếu!
Rồi nó đứng thẳng dậy, ngoạm lấy một cây cao lương nữa. Tuyết trên mái rơi xuống ào ào trên người nó. Nó lắc lắc cái đầu, đôi mắt màu lục phát ra những tia sáng hung ác. Nó điên thật rồi! Tôi nhìn trên mái lá chuồng tôi, lòng nóng như lửa đốt, muốn nhảy qua để chế ngự nó, song nghĩ lại, với một thằng điên thế này mà vấy vào thì không chết cũng bị thương. Đang lúc nguy cấp, tôi bỗng cất lên tiếng kêu thất thanh. Tiếng kêu của tôi chẳng khác nào tiếng còi hú báo hiệu máy bay địch đã đến mà tôi vẫn thường nghe ngày xưa. Ngày ấy, để đề phòng bọn đế quốc phản động đột nhiên tập kích, toàn dân huyện Cao Mật đều diễn tập phòng không. Trong loa phóng thanh của mỗi làng, mỗi cơ quan thường có những âm thanh khác nhau nhằm báo hiệu tình hình cụ thể của máy bay địch. Đầu tiên là tiếng hú ùng ục trầm trầm như tiếng sấm xa xa. Đó là tiếng báo hiệu máy bay địch đang bay trên bầu trời. Tiếp theo là tiếng hú chói chang như tiếng sét đánh gần, đó là tiếng báo hiệu máy bay địch đang bổ nhào và ngay sau đó là lời cô phát thanh viên: “Mời tất cả cán bộ, bần nông, trung nông chú ý lắng nghe. Đây là hiệu lệnh báo hiệu phòng không thông dụng trên toàn thế giới. Lúc nào nghe được những âm thanh này, mọi người lập tức ngừng ngay công việc để nấp vào hầm. Nếu tìm không ra hầm thì hai tay ôm lấy đầu và nằm xuống”...
Trong lúc cấp thiết, không ngờ tiếng hú quen thuộc ngày xưa đột ngột thoát ra từ miệng tôi. Để cho tiếng hú báo động của mình vang xa, tôi bất chấp cái lạnh trèo lên cây hạnh. Tuyết trên cành rụng xuống đất rào rào, để lộ những cành cây màu đỏ bầm, trơn tuột giống như loài san hô dưới biển trong truyền thuyết. Tôi tiếp tục trèo lên đến đỉnh ngọn cây hạnh, tất cả quang cảnh của trại lợn và làng Tây Môn hiện ra trước mắt tôi. Những làn khói xanh mờ mờ bay lên từ phía xa, rừng cây hạnh chung quanh tôi bị tuyết phủ trông giống như những chiếc bánh bao to sụ. Rất nhiều người từ những mái nhà đầy tuyết như sẵn sàng đổ ụp xuống bất cứ lúc nào đang chạy ra. Tuyết trắng, người đen. Tuyết dày đến đầu gối, người đi sao mà khó khăn, lúc la lúc lắc, ngắn ngủn. Họ đều bị tiếng hú của tôi làm cho sợ hãi. Kim Long và Giải Phóng cùng vài người nữa từ năm gian nhà ấm áp xuất hiện sớm nhất. Trước tiên là họ ngước mắt lên trời xem xét. À, họ đang tìm máy bay oanh tạc của bọn đế quốc phản động đấy, rồi đột nhiên tất cả đều úp mặt xuống tuyết, hai tay ôm đầu. Một bầy quạ kêu quang quác bay trên đầu họ. Bọn quạ này làm tổ trong rừng dương liễu phía đông con sông đào. Tuyết che kín đất, việc kiếm ăn khó khăn nên chúng thường đến trại lợn để tranh ăn với chúng tôi. Cuối cùng họ cũng đã đứng dậy, ngẩng đầu nhìn lên trời một lần nữa, cúi người nhìn mặt đất phủ tuyết dày và phát hiện ra địa điểm phát ra tiếng hú kinh hồn này.
Bây giờ tôi sẽ nói về ông đây, Lam Giải Phóng. Ông cầm trên tay chiếc roi trúc dài ngoằng mà những người đánh xe ngựa thường sử dụng chạy dẫn đầu. Con đường nhỏ do những người đưa thức ăn đi lại nhiều nên tuyết vón lại thành từng cục trơn nhẫy khiến chân ông xiêu vẹo, vừa chạy vừa ngã. Mặt trời chiếu sáng rực trên tuyết, đẹp lạ lùng. Những con quạ bay trên cao cũng như được dát nhũ vàng, gương mặt một bên xanh của ông cũng rực rỡ. Người làng Tây Môn, trừ Mạc Ngôn thường lui tới, còn lại chưa ai để ý gì đến ông. Ngay cả một con lợn như tôi cũng chẳng xem ông - một đội trưởng nuôi lợn - ra gì cả. Lúc này nhìn thấy ông cầm roi xông tới, tôi mới kinh ngạc và nhận ra rằng, ông đã là một thanh niên. Sau khi sự việc diễn ra, nhẩm tính lại, té ra ông đã hai mươi hai tuổi.
Tôi ôm lấy cành cây, ngẩng mặt đón ánh mặt trời, ngoác mồm tiếp tục hú. Những người tụ tập dưới gốc cây hạnh biểu hiện nhiều cách nghĩ khác nhau về tôi. Lão già họ Vương thì lẩm bẩm một câu mà tôi đã nghe đâu đó trong sách vở:
- Quốc gia nguy vong, yêu quái xuất hiện!
Lời của lão ngay lập tức bị Kim Long chặn ngang:
- Ông Vương! Ông ăn nói cẩn thận một tí nhé!
Lão Vương biết mình đã thất thố, dùng tay bịt miệng nói:
- Ai bảo cái miệng này hồ đồ, tôi thật là hồ đồ. Bí thư Lam, ông là đại nhân, chớ trách tiểu nhân làm gì, tha cho tiểu nhân một tội nhỏ nhé!
Lúc này Kim Long đã được kết nạp vào Đảng, giữ chức chi ủy viên kiêm bí thư chi đoàn Thanh niên Cộng sản làng Tây Môn. Đây là thời kỳ anh ta chuẩn bị phất, do thế mà xua xua tay nói:
- Tôi biết ông đã xem “Tam quốc diễn nghĩa” và những bộ sách tà đạo tương tự khác, do vậy mà xúc cảnh sinh tình, nếu không chỉ cần câu này, ông đã bị khép vào tội phản động.
Không khí bỗng trở nên nghiêm trang, Kim Long tranh thủ cơ hội để giáo huấn mọi người. Nó nói, đây là thời kỳ khí hậu khắc nghiệt, cũng là lúc mà bọn phản động của làng Tây Môn sẽ âm thầm nổi dậy. Rồi anh ta tuyên dương tôi là một con lợn có ý thức giác ngộ cách mạng:
- Tuy nó là một con lợn, song ý thức cảnh giác cách mạng so với một số người còn tốt hơn nhiều!
Tôi quá sức đắc ý, quên phắt mục đích báo động của mình. Như một ca sĩ trên khán đài hát thêm theo yêu cầu khán giả, từ trên ngọn cây tôi hít hơi, hú thêm một tràng nữa. Nhưng tiếng hú chưa dứt thì đã thấy ông cầm roi trèo lên cây, bóng roi lấp loáng, tự nhiên tôi hoảng kinh, đầu nặng chân nhẹ, tôi lộn nhào xuống dưới, nửa thân mình chìm trong tuyết dày...
Sau khi giãy giụa để thoát khỏi tuyết, tôi mới phát hiện máu đỏ đang loang lổ trên nền tuyết trắng. Té ra tôi đã nhận của ông một roi trí mạng, tai phải của tôi đã bị rách toạc một miếng khoảng ba phân. Vết thương này sẽ theo tôi suốt cuộc đời hiển hách còn lại, cũng là nguyên nhân làm cho tôi suốt đời lợn chẳng quên được ông. Cho dù sau này tôi đã hiểu tại sao ông độc ác như thế, về lý thì có thể tha thứ cho ông nhưng quả thật là tình lý khó dung hòa.
Tuy tôi nhận của ông một roi và trở thành kẻ tàn tật suốt đời nhưng thảm họa của tôi chẳng là gì cả so với Điêu Tiểu Tam. Dẫu sao việc trèo lên cây giả làm tiếng hú cảnh báo phòng không của tôi cũng có chút vừa đáng giận vừa đáng yêu, nhưng việc chửi bới xã hội, nhục mạ con người và phá hoại chuồng trại của nó thì khó có thể tha thứ. Ông đánh tôi một roi đều bị mọi người phản đối, nhưng Điêu Tiểu Tam bị đánh đến nổi máu huyết dầm dề thì lại được mọi người tán thưởng.
- Đánh chết đồ lợn tạp chủng ấy đi! Mọi người đồng thanh hô vang.
Ban đầu, Điêu Tiểu Tam còn giãy giụa kháng cự, cắn đứt đôi vòng xích khóa cửa chuồng, nhưng một lát sau thì kiệt sức. Vài ba người xông vào chuồng, nắm lấy hai chân sau của nó lôi ra khỏi chuồng vất trên tuyết. Hình như cơn giận của ông chưa nguôi, hai chân khuỳnh ra, cong người vung roi quất liên tục vào thân xác của nó, mỗi ngọn roi vút xuống là một vết máu hiện ra. Cái mặt xanh càng xanh, ông vừa đánh vừa chửi, mỏi tay phải thì thì chuyển sang tay trái. Ban đầu thì Điêu Tiểu Tam còn lăn lộn và kêu thét, song sau vài mươi roi, nó trở thành một đống thịt, nằm im. Mọi người đều biết chẳng qua đánh lợn là một cách để ông phát tiết những uất ức trong lòng mà thôi nên chẳng ai lên tiếng ngăn cản. Cuối cùng thì Kim Long cũng bước ra, giữ lấy tay ông và nói:
- Giải Phóng, đủ rồi!
Máu của Điêu Tiểu Tam thấm đẫm cả một vùng tuyết trắng tinh khiết. Lạ chưa! Máu của tôi thì đỏ, máu của nó lại đen, máu của tôi thánh thiện, máu của nó bẩn thỉu. Để trừng phạt, người ta đeo vào mũi nó hai chiếc vòng đồng, hai chân trước còn tròng thêm vào một sợi xích nặng trình trịch. Những ngày sau đó, nó vẫn cứ phải mang chiếc xích này mà đi lại trong chuồng. Mỗi lần nghe loa phóng thanh truyền vở kịch “Ghi chép về chiếc đèn đỏ”, trong đó có đoạn xướng âm của Lý Bảo Hòa: “Chớ xem chiếc xích đang trói tay và chân của tôi là tất cả, làm sao có thể trói được hùng tâm tráng chí ngất trời của tôi”, tâm tư tôi bỗng nhiên phát sinh một sự kính nể với con lợn ở phía bên kia chuồng, hình như nó là một kẻ anh hùng chân chính, còn tôi chính là tội đồ bán rẻ kẻ anh hùng.
Đúng thế! Trong cuốn “Báo thù”, Mạc Ngôn kể rằng, sắp đến mùa xuân, trại lợn Hạnh Viên gặp phải lúc khó khăn nhất. Thức ăn hết sạch, ngay cả lá đậu cũng chẳng còn. Thứ có thể ăn được duy nhất lúc ấy là vỏ đậu đã mục nát. Trong lúc nguy cấp ấy, Hồng Thái Nhạc lại lâm bệnh nặng, mọi chuyện đổ dồn cho Kim Long. Nhưng lúc này anh ta cũng bị ái tình làm cho điên đảo. Nó vốn yêu Hoàng Hỗ Trợ, tình cảm này đã nhen nhóm từ khi cô bé này phục chế lại bộ đồ quân nhân, hai đứa đã có tình ý từ rất lâu. Nhưng Hoàng Hợp Tác lại công khai tấn công nó và hình như chúng đã có quan hệ mờ ám gì đó. Những bí mật của mối quan hệ tay ba này chỉ có tôi - con lợn thông kim bác cổ này là hiểu rõ nhất, kế đến là ông - Lam Giải Phóng. Tôi thì không quan tâm, còn ông vì yêu Hỗ Trợ nhưng không được đền đáp nên đau khổ và đố kỵ. Đây là cái cớ để ông đánh tôi một roi khi tôi vừa rơi từ trên ngọn cây xuống khiến tôi trở thành kẻ tàn tật suốt đời. Bây giờ nhìn lại chuyện xưa, ông có thấy là chuyện ông đau khổ lúc ấy là vô nghĩa không? Thế sự khó lường, nhân duyên trời định, ông trời đã an bài ông là người thế nào thì sẽ là thế ấy. Cuối cùng thì bây giờ Hỗ Trợ cũng ngủ với ông một giường đó thôi!
Những ngày đông ấy, dường như ngày nào cũng có lợn chết vì đói và rét. Đêm nào tôi cũng không ngủ được vì những tiếng khóc thảm thiết của những con lợn Nghi Mông chứng kiến cái chết của đồng loại. Và cứ mỗi sáng, nhìn qua cửa chuồng tôi thấy ông hoặc ai đó lôi xác lợn chết ra ngoài. Những cái xác lợn chỉ còn da bọc xương. Con lợn hoang hung dữ như sói đã chết, cô nàng trông có vẻ phóng đãng có bộ lông màu lam cũng đã chết. Ban đầu thì bình quân mỗi ngày chết hai ba con, đến hạ tuần tháng mười hai thì đến năm sáu con, riêng ngày hai ba tháng chạp thì chết đến mười sáu con. Tôi tính sơ bộ, đến gần tết thì đã có đến trên hai trăm con về với cõi vô cùng. Linh hồn của chúng xuống âm tào địa ngục hay lên thiên đường, tôi không hề biết, nhưng thi thể của chúng thì bị Kim Long phanh ra trong phòng. Đây là điều tôi không thể quên.
Một đám đông tụ tập dưới đèn quan sát nồi thịt được cắt nhỏ đến từng phân đặt trên bếp lò, chuyện này được Mạc Ngôn miêu tả trong truyện “Ghi chép về việc nuôi lợn” hết sức lâm ly. Nó kể rằng, nồi thịt lợn chết bốc mùi khó ngửi, tanh tanh nhưng người ta vẫn cứ ăn một cách ngon lành... khiến ngày nay người ta đọc lại ai ai cũng thấy ghê tởm. Quả là thằng này tự thân trải qua những ngày khủng khiếp như chốn địa ngục ấy, dưới ngòi bút của nó, những trạng thái tâm lý con người đều bị bóc trần; những gương mặt với những biểu hiện khác nhau hiện ra dưới bóng đèn mờ mờ và ánh lửa bập bùng đều được nó khắc họa sinh động. Hình như nó đã vận dụng hết cảm giác, thị giác, vị giác, thính giác để miêu tả cảnh tượng khiến người ta đọc như nghe thấy tiếng nổ lép bép của củi trong lò, tiếng nước sôi réo trong nồi, tiểng thở và chép miệng của con người. Người ta còn ngửi thấy mùi thịt lợn tanh tưởi bao trùm cả không gian Cao Mật...
Tôi chỉ nói một vài điểm bổ sung chỗ Mạc Ngôn kể chưa đầy đủ thôi. Trong lúc cả trại lợn đang chờ chết, ngay trong đêm cuối năm, tiếng pháo đón chào năm mới đang nổ đì đùng, Kim Long bỗng nhiên vỗ vỗ vào trán mình rồi hét lớn:
- Có cách rồi! Đã có cách cứu trại lợn Hạnh Viên rồi!
Nói thực lòng, vì đói, thịt lợn chết có thể ăn được một hai lần, song đến lần thứ ba, chỉ cần ngửi thấy mùi là đã nôn thốc nôn tháo. Kim Long quyết định đem lợn chết biến thành thức ăn cho lợn sống. Ban đầu, tôi cảm thấy có mùi vị không bình thường trong thức ăn của mình, quyết định ban đêm sẽ lén rời khỏi chuồng để thăm dò nơi xẻ thịt lợn chết, mới biết tất cả bí mật này. Tôi vẫn thừa nhận, với loài động vật xuẩn ngốc như lợn, chuyện ăn thịt đồng loại chẳng có gì là ghê gớm, nhưng với tôi, một con lợn đặc biệt thì đó là một chuyện đau khổ vô bờ bến. Nhưng bản năng cần phải sống đã chiến thắng nỗi đau khổ về tinh thần ấy. Kể ra tôi cũng tự tìm cái khổ thôi. Cứ cho tôi là một con người như tôi vẫn nghĩ thì, người ăn thịt lợn là chuyện hợp lý, hợp quy luật. Còn như tôi là một con lợn đích thực thì sao? Bao nhiêu con lợn khác đang ăn thịt đồng loại một cách ngon lành, việc gì tôi phải dằn vặt mình? Người còn ăn thịt nhau, huống hồ là lợn! Ăn thôi! Nhắm mắt mà ăn thôi! Sau ngày cất tiếng hú cảnh báo phòng không, thức ăn của tôi không có gì đặc biệt nữa, giống như tất cả đồng loại trong trại Hạnh Viên. Tôi biết là không phải họ trừng phạt tôi, mà đích thực là không còn gì để cho tôi ăn cả. Tôi bắt đầu gầy đi trông thấy, táo bón, nước đái vàng khè. Tôi chỉ hơn chúng ở chỗ, đêm đêm tôi có thể ra ngoài để kiếm ít lá rau ở đâu đó nhưng thường không có rau ngon vì tuyết đã vùi sạch. Nếu tôi không ăn thức ăn do Kim Long chế biến thì chắc chắn tôi không qua nổi mùa đông dài dằng dặc để đón mùa xuân, cho dù tôi là một con lợn bác học.
Tôi đã nhìn thấy rõ ràng, Kim Long dùng thịt lợn, bột hạt bông, phân ngựa và nước đái trâu trộn lẫn vào nhau nấu nhừ để có một thứ thức ăn đặc biệt cứu trại lợn năm ấy, trong đó có Điêu Tiểu Tam và có cả tôi.
Mùa xuân năm một nghìn chín trăm bảy ba, thức ăn đã ùn ùn chở về trại Hạnh Viên với số lượng lớn. Cuộc sống đã trở lại. Sáu trăm con lợn đã chết để biến thành chất dinh dưỡng cho hơn bốn trăm con còn sống. Những con lợn còn sống chúng tôi cúi đầu mặc niệm trong ba phút trước những cái chết bi hùng này. Trong lúc tôi đang cúi đầu mặc niệm thì hoa hạnh đồng loạt nở rộ, trăng sáng như nước chiếu rọi cả trại Hạnh Viên. Mùi hoa hạnh thơm nồng như xua đi cái hắc ám của mùa đông và mở ra một mùa xuân ấm áp đang chờ đợi chúng tôi.
27
Vì tình yêu, anh em phát cuồng,
Không giữ miệng, Mạc Ngôn bị ghét.
Ngày ấy, mặt trời chưa kịp xuống núi thì mặt trăng đã treo lơ lửng trên bầu trời. Dưới ráng chiều, cả trại Hạnh Viên rực rỡ, đẹp mê hồn. Nhưng tôi bồi hồi không yên, dự cảm như có chuyện gì trọng đại sắp xảy ra. Tôi trèo lên cành hạnh, ngửi thấy mùi hoa hạnh nực nồng. Ngẩng đầu nhìn lên, mặt trăng to tròn vành vạnh vừa nhô lên khỏi rừng hạnh trập trùng. Thoạt đầu, tôi không tin đó là trăng nhưng định thần nhìn kỹ, nhận ra ánh sáng của nó đang bao phủ rừng hạnh, chiếu rọi cả trại lợn, tôi mới tin đó chính là mặt trăng bao nhiêu năm nay tôi vẫn thường ngắm.
Lúc này tôi vẫn là một con lợn hoàn toàn trong trắng và còn rất trẻ con. Phát hiện được vẻ đẹp kỳ lạ này, tôi không kiềm chế được sự hưng phấn trong lòng cho nên muốn chạy đi khắp nơi để thông báo cho toàn trại lợn được thưởng thức. Suy nghĩ này của tôi sao mà hợp với Mạc Ngôn. Trong một bài tùy bút có đầu đề là “Hoa hạnh rực rỡ” nó viết rằng, vào một buổi trưa, tình cờ nó phát hiện Kim Long và Hỗ Trợ dắt nhau trèo lên cây hạnh nghiêng rất to đang trổ hoa rực rỡ. Muốn có người cùng xem chuyện lãng mạn này, nó vội vàng chạy đến bếp trại lợn, đánh thức Lam Giải Phóng. Nó viết:
“... Giải Phóng giật mình ngồi dậy, dụi dụi đôi mắt đỏ ngầu hỏi:
- Chuyện gì vậy?
Tôi nhìn vết lằn của chiếu lau in trên mặt anh ta, nói một cách bí mật:
- Anh Giải Phóng! Đi với tôi!
Tôi dẫn anh ta đi ngang qua hai chiếc chuồng độc lập của hai con lợn giống và hướng vào giữa rừng hạnh. Không khí mùa xuân trong lành, vạn vật xanh tươi. Cả trại lợn đang ngủ, ngay cả hai con lợn giống phá phách nhất cũng ngủ ngon lành. Ong mật bay đầy trời, bám vào hoa hạnh và cần mẫn hút mật ngọt. Chim họa mi chuyền và hót líu lo trên cành. Lam Giải Phóng tỏ vẻ không vui, hỏi:
- Thằng ôn con, mày muốn tao xem cái gì đây?
Tôi đưa tay lên miệng ra hiệu cho anh ta nói khẽ và áp vào tai anh ta nói nhỏ: Ông anh cứ đi theo tôi. Khom người sát đất, chúng tôi chầm chậm tiến về phía trước. Hai con thỏ lông màu đất vàng đang đuổi nhau dưới các gốc cây. Chúng tôi đi vòng qua gian phòng để máy phát điện, trước mặt là rừng hạnh xanh. Những cây hạnh ở đây rất lớn, phải vài ba người ôm mới xuể, cành hạnh rậm rịt đan vào nhau chẳng thấy ánh sáng mặt trời. Hoa hạnh có màu hồng đậm, hồng nhạt và cả màu trắng, trông xa xa giống như những đám mây màu rực rỡ. Chính vì những cây hạnh này quá lớn nên người dân Cao Mật có chút sùng bái, và vì thế mà chúng mới có thể vượt qua kiếp nạn luyện gang thép năm năm mươi tám và làm trại lợn năm bảy mươi hai mà không bị chặt phá. Tôi tận mắt chứng kiến Kim Long và Hỗ Trợ giống như hai con chuột bự dắt nhau bò theo cành hạnh nghiêng sát đất này để leo lên cây, nhưng bây giờ chẳng thấy tung tích của họ đâu cả. Gió nhẹ thổi qua, cành hạnh rì rào, hoa hạnh rơi lả tả trắng lóa mặt đất.
- Mày muốn tao xem cái gì đây?
Giải Phóng cao giọng hỏi, hai tay nắm lại thành quyền. Cha con Mặt Xanh vốn cố chấp và nóng nảy đã thành danh khắp vùng Cao Mật, tôi nào dám chọc giận anh ta. Tôi thú nhận:
- Tôi thấy rõ ràng hai người dắt nhau trèo lên cây hạnh này...
- Ai?
- Kim Long và Hỗ Trợ chứ ai!
Tôi thấy anh ta bỗng nhiên cong người rúm ró lại như bị ai đó đột ngột đá vào hạ bộ thật nặng, rồi hai vành tai của anh ta bắt đầu rung rung, bên mặt xanh lại càng xanh hơn, dường như phát sáng. Có vẻ do dự và đấu tranh rất dữ dội, nhưng cuối cùng một lực ma quỷ nào đó thúc giục, anh ta lần đi đến gốc hạnh và ngước nhìn lên... Gương mặt xanh rúm ró, giật giật... Một tiếng kêu đau đớn nghẹn ngào... và anh ta ngã dụi xuống đất, mê man. Hoa hạnh rơi lả tả như muốn chôn vùi thân xác anh ta...
Những năm chín mươi, rừng hạnh của chúng tôi trở nên nổi tiếng. Mỗi khi xuân về, người thành phố đánh xe đưa vợ con về đây để ngắm hoa hạnh...”.
Đoạn kết của bài tản văn như sau:
“Tôi không ngờ chuyện ấy lại làm Giải Phóng đau khổ đến như thế. Mọi người khiêng anh ta về, đặt lên giường, dùng đũa cạy răng đổ cháo gạo vào mồm anh ta. Cuối cùng thì Giải Phóng cũng tỉnh lại. Mọi người cật vấn tôi rằng, anh ta đã trông thấy gì trên cây hạnh mà đến nỗi như thế. Tôi nói, đó chính là một con lợn đực đã đưa con lợn nái nhỏ có biệt danh là Mê Hồ Điệp lên ngọn cây để làm tình với nhau... Mọi người hoài nghi, thế có gì mà phải ngất xỉu? Sau khi tỉnh lại, Giải Phóng bắt đầu lăn lộn trên giường, tiếng khóc của anh ta sao mà giống tiếng con lợn hú cảnh báo phòng không. Anh ta tự đấm vào đầu, bứt tóc, móc mắt... Để phòng ngừa anh ta tự sát, những người có lương tâm đã dùng dây thừng trói chặt anh ta xuống giường...”
Tôi muốn thông báo để cho tất cả trại lợn được ngắm nhìn cái vẻ đẹp huy hoàng của ánh trăng mới mọc, nhưng cả trại bị chuyện của Giải Phóng và Kim Long làm cho náo loạn cả lên. Vừa mới khỏi bệnh, Hồng Thái Nhạc cũng lò dò đến trại, trên tay là một chiếc gậy bằng cành dương liễu, sắc mặt vàng ệch, đôi mắt kèm nhèm, râu dưới cằm trắng phau và xồm xoàm. Một đảng viên Cộng sản kiên cường và oai phong, chỉ cần một cơn bệnh nặng là đã biến thành một lão già. Lão đứng ở đầu giường, tựa người hẳn vào chiếc gậy. Ánh đèn điện sáng trưng làm cho gương mặt của lão càng thêm trắng. Ở trên giường, Giải Phóng càng lăn lộn dữ dội.
- Kim Long đâu rồi? Lão Hồng cất giọng phều phào hỏi.
Mọi người nhìn nhau ngơ ngác, xem ra chẳng ai biết anh ta đi đâu. Cuối cùng thì Mạc Ngôn cũng đánh tiếng:
- Có lẽ anh ấy đang ở chỗ máy phát điện...
Lúc này mọi người mới nhớ ra, từ mùa đông năm ngoái đến giờ, đây là lần phát điện trở lại đầu tiên. Dụng ý của Kim Long thật là khó hiểu.
- Mày đi gọi Kim Long về đây, nhanh lên!
Như một con lươn, Mạc Ngôn chuồn khỏi bếp. Ngay lúc ấy, tôi nghe một tiếng khóc thê thiết của phụ nữ vang lên. Tiếng khóc này khiến tim tôi nhảy rộn lên, trí óc mơ hồ, trống vắng. Rồi bỗng nhiên, mọi chuyện của quá khứ kéo về như nước cuộn trào. Nằm trên cây hạnh, tâm trí tôi lẫn lộn giữa những chuyện đau buồn trong quá khứ và chuyện phiền phức tạp nham của hiện tại. Xương của những con lợn Nghi Mông chết trong mùa đông năm ngoái được đựng trong một chiếc sọt to đặt bên ngoài bếp trắng trắng xanh xanh lấp lóa dưới ánh trăng, mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Một người đàn bà đang bước đi xiêu vẹo trên con đường dẫn vào trại lợn. Bà ta ngẩng đầu lên dưới ánh trăng rực rỡ; gương mặt rũ rượi, xác xơ và vàng vọt, cái mồm há to vì khóc sao mà giống một cái hang chuột đen ngòm, hai tay buông thõng, đôi chân khuỳnh khoàng xiêu vẹo... Cái hình dáng ấy khác xa với Nghinh Xuân thời tôi làm trâu, nhưng thoạt nhìn là tôi đã nhận ra ngay. Tôi cố gắng để nhớ tuổi của bà ta, song ý thức người lại bị ý thức lợn che lấp, có khi lại dung hòa làm một làm cho tôi trở nên mơ hồ, hỗn loạn...
- Con trai của tôi! Con bị làm sao vậy?
Nhìn xuyên qua cửa sổ bị hỏng, tôi nhìn thấy Nghinh Xuân phủ phục trên giường, vừa khóc vừa lay thân hình Giải Phóng.
Bị trói chặt trên giường, Giải Phóng không thể cử động được, chỉ còn đôi chân tự do là đạp thình thịch vào tường khiến cho cả gian phòng vốn chẳng lấy gì làm kiên cố rung rinh muốn đổ. Mọi người trong nhà nhốn nháo muốn bỏ chạy ra ngoài. Hồng Thái Nhạc quát lớn:
- Đem dây thừng đến đây, trói nốt chân nó lại!
Một lão già phục vụ trong trại lợn mang đến một sợi dây thừng rồi leo lên giường. Đôi chân của Giải Phóng giống như vó ngựa, đạp loạn xạ khiến lão này không thể thực hiện được lệnh của lão Hồng.
- Trói đi chứ! Lão Hồng lại quát lên.
Lão già nằm úp trên đôi chân của Giải Phóng, Nghinh Xuân lại lôi lấy áo của lão mà khóc ầm lên: Bỏ con tôi ra!
- Mau giúp ông ta! Hồng Thái Nhạc ra lệnh.
- Đồ súc sinh! Các người đều là súc sinh, đều là lợn! Giải Phóng chửi.
Tôn Báo xông lên, luồn dây thừng dưới giường và trói chặt chân của Giải Phóng, vì hoảng loạn mà hắn trói luôn lão già.
- Thả cho tôi ra! Lão già hét ầm lên.
Sợi dây thừng vừa nới, chân của Giải Phóng lại vung lên, hất lão già văng xuống khỏi giường, lộn mấy vòng rồi va vào Hồng Thái Nhạc khiến lão ngã lăn ra đất.
Cuối cùng thì Tôn Báo cũng đã ngồi hẳn lên mình Giải Phóng, chẳng thèm để ý đến Nghinh Xuân đang kêu gào và chửi rủa, buộc hai chân Giải Phóng thật chặt xuống giường. Dưới đất, lão già cọm rọm đang quệt dòng máu đen ngòm từ lỗ mũi chảy ra.
... Có lẽ ông không chịu thừa nhận chuyện này, song hãy tin tôi, rằng tôi chẳng nói ngoa chút nào đâu. Một con người trong trạng thái điên cuồng có thể tích tụ một sức mạnh siêu việt, có thể làm được những chuyện thần kỳ. Những cây hạnh ở đó đến bây giờ vẫn còn bao nhiêu vết tích là do ông điên cuồng húc đầu vào. Độ cứng của xương đầu trong trạng thái bình thường tất nhiên là không thể bì với thân cây hạnh già, nhưng khi con người đã điên, đầu cũng trở nên cứng hơn. Có lẽ vì thế mà trong thần thoại, Cung Công đã dùng đầu húc cột chống trời khiến cho nó toác một mảng chăng? Trước khi bị trói lên giường, ông cũng dùng đầu húc liên tục lên gốc cây hạnh, hoa hạnh như lông ngỗng, như bông tuyết rơi lả tả, còn gốc cây hạnh già đáng thương kia bị toác vỏ, để lộ thân cây trăng trắng...
Trên giường, ông quẫy đạp dữ dội. Dường như có một sức mạnh thần kỳ nào đó đang cuồn cuộn chảy trong con người ông. Giống như trong truyện kiếm hiệp, có người được người khác truyền nội công tuyệt kỹ cho nhưng thân thể không thể chịu đựng nổi, đau đớn bội phần, cho nên việc ông há miệng và kêu rú điên cuồng là con đường phát tiết duy nhất. Có người thử đổ vào miệng ông một ít nước, muốn dùng nước lạnh để dẹp bớt lửa trong người ông, nhưng vừa vào đến họng là ông ho dữ dội, hai dòng máu đặc sệt rỉ ra từ khóe miệng và lỗ mũi.
- Ôi! Con trai ... Nghinh Xuân thét lên rồi ngã vật ra, mê man bất tỉnh. Đàn bà cũng lắm kiểu, có người có thể điềm nhiên uống máu, song cũng có người hễ thấy máu là hôn mê!
Đúng lúc ấy, Bảo Phượng đến với túi thuốc trên lưng. Rõ ràng cô ấy là một nhân viên y tế có tay nghề cao, không vì mẹ đang hôn mê dưới giường, không vì em đang điên cuồng trên giường mà run tay, thật xứng đáng với danh hiệu “bác sỹ chân đất” mà người ta đã gọi cô ấy trong mười năm qua. Gương mặt xanh xao, ánh mắt thẫn thờ, đôi tay lúc nào cũng lạnh như băng. Tôi biết cô ấy đang đau khổ vì tình, mà căn nguyên của nỗi đau khổ này là “Lừa kêu lớn” Thường Thiên Hồng. Đó là sự thật mà tôi cảm nhận được, tiểu thuyết của Mạc Ngôn cũng nói đến chuyện này.
Bảo Phượng mở túi thuốc, lấy hộp kim châm cứu ra, chọn một chiếc rồi châm đúng vào huyệt nhân trung của mẹ rồi vê nhẹ mấy vòng. Nghinh Xuân ú ớ mấy tiếng rồi mở mắt. Đưa mắt nhìn mọi người như ngầm bảo họ giữ chặt lấy ông rồi chẳng cần bắt mạch, cũng chẳng nghe nhịp tim, chẳng đo huyết áp, dường như tất cả đều thuộc lòng, cô ấy điềm nhiên lấy ra hai lọ thuốc, kẹp giữa các ngón tay, hút vào ống tiêm, đưa lên dưới ánh đèn. Trên đầu mũi kim, mấy giọt thuốc trào ra lóng lánh. Cảnh tượng vừa nghiêm trang, kỳ diệu nhưng cũng vừa bình thường mà chúng ta vẫn thấy trong tranh vẽ, trong điện ảnh... và được gọi là “những thiên sứ áo trắng”. Trong làng Tây Môn, Bảo Phượng không có mũ trắng, khẩu trang trắng, găng tay trắng, áo trắng mà chỉ mặc một bộ quần áo nông dân chính hiệu màu lam, chỉ có trên cổ quàng một vuông lụa màu trắng vắt qua hai vai và nút hờ trước ngực. Đây là kiểu ăn mặc phổ biến nhất ở nông thôn Cao Mật bấy giờ. Nếu con nhà nghèo, không đủ tiền để mua vải đẹp thì cũng cố gắng bỏ ra lấy vài hào để mua một miếng vải thứ cấp trang sức cho mình. Tối nay mảnh vải của Bảo Phượng đúng là rất đẹp. Khuôn mặt xanh xao, đôi mắt buồn buồn cùng với mảnh vải trắng lúc này sao mà hợp với cái nhìn lãng mạn của các nhà tiểu thuyết khi viết về một nhân vật chính diện nào đó.
Từ tốn, cẩn thận và chính xác, chỉ sau một phút, mũi tiêm đã hoàn tất mà ông chẳng có lấy một tiếng xuýt xoa nào. Đối với một người đã điên cuồng thì một mũi tiêm nào có thấm gì, ngay cả cắt một bộ phận trên cơ thể, tôi nghĩ cũng chẳng khiến ông cau mày đâu. Đương nhiên, nói như thế là hơi cường điệu, nhưng đối với con người thời đại ấy, nói như vậy cũng chẳng có gì là quá quắt. Con người thời ấy, trong đó có cả ông - Lam Giải Phóng, vẫn thường nói những lời rất chi là hào hùng khí khái, đao to búa lớn, nào là “Thái Sơn đè trên đầu cũng chẳng cúi lưng”, nào là “Ngẩng mặt đương đầu với gió lớn”, nào là “Thịt nát xương tan cũng cam lòng” loạn xị ngậu lên cả đấy thôi. Thằng nhóc Mạc Ngôn là đứa nói những câu này hay nhất, nhiều nhất. Sau này trở thành người viết tiểu thuyết có chút ít tiếng tăm, hình như nó cảm thấy hơi ngượng về những lời to tát này, cho nên nó viết: “Ngôn ngữ cực độ phóng đại là sự phản ánh chân thực một xã hội cực độ hoang tưởng, mà ngôn ngữ hung hãn là đêm trước của một xã hội bạo tàn”. Triết lý gớm!
Sau khi được Bảo Phượng tiêm thuốc an thần, ông đã dần dần bình tĩnh lại. Mắt ông mở trừng trừng nhìn vào hư không, mũi và cổ họng vẫn khò khè nặng nhọc. Mọi người cũng đã yên tâm, còn tôi thì lặng lẽ buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm. Ông không phải là con tôi, ông sống, ông chết nào có quan hệ gì đến tôi, song tôi vẫn lo cho ông. Suy cho cùng, ông từ bụng Nghinh Xuân mà ra, mà cái bụng bà ấy xưa kia, lâu lắm rồi, vốn là bảo vật của tôi - Tây Môn Náo. Đáng lý ra, người mà tôi quan tâm nhất phải là Kim Long vì anh ta vốn là con tôi.
Nghĩ tới đây tôi cắm đầu cắm cổ chạy về phía cái máy phát điện. Dưới tiếng máy nổ vang trời, cả trại lợn như đang run rẩy. Văng vẳng bên tai tôi là những lời tán phét về tương lai huy hoàng của những con lợn Nghi Mông vừa được cải tử hoàn sinh. Điêu Tiểu Tam cũng đang đắm mình trong ánh sáng mát rượi của trăng tròn và đang đứng trước chuồng của những ả lợn cái, móng trước đang cắp một chiếc gương soi nhỏ hình tròn. Chiếc gương đang phản xạ ánh trăng và soi thẳng vào chuồng mấy ả lợn cái, chắc có lẽ nó đang chiếu thẳng vào con lợn phóng đãng nhất trong chuồng. Thằng cha này vẫn nhe hai chiếc răng nanh một cách khiêu khích, trên mặt vẫn giữ cái nụ cười ngây ngô có chút đểu cáng ngày xưa. Tự nhiên lửa giận của tôi nổi lên, máu chảy rần rật trong người và bốn vó cảm thấy ngứa ngáy như sẵn sàng xông vào quyết sống chết với nó. Nhưng lý trí khôn ngoan đã chế ngự bản năng. Đúng rồi, căn cứ vào bản năng sinh lý của động vật, đấu tranh để được quyền giao phối có tính chất một mất một còn, kẻ thắng được hưởng hạnh phúc, kẻ bại đứng ngoài nhìn. Nhưng tôi không phải là một con lợn bình thường, Điêu Tiểu Tam cũng không hề là một con lợn ngu xuẩn và hèn nhát, giữa chúng tôi tất yếu sẽ có chiến tranh, nhưng thời cơ vẫn chưa đến. Trong trại hình như có con nào đấy đến kỳ phát dục nhưng mùa giao phối chưa đến. Thế thì thây kệ Điêu Tiểu Tam cứ đứng ngoài mà làm dáng, mà giương oai, tôi chẳng cần quan tâm.
Trong phòng phát điện có một ngọn đèn hai trăm oát sáng trưng. Tôi nhìn thấy Kim Long đang ngồi bệt trên nền đá, lưng dựa vào tường, hai chân duỗi thẳng. Chiếc máy rung lắc dữ dội khiến cả những giọt dầu thừa bắn cả lên người nó trông giống như những giọt máu chó lấm tấm. Nhìn bộ dạng của nó thật đáng sợ, đầu tóc rũ rượi, mắt đỏ sòng sọc, bên cạnh là một chai rượu uống dở. Nhìn qua, tôi biết ngay đó là chai rượu cao cấp nhất ở vùng Đông Bắc Cao Mật lúc bấy giờ, rượu “Cảnh chi bạch can” được nấu bằng cao lương, sáu mươi hai độ, người bình thường uống khoảng nửa lít là hết biết trời đất. Mà người bình thường cũng chẳng bao giờ mơ tưởng có loại rượu này để uống. Kim Long đang uống loại rượu cao cấp này cho thấy nó đang điên loạn đến cực điểm, hay nó đang muốn chết? Tôi đã nhìn thấy dưới chân nó một chai rượu đã được uống cạn nằm lăn lóc, một chai đã uống hết hai phần ba đặt bên cạnh. Gần hai lít rượu có thể đốt cháy chui vào bụng, nó không chết cũng ngất ngư.
Thằng nhóc Mạc Ngôn đang đứng cạnh Kim Long, chớp chớp đôi mắt ti hí nói:
- Anh đừng uống nữa. Bí thư Hồng đang tìm anh để kiểm điểm đó!
- Bí thư Hồng? Lão ta chỉ bằng con c. của tao thôi! Lão mà kiểm điểm tao à? Tao cũng muốn đi tìm lão để dạy cho một trận đây!
- Anh à! Anh và chị Hỗ Trợ làm chuyện gì đó trên cây đã bị Giải Phóng thấy hết rồi. Anh ấy đang điên, mười mấy người giữ không nổi, ngay cả chiếc gậy sắt to bằng ngón tay cái cũng bị anh ấy cắn đứt làm đôi. Anh đi thăm anh ấy đi, dù gì hai người cũng là anh em cùng bọc mà. Mạc Ngôn nói với giọng thân tình.
- Tao với nó là anh em cùng bọc à? Ai là anh em với nó? Mày với nó mới là anh em thì có!
- Anh đến hay không thì tùy anh. Em đã thực hiện mệnh lệnh của bí thư Hồng.
Nói xong câu này hình như Mạc Ngôn chưa có ý định bỏ về. Nó vươn một chân ra hất mạnh vào chai rượu không nằm dưới đất. Cái chai văng ra mấy mét và nhanh như chớp, nó chộp lấy, nheo mắt nhìn vào trong rồi cuối cùng dốc ngược cái chai vào mồm, chép chép lưỡi, hít hà tán thưởng:
- Rượu “Cảnh chi bạch can” ngon tuyệt! Quả là danh bất hư truyền!
Kim Long dốc ngược chai rượu, rượu chảy ồng ộc vào mồm, trào ra cả ngoài mép rồi nhằm Mạc Ngôn, nó ném mạnh cái vỏ chai. Thằng nhỏ cũng chẳng vừa, cầm cái vỏ trên tay đỡ lấy. Hai chiếc vỏ va vào nhau - “choảng”! Vỡ nát. Cả gian phòng thơm nức mùi rượu. Cút, cút mẹ mày đi cho tao nhờ! Kim Long gầm lên. Mạc Ngôn lặng lẽ thối lui. Như chưa hả giận, Kim Long cởi giày ném thẳng về phía Mạc Ngôn: Mẹ mày! Mày là thằng gian tế, đồ tiểu nhân. Cút xéo! Đừng bao giờ để tao thấy mặt mày nữa! Vừa thôi - Mạc Ngôn vừa lui vừa lẳng nhẳng: Đúng là điên thật rồi!
Kim Long lảo đảo đứng dậy, chân nam đá chân chiêu đi đến gần chiếc máy. Mạc Ngôn rời khỏi phòng, lao vào ánh trăng đêm. Ánh trăng chiếu sáng cái đầu trọc xanh xanh, trắng nhờ của nó. Tôi nấp sau cây hạnh lớn, chứng kiến toàn bộ đoạn kịch ngắn. Tôi lo cho Kim Long, e rằng nó lao thẳng vào chiếc dây curoa của chiếc máy phát điện, mà lao vào đó thì chắc chắn thịt nát xương tan. Nó nhún mình vọt qua vọt lại phía trên vòng dây curoa, miệng hét điên loạn: Điên rồi, điên rồi! Mẹ chúng nó điên cả rồi! Cuối cùng, nó ngồi xuống bên cạnh chiếc máy, kéo mạnh cần ga. Tiếng máy gầm lên, chiếc máy rung lên bần bật. Bóng đèn hai trăm oát trên tường lóe sáng rồi tắt phụt. Sau này tôi mới biết, tất cả bóng đèn trong trại lợn cũng đồng loạt tắt ngấm, cháy hết, có cái còn nổ bùm bụp khiến Điêu Tiểu Tam đang ve vãn các cô lợn cái hoảng kinh, ngậm vội chiếc gương tròn vào miệng và chạy thục mạng về chuồng. Chiếc máy còn gầm rú một lát nữa rồi đột ngột chết lịm và tiếng Kim Long kêu lên đau đớn. Muộn quá rồi! Tôi nghĩ tính mệnh Kim Long đã nguy cấp cùng với tiếng kêu thê thảm vừa rồi.
Ánh trăng chiếu rọi. Tôi nhìn thấy Mạc Ngôn đang úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, dùng hai tay bịt chặt tai để khỏi nghe tiếng gầm rú khủng khiếp của chiếc máy. Vẫn chưa kịp hoàn hồn, nó loạng choạng đứng dậy. Thằng này vừa ngang ngạnh vừa nhu nhược, vừa thiếu bản lĩnh nhưng lại vừa cố chấp, vừa ngu xuẩn vừa gian trá, vừa chẳng làm được chuyện gì nên hồn nhưng cũng chẳng làm chuyện gì quá sức bại hoại. Tôi biết quá nhiều chuyện về nó, cũng hiểu quá nhiều về con người nó. Nó bò dậy, giống như một con chó sói cúi đầu khụyu gối mò vào phòng trở lại. Kim Long đang nằm dưới đất, ánh trăng xuyên qua cửa sổ chiếu lên thân thể bất động như bị đạn bắn gãy mất sống lưng của nó. Ánh trăng chiếu sáng khuôn mặt và mái tóc rối bời, một dòng máu chảy từ đầu loang xuống mặt đất. Mạc Ngôn cúi sát người xuống dùng hai ngón tay đen đúa như chiếc đuôi lợn sờ sẫm đống máu, đưa lên mắt xem, rồi ngửi ngửi và cuối cùng thè lưỡi liếm liếm. Thằng nhỏ này muốn làm gì vậy? Thật là kỳ lạ, không thể hiểu nổi. Chả lẽ liếm máu để biết Kim Long còn sống hay đã chết sao? Hay là nó muốn kiểm tra đó thật là máu hay là sơn đỏ? Đương nhiên là tôi bị hành vi kỳ lạ của nó làm cho hồ đồ lẫn lộn thôi, vì cuối cùng hình như đã tỉnh hẳn, nó nhảy dựng lên, kêu toáng:
- Mau đến đây xem này! Kim Long đã chết! Chết thật rồi!
Có lẽ nó đã thấy, hoặc có thể không thấy tôi đang nấp sau gốc cây cổ thụ. Việc Kim Long chết đối với nó mà nói có lẽ là một vinh dự để nó khoe khoang với mọi người rằng, nó là người đầu tiên phát hiện ra Kim Long đã chết. Nó vừa chạy vừa hét, có lúc ngã dúi dụi vì dẫm phải những đống phân lợn trơn tuột. Tôi chạy theo nó, nhưng rõ ràng bước chạy của tôi vững vàng hơn, chẳng khác nào một cao thủ giang hồ đã luyện thành thục môn khinh công thượng thừa.
Ở trong gian nhà bếp, nhiều người chạy túa ra, sắc mặt ai nấy đều vàng vọt và ngơ ngác dưới ánh trăng. Trong số đó không có bóng dáng Lam Giải Phóng, có lẽ ông vẫn ngủ say sau mũi thuốc của Bảo Phượng. Họ chạy theo Mạc Ngôn hướng về phòng máy, người thì từ tốn, người gấp gáp, người thẳng lưng, người xiêu vẹo. Mạc Ngôn vừa chạy vừa tranh thủ ba hoa về những gì nó đã nhìn thấy. Tôi cảm thấy khó chịu hết sức. Cho dù là người có quan hệ thân thuộc hay người dưng nước lã với Kim Long mà nghe cách kể này cũng sinh ra ác cảm với Mạc Ngôn. Câm mẹ cái mồm mày đi! Tôi hét thầm. Đi vòng về phía trước, tôi nấp sau một cây hạnh lớn, rồi dùng mõm ủi đất, lôi lên một nửa viên gạch, dùng chân trước nắm chặt lấy, dồn lực vào hai chân sau đứng thẳng dậy như người, nhắm ngay cái mặt đáng ghét của Mạc Ngôn, ném mạnh. Động tác này của tôi chưa hề tập luyện bao giờ nên viên gạch ném đi không trúng vào đích nhắm, tức Mạc Ngôn, mà trúng ngay vào trán của Nghinh Xuân!
