Tôi tới làng Comala vì người ta bảo rằng cha tôi, một Pedro Páramo nào đó, đã từng sống ở đây. Chính mẹ tôi bảo vậy. Tôi đã hứa với bà rằng khi nào bà qua đời tôi sẽ tới thăm ông ta. Tôi nắm lấy tay bà trong cử chỉ hàm chứa lời hứa; bởi vì bà yếu lắm rồi, bà sắp tắt thở, còn tôi sẵn sàng hứa làm tất cả. “Con hãy tới thăm ông ta. - Bà khuyên tôi. - Dù con gọi ông ta thế nào đi nữa, ta tin chắc rằng ông sẽ rất vui khi gặp con”. Vậy là tôi không còn cách nào hơn là hứa sẽ làm đúng như điều bà mong muốn. Vì bà nói quá nhiều về điều đó, nên tôi cũng phải nói hoài đến nỗi sau đó tôi phải vất vả lắm mới gỡ được tay mình khỏi đôi bàn tay chết đã giá lạnh của bà.
Trước đó, bà bảo tôi:
- Con chẳng phải cầu xin ông ta điều gì cả. Con hãy đòi cái phần thuộc chúng ta, cái mà ông ta buộc phải cho mẹ mà chưa bao giờ ông ta cho... Với việc bỏ rơi mẹ con mình, ông ta phải trả giá đắt, có thế thôi con ạ.
- Thưa mẹ con sẽ làm đúng như vậy.
Nhưng tôi vẫn chưa nghĩ tới việc thực hiện lời hứa của mình, mãi cho đến lúc đầu óc bắt đầu mộng mơ, trí tưởng tượng trở nên bay bổng. Dần dà tôi bắt đầu dựng nên một thế giới hy vọng xoay quanh cái ngài được gọi là Pedro Páramo, ấy là chồng của mẹ tôi. Vì thế mà tôi đến làng Comala.
***
Lúc ấy đang trong tiết Đại thử, gió tháng Tám, hôi mùi cỏ xà phòng ẩm mục thổi nóng ràn rạt.
Con đường dốc bò lên hoặc trườn xuống:
“Bò lên hay trườn xuống hoàn toàn phụ thuộc vào người đang đi trên nó. Đối với người đi ra khỏi làng thì con đường bò lên. Đối với người đang đi vào làng thì con đường trườn xuống”.
- Cái làng ở phía dưới kia gọi là gì, anh bạn có thể cho biết được không?
- Comala, thưa ngài.
- Anh bạn chắc chắn đây đã là làng Comala chứ?
- Đúng thế, thưa ngài.
- Vì sao nó lại có vẻ buồn thế kia?
- Vì nó dãi dầu với nhật nguyệt, thưa ngài.
Tôi mường tượng ra cái làng ấy qua những hồi ức của mẹ tôi, qua nỗi nhớ của bà giữa những tiếng thở dài của bà. Bà thường sống não lòng vì làng Comala, mong ngày về làng nhưng không bao giờ về. Giờ đây tôi trở lại làng thay bà. Tôi nhìn những sự vật này qua lăng kính của bà vì bà đã cho đôi mắt của mình để tôi nhìn:
“Khi qua ngọn đèo của những người Colimotes thì ở đó hiện ra quang cảnh ngoạn mục của một bình nguyên xanh với những cánh đồng ngô chín vàng. Rồi từ đó con sẽ thấy làng Comala trắng tuyền màu đất, sáng lung linh trong đêm mờ!”. Tiếng nói của bà bí hiểm, gần như thầm thì như thể bà đang nói với chính mình... Mẹ tôi...!
- Ngài đến Comala có việc gì, nếu như ngài có thể nói cho tôi biết được? - Tôi nghe thấy người ta hỏi mình.
- Tôi đến thăm ông cụ nhà tôi, - tôi trả lời.
- À! - Ông ta nói.
Rồi cả hai chúng tôi cùng im lặng.
Chúng tôi đi xuống, vừa đi vừa nghe thấy tiếng chân lừa rộn ràng nện trên mặt đất. Trong cái oi nóng của tháng Tám, những con mắt mệt mỏi vì cơn buồn ngủ như muốn nổ tung ra.
- Sẽ có cuộc vui để mừng ngài, - tôi lại nghe thấy tiếng nói của người đi cạnh mình. - Sau nhiều năm không một ai qua đây, dân chúng sẽ mừng rỡ khi nhìn thấy có người đến làng.
Sau đó y nói thêm:
- Dù ngài là ai đi nữa, dân chúng sẽ mừng rỡ khi trông thấy ngài.
Trong ánh nắng phản chiếu, bình nguyên hiện ra tựa như một cái hồ trong suốt xua tan hơi nước để làm nổi bật đường chân trời xám màu ghi. Phía sau đó là một dải núi. Xa hơn nữa, cõi mông lung muôn thuở.
- Ông cụ thân sinh ngài có đặc điểm gì, nếu như tôi có thể được biết?
- Tôi không được rõ lắm, - tôi trả lời. - Tôi chỉ biết cụ tên là Pedro Páramo.
- À, thế à!
- Vâng, người ta bảo rằng cụ tên là thế đấy.
Tối lại nghe rõ một tiếng
à của người dắt lừa.
Tôi gặp y ở Los Encuentros, một ngã tư đường. Ở đây tôi đang đứng chờ cho tới khi xuất hiện con người này.
- Ông bạn đi đâu đấy? - Tôi hỏi.
- Tôi đi xuống, thưa ngài.
- Ông bạn có biết làng Comala không?
- Tôi đi về đấy đây.
Rồi tôi theo y. Tôi lẽo đẽo theo sau y, định bụng cố nhanh chân để đi ngang hàng với y, cho tới khi y nhận ra tôi đang theo y và thế là y đi chậm lại. Sau đó chúng tôi đi rất gần nhau, gần như là kề vai, sóng vai nhau:
- Tôi cũng là con của cụ Pedro Páramo, - y nói với tôi.
Trên bầu trời trống trải, một đàn quạ bay, kêu “quạ, quạ, quạ”.
Sau khi vượt qua các ngọn núi, chúng tôi ngày một đi sâu xuống. Chúng tôi đã để lại phía sau mình không khí nóng hầm hập ở phía trên và càng ngày ngập sâu trong thứ không khí nóng không có gió. Tất cả dường như đang chờ đợi một cái gì đó.
- Ở đây nóng nhỉ! - Tôi nói.
- Đúng thế, nhưng cái nóng này đã thấm tháp gì, - y trả lời tôi. - Đợi đấy rồi sẽ biết. Ngài sẽ thấy nóng hơn khi chúng ta tới làng Comala. Làng ấy ở trên chốt đống than lửa của trần gian, ở ngay trên miệng của địa ngục. Chỉ cần nói với ngài rằng rất nhiều người ở đây chết khi xuống tới đáy địa ngục thì lại trở về ngay miệng địa ngục lấy cái chăn.
- Ông có quen ngài Pedro Páramo không? - Tôi hỏi.
Tôi dám hỏi như vậy vì thấy trong mắt y có một giọt niềm tin đọng lại.
- Ai vậy? - Tôi lại hỏi.
- Một mối thù nóng bỏng. - Y trả lời tôi.
Rồi y thúc đàn lừa. Đó là một động tác thừa vì đàn lừa hiện đang đi trước chúng tôi khá xa, chúng nối đuôi nhau đi xuống.
Tôi cảm thấy tấm ảnh mẹ cất trong túi áo sơ mi đang đốt nóng trái tim mình, dường như bà cũng đổ mồ hôi. Đó là một tấm ảnh cũ, gián nhấm bốn xung quanh, nhưng nó là tấm ảnh duy nhất tôi được biết. Tôi tìm thấy nó trong tủ nơi nhà bếp. Nó nằm lẫn lộn với những lá tía tô, đất khô, những bông hoa castilla, những cành lá vân hương nhét đầy trong một cái nồi. Từ độ ấy, tôi giữ kỹ nó. Dường như nó cũng là tấm ảnh duy nhất mẹ tôi đã chụp. Bà chúa ghét chụp ảnh. Có lần bà bảo rằng ảnh là sản phẩm của phép phù thủy. Dường như bà nói đúng bởi vì tấm ảnh của bà thủng lỗ chỗ và hơn thế nữa ở bên ngực phía trái tim có một lỗ thủng to bằng đầu ngón tay.
Đó chính là tấm ảnh tôi mang theo, nghĩ rằng nó sẽ giúp cha tôi dễ dàng nhận ra tôi.
- Xin ngài hãy nhìn, - người dắt lừa dừng lại nói với tôi. - Ngài có nhìn thấy cái ngọn núi tựa như cái bóng đái lợn không? Đó, đó, ở phía sau nó một ít thôi là Media Luna. (Giờ đây tôi quay mặt về phía ấy). Ngài có nhìn thấy đỉnh núi kia không? Hãy nhìn nó kìa. (Và giờ đây tôi lại quay mặt về hướng này). Ngài có nhìn thấy ngọn núi xa mờ hầu như không nhìn thấy ấy không? Vậy, đó chính là Media Luna từ đầu cho tới cuối đấy. Như người ta thường nói: ngút tầm mắt mới bao quát được tất cả đất đai của vùng này. Cả Media Luna là thuộc quyền sở hữu của ngài Pedro Páramo. Điều đáng tiếc là các bà mẹ chúng ta đã đẻ chúng ta trên những chiếc giường tồi dẫu rằng chúng ta đều là con trai của ngài Pedro Páramo. Điều hài hước hơn cả là chính ngài đã mang chúng ta, từng người một, đến nhà thờ để làm lễ rửa tội. Có lẽ với ngài cũng đã xảy ra điều tương tự chứ!
- Tôi không nhớ rõ.
- Con c...
- Ông bạn nói gì thế?
- Chúng ta đã tới nơi rồi, thưa ngài.
- Đúng thế, tôi cũng tin là như vậy. Cái gì xảy ra ở đây vậy?
- Một con
correcaminos [1], thưa ngài. Ở đây người ta gọi tên những con chim ấy như thế.
- Không, tôi có hỏi thế đâu. Tôi muốn được biết về làng này, mà sao nom nó cô quạnh thế, dường như hoang vắng không một bóng người.
- Không phải chỉ là dường như mà trên thực tế là như vậy. Ở đây không có ai sinh sống.
- Thế còn ngài Pedro Páramo thì sao?
- Ngài Pedro Páramo đã chết từ lâu rồi.
***
Đó là lúc mà tất cả các làng, trẻ con nô đùa trên các ngõ ngách làm huyên náo cả buổi chiều khi nắng quái chiều hôm chiếu lên những bức tường đen.
Ít ra, cũng vào chính giờ này, ngay chiều qua thôi, tôi đã thấy điều đó ở làng Sayula. Tôi cũng nhìn thấy vòng lượn của những con bồ câu phá vỡ không khí thanh lặng, vẫy vẫy đôi cánh như thể từ giã buổi ban ngày. Chúng bay lượn rồi lao xuống đậu trên những mái ngói, trong khi đó những tiếng la thét của trẻ nhỏ cũng bay vút lên và dường như chúng thêu màu xanh lam lên bầu trời buổi chiều tà.
Lúc này tôi ở đây, trong cái làng không một tiếng động. Tôi nghe rõ tiếng chân mình gõ xuống những hòn đá tròn lát trên đường. Những tiếng gõ của chân tôi cứ lặp đi lặp lại trong âm vang của những bức tường nhuộm vàng nắng quái chiều hôm.
Tôi đi bộ trên con đường chính của làng, nhìn những ngôi nhà trống trơn với những tấm cửa xiêu vẹo, trong mọc đầy cỏ dại. Cái thứ cỏ này gọi tên là gì nhỉ? Người bạn đường ban nãy đã chỉ cho mình: “Thưa ngài, đó là cỏ capitana ạ. Một thứ cỏ dại chỉ chờ người bỏ đi là đua nhau mọc đầy nhà. Rồi ngài sẽ thấy chúng mọc”.
Vào lúc vượt qua đầu đường, tôi nhìn thấy một bà cuộn mình trong tấm vải khoác. Bà ta biến ngay như không hề xuất hiện. Sau đó, tôi lại dạo bước và đảo mắt ngó nhìn qua các khe cửa vào các nhà cho tới khi người đàn bà ấy lại hiện ra trước mặt tôi.
- Chào ông! - Bà ta chào tôi.
Tôi nhìn theo bà ta rồi gọi với:
- Nhà bà Eduviges ở đâu?
Bà ta chỉ tay nói:
- Ở đằng kia. Cái ngôi nhà ở gần cầu ấy.
Tôi nhận ra tiếng nói của bà ta rung ngân từ trong thanh quản của con người, rằng miệng của bà ta cũng có răng, có lưỡi và cái lưỡi này cũng uốn éo khi nói, rằng đôi mắt của bà ta cũng sáng như mắt những người sống trên trần gian vậy.
Trời tối.
Bà ta quay người lại chào tôi. Mặc dù làng này không có trẻ con nô đùa, không có bồ câu, không có những mái ngói xanh lam nhưng tôi vẫn cảm thấy nó đang sống. Tôi lại nghĩ rằng nếu như tôi chỉ nghe thấy cái thanh tịnh là vì tôi chưa quen với cái thanh tịnh, hoặc cũng có thể là đầu tôi chứa đầy tiếng ồn và tiếng nói.
Tiếng nói ư? Đúng thế. Và ở đây, ở nơi hiếm gió này, sẽ nghe rõ chúng hơn. Những tiếng nói ấy có trọng lượng rất nặng ở ngay trong từng người. Tôi nhớ điều mẹ tôi từng nói với mình:
“Ở nơi ấy con sẽ nghe mẹ rõ hơn. Ta sẽ ở gần con hơn. Con sẽ ở gần tiếng nói của những kỷ niệm của mẹ hơn là tiếng nói của cái chết của mẹ, nếu như có đôi lần nào đó cái chết đã cất lên tiếng nói của nó”. Mẹ tôi... bà mẹ đang sống.
Tôi muốn thưa với bà rằng: “Mẹ đã lầm nhà. Mẹ đã cho con địa chỉ sai. Mẹ chỉ con đến nơi này nơi nọ đến nỗi con đã tới một làng hoang vắng để tìm một người đã chết”.
Theo tiếng nước chảy ở dưới sông, tôi tìm đến ngôi nhà gần cầu. Tôi gõ cửa nhưng là một cái cửa giả. Tay tôi gõ vào không khí và không khí dường như mở toang ra. Một người đàn bà đang ở trong đó. Bà ta bảo tôi.
- Mời ông vào.
Tôi bước vào.
***
Tôi đã ở làng Comala. Người dắt lừa, đã khởi hành rồi, còn dặn với trước khi chia tay tôi:
- Tôi còn đi xa nữa kia, đi tới những ngọn núi kia. Nhà tôi ở đàng ấy. Nếu ngài muốn tới thăm chắc chắn ngài sẽ được đón tiếp nồng hậu. Bây giờ, nếu ngài muốn dừng lại xin ngài cứ tự nhiên cho. Cũng chẳng đến nỗi vô ích nếu ngài chịu vào làng tìm kiếm, có thể ngài sẽ gặp một người nào đó.
Tôi dừng lại. Theo như lời y, tôi đã vào làng.
- Tôi sẽ tìm được nhà trọ ở đâu? - Gần như phải gào lên, tôi hỏi y.
- Hãy tìm bà Eduviges, nếu như bà ta vẫn còn sống. Hãy bảo với bà ta rằng ngài tới theo lời dặn của tôi nhé!
- Ông bạn tên gì nhỉ?
- Abundio, - y trả lời tôi. Nhưng tôi không kịp nghe họ của y.
***
- Tôi là Eduviges Dyada đây. Mời cậu vào nhà.
Hình như bà ta đang đợi tôi thì phải. Tất cả đều đã được chuẩn bị chu đáo, y như lời bà ta bảo với tôi. Bà ta bảo tôi đi theo bà, mò qua một dãy dài các phòng tối, hình như chúng bị bỏ không. Nhưng mà không. Bởi khi tôi đã làm quen với bóng tối, và nhờ tia sáng rọi theo mình, tôi nhìn thấy những khoảng tối lớn lên, tôi lách qua những đống đồ thô để ở dọc hành lang hẹp.
- Những thứ gì đây, bà? - Tôi hỏi.
- Những thứ vô dụng, - bà ta trả lời tôi. - Nhà tôi toàn chứa những thứ vô dụng. Những người bỏ làng đi chọn nhà tôi để gửi đồ đạc nhưng chưa một ai trở lại nhận chúng. Căn buồng mà tôi đã chuẩn bị sẵn cho cậu ở phía cuối kia. Vậy cậu là con của bà ấy đấy?
- Của ai kia? - Tôi hỏi để đáp lại.
- Của Doloritas[2].
- Vâng, đúng ạ! Nhưng làm sao bà biết?
- Bà ấy báo cho tôi biết là cậu sẽ đến mà. Ngay hôm nay đấy thôi, bà ấy bảo rằng cậu sẽ đến vào ngày hôm nay.
- Ai nói? Mẹ cháu nói hả bà?
- Đúng thế. Bà ấy chứ còn ai nữa.
Tôi thật không biết nghĩ thế nào cho phải. Bà này cũng chẳng để cho tôi kịp nghĩ nữa, đã nói:
- Đây là phòng ngủ của cậu.
Căn phòng không có cửa, chỉ có mỗi cái cửa mà chúng tôi vừa bước vào. Bà ta châm nến và tôi nhìn thấy căn phòng trống không.
- Ở đây không có giường nằm sao?
- Cậu không cần phải bận tâm. Cậu vừa đi đường mệt rồi và giấc ngủ sẽ là giường nằm êm ấm cho sự nghỉ ngơi. Sáng mai tôi sẽ sửa soạn giường chiếu cho cậu. Như cậu biết đấy, không dễ dàng thu dọn các thứ trong cùng một lúc được, cần phải báo trước, thế mà mẹ cậu vừa báo cho tôi xong.
- Mẹ cháu ư? - Tôi hỏi lại. - Mẹ cháu đã chết rồi còn đâu.
- Vậy là việc bà ấy chết là nguyên nhân của tiếng nói yếu ớt. Cái tiếng nói rất yếu ớt của bà ấy dường như phải vượt qua một khoảng rất xa mới tới đây được. Bây giờ thì ta đã hiểu. Bà ấy chết được bao lâu rồi?
- Đã được bảy ngày rồi ạ.
- Thật là tội nghiệp cho bà ấy. Có lẽ bà ấy buồn lắm, buồn vì cảm thấy mình bị bỏ rơi. Chúng tôi đã hẹn với nhau rằng sẽ cùng chết bên nhau. Phòng khi cần phải giúp nhau hoặc phòng khi gặp trắc trở hai chúng ta cùng ra đi để người nọ giúp đỡ người kia trong chuyến đi này. Chúng ta là bạn rất thân của nhau. Bà ấy chẳng bao giờ nói với cậu về ta sao?
- Đúng thế. Mẹ cháu chẳng bao giờ nói với cháu về bà cả.
- Ta cảm thấy lạ quá đấy. Rõ ràng là thời ấy chúng ta còn trẻ ranh mà. Bà ấy vừa mới lấy chồng. Nhưng chúng ta đã thân nhau lắm. Mẹ cậu rất xinh gái, rất dịu hiền, ai cũng thích bà ấy. Ai cũng muốn yêu bà ấy. Vậy là bà ấy đã đi trước ta rồi phải không? Nhưng cậu cứ yên tâm rằng ta sẽ đuổi kịp bà ấy mà. Chỉ có ta mới hiểu nổi khoảng cách xa vời từ đây lên trời mà thôi. Nhưng mà ta cũng biết lối đi tắt. Vấn đề là ở chỗ làm sao để chết - nếu Chúa cho phép - khi nào anh muốn chết chứ không phải lúc nào Chúa muốn anh chết. Hoặc giả nếu như mày muốn chết thì mày hãy cầu khẩn ngài cho chết trước thời hạn. Hãy thứ lỗi cho ta vì ta đã xưng mày tao với cháu. Ta xưng hô như vậy vì ta coi cháu như con trai ta. Đúng thế, nhiều lần ta nói: “Con trai của Dolores có thể là con mình”. Sau đây ta sẽ nói cho cháu biết vì sao. Điều duy nhất mà lúc này ta muốn nói với cháu là ta sẽ đuổi kịp mẹ cháu ở một nơi nào đó trên những nẻo đường của cõi trường sinh.
Tôi tưởng rằng người đàn bà ấy đang điên. Sau đó tôi không nghĩ gì cả. Tôi cảm thấy mình đang ở một thế giới xa lạ và tôi cứ để mặc cho mình trôi trong thế giới ấy. Thân thể tôi dường như đang mềm nhũn ra trước tất cả, rủ bỏ mọi ràng buộc và bất kỳ ai cũng đều có thể đùa bỡn với nó như đùa bỡn một mảnh giẻ.
- Cháu mệt lắm! - Tôi bảo với bà ta.
- Cháu hãy đi ăn một vài miếng đã. Hãy ăn một tí chút đã, thứ gì cũng được.
- Cháu sẽ đi. Cháu sẽ đi sau.
***
Nước từ mái tranh nhỏ giọt xuống đào thành một cái lỗ trên sân cát. Nước cứ giọt tí tách, tí tách, sau đó lại tí tách trên phân nửa tàu lá nguyệt quế, từng bị gió đánh tả tơi hiện còn giắt trong kẽ hở giữa những viên gạch. Cơn bão đã ngớt. Lúc này, thỉnh thoảng gió rung những cành thạch lựu khiến nước mưa rơi xuống lộp độp khảm lên mặt đất những giọt nước sáng lung linh rồi sau đó tự chúng vây bẩn. Những chú gà, rụt cổ trong đôi cánh như đang ngủ, bỗng nhảy ào xuống sân, thi nhau mổ, rồi nuốt những con giun đang bò trên mặt đất. Mây vừa bay đi, ông mặt trời ló ra chiếu nắng những hòn đá khiến chúng rực sáng đủ sắc màu, hút khô nước còn đọng trên mặt đất, đùa với gió giỡn trên những tàu lá khiến những tàu lá này tỏa sáng lóng lánh mỗi bận gió đi qua.
- Thằng nhóc, mày làm gì trong chuồng tiêu mà lâu thế?
- Có làm gì đâu, mẹ!
- Nếu mày cứ ở lì trong đó, rắn độc bò ra sẽ cắn cho mà khốn thân, con ạ!
- Vâng ạ! Con ra ngay mà.
“Susana thân yêu, anh đang nghĩ tới em. Trong mùa gió khi chúng mình cùng thả diều trên những quả đồi xanh. Ở trên này, ngay tại quả đồi xanh này chúng mình nghe thấy tiếng ồn ào vui vẻ của làng ở phía dưới ấy. Cùng lúc ấy, cơn gió cuốn theo nó sợi dây gai của chúng mình. “Susana, hãy giúp tớ nào”. Những bàn tay mềm mại chìa ra cho những bàn tay của mình. “Hãy thả dây nữa đi nào”.
Cơn gió khiến chúng mình phải bật cười. Chúng mình cùng hướng mắt nhìn theo chiếc diều đang lên trong khi đó sợi dây gai bị gió hút theo cứ tuột khỏi kẽ những ngón tay cho tới khi đứt đánh bựt một cái như thể nó chạm phải cánh một con chim đang bay. Rồi ở phía trên ấy, chiếc diều giấy rơi xuống cuốn theo nó cái đuôi giả, rồi lẫn vào màu xanh của mặt đất.
Đôi môi em ướt át như thể sương đêm vừa hôn lên chúng.”
- Thằng khốn, tao đã bảo mày ra ngay kia mà!
- Vâng, thưa mẹ, con ra ngay kia mà.
“Về em, anh vẫn nhớ. Khi em ở đây, với đôi mắt xanh màu nước biển, em nhìn anh.”
Thằng bé ngẩng đầu lên nhìn thấy mẹ mình đang đứng ở cửa.
- Vì sao mày ở trong chuồng tiêu lâu thế! Mày làm gì trong ấy hả?
- Con đang mải nghĩ.
- Mày không suy nghĩ ở nơi khác được à? Ở lâu trong chuồng tiêu sẽ sinh bệnh đấy. Ngoài ra mày cũng còn phải làm việc gì chứ. Tại sao mày không đi vẽ ngô cùng với bà hả?
- Vâng ạ! Con đi ngay bây giờ mẹ ạ.
***
- Bà ơi, cháu đến đó giúp bà vẽ ngô đây.
- Bà đã làm xong rồi cháu ạ. Nhưng giờ đây chúng ta sẽ làm sô-cô-la. Cháu chui rúc ở đâu thế? Chúng ta phải đi tìm cháu suốt trong lúc trời nổi bão.
- Cháu ở sân bên mà.
- Cháu làm gì ở đấy? Cầu kinh phải không?
- Không phải đâu ạ. Cháu chỉ ngắm trời mưa thôi.
Người bà nhìn đứa cháu với đôi mắt nửa màu xám đục và dường như bà đang dò đoán những gì đang ẩn náu bên trong thằng bé.
- Thôi cháu hãy đi lau cối xay đi.
“Susana thân yêu, em ẩn trên cao hàng trăm mét, ở bên trên những tảng mây và còn cao hơn thế nữa. Em ẩn trong cõi vô biên của Thượng đế, ở ngay bên cạnh đấng Toàn năng, nơi anh chẳng thể với tới em, chẳng thể nhìn thấy em và là nơi những lời nói của anh không thể bay tới với em.”
- Thưa bà, cối xay bị hỏng rồi ạ, cái trục nghiền của nó gãy mất rồi.
- Lại tại cái con ranh Micaela đã nghiền lõi ngô rồi. Nói mãi nó cũng không bỏ thói xấu ấy. Thế là vô phương cứu chữa.
- Sao nhà ta không mua cái khác? Cái này cũ lắm rồi và không dùng được nữa.
- Cháu nói phải đấy. Mặc dù với những tốn kém mà chúng ta đã chi tiêu để làm lễ tang cho ông nội mày và số lợi tức một phần mười mà chúng ta đã trả cho nhà thờ thì nhà ta không còn lấy một đồng xu; tuy nhiên chúng ta sẽ phải thắt lưng buộc bụng và sẽ mua một cái cối xay khác. Tốt hơn hết là cháu hãy chạy đến nhà bà Inés Villalpando xin mua chịu của bà một chiếc. Đến tháng Mười khi thu hoạch mùa xong chúng ta sẽ trả tiền cho bà ấy.
- Vâng ạ. Cháu đi ngay nhé, bà.
- Khoan đã, để ta còn dặn thêm mấy việc nữa nào. Cháu hãy bảo bà ấy cho mượn một cái rây và một con dao quắm. Gớm, cây cối mọc um tùm dường như lấn hết chỗ đi lại của nhà mình. Nếu như ta có ngôi nhà lớn, với những vườn tược rộng rãi thì ta chẳng phải ta thán. Ông nội cháu đã tính sai khi chuyển đến đây ở. Tất cả đều do Chúa định đoạt: chẳng bao giờ sự tình lại xảy ra đúng như người ta mong muốn. Hãy nói với bà Inés rằng đến mùa chúng ta sẽ trả hết nợ cho bà, nghe chưa.
- Vâng, thưa bà.
Chim ruồi bay rộn ràng. Đang mùa mà. Nghe rõ tiếng bay vù vù của cánh chim giữa những bông lài đang rã cánh rơi.
Thằng bé loanh quanh bên cái tủ có đặt bức ảnh Thánh Tâm Chúa, tìm được hai mươi bốn xu. Y cầm lấy hai mươi xu, bốn xu để lại trong tủ.
Trước khi ra đi, mẹ y ngăn lại:
- Mày đi đâu?
- Con đến nhà bà Inés Villalpando để mua một cái cối xay mới. Cái của nhà ta hỏng rồi.
- Hãy nói với bà ấy để cho mẹ một mét lụa đen như thứ này nhé, - bà mẹ chìa vật mẫu ra. - Bảo với bà là hãy tính gộp cả vào khoản nợ chung của nhà ta nhé.
- Được ạ, thưa mẹ.
- Khi trở về con mua cho mẹ một ít aspirin nhé. Tiền mẹ cất ở trong cái lọ ở hành lang ấy.
Thằng bé tìm thấy một đồng peso. Y bỏ lại số tiền hai mươi xu.
“Lúc này mình có khối tiền tiêu gì thì tiêu”.
- Pedro! - Cả hai người đàn bà cùng gọi. - Pedro!
Nhưng thằng bé không nghe tiếng gọi. Y đã đi xa rồi.
***
Về đêm trời lại đổ mưa. Trong khoảng thời gian khá lâu y nằm nghe mưa rơi xối xả ở bên ngoài, sau đó hình như y ngủ thiếp đi. Bởi vì khi thức dậy y chỉ còn nghe thấy mưa rơi nhè nhẹ. Kính trên các cửa sổ đều mờ hết và ở mặt ngoài của chúng nước rỏ ròng như những hàng nước mắt. “Nhìn những giọt nước sáng lóng lánh ánh chớp, và cứ mỗi bận thở anh lại thở dài não lòng và mỗi lần nghĩ anh lại nghĩ đến em, hỡi Susana mến yêu”.
Mưa đã tạnh hẳn và lúc này chỉ có gió nhẹ thổi. Thằng bé nghe rõ: “Sự xá tội và sự nổi loạn của xác thịt, amen!”. Đó là tiếng vọng từ phòng trong nơi các bà đang cầu kinh. Bọn họ đứng dậy để nhốt chim, cài cửa và tắt đèn.
Chỉ còn lại ánh sáng ban đêm và tiếng rì rầm của mưa rơi như tiếng dế kêu.
- Vì sao mày không cầu kinh hở thằng khốn? Chúng ta đang phải làm lễ tang chín ngày cho ông nội đây.
Bà mẹ thằng bé đang đứng ở trước cửa tay cầm cây đèn nến. Cái bóng của bà hắt lên trần nhà, dài nghêu, thẳng đuỗn. Và những xà nhà chia cái bóng ấy thành từng mẩu, từng mẩu.
- Ôi, ta buồn quá đi mất.
Bà quay đi, tắt nến. Bà đóng cửa rồi òa lên khóc nức nở. Những tiếng nấc ấy lẫn vào trong tiếng mưa rơi.
Chuông đồng hồ nhà thờ điểm từng tiếng, từng tiếng một như thể thời gian co mình lại.
***
- Vậy là suýt nữa thì ta là mẹ cháu đây. Về chuyện này chưa bao giờ mẹ cháu nói cho cháu biết à?
- Chưa bao giờ ạ! Mẹ cháu chỉ kể cho cháu nghe những chuyện tốt đẹp. Cháu được biết bà nhờ người dắt lừa dẫn cháu tới đây. Đó là một ông Abundio nào đó.
- À, Abundio tốt bụng đấy. Vậy là hắn vẫn không quên ta phải không? Ta vẫn thường thưởng công cho hắn mỗi bận có một khách lữ hành đến nhà ta. Cả hai chúng ta đối xử với nhau rất tốt. Bây giờ thật là bất hạnh, thời thế đã thay đổi bởi vì kể từ khi cái làng này tiêu điều đi cho đến nay không một ai đi lại với chúng ta nữa. Vậy là chính hắn đã khuyên cháu đến thăm ta đấy?
- Chính ông ta khuyên cháu tìm bà.
- Ôi thế thì ta chỉ còn biết cám ơn hắn ta. Đó là một người tốt bụng và luôn luôn giữ đúng lời hứa. Hắn ta là người đưa thư và tiếp tục hành nghề cho tới khi bị điếc. Ta vẫn còn nhớ cái ngày bất hạnh đã xảy ra điều chẳng lành đối với hắn ta. Tất cả chúng ta đều thương cảm vì ai ai cũng yêu mến hắn. Hắn ta chuyển thư đi và mang thư về cho chúng ta. Hắn ta kể lại cho chúng ta nghe những gì xảy ra ở nơi khác và chắc chắn rằng cũng kể cho họ nghe những việc chúng ta đang làm ở đây. Hắn hay chuyện lắm. Sau đó hắn ta thay đổi tính tình, trở nên người ít nói. Hắn bảo rằng hắn không muốn nói về những sự việc mà không nghe thấy, rằng hắn chẳng nghe thấy gì hết, rằng hắn chẳng thấy ý vị gì khi nghe được những chuyện ấy. Tất cả đều đã xảy ra ngay sau khi một quả pháo, loại pháo mà ở đây chúng ta vẫn thường dùng để đuổi rắn nước, đã nổ ngay gần đầu hắn ta. Kể từ đó hắn ta trở nên câm lặng mặc dù hắn không phải người câm. Nhưng mà hắn ta vẫn là hắn ta, không bao giờ là người xấu.
- Cái ông mà cháu nói với bà ấy là người thính tai nghe được hết những điều cháu nói với ông ta.
- Có thể người cháu nói chuyện không phải là hắn. Ngoài ra, Abundio đã chết rồi. Chắc chắn rằng hắn ta đã chết rồi mà. Cháu hiểu không? Vậy người ấy có thể không phải là hắn ta.
- Vâng, cháu cũng đồng ý với bà.
- Bây giờ trở lại câu chuyện về mẹ cháu, ta đang nói...
Chăm chú nghe bà nói, tôi bắt đầu nhìn người đàn bà đối diện với mình. Tôi nghĩ rằng bà đã trải qua những năm tháng vất vả. Gương mặt bà trắng bệch dường như không còn máu, tay bà khô héo, khô héo và nhăn nheo. Không nhìn thấy đôi mắt bà. Bà ta vận bộ váy áo rất cổ màu trắng có may đường viền và từ cổ bà thòng xuống một bức tượng María Santísima del Refugio với hàng chữ đề “Nơi chở che cho những kẻ tội lỗi”.
- Con người mà ta đang nói với cháu ấy là một người làm nghề thuần ngựa. Gã nói gã tên là Inocencio Osorio. Tuy nhiên chúng ta quen gọi gã là Saltaperico[3] bởi gã nhảy nhẹ nhàng và lanh lẹn. Ông bạn Pedro của ta nói rằng gã sinh ra để dạy ngựa non. Nhưng rõ ràng gã làm nghề khác thật: đó là nghề “khêu gợi”. Gã là người khêu gợi những mơ màng. Quả đúng như thế. Gã đã lừa mẹ cháu cũng như từng lừa nhiều cô gái khác, trong đó có ta. Một lần ta cảm thấy người mệt mỏi, gã đến thăm và bảo với ta: “Để tôi tẩm quất cho, rồi cô sẽ thấy người khoan khoái ngay mà”. Đó là việc xoa bóp. Trước tiên gã nắn các ngón tay, sau xoa hai bàn tay rồi đến các cánh tay. Cuối cùng gã xoa nắn hai chân, ban đầu thì lạnh và chỉ một lát sau cả người nóng ran. Trong lúc xoa bóp gã nói những điều tốt đẹp sẽ tới trong tương lai. Gã như lên đồng, mắt láo liên và gọi hồn với nguyền rủa đủ điều, và thế là gã nhổ nước bọt vào ta như bọn người Digan vẫn làm. Đôi lúc gã trần như nhộng và nói: Ấy là những thèm muốn của chúng ta. Cũng đôi lúc vài điều gã nói trở thành sự thật. Gã bóp không biết bao nhiêu chỗ nên thỉnh thoảng cũng trúng chỗ cần bóp.
Đó là việc cái gã Osorio đã xem bói cho mẹ cháu khi mẹ cháu đến thăm gã. Gã bảo với mẹ cháu: “Đêm ấy chớ có ăn nằm với bất cứ người đàn ông nào bởi vì trăng không thuận”.
Dolores vội về nói với ta rằng mình không thể làm được, rằng đêm ấy không thể ngủ với Pedro Páramo. Đó là đêm tân hôn của mẹ cháu đấy. Và cháu thấy đấy, ta cố thuyết phục mẹ cháu đừng có tin lời Osorio vì gã là một kẻ đại bịp.
- Em không thể, - mẹ cháu bảo ta như vậy. - Chị hãy thay em mà. Ông ấy sẽ không nhận ra chị đâu.
Dĩ nhiên là ta trẻ hơn mẹ cháu và hơn nữa trắng hơn, nhưng những thứ này người đàn ông không dễ nhận ra trong đêm tối.
- Không thể được đâu, chị Dolores ạ. Chị hãy đi đi.
- Chị làm phúc làm đức, chị hãy đi thay em mà, rồi em sẽ đền ơn chị.
Thời ấy mẹ cháu là cô gái có đôi mắt dịu hiền. Nếu mẹ cháu đẹp hơn người thì chính là nhờ có đôi mắt ấy. Chúng biết sai bảo người khác.
- Chị hãy đi thay em mà! - Mẹ cháu giục ta. - Thế là ta đi.
Bóng tối giúp ta rất nhiều và còn một việc nữa mà mẹ cháu không biết, đó là việc ta cũng thích Pedro Páramo.
Ta nằm với ông ta với bao thích thú và thèm muốn. Ta nằm sát vào người ông ta; nhưng sự hoan hỉ ngày hôm trước vẫn còn làm ông ta mệt mỏi. Vậy là ông ta chỉ còn có ngáy khò khò suốt đêm. Việc duy nhất mà ông ta làm đêm ấy là thọc chân mình qua hai chân ta.
Ta thức dậy trước khi trời rạng sáng và ta tới thăm Dolores. Ta bảo mẹ cháu:
- Bây giờ chị hãy đi. Hôm nay là một ngày khác rồi.
- Ông ta có làm gì chị không? - Mẹ cháu hỏi ta.
- Em cũng chẳng biết nữa! - Ta trả lời.
Năm sau cháu ra đời: nhưng không phải là con ta mặc dù chỉ một tí nữa cháu sẽ là con trai ta.
Có lẽ mẹ cháu chưa bao giờ kể cho cháu vì bà ấy xấu hổ.
“Những cánh đồng xanh. Với gió lay động lúa ngô con sẽ thấy chân trời nhô lên hay thấp xuống, với mưa vần vũ con sẽ thấy chiều như chao đảo ngả nghiêng. Con sẽ nhìn thấy, sẽ ngửi thấy mùi hoa linh lăng và mùi bánh. Cả một làng thơm mùi mật mới đổ...”
Mẹ cháu lúc nào cũng căm thù Pedro Páramo. “Doloritas đâu! Cô đã bảo chúng nó chuẩn bị cho ta ăn sáng chưa?” Thế là mẹ cháu thức dậy trước khi trời sáng. Mẹ cháu nhóm bếp. Mùi bếp nấu đánh thức những con mèo. Đi đi lại lại khắp nhà có cả đàn mèo theo chân. “Doloritas đâu rồi!”.
Đã bao lần mẹ cháu nghe thấy những tiếng gọi ấy? “Cô Doloritas, thứ này nguội rồi, không ăn được nữa!”. Đã bao lần như thế? Dù mẹ cháu đã quen với sự bị hành hạ ngày một quá quắt, đôi mắt dịu hiền của mẹ cháu cũng đã bắt đầu lóe sáng ý chí kiên cường!
“Chỉ có hương hoa cam ngào ngạt trong buổi sáng tinh sương.”
Lúc ấy mẹ cháu bắt đầu thở dài.
- Vì sao lại thở dài thế, cô Doloritas?
