Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Được Học - Tara Westover

43 trả lời, 85 lượt xem — Trang 2 / 2

Chương 29 - Tốt Nghiệp

Chương trình học kết thúc và tôi trở về BYU. Khu đại học trông như nó vốn thế, và luôn thật dễ để quên trường Cambridge và trở lại với cuộc sống mà tôi đã sống ở đó. Nhưng giáo sư Steinberg đã bảo đảm rằng tôi sẽ không quên. Ông gửi cho tôi mẫu đơn xin một thứ được gọi là Học bổng Gates Cambridge, mà ông giải thích là khá giống học bổng Rhodes, nhưng tại trường Cambridge thay vì Oxford. Học bổng đó cung cấp toàn bộ tài chính cho tôi học tại Cambridge, gồm tiền học phí, tiền ăn ở. Theo những gì tôi biết nó nằm ngoài tầm với của những người như tôi, nhưng ông cứ khăng khăng rằng không phải vậy, thế nên tôi nộp đơn.
Không lâu sau, tôi nhận thấy điều sự khác biệt, một sự thay đổi nhỏ nữa. Một buổi tối tôi ngồi với Mark, người bạn đang nghiên cứu ngôn ngữ cổ. Giống như tôi và hầu hết mọi sinh viên ở BYU, Mark là người Mặc Môn.
“Cậu nghĩ người ta có nên nghiên cứu lịch sử hội thánh không?” Cậu hỏi.
“Có,” tôi nói.
“Ngộ nhỡ cái đó khiến họ không vui thì sao?” Tôi nghĩ rằng tôi biết cậu muốn nói gì, nhưng tôi đợi cậu giải thích. “Nhiều phụ nữ đã đấu tranh với đức tin của họ sau khi họ biết về chế độ đa thê,” cậu nói. “Mẹ mình chẳng hạn. Mình không nghĩ mẹ hiểu nó.
“Thì mình cũng có hiểu nó đâu,” tôi nói.
Có một quãng im lặng căng thẳng. Cậu đợi tôi nói câu của mình: rằng tôi đang cầu nguyện cho đức tin. Tôi đã cầu nguyện như thế nhiều, nhiều lần rồi.
Có lẽ cả hai chúng tôi đều đang nghĩ về lịch sử của mình, hoặc có lẽ chỉ tôi nghĩ mà thôi. Tôi nghĩ về Joseph Smith, người có tới bốn mươi bà vợ. Brigham Young có năm mươi lăm người vợ và năm mươi sáu người con. Giáo hội đã xóa bỏ tục đa thê trong thế tục vào năm 1890, nhưng chưa bao giờ công khai xóa bỏ học thuyết này. Khi còn nhỏ tôi đã được dạy – được bố tôi dạy cũng như được dạy ở lớp học giáo lý – rằng cuối cùng Chúa sẽ khôi phục tục đa thê, và ở kiếp sau tôi sẽ là vợ của một người chồng đa thê. Số chị em chung chồng với tôi sẽ phụ thuộc vào sự công bình của chồng tôi: chồng tôi càng sống cao thượng thì anh càng được ban cho nhiều vợ.
Tôi chưa bao giờ chấp nhận điều đó. Khi còn là một cô bé, tôi thường tưởng tượng mình ở trên thiên đường, mặc chiếc váy bồng trắng muốt, đứng đối diện với chồng mình trong màn sương lung linh như ngọc trai. Nhưng khi quang cảnh mở rộng ra tôi thấy có mười người phụ nữ đứng sau chúng tôi, cũng mặc váy trắng y hệt. Trong trí tưởng tượng của mình tôi là vợ cả nhưng tôi biết chẳng có gì bảo đảm điều đó; tôi có thể bị giấu ở bất cứ đâu trong chuỗi dài thê thiếp ấy. Tôi nhớ từ lâu lắm rồi hình ảnh này đã nằm ở trung tâm ý niệm của tôi về thiên đường: chồng tôi và những người vợ của chồng tôi. Có nỗi chua chát trong phép toán này: nhờ sự sắp đặt linh thiêng của thiên đường, một người đàn ông có thể cân bằng phương trình cho vô số phụ nữ.
Tôi nhớ đến cụ tổ của tôi. Lần đầu tiên tôi nghe tên cụ khi tôi mười hai tuổi, cái tuổi mà theo thuyết Mặc Môn, bạn chuyển từ trẻ con sang một phụ nữ. Ở tuổi mười hai, chúng tôi bắt đầu học các bài học giáo lý xuất hiện những từ như trong trắng và trinh bạch.
Đó cũng là độ tuổi mà tôi được yêu cầu tìm hiểu về một trong những bậc tổ tiên của mình – như được giáo hội phân công vậy. Tôi hỏi mẹ tôi nên chọn cụ tổ nào, và không nghĩ ngợi mẹ nói, “Anna Mathea.” Tôi nói to cái tên đó. Nó lơ lửng trên lưỡi tôi như mở ra một câu chuyện cổ tích. Mẹ nói tôi nên tôn kính Anna Mathea bởi vì cụ đã tặng tôi một món quà: giọng của cụ.
“Chính giọng nói của cụ đã đưa gia đình ta đến với giáo hội,” mẹ nói. “Cụ nghe các nhà truyền giáo Mặc Môn giảng đạo trên các đường phố ở Na Uy. Cụ cầu nguyện, và Chúa đã ban cho cụ đức tin, cùng với sự hiểu biết rằng Joseph Smith là nhà tiên tri của Chúa. Cụ nói với cha cụ, nhưng cha cụ đã nghe những câu chuyện về những người Mặc Môn và không cho phép cụ được rửa tội. Vậy nên cụ hát cho cha nghe. Cụ hát một bài thánh ca Mặc Môn có tên là “Cha tôi.” Khi cụ hát xong, mắt cha cụ rớm lệ. Người cha nói rằng bất cứ tôn giáo nào có âm nhạc tuyệt vời như vậy chắc hẳn phải là công việc của Chúa. Cha con cụ rửa tội cùng nhau.”
Sau khi cụ Anna Mathea cải đạo cho cha mẹ mình, gia đình cảm thấy được Chúa kêu gọi đến Mỹ và gặp nhà tiên tri Joseph. Họ tiết kiệm tiền cho hành trình đó, nhưng sau hai năm họ chỉ có thể đưa được nửa gia đình đi. Anna Mathea bị bỏ lại.
Cuộc hành trình dài, đầy gian nan và khi họ đến được Idaho, tới một khu định cư của người Mặc Môn có tên là Worm Creek, mẹ của Anna bị ốm thập tử nhất sinh. Nguyện vọng cuối cùng của cụ là được gặp lại con gái, vậy nên người cha viết thư cho Anna, khẩn nài cụ dùng tất cả những đồng tiền mà cụ có để sang Mỹ. Anna khi ấy đang yêu và sắp kết hôn, nhưng cụ bỏ người yêu ở lại Na Uy và vượt biển. Mẹ của cụ qua đời trước khi cụ đặt chân lên đất Mỹ.
Gia đình lúc bấy giờ rất nghèo túng; không có tiền để Anna về với chồng chưa cưới, về với cuộc hôn nhân mà cụ đã gác lại. Anna là một gánh nặng tài chính đối với cha cụ vậy nên một vị giám mục thuyết phục cụ kết hôn với một chủ trang trại giàu có và làm vợ lẽ của người đó. Người vợ đầu không sinh nở được, và bà ta ghen lồng ghen lộn khi Anna có mang. Anna lo người vợ cả sẽ làm hại con của mình, vậy nên cụ trở về sống với cha, và ở đó cụ sinh đôi, dù chỉ một trong hai đứa con của cụ sống sót qua mùa đông khắc nghiệt ở miền biên viễn.
Mark vẫn đang đợi. Sau đó cậu bỏ cuộc và lẩm bẩm những lời mà đáng lẽ tôi sẽ nói, rằng cậu không hiểu một cách đầy đủ, nhưng cậu biết tục đa thê là một nguyên tắc của Chúa.