Tục ngữ có câu “Nhà dột lại liên tục gặp mưa”! Tiếng “bốp” của viên gạch va vào đầu Nghinh Xuân khiến tôi đau nhói trong lòng, ký ức con người lại hiện về dồn dập. Ôi ! Vợ tôi! Tối nay bà là người bất hạnh nhất trên đời. Hai đứa con trai thì một đứa điên, một đứa chết, trán lại bị thương vì viên gạch có thể lấy mạng một con chó sói của tôi! Lòng đau như dao cắt, tôi vùi mặt xuống đất. Nửa viên gạch còn lại đụng vào mũi, tôi há miệng ngoạm lấy và nhai nát một cách vô thức. Giống như kỹ thuật điện ảnh quay chậm, tiếng kêu đau đớn của Nghinh Xuân như một con rắn bạc bay lên không gian, còn thân hình bà ấy thì ngã vật ra phía sau. Ông đừng tưởng tôi là một con lợn mà cho rằng tôi chẳng hiểu gì về kỹ thuật điện ảnh đâu nhé. Xì, cái thời ấy ai mà chẳng làm được một đạo diễn, một nhà quay phim. Này nhé, một chiếc máy quay, đẩy, kéo, giật lùi, toàn cảnh, cận cảnh, đặc tả... Cục gạch bay, đầu Nghinh Xuân, “bốp”, cục gạch vỡ làm đôi và máu nhỏ giọt, chảy xuống má... toàn cảnh mọi người há hốc mồm, ánh mắt hoảng kinh... và cuối cùng, Nghinh Xuân nằm dưới đất.
- Mẹ ơi! Đấy là tiếng của Bảo Phượng. Nó chạy đến, quỳ xuống bên cạnh mẹ, túi thuốc lệch sang một bên lưng: Ai đã làm chuyện này?
Hồng Thái Nhạc phát lên một tiếng chửi thề rồi xiêu vẹo chạy về phía tôi đang nấp. Tôi không bỏ chạy, mặc dù tôi có thể rời xa chỗ nấp trong chớp mắt. Chuyện do tôi gây ra, cho dù không cố ý nhưng tôi chấp nhận sự trừng phạt. Cho dù Hồng Thái Nhạc là người có ý truy tìm kẻ gây ra tai họa song người phát hiện ra tôi trước tiên không phải là lão vì lão đã quá già, mắt mũi kèm nhèm, mà là Mạc Ngôn. Cái tinh ranh của một con mèo hoang và lòng hiếu kỳ bệnh hoạn kết hợp khiến nó là người đầu tiên nhận ra tội phạm là tôi. Nó hét lên:
- Chính con lợn này làm đấy!
Nó vô cùng phấn khích trước phát hiện của mình. Tôi vẫn cứ đứng đó, một cách gan lì và chịu đựng, cổ họng phát ra những âm thanh là lạ nửa như muốn phân trần, nửa như những lời nhận lỗi nhưng cũng sẵn sàng chấp nhận sự trừng phạt của con người. Hình như mọi người tỏ ra nghi ngờ điều này, cho nên dưới ánh trăng tôi nhìn thấy họ ngơ ngác nhìn nhau.
- Tôi khẳng định chính con lợn này đã làm! Mạc Ngôn tiếp tục nói như đinh đóng cột. Tôi đã từng chứng kiến nó dùng móng kẹp cành cây khô viết chữ trên đất đấy!
- Ông trời con! Mày có thấy nó kẹp con dao nhỏ khắc bia mộ cho bố mày bằng loại chữ triện Mai Hoa không? Lão Hồng chế nhạo.
Mạc Ngôn chưa chịu thôi, ngoác mồm định nói tiếp thì bị Tôn Báo nhảy tới xách tai, thúc đầu gối vào mông kéo sang một bên, gằn nhỏ:
- Thằng lỏi, mày có ngậm cái miệng quạ lại không nào?
- Con lợn này tại sao lại xổng chuồng được? Lão Hồng bực dọc hỏi: Ai chịu trách nhiệm nuôi nó, phải trừ công điểm!
Bà Bạch lạch bạch chạy tới. Hoa hạnh bay theo bước chân bà trông giống những đóa hoa tuyết nhẹ tênh. Những ký ức lại mơ hồ ẩn hiện, tôi không phân định được rõ ràng song chỉ nghe tim mình đau nhói lên.
- Bắt nó nhốt vào chuồng mau! Thật chẳng ra cái quái gì cả! Lão Hồng quát lớn, ho lên một tràng rồi đi về phía phòng máy.
Có lẽ nỗi lo cho con lớn hơn nỗi đau của chính mình nên Nghinh Xuân đã nhanh chóng hồi tỉnh, ngồi bật dậy. Mẹ! Bảo Phượng la lớn, một tay đỡ mẹ, một tay mở túi thuốc. Hỗ Trợ như hiểu ý, dùng kéo kẹp một miếng bông tẩm cồn đưa cho nó. Kim Long, Kim Long... Nghinh Xuân mê sảng hét lên, một tay gạt Bảo Phượng, một tay chống xuống đất đứng dậy, lảo đảo chạy về phía phòng máy.
Tôi biết trong lòng hai cô gái họ Hoàng đang ngổn ngang trăm mối. Hợp Tác thì có cảm giác bị ruồng bỏ, bị phụ bạc; Hỗ Trợ thì vừa xấu hổ, vừa cảm thấy có tội. Chuyện yêu đương của nó với Kim Long trực tiếp làm Giải Phóng trở nên điên cuồng, gián tiếp làm Kim Long mất mạng. Nam nữ làm tình với nhau trên cây hạnh đang sum suê hoa lá vốn giàu sức tưởng tượng và lãng mạn, nhưng cũng chỉ tại thằng quỷ Mạc Ngôn lắm chuyện nên mới ra nông nỗi này. Thằng này hành vi bất hảo, ở Cao Mật này ai ai cũng ghét song vẫn cứ ngộ nhận rằng mình là đứa bé đáng yêu, luôn vỗ ngực tự hào rằng, tôi là đứa con được mọi người yêu quý nhất ở vùng Cao Mật!
Mọi người chen chúc đứng bên ngoài, trông họ như những hình nhân bằng đá, câm lặng đến độ nghe được cả tiếng hoa hạnh rơi xuống đất. Hỗ Trợ nhìn thấy dưới ánh trăng, Kim Long đang nằm bất động, máu chảy dầm dề thì bi thương kêu lên một tiếng, rồi như con báo cái, cô ấy chồm tới phủ phục trên người Kim Long. Tiếng kêu của Hỗ Trợ giống như tiếng con ếch nhảy vào bờ ao vắng lặng*, đánh thức cả không gian im ắng.
- Anh ấy uống cả hai chai “Cảnh chi bạch can”. Mạc Ngôn chỉ vào mảnh vỡ thủy tinh nằm dưới đất nói: Sau đó anh ấy kéo mạnh tay ga của chiếc máy và thế là... Mạc Ngôn vừa kể vừa làm điệu bộ, trông nó giống như một diễn viên hề trên sân khấu.
- Lôi thằng này ra ngoài cho tao! Lão Hồng gầm lên.
Tôn Báo cắp Mạc Ngôn vào nách, nhấc bổng lên. Nó vẫn tiếp tục kể, có lẽ nó nghĩ rằng nếu nó không kể lại những chuyện nó đã thấy thì sau này sẽ thất truyền thì phải. Các người thử nghĩ xem, mang tiếng là một vùng đất địa linh nhân kiệt như Đông Bắc Cao Mật này, tại sao lại sinh ra một thằng tệ hại đến như thế?... Sau đó xịt... xịt... mấy tiếng, động cơ ngừng chạy... Tôi đoán chắc là chiếc dây curoa đã bị đứt, nếu không tin thì mọi người cứ nhìn thử mà xem... Mà không đứt sao được vì ga tăng gấp mấy lần, tốc độ quay lên đến tám nghìn vòng một giây... Chiếc dây curoa không đập vỡ đầu Kim Long là may lắm, rõ ràng trong sự bất hạnh có đại hạnh, trong rủi có may...! Ngôn ngữ của nó nửa văn ngôn nửa bạch thoại, có khí độ của của một nhà nho cuối mùa.
- Này hạnh phúc, này bất hạnh, này may, này rủi... Vừa nói Tôn Báo vừa nhấc bổng Mạc Ngôn lên khỏi đầu, vất mạnh một cái. Ngay trong lúc đang bay trên không gian, hình như nó vẫn còn nói thêm được vài câu gì đó. Mạc Ngôn rơi xuống ngay trước mặt tôi. Tôi nghĩ là tôi có cơ hội dùng bốn chân của mình dẫm nát nó ra như bùn, nhưng không ngờ nó chỉ lăn một vòng rồi lồm cồm bò dậy, lại còn đánh rắm thối inh, tiếp tục la lên:
- Tôn đại ca! Anh đừng tưởng tôi nói điêu. Những điều tôi kể đều do tôi tận mắt chứng kiến, trong đó có đôi chút thêm thắt song mười phần thì có đến tám chín phần đúng đấy!
Tôn Báo chẳng thèm quan tâm xem nó nói gì, nó bèn quay về phía tôi hỏi:
- Lợn mười sáu! Mày nói xem, tao nói có đúng không? Mày đừng có giả vờ ngây ngô nữa. Tao thừa biết mày đã là một con lợn thành tinh, mày chỉ không biết nói như người, còn lại cái gì mày cũng biết hết. Bí thư Hồng nói mày có thể khắc chữ triện trên bia mộ là ông ấy muốn cười nhạo tao, nhưng kỳ thực, tao biết mày làm chuyện đó chẳng khó khăn gì. Chỉ cần cho mày mấy dụng cụ, tao còn tin là mày có thể sửa chữa cả đồng hồ. Tao đã chú ý mày từ lâu lắm rồi. Những đêm trực ban tại trụ sở, tao đã phát hiện ra mày, những lúc tao đọc to tờ “Tin tức tham khảo” là cố ý để cho mày nghe đấy. Tao còn biết, kiếp trước của mày đã từng là người, mày với những người ở làng Tây Môn này có vô số mối quan hệ. Tao nói có đúng không? Nếu tao nói đúng, mày chỉ cần gật đầu thôi nhé!
Tôi nhìn gương mặt tinh quái của Mạc Ngôn nghĩ thầm: Không để cho nó tiếp tục ba hoa nữa. Tai vách mạch rừng, rồi sẽ có người tin lời nó thôi! Nếu để cho người làng biết được thân thế của tôi thì chẳng còn gì lý thú nữa. Tôi kêu lên mấy tiếng eng éc nho nhỏ để cho nó chú ý rồi nhanh như chớp, nhắm ngang bụng nó cắn một miếng. Thực ra tôi không muốn lấy tính mạng của nó vì tôi linh cảm rằng thằng nhóc này sẽ có vai trò vô cùng quan trọng đối với lịch sử của vùng Đông Bắc Cao Mật trong nay mai. Cắn chết nó, lão Diêm Vương cũng chẳng tha cho tôi. Nếu tôi cắn một cách đúng nghĩa, e rằng cả eo lưng của nó sẽ đứt lìa, nhưng tôi chỉ dùng có ba phần sức lực cho nên trên bụng của nó chỉ có bốn vết răng sâu hoắm đang chảy máu. Nó kêu lên đau đớn rồi giãy giụa thoát khỏi miệng tôi. Kỳ thực là tôi cố ý nhả ra, nếu tôi không há miệng, làm sao nó thoát nổi. Hai tay của nó bấu vào mắt tôi khiến nó túa máu, trong màng mỏng của máu, tôi thấy nó nhảy mấy cái đã cách tôi khoảng mười thước, hai tay ôm bụng. Trong cơn đau, nó còn chửi vang:
- Lợn mười sáu! Mày đúng là đồ gian hiểm ác độc, dám cắn cả ông! Rồi sẽ có ngày, tao cho mày biết Mạc Ngôn này lợi hại như thế nào!
Tôi cười thầm trong bụng. Mạc Ngôn cào cào đất, nhúm lấy một cục vừa đất vừa xác hoa hạnh vò vò rồi đắp vào vết thương, mồm lẩm bẩm: Đất có chất của đất, hoa là cốt tủy của cây... Tất cả đều kháng viêm, giải độc... Tốt rồi! Rồi, như chẳng có chuyện gì xảy ra, nó vứt chiếc áo vừa mới cởi xuống đất, mon men trở lại phòng máy. Lúc này, bà Bạch vừa bò vừa lăn đã đến bên cạnh tôi, tôi nhìn thấy những giọt mồ hôi già nua chảy trên mặt bà.
- Lợn mười sáu ơi là Lợn mười sáu! Mày đã xổng chuồng, bí thư Hồng sẽ phạt tao. Mày biết đấy, tao là vợ địa chủ, là thành phần không tốt, bí thư Hồng chiếu cố lắm mới cho tao chăm sóc mày, mày đừng gieo vạ cho tao nhé!...
Lòng tôi như tơ vò, nước mắt tự nhiên ứa ra, rên ư ử.
- Lợn mười sáu mày đang khóc đấy à?
Giọng bà có vẻ lạ lùng nhưng đầy bi thương. Hai tay ve vuốt tai tôi, bà ngẩng đầu lên, như đang nói với mặt trăng: Ông nhà ơi! Kim Long mà chết thì nhà Tây Môn chúng ta coi như tuyệt tự rồi!
Đương nhiên Kim Long không chết. Anh ta mà chết thì vở kịch dài này bị hạ màn giữa chừng. Bảo Phượng đã bằng mọi cách cứu sống anh mình. Sau khi tỉnh, anh ta giãy giụa và khóc rống lên, hai mắt đầy máu:
- Tôi không muốn sống nữa, tôi muốn chết!
Anh ta cào cấu vào cuống họng, đấm ngực và la hét như thằng điên:
- Mẹ ơi! Xấu hổ, nhục nhã quá! Trời ơi!
Hồng Thái Nhạc xông đến, nắm đôi vai của nó quát lớn:
- Kim Long! Trông kìa, chẳng còn ra thể thống gì nữa! Anh còn xứng đáng là đảng viên cộng sản à? Còn xứng đáng là bí thư chi đoàn à? Anh làm tôi thất vọng quá! Thật xấu hổ vì anh!
Nghinh Xuân nhào tới, gỡ tay lão Hồng ra, đứng chắn trước mặt Kim Long, gào lớn:
- Không cho phép ông đối đãi như thế với con trai tôi!
Rồi quay người ôm lấy Kim Long. Nó cao hơn mẹ cả một cái đầu. Nghinh Xuân vừa sờ mặt, sờ toàn thân Kim Long vừa nói:
- Con trai quý của mẹ, đừng sợ! Mẹ ở đây, mẹ sẽ bảo vệ cho con...!
Hoàng Đồng trước sau chỉ lắc đầu, tránh né những cái nhìn của mọi người rồi len lén chuồn ra khỏi phòng, dựa lưng vào tường ngoài, vấn một điếu thuốc rõ to rồi bật lửa. Tôi nhận ra gương mặt Hoàng Đồng phờ phạc, râu ria lởm chởm và cáu bẩn. Kim Long xô ngã Nghinh Xuân và mọi người, nghiêng vai nhảy vọt ra ngoài, song dường như đuối sức, nó giống như một con lừa vừa lao động nặng, ngã xoài xuống đất, gào thét:
- Mẹ ơi! Đem đến hai chai nữa, mau lên!
- Nó điên hay là say? Lão Hồng nghiêm giọng hỏi Bảo Phượng.
Bảo Phượng trề môi, biểu thị một nụ cười lạnh:
- Đúng là say rượu rồi!
Hồng Thái Nhạc nhìn Nghinh Xuân, Hoàng Đồng, Thu Hương, Hợp Tác, Hỗ Trợ... và bất lực lắc đầu. Rồi như một người cha bất hạnh than:
- Thật chẳng ra gì!
Rồi lão xiêu vẹo đi ra khỏi phòng. Lão chẳng đi theo con đường nhỏ dẫn vào làng mà lại đi vào rừng hạnh. Dưới bước chân lão, hoa hạnh bị hất tung tạo thành một vệt dấu chân trên con con đường ngập ánh trăng.
Kim Long tiếp tục lăn lộn như con lừa trên đất.Thu Hương nói to:
- Mau mau cho nó uống một chút dấm. Hợp Tác đâu rồi! Mau về nhà nhà lấy dấm ra đây!
Hợp Tác lúc này đã nấp sau một gốc cây hạnh, mặt tựa vào cây, da mặt như đã hóa thành vỏ cây và toàn bộ con người cô ấy như đã thoát ly cảnh tượng trước mắt để hòa nhập vào ánh trăng, những lời của Thu Hương hình như không kéo cô ấy ra khỏi trạng thái xuất thần này.
Sau khi Hồng Thái Nhạc đi khỏi thì mọi người cũng bắt đầu giải tán, Bảo Phượng cũng đã mang túi thuốc lên vai định đi. Nghinh Xuân nằn nì:
- Bảo Phượng! Con chích cho anh một mũi nữa đi. Lục phủ ngũ tạng của nó e rằng đã bị rượu thiêu cháy hết rồi!
Dấm đây rồi!
Mạc Ngôn xách bình dấm chạy đến. Nó chạy sao mà nhanh thế! Nó lại tiếp tục ba hoa:
- Tôi gõ cửa cửa hàng tổng hợp, lão Lưu Trung Quang đòi tiền, tôi bảo đây là dấm của bí thư Hồng bảo mua, ông hãy ghi vào sổ. Lão chẳng nói chẳng rằng đưa cho tôi cả bình đây này!
Tôn Báo chẳng dễ dàng gì mà giữ được Kim Long nằm yên. Anh ta đạp, cắn, độ điên của anh ta xét ra chẳng khác gì so với Giải Phóng. Thu Hương dốc cả chai dấm vào mồm anh ta. Một tiếng ộc khủng khiếp vang lên, đôi mắt Kim Long trợn ngược, toàn tròng trắng rợn người dưới ánh trăng. Nghinh Xuân hét lên:
- Đồ ác độc! Cô giết con tôi rồi!
Hoàng Đồng dựng Kim Long ngồi dậy rồi dùng bàn tay vỗ thật mạnh vào lưng anh ta. Kim Long hộc lên tiếng và một dòng nước thối inh từ trong bụng anh ta vọt ra có vòi, loang ra cả gian phòng...
28
Hợp Tác thất tình theo Giải Phóng,
Hỗ Trợ mãn ý vợ Kim Long.
Hai tháng sau cái đêm ấy, không chỉ chứng điên của Kim Long và Giải Phóng chưa hoàn toàn bình phục mà cả hai chị em họ Hoàng cũng chưa kịp tĩnh tâm. Căn cứ vào cách nói của Mạc Ngôn trong tiểu thuyết của nó thì, ông - Lam Giải Phóng là điên thật, còn Kim Long thì điên giả. Mọi người đều điên, thế thì có chuyện gì để kể? Vẫn có đấy. Những ngày ấy, danh tiếng của trại lợn Hạnh Viên nổi lên như cồn. Thừa lúc nông nhàn trước khi thu hoạch lúa mạch, huyện định tranh thủ tổ chức một đợt tham quan học tập kinh nghiệm nuôi lợn của trại Hạnh Viên, không chỉ là người trong huyện mà còn có người đến từ các huyện khác. Trong lúc cấp bách này mà cả hai đứa đều điên, có khác nào chặt mất tay phải, tay trái của Hồng Thái Nhạc?
Ủy ban cách mạng công xã lại gọi điện đến báo rằng, cục hậu cần Quân khu cũng cử một đại biểu đến tham quan học tập, huyện sẽ cử cán bộ cao cấp biệt phái về cùng với vị quan chức quân đội này. Hồng Thái Nhạc vội vàng triệu tập hội nghị những người có năng lực nhất trong làng để tìm cách đối phó. Mạc Ngôn kể rằng, trong các cuộc họp, Hồng Thái Nhạc lúc nào cũng sùi bọt mép, mắt đỏ ngầu. Còn ông - Lam Giải Phóng thì nằm lì trên giường, có lúc khóc lên như trẻ con, lại vừa như con cá trê bị đập dập đầu, nước mắt đục ngầu giống như nước sữa lợn. Ở một gian nhà khác, Kim Long đang ngồi gà gà gật gật, giống như con gà ăn phải thạch tín vừa được cứu sống, nhìn thấy có ai là ngẩng mặt lên cười một cách ngây độn.
Theo lời kể của Mạc Ngôn trong cuốn tiểu thuyết “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” đầy tai tiếng của nó thì, trong lúc những cái đầu uyên bác của làng Tây Môn chỉ biết lắc lắc ngao ngán thì nó đường đường chính chính tiến thẳng vào giữa phòng hội nghị. Lời của nó chẳng thể tin tưởng, những gì nó nói đều là bịa đặt, chỉ để tham khảo thôi.
... Tôi vừa bước vào phòng hội nghị thì mọi người đều im bặt, chỉ có Hoàng Đồng đứng dậy và quát bảo tôi đi ra ngoài. Tôi không những không ra mà còn nhảy một cú thật dài, mông tôi đã đường hoàng ngồi trên mép bàn, hai chân buông thõng, đung đưa. Tôn Báo - lúc này đã là liên đội trưởng dân quân kiêm chủ nhiệm bảo vệ chính trị - nhảy lên, chộp lấy tai tôi bóp mạnh. Hồng Thái Nhạc thì xua tay, bảo Tôn Báo buông tôi ra.
- Ông trời con! Có phải ông cũng đã điên rồi không? Lão Hồng cười chế nhạo: Phong thủy làng Tây Môn ta thế nào mà đẻ ra toàn là những ông trời điên điên khùng khùng, lại có một tiên sinh kiệt xuất như ông đây vậy?
- Tôi không điên! Thần kinh của tôi to và cứng như dây bầu. Nếu cầm lấy chúng mà quất như ngày xưa các ông quất con trâu của Mặt Xanh cũng chưa chắc đã đứt. Do vậy, toàn thế giới điên cả nhưng tôi không thể điên được đâu! Nó viết tiếp: Tôi nói một cách nghiêm trang rằng, hai viên đại tướng của các ông đang bị điên, các ông vì chuyện ấy mà lo lắng, vò đầu bứt tai giống như một con khỉ đang nằm dưới đáy giếng, đúng không?
- Đúng đấy! Chúng tao đang lo lắng vì chuyện ấy! Hồng Thái Nhạc nói: Ngay cả như khỉ, chúng tao cũng không bằng. Chúng tao như những con lừa đang quẫy đạp trong vũng bùn. Mạc Ngôn tiên sinh, ngài có cao kiến gì chăng?
Hồng Thái Nhạc hai tay nắm thành quyền ấp vào trước ngực, cúi đầu, trông giống như một vị minh chủ trong tiểu thuyết cổ khi gặp một hiền thần, nhưng thâm ý thì đang chế giễu tôi, tôi biết. Đối phó với việc giễu cợt này, tốt nhất là giả ngốc, giả mù, để cho những lời ấy thoảng qua như đàn gảy tai trâu. Tôi giơ một ngón tay chỉ vào cái túi trên bộ quần áo sáu bảy năm nay chưa giặt của Hồng Thái Nhạc. Lão ngớ người: Cái gì? Thuốc lá! Trong túi áo ông có thuốc lá hiệu Hổ Phách, giá hiện tại mỗi gói ba hào chín xu, tương đương với loại thuốc nổi danh toàn quốc Đại Tiền Môn. Loại thuốc cao cấp này, một bí thư chi bộ như ông lấy đâu ra tiền mà hút thường ngày? Hồng Thái Nhạc đành phải lôi gói thuốc ra bỏ lên bàn: Mày đúng là đồ quỷ, mắt mày có thể nhìn xuyên thấu hết cả à? Tôi rút một điếu, bật lửa và hút thật điệu nghệ, lại còn nhả ra cả khói vòng tròn: Tôi biết các ông nhìn tôi chẳng là gì, các ông đều cho tôi là thằng nhóc, một cái đít chó chẳng hiểu gì hết. Thực ra tôi đã mười tám tuổi, đã là thanh niên. Đầu tôi nhỏ, mặt mày tôi xấu xí, song ở trong làng Tây Môn này, chẳng có ai thông minh và trí tuệ hơn tôi đâu!
- Thật không? Hồng Thái Nhạc lại cười một cách chế nhạo: Tao thật sự không biết mày đã mười tám rồi cơ đấy. Tao cũng không biết mày có trí tuệ nhất làng Tây Môn. Xin lỗi! Mọi người cười rộ lên. Mạc Ngôn viết tiếp: Tôi hút thuốc, rồi có lý có lẽ rất nghiêm túc phân tích rằng, bệnh của Giải Phóng và Kim Long đều do ái tình mà ra. Với loại bệnh này, không có thuốc điều trị, chỉ có cách dùng phương thức cổ truyền để cứu. Đó là cưới Hỗ Trợ cho Kim Long, Hợp Tác cho Giải Phóng, cổ nhân gọi là “lấy vui đuổi tà” đấy thôi!...
Hai anh em nhà ông cưới chị em nhà họ Hoàng có phải là sáng kiến của Mạc Ngôn hay không, tôi chẳng có thời gian xét thấu đáo, nhưng có một điều rất đích xác là, hai người cưới vợ trong cùng một ngày. Quá trình tiến hành hôn lễ đều không lọt qua được mắt tôi. Mặc dù đây là việc riêng của hai nhà, song Hồng Thái Nhạc trực tiếp đứng ra chỉ huy, xem việc riêng thành việc công, điều động toàn bộ những thanh niên có tài vặt của thôn đến giúp đỡ. Tôi có thể đánh giá chung về lễ cưới của hai người là rất long trọng, rất náo nhiệt.
Ngày mười sáu tháng tư âm lịch, hôn lễ được cử hành. Trăng mười sáu sáng và tròn. Mặt trăng to và thấp cứ lẩn khuất trên bầu trời Hạnh Viên không muốn rời, như cố ý lưu lại để dự hôn lễ hai người. Trên mặt trăng in rõ hình mấy chiếc mũi tên cắm lông. Truyền thuyết kể rằng, đó là những mũi tên của đàn ông bắn lên khi phát điên vì đàn bà. Mấy lá cờ ở trên đó là do tàu vũ trụ của người Mỹ đưa lên... Để chúc mừng hôn lễ, người ta quyết định cải thiện bữa ăn cho lợn trong trại. Hình như trong máng nào cũng có mùi hèm rượu, bánh đậu xanh, bột cao lương. Bọn lợn được ăn ngon, con nào bụng cũng tròn căng nên có vẻ hài lòng lắm. Có đứa thì nằm ngủ khì, có đứa trèo lên đầu tường mà ca hát. Còn Điêu Tiểu Tam thì sao?
Tôi nhẹ nhàng trèo người vắt qua tường nhìn vào ổ của nó. Thằng này đang dùng một chân đè cái gương ép vào tường, tay kia dùng một chiếc lược sứ hồng hồng chẳng biết kiếm đâu ra đang chải lông trước ngực. Mấy tháng nay nó tự nhiên phát mã, mập khỏe hẳn ra, cái nọng đã có hai thăng thịt dày cộm khiến cho cái mõm vốn dài của nó tự dưng ngắn lại một tí, nhìn gương mặt nó có phần bớt hoang dã hơn. Tiếng lược cào vào lớp da và lông thô tháp của nó nghe sột soạt, vảy bay lả tả giống như những con tuyết trùng mùa thu ở vùng núi Nhật Bản. Chải lông xong, nó lại há mồm dùng một que củi to xỉa răng. Trông bộ dạng, tôi biết nó đang yêu, nhưng rõ ràng là yêu đơn phương. Đừng nói là những con lợn hoa trẻ trung xinh đẹp không thèm để ý, ngay cả những con lợn nái đã đẻ không biết bao nhiêu lứa cũng chẳng thấy ở nó một sự hấp dẫn nào. Bây giờ thì nó đã phát hiện ra hình tôi trong chiếc gương. Nó chẳng thèm ngoái đầu, gầm lên một tiếng:
- Đừng xem, ông bạn! Yêu cái đẹp là bản chất của con người, lợn cũng có. Lão đây trang điểm một tí là chuyện quang minh chính đại thì có gì mà phải nhìn trộm nào?
- Nếu bẻ hai chiếc răng nanh kia đi thì ông cũng khá đẹp trai đấy! Tôi cười, nói châm chọc đầy ác ý.
- Không thể được! Điêu Tiểu Tam nói rất nghiêm trang: Răng nanh tuy dài, nhưng đó là do cha mẹ ban cho, không được làm thương tổn. Đó là sự mở đầu của chữ hiếu. Đạo đức của con người là vậy, lợn cũng xem đó là nguyên tắc. Vả lại, cũng sẽ có những con lợn cái thích cái răng nanh của lão đây thì sao?
Thằng này học rộng biết nhiều, ăn nói viện dẫn kinh điển lưu loát và lợi hại vô cùng, cứ đấu khẩu với nó chưa chắc tôi đã chiếm ưu thế. Tôi thả chân xuống khỏi tường, tự nhiên một cái ợ hơi phát ra, một mùi không dễ chịu từ trong bụng tôi xông lên. Tôi đứng thẳng người, chân trước chụp lấy cành hạnh, miệng cắn một trái hạnh nhai thử. Một vị chua chua, đăng đắng và cả ngọt lẫn lộn đầy ắp trong mồm tôi.
Ăn xong trái hạnh, tôi nằm xuống và suy nghĩ mọi vấn đề. Thời gian luân chuyển, đã sắp đến kỳ thu hoạch lúa mạch. Gió nam mát rượi, cây cỏ tốt tươi, thời kỳ giao phối đã đến gần. Trong không khí đã ngửi thấy mùi lợn động đực. Tôi biết người ta đã chọn ra khoảng ba mươi con lợn cái khỏe mạnh, xinh đẹp để chuẩn bị cho kỳ sinh sản này. Những con được chọn đều nhốt riêng mỗi chuồng một con, được ăn những thức ăn tốt nhất. Lông da của chúng dần dần trơn mượt, đôi mắt bắt đầu lúng liếng gợi tình. Tôi nhận ra rất rõ địa vị của mình trong trại lợn. Trong chuyện vui sắp diễn ra này, tôi là số một, Điêu Tiểu Tam là số hai. Nó chỉ có thể xuất đầu lộ diện khi tôi đã kiệt sức. Nhưng những người ở đây không hề biết cả tôi lẫn nó đều không phải là những con lợn bình thường. Chúng tôi đều có trí tuệ khác thường, sức khỏe phi thường, chúng tôi trèo tường leo cây chẳng khác nào đi trên đất bằng. Khi bóng tối ập xuống, mọi người về ngủ cả, tôi và Điêu Tiểu Tam sẽ bình đẳng về cơ hội giao phối thôi. Phải thực hành quy luật của động vật, phải đánh bại Điêu Tiểu Tam trước khi mùa giao phối đến, để cho nó có ý thức rằng toàn bộ lợn cái là của tôi.
Trong lúc tôi đang suy nghĩ thì mặt trăng cũng đang nằm nghỉ trên đầu một cây hạnh cổ thụ. Ông đã biết đó là cây hạnh may mắn vì lúc nó đang trổ hoa rực rỡ nhất thì được chứng kiến Kim Long cùng Hỗ Trợ và Hợp Tác làm tình, kết quả như thế nào thì ông đã thấy. Nhưng việc nào cũng có hai mặt. Chuyện làm tình trên ngọn cây độc đáo có một không hai của họ khiến ông phát điên nhưng đã đem lại một mùa bội thu không tiền khoáng hậu cho cây hạnh. Cây hạnh này mấy năm trước chỉ có một ít quả tượng trưng, gọi là có thôi, nhưng năm nay thì quả chi chít đến nổi các cành đều oằn rạp đến sát đất. Hồng Thái Nhạc đã cho dân quân làm giá đỡ và cử người canh gác. Nói chung thì phải đến sau vụ thu hoạch lúa mạch, quả hạnh mới chín, lúc này chỉ mới bắt đầu vàng vàng nhưng đề phòng hái trộm, Hồng Thái Nhạc đốc thúc dân quân canh giữ ngày đêm, giao cho Tôn Báo chỉ huy. Tôn Báo ra lệnh: Nếu ai cả gan hái trộm thì bắn hay đánh chết cũng không có tội. Do vậy mà cho dù thèm đến nhỏ dãi, tôi cũng không dám mạo hiểm với cái mệnh lệnh này. Bị bắn vỡ óc rõ ràng không thể là chuyện đùa, ký ức của bao nhiêu năm trước vẫn hiển hiện trong tôi khiến mỗi khi nhìn thấy súng kíp là tôi đã thất kinh hồn vía. Ngay cả thằng đầy mưu mô quỷ quyệt như Điêu Tiểu Tam mà cũng phải nằm im, chẳng dám vọng động.
Mặt trăng to tròn và sáng rực nằm trên đỉnh cây hạnh khiến tôi có cảm giác các cành cây đã oằn lại càng oằn thêm. Đột nhiên có một tay dân binh phát điên, nhắm ngay mặt trăng nổ súng. Mặt trăng dao động một chút song rõ ràng là không bị thương, ánh sáng lại càng rực rỡ hơn như ngầm thông báo với tôi về những điều bí mật xa xưa. Rồi bên tai tôi tiếng nhạc êm dịu vang lên, một người đàn bà che người bằng lá hạnh đang nhảy một vũ điệu mê hồn giữa không trung, ngay trước mắt tôi. Nàng se sẽ vén bộ váy áo bằng lá cây. Ôi bầu vú sao mà căng tròn, đầu vú hồng hồng cứng ngắt... Một tay dân quân nữa nổ súng, một luồng lửa vọt lên hướng về mặt trăng. Hình như ánh trăng tối lại một tí, màu trăng trở nên trắng bệch. Mặt trăng trên đầu cây hạnh nghiêng ngã rồi từ từ bay lên, nhỏ dần nhỏ dần nhưng ánh sáng lại càng rực rỡ hơn. Bay cách khỏi ngọn cây chừng hai mươi mét, nó dừng lại và nhìn trại Hạnh Viên một cách lưu luyến. Tôi tin chắc là trăng đến đây để tham dự hôn lễ, mọi người phải dùng rượu ngon và quả hạnh chiêu đãi nó. Nhưng hai tay dân quân thô lỗ và xuẩn ngốc kia đã bắn nó, tuy không chết song tình cảm của nó nhất định đã bị tổn thương.
Cho dù là như vậy nhưng đêm mười sáu tháng tư âm lịch hàng năm, tôi vẫn tin rằng trăng ở Hạnh Viên vùng Đông Bắc Cao Mật là đẹp nhất trên thế gian này. Mặt trăng ở đây tròn, sáng, lại vừa đa tình vừa bi thương. Tôi biết sau này Mạc Ngôn có viết một cuốn tiểu thuyết là “Chống gậy nhảy cùng trăng” vừa thực vừa ảo. Nó viết:
“... Trong những ngày kỳ lạ ấy, chúng tôi cử hành hôn lễ thật long trọng cho bốn người điên tại trại lợn. Trang phục của hai chú rể toàn màu vàng, họ trông giống như hai quả dưa chuột, còn hai cô dâu cũng mặc váy rộng màu vàng, trang điểm rực rỡ khiến cả hai giống như hai quả bầu. Có người đề nghị giết thịt một con lợn, nhưng bí thư Hồng không đồng ý. Làng Tây Môn nhờ nuôi lợn mà được nổi danh toàn huyện, lợn làm cho chúng tôi vinh hiển, sao lại giết lợn? Bí thư Hồng nói thật chí lý. Cuối cùng thức ăn chỉ có mấy thứ hoa quả tự có trong làng, một ít bánh quẩy và kẹo. Rượu thì chất lượng cực kém được đựng trong những chiếc can nặng đến năm mươi cân. Phụ trách việc mua rượu là một tay cực kỳ lười nhác, những chiếc can không được rửa sạch cho nên trong rượu lại có mùi thum thủm cực kỳ khó chịu. Không sao cả! Người nông dân hiền lành như đất, miễn có rượu uống say là được. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được đối đãi như một người đàn ông thực thụ, trong mười bàn rượu, tôi được bố trí ngồi ngay bàn đầu. Bí thư Hồng ngồi đối diện với tôi. Tôi biết sự ưu đãi này là do tôi đề ra sáng kiến, từ cái ngày tôi vào phòng họp khua môi múa mép, họ đã không còn coi thường tôi nữa. Hai bát rượu đầy tuôn vào dạ dày, tôi thấy người như phiêu diêu trên mây xanh, một khí lực tuôn trào vô cùng vô tận trong cơ thể tôi. Tôi rời khỏi bàn rượu, đi ra vườn hạnh. Mặt trăng với đường kính khoảng ba mét nằm vắt trên ngọn cây hạnh trứ danh. Tôi đã có hẹn với nó. Đây là mặt trăng mà Thường Nga đã từng trú ngụ, là mặt trăng mà người Mỹ đã từng đặt chân lên? Trăng ơi! Ta đã đến ...
... Chân tôi đạp lên mây và bay vút lên, thuận tay bẻ một cành ngô đồng ở bên cạnh Tỉnh Đài, tôi lăm lăm trong tay tiến về phía trăng, giống như những võ sĩ thời xưa cưỡi ngựa tay cầm giáo chĩa thẳng về phía trước. Tôi không phải đến để đánh nhau với trăng, vì trăng là bạn tôi, tôi chỉ muốn dùng cành ngô đồng để trợ thêm sức lực mà bay lên với trăng mà thôi. Trong khi trực ban ở trụ sở đại đội, đọc nhiều thông tin từ tờ “Tin tức tham khảo” tôi biết rằng có một vận động viên nhảy sào Liên Xô đã nhảy qua 6m15. Tôi vẫn thường đến bãi luyện tập thể dục của trường trung học để xem thầy giáo dạy thể dục Phùng Kim Chung dạy năng khiếu nhảy cao cho nữ sinh. Tôi nghe được tất cả lời dạy của thầy Phùng, vốn là vận động viên nhảy sào cấp tỉnh, nhân vì bị thương đầu gối mà bị biệt phái về dạy thể dục tại trường trung học, ngày nào cũng dạy kỹ thuật nhảy sào cho cô nữ sinh Bàng Kháng Mỹ - con gái của Bàng Hổ, nguyên là chủ nhiệm hợp tác xã cung tiêu, nay là xưởng trưởng kiêm bí thư chi bộ xưởng dệt gấm số năm với Vương Lạc Vân, nguyên chủ nhiệm cửa hàng nông sản, hiện là kế toán nhà ăn xưởng dệt số năm. Cô này có đôi chân dài tuyệt đẹp, giống như chân chim hạc. Chính nhờ những yếu lĩnh nhảy cao học lóm này mà tôi mới có thể nhảy lên cung trăng. Tôi vẫn cứ tưởng mặt trăng treo trên đầu cây cổ thụ kia rất mềm mại, sau mấy lần áp dụng kỹ năng nhảy sào, khi rơi xuống lúc nào cũng cho lưng và vai tiếp xúc với đất, té ra khi rơi xuống tôi mới thấy nó chẳng khác gì dưới mặt đất, đất đá gồ ghề cứng ngắt. Những người đang uống rượu trong tiệc cưới chạy ào ra vẫy tay chào từ biệt tôi và trăng, trong số đó có Hoàng Hỗ Trợ. Cô ta có thể bay lên như tôi không? Tôi mở dây thắt lưng buông về phía cô ta, cô ta bám vào đấy và tôi tận lực kéo lên. Mặt trăng đưa chúng tôi lên cao. Chúng tôi thấy rõ ràng ở dưới đất, những gian nhà trở nên bé xíu, còn con người thì như những con kiến bò ngang bò dọc... Tôi còn nghe thấy tiếng kêu la hoảng loạn của họ vang lên nhưng chúng tôi đã vĩnh viễn treo lơ lửng giữa bầu trời mênh mông và yên lặng...”
Rõ ràng đây là một cảnh mộng, được Mạc Ngôn viết theo ký ức lộn xộn trong một lần uống rượu say mèm. Đêm ấy, những chuyện xảy ra trong hôn lễ ngoài tôi ra không có ai rõ hơn. Ông đừng vội cau mày, ông chưa có quyền phát biểu. Những lời Mạc Ngôn kể chín phần mười là tưởng tượng, nhưng có một câu chính xác: Ông và Kim Long mặc áo chú rể màu vàng giống như hai quả dưa chuột. Tiệc cưới diễn ra thế nào, ông không thể biết bởi ông ngồi đó nhưng tâm trí để ở đâu đâu, mê mê tỉnh tỉnh, trong vườn hạnh xảy ra chuyện gì, ông càng mù tịt. Điêu Tiểu Tam lúc này có lẽ cũng đã đầu thai sang một quốc gia nào đó, có thể là tận châu Phi rồi. Nhưng cho dù nó có đầu thai thành con ông chăng nữa thì cũng không thể nhớ gì cả, bởi nó làm gì có khả năng đề kháng với loại nước quên ký ức của bà Mạnh dưới âm phủ. Do vậy tôi là người duy nhất có quyền kể, điều tôi khẳng định là lịch sử, điều tôi phủ nhận là lịch sử giả tạo...
Đêm ấy, Mạc Ngôn chỉ uống một bát rượu đã say. Để tránh chuyện nó mượn rượu nói càn, Tôn Báo đã nắm lấy vai nó đẩy ra ngoài, vứt vào gian chứa cỏ khô, ở đó còn có cả đống xương của những con lợn đã chết trong mùa đông năm ngoái. Nó nằm đó ngáy khò khò. Chuyện nó bay lên cung trăng, có lẽ là nó nằm mơ thấy trong lúc này. Sự thực là thế này - Ông cứ bình tâm nghe tôi kể - Hai tay dân quân không được tham dự hôn lễ đã điên khùng bắn vào mặt trăng, nó không rơi mà quả hạnh lại rụng không biết bao nhiêu mà kể. Những quả hạnh vàng xanh phủ một lớp dày dưới gốc cây, nhiều trái vỡ toác, mùi hương ngọt ngào của quả hạnh quyện với mùi thuốc súng khét lẹt. Tôi đang buồn vì hành vi độc ác của của hai tay dân quân, nằm ngắm nhìn một cách tiếc nuối theo mặt trăng đang từ từ bay lên cao thì bỗng nhiên có một bóng đen phóng vụt qua trước mắt. Đầu tôi lóe lên một tia chớp sáng lòe và ngay lập tức tôi nhận ra đó là ai. Thì ra là Điêu Tiểu Tam đã nhảy vọt qua tường và phi thẳng đến gốc cây hạnh. Sở dĩ lâu nay chúng tôi không dám bén mảng đến đó là vì sợ khẩu súng trong tay của hai dân quân nọ, bây giờ súng đã nổ, ít nhất phải nửa tiếng sau họ mới kịp lắp đạn mới vào cây súng kíp, với nửa tiếng, chúng tôi đã đủ để ăn một bữa quả hạnh no nê. Điêu Tiểu Tam sao mà thông minh! Chỉ chần chừ một phút mà tôi đã bị nó qua mặt. Không có thời gan để ân hận nữa, tôi không thể thua nó. Chỉ một cái nhún chân, tôi đã nhảy qua tường. Điêu Tiểu Tam nhắm cây hạnh mà chạy, còn tôi nhắm vào nó mà đuổi, chỉ cần húc ngã nó, những quả hạnh dưới đất sẽ hoàn toàn là của tôi. Nhưng chuyện xảy ra sau đó là một vận may cho tôi. Chính lúc Điêu Tiểu Tam đang ăn quả hạnh và tôi đang chuẩn bị tư thế để tấn công thì nhìn thấy tay dân quân bàn tay chỉ có ba ngón ném về phía chúng tôi một vật đỏ đỏ tròn tròn, trên đầu có một sợi dây đang cháy. Không xong rồi! Pháo! Nguy hiểm quá! Hai chân trước tôi đang chạy bỗng bám chặt xuống đất, ghìm lực quán tính xô đến từ phía sau. Động tác của tôi giống hệt một chiếc xe đột ngột phanh lại khi đang chạy với tốc độ cao, rồi tôi lăn một vòng, rời khỏi nơi nguy hiểm. Trong cơn kinh hoàng, tôi nhìn thấy Điêu Tiểu Tam ngoạm lấy quả pháo đang cháy xèo xèo, rồi lắc mạnh cái đầu một cái. Tôi biết nó đang muốn trả quả pháo về cho tay dân quân nọ. Trong lúc nguy cấp, nó phản ứng sao mà nhanh, quả là một tay có bản lĩnh và dũng cảm, xử lý tình huống rất quả quyết. Chỉ có những chiến sĩ lão luyện nơi sa trường mới bình tĩnh và gan dạ đến như thế. Chúng ta vẫn thường xem thấy trên phim những chiến sĩ ngoài chiến địa chụp lấy lựu đạn đang bốc khói ném trả về phía đối phương. Nhưng tiếc thay, đây lại là quả pháo nổ nhanh. Trong lúc nó vừa lắc mạnh đầu thì một ánh chớp lóe sáng ngay trước mặt nó, một tiếng nổ như sét đánh và một đụn khói màu vàng tỏa ra. Không kịp kêu lấy một tiếng, Điêu Tiểu Tam ngã vật ra. Mùi thuốc khét lẹt bay khắp Hạnh Viên rồi tản mạn khắp bầu trời Cao Mật. Tôi nhìn Điêu Tiểu Tam đang nằm dưới đất, lòng nổi lên nhiều tình cảm phức tạp, vừa kính trọng, vừa thương tâm, vừa sợ hãi song cũng vừa le lói một chút vừa lòng. Đáng ra một con lợn đường đường chính chính như tôi không nên có trạng thái vừa lòng nhỏ nhen này, song nó đã có, tôi cũng không có cách gì kiềm chế được.
Hai tay dân quân co giò bỏ chạy khi quả pháo nổ tung, nhưng chạy được một vài bước thì quay ngoắt lại, giương mắt nhìn, trên mặt biểu lộ nét sợ hãi. Rồi không hẹn mà cả hai lò dò bước về phía Điêu Tiểu Tam. Tôi biết hai thằng nhóc này đang lo lắng vì bí thư Hồng đã nói, lợn là tài sản quý giá nhất, là vấn đề chính trị của cả một thời đại, là nguồn lợi dồi dào và cũng là niềm vinh quang của cả làng Tây Môn. Vô cớ mà giết chết lợn, hơn nữa lại là một con lợn giống, tội này không nhỏ. Trong lúc hai đứa thần sắc nặng nề đứng bên cạnh Điêu Tiểu Tam, chỉ biết đưa mắt nhìn nhau thì Điêu Tiểu Tam kêu lên một tiếng, từ từ đứng dậy, đầu lắc mạnh mấy cái, mồm kêu rống lên. Nó xoay người một vòng nhưng hai chân sau mềm nhũn khiến cái mông lại rơi đánh bịch xuống đất. Tôi biết đầu nó bị choáng, mồm nó bị đau. Hai tay dân quân tươi ngay nét mặt, bắt đầu huyên thuyên:
- Tao không thể tưởng tượng được đây lại là một con lợn!
- Tao thì cứ nghĩ đây là một con chó sói!
- Muốn ăn quả hạnh sao chẳng nói sớm, chúng tao lượm cả sọt bỏ vào chuồng mày!
- Lúc này mày có thể ăn thỏa thích rồi đấy!
Điêu Tiểu Tam phẫn nộ chửi bới bằng ngôn từ của loài lợn nên hai tay dân quân chẳng hiểu gì cả:
- Ăn cái ... con mẹ chúng mày!
Nó đứng dậy, xiêu xiêu vẹo vẹo đi về chuồng. Tôi chạy chắn ngay trước đầu nó, hỏi:
- Ông bạn, không việc gì chứ?
Nó lạnh lùng liếc xéo nhìn tôi, nhổ ra một bãi nước bọt toàn máu, nó phều phào:
- Đáng kể gì... Bà nó chứ! Lão đây lúc còn ở Nghi Mông đã ngoạm hết mười mấy quả lựu đạn thứ thiệt ấy chứ! Loại này thì sá gì, chỉ là quả pháo tẹp nhẹp thôi mà.