Buổi chiều ấy ta cùng đi với họ. Chúng ta đang ở giữa cánh đồng nhìn những bầy chim hoét bay qua. Một con kền kền đen vẫy vẫy cánh giữa bầu trời.
- Vì sao lại thở dài thế, cô Doloritas?
- Ước gì em được như con kền kền để bay tới chỗ bà chị gái em đang sống.
- Được thôi, cô Doloritas ạ. Ngay lúc này cô sẽ đi thăm chị gái mình. Nào chúng ta đi về nào. Chuẩn bị hành lý cho cô. Không cần nhiều lời nữa.
Thế là mẹ cháu ra đi.
- Don Pedro, xin chào!
- Vĩnh biệt Doloritas!
Mẹ cháu đi khỏi điền trang Media Luna và không bao giờ trở lại. Nhiều tháng sau đó ta có hỏi thăm mẹ cháu qua ngài Pedro Páramo.
- Cô ta yêu chị gái mình hơn là yêu ta. Chắc rằng ở đó cô ta đã được toại nguyện. Hơn nữa cô ta làm ta thấy khó chịu. Ta không nghĩ tới việc mời cô ta trở về, nếu như đó là điều cô đang quan tâm.
- Nhưng mẹ con chị ấy sống như thế nào?
- Chúa sẽ che chở cho mẹ con cô ấy.
“… Với việc bỏ rơi mẹ con mình, ông ta phải trả giá đắt, có thế thôi con ạ”.
- Vậy là cho đến tận lúc này bà ấy mới báo cho ta biết cháu sẽ đến thăm ta. Ngoài ra ta chẳng được tin tức gì về bà ấy.
- Cháu xin kể một trong những chuyện đã qua, - tôi nói với bà. - Ở thành phố Colima, mẹ con cháu sống nhờ vả vào bác Gertrudis, người đã ra mặt khó chịu trước sự nhờ vả này. “Vì sao em không cùng đến với chồng?”, bà ấy hỏi mẹ cháu.
- Có lẽ ông ta đuổi em tới đây. Em sẽ không trở về nếu như ông ta không bảo em về. Em đến đây vì yêu chị, vì muốn được nhìn chị. Vì yêu chị mà em đến.
- Chị hiểu. Nhưng đã đến lúc em phải ra đi mà.
- Nếu em mà được quyết định...
Tôi nghĩ rằng người đàn bà ấy đang nghe tôi nói nhưng tôi nhận ra bà ta nghiêng đầu như đang nghe ngóng tận đâu đâu. Sau đó bà bảo tôi:
- Khi nào cháu đi nằm nghỉ hả?
***
“Cái ngày em bỏ đi, anh hiểu rằng thế là hết, là chẳng bao giờ anh được thấy em. Em đi trong ánh chiều tà đỏ rực, trong ánh hoàng hôn đỏ bầm màu máu. Em mỉm cười. Em để lại sau lưng mình một làng quê mà về nó nhiều lần em bảo anh: “Em yêu anh nhưng em căm thù cái làng này, kể cả việc em đã chào đời ở đây”. Anh nghĩ rằng em sẽ không trở lại. Và đã nhiều lần anh tự nhủ lòng: Susana sẽ không bao giờ trở về, sẽ không bao giờ trở về.”
- Mày làm gì ở đây vào lúc này hở thằng kia? Mày không làm việc hả?
- Thưa bà, không ạ, Rogelio muốn cháu trông đứa trẻ thôi. Do đó cháu dẫn nó đi dạo chơi. Thật là khó mà trông coi hai việc cùng một lúc, vừa trông em lại vừa trông điện tín, trong khi đó ông ta chỉ chơi bi a với uống bia ở ngoài tiệm. Ngoài ra ông ấy chưa trả công cho cháu lấy một xu mẻ.
- Cháu ở đây không phải để kiếm tiền mà để học việc. Khi nào cháu thạo việc lúc ấy sẽ đòi hỏi tiền công. Lúc này cháu chỉ là người học việc. Có thể nay mai cháu sẽ trở thành sếp. Nhưng để đạt được điều đó cháu cần phải nhẫn nại, hơn nữa, cần phải nhũn nhặn. Nếu người ta bảo cháu dắt thằng bé đi chơi thì cháu hãy cho nó đi chơi, hãy làm vì lòng thương của Chúa, cần phải chịu đựng cháu ạ!
- Bà ơi, để cho người khác chịu đựng còn cháu không thể chịu đựng được.
- Thằng này quá quắt nhỉ! Rồi mày sẽ khốn khổ đấy, Pedro Páramo ạ!
***
- Thưa bà Eduviges, có gì thế bà?
Bà ta lắc đầu như thể vừa chợt tỉnh mộng.
- Đó là con ngựa của Miguel Páramo đang phi trên đường tới điền trang Media Luna.
- Vậy có người sống ở điền trang Media Luna sao?
- Không, không còn ai sống ở làng ấy cả.
- Vậy thì sao?
- Chỉ có con ngựa phi đi rồi phi lại. Nó cứ phi như thế không ngừng nghỉ. Nó phi đi mọi chốn để tìm thằng bé và bao giờ cũng vậy, nó đều trở về vào đúng lúc này. Có lẽ con ngựa đáng thương đang tự dằn vặt lương tri mình. Ngay cả đến con vật cũng biết hối hận khi nó phạm tội, phải không?
- Cháu chịu không hiểu nổi điều bà nói. Cháu không nghe thấy tiếng vó ngựa phi.
- Thật không?
- Thật mà!
- Thế thì chỉ là sự cảm nhận của giác quan thứ sáu của mình ta thôi. Đó là thiên bẩm của ta, hoặc giả là lời nguyền. Chỉ riêng ta hiểu điều bất hạnh mà ta đã chịu đựng vì nó.
Bà ta im lặng hồi lâu, sau đó nói:
- Tất cả đều bắt đầu từ Miguel Páramo, con nuôi ta. Chỉ mình ta biết điều đã xảy ra cho nó trong cái đêm nó chết. Ta đã đi nằm rồi, thì ta nghe thấy tiếng vó ngựa của nó từ ngả Media Luna phi trở về đây. Ta lấy làm ngạc nhiên bởi không bao giờ nó trở về nhà vào cái giờ ấy. Bao giờ cũng vậy, nó thường trở về vào lúc trời gần sáng. Nó đi nói chuyện với người yêu ở làng Contla, một làng cách đây khá xa. Nó đi từ rất sớm nhưng trở về rất khuya. Nhưng cái đêm ấy nó không trở về... Lúc này cháu nghe thấy không? Rõ ràng là cháu nghe thấy. Nó trở về đây.
- Cháu không nghe thấy gì hết.
- Vậy thì đó chẳng qua là do ta tưởng tượng ra thôi. Như ta đang nói với cháu cái việc nó không trở về ấy chỉ là lời nói suông thôi. Con ngựa chưa phi qua thì ta đã nghe thấy có tiếng gõ cửa. Thì cháu cứ hiểu cho đó là ảo giác của ta. Rõ ràng là có một cái gì đó đã thôi thúc ta phải dậy ra xem ai thế. Quả nhiên là nó, cái thằng Miguel Páramo ấy. Ta không lấy làm ngạc nhiên khi nhìn thấy nó, bởi đã có thời kỳ nhiều đêm nó ở lại nhà ta, cùng ngủ với ta cho tới khi nó gặp cái cô gái đã làm nó mất cả trí khôn.
- Sao thế? - Ta hỏi Miguel Páramo. - Con lại bị cô ta bỏ rơi chứ gì!?
- Không phải thế. Cô ta vẫn yêu con. Có điều là con không thể nào tìm được cô ta. Con lạc mất làng. Trời mờ sương hay mờ khói, hoặc giả cái gì ấy con cũng chẳng biết; nhưng con biết chắc rằng làng Contla không còn nữa. Con đi xa hơn cái làng ấy, theo sự tính toán của con, và con chẳng thấy gì hết. Con về để bảo cho mẹ hay vì chỉ có mẹ mới là người hiểu con. Nếu như con nói với những người khác trong làng Comala thì bọn họ sẽ bảo con là thằng rồ như họ vẫn thường nói về con như vậy.
- Không, con không rồ đâu, Miguel ạ. Có thể là con đã chết rồi. Hãy nhớ rằng người ta đã bảo cái con ngựa ấy sẽ có ngày nó giết con. Hãy nhớ lại đi, Miguel Páramo. Cũng có thể con đã phát cuồng lên nhưng đó lại là chuyện khác.
- Con chỉ nhảy qua bức tường đá mà cha con mới đây ra lệnh xây. Con cho con ngựa Colorado nhảy qua bức tường đá để khỏi phải đi vòng quá xa mới ra tới đường cái. Con biết là mình đã cho con ngựa nhảy qua và sau đó con còn tiếp tục phi, nhưng mà, như con đã nói với mẹ, trước mặt con lúc ấy chỉ có khói, khói và khói mà thôi.
- Ngày mai cha con sẽ quằn quại đau khổ: Đáng thương cho cha mày. Thôi giờ đây con hãy đi đi và hãy an nghỉ, Miguel nhé, ta cảm ơn con đã trở về vĩnh biệt ta.
Ta đóng cửa.
Trước lúc trời rạng sáng, một thằng nhỏ ở điền trang Media Luna đến đây nói với ta:
- Ngài Pedro, ông chủ con, mời bà tới. Cậu Miguel đã chết. Ông chủ mời bà đến với ngài ngay.
- Ta biết rồi, - ta bảo nó. - Họ bảo mày khóc à?
- Vâng ạ. Ngài Fulgor bảo con là khi nói với bà phải vừa nói vừa khóc ạ.
- Được rồi. Hãy về nói với don Pedro rằng ta sẽ đến ngay. Nó được khiêng về lâu chưa?
- Chưa được nửa giờ đâu, thưa bà, cậu ấy được khiêng về sớm hơn thì có lẽ sẽ được cứu sống. Mặc dù rằng, theo như lời bác sĩ - người bắt mạch cậu Miguel -nói, cậu ấy chết đã từ lâu rồi. Chúng con biết được tin dữ này là nhờ con Colorado trở về không và nó đã hoảng hốt, la hí không để cho ai ngủ. Bà đã biết cậu ấy và con ngựa mến nhau như thế nào rồi và đến lúc này con tin rằng con vật này còn đau khổ hơn cả don Pedro. Nó không ăn, không ngủ, chỉ chạy hoài. Bà có biết không, hình như nó biết, hình như nó cảm thấy bị dằn vặt, đau đớn tự bên trong.
- Khi đi ra, mày đừng quên đóng cửa nhé.
Thằng nhỏ ở điền trang Media Luna ra về.
- Cháu đã lần nào nghe thấy tiếng kêu rên của người chết chưa?
- Thưa bà Eduviges, chưa bao giờ ạ.
- Cháu có phúc lắm đấy.
***
Nước chảy từng giọt trong ống dẫn. Nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt xuống chum, một thứ nước trong vừa chảy từ trong đá ra. Nghe rõ tiếng ồn: những bàn chân qua lại nện trên mặt đất. Nước cứ nhỏ giọt đều đều không ngừng nghỉ. Chum đầy khiến cho nước ứ ra, trào xuống nền nhà ẩm.
- Dậy đi nào! - Người ta đánh thức y.
Y nhận ra âm thanh tiếng nói, cố đoán xem là ai. Y hé mắt; nhưng lại lăn ra thiếp đi luôn, vì thân xác y bải hoải với cơn buồn ngủ mê mệt. Bàn tay y lại sờ soạng trải rộng chăn ra rồi thân xác y ẩn dưới hơi ấm của chiếc chăn để tìm sự thanh lặng nghỉ ngơi.
- Dậy đi nào! - Người ta lại đánh thức y.
Tiếng nói làm rùng mình đôi vai, khiến thân xác phải dựng dậy. Y hé mắt. Nghe rõ tiếng tí tách nhỏ giọt của nước từ trong máng dẫn xuống chum đựng. Nghe rõ tiếng những bước chân đang lê đi sền sệt... Nghe rõ có tiếng khóc.
Vậy là y nghe thấy tiếng khóc. Điều đó đã đánh thức y dậy, một tiếng khóc nhỏ nhẹ, mỏng manh mà có lẽ vì nó mỏng manh nên đã lọt qua mùng ngủ đã đến tận nơi những tình cảm kích động đang hội tụ.
Y từ từ đứng dậy và nhìn thấy gương mặt một người đàn bà dựa vào khung cửa, gương mặt ấy vẫn còn bị bóng đêm che tối, đang nức nở khóc.
- Vì sao mẹ khóc thế mẹ? - Y hỏi, bởi vì trong lúc đặt chân xuống sàn nhà y đã nhận ra gương mặt của mẹ mình.
- Bố mày đã chết rồi! - Bà bảo y.
Sau đó, như thể những nỗi đau xổ tung ra, bà chao đảo xoay xung quanh mình rồi lại chao đảo xoay xung quanh mình cho tới khi có những bàn tay kịp vươn tới nắm lấy vai bà giữ cho thân xác bà đứng yên.
Ở ngoài cửa, trời bắt đầu rạng sáng. Không một vì sao. Chỉ là một bầu trời xám màu chì, chưa hửng sáng bởi ánh thái dương. Một thứ ánh sáng mờ mờ màu nâu, chưa phải là thứ ánh sáng ban ngày mà đúng hơn là thứ ánh sáng chập choạng lúc trời tranh tối tranh sáng.
Ngoài sân rậm rịch những bước chân như thể đám đông đang lùng sục. Những tiếng động không thành tiếng. Và ở đây, người đàn bà ấy, đang đứng ở ngưỡng cửa; thân xác bà như cản ngăn ánh sáng ban ngày rọi tới, vì thế đã để lọt qua vai mình những mảng da trời, và những luồng sáng qua hai chân bèn lọt vào. Dưới chân bà, sàn nhà như ngập trong nước mắt. Rồi sau đó là tiếng khóc nức nở. Lại một lần nữa vang lên tiếng khóc nhỏ nhưng chói tai và nỗi buồn khiến thân xác bà như cuộn lại!
- Người ta đã giết bố mày rồi!
- Thế còn mẹ, ai đã giết mẹ?
***
“Có gió và nắng và cả mây nữa. Phía trên nữa là một bầu trời xanh và đằng sau bầu trời ấy có thể là những khúc ca, có thể là những giọng hát hay tuyệt vời... Tóm lại có hy vọng. Có hy vọng cho chúng ta để đối chọi với những tủi nhục của chúng ta.
Nhưng đối với mày, Miguel Páramo ạ, thì không có gì hết bởi mày đã chết không được giải tội và mày sẽ không bao giờ được biết đến ân sủng của Chúa.”
Cha Rentería đi vòng quanh thi hài và đọc kinh cho kẻ quá cố. Cha đọc vội vàng cho qua chuyện rồi đi ra, không ban phước cho đám đông đứng chật ních trong nhà thờ.
- Thưa cha, chúng con muốn cha ban phước cho cậu ấy.
- Không được! - Cha lắc đầu từ chối. - Ta không ban phước. Hắn là kẻ xấu và sẽ chẳng lên thiên đường. Thượng đế sẽ trừng phạt ta nếu ta vì hắn mà cầu xin xá tội cho hắn.
Cha nói vậy, trong lúc giấu đôi bàn tay mình đi kẻo đám đông nhìn thấy chúng đang run bần bật. Mà không ích gì.
Cái thi thể ấy đè nặng lên tâm hồn của tất cả mọi người. Nó nằm ngay giữa nhà thờ, trên một tấm gỗ xung quanh phủ dây hoa và thắp nến lung linh. Sau nó là một người cha, đơn độc, đang đợi lễ viếng kết thúc.
Cha Rentería đi ngang qua Pedro Páramo, cố không đụng phần vai ông ta. Cha nâng cành bài hương lên trong điệu bộ nhẹ nhàng rồi rảy nước thánh từ trên xuống dưới trong khi miệng cha lầm bầm nói mà có thể đó là những lời khẩn cầu. Rồi cha quỳ xuống và tất cả mọi người cũng cùng quỳ với cha.
- Hỡi Thiên Chúa, Người hãy rủ lòng thương với kẻ tôi tớ của Người, amen!
- Hãy yên nghỉ, amen! - Những tiếng hô đáp lời cha.
Một lần nữa cha lại tức phát điên lên, khi nhìn thấy đám đông ra khỏi nhà thờ khiêng theo thi hài của Miguel Páramo.
Pedro Páramo đến gần cha và từ từ quỳ gối bên cha:
- Thưa cha, con biết rằng cha căm thù nó. Và cha hoàn toàn có lý. Nó là đứa thủ phạm đã giết anh trai cha theo như lời đồn đại của bàn dân thiên hạ. Trong trường hợp cháu gái cha, cô bé Ana ấy, nó là đứa đã cưỡng hiếp cháu gái cha theo như sự phán định của chính cha. Nhiều lần nó cãi lại cha và vô phép đối với cha. Tất cả những cái lý ấy đều có thể hiểu được. Nhưng lúc này, thưa cha kính yêu, cha hãy quên đi tất cả và hãy tha tội cho nó như Chúa có lẽ cũng đã tha tội cho nó.
Ngài đặt lên cái khay quyên góp một nhúm tiền vàng rồi đứng dậy:
- Hãy nhận lấy số tiền ấy, coi như tiền bố thí cho nhà thờ của cha.
Nhà thờ đã vắng lặng. Hai người đàn ông đợi Pedro Páramo ngoài cửa. Họ đợi ngài sẽ nhập với bọn họ để rồi cùng đi theo sau cỗ quan tài đã nằm thăng bằng trên vai bốn người phu khiêng đòn ở điền trang Media Luna.
Cha Rentería nhặt từng đồng tiền một rồi đi đến bàn thờ Chúa:
- Tất cả số tiền này là của Người, hỡi Thiên Chúa. Ông ta có thể lấy tiền chuộc được tội lỗi. Còn về phần con, hỡi Thiên Chúa, con chỉ xin Người hãy phân xử công minh. Đó là tất cả những gì con cầu xin Người... Vì con, Người hãy trừng phạt hắn.
Rồi cha đóng hòm đựng bánh thánh lại.
Cha bước vào kho chứa đồ Thánh, rồi nằm xuống một xó và ở đây cha khóc lóc một cách thảm thiết và buồn rầu cho tới khi cạn hết nước mắt.
- Được rồi, người đã thắng, hỡi Thiên Chúa.
***
Trong lúc ăn tối, như tất cả các đêm khác, cha uống sô-cô-la nóng. Cha cảm thấy yên tâm.
- Này Anita [4], cháu có biết người ta an táng ai hôm nay không?
- Thưa chú, không ạ.
- Cháu có nhớ thằng Miguel Páramo không?
- Thưa chú, có ạ.
- Chính hắn đấy.
Ana cúi đầu.
- Cháu tin chắc rằng chính là hắn phải không?
- Chắc chắn thì không, chú ạ. Cháu không nhìn thấy mặt anh ta. Đêm ấy trong bóng tối anh ta tóm lấy cháu.
- Vậy thì làm sao cháu biết là Miguel Páramo được?
- Bởi vì anh ta nói với cháu: “Tôi là Miguel Páramo đây, Ana ạ. Em chớ nên hoảng hốt”. Anh ta bảo với cháu như vậy.
- Nhưng cháu có biết hắn là thủ phạm gây ra cái chết của cha cháu chứ?
- Thưa chú, có ạ.
- Vậy cháu đã làm gì để tránh xa hắn?
- Cháu chẳng làm gì cả.
Cả hai cùng im lặng hồi lâu. Gió thì thào giữa những cành lá sim.
- Anh ta bảo cháu rằng chính vì thế mà anh ta đến, rằng anh ta đến để xin tha lỗi. Cháu cứ nằm yên trên giường mà bảo anh ta rằng: “Cửa sổ để ngỏ đấy”. Thế là anh ta vào phòng cháu.
Anh ta đến ôm ghì lấy cháu như thể đó là cái cách thức xin tha tội. Cháu cười với anh ta. Cháu nghĩ tới điều chú đã dạy cháu rằng không bao giờ thù oán kẻ khác. Cháu mỉm cười với anh ta để nói lên điều ấy. Nhưng ngay sau đó cháu nghĩ rằng anh ta chẳng thể nào nhìn thấy nụ cười của cháu bởi do bóng đêm mịt mùng cháu cũng không nhìn rõ anh ta. Cháu chỉ cảm thấy anh ta đè lên cháu, rồi bắt đầu giở trò đểu cáng đối với cháu mà thôi!
Những tưởng anh ta sẽ giết cháu. Chú ạ, cháu đã nghĩ như vậy đấy. Do đó cháu thôi không còn nghĩ gì nữa, để cháu cứ thế chết đi trước khi anh ta kịp giết cháu. Nhưng anh ta không dám làm, chắc chắn là như vậy.
Cháu biết chắc điều này khi cháu mở mắt ra và cháu nhìn thấy ánh sáng ban mai, qua khung cửa sổ để ngỏ đã lọt vào phòng. Trước lúc ấy cháu cảm thấy mình đã không còn tồn tại nữa!
- Nhưng mà cháu cũng phải nhớ rõ một cái gì chứ. Chẳng hạn như giọng nói. Cháu cũng không quen giọng nói của hắn à?
- Cháu không nhớ một đặc điểm riêng biệt nào của anh ta. Cháu chỉ biết rằng anh ta là người đã giết cha cháu. Chưa bao giờ cháu nhìn thấy anh ta và sau đó cháu cũng chưa có dịp nhìn thấy anh ta. Cháu không tài nào đối mặt nổi với anh ta, chú ạ.
- Nhưng cháu đã biết là ai rồi.
- Vâng đúng thế. Cháu biết rằng lúc này, nếu anh ta là thủ phạm thì có thể anh ta đang ở dưới địa ngục rồi. Bởi vì cháu đã khẩn cầu các vị thần thánh hãy làm đúng như thế.
- Cháu yêu ơi, cháu chớ có khờ khạo như thế mà tin điều đó. Ai mà biết có biết bao người đang khẩn cầu cho hắn. Chỉ một mình cháu thì ăn thua gì trước hàng nghìn người khác đang cầu nguyện cho vong linh hắn. Trong số đó có rất nhiều người cầu nguyện nhiệt thành hơn cả cháu, như cha hắn chẳng hạn.
Cha định nói thêm: “Và ta cũng đã tha tội cho hắn”. Nhưng cha chỉ nghĩ trong đầu mình thôi. Cha không muốn dằn vặt thêm tâm hồn đau khổ của cô gái. Trái lại cha cầm lấy tay cô và nói:
- Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa lòng lành của chúng ta bởi vì Người đã lôi hắn đi khỏi cõi thế tục này, nơi hắn đã gây biết bao tội ác và hãy đừng quan tâm tới việc hắn được lên thiên đường hay phải xuống địa ngục.
***
Một con ngựa phi qua ngã tư nơi con đường cái quan gặp đường đi Contla. Không một ai trông thấy. Tuy nhiên, một người đàn bà đứng đợi ở ngoài bìa làng đã kể lại rằng bà ta nhìn thấy một con ngựa phi gấp bốn vó lại như thể nó nằm sấp mà lao đi. Bà ta nhận ra con ngựa của Miguel Páramo và nghĩ rằng: “Con ngựa kia đến vỡ đầu mất”. Sau đó bà ta thấy nó duỗi chân ra, thẳng người lên, vẫn bám lấy đường, nó đi với cái đầu ngoẹo về phía sau như thể có ai đang rượt đuổi nó chẳng bằng.
Những lời đồn đại ấy bay tới làng Comala ngay trong đêm chôn cất Miguel Páramo, khi những người khiêng đòn đang ngồi nghỉ sau chuyến đi dài đến tận nghĩa địa trở về. Trước khi ngủ họ nói chuyện với nhau như họ thường nói chuyện ở những nơi khác.
- Cái thi thể ấy làm tôi đau ê ẩm. - Terencio Lubianes nói. - Đến bây giờ vai tôi vẫn còn nhức nhối.
- Em cũng thế, - Ubillado, người em của anh ta nói. - Chân em cứ sưng tấy lên. Ấy là vì ông chủ muốn tất cả chúng ta đều mang giày mà. Đám tang mà cứ như thể đám hội ấy. Có đúng thế không anh Toribio?
- Biết nói thế nào đây với các bạn nhỉ. Tôi nghĩ rằng cậu cả Miguel chết rất đúng lúc.
Mỗi lúc lại đến thêm những lời đồn đại từ Contla. Chuyến xe bò cuối cùng mang tới những lời đồn:
- Người ta đồn rằng hồn ma vẫn lởn vởn ở đằng ấy. Người ta nhìn thấy nó đến gõ cửa nhà một cô gái nọ. Nó giống hệt cậu Miguel Páramo. Nó cũng mặc chiếc quần kẻ một sọc từ thắt lưng xuống tới mắt cá chân và mang theo những thứ Miguel vẫn thường mang.
- Và bác tin rằng ngài Pedro, với tài cán mà ngài có, lại để cho con trai mình lởn vởn khắp chốn thế sao? Tôi mường tượng thấy rằng nếu như ngài được biết chuyện ngài sẽ bảo: “Này con ạ, con đã chết rồi. Con hãy ở yên trong phần mộ của mình. Còn chuyện gì cần phải thanh toán cứ để đấy cho ta”. Nếu quả thật ngài nhìn thấy hồn ma ở đấy thì tôi dám đánh cuộc rằng ngài sẽ ra lệnh cho nó trở về nghĩa địa ngay.
- Isaias, bác nói chí phải đấy. Cái ông già ấy chẳng vừa đâu.
- Tôi chỉ kể lại chuyện tôi nghe được thôi! - Bác đánh xe lại cho chiếc xe bò đi theo con đường của mình.
Sao đổi ngôi. Những vì sao rơi cứ như thể trời đang mưa những tia sáng.
- Hãy nhìn kìa các bạn. - Terencio nói. - Hãy nhìn những tua ngù trên kia.
- Đó chẳng qua người ta đang mừng Miguel Páramo đấy mà.
- Không phải điềm xấu sao?
- Đối với ai kia?
- Có lẽ em gái cậu đang não lòng đợi Miguel trở về.
- Cậu nói với ai nào?
- Với cậu chứ còn với ai nữa.
- Các bạn, chúng ta về đi thôi. Chúng ta nói chuyện quá lâu rồi. Ngày mai còn phải dậy sớm.
Và bọn họ tản mát như những chiếc bóng.
Vẫn có ai nói như gào:
- Bảo cô ấy đừng khóc nhé, rằng đã có tôi rồi mà.
- Cậu hãy chào bà xã nhà cậu hộ chúng tớ nhé, - mọi người trả lời.
***
Sao đổi ngôi. Đèn đóm trong làng Comala tắt hết.
Lúc này bầu trời làm chủ đêm tối.
Cha Rentería trằn trọc trên giường mình, không sao ngủ được.
- Tất cả những gì đã xảy ra chỉ tại mình hết, - cha tự nói với mình. - Đó là nỗi lo làm mích lòng những kẻ đã bảo trợ mình. Đó là sự thực; bọn họ cho mình những thứ cần thiết để sinh tồn. Mình không lấy được gì của những người nghèo! Những lời cầu nguyện chẳng thể no bụng. Cho đến bây giờ điều ấy vẫn hiển nhiên như vậy. Đó chính là những hậu quả tai hại. Đó là tội của mình. Mình phản bội những người đã yêu mình bởi họ gửi gắm niềm tin vào mình, tìm đến mình để mình giúp họ đến với Chúa. Nhưng họ đã giành được gì với niềm tin của chính họ nào? Lên thiên đường ư? Hay thanh lọc tâm hồn họ? Tại sao phải thanh lọc tâm hồn khi lần cuối cùng... Trước mắt mình vẫn hiển hiện cái nhìn của María Dyada, người đến cầu xin mình cứu giúp cho người chị gái là Eduviges:
- Chị ấy luôn luôn phục vụ đồng loại mình, đã cho họ những gì mình có, ngay tới cả một đứa con. Bà đặt nó trước tất cả để xem ai nhận nó làm con mình; nhưng không một ai đã làm điều đó. Thế là chị ấy bảo họ: “Trong trường hợp này, tôi sẽ là cha nó, mặc dù ngẫu nhiên thôi, tôi đã là mẹ của nó”. Bọn họ đã lạm dụng lòng nhân hậu của chị ấy vì chỗ nó không muốn làm thiệt hại ai, cũng chẳng muốn gây thù oán với một ai.
- Nhưng bà ấy đã tự vẫn mà tự vẫn là làm trái ý Chúa.
- Chị ấy không còn con đường nào khác. Chị ấy làm như vậy cũng chỉ vì lòng nhân hậu của mình.
- Đến phút chót bà ấy đã sai lầm, - điều đó mình đã nói ra với María Dyada. - Ăn thua là ở cái phút cuối cùng. Cúc cung tu nhân tích đức bao năm trời để được cứu rỗi linh hồn. Nhưng rồi bỗng chốc mất hết.
- Nhưng chị ấy đã đánh mất hết đâu. Chị ấy chết với bao đau đớn. Và cái nỗi đau ấy... Cha đã nói với chúng con về cái nỗi đau mà giờ đây con quên mất tên gọi. Chị ấy ra đi với chính nỗi đau ấy. Chị ấy chết co quắp do sặc máu. Con vẫn nhìn thấy vẻ mặt của chị ấy, đó là những biểu hiện buồn thảm nhất mà con người để lộ ra.
- Có lẽ phải cầu nguyện nhiều.
- Vậy chúng ta sẽ cầu nguyện thật nhiều cho chị ấy, thưa cha.
- Ta nói là có thể, rằng nếu có thể cầu nguyện kinh misa do Giáo hoàng Gregory đặt. Nhưng để tổ chức lễ cầu kinh ấy cần phải có sự giúp đỡ, cần mời các thầy tu. Điều đó có nghĩa phải có tiền.
Đôi mắt của María Dyada, một người đàn bà nghèo đông con, vẫn ở đó, ở ngay trước mắt ta.
- Con không có tiền. Điều đó cha thừa biết, thưa cha.
- Vậy thì cứ để nguyên như thế. Chúng ta hãy chờ Chúa.
- Vâng, thưa cha.
Vì sao đôi mắt ấy trở lại hiện ra một cách dũng cảm trước sự nhẫn nhục chịu đựng này! Cái gì đã bắt đức cha từ chối giải tội khi việc nói ra một từ, hai từ, hay một trăm từ là một việc dễ dàng nếu như những từ này đích thực cần thiết cho việc cứu giúp một linh hồn. Đức cha đã biết gì về thiên đường và địa ngục? Tuy nhiên, đức cha, do hòa mình trong một làng không tên tuổi, đã biết chắc những ai là người đáng được lên thiên đường. Có cả một danh sách. Đức cha bắt đầu điểm lại các vị thánh trong điện pantheon Công giáo bằng việc nhớ lại các ngày thánh: “Thánh bà Nunilona, trinh trắng và tuẫn tiết; thánh Anercio, đức giám mục; thánh bà Salome, bà quả phụ; các thánh bà Alodia và Nulina, tất cả đều là gái đồng trinh; và các thánh Cordula và Doñato”. Đức cha vẫn tiếp tục dẫn thêm tên người. Rồi cơn buồn ngủ cũng tới với đức cha khi cha ngồi dậy trên giường: “Ta đã duyệt lại các tên thánh như thể ta nhìn thấy những con dê cái đang nhảy ra”.
Đức cha đi ra ngoài và nhìn lên trời. Sao nhấp nháy như trời đang mưa sao. Cái quang cảnh này khiến đức cha buồn vì ngài muốn ngắm bầu trời im ắng. Đức cha nghe thấy tiếng gà gáy sáng. Ngài cảm thấy bóng đêm đang bao trùm lên mặt đất. Mặt đất, “cái thung lũng đầy nước mắt này”.
***
- Cháu có phúc lắm đấy, cháu ạ. Cháu thật có phúc, - bà Eduviges Dyada nói với tôi.
Đêm đã khuya lắm rồi. Cây đèn thắp sáng trong một xó đã bắt đầu tàn; sau đó nó leo lét cháy rồi tắt phụt mất.
Tôi cảm thấy người đàn bà đứng dậy và tôi nghĩ rằng bà ấy sẽ đi lấy ngọn đèn khác. Tôi nghe tiếng bước chân bà ngày một xa. Tôi ngồi đợi. Đợi một lúc mà không thấy bà trở lại, tôi cũng đứng dậy. Tôi đi từng bước ngắn, dò dẫm trong bóng tối cho tới khi trở về phòng mình... Tôi ngồi xuống sàn nhà và đợi giấc ngủ tới.
Tôi ngủ chập chờn từng lúc một.
Trong lúc chập chờn ngủ tôi nghe thấy có tiếng gào. Đó là một tiếng gào rất lâu, như một tiếng la hét thảm thương của kẻ say rượu nào đó: “Ôi cuộc đời, ngươi không xứng đáng với ta”.
Tôi vội vàng bật đứng dậy, bởi tôi nghe nó gần kề ngay bên tai mình, có thể là nó ở ngoài đường; nhưng tôi nghe thấy rõ ngay ở đây, nó lẩn quất trong bốn bức tường phòng tôi nghỉ. Khi thức dậy, tất cả đều im lặng. Chỉ có tiếng động những con bướm đêm rớt xuống sàn nhà và sự im ắng.
Không thể nào đo được độ thâm sâu của sự im ắng mà tiếng la hét ấy gây nên. Tôi có cảm giác là đất mất không khí của nó. Không một tiếng động, không một hơi thở nhẹ, không một tiếng tim đập. Nó cứ như là tiếng ồn của lương tri đứng dừng lại. Khi khoảnh khắc ấy qua đi và tôi bình tâm trở lại thì tiếng la thét lại vang lên và người ta nghe thấy nó kéo dài được một lúc khá lâu: “Ít nhất phải cho ta cái quyền được giãy giụa của kẻ bị treo cổ”.
Giữa lúc ấy cánh cửa mở toang.
- Có phải bà đấy không, bà Eduviges? - Tôi hỏi. - Có gì thế hở bà? Bà sợ lắm phải không?
- Đừng gọi ta là Eduviges. Ta là Damiana. Ta biết cậu ở đây và vì thế ta đến thăm cậu đấy. Ta muốn mời cậu về nhà ta mà ngủ. Ở đó cậu sẽ có chỗ mà nghỉ ngơi.
- Bà Damiana Cisneros phải không? Bà từ điền trang Media Luna đến phải không?
- Ta sống ở đó mà. Vì thế mà ta đến đây chậm đấy.
- Mẹ cháu có nói với cháu về một bà Damiana nào đó, cái bà từng chăm sóc cháu khi cháu mới lọt lòng. Vậy ra người ấy chính là bà đấy?
- Đúng thế, chính ta đấy mà. Ta biết cháu ngay từ lúc cháu mới mở mắt.
- Cháu sẽ đi với bà. Ở đây cháu không tài nào bình tâm được trước những la thét. Bà không nghe thấy những tiếng thét vừa la xong ư? Như thể người ta vừa giết ai ở đây ấy. Bà không nghe thấy gì hết cả sao?
- Có thể đó là một vài tiếng vọng còn rớt lại trong này. Cách đây lâu lắm, người ta treo cổ Toribio Aldrete. Sau đó họ đóng cửa lại cho tới khi xác chết teo lại để nó không có chỗ an nghỉ. Ta chịu không hiểu làm sao cháu lại vào được đây khi không có chìa khóa mở cửa phòng.
- Bà Eduviges là người mở cửa cho cháu vào. Bà ấy bảo cháu đây là phòng duy nhất còn trống.
- Bà Eduviges Dyada?
- Chính là bà ta mà.
- Đáng thương thay bà Eduviges. Có lẽ bà ấy vẫn đau khổ lang thang đi lại như thế.
***
“Tôi! Fulgor Sedano, đàn ông. Năm mươi tư tuổi, chưa vợ, chức nghiệp quản lý, vì quyền lực và quyền lợi của mình, đã sẵn sàng hầu kiện, xin thỉnh cầu và cáo giác một việc sau đây...”
Lão đã nói điều đó khi phát đơn kiện những việc làm của Toribio Aldrete. Khi kết thúc tờ đơn đã ghi rõ: “Hãy thừa nhận quyền dụng ích của tôi”.
- Với ngài, không một ai tước mất bản tính của ngài, don Fulgor ạ. Tôi biết rằng ngài có thể làm tất cả. Điều đó không phải vì ngài có cả một bộ máy quyền lực phía sau mà chính vì bản tính của ngài mà.
Câu chuyện được nhớ lại như thế này. Đó là điều đầu tiên Aldrete đã nói sau khi cả hai người cùng say khướt. Người ta bảo rằng họ uống để mừng văn tự:
- Với tờ giấy ấy, ngài và tôi, chúng ta sẽ dùng nó để đi chùi đít mà thôi, bởi chẳng thể dùng nó vào việc gì khác được. Điều đó thì ngài biết tỏng rồi. Cuối cùng thì, về phía ngài, ngài đã hoàn thành nhiệm vụ người ta sai bảo ngài, còn tôi, nhẹ bẫng cả người; vì ngài đã làm tôi lo lắng, ai gặp chuyện như thế mà chả lo. Bây giờ tôi biết người ta muốn gì và tôi thấy tức cười. Người ta bảo
quyền dụng ích. Thằng chủ của ngài ngây thơ quá đỗi và điều ấy thực đáng nực cười cho hắn ta.
Câu chuyện được nhớ lại như thế này. Bọn họ đang ở trong nhà trọ của Eduviges. Thậm chí gã quản lý đã hỏi bà chủ:
- Này, bà Eduviges này, bà có thể cho tôi mượn căn phòng cuối kia được không?
- Phòng nào cũng được, thưa don Fulgor. Nếu ngài muốn, ngài hãy dùng tất cả. Người của ngài sẽ đến đây ngủ cả hay sao?
- Không. Họ không đến ngủ cả ở đây. Tôi chỉ cần một phòng thôi. Bà để mặc chúng tôi và xin bà đi ngủ đi. Hãy để lại cho chúng tôi mượn chìa khóa phòng. Thế thôi, đủ rồi.
- Vậy là tôi đã nói với ngài rồi đấy, don Fulgor ạ, - Toribio Aldrete nói với viên quản lý. - Không một ai dám coi thường cái chất người trong ngài. Nhưng mà tôi mang mối thù truyền kiếp với thằng con khốn kiếp của chủ ngài.
Câu chuyện được nhớ lại như thế này. Đó là điều cuối cùng nghe thấy ông ta nói bằng năm giác quan. Sau đó lão hành xử như một thằng hèn và cứ thế la thét, “Bộ máy quyền lực phía sau tao hả? Ái chà!”.
***
Gõ cán gậy vào cửa nhà Pedro Páramo, lão nghĩ rằng cách đây hai tuần mình đã gõ như vậy. Đợi một lúc khá lâu giống như lần trước lão đợi. Cũng như lần trước, lão nhìn cái nơ đen treo trước cửa. Như không chỉ nói riêng với mình, lão bình luận thành tiếng: “Gớm thật, cái nọ đã chồng lên cái kia. Cái thứ nhất đã bạc màu còn cái sau cũng óng ánh như thể lụa chẳng bằng, mặc dù nó chỉ là một mẩu giẻ rách được nhuộm thôi. Gớm thật!”.