Tôi đồng ý. Tôi nói những lời ấy, sau đó tôi gồng mình chuẩn bị chống đỡ cơn sóng nhục nhã tràn tới – vì hình ảnh đó xâm chiếm những ý nghĩ của tôi, về tôi, một trong nhiều người vợ đứng sau một người đàn ông vô danh, cô độc – nhưng nó không tới. Tôi tìm kiếm trong tâm trí và khám phá ra một niềm tin mới: tôi sẽ không bao giờ làm vợ của một người chồng đa thê. Một giọng nói dứt khoát tuyên bố điều này, không nhượng bộ; lời tuyên bố khiến tôi run rẩy. Ngộ nhỡ Chúa bắt phải làm thế thì sao? Tôi hỏi. Mi sẽ không làm, giọng nói đó trả lời. Và tôi biết đó là sự thật.
Tôi lại nghĩ đến cụ tổ Anna Mathea của mình, tự hỏi đó là thế giới kiểu gì mà ở đó cụ, theo một nhà tiên tri, có thể bỏ người yêu, vượt đại dương, bước vào một cuộc hôn nhân không tình yêu, làm vợ lẽ, rồi chôn đứa con đầu lòng, chỉ để rồi sau hai thế hệ, đứa chắt gái của cụ, cũng vượt qua chính đại dương ấy, trở thành một kẻ hoài nghi.
Tôi là hậu duệ của Anna Mathea: cụ đã cho tôi giọng của cụ. Phải chăng cụ đã không cho tôi đức tin?
Tôi lọt vào danh sách chung khảo cho học bổng Gates. Sẽ có một cuộc phỏng vấn vào tháng Hai ở Annapolis. Tôi không biết phải chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn đó như thế nào. Robin lái xe đưa tôi tới Park City, nơi có một cửa hàng giảm giá của hãng Ann Taylor, và giúp tôi mua một bộ âu phục màu xanh hải quân để kết hợp với giày lười. Tôi chẳng có một chiếc túi xách tay nào vậy nên Robin cho tôi mượn chiếc túi của chị.
Hai tuần trước cuộc phỏng vấn, bố mẹ tôi đến BYU. Trước đó bố mẹ chưa bao giờ đến thăm tôi, nhưng họ đang trên đường đi Arizona nên dừng chân để ăn tối. Tôi đưa bố mẹ đến một tiệm ăn của người Ấn ở bên kia đường, đối điện với căn hộ của tôi.
Người bồi bàn nhìn khuôn mặt của bố tôi không chớp một lúc khá lâu, sau đó đôi mắt cô ta lồi ra khi nhìn xuống hai bàn tay của bố. Bố gọi nửa thực đơn. Tôi nói ba món chính là đủ, nhưng bố nháy mắt nói tiền không thành vấn đề. Dường như tin đồn về khả năng hồi phục kỳ diệu của bố đã lan đi, khiến bố mẹ tôi ngày càng có nhiều khách hàng. Các sản phẩm của mẹ được gần như mọi bà đỡ và các thầy lang ở Mountain West lấy về bán.
Chúng tôi đợi thức ăn, và bố hỏi về chuyện học hành của tôi. Tôi nói tôi đang học tiếng Pháp. “Đó là ngôn ngữ của lũ theo chủ nghĩa xã hội,” bố nói, rồi bố giảng hai mươi phút về lịch sử của thế kỷ hai mươi. Bố nói các chủ nhà băng người Do Thái ở châu Âu đã ký những thỏa thuận bí mật châm ngòi Thế Chiến thứ hai, và rằng họ đã thông đồng với người Do Thái ở Mỹ để trả tiền cho cuộc chiến đó. Bố nói bọn họ đã sắp đặt “Diệt chủng”, bởi vì họ sẽ kiếm lợi từ tình hình bất ổn trên khắp thế giới. Vì tiền, họ điều người của họ tới những buồng hơi ngạt.
Những ý kiến này khá quen thuộc đối với tôi, nhưng tôi phải mất một lát để nhớ xem mình đã nghe chúng ở đâu rồi: trong một bài giảng của tiến sĩ Kerry về tập Nghị định thư của các bô lão Zion. Tập Nghị định thư được xuất bản năm 1903, được cho là ghi lại một cuộc gặp bí mật giữa những người Do Thái có quyền lực lập kế hoạch thống trị thế giới. Người ta nghi tài liệu đó bị làm giả nhưng nó vẫn lan truyền, kích động chủ nghĩa bài Do Thái trong nhiều thập kỷ trước Thế Chiến thứ hai. Adolf Hitler đã viết về tập Nghị định thư này trong cuốn Cuộc tranh đấu của tôi, tuyên bố rằng tài liệu đó là thật, rằng chúng tiết lộ bản chất thật của người Do Thái.
Bố nói to, âm lượng phù hợp với vùng núi non trùng điệp đấy nhưng lại như sấm nổ trong một nhà hàng nhỏ. Những người ngồi ở các bàn gần đó đều dừng trò chuyện và im lặng, lắng nghe cuộc trò chuyện của chúng tôi. Tôi tiếc là đã chọn một nhà hàng gần căn hộ của mình như thế.
Từ Thế Chiến thứ hai, bố chuyển sang nói về Liên hợp quốc, về Liên minh châu Âu, và sự hủy diệt sắp xảy ra đối với thế giới. Bố nói như đó là ba từ đồng nghĩa. Món cà ri được mang tới và tôi tập trung vào nó. Mẹ đã mệt với bài giảng của bố, và bảo bố hãy nói chuyện khác.
“Nhưng sắp đến ngày tận thế rồi!” bố nói. Thực ra không phải là nói, mà bố gào lên.
“Hẳn thế,” mẹ nói. “Nhưng đừng bàn về nó suốt bữa tối của chúng ta có được không.”
Tôi đặt nĩa xuống, nhìn bố mẹ chằm chằm. Trong tất cả những câu nói tuôn ra suốt nửa giờ qua, không hiểu sao câu này là câu khiến tôi bị sốc. Sự thật đơn thuần về họ chưa từng khiến tôi bị sốc. Tất cả những gì họ đã làm đối với tôi luôn hợp lý, trung thành với một logic mà tôi hiểu được. Có lẽ đó là tấm phông nền: núi Buck là của họ và nó ngụy trang cho họ, để khi tôi thấy họ ở đó, với những di tích của tuổi thơ tôi vây quanh, họ dường như bị môi trường hấp thu. Chí ít nó cũng hấp thu cái ồn ào. Nhưng ở đây, rất gần trường đại học, họ dường như không có thực đến mức gần như thuộc về thần thoại.
Bố nhìn tôi, đợi tôi đưa ra ý kiến, nhưng tôi cảm thấy bị chính bản thân xa lánh. Tôi không biết mình phải là ai. Ở trên núi, tôi tự động lẩn vào giọng nói của con gái họ và người theo hầu của họ. Nhưng ở đây, dường như tôi không thể tìm thấy cái giọng nói mà, dưới bóng núi Buck, thường đến dễ dàng.
Chúng tôi cuốc bộ về căn hộ của tôi và tôi dẫn bố mẹ tới phòng mình. Mẹ đóng cửa, phát hiện ra một tấm áp-phích chân dung Martin Luther King Jr. mà bốn năm trước tôi đã dán lên khi tôi học về phong trào dân quyền.
“Đó là Martin Luther King phải không?” Bố hỏi. “Con không biết ông ta có quan hệ với cộng sản sao?” Bố cắn mẩu mô như sáp mà trước kia từng là môi bố.
Bố mẹ mau chóng rời khỏi đó để lái xe xuyên đêm. Tôi nhìn họ đi, rồi lấy cuốn nhật ký ra. Thật kinh ngạc là mình đã từng tin điều này mà không gợn chút nghi ngờ, tôi viết. Cả thế giới sai; chỉ bố đúng.