Tôi biết nó đang khoác lác, song không khỏi khâm phục sự dũng cảm và sức chịu đựng của nó. Quả thực là sức tàn phá của quả pháo này không nhỏ, tôi nhìn thấy khuôn mặt của nó bị cháy xém, mồm mép rớm máu và đặc biệt là chiếc răng nanh bên trái đã bị gãy lìa, lông dưới cổ nó cũng bị cháy trụi. Tôi cứ nghĩ nó sẽ dùng phương pháp tầm thường là chui vào lỗ hổng cửa sắt để vào chuồng, song không ngờ nó lại đường hoàng nhún mình nhảy vọt qua tường, nặng nề rơi xuống nền chuồng ẩm ướt. Đêm nay sẽ là đêm vô cùng thống khổ và đau đớn đối với nó, tôi nghĩ thế. Cho dù đêm nay có bao nhiêu con cái phát tiết dục tình, nó cũng đành phải nằm ở đây mà thèm muốn, mà tưởng tượng thôi.
Hai tay dân quân dường như để xin lỗi, đã đem ném vào chuồng nó vài chục quả hạnh. Tôi chẳng thèm ghen với nó về việc này. Điêu Tiểu Tam trả giá đắt như thế, ăn vài chục quả hạnh là xứng đáng lắm. Cái đang chờ tôi, cái tôi thèm muốn không phải là quả hạnh mà là những con lợn cái đang đẹp như hoa mới nở kia. Chúng đang rên rỉ, đang vẫy đuôi chờ tôi. Đó mới là điều hấp dẫn, có ý nghĩa nhất trên thế gian này. Chờ đến nửa đêm, mọi người đi ngủ cả, cuộc sống hạnh phúc của tôi sẽ bắt đầu. Điêu tiên sinh! Xin lỗi nghe!
Việc Điêu Tiểu Tam bị thương đã xóa bỏ nỗi lo canh cánh trong lòng tôi, có thể yên tâm để đi xem hôn lễ rồi. Mặt trăng treo ở trên cao chừng năm mươi mét đang lãnh đạm nhìn tôi. Tôi giơ chân phải, làm một động tác hôn gió với nó, rồi như một ánh chớp, tôi chạy về phía bắc trại lợn, lẩn khuất trong những ngôi nhà ven đường. Có mười tám gian nhà cả thảy, từ đông sang tây, đầu tiên là nơi ngủ của những người phục vụ trại lợn, nơi chế biến thức ăn và văn phòng trại lợn, phòng truyền thống của trại lợn... Phía cực tây có ba phòng, là nơi động phòng của hai đôi vợ chồng mới, gian giữa là nơi sinh hoạt chung, phòng của họ nằm ở hai bên. Trong tiểu thuyết của mình, Mạc Ngôn tả như thế này:
“Trong phòng giữa có bày khoảng bảy chiếc bàn vuông, trên bàn bày các loại hoa quả, bánh quẩy và một ít kẹo. Giữa phòng treo một chiếc đèn măng-sông. Ánh sáng rực rỡ của nó khiến cả căn phòng trắng như tuyết...”
Thằng ôn con này lại tán phét nữa rồi! Căn phòng chỉ rộng có bốn mét, dài năm mét, làm sao có thể bày mười chiếc bàn? Không những ở làng Tây Môn mà cả vùng Đông Bắc Cao Mật lúc ấy tìm đỏ cả mắt cũng chẳng có căn phòng nào đủ rộng cho mười chiếc bàn và đủ cho một trăm người ngồi đâu.
Kỳ thực hôn lễ được cử hành trên mảnh đất trống dài và hẹp ngay trước gian phòng ấy. Hai bên mảnh đất là những đống cây đã mục nát, chuột và chồn làm tổ dày đặc trong đó. Chỉ có một chiếc bàn vuông bằng gỗ, hai bên chạm khắc những đóa hoa lê, vốn được đặt ở giữa trụ sở đại đội sản xuất, trên bàn lúc nào cũng có một chiếc điện thoại, một bộ ấm nước đen ngòm và một chiếc đèn dầu. Chiếc bàn này đã bị Kim Long lấy làm của riêng kể từ khi nó bắt đầu thăng tiến, Hồng Thái Nhạc cho rằng đó là biểu hiện của giai cấp địa chủ nhằm tấn công vào giai cấp nông dân. Nó được đưa về đặt ngay tại trụ sở Hồng vệ binh, cũng chính là nhà của Tây Môn Náo, trở thành của gia truyền. Số bàn còn lại được mang từ trường tiểu học đến, đó là những chiếc bàn giáo viên. Ngoài ra còn có khoảng bốn chục chiếc ghế dài được sơn quét màu đỏ qua loa. Những chiếc bàn được xếp thành hai hàng, hai bên xếp ghế dài, trông giống như một phòng học lộ thiên. Không có đèn măng-sông, tất nhiên cũng chẳng có điện, chỉ có mấy chiếc đèn chắn gió phát ra một thứ ánh sáng tù mù đủ hấp dẫn những con thiêu thân và các loại côn trùng khác. Thực ra thì có đèn hay không cũng chẳng cần thiết, vì đêm ấy hình như mặt trăng gần trái đất nhất, ánh sáng rực rỡ đến độ các cô gái có thể thêu thùa, may vá.
Nam nữ lớn bé có khoảng trăm người ngồi trên bốn dãy ghế đối diện nhau, trước mặt là rượu, ai nấy đều thèm nhỏ dãi song chưa ai dám uống vì Hồng Thái Nhạc đang đứng bên cạnh cái bàn vuông phát biểu. Một vài đứa trẻ cả gan thò tay vào mâm bốc trộm một vài miếng gì đó, bỏ vội vào mồm.
- Bà con xã viên, các đồng chí thân mến! Đêm nay chúng ta cử hành hôn lễ cho Lam Kim Long, Lam Giải Phóng, Hoàng Hỗ Trợ và Hoàng Hợp Tác. Họ là những thanh niên ưu tú nhất của làng Tây Môn, có những cống hiến vô cùng kiệt xuất đối với công tác nuôi lợn. Họ là những tấm gương điển hình cho tinh thần cách mạng, cũng là điển hình cho công việc tổ chức hôn lễ vào ban đêm. Đề nghị chúng ta nhiệt liệt vỗ tay, chúc mừng hạnh phúc của những đôi trai tài gái sắc này...
Tôi nấp sau đống cây mục yên lặng quan sát. Mặt trăng vốn muốn đến để tham dự hôn lễ nhưng lại bị đối xử tệ bạc, chỉ có thể lặng im trên trời cao. Trăng sáng quá, sáng đến nỗi tôi có thể thấy được bao nhiêu là trạng thái buồn vui trên từng khuôn mặt mỗi người. Ánh mắt tôi đương nhiên không rời những người đang ngồi xung quanh chiếc bàn vuông, thi thoảng mới liệng vài vòng nhìn những người ngồi bên những chiếc bàn dài. Kim Long và Hỗ Trợ đang ngồi bên phía phải bàn, Giải Phóng và Hợp Tác ngồi phía trái. Hoàng Đồng và Thu Hương ngồi phía nam. Họ đều quay lưng về phía tôi, do vậy không thể nhìn rõ khuôn mặt của từng người. Chính diện của chiếc bàn, cũng là vị trí tôn quý nhất của buổi lễ là Hồng Thái Nhạc đang phát biểu, Nghinh Xuân đang cúi đầu, gương mặt của cô ta không rõ là buồn hay vui. Tôi phát hiện buổi lễ này vắng mặt một nhân vật quan trọng. Đó là con người vang danh nhất vùng Đông Bắc Cao Mật, tức là cá thể Mặt Xanh. Ông ta là bố đẻ của ông - Lam Giải Phóng, cũng là bố về danh nghĩa của Kim Long. Hai con trai kết hôn, bố không tham dự, thế nghĩa là sao?
Trong khi làm lừa, làm trâu, tôi và Mặt Xanh quấn quýt bên nhau ngày đêm, nhưng kể từ khi làm lợn, tôi không còn cơ hội để gặp mặt người bạn thân thiết này. Chuyện cũ đã khơi, tôi đột nhiên muốn gặp mặt ông ta. Khi lão Hồng đang phát biểu thì có tiếng chuông xe đạp lanh lảnh vang lên. Thì ra là nguyên chủ nhiệm hợp tác xã cung tiêu, hiện là xưởng trưởng kiêm bí thư chi bộ phân xưởng dệt số năm Bàng Hổ. Từ xưởng dệt đến làng Tây Môn chỉ khoảng hơn mười cây số, ánh sáng từ phân xưởng phát ra, người làng Tây Môn có thể trông thấy. Cùng đi với lão là Vương Lạc Vân. Nhiều năm không gặp, không ngờ cô ta mập đến thế, gương mặt hồng hào, bóng nhẫy, cho thấy cô ta ăn nhiều đồ ngon quý giá. Ngoài ra còn có một cô gái thân hình cao ráo, trẻ măng, vừa trông thấy tôi đã biết ngay đó là cô gái mà Mạc Ngôn đã tả trong tiểu thuyết của nó, tức là Bàng Kháng Mỹ, cũng chính là cô bé được sinh ra khi tôi còn là lừa, tôi đã cõng mẹ con họ trên lưng mình để đến bệnh viện. Cô ta mặc chiếc áo sơ mi màu hồng, hai bím tóc ngắn tết hai bên, trước ngực đeo huy hiệu của Học viện Nông học. Cô sinh viên xuất thân từ tầng lớp công nông binh này đang học ngành chăn nuôi gia súc tại học viện. Cô bé cao hơn bố nửa cái đầu, hơn mẹ cả cái đầu, đường hoàng đĩnh đạc trông giống như một cây dương liễu, nét mặt tươi cười. Cô bé có lý do để ngẩng cao đầu. Trong thời đại ấy, những người có hoàn cảnh xuất thân và địa vị xã hội như nó cũng giống như Thường Nga trên cung trăng, cao vời, tôn quý. Cô bé cũng chính là người tình trong mộng của Mạc Ngôn. Trong nhiều cuốn tiểu thuyết của nó, cô bé chân dài này thay đổi rất nhiều họ tên, xuất hiện nhiều lần. Họ đến để chúc mừng hôn lễ của ông đấy, vinh dự chưa?
- Chúc mừng, chúc mừng! Bàng Hổ và Vương Lạc Vân nở nụ cười tươi rói hướng về mọi người.
- Ôi chao! Hồng Thái Nhạc dừng ngay lời diễn thuyết, nhảy ra khỏi ghế bước về phía trước mấy bước, bắt chặt tay Bàng Hổ, nói một cách kích động: Chủ nhiệm Bàng, không, không, bí thư Bàng, xưởng trưởng Bàng. Anh khách khí quá! Nghe nói anh đang làm to ở huyện, không dám làm phiền anh! ...
- Lão huynh! Anh chớ vô ý vô tứ thế! Bàng Hổ cười lớn nói: Làng ta có chuyện đại hỷ lại chẳng cho tôi hay, hay là sợ tôi đến uống hết rượu của mọi người?
- Sao lại thế! Anh là khách quý, dùng kiệu tám người khiêng e rằng cũng chưa mời được anh đến đây đấy chứ! Vẫn giọng ấy, Hồng Thái Nhạc nói: Anh đến làm làng tôi là...
- Rồng đến nhà tôm ... Ngồi ở cuối hàng, Mạc Ngôn đánh tiếng.
Lời nói của nó khiến Bàng Hổ, đặc biệt là Bàng Kháng Mỹ chú ý. Cô bé có vẻ kinh ngạc, nheo mắt nhìn Mạc Ngôn, mọi ánh mắt đều đổ dồn về nó. Nó đắc ý vênh mặt, nhe răng cười, để lộ hàm răng to, vàng khè. Trông bộ dạng của nó xấu không thể tả. Thằng nhỏ này quả thật không bỏ lỡ cơ hội nào để tự thể hiện mình.
Thừa lúc này, Bàng Hổ rút tay ra khỏi tay Hồng Thái Nhạc và nhiệt tình hướng về phía Nghinh Xuân. Qua bao nhiêu năm bồi dưỡng với những thức ngon vật lạ, đôi bàn tay sắt ném lựu đạn ngày xưa bây giờ đã trở nên mũm mĩm, trắng trẻo. Nghinh Xuân cuống cuồng chìa tay, lòng cảm kích và hàm ơn khiến miệng cô ấy cứ ấp a ấp úng, chẳng nói được câu nào. Bàng Hổ nắm lấy tay Nghinh Xuân lắc lắc, nói:
- Chị dâu! Đại hỷ, đại hỷ! Chúc mừng chị!
- Vui, vui, vui lắm... Mọi người đều vui! Nước mắt chảy vòng trên má, Nghinh Xuân đáp.
- Cùng nhau vui! Cùng nhau vui! Mạc Ngôn hét to.
- Chị dâu! Tại sao không thấy anh Lam? Ánh mắt của Bàng Hổ đảo một vòng quanh sân, hỏi.
Nghinh Xuân câm bặt, Hồng Thái Nhạc lúng túng gãi đầu. Mạc Ngôn chớp ngay thời cơ, ngoác mồm nói:
- Ông ấy à? Đang tranh thủ trăng sáng để cuốc một mẫu sáu sào ruộng cá thể đấy!
Hình như Tôn Báo đã đạp một cú thật mạnh vào chân nó, được đà Mạc Ngôn bù lu bù loa:
- Anh đạp vào chân tôi làm gì? Không cho tôi nói à?
- Câm cái mồm thối của mày lại ngay! Tôn Báo hạ nhỏ giọng nói, rồi nhằm ngay vào đùi của Mạc Ngôn bóp một cái thật mạnh. Nó rú lên thê thảm, mặt trắng bệch.
- Được rồi, được rồi! Bàng Hổ cao giọng kết thúc cục diện bi hài này, rồi hướng về hai cặp vợ chồng mới chúc phúc. Kim Long cười méo xệch, Giải Phóng cúi đầu muốn khóc, còn Hỗ Trợ và Hợp Tác thì chẳng biểu lộ một thái độ gì. Đưa tay vẫy Kháng Mỹ, Bàng Hổ nói:
- Đem quà lại đây!
- Xem anh kìa, bí thư Bàng! Anh đến là làm cho nơi quê nhà này sáng rỡ lên rồi, còn mang theo quà làm gì?
Trên tay Kháng Mỹ là một khung kính, một góc viết hàng chữ “Chúc mừng Lam Kim Long Hoàng Hỗ Trợ kết thành đôi vợ chồng cách mạng”. Trong khung kính là ảnh Mao Chủ tịch mặc áo khoác dài, tay cầm dù, chụp lúc Chủ tịch đến vùng An Nguyên đốc thúc công nhân mỏ đấu tranh. Vương Lạc Vân cũng cầm một bức ảnh như thế, chụp Mao Chủ tịch mặc áo đại cán đứng ở bờ Bắc Đới Hà, có dòng chữ giống như bức kia, chỉ thay tên Giải Phóng và Hợp Tác. Đúng ra Kim Long hoặc Giải Phóng đứng dậy nhận, song hai người vẫn cứ ngồi im bất động. Lão Hồng đành phải bảo Hỗ Trợ và Hợp Tác đứng lên nhận quà. Thần trí hai chị em nhà này xem ra vẫn rất bình thản, nhận quà xong Hỗ Trợ còn cúi đầu thi lễ trước Vương Lạc Vân, khi ngẩng lên thì nước mắt đã lưng tròng. Đôi bím tóc vừa dài vừa thô, dài đến đầu gối đung đưa. Vương Lạc Vân trìu mến vuốt bím tóc, hỏi:
- Không nỡ cắt đi à?
Thu Hương chộp lấy cơ hội này để mở miệng:
- Chị à, không phải không nỡ cắt, đầu tóc con gái tôi không giống với ai cả, hễ cắt đi là da đầu chảy máu!
- Thế thì kỳ lạ thật, thảo nào sờ có chất nhờn. Té ra là thông với huyết mạch trong người!
Hợp Tác nhận quà từ tay Bàng Kháng Mỹ nhưng không thi lễ mà sắc mặt lại trắng bệch, nói lí nhí một câu cám ơn. Bàng Kháng Mỹ thân thiện đưa bàn tay về phía nó, nói: Chúc chị hạnh phúc! Nó bắt tay cô bé, ngoảnh mặt đi, nói như khóc: Cảm ơn bạn! ...
Hợp Tác vẫn giữ nguyên cái đầu cắt ngắn rất môđen của thời ấy, eo nhỏ lưng thon, nước da ngăm đen. Theo tôi thì cô ấy đẹp hơn hẳn Hỗ Trợ. Ông mà cưới được cô ấy, đúng là quá vinh dự cho ông, có điều gì không vừa lòng không phải là ông mà là cô ấy. Ông có tốt đến nghìn vạn lần, song chỉ cần có cái bớt xanh trên mặt là đã đủ để người ta sợ đến chết. Ông xứng đáng xuống âm phủ làm sai nha cho Diêm Vương hơn là làm quan trên dương thế, nhưng mà ông vẫn cứ làm quan, ông vẫn cứ xem thường Hợp Tác. Thế giới này nhiều chuyện vô lý, không thể hiểu nổi. Hồng Thái Nhạc kéo ghế mời ba người nhà họ Bàng ngồi. Lão chỉ vào chỗ ngồi của Mạc Ngôn, chẳng hề khách sáo bảo: Các ông các bà ngồi xích lại một tí, để thừa một chiếc ghế băng. Mọi người rùng rùng đứng dậy, cảnh tượng trở nên náo loạn, thi thoảng có mấy tiếng thở dài chán ngán. Mạc Ngôn vác chiếc ghế đến đặt cạnh chiếc bàn vuông. Lúc này bốn phía của chiếc bàn đã ngồi kín người. Mạc Ngôn chẳng bỏ lỡ cơ hội, nói oang oang:
- Vào chung hang, có ba người khách không mời mà đến, kính trọng họ, sau này sẽ tốt!
Vị anh hùng không hiểu nổi câu nói này cho nên thần sắc chẳng có gì thay đổi, song cô sinh viên Kháng Mỹ thì ngạc nhiên đến sững sờ, hỏi:
- Anh đã đọc “Kinh Dịch” rồi à?
- Không dám nói tài cao tám đấu, chỉ tiếc rằng chỉ đủ năm xe! Mạc Ngôn tiếp tục ba hoa không biết xấu hổ.
- Được rồi, ông trời con! Ông đừng đứng trước cửa miếu Khổng Phu tử mà đòi đọc “Tam tự kinh” nữa. Trước mặt một sinh viên đại học mà còn dám khoe khoang! Hồng Thái Nhạc nói.
Bàng Kháng Mỹ gật gật đầu, tán thưởng:
- Quả thật anh ta cũng có ít nhiều kiến thức.
Mạc Ngôn định mở miệng nói thêm nhưng gặp phải cái lừ mắt của lão Hồng, đằng sau Tôn Báo đã áp sát, ra vẻ thân thiện nắm tay, nói: Uống rượu đi, uống rượu đi! Nó đành ngồi im.
- Uống đi, uống đi!
Mọi người chờ đợi quá lâu, được lời Tôn Báo như mở cờ trong bụng, đứng cả dậy uống cạn chén rượu mừng. Trên bàn ngoài trái cây ra còn có bánh quẩy. Đó là mục tiêu chính của mọi người cho nên họ rùng rùng ngồi xuống, vơ lấy đũa gắp loạn xạ. Chuyện ăn uống của Mạc Ngôn thì cả thiên hạ đều biết, nhưng đêm nay nó lại tỏ ra nhã nhặn vô cùng. Tôi đoán, nguyên nhân duy nhất là có Bàng Kháng Mỹ, tuy nó đang ngồi ở chiếu dưới song tôi biết tâm tình của nó đang hướng về bàn chủ tọa. Đôi mắt của nó thi thoảng liếc nhìn về phía ấy. Có lẽ cô sinh viên đã hớp hồn nó, đúng như trong một bài tùy bút, nó viết nhặng xị thế này:
“Bắt đầu từ lúc trông thấy Bàng Kháng Mỹ, trái tim tôi đột nhiên rung lên dữ dội. Trước đây Hỗ Trợ, Hợp Tác, Bảo Phượng dưới mắt tôi đều là mỹ nhân, là tiên nữ thì bây giờ họ đều biến thành những con người thô tục, xấu xí. Chỉ có rời khỏi làng Tây Môn này thì mới có thể tìm thấy những người phụ nữ như Bàng Kháng Mỹ. Thân hình cô ta sao mà kiều diễm, gương mặt sao mà hoàn thiện, hàm răng trắng đều, giọng nói nhẹ nhàng êm ái, toàn thân toát lên một mùi hương quyến rũ...”
Như đã kể, Mạc Ngôn chỉ uống một bát rượu đã say, Tôn Báo vứt nó vào nhà chứa cỏ nằm với xương lợn. Kim Long ngửa cổ uống rượu ừng ực, đôi mắt dài dại bỗng trở nên linh hoạt hẳn. Nghinh Xuân lo lắng nói nhỏ: Kim Long, uống ít thôi! Lão Hồng vẫn cái giọng dạy đời muôn thuở, nói:
- Kim Long, tất cả những gì của quá khứ bỏ qua, cuộc sống mới bắt đầu từ hôm nay. Những vở diễn tiếp theo, anh hãy vì tôi mà hát cho tốt!
Kim Long nói:
- Hai tháng nay, hình như tôi có một cái gì chẹn ngang dòng máu chạy lên não khiến tôi mê sảng, bây giờ đột nhiên khai thông. Tôi tỉnh rồi!
Anh ta bưng bát rượu lên, chạm với vợ chồng Bàng Hổ.
- Bí thư Bàng, dì Vương! Cảm tạ hai người đã đến dự hôn lễ của cháu, cảm tạ hai người đã tặng cháu món quà quý giá này.
Rồi chạm với Bàng Kháng Mỹ:
- Đồng chí Kháng Mỹ, đồng chí là sinh viên, là phần tử trí thức cao cấp, hy vọng đồng chí sẽ chỉ đạo công tác nuôi lợn của trại chúng tôi sau này. Chớ có khách sáo, chuyên ngành của đồng chí là chăn nuôi gia súc, bây giờ nói không hiểu thì trên thế giới này chắc cũng chẳng có ai hiểu được đâu!
Chứng điên của Kim Long đến đây là kết thúc, anh ta bắt đầu khôi phục khả năng khống chế hoàn cảnh của mình. Rượu mừng đã uống xong, lời cảm ơn cũng đã nói, cuối cùng anh ta như vẽ rắn thêm chân, đổ dầu vào lửa, rót một bát rượu thật đầy đến trước Giải Phóng chúc mừng hạnh phúc, đầu bạc răng long. Hợp Tác đặt ảnh Mao Trạch Đông vào lòng Giải Phóng, đứng hẳn dậy, hai tay đỡ lấy bát rượu. Mặt trăng dường như bay cao hơn một tí, nhỏ lại một tí, chiếu những tia sáng như dát bạc xuống nhân gian khiến cho mọi chuyện diễn ra càng thêm rực rỡ. Bọn chuột trong đống cây mục cũng thò đầu ra nhìn cảnh tượng ly kỳ dưới trăng, bọn chồn càng táo tợn hơn, chạy ra khỏi chỗ nấp, len lỏi giữa đống chân người tìm chút thức ăn thừa rơi vãi. Kể thì chậm mà việc diễn ra thì nhanh. Hợp Tác cầm bát rượu tạt thẳng vào mặt Kim Long, sau đó vứt chiếc bát xuống bàn. Biến cố phát sinh quá nhanh khiến mọi người không kịp phản ứng. Mặt trăng hình như vút lên cao một tí, dưới đất Hợp Tác ôm mặt khóc. Tiếng Hoàng Đồng, Nghinh Xuân, Thu Hương và Hồng Thái Nhạc nói liên thanh:
- Con bé này ...
- Hợp Tác, con làm gì thế?
- Ôi trời, đúng là một lũ không hiểu lý lẽ gì cả!
- Bí thư Bàng, uống đi! Tôi mời anh một chén! Bọn chúng quậy một tí cho vui thêm thôi mà! Nghe nói ở xưởng anh đang tuyển một số nhân viên hợp đồng, tôi thay mặt Giải Phóng và Hợp Tác xin anh một lời, cho chúng nó một cơ hội thay đổi hoàn cảnh sống. Chúng đều là những thanh niên ưu tú, hãy để bọn chúng có cơ hội rèn luyện thêm ...
Hỗ Trợ đứng dậy, cầm chén rượu hắt về phía em gái, gào lên:
- Mày... mày làm gì thế?
Từ trước đến nay tôi chưa hề nhìn thấy Hỗ Trợ xử sự như vậy, cũng không ngờ con bé này lại biết giận dữ đến như thế. Nó rút khăn tay, lau mặt cho Kim Long. Kim Long gạt tay nó xuống nhưng nó vẫn kiên trì lau tiếp. Ôi chao! Một con lợn thông minh như tôi cũng bị cánh phụ nữ làng Tây Môn làm cho hồ đồ mất rồi.
Mạc Ngôn chui ra từ gian nhà chứa cỏ, chân bước xiêu vẹo, lảo đảo tiến về phía chiếc bàn chính, chụp lấy bát rượu đầy giơ cao khỏi đầu. Không biết nó bắt chước Khuất Nguyên hay Lý Bạch mà gào to lên, giọng cực kỳ sảng khoái:
- Chị Hằng ơi chị Hằng! Em kính chị một bát rượu!
Rồi hất tung bát rượu lên trời. Cả không gian như có vô số những hạt ngọc xanh xanh bay lấp loáng. Mặt trăng sà xuống sát đất rồi bay vút lên về lại chỗ cũ, lãnh đạm nhìn những sự việc xảy ra dưới nhân gian.
Đêm nay còn nhiều việc phải làm, thời gian là vô cùng quý giá, không thể trì hoãn. Tôi còn muốn đi thăm ông bạn già Mặt Xanh. Tôi biết ông ta có thói quen tranh thủ làm việc dưới trăng. Thời tôi còn làm trâu, ông ta thường nói: Trâu ơi! Mặt trời là của họ, còn trăng là của chúng ta! Nhắm mắt lại tôi cũng có thể tìm ra mảnh đất dài và hẹp bị bao quanh bởi ruộng của công xã. Một mẫu sáu sào đất này như một ốc đảo vĩnh viễn không chìm giữa biển khơi mênh mông. Mặt Xanh là nhân vật phản diện điển hình của toàn huyện, trở thành lừa và trâu của ông ấy là thời kỳ vinh quang nhất của tôi, vinh quang một cách phản động. Ông ta thường nói với tôi: Chỉ khi nào đất là của chúng ta, chúng ta mới trở thành ông chủ chân chính của đất.
Trên đường đi tìm Mặt Xanh, tôi tạt qua chỗ ở của mình. Hành tung của tôi rất thận trọng và bí mật, có thể nói là vô thanh vô hình. Điêu Tiểu Tam đang rên rỉ, chứng tỏ vết thương của nó chẳng nhẹ chút nào. Hai tay dân quân đang ngồi hút thuốc dưới gốc cây hạnh. Dưói bóng rừng hạnh, tôi chạy qua chạy lại, cảm thấy thân hình nhẹ như chim yến. Chỉ cần vài chục cú nhảy là tôi đã rời khỏi khu vực Hạnh Viên. Một dòng nước trong vắt, rộng chừng năm mét chắn ngang trước mặt tôi. Mặt nước phẳng như gương, mặt trăng dưới đáy nước chăm chú nhìn tôi. Cho dù từ khi trở thành lợn đến nay tôi chưa hề xuống nước nhưng từ bản năng, tôi biết mình có thể bơi được. Để khỏi làm kinh động mặt trăng, tôi quyết định nhảy qua con mương. Tôi chọn một chỗ giậm nhảy tốt nhất bên bờ mương rồi thối lui khoảng mười thước, hít hơi thật sâu để cho không khí đầy ắp buồng phổi, tôi lao tới. Hai chân trước của tôi đạp trên nền đất cứng, hai chân sau bật thật mạnh, toàn thân tôi lao vào không gian như một mũi tên. Gió mát trên mương ve vuốt da bụng, mặt trăng dưới mương nheo mắt nhìn theo. Tôi rơi một cách gọn gàng phía bên kia mương, chân sau giậm lên mép bờ, bùn đất nhão nhoét khiến tôi cảm thấy không thỏa mãn. Tôi men theo con đường đất rộng rãi chạy theo hướng bắc - nam, hai bên đường những cành liễu buông rũ tuyệt đẹp dưới trăng. Tôi tiếp tục ngoặt theo con đường nhỏ đi về phía đông. Hoa quỳ đỏ rực cả con đường. Vọt qua một con đường nữa, tôi tiếp tục chạy đến một con sông lớn, men theo bờ đê chạy thẳng về phía đông. Tôi vượt qua không biết bao nhiêu là thửa ruộng trồng lúa mạch, cao lương, nếp, ngô... và thửa ruộng của ông chủ cũ đã hiện ra trước mắt. Trên ruộng trồng toàn tiểu mạch, loại lương thực bị công xã nhân dân cho là thứ cấp, đã bị bỏ. Mặt Xanh không cần phân bón, không dùng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, không dùng những sản phẩm độc hại của xã hội công nghiệp, hóa chất hiện đại. Đúng là một nông dân bảo thủ điển hình. Thế kỷ hai mươi mốt nhìn lại mới hay rằng, đó là thứ lương thực sạch đúng nghĩa nhất. Bên ruộng công xã, người ta dùng bao nhiêu là thứ thuốc độc, xua đuổi hằng hà sa số những loại sâu bệnh về phía ruộng của Mặt Xanh.
Cuối cùng thì tôi đã trông thấy ông ấy. Ông bạn già, lâu quá không gặp, vẫn tốt đấy chứ? Trăng ơi! Hạ thấp xuống một tí để cho thêm ánh sáng, cho tôi nhìn rõ khuôn mặt ông ấy! Dường như trăng đã nghe lời cầu xin của tôi, giảm độ cao. Tôi dừng lại thở đều, rồi từ từ tiếp cận ông ta. Tiểu mạch tuy là loại lương thực thứ cấp, song trên ruộng Mặt Xanh lại khá tốt tươi, bông lúa vừa mới bắt đầu chín vươn cao đến tận bụng. Ông ấy mặc một bộ quần áo cũ kỹ mà ngày xưa tôi vẫn thường thấy, gương mặt bị cái mũ bện bằng lá cao lương rộng vành che khuất, nhưng tôi vẫn nhìn thấy một bên mặt, cái bớt xanh vẫn sáng ngời trong bóng tối và đôi mắt u buồn song vẫn long lanh những ánh nhìn bất khuất. Tay Mặt Xanh đang cầm một chiếc gậy trúc, đầu gậy buộc một dải vải đỏ, huơ qua huơ lại trên đầu ngọn tiểu mạch. Côn trùng, con thì rơi xuống đất, con thì bay lên tứ tung rồi rơi xuống ruộng của công xã. Đây là cách thức nguyên thủy, tốn nhiều công sức nhằm bảo vệ hoa màu, thoạt nhìn tưởng như chỉ để đối phó với các loại sâu bệnh, nhưng kỳ thực là sự đối kháng ngấm ngầm của Mặt Xanh với công xã. Ông bạn già, lúc làm lừa làm trâu, tôi có thể đồng cam cộng khổ với ông, nhưng bây giờ tôi là lợn của công xã, tôi chẳng có cách gì để giúp ông. Tôi muốn ỉa trên đất ông một bãi lớn nhằm giúp cho đất thêm màu mỡ, nhưng nghĩ lại, nếu chân ông giẫm phải há chẳng phải biến ý đồ tốt thành chuyện xấu hay sao? Tôi có thể cắn nát toàn bộ lúa của công xã, giẫm nhừ ruộng bông của công xã, nhưng lúa và bông nào có phải là địch thủ của ông? Ông bạn già, ông cứ thức suốt đêm mà làm, đừng dao động. Ông là hộ cá thể duy nhất trên toàn Trung Quốc vĩ đại này, ông cứ kiên trì, tất sẽ có ngày thắng lợi!
Tôi ngước đầu nhìn trăng, hình như nó đang gật đầu với tôi rồi đột nhiên vọt cao lên, chạy thẳng về hướng tây. Muộn rồi, tôi phải về đây!
Đang lúc tôi nhổm dậy định dời gót thì bỗng nhiên Nghinh Xuân cầm một chiếc túi xuất hiện trong ruộng tiểu mạch. Bông lúa quyện lấy eo lưng cô ấy, phát ra những âm thanh rào rào. Gương mặt Nghinh Xuân biểu lộ vẻ ân cần của người vợ đang đưa cơm cho chồng. Họ đã ly thân nhưng chưa ly hôn, chưa ly hôn song lâu lắm rồi hình như họ không biết mùi vị của nhau. Nghĩ đến đây tự nhiên lòng tôi ấm lại. Tôi biết, nghĩ như vậy quả là đáng xấu hổ, với một con lợn, hà cớ gì mà tôi lại quan tâm đến chuyện quan hệ ân ái của con người? Nhưng tôi đã từng là Tây Môn Náo, là chồng của cô ta. Người cô ta toát ra mùi rượu nồng nặc, đứng cách Mặt Xanh khoảng hai thước, lặng lẽ ngắm ông ta đang đưa chiếc gậy trúc qua qua lại lại như một chiếc máy từ phía sau lưng. Chiếc gậy không ngừng qua lại, phát ra những âm thanh xào xạc. Có lẽ ông ta đã biết đằng sau lưng có người, mà tôi tin ông ta biết đích xác là Nghinh Xuân nhưng ông ta chẳng dừng tay, chỉ có động tác là chậm lại một tí.
- Ông nhà!... Cuối cùng thì Nghinh Xuân cũng mở miệng nói. Chiếc gậy trúc quơ thêm hai vòng nữa rồi dừng lại giữa không trung.
- Các con kết hôn rồi, mọi chuyện lo lắng của chúng ta đã hết! Nói xong, Nghinh Xuân nén một tiếng thở dài: Tôi mang cho ông một chai rượu. Cho dù bọn chúng không tốt, nhưng đều là con của chúng ta ...
- A!... Mặt Xanh kêu lên một tiếng, chiếc gậy trúc lại quơ thêm mấy vòng.
- Chủ nhiệm Bàng dẫn vợ con đến, lại còn tặng cho mỗi đứa một bức ảnh Mao Chủ tịch... Giọng Nghinh Xuân biểu lộ sự xúc động: Ông ta đã được thăng chức, đã đồng ý nhận Hợp Tác và Giải Phóng vào làm công nhân ở xưởng ông ta. Đó là do bí thư Hồng đề nghị. Ông ấy đối xử với Kim Long, Giải Phóng, Bảo Phượng đều rất tốt. Thực ra ông ấy cũng là người tốt... Ông nhà, ông thấy việc ấy có được không?
Chiếc gậy trong tay Mặt Xanh đột nhiên vung mạnh, một vài con côn trùng va vào gậy, rơi ngay xuống đất giãy chết.
- Được rồi, được rồi! Thôi thì tôi đã nói sai, ông đừng giận dữ! Ông cứ như vậy, mọi người cũng đã quen rồi. Đây là rượu mừng của con, nửa đêm tôi đem đến đây cho ông, ông uống một ngụm nhé. Tôi về đây!
Thò tay vào túi, Nghinh Xuân lôi ra một chai rượu, mở nắp, tiến lên mấy bước chìa ngay trước mặt Mặt Xanh. Chiếc gậy lại dừng và người cũng bất động. Nước mắt Mặt Xanh trào ra, chảy ròng ròng xuống đôi gò má. Dựng chiếc gậy xuống đất, tì vai vào đó, Mặt Xanh ngẩng đầu nhìn mặt trăng tà tà ngả về tây, đón lấy bình rượu song không ngoái đầu, nói:
- Có lẽ mọi người đều đúng, riêng mình tôi sai. Nhưng tôi đã thề bằng máu rằng, sai cũng sai đến cùng.
- Ông nhà, chờ cho Bảo Phượng lấy chồng xong, tôi sẽ rời công xã trở về bầu bạn cùng ông.
- Không! Đã cá thể thì phải cá thể triệt để, chỉ mình tôi làm, chẳng cần ai cả. Tôi không chống đối Đảng Cộng sản, càng không chống đối Mao Chủ tịch, cũng không phản đối công xã nhân dân và tập thể hóa. Tôi chỉ thích làm ăn một mình. Quạ trong trời đất đều đen, tại sao lại không có một con trắng? Chính tôi là con quạ trắng hiếm hoi ấy!
Ông ta giơ cao bình rượu và vung tay thật mạnh. Rượu trong bình bay ra tung tóe. Tôi chưa hề nhìn thấy một hành động nào vừa hùng tráng vừa bi thương đến thế. Rồi một âm thanh trầm trầm cất lên:
- Trăng ơi! Mười mấy năm rồi, chỉ có ngươi bầu bạn, kiếm sống cùng ta. Ngươi là chiếc đèn vô tận mà ông trời đã ban tặng cho ta. Ngươi soi đường cho ta cuốc đất, tỉa hạt và gặt hái... Ngươi không có lời, không giận không hờn, ta mắc nợ ngươi cảm tình sâu nặng rồi. Đêm nay, ta kính ngươi một bình rượu, gọi là tấm lòng biết ơn của ta!...
Những giọt rượu trong vắt bay khắp trời như những hạt trân châu. Ánh trăng run rẩy chiếu rọi khuôn mặt Mặt Xanh. Trong những ngày này, triệu triệu người đang dùng những lời lẽ hay nhất để ca tụng mặt trời, lại có một người đem cả tấm lòng để đối đãi với mặt trăng như thế sao? Mặt Xanh đổ chút rượu còn sót lại trong bình vào miệng rồi nói:
- Được rồi, bà về đi!
Rồi đưa chiếc gậy lên, tiếp tục công việc. Nghinh Xuân quỳ dưới đất, hai tay bắt chéo trước ngực, ngẩng cao đầu nhìn theo trăng. Ánh trăng ôn hòa chiếu sáng khuôn mặt già nua đầy lệ, chiếu sáng mái tóc bạc và đôi môi đang run rẩy ...
Trước tình cảm của hai người, tôi bất chấp hậu quả thế nào, đứng dậy. Tôi tin rằng họ có linh cảm, có thể nhận ra tôi là ai mà không nghĩ tôi là yêu quái. Tôi men theo những luống lúa thẳng hàng, đi bằng hai chân sau đến trước mặt họ, hai chân trước chắp lại trước ngực, cúi đầu thi lễ, mồm phát ra những tiếng kêu nửa lợn nửa người. Cả hai ngớ người ra, sợ hãi tột cùng. Tôi nói:
- Tôi là Tây Môn Náo!
Tôi nghe rõ ràng lời tôi phát ra là tiếng người, nhưng cả hai người lại có phản ứng khác thường. Nghinh Xuân thì kêu rú lên, còn Mặt Xanh thì giơ gậy lên nhằm vào tôi, nói:
- Con lợn thành tinh kia! Nếu mày muốn cắn chết tao thì xin mời, nhưng mày đừng đạp phá ruộng lúa của tao!
Tôi vô cùng đau khổ và thất vọng. Người và động vật có ngôn ngữ và linh hồn không giống nhau, khó mà hiểu được nhau. Tôi hạ chân trước xuống, chạy ra khỏi ruộng lúa, tâm trạng cực kỳ nặng nề. Khi đến gần trại lợn, tôi mới bình ổn trở lại. Vạn vật trong thiên hạ đều có sự an bài riêng, sinh lão bệnh tử, buồn vui ly hợp đều là quy luật tự nhiên, không thể thay đổi. Đang là thân lợn, thôi thì thực hiện trách nhiệm của một con lợn vậy. Với tính cách ương ngạnh và cố chấp, Mặt Xanh đã chẳng ân hận một đời, tôi - Lợn mười sáu - cũng sẽ dùng cái trí tuệ siêu việt và sức khỏe phi thường của mình để làm nên những chuyện kinh thiên động địa, bằng thân xác lợn đi vào lịch sử con người.
Sau khi về lại trại lợn, tôi đẩy chuyện Mặt Xanh và Nghinh Xuân vào quá khứ vì dục tình ở ba mươi cô lợn cái đã đến hồi đỉnh điểm. Điêu Tiểu Tam đang ve vãn cô lợn lông hoa ở ngay giữa trại. Hai mươi chín cô còn lại đã có mười bốn cô nhảy xổng ra khỏi chuồng, mười lăm cô kia hoặc đang cắn cổng chuồng, hoặc ngồi ngắm trăng và kêu lên những âm thanh đầy dục tính... Một quang cảnh giao phối nồng nhiệt bắt đầu triển khai...
Chuyện này chưa xong thì chuyện khác lại ập đến. Mẹ kiếp! Thế là làm sao?
29
Tây Môn Lợn đại chiến Tiểu Tam,
Bài ca nhỏ hòa niềm hoan lạc.
Điêu Tiểu Tam đứng dựa lưng vào gốc cây hạnh trứ danh, chân phải đè lên một chiếc mũ rơm đựng đầy quả hạnh, thi thoảng lại dùng chân trước kẹp lấy một quả bỏ vào mồm. Chỉ chớp nhoáng, nó đã nhai nát quả hạnh, phun hạt ra xa đến vài mét. Nhìn cái dáng vẻ phong lưu của nó, tôi nghi ngờ rằng chắc gì nó đã bị thương trong chuyện vừa rồi. Dưới một gốc cây hạnh nhỏ cách Điêu Tiểu Tam khoảng năm mét, cô lợn lông hoa có tên là Mê Hồ Điệp phóng đãng đang dùng một chân đưa cao chiếc gương, còn chân kia kẹp lấy chiếc lược bằng sứ chải chuốt, ngắm nghía ra chiều lẳng lơ lắm. Con lợn cái ngu ngốc kia, nhược điểm của mày là hám lợi. Chỉ một chiếc gương rẻ tiền và một chiếc lược gãy mà mày đã mặc nhiên nhận nó làm người tình ư? Cách chỗ ấy khoảng vài chục mét, những cô lợn nái khác trèo tường ra ngoài đang tụ tập, mồm kêu vang trời, đều đổ dồn cặp mắt về phía bên này. Thi thoảng Điêu Tiểu Tam lượm một vài quả hạnh trong mũ ném sang, mỗi quả hạnh rơi xuống là cả đàn lợn diễn ra một cuộc tranh giành. Anh Tam, anh Tam! Không chỉ có lợn hoa mà tất cả chúng em đều thích anh, chúng em ai cũng tình nguyện cùng anh làm công việc truyền tông tiếp đại... Bao nhiêu là lời dâm đãng được tung ra để khiêu khích Điêu Tiểu Tam. Cảm giác ngay lập tức có được cả đàn thê thiếp khiến thằng cha này quên mất mình là ai, phiêu lãng trong cõi tiên cõi mộng. Nó nghiêng người, mồm be be một khúc nhạc rồi bắt đầu nhảy múa điên cuồng trên thảm cỏ. Mười mấy cô lợn cũng cất tiếng hòa vào điệu hát của nó, chúng cắn đuôi nhau chạy thành vòng tròn, có đứa thì nằm dưới đất lăn lộn. Bọn này trí tuệ thấp kém, cử chỉ thô thiển khiến tôi cảm thấy mất hứng. Đúng lúc ấy, Mê Hồ Điệp đặt gương và lược xuống gốc cây hạnh, lúc lắc đôi mông, ve vẩy đuôi, từng bước tiến về phía Điêu Tiểu Tam. Sắp đến nơi, cô ả bỗng nhiên cúi đầu, đưa cao mông lên trời. Tôi tung người như một con linh dương ở sa mạc châu Phi, rơi ngay vào giữa Mê Hồ Điệp và Điêu Tiểu Tam, làm cho chuyện yêu đương sắp thành hiện thực của chúng cũng rơi vào ảo mộng.
Sự xuất hiện của tôi khiến cho dục tình của Mê Hồ Điệp tạm thời giảm xuống. Cô ả thối lui trở về bên gốc cây hạnh, dùng chiếc lưỡi đỏ đỏ liếm mấy miếng vỏ cây hạnh cho vào mồm nhai nhai. Thấy kẻ lạ thì tâm tình thay đổi vốn là tính tự nhiên của lợn cái, nhờ vậy mới có thể đảm bảo việc tiếp nhận những tinh trùng ưu tú nhất vào tử cung để kết hợp với trứng, hình thành những đứa con khỏe mạnh nhất. Lý lẽ này thật đơn giản, phàm là lợn đều hiểu rõ, Điêu Tiểu Tam trí tuệ vượt bậc, há không hiểu sao? Hai chân trước cào cào xuống đất làm cỏ và những quả hạnh văng lên tứ tung, nó nhắm tôi xông tới, nghiến răng kèn kẹt chửi ầm lên:
- Đồ chó đẻ kia, mày phá hỏng chuyện tốt lành của tao rồi!
Mắt tôi tinh, chân tôi nhanh, hai chân trước tôi vươn lên cao, đứng thẳng người bằng hai chân sau, tôi xoay người một cái, chộp lấy cái mũ rơm đựng quả hạnh, nhân sức chuyển động quán tính, tôi tung nó lên trời. Cái mũ rơm màu vàng vạch một đường sáng chói trong không gian và bay thẳng lên mặt trăng đang treo lơ lửng trên cao. Một bài ca về chiếc mũ rơm vang vọng trên không trung:
La la la... La ya la ya la ya... Chiếc mũ rơm bay cao a! Chiếc mũ rơm bay lên cung trăng... Trong tiếng reo hò của bầy lợn nái a!
Không chỉ đám lợn cái ở đây nhảy nhót theo tiếng nhạc huyền diệu ấy mà cả trại lợn, con nào biết nhảy một tí đều nhảy lung tung nhặng xị cả lên, con không biết nhảy thì vin chân trước vào tường, ngước nhìn cảnh tượng kỳ dị ấy. Bốn chân chạm đất, thật bình tĩnh và cũng thật nghiêm trang, tôi nói:
- Lão Điêu! Không phải là tao muốn phá hoại cuộc vui của mày, mà là vì tương lai của loài lợn chúng ta...
Chân sau giậm mạnh mấy cái, người thẳng đứng, tôi xông thẳng về phía nó. Nó cũng đang hung hãn lao về phía tôi. Trên độ cao hai mét, tôi và nó gặp nhau, mồm và mồm cùng gào thét và va vào nhau. Mồm của nó cứng thật và cũng phả một mùi thơm thật ngọt ngào. Đột nhiên, bên tai tôi văng vẳng khúc nhạc về chiếc mũ rơm, tôi từ trên cao rơi xuống đất, lộn một vòng rồi đứng dậy. Đưa chân quệt ngang mũi, một vệt máu màu lam dính trên lông chân, tôi hạ giọng chửi:
- Mẹ mày, đồ tạp chủng!
Điêu Tiểu Tam cũng lộn một vòng rồi đứng dậy. Đưa chân quệt ngang mũi, cũng một vệt máu màu lam dính trên lông chân. Nó hạ giọng chửi:
- Mẹ mày, đồ tạp chủng!
La la la... La ya la ya la ya... Chiếc mũ rơm mẹ cho đã bay a...
Khúc nhạc chiếc mũ rơm lại vang vọng trên không trung, mặt trăng như đang quay trở lại và dừng ngay trên đỉnh đầu chúng tôi. Chiếc mũ rơm lặng lẽ bay vòng quanh nó như tàu vũ trụ bay quanh chuẩn bị hạ cánh.
La la la... La ya la ya la ya... Chiếc mũ rơm mẹ cho đã bay a...
Đàn lợn đứa vỗ chân, đứa giậm chân, đứa kêu... phối hợp tiết tấu rồi đồng thanh cất tiếng ca.