Lần đầu tiên lão đợi cho tới khi nghĩ rằng có lẽ căn nhà không có người ở. Lão vừa mới quay đi thì hình ảnh Pedro Páramo hiện ra ở cửa.
- Vào đi nào, Fulgor.
Lần thứ hai bọn họ gặp nhau. Lần trước chỉ một mình lão nhìn thấy hắn, bởi vì lúc ấy Pedro vừa mới đẻ. Còn lần này thì sao? Có thể nói gần như là lần đầu tiên họ gặp nhau. Cũng thật trớ trêu quá, hắn nói chuyện với lão như với một người bằng vai phải lứa. Gớm thật! Lão theo sau hắn một cách hấp tấp, hai chân va phải nhau liên hồi: “Rồi cậu ta sẽ biết ngay mình là người thông thạo mà. Rồi cậu ta sẽ biết mà. Mình đến đây vì mục đích ấy”.
- Nào, hãy ngồi xuống đi, Fulgor. Ở đây nói chuyện bình tĩnh hơn.
Bọn họ đang ở trong bãi quây gia súc. Pedro Páramo ngồi choán hết cả cái máng cỏ và đợi chờ:
- Sao không ngồi xuống hả?
- Tôi muốn được đứng, Pedro ạ.
- Thế thì tùy vậy. À này! Lão đừng quên rằng lão phải gọi ta là don Pedro nghe chưa!
Cái gã thanh niên kia là ai mà lại ăn nói với lão như vậy nhỉ? Ngay cả cha hắn, don Lucas Páramo, cũng không dám ăn nói xấc xược như vậy với lão kia mà. Rồi bỗng dưng cái gã này, chưa từng đứng ngoài đồng, chưa từng quen nghe nói tới công việc đồng áng, đã nói năng với lão như nói với một ông thợ cày. Rồi sẽ biết.
- Tình hình nơi này thế nào rồi?
Lão ta nghĩ đã đến lượt mình rồi. “Bây giờ thì đến lượt ta”.
- Thật là tồi tệ. Chẳng còn gì hết. Chúng ta đã bán tới con gia súc cuối cùng rồi.
Lão bắt đầu rút ra những tờ giấy để thông báo cho gã trẻ tuổi biết số nợ đã lên bao nhiêu. Rồi lão toan bảo: “Chúng ta nợ quá nhiều”. Ngay chính lúc ấy, lão nghe thấy hắn nói:
- Chúng ta nợ ai? Nợ bao nhiêu không quan trọng bằng nợ ai.
Lão đọc cho hắn nghe lại danh sách ghi tên các chủ nợ. Sau đó lão kết thúc:
- Không biết đào đâu ra mà trả nợ. Đó mới là vấn đề.
- Vì sao?
- Vì gia đình ngài ngoạm hết rồi. Vay rồi lại vay mà không trả nợ đồng nào. Cứ thế thì phải trả giá đắt chứ sao. Tôi đã chả bảo rằng: “Tiêu xài như thế này rồi đến núi cũng phải hết”. Thế đấy, hết sạch rồi. Tuy nhiên cũng có người muốn mua đất. Họ trả giá hời. Với số tiền ấy ta có thể trang trải hết nợ và vẫn còn lại chút ít. Dù chả đáng là bao nhưng vẫn còn lại chút ít của cải.
- Lão lại muốn mua lại chứ gì?
- Sao ngài lại có thể nghĩ rằng tôi là người muốn mua đất nhỉ!
- Ta tin đến cả thần thánh. Ngày mai chúng ta sẽ bắt đầu lo chuyện giải quyết các vấn đề. Chúng ta sẽ trả trước cho các bà thuộc gia đình Preciado. Lão bảo rằng chúng ta nợ họ nhiều phải không?
- Vâng, đúng thế. Nhưng đó lại là những người chúng ta trả nợ được rất ít. Ông cụ nhà ta lúc nào cũng hứa với họ là sẽ thanh toán ngay tức thì. Tôi được biết chắc chắn rằng, một trong số các bà ấy, bà Matilde, đã bỏ làng lên thành phố. Tôi không rõ bà ấy đến sống ở Guadalajara, hay ở Colima. Còn Lola, ý tôi muốn nói là cô Dolores, đã ở lại làng với tư cách là bà chủ của tất cả các món nợ. Ngài đã biết: khu trại Enmedio đấy. Chính là cô ta, người mà chúng ta phải trả nợ.
- Ngày mai, lão hãy đi cầu hôn cô ta.
- Trời ơi, tại sao ngài lại muốn tôi đi cầu hôn cô ta khi mà tôi đã già rồi.
- Lão đi cầu hôn cho ta, cho ta. Xét cho cùng cô ta cũng có duyên đấy. Lão hãy bảo với cô ta là ta rất yêu cô ta. Và rằng nếu cô ta cũng yêu ta thì... khi trở về, lão hãy nói với cha Rentería rằng cha chuẩn bị giấy tờ giá thú cho ta. Lão lo được bao nhiêu tiền nhỉ?
- Không một đồng nào cả, thưa don Pedro.
- Thế thì hãy hứa với cha ấy đi nhé. Nói với ông ấy khi nào có tiền chúng ta sẽ trả hết. Hầu như ta tin chắc rằng ông ấy sẽ không đặt điều kiện khó khăn cho ta đâu. Ngày mai lão hãy làm việc này nhé.
- Thế còn vấn đề với Aldrete thì sao?
- Aldrete thì liên quan gì nào? Lão chỉ dẫn những chủ nợ như chị em nhà Preciado, anh em nhà Fregoso và anh em nhà Guzman với ta thôi. Vì sao bây giờ lại có chuyện Aldrete nhỉ?
- Đó là vấn đề ranh giới, ông ta đã cho rào lại đất đai và yêu cầu chúng ta rào nốt chỗ còn lại để phân chia ranh giới đất đai.
- Việc ấy để sau đi. Lão không cần phải bận tâm. Sẽ không rào. Đất vốn không có ranh giới. Cho dù lúc này lão chưa hiểu được nhưng hãy nghĩ đi. Hãy lo giải quyết câu chuyện với cô Lola đã, phải lo gấp vào. Ơ hay, lão không muốn ngồi à?
- Vâng, vâng, tôi ngồi ngay đây ạ, thưa don Pedro. Thành thật mà nói tôi bắt đầu thấy thích làm việc với ngài.
- Lão hãy nói với Lola thế này, thế này và bảo rằng ta yêu nàng. Đó là điều quan trọng. Bởi đôi mắt của nàng mà ta yêu, lão biết không. Nhớ rằng, sáng sớm mai lão phải nói điều ấy với cô ta đấy. Ta sẽ giảm bớt việc quản lý cho lão. Lão hãy quên chuyện điền trang Media Luna.
***
“Ông chủ trẻ tuổi này làm sao có được những mưu mô ấy nhỉ? - Fulgor suy nghĩ trong lúc lão trở lại Media Luna. - Mình chẳng trông mong gì hắn.
“Đó là một thằng vô dụng”, ông chủ đã quá cố của mình, don Lucas, nói như thế.
“Một thằng ươn lười hết chỗ nói”. Mình đã tán thành nhận xét ấy của ngài.
“Khi nào ta khuất bóng, ông nhớ đi tìm công việc khác, nhớ chưa Fulgor!” “Thưa don Lucas, xin ngài yên tâm.” “Fulgor này, để cho ông biết, ta bảo này, ta định gửi nó đến một trường dòng để xem ít ra nó cũng kiếm được miếng ăn và có cái nuôi dưỡng mẹ nó khi ta qua đời. Nhưng ngay với việc này nó cũng chưa dứt khoát.” “Don Lucas ạ, xin ngài đừng hao tâm tổn sức lo nghĩ tới chuyện đó.” “Nó chẳng làm nổi bất cứ việc gì, ngay cả khi ta già nua nó cũng không dìu nổi ta đi lại. Ta thật là bất hạnh, có phải thế không Fulgor?” “Quả đó là nỗi bất hạnh, thưa don Lucas”.
Và giờ đây, cái công việc này lại xảy ra. Nếu không vì còn quá mến điền trang Media Luna thì lão đã chẳng đến thăm Pedro. Lão sẽ bỏ đi mà không hề báo cho hắn biết. Nhưng điền trang kia có giá đối với lão. Những quả đồi quang đãng được khai phá lâu ngày, nay đất đã thục, vẫn giữ nguyên các luống đất mà mỗi năm lại còn sinh được nhiều hoa lợi hơn... Ôi điền trang Media Luna thân yêu... và những thứ lợi lộc của nó: “Hỡi điền trang Enmedio, hãy về đây, về đây...”. Lão nhìn thấy đất đai ấy đang đến, cứ như thể nó đã ở đây rồi. Ruộng đất, đó là tất cả giá trị của một người con gái. “Phải thế chứ!”, lão nói. Vào lúc ra khỏi cửa chính của điền trang, lão bước gấp đi thật nhanh.
***
Mồi chài Dolores thật quá ư dễ dàng. Đôi mắt cô rực sáng và gương mặt cô hớn hở rạng rỡ.
- Xin lỗi don Fulgor vì tôi đỏ mặt. Tôi không tin rằng don Pedro lại để ý đến tôi.
- Ngài mất ngủ vì chỉ nghĩ đến cô thôi.
- Nhưng ông ta có chỗ để lựa chọn người bạn chăn gối. Có biết bao cô gái đẹp ở làng Comala. Các cô ấy sẽ nghĩ sao khi biết chuyện này.
- Ngài chỉ nghĩ tới cô, Dolores ạ. Ngài chẳng nghĩ tới một ai ở trong cái làng ấy.
- Ngài có biết không, tới rợn cả người vì nghe lời ngài nói, don Fulgor ạ. Ngay đến tưởng tượng thôi tôi cùng không dám nghĩ tới, huống chi là...
- Chả là vì ngài là người quyết đoán mà. Don Lucas Páramo, người đã an nghỉ nơi chín suối, từng khuyên nhủ con trai mình rằng cậu ấy không xứng đáng với cô. Lúc ấy, don Pedro chỉ biết cúi đầu vâng lời, không dám cãi lại. Bây giờ ông già đã quá cố, không còn ai có thể ngăn cản được Pedro nữa. Đây là quyết định đầu tiên của ông chủ tôi. Thế mà bây giờ tôi mới đến đây để chuyển đến cô lời cầu hôn của ông chủ tôi. Cô hiểu cho công việc nhiều quá nên tôi đến đây khí muộn. Chúng ta thỏa thuận với nhau rằng ngày cưới sẽ là ngày kia nhé. Ý cô thế nào, xin cho biết?
- Như thế không phải là quá hấp tấp sao? Tôi chưa chuẩn bị được gì hết. Phải có thời gian cho tôi gửi người đi sắm đồ cưới, còn phải viết thư cho chị tôi này. Hay là thôi, tôi chỉ cần nhắn tin cho chị ấy cũng được. Nhưng dù sao chăng nữa, ngày cưới cũng không thể trước ngày mồng tám tháng Tư. Hôm nay là mồng một. Vâng, đúng thế, cũng gần ngày mồng tám lắm rồi. Ngài bảo với ông ta là hãy đợi tôi một ít ngày nữa nhé.
- Ông chủ tôi lại muốn ngay lúc này kia, cô ạ. Nếu chỉ đồ cưới chúng tôi xin chu tất. Người mẹ quá cố của don Pedro từng mong đợi cô về để mặc quần áo của bà cụ. Nhà này vốn có tập quán ấy.
- Nhưng không chỉ vì đồ cưới không đâu, còn chuyện khác nữa cơ. Chuyện của chị em phụ nữ ấy ngài có biết không. Ôi xấu hổ chết đi được khi phải nói tới chuyện này, don Fulgor ạ. Ngài biết cho là tôi... đang hành kinh mà. Eo ôi, xấu hổ quá đi mất!
- Thế thì đã sao nào? Chuyện vợ chồng không phải là vấn đề có hay không có kinh. Nó là vấn đề yêu nhau. Miễn là yêu nhau thôi còn tất cả những cái khác đều là thừa hết.
- Nhưng, như thế là ngài vẫn chưa hiểu tôi, don Fulgor ạ.
- Hiểu nhau rồi mà. Ngày cưới sẽ là ngày kia.
Rồi lão bỏ ra về, để lại cô gái trong điệu bộ giơ cao hai cánh tay xin thêm tám ngày nữa, chỉ tám ngày không hơn kém.
“Hãy về nói với don Pedro - ôi, cái anh chàng Pedro ấy sao mà máu thế không biết - nói với ngài rằng đừng quên thưa chuyện với quan tòa rằng tài sản sẽ là của chung nhé Fulgor, nhớ là ngày mai lão sẽ thưa chuyện ấy với quan tòa”.
Còn cô Dolores, lúc ấy, cầm chậu rửa chạy ngay xuống nhà bếp lấy nước nóng: “Ta phải làm cho nó hạ cơn ngay. Mong rằng sẽ hạ cơn ngay trong đêm nay. Nhưng dù sao mình cũng vẫn phải mất ba ngày. Không còn cách nào khác. Ôi hạnh phúc! Ôi hạnh phúc! Cảm ơn Thượng đế đã cho con don Pedro”. Sau đó cô nói thêm: “Dẫu rằng có bị ruồng bỏ con cũng cam lòng”.
***
- Lola đã nhận lời cầu hôn và cô ấy đã tán thành. Cha xứ đòi sáu mươi đồng peso để làm giấy giá thú. Con nói với cha rằng sẽ đưa tiền cho cha vào lúc thích hợp. Cha nói rằng cha cần phải làm bàn thờ Chúa và sửa lại cái bàn đã long chân trong phòng ăn của ngài. Con hứa với cha là chúng ta sẽ gửi tới cho cha một chiếc bàn mới. Cha trách ngài không đi dự lễ misa. Thay mặt ngài con hứa là ngài sẽ đi. Cha trách rằng kể từ khi bà nội ngài mất đến nay chúng ta không trả cho nhà thờ số một phần mười hoa lợi thu được trên đất đai của mình. Con bảo cha rằng cha đừng lo về cái khoản đó. Cha đã bằng lòng.
- Lão không vay tiền của Lola sao?
- Không ạ, thưa ông chủ. Con không dám ạ. Thật tình như thế ạ. Cô ấy đang vui và vì thế con không nỡ làm cô ấy mất vui.
- Lão trẻ con quá đi mất.
“Thôi đi, tôi mà lại là trẻ con kia. Với năm mươi lăm tuổi trên đầu tôi vẫn còn trẻ con. Nên nhớ cho là trong lúc ngài mới bước chân vào đời thì tôi đã gần kề miệng lỗ rồi cơ đấy.”
- Con không muốn làm cô ta mất vui.
- Dù sao lão vẫn là một thằng nhóc con.
- Vâng, thưa ông chủ.
- Tuần tới lão sẽ lo đến chuyện của Aldrete. Lão bảo hắn phải thu rào lại. Hắn đã lấn đất của ta ở điền trang Media Luna.
- Ông ấy đo đạc đúng đắn đấy ạ. Và con đã chứng thực điều đó.
- Lão hãy nói lại là hắn đã lầm, nghe chưa Fulgor? Hãy báo rằng hắn tính sai. Lão cứ phá hàng rào đi cho ta nếu cần phải phá, nghe chưa Fulgor.
- Thế còn luật pháp thì sao?
- Ô hay, pháp luật nào kia, hở Fulgor? Luật pháp từ đây trở về sau này sẽ do chúng ta làm nên. Ở đằng điền trang Media Luna, lão còn phải đối mặt với nhiều thằng ương ngạnh không?
- Thưa còn ạ, chúng nhiều lắm.
- Vậy lão hãy liệt chúng vào bè đảng của Aldrete. Lão đưa đơn tố giác hắn là kẻ vi phạm quyền dụng ích của ta hoặc bất kỳ tội trạng nào mà lão nghĩ ra được. Hãy nhắc hắn nhớ rằng Lucas Páramo chết rồi. Với ta, ta cần có những khế ước mới.
Trời vẫn trong xanh. Thỉnh thoảng có một đám mây bay qua. Trên ấy gió vẫn thổi nhưng ở dưới này không khí nóng hầm hập.
***
Lại một lần nữa theo thói quen don Fulgor gõ cán gậy vào cửa, vì lão đã biết rằng những cánh cửa này sẽ chưa mở cho tới khi nào don Pedro muốn mở. Trong lúc nhìn những cái nơ treo trước cửa, lão nói: “Những cái nơ đen này nom đến đẹp mắt, mỗi cái đẹp một vẻ”.
Giữa lúc ấy cửa mở và lão bước vào.
- Vào đi, Fulgor! Lão đã giải quyết xong việc với Toribio Aldrete chưa?
- Đã thanh toán xong rồi, thưa ông chủ.
- Chúng ta còn phải giải quyết nốt vấn đề anh em nhà Fregoso. Thôi, hãy cứ tạm hoãn lại đã. Bây giờ ta rất bận lo tuần trăng mật của ta.
***
- Làng này âm vang tiếng động. Những tiếng vọng ấy dường như bị nhốt giữa những bức tường hay dưới những viên đá. Khi cháu đi cháu sẽ cảm thấy những bước chân đang xéo lên người mình. Cháu sẽ nghe thấy tiếng nghiến răng kèn kẹt, nghe thấy tiếng cười. Đó là những tiếng cười ngặt nghẽo, thều thào như đã dùng mòn rồi. Cháu sẽ nghe thấy tất cả. Ta nghĩ rằng sẽ đến ngày những âm thanh ấy tắt ngấm như ngọn đèn tắt lửa.
Damiana Cisneros nói với tôi điều ấy vào lúc chúng tôi vượt qua làng.
- Có thời gian trong suốt nhiều đêm ta nghe thấy tiếng ồn vui náo nức của đêm hội. Những tiếng ồn vui ấy từ đây vọng đến tận điền trang Media Luna. Ta đến gần để xem điệu vũ mitote [5] ấy và ta thấy: cái mà chúng ta đang nhìn lúc này. Nghĩa là chẳng có gì, chẳng có ai. Những con đường vẫn cô quạnh như lúc này.
Sau đó ta không nghe thấy gì nữa. Điều đó xảy ra là vì niềm vui đã vãn. Vì thế ta không ngạc nhiên thấy điều đó chấm dứt.
- Đúng thế! - Bà ta lại nói với tôi. - Cái làng này âm vang tiếng vọng. Bây giờ thì ta không ngạc nhiên nữa. Ta nghe thấy tiếng chó sủa và ta cứ điềm nhiên mặc cho chúng sủa. Ta cứ để mặc cho chúng sủa vì ta biết rằng chẳng ai sinh sống ở cái làng này. Và trong những ngày gió thổi, gió cuốn theo những tàu lá, khi mà ở đây, như cháu nhìn đây, làm gì có cây cối. Trước đây, nơi này có cây cối. Nếu không thì những chiếc lá ấy từ đâu bay tới kia chứ?
Đáng sợ hơn cả là khi cháu nghe thấy đám đông chuyện trò. Cháu sẽ thấy những tiếng nói ấy dường như thoát ra từ những kẽ hở, tuy nhiên, chúng được nghe rõ ràng, rất rõ ràng đến mức cháu nhận biết được chúng. Ngay từ lúc nãy thời ta đã gặp một đám tang. Ta dừng lại để đọc Kinh Lạy Cha. Trong lúc ta đang đọc kinh có một bà tách ra khỏi đám bạn bè của mình để đi lại với ta, nói:
- Damiana! Hãy cầu Chúa cho chị đi, Damiana!
Người ấy bỏ khăn che mặt ra và ta nhận ra gương mặt của chị gái ta. Đó là chị Sixtina.
- Chị làm gì ở đây? - Ta hỏi người đàn bà ấy.
Thế là người đàn bà ấy vội chạy đi lẫn vào trong đám bạn bè.
- Chị Sixtina của ta đã chết khi ta mới mười hai tuổi. Hình như cháu không biết chị ấy nhỉ? Chị ấy là chị cả. Chúng ta có cả thảy mười sáu chị em. Nhờ đó cháu hãy tính xem chị ấy chết được bao lâu rồi. Thế mà, như cháu thấy, giờ đây chị ấy còn đang lởn vởn trên thế giới này. Do vậy chớ nên giật mình trước những tiếng vọng vừa đoạn, Juan Preciado ạ!
- Mẹ cháu cũng báo cho bà biết là cháu đến đây sao?
- Không! Nhân tiện ta hỏi cháu nhé: Mẹ cháu thế nào rồi?
- Mẹ cháu qua đời rồi, - tôi nói.
- Đã chết rồi sao? Chết vì sao?
- Cháu không biết vì sao. Có lẽ chết vì buồn. Mẹ cháu cứ thở dài đến não lòng.
- Hỏng thật. Mỗi cú thở dài là một lần tổn thọ. Thế là bà ấy chết rồi đấy?
- Đúng thế ạ. Có lẽ bà đã biết rồi.
- Làm sao ta biết được kia chứ? Đã nhiều năm nay ta không hay biết gì cả.
- Vậy làm sao bà gặp cháu nhỉ?
- Bà là người sống đấy chứ, bà Damiana? Hãy nói cháu nghe đi bà!
Thế là tôi chỉ còn mỗi mình trên những con đường vắng bóng người ấy. Cửa sổ của các nhà mở toang hướng lên trời để mặc cho những ngọn cỏ lòa xòa trùm lên. Những bức tường bong tróc phơi ra những viên gạch vỡ vụn.
- Bà Damiana ơi! - Tôi gào tướng lên. - Bà Damiana Cisneros!
Chỉ có những tiếng vọng: “... ana... neros......; ana... neros...!” đáp lại tôi.
***
Tôi nghe rõ tiếng chó sủa như thể tôi đã làm kinh động chúng. Tôi nhìn thấy một người đàn ông đi qua đường.
- Này, ông bạn! - Tôi gọi.
- Này, ông bạn! - Chính tiếng hỏi của tôi lại trả lời tôi.
Và tôi nghe rõ tiếng nói chuyện của các bà phụ nữ như thể họ đang đứng ở đầu phố phía sau lưng.
- Nhìn kìa, ai đi kia? Có phải Filoteo Aréchiga không?
- Đúng hắn rồi. Chị hãy che mặt đi nào.
- Chúng mình chạy đi là hơn cả. Nếu hắn theo sau chúng mình ắt hẳn thích một trong hai chúng mình. Đố em biết hắn sẽ theo đuổi ai nào?
- Chắc chắn là hắn theo chị.
- Nỡm à. Chị lại nghĩ em mới là người hắn theo đuổi kia đấy.
- Thôi khỏi phải chạy nữa. Hắn đã dừng lại ở đầu phố đằng kia rồi.
- Thấy chưa, hắn chẳng theo đuổi ai trong chúng mình.
- Nhưng sẽ ra sao nếu như hắn đuổi theo chị hoặc đuổi theo em nào? Sẽ ra sao nào?
- Thôi đi, chớ có mơ mộng đi, nỡm ạ!
- Thà rằng cứ như thế mà lại hay đấy. Đồn rằng hắn là kẻ dắt gái cho don Pedro đấy. Vì thế mà chúng mình nên tránh xa hắn.
- Thế hả? Với con dê già ấy chị chẳng muốn có quan hệ gì cả.
- Chúng mình đi thôi.
- Em nói phải đấy. Chúng mình đi khỏi nơi đây thôi.
***
Đêm. Đêm khuya lắm rồi. Những tiếng nói râm ran đây đó.
- ... Em nói với bác thế này nhé: Nếu ngô năm nay được mùa em sẽ có tiền để trả nợ bác. Nhưng giờ đây, nếu ngô thất thu, bác cho em khất lại nhé.
- Tôi có đòi nợ dượng đâu. Dượng biết rồi đấy, tôi luôn luôn thủy chung với dượng. Nhưng dượng nhớ rằng ruộng bây giờ không còn là của dượng nữa. Dượng đã cày cấy trên đất đai của người khác. Thế thì thử hỏi dượng lấy gì để trả nợ tôi kia chứ?
- Ai bảo ruộng đất không còn là của em nữa nào?
- Người ta nói chắc rằng dượng đã bán ruộng cho Pedro Páramo.
- Em đã giáp mặt cái nhà ông ấy bao giờ. Ruộng đó vẫn cứ là ruộng đất của em.
- Đó là dượng bảo. Còn dân chúng bên ấy nói tất cả ruộng đất ở đây đều là của ông ấy.
- Thì có giỏi họ hãy đến đây mà nói với em.
- Thế này nhé, Galileo ạ, tôi tin dượng và quý trọng dượng mà. Bởi vì dượng là chồng của em gái tôi, hơn nữa dượng yêu thương nó, về điều này không ai có thể hồ nghi được. Nhưng dượng chớ nên chối là đã bán ruộng cho người ta rồi.
- Em thề với bác là em không bán ruộng đất của mình cho ai cả.
- Vậy mà ruộng đất ấy đã là của Pedro Páramo rồi. Rồi rằng chính ông ta đã quả quyết là như vậy đấy. Don Fulgor vẫn chưa đến gặp dượng sao?
- Chưa!
- Chắc chắn rằng ngày mai dượng sẽ thấy ông ta tới đây. Và nếu không phải là ngày mai thì ngày kia, ngày kìa. Chắc chắn là ông ta sẽ tới trong một ngày nào đó.
- Như vậy thà giết tôi hoặc hắn chết đi còn hơn. Nhưng không có chuyện hắn muốn gì là được.
- Requieseat in pace [6] amen! Thế đấy dượng ạ. Còn nếu như dượng có nghi ngờ thì cứ đi mà xem.
- Rồi bác sẽ hiểu em. Rồi bác sẽ hiểu mà. Bác không phải bận tâm cho em. Bà cụ nhà em đã rèn luyện em dày dạn để em chịu đựng được đòn roi mà.
- Thôi nhé, chào dượng. Bảo với Felicitas rằng đêm nay tôi không ăn cơm. Tôi không thích sau này lại phải kể lể rằng: “Tôi đã gặp ông ta tối trước hôm chuyện đó xảy ra”.
- Chúng em để phần bác chút ít phòng khi sắp đi ngủ bác muốn ăn.
Nghe rõ tiếng chân trần đi giữa những tiếng đinh thúc ngựa leng keng.
***
- ... Ngày mai, vào lúc sáng tinh mơ, em sẽ đi với anh, Chona thân yêu nhé. Anh đã chuẩn bị sẵn một đôi lừa cho hai chúng mình rồi mà.
- Nhưng nếu lỡ cha em giận mà chết thì sao? Cha em đã già yếu lắm rồi, người sắp... không bao giờ em cho phép mình có những hành động sẽ gây thương tổn cho cụ. Chỉ còn em là người duy nhất đỡ đần cụ trong những lúc cụ cần thiết. Nhà chẳng còn ai thân thích nữa. Mà sao anh cứ phải bắt cóc em vội vàng thế nhỉ? Hãy ráng đợi thêm một chút nữa thôi. Cụ nhà em cũng chẳng còn ở với em được bao lâu nữa.
- Em đã nói với anh như vậy từ mấy năm nay rồi. Ngoài ra em còn khinh ra mặt rằng anh thiếu mạo hiểm trong khi đó, còn em, theo như em nói, quá mệt mỏi vì mọi thứ rồi. Điều đó làm anh vội vàng tậu lừa và giờ đây chúng ta đã có sẵn lừa rồi. Em đi với anh nhé?
- Để em suy nghĩ đã nào.
- Chona thân yêu, em không biết anh yêu em biết chừng nào đâu! Anh không thể tự kiềm chế những thèm muốn của mình, Chona ạ. Thôi, em hãy đi với anh, đi với anh, em nhé.
- Hãy để em suy nghĩ đã nào. Anh nên hiểu cho. Chúng ta cần chờ thêm một ít ngày nữa thôi là cha em qua đời mà. Lúc ấy em sẽ đi với anh và anh chẳng việc gì phải bắt cóc em.
- Một năm nay em đã nói như thế rồi.
- Thế thì sao?
- Em hiểu cho là anh đã mua lừa rồi. Anh đã có lừa rồi. Chúng đang đợi em. Mặc cụ tự lo liệu lấy có được không. Em đẹp, em xinh, em trẻ. Trong khi đó không thiếu bà già đến chăm nom ông cụ. Ở đây thiếu gì người hảo tâm.
- Em không thể bỏ đi được.
- Em có thể đi mà.
- Em không thể. Em xấu hổ, anh biết không? Hơn nữa, cụ là cha đẻ của em.
- Vậy thì ứ thèm nói nữa. Anh đi nói chuyện với Juliana, kẻo cô nàng đang héo lòng vì anh mà.
- Cứ việc. “Người ta” có nói gì đâu mà lo.
- Không thích gặp lại “người ta” nữa chắc?
- Không. Tôi không thích nhìn thấy anh nữa, có thế thôi.
***
Tiếng động. Tiếng nói. Những tiếng rầm rì. Những bài hát dân ca xa xa vọng tới:
Người thương trao ta một chiếc khăn tay
Với bốn riềm thấm đầy nước mắt...
Tiếng hát nghe the thé như thể các cô gái là người đang hát nó.
***
Tôi nhìn thấy những chiếc xe bò đang đi qua. Những con bò thong thả đi. Nghe rõ tiếng kêu lạo xạo của đá sỏi dưới bánh xe lăn. Những người đàn ông vật vờ đi như những kẻ mộng du.
“... Vào tất cả các buổi sáng sớm, làng rùng rình thức dậy trong lúc xe bò đi qua. Chúng đến từ mọi nẻo đường, chở đầy quặng diêm tiêu, ngô bắp, cỏ lông. Tiếng cót két của bánh xe làm rung các cánh cửa sổ, đánh thức dân làng dậy. Đó cũng là giờ các nhà nhóm bếp và thơm phức mùi bánh nướng mới ra lò. Rồi bỗng nhiên trời nổ ran sấm. Mưa. Có thể mùa xuân đã về. Ở đấy con sẽ làm quen với những “bỗng nhiên”, con ạ”.
Những chiếc xe không đang khuấy động bầu không khí thanh lặng trên những con đường. Thế rồi chúng mất hút trong những con đường tối mò mò ấy. Rồi những bóng người và tiếng vọng của những bóng người ấy cũng mất hút luôn.
Tôi nghĩ đến đường trở về. Tôi cảm thấy ở phía trên kia có con đường mà tôi đã đi để đến đây. Con đường ấy tựa như một vết thương há miệng giữa khoảng tối sẫm của các đỉnh núi.
Giữa lúc ấy có người vỗ vai tôi.
- Anh làm gì ở đây thế?
- Tôi đến tìm... - đang định dẫn tên người ấy ra thì vừa hay tôi đã dừng lại. - Tôi đến tìm cha tôi.
- Vì sao không vào đi?
Tôi bước vào. Đó là một ngôi nhà đã đổ mất nửa mái. Ngói nằm trên sàn nhà. Trần nhà cũng nằm trên sàn nhà. Ở nửa nhà còn lại, có một người đàn ông và một người đàn bà đang ngồi.
- Các ông bà không phải là những người chết đấy chứ? - Tôi hỏi họ.
Người đàn bà mỉm cười. Còn người đàn ông nghiêm sắc mặt nhìn tôi.
- Đang say đấy. - Người đàn ông nói.
- Chỉ hoảng hốt thôi. - Người đàn bà lại nói.
Có một ngọn đèn dầu hỏa, một chiếc giường bằng tre, một chiếc ghế trên đó vắt quần áo của người đàn bà. Bởi vì bà ta đang trần như nhộng, ông ta cũng vậy.
- Chúng tôi nghe thấy có người đang kêu ca và tiếng va của đầu anh ta đập vào cửa nhà chúng ta. Chẳng hóa ra anh, phải không? Có việc gì thế anh?
- Ô, có biết bao sự việc đã ập tới với tôi và giờ đây tôi chỉ muốn được ngủ thôi.
- Chúng tôi đã ngủ rồi.
- Vậy chúng ta cùng ngủ.
***
Đêm và sáng đã dìm tắt những ký ức của tôi.
Thỉnh thoảng tôi nghe thấy âm thanh những lời nói và tôi phân biệt được chúng. Bởi vì những lời nói cho đến lúc ấy tôi nghe được, cho đến lúc ấy tôi biết được, không có âm thanh, không vang lên. Chúng được cảm thấy chứ không phải nghe thấy. Chúng giống như những tiếng nói được nghe thấy trong giấc mơ.
- Ai vậy? - Người đàn bà hỏi.
- Ai biết được! - Người đàn ông trả lời.
- Làm sao ông ta có thể đến tận đây được?
- Biết à!
- Hình như em nghe thấy ông ta nói gì về người cha của mình.
- Anh cũng nghe thấy ông ta nói như thế.
- Liệu ông ta có thể bị lạc đường không? Anh hãy nhớ lại hồi những người tình cờ vào đây và họ bảo rằng họ bị lạc đường. Họ đi tìm Cõi Vô Biên và anh đã trả lời họ rằng anh không biết nó ở đâu.
- Đúng thế, anh nhớ ra rồi. Nhưng thôi, hãy để yên anh ngủ nào. Trời đã sáng đâu.
- Sắp sáng đến nơi rồi. Nếu như em nói chẳng qua là để đánh thức anh dậy mà thôi. Anh dặn em rằng nhớ đánh thức anh dậy trước khi trời sáng. Vì thế mà em không để anh ngủ. Dậy đi anh.
- Em muốn anh dậy làm gì nào?
- Em cũng chẳng biết để làm gì. Đêm qua anh bảo em đánh thức anh mà. Thôi đi, anh đừng hỏi vặn nữa.
- Trong trường hợp này, hãy để anh ngủ nào. Em không nghe thấy điều ông ta nói khi đến đây sao? Ông ta bảo chúng mình hãy để cho ông ta ngủ. Đó là điều duy nhất ông ta đã nói ra.
Hình như những tiếng nói ấy đi mất. Hình như chúng mất âm thanh. Hình như chúng nghẹn tắc lại. Không một ai nói năng gì. Đó chỉ là giấc mơ.
Một lúc sau tôi lại nghe thấy:
- Ông ta vừa cựa quậy đấy. Ông ta đã tỉnh giấc và dường như ông ta biết. Và nếu như nhìn thấy chúng mình ông ta sẽ hỏi các chuyện.
- Ông ta sẽ hỏi chúng mình về cái gì nhỉ?
- Ừ, sẽ phải nói về một cái gì đấy, phải không nào?
- Mặc xác ông ta. Có thể ông ta đang mệt mỏi.
- Anh tin như thế hả?
- Im đi nào!
- Nhìn kìa, ông ta cựa mình. Anh có thấy ông ta vươn vai như thế nào không? Dường như thứ gì đó đang làm cho ông ta rệu rã từ bên trong ấy. Em biết điều đó vì chính em cũng đã có lần như thế.
- Cái gì đã xảy ra với em!
- Cái ấy.
- Anh chịu không biết em nói gì.
- Em chỉ nói về ký ức của em khi lần đầu tiên nhìn thấy cái ấy, cứ cựa quậy hoài, về cái việc lần đầu tiên anh làm với em. Em nhớ mình đau như thế nào và vì nó em phải ân hận như thế nào.
- Về cái gì cơ?
- Về cái mà em cảm thấy như thế nào ngay sau khi anh làm với em, về cái mà mặc dù anh không thích nhưng em lại biết nó xấu như thế nào.
- Chao ôi, cho đến tận bây giờ em vẫn còn nhắc tới chuyện ấy hay sao? Vì sao em không ngủ đi và để cho anh ngủ yên với nào?
- Anh bảo em rằng em phải nhắc anh nhớ lại. Em đang làm điều ấy. Lạy Chúa, em chỉ làm điều anh yêu cầu em. Nào, dậy đi nào. Đã đến giờ anh dậy rồi.
- Hãy để cho anh yên nào.
Hình như người đàn ông đã ngủ. Người đàn bà vẫn lải nhải nói, nhưng tiếng nói của bà ta rất khẽ khàng, hầu như không nghe nổi:
- Trời đã sáng rõ rồi chăng, vì ánh sáng đã rọi vào. Từ đây mình có thể nhìn rõ ông ấy và nếu như nhìn rõ ông ấy là vì ánh sáng cho phép nhìn thấy. Chẳng mấy lúc mà mặt trời sẽ mọc. Rõ rồi, chẳng cần phải hỏi cũng đã biết. Nhỡ hóa ra ông ấy đã làm điều xấu xa. Nhưng mà chúng mình đã cho ông ta ngủ nhờ. Chỉ cho ông ta ngủ nhờ đêm nay thôi: Nhưng chúng mình phải giấu ông ta. Về lâu về dài việc ấy sẽ mang lại điều chẳng lành cho chúng mình... Hãy nhìn kìa, ông ta cựa quậy đến kinh, dường như không tìm được tư thế thoải mái. Cứ như thể ông ta đang cắn rứt lương tâm.
Trời sáng rõ. Ngày đã xua đi bóng đêm. Căn phòng ấm dần lên do hơi nóng của những người đang ngủ. Ánh bình minh lọt qua mi mắt tôi. Tôi cảm thấy ánh sáng và nghe rõ:
- Ông ta cứ quằn quại như một tên tội phạm, ông ta có đủ những đặc điểm của một người xấu. Donis, hãy dậy đi nào. Ông ta cứ quằn quại trên sàn nhà. Sùi cả bọt dãi ra. Có thể là một tên nợ máu nhiều. Mà anh không hề nhận ra.
- Có thể ông ta là một người đáng thương. Thôi, em hãy ngủ đi và để cho tụi anh ngủ nào.
- Tại sao em cứ phải đi ngủ khi em không buồn ngủ nhỉ?
- Thế thì dậy và cút đi nơi khác cho rảnh?
- Được thôi. Em sẽ nhóm bếp. Khi trở lên, em sẽ bảo ông ấy đến ngủ ở đây với anh, sẽ nằm xuống chỗ em sắp bỏ đi đây.
- Cứ việc bảo ông ta đi.
- Nhưng mà... em không thể. Em sợ lắm.
- Thế thì đi làm việc của em đi và để cho bọn anh yên thân nào.
- Được thôi.
- Còn đợi gì nữa nào?
- Thì đi vậy.
Tôi cảm thấy người đàn bà bước xuống giường. Chân đất của bà ta nện trên sàn nhà và bước qua đầu tôi. Tôi mở mắt rồi lại nhắm mắt lại ngay.
Khi tôi dậy, mặt trời đã đứng bóng. Một tách cà phê đã để sẵn ở bên cạnh tôi. Định bụng uống nó và tôi đã uống được vài ngụm.
- Nhà không còn nữa. Ông hãy bằng lòng với tách cà phê ít ỏi này. Chúng tôi rất thiếu thốn, thiếu thốn đủ mọi thứ.
Đó là tiếng nói của một người đàn bà.
- Xin đừng bận tâm vì tôi, - tôi nói. - Xin đừng bận tâm vì tôi mà. Tôi đã quen chịu đựng thiếu thốn rồi. Làm sao đi ra khỏi đây được nhỉ.
- Đi về đâu kia?
- Bất cứ đâu cũng được, miễn là ra khỏi nơi đây.