Tôi đã nghĩ về điều mà Stefanie, vợ của Tyler, từng nói với tôi qua điện thoại vài ngày trước. Stefanie nói chị phải mất nhiều năm mới thuyết phục được Tyler cho phép chị đưa các con của anh chị đi tiêm chủng, bởi vì anh phần nào vẫn tin vaccine là một âm mưu của hệ thống y tế. Giờ đây nhớ lại điều đó, với giọng nói của bố vẫn ong ong trong đầu, tôi cười nhạo anh trai mình. Anh ấy là một nhà khoa học cơ đấy! Tôi viết. Sao anh lại không thể vượt thoát chứng hoang tưởng của bố mẹ nhỉ! Tôi đọc lại những gì mình đã viết, và khi tôi làm vậy thái độ khinh thường của tôi nhường chỗ cho nỗi mỉa mai. Có nghĩa là, tôi viết. Hẳn mình có thể chế nhạo Tyler một cách thuyết phục nếu mình không nhớ, như mình vừa mới nhớ, rằng cho đến ngày hôm nay mình chưa từng được tiêm chủng.
Cuộc phỏng vấn giành học bổng Gates của tôi diễn ra tại trường Đại học St. John ở Annapolis. Khuôn viên của nó khiến tôi choáng, với những bãi cỏ không chê vào đâu được và lối kiến trúc thời thuộc địa cầu kỳ. Tôi căng thẳng ngồi ở hành lang, đợi được gọi vào phỏng vấn. Tôi cảm thấy cứng người trong bộ đồ tây và tôi ngượng nghịu cầm chiếc túi xách tay của Robin. Nhưng cuối cùng giáo sư Steinberg đã viết một bức thư giới thiệu thuyết phục đến nỗi tôi chẳng còn gì nhiều để làm.
Ngày hôm sau tôi nhận được thư xác nhận: tôi đã giành được học bổng đó.
Những cuộc gọi bắt đầu – từ báo sinh viên của trường BYU và từ các báo địa phương. Tôi trả lời phỏng vấn năm, sáu cuộc. Tôi lên truyền hình. Tôi thức dậy lúc một giờ sáng thấy ảnh mình tràn ngập trên trang web của BYU. Tôi là sinh viên thứ ba của BYU từng giành học bổng Gates, và trường đại học đang tận dụng báo chí. Tôi được phỏng vấn xem tôi đã học trung học ra sao, và giáo viên nào đã giúp tôi đạt được thành tích như ngày nay. Tôi lẩn tránh, đánh trống lảng, nói dối khi tôi buộc phải thế. Tôi không nói cho bất cứ phóng viên nào biết mình chưa từng học phổ thông.
Tôi không biết tại sao mình lại không thể kể với họ. Tôi chỉ không thể chịu nổi ý nghĩ mọi người vỗ lưng tôi, nói với tôi rằng tôi thật ấn tượng. Tôi không muốn là Horatio Alger trong sự thần phục đẫm nước mắt đối với giấc mơ Mỹ. Tôi muốn cuộc đời mình là có thể hiểu được, mà với tôi trong chuyện đó chẳng gì có thể hiểu nổi.
Một tháng trước khi tốt nghiệp đại học, tôi về thăm núi Buck. Bố đã đọc các bài báo về học bổng của tôi, và những gì bố nói là, “Con chẳng nhắc đến chuyện con học ở nhà gì cả. Bố nghĩ con nên tỏ ra biết ơn hơn vì mẹ con và bố đã không để con đi học ở những cái trường đó, và con thấy thành quả rồi đấy. Con nên kể với mọi người nguồn cơn của thành quả đó: học ở nhà.”
Tôi không nói gì. Bố hiểu đó là một lời xin lỗi.
Bố không ủng hộ việc tôi đến Cambridge. “Tổ tiên của chúng ta đã đánh liều mạng sống mà vượt đại dương, trốn khỏi đất nước của bọn theo chủ nghĩa xã hội. Còn con thì làm gì nào? Con lại đâm đầu trở lại đó ư?”
Một lần nữa, tôi im lặng.
“Bố mong chờ lễ tốt nghiệp của con,” bố nói. “Chúa truyền đến bố vài lời quở trách để dành cho lũ giáo sư đây.”
“Bố sẽ không làm thế, bố ạ” tôi điềm tĩnh nói.
“Nếu Chúa giao phó cho bố thì bố sẽ đứng lên và nói.”
“Bố sẽ không làm thế,” tôi nhắc lại.
“Bố sẽ không đến bất cứ đâu mà tinh thần của Chúa không được hoan nghênh.”
Chuyện là như vậy đó. Tôi hy vọng nó sẽ qua đi, nhưng bố bị tổn thương vì trong các cuộc phỏng vấn tôi không nhắc đến chuyện học ở nhà đến mức vết thương mới này mưng mủ.
Đêm trước lễ tốt nghiệp của tôi có một bữa tiệc mà tôi sẽ được trao phần thưởng “sinh viên xuất sắc nhất” của khoa Lịch sử. Tôi đợi bố mẹ ở cổng, nhưng bố mẹ không xuất hiện. Tôi gọi điện cho mẹ, nghĩ rằng bố mẹ đến muộn. Mẹ nói bố mẹ không đến. Tôi tới dự tiệc và được trao tặng tấm bảng đồng. Bàn của tôi là bàn duy nhất trong phòng tiệc có ghế trống. Tôi nói bố mẹ tôi bị hỏng xe.
Sau bữa tiệc trưa tôi gọi điện cho mẹ.
“Bổ sẽ không đến trừ khi con xin lỗi,” mẹ nói. “Và mẹ cũng sẽ không đến.”
Tôi xin lỗi. “Bố có thể nói bất cứ điều gì bố muốn. Nhưng làm ơn hãy đến.”
Bố mẹ để lỡ mất phần lớn buổi lễ; tôi không biết họ có nhìn thấy tôi nhận bằng hay không. Những gì tôi nhớ được là tôi đứng đợi cùng bạn bè trước khi tiếng nhạc nổi lên, nhìn các ông bố chụp ảnh còn các bà mẹ thì sửa tóc cho con cái. Tôi nhớ bạn bè tôi đeo tràng hoa rực rỡ quanh cổ cùng những món đồ trang sức mới được tặng.
Sau buổi lễ tôi đứng một mình trên bãi cỏ, nhìn những sinh viên khác ríu rít bên gia đình. Cuối cùng tôi nhìn thấy bố mẹ. Mẹ ôm tôi. Laura, bạn tôi chụp hai bức ảnh. Một bức tôi và mẹ gượng cười; một bức tôi đứng giữa bố mẹ tôi, trông căng thẳng, cứng đơ.
Đêm hôm đó tôi rời khỏi Mountain West. Trước lễ tốt nghiệp tôi đã gói ghém đồ đạc rồi. Căn hộ của tôi trống không, những chiếc túi của tôi để ở bên cửa. Laura ngỏ ý lái xe đưa tôi ra sân bay, nhưng bố mẹ hỏi liệu họ có thể chở tôi tới đó không.
Tôi nghĩ bố mẹ sẽ thả tôi xuống lề đường, nhưng bố khăng khăng rằng bố mẹ sẽ đi cùng tôi vào trong sân bay. Họ đợi tôi kiểm tra những túi hành lý, sau đó đi theo tôi đến cổng an ninh. Cứ như bố muốn chờ đến giây cuối cùng để tôi thay đổi quyết định. Chúng tôi bước đi trong im lặng. Khi tới cổng an ninh tôi ôm bố, ôm mẹ và nói lời tạm biệt. Tôi tháo giày, bỏ máy tính, máy ảnh lên bàn kiểm tra, sau đó đi qua cửa kiểm soát, nhặt hành lý, và bước về phía phòng chờ.
Chỉ đến lúc đó tôi mới liếc nhìn lại phía sau và thấy bố, vẫn đang đứng ở cổng kiểm soát, dõi theo tôi bước đi xa dần, hai tay bố xỏ túi quần, đôi vai bố chùng xuống, miệng bố cũng trễ xuống. Tôi vẫy chào và bố bước về phía trước, như để đi theo tôi, và tôi chợt nhớ đến khoảnh khắc của nhiều năm trước, khi những sợi dây điện giăng trên chiếc xe thùng có mẹ ngồi bên trong, và bố đứng bên ngoài, gần cạnh mẹ, trơ trọi.