Tôi nhón người lấy một nhúm lá hạnh, nhai nát rồi nhả ra, dùng móng đắp vào chỗ bị thương, chuẩn bị đợt tấn công thứ hai. Hai lỗ mũi của Điêu Tiểu Tam đang chảy máu ròng ròng, những giọt máu màu lam giống như máu quỷ nhỏ thành dòng xuống đất. Tôi mừng thầm. Hiệp đấu thứ nhất coi như bất phân thắng bại, nhưng thực ra tôi đã chiếm thế thượng phong. Chỉ có một lỗ mũi của tôi chảy máu, còn nó thì cả hai. Tôi hiểu rằng, nhờ quả pháo kia mà tôi mới có ưu thế này, nếu không thì chiếc mũi của tôi quyết không phải là đối thủ của con lợn vùng núi Nghi Mông ngày nào cũng cày sỏi đá kiếm ăn kia. Đôi mắt của Điêu Tiểu Tam đảo qua đảo lại lên tục như muốn tìm vài cái lá hạnh. Thằng cháu cứng đầu kia! Mày cũng muốn dùng lá hạnh đắp vào đôi lỗ mũi đang chảy máu à? Ông không cho mày cơ hội ấy đâu! Tôi thét lên mấy tiếng, ánh mắt như hai chiếc đèn pha chiếu thẳng vào mắt nó, đồng thời dùng toàn lực, xốc tới...
Vô cùng quỷ quyệt, Điêu Tiểu Tam không xông lên để trực diện đối đầu với tôi mà như con cá chạch, nó trườn về phía trước mấy bước khiến tôi lao vào khoảng không. Tôi bay trên không trung, đâm thẳng vào cây hạnh nghiêng. Tôi nghe bên tai tiếng cành cây gãy răng rắc rồi đụng vào một cành to bằng bắp tay, dừng lại và rơi xuống đất. Đầu tôi đập đất trước tiên, kế đến là sống lưng. Tôi lăn một vòng rồi đứng dậy, đầu choáng mắt hoa, mồm đầy đất,
La la la... La ya la ya la ya... Tiếng hát của bầy lợn nái vẫn chưa dứt. Bọn này không thuộc về tôi, mà đều là ngọn cỏ trước gió, ai thắng thì bọn chúng đều đưa mông về phía kẻ thắng thôi, kẻ thắng sẽ làm vua. Điêu Tiểu Tam đắc ý đứng thẳng dậy, vòng tay trước ngực hướng về phía bọn lợn nái tỏ ý cảm tạ sự cổ vũ rồi đưa chân lên làm một cái hôn gió, cho dù lỗ mũi nó vẫn đang chảy máu. Máu ướt đẫm cả khuôn ngực nó nhưng bọn lợn nái vẫn hướng về nó reo hò. Nó càng đắc ý, đường hoàng tiến về phía tôi, dùng mõm cắn cành cây đầy quả vừa bị tôi đè gãy đang nằm dưới mông tôi lôi đi. Thằng oắt này ngông cuồng thật! Nhưng đầu tôi đang choáng.
La la la... La ya la ya la ya... Tôi nhìn trừng trừng cảnh tượng nó cắn cành cây trĩu quả lôi đi một cách nặng nề, lâu lâu dừng lại để thở .
La la la... La ya la ya la ya... Tam ca, giỏi a anh hùng a !... Nghe tiếng hát, tôi nộ khí xung thiên, muốn lập tức xông lên... Song ái da! Đầu tôi đau quá !
Điêu Tiểu Tam lôi cành cây đầy quả đến trước mặt Mê Hồ Điệp, đứng thẳng lên như người, chân phải lui nửa bước, khom lưng, chân trước chìa về phía trước trông giống như một thân sĩ mời một cô nương xinh đẹp khiêu vũ.
- Xin mời! Tiểu thư ...
Rồi giơ tay chào đám lợn cái và tất cả những con lợn khác còn đang bị nhốt trong chuồng, Cả trại lợn cất tiếng hoan hô vang dội. Trong khoảnh khắc, cành hạnh đã bị đám lợn cái tranh nhau biến thành bảy tám nhánh nhỏ. Có một con lợn đực cả gan vượt chuồng chạy đến đám đông đang hỗn loạn, cướp được một cành nhỏ rất sai quả, đắc ý kêu lên mấy tiếng và lắc đầu thật mạnh. Nhanh như chớp, Điêu Tiểu Tam xông đến và một cú đớp trời giáng, con lợn đực tội nghiệp kêu lên đau đớn và cụp đuôi bỏ chạy thục mạng. Đám đông yên lặng một cách nặng nề.
Tôi biết, nếu chỉ dùng sức thôi thì tôi sẽ tiếp tục thất bại. Thất bại vì đánh nhau thì chẳng có gì là ghê gớm, song điều đáng sợ nhất là cả đám lợn cái kia đều trở thành thê thiếp của Điêu Tiểu Tam. Năm tháng sau, trại lợn sẽ có thêm mấy trăm con tiểu yêu tinh mồm dài tai nhọn. Tôi thử quẫy đuôi, vận động gân cốt, nhổ đất trong mồm ra rồi nhai vội mấy quả hạnh. Trên đất đang phủ một lớp quả dày, nhiều quả bị thân hình tôi đè cho dúm dó. Quả hạnh đã bắt đầu chín, mùi vị ngọt lịm như mật ong. Ăn xong mấy quả, tôi đã bình thường trở lại. Trên trời cao, chiếc mũ rơm vẫn bay lượn vòng quanh mặt trăng, lúc thì màu vàng, lúc thì màu trắng và tiếng hát vẫn cứ văng vẳng đâu đó.
Điêu Tiểu Tam đang dùng chân trước kẹp lấy một cành hạnh nhỏ đưa đến tận mồm Mê Hồ Điệp. Cô ả nũng nịu không ăn:
- Mẹ em dặn không được tùy tiện ăn cái gì của đàn ông ...
- Mẹ em nói bậy bạ đấy! Điêu Tiểu Tam thô lỗ bứt một quả dí vào mõm cô ả rồi thừa cơ hôn một cái rõ kêu lên vành tai xinh đẹp của cô nàng. Phía sau, đám lợn cái đồng thanh hô vang:
- Kiss một cái nữa! Kiss một cái nữa!
La la la... La ya la ya la ya!... Hình như bọn chúng đã quên mất sự có mặt của tôi, cho rằng thắng bại đã rõ, tôi đã chịu thua. Bọn chúng hầu hết đều cùng đến đây với Điêu Tiểu Tam từ vùng núi Nghi Mông, tất nhiên tình cảm dành cho thằng này nhiều hơn tôi. Mẹ nó! Thời cơ đây rồi!
Tôi ngầm vận đủ công lực, chạy thẳng về phía Điêu Tiểu Tam. Thân thể tôi bay vèo trên không trung, Điêu Tiểu Tam giở lại ngón cũ, luồn qua dưới bụng tôi tránh. Đồ ranh con, điều ông cần chính là đây! Tôi nhẹ nhàng rơi xuống ngay gốc cây hạnh gầy gò, sát bên cạnh Mê Hồ Điệp, tức là tôi và Điêu Tiểu Tam đã hoán đổi vị trí cho nhau. Tôi giơ chân trước lên tát nhẹ vào má Mê Hồ Điệp, đồng thời xô nó ngã lăn ra đất. Mê Hồ Điệp kêu khóc vang trời. Tôi biết Điêu Tiểu Tam sẽ xộc quay trở lại, mà hai hòn dái, cũng là chỗ yếu nhất trên người tôi, sẽ là chỗ tấn công thích hợp nhất của nó, nếu để nó húc vào hoặc một cú đớp, tất cả sẽ kết thúc. Đây là một nước cờ trí mạng! Tôi ngoái đầu nhìn ra sau, chờ thời cơ. Điêu Tiểu Tam ngoác to mồm, thở phì phì, bọt mép sùi ra toàn là máu, mắt phát ra những tia nhìn hung ác, xông đến.
La la la la... La ya la ya la ya... Trong một giây, hai chân trước tôi chống vào thân thể của Mê Hồ Điệp đang nằm dưới đất, hai chân sau cất vổng lên trời. Điêu Tiểu Tam như một viên đạn lao đến định húc vào bụng tôi, đúng lúc mõm nó tiếp xúc với bụng tôi thì toàn thân tôi đổ ụp xuống lưng nó. Chẳng cho nó một cơ hội để hóa giải thế đánh trí mạng này, hai bộ móng cứng như sắt ở chân trước của tôi vừa chính xác vừa hung bạo chụp đúng vào đôi mắt đầy sát khí của nó...
La la la... La ya la ya la ya... Chiếc mũ đã bay lên mặt trăng, mang theo tình yêu và lý tưởng của ta a... a... a...! Đòn này quả là ác độc, nhưng hoàn thành đại cục sá gì tiểu tiết, vả lại cũng chẳng cần phải thuyết giáo về những điều nguỵ thiện, phải không ông?
Điêu Tiểu Tam quẫy đạp dữ dội và cuối cùng cũng hất được tôi khỏi lưng. Hai hốc mắt của nó túa máu, một thứ máu màu xanh, đặc sệt. Hai chân trước bịt lấy mắt, nó lăn lộn dưới đất, gào rú thê thảm:
- Tôi đui rồi!... Tôi không thấy gì cả!...
Cả bầy lợn lặng phắt, kinh hoàng. Mặt trăng cũng bay vù lên cao và bỏ đi, chiếc mũ rơm rơi xuống đất, khúc ca về chiếc mũ rơm cũng im bặt, chỉ còn tiếng kêu đau đớn của Điêu Tiểu Tam vẳng khắp trại lợn. Những con lợn đực cũng đã cụp đuôi về chuồng. Đàn lợn cái dưới sự chỉ huy của Mê Hồ Điệp vây lại thành một vòng tròn, chen chúc nhau đưa mông về phía tôi. Hàng loạt âm thanh rộn ràng vang lên: Ông chủ, ông chủ thân yêu! Chúng em đều thuộc về ông. Ông là vua, là chúa, chúng em là thê, là thiếp. Chúng em đã sẵn sàng làm mẹ của của các con ông...
La la la... La ya la ya la ya...
Chiếc mũ rơm đã bị Điêu Tiểu Tam đè bẹp dúm. Trong lòng tôi tự nhiên trống trải vô cùng, bên tai tựa hồ còn nghe khúc ca chiếc mũ rơm văng vẳng. Tất cả đã trở lại bình thường, trăng vẫn sáng như nước nhưng cảm giác giá lạnh trào dâng, không nén được tôi run lên lập cập, toàn thân ớn lạnh. Giành được giang sơn bằng cách này sao? Xưng vương xưng bá bằng máu như thế này sao? Có lẽ nào tôi lại cần đến chừng ấy thê thiếp sao? Quả thật lúc này, sự hưng phấn của tôi không còn nữa, nhưng những chiếc mông cứ bao vây lấy tôi như một bức tường thành kiên cố khiến tôi không có cách gì để thoát thân. Tôi muốn nương theo gió để bay xa khỏi chốn này nhưng hình như từ trên cao có một âm thanh uy nghiêm vọng xuống cảnh cáo tôi:
- Vua lợn! Ngươi không có quyền bỏ chạy, cũng như Điêu Tiểu Tam không có quyền giao phối vậy. Giao phối với chúng là chức trách thiêng liêng của nhà ngươi! ...
La la la... La ya la ya la ya... Bài ca chiếc mũ rơm như vang lên từ đáy nước. Đúng rồi! Đế vương không có tâm tình, không có chuyện riêng tư. Truyền tông tiếp đại là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đế vương, là hành động có ý nghĩa chính trị! Tôi cần phải trung thành với chức trách của mình, phải giao phối với lợn nái. Tôi phải thực hiện trách nhiệm đưa tinh dịch của mình vào tử cung của chúng, bất luận là chúng đẹp hay xấu, không kể là chúng trắng hay đen, cho dù là còn trinh hay đã từng bị lợn đực trèo lên người. Vấn đề ở chỗ là phải lựa chọn. Tất cả bọn chúng đều đang thèm muốn, đều bốc lửa, nên chọn ai để giao phối đầu tiên, hoặc có thể nói, nên ban cho ai hạnh phúc đầu tiên?
Tôi chợt nghĩ, phải có một con lợn đực nào đó giúp tôi giải quyết chuyện này. Lợn đực thì có nhiều, song không còn kịp nữa rồi. Mặt trăng có lẽ cũng đã sắp hoàn thành trách nhiệm chiếu sáng dương gian trong đêm nay, đang lưu luyến nhìn chúng tôi từ phía tây. Phía đông, một màu trắng bạc đã rực lên. Bình minh đang đến, sao mai đã sắp mờ. Tôi dùng cái mũi cứng húc nhẹ vào mông Mê Hồ Điệp, biểu thị ý đồ chọn cô ta làm kẻ hưởng hạnh phúc đầu tiên. Cô ta nũng nịu những lời ngọt lịm:
- Đại Vương! Thiếp chờ đợi mãi, cuối cùng cũng đã đến giờ phút hạnh phúc này...
Tôi tạm thời quên tất cả chuyện cũ, cũng chẳng cần để ý đến những gì xảy ra sau này. Tôi hoàn toàn biến thành một con lợn đực thuần túy, giơ chân trước lên bám vào eo lưng của Mê Hồ Điệp...
La la la... La ya la ya la ya... bài ca chiếc mũ rơm lại vang lên, cùng với tiếng nhạc réo rắt là một giọng nam cao, hoành tráng vang lên làm rung động cả trời đêm:
Chiếc mũ rơm của mẹ, Bay lên trăng mất rồi, Mang theo ái tình và lý tưởng của tôi...
Cả bầy lợn cái chẳng tỏ vẻ gì đố kỵ vì hạnh phúc của Mê Hồ Điệp, cắn đuôi nhau vây thành một vòng tròn, nhảy múa theo khúc ca chiếc mũ rơm. Tiếng chim bắt đầu hót vang trong vườn hạnh, ánh bình minh đỏ rực cả không gian. Lần giao phối đầu tiên của tôi kết thúc một cách viên mãn.
Đang lúc tôi tụt xuống khỏi lưng Mê Hồ Điệp, bà Bạch quảy một đôi thùng thức ăn đến trại. Tôi dùng chút sức lực cuối cùng nhảy qua bức tường trở về nằm trong chuồng, chờ đợi sự chăm sóc của bà. Mùi đậu đen và lúa mạch khiến nước bọt tôi túa ra đầy mồm. Tôi đói rồi. Bên ngoài, gương mặt bà Bạch được ánh bình minh chiếu rọi, sáng rực, đỏ au. Trên hai gò má bà hãy còn buông đôi dòng lệ, nói với tôi đầy cảm khái:
- Lợn mười sáu ơi! Kim Long và Giải Phóng đã kết hôn, mày cũng đã có vợ rồi. Chúng mày đều đã lớn ...
30
Dùng tóc thần cứu mạng Tiểu Tam,
Bệnh dịch phát, trại lợn diệt vong.
Tháng tám năm ấy thời tiết nóng bức dữ dội, mưa liên tục như trời bị chọc thủng vậy. Con mương bên cạnh trại lợn lúc nào cũng ăm ắp nước, đất đai bị nước bao phủ. Mười mấy cây hạnh già nua rụng hết lá chờ chết. Trong trại lợn, các loại gỗ dùng để đỡ mái nhà mọc đầy nấm mốc trắng nhờ. Cứt và nước đái lợn thối hoăng, chua loét. Cả trại lợn bốc lên mùi cây mục, mùi thức ăn lên men. Loài ếch nhái lâu nay nấp kín ở đâu đó, bắt đầu rền rĩ chung quanh khiến tôi ngủ không thể yên giấc.
Ở Đường Sơn lại xảy ra một trận động đất dữ dội, ảnh hưởng đến tận trại lợn Hạnh Viên khiến mười mấy cái chuồng vốn xiêu vẹo đã đổ ụp. Mái chuồng tôi cũng rung lên bần bật. Lại một trận mưa đá khủng khiếp với những viên đá to, kèm theo là tiếng rít rợn người xé rách màn đêm đổ xuống. Mặt đất run rẩy. Đúng lúc này, hơn hai mươi lợn nái cũng đã sắp đến ngày sinh nở.
Điêu Tiểu Tam vẫn ở bên cạnh tôi. Sau cuộc chiến, mắt phải của nó đui hẳn, mắt trái còn nhìn thấy mờ mờ. Đó là bất hạnh của nó song cũng làm cho tôi có một chút ân hận. Trong những ngày ấy, có hai con nái được tôi giao phối nhiều lần mà vẫn không mang thai, tôi từng nghĩ là để cho Điêu Tiểu Tam giao phối với chúng, coi như là tôi xin lỗi nó. Không ngờ nó lại lãnh đạm nói:
- Lợn mười sáu! Kẻ sĩ có thể chết nhưng không thể chịu nhục. Điêu Tiểu Tam ta đã chịu thua, mày hãy tự trọng. Không cần phải dùng cách ấy để sỉ nhục tao!
Lời của nó khiến tôi suy nghĩ rất nhiều, tôi đã bắt đầu cảm thấy kính nể nó. Kể từ ngày đánh nhau, tính khí của nó trở nên thâm trầm, sự lố lăng và ba hoa đã biến mất. Việc này có liên quan đến tôi, cũng có thể chẳng liên quan gì đến tôi cả. Những người phục vụ ở trại đem hai con lợn nái không mang thai ấy đến để giao phối với nó. Nó ngồi phía sau chúng, chẳng có một phản ứng gì gọi là động tình, như một tảng đá bất động, trầm mặc. Người ta tưởng nó đã mất khả năng sinh dục và để biến nó thành một con lợn thịt, họ đè nó ra thiến. Đây là một sáng kiến vô liêm sỉ nhất của nhân loại và Điêu Tiểu Tam đã phải chịu nhục hình ấy. Đối với một con lợn chưa hề phát dục, thiến là một chuyện nhỏ, chỉ cần vài ba phút là xong xuôi, song với một con lợn đã thành niên như Điêu Tiểu Tam - chắc chắn đã có một tình sử đầy lãng mạn ở vùng núi Nghi Mông - e rằng phải là một cuộc đại phẫu thuật. Mười mấy tay dân quân đè nó dưới gốc cây hạnh nhưng không dễ gì chế ngự, ít ra có ba người bị nó cắn máu chảy dầm dề. Mỗi người một chân, còn lại đè đầu, đè bụng đè vai... vật ngửa nó ra, đặt ngay bụng nó một chiếc đòn, rồi mấy người đè chặt lấy hai đầu. Mồm của nó cũng bị nhét một viên đá tròn to hơn quả trứng ngỗng. Làm công việc thiến là một lão già đầu hói, tóc chỉ còn lơ thơ vài sợi sau ót và hai bên. Với lão này, tôi đã có một mối thâm thù bản năng. Nghe người ta gọi tên lão, tôi mới nhớ ra lão chính là kẻ đã cướp của tôi hòn dái, đó là Hứa Bảo. Lão đã già lắm rồi, lại mắc bệnh hen suyển, chỉ cần vài cử động là tiếng khò khè đã phát ra. Khi người ta đè Điêu Tiểu Tam ra, lão khoanh tay đứng nhìn một cách thờ ơ. Khi Điêu Tiểu Tam đã bị chế ngự, lão mới dò đến, đôi mắt rực sáng chăm chú nhìn vào giữa hai đùi nó và chỉ bằng một động tác nhanh gọn, hòn dái của Điêu Tiểu Tam đã lòi ra ngoài. Tôi nghe tiếng Kim Long hỏi:
- Chú Bảo, có cần phải khâu lại không?
- Khâu cái con c.! Lão thở hổn hển, văng tục.
Một tiếng hô vang, bọn dân quân đồng loạt buông tay và lùi ra bốn phía. Điêu Tiểu Tam từ từ đứng dậy, nhả hòn đá trong miệng ra. Nỗi đau đớn khủng khiếp khiến nó đứng không vững, lông trên sống lưng dựng đứng, vết thương chảy máu đầm đìa. Nó chẳng kêu, cũng chẳng khóc, chỉ nghiến răng trèo trẹo. Hứa Bảo đứng cạnh gốc cây hạnh, đôi tay đầy máu cầm hai hòn dái của Điêu Tiểu Tam, gương mặt tỏ vẻ hoan hỉ và thỏa mãn. Tôi biết thằng cha này rất thích ăn dái của động vật. Tôi nhớ lại chiêu tuyệt kỹ “Dưới lá trộm đào” của hắn khi tôi còn làm lừa, lão đã lấy của tôi một hòn dái để xào ăn. Mấy lần tôi định nhảy qua tường để cắn dái lão trả hận cho tôi, Điêu Tiểu Tam và tất cả những lợn, trâu, lừa, ngựa khác bị hại dưới tay lão. Từ trước đến nay tôi chưa hề có cảm giác sợ hãi trước con người, nhưng phải thành thực thừa nhận rằng, tôi sợ đồ tạp chủng này. Lão là khắc tinh của giống đực chúng tôi.
Rất khó khăn, Điêu Tiểu Tam mới đi đến chỗ cây hạnh, dùng một bên bụng dựa vào gốc cây rồi nặng nề buông người nằm xuống. Máu chảy loang lổ giữa hai bên đùi nó, thấm ướt cả vạt đất. Giữa lúc thời tiết nóng nực như thế này mà nó vẫn run rẩy.
La la la... La ya la ya la ya... bài ca chiếc mũ rơm bỗng nhiên vang lên, nhưng lần này lời ca đã thay đổi:
Mẹ a... dái của con đã tiêu ma... Dái mẹ cho đã bị người ta cướp mất a... Nước mắt tôi bỗng dưng trào ra ướt đầm má. Đây là lần đầu tiên tôi thấm thía thế nào là ý nghĩa của câu “bầu ơi thương lấy bí cùng” của người xưa, đồng thời cũng có một chút hổ thẹn vì mình đã dùng thủ đoạn không mấy chính đáng khi đánh nhau với nó. Tiếng Kim Long chửi Hứa Bảo:
- Lão già này! Ông làm cái trò quỷ gì thế? Phải chăng ông đã cắt đứt mạch máu của nó?
- Ông nhỏ à, đừng lo! Loài lợn đực này đều như thế!
- Ông làm cách nào để cầm máu lại, nhanh lên. Chảy máu như thế chỉ có chết thôi!
- Chết à? Chết không phải là tốt hơn sao? Giọng Hứa Bảo lạnh tanh: Con lợn này ít ra cũng hơn hai trăm ký. Thịt lợn đực, tuy có già một tí nhưng suy ra vẫn cứ hơn đậu phụ đấy!
Điêu Tiểu Tam không chết, song tôi biết nó đã từng nghĩ đến cái chết. Một con lợn đực mà bị thiến, không chỉ đau về thể xác mà cả về tinh thần, là một sự sỉ nhục. Máu huyết của nó đã được cây hạnh hấp thụ, đến nỗi những quả hạnh của năm sau bên cạnh màu vàng vẫn chen lẫn màu đỏ như máu. Mất máu quá nhiều khiến thân hình nó trở nên gầy đét, trông bộ dạng nó thật thảm hại.
Tôi nhảy ra khỏi chuồng, chạy đến bên nó định an ủi vài câu, song tìm không ra câu nào thích hợp nên vội vàng chạy đến cạnh gian phòng có chiếc máy phát điện hỏng, bứt vội một ít dây và vài quả bí ngô non, đem đến trước mặt nó, nói:
- Lão Điêu! Anh ăn một tí gì đi. Ăn vào sẽ thấy đỡ hơn một chút...
Nó nghiêng đầu, dùng chút thị lực còn lại của mắt trái chăm chú nhìn tôi. Từ cái mõm ngậm chặt, một âm thanh phều phào cất lên:
- Lợn mười sáu! Ngày hôm nay của ta cũng là ngày mai của bạn... Đó là số mệnh của loài lợn chúng ta...
Vừa nói, nó vừa hạ thấp đầu, xương cốt của nó dường như muốn rời ra từng khúc.
- Lão Điêu! Anh không thể chết! Tôi hốt hoảng la lên.
Điêu Tiểu Tam không trả lời. Nước mắt tôi trào ra. Tôi dày vò, tôi ân hận. Điêu Tiểu Tam nếu chết là do lão Hứa Bảo trực tiếp gây ra, nhưng nguyên nhân sâu xa là do tôi...
La la la... La ya la ya la ya... la la... Người anh em, cứ yên tâm mà ra đi. Mong cho linh hồn anh mau mau đến âm phủ, mau gặp Diêm vương để cho anh đầu thai thành người. Anh đừng tiếc nuối gì cả, cứ mà hóa kiếp đi, món hận này tôi sẽ thay anh trả. Tôi sẽ dùng phương thức của Hứa Bảo hại anh để trừng phạt lão...
Trong lúc tôi đang miên man với kế hoạch trả thù thì Bảo Phượng và Hỗ Trợ đến. Có lẽ lúc này Kim Long đang ngồi trên chiếc ghế bằng gỗ biết lúc lắc tại nhà Hứa Bảo để nhấm rượu với món dái lợn đặc biệt. Đàn bà lúc nào cũng thiện lương hơn đàn ông! Mặt Hỗ Trợ đầy mồ hôi, đôi mắt đầy lệ, dường như cô ấy nhìn Điêu Tiểu Tam không phải là lợn mà là người thân. Lúc này đã là tháng ba âm lịch, cách ngày ông kết hôn đã gần hai tháng. Ông đã cùng với Hợp Tác đến làm việc ở xưởng dệt số năm được một tháng.
... Trong thời gian ấy, tôi - Lam Giải Phóng - theo chủ nhiệm kiểm định chất lượng cùng với một nhóm đàn bà con gái đến từ các làng, huyện khác nhau đang làm sạch bông trước khi chế biến. Xưởng gia công sợi bông có diện tích khoảng một nghìn mẫu, có bờ tường bằng đá vây quanh. Đá xây tường được lấy từ những ngôi mộ ở khắp nơi. Đây là sáng kiến độc đáo nhằm tiết kiệm chi phí của Bàng Hổ. Đá mới ba hào một viên, đá đã xây mộ thì ba xu một viên. Trong một thời gian khá dài, tất cả những người ở đây chưa biết tôi và Hợp Tác là vợ chồng, tôi sống ở cư xá nam, cô ấy ở cư xá nữ. Xưởng gia công làm theo thời vụ, không thể bố trí nhà riêng cho các cặp vợ chồng. Nhưng cho dù là có nhà riêng, chắc gì chúng tôi đã sống cùng nhau. Tôi có cảm giác giữa tôi và Hợp Tác đang diễn kịch, giống như sau một giấc ngủ thật dài, có người nói với tôi: Bắt đầu từ hôm nay, cô ấy là vợ anh, anh là chồng cô ấy. Hoang đường! Khó chấp nhận! Tôi không hề có cảm giác gì với Hợp Tác như đã từng có với Hỗ Trợ. Đây là căn nguyên của sự đau khổ suốt đời tôi. Ngày đầu tiên vào xưởng gia công sợi bông, người đầu tiên tôi gặp là Bàng Xuân Miêu. Con bé lúc ấy chỉ khoảng sáu tuổi, môi hồng má đỏ, trông rất khả ái. Con bé đang luyện tập ngay trước công xưởng, mặc chiếc quần sóc xanh và áo sơ mi trắng, vớ hồng giày trắng. Dưới sự cổ vũ của rất nhiều người, con bé uốn gấp lưng, hai tay chống đất, hai chân vắt qua vai, toàn thân cong hình vòng cung, đi chầm chậm. Vương Lạc Vân, mẹ con bé chạy đến, đỡ nó dậy mắng yêu:
- Con gái cưng, sao lại chơi trò nguy hiểm như thế này?
Con bé như không bằng lòng, ngúng nguẩy:
- Mẹ, con đang tập luyện mà ...
Cảnh tượng này lúc nào cũng ẩn hiện trong tâm trí tôi, nhưng thời gian trôi chảy cứ vô tình, mãi đến mười mấy năm sau... Lúc ấy, cho dù Gia Cát Lượng tái thế, Lưu Bá Ôn sống lại cũng không thể tiên đoán được là tôi - Lam Giải Phóng - lại bỏ chức quan, bỏ cả gia đình để chạy theo tình yêu với con bé ấy, trở thành một sự kiện tồi tệ nhất trong lịch sử Đông Bắc Cao Mật. Nhưng tôi tin rằng tiếng xấu ấy rồi sẽ có ngày được người ta thấu hiểu để trở thành một câu chuyện tình ly kỳ, lãng mạn. Bạn tôi, Mạc Ngôn, đã từng dự báo như thế lúc chúng tôi đang lâm vào tình thế khó khăn nhất.
Lam - Ngàn - Năm - Đầu - To đập bàn đánh rầm một tiếng, giống như quan tòa thường dùng miếng gỗ gõ xuống bàn khi xử án: Này ông, chớ lạc đề, chớ lẫn lộn lung tung. Nghe tôi nói đây, chuyện của ông sau này sẽ được thời gian và lịch sử kiểm nghiệm. Bây giờ ông hãy tập trung tinh lực nghe tôi kể về lịch sử vinh quang của tôi khi làm lợn đã. Tôi kể đến đâu rồi nhỉ? À, đến đoạn này ...
Chị và chị dâu ông, Bảo Phượng và Hỗ Trợ - chị dâu vẫn cứ là chị dâu - vội vàng chạy đến dưới gốc cây hạnh để cứu Điêu Tiểu Tam. Rất nhiều lần rồi, hễ nhắc đến cái gốc cây nghiêng nghiêng rất lãng mạn này thì ông sẽ trào bọt mép mà hôn mê thôi, nhưng bây giờ, cho dù có mang ông đến đặt dưới gốc cây, liệu ông có buông một tiếng thở dài giống như một cựu chiến binh thương tích đầy mình về thăm lại chiến trường xưa hay không nữa? Thời gian quả là một thầy thuốc vĩ đại, cho dù là nỗi đau có sâu sắc đến bao nhiêu rồi cũng phải liền da và bình phục thôi. Mẹ kiếp! Lúc ấy tôi là một con lợn, sao lại có những suy tư triết lý được như thế nhỉ?
Khi Bảo Phượng và Hỗ Trợ đến chữa trị cho Điêu Tiểu Tam, tôi đứng ngay bên cạnh, khóc như một người bạn khóc một người bạn sắp chết vậy. Ban đầu cả hai cũng giống như tôi, đều nghĩ là Điêu Tiểu Tam đã chết. Nhưng sau khi khám nghiệm, phát hiện tim nó vẫn còn thoi thóp đập, Bảo Phượng quyết định dùng loại thuốc quý hiếm chỉ dùng cho người tiêm cho nó, còn muốn khâu lại vết thương. Nhưng trong túi thuốc lại không có kim và chỉ khâu. Hỗ Trợ thật thông minh và nhanh trí, lấy từ vạt áo trước ngực ra một chiếc kim khâu. Ông cũng đã biết là đàn bà đã có chồng thường giắt theo một chiếc kim bên người để làm gì rồi chứ, đúng không? Nhưng còn chỉ khâu? Hỗ Trợ cúi đầu suy nghĩ một lát, rồi ngẩng lên, mặt ửng đỏ, hỏi:
- Dùng tóc chị làm chỉ khâu được không?
- Tóc chị? Bảo Phượng tròn mắt, hỏi.
- Tóc chị rất dài, lại có mạch máu! Hỗ Trợ lí nhí.
- Chị dâu! Giọng Bảo Phượng rất cảm động: Tóc của chị xứng đáng để gắn chặt Kim Đồng Ngọc Nữ với nhau. Bây giờ dùng để cứu một con lợn, thật phí!
- Em! Hỗ Trợ kêu lên: Em nói kỳ quá. Tóc chị cũng giống như lông lợn, bờm ngựa thôi, chẳng đáng một xu. Nếu không phải bị bệnh, chị đã cắt từ lâu rồi. Nhưng tóc chị không cắt được, chỉ nhổ thôi.
- Chị dâu, thật không sao chứ?
Bảo Phượng vẫn tỏ ra nghi ngại. Hỗ Trợ đưa tay nhổ lên hai sợi tóc. Đây quả là hai sợi tóc thần kỳ, quý giá nhất thế gian, dài khoảng gần một thước, vàng óng ánh. Thời ấy, tóc vàng vẫn bị kỳ thị, song thời nay nó được xem là đẹp, là cao quý. Nó to hơn so với tóc thường, có thể dùng mắt để ước lượng độ nặng của nó. Xâu một sợi vào kim, Hỗ Trợ đưa cho Bảo Phượng. Cô ấy dùng cồn rửa sạch vết thương rồi dùng kéo kẹp lại, bắt đầu khâu.
Cả hai đứa đã bắt đầu chú ý đến sự có mặt của tôi, tỏ ra rất thông cảm khi mhìn thấy đôi mắt tôi đầy nước. Vết thương của Điêu Tiểu Tam chỉ dùng một sợi tóc, sợi còn lại bị Hỗ Trợ vứt xuống đất, ngay lập tức Bảo Phượng nhặt lên, cẩn thận dùng vải gói lại và cho vào túi thuốc. Cả hai cùng nhìn Điêu Tiểu Tam, Bảo Phượng nói:
- Sống hay chết tùy thuộc vào nó. Chị em ta đã hết lòng với nó rồi.
Không biết là thuốc hay là sợi tóc của Hỗ Trợ phát huy tác dụng mà vết thương của Điêu Tiểu Tam không chảy máu nữa, nhịp tim cũng trở lại bình thường. Bà Bạch mang đến cho nó một nửa thùng cháo loãng, nó quỳ trên đất mà uống sạch. Nó không chết quả là một điều kỳ lạ, Hỗ Trợ nói với Kim Long là hoàn toàn nhờ vào Bảo Phượng, nhưng tôi thì nghĩ khác. Tôi cho rằng sợi tóc thần kỳ của cô ấy đã cứu sống Điêu Tiểu Tam.
Sau khi bị thiến, Điêu Tiểu Tam không mập nhanh như mọi người hy vọng. Lợn thịt mà mập lúc nào là bị vào lò mổ lúc ấy. Hình như nó ăn rất ít, không chỉ thế, tôi còn biết nó đêm nào cũng tập những động tác thể dục nặng, tập đến khi nào mồ hôi túa ra như tắm mới thôi. Tôi vừa kính trọng nhưng cũng vừa kiêng dè nó, nghĩ mãi không ra rằng, tại sao nó có nghị lực để mà sống sau khi hứng chịu một sự sỉ nhục tồi tệ như thế, không những sống mà ngày đêm còn rèn luyện sức khỏe để làm gì. Trong thâm tâm tôi đã thừa nhận nó là một anh hùng - một anh hùng chân chính tạm gởi thân nơi chuồng lợn. Con dao của Hứa Bảo đã khiến quá trình trở thành anh hùng chân chính của nó nhanh hơn mà thôi. Tôi tin rằng nó chẳng cam tâm nhịn nhục cho đến khi chết già trong chuồng lợn này mà đang hoạch định một kế hoạch nào đó, có lẽ nó sẽ bỏ trốn nay mai thôi. Nhưng với đôi mắt mù, sau khi trốn nó sẽ làm gì?
Trước khi những con lợn nái đẻ mấy ngày, tức là ngày hai mươi tháng tám năm một ngàn chín trăm bảy sáu, một căn bệnh truyền nhiễm quái ác đã lây lan khắp trại lợn.
Hôm ấy con lợn đực có tên là Húc Đầu bỗng dưng lên những cơn ho dữ dội và phát sốt, bỏ ăn. Bốn con lợn đực cùng chuồng cùng tên cũng có những triệu chứng tương tự. Những người phục vụ chẳng thèm quan tâm gì cả, vì họ vốn có ác cảm với năm con lợn này từ trước. Bọn lợn này chẳng chịu lớn, nếu nhìn từ xa thì bọn chúng chẳng khác gì so với những con lợn có ba đến năm tháng tuổi, nhưng nhìn kỹ mới phát hiện được lông của bọn chúng rất khô, da dày và thô. Chúng ăn nhiều nhưng trọng lượng chẳng hề tăng. Hình như bọn này không có ruột non ruột già gì cả mà thức ăn chỉ lọt qua cổ rồi chảy đến dạ dày, rồi từ dạ dày chảy qua hậu môn thôi. Cho dù thức ăn gì, dù ngon hay dở, sau khi ăn chỉ một tiếng đồng hồ là thấy lộn trở ra đầy chuồng theo đường hậu môn rồi. Chính vì vậy mà lúc nào chúng cũng đói, kêu vang suốt ngày đêm. Nếu không cho ăn kịp, chúng dùng đầu húc vào tường, vào cổng chuồng như bọn điên, húc đến khi nào hôn mê bất tỉnh mới thôi, khi tỉnh dậy lại tiếp tục kêu và húc. Thường thì những người đã lỡ mua phải chúng, chỉ cần sau hai tháng là đã bán thốc bán tháo. Có người đã đề xuất ý kiến, cứ giết thịt chúng đi cho khỏe, nhưng tôi tin rằng sau khi đã thấy chúng, họ sẽ lập tức bỏ ngay ý định ấy, bởi thịt của chúng so với cứt trong các nhà xí công cộng e rằng còn đáng sợ hơn. Do vậy mà chúng mới kéo dài sự sống đến như vậy. Ở vùng Nghi Mông chúng đã được bán đi bán lại nhiều lần, cuối cùng thì người ở đấy cũng đã lừa được Kim Long với giá thật hấp dẫn. Quá rẻ, chưa đến năm đồng mỗi con! Ông không thể nói chúng không phải là lợn được đâu! Trong trại lợn Hạnh Viên, số lượng lợn loại này nhiều nhất!
Với những con lợn như thế mà ho, bỏ ăn và phát sốt cũng không làm cho mọi người để ý. Người phụ trách chăm sóc chúng, cho ăn và làm vệ sinh cho chúng không ai khác hơn là người mà tôi đã đề cập đến rất nhiều, sau này còn nhiều hơn nữa. Đó là Mạc Ngôn tiên sinh. Thằng này đã bằng mọi cách để trở thành người phục vụ trong trại lợn. Cuốn sách “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” làm cho nó nở mày nở mặt sau này, tất nhiên có liên quan đến những điều nó lượm lặt được trong quá trình phục vụ trong trại lợn Hạnh Viên. Nghe đâu vị đạo diễn nổi tiếng Bạch Ca Man muốn đưa bộ tiểu thuyết này lên màn bạc, nhưng không hiểu ông ta sẽ tìm đâu ra nhiều lợn đến như thế để quay phim? Tôi đã nhìn thấy những con lợn hiện nay, cũng giống như gà vịt, ăn quá nhiều chất hóa học và thuốc độc để tăng trọng cho nên nhìn con nào cũng ngu ngu đần đần, điên điên khùng khùng, làm sao mà bì được với chúng tôi trong thời kỳ bảy mươi của thế kỷ trước. Chúng tôi ngày ấy thân thể tráng kiện, trí tuệ bất phàm, đứa nào cũng có cá tính riêng, nói chung là đầy sức sống! Thật khó mà tìm ở đâu ra trên trái đất này những con lợn như chúng tôi. Lợn bây giờ, chỉ cần sau năm tháng đã có thể nặng đến vài trăm cân, làm sao có thể đóng vai quần chúng được chứ? Cho nên, ý tưởng dựng phim “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” của Bạch Ca Man nhanh chóng sẽ tan biến như bong bóng xà phòng thôi. Vả lại, tìm đâu ra những diễn viên lợn sắm vai Lợn mười sáu tôi; ngay cả sắm vai Điêu Tiểu Tam, Mê Hồ Điệp còn khó kiếm nữa là!
Cho dù Mạc Ngôn đến bây giờ vẫn cho mình là đại diện của nông dân Trung Quốc, đã từng gởi thư cho ủy ban Olimpic quốc tế, kiến nghị đưa vào chương trình thi đấu trong các kỳ đại hội một môn mới, đó là thi cuốc đất. Nếu có, anh ta sẽ đăng ký tham dự với tư cách là một vận động viên. Thực ra thì anh ta đang lòe mọi người đấy thôi, nếu ủy ban quốc tế có đưa môn này vào thi đấu thật, chắc gì anh ta đã đoạt huy chương. Kẻ lừa lọc sợ nhất là người cùng làng. Anh ta có thể lừa được người Mỹ, người Pháp, cũng có thể lừa được người Thượng Hải, Bắc Kinh song tuyệt đối không lừa được người làng Tây Môn. Những chuyện tồi tệ của anh ta ở trại Hạnh Viên, dễ gì qua được mắt tôi. Tuy tôi là lợn nhưng trí não có khác gì con người, thậm chí với tư cách lợn, tôi cũng có cơ hội hiểu rõ bản chất xã hội, hiểu rõ quê hương và đặc biệt là hiểu rõ Mạc Ngôn hơn.
Thực ra Mạc Ngôn chưa bao giờ là một nông dân thực thụ. Anh ta gởi thân ở xóm làng nhưng tâm tư lại hướng về phố phường, xuất thân vốn bần tiện nhưng mơ ước cao xa, tướng mạo xấu xí nhưng đua đòi gái đẹp, kiến thức hẹp hòi nhưng tự cho mình như một ông tiến sĩ... Người như thế mà lại trở thành nhà văn, nghe nói ngày ngày ở Bắc Kinh ăn sủi cảo, mà tôi - đường đường là Tây Môn Náo - lại chấp nhận kiếp sống của một con lợn. Ôi, cuộc đời quả là nực cười, nói nhiều cũng vô ích thôi!
Khi làm người nuôi lợn, Mạc Ngôn cũng chưa hề là một người có trách nhiệm. Phúc đức cho tôi là không rơi vào tay anh ta chăm sóc. Người ta để bà Bạch lo cho tôi, đó là vận may của tôi. Tôi đã từng nghĩ rằng, cho dù là con lợn tốt đến mức nào, rơi vào tay Mạc Ngôn chỉ một tháng, không chết cũng điên. Mấy con lợn tên là Húc Đầu kia trong rủi có may, nếu không điên sẵn, làm sao chịu nổi cách chăm sóc của anh ta?
Thực ra, nói một cách công bằng, động cơ ban đầu để Mạc Ngôn đến với trại lợn cơ bản là tốt. Anh ta là đứa hiếu kỳ, lại thích chọc phá. Ban đầu anh ta cũng chẳng ác cảm lắm với những con Húc Đầu này. Anh ta cho rằng sở dĩ những con lợn này không lớn là vì thời gian thức ăn lưu lại trong bụng chúng quá ngắn. Nếu khắc phục được nhược điểm này, nghĩa là phải có thời gian để cho thức ăn tiêu hóa và năng lượng được hấp thụ, lợn sẽ lớn. Suy nghĩ này quả là chính xác. Sau đó thì anh ta bắt đầu thử nghiệm. Cách thức sơ đẳng nhất là làm một cái van nút lỗ đít chúng lại, mở đóng là do người điều khiển. Tất nhiên cách này chẳng đem lại hiệu quả gì, anh ta bèn nghĩ đến chuyện cho thuốc cầm ỉa vào thức ăn. Cách này xem chừng hiệu nghiệm, dễ thực hiện vì đông y hay tây y đều có loại thuốc này, nhưng giá cả lại quá cao, người uống còn đắt huống chi là lợn. Nó bèn tìm các loại cây cỏ có dược chất, đốt cháy lấy tro trộn vào thức ăn, kết quả là bầy Húc Đầu này chửi rủa mắng nhiếc không thôi, lại húc đầu vào tường dữ tợn hơn. Mạc Ngôn vẫn không từ bỏ ý định, tiếp tục cho ăn kiểu ấy. Vì đói, bọn lợn này đành phải cúi đầu mà ăn. Tôi đã từng nghe anh ta gõ gõ vào thùng đựng thức ăn, nói với bọn lợn: Ăn đi, ăn nhiều vào! Ăn tro thì mắt sáng, ăn tro lòng trong sáng, ăn tro làm bao tử khỏe mạnh! Ăn tro cũng vô hiệu, Mạc Ngôn bèn cho xi măng vào thức ăn. Cách làm này xem ra có hiệu quả, bọn lợn ỉa thưa dần, song bọn chúng ngày càng gầy và có nguy cơ tử vong. Bọn chúng đều đau bụng dữ dội, lăn lộn trên nền chuồng và cuối cùng ỉa ra mấy viên cứt giống như đá cuội mới thoát khỏi lưỡi hái thần chết.
Bọn Húc Đầu này hận Mạc Ngôn đến khắc cốt ghi xương, còn Mạc Ngôn thì bắt đầu ghét cay ghét đắng bọn vô phương chữa trị này. Lúc ấy ông và Hợp Tác đã vào làm việc ở xưởng gia công sợi bông số năm khiến Mạc Ngôn cũng muốn đổi đời. Anh ta xách một thùng thức ăn vào chuồng, lúc này bọn Húc Đầu đang ho dữ dội và sốt rất cao, nói một cách độc ác:
- Bọn yêu quái này, làm sao vậy? Định tuyệt thực, định tự sát à? Tốt thôi, bọn mày chết thì tao càng mừng. Bọn mày chẳng phải là lợn, không đáng được gọi là lợn. Bọn mày đúng là một bọn phản cách mạng vì đã làm lãng phí không biết bao nhiêu là tài sản của nhân dân.
Sang ngày thứ hai, bọn Húc Đầu bắt đầu kêu la thảm thiết. Trên thân thể chúng xuất hiện những nốt đỏ tím to bằng đồng xu, mắt chúng trừng trừng, xem chừng chúng chết mà chẳng kịp nhắm mắt. Như tôi đã nói, tháng tám năm ấy mưa không ngớt, nóng và ẩm ướt, ruồi muỗi nhiều kinh khủng. Khi ông bác sĩ ở trạm thú y công xã đến trại Hạnh Viên thì bụng những con Húc Đầu đã to như cái trống, những nốt đỏ đã lở loét, thối inh. Ông ta đứng ngoài chuồng, mặc quần áo phòng dịch, bao tay, đeo khẩu trang kín mít và buông gọn một câu:
- Bệnh dịch ban đỏ cấp tính! Phải thiêu xác và chôn ngay!
Những người phục vụ trong trại lợn, trừ Mạc Ngôn, dưới sự chỉ huy của ông bác sĩ lôi năm con Húc Đầu ra khỏi chuồng, kéo đến tận góc trại phía Nam, đào một cái hố. Chỉ đào đựợc nửa mét thì nước ngầm đã trào ra. Họ ném những con lợn xấu số xuống đó, đổ xuống một ít dầu lửa và đốt. Lúc này gió Đông Nam thổi mạnh, mang theo mùi hôi thối lan tỏa khắp trại lợn rồi lan đến cả làng Tây Môn. Bọn người ngu xuẩn! Chọn chỗ đốt xác mà chọn ngay đầu gió. Tôi vùi mõm xuống đất bùn để khỏi phải hít cái mùi tởm lợm ấy. Sau này tôi mới biết, ngay trong đêm ấy, Điêu Tiểu Tam đã trốn khỏi trại, bơi qua sông để đi tìm cuộc sống tự do hoang dã. Do vậy mà không khí dịch bệnh ở trại lợn không hề ảnh hưởng đến sức khỏe của nó.
Những sự việc diễn ra sau đó, nhất định ông phải biết, nhưng ông chẳng hề quan tâm. Bệnh dịch lây lan nhanh khủng khiếp. Tám trăm con lợn, trong đó có hơn hai trăm con đang có chửa sắp đến ngày sinh nở cũng không thoát khỏi trận dịch này. Tôi không bị lây, một phần là do tôi ăn ở rất vệ sinh, thân thể khỏe mạnh, một phần là do bà Bạch đã trộn nhiều tỏi vào trong thức ăn của tôi. Vừa cho tôi ăn bà vừa cổ vũ tôi:
- Lợn mười sáu à! Cố gắng lên, đừng ngại cay. Ăn nhiều tỏi dịch bệnh không thể lây được.
Tôi biết bệnh dịch này nguy hiểm vô cùng, so với việc mất mạng thì cay một tí có đáng gì? Tỏi cay xè khiến nước mắt nước mũi tôi chảy ròng ròng, mồ hôi túa ra như tắm. Nhờ đó, tôi thoát khỏi bệnh dịch đáng sợ này.
Hàng loạt con lợn bị lây bệnh khiến những bác sĩ ở trạm thú y lại vượt sông đến trại lợn Hạnh Viên, trong số đó có một phụ nữ mặt mũi thô kệch, người ta gọi bà ta là trạm trưởng. Hành động và lời nói của bà ta rất dứt khoát và quyết đoán. Mỗi lần bà ta gọi điện thoại từ văn phòng trại lợn về huyện, cách xa hàng cây số vẫn có thể nghe giọng bà ta gào trong máy. Dưới sự chỉ huy của bà trạm trưởng này, các bác sĩ chích thuốc cho những con lợn bị dịch, ngày nào cũng có một chiếc ca nô mang thuốc từ huyện về trại, song không thể cứu vãn được tình thế. Hầu hết những con lợn nhiễm bệnh đều chết. Hạnh Viên lừng lẫy một thời bỗng trở nên hoang vắng tiêu điều. Xác lợn chết chất chồng như núi, không thể đốt hết, đành phải đào hố mà chôn. Hố chôn xác cũng không thể đào sâu được vì chỉ cần nửa mét thì nước đã ngập ứ. Mọi người bó tay đành phải làm liều. Buổi tối, chờ cho bác sĩ trở về huyện, mọi người vất xác lợn chết lên xe, đẩy thẳng ra bờ sông, vất xuống dòng nước đang chảy cuồn cuộn. Xác lợn cứ theo dòng nước mà trôi, chẳng biết sẽ cập vào chỗ nào.