- Có rất nhiều đường. Có đường đi về làng Contla, lại có đường từ nơi ấy tới đây. Lại có con đường khác san sát lán trại hai bên đường đi vào rừng. Con đường mà từ đây chúng ta nhìn thấy ấy, tôi không được rõ nó đi về đâu, - ngón tay bà ta chỉ vào cái lỗ thủng trên mái nhà. - Và một con đường khác chạy từ đây đến điền trang Media Luna. Lại còn một con đường khác chạy qua toàn bộ đất nơi đây và nó là con đường đi xa nhất.
- Có lẽ tôi đã đến đây bằng con đường ấy đấy, bà ạ.
- Bây giờ ông định đi đâu?
- Tôi đi đến Sayula.
- Ông hãy biết cho, tôi cứ nghĩ rằng Sayula ở phía này kia. Lúc nào tôi cũng ao ước được đến thăm Sayula. Đồn rằng ở đấy đông vui lắm, có đúng thế không?
- Ở đâu mà chẳng đông vui.
- Xin ông biết cho, ông lầm rồi. Chúng tôi sống ở đây rất cô quạnh. Chúng tôi khao khát muốn biết cuộc sống dù chỉ một mấu nhỏ xíu của nó, biết nhường nào.
- Chồng bà đi đâu rồi?
- Ông ấy không phải là chồng tôi đâu. Ông ấy là ông anh tôi; mặc dù ông ấy không muốn cho ông biết điều này, nhưng tôi vẫn nói cho ông biết, ông ấy đi đâu ư? Chắc chắn ông ấy đi tìm chú bò rừng đang nhởn nhơ ở phía đằng kia, ít ra ông ấy đã bảo với tôi như vậy.
- Ông bà ở đây được bao lâu rồi?
- Lâu lắm rồi. Chúng tôi sinh ra ở đây mà.
- Chắc là ông bà có biết bà Dolores Preciado nhỉ?
- Có lẽ Donis biết đấy. Tôi quen rất ít người ở đây. Chẳng bao giờ tôi bước ra khỏi cửa. Ở đây, nơi ông nhìn thấy tôi, tôi vĩnh viễn ở đây... Thực tình mà nói, chả phải là vĩnh viễn đâu. Tôi chỉ mãi mãi ở trong nhà này kể từ khi ông ta đã biến tôi từ em gái thành người vợ của ông ấy. Kể từ độ ấy tôi chỉ ở trong nhà vì tôi ngại dân chúng nhìn thấy mình, ông ấy không muốn tin điều đó nhưng có thật là trông tôi không đáng sợ sao? - Và bà ta nhích gần lại nơi ánh nắng rọi vào. - Ông hãy nhìn mặt tôi mà xem!
Đó là một gương mặt bình thường như tất cả những gương mặt khác.
- Bà muốn tôi nhìn thấy cái gì kia?
- Ông không nhìn thấy tội lỗi trên mặt tôi sao? Ông không thấy những vết tím bầm như nốt hắc lào mọc đầy mặt từ trán xuống cằm sao. Nhưng đó chỉ là biểu hiện về ngoài; còn bên trong tôi, bên trong tôi là cả một biển bùn nhơ.
- Nhưng ai nhìn mới được khi ở đây là đất không người? Tôi đi khắp làng mà chẳng gặp một ai.
- Ông cứ tưởng thế thôi, chứ thật ra vẫn có người sống ở làng này đấy. Ông có dám báo với tôi là Filomeno không sống không? Ông có dám bảo rằng Dorotea, Melquiades, ông già Prudencio, Sóstenes, những người này không sống không? Chỉ có điều những người này sống tự giam mình ở trong nhà. Ban ngày thì tôi chịu không biết bọn họ làm gì, nhưng về ban đêm, bọn họ mới ra khỏi nơi tự mình giam hãm mình. Vào những giờ ấy ở đây đầy rẫy những bóng ma. Chẳng hay ông đã nhìn thấy đám linh hồn lởn vởn đi lại ngoài đường chưa? Khi trời nhá nhem tối là lúc những linh hồn này ra đường đi lại lởn vởn đây đó. Không một ai thích nhìn chúng. Bởi chúng đông đúc mà trái lại chúng tôi quá ít ỏi, đến mức chúng tôi chẳng cầu kinh giúp họ an nghỉ nữa. Những lời cầu nguyện của chúng tôi không làm thỏa lòng được hết tất cả họ, cũng có thể một đoạn Kinh Lạy Cha tới với họ. Nhưng lời cầu nguyện ấy cũng chẳng giúp ích được gì cho bọn họ. Mà những tội lỗi của chúng tôi vẫn còn. Không một ai trong chúng tôi đang sống được Chúa che chở. Không một ai có thể ngẩng mặt lên mà ngay lập tức không cảm thấy tủi hổ. Mà tủi hổ cũng không giúp được gì. Ít ra là một vị giám mục có thời gian qua nơi đây làm lễ kiên tín, đã nói với tôi điều đó. Tôi đến trước mặt ngài và tôi tự xưng tội, tôi tự thú tất cả:
- Tội ấy sẽ không được tha, - ngài bảo tôi.
- Con xấu hổ lắm.
- Không có cách nào cứu vãn được.
- Cha hãy làm lễ thành hôn cho chúng con.
- Các con hãy ly gián nhau.
- Con thưa với cha rằng cuộc đời đã buộc chúng con lại với nhau, đã nhốt chúng con lại trong một căn nhà. Chúng con ở đây rất cô đơn. Chúng con là những người sống duy nhất ở đây. Bằng cách cho chúng con lấy nhau, làng này rồi sẽ đông người lên. Có lẽ khi đức cha trở lại đây sẽ có con chiên để mà làm lễ kiên tín.
- Các con hãy ly gián nhau. Đó là tất cả những gì có thể làm được để cứu rỗi linh hồn.
- Nhưng, chúng con sẽ sống ra sao đây?
- Sẽ sống như tất cả mọi người.
Rồi cha bỏ đi. Cưỡi trên lưng một chú lừa đực, mặt lạnh lùng, không ngoái nhìn lại phía sau, vị giám mục ấy ra đi như để lại đây một cảnh tượng của kiếp đọa đày. Không bao giờ giám mục trở lại đây. Và đó là lý do khiến cho làng này đầy những bóng ma. Quả thật nó là một làng để cho những người chết và không được giải tội phải đi lại lởn vởn. Không có cách nào giải tội cho họ và ngay cả chúng tôi cũng thế. Thôi nhé, ông ta đã trở về. Ông có nghe thấy không?
- Có, tôi có nghe thấy.
- Ông ta đấy.
Cánh cửa mở.
- Anh có tìm thấy con bò rừng không? - Người đàn bà hỏi.
- Nó không đến vào giờ này. Nhưng anh đã theo miết dấu vết của nó cho tới khi hầu như anh biết chắc nó ở đâu. Tối nay anh sẽ tóm được nó.
- Anh để em một mình ở nhà sao?
- Có thể lắm chứ.
- Em chịu thôi. Em muốn có anh ở bên cạnh. Đó là giờ duy nhất em cảm thấy yên lòng. Giờ buổi tối.
- Tối nay anh phải đi bắt con bò rừng mà.
- Tôi vừa được biết, - tôi tham gia câu chuyện của họ, - rằng ông bà đây là hai anh em với nhau.
- Ông vừa được biết sao? Tôi đã biết trước từ lâu. Vậy là không nên tham dự vào đời tư người khác. Chúng tôi khó chịu trước việc người khác biết chuyện riêng tư của mình.
- Tôi nói thế để tăng thêm không khí thân quen giữa chúng ta. Ngoài ra không có ý định gì khác.
- Ông hiểu gì nào?
Người phụ nữ đi lại đứng sau người đàn ông, tì lên vai ông ta, rồi nhắc lại:
- Ông hiểu gì nào?
- Tôi chẳng hiểu gì cả, - tôi nói. - Tôi càng ngày càng hiểu biết kém đi. - Rồi tôi nói thêm. - Tôi muốn trở lại nơi tôi ra đi. Cần tranh thủ lúc trời còn sáng này để mà đi.
- Tốt hơn hết là ông nên ở lại, - người đàn ông bảo tôi. - Hãy chờ đến sáng mai. Chẳng bao lâu trời sẽ tối và các con đường um tùm cỏ mọc. Ông sẽ không thấy lối đi và sẽ bị lạc mất. Ngày mai tôi sẽ đưa đường cho ông.
- Thế thì tốt quá. Đêm nay tôi sẽ ở lại đây.
***
Qua khe hở trên trần nhà tôi nhìn thấy những đàn sáo bay ngang qua. Những con chim này vỗ cánh gấp vào lúc chiều tà trước khi bóng tối che mất lối đi của chúng. Rồi sau đó là những đám mây do gió thổi đến để mang ngày đi.
Cuối cùng sao mọc rồi trăng lên.
Người đàn ông và người đàn bà không ở trong nhà với tôi. Bọn họ đi ra theo cửa mở ra sân và khi trở lại trời đã tối. Vì thế mà bọn họ không biết điều đã xảy ra trong lúc họ ở ngoài.
Và đây là điều đã xảy ra:
Một người đàn bà từ ngoài đường bước ngay vào phòng. Đó là một bà già đã nhiều tuổi, người gầy như bày hết cả xương ra. Bà ta bước vào, đảo mắt khắp phòng. Có lẽ bà ta nhìn thấy cả tôi. Có lẽ bà ta tưởng rằng tôi ngủ. Bà ta đến ngay chỗ kê chiếc giường và lôi từ trong gầm giường ra một chiếc petaca [7]. Lục chiếc hòm, bà ta lấy những tấm vải trải giường, giấu chúng dưới cánh tay rồi nhón chân bước ra ngoài, dường như tránh gây động để khỏi đánh thức tôi.
Tôi sợ đến phát kinh, không dám thở, đưa mắt nhìn đi nơi khác. Cuối cùng tôi quay đầu nhìn. Lúc ấy tôi nhìn thấy sao Hôm ở ngay cạnh mặt trăng.
- Hãy uống thứ này đi!
Tôi nghe thấy, nhưng không dám quay đầu lại.
- Hãy uống thứ này đi nào! Nước hoa cam đấy. Nó sẽ làm cho ông bình tĩnh lại. Tôi biết là ông đang bị hoảng loạn vì thấy người ông run rẩy. Thứ nước này sẽ khiến ông qua cơn sợ hãi mà.
Tôi nhận ra đôi bàn tay quen ấy, và khi ngẩng lên tôi nhận ra gương mặt của bà ta. Người đàn ông đứng đằng sau bà ta hỏi tôi:
- Ông ốm sao?
- Tôi không được rõ lắm. Tôi đã nhìn thấy con người và sự việc ở nơi mà có lẽ là ông bà không nhìn thấy gì. Có một bà vừa mới ở đây xong. Chắc chắn là ông bà cũng nhìn thấy bà ta.
- Lại đây em! - Người đàn ông nói với bà ta. - Hãy để mặc ông ta. Có thể ông ta là một nhà thần bí.
- Chúng mình nên cho ông ta nằm trên giường. Anh hãy nhìn kìa: Ông ta mới run làm sao, chắc chắn là ông ta đang sốt.
- Em đừng có tin ông ta. Những lão này thường giả trang như vậy để khiến người khác phải chú ý. Ở Media Luna, anh có quen một người kiểu như thế này. Đó là gã vẫn thường đoán vận mệnh cho người khác. Điều mà chẳng bao giờ gã đoán là việc gã sắp ngoẻo vì khi đó ông chú đã đoán biết được việc làm thô thiển của gã. Ông ta có thể là một nhà thần bí trong số những kẻ thần bí kiểu ấy. Cả đời chỉ lê la khắp các làng để nói: “Nào để xem đấng Toàn năng mnốn nói gì với các ngài nào”. Nhưng ở đây ông ta sẽ chẳng gặp được ai cho ăn để qua cơn đói bụng. Em xem kìa, ông ta đã hết run rồi. Và có lẽ ông ta đang nghe chúng mình nói chuyện.
***
Thời gian như quay ngược trở lại. Tôi lại thấy vì sao bên cạnh mặt trăng, thấy những đám mây tản mát đây đó, thêm những đàn sáo đang bay. Ngay lập tức tôi lại thấy buổi chiều còn chan hòa ánh sáng.
Nắng quái chiều hôm chiếu trên những bức tường. Những bước chân tôi lại vang lên khi nện vào đá sỏi. Người dắt lừa nói với tôi: “Hãy tìm bà Eduviges, nếu như bà ta vẫn còn sống”.
Sau đó là một căn phòng tối om. Một người đàn bà đang ngáy khò khò bên cạnh tôi. Tôi nhận ra tiếng thở của bà ta không đều, như thể bà ta đang mơ hay đúng hơn là bà ta không ngủ mà chỉ biết bắt chước những tiếng động do cơn mơ gây ra. Chiếc giường tre được phủ những bao tải khai mùi nước tiểu, những bao tải rỗng không bao giờ được hong phơi dưới ánh nắng mặt trời. Chiếc gối gỗ được bọc vải thô hay là vải lanh, thứ lanh dai, nhờn mồ hôi, nhăn nhúm lại.
Tôi cảm thấy hai chiếc đùi non để trần của người đàn bà ở ngay nơi đầu gối chân mình và cảm thấy hơi thở của bà ta ở ngay bên cạnh mặt mình. Tôi ngồi trên giường, dựa lưng vào một vật như một viên gạch được dùng làm gối.
- Ông không ngủ sao? - Bà ta hỏi tôi.
- Tôi không buồn ngủ. Tôi đã ngủ cả ngày rồi. Ông anh bà đi đâu?
- Đã đi rồi. Ông đã nghe thấy ông ấy nói tên nơi ông ấy cần phải đến. Có lẽ sẽ không trở về tối nay.
- Vậy là ông ấy thường xuyên bỏ đi như thế sao? Để mặc bà ở nhà một mình.
- Đúng thế! Cũng có thể ông ấy không trở về. Tất cả mọi người đều bắt đầu bỏ đi như thế đấy. Họ bảo rằng tôi sẽ đi khỏi đây, rằng tôi sẽ đi xa hơn đây. Họ ra đi, đi rất xa, ngày một xa hơn và có lẽ không bao giờ trở về. Lúc nào ông ấy cũng muốn bỏ đi và tôi nghĩ rằng đã đến lúc ông ấy ra đi thật sự. Có lẽ ông ấy nghĩ rằng tôi không biết được ý định của mình nên ông ấy bỏ đi để tôi lại cho ông chăm nom. Ông ta thấy thời cơ của mình đã tới. Đi bắt bò rừng chẳng qua là một cái cớ mà thôi, ông sẽ thấy rằng ông ta không trở về.
Tôi định bảo bà ta: “Tôi ra ngoài thở hít chút không khí kẻo ở đây tôi thấy ngột ngạt đến buồn nôn”, nhưng tôi lại bảo:
- Bà đừng lo! Thế nào ông ta cũng trở về mà.
Khi tôi đứng dậy, bà ta hỏi tôi:
- Tôi để cho ông một ít thức ăn nướng trên than lửa đấy. Ít thôi nhưng cũng đủ để ông đỡ đói.
Tôi thấy một mẩu thịt khô, mấy chiếc bánh đa ngô hong trên than hồng.
- Đó là những thứ mà tôi có thể kiếm được cho ông, - tôi nghe thấy bà ta từ trong ấy nói vọng ra. - Tôi đã đổi hai chiếc khăn vải trải giường sạch sẽ được cất giữ từ hồi mồ ma bà mẹ tôi cho người chị gái mình. Có lẽ bà ấy đã đến lấy vải trải giường. Tôi không muốn nói điều đó trước mặt Donis. Người đàn bà mà ông nhìn thấy chính là bà ta và bà ta đã làm ông hoảng sợ.
Trời tối đen nhưng đầy sao. Bên cạnh mặt trăng là ngôi sao sáng nhất trong số những ngôi sao khác.
***
- Mẹ có nghe thấy tiếng con không hở mẹ? - Tôi thầm hỏi.
Tiếng nói của bà đáp lại:
- Con ở đâu?
- Con ở đây, ở ngay trên làng của mẹ đây. Con ở ngay bên cạnh dân làng của mẹ. Mẹ không nhìn thấy con sao hả mẹ?
- Không, mẹ không nhìn thấy con, con ạ.
Tiếng nói của bà hiện ra như bao trùm tất cả. Rồi nó yếu dần, yếu dần cho tới khi tắt hẳn ở phía ấy, phía còn xa hơn cõi trần gian này.
- Không, mẹ không thấy con!
***
Tôi trở vào đến giữa sàn nhà là nơi người đàn bà ấy ngủ và tôi bảo bà ta:
- Tôi nằm nghỉ ở đây, ở ngay chỗ của mình. Giường nằm cũng chẳng êm ái hơn sàn nhà. Nếu có gì xảy ra bà hãy gọi tôi nhé.
Bà ta bảo tôi:
- Donis sẽ không trở về. Tôi biết chắc điều đó qua ánh mắt của ông ta. Ông ta đợi có người tới nhà là bỏ đi ngay. Bây giờ anh có nhiệm vụ chăm sóc em. Hay là anh không thích chăm nom em nào? Anh hãy tới đây ngủ với em.
- Tôi ngủ đây cũng tốt rồi.
- Tốt hơn hết là anh hãy trèo lên giường. Ở dưới ấy con ve sẽ ăn thịt anh mất.
Thế là tôi đi đến chỗ bà ta và cùng nằm với bà ta.
***
Vào lúc nửa đêm tôi thức dậy vì oi bức khiến tôi vã cả mồ hôi hột. Thân xác của người đàn bà ấy được làm bằng đất, được bọc trong vỏ đất, đang vữa ra cứ như thể nó đang bị khuấy trong một vũng bùn. Tôi cảm thấy mình đang bơi trong thứ mồ hôi chảy từ thân xác người đàn bà ấy và cảm thấy ngột ngạt vì thiếu không khí. Thế là tôi đứng dậy. Người đàn bà vẫn ngủ. Từ miệng bà ta phát ra âm thanh ma quái giống như tiếng nấc lúc hấp hối.
Tôi bước ra đường để thay đổi không khí, nhưng cơn oi nóng vẫn bám riết lấy tôi, không buông tha tôi. Bởi vì ở đây không có gió mà chỉ có cái nóng bức vì tiết Đại thử của đêm tối lặng lẽ u ám.
Vì thiếu không khí nên tôi buộc phải thở chính không khí do tôi thở ra, bằng cách lấy hai tay giữ hơi thở đó lại ở trước mũi mình trước khi nó bay đi. Tôi cảm thấy không khí do mình thở ngày một ít đi, ít đi đến mức nó mỏng tang có thể lọt vĩnh viễn qua các ngón tay mình.
Tôi bảo là nó vĩnh viễn lọt các ngón tay mình.
Tôi vẫn còn nhớ rằng mình đã nhìn thấy một vật tương tự như những đám mây nổi đầy bọt vần vụ bay trên đầu mình, rồi sau đó tôi tắm mình trong thứ bọt ấy và tôi lạc lối trong đám mây khổng lồ ấy. Đó chính là cái duy nhất và là cái cuối cùng tôi nhìn thấy.
***
- Juan Preciado, cháu muốn làm cho ta tin rằng cháu bị ngạt mà chết phải không? Ta gặp cháu ở quảng trường, cách rất xa nhà Donis và ông ta cũng ở bên cạnh ta nói rằng cháu đã chết. Chúng ta cùng kéo cháu tới dưới bóng mái hiên và lúc này cháu nằm thẳng cẳng. Cháu đã chết như những người chết vì sợ hãi. Nếu đêm ấy như cháu nói không có không khí để thở thì chúng ta cũng chẳng còn hơi sức để mang cháu đi chôn. Và giờ đây, cháu thấy đấy, chúng ta đã chôn cất cháu rồi.
- Doroteo ạ! Bà nói có lý lắm. Bà bảo tên mình là Doroteo phải không?
- Gọi thế nào cũng được. Mặc dù tên ta là Dorotea kia. Thôi được, gọi thế cũng được.
- Đúng thế đấy, Dorotea ạ. Những tiếng rì rầm đã giết chết cháu.
“Ở đó con sẽ gặp lại nơi chôn nhau cắt rốn của mẹ. Đó là nơi mẹ hằng yêu mến, là nơi những ước mong thời trẻ khiến mẹ bủn rủn cả người. Làng mẹ nổi lên trên đồng bằng, um tùm cây cối. Nó giống như một con lợn đất để mẹ cất giữ những kỷ niệm của mình. Con sẽ cảm thấy người ta muốn sống trăm tuổi, nghìn tuổi, sống mãi mãi. Buổi ban mai, buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, tất cả các buổi ấy đều giống nhau duy chỉ có gió là khác. Ở đó, gió làm thay đổi sắc màu của cảnh vật; ở đó, cuộc sống thay đổi giống như những tiếng rì rầm hay nói cho đúng hơn là nó tựa như những tiếng rì rầm trong trẻo của cuộc sống...”
- Đúng thế bà Dorotea ạ. Những tiếng rì rầm đã giết chết cháu. Mặc dù nỗi hoảng sợ cũng đến với cháu nhưng nó đến chậm hơn. Nó đã đến bên cháu cho tới khi cháu không thể chịu đựng hơn được nữa. Và khi cháu nghe thấy những tiếng rì rầm ấy thì gân cốt cháu như đứt tung ra.
Bà có lý, cháu đến quảng trường. Tiếng ồn ào của đám đông đã lôi cháu đến đó và cháu cứ tưởng rằng ở đó có người thật. Lúc đó cháu đã không còn tỉnh táo. Cháu nhớ rằng cháu đã lần theo các bờ tường mà đến như thế, cháu đã đi bằng hai tay. Những tiếng rì rầm phát ra như nước chui qua các vết nứt, các kẽ hở, từ trong các bức tường nhỏ giọt ra, nhỏ giọt ra. Cháu nghe rõ chúng. Đó là tiếng nói của đám đông, nghe thầm thì thầm thì chứ không rõ ràng, như thể khi cháu đi qua muốn nói thầm cho cháu nghe, hoặc giả những tiếng rì rầm ấy đập thẳng vào tai cháu. Cháu liền tách ra khỏi các bức tường và đi ở chính giữa đường, nhưng như trước đây cháu vẫn nghe thấy chúng như thể chúng đến thẳng với cháu. Chúng đến từ phía trước và cả từ phía sau. Cháu không cảm thấy nóng như đã nói với bà trước đây; trước đây thì ngược lại. Cháu cảm thấy rét. Kể từ lúc cháu ra khỏi nhà người đàn bà ấy và như cháu đã nói với bà, cháu nhìn thấy bà ta vữa ra trong chính mồ hôi của bà ta, kể từ lúc ấy cái rét thấm vào người cháu. Và ngay lập tức cháu bỏ đi, cái rét cũng tăng lên tăng lên cho tới khi da cháu nổi da gà. Cháu muốn trở lại vì nghĩ rằng nếu trở lại sẽ tìm thấy hơi ấm mà mình vừa để lại ở phía sau: nhưng đi được một quãng ngắn thì cháu nhận ra cái rét từ trong mình mà ra, từ ngay trong máu mình. Chính lúc ấy cháu thấy mình đang hoảng sợ. Cháu nghe rõ có tiếng ồn ào dữ dội ở ngoài quảng trường và nghĩ rằng nếu cháu ở giữa đám đông thì sẽ bớt sợ hơn. Vì thế mà bà bắt gặp cháu ở quảng trường. Vậy là cuối cùng Donis vẫn trở về, phải không bà? Người đàn bà ấy chắc chắn rằng Donis sẽ không bao giờ trở về nhà nữa.
- Ông ta đi từ sáng, khi chúng ta gặp cháu. Ta không biết ông ta từ đâu tới. Ta không hỏi ông ta mà.
- Vậy là cháu đã tới quảng trường. Cháu dựa lưng vào một cột thềm. Cháu chẳng thấy một ai dù rằng cháu vẫn nghe thấy tiếng nói rì rầm, như cái tiếng ồn ào của chợ phiên đang lúc đông vui. Một tiếng ồn đều đều, chẳng có ý vị gì cả giống như tiếng rì rầm của gió vuốt lá cây khi không thấy có cây cối nhưng nghe rõ tiếng rì rầm. Cứ như thế mãi. Cháu cũng không chịu lùi một bước. Cháu bắt đầu cảm thấy cái tiếng nói rít qua hàm răng ấy đến gần mình rồi vây lấy mình như thể cả một bầy ong đang bay quanh mình, cho tới khi cháu nhận ra được một số lời nói gần như không có âm thanh bảo mình: “Hãy cầu khẩn Chúa cho chúng ta đi”. Cháu nghe rõ điều đó. Lúc ấy cháu lạnh cả người. Chính lúc ấy ông ta và bà bắt gặp cháu đã chết.
- Có lẽ mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn nếu cháu không đến đây. Cháu tới đây để làm gì nào?
- Cháu đã bảo với bà ngay từ đầu rồi. Cháu đến để tìm ông Pedro Páramo, một người hình như là cha cháu thì phải. Một ảo ảnh đã dắt dẫn cháu tới đây.
- Ảo ảnh à! Nếu bị ảo ảnh dắt dẫn thì thật là khốn thân đấy. Vì nó ta đã phải sống lâu hơn mức nhẽ ra được sống. Ta đã phải trả giá cho việc đi tìm con trai mình mà thực ra nó chỉ là một ảo ảnh không hơn không kém. Vì ta chưa bao giờ có con. Giờ đây khi mà ta đã chết, ta có đủ thời gian để suy nghĩ và hiểu hết mọi lẽ. Chúa chẳng cho ta thứ gì, ngay tới cả một tổ ấm để ấp ủ nó. Ta chỉ có cuộc đời dài lê thê, ấy vậy mà lúc nào đôi mắt buồn của ta cũng dõi nhìn theo đám đông ở chỗ này chỗ kia để tìm con ta, để ngờ vực một ai đó, đã giấu con trai ta. Tất cả những cái đó là tội lỗi của một giấc mơ bất hạnh. Ta có hai giấc mơ. Một cái được gọi là giấc mơ hạnh phúc, còn một cái được gọi là giấc mơ bất hạnh. Giấc mơ thứ nhất là giấc mơ khiến ta mơ màng rằng mình có một đứa con trai. Trong lúc sống không khi nào ta nghi ngờ điều đó vì thường xuyên ta cảm thấy đứa con trai ấy đang ở trong vòng tay ta, nó ngây thơ, tay chân mắt mũi nó không lúc nào để yên; trong một thời gian dài ta vẫn giữ mãi trên ngón tay ta cái run rẩy của đôi mắt nó ngủ, cái rung động của trái tim nó đập. Làm sao mà nghĩ rằng đứa con ấy không phải là có thật được kia chứ? Đi bất kỳ chỗ nào ta cũng mang nó theo, quấn nó trong khăn của ta, nhưng rồi bỗng nhiên ta mất nó. Ở trên trời người ta bảo rằng người ta đã nhầm ta, rằng người ta đã cho ta trái tim một người mẹ nhưng với một cái dạ con của một con điếm. Đó chính là giấc mơ bất hạnh. Ta lên đến thiên đường, ngó nhìn mặt các thiên thần để xem may ra nhận được mặt con trai mình. Mà không hề có. Tất cả các gương mặt đều giống nhau như đúc. Thế là ta cất tiếng hỏi. Một trong những vị thiên thần ấy đến gần ta không hề nói năng gì, thọc ngay một bàn tay vào dạ dày ta như thể thọc vào một lọ sáp. Khi rút bàn tay ra, thiên thần ấy chỉ cho ta xem một vật giống như vỏ quả hồ đào, rồi bảo ta: “Cái này chứng thực điều ta đã bày tỏ với nhà ngươi”.
Cháu có biết ở trên ấy người ta ăn nói lạ lùng như thế nào không, nhưng mọi người hiểu nhau hết. Ta muốn nói với các thiên thần rằng cái ấy là do đói và do có ít cái ăn nên dạ dày ta nhăn nhúm lại. Nhưng một vị trong số những vị thiên thần đó đã nắm lấy vai ta đẩy ta đi về phía cửa và bảo ta: “Con hãy trở về cõi trần, mà nghỉ ngơi thêm ít lâu nữa và con nhớ tu thân để trở thành người tốt, để quãng thời gian ở địa ngục của con sẽ ngắn đi”.
Đó chính là giấc mơ bất hạnh mà ta có và nhờ nó ta đã sáng tỏ rằng ta chưa hề có con cái. Ta hiểu điều đó thì đã quá muộn rồi khi mà thân xác ta đã teo tóp, khi mà cái xương sống nhô lên khỏi đầu ta, khi mà ta không thể đi lại được nữa. Rồi bỗng nhiên tất cả đều bỏ đi hết. Làng này trở nên cô quạnh. Mọi người đi nơi khác và thứ ân huệ mà nhờ nó ta sống được cũng theo họ đi nốt. Ta ngồi chờ chết. Sau đó ta gặp cháu, xương tóc ta cũng bằng lòng ở yên một chỗ. “Không một ai thèm nghe ta”, ta nghĩ thế. Ta là một người hiền lành chẳng hề đụng chạm đến ai. Cháu thấy đấy, ta không ăn trộm đất của bất kỳ một ai. Người ta chôn ta ngay trong ngôi mộ của cháu và ta nằm gọn trong vòng tay cháu. Ở đây, ngay trên xó xỉnh này, nơi lúc này cháu đang ở trước mặt ta. Ta chỉ nghĩ rằng, ta nên là người ôm lấy cháu. Có nghe thấy không. Ở bên trên đang mưa đấy. Cháu không nghe thấy tiếng gõ của mưa sao?”
- Cháu cảm thấy như có người đang đi trên chóp chúng mình.
- Cháu đã hết sợ rồi chứ. Giờ thì không ai có thể làm cháu sợ được nữa. Cháu hãy nghĩ tới những câu chuyện vui vì chúng ta còn bị chôn lâu đấy.
***
Vào lúc trời hừng đông, những hạt mưa nặng hạt rơi xuống đất. Khi chạm phải đất bụi và đất tơi trên những luống cày, chúng vang lên những tiếng lộp bộp. Một chú chim nhại bay là là trên mặt đất và rên rỉ như tiếng rên rỉ của trẻ nhỏ. Nó bay ra xa nhưng vẫn nghe thấy tiếng rên rỉ của nó như tiếng rên rỉ đầy mệt mỏi. Khi bay ra tít phía xa ở tận chân trời, nó phóng hết sức lực bay vút lên và sau đó nó cười khành khạch, để rồi sau đó lại rên rỉ.
Lão Fulgor Sedano cảm nhận hương vị của đất và chạy ra xem mưa xóa đi những luống cày như thế nào. Niềm vui bùng lên rạng rỡ trong hai con mắt bé tí hin của lão. Lão nuốt liền ba ngụm cái hương vị ấy rồi há miệng rộng toang hoác cười để lộ hết răng hàm.
- Chà chà! - Lão nói. - Lại một năm mưa thuận gió hòa đã ập đến với chúng ta. - Rồi lão nói thêm. - Nước thân thương, hãy xuống đây, hãy xuống đây. Em cứ thả sức mà rơi xuống nhé! Sau đó xin mời em sẽ chạy ra phía xa kia và hãy rơi xuống thả sức, vì cô em nên nhớ cho là chúng ta đã cày cuốc trên đất đai của cả vùng này chỉ để cho cô em thả sức mà rơi xuống, rơi xuống cho tới khi nào chán thì thôi.
Rồi lão cười.
Chú chim nhại, sau khi bay khắp đồng đã bay trở lại. Lúc này nó bay ngang qua trước mặt lão và nó lại rên rỉ, rên rỉ như sắp hết hơi.
Mưa xối xả rơi từ những đám mây cho đến khi ở phía xa kia, nơi lúc trước vừa le lói chút tia sáng thì trời đóng sập lại và dường như bóng đêm trở lại sau khi nó đã phải lùi ra xa nhường phần cho ánh sáng.
Cửa lớn của điền trang Media Luna bị gió táp mưa ướt kêu rin rít khi nó mở toang ra. Hai người lao ra, rồi hai người khác lao ra, rồi lại hai người nữa lại lao ra cứ như thế cho đủ số hai trăm người cưỡi ngựa phóng ra tản đi khắp các cánh đồng đang gội trong mưa gió.
- Hãy lùa đàn gia súc ở trại Enmedio đi xa hơn trại Estagua và lùa đàn gia súc ở trại Estagua về dãy đồi Vilmayo, - lão Fulgor Sedano ra lệnh trong lúc bọn người này lao ngựa ra đi. - Nhanh lên kẻo nước ngập hết chúng ta đấy.
Lão nói nhiều lần và chỉ những người ra sau mới nghe rõ: “Từ đây ra đằng ấy và từ đằng ấy ra xa hơn”.
Tất cả và từng người một đưa tay lên mũ ra hiệu để lão biết rằng họ đã hiểu.
Dường như người cuối cùng vừa ra khỏi cổng thì Miguel Páramo phóng ngựa vào, không thèm dừng lại, anh ta xuống ngựa ngay trước mũi lão Fulgor, để mặc con ngựa tự đi tìm lấy máng ăn của nó.
- Cậu cả, cậu từ đâu trở về vào lúc này thế?
- Ta đi vần vú về mà.
- Ai thế cậu.
- Ý hẳn lão không đoán được ai chăng?
- Có lẽ là Dorotea, người đàn bà được mệnh danh là cô Cuarraca [8]. Đó là người đàn bà chỉ có những đứa nhóc con mới thích.
- Lão là một thằng hèn, Fulgor ạ. Nhưng mà thôi, lão không có lỗi.
Rồi anh ta bỏ đi ngay không kịp cởi cựa thúc ngựa, để người ta cho mình ăn trưa.
Tại nhà ăn, Damiana Cisneros cũng hỏi anh ta chính câu hỏi ấy.
- Nhưng, cậu Miguel, cậu từ đâu về đây?
- Ở đằng ấy! Đi thăm các mẹ về đây mà.
- Thật tình tôi không muốn cậu nổi giận mà. Hãy nguôi giận đi nào. Thế cậu muốn ăn trứng làm theo kiểu nào đây?
- Tùy bà, muốn làm thế nào cũng được.
- Ơ hay, tôi đang nói thật lòng mà, cậu Miguel ạ.
- Damiana ạ, ta hiểu lòng bà già. Bà đừng quản ngại. Này, bà có quen biết một bà tên là Dorotea nào đấy không? Đó là người vẫn được mệnh danh là Cuarraca ấy mà!
- Có đấy. Nếu cậu muốn xem mặt thì bà ta ở ngay ngoài kia kìa. Bà ấy vẫn thường dậy rất sớm để đến đây xin ăn sáng. Đó là người đàn bà lấy một cuộn len gói trong khăn, cuốn nó lại giống như một đứa trẻ để bảo với mọi người rằng đây là con mình. Hình như trong thời trẻ của mình, bà ta đã gặp phải chuyện bất hạnh. Nhưng vì chẳng bao giờ bà ta nói, nên không một ai biết rõ chuyện gì chẳng lành đã xảy ra với bà ta. Bà ấy sống bằng của bố thí.
- Lão già chết tiệt! Ta phải trêu cho lão đến đổ máu mắt mới được.
Sau đó anh ta ngồi nghĩ để xem cái người đàn bà ấy có thể giúp mình được gì chăng. Và không chần chừ gì nữa, anh ta bước ra cửa sau của nhà ăn rồi gọi Dorotea:
- Lại đây nào. Ta sẽ thảo luận với bà một việc, - anh ta nói vậy.
Và không một ai biết Miguel đã thảo luận với người đàn bà về việc gì. Người ta chỉ biết chắc chắn rằng khi trở lại nhà ăn, anh ta xoa hai tay, nói:
- Hãy mang những quả trứng ấy lại đây mau, - anh ta gọi Damiana rồi nói rõ. - Từ hôm nay trở đi, bà hãy cho người đàn bà này ăn như bà cho ta ăn nghe chưa. Dù bà có trầy vi tróc vẩy thì cũng mặc bà nhé.
Trong lúc đó lão Fulgor ra nhà kho để kiểm tra lượng ngô còn trong các thùng. Lão đang lo lượng ngô ít dần đi vì mùa thu hoạch còn lâu mới tới. Thật tình thì ngô vừa mới được gieo hạt. “Ta muốn xem chúng ta có đủ mà ăn không”. Ngay lập tức lão lại nói thêm: “Cái cậu cả ấy? Cái cậu cả ấy giống hệt cha nó nhưng bắt đầu khí sớm. Cứ theo cái đà này ta không tin rằng cậu ta sẽ thành đạt. À, ta quên không bảo cậu ta rằng hôm qua người ta tới đây tố cáo cậu ấy giết một người. Nếu cứ tiếp tục như thế thì...”.
Lão thở dài rồi cố mường tượng xem những người chăn bò hiện đang ở chỗ nào. Nhưng con ngựa hồng của Miguel mà lúc này đang cọ cọ cái mõm vào hàng rào khiến lão thích thú. “Cũng không thèm tháo yên cương cho con vật”, lão nghĩ. “Cũng sẽ chẳng bao giờ tháo yên cương. Chí ít ra don Pedro còn là người biết phép tắc hơn và cũng có những lúc điềm tĩnh hơn. Tuy vậy ngài vẫn cứ bênh vực Miguel nhiều. Hôm qua mình đã trình ngài tội lỗi của con trai ngài và ngài bảo: “Fulgor ạ, lão hãy nghĩ rằng ta là tội phạm; còn thằng bé không đủ khả năng làm việc ấy: nó không đủ sức để giết người. Để giết người cần phải có quả thận to bằng ngần này kia”. Ngài đưa tay ra hiệu vòng một cái tướng như bằng quả bí đỏ. “Tất cả những tội ác mà thằng bé làm hãy đổ lên đầu ta”.”
- Cậu Miguel sẽ làm cho ngài đau đầu đấy, thưa don Pedro. Cậu ấy rất thích đánh lộn mà.
- Cứ để thằng bé hoạt động. Nó hầu như hãy còn trẻ ranh mà. À, nó bao nhiêu tuổi nhỉ, có phải đã mười bảy rồi phải không Fulgor?
- Hình như là thế đấy. Tôi nhớ rằng người ta vừa mang cậu ấy tới đây, dường như mới hôm qua thôi, ấy thế mà cậu ấy táo tợn quá và sống gấp quá đến nỗi tôi nghĩ rằng cậu ấy đang chạy đua với thời gian. Cậu ấy bại đến nơi rồi, ngài sẽ thấy nhanh thôi.
- Nhưng mà thằng bé hãy còn thơ dại lắm, Fulgor ạ.
- Don Pedro ạ, cứ coi điều ngài nói là đúng đi nhưng người đàn bà đến đây khóc lóc vào ngày hôm qua lại khẳng định con trai ngài đã giết chồng người ta. Bà ta đang đau đớn quá chừng. Tôi biết đo nỗi đau đớn ấy, thưa don Pedro. Và nỗi đau đó rất nặng. Tôi đã cho bà ta 5.000 lít ngô để bà ta quên câu chuyện, nhưng bà ta không nghe. Thế là tôi buộc phải hứa sẽ tìm cách giải quyết vấn đề thỏa đáng, thật thỏa đáng. Bà ta không bằng lòng.
- Lão đang nói về ai thế?
- Tôi cũng không được rõ mấy kẻ đó lắm.