Bố giữ nguyên tư thế đó khi tôi rẽ đi khuất. Hình ảnh bố sẽ luôn ở trong tôi: vẻ mặt bố, vẻ mặt ẩn chứa tình yêu thương, nỗi sợ hãi và mất mát. Tôi biết tại sao bố sợ. Bố đã để lộ điều đó trong đêm cuối cùng tôi ở núi Buck, chính cái đêm bố nói bố sẽ không đến dự lễ tốt nghiệp của tôi.
“Nếu con ở lại Mỹ,” bố thì thầm, “thì bố mẹ có thể đến đón con. Dù con ở đâu trên đất Mỹ. Bố có hàng nghìn gallon xăng chôn ở ngoài cánh đồng. Bố có thể đến đón con vào Ngày Tận Thế, và đưa con về nhà, để con được an toàn. Nhưng nếu con vượt đại dương thì…”
Đăng nhập để trả lời
0

Phần 3

Chương 30 - Bàn Tay Của Đấng Toàn Năng

Một cái cổng đá chắn ngang lối vào trường Đại học Trinity. Một cánh cửa gỗ nhỏ gắn vào cổng. Tôi bước qua nó. Người bảo vệ mặc áo bành tô đen, đội mũ quả dưa đưa tôi đi thăm trường, dẫn tôi qua Great Court, khoảng sân rộng nhất trong các sân của trường đại học. Chúng tôi cuốc bộ qua một lối đi lát đá và bước vào một hành lang ốp đá màu lúa mì chín có mái che.
“Đây là hành lang phía bắc,” người bảo vệ nói. “Ở chính nơi đây Newton đã giậm chân để đo âm thanh dội lại, lần đầu tiên ông tính được tốc độ âm thanh.”
Chúng tôi quay lại cổng lớn. Phòng tôi đối điện với nó, ở phía trên ba dãy bậc thang. Người bảo vệ đi rồi tôi đứng đó, giữa những chiếc vali và nhìn cái cổng đá như trong thần thoại và những bức tường lỗ châu mai kỳ dị của nó không chớp mắt qua ô cửa nhỏ. Cambridge vẫn thế, như tôi hằng nhớ: cổ kính và đẹp đẽ. Chỉ tôi đã khác. Tôi không còn là người tham quan, không còn là khách nữa. Tôi là thành viên của trường. Tên tôi được sơn trên cánh cửa. Trên giấy tờ, tôi thuộc về nơi này.
Tôi mặc đồ tối màu để đi nghe giảng buổi đầu tiên, hy vọng mình không nổi bật, nhưng dẫu thế tôi không nghĩ mình trông giống các sinh viên khác. Tôi chắc chắn rằng mình ăn nói nghe không giống họ, và đó chẳng phải chỉ bởi vì tôi không phải là người Anh. Họ có ngữ điệu du dương khiến tôi nghĩ họ hát hơn là nói. Đối với đôi tai của tôi họ nói năng nghe tinh tế và lịch thiệp; ; tôi có thói quen lẩm bẩm, và khi căng thẳng tôi nói lắp.
Tôi chọn chỗ ngồi quanh một chiếc bàn hình vuông lớn và lắng nghe hai sinh viên ngồi gần tôi nhất trao đổi với nhau chủ đề bài giảng – hai khái niệm về tự do của Isaiah Berlin. Người sinh viên ngồi cạnh tôi nói anh đã nghiên cứu Isaiah Berlin tại Oxford; còn người kia nói anh đã nghe giảng viên này nhận định về Berlin khi anh là sinh viên năm cuối tại Cambridge. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến Isaiah Berlin.
Giảng viên bắt đầu phần trình chiếu. Ông nói điềm tĩnh nhưng chuyển học liệu rất nhanh, như thể ông cho rằng chúng tôi đã quen với nó. Điều này được những sinh viên khác xác nhận, hầu hết họ không ghi chép gì cả. Tôi viết vội từng chữ.
“Vậy hai khái niệm của Isaiah Berlin là gì?” Giảng viên của chúng tôi hỏi. Gần như tất cả mọi người đều giơ tay. Giảng viên gọi người sinh viên đã từng học ở Oxford. “Tự do tiêu cực,” anh nói, “là tự do khỏi những trở ngại hoặc ràng buộc từ bên ngoài. Một cá nhân là tự do theo nghĩa này nếu về mặt thể chất anh ta không bị ngăn cản thực hiện các hành động.” Trong chốc lát tôi nhớ đến Richard, người dường như luôn có thể đọc thuộc lòng chính xác bất cứ điều gì anh đã từng đọc.
“Rất tốt,” giảng viên nói. “Vậy còn khái niệm thứ hai?”
“Tự do tích cực,” một sinh viên khác nói, “là tự do khỏi những ràng buộc từ bên trong.”
Tôi viết định nghĩa này vào vở ghi, nhưng tôi không hiểu.
Giảng viên của chúng tôi cố làm rõ khái niệm đó. Ông nói tự do tích cực là tự chủ – phép tắc của bản thân, do bản thân. Ông giải thích, có tự do tích cực nghĩa là kiểm soát suy nghĩ của bản thân; được giải phóng khỏi những nỗi sợ hãi phi lý và những tín điều, khỏi say cuồng, mê tín và tất cả mọi hình thức áp chế bản thân khác.
Tôi không hiểu áp chế bản thân nghĩa là gì. Tôi nhìn quanh phòng. Dường như chẳng ai mù tịt như tôi. Tôi là một trong số ít sinh viên cắm cúi ghi chép. Tôi muốn đề nghị giảng viên giải thích thêm, nhưng một điều gì đó đã ngăn tôi lại – vì làm như vậy có nghĩa là nói lớn cho cả phòng biết tôi không thuộc về nơi này.
Sau bài giảng, tôi trở về phòng, đứng nhìn đăm đăm ra cái cổng đá với những lỗ châu mai. Tôi nghĩ về tự do tích cực, rồi tự hỏi áp chế bản thân có thể có nghĩa là gì, cho tới khi đầu tôi giật giật vì cảm giác đau âm ỉ.
Tôi gọi điện về nhà. Mẹ trả lời. Giọng mẹ lanh lảnh đầy phấn khích khi mẹ nhận ra hai tiếng “Chào mẹ.” nghẹn ngào. Tôi nói với mẹ rằng đáng lẽ tôi không nên đến Cambridge, rằng tôi chẳng hiểu gì cả. Mẹ nói mẹ đã thử trên cơ bắp và phát hiện ra một trong những luân xa của tôi không cân bằng. Mẹ nói sẽ điều chỉnh nó. Tôi nhắc mẹ nhớ rằng tôi đang ở cách xa năm nghìn dặm.
“Điều đó không quan trọng,” mẹ nói. “Mẹ sẽ điều chỉnh luân xa trên người Audrey và chắp cánh cho nó đến với con.”
“Mẹ sẽ làm gì đến với con cơ?”
“Chắp cánh cho nó,” mẹ nói. “Khoảng cách chẳng là gì đối với năng lượng sống. Mẹ có thể truyền năng lượng điều chỉnh tới con từ đây.”
“Năng lượng đi với vận tốc nhanh thế cơ ạ?” Tôi hỏi, “Bằng vận tốc âm thanh, hoặc nhanh hơn cả máy bay phản lực cơ ạ? Nó bay thẳng, hay nó dừng ở Minneapolis vậy mẹ?”
Mẹ cười và gác máy.
Hầu hết các buổi sáng tôi học trong thư viện của trường, ngồi gần một ô cửa sổ nhỏ. Một buổi sáng tôi đang ở đó thì Drew, một người bạn từ BYU, gửi cho tôi một bài hát qua email. Anh nói đó là một tác phẩm âm nhạc cổ điển nhưng tôi chưa từng biết đến nó cũng như ca sĩ. Tôi nghe bài hát đó qua tai nghe. Nó lôi cuốn tôi ngay lập tức. Tôi nghe đi nghe lại trong khi nhìn đăm đăm ra hành lang phía bắc.
Hãy giải phóng bản thân khỏi đời nô lệ tinh thần.
Không ai ngoài chúng ta có thể giải phóng tinh thần của chính mình.