Xử lý xác lợn xong thì đã đầu tháng chín, sau mấy trận mưa lớn nữa. Những chuồng lợn trống rỗng vốn làm qua loa đại khái làm sao chịu nổi những trận mưa to gió lớn, cho nên sập hơn một nửa. Tôi nghe rõ ràng tiếng khóc của Kim Long. Anh ta tính tình vốn bốc đồng, lại nhiều tham vọng. Anh ta hy vọng rằng, sau mùa mưa này sẽ có một đoàn tham quan của cục hậu cần quân khu về tham quan trại Hạnh Viên, lúc ấy anh ta sẽ có cơ hội thể hiện tài hoa của mình để tìm cách thăng tiến. Cơ hội ấy đã mất, lợn chết chuồng đổ, chỉ còn một đống hoang tàn. Ngay cả tôi khi nằm nhìn cảnh điêu điều của trại lợn cũng bất giác nhớ lại thời gian hiển hách của nó mà không nén nổi tiếng thở dài.
31
Mạc Ngôn bám đuôi nịnh Tiểu Thường,
Mặt Xanh phẫn uất khóc Chủ tịch.
Ngày chín tháng chín, chuyện kinh động đất trời Trung Quốc và thế giới đã xảy ra. Mao Chủ tịch của các ông vì bệnh nặng đã từ trần. Đương nhiên là tôi có thể nói Mao Chủ tịch của chúng ta, song lúc này tôi là một con lợn, nếu nói như vậy e rằng đại bất kính. Những ngày ấy mưa gió mù mịt, nước sông vượt qua con đê nhỏ chảy vào đồng làm gãy mấy cây cột mắc dây khiến điện thoại và đài truyền thanh của thôn hoàn toàn câm bặt. Biết được Mao Chủ tịch đã qua đời là do Kim Long mở radio nghe được. Chiếc radio này là do Thường Thiên Hồng tặng cho anh ta.
Thường Thiên Hồng đã từng bị ủy ban quân quản bắt vì tội lưu manh, nhưng sau đó được thả ra vì không đủ chứng cứ. Thế sự đảo điên, anh ta lại được bố trí làm phó đoàn kịch của huyện. Đã từng là sinh viên cao đẳng Học viện Âm nhạc, được làm phó đoàn đúng sở trường, ngoài việc dàn dựng tám vở kịch lưu hành thời Cách mạng Văn hóa cho đoàn, anh ta còn lấy trại lợn Hạnh Viên làm bối cảnh và chủ đề, tự biên tự diễn vở kịch “Ghi chép về chuyện nuôi lợn”. Trong tiểu thuyết cùng tên, Mạc Ngôn cũng nói qua về chuyện này, nhưng tôi đoán một nửa là nó đạo văn của Thường Thiên Hồng. Để viết vở kịch này, Thường Thiên Hồng đã đến trại lợn Hạnh Viên nắm bắt thực tế. Chuyện này là có thực, kể cả chuyện Mạc Ngôn cứ lẳng nhẳng bám đuôi anh ta cũng có thực, nhưng chuyện nó nói là có tham gia viết và biên tập vở kịch là nói láo. Trong vở kịch cách mạng hiện đại này, phải nói là tay họ Thường kia có sức tưởng tượng cực kỳ phong phú. Anh ta để những con lợn nói năng và kết bè kết phái lung tung. Một phái gồm những con lợn ưu tú, sẵn sàng vì cách mạng mà ăn nhiều, ngủ tốt để mau béo; phái khác là những con lợn phản động, kẻ thù của giai cấp, do con lợn hoang Điêu Tiểu Tam cầm đầu và bọn tay chân chính là mấy con Húc Đầu ăn nhiều nhưng không lớn nhằm chống phá cách mạng. Trong trại lợn, không chỉ có người đấu tranh với người mà cả lợn cũng đấu tranh với nhau, mà đây là chủ đề chính của vở kịch, con người trở thành nhân vật phụ cho lợn. Lúc còn ở học viện, anh ta học âm nhạc phương Tây cho nên hiểu rộng về ca kịch Tây. Do vậy, anh ta không chỉ sáng tạo nội dung mới mà còn cách tân ngay trong những làn điệu ca và âm nhạc phối hợp. Trong vở kịch, anh ta thiết kế cho nhân vật chính - Vua Lợn - có tên là Tiểu Bạch, một khúc tự cảm thán rất dài, đây chính là đoạn hay nhất trong vở kịch khiến cho tôi có cảm giác anh ta lấy tôi làm nguyên mẫu cho Tiểu Bạch. Nhưng trong phần viết thêm của tiểu thuyết “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” thì Mạc Ngôn cứ khăng khăng rằng, Tiểu Bạch chỉ là nhân vật hoàn toàn hư cấu, tượng trưng cho những lực lượng trẻ say mê tiến bộ, theo đuổi tự do và hạnh phúc, không có nguyên mẫu nào cả. Thật là giản đơn, thật là thô lậu! Tôi biết Thường Thiên Hồng rất tâm huyết với vở kịch này, tốn công tốn sức để kết hợp kịch truyền thống và kịch phương Tây hiện đại, kết hợp hiện thực với lãng mạn, kết hợp nội dung cách mạng nghiêm túc với nghệ thuật diễn xuất phương Tây trong đó. Nếu Mao Chủ tịch mất chậm vài năm thì Trung Quốc đã có thể có thêm một vở kịch mới, vở kịch mẫu thứ chín mang tên “Ghi chép về chuyện nuôi lợn ” ở vùng Đông Bắc Cao Mật.
Ký ức tôi vẫn còn lưu giữ cái đêm trăng Thường Thiên Hồng tập hợp nào là Kim Long, Bảo Phượng, Hỗ Trợ, Hợp Tác, Mã Lương Tài - lúc này là hiện tượng của trường tiểu học Tây Môn, có cả Mạc Ngôn và nhiều người khác dưới gốc cây hạnh nghiêng, tay cầm bản thảo, Thường Thiên Hồng đang xướng thử đoạn vua lợn Tiểu Bạch cảm thán. Mạc Ngôn một tay cầm cái bình nhỏ, trong bình là những thứ mà Thường Thiên Hồng chuẩn bị để ngậm cho thanh giọng, một tay cầm quạt, phe phẩy cho anh ta. Điệu bộ nịnh bợ của nó khiến cho mọi người ác cảm. Té ra nó dùng cách thức này để tham gia sáng tác vở kịch “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” đấy!
Mọi người chắc còn nhớ, người trong làng Tây Môn đã đặt cho Thường Thiên Hồng cái biệt danh là “Lừa kêu lớn”. Đây là một cách gọi không mấy thiện cảm. Trải qua mười mấy năm, cái nhìn của dân làng Tây Môn cũng đã đổi khác, đối với Thường Thiên Hồng và tài năng ca hát của anh ta, họ đã tỏ ra kính trọng. Ngay cả Thường Thiên Hồng cũng đã rất khác nếu so với những lần về làng Tây Môn trước đây. Cái vẻ mặt vênh váo khiến mọi người dễ sinh ác cảm không còn nữa, thay vào đó là một khuôn mặt dạn dày, từng trải, đôi mắt chất chứa nhiều u uất, nước da trắng xanh, dưới cằm râu ria lởm chởm, mái tóc đã lốm đốm bạc. Mọi người đều nhìn anh ta thân thiện lẫn kính trọng, chăm chú chờ nghe anh ta biểu diễn.
Ngực tôi tì hẳn xuống cành cây hạnh đang đung đưa để nhìn cho rõ quang cảnh và chàng thanh niên khả ái ấy. Bảo Phượng đang quàng vai Hỗ Trợ, chăm chú nhìn gương mặt xanh gầy và mái tóc uốn lượn tự nhiên của Thường Thiên Hồng. Gương mặt Bảo Phượng chìm trong bóng tối nhưng ánh mắt vẫn lộ vẻ u buồn. Cả trại lợn ai cũng biết, Thường Thiên Hồng đã đính hôn với Bàng Kháng Mỹ, cô sinh viên chăn nuôi sau khi tốt nghiệp đã về nhận công tác ở phòng quản lý chăn nuôi của huyện, nghe đâu là đến ngày Quốc khánh sẽ tiến hành hôn lễ. Trong thời gian anh ta thực tế ở trại lợn, Kháng Mỹ đã ghé thăm anh ta hai lần. Đúng là một cô gái xinh đẹp, học thức, tính cách cởi mở dễ gần, đặc biệt là không hề có ý thức phân biệt giữa cán bộ cốt cán với nông dân, khiến cả làng Tây Môn đều có ấn tượng cực kỳ tốt khi tiếp xúc với cô ta. Công việc chính là quản lý số lượng gia súc trong toàn huyện, cho nên mỗi lần về đến làng là cô ta chạy ngay xuống các trại để kiểm kê số lượng lừa, ngựa, la, trâu. Có lẽ trong thâm tâm, Bảo Phượng cũng biết rằng Bàng Kháng Mỹ xứng đáng vời Thường Thiên Hồng hơn mình, còn cô ta dường như cũng hiểu được tâm sự của Bảo Phượng. Có lần tôi nhìn thấy cả hai thì thầm gì đó rất lâu dưới gốc cây hạnh nghiêng, cuối cùng thì Bảo Phượng ôm lấy vai Kháng Mỹ khóc nức nở, còn mặt Kháng Mỹ cũng đầy nước mắt.
Đoạn diễn thử của Thường Thiên Hồng dài đến ba mươi câu. Đoạn mở đầu như sau:
Đêm nay sao trời lấp lánh, gió nam đưa hương hoa hạnh thơm lừng khó lòng ngủ được. Tiểu Bạch tôi đứng đây ngắm trời xanh, như đang trông thấy cờ hồng phấp phới khắp năm châu bốn biển. Mao Chủ tịch kêu gọi toàn quốc chăm lo nuôi lợn... Một con lợn là một viên đạn bắn thẳng vào chủ nghĩa đế quốc phản động, Tiểu Bạch tôi có nhiệm vụ trọng đại là phải giao phối với tất cả lợn cái trên thế gian này...
Dường như Thường Thiên Hồng đang nói về tôi thì phải, bởi vì không phải anh ta đang hát mà chính tôi đang hát về mình, hát những lời tận đáy lòng. Chân trước của tôi bắt nhịp theo lời ca, toàn thân như đang bốc lửa, dái căng cứng, của quý thò cả ra ngoài như muốn cùng tất cả lợn cái giao phối ngay lập tức, vì con người vì nhân dân mà tạo phúc, tiêu diệt đế quốc phản động, giải phóng tất cả loài người đang ngập ngụa trong bóng đêm hắc ám của chủ nghĩa đế quốc bạo tàn.
Đêm nay trời lấp lánh... A! Đúng là sao sáng đầy trời, nhiệt tình hừng hực, cả người và lợn đều không thể ngủ.
Giọng Thường Thiên Hồng rất cao, rất khỏe và hùng tráng, động tác rất chuẩn xác, không thừa không thiếu. Ban đầu, tôi còn chú ý đến nội dung ca từ, song sau một vài đoạn, ca từ dường như không còn quan trọng nữa mà tôi như say như mê trong dòng âm thanh của anh ta. Cho dù trên thế gian này không biết bao nhiêu là nhạc cụ, cho dù bao nhiêu loài động vật có thể có những tiếng kêu rất đặc biệt, chẳng hạn trong tiểu thuyết Nga thường nói đến tiếng chim oanh ban đêm, tiếng chim họa mi của người Trung Quốc, tiếng kêu của cá kình ngoài đại dương... quả thật đều rất tuyệt vời nhưng đều không thể so sánh được với giọng ca cao ngất của Thường Thiên Hồng. Mạc Ngôn chẳng biết tí gì về âm nhạc phương Tây, sau khi đến thành phố hình như có được nghe một vài buổi hòa nhạc, đọc qua vài cuốn sách nghiên cứu về âm nhạc mới có được một chút kiến thức, trong các bài viết của mình, nó đã từng ví giọng của Thường Thiên Hồng với các danh ca trên thế giới. Tôi chưa từng được gặp các danh ca tầm cỡ thế giới, chưa từng nghe họ hát, song tôi chẳng thèm nghe họ, chẳng thèm gặp họ đâu, trước sau tôi vẫn tin tưởng rằng giọng của Thường Thiên Hồng là hay nhất thế giới.
Khi anh ta cất giọng, trên đầu anh ta lá cây kêu lên xào xạc, run rẩy. Những nốt nhạc lượn lờ trên không trung giống như những dải lụa đào nhảy múa, như tiếng ngọc ở Côn Sơn vỡ, như phượng hoàng kêu, lợn đực mê man lợn cái nhảy nhót. Nếu Mao Chủ tịch mất muộn vài năm, vở kịch này nhất định sẽ nổi tiếng. Trước tiên là sôi động ở huyện, rồi sôi động ở tỉnh và cuối cùng là thẳng đến Bắc Kinh, biểu diễn trong nhà Thái Miếu... Cứ như thế, Thường Thiên Hồng sẽ trở thành một kịch tác gia danh tiếng và vùng Đông Bắc Cao Mật sẽ chẳng còn cách nào để giữ được anh ta, cuộc hôn nhân giữa anh ta và Bàng Kháng Mỹ chắc chắn sẽ không thành. Nhưng thực tế thì vở diễn đã không thành hiện thực, thật đáng tiếc. Điểm này Mạc Ngôn đã giải thích. Nó cho rằng, vở kịch này là sản phẩm đặc trưng của một thời kỳ lịch sử, vừa có vẻ hoang đường nhưng cũng có vẻ trang nghiêm, là điển hình sinh động cho chủ nghĩa hậu hiện đại. Lời của nó tôi chẳng hiểu gì cả, cũng chẳng quan tâm, chỉ tiếc một điều là không biết đến bây giờ kịch bản của nó vẫn còn hay đã mất.
Có lẽ tôi đã kể quá nhiều về chuyện viết kịch và diễn kịch của Thường Thiên Hồng, một chuyện chẳng ăn nhập gì đến cốt truyện chính. Bây giờ tôi sẽ kể về chiếc radio. Chiếc máy hiệu Hồng Đăng do xưởng cơ khí vô tuyến điện thành phố Thanh Đảo sản xuất này là do Thường Thiên Hồng tặng cho Kim Long nhân ngày anh ta cưới vợ. Thực ra chuyện Thường Thiên Hồng tặng chẳng qua là danh nghĩa, còn người mua nó từ Thanh Đảo về lại là Bàng Kháng Mỹ nhân một chuyến đi công tác. Tuy gọi là quà của Kim Long, song lại là do chính Kháng Mỹ đưa tận tay cho Hỗ Trợ, đồng thời cũng hướng dẫn cách cắm điện, tắt mở và bảo quản như thế nào. Là một con lợn đêm nào cũng đi rong chơi, tôi đã chứng kiến chuyện này. Trong lễ cưới của mình, trước tất cả quan khách, Kim Long đặt chiếc radio trên chiếc bàn ở giữa, chọn âm lượng lớn nhất, rõ nhất để cho tất cả mọi người vây chung quanh cùng nghe. Ở làng Tây Môn, đây là chiếc radio đầu tiên nên ai nấy đều tò mò và thèm muốn, cố gắng chen đến gần. Ai cũng muốn đưa tay sờ thử xem nó ra làm sao, nhưng chẳng ai dám. Một chiếc máy quý như vậy, chắc giá cả cũng không phải tầm thường, đụng vào lỡ sẩy tay, hỏng hóc bồi thường sao nổi. Chỉ có Kim Long dùng một vuông vải đỏ chà nhẹ trên lớp vải ngoài. Ai nấy đều trố mắt dỏng tai nghe một bài ca từ đó phát ra:
Núi đỏ rực khi các loài hoa bắt đầu nở... Tiếng hát thế nào chẳng ai quan tâm, điều họ quan tâm là làm sao mà cô gái ấy lại thu gọn người trong cái máy chỉ cao nửa gang tay và dài không đầy một gang mà nói, mà hát. Tôi không ngu như họ, kiến thức về điện tử, tôi có biết chút ít. Tôi biết lúc này trên trái đất không những có radio mà còn có cả loại thần kỳ gấp bội so với radio mà người ta gọi đó là tivi. Tôi còn biết người Mỹ đã lên tới mặt trăng, Liên Xô đã phóng tàu vũ trụ và nhiều thứ nữa... Tôi nói “họ” ở đây không bao gồm Mạc Ngôn. Từ tờ “Tin tức tham khảo”, anh ta đã biết được nhiều thứ, nói như người xưa là “Trên thông thiên văn dưới tường địa lý”. Ngay cả bọn chuột, bọn chồn ẩn nấp trong đám cây mục chung quanh cũng bị chiếc radio làm cho sửng sốt. Tôi nghe rõ ràng tiếng một con chuột cái hỏi một con đực: “Cô này nằm trong ấy mà hát, có phải thân thể của cô ấy chỉ bằng em không hả anh?” - “Bằng cô à?” Chuột đực nói xong, nhổ một bãi nước bọt rồi yên lặng theo dõi cảnh tượng trước mắt.
Hai giờ chiều ngày chín tháng chín, bầu trời nhiều mây đen, gió Tây Bắc cấp bốn cấp năm. Người nông dân phương Bắc Trung Quốc đều cho gió Tây Bắc là chìa khóa mở cổng nhà trời. Mây đen cũng trùm lên trại Hạnh Viên. Dưới đất, hơi nước mù mịt, cóc nhái nhảy lổn ngổn trong trại. Mười mấy nhân viên trại lợn đang quét vôi lại những chuồng trại chưa đổ sụp. Lợn chết sạch khiến quang cảnh trại chăn nuôi trở nên tiêu điều, gương mặt ai cũng dàu dàu. Họ quét vôi tường chuồng tôi ở, còn quét lên cả cành hạnh vươn vào trong chuồng. Nước vôi có thể diệt những con vi trùng truyền dịch không? Họ chỉ làm cho vui, cho có lệ thôi mà! Qua những lời trao đổi của họ, tôi biết toàn trại chỉ còn lại bảy mươi con lợn, kể cả tôi. Kể từ ngày bệnh dịch phát sinh, tôi không dám đi lại nhiều vì sợ bị lây. Tôi rất muốn biết, bảy mươi con lợn còn sống ấy là những con nào, liệu mười lăm anh chị của tôi còn sống không?
Đang lúc tôi còn suy nghĩ vẩn vơ, đang lúc những người quét vôi bàn tán về tiền đồ của trại lợn, đang lúc bà Bạch say sưa ngắm một con chim lạ to lớn, có bộ lông rất đẹp và dài không biết từ đâu bay đến đậu trên cây hạnh nghiêng rồi la lên rất phấn khởi: “Phượng hoàng!”... thì Kim Long ôm chiếc radio chạy ra khỏi phòng. Mặt anh ta trắng bệch, thần thái hoảng loạn, mắt mở trừng trừng, kêu lên bằng một giọng khản đặc:
- Mao Chủ tịch mất rồi!
Mao Chủ tịch đã mất! Không phải nói nhầm đấy chứ? Không phải loan tin đồn nhảm đấy chứ? Nói Mao Chủ tịch chết có khác nào anh ta tự đi tìm cái chết? Mao Chủ tịch tại sao lại có thể chết? Chẳng phải là người ta đã từng nói là Mao Chủ tịch có thể sống đến một trăm năm mươi tám tuổi sao? Người Trung Quốc không tin, ngay cả một con lợn như tôi mà cũng vô cùng kinh hoàng và nghi ngờ nguồn tin này khi mới nghe. Song khi nhìn thấy gương mặt bi thương và nước mắt chảy ròng ròng trên má Kim Long, mới vỡ lẽ rằng anh ta không hề có ý định đơm đặt chuyện hoang đường. Từ chiếc radio, tôi và mọi người đều nghe rõ ràng cái giọng bình thường rất cao, trong và chuẩn xác của cô phát thanh viên, hôm nay lại tỏ ra nghèn nghẹn thông báo cho toàn đảng, toàn quân, toàn thể các dân tộc rằng, Mao Chủ tịch đã mất. Tôi nhìn lên trời cao, mây đen đang vần vũ; nhìn xuống đất lá hạnh rụng bời bời; nhìn chuồng trại cái nào cũng xiêu xiêu vẹo vẹo... Tôi nghe rõ đâu đó có tiếng khóc, ngửi thấy mùi xú uế nồng nặc bay lên từ những hố chôn xác lợn và gió từ dòng sông thổi vào cũng mang theo mùi thịt thối rữa ... hồi tưởng lại bao nhiêu là chuyện lạ lùng xảy ra trong mấy tháng gần đây, nhớ Điêu Tiểu Tam bỗng nhiên biến mất và những lời kỳ bí từ miệng nó thoát ra... và tôi hiểu, hiểu một cách rõ ràng rằng, không nghi ngờ gì nữa, Mao Chủ tịch đã chết.
Kim Long ôm chiếc radio trước ngực giống như một đứa con có hiếu bê hộp hài cốt của bố, thần sắc hết sức nghiêm trang đi vào làng. Những người phục vụ ở trại lợn đều vứt công cụ lao động, lặng lẽ đi sau anh ta. Rõ ràng, việc Mao Chủ tịch ra đi không chỉ là tổn thất của con người mà còn là tổn thất của loài lợn chúng tôi. Không có Mao Chủ tịch sẽ không có một nước Trung Quốc mới. Không có nước Trung Quốc mới tất nhiên sẽ không có trại lợn Hạnh Viên, không có trại lợn Hạnh Viên tất nhiên không có Lợn mười sáu! Cho nên, tôi âm thầm đi theo đoàn người là một việc danh chính ngôn thuận.
Hình như lúc này toàn thể các đài phát thanh trên toàn đất nước Trung Quốc chỉ có một bản tin duy nhất được phát trên một làn sóng chất lượng cao nhất. Kim Long đưa chiếc radio cao quá đầu. Mặc dù không phải dùng loa phóng thanh nhưng âm thanh từ đó đã vang dội khắp làng Tây Môn. Mỗi lần gặp ai đó, Kim Long đều nói một câu với một âm sắc duy nhất: “Mao Chủ tịch mất rồi!” Nhiều cách biểu lộ tình cảm khác nhau ở những người sau khi nhận tin này, có người thì tròn mắt đứng ngây như phỗng, có người quỳ sụp xuống, có người thì ôm mặt khóc, có người lắc đầu... nhưng cuối cùng ai cũng nối gót theo sau Kim Long, tạo thành một đoàn rồng rắn kéo từ trại lợn đến tận giữa làng.
Hồng Thái Nhạc từ trụ sở đại đội sản xuất chạy ra, chưa hiểu chuyện gì, định hỏi thì Kim Long đã nói trước: Mao Chủ tịch mất rồi! Phản ứng đầu tiên của của lão là giơ tay lên, định thụi một quả vào miệng Kim Long, nhưng nắm đấm ngừng lại giữa chừng, đảo mắt nhìn đoàn người, rồi nhìn chiếc radio trước ngực Kim Long. Ở đó vẫn tiếng cô phát thanh viên đang đọc đi đọc lại bản tin duy nhất trong ngày, thu tay lại, ôm lấy đầu rồi khóc rống lên:
- Mao Chủ tịch ơi! Người đi thật rồi sao... Chúng tôi làm sao sống được những ngày còn lại?...
Chiếc radio phát một điệu nhạc buồn. Tiếng nhạc vừa cất lên, Ngô Thu Hương là người bật khóc đầu tiên, rồi tất cả đồng loạt khóc nấc. Những người đàn bà chẳng kể bùn lầy, cứ ngồi bệt xuống đất cào cấu, bùn văng tung tóe. Có người che miệng, người che mặt... bao nhiêu là cảnh biểu hiện tình cảm diễn ra trước mắt tôi. Có người vừa khóc vừa gào:
- Mao Chủ tịch là trời, chúng ta là đất. Trời sập rồi đất làm sao sống nổi...!
Trong muôn vàn kiểu khóc của đàn bà, bọn đàn ông có người thở dài, có người cố nén tiếng khóc nhưng nước mắt vẫn chảy ròng trên mặt. Những địa chủ, phú nông và phần tử phản cách mạng trong làng nghe tin dữ cũng đã tề tựu đầy đủ, đứng xa xa nhìn toàn cảnh và nước mắt đều dầm dề.
Suy cho cùng tôi vẫn là loài súc sinh, cho dù gặp phải hoàn cảnh đau buồn thế này, trong lòng cũng cảm thấy thương cảm, song vẫn còn đủ tỉnh táo. Tôi len lỏi qua đám người để quan sát và suy nghĩ. Trong lịch sử cận hiện đại Trung Quốc, không có ai chết mà gây ảnh hưởng ghê gớm như Mao Trạch Đông, có người ngay cả lúc mẹ chết cũng chẳng khóc thê thảm như thế. Nhưng việc gì cũng có ngoại lệ, trong hơn một nghìn nhân khẩu của làng Tây Môn, ngay cả những địa chủ, phú nông vốn có oán cừu với Mao Trạch Đông, vì cái chết của ông ta mà khóc thương thật lòng, thì vẫn có hai người không hề khóc, cũng chẳng hề nhỏ lấy một giọt nước mắt mà họ vẫn đang điềm nhiên tiếp tục công việc thường ngày, vẫn chuẩn bị cho cuộc sống tương lai.
Hai người ấy, một là Hứa Bảo, hai là Mặt Xanh.
Hứa Bảo len lỏi giữa đám người, bám theo tôi. Ban đầu tôi chẳng để ý gì đến hành tung của lão nhưng sau đó tôi nhanh chóng phát hiện ra đôi mắt gian xảo, hung ác và thèm muốn của lão đang chăm chú nhìn vào hai hòn dái lủng lẳng giữa hai đùi tôi. Một cơn giận chưa từng có trào lên trong lòng tôi. Trong thời điểm lịch sử này mà lão vẫn nhăm nhe hòn dái của tôi, đủ thấy cái chết của Mao Chủ tịch chẳng hề gây cho lão một chút trắc ẩn nào. Tôi muốn hét to lên cho mọi người biết dã tâm của lão để cho tất cả nhảy vào, biến đau thương thành hành động và bóp chết tươi kẻ không bằng súc vật này. Đáng tiếc thay! Tôi không thể nói được tiếng của loài người. Đáng tiếc thay! Mọi người chỉ lo than khóc mà không chú ý gì đến ý đồ gian tà của lão. Cũng tốt thôi, Hứa Bảo! Tao thừa nhận là đã từng sợ mày, từng khiếp phục trước động tác nhanh như điện xẹt của mày, nhưng ngay cả người vĩ đại nhất như Mao Chủ tịch còn chết, thì tao đây - Lợn mười sáu - còn kể gì đến sinh mạng nhỏ nhoi của mình. Tao đang chờ mày đây, Hứa Bảo! Đêm nay nếu tao không phải là cá chết thì tất nhiên là lưới đã bị phá nát!
Người còn lại không hề khóc trước cái chết của Mao Chủ tịch là Mặt Xanh. Khi tất cả mọi người đang tụ tập ở trước sân trụ sở và khóc thì ông ta đang ngồi trên ngạch cửa căn phòng bé xíu ở phía tây mài một con dao sắc nhọn. Tiếng con dao miết vào đá mài rin rít nghe rợn người, âm thanh như đang báo hiệu một điều gì đó sẽ xảy ra. Không kềm được, Kim Long đưa chiếc radio cho Hỗ Trợ và nhảy thẳng đến trước Mặt Xanh, cúi người xuống giật hòn đá mài từ trong tay Mặt Xanh quẳng xuống đất. Nó vỡ thành hai mảnh. Kim Long nghiến răng nói:
- Như ông mà được gọi là người à?
Mặt Xanh nheo mắt, chăm chú nhìn gương mặt đang run lên vì giận của Kim Long, giơ con dao lên đứng dậy và nói:
- Ông ấy chết, nhưng ta thì vẫn phải sống. Lúa ngoài đồng cần phải gặt rồi!
Kim Long chụp lấy chiếc thùng sắt thủng đáy nằm bên cạnh chuồng trâu, ném thẳng về phía Mặt Xanh. Ông ta chẳng thèm tránh, chiếc thùng đập thẳng vào trán rồi rơi xuống dưới chân ông ta.
Mắt Kim Long đỏ lên sòng sọc, tiếp tục vớ lấy chiếc đòn gánh, giơ cao lên nhắm thẳng vào đầu Mặt Xanh bổ xuống. May thay Hồng Thái Nhạc đã kịp chụp lấy tay anh ta nên Mặt Xanh mới thoát được đòn trí mạng này. Lão Hồng quát to, giọng đầy giận dữ:
- Mặt Xanh! Anh quá đáng rồi đó!
Lúc này nước mắt Mặt Xanh mới trào ra. Ông ta quỳ xuống, nói thật rành rọt:
- Yêu Mao Chủ tịch nhất là tôi đây chứ không phải là đồ vờ vịt các người đâu!
Mọi người chưa hiểu gì, im lặng nhìn ông ta. Mặt Xanh chống tay xuống đất, khóc rống lên:
- Mao Chủ tịch ơi! Tôi là con dân của Người. Đất của tôi là do người phân phát cho. Tôi làm ăn cá thể là quyền lợi do Người ban cho ...
Nghinh Xuân khóc nấc lên và chạy đến trước mặt Mặt Xanh định lôi dậy, nhưng hình như đầu gối ông ta đã mọc rễ. Cô ấy quỳ trước Mặt Xanh, trên đầu đang cài một đóa hoa cúc trắng. Một con bướm vàng chập chờn bay trong không trung như một chiếc lá hạnh vàng rơi từ trên cây xuống, chao liệng rồi đậu trên đóa hoa ...
Cài hoa cúc trắng trên đầu để biểu hiện sự tiếc thương người thân đã mất là tập tục của người Cao Mật. Những người đàn bà chạy đến trước nhà Nghinh Xuân, ngắt những đóa hoa cúc trắng tươi nguyên giắt lên đầu. Tất cả bọn họ đều hy vọng con bướm vàng kia bay đến đậu trên đầu mình, nhưng sau khi đậu trên đầu Nghinh Xuân, nó đã khép cánh, nằm im bất động.
32
Hứa Bảo vì tham nên mất mạng,
Lợn Mười Sáu đuổi trăng thành vua.
Tôi rón rén rời khỏi sân nhà Tây Môn, rời khỏi đám người đang vây lấy Mặt Xanh. Tôi đã phát hiện ra đôi mắt khả ố của Hứa Bảo đang thấp thoáng đâu đó trong đám đông vẫn bám lấy bộ dái của tôi. Đoán là lão tặc này chưa dám ra tay, tôi vẫn còn đủ thời gian để nghênh tiếp lão.
Trời đã chập choạng tối, trại lợn đã vắng teo. Giờ ăn đã đến, bảy mươi con lợn may mắn còn sống sót đã đói, kêu lên vang trời. Tôi muốn mở toang cửa chuồng để tất cả được chạy ra ngoài, nhưng cũng ngại là chúng sẽ vây lấy tôi mà hỏi han đủ chuyện. Các bạn cứ gào đi, tôi tạm thời không quan tâm đến các bạn vì tôi đã thấy bóng của Hứa Bảo đang thấp thoáng sau cây hạnh nghiêng, nói chính xác hơn là tôi đã đánh hơi thấy cái mùi xú uế rất đặc biệt của lão thoang thoảng trong không khí. Ngay lập tức, tôi vắt óc để nghĩ ra cách đối phó. Nằm trong ổ, thân sau ép vào góc tường để khỏi bị tấn công từ phía sau là cách tốt nhất để bảo vệ bộ dái, tôi giả vờ ngủ nhưng mắt vẫn hé mở chờ đợi Hứa Bảo! Đến đây đi. Mày muốn cắt bộ dái của ông để nhắm rượu, còn ông đây thì muốn cắn đứt bộ dái của mày để rửa hận cho chính ông và những con vật khác đã bị hại dưới tay mày.
Bóng đêm dày đặc, sương mù giăng kín mặt đất. Những con lợn đã đói lả, không kêu nổi nữa, cả trại vắng lặng một cách đáng sợ, chỉ có tiếng ếch nhái rền rĩ. Mũi tôi đã ngửi thấy cái mùi xú uế ấy đã đến gần lắm, biết là Hứa Bảo chuẩn bị động thủ. Bên ngoài bức tường thấp, cái mặt đầy mỡ nhờn, không có lông mày, không có lông mi, nhẵn nhụi chẳng có sợi râu nào đã xuất hiện. Lão vẫn cười cười với tôi. Nhìn thấy nụ cười ấy, tự nhiên tôi thấy muốn đánh rắm. Nhưng mẹ mày! Mày cứ cười đi, tao chẳng thèm đánh rắm đâu. Lão mở cửa và đứng ngay tại cửa chuồng, tay đưa về phía tôi, mồm chép chép ra chiều thân thiện. À! Mày muốn nhử ông ra khỏi chuồng à? Tôi lập tức đoán ngay ra kế hoạch gây ác của lão. Chỉ cần tôi đứng dậy bước đi mấy bước ra khỏi chuồng là cặp dái của tôi sẽ nằm gọn trong đôi tay lão. Con ơi! Mày nghĩ quá hay, nhưng ông mày Lợn mười sáu hôm nay quyết không để mày lừa. Hứa Bảo lôi từ trong túi ra một chiếc bánh bột nếp thơm lừng đặt trước cửa chuồng. Con ạ, mày lượm lên mà ăn, vất là phí lắm! Lão ở ngoài chuồng làm đủ trò, còn tôi thì nằm im trong ổ không nhúc nhích. Cuối cùng lão điên tiết chửi toáng lên:
- Đ. mẹ! Con lợn này, bộ thành tinh rồi à?
Nếu chỉ thế thôi rồi Hứa Bảo bỏ đi, liệu tôi có đủ dũng khí để đuổi theo quyết một trận với lão hay không? Điều này thật khó nói, mà cũng chẳng cần phải nghĩ bởi vấn đề then chốt là lão chẳng chịu bỏ đi. Đồ lang sói này ăn dái đã thành nghiện, bị hai hòn dái của tôi hớp mất hồn, không để ý gì đến cứt đái, cúi khom người chui vào chuồng.
Tôi cố gắng kiềm chế cơn giận dữ pha lẫn chút sợ hãi của mình. Giờ phút báo oán đã đến! Tôi nghiến chặt đôi hàm răng, cố gắng nằm im. Đồ đốn mạt! Đến đây! Gần một tí, tí nữa! Chờ giặc đến nhà mà đánh, đánh cận chiến, đánh trong đêm tối, một mất một còn! Cách tôi khoảng gần ba mét, lão đứng lại, gương mặt nhăn nhở như muốn dụ tôi xông đến. Đừng mơ tưởng hão! Mày đến đây đi! Tao chỉ là một con lợn ngu ngốc, chẳng thể gây cho mày bất kỳ một nguy hiểm nào đâu! Có lẽ Hứa Bảo cũng đã thấy mình quá đề cao tôi nên chẳng thèm cảnh giác nữa, chầm chậm tiến sát đến bên cạnh tôi, ngay trước đầu tôi, lom khom trước mũi tôi khoảng một mét. Cơ bắp toàn thân tôi căng cứng, giống như một cánh cung đã kéo hết sức để thành một vòng tròn, tên đã đặt lên dây, chỉ cần tôi bật dậy xông thẳng, cho dù đôi chân của lão có linh động bao nhiêu cũng khó mà tránh khỏi đòn tấn công bất ngờ này.
Trong chớp mắt, hình như không phải lý trí ra lệnh, thân thể tôi tự nhiên bật dậy, và như một mũi tên lao thẳng vào hạ bộ của Hứa Bảo. Toàn thân lão bị hất tung, lộn vòng trên không rồi đầu lão đập vào tường, rơi đúng chỗ tôi ỉa đái hàng ngày. Thân xác của lão đã rơi xuống đất nhưng tiếng rú của lão vẫn còn vang vọng trong không gian. Như một xác chết, lão nằm trên đống cứt ở góc chuồng. Vì những người bạn đã do lão mà thân tàn ma dại, tôi quyết định thực hiện kế hoạch: Lấy chính nghề của lão để trị lão. Vừa căm giận, vừa khinh ghét, trong lòng tôi còn nhen nhóm một chút bất nhẫn, song việc gì đã bắt đầu thì phải có kết thúc. Tôi nhằm thẳng vào chỗ giữa hai đùi lão, đớp một cú thật mạnh. Nhưng ơ kìa! Hình như mồm tôi đớp vào một cái gì trống không, chỉ có một mảnh vải quần bị xé rách trong miệng. Tôi ngoạm lấy chiếc quần, dùng sức kéo mạnh. Chiếc quần bị xé rách toạc, một cảnh tượng đáng sợ bày ra trước mắt tôi. A! thì ra Hứa Bảo không có cái ấy! Lão là con người sinh ra đã là thái giám. Hèn chi, cả đời Hứa Bảo vừa căm ghét vừa thèm muốn dái của động vật đến thế! Kể ra, lão cũng là một kẻ bất hạnh. Có lẽ lão vẫn mê muội tin vào cách nói đùa ăn gì bổ nấy của con người mà hi vọng đá đẻ ra dưa, cây khô nhú mầm chăng?
Trong đêm tối mờ, tôi nhìn thấy hai dòng máu đặc sánh từ lỗ mũi lão trào ra. Lão già này, có lẽ nào bạc nhược đến thế, mới dính một đòn mà đã nằm thẳng cẳng rồi ư? Tôi giơ móng trước sờ vào lỗ mũi lão, chẳng có một hơi thở nào. Lão chết thật rồi! Tôi đã từng nghe lén các bác sĩ trên bệnh viện huyện dạy cho mọi người cách cấp cứu, đã nhìn thấy Bảo Phượng cấp cứu cho một đứa bé chết đuối. Tôi dùng hai chân trước đè lên ngực lão, ấn xuống, thả ra... Tôi nghe rõ tiếng xương cốt lão kêu lục cục và cũng thấy máu túa ra nhiều hơn, lần này không chỉ ở mũi mà cả ở miệng và tai...
Đứng ở cửa chuồng, tôi suy nghĩ giây lâu và quyết định một việc trọng đại nhất đời lợn của tôi: Mao Chủ tịch đã chết, thế giới loài người sẽ phát sinh những biến động lớn. Trong lúc này, tôi là một con lợn mang tội giết người. Nếu cứ nằm đây thì chắc chắn cái đợi tôi trước mắt là dao, là nồi, là lửa... Một tiếng kêu văng vẳng đâu đó nơi hoang dã dội về:
- Người anh em! Chạy đi!
Trước khi về với tự do hoang dã, tôi đã kịp mở chuồng cho bảy mươi con lợn còn lại trong trại Hạnh Viên, vừa mở vừa gào lên:
- Các anh em! Chạy đi!
Tất cả bọn chúng đều nhìn tôi đầy hoang mang, chẳng hiểu việc gì đã xảy ra. Một con lợn gầy nhom còn chưa phát dục, lông toàn trắng nhưng dưới bụng có hai bớt đen, chạy đến trước mặt tôi, nói:
- Đại vương, em cùng đi với ngài!
Những con còn lại, đứa thì chạy lung tung trong trại để kiếm cái ăn, đứa thì quay trở lại trong chuồng nằm đợi người ta tới cho ăn.
Tôi dẫn cô lợn cái bé nhỏ chạy thẳng về hướng đông nam. Đất nhão, chân vừa đặt xuống là bùn đã ngập đến tận khuỷu. Sau chúng tôi là bốn hàng vết chân rõ ràng. Chạy đến con sông đào, tôi quay lại hỏi cô lợn cái:
- Tên em là gì?
- Đại vương cứ gọi em là Tiểu Hoa!
- Tại sao lại gọi em là Tiểu Hoa?
- Vì dưới bụng em có hai đóa hoa màu đen!
- Em từ Nghi Mông tới đây, phải không?
- Đại vương! Em không phải là lợn Nghi Mông đâu!
- Em không đến từ Nghi Mông, vậy em từ đâu đến đây?
- Em cũng chẳng biết nữa, thưa Đại vương!
- Bọn chúng chẳng đứa nào theo ta, tại sao em lại theo ta?
- Em sùng bái ngài, thưa Đại vương!
Nhìn cái vẻ ngây thơ thuần khiết của Tiểu Hoa, tôi vừa cảm động vừa thấy thương xót cho nó. Dùng mõm húc húc vào bụng nó biểu thị thân tình, tôi bảo:
- Được rồi, Tiểu Hoa! Bắt đầu từ lúc này, chúng ta đã thoát khỏi sự thống trị của con người, chúng ta sẽ có được tự do như tổ tiên của chúng ta khi xưa. Nhưng cũng bắt đầu từ đây, chúng ta ăn đất nằm sương, cuộc sống khổ ải đang chờ chúng ta. Nếu em hối hận, em quay về vẫn còn kịp đấy!
- Em chẳng bao giờ hối hận đâu, Đại vương! Giọng nó rất cương quyết.
- Thế thì được rồi! Em có biết bơi không?
- Biết!
- Được!
Tôi dùng chân trước ôm chặt mông nó, đẩy xuống sông. Nước rất ấm. Tôi định qua sông để tìm tự do, song xuống nước rồi tôi mới phát hiện rằng, trên bề mặt con sông có vẻ hiền từ, nhưng thực ra tốc độ chảy của nó thật dữ dội, ít ra là năm mét một giây, cuồn cuộn chảy về phía bắc. Phía bắc chính là Vận Lương hà, chính phủ Mãn Thanh ngày xưa đã từng vận chuyển lương thực trên dòng sông này, cũng là dòng sông để vận chuyển quả vải về cung cấp cho cung tần mỹ nữ của hoàng đế. Hai bờ Vận Lương hà đã từng có những người phu kéo thuyền cong lưng khuỳnh chân, những cơ bắp trên người cuồn cuộn cứng như sắt thép, mồ hôi ướt đẫm chảy ròng ròng thấm xuống đất khô. Bơi trong dòng nước ấm và chảy mạnh thế này không tốn nhiều sức lực, chỉ cần vẫy nhẹ đôi chân trước là tôi đã như một con cá mập, lao nhanh về phía trước. Tôi thay đổi kế hoạch của mình. Quay đầu lại nhìn Tiểu Hoa, tôi thấy nó đang bám sát tôi ở phía sau, bốn chân đạp nhịp nhàng dưới nước, đầu ngẩng lên, đôi mắt sáng rực và từ trong lỗ mũi, những giọt nước nhỏ li ti phun lên.
- Thế nào, Tiểu Hoa?
- Đại vương, em vẫn ổn! Vì lo trả lời tôi nên nó bị sặc nước, chân đạp có vẻ loạn nhịp.
Tôi đưa một chân trước xuống dưới bụng nó, nhẹ nhàng nâng lên khiến toàn thân nó như lộ rõ trên mặt nước, nói nhỏ:
- Cô bé! Loài lợn chúng ta đều là kiện tướng bơi lội bẩm sinh. Quan trọng là đừng lo lắng và vội vàng. Để mọi người không tìm ra tung tích của chúng ta, ta đã quyết định là chúng ta không đi đường đất mà đi theo đường sông, liệu em có chịu đựng được không?
- Đại vương! Em chịu được... Giọng của nó có vẻ rất cương quyết.
- Được, đến đây. Bám vào lưng ta!
Nó tỏ vẻ từ chối, tôi ngụp xuống rồi từ ngay dưới bụng nó, trồi lên. Tự nhiên nó đã cưỡi trên lưng tôi.
- Bám lấy ta, cho dù gặp bất cứ chuyện gì cũng đừng thả ra nhé!
Cõng Tiểu Hoa trên lưng, tôi men theo con sông đào phía đông trại lợn và bơi ra Vận Lương hà. Dòng sông chảy về đông cuồn cuộn sóng. Chân trời phía tây rực rỡ, mây màu biến hóa nhiều hình dáng kỳ dị, nào là rồng xanh hổ trắng, nào sư tử, nào chó hoang... Muôn tia hào quang lấp lánh trên mặt nước. Dọc theo con đê hai bên bờ sông là những hàng cây liễu rủ, những cành lá mềm mại cứ ngã xuôi về đông theo dòng nước, trên đó vẫn còn dấu tích của bùn đất bám đầy, chứng tỏ chúng đã từng bị ngập chìm trong nước.
Lam Giải Phóng, ông có biết không? Thời ấy mà bơi theo con sông lớn này để tìm tự do được con người xem là kỳ tích trong lịch sử Đông Bắc Cao Mật. Lúc ấy, ông đang ở bên kia sông, phía thượng nguồn. Để bảo vệ cho xưởng gia công khỏi bị ngập chìm trong nước, ông và mọi người đều phải túc trực ở bờ đê, còn tôi thì cõng Tiểu Hoa trên lưng xuôi theo dòng về đông để thử nghiệm những ý tứ hào phóng của thơ Đường mà người ta thường ca tụng. Cưỡi sóng mà đi, những con sóng đuổi theo chúng tôi, sóng đuổi theo sóng. Sông ơi! Vì sao mà sóng có sức mạnh đến dường ấy! Ngươi mang trong mình biết bao nhiêu là phù sa để làm màu mỡ bao nhiêu là lúa thơm, cao lương, đại thụ... chảy thẳng về đông, “một lần đi là không bao giờ trở lại”. Ngươi đã đem bao nhiêu là xác lợn của trại Hạnh Viên vứt xuống đây và chúng đang nằm dạt ở trong bờ, dưới những lùm liễu hồng um tùm ven sông kia, chúng trương phình lên, thối rữa, bốc lên mùi lộn mửa. Nhìn thấy xác chúng, tôi có cảm giác rằng, tôi với Tiểu Hoa đã vượt lên trên số phận, vượt lên trên cả dịch bệnh bạo tàn và cũng vượt qua một thời đại đã bắt đầu kết thúc - Thời đại Mao Trạch Đông.
Tôi biết, trong tiểu thuyết “Ghi chép về chuyện nuôi lợn”, Mạc Ngôn đã tả việc người ta đem những con lợn chết ném xuống dòng sông như sau:
“Hơn một nghìn con lợn chết của trại Hạnh Viên nối thành hàng dài trôi lềnh bềnh trên mặt nước, trương phềnh lên và bắt đầu tan vữa, nở bung ra và trên đó lúc nhúc dòi bọ... Những con cá bám chung quanh rỉa thịt chúng, đớp luôn cả dòi bọ vào bụng. Chúng cứ trôi và cuối cùng mất hút trong biển đông mịt mù thăm thẳm, tan biến, chuyển hóa thành bao nhiêu là dạng vật chất khác nhau để hòa nhập với sự tuần hoàn vĩ đại vĩnh hằng bất diệt...”.
Không thể nói là anh ta viết không hay, chỉ đáng tiếc là anh ta đã bỏ lỡ cơ hội trông thấy tôi, Lợn mười sáu cõng Tiểu Hoa đang trôi bồng bềnh trên sóng, chắc chắn anh ta sẽ không miêu tả cái chết mà là ca tụng sự sống, ca tụng chúng tôi, ca tụng tôi! Tôi chính là biểu tượng của lòng yêu cuộc sống, của tự do, của tình yêu... đẹp đẽ và kỳ lạ nhất thế gian này.