- Vậy thì lão không nên lo, lão Pulgor ạ. Mấy đứa vô danh tiểu tốt ấy mà.
Lão đã vào nhà kho và cảm nhận hơi nóng của ngô. Lão vốc một nắm ngô lên để xem đã bị mọt đục chưa. Lão đo xem lượng ngô trong thùng cao đến độ nào: “Ăn chắc rồi, - lão nói. - Trong lúc cỏ lớn chúng ta không phải cho gia súc ăn ngô hột nữa. Có khối ngô rồi!”.
Khi trở về, lão nhìn bầu trời đầy mây. “Chúng ta sẽ có đủ nước mưa cho mùa màng”. Thế là lão quên hết mọi sự đời.
***
- Có lẽ ở bên ngoài thời tiết đang thay đổi. Mẹ cháu kể với cháu rằng khi mưa bắt đầu rơi xuống thì tất cả, tất cả, đều chan hòa ánh sáng và mùi vị của chồi xanh. Mẹ cháu tả mây vần vụ như thế nào rồi mưa đổ xuống như thế nào và tất cả đều đổi thay màu sắc... Mẹ cháu, người từng sống tuổi hoa niên và những năm tháng đẹp nhất của đời mình trong cái làng này, đã không thể trở về làng, ngay đến lúc nhắm mắt xuôi tay cũng không thực hiện được ước muốn trở về làng. Chính vì thế mà bà đã bảo cháu thay bà trở về làng. Bà Dorotea ạ, thật là kỳ lạ cháu không nhìn thấy bầu trời. Có lẽ ít ra cái bầu trời ấy cũng phải giống bầu trời mẹ cháu biết chứ.
- Ta không rõ đâu, Juan Preciado ạ. Đã nhiều năm ta không ngẩng mặt lên, đã nhiều năm ta quên mất bầu trời. Dẫu rằng ta có nhìn lên thì thử hỏi ta được gì nào? Bầu trời quá cao xa mà mắt ta không nhìn thấy và ta chỉ hởi lòng hởi dạ khi biết đất ở chỗ nào. Mặt khác ta mất hết hứng thú kể từ khi cha Rentería khẳng định với ta rằng không bao giờ ta được biết thiên đường là gì. Kể cả việc từ xa mà ngắm nhìn cũng không... Đó là tội lỗi của ta, nhưng cha cũng chẳng nên nói với ta điều ấy làm gì. Hiển nhiên là cuộc sống đầy những chuyện cực nhọc. Cái duy nhất khiến chân tay người ta hoạt động là niềm tin rằng khi nhắm mắt xuôi tay sẽ được mang từ nơi này đến nơi khác. Nhưng khi người ta chết rồi thì một cánh cửa đã khép bước họ lại và chỉ mở ra cho họ một cánh cửa dẫn đến địa ngục, đã thế thì chẳng nên sinh ra trên cõi đời làm gì... Đối với ta ấy mà, Juan Preciado ạ, thiên đường đang ở nơi ta hiện tồn lúc này.
- Còn linh hồn bà thì sao? Bà nghĩ nó đang đi đâu?
- Có thể nó đang lang thang trên mặt đất như những linh hồn khác để tìm người sống cầu khẩn Chúa cho nó. Có thể nó căm thù ta vì ta đã đối xử tệ với nó. Nhưng bây giờ, điều đó ta không bận tâm nữa. Ta không còn phải nghe nó rên rỉ về những hối hận. Ta đắng lòng ngay cả với cái ăn ít ỏi và ta trằn trọc trong những đêm đầy ý nghĩ hoảng loạn với hình ảnh về sự trừng phạt. Khi ta nằm xuống để chết tâm hồn ta van ta hãy đứng dậy và ta hãy cố kéo lê lết cuộc đời ta, cố trông đợi một phép mầu nào tới để giải tội cho ta. Ta không để lộ ý định thực hiện điều đó: “Đến đây ta đã hết đường - ta nói - ta không còn sức lực nữa”. Ta mở miệng để linh hồn ta bay ra. Linh hồn ta bay đi. Ta cảm thấy dòng máu nhỏ gắn bó với trái tim ta rơi xuống trên đôi tay ta.
***
Người ta gọi cửa nhưng ngài không trả lời. Ngài nghe rõ đám đông tiếp tục gõ cửa làm mọi người kinh động. Ngài nghe rõ những bước chạy của lão Fulgor -ngài nhận ra nhờ bước chân của lão - về phía cửa lớn bỗng dừng lại một lúc như thể lão còn muốn gọi nữa. Sau đó lão lại tiếp tục chạy.
Ồn ào những tiếng nói. Những bước chân nặng nề lê đi như thể đang khiêng một vật nặng lắm.
Những tiếng động bâng quơ.
Cái chết của cha ngài bỗng lại hiện về trong tâm trí ngài, cũng trong một buổi mai như buổi mai này; dù lúc ấy cửa vẫn mở toang để lọt vào một mảng da trời màu ghi xám, buồn rầu, đúng như cái thời kỳ ấy cũng buồn rầu và ảm đạm. Một người đàn bà đang dựa lưng vào cánh cửa cố ghìm tiếng khóc. Đó là một người mẹ mà ngài đã quên và nhiều lần quên đi, đang nói với ngài: “Người ta đã giết bố mày rồi!”. - Người đàn bà ấy nói với tiếng nói thất thanh, rời rạc chỉ được nối lại bởi tiếng khóc nức nở.
Không bao giờ ngài muốn sống lại cái kỷ niệm ấy bởi vì nó kéo tới những kỷ niệm khác nữa, như thể người ta làm toạc cái túi đựng hạt căng phồng và sau đó lại cố giữ cho hạt không rơi ra. Cái chết của cha ngài kéo theo những cái chết khác và trong từng cái chết ấy luôn luôn hiển hiện hình ảnh một gương mặt bị giập nát: một con mắt nát bét, còn con mắt kia cứ nhìn đầy hằn thù. Rồi kỷ niệm khác tới, lại kỷ niệm khác tới, cho tới khi hình ảnh về cái chết bị nhạt nhòa trong ký ức ngài khi không còn ai gợi ngài nhớ tới.
- Hãy đặt cậu ta nằm ở đây! Không, không để như thế được? Cần phải xoay lại để đầu cậu ấy quay về phía sau. Anh kia, còn đợi gì nữa hả?
Tất cả đều nói rất khẽ khàng.
- Ngài đâu?
- Ngài đang ngủ. Người ta không dám đánh thức ngài dậy. Xin hãy nhẹ nhàng, chớ động chạm mạnh. -Ngài, to lớn, đứng lù lù ở đấy nhìn mọi người đang ì ạch đưa cái thây ma được những túi vải cũ bọc lại, có dây thừng ràng buộc cẩn thận như thể nó đã được liệm rồi.
- Ai thế? - Ngài hỏi.
Fulgor Sedano tiến lại gần ngài nói:
- Thưa don Pedro, cậu Miguel ạ.
- Bọn nó đã làm gì cậu hả? - Ngài quát hỏi.
Ngài như đợi nghe thấy: “Bọn nó đã giết cậu”. Vì người ta đã đoán trước được cơn thịnh nộ của ngài, cơn giận của ngài đang nổi lên; cho nên ngài nghe thấy những từ ngữ rất mềm mỏng của Fulgor Sedano đang nói với ngài:
- Chẳng ai làm gì cậu ấy cả. Chỉ tại cậu ấy đã gặp thần chết.
Có những ngọn đèn dầu hỏa thắp sáng đêm đen.
- ... Con ngựa đã giết chết cậu ấy, - có người bạo phổi dám nói rõ nguyên nhân cái chết cho người nghe.
Người ta đặt tử thi lên chiếc giường của nó, trên chiếc giường đã lột bỏ tấm đệm, để lộ những tấm ván bóng nhẵn ấy. Cái tử thi đó sau khi được cởi bỏ hết dây nhợ được đặt ngay ngắn trong tư thế thoải mái trên chiếc giường. Người ta đặt hai tay anh ta lên ngực rồi lấy mảnh vải đen che mặt cho anh ta. “Dường như thân xác cậu to ra hơn lúc còn sống”, lão Fulgor Sedano thầm thì nói.
Ngài Pedro Páramo đứng lặng không cử động, không nói năng gì hết, như thể ngài đã bỏ đi rồi. Nhưng trên đầu ngài những luồng suy nghĩ cứ phát ra, phát ra không ngừng nghỉ. Cuối cùng ngài nói:
- Ta bắt đầu phải trả giá đây. Thà rằng bắt đầu sớm để kết thúc sớm, như thế càng tốt.
Ngài không cảm thấy đau đớn.
Khi đứng trước đám đông tụ tập trong sân để cảm tạ họ đã tới chia sẻ nỗi bất hạnh của mình, ngài nói liến thoắng và tiếng nói của ngài oang oang lấn át tiếng than khóc của các bà phụ nữ. Sau đó, trong cái đêm ấy, chỉ có tiếng con ngựa hồng của Miguel Páramo hí vang thảm thiết.
- Ngài mai, hãy ra lệnh giết con ngựa ấy đi để nó khỏi đau đớn thêm nữa, - ngài ra lệnh cho lão Fulgor Sedano.
- Thưa vâng, ông chủ cứ yên tâm. Tôi hiểu rồi ạ. Chắc con ngựa khốn khổ ấy đau đớn lắm ạ.
- Lão Fulgor ạ, ta cũng hiểu thế. Lão nhớ là hãy đi nói với các bà ấy chớ nên làm ồn quá mức như vậy. Thực tình họ đã quá ồn ĩ vì người chết của gia đình ta rồi. Nếu là người thân của họ thì có lẽ họ sẽ chẳng khóc lóc thảm thiết đến như thế đâu.
***
Rất nhiều năm sau đó, cha Rentería nhớ lại cái đêm cha đã thức dậy và buộc phải ra khỏi phòng ngủ vì giường giát cứng không cho cha ngủ tiếp. Đó chính là đêm Miguel Páramo chết.
Cha đi lại trên những con đường cô quạnh của làng Comala. Bước chân cha làm giật thột những con chó đang mải kiếm ăn ở bãi rác. Cha ra tận bờ sông và tại đây cha thích thú ngắm nhìn sao trời lung linh trên mặt nước phẳng lặng. Cha cứ đứng như vậy trong vài giờ, vật lộn với những suy tư của mình rồi ném chúng xuống dòng sông nước đen ngòm.
“Câu chuyện bắt đầu khi, cha nghĩ, Pedro Páramo, vốn là kẻ hèn kém, vươn lên thành ông chủ lớn. Ngài đã lớn lên như một cây cỏ độc. Điều tệ hại đó là do ta mà ra: “Thưa cha, con thú tội là đêm qua con đã ngủ với Pedro Páramo”. “Thưa cha, con thú tội là con đã có con với don Pedro Páramo”. “Thưa cha, con thú tội rằng con đã hiến con gái mình cho don Pedro Páramo”. Lúc nào ta cũng đợi ngài tới thú tội nhưng chẳng bao giờ ngài tới nhà thờ. Giờ đây qua thằng con ấy, ngài đã vươn đôi cánh tay tội ác của mình dài thêm nữa. Đối với đứa con được ngài thừa nhận thì chỉ có Thượng đế mới hiểu vì sao. Điều ta biết chắc chắn là ta đã đặt cái công cụ gây tội ác ấy vào tay ngài.
Cái ngày người ta mang thằng bé tới - nó còn đỏ hon hỏn dường như vừa mới sinh - lại hiện về rõ mồn một. Cha bảo ngài:
- Don Pedro này, người mẹ đã qua đời khi sinh cháu. Bà ấy bảo nó là của ngài. Kìa, nó kia kìa.
Ngài không nghi ngờ, chỉ nói với cha:
- Vì sao cha không giữ lại mà nuôi dạy cho nó thành thầy tu, hở cha?
- Ta không muốn chịu trách nhiệm đối với nó, kẻ mang dòng máu của ngài trong người.
- Có thật là cha tin rằng ta mang máu xấu phỏng?
- Quả thật là vậy, don Pedro ạ.
- Ta sẽ chứng tỏ cho ngài thấy là không đúng. Hãy để nó lại đây. Có khối người sẽ chăm sóc thằng bé.
- Đúng thế đấy, ta cũng chỉ nghĩ thế thôi. Chí ít ra ngài cũng còn có chỗ tránh mưa tránh nắng để nó nương náu.
Đứa bé vặn vẹo người, nó bé bỏng như vốn thế, giống như một con rắn độc.
- Damiana! Cô hãy lo việc nuôi nấng thằng bé. Nó là con ta.
Sau đó ngài mở nút chai rượu:
- Ta sẽ uống cốc rượu này để mừng người đã quá cố và mừng cha.
- Và cả đứa trẻ nữa chứ?
- Dĩ nhiên là cả thằng bé nữa.
Ngài rót thêm cốc rượu nữa và cả hai cùng cạn chén chúc mừng tương lai của đứa trẻ mới sinh ấy.
Câu chuyện là như thế đấy.”
Những chiếc xe bò bắt đầu diễu qua đi về điền trang Media Luna. Cha cúi xuống nấp trong mô đất nơi con sông uốn khúc. “Mi phải trốn ai?”. Cha tự hỏi lòng mình.
- Kính chào đức cha, - cha nghe có tiếng chào mình.
Cha đứng dậy và đáp lại:
- Xin chào! cầu Chúa ban phước lành cho con.
Đèn trong làng đã tắt. Nước trên sông sáng lấp lánh sắc màu.
- Thưa cha, đã bình minh chưa ạ? - Một người đánh xe bò hỏi.
- Có lẽ bình minh đã được lâu rồi, - cha trả lời. Rồi cha đi ngược chiều với những chiếc xe bò, định bụng sẽ không dừng lại.
- Cha đi đâu mà sớm thế?
- Kẻ hấp hối ở đâu thế, thưa cha?
- Thưa cha có ai chết ở làng Contla thế?
Cha muốn trả lời họ: “Ta, ta là người chết đây”. Nhưng rồi cha lại mỉm cười.
Khi ra khỏi làng, cha rảo bước đi.
Cha trở về thì trời đã sáng rồi.
- Chú ở đâu vậy, thưa chú, - Ana, cô cháu của cha, hỏi cha. - Nhiều bà đến đây tìm chú để xin xưng tội kẻo ngày mai là ngày thứ Sáu đầu tháng rồi.
- Hãy bảo họ đến đây vào buổi tối nhé!
Cha ngồi một lúc lâu trên chiếc ghế băng kê ngoài hiên, cảm thấy rất mệt mỏi.
- Gió mát nhỉ, phải không Ana?
- Ôi, đang nóng đấy chú ạ.
- Vậy mà ta không cảm thấy nóng.
Cha không muốn nghĩ gì về việc cha đã ở làng Contla. Ở đây cha đã làm lễ xưng tội chung với tu sĩ và tu sĩ này, dù cha khẩn khoản cầu xin, đã từ chối làm lễ xá tội cho cha.
- Con người mà cha không dẫn tên ra ấy đã phá hoại nhà thờ của cha và cha đã để cho kẻ ấy làm vậy. Thế thì thử hỏi giờ tôi còn mong đợi gì ở cha nữa? Với sức mạnh của Chúa, cha đã làm gì? Tôi muốn tin rằng cha là người tốt và rằng ở đó cha đã được mọi người kính nể; nhưng như thế vẫn chưa đủ để làm người tốt. Tội lỗi là không tốt. Và để kết thúc mọi thứ tội lỗi cần phải kiên quyết ra tay trừng phạt không thương tiếc. Tôi muốn tin rằng tất cả mọi người đều giữ trọn niềm tin Thiên Chúa giáo nhưng cha lại không phải kẻ giữ vững niềm tin của họ. Họ làm là vì mê tín và sợ hãi. Hơn nữa tôi muốn ở bên cạnh cha trong hoàn cảnh khốn khổ cha đã sống và làm việc để thực thi chức phận của mình. Tôi biết cái khó của chúng ta khi phải thực thi nhiệm vụ ở những làng nghèo đói này, nơi chúng ta bị phân về; nhưng chính điều đó lại cho phép tôi được quyền nói với cha rằng chẳng phải vậy mà đi hầu hạ một số kẻ nào đó. Chúng đổi cho cha một ít của cải để lấy linh hồn của cha. Khi linh hồn mình đã ở trong tay họ, thì thử hỏi cha có thể làm gì để tốt đẹp hơn những kẻ tốt đẹp hơn cha nào? Không, thưa đức cha, bàn tay tôi không đủ sạch để làm lễ xá tội cho cha. Cha cần tìm sự xá tội ở nơi khác thì hơn.
- Thưa cha, cha muốn tôi đi sao?
- Cha cần phải đi. Cha không thể cứ tiếp tục ban phước khi chính bản thân cha đang ở trong vòng tội lỗi.
- Song nếu các chức vụ của tôi bị bãi miễn thì sao ạ?
- Có thể cha đáng bị thế. Điều này sẽ còn tùy thuộc vào ý kiến của bọn họ.
- Vậy cha không thể...? Một cách tạm thời thôi, chúng ta hãy nói... Tôi cần làm lễ xức dầu Thánh... Lễ ban Thánh thể. Thưa cha, ở làng tôi người chết vô kể ạ.
- Cha hãy để Chúa phán xử những người chết ấy.
- Vậy là không thể được, phải không ạ?
Và vị tu sĩ làng Contla đã bảo rằng không.
Sau đó cả hai người cùng dạo bước trên những hành lang nhà tu sĩ râm bóng cây đỗ quyên. Bọn họ ngồi dưới dàn dây leo mà trên đó những chùm nho đã chín.
- Đều là những quả chua cả, cha ạ, - tu sĩ đã nhanh nhẩu trả lời câu hỏi mà cha sẽ hỏi. - Chúng ta sống trên miền đất nhờ đấng Toàn năng sản đủ thứ. Nhưng tất cả các thứ quả sản ra ở đây đều chua. Chúng ta bị kết tội chỉ được hưởng những quả chua đó.
- Thưa cha, cha nói có lý ạ. Ở Comala tôi đã định trồng nho. Chúng không ra quả. Ở đấy chỉ có cam và sim sống nổi thôi. Cam chua và sim chua. Tôi đã quên mất mùi vị của quả ngọt. Cha chắc còn nhớ những quả ổi tàu hồi chúng ta đi học chứ? Những quả đào, những quả quýt này, những thứ quả chỉ cần bóp nhẹ thôi là vỏ đã long ra. Ở đây tôi có mang theo một số hạt ấy, ít thôi, chưa đầy một túi nhỏ. Nhưng sau đó tôi lại nghĩ rằng nếu để chúng ở nơi chúng sinh trưởng thì tốt biết bao, bởi vậy tôi đã mang chúng theo mình về đây mà chết.
- Tuy nhiên, đức cha ạ, người ta bảo rằng đất đai ở làng Comala là thứ đất tốt. Chỉ tiếc là chúng lại nằm cả trong tay một người. Pedro Páramo vẫn là chủ những đất đai ấy phải không?
- Đó là ý nguyện của Chúa.
- Tôi không tin rằng trong trường hợp này ý nguyện của Chúa lại tham dự vào. Cha có tin như thế không?
- Đôi lúc tôi cũng có nghi ngờ tí chút. Nhưng ở đó, mọi người đều thừa nhận quyền chủ nhân của don Pedro Páramo.
- Mà trong số những người ấy có cả cha nữa phải không nào?
- Tôi chỉ là một người nghèo đã quyết chí sống một cách nhẫn nhục, khi cần thiết phải thế.
Sau đó bọn họ chia tay nhau. Cha cầm lấy tay vị tu sĩ rồi hôn. Giờ đây cha trở lại cuộc đời thực, không muốn nghĩ thêm nữa về buổi sáng ở làng Contla.
Cha đứng dậy rồi đi ra cửa.
- Chú đi đâu đấy, thưa chú?
Ana, cô cháu gái của cha, lúc nào cũng có mặt, lúc nào cũng ở bên cạnh cha cứ như thể cô tìm bóng cha để che chở cho cuộc đời mình.
- Ta sẽ đi dạo một lúc, Ana ạ! Nếu cứ ngồi lì như này người ta đến nổ tung ra mất.
- Chú khó ở sao?
- Không, ta không ốm. Đúng hơn là ta tồi quá. Một con người tồi. Ta đang cảm thấy mình là người như vậy.
Cha đến điền trang Media Luna và chia buồn cùng don Pedro Páramo. Cha lại nghe don Pedro Páramo nói những lời biện hộ cho con trai mình trước những lời buộc tội của đám đông, cha cứ để cho don Pedro nói. Cuối cùng, chẳng có gì hệ trọng cả. Nhưng cha đã từ chối lời mời dùng cơm của don Pedro.
- Tôi không thể ăn được, don Pedro Páramo ạ. Tôi cần phải có mặt sớm ở nhà thờ vì một hàng dài lũ lượt các bà đang đợi tôi ở phòng xưng tội. Xin khất ngài để dịp khác vậy.
Cha đi một mạch về nhà. Khi chiều xuống, cha đi thẳng vào nhà thờ. Cũng như lúc cha ra đi, bây giờ cha trở về với vẻ thiểu não người đầy bụi. Cha ngồi xuống bên bàn xưng tội.
Người đầu tiên tiến đến bàn xưng tội là bà già Dorotea, người lúc nào cũng ở đây để đợi cho cánh cửa nhà thờ mở toang.
Cha ngửi thấy mùi rượu phả ra từ bà ta.
- Sao, con lại say phải không? Từ bao giờ?
- Thưa cha, kể từ khi con dự lễ tang của Miguelito[9]. Con hơi quá chén. Người ta cho con uống quá nhiều rượu cho tới khi con say, nói năng nhảm nhí như một con hề.
- Lúc nào con cũng thế, Dorotea ạ!
- Thưa cha, nhưng giờ đây con có tội ạ! Và nhiều lắm ạ.
Trong một vài dịp khác, cha đã bảo bà: “Thôi, con đừng xưng tội. Dorotea, con chỉ làm mất thời giờ của cha thôi. Con không thể phạm bất kỳ một thứ tội nào cả dù con có cố chăng nữa. Hãy nhường chỗ cho người khác nhé”.
- Bây giờ thì con có tội, thưa cha, quả là con có tội.
- Hãy nói nghe nào.
- Vì giờ chuyện này không còn có thể gây ảnh hưởng nữa, con sẽ nói thực: Con là người đã dẫn gái cho Miguelito Páramo tội nghiệp.
Cha xứ Rentería, người từng nghĩ hãy để cho mình được suy nghĩ, dường như vừa ra khỏi cõi mộng mị của mình, và cha hỏi theo thói quen thường lệ:
- Từ bao giờ?
- Từ khi cậu ấy còn là một thanh niên choai choai. Kể từ khi cậu ấy lên sởi.
- Hãy nói lại điều con vừa nói cho ta nghe nào, Dorotea.
- Nghĩa là con là người đã dẫn gái cho Miguelito.
- Con đã đích thân dẫn gái cho cậu ấy?
- Thưa cha, một đôi lần thôi ạ. Trong một số lần khác con chỉ rỉ tai các cô để các cô tự đến. Một số lần khác con chỉ chỗ cho cậu Miguelito. Cha nên biết rằng trong lúc các cô rỗi rãi lại chỉ có một mình thì đó là lúc cậu ấy có thể lôi các cô đi.
- Nhiều lắm phải không?
Cha xứ không muốn nói thế nhưng câu hỏi theo thói quen đã buột khỏi miệng cha.
- Thưa cha, con không nhớ là bao nhiêu cô nhưng nhiều lắm ạ.
- Dorotea, con muốn cha làm gì con nào? Con hãy tự phán xét mình đi. Nào thử xem con có thể tha thứ cho mình được không nào?
- Thưa cha, con không dám ạ! Nhưng cha có thể phán xử con. Vì thế mà con đến với cha.
- Đã bao lần con đến đây để xin ta cho con lên thiên đường khi con chết hả? Con muốn sẽ gặp lại con trai mình ở đó phải không, Dorotea? Vậy thì con sẽ không thể lên thiên đường được. Nhưng mong Chúa tha tội cho con.
- Thưa cha, con đa tạ cha.
- Ừ! Nhân danh Người ta cũng tha tội cho con. Con đã có thể ra được rồi.
- Con không phải tự hành xác để hối lỗi sao, thưa cha!
- Không cần đâu, Dorotea ạ!
- Thưa cha, con đa tạ cha.
- Thôi, con hãy đi đi. Chúa sẽ che chở cho con.
Cha gõ ngón tay lên cửa sổ phòng xưng tội để gọi một trong những người phụ nữ ấy. Và trong lúc nghe câu nói: “Con là kẻ có tội” thì cái đầu cha gục xuống như không bao giờ có thể cất thẳng được lên. Sau đó, đến với cha cơn chóng mặt, đến với cha cái sự hoảng loạn nhầm lẫn ấy, đến với cha cái việc đi như tan vào trong nước đặc, đến với cha sự chao đảo của ánh sáng - thứ ánh sáng chan hòa buổi ban ngày tan biến đi thành từng mảnh nhỏ - và đến với cha cái vị tanh mùi máu nơi đầu lưỡi. Lời xưng “Con là kẻ có tội” được nghe rõ ngày một mạnh hơn, ngày một lặp đi lặp lại nhiều hơn để rồi sau đó kết thúc bằng câu “hàng thế kỷ và hàng thế kỷ, amen”, “hàng thế kỷ và hàng thế kỷ, amen”, “hàng thế kỷ...”.
- Thôi đi. Có im đi không nào! - Cha nói - Đã bao nhiêu ngày không xưng tội?
- Thưa cha, hai ngày ạ.
Lại một lần nữa cha ở đó. Cứ như thể nỗi bất hạnh đang vây bọc lấy cha. “Ngươi làm gì ở đây vậy?”. - Cha nghĩ. - “nghỉ ngơi! Thế thì ngươi hãy đi nghỉ đi. Ngươi mệt mỏi lắm rồi”.
Cha đứng dậy ra khỏi bàn xưng tội rồi đi thẳng vào kho chứa đồ Thánh. Không ngoảnh đầu lại, cha nói với đám người đang đợi mình:
- Tất cả những ai cảm thấy mình không có tội, ngày mai có thể chịu lễ ban Thánh thể.
Đằng sau cha, chỉ nổi lên tiếng nói lầm rầm.
***
Ta đang nằm trên chính chiếc giường nơi mẹ ta đã chết cách đây rất nhiều năm; trên chính tấm đệm ấy; và ở dưới chính tấm chăn dạ đen mà hai chúng ta vẫn đắp để ngủ. Lúc ấy ta ngủ bên cạnh bà, nằm ở chỗ bà vẫn thường ôm ấp ta.
Ta tưởng như mình vẫn cảm nhận tiếng thở nhịp nhàng đều đặn của bà; tiếng tim đập và tiếng thở dài của bà vẫn thường đưa ta vào giấc ngủ... Ta tưởng như mình vẫn cảm nhận nỗi đau thương của bà khi bà chết...
Nhưng điều đó không đúng.
Ta đang ở đây, đang nằm ngửa mặt, mà nghĩ về thời kỳ ấy để quên đi nỗi cô đơn của mình. Bởi vì ta không chỉ nằm trong chốc lát và cũng không phải là nằm trên chiếc giường của mẹ mà trái lại ta nằm trong một chiếc hòm đen như chiếc hòm thường được dùng chôn người chết. Bởi vì ta đã chết.
Ta nhận ra nơi mình đang có mặt và ta nghĩ...
Ta nghĩ đến thời những trái chanh chín mọng. Đó là thời kỳ gió tháng Hai thổi quật gãy những cành lá cây dương xỉ trước khi khô héo hết vì không được chăm sóc. Lúc đó những trái chanh chín mọng tỏa hương sực nức cả chiếc sân cũ.
Gió từ những dãy núi tràn xuống vào những buổi sáng tháng Hai. Mây còn ở mãi tít trên ấy, chúng đang đợi thời tiết tốt để du chơi xuống các thung lũng dưới này. Do đó bầu trời hiện ra biêng biếc trong vắt và ánh sáng rơi xuống trò chơi của gió đang xoay tròn xoay tròn trên mặt đất, đang tung bụi, tung bụi mù mịt, và rung rinh rung rinh lay động những cành cam.
“Chích chích”, chim sẻ cười. Chúng mổ những tàu lá rung và “chích chích”, chúng cười; chúng để lại những chiếc lông vương lại trên những cành gai rồi đuổi theo những con bướm vàng và chúng cười “chích chích”. Đó là khung cảnh của thời kỳ ấy.
Đó là tháng Hai khi những dải núi đầy gió, đầy chim sẻ và chan hòa ánh sáng màu xanh. Ta nhớ rõ như thế.
Mẹ ta chết vào thời kỳ ấy.
Lẽ ra ta phải gào; lẽ ra hai bàn tay ta phải vỡ từng mảnh vì đã bóp quá chặt khi bà bỏ chúng ta để ra đi mãi mãi. Lẽ ra ta phải muốn mọi chuyện như thế. Nhưng thật ra buổi sáng ấy mới vui làm sao? Gió ùa vào cửa chính làm gãy những ngọn thường xuân. Ở bẹn ta lông tơ bắt đầu nhú mọc và hai tay ta bắt đầu run rẩy khi chạm phải ngực. Những con chim sẻ đùa giỡn. Trên những đồi nương phất phơ cờ hoa ngô. Ta mủi lòng vì bà đã không trở lại mà xem gió đùa giỡn trên những cây hoa lài, mà nhắm mắt lại trước ánh nắng chói chang buổi ban ngày. Nhưng làm sao lại phải khóc nhỉ?
Justina, vú em còn nhớ không? Vú em xếp ghế dọc theo hành lang để dân làng đến viếng mẹ có chỗ mà ngồi. Nhưng những chiếc ghế vẫn để trống không ai ngồi. Chỉ một mình mẹ nằm giữa những ngọn nến lung linh, gương mặt bà xanh xám và hàm răng trắng của bà hầu như lộ ra giữa hai làn môi thâm ngoét và nhăn nhúm bởi cái chết thâm tím. Đôi mày bà không động đậy và trái tim bà đứng im. Vú em và ta, hai đứa ta lầm rầm cầu kinh không dứt mặc dù bà không nghe. Mặc dầu chúng ta không nghe thấy gì, tất cả đều chìm đi trong tiếng gió thổi vù vù của đêm đen.
Vú em là bộ đồ đen cho mẹ, hồ bột cái cổ áo và cả cổ tay áo để tay mẹ trông như mới khi được chắp lại trước bộ ngực chết; đó là bộ ngực thân thương ta đã ngủ một thời và là nơi bà cho ta ăn và vỗ nhè nhẹ để ru ta ngủ ngon lành.
Không một ai tới viếng bà. Như vậy càng tốt hơn. Cái chết vốn không được chia sẻ như một điều tốt lành. Không ai lại đi tìm cái buồn làm gì.
Có tiếng gọi cửa. Vú em đi mở cửa.
- Vú em hãy ra đi, - ta bảo vú em. - Ta không nhìn rõ mặt người, nó nhòe nhoẹt thế nào ấy. Vú em hãy bảo họ đi đi. Có lẽ họ đến cầu kinh misa của Đức Giáo hoàng Gregory để xin tiền đấy mà? Bà cụ chẳng để lại đồng nào cả. Vú em hãy bảo họ như thế, Justina ạ! Chẳng lẽ bà cụ phải xuống luyện ngục nếu như không cầu những bài kinh ấy cho bà? Họ là ai mà có thể phán xét được bà cụ, Justina nhỉ? Vú em nghĩ rằng ta bị điên à? Thế chả sao cả.
Rồi những chiếc ghế của vú em vẫn để trống, không có ai ngồi, cho tới khi chúng ta cùng với những người đàn ông làm mướn, những người đổ mồ hôi dưới sức nặng của người dưng, những người làm thinh trước bất kỳ nỗi đau thương nào, đi chôn bà cụ. Họ lấp mồ bằng cát ướt. Họ từ từ hạ quan tài xuống huyệt với sự bình thản của nghề nghiệp. Cơn gió mát xua tan những mệt nhọc của họ. Đôi mắt họ lạnh lùng, xa lạ. Họ bảo rằng: “Tốn kém lắm đấy!”. Vú em trả tiền cho họ như ai đó mua một món hàng, thế thôi. Vú em cởi nút chiếc mùi xoa đẫm lệ của mình, cái mùi xoa đã được vắt kiệt nước để rồi lại vắt kiệt nước và giờ đây đang gói món tiền tang lễ...
Rồi khi bọn họ ra đi, vú em quỳ gối ở ngay phía đầu mộ, rồi hôn lên đất, và vú em cứ quỳ mãi ở đây tưởng chừng đất lún xuống thành một cái lỗ nếu như ta không báo với vú em rằng: “Justina, chúng mình về thôi. Mẹ chẳng còn ở đây nữa đâu. Mẹ đã đi đến thế giới bên kia rồi. Ở đây chỉ còn là một nấm mồ của người chết thôi”.
***
- Dorotea, có phải bà vừa nói tất cả những điều ấy không?
- Ai, ta hả. Ta vừa ngủ thiếp đi một lúc. Cháu vẫn hoảng sợ phải không?
- Cháu nghe thấy có ai nói. Một giọng nói của đàn bà. Cháu lại tưởng là bà nói kia đấy.
- Tiếng nói của đàn bà sao? Cháu lại tưởng là ta nói à? Có thể là cái bà hay nói lảm nhảm một mình đấy. Cái nhà bà trong ngôi mộ lớn kia. Đó là bà Susanita [10]. Bà ta được chôn ngay bên cạnh chúng ta đây. Có lẽ tại hơi ẩm đã đến với bà ta và do vậy bà ta đang trăn trở trong mộng mị đấy.
- Bà ta là ai vậy?
- Người vợ cuối cùng của Pedro Páramo đấy. Một số người bảo rằng bà ta điên, số khác thì bảo rằng không. Quả thật là bà ta nói lảm nhảm một mình từ khi còn sống.
- Có lẽ bà ta chết đã từ lâu lắm rồi phải không?
- Ừ, đúng thế! Đã lâu lắm rồi. Thế cháu nghe thấy bà ta nói gì nào?
- Bà ta nói về người mẹ đẻ ra mình.
- Nhưng bà ta làm gì có mẹ kia chứ.
- Thế mà bà ta nói về điều ấy đấy.
- ... Ô, hoặc giả khi bà ta đến đây ít ra là bà ta đã không mang mẹ mình đến. Nhưng hãy gượm tí nào. Giờ đây ta nhớ ra rồi: Bà ta sinh ra ở đây nhưng cả gia đình đã bỏ làng ra đi từ rất lâu. Mẹ bà ta chết vì bệnh ho lao. Đó là một bà rất lạ, luôn luôn đau ốm và chẳng hề đi thăm ai cả.
- Bà ta đã nói như thế đấy. Bà ta bảo rằng chẳng một ai đến viếng khi bà cụ mất.
- Nhưng bà ta nói về thời kỳ nào kia chứ? Rõ ràng là chẳng ai ở lại nhà bà ta chỉ đơn giản vì ai cũng sợ lây bệnh lao mà. Con mụ dở này có còn nhớ điều ấy không?
- Vâng, chính bà ta nói về điều ấy mà.
- Khi nào cháu lại nghe thấy thì bảo ta nhé, ta rất thích nghe điều bà ta nói.
- Bà nghe thấy không? Hình như bà ta sắp nói. Cháu nghe như tiếng thì thào.
- Không phải bà ta nói đâu. Tiếng thì thào đó từ rất xa, và từ một hướng khác đến đây đấy. Và đó là tiếng của đàn ông. Điều thường xảy ra đối với những người chết từ lâu rồi là khi hơi ẩm ướt tới với họ thì họ bắt đầu cựa quậy. Họ tỉnh dậy.
“Bầu trời thực là rộng mênh mông. Chúa ở cùng tôi đêm ấy. Nếu không như vậy thì thử hỏi ai đã biết điều từng xảy ra. Bởi vì lúc ấy trời đã tối rồi thì tôi sống lại”.
- Điều cháu nghe thấy đã rõ ràng lắm rồi phải không?
- Thưa bà, vâng ạ.
“Khắp người tôi toàn máu là máu. Và vào lúc tôi nhổm dậy, hai tay bì bõm khuấy trong máu thấm ướt tới tận những tảng đá. Đó là máu tôi. Những vũng máu. Nhưng tôi vẫn chưa chết. Tôi biết. Tôi biết rằng don Pedro Páramo không có ý định giết tôi. Ngài chỉ dọa thôi. Ngài muốn điều tra xem cách đây khoảng hai tháng tôi có mặt ở Vilmayo hay không. Đó là ngày lễ Thánh Cristóbal. Trong một đám cưới. Trong đám cưới nào? Trong ngày lễ Thánh Cristóbal nào? Tôi bì bõm lội trong chính máu mình và hỏi don Pedro, “Ở đám cưới nào thưa don Pedro? Không, không phải thế đâu don Pedro ạ, tôi không có mặt ở đấy đâu. Nếu như tôi có mặt ở đấy thì chẳng qua tôi chỉ ghé qua thôi. Nhưng hoàn toàn là ngẫu nhiên thôi...”. Ngài không có ý định giết tôi. Ngài làm tôi thành tàn tật - như các người thấy đấy - và xin lỗi phải nói ra, cụt mất một tay. Nhưng ngài không có ý định giết tôi. Người ta bảo rằng từ dạo ấy tôi bị lác mất một con mắt, vì sợ quá. Nhưng cũng từ đấy tôi trở thành người đàn ông đúng với tư chất đàn ông hơn. Đó là điều quá rõ ràng. Bầu trời quả thật là rộng mênh mông. Và không một ai nghi ngờ điều đó.”
- Ai vậy?
- Sao ta biết được. Một trong số rất nhiều những người đã bị giết đấy. Pedro Páramo đã gây ra vụ giết người đẫm máu ấy ngay sau khi người ta giết cha mình, mà trong vụ này theo như người ta nói, hầu như ngài đã kết liễu tất cả những ai đến dự đám cưới trong đó don Lucas Páramo sắm vai người cha danh dự. Điều đó dẫn đến việc don Lucas phải gánh chịu hậu quả, vì thật ra viên đạn nhắm vào chú rể cơ. Và vì chẳng bao giờ có thể xác định được địa điểm nơi viên đạn bay đến găm vào ông ấy nên Pedro Páramo đã giết sạch luôn. Đó là chuyện xảy ra ở ngọn đồi Vilmayo, là nơi có những trang trại mà giờ đây không còn lấy một dấu vết nào... Này này? Hãy nghe! Giờ đây có thể là bà ta nói đấy. Tai cháu dỏng hãy chú ý nghe nhé. Sau đó kể lại cho ta nghe điều bà ta nói nhé.
- Không nghe rõ gì cả, bà ạ. Dường như bà ta không nói mà chỉ than vãn thôi.
- Vậy thì than vãn về cái gì kia chứ?
- Ai mà biết được.
- Phải là than vãn về một chuyện gì đấy. Chẳng ai lại đi than vãn về một chuyện không đâu. Vậy cháu hãy chú ý mà nghe đi.
- Chỉ than vãn thôi và chẳng thấy nói gì hết. Có thể don Pedro Páramo đã làm cho bà ta đau khổ.