Tôi viết tháu những dòng này vào vở ghi, bên lề của bài luận mà tôi đang viết dở. Khi mà đáng lẽ tôi phải đang đọc sách thì tôi lại ngồi băn khoăn về chúng. Qua Internet tôi đã biết về bệnh ung thư mà bác sỹ phát hiện ở bàn chân của Bob Marley. Tôi cũng biết Marley là một tín đồ theo đạo Rastafari [1] và rằng người Rasta tin vào “một cơ thể toàn vẹn”, và đó là lý do tại sao ông từ chối phẫu thuật cắt bỏ ngón chân. Bốn năm sau, ở tuổi ba mươi sáu, ông qua đời.
Hãy giải phóng bản thân khỏi đời nô lệ tinh thần. Marley đã viết dòng đó một năm trước khi ông chết, khi mà chứng bệnh ung thư hắc tố có thể phẫu thuật được đang di căn vào phổi, gan, dạ dày và não của ông. Tôi hình dung ra một bác sĩ phẫu thuật tham lam với những chiếc răng dài và nhọn, những ngón tay xương xẩu hối thúc Marley chịu phẫu thuật cắt bỏ ngón chân. Tôi co rúm người trước hình ảnh tay bác sĩ đáng sợ và thứ thuốc tây bẩn thỉiu của ông ta, và chỉ khi đó tôi mới hiểu, bởi vì trước đó tôi không hiểu, rằng dù tôi đã từ bỏ thế giới của bố mình, tôi vẫn không bao giờ có đủ can đảm để sống trong thế giới này.
Tôi lật cuốn vở tới trang tôi ghi chép bài giảng về khái niệm tự do tích cực và tiêu cực. Tôi viết nguệch ngoạc dòng chữ, Không ai ngoài chúng ta có thể giải phóng tinh thần của chính mình lên một góc giấy trắng. Sau đó tôi cầm điện thoại lên và bấm số.
“Tôi cần tiêm vaccine,” tôi nói với người y tá.
Vào các buổi trưa tôi tham dự những hội thảo chuyên đề, và ở đó tôi để ý thấy hai phụ nữ, Katrina và Sophie, gần như luôn ngồi cùng nhau. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với họ cho tới một buổi chiều trước Giáng sinh vài tuần, khi họ rủ tôi đi uống cà phê. Trước đó tôi chưa bao giờ “đi uống cà phê” – tôi chưa từng nếm vị cà phê, bởi vì đó là thứ mà giáo hội cấm – nhưng tôi đi theo họ sang bên kia đường, tới một quán cà phê. Người đứng quầy sốt ruột đến nỗi tôi chọn bừa. Cô ta mang cho tôi một cốc nhỏ xíu chứa khoảng một thìa canh chất lỏng màu bùn, và tôi nhìn tách cà phê trào bọt Katrina và Shophia bê ra bàn mà thèm. Họ tranh luận về các khái niệm trong bài giảng; tôi tranh luận với bản thân có nên uống tách cà phê của mình hay không.
Họ tự nhiên và thoải mái dùng những thuật ngữ phức tạp. Tôi từng nghe đến vài từ như “làn sóng thứ hai”, dù chẳng hiểu nổi; còn thì tôi không phát âm cho ra hồn những từ khác, như “nam tính bá quyền”, chứ nói gì đến hiểu. Tôi nhấp vài ngụm nhỏ thứ chất lỏng hăng hăng, lẩn nhẩn trước khi tôi hiểu rằng họ đang nói về thuyết nam nữ bình quyền. Tôi nhìn họ chằm chằm như họ ở đằng sau tấm kính. Tôi chưa bao giờ nghe bất cứ ai sử dụng từ “nam nữ bình quyền” với một ý gì khác ngoài quở trách. Ở BYU, câu nói “Cậu nói nghe cứ như nhà nữ quyền ý nhỉ.” báo hiệu cuộc tranh luận kết thúc. Nó cũng báo hiệu rằng tôi đã thua.
Tôi rời quán cà phê và tới thư viện. Sau năm phút vào mạng Internet và vài lần chạy tới các chồng sách, tôi ngồi ở chỗ quen thuộc với một đống sách được các tác giả mà giờ đây tôi đã hiểu là thuộc làn sóng thứ hai viết – Betty Friedan, Gernaine Greer, Simone de Beauvoir. Mỗi cuốn tôi chỉ đọc vài trang rồi gấp sách lại. Tôi chưa bao giờ thấy từ “âm đạo” được in trong sách, chưa bao giờ nói từ đó thành tiếng.
Tôi lại vào Internet, rồi lại đi tới các giá sách, nơi tôi đổi những cuốn sách bàn về làn sóng thứ hai để lấy những cuốn sách bàn về làn sóng thứ nhất – Mary Wollstonecraft và John Stuart Mill. Tôi đọc xuyên trưa tới chiều tối, lần đầu tiên thu nạp được một vốn từ vựng mà tôi từng cảm thấy không thoải mái thốt lên từ tấm bé.
Từ lần đầu tiên tôi hiểu ra rằng anh Richard của tôi là con trai, còn tôi là con gái, tôi muốn đổi tương lai của anh lấy tương lai của tôi. Tương lai của tôi là làm mẹ; tương lai của anh là làm cha. Nghe thì giống nhau đấy nhưng thực ra không phải vậy. Làm người này là làm người quyết định. Chỉ huy. Ra lệnh cho cả gia đình. Làm người kia là để nằm trong số những người phục tùng mệnh lệnh.
Tôi biết nỗi khao khát của mình là quái đản. Nhận thức này, cũng giống nhiều lần tự nhận thức khác, đến với tôi bằng giọng của những người tôi biết, những người tôi yêu. Trong từng ấy năm giọng nói đó ở trong tôi, thì thầm, băn khoăn, lo lắng. Rằng tôi không đúng. Rằng những mơ ước của tôi là lầm lạc. Cái giọng đó có nhiều âm sắc, nhiều sắc thái. Đôi khi đó là giọng bố tôi; phần nhiều là giọng tôi.
Tôi mang những cuốn sách về phòng mình và đọc thâu đêm. Tôi thích những trang sách dữ dội của Mary Wollstonecraft, nhưng có một dòng do John Stuart Mill viết, mà khi đọc tôi thấy nó làm rung chuyển thế giới: “Đó là một chủ thể mà trong đó rốt cuộc ta chẳng thể biết được gì.” Chủ thể mà MiII nói đến là bản chất của phụ nữ. Mill khẳng định rằng phụ nữ bị tán tỉnh, phỉnh phờ, bị xô đẩy và chèn ép vào một loạt tình trạng méo mó kiểu nữ tính trong nhiều thế kỷ đến mức giờ đây hoàn toàn không thể xác định được khả năng tự nhiên hay khát vọng của họ.
Máu dồn lên não tôi; tôi cảm thấy sự dâng trào dữ dội của adrenalin, của khả năng, của một giới hạn bị đẩy về phía trước. Về bản chất của phụ nữ, rốt cuộc ta chẳng thể biết được gì. Tôi chưa bao giờ tìm thấy niềm an ủi như thế trong tình trạng thiếu hiểu biết đến vô vọng và trống rỗng như vậy. Dường như nó nói rằng: bất kể bạn là gì, bạn cũng là phụ nữ.
Vào tháng Mười hai, sau khi nộp bài luận cuối cùng, tôi bắt tàu hỏa đi London rồi lên máy bay. Mẹ tôi, Audrey và Emily đón tôi tại sân bay ở Salt Lake City, và chúng tôi cùng trượt tuyết bằng xe hơi trên đường xuyên bang. Gần nửa đêm núi lờ mờ hiện ra trong tầm nhìn. Tôi chỉ có thể nhận ra hình dáng đồ sộ của núi in lên bầu trời đen như mực.
Khi bước vào bếp tôi để ý thấy một khoảng trống trên tường dẫn tới phần mở rộng mà bố tôi đang xây dựng. Mẹ đi với tôi qua chỗ đó và bật đèn lên.
 
“Ngạc nhiên chưa?” mẹ nói. “Ngạc nhiên” là từ chính xác.