Chúng tôi xuôi theo dòng, ngẩng mặt về phía trăng mười sáu tháng tám âm lịch. Đêm nay, trăng khác hẳn với trăng ngày cưới của ông và Kim Long. Đêm ấy trăng từ trời cao rơi xuống, đêm nay trăng lại từ mặt sông bay vọt lên cao. Nó cũng tròn trịa, cũng đỏ rực khi vừa lên khỏi mặt nước, như một hài nhi vừa lọt ra khỏi bụng mẹ vũ trụ, cất tiếng khóc oa oa chào đời khi cả người đang còn dính đầy máu tươi của mẹ, khiến toàn bộ cảnh vật trên sông thay đổi màu sắc. Trăng đêm ấy ngọt ngào và thông cảm, đến để chứng kiến hôn lễ của hai người; trăng đêm nay hùng tráng và thê lương, đến với nhân gian vì Mao Trạch Đông đã tạ thế. Chúng tôi nhìn thấy Mao Trạch Đông đang ngồi trên trăng, dưới sức nặng của thân hình mập mạp khiến đôi khi trăng biến thành hình bầu dục. Ông đang khoác cờ đỏ, thuốc lá kẹp giữa ngón tay, đầu cúi xuống, khuôn mặt như đang suy nghĩ những gì lung lắm.
Tôi cõng Tiểu Hoa xuôi dòng đuổi theo trăng. Nhưng chúng tôi trôi thì trăng cũng lên cao, cho dù tôi đã tận lực sải nước, thân thể tôi nổi hẳn trên nước và lao đi như một quả thủy lôi, nhưng khoảng cách giữa tôi và trăng ngày mỗi xa. Bám trên lưng tôi, Tiểu Hoa luôn mồm cổ vũ: Cố lên, cố lên! Có cảm giác tôi là một con ngựa dưới thân hình nhẹ tênh của nó.
Lúc này tôi mới phát hiện, đuổi theo trăng không chỉ có mình chúng tôi mà còn có cả những đàn cá chép vàng, những con lươn xanh, những chú ba ba tròn trùng trục... Những con cá chép thi thoảng theo dòng quẫy mạnh vọt lên khỏi mặt nước, thân hình dẹp dẹp lấp lánh dưới ánh trăng; những con lươn uốn lượn thật uyển chuyển trên mặt nước; những con ba ba nhờ vào cái bụng to bè nên dễ dàng nổi lềnh bềnh trên sóng, chỉ cần đạp nhẹ bốn chân là chúng đã lao về phía trước như những chiếc thuyền nhỏ tẹo. Đôi lúc tôi cứ tưởng những con cá chép kia đang bay đến mặt trăng, rơi xuống sát bên cạnh Mao Trạch Đông, nhưng định thần nhìn kỹ tôi mới biết là mình nhầm. Cho dù các loài thủy tộc này mặc sức thi triển những sở trường của riêng mình, cự ly giữa chúng và mặt trăng ngày càng xa.
Hai bên bờ, trong những lùm liễu hồng, đom đóm dày đặc đang thắp những ngọn đèn xanh sau đuôi bay loạn xạ khiến mặt nước sông hai bên bờ rực rỡ một màu xanh lục. Trên sông lúc này có dòng chảy màu hồng ở giữa, hai bên là hai dòng chảy màu xanh lục. Đây cũng là một kỳ tích giữa chốn nhân gian, đáng tiếc là Mạc Ngôn không có cơ hội chiêm ngưỡng.
Những ngày đầu thai làm chó sau này, tôi đã từng nghe chính miệng Mạc Ngôn nói với ông rằng, nó muốn đem cuốn “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” đầu tư thêm công sức để biến thành bộ tiểu thuyết vĩ đại. Nó còn nói rằng, cách viết của nó trong bộ tiểu thuyết này khác xa với những nhà sáng tác tiểu thuyết nổi tiếng khác, giống như cá kình giữa biển khơi mênh mông với thân hình thô nhám nặng nề, hơi thở phì phò sẽ khác xa với thể hình thon đẹp, hành vi linh hoạt của cá mập, cá nhám. Tôi còn nhớ là ông đã khuyên nó nên viết về một việc gì đó cao thượng lãng mạn một tí, chẳng hạn như viết về tình yêu, về tình hữu nghị, về hoa, về tùng xanh cúc vàng... viết chuyện nuôi lợn làm gì. Lợn, liệu có thích hợp với hai từ “vĩ đại” không? Lúc ấy ông đang làm quan to, tuy đã lén lút lên giường với Bàng Xuân Miêu nhưng bên ngoài thì vẫn còn đạo mạo, oai phong lắm, cho nên ông mới nói những lời ấy với Mạc Ngôn. Tuy giận run người, muốn vồ lấy ông mà cắn để ông ngậm ngay cái mồm cao thượng lại, song nghĩ lại, tôi và ông vốn giao hảo bấy lâu nay nên dằn lòng lại. Kỳ thực, cao thượng hay không cao thượng đâu có can hệ đến việc viết cái gì mà là viết như thế nào. Mà làm gì đã có tiêu chuẩn thống nhất cho từ “cao thượng”! Chẳng hạn ông là một thằng đàn ông đã có vợ lại lồm cồm bò trên bụng một cô gái nhỏ hơn ông đến hai mươi tuổi rồi treo ấn bỏ nhà cùng cô ta đi biệt tích, ngay cả loài chó trong huyện cũng chửi ông là đồ khốn nạn, nhưng Mạc Ngôn lại xem chuyện anh bỏ chức theo tình là chuyện cao thượng. Cho nên, lúc ấy tôi cho rằng nếu Mạc Ngôn thấy tôi cùng với các loài thủy tộc đang đuổi theo trăng, đuổi theo hình bóng Mao Trạch Đông ở giữa sông, tôi tin chắc là trong tiểu thuyết của mình, anh ta sẽ kể và người ta sẽ xem đó là chuyện cao thượng. Nhưng tiếc thay, anh ta chẳng hề biết được những gì diễn ra trên sông vào cái đêm mùng chín tháng chín năm một chín bảy sáu, tức mười sáu tháng tám âm lịch ấy, cho nên cuốn “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” của anh ta chỉ có một số ít người tán dương, còn tuyệt đại bộ phận những kẻ được xem là chính nhân quân tử đều cho rằng đó là một cuốn sách đồi bại.
Ở ranh giới giữa huyện Đông Bắc Cao Mật và huyện Bình Độ có một bãi bồi nổi lên giữa dòng sông gọi là “Ngô gia sa chủy”, chia con sông làm hai nhánh, một nhánh chảy về hướng đông bắc, một nhánh chảy về hướng đông nam. Chảy quanh một vòng, cuối cùng hai nhánh cùng hợp lưu. Diện tích bãi bồi này khoảng tám cây số vuông, trước đây cả hai huyện Cao Mật và Bình Độ cố tranh chấp sở hữu bãi bồi này, sau đó thì được tỉnh cấp cho binh đoàn sản xuất và xây dựng của Quân khu. Ban đầu, người ta xây dựng ở đây một trại nuôi ngựa, nhưng sau đó thì phá bỏ, hiện tại ở đây trở thành một bãi đất hoang cho liễu đỏ và lau lách sinh sôi. Trăng chở Mao Trạch Đông đến đây, dừng lại giây lát trên đầu rừng liễu rồi bỗng nhiên bay vút lên cao. Chỗ dòng sông chia hai, nước chảy rất mạnh, trong số những loài thủy tộc, con nào phản ứng nhanh nhạy thì trôi theo dòng nước, còn phần lớn là do lực quán tính và lực ly tâm - thực ra còn có lực hấp dẫn vật chất của mặt trăng và lực hấp dẫn tâm lý của Mao Trạch Đông - bay lên cao và rơi xuống rừng liễu hoặc lau lách trên bãi bồi. Ông cứ hình dung cảnh tượng lãng mạn này: Dòng nước cuồn cuộn bỗng dưng phân thành hai nhánh và rồi, từ khoảng giữa hai dòng, từng đoàn nào cá chép, nào lươn, nào ba ba... nối đuôi nhau bay về phía trăng. Nhưng còn cách một khoảng gần, chúng lại bị lực hấp dẫn của trái đất kéo xuống. Đẹp thật đấy, song cũng thật bi thảm vì đa số đều trở thành thức ăn cho chồn cáo ở đây, số ít may mắn vẫy vùng và quay về được với nước, thuận theo dòng mà bơi đi.
Thân thể tôi nặng, hơn nữa còn cõng theo Tiểu Hoa nên cho dù tôi cũng bay lên, song chỉ khoảng ba mét thì đã rơi xuống, điểm rơi đúng vào đầu một chùm liễu. Thân liễu mềm và có độ đàn hồi rất lớn nên tôi và Tiểu Hoa không hề hấn gì. Với bọn chồn cáo ở đây, tôi và Tiểu Hoa là những con vật to lớn, tất nhiên bọn chúng chẳng thể ăn thịt chúng tôi. Hơn nữa, nhìn thấy hình dáng vai nở đít nhọn có phần giống với những con lợn hoang của chúng tôi, bọn chúng cứ ngỡ là những thổ dân bản địa. Chồn cáo cũng chẳng bao giờ ăn thịt đồng loại và kẻ đồng cảnh ngộ, và vì thế chúng tôi đã an toàn rơi xuống bãi bồi.
Vì chuyện kiếm ăn quá dễ dàng, thức ăn giàu dinh dưỡng nên bọn chồn cáo và lợn hoang ở đây đều mập nung núc. Chồn cáo ăn cá là chuyện bình thường, nhưng nhìn bọn lợn ăn cá, tôi cảm thấy kinh dị bội phần. Hình như ăn cá quá nhiều đã chán miệng, bọn chúng chỉ cắn đầu ăn óc và xẻ bụng ăn trứng, còn các bộ phận còn lại, chúng chẳng thèm ngửi.
Bọn lợn hoang tỏ ra rất cảnh giác khi nhìn thấy tôi và Tiểu Hoa, từ từ vây lấy chúng tôi. Mắt mũi đứa nào trông cũng rất hung tợn, những chiếc răng nanh dài ngoằng trông rất đáng sợ. Tiểu Hoa sợ hãi ôm siết lấy tôi, toàn thân run rẩy. Tôi dắt Tiểu Hoa lùi lại, cố không cho chúng bài binh bố trận tấn công theo hình rẻ quạt. Có chín con cả thảy, có đực có cái, to lớn mập mạp, tôi đoán chừng con nào cũng hơn trăm rưỡi ký lô, tất cả đều đầu dài mũi nhọn, đôi tai nhọn vểnh lên như tai chó sói, lông đen bóng. Tôi nặng trên hai trăm năm mươi ký, trông như một chiếc thuyền nhỏ. Từ kiếp người qua lừa, thành trâu và làm lợn, tôi luôn có thừa sức mạnh và trí tuệ, nếu lấy một chọi một, bọn chúng đều không phải là đối thủ của tôi. Nhưng đằng này lại đến chín đứa, tôi thất bại là cái chắc. Lúc này tôi nảy ra ý định, cứ lùi dần về phía bờ sông rồi đẩy Tiểu Hoa xuống nước, tôi sẽ còn lại một mình rảnh tay để đấu lực đấu trí với chúng. Bọn này ăn không biết bao nhiêu là óc và trứng cá, nhất định trí não của chúng cũng chẳng tồi, cho nên chúng đã đoán ra ý định của tôi. Hai đứa chạy vòng ra phía sau, rõ ràng bọn chúng định bao vây trước khi chúng tôi kịp lùi đến bờ sông. Nhượng bộ là chết, chi bằng chủ động tấn công, dương đông kích tây để đột phá vòng vây của chúng, dụ chúng đến giữa bãi bồi, ở đấy rộng rãi, lại có nhiều lùm liễu dày, đánh du kích để xé lẻ chúng ra và tiêu diệt từng đứa. Tôi thì thầm với Tiểu Hoa về ý đồ này, nó rơm rớm nước mắt, nói:
- Đại vương! Ngài cứ chạy đi, đừng lo cho em!
- Sao lại như thế được! Chúng ta đã đồng cam cộng khổ, tình như ruột thịt. Ta còn thì em còn!
Nói xong tôi bất ngờ xông thẳng vào một thằng đứng ngay trước mặt. Nó hoảng hốt thối lui nhưng thân hình tôi đột ngột quay ngang húc mạnh vào một con lợn cái ở kế bên. Hai cái đầu gặp nhau, một ánh chớp nhoáng nhoàng và tôi nhìn thấy nó đang lăn lộn cách tôi đến gần hai mét. Đội hình bao vây đã có một lỗ hổng, nhưng phía sau hình như đang có tiếng thở phì phò của một con khác. Hét lên một tiếng, tôi phi thân về phía trước, nhưng Tiểu Hoa đã không kịp theo tôi. Tôi ghìm chân, quay lại chờ nó, nhưng Tiểu Hoa đáng thương, Tiểu Hoa thân yêu, Tiểu Hoa thơ ngây của tôi đã bị một con ngoạm trúng bụng. Tiếng kêu đau đớn của nó khiến ánh trăng trở nên trắng bạc như tuyết! Tôi gầm lên:
- Thả cô ấy ra!
Không tính toán, cũng chẳng nghĩ đến chiến thuật nữa, tôi lao thẳng vào thằng khốn nạn ấy. Tiểu Hoa kêu lớn:
- Đại vương! Chạy đi! Đừng lo cho em!
Nghe tôi kể đến đây, lẽ nào ông chẳng có một chút xúc động nào sao? Lẽ nào ông không nhận ra rằng, tuy chúng tôi là lợn nhưng chúng tôi là những con lợn cao thượng nhất hay sao? Nghe tiếng kêu đau thương của Tiểu Hoa, tôi như phát điên, nhưng đã có hai đứa đứng chắn ngang đường không để tôi xông đến cứu Tiểu Hoa. Chẳng còn thời gian mà nghĩ đến chiến thuật, tôi nhắm đúng một đứa, xông thẳng đến. Nó không kịp tránh, bị tôi đớp một miếng trí mạng vào cổ. Răng tôi xuyên qua lớp da dày và cứng, ngập đến tận xương. Nó giãy giụa thoát khỏi mồm tôi. Tôi nghe thấy mùi máu tanh tưởi xộc lên. Nhưng lúc này chân sau của tôi cũng bị đứa kia cắn một miếng. Nén đau, tôi ghìm chân trước và tung hai chân sau lên. Độc chiêu này tôi đã dùng khi còn là lừa và lúc ở trại lợn tôi cũng đã từng luyện tập thành thục. Hai bộ móng cứng như sắt của tôi đập thẳng vào cằm nó. Tôi quay đầu lại, xốc tới, thằng này cắm cổ bỏ chạy. Chân sau tôi bị cắn đứt một miếng da to đau đớn không thể tả, máu chảy ròng ròng. Chẳng quan tâm đến vết thương, tôi lao thẳng đến thằng đang cắn Tiểu Hoa, húc mạnh. Cú húc đầy căm thù và bi thương này thật mãnh liệt, tôi có cảm giác bụng thằng chó chết ấy vỡ toác ra, không kịp kêu lấy một tiếng, văng xa đến ba mét và nằm im không nhúc nhích. Tiểu Hoa của tôi chỉ còn thở thoi thóp. Tôi dùng chân trước đỡ nó lên. Bụng nó đã thủng một lỗ lớn và ruột đang đổ ra loằng ngoằng. Tôi bất lực nhìn đống ruột nóng hôi hổi, trơn loáng...
- Tiểu Hoa, Tiểu Hoa! Ta đã không bảo vệ được em...
Tiểu Hoa cố mở mắt nhìn tôi, đôi mắt đã trắng bạc và dài dại, bọt mép và máu túa ra đầy mồm.
- Em không gọi ngài là Đại vương nữa... mà xin được gọi là anh... được không?
- Em gọi đi, gọi đi...! Tôi khóc. Em gái ngoan, em là người thân nhất đời của anh...
- Anh!... Em hạnh phúc lắm... thực sự hạnh phúc! Tiếng nói Tiểu Hoa yếu dần rồi tắt hẳn, bốn chân duỗi thẳng. Nó đã chết!
- Em gái...! Tôi khóc và gào lên, nhẹ nhàng đặt nó xuống rồi đứng dậy, không quan tâm gì đến nguy hiểm và sống chết nữa, giống như Hạng Vũ bên bờ Ô Giang, từng bước từng bước tiến về phía bọn lợn hoang.
Bọn chúng đang tụ thành nhóm, có vẻ hoảng sợ nhưng đội ngũ vẫn chỉnh tề, từ từ thối lui. Tôi điên cuồng lao đến. Bọn chúng tản ra bốn phía rồi bao vây tôi vào chính giữa. Chẳng thiết gì đến tính mạng, tôi húc, tôi cắn, tôi đá chân sau... hoàn toàn là những đòn đánh liều mạng. Tất cả chúng đều bị tôi đánh trúng, nhưng tôi cũng thương tích đầy mình. Khi vòng vây đã dịch chuyển đến giữa bãi bồi, bên cạnh bức tường đổ của trại ngựa, tôi nhìn thấy một bóng dáng quen thuộc đang ngồi trên cái máng ngựa ăn bằng đá.
- Lão Điêu! Là anh à? Tôi kêu lớn.
- Người anh em, tôi biết thế nào người anh em cũng sẽ đến!
Nói xong, Điêu Tiểu Tam quay đầu lại nói với bầy lợn hoang:
- Ta không thể làm vua của các ngươi. Ông ấy mới là vua chân chính của các ngươi đấy!
Cả bọn tỏ ra do dự và nghi hoặc trong giây lát rồi hai chân trước quỳ xuống đất, đồng loạt hô vang:
- Đại vương vạn tuế vạn vạn tuế!
Tôi muốn nói một điều gì đó, song sự tình diễn ra quá nhanh, đến nước này thì còn gì để nói. Một cách bất ngờ, tôi đã thành vua lợn, được bọn lợn hoang triều bái và cung phụng. Còn vị vua của nhân gian thì đang ngồi trên cung trăng, đã bay lên cao cách trái đất ba trăm nghìn cây số. Mặt trăng chỉ bằng chiếc đĩa bạc, cho nên hình bóng của ông vua chốn nhân gian không thể thấy rõ cho dù lâu nay con người vẫn dùng bao nhiêu là kính viễn vọng tối tân để nhìn.
33
Vua Lợn động lòng thăm làng cũ,
Lão Hồng say rượu náo tiệc vui.
“
Ngày tháng thoi đưa, thời gian như tên bắn”, thấm thoắt mà tôi làm vua lợn ở nơi hoang vu này đã hơn năm năm.
Ban đầu, tôi đã thử áp dụng chế độ một vợ một chồng trên bãi bồi, những tưởng áp dụng thành tựu văn minh của con người cho loài lợn sẽ được hoan nghênh, không ngờ lại vấp phải sự phản đối kịch liệt của cả lợn cái lẫn lợn đực. Tôi mang thắc mắc này đi hỏi Điêu Tiểu Tam. Nó nằm trong cái ổ được che chắn bằng cỏ để tránh mưa tránh gió mà chúng tôi đã hợp sức làm cho, nói một cách lạnh lùng:
- Anh có thể làm vua, nhưng đã làm vua thì nhất thiết phải phục tùng khuôn khổ và luật lệ lâu đời ở đây!
Thế là tôi đành phải chấp nhận những quy luật khắc nghiệt và tàn khốc của chốn giang hồ. Tôi nhắm mắt, thấp thoáng đâu đó là Tiểu Hoa, là Mê Hồ Điệp... xa hơn nữa là hình bóng con lừa Hoa Hoa, cuối cùng và mơ hồ nhất là những người đàn bà đã đi qua đời tôi... Sau mấy năm, trên bãi bồi đã xuất hiện cơ man nào là đồ tạp chủng đủ màu đủ sắc; có đứa lông vàng, có đứa xanh đen, có đứa lốm đốm giống như những con chó vẫn thường xuất hiện trong những chương trình quảng cáo trên tivi của loài người các ông. Những con lợn tạp chủng này vẫn giữ nguyên cái vẻ hoang sơ của loài lợn hoang, nhưng rõ ràng hơn hẳn bố mẹ chúng về mặt trí tuệ. Chúng lớn lên nhanh chóng và tôi chẳng thể nào hoàn thành nhiệm vụ giao phối với tất cả bọn chúng. Mỗi kỳ lợn nái động đực, tôi tùy ý lựa chọn những đứa mà mình thích, nhưng khi tôi không có mặt, không kiềm chế được dục tình, chúng tha hồ đi tìm những lạc thú riêng. Do vậy mà hầu hết lợn đực ở đây đều có cơ hội thỏa mãn dục tình. Và cứ thế, hình dáng những thế hệ nối tiếp ngày càng kỳ quái, có đứa giống như dê, có đứa như chó, đứa giống báo... nhưng đáng sợ nhất là có một con cái, khi mới sinh ra đã có mũi dài như mũi voi.
Tháng tư năm một chín tám mốt, mùa hoa hạnh nở rộ, cũng là lúc cao trào nhất trong mùa động đực của loài lợn, tôi bơi qua một nhánh sông và bắt đầu thám hiểm bờ phía nam. Nước trên bề mặt rất ấm, nhưng dưới đáy thì lạnh buốt. Nơi giao thoa giữa hai luồng nước ấm lạnh, rất nhiều loài cá đang bơi ngược dòng để trở về với dòng sông mẹ. Nhìn những con cá nhỏ chẳng quản hiểm nguy, chẳng ngại trầy vi tróc vảy tìm về với quê cũ khiến tôi chạnh lòng, đứng trầm tư suy nghĩ giây lâu.
Ở phía đông nam bãi bồi có một doi cát mọc đầy loại cây tùng đuôi ngựa, tầng thấp đầy những bụi gai rậm rạp. Nếu tôi muốn xa lánh cái thế giới hỗn trọc trên bãi bồi thì ẩn thân ở đây là rất lý tưởng. Nhưng tôi không muốn sống ẩn dật trong những ngày còn lại mà hôm ấy, bỗng nhiên một ước muốn trở về thăm làng Tây Môn, thăm trại lợn Hạnh Viên thôi thúc tôi đến kỳ lạ. Cùng Tiểu Hoa chạy đi tìm tự do kể ra cũng đã gần năm năm, nhưng chỉ cần nhắm mắt lại là những ký ức của năm năm trước lại hiện về, nhất là mỗi độ hoa hạnh đơm bông, dường như lúc nào tôi cũng ngửi thấy mùi thơm nồng nàn thoang thoảng trong gió tây. Làng Tây Môn trong ý thức của tôi lúc nào cũng là quê cũ.
Đêm nay trăng cũng đẹp lắm nhưng so với hai đêm trăng đặc biệt mà tôi đã kể qua thì đêm nay, trăng lại treo tít trên cao, bàng quan và chẳng biểu lộ sắc thái tình cảm gì. Không những chẳng hạ thấp độ cao, cũng chẳng thay đổi sắc màu để bầu bạn với tôi, mà trông nó như một người phụ nữ quý tộc, khuôn mặt đoan chính lạnh lùng ngồi trên cỗ xe tứ mã cao vời vợi...
Trong đêm trăng ấy, tôi đã quay về cố hương. Bước chân tôi sải dài qua những cánh đồng dâu tít tắp của công xã và đặt chân lên mảnh ruộng một mẫu sáu sào của Mặt Xanh. Rất nhiều phụ nữ tranh thủ hái lá dâu dưới trăng. Những điều trông thấy trên đường trở về khiến tôi hiểu ra rằng, nông thôn sau thời đại Mao Trạch Đông đã biến đổi. Nhưng trên mảnh đất cá thể của Mặt Xanh, vẫn cứ là lúa mạch, thứ nông sản đã lỗi thời. Ruộng dâu xanh um hai bên đường như đã hút hết chất dinh dưỡng ở đây nên lúa mạch thấp tè, yếu ớt, bông ngắn ngủn. Đây có thể là chiêu thức mà Hồng Thái Nhạc thực thi để trị tay cá thể Mặt Xanh chăng?
Dưới ánh trăng có một bóng người đang trần lưng đào một cái rãnh ngăn cách giữa đám ruộng dâu và ruộng lúa mạch, hẹp nhưng sâu. Rất nhiều những rễ dâu vàng vàng đã bị xẻng chặt đứt. Chuyện này chẳng hề đơn giản. Đào đất ở trên ruộng của mình là chuyện bình thường, song chặt đứt rễ cây cũng có nghĩa là phá hoại tài sản của tập thể. Bỗng nhiên tôi thấy lo lắng cho Mặt Xanh. Nhưng ngay lập tức tôi nhận ra rằng, lúc này công xã nhân dân chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, đội sản xuất đã giải tán. Nông dân đã được chia ruộng đất, hai bên ruộng của Mặt Xanh đã được cấp cho hai người, trên đó trồng dâu hay lúa là do những người chủ mới này tự quyết định.
Trại Hạnh Viên đây rồi! Rừng hạnh vẫn còn đó nhưng trại lợn đã hoàn toàn biến mất. Quanh gốc cây hạnh nghiêng, người ta đã làm một hàng rào bảo vệ bằng gỗ, trên đó có tấm bảng nhỏ ghi “Loài hạnh son”. Nhìn thấy tấm bảng, lập tức trước mắt tôi hiện ra cái cảnh Điêu Tiểu Tam bị thiến máu chảy dầm dề thấm đỏ gốc cây ngày xưa. Không có máu của nó, quả hạnh chắc chắn không đỏ thắm, cũng không thể trở thành một loại quả quý mà năm nào chính quyền huyện cũng đặt mua với giá rất cao như thế. Sau này tôi mới biết, nhờ quả hạnh quý này mà Kim Long - lúc này đã thay Hồng Thái Nhạc làm bí thư chi bộ - đã đặt quan hệ vô cùng mật thiết với các vị lãnh đạo ở huyện, thành phố, từ đó mở ra con đường danh vọng của anh ta. Nhìn nhánh hạnh ngày xưa tôi vẫn thường trèo lên, nhìn đám đậu lạc xanh um ở dưới, nơi đây vốn là chuồng của tôi, chẳng cầm lòng được, tôi đứng bật dậy cố vươn lên nắm cành hạnh. Sau bao nhiêu năm không luyện tập, thân thể lại quá nặng nề so với trước nên tôi thực hiện động tác này rất khó khăn.
Tôi bồi hồi đi lại trong trại Hạnh Viên với bao nhiêu ký ức bộn bề. Hai dãy nhà ở của nhân viên trại lợn ngày xưa bây giờ đã biến thành nhà nuôi tằm, đèn điện sáng choang. A! Lưới điện quốc gia đã về đến làng Tây Môn. Bà Bạch với mái tóc bạc phơ đang cắm cúi rải lá dâu cho tằm ăn. Tiếng tằm ăn lá vang lên rào rào. Con đường giữa làng đã mở rộng gấp đôi và đã láng nhựa phẳng lì. Bức tường thấp tè hai bên đường không còn nữa và thay vào đó là những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi, đều tăm tắp và rất khang trang. Có gần trăm người, chủ yếu là đàn bà và trẻ em đang tụ tập ở một khoảng sân rộng trước một ngôi nhà hai tầng, trước mặt họ là một chiếc tivi Nhật Bản hiệu Sony 21 inch. Tivi đang phát bộ phim truyền hình nhiều tập “Người đến từ Đại Tây Dương”, một bộ phim thần thoại về một chàng trai có màng giữa các ngón chân ngón tay giống như chân vịt. Chàng ta có thể bơi như cá mập dưới nước. Mọi người đang xem rất chăm chú và thi thoảng hoan hô, vỗ tay ầm ĩ. Chiếc tivi đặt trên một chiếc bàn vuông màu đỏ tía, bên cạnh là một lão già tóc bạc phơ, trên tay áo có đeo một khuôn vải màu hồng viết hai chữ “trị an”, tay cầm một chiếc gậy dài và nhỏ, đôi mắt nghiêm khắc lạnh lùng trông như một giám thị coi thi. Tôi chưa nhận ra lão là ai ...
- Đó là Ngũ Phương, anh trai của phú nông Ngũ Nguyên, nguyên là trưởng đài thông tin liên lạc của binh đoàn 54 Quốc dân đảng, bị bắt năm một chín bốn bảy, sau giải phóng bị phán quyết lao động khổ sai chung thân vì những hoạt động phản cách mạng, cách đây không lâu đã được giảm án cho về, vì tuổi già không thể lao động, lại không có người chăm sóc, thuộc diện được hưởng đãi ngộ theo chính sách “năm đối tượng được bảo hộ” của nhà nước, mỗi tháng được nhận mười lăm nhân dân tệ tiền trợ cấp - Tôi nói.
Mấy ngày nay, Lam - Ngàn - Năm - Đầu - To kể liên tục, chuyện của nó nửa thực nửa ảo làm đầu óc tôi trở nên mụ mị, đưa tôi về với địa ngục rồi bỗng chốc nổi phập phù trên mặt nước. Tôi muốn xen ngang vào câu chuyện của nó để đưa ra những ý kiến của mình thì ngay lập tức nó đã chẹn lại, tôi trở thành một nhân vật bị cầm tù trong dòng hồi ức miên man bất tận của nó. Nhân cơ hội này, tôi muốn xen ngang để kể về lai lịch của Ngũ Phương, muốn làm cho câu chuyện quay về với hiện thực, nhưng tôi vừa mở miệng nói mấy câu giới thiệu về Ngũ Phương thì Lam - Ngàn - Năm - Đầu - To bỗng nhiên nổi giận nhảy tót lên bàn quát lớn:
- Câm mồm!
Rồi vạch quần, lôi của quý to bự chẳng hề tương xứng với thân thể và tuổi tác nhắm vào tôi, đái thẳng. Nước đái của nó dậy mùi sinh tố B vọt thẳng vào mồm khiến tôi ho sặc sụa và đầu óc vừa kịp tỉnh của tôi trở nên mụ mị, mơ hồ.
- Ông câm miệng lại, nghe tôi kể. Vẫn chưa đến lượt ông kể mà!
Gương mặt của nó vẫn là của một đứa trẻ nhưng nhìn kỹ thì ẩn chứa sự già dặn, từng trải của một lão già khiến tôi bỗng liên tưởng đến thằng tiểu quỷ Hồng Hài Nhi trong “Tây du ký”, mỗi lần nổi giận là miệng phun ra lửa; cũng khiến tôi nhớ đến nhân vật Na Tra trong “Phong thần diễn nghĩa”, chân có bánh xe lửa, hễ lắc mình một cái là hóa thành ba đầu sáu tay. Tôi cũng liên tưởng đến Lão Ngoan Đồng trong “Thiên long bát bộ” của Kim Dung, chín mươi tuổi mà vẫn mang gương mặt trẻ thơ, và cuối cùng là con lợn đực trong tiểu thuyết “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” của bạn tôi - Mạc Ngôn.
Lam - Ngàn - Năm - Đầu - To quay trở về chỗ ngồi, tiếp tục kể:
- ... Sau đó, đương nhiên tôi biết Ngũ Phương là anh trai của Ngũ Nguyên, tôi còn biết Kim Long đã kế nhiệm Hồng Thái Nhạc làm bí thư chi bộ, bố trí lão ta quản lý chiếc tivi duy nhất trong thôn, cứ mỗi đêm là mở để phục vụ bà con. Đối với việc này, lão Hồng tỏ ra vô cùng bất mãn, đã từng tranh luận gay gắt với Kim Long. Sau khi về hưu bất đắc dĩ, bộ dạng của lão Hồng trông giống như một kẻ du đãng, ăn mặc lôi thôi lếch thếch và lúc nào cũng uống rượu. Nghe đâu lão cố tình làm như vậy để bôi bác quyết định buộc lão về hưu của đảng ủy công xã, lúc này do Bàng Kháng Mỹ làm bí thư. Cô này là bí thư đảng ủy trẻ nhất, là ngôi sao chính trị mới xán lạn nhất trong toàn huyện Cao Mật.
Lần ấy, Hồng Thái Nhạc mang theo cả lít rượu tới trụ sở đại đội, tức ngôi nhà hai tầng mới xây tôi vừa đề cập đến ở trên. Người gác trụ sở Ngũ Phương cúi đầu khom lưng trước lão giống như ngày xưa lính bảo an ngụy khom lưng trước những viên quan người Nhật. Lão Hồng khịt khịt mũi một cách khinh miệt rồi ngang nhiên bước vào trụ sở, leo lên tầng hai rồi từ đó chỉ xuống chiếc đầu trọc Ngũ Phương, tức giận nói với Kim Long:
- Ông trẻ! Đó là một sai lầm chính trị nghiêm trọng của anh! Nó là loại người nào? Đài trưởng thông tin Quốc dân đảng, vốn đáng phải bị bắn đến hai mươi lần. Cho nó một con đường sống đã là sự khoan dung quá rồi. Nhưng anh lại để cho nó được hưởng trợ cấp ưu đãi. Anh đứng ở lập trường giai cấp nào vậy?
Nghe đâu rằng, Kim Long chẳng nói chẳng rằng lấy ra một điếu thuốc lá thơm ngoại nhập và dùng một chiếc bật lửa được làm bằng vàng ròng đốt thuốc, nhét điếu thuốc vào miệng lão, rồi ấn lão ngồi xuống chiếc ghế xoay bọc da mềm, nói:
- Chú Hồng à! Tôi được tự tay chú bồi dưỡng mà nên người, là người kế nhiệm của chú. Cho dù chuyện gì, tôi cũng muốn noi theo con đường của chú mà đi. Nhưng thế sự biến đổi rồi. Để cho Ngũ Phương hưởng trợ cấp là quyết định của huyện. Chú chớ có nổi giận. Đây là chính sách của nhà nước, chú có giận dữ cũng chẳng được tích sự gì đâu.
- Thế chúng tôi làm cách mạng mấy mươi năm là làm không công à?
Kim Long bước tới nắm lấy chiếc ghế xoay xoay nửa vòng, mặt lão Hồng hướng về phía cửa sổ. Thấp thoáng xa xa là những mái ngói đỏ tươi đang rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời, nói:
- Đừng nên nói những lời vô nghĩa ấy, chú Hồng! Đảng cộng sản làm cách mạng không phải chỉ là lật đổ Quốc dân đảng và Tưởng Giới Thạch mà mục đích căn bản là vì cuộc sống no ấm của nhân dân. Quốc dân đảng và Tưởng Giới Thạch ngăn cản con đường của Đảng cho nên phải thất bại. Do vậy, chú ạ, chúng ta đều là nhân dân, đừng suy nghĩ quá nhiều. Ai làm cho chúng ta hạnh phúc, chúng ta theo người ấy! Chú cứ nhìn bộ mặt mới của làng Tây Môn mấy năm nay mà xem...
Mặt Hồng Thái Nhạc đỏ tía lên:
- Nói bậy! Đó là luận điệu của những kẻ theo chủ nghĩa xét lại. Tao phải lên tỉnh để tố cáo mày.
Kim Long cười hi hí, giễu cợt:
- Ở trên tỉnh có ai rảnh mà nghe chuyện vô bổ của chú nào? Theo tôi, chú không thiếu rượu để uống, thịt để ăn, tiền để tiêu thì không cần phải điên tiết lên như thế.
- Không được, đây là vấn đề quan điểm, nhất định ở Trung ương đã có kẻ theo chủ nghĩa xét lại. Mày cứ mở mắt mà xem, chuyện này chỉ mới bắt đầu. Mọi việc sẽ thay đổi thôi, như thơ Mao Chủ tịch có câu “Khẳng khái thay trời long đất lở”...
... Tôi nhởn nhơ quan sát những người đang quây quần xem tivi khoảng mười phút rồi lại chạy về hướng Tây. Ông có biết tôi đi đâu không? Tôi chẳng có gan để chạy trên đường lớn, vì tôi biết việc cắn chết Hứa Bảo khiến tiếng tăm của tôi đã vang khắp vùng Đông Bắc Cao Mật, nếu để ai đó trông thấy ắt sẽ gây nên một cảnh đại loạn. Không phải tôi sợ đánh không lại họ mà sợ trong lúc hỗn loạn, tôi sẽ đả thương những người vô tội, không phải tôi sợ họ mà ngại phiền phức. Tôi men theo bóng tối từ phía sau của những ngôi nhà hai bên đường, chạy thẳng về nhà cũ.
Cổng nhà Tây Môn đang mở, cây hạnh già trong sân vẫn đang đơm hoa, mùi thơm lan tỏa cả một vùng. Ẩn thân trong bóng tối phía bên ngoài, tôi chăm chú nhìn những người đang ngồi quây quần dưới gốc cây, trên đầu họ treo lủng lẳng một chiếc bóng đèn sáng trưng. Tôi đều biết những người này. Họ là những kẻ xấu ngày trước, là đội trưởng bảo an ngụy Dư Ngũ Phúc, thằng phản tặc Trương Đại Tráng, địa chủ Điền Quý, phú nông Ngũ Nguyên... Trong số đó có cả nguyên chủ nhiệm bảo vệ chính trị Dương Thất, hai anh em Tôn Long và Tôn Hổ. Họ đang uống rượu và tất cả đều đã ngà say. Sau này tôi mới biết, Dương Thất lúc ấy đã là một tay buôn tre. Lão ta chở tre bằng tàu hỏa từ núi Tĩnh Cang về đến Cao Mật, dùng xe chở về làng Tây Môn rồi bán cho Mã Lương Tài, người đang quản lý công việc xây dựng trường học mới. Nhờ việc này mà lão phất lên nhanh chóng, biến lão trở thành kẻ giàu nhất làng Tây Môn. Cho nên đêm nay, lão lấy tư cách là người giàu nhất làng dương dương tự đắc uống rượu dưới gốc cây hạnh già. Bộ quần áo trên người lão may theo kiểu tây, thắt cà vạt màu đỏ, ống tay áo xắn lên để lộ cái đồng hồ điện tử trên cổ tay. Gương mặt gầy nhom ngày xưa giờ đây nung núc thịt. Lão lôi ra một gói thuốc lá Mỹ, lấy một điếu quăng cho Tôn Long, gã này đang gặm một chiếc móng lợn; lấy một điếu nữa đưa cho Tôn Hổ rồi vứt chiếc vỏ xuống đất, gọi với vào phía trong:
- Bà chủ ơi!
Một tiếng trả lời rồi bà chủ xuất hiện. A! Thì ra là Ngô Thu Hương! Cô ta đã trở thành bà chủ! Lúc này tôi mới định thần nhìn kỹ, bên phải cổng nhà đã được quét vôi trắng, trên đó có bốn chữ “Thu Hương tửu quán” bằng sơn đỏ. Bà chủ quán rượu Ngô Thu Hương đã chạy đến sau lưng Dương Thất, khuôn mặt bự phấn trang điểm một nụ cười, vai khoác khăn quàng, mặc tạp dề trông rất chuyên nghiệp, thái độ phục vụ rất nhiệt tình. Đổi đời rồi, đã cải cách, đã mở cửa, làng Tây Môn khác xưa quá rồi. Mắt mũi cô ta đều cười, lên tiếng:
- Ông chủ Dương cần gì nữa chăng?
- Bà chửi ai thế? Dương Thất trừng mắt nói: Tôi chỉ là một kẻ buôn tre, nào xứng với đại danh ông chủ!
- Đừng khiêm tốn, ông chủ Dương! Hơn mười nghìn cây tre, mỗi cây mười tệ, ít nhất trong tay ông có mười vạn tệ. Giắt lưng mười vạn tệ mà chưa được gọi là ông chủ, thế thì cả vùng Đông Bắc Cao Mật này có ai dám xưng là ông chủ nào?
Rồi cô ta lấy ngón tay mân mê chiếc cà vạt, cái cổ áo của Dương Thất, nói tiếp:
- Các ông xem, bộ cánh trên người ông ấy đây này, từ đầu đến chân, ít ra cũng hàng nghìn tệ đấy!
- Nhìn cái mồm toe toét của bà kìa, sớm muộn gì bà cũng biến tôi thành một con lợn chết như ngày xưa thôi! Đoàng! Một tiếng súng vang! Thế là hết!
- Được rồi, ông chủ Dương! Ngay cả một xu ông cũng chẳng có, được chưa? Tôi chưa mở miệng để vay tiền, ông đã niêm cửa nhà rồi. Thôi được rồi, ông cần gì? Ngô Thu Hương dẩu môi nói.
- Ôi dào, giận rồi à? Bà đừng bao giờ dẩu môi, vì chỉ nhìn thấy bà dẩu môi là của quý của tôi đã dựng lên rồi đó!
- Dựng cái con mẹ nhà ông ấy! Mau nói đi, cần gì?
- Một gói thuốc lá, loại Lương Hữu ấy!
- Chỉ một gói thuốc lá thôi à, còn rượu? Rồi cô ta liếc nhìn gương mặt đã đỏ nhừ của hai anh em nhà họ Tôn, nói tiếp: Hai người anh em hình như chưa uống rượu thì phải?
Tôn Long đã líu lưỡi, nói lè nhè:
- Ông chủ Dương mời, uống thế là đủ rồi!
Dương Thất đập bàn, đứng dậy:
- Lão đệ đang chửi anh đấy à? Anh đây chưa có đủ mười vạn đồng nhưng tiền để mời hai anh em, anh đây thừa sức. Vả lại hiệu tương ớt “Hồng” của nhị vị đã vang danh khắp thiên hạ. Nếu tôi là nhị vị, tôi đã xây hai mươi gian phòng, đặt hai trăm chiếc nồi, thuê hai trăm công nhân, thuê đài truyền hình quảng cáo hai mươi giây để nhãn hiệu tương ớt “Hồng” vượt khỏi Cao Mật, đỏ cả Sơn Đông, đỏ toàn Trung Quốc, lúc ấy nhị vị chỉ còn việc thuê người ngồi đếm tiền. Hai triệu phú tương lai ngồi trước mặt, tôi còn lời nào để ba hoa nữa!
Vỗ một cái bốp vào mông Thu Hương, Dương Thất phẩy tay:
- Được rồi, mang tiếp ra đây hai chai Tiểu Hắc Đàm!
- Tiểu Hắc Đàm? E không xứng chăng? Mời đại triệu phú uống rượu ít ra cũng phải là Tiểu Lão Hổ chứ?
- Mẹ nó chứ, Ngô Thu Hương! Cô đúng là đục nước béo cò! Dương Thất có vẻ bất đắc dĩ, nói: Thôi được, thì Tiểu Lão Hổ vậy!
Hai anh em họ Tôn đưa mắt nhìn nhau, Tôn Hổ nói:
- Anh hai, ông chủ Dương quả là chịu chơi!
Tôn Long đã líu lưỡi, nói bắp bắp:
- Hình như tao đang thấy những tờ tiền bay lả tả giống như lá cây hạnh tung bay trong gió vậy!
- Hai người anh em! Dương Thất nói: Lưu Bị vì cớ gì mà ba lần mang lễ vật đến lều tranh mời Gia Cát Lượng? Có phải vì ông ta đã ăn no nên làm chuyện vô ích chăng? Ông ta đang dùng kế sách để an định quốc gia. Gia Cát Lượng đã chỉ cho ông ta con đường, từ đó thiên hạ chia ba. Anh đây vì hai người mà mở miệng rồi, mai này làm nên sự nghiệp, đừng quên hậu tạ quân sư nhé!
- Mua nồi, xây xưởng, thuê công nhân, khuyếch trương sản xuất, nhưng... tiền lấy ở đâu ra? Tôn Hổ hỏi.
- Tìm Kim Long bảo nó cho vay! Dương Thất vỗ đùi nói: Ngày trước Kim Long làm cách mạng trên khán đài ở dưới gốc cây hạnh này, anh em nhị vị chẳng phải là con chó trung thành của nó đó sao?
- Ông Dương! Câu nào trong miệng ông nói ra cũng đều có ác ý cả. Cái gì là “con chó trung thành”? Phải gọi là “chiến hữu thân thiết” chứ!
- Được, được rồi! “Chiến hữu thân thiết”. Hay là anh em hai người vẫn cảm thấy mất mặt trước nó?
Tôn Long lắp bắp hỏi:
- Cái khoản vay này cuối cùng cũng phải trả. Sinh lời, tất nhiên là tốt rồi, nhưng lỗ, lấy đâu ra để trả?
- Đồ óc lợn! Tiền của Đảng, không dùng thì nằm đó. Có lời, chúng ta trả, chưa chắc họ đã cần. Lỗ, họ cần thì chúng ta lại không có tiền. Vả lại, tương ớt nhãn hiệu “Hồng” mà bị thua lỗ, họa là hai anh không đốt lò rang ớt bằng củi mà bằng nhân dân tệ thôi.
- Như vậy là phải đến Kim Long vay tiền? Tôn Hổ hỏi.
- Vay! Tôn Long khẳng định.
- Vay được thì mua nồi lớn, xây nhà xưởng, thuê công nhân, làm quảng cáo?
- Đúng rồi! Dương Thất vỗ đùi nói: Cuối cùng thì nhị vị đã hiểu ra. Các vị cần tre gỗ để xây xưởng, anh đây đảm bảo. Tre núi Tích Cang cứng và thẳng, trăm năm không mục, giá cả cũng chỉ bằng một nửa gỗ sam. Hai mươi gian phòng cần bốn trăm chiếc đòn tay, nếu dùng tre, tiết kiệm được ba mươi đồng. Riêng chuyện này, anh đã giúp hai vị tiết kiệm được mười hai nghìn đồng rồi đấy.
- Suy cho cùng thì ông cũng chỉ nhằm mục đích bán tre! Tôn Hổ có vẻ chế giễu nói.
Thu Hương mang hai bình rượu Tiểu Lão Hổ và hai hộp thuốc lá Lương Hữu đến. Hỗ Trợ đi sau, trên tay là một đĩa xào dưa chuột với tai lợn và một đĩa lạc rang dầu. Đặt tất cả lên bàn, Thu Hương nói:
- Đừng lo! Hai món nhậu này là tôi khuyến mãi, không cần trả tiền.
- Bà chủ nhìn lão Dương này bằng nửa con mắt rồi. Vỗ vỗ vào túi quần, lão nói tiếp: Lão đây chẳng có tiền nhưng để trả cho hai món này thì lúc nào cũng sẵn.
- Biết ông lắm tiền, nhưng đây là tôi muốn lấy lòng hai người anh em họ Tôn thôi. Tôi tin là tương ớt “Hồng” sẽ ăn nên làm ra đấy.
Mỉm cười đầy ý vị, Hỗ Trợ đẩy hai đĩa thức ăn về phía trước mặt anh em họ Tôn. Cả hai hoang mang đứng dậy, lí nhí:
- Chị, làm phiền chị quá ...
- Bà chủ Ngô! Bà chỉ phục vụ khách lớn, cũng phải quan tâm đến anh em chúng tôi chút chứ! Ngồi ở bàn kế bên, Ngũ Nguyên nói lớn, rồi cầm lấy tờ thực đơn: Chúng tôi cũng kêu món đây!
- Các chú cứ uống cho say, chớ để ông chủ Dương coi thường! Thu Hương nâng ly uống cạn nửa chén rượu, liếc mắt nhìn Dương Thất, nói: Tôi qua bên kia phục vụ những kẻ ngốc nghếch ấy đây!
- Đồ trứng thối ấy đã nếm khổ đủ rồi, cứ cho chúng hưởng mấy ngày làm người còn lại đi! Dương Thất khinh bỉ nói.
Chỉ tay vào mấy người đang ngồi quây quần quanh chiếc bàn bên cạnh, Thu Hương nói:
- Địa chủ, phú nông, đội trưởng bảo an ngụy, phản bội, phản cách mạng... Tất cả đồ xấu xa của làng Tây Môn dường như đã tụ tập ở đây rồi. Thế nào? Các ông tụ tập ở đây định làm phản chắc?
- Bà chủ! Chớ quên bà nguyên là vợ bé của địa chủ ác bá đấy!
- Tôi và các ông khác nhau.
- Khác ở chỗ nào? Ngũ Nguyên hỏi. Bà nói nào là mũ đen, mặt sắt, đầu bò... những cái tên ấy đều là chuyện ngày xưa. Chúng tôi bây giờ cũng giống như mọi người, đường đường chính chính là xã viên công xã cả đấy.
- Vứt mũ một năm rồi! Lời Dư Ngũ Phúc.
- Khỏi bị quản chế một năm rồi! Lời Trương Đại Tráng.
Điền Quý vẫn còn có vẻ sợ sệt, liếc nhìn Dương Thất rồi nói nhỏ:
- Được cởi dây trói rồi!
- Hôm nay là đúng một năm chúng tôi được vất mũ, khôi phục thân phận công dân. Đối với những người bị quản chế hơn ba mươi năm như chúng tôi mà nói, đây là ngày vui nhất đời. Chúng tôi chỉ tụ tập uống vài chén, chẳng đáng nói là tiệc mừng mà chỉ vài chén thôi. Ngũ Nguyên nói.