- Cháu đừng nghĩ thế. Ngài yêu thương bà ta mà. Ta dám nói chắc với cháu rằng chưa bao giờ ngài yêu thương người đàn bà nào như đã yêu thương bà ta. Người ta mang bà ta đến cho ngài khi bà này đã bị điên và chịu nhiều đau khổ. Ngài yêu bà ta lắm đến mức ngài để cả phần đời còn lại của mình mà mệt mỏi ngồi trên chiếc ghế mây nhìn theo con đường người ta đưa bà ra nghĩa địa. Ngài chẳng còn thích thú gì nữa. Ngài bỏ hoang ruộng đất của mình, sai đốt hết tất cả những đồ thiết dụng của mình. Một số người bảo rằng ngài đã quá mệt mỏi! Số khác thì bảo ngài bị vỡ mộng. Điều chắc chắn xảy ra có thể nhìn thấy được là ngài chẳng quan tâm đến ai, chỉ ngồi trên chiếc ghế mây ngoảnh mặt ra ngoài đăm chiêu nhìn con đường ra nghĩa địa.
Từ dạo ấy đất đai bị hoang hóa và cả điền trang giống như thể đống đổ nát. Thật là đau lòng khi nhìn thấy đất đai này bị đủ các loại bệnh dịch hoành hành vì không có người trông nom nó. Từ đằng ấy đến tận đây vắng hẳn bóng người; những người đàn ông đã ra đi tìm nơi khác làm ăn. Ta vẫn còn nhớ như in ngày đó Comala rộn rã tiếng chào từ biệt đến mức chúng ta cảm thấy việc đi từ biệt những người bỏ làng ra đi là một việc vui. Và họ ra đi với ý định sẽ trở về. Họ nhờ chúng ta trông nom đồ đạc và gia đình. Sau đó có một số người bảo gửi gia đình họ đi theo nhưng vẫn gửi lại đồ đạc, sau cùng dường như họ đã quên lãng, quên chúng ta và ngay cả đồ đạc của họ. Ta ở lại là vì ta chẳng biết đi đâu. Một số khác ở lại đợi cho tới khi don Pedro Páramo chết bởi vì theo như lời họ nói, ngài đã hứa cho họ quyền thừa kế những tài sản của ngài, rồi họ sống với niềm hy vọng ấy. Nhưng năm lại năm nối đuôi nhau qua đi mà ngài vẫn tiếp tục sống. Lúc nào cũng ở đấy, như một thằng bù nhìn đứng trước những đất đai của Media Luna.”
Rồi khi ngài sắp chết thì chiến tranh Cristeros [11] lan tới đây và quân đội lôi cuốn nốt số đàn ông ít ỏi còn lại trong làng. Đó là lúc ta bắt đầu chết đói và kể từ đó chẳng bao giờ ta chống chọi được nữa.
Tất cả đều vì những ý tưởng của don Pedro, vì những nỗi dày vò trong tâm hồn ngài. Tất cả chỉ vì ngài đã mất người vợ, cái bà Susanita ấy. Bây giờ cháu đã có thể mường tượng được ngài yêu thương bà ta như thế nào.
***
Fulgor Sedano là người bảo ngài:
- Thưa ông chủ, ông chủ có biết ai về lại đây không ạ?
- Ai?
- Bartolomé San Juan.
- Thế thì sao nào?
- Đó cũng là điều tôi đã tự hỏi mình. Ông ta về đây làm gì?
- Ông vẫn chưa tìm hiểu sao?
- Chưa ạ. Tôi phải báo với ông chủ trước đã. Và bởi vì ông ta không tìm nhà trọ. Ông ta đi thẳng đến nhà cũ của ngài. Tại đó ông ta xuống ngựa và đưa vali xuống cứ như thể ngài đã sẵn lòng cho ông ta thuê nhà. Chí ít ra thì tôi đã nhìn thấy cử chỉ đầy tin tưởng ấy của ông ta.
- Vậy thì lão đã làm gì hở Fulgor? Mà còn chưa đi tìm hiểu chuyện gì đang diễn ra ư? Chẳng phải ta chỉ dùng lão vào việc đó sao?
- Tôi thật lúng túng bởi việc vừa nói với ông chủ xong. Ngày mai, nếu ông chủ thấy cần thiết tôi sẽ làm rõ việc này.
- Việc của ngày mai để mặc ta. Ta sẽ lo liệu hết. Cả hai cùng đến chứ?
- Thưa vâng ạ, ông ta và bà vợ ông ta. Mà sao ngài biết được thế?
- Không phải là cô con gái ông ta hay sao?
- Cứ theo như cách cư xử của hai người thì tôi thấy người đàn bà là vợ ông ta.
- Thôi, đi mà ngủ đi, Fulgor!
- Nếu ông chủ cho phép ạ, tôi xin vâng lệnh ạ.
***
“Susana hỡi, suốt ba mươi năm nay anh đã đợi em trở về. - Pedro Páramo nói. - Anh đã đợi để có tất cả. Không chỉ một thứ mà tất cả mọi thứ người ta có thể tìm kiếm được để chúng ta không thiếu một thứ gì ngoại trừ em, ngoại trừ nỗi khao khát có em bên cạnh. Đã bao lần anh mời cụ hãy trở về sống ở đây, bằng cách anh bảo cụ là anh rất cần đến cụ? Anh đã làm kể cả sự lừa dối.
Anh đã mời cụ làm quản lý trưởng với mục đích để gặp lại em. Và ông cụ đã trả lời anh như thế nào? “Không có thư trả lời, - gã đưa thư luôn luôn bảo anh như vậy, - ngài Bartolomé đã xé toạc thư ngài khi con trao thư”. Nhưng qua miệng hắn anh được biết em đã lấy chồng và ngay sau đó lại góa bụa và một lần nữa em lại sống với ông cụ.”
Sau đó là im lặng.
“Gã đưa thư đi rồi về, đi rồi về, luôn luôn thưa với anh:
- Thưa don Pedro, con không gặp được họ ạ. Người ta bảo với con rằng họ đã đi khỏi Mascota. Người thì bảo họ đi theo ngả này; người thì bảo họ đi theo đường kia. Con chẳng biết đường nào mà lần.
Còn anh đã bảo hắn:
- Con đừng ngại phải tiêu tốn, con hãy gắng mà tìm cho được bọn họ. Ngay cả khi đất đã nuốt chửng bọn họ, con cũng phải tìm được chỗ ấy cho ta.
Cho đến một ngày hắn trở về nói với anh:
- Con đã sục sạo khắp vùng núi để tìm cho ra cái xó xỉnh don Bartolomé ẩn nấp, cho tới khi con gặp được họ. Ông ấy sống mai danh ẩn tích tại một hang núi, trong một túp lều gỗ, ngay ở khu mỏ La Andrómeda. La Andrómeda đã bị bỏ, không khai thác nữa.
Lúc ấy trong bầu không khí chính trị chung của đất nước đã nổi lên những luồng gió lạ. Người ta nói rằng đã có những người cầm vũ khí nổi dậy. Những tin đồn dồn dập bay tới đây. Đó chính là cơn gió đã thổi cha em về đây. Cụ trở về không vì cụ mà theo như cụ nói trong thư là để bảo đảm an toàn tính mạng cho em, cụ muốn mang em tới nơi an toàn.
Anh cảm thấy trời như mở ra. Anh có đủ nhiệt tình để mà chạy một mạch tới chỗ em, để mà quàng quanh em niềm vui khôn tả, để mà khóc, Susana ạ, anh đã khóc khi được biết em đã trở về với anh.”
***
- Có những làng biết là sẽ khổ. Chỉ cần hít thở một ít không khí già nua và tù đọng, nghèo nàn và mỏng manh như tất cả điều cổ xưa là đã nhận ra nó. Đày chính là một trong những làng như thế đấy, Susana ạ.
Ở đằng ấy, nơi chúng ta đến bây giờ, khác hẳn, chí ít ra con cũng sẽ vui lên khi nhìn thấy ngọn nguồn của các sự vật: trời mây, chim chóc và rong rêu, con có nhớ không nào? Ở đây thì khác hẳn, con chỉ cảm thấy không khí vàng vọt, chua như giấm mà dường như nó bao quanh khắp nơi khắp chốn. Đó là vì đây là một làng bất hạnh đã lún chìm trong nỗi bất hạnh.
Ông ta đã khẩn khoản mời chúng ta trở về. Ông ta cho chúng ta mượn nhà và cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần. Nhưng chúng ta không nên hàm ơn ông ta. Ở đây chúng ta là những kẻ bất hạnh vì chúng ta chẳng có gì để có thể mong thoát chết. Cha dự cảm thấy điều đó.
Con có biết Pedro Páramo tha thiết xin ta điều gì không? Ta cảm thấy những cái mà ông ta cho chúng ta không phải là của cho không. Và cha đã sẵn sàng chịu để cho ông ta bóc sống mình bởi vì chúng ta cần phải trả nợ ông ta dưới một hình thức nào đó chứ. Cha đã nói cặn kẽ với ông ta về những cái lợi của mỏ La Andrómeda và cha đã làm cho ông ta thấy rằng có thể khai thác được miễn là biết làm việc có phương pháp. Và con có biết ông ta đã trả lời cha thế nào không? “Tôi không quan tâm đến những lợi lộc mà khu mỏ của cụ mang lại cho tôi, cụ Bartolomé San Juan ạ. Cái duy nhất tôi muốn xin ở cụ là cô con gái. Đó chính là công việc tốt nhất của cụ đấy”.
Vậy là ông ta yêu con đấy, Susana ạ. Ông ta bảo rằng con đã cùng chơi với ông ta khi cả hai còn là trẻ thơ. Cha không biết việc này, chứ biết thì cha đã dùng dây thắt lưng đánh chết con rồi.
- Con không nghi ngờ điều đó.
- Chính con là người vừa nói con không nghi ngờ phải không?
- Vâng, con đã nói thế.
- Vậy là con đã sẵn sàng chung chăn chung gối với ông ta rồi phải không?
- Vâng, đúng thế đấy, Bartolomé ạ.
- Con không biết rằng ông ta đã là người có vợ, và hơn nữa còn có không biết bao nhiêu là phụ nữ hay sao?
- Đúng thế Bartolomé ạ.
- Thôi đi, đừng có gọi ta là Bartolomé trọn lỏn như vậy. Ta là cha mày!
Bartolomé San Juan là một thợ mỏ đã chết. Susana San Juan là con gái của một người thợ mỏ đã chết trong khu mỏ La Andrómeda. Ông ta nhìn thấy đường đi nước bước của mình một cách thật rõ ràng: “Mình cần đến đó để chết”, ông nghĩ. Sau đó ông nói:
- Ta đã bảo với ông ta rằng, con tuy là góa bụa nhưng vẫn tiếp tục sống với chồng mình, hoặc giả ít ra con muốn sống thờ chồng: Ta đã tìm cách thuyết phục để ông ta từ bỏ ý định nhưng ông ta cứ đảo nhỡn liên tục khi ta nói, rồi ngay khi tên con được dẫn ra trong lời nói của ta thì lập tức ông ta nhắm mắt lại. Ta không nghi ngờ gì, ông ta là một kẻ xấu xa tuyệt đối. Pedro Páramo là con người như thế đấy.
- Thế con là ai?
- Là con gái ta. Con ta. Là con gái của Bartolomé San Juan.
Trong tâm trí Susana San Juan, những ý nghĩ của cô bắt đầu vận động, lúc đầu còn thong thả, sau đó dừng lại để rồi cuối cùng vụt chạy rất nhanh cho tới mức cô chỉ còn kịp nói ra:
- Không đúng, không đúng.
- Thế giới này từ mọi hướng cứ riết chặt lấy chúng ta, cứ vốc từng vốc thịt xương của chúng ta tung ra khắp mọi miền, cứ nghiền nát chúng ta thành từng mẩu vụn như thể lấy máu chúng ta tưới cho thứ đất khô cằn này. Chúng ta đã làm gì nào? Vì sao tâm hồn chúng ta bị mục ruỗng? Mẹ con từng bảo rằng trừ khi lòng thương của Chúa còn lại với chúng ta thì tâm hồn chúng ta mới không bị mục ruỗng. Và con chối bỏ điều đó, Susana ạ. Và vì sao con lại từ chối ta là cha con? Con điên rồi sao?
- Cha chưa biết điều đó sao?
- Con điên rồi sao?
- Rõ là con đã điên, Bartolomé ạ. Cha vẫn chưa biết sao?
***
- Fulgor, lão có biết rằng nàng ấy là người đàn bà đẹp nhất đã sinh ra trên thế gian này không? Đã có lúc ta nghĩ rằng mình mãi mãi mất nàng rồi. Nhưng giờ đây ta không muốn mất nàng nữa. Lão có hiểu ta không, Fulgor? Lão nói với cha nàng rằng hãy tiếp tục đi khai quặng đi. Rồi ở đó... ta đã nghĩ việc làm mất tích ông già ở những vùng chẳng ai đặt chân tới bao giờ. Việc ấy quả là dễ dàng lắm, dễ dàng lắm. Lão có tin như vậy không?
- Có thể lắm.
- Chúng ta muốn sự việc phải như thế. Nàng cần phải là một đứa con mồ côi. Còn chúng ta buộc phải trông nom nàng. Lão có tin không?
- Bẩm, tôi không thấy việc này có khó khăn ạ.
- Vậy thì Fulgor, lão hãy làm đi, làm đi.
- Nhưng rồi cô ta biết việc thì sao?
- Ai sẽ nói với nàng? Nào, thử xem, giữa hai chúng ta đây, lão và ta, ai sẽ đi nói với nàng? Lão thử nói ta nghe nào.
- Tôi tin rằng không một ai.
- Thôi, lão hãy bỏ cái lối nói “tôi tin rằng” ấy đi. Ngay từ bây giờ, lão hãy bỏ nó đi và rồi lão sẽ thấy công việc tốt đẹp như thế nào. Lão hãy nhớ công việc ở mỏ La Andrómeda mà chúng ta giao cho ông già. Hãy sai ông già đến đấy tiếp tục công việc khai mỏ. Hãy bảo ông già đi đến đấy rồi về đây. Cụ không cần phải lo lắng cho con gái nữa. Chúng ta sẽ chăm nom nàng ở đây. Đằng ấy là công việc của ông già, còn ở đây là nhà của ông già nơi ông già đến để nhận nó. Lão hãy nói với ông già như thế, Fulgor ạ.
- Thưa ông chủ, tôi lại thích thú thấy ông chủ hành động như vậy, như thể tâm hồn ngài đang trẻ lại ấy.
***
Mưa rơi xuống những cánh đồng thuộc thung lũng Comala. Đó là một cơn mưa dầm dề, xa lạ với miền đất này vốn chỉ được biết những trận mưa rào. Hôm nay là ngày Chủ nhật. Những người đàn ông Anh-điêng từ vùng núi Apango mang theo những xâu manzanilla [12], những bó lá hương thảo và những bó rau xạ hương, sản vật của quê họ tới chợ phiên Comala. Họ không mang theo củi ngo vì chúng đã ướt sũng nước mưa. Cùng với những mớ rau và bó lá của mình, bọn họ ngồi trên sàn, dưới mái vòm hàng hiên nhà thờ lớn đợi khách đến mua hàng.
Mưa vẫn rơi, vẫn rơi trên những vũng nước.
Nước chảy như suối giữa những luống ngô. Hôm nay những người đàn ông làng này không đi chợ, họ bận đi khơi rãnh cho nước thoát nhanh để khỏi cuốn theo ngô non mới mọc. Họ đi thành từng nhóm, dùng xẻng phá đi những con bờ ngăn nước, lấy tay đỡ dậy những cây ngô đổ, ráng sức làm việc để cho ngô non phát triển tốt hơn. Họ lội trong bùn non, đi trong mưa rơi.
Những người đàn ông Anh-điêng ngồi đợi. Họ cảm thấy hôm nay là ngày xấu. Có lẽ vì thế mà người họ run rẩy bên trong chiếc áo tơi làm bằng rơm đã ướt sũng nước. Họ run không phải vì trời rét mà vì sợ hãi. Họ ngước mắt nhìn mưa rơi dầm dề và bầu trời đen kịt mây mưa.
Không ai đến chợ. Làng như thể không một bóng người đi lại. Một bà đã hỏi họ mua chỉ thêu và ít đường ăn và nếu có thì một cái rây để lọc bột ngô. Áo tơi ngâm nước ngày càng trĩu nặng trên vai họ khi buổi trưa xích tới gần. Họ tranh cãi, họ kể chuyện tiếu lâm rồi phá lên cười. Họ nghĩ, “giá như mang theo rượu pulque [13] thì chẳng có gì phải lo. Nhưng chồi cây thùa đã rữa thành nước. Cuối cùng còn làm thế nào để cất rượu pulque nữa?”.
Theo con đường từ Media Luna đổ tới mà hai bên nó những mái hiên ròng ròng trút nước xuống, Justina Díaz đội ô đi đến chợ. Bà làm dấu thánh rồi tiếp tục đi qua cửa nhà thờ lớn. Bà bước vào hiên nhà. Những người đàn ông Anh-điêng nhìn bà. Bà thấy những cái nhìn đó như đang tạc hình mình. Bà đứng lại ngay ở bậc thềm thứ nhất, mua mười xu lá hương thảo rồi quay trở về. Những người đàn ông Anh-điêng vẫn chằm chằm nhìn theo bà.
- Trời ơi sao mà đắt đỏ thế không biết, - bà Justina nói vào lúc bà bước vào con đường trở về điền trang Media Luna. - Mấy cái lá chết tiệt này mà hết những mười xu. Bấy nhiêu thì chẳng đủ xông mùi.
Vào lúc trời tối, những người Anh-điêng thu dọn hàng quán. Họ khom lưng bước vào trời mưa, rồi đi qua nhà thờ lạy chào Đức Mẹ Đồng trinh và để lại ở đó ít lá xạ hương làm của bố thí. Sau đó họ đứng thẳng đi về làng Apango của mình. “Ở đằng ấy bây giờ đã là ngày mới rồi”, bọn họ nói. Dọc đường đi họ lại kể chuyện tiếu lâm và phá lên cười vui vẻ.
Justina Díaz bước vào phòng ngủ của Susana San Juan và đặt mớ lá hương thảo lên giá. Những tấm rèm khép kín ngăn không cho ánh sáng lọt vào. Vậy là trong không gian tối mò ấy chỉ nhìn thấy những chiếc bóng mờ và phải dò đoán. Bà đoán rằng Susana San Juan đã ngủ - bà này lúc nào cũng chỉ thích ngủ. - Bà cảm thấy như vậy và bà vui vui trong lòng. Nhưng ngay lúc ấy, bà cảm thấy có một tiếng thở dài nghe xa xăm, dường như nó được phát ra từ một xó xỉnh nào đó trong căn buồng tối om om ấy.
- Justina này! - Người ta gọi bà.
Bà quay đầu lại. Không nhìn thấy ai nhưng bà cảm thấy có một bàn tay đặt lên vai mình và tiếng thở ngay bên tai mình. Người ấy thầm thì nói với bà: “Hãy đi đi, Justina! Hãy thu xếp đồ đạc và hãy đi đi. Chúng ta không cần nhờ vả bà nữa”.
- Nhưng bà ấy lại cần con, - trong lúc đứng thẳng người dậy bà nói. - Bà ấy ốm và cần được chăm sóc ạ.
- Bây giờ không cần nữa rồi. Ta sẽ ở lại đây để chăm sóc nó rồi.
- Có phải ngài là don Bartolomé không? - Bà cũng chẳng đợi lời đáp của người kia, kêu lên một tiếng thất thanh. Tiếng kêu đau thương này vọng xuống tận tai những người đàn ông và đàn bà đang từ ngoài đồng trở về và nó khiến họ phải nhận xét: “Giống như tiếng người kêu nhưng lại không giống tiếng kêu của một ai cả”.
Tiếng mưa rơi dìm tắt tiếng người chuyện trò. Tiếng mưa rơi vẫn nổi lên trên hết, đều đều từng giọt từng giọt một, se thêm chắc cái sợi chỉ cuộc đời.
- Sao thế hở Justina? Vì sao lại gào lên thế? - Susana San Juan hỏi.
- Susana, tôi có gào đâu. Có lẽ bà đang nằm mộng thì có.
- Ta đã bảo với vú em rằng ta không nằm mơ bao giờ mà vú em chẳng coi lời ta ra làm sao nữa. Ta bị mất ngủ nặng mà. Đêm qua vú em không đuổi con mèo ra ngoài phòng nên ta đã mất ngủ cả đêm.
- Nó ngủ với tôi, ngay trong lòng tôi mà, nó bị ướt sũng, vì thương nó nên tôi đã để nó ngủ trên giường tôi và nó không hề gây tiếng động.
- Không phải thế. Đúng là nó không gây tiếng động. Nó chỉ có làm trò mà nhảy từ chân lên đầu ta và kêu nho nhỏ như thể nó đang đói.
- Tôi đã cho nó ăn no và cả đêm nó nằm bên tôi. Lại một lần nữa bà nằm mộng đấy, Susana ạ.
- Ta nói với vú em rằng cả đêm qua nó làm ta giật mình vì những cú nhảy của nó đấy. Mặc dù con mèo của vú em rất tình cảm nhưng ta không muốn có nó khi ta ngủ.
- Bà chỉ thấy những ảo ảnh thôi, Susana ạ. Đó chính là điều đã xảy ra. Khi nào Pedro Páramo đến tôi sẽ nói với ngài rằng tôi không chăm nom bà nữa. Tôi sẽ nói rằng tôi đi. Không thiếu người tốt chăm sóc bà. Không phải ai cũng làm nũng như bà và sống bằng cách quấy rầy người khác như bà. Ngày mai, tôi đi và tôi sẽ mang theo con mèo đi, rồi bà sẽ được ở yên mà.
- Không được đi đâu hết, Justina ranh mãnh và đáng trách ạ. Vú em sẽ không đi đâu hết bởi chẳng bao giờ sẽ gặp được người yêu vú em như ta đâu.
- Không, tôi sẽ không đi đâu hết. Tôi sẽ không đi mà. Bà đã hiểu rõ rằng tôi ở đây là để chăm nom bà. Dù bà có bảo người ta đuổi tôi đi cũng không quan trọng, tôi sẽ ở lại để chăm nom bà.
Bà đã chăm sóc Susana từ khi nàng chào đời. Bà đã ôm ẵm nàng trong vòng hai cánh tay. Bà đã dạy nàng để cho nàng đi những bước chân chập chững buổi ban đầu mà bà cứ tưởng là những bước đi vĩnh viễn. Bà đã nhìn thấy miệng nàng và mắt nàng lớn lên ngọt ngào như kẹo đường. “Kẹo bạc hà màu xanh. Vàng và xanh. Xanh lá và xanh da trời. Sự hòa lẫn giữa bạc hà và húng lủi”. Bà cắn chân nàng, bà cho nàng nghịch bộ ngực mình, bộ ngực teo tóp chẳng có gì, giống như một thứ đồ chơi. “Hãy đùa đi nào, - bà nói, - hãy đùa với cái đồ chơi của cô đây này”. Bà ôm siết như thể làm nàng tan chảy được.
Bên ngoài mưa vẫn rơi trên những tàu lá chuối, trên những vũng nước như thể nước sôi lào rào trên nước.
Những chiếc ga trải giường lạnh hơi ẩm. Mưa vẫn nhỏ giọt tí tách, làm ngầu bọt. Mưa mệt mỏi rơi suốt ngày, suốt đêm và lại suốt ngày. Nước cứ cuộn chảy, cứ dâng lên trong những chiếc bong bóng không biết ngừng nghỉ.
***
Đã nửa đêm, và bên ngoài tiếng nước tí tách và rì rầm dìm tắt mọi tiếng động khác.
Susana San Juan từ từ nhổm dậy. Nàng chậm chạp vươn mình rồi đứng dậy đi ra khỏi giường nằm. Ở đây, lại một lần nữa có bóng người sờ chân nàng. Sờ quanh người nàng rồi cuối cùng định sờ mặt nàng.
- Có phải cha đấy không, Bartolomé? - Nàng hỏi.
Dường như nàng nghe thấy tiếng kẹt cửa, như thể có người vào rồi lại đi ra. Sau đó chỉ có mưa, mưa dai dẳng, lạnh lẽo, vây lấy những tàu lá chuối, sôi réo trong sự trào sôi của mưa.
Trong buổi mai màu tím của một ngày mới, nàng ngủ và chỉ thức dậy khi ánh nắng chiếu sáng những viên gạch hồng, thấm mưa đêm... Nàng gào:
- Justina!
Ngay lập tức Justina xuất hiện, như thể bà đã có mặt ở đây từ bao giờ, cuộn người trong một chiếc khăn quàng.
- Bà muốn gì nào, Susana?
- Con mèo. Lại một con nữa nó đến đây.
- Khổ thân bà quá đi mất, Susana ạ.
Nàng dựa vào ngực bà, ôm lấy bà cho tới khi nàng ngẩng mặt lên và hỏi:
- Sao vú em khóc? Ta sẽ bảo với Pedro Páramo rằng vú em rất tốt đối với ta mà. Ta sẽ không kể chuyện con mèo của vú em làm ta giật mình. Vú em đừng buồn như thế, Justina.
- Cha bà đã chết rồi, Susana ạ. Ông ấy chết đêm qua và hôm nay người ta đến đây bảo rằng chẳng có cách nào cứu được ông, rằng người ta đã chôn ông cụ ở khu mỏ rồi, rằng không thể nào mang được thi hài ông cụ về đây vì đường sá xa xôi quá. Bây giờ bà ở một mình, Susana ạ.
- Vậy là Bartolomé, - nàng cười. - Cha đã về từ biệt con, - nàng nói rồi cười.
***
Rất nhiều năm trước đó khi nàng còn là một đứa trẻ, Bartolomé bảo nàng:
- Xuống đi, Susana! Hãy nói cho cha biết cái con nhìn thấy nhé.
Cô đang được một sợi thừng buộc chặt làm đau nơi thắt lưng và hai tay cô không chịu rời nó mặc dù đã rớm máu. Sợi thừng như sợi chỉ duy nhất nối cô với thế giới bên ngoài.
- Con không nhìn thấy gì, cha ạ.
- Hãy nhìn cho tinh vào, Susana. Cố tìm cho ra nó.
Và ông rọi đèn pin cho cô.
- Con chẳng nhìn thấy gì hết cha ạ.
- Cha sẽ rong con xuống sâu nữa và hãy báo cho cha biết khi con đã xuống đến sàn nhé.
Cô đã chui vào một cái hang mở ra giữa những tấm ván lát. Cô đã đi trên những tấm ván mục, cũ kỹ, bập bênh và đầy đất bột.
- Hãy xuống sâu hơn nữa và con sẽ gặp được cái vật cha đã nói với con.
Rồi cô bước xuống, bước xuống trong cảm giác quay cuồng choáng ngợp sâu trong lòng đất, với những bước chân chệnh choạng không tìm được nơi đặt chân vào.
- Xuống nữa đi, Susana, xuống nữa đi. Hãy nói cho cha biết khi con bắt gặp một vật gì đó.
Và khi cô đã đứng vững trên nền đất, cô đứng yên ở đó, không nói năng vì nỗi sợ hãi choán hết tâm hồn cô. Ánh đèn pin cứ xoay tròn và ánh sáng đó đi cùng cô. Rồi tiếng thét từ phía trên làm cô rùng mình:
- Hãy nói cho cha biết con đã thấy gì ở đấy nào, Susana.
Hai tay cô ôm lấy cái đầu lâu và khi ánh sáng ngọn đèn pin rọi sáng chỗ cô, thế là cô vội vất nó xuống:
- Một cái đầu lâu, - cô nói.
- Con có thể còn tìm thấy những vật khác bên cạnh nó và đưa cho cha những gì con đã thấy nhé.
Tử thi vỡ ra từng mảng khi tay cô đụng vào. Xương sườn tơi ra như thể được nặn từ đường. Cô chuyền lên cho ông từng mẩu, từng mẩu xương một cho đến tận các đốt xương ngón chân. Đầu tiên là cái đầu lâu sói tựa như quả bóng tròn bị vỡ tung khi tay cô chạm phải.
- Hãy tìm những thứ khác đi, Susana. Tiền ấy, những đồng tiền tròn như những bánh xe, chúng bằng vàng. Hãy tìm chúng đi Susana.
Thế là lúc ấy cô chẳng còn biết đến mình là ai. Rất nhiều ngày sau cô tỉnh dậy trong nỗi giá lạnh của băng giá, cái băng giá trong con mắt của cha cô.
Vì thế mà giờ đây nàng cười:
- Con biết ngay là cha mà, Bartolomé ạ.
Và bà già khốn khổ Justina, mà lúc này đang gục đầu khóc trên ngực nàng đã phải ngẩng mặt lên nhìn nàng cười, và nụ cười của nàng ngay lập tức biến thành một tràng cười ròn rã.
Bên ngoài trời vẫn mưa. Những người đàn ông Anh-điêng đã ra đi. Đó là ngày thứ Hai và thung lũng Comala vẫn chìm đi trong mưa rơi.
***
Gió vẫn thổi trong những ngày ấy. Đó là những cơn gió đã mang mưa tới đây. Mưa đã đi nhưng gió vẫn ở lại. Ở đằng ấy, trên những cánh đồng, ngô non trải rộng lá, cúi rạp xuống luống để tránh gió. Ban ngày gió thổi thật là mạnh uốn cong cây cỏ và gầm rít trên những mái ngói. Ban đêm yếu đi, nó thều thào rên rỉ, rên rỉ. Những áng mây xốp lặng lẽ bay trên bầu trời, chúng bay là là như thể hôn lên mặt đất.
Susana San Juan nghe tiếng gió đập vào cửa sổ đã khép lại. Nàng nằm hai tay kê dưới đầu để mà suy nghĩ, để mà nghe ngóng những tiếng động trong đêm yên tĩnh và nàng cảm thấy những chập gió giật đã kéo đêm đến rồi lại kéo nó đi. Sau đó đột nhiên mọi thứ dừng lại.
Cửa đã được mở. Một làn gió mạnh ùa vào nhà thổi tắt ngọn đèn. Nàng chỉ còn thấy bóng tối và thế là nàng ngừng mọi suy tư. Nàng cảm thấy những tiếng động loạt soạt. Ngay lập tức nàng nghe rõ tiếng đập thình thịch loạn xạ của con tim mình. Qua bờ mi khép lại nàng nhìn thấy ngọn lửa hồng tỏa sáng.
Nàng không mở mắt. Tóc xõa xuống mặt nàng. Ánh sáng đốt nóng từng giọt mồ hôi trên môi nàng. Nàng hỏi:
- Có phải cha đấy không?
- Phải, cha đây, con gái ta ạ.
Nàng hé mở đôi mắt. Qua làn tóc mình nàng nhìn thấy một chiếc bóng in hình lên trần nhà và đầu nó đang cúi xuống mặt nàng. Và chiếc bóng mờ ảo ấy thành hình ở ngay trước hàng mi rợp ẩm ướt của nàng. Một thứ ánh sáng huyền ảo, một thứ ánh sáng ở ngay trong trái tim, trong hình thù con tim nhỏ bé đang rộn ràng đập thình thình như một ngọn lửa bập bùng cháy. “Cha đã chết vì nỗi đau trong lòng mình, - nàng nghĩ. - Con đã biết rằng cha đến để kể chuyện Florencio chết; nhưng điều ấy con đã biết rồi. Cha chẳng nên bận tâm vì những người khác. Cha cũng đừng lo cho con. Con mãi mãi giữ lấy nỗi đau thương của mình. Cha đừng để cho trái tim mình nguội lạnh”.
Nàng nhổm dậy, cố lê tấm thân đến gần cha Rentería.
- Hãy để cha an ủi con bằng chính nỗi bất hạnh của cha, - cha nói, hai bàn tay che ngọn nến đang cháy sáng.
Cha Rentería để nàng xích lại gần mình rồi nàng úp hai tay quanh ngọn nến, và ghé sát mặt vào ngọn lửa cho đến khi mùi thịt cháy khét lẹt buộc cha phải vẫy vẫy cây đèn nến, tắt phụt nó đi. Thế là bóng đêm lại ập đến và nàng vội chạy về giường để ẩn dưới những tấm vải trải giường. Cha Rentería bảo nàng:
- Cha đến để an ủi con, con gái ta ạ.
- Vậy thì, xin chào cha, - nàng trả lời. - Cha đừng trở lại nữa. Con không cần cha.
Rồi nàng nghe rõ những bước chân đã đi xa, xa dần, những bước chân từng gây cho nàng cảm giác lạnh lẽo, sợ hãi đến phát run lên:
- Cha đến để làm gì kia chứ một khi cha đã chết rồi!
Cha Rentería khép cửa lại rồi bước vào đêm đen đầy gió.
Gió vẫn thổi liên hồi.
***
Một người đàn ông được mệnh danh là
Kẻ nói lắp [14] đã tới Media Luna và hỏi thăm Pedro Páramo.
- Ông tìm ngài có việc gì?
- Tôi muốn nói chuyện
với với ngài.
- Ngài đi vắng rồi.
- Khi khi nào ngài trở về thì hãy bẩm với ngài rằng tôi
thay thay mặt don Fulgor đã tới đây.
- Tôi sẽ đi tìm ngài, nhưng xin ông hãy đợi cho một lát.
- Hãy bẩm với ngài đây là chuyện khẩn cấp đấy.
- Được, tôi sẽ nói.
Người đàn ông được mệnh danh là
Kẻ nói lắp ngồi nguyên trên yên ngựa để đợi. Được một lúc, Pedro Páramo, người mà ông ta chưa hề gặp, đã đứng ngay trước mặt ông ta.
- Anh kia, anh đến báo chuyện gì đấy.
- Tôi muốn thưa chuyện trực tiếp với don Pedro Páramo, ông chủ kia.
- Chính ta đây, anh muốn gì, nói.
- Vậy thưa ông chủ chẳng có chuyện gì ngoài chuyện này ạ. Người ta đã giết don Fulgor Sedano rồi. Con đi cùng ông ta. Chúng con đi về phía những
bờ bờ mương bị rò nước để xem xem vì sao nước về đây ít thế. Chúng con đang đi
thì thì nhìn thấy một đám đàn ông
bỗng bỗng nhảy ra chận đường
chúng chúng con ạ. Trong cái đám đông hỗn độn ấy con nghe rõ có
tiếng tiếng nói: “Tôi biết mặt gã kia. Gã là quản lý trưởng
ở ở điền trang Media Luna đấy”.
Bọn họ không
để để ý đến con. Nhưng lại
để để ý đến don Pulgor và ra lệnh
cho cho don phải xuống ngựa. Bọn họ nói rằng bọn họ là những người cách mạng: rằng họ đến đây là vì vấn đề ruộng đất của ngài. “Hãy vắt chân lên cổ mà chạy, - bọn họ ra lệnh cho don Fulgor. - Hãy đi đi và hãy nói với chủ mày rằng chúng ta đang đợi ông ta ở đây nghe chưa!”. Ông ta lấy sức chạy,
sợ sợ chết khiếp. Nhưng ông ta
chạy chạy không được nhanh
vì vì ông ta béo ịch. Thế là họ đã giết khi ông ta đang chạy. Ông ta chết trong tư thế đang chạy, một chân hất lên, chân kia đi xuống đất.
Thế là con đứng yên không dám nhúc nhích. Con đợi cho đến khi trời tối và bây giờ con có mặt ở đây để báo cho ông chủ chuyện
xảy xảy ra ở đằng ấy ạ!
- Thế anh còn đợi gì nữa nào? Vì sao anh không hoạt động lên? Anh hãy đi đến đằng ấy và bảo bọn họ rằng ta ở đây để đợi họ thỏa mãn mọi yêu cầu của họ. Bảo họ hãy đến đây mà thảo luận với ta. Nhưng trước khi đi đến đằng ấy anh hãy đảo qua đồn điền La Consagración. Anh có quen cái anh chàng tên gọi là
Tilcuate [15] không đấy? Anh ta ở đấy. Hãy đi tìm anh ta và bảo rằng ta cần gặp anh ta ngay. Và hãy nói với những người lạ mặt kia rằng hãy đến đây khi họ có thời gian nghe chưa? Bọn họ thuộc phái cách mạng nào?
- Bẩm ông chủ, con
không không biết ạ. Bọn họ chỉ bảo rằng bọn họ
là là những người cách mạng.
- Hãy nói với
Tilcuate rằng ta cần gặp anh ta lắm đấy, nghe chưa!
- Thưa ông chủ, con sẽ nói ạ.
Pedro Páramo lại đóng cửa văn phòng ở yên trong đó. Ngài cảm thấy mình già nua và chán nản. Ngài không bận lòng tới Fulgor, dù sao lão đã ngấp nghé thuộc về thế giới bên kia rồi. Lão đã cống hiến tất cả sức lực của lão cho những công việc đã qua. Lão là một người tận tụy đấy nhưng trong công việc sắp tới đây phải có người khác mới làm được. “Chỉ
Tilcuate mới đương đầu nổi với những con người được gọi là cách mạng này”, ngài nghĩ.
Ngài nghĩ nhiều hơn về Susana San Juan, người đàn bà lúc nào cũng chỉ ở trong phòng đóng kín để mà ngủ, còn khi không ngủ, thì dường như đang ngủ. Đêm qua ngài đứng suốt đêm, lưng tựa vào tường để mà qua ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn nến chong suốt đêm mà ngắm cơ thể Susana đang cựa quậy, mà ngắm gương mặt nàng lấm tấm mồ hôi hột, và nghe đôi bàn tay nàng giật giật những tấm vải trải giường và bóp bẹp chiếc gối cho đến mệt lử rồi ngất lịm đi.
Kể từ khi mang nàng về sống ở đây, ngài chưa biết tới những đêm ngủ bên cạnh nàng mà chỉ biết tới những đêm như đêm ấy, đau thương và lo lắng khôn nguôi. Rồi ngài tự hỏi không biết đến khi nào thì kết thúc được cái cảnh khổ não này.
Ngài hy vọng sẽ không quá lâu. Những lúc như thế không thể kéo dài được lâu và không có kỷ niệm nào dù cho có sâu sắc đến đâu đi nữa cũng không thể không bị xóa nhòa ngay.
Dường như ngài không biết cái gì đã làm cho nàng đau điếng trong lòng, làm cho nàng không ngủ được, những thứ đó hầu như đã phá hủy thân xác nàng đến mức nàng trở nên vô dụng.
Ngài tin rằng mình hiểu biết nàng. Và mặc dù nếu không như vậy thì điều đó vẫn đủ để nàng là người đáng yêu nhất đời đối với ngài. Ngoài ra, điều này mới quan trọng hơn: Hình ảnh đẹp của nàng sẽ làm cho ngài kiêu hãnh đi trong cuộc đời, hình ảnh của nàng sẽ xóa nhòa hết những kỷ niệm khác.
Nhưng thế giới của Susana là gì? Đó chính là điều mà Pedro Páramo không bao giờ biết được.
***
“Thân thể ta khoan khoái khi tiếp xúc với hơi nóng trên cát. Ta nhắm mắt lại, dang rộng hai cánh tay, và hai chân đón gió nhẹ từ biển thổi vào. Biển ở đằng trước mặt, xa vời, hầu như không để dấu vết của bọt khi táp sóng lên bãi cát”.