Đó là một phòng lớn cỡ bằng một cái nhà nguyện, với trần nhà kiểu mái vòm vươn cao tới năm mét trong không khí. Kích thước của căn phòng phi lý đến mức tôi phải mất một lúc mới để ý tới cách trang trí. Các bức tường bằng đá phiến không trát tương phản lồ lộ với lớp gỗ ván trên trần vòm. Những bộ sofa bằng da lộn màu đỏ thẫm yên vị một cách thân mật bên cạnh chiếc sofa nhồi hai chỗ thẫm màu mà bố đã lôi từ bãi phế liệu về từ nhiều năm trước. Những tấm thảm dày có họa tiết rối rắm phủ một nửa diện tích sàn, trong khi nửa kia là nền xi măng trần trụi. Có mấy chiếc đàn piano, mà trong đó chỉ có một chiếc trông có vẻ có thể chơi được, và một chiếc TV cỡ bằng bàn ăn. Căn phòng hợp với bố một cách hoàn hảo: nó đồ sộ khác thường và cực kỳ phi lý.
Bố luôn nói rằng bố muốn xây một căn phòng to bằng một con tàu tuần tra nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ bố sẽ có đủ tiền. Tôi nhìn mẹ, mong mẹ giải thích nhưng chính bố là người trả lời. Bố bảo việc sản xuất kinh doanh của bố mẹ thành công vang dội. Các loại tinh dầu trở nên nổi tiếng, và mẹ là nhà cung cấp tốt nhất trên thị trường. “Tỉnh dầu của bố mẹ tốt,” bố nói, “bố mẹ bắt đầu kiếm được cả lợi nhuận của những nhà sản xuất lớn. Tất cả mọi người đều biết về tinh dầu của nhà Westover ở Idaho.” Bố kể với tôi rằng một công ty đã hoảng sợ trước thành công của mẹ đến mức họ đề nghị trả mẹ ba triệu đô-la để mẹ khỏi làm tinh dầu nữa. Bố mẹ thậm chí không thèm quan tâm đến lời đề nghị đó. Chữa lành là sứ mệnh của bố mẹ. Bao nhiêu tiền cũng không cám dỗ nổi họ. Bố giải thích rằng bố mẹ đang dùng phần lớn lợi nhuận để dâng Chúa dưới dạng các đồ dự trữ như thức ăn, xăng dầu, và thậm chí một hầm tránh bom. Tôi cố nén để khỏi cười ngoác miệng. Theo như tôi biết, bố đang trở thành người điên có kinh tế rủng rỉnh nhất ở Moutain West.
Richard xuất hiện ở đầu cầu thang. Anh sắp lấy bằng cử nhân ngành hóa học tại Đại học Quốc gia Idaho. Anh về nhà nghỉ Giáng sinh, và anh đưa Kami, vợ anh cùng đứa con trai một tháng tuổi Donavan về cùng. Một năm trước, ngay trước đám cưới của họ, gặp Kami, tôi sửng sốt trước sự bình thường của chị. Giống như Stefanie, vợ của Tyler, Kami là dân ngoại: chị theo phái Mặc Môn, nhưng chị là người mà bố tôi gọi là “số đông chủ đạo”. Chị cảm ơn mẹ vì đã khuyên chị dùng thảo dược nhưng dường như quên béng niềm kỳ vọng rằng chị sẽ bỏ các bác sĩ. Donavan chào đời ở bệnh viện.
Tôi tự hỏi làm thế nào Richard có thể vượt qua những bất đồng không kiểm soát được giữa người vợ bình thường và người bố người mẹ bất thường của anh. Tối hôm đó tôi quan sát anh thật kỹ, và đối với tôi dường như anh đang cố gắng sống ở cả hai thế giới, để làm môn đồ trung thành với mọi tín điều. Khi bố tôi quy kết các bác sĩ là tay sai của quỷ Satan, Richard quay sang Kami trao một tiếng cười khe khẽ, như thể bố nói đùa ấy mà. Nhưng khi bố tôi nhướn mày, mặt của Richard chuyển sang vẻ trầm tư và nghiêm túc chấp nhận. Anh dường như ở trong trạng thái chuyển đổi liên tục, ở bên trong hoặc bên ngoài các chiều, không dám chắc mình là con trai của bố tôi hay là chồng của vợ anh.
Mẹ bị quá tải với các đơn đặt hàng vào dịp nghỉ lễ, vậy nên tôi dành những ngày của mình ở núi Buck y như khi tôi còn bé: ở trong bếp, làm thuốc vi lượng đồng căn. Tôi rót nước cất và thêm vài giọt từ công thức cơ bản, sau đó đưa cái lọ thủy tỉnh nhỏ xíu qua ngón cái và ngón trỏ đang chụm vòng, đếm đến năm mươi hoặc một trăm, sau đó chuyển sang lọ tiếp theo. Bố vào bếp uống nước. Bố mỉm cười khi nhìn thấy tôi.
“Ai biết bố mẹ cho con đến Cambridge để rồi lại có con ở trong căn bếp nơi con thuộc về nhỉ?” Bố nói.
Vào các buổi trưa, tôi và Shawn đóng yên cương cho ngựa và xoay xở để lên núi, những con ngựa nửa đi nửa nhảy qua những đống tuyết chất cao đến bụng chúng. Núi đẹp và khô lạnh. Không khí có mùi da thú và mùi gỗ thông. Shawn nói về những con ngựa, về việc huấn luyện chúng, về những con ngựa non mà anh mong đợi ra đời vào mùa xuân, và tôi nhớ rằng anh luôn tốt đẹp nhất khi ở bên những con ngựa.
Tôi đã ở nhà khoảng một tuần khi núi bị kìm kẹp bởi cái lạnh khủng khiếp. Nhiệt độ giảm sâu, xuống tới 0 độ, sau đó vẫn tiếp tục giảm. Chúng tôi cho lũ ngựa ở trong chuồng, biết rằng nếu chúng đổ mồ hôi thì mồ hôi sẽ đóng băng trên lưng chúng. Máng ăn đóng băng cứng. Chúng tôi đập băng ra nhưng nó lại mau chóng đóng băng trở lại, vậy nên chúng tôi mang từng xô nước cho mỗi con ngựa.
Đêm đó mọi người đều ở trong nhà. Mẹ tôi pha tinh dầu trong bếp. Bố ở trong cái phòng được xây thêm mà tôi bắt đầu gọi đùa là Nhà nguyện. Bố nằm trên ghế sofa màu đỏ thẫm, với cuốn Kinh Thánh để trên bụng, trong khi Kami và Richard chơi vài bản thánh ca trên đàn dương cầm. Tôi ngồi với máy tính xách tay đặt trên chiếc ghế tôi yêu thích ở gần bố, và nghe nhạc. Tôi vừa mới bắt đầu nhắn tin cho Drew thì thứ gì đó đập vào cửa sau. Cánh cửa bật mở, và Emily lao vào phòng.
Đôi cánh tay gầy của chị ôm quanh người chị và chị vừa run rẩy vừa há mồm để thở. Chị không mặc áo khoác, không đi giày, chẳng mặc gì ngoài chiếc quần bò cũ mà tôi để lại cùng chiếc áo phông sờn cũ. Mẹ dìu chị vào ngồi trên sofa, choàng chiếc chăn gần nhất lên người chị. Emily khóc nức nở, và trong vài phút ngay cả mẹ cũng không thể khiến chị nói rõ chuyện gì đã xảy ra. Mọi người ổn cả chứ? Peter đâu? Thằng bé yếu ớt, người chỉ bằng nửa những đứa cùng tuổi, và nó phải mang ống thở oxy bởi vì phổi nó không phát triển đầy đủ. Hai lá phổi nhỏ xíu của nó xẹp, và nó ngừng thở rồi chăng?