Dư Ngũ Phúc nhấp nháy đôi mắt đã đỏ ngầu nói:
- Có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới chuyện này, có nằm mơ...
Đôi mắt Điền Quý đã dâm dấp nước:
- Cháu tôi năm ngoái đã được tham gia Giải phóng quân... Tết vừa rồi, bí thư Kim Long tự tay mang bảng hiệu “Gia đình vinh quang” đến treo trước cửa nhà tôi...
- Đa tạ sự lãnh đạo anh minh của Hoa Chủ tịch! Trương Đại Tráng cảm khái nói.
- Bà chủ! Lâu nay bụng chúng tôi đây chứa toàn cỏ, bây giờ ăn cái gì cũng được, bà cứ chọn món gì mang ra đây cũng được. Chúng tôi đều đã ăn cơm tối ở nhà rồi mới đến đây, không đói đâu ...
- Nên chúc mừng! Theo lý thì tôi đây cũng là vợ địa chủ, may nhờ Hoàng Đồng mà được mở mặt. Nói gì thì nói, bí thư Hồng cũng là người tốt, ở thôn khác thì tôi và Nghinh Xuân chạy đằng trời cũng khó thoát. Thu Hương cúi đầu nói.
- Mẹ huyên thuyên cái gì vậy? Bê bộ ấm trà trên tay, Hỗ Trợ từ phía sau huých vào nhẹ cùi tay vào lưng mẹ rồi cười nói: Các chú, các bác, uống trà trước đã nhé!
- Hỗ Trợ! Cô là phu nhân của bí thư, lại tự tay bê trà rót nước cho chúng tôi. Hơn ba mươi năm qua, nằm mơ cũng không dám nghĩ tới. Ngũ Nguyên cảm kích nói.
- Cần gì ba bốn mươi năm, hai năm trước cũng không dám nghĩ tới rồi. Trương Đại Tráng bồi thêm.
... Tôi nói nhiều và lâu đến thế, ông có cần phải nói thêm gì không? Có cảm khái gì không? Lam - Ngàn - Năm - Đầu - To hỏi. Tôi lắc đầu. Giải Phóng không có lời gì để nói!
Lam Giải Phóng! Tôi chẳng sợ ông phiền hà mà kể lại toàn bộ những gì tôi thấy và nghe trong nhà cũ Tây Môn, chủ yếu là để dọn đường cho một người rất quan trọng xuất hiện. Đó là Hồng Thái Nhạc.
Sau khi xây dựng xong trụ sở, ngôi nhà cũ của Tây Môn Náo biến thành nhà riêng của vợ chồng Kim Long. Đồng thời với việc tuyên bố vứt mũ chụp cho những phần tử xấu cũ, Kim Long cũng tuyên bố đổi họ Lam thành họ Tây Môn. Tất cả những điều này đã khiến cho bậc lão thành cách mạng Hồng Thái Nhạc cảm thấy kỳ quái, khó hiểu. Lão đang trên đường về nhà sau khi xem hết chương trình phim trên tivi. Mặc dù bọn thanh niên lao nhao phản đối song Ngũ Phương vẫn kiên quyết tắt tivi theo quy định của thôn. Có đứa chửi toáng lên:
- Thằng già Quốc dân đảng kia! Cộng sản tại sao lại không bắn vỡ óc mày ra?
Ngũ Phương như câm như điếc trước những lời chửi độc địa ấy, mang tivi vào trụ sở. Đêm nay trăng rất sáng và gió cũng rất mát, một số thanh niên dắt nhau đi dạo, một số ngồi dưới ánh điện bên đường đánh tú lơ khơ. Một đứa giọng khàn khàn như vịt đực bỗng hét lên:
- Thiện Bảo hôm nay vào thành phố lãnh thưởng, được một chiếc xe máy. Thiện Bảo khao anh em đi!
- Đúng rồi, khao đi! Hưởng lộc mà không chia cho mọi người, họa từ trên trời sẽ giáng xuống! Đi thôi! Đến quán rượu Thu Hương đi! Thiện Bảo!
Mấy đứa chạy đến bên Thiện Bảo đang đánh bài, kéo dậy. Nó vùng vẫy, đấm mạnh vào thằng kéo, gương mặt đỏ phừng, chửi:
- Tiên sư đứa nào nhận thưởng, chỉ con rùa rụt cổ mới được thưởng chiếc xe máy!
- Anh tự nguyện làm con rùa chứ không thừa nhận được thưởng ư?
Đột nhiên Thiện Bảo đứng dậy hét to:
- Tôi đã được nhận thưởng, được một chiếc xe máy... A ha! Về thôi! Về ngủ sớm để ngày mai lên thành phố nhận thưởng thôi!
Mọi người đồng loạt cười rộ lên. Vẫn cái giọng vịt đực khàn khàn lên tiếng:
- Thôi, mọi người đừng làm khó Thiện Bảo nữa. Nó sợ vợ một cây. Bây giờ ai lo phần nấy, mỗi người góp hai đồng về quán Thu Hương. Đêm đẹp thế này ai có vợ thì về ngủ với vợ, chúng ta chưa vợ về nhà làm gì. Đi thôi, ai chưa có vợ theo tôi tìm Thu Hương.
... Từ khi nghỉ hưu, Hồng Thái Nhạc lại bắt chước Mặt Xanh, ban ngày ngồi lỳ trong nhà, ban đêm ra đường. Nhưng Mặt Xanh nhờ ánh trăng làm việc, còn lão thì nhờ ánh trăng mà thơ thẩn khắp các ngõ ngách trong làng giống như những người tuần canh khi xưa. Kim Long chế giễu: Cựu bí thư có tinh thần cách mạng cao, đêm đêm đi tuần để canh gác giấc ngủ cho bà con. Tất nhiên chuyện lão đi đêm không phải như Kim Long nói, mà vừa đi vừa uống rượu. Lúc nào cũng thế, trong tay lão luôn luôn kẹp một bình rượu dẹp, vốn là bi đông đựng nước từ thời tham gia Bát lộ quân, mặc quân phục, thắt nịt lính, chân đi giày cỏ... Bộ dạng lão giống hệt một quân nhân đang tại ngũ, chỉ thiếu mỗi cây súng. Cứ đi hai bước thì lão tợp một ngụm rượu và chửi hai tiếng. Khi lão uống hết bi đông rượu thì ánh trăng cũng đã tà tà về tây, lão cũng đã say bí tỉ, chân nam đá chân chiêu. Có lúc đôi chân vô tình đưa lão về nhà, cũng có lúc đưa lão ra đến tận đầu làng, chỗ lò gạch bỏ hoang và ngủ khì cho đến khi mặt trời lên cả con sào mới tỉnh dậy. Rất nhiều lần người ta bắt gặp lão còng queo dưới đất, râu tóc kết băng nhưng da mặt vẫn hồng hào, thở đều trông rất thanh thản khiến mọi người chẳng nỡ làm kinh động giấc mộng đẹp của lão. Cũng có lúc cao hứng, lão đi đến cánh đồng phía đông tìm Mặt Xanh đấu khẩu. Đương nhiên lão chẳng bao giờ dám dẫm chân lên mảnh đất một mẫu sáu sào ấy mà chỉ đứng bên đất người khác nói chõ sang, còn Mặt Xanh vẫn cứ lầm lì làm việc, chẳng để ý gì, nhưng nếu có mở miệng thì những lời của Mặt Xanh tuôn ra rất ác. Chẳng hạn trong lần thực hiện chính sách phân đất đến từng hộ nông dân, lão tìm đến Mặt Xanh, nói:
- Chủ nghĩa tư bản đã khôi phục rồi. Ông nói, giao đất không phải là theo tư bản sao?
Mặt Xanh vẫn lầm lì, sau đó mới nói gằn từng tiếng:
- Trò vui vẫn còn ở phía trước. Bây giờ thì ông cút đi cho tôi nhờ!
- Mẹ nó chứ! Công xã nhân dân, chế độ công hữu không cần nữa à?
- Sớm muộn gì cũng quay về với cá thể thôi!
- Ông đừng có mà nằm mơ!
- Cút!
Hồng Thái Nhạc vẫn dai như đỉa:
- Gian khổ ba mươi năm, tỉnh giấc thấy quay về với chế độ mà mình đã đào mồ chôn nó. Tôi không phục! Tôi cần phải lên Bắc Kinh, đến quảng trường Thiên An Môn, khóc trước anh linh của Mao Chủ tịch rằng, công lao của Người đã thành mây khói, giang sơn đỏ của Người đã thay màu, thay máu...
Thần trí mê loạn, lão Hồng quên phắt lời thệ ước khi xưa, đạp chân lên đất của Mặt Xanh. Lúc này Mặt Xanh đang tỉa đậu, chụp lấy con dao kề sát vào bụng lão, nói rít qua kẽ răng:
- Ông đã giẫm lên đất tôi, chiếu theo quy định, tôi sẽ cắt gân chân ông. Nhưng bữa nay tôi đang vui, tha cho ông đấy!
Lão sụm gối, lăn một vòng rời khỏi đất Mặt Xanh, rồi vịn một cây dâu đứng lên, lão nói:
- Tôi không phục đâu! Chúng tôi làm cách mạng ba mươi năm, cuối cùng người đúng lại là ông. Còn chúng tôi, những kẻ trung thành, đổ máu, đổ mồ hôi hóa ra lại sai à?
Giọng Mặt Xanh đã trở nên ôn tồn hơn:
- Phân đất đến từng hộ gia đình, chả lẽ ông không có phần à? Có ai dám cắt bớt của ông một tấc đất nào không? Không có, vì không ai dám. Mỗi năm ông nhận sáu trăm đồng lương hưu, không phải tháng nào ông cũng nhận đều năm mươi đồng đó sao? Mỗi tháng ông còn có ba mươi đồng trợ cấp vì những thành tích trong quân ngũ, có ai dám bớt của ông một xu không? Không có, vì không ai dám. Những chuyện ông làm, Đảng Cộng sản đều tính thành tiền, mỗi tháng phát cho ông, ông không biết à?
- Đó là hai chuyện khác nhau. Tôi không phục là, Mặt Xanh ông vốn là viên đá cản đường lịch sử, là kẻ duy nhất không vào công xã, lẽ nào lại là kẻ tiên phong? Không phải ông đang đắc ý à? Cả huyện Cao Mật này người ta đều xem ông là kẻ tiên tri đấy!
- Tôi chẳng phải tiên tri, chẳng phải thánh thần gì cả. Mao Trạch Đông mới là thánh thần, Đặng Tiểu Bình mới là thánh thần. Thánh thần mới có khả năng thay đổi trời đất, tôi thì có thể làm được gì? Tôi chỉ tin có một điều là, anh em ruột còn phải ở riêng, thế thì một lũ người không bà con thân thích đem dồn vào một đống, làm sao sống với nhau được. Không ngờ cái suy nghĩ thô thiển của tôi thế mà lại đúng.
Dừng lại một lát, Mặt Xanh như có vẻ xúc động nói tiếp:
- Ông Hồng! Ông như một con chó gặm mất nửa đời tôi. Bây giờ ông không còn cắn được tôi nữa rồi. Tôi như một con rùa rụt cổ ba mươi năm, đến bây giờ tôi đã có thể đứng thẳng người. Đưa bi đông rượu của ông cho tôi!
Chỉ cần một bước, Mặt Xanh đã vượt khỏi mảnh đất của mình, chộp lấy bi đông rượu trên tay lão Hồng, ngửa cổ uống một hơi cạn sạch rồi vứt cái bi đông ra xa, quỳ xuống đất, ngẩng mặt nhìn trăng, vừa bi thương vừa phấn khởi nói:
- Trăng ơi! Trăng đã biết tất cả rồi đó. Ta đã làm người rồi. Từ nay ta đã có thể cày ruộng dưới ánh nắng mặt trời rồi!
... Tất cả những chuyện này không phải do tôi trực tiếp chứng kiến mà chỉ nghe người ta kháo nhau mà thôi. Mạc Ngôn cũng thế, dưới ngòi bút của anh ta, hư thực đan xen khó lòng mà phân định được. Tôi biết anh ta có viết một cuốn tiểu thuyết có tên gọi là “Người lính sau cách mạng”, cuốn này chẳng có tiếng tăm gì, theo tôi thì độc giả không hơn một trăm, nhưng trong đó có một nhân vật cực kỳ sinh động và đầy cá tính. Đó là lão Thiết, một người lính Quốc dân đảng, bị quân Cộng sản bắt làm tù binh, sau đó tình nguyện tham gia Giải phóng quân, chiến đấu bị thương và phục viên về làng. Kiểu người này kể ra phải hàng vạn trong lịch sử chiến tranh cách mạng, nhưng nhân vật này lại luôn luôn vỗ ngực tự cho mình là một đại anh hùng, mỗi việc làm của hắn ta đều ảnh hưởng đến vận mệnh quốc gia, thậm chí ảnh hưởng đến cả tiến trình vận động của lịch sử. Khi nông thôn bắt đầu công cuộc cải cách, những người xấu được cởi mũ chụp và tiến hành phân đất đến hộ cá thể, hắn ta đóng bộ quân phục cũ kỹ vào và đi lên tỉnh, từ tỉnh quay về hùng hồn tuyên bố mình đã được một nhân vật cỡ bự đón tiếp. Nhân vật này nói với hắn rằng, trung ương đang chủ trương xét lại. Dân làng đều cho hắn mắc bệnh “điên cách mạng”. Nhân vật này trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn rất giống Hồng Thái Nhạc, nhưng rõ ràng anh ta vẫn lưu tình nên không điểm mặt chỉ tên mà thôi.
Như đã nói, tôi đứng trong bóng tối ngoài cổng nhà Tây Môn quan sát những gì xảy ra trong sân. Lúc này Dương Thất đã say mèm, bê bát rượu ngật ngưỡng bước đến bàn của những phần tử xấu. Những người này tụ hội ở đây vì lý do đặc biệt, ai ai cũng có vẻ đầy tâm trạng, vừa bi thương vừa phấn khởi, nên mặc dù chưa uống bao nhiêu rượu mà trông ai cũng đã say. Không phải rượu làm cho họ say mà họ đang say vì hạnh phúc. Nhìn thấy ông chủ nhiệm bảo vệ chính trị, đại biểu cho giai cấp bần cố chuyên dùng dây thừng quất họ ngày xưa liêu xiêu đi đến, có người phát hoảng, có người nổi giận. Một tay vịn vào mép bàn, một tay cầm bát rượu giơ cao, giọng Dương Thất đã lè nhè:
- Các anh em, các chú, các bác...! Dương Thất tôi ngày trước có đắc tội với các vị, hôm nay xin khấu đầu nhận lỗi...
Rồi ngửa cổ uống cạn bát rượu. Rượu chảy tràn qua hai mép, chảy xuống cổ làm chiếc cà vạt ướt đẫm. Lão đưa tay muốn nới rộng chiếc cà vạt nhưng vì quá say, đáng ra phải nới thì lão lại kéo thít vào, chặt đến nỗi thở chẳng ra hơi. Có lẽ nào thấy tội trạng của mình quá lớn mà không có cách trả nên lão tự xiết cổ mình tự sát để trốn tội trước mọi người?
Trương Đại Tráng vốn là người nhân hậu, trước tình cảnh ấy có vẻ bất nhẫn, đứng dậy giúp lão cởi bỏ chiếc cà vạt treo lên cành cây hạnh. Dương Thất tiếp tục bộc lộ nội tâm:
- Thưa các vị! Sau chiến tranh, thủ tướng Đức đã từng quỳ trước bia tưởng niệm người Do Thái để nhận tội thay cho Hitler, bây giờ Dương Thất tôi, nguyên chủ nhiệm bảo vệ chính trị ngày ấy sẽ quỳ trước các vị để nhận tội cho chính mình vậy.
Lão quỳ xuống đất. Ánh đèn điện chiếu thẳng vào mặt lão khiến nó trở nên trắng bệch, chiếc cà vạt đỏ treo trên cành hạnh như một thanh kiếm đẫm máu lủng lẳng ngay trước mặt lão sao mà giàu ý nghĩa tượng trưng và bi tráng! Tôi không khỏi ngậm ngùi khi chứng kiến toàn bộ cảnh tượng này.
Ngũ Nguyên vội vàng chạy đến kéo Dương Thất đứng dậy, nhưng dường như lão đã mọc rễ ở đó, cứ ôm lấy chân bàn mà kêu:
- Ôi tội trạng của tôi!... Diêm Vương đang sai bọn tiểu quỷ lóc thịt da tôi đấy. Ôi đau quá! Đau chết mất thôi!...
- Ông Dương! Đó là chuyện của quá khứ, chúng tôi đều quên cả rồi, ông việc gì mà phải tự dằn vặt mình như thế. Tất cả đều là do hoàn cảnh cả thôi. Dương Thất ông không đánh chúng tôi, ắt sẽ có Lý Thất, Lưu Thất nào đó làm việc ấy. Đứng dậy đi. Chúng tôi đã được ngẩng đầu vứt mũ, ông cũng đã phát tài. Nếu ông cảm thấy lương tâm cắn rứt, ông hãy bỏ ít tiền ra tu sửa ngôi miếu đầu làng đi. Ngũ Nguyên gợi ý.
- Tôi không bỏ tiền! Dương Thất gào lên: Tiền tôi kiếm được chẳng dễ tí nào, việc gì phải bỏ ra tu sửa miếu làng... Tôi chỉ muốn các ông đánh tôi. Ngày xưa tôi đánh các ông mấy roi, bây giờ các ông trả lại tôi chừng ấy roi, nếu không, không phải tôi nợ các ông mà là các ông nợ tôi đấy!...
Đang lúc hỗn loạn, đám thanh niên ồn ào tiến vào quán và theo sau là Hồng Thái Nhạc. Khi lão đi ngang qua trước mặt tôi, tôi ngửi thấy toàn mùi rượu. Đây là lần đầu tiên kể từ ngày bỏ trốn, tôi được trông thấy người lãnh đạo cao nhất của làng Tây Môn ngày xưa. Tóc lão đã bạc trắng song vẫn dựng đứng, gương mặt như bị phù thũng, răng rụng mất mấy chiếc, trông lão có vẻ ngây ngây độn độn thế nào ấy. Khi lão bước vào, đám người đang huyên náo tự nhiên câm bặt, một cách vô thức, họ đồng loạt đứng cả dậy, có người luống cuống đến nỗi làm cho bát đũa rơi xuống đất kêu loảng xoảng, cho thấy mọi người vẫn tỏ ra sợ sệt trước kẻ có quyền lực cao nhất làng xưa kia. Lát sau, một giọng thanh niên cất lên:
- Ôi chú Hồng! Chú đã khóc xong trước anh linh Mao Chủ tịch và trở về rồi đấy à? Có gặp bí thư tỉnh ủy không? Trên trung ương có kẻ xét lại, chú phải làm gì đi chứ?
Thu Hương từ trong nhà chạy ra đon đả:
- Ông bí thư! Rồi ôm lấy vai lão một cách thân thiết.
Chuyện xảy ra trước mắt khiến tôi nhớ lại một bộ phim mà tôi đã có dịp xem qua khi còn đang làm trâu, trong đó có cảnh một phụ nữ phản động ôm một cán bộ cách mạng. Trong một vở kịch mà tôi không thể nhớ nổi tên cũng có đoạn vợ một cán bộ cách mạng cao cấp tiếp tư lệnh quân đội ngụy với câu nói đưa đẩy: Hồ tư lệnh, ngọn gió nào đã mang ông đến đây?
Có lẽ lão Hồng không quen với kiểu biểu hiện thân thiết quá mức này nên giãy mạnh, thân hình lảo đảo chực ngã. Thu Hương vội vàng đỡ lấy, lần này thì lão để yên cho cô ta dẫn tới một chiếc bàn còn trống bên cạnh. Một tay chống trên bàn, lão đảo mắt nhìn mọi người, yên lặng. Thu Hương vừa lau bàn, vừa hỏi:
- Ông bí thư! Ông dùng món gì nào?
- Tôi sẽ gọi món gì nào? Lão nhướng đôi mí mắt nặng chịch lên, hỏi như cái máy rồi bỗng nhiên đập mạnh tay xuống bàn, quát:
- Bà bảo tôi phải gọi món gì? À, phải rồi... Rượu và... hai lạng thuốc súng!
Thu Hương vẫn cười, nhẹ nhàng nói:
- Ông Hồng à, tôi thấy ông uống cũng đã đủ rồi. Không uống nữa, ngày mai uống nhé. Tôi bảo Hỗ Trợ làm cho ông bát canh giã rượu rồi ông về nhà ngủ nhé, được không?
- Canh giã rượu quái gì? Lão nhướng mắt lên, hai bên khóe mắt có hai cục ghèn to bự vàng khè. - Lão đây chưa say, mà có say đến xương thịt mềm nhũn thì tinh thần của lão vẫn sáng rực như mặt trăng trên trời kia. Muốn lừa lão à, đừng hòng! Rượu đâu? Loại tiểu chủ, tiểu thương các người đang phất mà. Các người cần tiền chứ đâu cần chính trị, mà lão đây lại có tiền. Rượu đâu?
Thu Hương đưa mắt đầy ẩn ý nhìn Hỗ Trợ. Nó bê một cái bát đặt trước mặt lão Hồng:
- Ông bí thư! Ông uống bát này đi đã!
Tợp lấy một ngụm, lão Hồng nhăn mặt phun phì phì, quẳng cái bát xuống đất, lấy ống tay áo quẹt ngang miệng, rồi nói với giọng thê lương:
- Hỗ Trợ! Không ngờ cô cũng đùa cợt với tôi như thế. Tôi muốn uống rượu mà cô lại cho tôi uống dấm. Cả lục phủ ngũ tạng của tôi đã bị dấm ăn mòn rồi mà bây giơ cô còn bồi thêm nữa. Kim Long đâu? Cô hãy gọi con thỏ đó ra đây để tôi hỏi cho ra, làng Tây Môn này còn theo cộng sản hay không?
- Hay quá! Hay quá!
Bọn thanh niên đang tụ tập để xem trò vui, nghe lão Hồng bắt đầu chửi Kim Long thì đồng thanh vỗ tay cỗ vũ. Một thằng nhóc xách một chai rượu đến đặt trước mặt lão:
- Ông Hồng! Bà chủ không còn rượu nữa, chai này chúng tôi mời ông.
- Cút! Tiếng hét của lão khiến thằng nhỏ hoảng sợ thối lui mấy bước. Đưa ngón tay dí dí vào cái nhãn hiệu xanh xanh của chai rượu, lão nói một cách khinh miệt:
- Đây mà gọi là rượu à? Nước đái ngựa thì có! Lão gạt tay, chai rượu rơi xuống nền đá vỡ tan. Bộ tưởng tiền của tôi là tiền vẽ à? Người ta thường nói, quán lớn thì coi thường khách nhỏ, không ngờ cái quán Thu Hương bé tẹo này cũng coi khách chẳng ra gì.
- Ông bí thư! Thu Hương cầm hai chai rượu Hắc Đàn chạy tới: Hỗ Trợ vì lo cho ông đấy thôi. Ông vẫn chưa say thì cứ uống đi, đừng lo gì cả. Quán rượu này tôi mở ra là để phục vụ ông, ông cứ tha hồ mà uống.
Rồi cô ta mở nắp chai, đổ rượu sang bi đông cho lão Hồng:
- Uống đi! Có cần món nhắm gì không? Tai lợn, cá mương đều có!
- Được rồi, đi đi!
Lão vươn tay đẩy Thu Hương ra rồi ngửa cổ nốc một ngụm to, cúi đầu nuốt từ từ. Hai giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên gò má phù thũng của lão.
Kể từ khi xuất hiện đến giờ, Hồng Thái Nhạc trở thành trung tâm chú ý của mọi người, kể cả Dương Thất đang ngồi dưới đất. Đến khi lão ngồi xuống lặng lẽ uống rượu thì mọi người đồng loạt thở ra một hơi dài. Dương Thất phá vỡ không khí yên lặng:
- Các ông phải đánh tôi. Ngày xưa tôi đánh các ông mấy roi, bây giờ phải trả lại đủ cho tôi... Không đánh, các ông không phải là người mà là lừa, là ngựa, là gà, là vịt, là đồ súc sinh...
Lời nói của Dương Thất khiến đám thanh niên thích chí cười rộ lên. Một thằng gầy nhom chạy tới bàn, cầm chai rượu đổ lên chiếc cà vạt đang treo trên cành hạnh. Rượu chảy theo chiếc cà vạt nhỏ giọt xuống đầu lão. Đúng lúc ấy, hai anh em họ Tôn vốn được Dương Thất đưa lên đến tận mây xanh bỗng nhiên nhảy dựng dậy hét vang:
- Tương ớt Hồng! Mười vạn đồng! Tương ớt Hồng! Mười vạn đồng!
- Nếu các ông không đánh tôi, các ông đều là đồ quái vật sinh ra từ bụng con gấu chó của đoàn kịch sau khi giao phối với con lợn đã từng cắn chết Hứa Bảo!
Dương Thất đã bắt đầu văng ra những lời tục tĩu. Đám người đưa mắt nhìn Ngũ Nguyên. Lão Ngũ húng hắng ho rồi nói:
- Dương Thất! Dương lão gia! Tổ tông của tôi! Chúng tôi chịu thua ông rồi, được chưa? Chúng tôi đều biết ông vì tình thế bắt buộc mà phải đánh chúng tôi, vì đó là lệnh của thượng cấp. Nếu không có những lằn roi của ông, chúng tôi làm sao có thể trở thành người tốt, làm sao chúng tôi có thể thay hình đổi dạng để được làm người như hôm nay? Đứng dậy nào!
Quay sang mọi người, lão nói tiếp:
- Đến đây mau lên! Chúng ta cùng nâng chén mời ông Dương để cảm tạ công ơn giáo dục của ông ấy nào!
Mọi người lục tục đứng dậy, bê bát rượu lên tay định uống. Nhưng Dương Thất vẫn cố chấp nói:
- Đừng có giở trò ấy ra đây, chẳng được gì đâu. Các ông không đánh tôi, tôi quyết không đứng dậy. Giết người đền mạng, vay tiền trả tiền, các ông nợ tôi thì phải trả chứ!
Ngũ Nguyên nhìn chung quanh, cực chẳng đã nói:
- Ông Dương! Ông đã nhất quyết như vậy, chúng tôi không làm e không xong rồi. Thôi, tôi thay mặt tất cả tát ông một tát vậy nhé, nợ nần chúng ta coi như thanh toán xong.
- Một cái chưa đủ! Dương Thất vẫn lì lợm: Ngày ấy tôi đánh các ông, tính ít nhất cũng ba nghìn roi. Bây giờ các ông hãy tát tôi ba nghìn cái, thiếu một cái cũng không được.
- Ông Dương! Quả thật ông là kẻ chẳng biết điều, ông ép chúng tôi quá. Cuộc gặp mặt tối nay của những người đồng cảnh ngộ chúng tôi đã bị ông phá hỏng mất rồi, thế mà gọi là xin lỗi chúng tôi à? Thôi thì lão đây cũng chẳng kể gì nữa, cũng chẳng ngại ông là ai nữa, đành phải cho ông một bạt tai để ông tỉnh lại thôi...
Nói xong, Ngũ Nguyên quay người giáng vào gương mặt hình quả lê của Dương Thất một bạt tai. “Chát!” Thân hình Dương Thất chao nghiêng muốn ngã, nhưng lão đã gượng lại được, ngẩng cao đầu, hét lớn:
- Đánh tiếp đi chứ! Đây là cú tát đúng nghĩa. Không đủ ba nghìn cái như thế, các ông không phải là người.
Đúng lúc ấy, Hồng Thái Nhạc dằn mạnh bi đông rượu xuống bàn, đứng dậy, chỉ tay vào mọi người, gầm lên:
- Phản rồi! Phản rồi! Đồ địa chủ, phú nông, phản động, chiêu hồi, đặc vụ... các ông, dám ngồi đây mà uống rượu như con người à? Các ông... hãy đứng dậy cút ngay!
Tuy lão không còn là bí thư nữa nhưng uy phong cộng với tiếng gầm như hổ rống và mùi rượu sặc sụa khiến đám người vừa được cởi mũ lật đật đứng dậy theo phản xạ, mặt túa mồ hôi dầm dề.
- Mày...! Lão Hồng chỉ Dương Thất, quát lớn: Đồ phản tặc, đồ đầu hàng, đứng dậy mau!
Dương Thất định đứng dậy, song đầu lão chạm phải chiếc cà vạt đẫm rượu treo trên cành cây, đôi chân lão tự nhiên mềm nhũn, ngã bật ra sau, chiếc mông béo ị rơi bịch xuống đất, lưng tựa vào gốc hạnh.
- Các ông... các ông...! Thân hình lão Hồng lắc lư như một chiếc thuyền con giữa bão tố, bắt đầu nói. Những lời của lão sao mà giống Mạc Ngôn gán cho nhân vật “điên cách mạng” trong tiểu thuyết “Người lính sau cách mạng”:
- ... Các ông chỉ là một bọn xấu xa, chớ có đắc ý nhất thời mà quên mình là ai... Chỉ tay lên trời, lão nói thật say sưa: Cả thiên hạ này đều là của Đảng Cộng sản chúng tôi, chẳng qua là hiện có mấy cụm mây đen thôi. Nói cho biết, kẻ đã cởi mũ cho các ông rồi sẽ bị hạ bệ, chẳng bao lâu nữa, các ông sẽ phải đội mũ lên lại thôi, mà lúc ấy, mũ mà các ông bị chụp sẽ làm bằng sắt, bằng đồng, bằng thép. Chúng tôi sẽ dùng điện để gắn chúng vào đầu các ông, các ông sẽ phải đội suốt đời, đến chết, đội cả khi đã nằm vào trong quan tài. Đây là lời nói danh dự của một đảng viên cộng sản chân chính!
Rồi chỉ Thu Hương, lão nói tiếp:
- Còn bà, ban đầu bà có chút đáng thương nên tôi không chụp mũ cho bà, nhưng tiếc thay, bản chất giai cấp của bà không hề biến đổi, chỉ cần có thời cơ là tư tưởng phản động đã ngo ngoe trở lại. Lão vung tay, hét to: Nói cho các ông các bà biết, đảng viên cộng sản của chúng tôi, những đảng viên của Mao Trạch Đông đã từng trải qua vô số kinh nghiệm đấu tranh trong nội bộ đảng, đã trưởng thành từ cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt, nhất định sẽ không đầu hàng, vĩnh viễn không khuất phục. Phân ruộng đến nông dân là cái thá gì, phải chăng là muốn để cho anh em bần nông phải lao đao vất vả nữa à? Giơ cao nắm đấm, lão gào lên: Chúng tôi sẽ không ngừng đấu tranh. Chúng tôi muốn đả đảo Mặt Xanh, đạp đổ ngọn cờ đen này. Đó chính là nhiệm vụ của những người đảng viên giác ngộ và của bần nông ở làng Tây Môn này. Các bạn bần nông! Đây chỉ là bóng đen, là khí lạnh tạm thời thôi!...
Lời diễn thuyết của lão khiến trí óc tôi trở nên mụ mị. Hình như sân nhà Tây Môn đã biến thành một cái sân khấu kịch, cây hạnh và bàn ghế là đạo cụ và phối cảnh, những người ngồi ở đó đều là diễn viên. Kỹ thuật diễn xuất của họ sao mà tuyệt vời, nhất là lão Hồng. Lão xứng đáng được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ! Lúc này, lão đang giống như một nhân vật vĩ đại nào đó tôi nhớ mang máng là đã xem trên tivi, giơ tai phải lên hô vang:
- Công xã nhân dân muôn năm!
Tiếng ô tô từ xa vọng lại và ánh đèn pha làm con đường làng sáng rực lên. Tôi vội vàng nấp vào một lùm cây ven đường. Xe dừng, đèn pha tắt. Từ trên hai chiếc xe Jeep cũ, Kim Long, Tôn Báo và mấy người nữa nhảy xuống. Loại xe Jeep này ngày nay chỉ đáng làm sắt vụn, nhưng vào những năm tám mươi, ở nông thôn có nó đã là oách lắm rồi. Do vậy mà thấy, con đường thăng tiến sau này của Kim Long, một bí thư chi bộ quèn ở nông thôn, đã bắt đầu biểu hiện từ ngày ấy.
Kim Long đường bệ đi vào sân, những người mới đến theo liền phía sau. Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào nhân vật quan trọng nhất của làng Tây Môn lúc này. Lão Hồng chỉ tay vào mặt Kim Long, nói một cách giận dữ:
- Tây Môn Kim Long! Té ra tao đã mù. Tao đã cho rằng mày được trưởng thành dưới ngọn cờ đỏ, là người của chúng tao. Ngờ đâu máu của mày vẫn là máu địa chủ ác bá. Kim Long! Mày đã ngụy trang được ba mươi năm, đã lừa được tao ba mươi năm rồi đó!
Kim Long đưa mắt nhìn nhóm người đứng sau lưng, lập tức có hai người tiến lên, kẹp cứng lão Hồng lại. Lão vừa giãy vừa chửi:
- Bọn phản cách mạng các người, bọn con cháu địa chủ các người, bọn mèo chó các người... Tao chẳng chịu thua đâu!
- Đủ rồi, chú Hồng! Diễn kịch như thế cũng đã quá hay rồi đấy! Kim Long vừa nói vừa quàng bi đông rượu vào vai lão: Về ngủ đi. Tôi đã nói với bà Bạch rồi, chọn một ngày nào đó sẽ làm lễ cưới cho hai người. Chú cứ yên tâm mà chờ ngày cùng lên giường, trong đục cùng hợp lưu với giai cấp địa chủ nhé!
Tôn Báo cùng với hai người kia lôi lão Hồng ra ngoài. Đôi chân lão mềm nhũn như hai sợi miến bị kéo lê trên nền đá. Nhưng lão vẫn giãy giụa, quay lại nhìn Kim Long, hét lớn:
- Tao bất phục! Mao Chủ tịch báo mộng cho tao rằng, trên trung ương có kẻ xét lại...
Kim Long chỉ cười cười và nói với mọi người:
- Mọi người cũng nên giải tán đi là vừa!
- Bí thư Kim Long! Hãy để cho những kẻ xấu này mời ông một ly!
- Anh Kim Long...! À, ông bí thư! Anh em tôi muốn mở rộng tương ớt “Hồng” để biến cả thế giới này trở thành một màu đỏ. Ông giúp tôi vay một trăm ngàn nhé... Tôn Long lắp bắp nói.
- Kim Long! Mệt lắm hả con? Thu Hương hỏi cậu rể quý bằng một giọng đon đả và thân tình. Mẹ bảo Hỗ Trợ nấu cho bát miến Long Tu nhé!
Hỗ Trợ đang cúi đầu đứng dưới mái hiên, mái tóc thần kỳ đang quấn chặt trên đỉnh đầu, thần thái trông giống một cô cung nữ đa sầu đa cảm. Kim Long nhíu mày nói:
- Quán rượu này có lẽ phải đóng cửa thôi. Cái nhà này cần phải khôi phục nguyên trạng ngày xưa. Mọi người nên dời nhà rồi đó!
- Không được đâu! Thu Hương vội vàng lên tiếng: Công việc làm ăn đang phát đạt lắm.
- Trong cái làng bé tẹo này thì phát đạt cái nỗi gì! Muốn làm giàu thì mẹ lên thành phố, lên tỉnh mà mở quán.
Đúng lúc ấy Nghinh Xuân ôm một đứa bé từ gian nhà phía tây đi ra. Đứa bé ấy là con vợ chồng ông - Lam Giải Phóng và Hoàng Hợp Tác - chính là Lam Khai Phóng. Ông cứ khăng khăng với tôi là chẳng có cảm tình gì với Hợp Tác, nhưng không có tình yêu thì làm sao có con. Lẽ nào lúc ấy đã có thụ tinh nhân tạo? Phì! Ông đúng là một kẻ ngụy tặc!
- Này chị... Nghinh Xuân nhìn Thu Hương nói: Chị đừng bán quán nữa, đêm nào cũng ầm ầm, mùi dầu mỡ, mùi rượu, mùi nôn oẹ... Cháu ngoại của chị không thể nào ngủ ngon giấc được đâu!
Những người đáng lên sàn diễn đều đã xuất hiện, chỉ thiếu mỗi Mặt Xanh. Ô kìa, ông ta đang từ ngoài cổng đi vào, trên vai vác một bó gì đó to tướng. Chẳng thèm nhìn ai, Mặt Xanh tiến thẳng đến trước mặt Thu Hương, vất xuống và nói:
- Cây dâu nhà bà đâm rễ qua ruộng nhà tôi, tôi chặt cả, mang về trả cho bà đấy!
- Ôi chao! Sao mà ông ngang ngạnh lắm vậy! Nói thử xem, liệu ông còn có thể làm được điều gì khá hơn không? Nghinh Xuân than thở.
Từ đầu đến giờ, Hoàng Đồng vẫn nằm trên chiếc giường tre đặt trước cửa nhà, lúc này mới trở dậy, bước đến nói:
- Nếu không phiền hà gì, ông cứ chặt hết đám dâu ấy giúp tôi. Bây giờ chỉ có loài lợn ngu ngốc mới kiếm ăn bằng nghề nông thôi.
- Thôi! Mọi người giải tán hết đi!
Kim Long quát lớn rồi quay người đi vào gian nhà chính. Mọi người yên lặng rời khỏi vườn Tây Môn. Cánh cổng nặng nề đóng lại. Yên lặng bao trùm, chỉ có tôi và chị Hằng ở trên cao kia là hai kẻ không nhà để về, đành phải đi lang thang. Ánh trăng như bạc lấp lóa chiếu trên người tôi...
34
Lão Hồng vì say mà mất giống,
Sứt Tai ỷ mạnh cướp ngôi vua.
Trong cuốn “Ghi chép về chuyện nuôi lợn”, Mạc Ngôn cho rằng tôi đã cắn sứt dái của Hồng Thái Nhạc khiến lão trở thành một kẻ tàn tật suốt đời. Anh ta viết rằng, tôi - tức Lợn mười sáu, tức Vua Lợn - men theo lão và khi thấy lão đứng vạch quần đái dưới gốc cây hạnh nghiêng, tôi đã tấn công lão từ phía sau. Anh ta còn kể về ánh trăng, về hương thơm của hoa hạnh, về những con ong hút mật hoa. Lời lẽ của anh ta sao mà mỹ miều, chẳng hạn: “Dưới ánh trăng, con đường làng quanh co uốn lượn như một dòng sông sữa”... Thằng cha này đã viết về tôi như một con quái vật chuyên cắn dái người, rõ ràng là nó đã lấy bụng tiểu nhân mà đo lòng quân tử. Nghĩ lại, Lợn mười sáu tôi cả đời đường đường chính chính, làm sao có thể lén lút tấn công một người đang đái cơ chứ? Đúng là những lời bịa đặt, tôi đọc cuốn này mà vô cùng ác cảm. Anh ta còn viết rằng, mùa xuân năm ấy, tôi tung hoành gây án khắp vùng Cao Mật. Thử đọc một đoạn anh ta viết xem:
“... Những khúc ruột trâu trắng bầm nằm vung vãi khắp nơi trộn lẫn với bùn và cát... Những con còn chút hơi tàn thì lồng lên chạy như điên, lôi theo những đùm ruột lòng thòng trên đất, đau đớn kêu vang trời và cuối cùng ngã vật xuống, chết...”.
Rõ ràng anh ta đã phát huy hết khả năng tưởng tượng của mình để biến tôi thành một con ác quỷ. Kỳ thực, kẻ gây ra cái chết thảm khốc của những con trâu này là một con sói lưu lạc từ vùng núi Trường Bạch về. Hành tung con sói này rất bí mật, sau khi gây án chẳng để lại dấu tích gì, cho nên những tội ác ấy bị Mạc Ngôn đổ lên đầu tôi. Sau này, con sói già ấy lưu lạc đến bãi bồi Ngô gia, chẳng cần tôi ra tay mà nó đã bị con cháu tôi đạp nát như như một đống phân.
Sự thực là thế này. Một đêm nọ tôi và chị Hằng đang kết bạn lang thang, lưu luyến không muốn rời những con đường thân thuộc của làng Tây Môn. Đang lúc chân tôi bước trong rừng hạnh, vô tình trông thấy Hồng Thái Nhạc. Hình như lão đã chui từ dưới huyệt mộ lên, đang đứng đái dưới gốc cây hạnh nghiêng, bi đông rượu quàng trước ngực. Vốn là một tay có tửu lượng chẳng vừa, lão uống đến độ hóa thành một con quỷ rượu, nói theo cách của Mạc Ngôn, lão là kẻ “mượn rượu để tưới lên phần u tối trong con người lão”. Lão đứng đó, vừa đái vừa la hét:
- Thả tao ra! Chúng mày đúng là bọn chó má... Chúng mày định giữ chân giữ tay, định bịt mồm ông à?... Các con ơi! Có đem ông mày giã thành tương thì ý chí cách mạng của ông mày cũng không mất được đâu! Bọn quỷ chúng mày không tin, nhưng ông thì tin...
Bị lời mê mê sảng sảng của lão hấp dẫn, tôi và chị Hằng lò dò theo lão dạo khắp rừng hạnh. Lão sờ hết cây này đến cây khác, lỡ có cây nào ngáng đường là lão đấm cho mấy cái, mở miệng răn đe:
- Mẹ mày! Ngay cả đồ cây cỏ cứt chó như mày mà cũng dám ngáng đường ông. Ông cho mày biết thế nào là sức mạnh của giai cấp vô sản...
Lão xiêu vẹo đi đến xưởng nuôi tằm, đập mạnh cánh cổng. Cổng mở, lão đứng ngắm bà Bạch dưới trăng. Bà Bạch đang bê trên tay một sọt lá dâu, mùi lá dâu tươi khiến tôi ngây ngất. Bà ấy trố mắt nhìn lão, rõ ràng là rất ngạc nhiên:
- Bí thư Hồng! Sao lại là ông...?
- Thế bà nghĩ là ai chứ? Cố gắng đứng vững, song càng cố gắng lão càng liêu xiêu chực ngã. Nghe tin bà đã được cởi mũ, tôi đến để chúc mừng... Giọng lão hôm nay có vẻ lạ lạ.
- Nhờ có ông cả thôi... Bà Bạch đặt sọt lá xuống đất, kéo vạt áo lau nước mắt: Nếu không có ông chiếu cố bao năm nay, có lẽ họ đã đánh chết tôi từ lâu rồi!
- Bà chớ nói quá lời! Người cộng sản chúng tôi trước sau vẫn theo đuổi chủ nghĩa nhân đạo đối với kẻ địch!
- Tôi hiểu rồi! Bí thư Hồng! Tôi... trong lòng đã hiểu. Tôi muốn nói với ông lâu rồi, nhưng trước đây trên đầu tôi còn cái mũ, không dám nói... Bây giờ tốt rồi, tôi đã được vứt mũ, tôi đã là xã viên rồi...
- Bà muốn nói gì?
- Kim Long đã nhờ người nói với tôi, rằng tôi hãy chăm sóc ông... Bà Bạch chua chát nói: Tôi nói, chỉ mong ông Hồng không khinh bỉ, tôi... đồng ý chăm sóc ông ấy đến cuối đời.
- Bạch Hạnh Nhi! Sao bà lại là vợ địa chủ kia chứ?
- Tôi đã cởi mũ rồi, tôi đã là công dân, là xã viên. Bây giờ không còn giai cấp nữa rồi! Bà Bạch yếu ớt nói.
- Nói bậy! Đột nhiên lão Hồng nổi giận, đi từng bước nặng trịch đến trước mặt bà Bạch: Cởi mũ, bà vẫn cứ là địa chủ. Trong người bà, dòng máu địa chủ vẫn cứ chảy, dòng máu ấy có độc!
Bà Bạch hoảng sợ bước thụt lùi, lùi mãi đến khi dựa lưng vào chiếc giá để tằm. Tuy miệng lão nói những lời đanh thép độc địa ấy nhưng sao đôi mắt lão lại nhìn bà ấy một cách trìu mến đến thế!
- Bà vĩnh viễn vẫn là địch thủ của chúng tôi!
Từ hốc mắt lão, hai dòng nước lăn nhanh xuống đôi gò má phù thũng. Đột nhiên lão vươn tay, chộp lấy đôi bầu vú của bà Bạch. Bà Bạch vùng vẫy, kêu lên những tiếng nho nhỏ:
- Bí thư Hồng! Máu tôi có độc, đừng để nó vấy vào ông!
- Tôi cần phải nói với bà, cho dù đã cởi mũ, bà vẫn cứ là địa chủ!
Hai tay lão siết lấy vòng eo của bà Bạch, cạ cái cằm râu ria và cái mồm nồng nặc mùi rượu lên mặt bà... Dưới sức đè của hai thân hình, giá tằm đổ ụp xuống. Những con tằm trắng nõn bò lên trên người họ, có con bị đè chết, còn những con khác thì vẫn cứ điềm nhiên ăn lá dâu...
Đúng vào lúc này, trăng đã chui vào một đám mây dày. Trong bóng tối nhờ nhờ, những ký ức về Tây Môn Náo không kể ngọt chua cay mặn bỗng dưng trỗi dậy trong tôi. Là một con lợn, tôi tỉnh táo lạ thường, nhưng là một con người, đầu óc tôi trở nên mê muội. Đúng thôi, tôi chết đã lâu lắm rồi, cho dù là đáng chết hay không đáng chết thì bà Bạch cũng đều có quyền làm chuyện ấy với một người đàn ông khác. Nhưng không thể chấp nhận chuyện vừa làm vừa chửi như lão Hồng được. Đó là một điều sỉ nhục không chỉ với bà ấy mà cả với Tây Môn Náo. Như có vài chục con đom đóm bay loạn xị rồi sau đó tụ tập lại tạo thành một luồng ánh sáng rực rỡ trong đầu tôi, tôi nhìn thấy tất cả đều biến thành một màu xanh lục, tằm màu lục, da người cũng màu lục... Tôi xông lên, tôi chỉ muốn lôi lão ra khỏi bà ấy, nhưng hòn dái của lão lại va vào mồm tôi... Tôi không tìm ra chứng cứ để biện minh rằng, tôi không hề có ý định làm việc ấy.
Vì cơn giận nhất thời mà tôi đã gây ra hậu quả tai hại. Bà Bạch chết ngay trên đống tằm bị xéo nát vì quá sợ hãi, lão Hồng được đưa đi bệnh viện cấp cứu, không chết nhưng từ đó về sau, tính khí của lão càng trở nên thất thường hơn, hung dữ hơn. Phiền toái nhất vẫn là, tôi đã trở thành một con quái vật đáng sợ dưới mắt con người, có sự hung bạo của loài hổ, sự tàn độc của sói, sự giảo hoạt của loài chồn cáo, sự dã man của loài lợn hoang... Người ta phát động một phong trào săn lợn hoang trên toàn huyện Đông Bắc Cao Mật.
Tôi không thể biện minh gì về chuyện Mạc Ngôn vu cho tôi là cắn lão Hồng bị thương, nhưng chuyện nó nói tôi là thủ phạm gây ra không biết bao nhiêu cái chết của trâu bò ở Cao Mật là không thể chấp nhận được. Cũng vì Mạc Ngôn mà trong một thời gian khá dài, người ta không dám đi đại tiện ngoài đồng vì sợ bị tôi cắn chết để moi ruột ăn. Sự thật là, sau khi vô tình làm lão Hồng bị thương, tôi phi thẳng về bãi bồi Ngô gia. Mấy con lợn cái vui mừng chạy đến đón, tôi chán nản gạt chúng sang một bên. Tôi có cảm giác là mọi chuyện đã trở nên rắc rối, bèn tìm đến Điêu Tiểu Tam bàn kế hoạch đối phó.
Sau khi nghe tôi kể toàn bộ sự tình, Điêu Tiểu Tam buột miệng than:
- Lợn Mười sáu nè, xem ra tình yêu là điều khó quên nhất. Tôi đã sớm biết giữa anh và bà Bạch có mối thâm tình nào đó. Bây giờ sự thể đã đến nước này, không nói chuyện đúng sai nữa, anh em chúng ta đùa giỡn với con người một phen xem sao...