- Juan Preciado, đó là tiếng nói của bà ta đấy. Cháu đừng quên nói lại cho ta nghe điều bà ta nói đấy nhé.
“Trời hãy còn sớm. Theo làn sóng, biển dâng lên rồi tụt xuống. Nó dâng lên tung bọt trắng xóa, nhưng khi rút đi, theo những làn sóng lặng lẽ, nó kéo theo nước xanh trong vắt.
- Em chỉ tắm truồng dưới biển thôi, ta nói với anh. Anh kèm ta suốt ngày đầu, cũng tắm truồng như ta, và khi lên khỏi biển người rực ánh sáng lân tinh. Lúc này biển không có lấy một bóng chim hải âu, chỉ có những con chim
mỏ xấu thôi. Những con chim này khi kêu chúng kêu như người ngáy khò khò và khi mặt trời ló dạng thì chúng cũng biến luôn. Anh theo ta suốt ngày đầu, nhưng lúc nào anh cũng thấy cô đơn mặc dù luôn ở bên ta.
- Em giống như con chim
mỏ xấu ấy, lại thêm một con nữa trong số những con chim ấy. - Anh bảo ta thế. - Về ban đêm em khiến anh thú hơn cả. Khi trong bóng tối chúng ta cùng gối chung một gối, cùng đắp chung một chăn.
Rồi anh bỏ đi.
Ta trở lại với biển. Ta luôn luôn trở lại. Biển làm ướt mắt cá chân ta rồi lại rút xa xa. Rồi biển làm ướt hai đầu gối ta, hai bẹn ta. Biển với đôi cánh tay mềm mại, ôm lấy thắt lưng ta, rồi quàng tay ngang ngực ta, rồi ôm lấy cổ ta và cuối cùng ôm chặt lấy hai vai ta. Ta hiến thân trọn vẹn cho biển trong hơi thở cường tráng của nó, trong sức mạnh dịu dàng của nó.
- Em thích tắm biển, - ta nói với anh.
- Nhưng anh không hiểu điều đó.
Rồi một ngày khác ta lại ra biển. Dấn thân mình trong những làn sóng của nó, ta lại tắm cho người ta sạch bong.
***
Chiều tỏa nắng vàng. Những người đàn ông xuất hiện. Họ đến mang theo súng carbine, vai quàng những băng đạn. Bọn họ có khoảng hai chục người. Pedro Páramo mời họ ăn tối. Không thèm bỏ mũ, họ ngồi vào ăn, lặng lẽ đợi. Chỉ nghe thấy tiếng sì sụp húp sô-cô-la khi người nhà mang đến cho họ sô-cô-la, và tiếng nhai chóp chép khi người nhà mang đến cho họ bánh đa ngô và đậu.
Pedro Páramo nhìn họ. Ngài không thấy có gương mặt nào quen biết. Ngay sau ngài một ít, đứng trong bóng tối, là
Tilcuate.
- Thưa các ngài, - ngài nói khi nhìn thấy bọn họ ăn xong, - tôi có thể thù tiếp các ngài gì nữa ạ?
- Ông là chủ của điền trang này phải không? - Một người đang lấy tay phe phẩy hỏi ngài. Nhưng người khác vội cắt ngang lời ông ta:
- Ở đây ta là người nói thay cho tất cả.
- Tốt lắm. Tôi có thể giúp gì được các ngài? - Pedro Páramo lại hỏi.
- Như ông đã thấy đấy, chúng ta đã nổi dậy cầm vũ khí.
- Và?
- Và như thế là tất cả những điều ta cần nói. Ông thấy vẫn chưa đủ sao?
- Nhưng mà vì sao các ngài lại nổi dậy?
- Là bởi vì những người khác cũng đã cầm súng đứng dậy. Ông không biết sao? Hãy đợi cho đến khi nào có các chỉ thị và lúc đó chúng ta sẽ nói rõ nguyên nhân cho ông nghe. Vào lúc này thì chúng ta có mặt ở đây thôi.
- Tôi biết rõ nguyên nhân, - người khác nói, - nếu ông muốn biết thì ông sẽ nghe đây. Chúng ta đứng dậy để chống lại chính phủ và chống lại các ông bởi vì chúng ta không thể chịu đựng thêm nữa ách áp bức của các ông. Chống lại chính phủ vì đó là bọn người hèn mạt và chống lại các ông là vì các ông chỉ là một lũ giun ăn bám và một lũ chuột đục khoét. Đối với chính phủ tôi chẳng cần phải nói gì vì chúng tôi sẽ dùng đạn để nói cái điều chúng tôi cần nói và muốn nói.
- Các ngài cần bao nhiêu tiền để tiến hành cuộc cách mạng của mình? - Pedro Páramo hỏi. - Có lẽ tôi có thể giúp được các ngài đấy.
- Ngài đây nói phải đấy, ông bạn Perseverancio ạ. Ông bạn không cần phải mở miệng. Chúng ta đang cần tìm một người giàu có để giúp đỡ mình thì may quá lại gặp được ngài đây. Casildo, anh bạn thử nói xem chúng ta cần độ bao nhiêu tiền nhỉ?
- Hãy cho chúng ta bao nhiêu cũng được, tùy hảo tâm của ngài thôi.
- Thôi đi, cứ như thế thì chẳng lấy được gì đâu. Tốt hơn hết là phải tranh thủ lúc chúng ta có mặt ở đây để buộc ông phải nộp cho chúng ta ngay đến cả ngô bột dành để vỗ béo lợn.
- Hãy yên nào, Perseverancio. Lạt mềm buộc chặt, lời lẽ thân ái bao giờ cũng tốt hơn. Chúng ta hãy cùng thảo luận để đi đến thống nhất. Nào Casildo, anh hãy nói xem chúng ta cần bao nhiêu?
- Ở đằng ấy tôi đã tính rồi. Chúng ta cần khoảng hai mươi nghìn cho công việc ở lúc khởi đầu. Như vậy cũng gọi là tàm tạm thôi ạ. Các anh thấy thế nào? Hoặc giả biết đâu bấy nhiêu tiền thấm tháp gì đối với ngài đây. Ngài sẽ cho là ít chăng nếu như ngài sẵn lòng giúp đỡ chúng ta. Vậy thì chúng ta đặt con số năm mươi nghìn nhé. Các anh có đồng ý không nào?
- Tôi sẽ ủng hộ các ngài một trăm nghìn peso đấy, - Pedro Páramo nói với họ. - Các ngài có cả thảy bao nhiêu người?
- Ba trăm người.
- Tốt. Tôi sẽ cho các ngài mượn ba trăm người nữa để các ngài tăng thêm lực lượng của mình. Chỉ trong vòng một tuần thôi, các ngài sẽ có người và tiền. Tiền thì ủng hộ các ngài, người thì cho các ngài mượn. Khi nào các ngài không cần đến nữa xin trả lại cho tôi. Các ngài bằng lòng chứ?
- Sao lại không?
- Vậy thì xin hẹn gặp lại các ngài sau tám ngày nữa. Tôi rất hài lòng được làm quen với các ngài.
- Được, - người đi ra cuối cùng nói, - ngài hãy nhớ cho rằng nếu không thực hiện những lời đã hứa với chúng tôi thì hẳn ngài sẽ được nghe nói tới tên Perseverancio, đó là tên tôi.
Pedro Páramo bắt tay ông ta để từ biệt.
***
- Anh nghĩ ai sẽ là người chỉ huy bọn người này, -ngài hỏi người được mệnh danh là
Tilcucite.
- Cái gã rậm râu ngồi ở giữa bàn, không hề ngước mắt nhìn lên trong suốt buổi thảo luận, đã làm con phải chú ý. Con cảm thấy hắn là... Rất ít khi con nhầm, thưa don Pedro.
- Không phải đâu Damasio ạ. Người chỉ huy chính là anh. Hay là anh không muốn trà trộn vào đám người này thì bảo!
- Thưa ông chủ, con chỉ sợ muộn mất thôi ạ. Như ông chủ đã biết rồi đấy, con chúa thích ẩu đả ạ.
- Vì là anh đã tận mắt nhìn thấy chúng ta bàn về việc gì rồi cho nên cũng chẳng cần phải chỉ bảo anh thêm nữa. Anh hãy tập hợp đủ số ba trăm thanh niên, những người tin cậy của anh, rồi đem họ đến nhập vào đám nổi loạn. Hãy bảo với bọn họ rằng anh mang đến cho họ đủ số ba trăm người mà ta đã hứa cho mượn. Những việc còn lại anh đã biết phải hành động như thế nào rồi.
- Thế còn chuyện tiền nong con sẽ nói với họ như thế nào đây ạ? Con cũng mang luôn tiền cho họ một thể sao?
- Ta sẽ cho mỗi người một chục đồng peso. Chỉ có thế thôi để cho họ tiêu những thứ thật cần thiết. Anh sẽ nói với họ rằng số tiền còn lại được giữ ở đây và khi họ cần chi tiêu thì đến mà lấy. Cũng không thực tiện lắm việc mang nhiều tiền đi lại trên những đường hẻm đầy nguy hiểm như thế. Còn bây giờ là chuyện riêng của anh và ta. Anh có thích trang trại Puerta de Piedra không? Được! Từ giờ trở đi nó là của anh đấy. Anh sẽ mang một tờ văn tự đến cho luật sư Gerardo Trujillo, ở Comala, để ông ta điền tên anh vào văn tự là người chủ của nó. Anh thấy thế nào hả Damasio?
- Thưa ông chủ, ngài chẳng phải hỏi con điều ấy. Dù có hay không có nó con sẽ làm với tất cả sức mình. Ngài cứ làm như thể không hề biết tính con ấy. Nhưng dù sao con cũng phải cám ơn ông chủ, ít ra người vợ con cũng có cái để mà vui khi con vắng nhà.
- Nhưng hãy nghe đây, ở đằng ấy mỗi khi về nghỉ anh sẽ phải chăn dắt một ít bò cái đấy. Điều cần thiết hiện nay đối với trang trại ấy là phải cho nó hoạt động bình thường.
- Con lấy mấy con bò Brahma được chứ ạ?
- Hãy chọn lấy những con bò cái mà anh thích nhất và những con anh chọn vợ anh có thể chăm nom được. Và bây giờ trở lại vấn đề của chúng ta nhé: Anh hãy nhớ chớ có bỏ đi quá xa đất đai của ta để đề phòng khi những kẻ khác đến chúng sẽ thấy rằng đất đai ấy đã có chủ rồi, nghe chưa. Và anh hãy đến thăm ta mỗi khi anh có thể đi và cả khi anh có những tin tức mới.
- Xin chào ông chủ ạ. Chúng ta sẽ gặp lại nhau sau.
***
- Bà ta nói gì hả, Juan Preciado?
- Bà ta nói rằng chân bà ta thọc vào giữa hai bẹn ông ấy. Đôi chân bà ta lạnh như tiền và khi ở giữa hai bẹn ông ta chúng được sưởi ấm như thể ở trong lò nướng bánh. Bà ta bảo rằng ông ta cắn hai chân bà và nói rằng chúng giòn như là bánh vừa mới ra lò. Bà ta nói rằng bà ta ngủ trong lòng ông ta, bị ông ta ghì chặt, rồi bà thấy mình đã đánh mất mình trong cõi hư không khi cảm thấy da thịt mình bị nứt ra bởi một cái dùi nóng hôi hổi mở một đường rãnh như đường cày trên thân xác mình, sau đó bà thấy dìu dịu êm êm, sau nữa bà thấy ngọt ngào do nó cứ nhún lên nhún xuống trên da thịt mềm mại của bà, rồi bà lịm đi, lịm đi cho tới khi rên rỉ. Nhưng cái chết của ông làm bà ta đau đớn hơn cả. Bà ta nói thế.
- Nói về ai thế nhỉ?
- Về một người chết trước bà ta, chắc chắn là như thế.
- Nhưng là ai vậy?
- Cháu không rõ. Bà ta bảo rằng trong cái đêm ông ta về muộn bà ta cảm thấy ông ta về rất muộn, có thể lúc ấy đã là nửa đêm về sáng. Dường như bà ta nhớ rõ bởi vì đôi chân bà vốn bị lạnh cóng, lại được đắp ấm bằng một vật nào đó, rằng đã có người đã lấy một vật nào đó đắp lên chân bà, sau đó chúng dần dần ấm lại. Khi tỉnh dậy bà ta thấy chân mình được một tờ báo phủ lên. Đó là tờ báo bà đọc trong lúc đợi ông ta, rồi vì buồn ngủ quá bà đánh rơi nó xuống sàn nhà. Và rằng khi chân bà vẫn còn đắp tờ báo thì có người đến mách cho bà hay rằng ông ta đã chết.
- Hình như chiếc quan tài chôn bà ta bị vỡ ra bởi vì nghe rõ tiếng kêu toang toác như tiếng ván gỗ nát.
- Đúng thế, cháu cũng nghe thấy như vậy.
***
Đêm ấy lại xảy ra những cơn mộng mị. Tại sao lại chỉ nhớ đến biết bao nhiêu chuyện nhỉ? Tại sao không chỉ nhớ riêng cái chết mà không phải thứ âm nhạc dịu dàng ấy của quá khứ nhỉ?
- Thưa bà, Florencio đã chết rồi.
- Ôi con người ấy sao mà lớn thế, sao mà cao thế! Giọng nói của ông ta sao khô cứng thế, còn khô hơn cả đất khô không khốc. Và hình ảnh của ông sao mờ ảo đến thế cứ như thể giữa bà và ông có một màn mưa chấn giữa. “Ông ta đã nói gì thế nhỉ? Florencio? Florencio nào cơ? Anh của ta á? Ôi tại sao ta không khóc và tại sao không ngợp chìm trong nước mắt để đỡ đau khổ! Hỡi Thiên Chúa, Người không tồn tại thực. Con xin Người hãy che chở cho anh ấy, hãy chăm nom cho anh ấy. Đó là những gì con hằng cầu khẩn Người. Nhưng Người chỉ quan tâm tới linh hồn. Mà cái mà con cần ở anh ấy chính là tấm thân anh ấy. Một tấm thân trần và nóng hổi tình yêu làm sục sôi những thèm khát, làm run rẩy bộ ngực và cánh tay con. Thân xác trong như pha lê của con ngưng tụ trong thân xác anh ấy. Thân xác mềm mại của con săn lại hay mềm ra hoàn toàn tùy thuộc vào sức mạnh con đực của anh. Giờ đây, con sẽ làm gì với đôi cánh tay mình khi không có miệng ấy để hôn? Con sẽ làm gì với đôi môi đau thương của mình?”
Trong lúc Susana San Juan trằn trọc không dứt thì Pedro Páramo từ rất lâu rồi đứng ở ngay bên cạnh cửa, nhìn nàng và đếm từng giây từng giây trôi đi, của cơn mộng mị đang diễn ra. Dầu trong dĩa đèn sôi lên xèo xèo và ngọn lửa đèn ngày một lu đi, ngày một chập chờn. Chẳng bao lâu lửa đèn sẽ tắt.
Nếu đó không phải là những cơn mộng mị quằn quại, kéo dài không dứt và nếu ít ra nó chỉ là nỗi đau mà nàng đang cảm nhận thì ngài đã có thể tìm được cách an ủi nàng. Don Pedro Páramo nghĩ như vậy trong lúc dõi mắt theo từng cử chỉ, từng động tĩnh nhỏ của Susana San Juan. Cái gì sẽ xảy ra nếu nàng tắt thở trong khi ngọn đèn dầu leo lét tỏa ánh sáng yếu ớt để ngài nhìn nàng đang lụi tắt đi?
Sau đó ngài khẽ khàng khép cửa lại và nhẹ nhàng bước đi. Ở bên ngoài không khí trong lành của buổi đêm đến khiến cho hình ảnh Susana San Juan biến mất khỏi tâm trí don Pedro Páramo.
Trước lúc trời rạng sáng một lúc, Susana San Juan thức dậy. Người nàng ướt đẫm mồ hôi. Nàng ném xuống sàn nhà những tấm chăn nặng trình trịch và rũ sạch đến cả hơi ấm trong những tấm ga trải giường. Thế là lúc đó nàng ở truồng và cơn gió lọt vào phòng quạt mát cho nàng. Nàng thở dài rồi sau đó lại ngủ lịm đi.
Mấy giờ sau, cha Rentería đã bắt gặp nàng như vậy: trần truồng mà ngủ.
***
- Thưa don Pedro, ngài có biết rằng
Tilcuate đã bị đánh bại rồi không?
- Ta biết rằng đêm qua có mấy loạt súng nổ, bởi nghe rõ tiếng ồn ào. Nhưng từ đó đến nay ta chẳng biết gì cả. Gerardo này, ai kể cho anh nghe thế?
- Có mấy người bị thương đến Comala. Mụ vợ tôi đã giúp họ băng bó vết thương. Bọn họ nói rằng họ là người của Damasio và rằng có rất nhiều người chết. Hình như bọn họ chạm trán với nghĩa quân của Villa [16] thì phải.
- Ôi thực là khốn thân, Gerardo ạ. Ta đang thấy thời loạn lạc đã đến. Còn anh, anh sẽ làm gì nào trong cái thời buổi loạn lạc này?
- Thưa don Pedro Páramo, tôi sẽ đi. Tôi sẽ đến Sayula. Ở đấy tôi sẽ lại lập nghiệp từ đầu.
- Bọn luật sư nhà các anh luôn có thuận lợi ấy. Các anh có thể mang nghề nghiệp của mình đi khắp nơi mà chẳng hề bị tróc da lòi xương vất vả gì.
- Xin ngài đừng nghĩ như vậy. Chúng tôi luôn luôn phải đối chọi với những khó khăn đấy chứ ạ. Mặt khác, chúng tôi rất đau lòng phải xa những người như ngài đây, và chúng tôi sẽ rất nhớ chuyện đã được ngài tôn trọng. Chúng ta sống trong lúc chúng ta hủy hoại dần mòn thế giới của mình, nếu như tôi có thể nói được như vậy. Ngài muốn tôi để lại những giấy má này ở chỗ nào?
- Chớ để lại. Anh hãy mang chúng theo. Hay là khi anh tới đằng ấy để sinh sống lẽ nào anh không thể tiếp tục gánh vác những công việc của ta?
- Xin đa tạ lòng tin của ngài, thưa don Pedro. Tôi chân thành cảm ơn ngài. Tôi xin mạo muội nói rằng tôi không thể... Rõ ràng có những tình huống không bình thường. Chẳng hạn... Đó là những bằng chứng mà chỉ duy có ngài biết. Những giấy tờ này sẽ bị trao cho những kẻ xấu nếu nó nằm trong tay người khác... Tốt hơn hết là nên để chúng ở đây với ngài.
- Anh nói đúng đấy, Gerardo ạ. Anh hãy để chúng lại đây cho ta. Ta sẽ đốt chúng đi. Dù có hay không có văn tự, thử xem đứa nào có thể tranh cãi với ta về số tài sản mà ta đã có trong tay nào?
- Hiển nhiên là không một ai, thưa don Pedro, không một ai cả. Thôi xin ngài cho phép tôi được đi ạ.
- Hãy cút đi với Chúa, Gerardo.
- Ngài bảo sao ạ?
- Ta bảo rằng Chúa sẽ che chở cho anh mà.
Luật sư Gerardo Trujillo thong thả bước ra ngoài. Ông đã già nhưng không già đến nỗi lại bước những bước chân ngập ngừng và chờ đợi. Sự thật là ông đang đợi một món tiền thưởng. Ông từng phục vụ don Lucas, người đã quá cố và là cha của don Pedro, từng phục vụ don Pedro và cho đến tận bây giờ ông vẫn tận tụy với chủ mình. Sau cùng ông đã phục vụ cả Miguel, con trai của don Pedro. Thật tình mà nói ông đợi một khoản tiền thưởng. Một khoản tiền thưởng có giá lớn. Ông đã từng nói với vợ mình:
- Tôi sẽ đi từ biệt don Pedro. Tôi biết rằng ngài sẽ thưởng công cho tôi. Tôi dám nói với mình rằng với số tiền ngài cho tôi chúng ta sẽ lập nghiệp đàng hoàng, thật đàng hoàng ở Sayula và trong những ngày còn lại của đời mình chúng ta sẽ sống một cuộc đời nhàn hạ.
Nhưng làm sao bọn đàn bà hay đa nghi thế nhỉ? Họ đã nghe được những lời mách bảo của đấng Toàn năng sao? Bà vợ không tin rằng ông sẽ kiếm chác được gì từ tay ngài Pedro.
- Ông sẽ phải làm việc đến đổ mồ hôi sôi nước mắt ở đằng ấy để mà có thể ngẩng mặt lên với thiên hạ. Ở đây ông sẽ chẳng kiếm chác được gì đâu.
- Vì sao mình lại nói thế nhỉ?
- Tôi biết mà.
Ông đi ra phía cửa chính mà tai vẫn lắng nghe bất kỳ một tiếng gọi nào: “Này, Gerardo này! Ta đang bận tâm quá đến mức không còn kịp nghĩ tới anh. Nhưng ta biết rằng mình mang ơn anh nhiều và những ơn huệ này không thể lấy tiền mà trả được. Thôi hãy nhận lấy cái này: gọi là một chút quà kỷ niệm, nó chẳng đáng giá là bao”.
Nhưng không có tiếng gọi giật lại nào cả. Ông bước qua cửa, rồi tháo cương con ngựa đang bị buộc vào một chiếc cột, ông trèo lên yên. Ông rong cho con ngựa đi chậm từng bước một về làng Comala, tai cố lắng nghe xem có tiếng gọi giật trở lại không. Khi nhận ra điền trang Media Luna đã khuất khỏi tầm mắt, ông nghĩ, “Nếu mình ngửa tay vay tiền thì mình đã quỵ lụy ngài nhiều quá”.
***
- Thưa don Pedro, tôi đã trở lại vì tôi đã tự ân hận nhiều. Tôi rất thích mình được trông nom các công việc của ngài ạ.
Luật sư Gerardo nói vậy, và một lần nữa ông lại ngồi trong văn phòng của don Pedro, nơi chưa đầy nửa giờ trước ông đã có mặt.
- Tốt lắm, Gerardo ạ. Giấy tờ vẫn ở đây. Anh để ở đâu chúng vẫn ở nguyên đấy.
- Tôi cũng muốn... Những tốn kém... Việc di chuyển... Một số tiền tạm ứng ít ỏi... Nếu như ngài bằng lòng thì đó là một khoản tiền ngoại ngạch.
- Năm trăm được không?
- Không thể hơn được nữa sao, một ít nữa thôi mà, thưa don Pedro.
- Một nghìn nhé, anh đã bằng lòng chưa?
- Và nếu như năm nghìn thì có được không ạ?
- Năm gì kia? Năm nghìn đồng peso hả? Ta không có số tiền ấy đâu. Anh đã biết rồi đấy: tất cả đều đã hết nhẵn rồi. Ruộng đất, súc vật. Anh đã biết rồi đấy. Anh hãy cầm lấy một nghìn đồng peso vậy. Ta nghĩ thế là đủ để anh chi dùng rồi đấy.
Luật sư Gerardo ngồi đăm chiêu tư lự. Ông cúi đầu. Ông nghe rõ tiếng kêu leng keng của những đồng peso rơi trên mặt bàn viết nơi don Pedro đang đếm tiền, ông nhớ tới don Lucas, người vẫn còn nợ tiền công của ông. Ông nhớ tới don Pedro, người đang tính tiền công cho ông. Ông nhớ tới Miguel, con trai của don Pedro, kẻ đã buộc ông phải hứng chịu biết bao thứ nhớt nhát trên đời này!
Ông đã giúp hắn thoát khỏi vòng tù tội ít nhất là mười lăm lần và còn phải giúp hắn cho tới khi hắn không thể phạm tội được nữa. Còn cái vụ giết người mà hắn đã phạm, kẻ bị giết có họ là gì nhỉ? Rentería, đúng rồi, kẻ bị giết được gọi là Rentería. Người ta đã đặt vào tay người bị giết một khẩu súng lục. Cậu Miguelito đã sợ chết khiếp mặc dù sau đó cậu cười đắc ý. Chỉ riêng cái vụ này mà được làm cho đến cùng kỳ lý, được làm cho ra lẽ thì thử hỏi don Pedro phải tốn bao nhiêu tiền? Còn các vụ cưỡng hiếp khác thì sao? Đã bao lần ông phải moi tiền túi để các cô kín miệng. “Phải biết ơn khi em sẽ có một đứa con tóc vàng đấy”, ông vẫn thường bảo các cô như thế.
- Đây, tiền của anh đấy, Gerardo ạ. Hãy cất giữ chúng cẩn thận kẻo chúng lại sinh con đẻ cái đấy.
Còn ông, mà lúc này vẫn đang mải suy tư, đã trả lời ngài:
- Đúng thế, ngay cả những người chết cũng chẳng sinh con đẻ cái nữa, - ông khẳng định. - Thật là bất hạnh.
***
Còn lâu mới hừng đông. Bầu trời dày đặc sao, những vì sao to, tròn trịa lung linh sáng. Trăng ló ra được một lúc rồi lại lẩn mất ngay. Đó là một ông trăng buồn mà không một ai muốn nhìn, không một ai muốn ngắm. Nó méo mó mờ ảo treo lơ lửng ở đây, chẳng kịp tỏa sáng, rồi sau đó nó khuất sau mấy ngọn đèo.
Ở phía xa kia, nơi chìm trong bóng đêm, vọng lên tiếng bò tót gầm gừ.
- Những con vật ấy chẳng bao giờ ngủ yên, - Damiana Cisneros nói. - Chẳng bao giờ chúng ngủ yên. Cứ như quỷ sứ, chúng đi lùng bắt hồn người để mang về địa ngục.
Bà lăn nửa vòng trên giường để quay mặt vào tường. Thế là bà nghe thấy tiếng gõ cửa.
Bà nín thở rồi mở to hai con mắt. Bà lại nghe rõ những tiếng gõ cửa cứ như thể ai đó gõ cùi tay lên tường. Không phải là ở đây, ở ngay bên cạnh bà, mà trái lại ở rất xa; nhưng tiếng gõ ấy được nghe thấy rất gần, tựa như chúng ở ngay trên bức tường này.
- Lạy chúa, thôi đúng rồi! Đó là ba tiếng gõ cửa của Thánh Pascual Bailón, người đã đến để báo cho những môn đệ ưu ái của ngài rằng đã đến giờ phải đi hầu Chúa đây!
Vì cái bệnh thấp khớp bà không cầu nguyện đã từ lâu và do đó bà không lo lắng lắm. Nhưng giờ đây bà sợ và hơn cả nỗi sợ hãi, bà sinh tính tò mò.
Bà nhổm dậy khỏi chiếc giường nan và thò đầu qua cửa sổ.
Những cánh đồng đen ngòm. Tuy nhiên bà nhận ra ngay don Pedro Páramo khi bà nhìn thấy tấm thân vâm váp của ngài in trên cửa sổ phòng con bé Margarita.
- Ôi, don Pedro đáng thương, - Damiana Cisneros nói. - Ngài không bao giờ bỏ được cái thói chạy theo gái. Có điều khiến mình không hiểu nổi là vì sao ngài thích làm chuyện lén lút thế. Nếu ngài bảo mình một tiếng thôi thì mình đã đi bảo ngay Margarita rằng đêm nay ông chủ cần mày đấy và do đó ngài chẳng phải vất vả dậy và đi ra khỏi giường nằm.
Bà đóng cửa sổ lại vào lúc nghe tiếng bò tót gầm gừ. Bà gieo tấm thân, nằm vật xuống giường, trùm chăn kín tai rồi sau đó bà bắt đầu nghĩ đến điều đang xảy ra với con bé Margarita.
Sau đó bà phải cởi bỏ chiếc áo ngủ vì đêm bắt đầu oi nóng.
- Damiana! - Bà nghe thấy có tiếng gọi mình.
Lúc ấy bà còn là con gái đang thì.
- Dậy mở cửa cho ta, Damiana!
Như con cóc nhảy trong lồng ngực mình, trái tim làm bà run rẩy.
- Nhưng, thưa ông chủ, mở cửa để làm gì cơ?
- Hãy mở cửa mau cho ta vào, Damiana!
- Nhưng thưa ông chủ, con đã ngủ rồi ạ.
Sau đó bà cảm thấy don Pedro đã bỏ đi, đang nện gót giày cồm cộp dọc theo những hành lang dài. Bà biết rằng mỗi khi giận dữ ngài vẫn thường nện gót giày như thế.
Đến hôm sau, để ngài khỏi phải khó chịu, bà phải khép hờ cánh cửa và đi nằm không quần áo. Bà làm như vậy cốt để ngài, nếu thích, sẽ không gặp một trở ngại nào.
Nhưng Pedro Páramo không bao giờ quay trở lại với bà nữa.
Thế mà tối nay, giờ đây, khi là quản gia của tất cả những con hầu ở điền trang Media Luna, được mọi người kính trọng, và tuy đã già rồi, bà vẫn còn nghĩ tới cái đêm ấy khi ông chủ bảo mình:
“Dậy mở cửa cho ta, Damiana!”
Bà lại nằm xuống, nghĩ đến nỗi niềm hạnh phúc mà vào lúc này con bé Margarita đang được hưởng.
Sau đó bà lại nghe thấy tiếng gõ cửa, nhưng lần này là những tiếng gõ ở cửa chính, như thể người ta lấy báng súng nện lên cánh cửa.
Lại một lần nữa bà nhỏm dậy và thò đầu qua cửa sổ để nhìn vào đêm đen. Bà chẳng nhìn thấy gì hết, mặc dù bà có cảm giác rằng mặt đất đầy những bong bóng hơi và đen đặc những con sâu bọ giống như thể nó vừa qua một trận mưa. Bà cảm thấy rằng có một cái gì đó giống như hơi nóng của rất nhiều người đàn ông đang bay lên. Bà nghe rõ tiếng ếch nhái kêu vang và tiếng trùng rên rỉ. Đó là đêm thanh lặng của mùa mưa. Sau đó bà lại nghe rõ tiếng báng súng nện vào cửa chính.
Một ngọn đèn dầu rọi ánh sáng vào mặt một số người đàn ông. Sau đó đèn tắt.
“Đó là những việc chẳng khiến ta thích thú gì”, Damiana Cisneros nói, rồi bà lại đóng cửa lại.
***
- Ta biết rằng chúng nó đã đánh bại anh, Damasio ạ. Vì sao anh lại để xảy ra như vậy hả?
- Thưa ông chủ, người ta báo tin sai cho ngài đấy. Con vẫn còn đủ số người của con ạ. Con mang về đây bảy trăm quân và vô số người tình nguyện theo quân ta ạ. Chuyện xảy ra là thế này: có một số ít kẻ già nua, vốn ngao ngán cảnh ăn không ngồi rồi, đã nã súng vào một trung đội lính húi đầu trọc, thực ra đó là một quân đội hẳn hoi nhé. Đó là những người thuộc quân đội của Villa. Ngài có biết đạo quân này không?
- Bọn người này từ đâu tới?
- Bọn họ từ miền Bắc tới. Họ đi đến đâu san bằng tất cả mọi sự đề kháng tới đó. Cứ theo như những điều quan sát được thì dường như họ đi kiểm tra đất đai, kiểm tra rất kỹ. Họ hùng mạnh lắm ạ. Không một ai có thể địch nổi họ đâu ạ.
- Vì sao anh không sáp nhập với họ. Ta chả đã bảo anh rằng hãy đứng về phía kẻ nào sẽ chiến thắng là gì.
- Dạ, thưa ngài, con đang ở với họ mà.
- Thế thì anh còn về đây gặp ta để làm gì nào?
- Thưa ông chủ, chúng con cần tiền ạ. Chúng con đã ngấy thịt đến tận cổ rồi. Quả tình là chúng con chẳng muốn ăn thịt nữa. Và cũng chẳng một ai còn tin ở chúng con nữa. Bởi thế chúng con kéo nhau về đây để ông chủ tận mắt nhìn thấy mà chu cấp cho ít tiền để chúng con khỏi phải đi ăn trộm của người khác. Nếu trước đây chúng con ở xa thì chúng con chẳng nề hà việc đi ăn trộm của dân địa phương. Nhưng giờ ở đây tất cả chúng con đều là anh em với nhau và chúng con thấy tủi hổ khi phải ăn trộm ạ. Tóm lại, tiền là cái mà chúng con đang cần để đi chợ, dù với chỉ một hào bạc để mua ớt thôi ạ. Chúng con chán ngấy thịt rồi.
- À ra thế, bây giờ anh lại sách nhiễu ta phải không, Damasio?
- Thưa ông chủ, con đâu dám thế ạ. Con chỉ được các bạn trẻ ủy thác cho việc thưa chuyện này với ông chủ. Về phần mình, con không dám mạo muội thế đâu ạ.
- Thôi được, cứ cho là anh bị người của anh buộc phải làm điều này. Nhưng các anh hãy moi tiền kẻ khác nhé. Ta đã cho anh tiền rồi. Anh hãy bằng lòng với số tiền ta cho anh, nhưng điều ta sắp nói với anh đây chỉ đơn thuần là lời khuyên với anh thôi. Vì sao anh không nghĩ đến việc tấn công vào làng Contla? Tại sao anh lại nghĩ là anh đang làm cách mạng nhỉ? Nếu anh đi ăn xin thôi thì anh đã lạc hậu rồi đấy. Nếu chỉ có thế thôi thì tốt hơn hết anh hãy đi chăn gà với vợ. Anh hãy làm cỏ một làng nào đó chẳng hạn! Anh đang mạo hiểm đánh nhau sao không bắt bọn quân kia làm một cái gì đi chứ? Contla toàn bọn giàu có. Anh hãy tước đoạt của họ ít nhiều chứ. Hoặc giả anh nghĩ rằng anh là vú em của họ và anh phải chiến đấu để bảo vệ quyền lợi của họ? Không, không đúng thế đâu, Damasio ạ. Anh phải làm cho họ thấy rằng anh không đi chơi cũng không đánh nhau chỉ để thỏa chí của mình. Anh hãy cho bọn họ nếm tí đòn đi rồi tiền sẽ chảy về như nước ngay.
- Vâng thưa ông chủ, con sẽ làm như điều ông chủ dạy bảo ạ. Ở ngài lúc nào con cũng học được những điều bổ ích ạ.
- Ừ, thế thì anh hãy tranh thủ đi.
Pedro Páramo nhìn đám quân lính ra đi. Ngài cảm thấy đàn ngựa đen, dễ dàng lẫn trong đêm tối, phi nước kiệu diễu qua trước mặt mình. Ngài cảm thấy mùi mồ hôi, mùi bụi và cả tiếng rùng mình của mặt đất. Khi ngài nhìn thấy những con đom đóm lập lòe bay ngang qua mặt mình, lúc ấy ngài cũng nhận ra rằng tất cả bọn họ đã đi rồi. Chỉ còn lại có ngài, một mình đơn độc, giống như một thân cây cứng đã bắt đầu mục ruỗng từ bên trong.
Ngài lại nghĩ tới Susana San Juan. Ngài nghĩ tới cô gái vừa chung đụng ban nãy. Cái tấm thân nhỏ bé run rẩy sợ sệt ấy đã làm cho trái tim nó suýt nữa vọt ra đằng miệng. “Ôi tấm thân nhỏ bé”, ngài nói với cô bé. Ngài đã ôm ghì cô bé trong lòng mà định bụng biến cô thành da thịt của Susana San Juan, “một người đàn bà đẹp không thuộc thế giới này”.
***
Trong lúc trời hừng đông, ngày chậm rãi quay trở lại, hầu như nghe rõ tiếng các bản lề quả đất đã khô dầu kêu lạo xạo. Quả đất già này rùng mình đang lật xoay bóng tối của nó.
- Justina này, có thật là đêm tối mang đầy những tội lỗi không?
- Đúng thế đấy, Susana ạ.
- Thật không?
- Có thể lắm chứ, Susana ạ.
- Justina này, vú em có tin rằng cuộc đời là một thứ tội nợ không? Vú em không nghe thấy sao? Vú em không nghe thấy trái đất đang kêu cọt kẹt sao?
- Không, Susana ạ. Tôi không nghe thấy gì cả. Vận may của tôi không được lớn như vận may của bà.
- Vú em sẽ giật mình kinh ngạc đấy. Ta bảo vú em rằng vú em sẽ rùng mình kinh ngạc nếu vú em nghe được cái ta đã nghe thấy.
Justina tiếp tục dọn dẹp lại căn buồng. Vú em trải lại tấm thảm phủ trên những tấm ván ẩm lát sàn nhà, lau khô vũng nước do bình hoa vỡ làm nước vung ra sàn nhà, nhặt nhạnh những bông hoa, rồi ném những mảnh thủy tinh vào cái xô đựng đầy nước.
- Trong cuộc đời mình vú em đã giết bao nhiêu con chim cả thảy nào, Justina?
- Ôi, nhiều lắm, Susana ạ.
- Và vú em không cảm thấy buồn sao?
- Có chứ, buồn lắm, Susana ạ.
- Vậy thì vú em chờ đợi gì để chết nào?
- Đợi thần chết.
- Nếu không còn gì hơn thế nữa thì thần chết đang đến rồi. Vú em chẳng còn phải lo lắng nữa.
Susana San Juan gượng người dậy trên những tấm gối của nàng. Đôi mắt nàng đung đưa nhìn khắp mọi phía. Hai tay nàng đặt lên bụng, ôm kín bụng làm như thể chúng là một tấm chăn hộ mạng. Có những tiếng kêu vo vo như tiếng cánh quạt bay ngang trên đầu nàng. Có tiếng động ầm ầm của bánh xe quay trong guồng đạp nước. Lại có cả tiếng ồn ào của đám đông khi thức dậy.
- Vú em tin là có âm phủ không?
- Có chứ Susana ạ. Và tôi còn tin có cả thiên đường nữa.
- Ta chỉ tin là có âm phủ thôi, - nàng nói. Sau đó nàng nhắm mắt lại.
Khi Justina ra ngoài rồi, Susana San Juan lại ngủ thiếp đi. Ở bên ngoài, ông mặt trời tỏa sáng lấp lánh. Trên đường đi, Justina gặp Pedro Páramo.
- Bà thế nào rồi hả?
- Bà yếu lắm ạ, - vú em cúi đầu trả lời ngài.
- Bà có kêu ca gì không?
- Thưa ngài, không ạ. Bà chẳng kêu ca gì cả. Nhưng người ta bảo rằng những người chết không kêu ca. Bà đang mất đi đối với tất cả chúng ta.
- Cha Rentería vẫn chưa đến thăm nom bà nhà sao?
- Đêm qua cha đến và đã làm lễ xưng tội cho bà rồi. Hôm nay sẽ là lễ ban Thánh thể cho bà nhưng bà không được ân sủng, bởi vì cha Rentería không mang đồ lễ ban Thánh thể đến. Cha bảo sẽ làm lễ ban Thánh thể rõ sớm nhưng như ngài thấy đấy, mặt trời đã lên cao mà cha vẫn chưa đến. Có lẽ bà nhà không có được ân sủng.
- Ân sủng của ai?