Chuyện được kể ngắt quãng, giữa những tiếng nức nở lúc to lúc nhỏ và tiếng răng va vào nhau lập cập. Theo như tôi biết, khi tới cửa hàng tạp hóa Stokes để mua các thứ, Emily trở về với những túi bánh quy không thích hợp cho Peter. Shawn nổi điên. “Làm sao thằng bé phát triển được nếu cô không thể mua loại thức ăn thích hợp cho nó!” Anh gào lên, rồi túm lấy chị, ném chị ra khỏi xe, ném vào một đống tuyết. Chị đập cửa xe, van xin anh cho chị lên xe, sau đó chị chạy lên đồi vào nhà. Tôi nhìn đăm đăm đôi chân trần của chị trong khi chị kể điều này. Chân chị đỏ ửng, trông như bị bỏng.
Bố mẹ tôi ngồi với Emily trên sofa, mỗi người ngồi một bên, vỗ vai chị, siết chặt tay chị. Richard đi đi lại lại phía sau họ. Anh dường như đang chán nản, lo âu, như thể anh muốn bùng nổ thành hành động và chỉ đang kiểm chế mà thôi.
Kami vẫn ngồi trước cây đàn dương cầm. Chị nhìn không chớp mắt mấy người đang túm tụm vào nhau trên ghế sofa, chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì. Chị không thể hiểu Emily. Chị không thể hiểu tại sao Richard cứ đi đi lại lại, cũng chẳng hiểu tại sao anh dừng lại vài giây để liếc nhìn bố, đợi một lời nói hoặc một cử chỉ – bất cứ dấu hiệu nào cho thấy nên làm gì.
Tôi nhìn Kami và cảm thấy lồng ngực bị bóp nghẹt. Tôi giận chị vì đã chứng kiến cảnh này. Tôi hình dung mình ở vào vị trí của Emily, điều thật dễ làm – tôi không thể không đặt mình vào vị trí của chị – và trong chốc lát tôi thấy mình đang ở một bãi đỗ xe, cười tiếng cười the thé, cố thuyết phục thế giới rằng cổ tay mình không bị gãy. Tôi bước tới trước khi kịp có ý thức mình đang làm gì. Tôi nắm cánh tay anh trai mình, kéo anh đi cùng tới chỗ cây đàn. Emily vẫn đang khóc, và tôi dùng tiếng nức nở của chị để lấn át tiếng thì thầm của mình. Tôi nói với Kami rằng những gì chúng tôi đang chứng kiến là chuyện riêng, và rằng ngày mai Emily sẽ cảm thấy ngượng. Tôi nói rằng, vì Emily, tất cả chúng tôi nên về phòng mình và để việc đó cho bố giải quyết.
Kami đứng dậy. Chị đã quyết định tin tôi. Richard lưỡng lự, trao cho bố một cái nhìn thật lâu, rồi bước theo chị ra khỏi phòng.
Tôi đi với họ dọc hành lang rồi quay lại. Tôi ngồi ở bàn bếp nhìn đồng hồ treo tường. Năm phút trôi qua, rồi mười phút. Đến đây nào, Shawn, tôi lẩm bẩm. Đến đi.
Tôi đã thuyết phục bản thân rằng nếu Shawn xuất hiện trong vài phút tới thì đó là bởi anh muốn chắc chắn Emily đã về được tới nhà – rằng chị không bị trượt ngã trên băng, không bị gãy chân, không bị chết cóng trên cánh đồng. Nhưng anh không xuất hiện.
Hai mươi phút sau, khi Emily cuối cùng đã ngừng run, bố nhấc điện thoại lên. “Đến đón vợ mày đi!” Bố quát vào máy. Mẹ đang ôm đầu Emily để chị gục vào vai mẹ. Bố trở lại ghế sofa và vỗ vỗ cánh tay Emily. Khi tôi nhìn ba người túm tụm vào nhau, tôi có cảm giác rằng trước đây chuyện này đã từng xảy ra, và rằng vai của mỗi người đều được thể hiện lại thuần thục. Thậm chí của tôi.
Nhiều năm trước tôi đã hiểu những gì sẽ xảy ra đêm đó, và vai trò của tôi trong chuyện ấy là gì. Tôi đã mở miệng khi đáng lẽ tôi nên im lặng, và đã câm như hến khi mà đáng lẽ tôi phải lên tiếng. Những gì chúng tôi cần là một cuộc cách mạng, một thay đổi hoàn toàn các vai mỏng manh, cũ rích mà chúng tôi đã đóng từ khi tôi còn bé. Những gì chúng tôi cần – những gì Emily cần – là một phụ nữ được giải phóng khỏi nếp giả vờ, một phụ nữ có thể bộc lộ bản thân là một người đàn ông. Nói lên một quan điểm. Hành động trong thái độ khinh miệt sự phục tùng. Một người cha.
Hai cánh cửa kiểu Pháp mà bố tôi đã lắp kêu kèn kẹt khi mở ra. Shawn lúng túng trong đôi giày ống nặng trịch và chiếc áo khoác dày. Peter lấp ló từ sau những vòng quấn của tấm chăn len dày. Shawn đã che cho thằng bé khỏi lạnh, để đi tìm Emily. Chị ôm chặt lấy thằng bé. Bố đứng dậy. Bố ra hiệu cho Shawn ngồi xuống cạnh Emily. Tôi đứng dậy đi về phòng mình, dừng lại một lát để nhìn bố tôi lần cuối đang lấy hơi thật sâu, chuẩn bị cho bài lên lớp thật dài của bố.
“Rất nghiêm khắc,” hai mươi phút sau mẹ quả quyết với tôi khi mẹ xuất hiện ở cửa phòng, bảo tôi cho Emily mượn một đôi giày và một chiếc áo khoác. Tôi lấy những thứ đó mang ra cho họ, và từ phòng bếp tôi nhìn chị đi khuất, rúc người dưới cánh tay anh trai tôi.
[1]  Rastafari là một nền văn hóa của những người Rasta sống tại Jamaica.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.03.2022 20:17:27 bởi Pandaa>

Chương 31 - Bi Kịch Rồi Thì Trò Hề

Trước ngày quay lại nước Anh, tôi lái xe mười bảy dặm dọc dãy núi, sau đó rẽ vào một con đường đất hẹp và dừng trước một ngôi nhà màu xanh lơ. Tôi đỗ xe đằng sau một chiếc RV rộng gần bằng ngôi nhà. Tôi gõ cửa; chị gái tôi ra mở cửa.
Chị đứng ở cửa trong bộ đồ ngủ bằng nỉ, một đứa bé đang tuổi chập chững ở trên hông chị và hai đứa con gái nhỏ bám lấy chân chị. Con trai chị, khoảng sáu tuổi, đứng phía sau. Audrey bước sang một bên để lấy chỗ cho tôi bước vào, nhưng các động tác của chị thiếu tự nhiên, và chị tránh nhìn thẳng vào mắt tôi. Từ khi chị lấy chồng chị em tôi ít có thời gian ở bên nhau.
Tôi bước vào trong nhà, dừng khựng lại ở lối đi khi nhìn thấy một hố rộng khoảng một mét trên lớp vải sơn lót sàn ăn sâu xuống gian hầm. Tôi bước qua cái hố đó và vào trong căn bếp sực mùi các loại tinh dầu của mẹ tôi – tinh dầu bạch dương, khuynh diệp, tinh dầu nguyệt quế.
Cuộc trò chuyện rề rà, ngắc ngứ. Audrey chẳng hỏi tôi câu nào về nước Anh hay Cambridge. Chị không có hệ quy chiếu cho cuộc sống của tôi, vậy nên chúng tôi nói về cuộc sống của chị – hệ thống trường công thối nát vậy nên chị tự dạy các con, tại nhà. Giống như tôi, Audrey chưa bao giờ đi học ở trường công. Mười bảy tuổi, chị đã nỗ lực chớp nhoáng để thi lấy chứng chỉ GED. Chị thậm chí còn nhờ Missy, chị họ của chúng tôi, giúp đỡ; vậy là Missy đã từ thành phố Salt Lake đến dạy kèm cho chị. Missy dạy kèm cho Audrey suốt mùa hè, và khi mùa hè qua đi chị tuyên bố rằng trình độ của Audrey ở khoảng giữa lớp bốn và lớp năm, và rằng việc lấy chứng chỉ GED là không thể. Tôi cắn môi, nhìn con gái chị mang ra cho mình một bức vẽ, tự hỏi nó có thể hy vọng được giáo dục thế nào nhờ một người mẹ chẳng được học hành gì.