Mọi việc diễn ra sau đó được Mạc Ngôn miêu tả khá chính xác. Điêu Tiểu Tam tập trung tất cả những con lợn khỏe mạnh đến rừng tùng, như một vị quân sư đầy kinh nghiệm và nhiều kiến thức, nó nói về tổ tiên của loài lợn đã từng đấu tranh với hổ dữ và con người để sinh tồn như thế nào. Cuối cùng nó bảo tôi:
- Đại vương hãy ra lệnh cho tất cả bọn chúng vào rừng tùng, gặm sứt vỏ tùng cho nhựa chảy ra, thấm vào lông và sau đó chạy ra bãi cát lăn cho cát dính vào, sau đó thấm nhựa rồi lăn trên cát tiếp...
Chúng tôi làm theo cách ấy, sau một tháng toàn thân chúng tôi như được khoác một bộ giáp sắt, gươm giáo thì không cần nói, có khi đạn súng ria bắn chưa chắc đã thủng, thử đập mình vào đá thì phát ra những tiếng cốp cốp đanh sắc. Ban đầu, việc đi lại có đôi chút khó khăn, nhưng rồi cũng quen dần. Lão Điêu còn dạy một số kỹ thuật tác chiến như nấp như thế nào, làm sao để tấn công, bao vây... Những kiến thức quân sự của nó sao mà rộng, có lẽ nào kiếp trước nó đã từng là một tướng lĩnh tài ba?
Tháng tám mưa không ngớt, nước sông tràn bờ. Những đêm trăng, cá và ba ba đuổi theo trăng và văng lên bãi cát nhiều vô kể. Cư dân trên bãi bồi tăng lên nhanh chóng nên việc kiếm ăn ngày càng khó khăn, chiến tranh giữa các loài động vật diễn ra liên tục, ác liệt nhất vẫn là gữa lợn hoang và chồn cáo. Chúng tôi có bộ giáp sắt nên bọn chồn cáo đành phải chịu thua, nhưng trong khi đánh nhau, con cháu của tôi bị thương cũng khá nhiều, chỉ vì hai tai và mắt của chúng tôi không thể bọc áo giáp. Khi đánh nhau, bọn chồn thường tiết ra một thứ mùi đặc biệt khiến mắt mũi chúng tôi cay xè, đứa nào khỏe thì bỏ chạy thục mạng, đứa yếu thì lăn lộn trên đất mà cào, mà dụi mắt. Lúc này bọn chồn sẽ xông lên, dùng răng ngoạm tai, dùng chân móc mắt. Sau đó, Điêu Tiểu Tam chia lợn thành hai nhóm, một nhóm trực tiếp đối đầu, nhóm còn lại nằm chờ. Khi bọn chồn đã phóng khí độc, đội nằm chờ này sẽ xông lên. Điêu Tiểu Tam đã biết là bọn chúng không có khả năng phóng khí độc liên tục, nếu có cũng chẳng có mấy tác dụng. Những con lợn bị trúng khí độc lăn xả ôm lấy bọn chồn để cho đội quân thứ hai xông lên giết chết. Sau mấy trận đại chiến, số lượng chồn cáo trên bãi bồi chết hơn một nửa, thi thể chúng nằm vương vãi khắp nơi. Ruồi nhặng ăn xác thối mập ú bám đầy rừng tùng đến nỗi các nhánh tùng oằn xuống sát đất.
Cho dù chúng tôi đã sẵn sàng ứng chiến nhưng sau tết trung thu đến nửa tháng mà vẫn chưa thấy có dấu hiệu là người ta sẽ đến săn lùng. Điêu Tiểu Tam phái mấy đứa nhanh nhẹn và khỏe mạnh bơi qua sông dọ thám nhưng chẳng có đứa nào quay trở về, tôi đoán chừng chúng đã sa vào tay con người, trở thành món ăn khoái khẩu của họ. Cuộc sống của con người đã khấm khá dần, con người đã cảm thấy chán loại thịt chăn nuôi mà thèm thịt hoang dã. Cho nên đợt tấn công tiêu diệt lợn hoang năm ấy được khoác cho một khẩu hiệu rất oai phong là “diệt quỷ lợn vì dân trừ hại” nhưng kỳ thực là để nhằm thỏa mãn khẩu vị của những kẻ quyền quý, lắm tiền.
Mọi chuyện diễn ra như một màn kịch. Buổi sáng ngày Quốc khánh, nắng vàng rực rỡ, trời cao khí trong, mùi hoa cúc hòa với mùi dầu tùng thơm lừng bãi bồi, lấn át mùi xác thối của chồn cáo. Một thời gian dài sống yên ổn khiến chúng tôi trở nên lười nhác, chỉ biết ăn rồi ngủ dưới những lùm cây mát rượi. Có đứa thơ thẩn trên bờ đê xem phong cảnh, có đứa đi tìm bạn tình... Trước mặt tôi có một cặp đang âu yếm nhau, con đực kết hoa cúc dại thành một vòng tròn quàng vào cổ bạn tình, con cái vẫy đuôi, nép mình vào nó. Ôi! Cuộc sống sao mà đáng yêu!
Trong cái ngày đẹp trời ấy, mười mấy chiếc thuyền ầm ầm kéo đến, cờ xí rợp trời. Trên chiếc thuyền đi đầu còn có cả một chiếc trống to tướng đánh thùng thùng đinh tai nhức óc. Ban đầu chúng tôi không hề nghĩ đấy lại là màn dạo đầu cho một trận huyết chiến mà cứ ngỡ đấy là thanh niên của một cơ quan hay nhà máy nào đó tổ chức đi chơi dã ngoại. Tôi và Điêu Tiểu Tam đứng trên một gò cát cao chăm chú nhìn đoàn người đang bước xuống thuyền và í ới gọi nhau tập hợp đội ngũ. Tôi nói nhỏ vào tai Điêu Tiểu Tam những điều tôi trông thấy:
- Khoảng gần một trăm người, trông như đi du lịch, lại còn có cả người thổi kèn đồng nữa đấy! Họ đang tụ tập trên bãi cát như chuẩn bị mít tinh. Họ đã tập hợp xong đội hình.
Đôi tai Điêu Tiểu Tam vểnh lên nghe ngóng:
- Tôi nghe họ bảo: Giăng lưới lên, nếu không cần thiết thì đừng nổ súng. Dồn chúng xuống phía bờ sông, tốt nhất là nên bắt sống.
- Thế nào? Họ có súng à? Tôi hỏi giật giọng.
Điêu Tiểu Tam buông một tiếng thở dài rồi ngửa cổ hú lên một tràng dài. A! Thằng này đã học được tiếng hú của còi phòng không! Cây cối xao động, cỏ lau xì xào. Rồi cơ man nào là lợn, có đực có cái, có già có trẻ từ trong rừng tùng xông ra, tề tựu chung quanh chúng tôi. Chồn cáo, thỏ rừng không biết chuyện gì, hoảng kinh bỏ chạy tán loạn, có con vùi đầu trong ổ, song cũng có con lì lợm leo lên cây để quan sát.
Phải có đến hai trăm con lợn giống hệt nhau với bộ áo giáp vàng xỉn bọc kín người. Có con tỏ vẻ lo lắng, có con tỏ ra hưng phấn đang đi đi lại lại nhe nanh, múa vuốt. Tôi nói:
- Các bạn! Chiến tranh giữa người và lợn đã bùng nổ. Trong tay họ có súng. Chúng ta sẽ đánh du kích, chủ yếu là ẩn nấp, đừng để họ phát hiện. Cứ nhằm sau lưng họ mà đánh, tránh đừng để họ lùa chúng ta về mép nước.
Một đứa nhảy dựng lên, hét lớn:
- Tôi phản đối! Chúng ta sẽ tập hợp thành đàn, tấn công trực diện đuổi họ xuống sông.
Tôi không biết tên tuổi con lợn đực này, chỉ thường nghe bọn chúng gọi nhau là Sứt Tai. Nó rất to lớn, dễ đến hai trăm ký, nửa chiếc vành tai phải bị sứt trong cuộc chiến tranh với chồn cáo. Tôi đã thấy nó đớp một miếng mà một con chồn đã bị chia thành bốn năm mảnh. Nó không có quan hệ họ hàng gì với tôi, vốn là con đầu đàn của bầy lợn hoang trước khi tôi đến đây. Tuy không ham gì ngôi vị Đại vương, nhưng nhường cho một con lợn hung hãn và nông nổi như nó, tôi chưa hề nghĩ tới. Lão Điêu nhảy dựng lên, hét lớn:
- Đó là mệnh lệnh, phải phục tùng!
- Đại vương bảo chúng tôi đầu hàng, chúng tôi cũng phải nghe theo à?
Tôi sinh lo lắng bởi nhìn thấy rất nhiều đứa đang ủng hộ Sứt Tai. Đại chiến sắp xảy ra, không thể thanh trừng nội bộ. Tôi nghiêm khắc ra lệnh:
- Chấp hành mệnh lệnh! Tản hết ra tìm chỗ ẩn nấp!
Bọn lợn răm rắp tuân lệnh, duy chỉ còn khoảng gần bốn mươi con tập hợp dưới sự chỉ huy của Sứt Tai, xông thẳng về phía đoàn người đang nhốn nháo. Lúc này họ đã dàn thành trận Trường xà, tất cả thành một hàng ngang tiến lên. Đúng là một đạo quân ô hợp, người có mũ người không, người mang giày người mang dép, người đeo kính đen người đeo kính trắng, có trẻ có già, có đàn ông lẫn đàn bà, có cả trống cả kèn...
- Chui ra hết mau! Không ra chúng tao bắn vỡ sọ! Họ hét thị uy.
Trong số ấy còn có cả người của xưởng gia công gấm số năm và tôi đã nhận ra ông - Lam Giải Phóng. Lúc này ông đã trở thành công nhân chính thức, đã là tổ trưởng tổ kiểm tra chất lượng. Vợ ông, Hoàng Hợp Tác, đã trở thành nhân viên cấp dưỡng của xưởng. Tay áo ông vén cao để lộ chiếc đồng hồ vàng rực. Hợp Tác cũng đang ở trong đoàn người. Có lẽ cô ấy nhân cơ hội này mà kiếm ít thịt cải thiện bữa ăn cho công nhân.
Người chỉ huy là Tây Môn Kim Long. Anh ta đang đeo một chiếc còi trước ngực. Ở một ý nghĩa nào đó, tôi là bố anh ta, cho nên có thể xem đây là cuộc chiến đấu sống còn giữa bố và con.
Tiếng la hét của con người làm chim chóc hoảng sợ, đập cánh bay nháo nhác. Nhiều người ngẩng đầu nhìn chim bay, và dường như được kích thích thêm, họ càng la hét tợn. Đội ngũ do Sứt Tai dẫn đầu xông đến như một đạo quân cảm tử. Nhiều tiếng hét thất thanh vang lên:
- Vua Lợn!
Hai bên còn cách nhau khoảng năm mươi mét thì không hẹn mà cùng lúc dừng lại. Hai hàng ngang đối diện nhau, đằng đằng sát khí. Tôi chợt nhớ những trận đánh trong chiến tranh thời xưa mà tôi vẫn thường thấy trên tivi. Sứt Tai đang đứng nhô lên khỏi hàng khoảng một thước, phía sau nó là bốn mươi con lợn hung dữ. Phía con người, Kim Long đang dẫn đầu. Anh ta đang đưa ống nhòm lên và chắc bộ dạng hung dữ của Sứt Tai đã lọt vào ống kính, cho nên tôi nghe anh ta kêu lên một tiếng nhỏ và ra lệnh:
- Đánh trống mạnh lên, hét thật lớn lên!
Các người định rung cây nhát khỉ chăng, định dùng cách thức đuổi gà để bắt lợn hoang sao? Muốn dùng tiếng trống và tiếng hét để cho lợn hoang sợ mà chạy về phía bờ sông sao? Khi trận chiến kết thúc tôi mới biết là ở tận phía đông bãi bồi đã có hai chiếc thuyền máy gắn động cơ mười hai sức ngựa, trên mỗi thuyền có một tổ thợ săn giàu kinh nghiệm và mấy quân nhân phục viên chờ sẵn, trong đó có ba người săn sói mà tôi đã gặp khi còn làm lừa. Họ đã ôm súng sẵn sàng, chỉ cần đoàn người trên dồn được lợn hoang về đó là họ nổ súng tiêu diệt. Súng trong tay họ là súng tiểu liên AK cực nhanh được sản xuất trong nước trong những năm sáu mươi, tầm sát thương độ chính xác rất cao. Nhưng chúng tôi có áo giáp, trong vòng năm mươi mét thì đầu đạn có thể xuyên thủng, trên khoảng cách đó thì chúng tôi an toàn. Trong trận chiến này có khoảng vài chục con lợn vì quá hoảng loạn mà chạy về hướng ấy, bị bắn chết đến mười mấy con.
Người ta đánh trống và la hét là để hư trương thanh thế, kỳ thực là họ đã sợ nên chẳng ai dám tiến thêm một bước nào nữa. Sứt Tai rống lên một tiếng vang trời rồi dẫn đầu đoàn xông lên. Có vài chục tay súng trong đoàn người nhưng thấy khí thế của bọn lợn quá mạnh nên hoảng kinh quay người chạy lui, chỉ có Kim Long kịp giương súng lên nhưng quýnh quáng bắn lên trời. Đạn ria vụt qua đầu Sứt Tai và găm vào ngọn cây liễu làm một con chim đang ấp trứng trong tổ vỡ đầu rơi xuống đất. Đám người vừa kêu vừa bỏ chạy tán loạn, trong đó tiếng kêu của phụ nữ là to nhất, có cả tiếng kêu thê thảm của Hợp Tác. Trong lúc chạy lui, cô ấy đã bị vấp ngã và Sứt Tai chẳng bỏ lỡ cơ hội, tợp vào mông cô ấy một miếng thật mạnh khiến từ đó về sau, Hợp Tác thành người tàn tật, chân đi cà thọt. Lợn húc, lợn cắn, lợn đạp... Tiếng kêu tiếng khóc vang trời. Trong lúc hỗn loạn, cũng đã có người dũng cảm chống trả và dao đã dâm, gậy đã đánh trúng lợn. Gậy đánh thì ăn thua gì, chỉ có một con bị dao đâm trúng mắt. Ông - Lam Giải Phóng - đã nhảy được lên thuyền nhưng thấy Hợp Tác bị thương thì chộp một chiếc gậy trên thuyền quay trở lại, một tay dìu vợ, một tay quất gậy túi bụi vào những con lợn muốn tấn công, trông ông cũng oai phong lẫm liệt đấy chứ! Chuyện này khiến ông nổi tiếng toàn huyện vì lòng dũng cảm, tôi cũng khâm phục lắm. Sau khi định thần, Kim Long giật một khẩu súng kíp từ ai đó, rồi gọi mấy người gan dạ đứng lại tiếp ứng cho ông. Được kích động từ hành động dũng cảm của ông, Kim Long lấy lại dũng khí, nhắm Sứt Tai bóp cò. “Đoàng!” Lửa khói từ khẩu súng xịt ra mù trời, đạn súng kíp không đủ sức xuyên thủng áo giáp nhưng dầu tùng bén lửa, toàn thân Sứt Tai cháy phừng phừng. Sứt Tai lăn lộn trên đất dập lửa. Thấy chủ tướng như vậy, bọn lợn không dám tấn công nữa, rút vào rừng tùng. Viên đạn độn thuốc quá nhiều khiến cây súng trên tay Kim Long vỡ toác, bàn tay phải bị thương máu chảy dầm dề.
Trận chiến đã kết thúc, phía lợn giành được thế thượng phong. Người ta vứt bỏ lại đủ thứ trên bãi chiến trường, nào mũ, nào giày, nào gậy... Sứt Tai dương dương tự đắc, hơn một nửa số lợn hoang đã thần phục nó. Bọn chúng đang theo sau chủ tướng tập hợp chiến lợi phẩm thành một đống và gào thét điên cuồng vì thắng lợi vĩ đại này.
- Lão Điêu! Chúng ta làm gì bây giờ? Trong một đêm trăng đầu tháng, tôi lặng lẽ đến bên Điêu Tiểu Tam hỏi ý kiến: Hay là tôi tự động thoái vị, nhường ngôi cho Sứt Tai, được không?
Điêu Tiểu Tam nằm bất động, một chút ánh sáng yếu ớt từ đôi mắt tật nguyền của nó lóe lên rất nhanh. Ngoài kia, tiếng nước vẫn chảy róc rách, êm đềm.
- Lão Điêu! Nói gì đi chứ. Tôi đang chờ nghe anh đây!
Tôi nghe thấy nó thở hắt một hơi thật mạnh. Chút ánh sáng trên đôi mắt biến mất. Tôi dùng mõm húc vào người nó, da thịt nó vẫn mềm nhưng không có phản ứng gì.
- Lão Điêu! Anh sao thế? Anh không được chết!
Nhưng nó đã chết, cho dù tôi có lay, có gọi đến khản cổ. Tôi bật khóc.
Từ phía sau, một đôi mắt xanh lè, lấp lánh dưới ánh trăng non đang nhìn tôi chăm chú. Quay người nhìn lại, Sứt Tai đang đứng cách tôi khoảng mười bước, sau lưng nó là tất cả số lợn hoang trên bãi bồi. Tôi không sợ hãi, thậm chí còn thấy vô cùng thoải mái vì chuyện này xảy ra đúng như tôi dự cảm. Dưới kia, dòng sông lấp lánh ánh bạc, côn trùng đang rỉ rả những khúc nhạc buồn muôn thuở, đom đóm lập lòe chấp chới trong đêm. Trăng đã ngã về tây và xa tít tắp, ẩn hiện mờ mờ nhấp nhô là nóc của những ngôi nhà cao tầng của phân xưởng gia công gấm... Tôi lặng lẽ bước đến trước mặt Sứt Tai:
- Bạn tốt của ta đã chết, ta cũng chán ngấy tất cả rồi. Ta tự nguyện nhường ngôi!
Có lẽ Sứt Tai không tin là tôi lại quyết định nhanh đến như vậy, nên khi thấy tôi tiến đến, nó nhảy lùi lại một cách bản năng, vẫn thủ thế đề phòng. Tôi nhìn thẳng vào mặt nó nói tiếp:
- Đương nhiên nếu ngươi muốn dùng sức mạnh để cướp ngôi, ta sẵn sàng tiếp đón!
Nó nhìn tôi dò xét. Tôi nặng hai trăm năm mươi ký, đầu tôi cứng như đá, răng tôi cứng như thép... Rõ ràng ý thức được mình không phải là đối thủ của tôi, nó thở ra một hơi dài, nói:
- Hòa nhé! Nhưng yêu cầu ông lập tức rời khỏi nơi đây, vĩnh viễn không được quay lại nữa!
Tôi gật đầu rồi giơ chân phải lên, vẫy vẫy đám lợn sau lưng nó, quay người đi thẳng. Tôi đi về phía nam, từ từ bước xuống dòng nước mát lạnh. Tôi biết sau lưng vẫn còn gần năm mươi đôi mắt trung thành lặng lẽ nhìn theo tống tiễn tôi, có lẽ có đứa đang khóc, nhưng tôi chẳng hề quay đầu nhìn lại. Tôi sẽ bơi qua bờ bên kia, bắt đầu một cuộc sống mới. Dòng nước ôm lấy thân thể tôi, mát lạnh.
35
Bị lửa đốt, Sứt Tai vong mạng,
Bay lên thuyền, Vua Lợn phục thù.
Nửa tháng sau, toàn bộ số lợn hoang trên bãi bồi bị tiêu diệt. Mạc Ngôn viết trong cuốn tiểu thuyết “Ghi chép về chuyện nuôi lợn” như sau:
“Ngày ba tháng một năm tám mươi hai, dưới sự cố vấn của người thợ săn lão luyện kinh nghiệm Kiều Phi Bằng, đội săn do Triệu Dũng Cang, một quân nhân phục viên, làm đội trưởng dùng thuyền máy đổ bộ lên bãi bồi. Hành tung của họ chẳng giống những thợ săn bình thường, cố ý làm cho huyên náo lên. Toàn đội có mười người với bảy khẩu tiểu liên AK và bảy trăm viên đạn chống áo giáp. Loại đạn này tất nhiên chẳng xuyên nổi vỏ xe tăng nhưng áo giáp của bọn lợn thì chỉ là chuyện vặt. Nhưng chưa hết, họ còn có ba khẩu súng phun lửa. Sử dụng những khẩu súng này là ba quân nhân phục viên dạn dày trận mạc...
Tiếng huyên náo khiến bọn lợn hoang chú ý. Vừa mới lên ngôi, Sứt Tai muốn đánh nhau với con người một trận thật tưng bừng để chứng tỏ sức mạnh trước thần dân. Nghe bọn thám thính về báo tình hình, nó phấn khích đến độ mắt phát ra tia lửa xanh lè, lập tức hạ lệnh tập hợp đội ngũ. Hai trăm con lợn nhảy nhót tưng bừng như bọn lâu la tà giáo trong tiểu thuyết kiếm hiệp, tung hô vạn tuế vang trời...”
Tiếp theo, Mạc Ngôn miêu tả toàn bộ cảnh tượng tàn khốc nhưng bi hùng trong trận chiến giữa lợn và người:
“... Giống như trận chiến lần thứ nhất, bên kia là đội quân lợn do Sứt Tai dẫn đầu, sau đó là hơn một trăm con lợn to lớn và hung dữ. Hai bên, chúng cũng bố trí hai đội, mỗi đội khoảng năm mươi con. Chúng đánh theo thế bao vây ba mặt, định dồn đội săn về phía dòng sông chảy xiết ngay sau lưng. Với thế trận này, Sứt Tai nghĩ mình nắm chắc phần thắng. Đội săn chẳng nao núng, họ phân ba người đánh với Sứt Tai và đạo quân chủ lực ở phía trước mặt, mỗi bên còn lại do hai người phụ trách, ba người mang súng phun lửa đi sau cùng. Họ cười nói ồn ào tiến vào trận địa của bọn lợn. Cách Sứt Tai khoảng năm mươi mét, Triệu Dũng Cang phát lệnh khai hỏa. Bảy khẩu AK nhắm ba phía nhả đạn, ban đầu là điểm xạ hai viên một. “Pằng Pằng!”, sau đó họ kéo liên thanh. Trong khoảng mười giây, bảy khẩu súng đã nhả ra gần hai trăm viên đạn. Bọn lợn không ngờ phải đối phó với thứ vũ khí lợi hại như thế, trong mười giây ít nhất đã có ba mươi con trúng đạn ngã quay lơ. Phần lớn là bị đạn găm vào đầu, vỡ sọ, lòi mắt chết trông thật thê thảm. Sứt Tai chỉ kịp thụp đầu xuống thì một viên đạn đã phá nát cái tai còn lành vểnh lên của nó. Kêu lên một tiếng kinh hồn, nó tung người lên, xông thẳng vào đội săn. Ngay lập tức ba người mang súng phun lửa nằm sấp xuống, đồng loạt bóp cò. Ba con rồng lửa lao thẳng về phía trước, ôm gọn lấy thân thể Sứt Tai, lửa bùng lên cao đến ba mét. Sứt Tai giãy giụa trong đống lửa. Ba khẩu súng tiếp tục khạc lửa và rất nhiều con khác cũng cùng chung số phận với Sứt Tai. Trên thân thể bọn lợn hoang này đầy dầu tùng, chỉ cần một ngọn lửa nhỏ liếm vào là bùng cháy. Mười mấy con đang cháy phừng phừng, kêu khóc inh ỏi, lăn lộn dưới đất để dập lửa, có con quáng quàng chạy vào rừng tùng, chạy vào bãi lau. Và lửa bùng lên khắp nơi, trong rừng tùng, ngoài bờ sông... Những con không bốc cháy thì điên cuồng chạy tán loạn, đội săn chỉ cần ngồi một chỗ điểm xạ từng viên một đưa tất cả về chầu Diêm Vương...
Đứng ở góc độ bảo vệ môi trường và động vật hoang dã ngày nay mà xét thì trận chiến tiêu diệt lợn hoang này là vô cùng sai lầm. Thảo nào ngày xưa Gia Cát Lượng phóng lửa đốt quân địch xong là thường than thở và rơi nước mắt! Năm hai nghìn lẻ năm, tôi được mời sang thăm Hàn Quốc, tham quan một khu vực rộng khoảng vài cây số vuông, không có bóng dáng con người, chỉ có lợn hoang đang đùa giỡn tự do, vô tư. Trên các cành cây cao, chim làm tổ chằng chịt, cò bay che lấp cả ánh mặt trời. Nhớ lại chuyện xưa, lòng không khỏi bùi ngùi, cho dù người ta giết chết những con lợn đã từng gây những chuyện không phải với con người. Họ đã sử dụng súng phun lửa làm cho rừng tùng, rừng liễu cháy rụi. Không chỉ lợn chết mà hầu hết các sinh vật trên bãi bồi cũng chịu chung số phận. Con chim nào kịp bay đi thì vĩnh viễn không bao giờ quay lại nữa...”
Ngày ấy tôi đang lang thang trong rừng liễu bên bờ Vận Lương hà, nhìn thấy từ xa khói lửa ngút trời, nghe tiếng súng nổ và nghe cả tiếng kêu đau thương của đồng loại lẫn tiếng cười thỏa mãn của con người. Tôi còn ngửi thấy mùi thịt da khét lẹt. Tôi biết, nếu tôi không nhường ngôi vua lợn thì tôi sẽ cùng chung số phận với những đồng loại đáng thương ấy, nhưng điều lạ lùng là tôi không lấy đó làm may mắn. Tôi cảm thấy mình có tội. Sống thế này để lương tâm dằn vặt sao bằng cùng chết với đồng loại trong kiếp nạn kinh hoàng này!
Sau đó, tôi có vượt sông quay về bãi bồi, chỉ còn lại mênh mông một rừng cây cháy trụi, đen thui. La liệt trên đất là xác lợn, xác chồn, xác thỏ... đen sì. Giận dữ, đau thương... bóp nghẹt trái tim tôi.
Tôi chưa hề nghĩ đến chuyện trả thù. Tôi không đủ bình tĩnh để xem mình phải làm gì, chỉ đi lang thang trong cảnh hoang tàn mà ghi mà nhớ. Bước chân vô định của tôi men theo một cái mùi đặc biệt thoang thoảng trong không khí một cách vô thức, mùi cay cay của khói, mùi thịt thối cộng với mùi rượu. Tôi dò theo, và sau một ngày tôi phát hiện ra nó - chiếc thuyền cùng với những con người tàn bạo ấy.
Chiếc thuyền dài khoảng hai mươi mét, vỏ bằng sắt, đầu thuyền gắn chiếc máy mười hai mã lực. Nó đang ngược dòng quay về. Đội săn có mười người, nhưng trong đó có sáu người là bộ đội phục viên nên đã về huyện bằng ô tô buýt ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Còn lại trên thuyền là đội trưởng Triệu Dũng Cang và ba thợ săn Kiều Phi Bằng, Liễu Dũng và Lữ Tiểu Pha. Theo đà tăng dân số, đất đai ngày càng thu hẹp cộng với những ô nhiễm công nghiệp, trên vùng Đông Bắc Cao Mật này không còn nhiều thú hoang, nhiều người đã bỏ nghề săn. Nhưng ba tay này là ngoại lệ. Năm ấy cướp công Tây Môn Lừa để nhận thưởng giết được sói hoang, tiếng tăm của chúng đã vang dội toàn huyện. Lần này góp phần tiêu diệt lợn hoang, tiếng tăm của chúng lại nổi như cồn. Người ta tôn vinh chúng như những anh hùng vì dân trừ hại.
Bọn chúng mang xác Điêu Tiểu Tam lên thuyền đưa về huyện như là một chiến tích vĩ đại. Với tốc độ trung bình mười cây số giờ, bọn chúng chỉ cần khoảng mười tiếng là về đến huyện. Nhưng chúng xem chuyến đi này là cơ hội để diễu võ giương oai, nên đến làng nào, thị trấn nào nằm bên sông chúng cũng đậu lại để cho mọi người tận mắt nhìn thấy thi thể của Vua Lợn. Chỗ nào cũng thế, chúng khiêng xác Điêu Tiểu Tam lên bờ, đặt ở chỗ quang đãng cho mọi người xem. Cho dù Điêu Tiểu Tam chết đã được mười mấy ngày nhưng xác nó vẫn chưa vữa vì trời khá lạnh, chỉ hơi bốc mùi.
Người ta nô nức đưa nhau đi xem Vua Lợn. Có người còn đưa cả nhà đến bên xác lão Điêu để chụp ảnh lưu niệm. Phóng viên các báo các đài đua nhau đưa tin, bao nhiêu mỹ từ đã được đưa lên mặt báo, lên ti vi... Lữ Tiểu Pha đã từng đề nghị tổ chức bán vé: Vào xem một đồng, chụp ảnh hai đồng, sờ răng chụp ảnh ba đồng, cưỡi lên xác chụp ảnh năm đồng, chụp ảnh chung với tổ săn lợn mười đồng. Kiều Phi Bằng và Liễu Dũng rất khoái chí với kế hoạch này nhưng Triệu Dũng Cang lắc đầu phản đối. Người này cao một mét tám, đôi cánh tay dài bất bình thường, mặt dài mắt sáng, đúng là một trang nam tử chân chính. Đi đến đâu tổ săn cũng được chính quyền địa phương đón tiếp trọng thể, ăn uống no say. Và ở đâu cũng thế, Kiều Phi Bằng kể lại diễn biến cuộc săn, Liễu Dũng và Lữ Tiểu Pha bổ sung, thêm mắm dặm muối cho tăng phần ly kỳ rùng rợn hơn cả những trận ác đấu của những đại ma đầu trong tiểu thuyết võ hiệp. Lần nào cũng thế, Triệu Dũng Cang chỉ yên lặng uống rượu, thi thoảng cười nhạt trông thật khó hiểu.
Những điều kể trên đều do tôi đọc được từ tiểu thuyết của Mạc Ngôn. Tôi không thể đường đường chính chính quan sát họ giữa thanh thiên bạch nhật mà chỉ lặng lẽ bơi theo thuyền ở một cự ly thích hợp.
Đó là đêm cuối cùng họ ở trên thuyền. Đêm ấy trời rét thấu xương, gió thổi ào ào, ánh trăng lạnh chiếu trên dòng sông bàng bạc, lấp lóa. Hình như nước sông cũng chảy chậm hơn, hai bên bờ băng đã đóng kín. Tôi nấp trong rặng liễu um tùm bên bờ sông, qua kẽ lá quan sát chiếc thuyền đang đậu dưới bến. Đây là thị trấn Lư Điếm, lớn nhất huyện Đông Bắc Cao Mật, mấy trăm năm trước là tụ điểm buôn lừa nên mới có tên gọi này. Ủy ban hành chính thị trấn là một tòa nhà ba tầng, đèn điện sáng trưng, tường sơn đỏ trông như bôi bằng máu lợn. Buổi chiêu đãi tổ thợ săn tổ chức ở đây, ngay gian phòng khách. Tiếng chúc rượu, tiếng mời rượu từ trong vẳng ra. Ngay trước ngôi nhà là một quảng trường rất rộng - trước trụ sở làng Tây Môn mà còn có quảng trường, huống hồ là thị trấn lớn thế này - đèn điện sáng trưng, người đông như hội. Người dân thị trấn đổ xô về đây để xem xác Vua Lợn. Tôi biết người ta bảo vệ xác Điêu Tiểu Tam rất nghiêm nhặt vì nghe đồn rằng, lông gáy lợn hoang làm bàn chải đánh răng thì răng đen thành trắng. Do vậy mà không ít người chen lấn vào đấy để lén nhổ lông gáy Điêu Tiểu Tam.
Chắc đã chín giờ đêm, sự chờ đợi của tôi đã có kết quả. Đầu tiên là mười thanh niên đặt năm chiếc đòn xuống đất rồi lật thi thể Điêu Tiểu Tam lên, nhất tề hô vang, khiêng lên vai đi về phía bến. Hai đứa con gái mặc áo đỏ xách lồng đèn đi trước, phía sau là một lão già luôn mồm hô to:
- Vua Lợn ơi! Lên thuyền thôi! Vua Lợn ơi! Lên thuyền thôi!
Chiếc thuyền lún xuống một tí dưới trọng lượng của Điêu Tiểu Tam. Nói cho công bằng, giữa tôi, nó và Sứt Tai, nó xứng đáng làm vua nhất. Tuy đã chết nhưng chẳng khác nào còn sống, nó nằm đó như đang ngủ, trông đồ sộ và oai hùng. Tôi ao ước nó bỗng nhiên tỉnh ngủ, đứng dậy lao xuống sông và bơi về phía tôi...
Bốn tay thợ săn say mèm cuối cùng cũng đã xuất hiện. Những cán bộ ủy ban đang đỡ chúng từ phía sau, hai đứa con gái áo đỏ cầm lồng đèn đi trước dẫn đường. Tôi cũng bí mật tiếp cận bến thuyền, chỉ cách chiếc thuyền khoảng mười mấy mét. Mùi rượu và thuốc lá trên người chúng nực nồng. Tôi bỗng bình tĩnh đến kỳ lạ, dường như những gì diễn ra trước mắt đều không có quan hệ gì với tôi. Bọn chúng đang bước lên thuyền.
Đứng trên thuyền, nhóm thợ săn hướng về những người tống tiễn nói những lời cảm tạ sáo rỗng. Liễu Dũng khởi động máy nhưng hình như trời quá rét khiến động cơ không quay nổi. Hắn bật lửa xem xét. Ánh lửa bùng lên chiếu rọi khuôn mặt vàng vọt của Kiều Phi Bằng, gương mặt phù thũng với chiếc mũi đỏ chót của Lữ Tiểu Pha và nụ cười lạnh lẽo của Triệu Dũng Cang, cũng chiếu sáng thi thể của bạn tôi lúc này đã bị bẻ mất chiếc răng nanh. Tôi rất bình tĩnh, an nhiên như một vị sư già đang ngồi trước tượng Phật.
Cuối cùng thì động cơ cũng đã gầm lên. Chiếc thuyền nặng nề trôi. Tôi rời khỏi chỗ nấp, cố giữ vẻ đường hoàng đĩnh đạc đạp lên lớp băng trong bờ để mọi người trên bờ nhầm tưởng tôi là một con lợn nhà ai đó sổng chuồng đi chơi đêm. Tôi chẳng suy nghĩ gì hết, giống như Mạc Ngôn ví với chim vẹt học nói, chỉ làm, không suy nghĩ, không tình cảm, đầu óc rỗng tuếch. Tôi nhún mình nhảy thật nhẹ nhàng lên thuyền, giống như con rắn trắng hóa thành người con gái đẹp nhảy xuống thuyền trong truyện cổ tích “Rắn trắng”. Bên tai tôi hình như có tiếng đàn lục huyền văng vẳng. Đó chỉ là cảm giác, nhưng cảm giác ấy lại rất mơ hồ. Có lẽ chiếc thuyền chìm xuống thêm một tí nữa, chung quanh thuyền không phải là nước mà là pha lê bị đập vỡ bắn lên tung tóe, không có âm thanh. Nhưng nếu có âm thanh đi chăng nữa thì nó cũng trở nên xa xăm, giống như người đang chìm dưới đáy nước nghe được âm thanh ở trên bờ...
Chiếc thuyền chao mạnh. Điêu Tiểu Tam như đang đứng dậy. Liễu Dũng bị hất văng xuống sông, nước như pha lê bắn lên tung tóe. Chiếc máy nổ cũng lật nghiêng, khói đen bao phủ. Thân hình Lữ Tiểu Pha lắc lư rồi ngã sóng soài vắt qua mạn thuyền, nửa người chới với ngoài thuyền rồi từ từ lộn đầu xuống nước, chẳng có tiếng động nào vang lên. Tôi nhảy nhót trên thuyền và dưới trọng lượng hai trăm năm mươi ký của tôi, chiếc thuyền nổi lên, chìm xuống. Kẻ nhiều năm trước đây đã từng gặp mặt tôi là Kiều Phi Bằng đang quỳ mọp trên sàn lạy như tế sao. Tôi chẳng suy nghĩ gì cả, cũng chẳng cần thiết phải lục tìm những gì đã xảy ra trong quá khứ, chỉ cần cúi đầu và ngẩng đầu là tôi đã quăng hắn ra khỏi thuyền. Cũng chẳng có tiếng động nào, chỉ có nước như pha lê bắn lên tung toé. Chỉ có Triệu Dũng Cang, người mà tôi cho là có chí khí nam nhi nhất đã vơ lấy một chiếc gậy nhằm đầu tôi bổ xuống. “Rắc!” Chiếc gậy gãy làm đôi, một nửa văng xuống nước, nửa còn lại nằm trong tay hắn. Tôi chẳng có cảm giác là có đau hay không, chỉ há miệng đớp lấy đoạn gậy trên tay hắn. Hắn kéo lại, rõ ràng là hắn rất khỏe. Tôi quan sát khuôn mặt đỏ gay vì rượu ấy, chợt liên tưởng đến chiếc đèn lồng đỏ. Tôi há miệng, hắn ngửa mặt lên trời bay ra khỏi thuyền. Lúc này âm thanh, màu sắc, mùi vị... mới đột nhiên hiển hiện trở lại.
Tôi quăng người nhảy xuống sông, cột nước bắn cao dễ đến ba thước. Nước lạnh và dẻo như sơn. Cả bốn người đang ngụp lặn trước mắt tôi. Liễu Dũng và Lữ Tiểu Pha đã say mèm, đầu óc mụ mị nên chắc chẳng cần tôi giúp, chúng cũng có thể tự chết. Còn Triệu Dũng Cang là thằng đàn ông chân chính, nếu hắn có sức quẫy đạp để lên được bờ thì tôi cũng chẳng tiếc gì mà không cho hắn một con đường sống. Kiều Phi Bằng ở gần tôi nhất, chỉ lộ có chiếc mũi và miệng lên khỏi mặt nước, phun nước phì phì trông thật đáng ghét. Tôi giơ móng trước lên giáng một cú vào cái đầu đang nổi phập phù ấy. Bất động giây lát rồi cái đầu ấy lộn ngược trở lại, chiếc mông xấu xí chổng ngược lên trời.
Tôi thả mình trôi theo dòng nước. Dòng sông như được nhuộm bạc dưới trăng. Phía sau, chiếc thuyền vẫn nổ ùng ục quay ngang quay dọc và trên bờ có ai đó hét lên:
- Bắn đi! Bắn đi!
Súng đã được sáu người kia mang về huyện từ lâu. Đây là thời kỳ hòa bình, vì tiêu diệt lợn hoang mà người ta phải sử dụng loại vũ khí giết người tối tân ấy, kẻ đưa ra quyết định này chắc sẽ bị trừng phạt thôi.
Tôi lặn xuống tận đáy sông, vứt lại trên mặt nước toàn bộ những âm thanh hỗn trọc của cuộc đời, như một nhà tiểu thuyết vĩ đại đã viết.
36
Trước lúc chết, nhớ lại chuyện xưa,
Cứu trẻ con, Vua Lợn hóa kiếp.
Ba tháng sau tôi chết.
Đó là vào một buổi chiều không có mặt trời. Trên dòng sông phía sau làng Tây Môn, một nhóm trẻ con đến mười mấy đứa đang nô đùa trên băng dày. Đứa lớn nhất mười mấy tuổi, nhỏ nhất chỉ ba bốn tuổi. Chúng bò, chúng trượt, chúng đuổi và vật nhau trên băng. Tôi đang ẩn mình trong một lùm cây rậm, chăm chú theo dõi thế hệ kế cận của làng Tây Môn. Thình lình, một tiếng gọi quen thuộc và thân thiết vang lên đâu đó:
- Khai Phóng, Cải Cách, Phượng Hoàng, Hoan Hoan! Các cháu ơi! Về thôi!
Bên kia sông, một khuôn mặt già nua xuất hiện, gió thổi tung chiếc khăn trùm đầu. Nghinh Xuân! Tôi gặp lại gương mặt thân quen ấy trước khi tôi chết gần một tiếng đồng hồ, lúc ấy tôi bỗng không còn ý thức mình là một con lợn nữa, mà là con người. Tôi biết Khai Phóng là con của Giải Phóng và Hợp Tác; Cải Cách là con của Bảo Phượng và Mã Lương Tài; Hoan Hoan là con của Kim Long và Hỗ Trợ và Phượng Hoàng là con của Kháng Mỹ và Thiên Hồng. Thực ra con bé này là con của Kim Long và Kháng Mỹ. Một đêm trăng rực rỡ, bên gốc cây hạnh nghiêng hoa nở thơm lừng, Kim Long ấn chặt Bàng Kháng Mỹ - trưởng ban tổ chức huyện ủy - vào gốc cây và đã truyền giống của dòng họ Tây Môn vào thân thể người phụ nữ đẹp nhất huyện Đông Bắc Cao Mật bấy giờ. Theo lời kể của Mạc Ngôn thì, khi Kim Long kéo quần của Kháng Mỹ xuống, cô ấy đã chụp lấy đôi vành tai của Kim Long, giọng đầy uy quyền và nghiêm khắc nói:
- Tôi là trưởng ban tổ chức huyện ủy đấy! Anh có nhớ không?
Vẫn ấn chặt Kháng Mỹ vào gốc cây, Kim Long nói trong điên loạn:
- Mặc xác cái chức trưởng ban của cô! Người khác dùng tiền để chinh phục cô, còn tôi thì chỉ có thể dùng của quý tự có của mình để làm cho cô vui vẻ tí.
Thân hình Kháng Mỹ mềm nhũn dưới sự thô bạo của Kim Long. Cây hạnh nghiêng ngả, hoa rụng bời bời. Hai mươi năm sau, Bàng Phượng Hoàng trở thành tuyệt thế giai nhân. Đó là chuyện bình thường, giống tốt gieo trên đất phì nhiêu, thời điểm gieo giống lại vô cùng lãng mạn, quả mà không đẹp thì trời xanh phải xem lại mình!
Bọn trẻ con đang say mê với những trò vui, không chịu lên bờ. Nghinh Xuân bất lực chạy xuống bờ sông. Đúng lúc ấy, một tiếng rắc, tiếp theo là những tiếng ầm ầm vang lên từ phía dòng sông. Băng vỡ! Tất cả bọn trẻ rơi tõm xuống dòng nước lạnh.
Tôi không còn là lợn nữa, tôi là người. Tôi chẳng phải là anh hùng mà chỉ là một người lương thiện bình thường làm việc nghĩa. Tôi tung người nhảy xuống nước, đầu tiên là dùng mõm cắn lấy áo quần của một đứa bé gái - cho dù là dùng mõm, tôi vẫn cứ là một con người, ngậm chặt lấy rồi bơi đến một tảng băng khá chắc, vứt mạnh lên. Lúc này Nghinh Xuân đã chạy lên bờ đê kêu cứu. Cám ơn bà, Nghinh Xuân - người tôi yêu nhất! Nước không lạnh lắm, thậm chí còn ấm nữa, huyết mạch toàn thân tôi rạo rực. Tôi chẳng để ý là mình nên cứu đứa nào, mà chỉ đụng đứa nào là tôi cắp đứa nấy. Tôi suy nghĩ rất nhiều, giống như nhân vật Anna Karenina trong tiểu thuyết cùng tên của Lev Tolstoi suy nghĩ trước khi tự sát; cũng giống như nhân vật Âu Dương Hải trong bộ tiểu thuyết trước thời Cách mạng Văn hóa “Bài ca Âu Dương Hải” đã dũng cảm nhảy lên chiếc xe ngựa chở đầy người ghìm cương ngựa trước khi nó bị tàu hỏa nghiền nát... Một ngày bằng cả trăm năm, một giây có khi bằng cả đời người. Khi tiếp tục ngoạm chiếc quần của một đứa bé trai đẩy lên mặt băng, tôi chợt nhớ hình ảnh hai đứa con tôi - Kim Long và Bảo Phượng - mấy mươi năm về trước đang vục đầu vào vú mẹ, mùi sữa thơm lừng hình như vẫn vương vấn đâu đó, hình như chúng đã hòa vào nước sông thì phải. Một đứa, rồi một đứa nữa... đã được đưa lên mặt băng. Bọn nhỏ đang lồm cồm bò trên băng. Đúng rồi, các cháu! Rất thông minh, cứ thế mà bò nhé, đừng đứng dậy! Trong khi đang ngậm chân một đứa bé trai mập mạp đẩy lên mặt băng, tôi thấy nó đang nôn ra toàn là nước, thấp thoáng trong đầu tôi là hình ảnh huyện trưởng Trần Quang Đệ và những ân tình mà ông đã giành cho Tây Môn Lừa. Thằng bé này vừa được đẩy lên mặt băng thì tảng băng lại vỡ ra, lại rơi xuống nước. Tôi dùng mõm đỡ lấy cái bụng mềm mềm của nó, bốn chân đạp nước - cho dù là đạp nước bằng bốn chân, tôi vẫn là con người- đẩy nó đến một tảng băng lớn rồi dùng sức hất mạnh. Nó bay lên rồi rơi xuống tảng băng an toàn. Cám ơn mày, tảng băng! Mày đã không vỡ ra nữa. Do dùng sức quá mạnh, tôi như bị hẫng chân, chìm sâu xuống tận đáy sông. Nước ộc vào mũi, vào miệng tôi. Trồi lên mặt nước tôi thở dốc, đã bắt đầu thấm mệt. Trên bờ đã rất đông người, có người định xông xuống nước. Bọn người ngu xuẩn kia, chớ có xuống đây! Tôi ngụp xuống đến tận đáy sông, lôi lên một đứa nữa. Thằng bé này có gương mặt thật tròn, lên khỏi mặt nước, nó như đã hóa thành băng. Hình như có tiếng khóc từ những tảng băng. Tốt! Còn khóc tức là còn sống. Các cháu! Hãy đồng loạt khóc lên đi. Tôi thoáng nhớ hình ảnh bao nhiêu năm về trước, có mấy đứa con gái nối đuôi nhau leo lên cây hạnh già trong vườn Tây Môn, đứa dẫn đầu bỗng nhiên đánh rắm, một trận cười giòn tan vang lên, trong đó có gương mặt đang cười của Bảo Phượng, Hỗ Trợ, Hợp Tác... Tôi ngụp xuống lần nữa để tìm một đứa đã bị nước cuốn trôi đi xa, khi trồi lên, phía trên đầu tôi là một tảng băng dày. Áp suất quá lớn khiến mắt tôi như muốn lồi ra ngoài, đầu tôi muốn vỡ tung ra. Dùng hai chân sau kẹp chặt thằng bé, tôi dùng đầu húc mạnh vào tảng băng. Không vỡ! Lại húc, cũng không vỡ. Tôi ngộp thở, tôi tức ngực quá. Tôi gắng gượng bơi ngược dòng khoảng gần năm thước, tìm kẽ hở, ngoi lên. Trước mắt tôi là một màu đỏ. A! Ráng chiều chăng? Sao mà đỏ đến thế! Tôi dồn chút sức cuối cùng, đẩy thằng bé lên mặt băng. Trong màu đỏ mà tôi biết chắc là máu trào ra từ hốc mắt ấy, tôi nhìn thấy Kim Long, Hỗ Trợ, Hợp Tác, Mặt Xanh... và nhiều người khác nữa, tất cả đều đỏ rực! Họ đang cầm gậy, cầm dây bò trên mặt băng, lôi từng đứa nhỏ vào bờ. Con người quả thông minh! Tôi thành thật cám ơn các người, kể cả những người đã từng căm thù Lợn mười sáu tôi đây...
Tôi thấy mình như đang bay lên trời, ẩn mình trong những cành vàng lá ngọc, lén xem tiên nữ biểu diễn những điệu múa mê hồn. Âm nhạc rộn ràng và ai đó đang cất cao tiếng hát. Thân thể tôi nóng dần lên, nước cũng ấm dần lên. Tôi từ từ lặn xuống đáy sông. Hai tên tiểu quỷ quen mặt đang nhìn tôi, cười nói:
- Anh bạn, đã quay lại rồi à?