- Của Chúa ạ, thưa ngài.
- Thôi đi, đừng có mà lẩn thẩn, Justina ạ.
- Con xin nghe lời ngài, bẩm ngài.
Pedro Páramo mở cửa rồi ngài ở bên cạnh nàng. Cánh cửa hé mở để cho một luồng ánh sáng đọng trên người Susana San Juan. Ngài nhìn đôi mắt đã nhắm lại của nàng như thể nàng đang cảm thấy một nỗi đau bên trong, ngài nhìn miệng nàng hé mở, ướt át và nhìn những tấm ga trải giường bị vén lên đến độ để lộ tấm thân trần truồng bắt đầu co quắp lại của nàng.
Ngài vượt qua khoảng không nhỏ bé ngăn cách ngài với chiếc giường rồi ngài lấy ga trải giường che tấm thân trần truồng đi, cái tấm thân vẫn uốn cong lại như con sâu đo. Ngài cúi sát xuống tai nàng, nói: “Susana!”. Rồi ngài lại gọi: “Susana!”.
Cánh cửa lại bật mở và cha Rentería bước vào, miệng lẩm bẩm:
- Cha sẽ làm lễ ban Thánh thể cho con, con ạ.
Cha đợi cho đến khi Pedro Páramo nâng nàng dậy, đặt nàng ngồi dựa vào thành giường, Susana San Juan, mà lúc này vẫn còn đang ngái ngủ, đã thè lưỡi ra và nuốt miếng bánh Thánh. Sau đó nàng nói: “Chúng mình đã cùng tận hưởng một lúc thật hạnh phúc. Florencio nhỉ”. Sau đó nàng lại chui vào trong nấm mồ những tấm ga trải giường của mình.
***
- Doña Fausta này, bà có nhìn thấy cái cửa sổ kia không? Đấy đấy! Đó là cửa sổ ngôi nhà ở Media Luna, nơi lúc nào cũng thắp sáng đèn.
- Không, Ángeles. Tôi không nhìn thấy cửa sổ nào hết.
- Là bởi vì vừa mới đây thôi ánh đèn đã bị tắt nên nó tối om. Lẽ nào ở Media Luna lại sẽ không xảy ra điều gở nhỉ? Hơn ba năm nay, đêm lại đêm, cái cửa sổ kia đều thắp sáng đèn. Những người từng tới chỗ ấy nói rằng đó là căn phòng của bà vợ don Pedro Páramo, một người đàn bà điên lúc nào cũng sợ bóng tối. Doña hãy nhìn kìa: ánh đèn vừa mới tắt ngay lúc này thôi. Lẽ nào đó lại không phải là điềm báo một chuyện xấu sẽ xảy ra nhỉ?
- Có lẽ bà ta đã chết rồi. Bà ta ốm yếu lắm rồi. Người ta bảo rằng bà ta chẳng nhận ra một ai và người ta còn bảo rằng bà ta chỉ lảm nhảm nói một mình thôi. Thật là một đòn trừng phạt đích đáng đối với Pedro Páramo bằng cách run rủi ông ta phải cưới người đàn bà ấy.
- Thương thay don Pedro!
- Không nên thế doña Fausta ạ. Ngài ấy đáng phải nhận đòn trừng phạt ấy. Và ngài còn cần phải bị trừng phạt hơn thế nữa.
- Bác hãy nhìn kìa, cái cửa sổ ấy vẫn tối om om.
- Thôi, hãy thay cha cái cửa sổ ấy và chúng mình về đi ngủ thôi kẻo đêm đã khuya lắm rồi, không hợp để chúng ta, đôi bạn già này dạo chơi ở ngoài đường làng.
Rồi hai người đàn bà ấy, những người ra khỏi nhà thờ vào lúc gần mười một giờ đêm, đã lẩn mình dưới vòm sân hiên nhà thờ, để dõi mắt nhìn theo bóng dáng một người đàn ông đang vội vã vượt qua quảng trường lớn đi về phía điền trang Media Luna.
- Này, doña Fausta này, bác không thấy rằng cái ngài đi về phía đằng kia là bác sĩ Valencia sao?
- Hình như thế thì phải. Mặc dù tôi đã kém mắt quá đến mức không thể nhận ra được ngài bác sĩ nữa, nhưng tôi vẫn cho là như thế.
- Bác hãy nhớ rằng bác sĩ luôn luôn mặc quần trắng và chiếc áo khoác màu đen. Tôi cuộc với bác rằng ở Media Luna đã xảy ra chuyện chẳng lành rồi. Bác hãy nhìn điệu bộ vội vàng mà ông ta đi như thể ông ta đang gấp lắm vậy.
- Miễn thực sự là không phải chuyện chẳng lành. Tôi muốn trở lại ngay để nói với cha Rentería rằng cha hãy đi đến đó kẻo người đàn bà bất hạnh ấy chết mà không được xưng tội.
- Xin bác đừng nghĩ tới điều đó, Ángeles ạ. Ngay cả Chúa cũng không muốn điều đó. Sau tất cả những gì mà bà ta phải chịu đựng ở cõi thế tục này, không một ai lại muốn đi mà không được xưng tội và muốn mình vẫn mang tội trong cuộc đời khác. Dù cho những nhà duy linh từng nói rằng đối với những kẻ điên loạn, thì không cần thiết phải xưng tội, vì ngay trong lúc tâm hồn họ nhơ bẩn thì họ vẫn cứ là những kẻ vô tội. Điều đó duy chỉ có Thượng đế biết mà thôi... Bác hãy nhìn kìa, ở cửa sổ kia đèn lại được thắp sáng lên rồi. Lạy trời mọi sự đều tốt lành cả. Bác thử nghĩ mà xem công lao mà chúng ta bỏ ra mấy hôm nay để sửa sang lại nhà thờ và trang trí cho nó thật lộng lẫy để đón lễ Noel sẽ ra sao nếu như có một người chết trong cái ngôi nhà kia. Với quyền lực mà don Pedro có trong tay, trong chốc lát ông ta sẽ phải phá hết công lao của chúng ta.
- Lúc nào bác cũng nghĩ đến chuyện chẳng lành, doña Fausta. Tốt hơn hết là bác hãy làm như tôi: phó mặc tất cả cho đấng Toàn năng. Bác hãy cầu nguyện Đức Mẹ Đồng trinh và tôi tin chắc rằng từ nay cho đến sáng mai sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra. Còn sau đó Chúa sẽ thực hiện ý nguyện của người bởi vì cuối cùng bà ta cũng chẳng vui vẻ gì trong cõi đời này.
- Ángeles, bác hãy tin lời tôi nói rằng lúc nào bác cũng làm cho tôi được vững dạ. Tôi sẽ đi ngủ và mang theo những tư tưởng này vào giấc ngủ. Người ta bảo rằng những suy tư trong giấc ngủ bay thẳng lên trời. Mong rằng những suy tư của tôi cũng vươn tới tầm cao ấy. Tạm biệt nhé.
- Tạm biệt Fausta.
Hai bà già, theo cửa chính, bước vào nhà mình. Yên tĩnh lại khép kín đêm đen trùm lên làng quê này.
***
- Miệng tôi toàn đất và đất thôi.
- Thưa cha, đúng thế đấy.
- Con không được nói: “Thưa cha, đúng thế”. Con hãy nhắc lại điều cha sắp nói.
- Cha sẽ nói gì với con nào? Cha lại cho con xưng tội một lần nữa phải không? Vì sao phải xưng tội nữa?
- Lần này không phải là lễ xưng tội đâu, Susana ạ. Cha đến nói chuyện với con để chuẩn bị cho con chết được thanh thản mà.
- Con sắp chết rồi sao, thưa đức cha?
- Đúng thế đấy, con ạ.
- Vậy thì tại sao cha không để cho con được yên thân. Con thèm được nghỉ ngơi lắm. Có lẽ người ta bảo đức cha đến đây để tước đi giấc ngủ của con phải không? Thế thì cha hãy ở lại đây cùng con cho tới khi nào con tỉnh ngủ hẳn. Khi đã tỉnh ngủ rồi con sẽ làm gì để có thể gặp lại anh ấy? Thưa cha, con không thể làm thế nào được. Vì sao cha không đi khỏi nơi đây và do đó để cho con được yên.
- Ta sẽ để cho con được yên, Susana ạ. Nếu nhắc lại những lời ta nói con sẽ dần dần ngủ lịm đi mà. Con sẽ cảm thấy như chính con đang tự ru ngủ. Một khi con ngủ rồi thì không một ai sẽ đánh thức con dậy nữa. Sẽ chẳng bao giờ con thức dậy nữa.
- Thế thì được rồi, cha ạ. Con sẽ làm điều cha nói.
Ngồi bên mép giường, hai tay đặt lên vai Susana San Juan, miệng ghé sát vào tai nàng - để khỏi phải nói to, cha Rentería thì thầm và rành rọt nói từng lời một: “Miệng con đầy đất”. Sau đó cha dừng lại. Cha chú ý xem môi nàng có mấp máy không. Rồi cha thấy nàng bập bẹ nói nhưng không thành tiếng:
- Miệng em hôn lên anh, hôn lên miệng anh. Làn môi anh riết lại mạnh mẽ như thể đang nún làn môi em!
Nàng cũng dừng lại. Nàng liếc mắt nhìn cha Rentería và nàng thấy cha ở xứ xa như thể cha đứng ở phía sau một tấm kính mờ hơi ẩm. Lập tức nàng lại nghe thấy tiếng nói ở bên tai mình:
- Miệng con đầy bọt dãi. Con nhai những mẩu đất đầy dòi bọ. Những sâu bọ này làm tổ nơi cuốn họng con và chúng cắn gây ngứa ngáy nơi hàm ếch... Con nhai, nhai hoài đến nỗi sái quai hàm, miệng méo xệch đi, do đó răng cứ cắm thủng miệng. Mũi mềm nhũn ra. Nước mắt cạn kiệt. Tóc cháy trong một đám lửa rừng rực.
Susana yên lặng khiến cha hoảng hốt. Cha những muốn dò đoán những suy tư của nàng và những muốn được tận mắt xem trận chiến đấu của nàng nhằm rũ bỏ những hình ảnh mà cha đang cố cấy vào trong tâm tưởng nàng. Cha nhìn vào mắt nàng và nàng lại nhìn cha. Rồi cha dường như nhìn thấy môi nàng mỉm một nụ cười.
- Vẫn còn thiếu nữa. Hình ảnh của Chúa. Ánh sáng dịu dàng trên thiên đường mông lung vô biên của Người. Hạnh phúc của các tiểu thiên sứ và ca khúc của các thiên sứ tối cao. Niềm vui trong ánh mắt Chúa để lộ rõ hình ảnh cuối cùng và thoáng qua của những kẻ bị kết tội vĩnh viễn. Và không chỉ có thế mà còn là tất cả những thứ đó hòa trộn trong một nỗi đau thế tục. Tủy xương của chúng ta bị biến thành lửa cháy và mạch máu chúng ta biến thành những đường lửa, tất cả những thứ đó khiến chúng ta rút ra những bài học đau thương khôn cùng. Đó là những nỗi đau không khi nào thuyên giảm nhưng luôn luôn bị cơn giận dữ của đấng Chí tôn khiến cho nóng bỏng hơn.
“Anh ấy ôm lấy ta trong vòng tay của mình, cho ta niềm say đắm mặn nồng.”
Cha Rentería đưa mắt nhìn những người đang đứng xung quanh mình, cha đợi giây phút cuối cùng đến. Đứng ngay cạnh cửa là Pedro Páramo, người đang khoanh tay trước ngực im lặng chờ đợi. Bên cạnh ngài là bác sĩ Valencia. Bên cạnh hai người này là một số vị khác đứng. Xa hơn một ít trong bóng tối là đám đàn bà đứng đang đợi chờ vào phòng để cầu nguyện cho người quá cố.
Cha định bụng đứng dậy mà xức dầu cho người ốm và nói: “Ta đã làm xong lễ ban Thánh thể”. Nhưng không, cha vẫn chưa kết thúc lễ ban Thánh thể. Không thể ban phước cho một người đàn bà một khi chưa nắm được người ấy có chịu sám hối không.
Cha đâm nghi ngờ. Có thể nàng chẳng có gì để mà phải sám hối. Cũng có thể là cha chẳng có gì để mà tha tội cho nàng. Một lần nữa cha lại cúi xuống, lay lay hai vai nàng, rồi nói nhỏ:
- Con sẽ đi đến nơi Chúa có mặt đấy. Và con nên nhớ rằng sự phán xử của Người sẽ tàn nhẫn đối với những kẻ có tội.
Rồi sau đó cha lại ghé sát tai, nhưng nàng lắc đầu nói:
- Cha hãy đi đi! Xin cha đừng khổ sở vì con nữa. Con đã được bình tâm và hiện đang buồn ngủ.
Tiếng khóc nức nở của một trong số những người đàn bà trong bóng tối bỗng bật lên. Thế là Susana San Juan lấy lại sức sống. Ở trên giường, nàng vươn dậy và nói:
- Justina, vú em làm ơn hãy đi ra chỗ khác mà khóc nhé.
Sau đó nàng cảm thấy đầu mình cắm phập vào bụng mình. Nàng cố rút đầu ra khỏi bụng; cố nghiêng cái bụng ấy sang một bên kẻo nó bịt mất mắt mình, và làm mình nghẹt thở. Nhưng một khi nàng càng cố giãy giụa bao nhiêu thì nàng càng chìm sâu vào đêm đen bấy nhiều.
***
- Tôi đã thấy Doña Susanita chết.
- Bà nói gì thế, Dorotea?
- Điều ta vừa nói xong.
***
Vào lúc bình minh, tiếng chuông đổ hồi đánh thức dân chúng dậy. Đó là buổi sáng ngày mồng tám tháng Chạp. Một buổi sáng xám màu chì. Trời không rét nhưng ảm đạm. Những quả chuông ở nhà thờ lớn gióng giả vang lên mở đầu cho bản nhạc những tiếng chuông ngân vang. Chuông các nhà thờ khác cũng vang lên cùng hòa điệu. Một vài người tưởng rằng chuông gọi họ đi dự lễ misa buổi sáng và họ đã bắt đầu mở cửa nhà mình, những người này vốn đã thức đợi cho đến khi chuông nổi lên báo cho họ biết rằng đêm đã hết. Nhưng tiếng chuông lại kéo dài quá mức cần thiết. Bây giờ không chỉ chuông nhà thờ lớn đổ hồi mà chuông nhà thờ
Máu của chúa Giêsu, chuông nhà thờ
Cây thập tự xanh, chuông nhà thờ
Trang nghiêm cũng đua nhau đổ hồi. Đã trưa rồi mà chuông vẫn không dứt hồi. Đã tối khuya rồi mà chuông vẫn không dứt hồi. Ban ngày và ban đêm, tất cả các tháp chuông trong vùng, quả nào cũng như quả nào, đều rung ngân những tiếng binh boong, binh boong, và ngày càng rung càng mạnh hơn những tiếng binh boong, binh boong cho đến khi chúng trở thành một tiếng kêu than vang vọng những âm thanh. Những người đàn ông phải nói như gào mới nghe được điều mình muốn nói. “Cái gì đã xảy ra vậy?”, bọn họ hỏi lẫn nhau.
Tất cả mọi người đều điếc đặc trong suốt ba ngày liền. Họ không thể nào nói với nhau trong khung cảnh những tiếng kêu u, a lèn chặt bầu không khí. Nhưng chuông vẫn cứ đổ hồi, đổ hồi và đổ hồi. Một số quả chuông đã bị rè tiếng nhưng vẫn cố phát ra những âm thanh nghe như tiếng chum chĩnh.
- Doña Susana đã chết!
- Chết? Ai chết?
- Bà vợ!
- Vợ ông hả?
- Vợ ngài Pedro Páramo.
Tiếng chuông ngân không dứt lôi cuốn dân chúng từ mọi miền háo hức kéo đến. Như đoàn người hành hương từ Contla kéo đến. Cả những người ở xa hơn nữa cũng lũ lượt kéo đến. Một gánh xiếc với những người leo dây và những chiếc ghế bay cũng kéo đến và không ai biết họ từ đâu đi đến. Những nhạc công cũng kéo đến. Thoạt đầu, như những kẻ ngơ ngẩn họ đến gần, nhưng ngay lập tức họ hòa nhập vào đám đông bởi vì lúc ấy vang lên những khúc nhạc chiều. Rồi cứ thế đám đông ồn ĩ biến thành một ngày hội. Comala lúc này đông nghịt người, vui nhộn và ồn ĩ, y hệt như trong những ngày hội lớn đến nỗi người ta phải vất vả lắm mới len chân trên các đường làng.
Chuông thôi không đổ hồi nữa, nhưng cuộc vui vẫn tiếp tục. Không có cách nào nói cho họ hiểu rằng đó là chuông nguyện hồn người chết, không có cách nào để có thể làm họ tự bỏ đi. Trái lại dân chúng còn kéo nhau tới đông hơn nữa.
Nhưng Media Luna thì ngược lại. Media Luna cô đơn. Media Luna im lìm. Người hầu đi chân đất. Họ không dám nói to tiếng. Họ đưa đám Susana San Juan. Nhưng rất ít người ở làng Comala biết được việc này. Ở đó hội chợ vẫn mở. Dân chúng vẫn chơi chọi gà, vẫn đánh bạc, vẫn nghe nhạc và vẫn say sưa rượu chè tràn cung mây. Ánh lửa của làng ấy chiếu sáng tới tận đây như thể ánh mặt trời chiếu lên nền trời xám màu ghi. Bởi vì đối với điền trang Media Luna những ngày đó là những ngày ảm đạm và buồn bã. Don Pedro không nói không rằng. Ngài ở lì trong phòng. Ngài thề sẽ trả thù Comala.
- Ông mà khoanh tay lại thì Comala sẽ chết đói.
Quả nhiên, ngài đã làm đúng như vậy.
***
Anh chàng
Tilcuate vẫn đến thăm ngài:
- Bây giờ chúng con là quân đội của ngài Carranza [17].
- Được.
- Chúng con chiến đấu dưới quyền của tướng Obregón[18].
- Được lắm.
- Ở đây hòa bình đã được lập lại. Chúng con được cho giải tán.
- Gượm đã nào. Anh không được phép bắt quân mình hạ vũ khí. Tình hình này sẽ chẳng kéo dài được mãi. Anh nghe rõ chưa.
- Cha Rentería đã vũ trang nổi dậy. Chúng con đi theo ông ta hay phải chống lại ông ta ạ?
- Điều đó sẽ không được thảo luận. Anh hãy đứng về phía chính phủ.
- Nhưng chúng con là những người khác thường. Người ta coi chúng con là những kẻ bạo loạn.
- Thế thì anh hãy đi mà nghỉ đi.
- Với cái sức bay nhảy mà con đang có hay sao?
- Thế thì anh hãy làm theo sở thích của mình vậy.
- Con sẽ theo vị cha cố đáng yêu và sẽ tăng cường lực lượng cho người. Con rất thích họ gào thét. Ngoài ra cha còn hứa sẽ đem lại cho mọi người sự cứu rỗi linh hồn.
- Anh hãy làm điều anh thích thú.
***
Trước lúc trời sáng bạch, Pedro Páramo ngồi trên chiếc ghế mây đã cũ đặt ngay cạnh cửa lớn của ngôi nhà ở điền trang Media Luna. Có lẽ đã ba giờ liền ngài ngồi đơn độc ở đấy. Ngài không ngủ. Ngài quên ngủ và quên cả thời gian: “Những người già chúng ta ngủ ít, hầu như không bao giờ ngủ. Đôi lúc ta ngủ lơ mơ nhưng lại vẫn suy nghĩ miên man. Tư lự, đó là điều duy nhất còn lại đối với ta”. Sau đó ngài nói to thành tiếng: “Không còn lâu nữa, không còn lâu nữa”.
Rồi ngài lại tiếp tục nói: “Susana em ơi, em đã ra đi từ lâu, lâu lắm rồi. Giờ đây ánh sáng vẫn như thuở ấy, nó không quá đỏ bầm nhưng vẫn là thứ ánh sáng thảm hại ấy; không mang hơi nóng vì bị màn sương tráng bao bọc lại. Ở đây, ngay bên cánh cửa này, anh ngồi ngắm buổi bình minh đang đến, ngắm nhìn em lúc ra đi: Em vẫn đi trên con đường lên trời và ở nơi trời đất bắt đầu tỏa sáng thì em xa dần xa dần, ngày một mờ đi trong bóng tối của mặt đất.
Đó là lần cuối cùng anh nhìn thấy em. Em đi trên con đường mòn mà thân em chạm hoài vào những cành lá nơi thiên đường, với hơi thở của mình em mang theo những tàu lá cuối cùng của nó. Rồi em biến mất. Anh gọi với theo em: hãy về với anh, hỡi Susana thân yêu”.
Pedro Páramo mấp máy hoài đôi môi, rầm rì nói. Sau đó ngài mím miệng lại và lim dim đôi mắt nơi ánh sáng yếu ớt của buổi mai soi mình vào.
Trời sáng.
***
Cũng vào đúng giờ ấy, trong lúc bà mẹ của Gamaliel Villalpando, doña Inés, đang quét đường ngay trước cửa quán rượu của con trai bà, thì Abundio Martinez đến và theo cửa hé mở anh bước vào nhà. Anh bắt gặp Gamaliel với chiếc mũ che mặt để ruồi khỏi quấy rầy mình đang ngủ trên quầy bán hàng. Anh ta phải đợi khá lâu cho tới khi chủ quán thức dậy. Anh ta phải đợi cho đến khi doña Inés làm xong công việc quét dọn ngoài đường và cho đến khi bà trở vào lấy cán chổi ngoáy vào sườn con trai và gọi:
- Dậy đi nào. Có khách đợi đây này.
Anh chàng Gamaliel uể oải ngồi dậy. Miệng gầm gừ mấy tiếng. Đôi mắt anh ta đỏ ngầu máu vì phải thức đêm quá nhiều, vì phải thù tiếp bọn người có máu uống rượu và do đó anh chàng cùng say rượu với họ. Lúc này anh chàng đã ngồi dậy ngay trên mặt quầy hàng, miệng lẩm bẩm chửi rủa mẹ mình, chửi rủa chính mình và đôi lúc anh chàng bâng quơ chửi đời cũng chỉ như cái con c. mà thôi. Sau đó hai tay kẹp trong bẹn, lấy hơi ấm anh nằm xuống rồi ngủ trong khi đó miệng vẫn lèm bèm chửi bới:
- Tôi chẳng có tội gì trong việc vào giờ này bọn say vẫn nhởn nhơ đi lại.
- Thật đáng thương cho con tôi. Abundio hỡi, hãy tha thứ cho nó. Thằng khốn ấy thức suốt đêm để thù tiếp một số khách hàng đến uống rượu. Chuyện gì khiến anh đến đây sớm thế?
Bà nói như gào bởi Abundio điếc.
- Con chỉ cần một cút rượu thôi.
- Cô Refugio nhà anh lại bị ngất phải không?
- Thưa mẹ Villa, nhà con đã mất rồi. Chết vào lúc gần mười một giờ tối qua. Con đã phải bán hết cả đàn lừa để chạy chữa cho nhà con. Người ta bảo rằng con mà phải bán đến thứ đó là vì con đã khánh kiệt rồi.
- Ta chả nghe rõ anh đang nói gì hết. Hay là anh không nói phải không? Anh nói gì thế?
- Con nói rằng cả đêm qua con thức để trông nom nhà con đã chết, để trông nom cô Refugio đã chết. Cô ta đã tắt thở đêm qua mà, bà ạ.
- Thảo nào mà ta ngửi thấy mùi người chết. Sự thể là thế này: Chính ta đã bảo với thằng Gamaliel rằng: “Ta đánh hơi thấy có ai chết ở trong làng mình thì phải”. Nhưng nó không thèm để ý đến lời ta nói. Vì phải thù tiếp khách uống rượu, thằng khốn nhà ta cũng say rượu. Và như anh đã biết đấy, khi nó say rượu thì nó cười tất cả và chẳng thèm nghe lời ta. Nhưng anh sẽ nói gì với ta nào? Anh đã mời người đến dự đám tang chưa?
- Chưa một ai đến, mẹ Villa ạ. Vì thế mà con đến đây mua rượu để giải buồn.
- Anh thích uống rượu suông phải không?
- Đúng thế, mẹ Villa ạ. Uống rượu suông để mau say hơn mà. Mẹ hãy đem rượu cho con mau lên kẻo con đang vội.
- Ta sẽ bán rẻ gấp đôi cho anh vì cái tình giữa anh với ta. Anh hãy về nói với người xấu số rằng ta lúc nào cũng kính trọng cô ấy và rằng khi nào cô ấy lên đến thiên đường thì nhớ đến ta nhé.
- Vâng ạ, con xin nói ạ.
- Anh hãy nói trước khi uống hết rượu đấy.
- Con sẽ nói ạ. Con biết rằng nhà con cũng cậy nhờ mẹ cầu nguyện cho cô ấy. Con cũng nói để mẹ biết rằng nhà con chết không được ai cầu nguyện cho cả vì chẳng một ai tới làm lễ xưng tội và làm lễ ban Thánh thể.
- Sao kia? Anh không đến mời cha Rentería sao?
- Con có đi mời. Nhưng người ta bảo con biết rằng cha đã lên núi.
- Núi nào kia?
- Ở trên rừng xanh núi đỏ ấy. Mẹ nên nhớ rằng ở trên ấy người ta đang nổi dậy.
- Vậy là cha cũng nổi loạn à? Thật đáng thương cho chúng ta quá, Abundio ạ.
- Đối với chúng ta việc nổi loạn ấy chẳng có ảnh hưởng gì, mẹ Villa ạ. Nó chẳng tước đoạt gì của chúng ta mà cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho chúng ta. Mẹ hãy cho con cút rượu nữa nào. Có mấy người biết việc đó đâu, như cái thằng Gamaliel đã lại ngủ khì rồi.
- Nhưng xin anh đừng quên nói với Refugio rằng cô hãy cầu khẩn Chúa giúp ta vì ta cần lắm đấy, nghe chưa.
- Mẹ cứ yên tâm. Khi về tới nơi con sẽ nói ngay mà. Nếu việc đó thật cần thiết và để cho mẹ thật yên lòng con sẽ buộc nhà con phải hứa hẹn bằng lời nói hẳn hoi.
- Chính thế đấy. Anh hãy làm đúng như thế nhé. Bởi vì như anh đã biết đàn bà là thế nào rồi. Vậy cứ buộc họ phải thực hiện lời hứa ngay lập tức.
Abundio lại để thêm hai mươi xu nữa lên mặt quầy bán hàng:
- Mẹ hãy bán cho con một cút nữa, mẹ Villa ạ. Và nếu mẹ cho con thêm chút đỉnh nào nữa thì đó là do lòng tốt của mẹ đấy nhé. Điều duy nhất mà con hứa với mẹ là con sẽ uống chỗ rượu này ở ngay bên cạnh thi hài nhà con, bên cạnh Cuca của con.
- Thôi, anh hãy đi đi, đi mau lên trước khi con trai ta thức dậy. Sau một bữa say rượu khi thức dậy bao giờ nó cũng cáu kỉnh. Thôi, anh hãy biến đi và đừng quên điều ta nhờ vả vợ anh đấy.
Anh ra khỏi quán rượu hắt hơi liên tục. Rượu đúng là như lửa. Nhưng người ta bảo anh rằng uống càng nhanh thì rượu càng bốc nhanh hơn, thế là anh tu hết ngụm rượu này đến ngụm rượu khác. Lấy vạt áo che miệng lại, anh phả hơi ra đằng mồm để rồi mũi lại hít đầy mùi rượu. Sau đó anh định bụng đi thẳng một mạch về nhà kẻo Refugio đang đợi mình nhưng rồi anh rẽ ngoặt đi vào đường khác để rồi ra khỏi làng men theo đường mòn.
- Damiana! - Pedro Páramo gọi. - Hãy ra xem cái gã đàn ông đang từ ngoài đường đi vào cần gì nào.
Abundio vẫn tiếp tục tiến bước mà chân nam đá chân chiêu, mà cái đầu anh cứ chúi hoài về phía trước, mà đôi lúc anh phải bò bốn chân. Anh cảm thấy mặt đất đang quặn lại, đang chao đảo ngả nghiêng xung quanh mình, rồi lại buông tuột mình ra. Anh chạy theo để ôm lấy nó rồi khi anh nắm được nó thì nó lại đi mất rồi. Cứ như thế anh mải miết đuổi theo cho đến khi đứng trước hình ảnh một người đàn ông ngồi trước cửa. Rồi anh dừng lại:
- Hãy thương tôi cho tôi ít tiền để tôi chôn cất vợ mình, - anh nói.
Damiana Cisneros cầu nguyện: “Lạy Chúa lòng lành hãy thương lấy chúng con, hãy giải thoát chúng con khỏi mọi mưu toan của kẻ ác”. Rồi hai tay chắp lại làm dấu chữ thập bà chỉ vào mặt anh.
Abundio Martinez nhìn thấy mặt người đàn bà có đôi mắt hoảng hốt đang giơ hai tay làm dấu chữ thập về phía mình, thế là anh đâm sợ hãi. Anh nghĩ rằng quỷ dữ đã theo mình đến tận đây, rồi anh quay lưng lại chờ xem có nhìn thấy một hình thù ghê tởm nào không. Khi không nhìn thấy một ai, anh nhắc lại:
- Tôi đến đây nhờ lòng từ thiện của các ngài, xin các ngài giúp cho chút đỉnh để tôi về mai táng cho người vợ quá cố của mình.
Mặt trời hắt nắng lên lưng anh. Cái ông mặt trời ấy vừa mới mọc, dường như hãy còn lạnh giá, mờ ảo núp sau tấm màn bụi của mặt đất.
Pedro Páramo giấu mặt trong những tấm chăn như thể ngài đang chạy trốn ánh sáng, trong khi đó những tiếng kêu cứu của Damiana khẩn thiết vang xa qua những cánh đồng rộng mênh mông: “Chúng đang giết chết don Pedro”.
Abundio Martinez nghe thấy người đàn bà kia đang kêu cứu. Anh không biết làm thế nào để dập tắt những tiếng kêu ấy. Anh chẳng suy nghĩ được gì hết. Anh cảm thấy ở nơi rõ xa cũng đang nghe rõ những tiếng kêu của bà già. Có lẽ, ngay cả vợ anh cũng đã nghe rõ bởi vì, những tiếng kêu ấy khiến anh choáng tai mặc dù anh cũng chẳng hiểu điều người ta nói. Anh nghĩ đến vợ mình đang nằm đơn độc trên chiếc giường nan ở ngoài sân do chính tay anh đã mang ra đấy để cho thoáng và do đó khỏi bị trương thối quá nhanh. Đó là Cuca, người mà đêm qua vẫn còn chung chăn gối với anh, rất tươi vui, và nghịch ngợm như một con ngựa non, hết hôn anh lại lấy sống mũi kỳ sống mũi anh. Đó là người đàn bà đã đẻ cho anh một đứa con chết ngay lúc vừa lọt lòng mẹ. Người ta bảo rằng đó là vì cô không có khả năng vì mắc các chứng bệnh như: mắt quỷ, sốt rét và hay trướng bụng và còn biết bao thứ bệnh nữa mà tôi không biết hết, theo như lời viên bác sĩ đã tới thăm bệnh cho cô vào giờ hấp hối. Để mời được ông ta về nhà, anh đã bán tất cả các con lừa cuối cùng để trả tiền công mà ông ta đòi quá đắt. Cuối cùng tiền vẫn mất tật vẫn mang... Đó là Cuca mà giờ đây đang nằm ngoài trời, dưới sương sớm, với đôi mắt đã khép lại, không thể nhìn được buổi bình minh; không nhìn được mặt ông trời hôm nay, cũng không nhìn được ông mặt trời ngày mai.
- Hãy giúp tôi với, - anh nói. - Hãy cho tôi chút đỉnh nào.
Nhưng ngay chính anh cũng không nghe rõ lời anh nói. Những tiếng kêu của người đàn bà kia đã khiến anh điếc đặc.
Một số chấm đen đi trên con đường Comala. Những chấm đen ấy nhanh chóng chuyển thành những người đàn ông, rồi ngay lập tức chúng đã ở bên cạnh anh. Damiana Cisneros thôi không kêu cứu nữa. Bà cũng không còn làm dấu chữ thập nữa. Giờ đây bà ta ngã lăn xuống đất, miệng há ra như thể đang ngáp.
Những người đàn ông mới đến nâng bà dậy và đưa bà vào ngay trong phòng trong.
- Thưa ông chủ, ông chủ có việc gì không ạ? - Người ta hỏi ngài.
Pedro Páramo ngẩng mặt lên, lắc đầu.
Bọn họ tước vũ khí của Abundio. Đó là con dao đẫm máu đang nằm trong tay anh.
- Hãy theo chúng tôi mau, - bọn họ nói với anh. - Anh đã dính líu vào chuyện chẳng lành rồi.
Anh đi theo bọn họ.
Trước khi bước vào làng anh xin phép họ được dừng lại. Anh đứng tránh sang một bên đường rồi nôn ra một bãi nước nhớt màu vàng giống như nước mật. Anh nôn thốc nôn tháo như đã uống vào bụng hàng chục lít nước. Thế rồi anh bắt đầu cảm thấy đầu mình nóng như lửa bốc và lưỡi anh cứng lại.
- Tôi say rượu, - anh nói.
Anh trở lại nơi bọn đàn ông đang đợi mình. Anh gục đầu lên vai họ. Những người này kéo lê anh đi trong khi mũi bàn chân anh vạch một đường rãnh trên mặt đất.
***
Phía sau họ, ngồi trên chiếc ghế mây của mình, Pedro Páramo nhìn đoàn người đang đi vào trong làng. Ngài cảm thấy rằng vào lúc muốn giơ cánh tay lên thì nó đã rơi ngay xuống gối mình nhưng ngài vẫn không để ý tới hiện tượng này. Hằng ngày ngài đã quen thấy một số bộ phận trên cơ thể mình chết đi. Ngài nhìn chúng như thể nhìn thiên đường rung chuyển đang để rơi những tàu lá của chính nó: “Mọi thứ đều đi đúng con đường của nó. Tất cả đang tàn tạ”. Sau đó ngài trở lại với những suy tư của mình.
“Susana em ơi, - ngài nói, sau đó nhắm mắt lại, - xin em hãy trở về...
... Có một vầng trăng lớn ngay giữa thế gian này. Anh không còn mắt để mà nhìn em nữa. Ánh trăng rọi khắp mặt em. Anh nhìn không chán cái hình ảnh ấy vốn là em. Mềm mại, được mặt trăng vuốt ve, miệng em căng phồng, ướt át lấp lánh những vì sao. Thân em như nước về ban đêm yên tĩnh trong suốt không một vết gợn. Susana, Susana San Juan”.
Ngài muốn vung tay lên để nhìn cho rõ hình ảnh ấy nhưng hai bẹn ngài kẹp chặt nó lại như thể cái bàn tay ấy là đá. Ngài lại muốn giơ bàn tay khác lên nhưng nó lại từ từ rơi xuống một bên, cho đến khi rơi xuống mặt sàn, như thể là một chiếc nạng chống vào cái vai không xương của ngài.
“Đây chính là cái chết của ta!”. Ngài nói.
Mặt trời chạy vòng quanh các vật thể và đã trả lại cho chúng cái hình thức vốn có của chúng. Mặt đất đổ nát đang ở trước mặt ngài. Đôi con mắt ngài hầu như đang động đậy, nhảy từ ký ức này sang ký ức khác, để xóa nhòa hiện tại của mình. Bỗng nhiên trái tim ngài ngừng đập rồi dường như thời gian cũng ngừng trôi, cả không khí cuộc đời cũng đọng lại.
“Miễn sao không phải là một đêm mới”, ngài nghĩ.
Bởi vì ngài sợ những đêm đen vẫn thường dày đặc bóng ma. Ngài sợ đêm tối sẽ giam ngài cùng với những bóng ma. Vì thế mà ngài sợ.
“Ta biết rõ rằng chỉ ít giờ nữa thôi, Abundio, với đôi bàn tay đẫm máu sẽ đến đây, để xin ta giúp đỡ chút đỉnh mà ta đã từ chối hắn. Mà ta thì không còn tay nữa để che mặt và nhờ đó khỏi phải nhìn hắn. Ta sẽ phải nghe hắn nói cho tới khi tiếng nói ấy tắt đi cùng với ánh ngày, cho đến khi giọng nói của hắn lạc đi.”
Ngài cảm thấy có một vài bàn tay cùng nắm lấy vai mình và xốc cơ thể ngài dậy, cho nó thẳng lên.
- Con đây ạ, thưa don Pedro, - Damiana nói với ngài.
- Ngài không muốn con mang cơm cho ngài sao?
Pedro Páramo trả lời bà:
- Ta đi đến đó. Ta đi mà.
Ngài vịn vào hai cánh tay của Damiana Cisneros rồi định cất bước đi. Sau mấy bước đi chậm chạp và nặng nề ngài ngã vật ra trong lúc bụng vẫn thầm khẩn, nhưng ngài không hề nói ra miệng lấy một lời. Ngài ngã bịch xuống đất và thân thể ngài tơi tả tung ra từng mảnh vụn, cứ như tấm thân ngài là một nắm đá sỏi được gá vào nhau.
HẾT
[1] Kẻ lang thang
[2] Tên gọi thân mật của tên Dolores
[3] Một loại hoa dại màu tím, hoặc chỉ một loài bọ cánh cứng, hoặc pháo hoa bé tự chế. Có lẽ ở đây tên Saltaperico ý chỉ nhảy nhanh như bọ. (BT)
[4] Tên gọi thân mật của Ana.
[5] Vũ khúc của người Anh-điêng Mexico.
[6] Tiếng Latinh: Hãy yên nghỉ.
[7] Một loại rương bằng da của người da đỏ Mexico.
[8] Biệt danh hay đặt cho người đi khập khiễng, chân bị dẹo. (BT)
[9] Một cách gọi thân mật tên Miguel.
[10] Một cách gọi thân mật của tên Susana.
[11] Hay còn gọi là cuộc nổi loạn Cristero (1926-1929) của những người nổi dậy ở Mexico chống lại các bộ luật chống giới giáo sĩ và giáo hội. (BT)
[12] Một loại nho đặc sản ở châu Mỹ xích đạo.
[13] Một loại rượu cất từ nước mật hoặc từ mầm cây thùa.
[14] Nguyên văn là Tartamudo.
[15] Tên một loại rắn chúa Mexico.
[16] Pancho Villa (1887 - 1923): lãnh tụ nông dân Mexico, người tiếp tục cuộc cách mạng của Madero chống lại Huerta và Carranza, bị giết năm 1923.
[17] Venustiano Carranza (1859-1920): Chính khách Mexico, làm tổng thống từ 1914 đến 1920, bị ám sát năm 1920.
[18] Álvaro Obregón (1888-1928): Tướng Mexico, người tiếp tục đường lối của V. Carranza. Ông làm tổng thống Mexico từ 1920 đến 1924, bị ám sát vào năm 1928 sau khi thắng cuộc bầu cử tổng thống.