Chúng tôi làm bữa sáng cho bọn trẻ, sau đó chơi với chúng trong tuyết. Chúng tôi nướng bánh, xem phim trinh thám và kết những chiếc vòng đeo tay bằng hạt. Cứ như tôi đã bước qua một tấm gương và đang sống một ngày trong cuộc đời mà tôi có lẽ đã sống, nếu tôi ở lại núi. Nhưng tôi đã không ở lại. Cuộc sống của tôi khác cuộc sống của chị, và tôi có cảm giác như không có nền tảng chung nào giữa chúng tôi. Nhiều giờ trôi qua; đã quá trưa; và chị vẫn cảm thấy xa cách với tôi, chị vẫn không chịu nhìn thẳng vào mắt tôi.
Tôi mang tới cho bọn trẻ một bộ đồ trà nhỏ bằng sứ, và khi chúng bắt đầu tranh nhau cái ấm trà, tôi thu cả bộ lại. Đứa con gái lớn nhất của chị nhắc tôi nhớ rằng nó lên năm tuổi rồi, và nó muốn nói rằng nó đủ lớn nên tôi không được tước đồ của con bé. “Nếu con cư xử như trẻ ranh,” tôi nói, “thì dì sẽ đối xử với con như với một đứa trẻ ranh.”
Tôi không biết tại sao mình lại nói thế; tôi cho rằng Shawn ở trong đầu tôi. Vừa buột miệng nói ra những lời đó tôi đã ân hận, ghét bản thân mình vì đã nói thế. Tôi đưa bộ đồ trà cho chị gái mình, để chị có thể phân xử công bằng và thích hợp, nhưng khi nhìn thấy vẻ mặt chị tôi suýt đánh rơi bộ đồ trà. Miệng chị há hốc, tròn vo.
“Shawn đã từng nói câu đó,” chị nói, nhìn thẳng vào mắt tôi.
Giây phút đó ám ảnh tôi mãi. Ngày hôm sau, khi tôi lên máy bay ở thành phố Salt Lake tôi nhớ đến nó, và nó vẫn ở trong đầu tôi khi tôi hạ cánh xuống London. Chính sức ép của nó khiến tôi không thể lung lay. Không hiểu sao tôi chưa bao giờ chợt nghĩ rằng chị gái tôi có thể đã sống cuộc đời của tôi trước khi tôi sống.
Học kỳ đó, tôi đến trường đại học như chất dẻo tổng hợp đến với nhà điêu khắc. Tôi tin mình có thể được tái tạo, tâm trí tôi được đúc lại. Tôi ép bản thân làm bạn với các sinh viên khác, lúng túng giới thiệu mình hết lần này đến lần khác cho tới khi tôi có một vòng tròn nhỏ bạn bè. Sau đó, tôi xóa bỏ những rào chắn giữa tôi và họ. Tôi nếm rượu vang đỏ lần đầu tiên và những người bạn mới của tôi cười ồ lên trước vẻ mặt nhăn như bị cấu của tôi. Tôi bỏ những chiếc áo sơ mi cổ cao và bắt đầu mặc những chiếc áo hợp mốt hơn – những chiếc áo bó sát người, thường là áo khoét nách, với cổ áo thoáng rộng hơn. Trong những bức ảnh ở giai đoạn này tôi choáng váng trước vẻ tương xứng ấy: tôi trông giống như tất cả những người khác.
Tháng Tư tôi bắt đầu làm tốt. Tôi viết một bài luận về khái niệm quyền tự quyết của John Stuart Mill, và thầy hướng dẫn của tôi, tiến sĩ David Ruciman, nói rằng nếu luận văn của tôi cũng đạt được chất lượng như thế thì trường Cambridge sẽ nhận tôi vào chương trình đào tạo tiến sĩ. Tôi choáng váng: tôi, cái đứa len lén thò mặt tới nơi tuyệt vời này như một kẻ mạo danh, bây giờ lại có thể đàng hoàng bước vào qua cửa chính cơ đấy. Tôi bắt đầu làm luận văn, lại chọn Mill làm chủ đề.
Gần cuối học kỳ, một buổi trưa, khi tôi đang ăn trưa tại quán ăn tự phục vụ của thư viện, tôi nhận ra một nhóm sinh viên học chung chương trình với tôi. Họ ngồi cùng nhau tại một chiếc bàn nhỏ. Tôi hỏi liệu tôi có thể ngồi cùng họ không và một người Ý cao lớn tên là Nick gật đầu. Qua cuộc trò chuyện tôi được biết rằng Nick đã mời những người khác tới thăm anh ở Rome vào kỳ nghỉ xuân. “Bạn cũng có thể đến,” anh nói.
Chúng tôi nộp những bài luận cuối cùng cho kỳ học, sau đó lên máy bay. Trong buổi tối đầu tiên tôi ở Rome, chúng tôi leo lên một trong bảy quả đồi, nhìn ra thành phố. Những mái vòm của đế chế Đông La Mã lơ lửng phía trên thành phố như những quả khinh khí cầu đang bay lên. Lúc đó trời đã gần tối; các đường phố tắm trong ánh sáng màu hổ phách. Đó không phải là màu của một thành phố hiện đại, của thép, thủy tỉnh và xi măng. Đó là màu hoàng hôn. Nó trông thật hư ảo. Nick hỏi tôi nghĩ gì về thành phố quê hương anh, và đó là tất cả những gì tôi có thể nói: trông thật hư ảo.
Hôm sau, vào bữa sáng, những người khác nói về gia đình họ. Bố của một người là nhà ngoại giao; bố của một người khác là giảng viên ở trường Oxford. Họ hỏi về bố mẹ tôi. Tôi nói bố tôi sở hữu một bãi phế liệu.
Nick đưa chúng tôi tới trường âm nhạc nơi anh học chơi vĩ cầm. Nó nằm ở trung tâm thành Rome và được trang bị đồ nội thất phong phú với cầu thang đồ sộ và những phòng cộng hưởng âm thanh. Tôi cố hình dung học nhạc ở một nơi như thế này sẽ như thế nào, cảm giác hằng ngày rảo bước trên sàn lát đá cẩm thạch mỗi buổi sáng, để kết hợp việc học tập với cái đẹp ra sao. Nhưng tôi chịu, không hình dung nổi. Tôi chỉ có thể mường tượng ra ngôi trường tôi đang trải nghiệm, một dạng bảo tàng, một di tích từ cuộc sống của ai đó khác.
Chúng tôi khám phá Rome trong hai ngày, một thành phố vừa là một sinh thể vừa là một hóa thạch. Những tòa kiến trúc đã bạc màu vì cổ kính nằm đó như những khúc xương khô, với những dây cáp điện được gắn chìm và mạng lưới giao thông ầm ì, những huyết mạch của cuộc sống hiện đại. Chúng tôi thăm đền Pantheon, quảng trường Roman Forum, nhà nguyện Sistine. Bản năng của tôi là tôn thờ, sùng kính. Đó là cảm xúc của tôi về toàn thành phố: tôi cảm thấy nó nên được đặt vào sau khung kính, để chiêm ngưỡng từ xa, không bao giờ bị chạm vào, không bao giờ bị sửa đổi. Những người bạn đồng hành của tôi đi thăm thành phố theo cách khác, ý thức được tầm quan trọng của nó nhưng không bị nó chinh phục. Họ không bị đài phun nước Trevi làm cho nín thinh, không bị đấu trường Colosseum làm cho im lặng. Thay vì thế khi chúng tôi di chuyển từ di tích này đến di tích tiếp theo, họ bàn luận – về triết học – Hobbes và Descarts, Aquinas và Machiavelli. Có sự cộng sinh trong mối quan hệ của họ với những nơi cổ kính này: họ truyền sự sống cho kiến trúc cổ bằng cách biến nó thành nền tảng cho bài thuyết trình của họ, bằng cách không chịu sùng bái trước bệ thờ của nó như thể nó là một thứ đã chết.
Vào đêm thứ ba có một cơn mưa giông. Tôi đứng trên ban công của Nick nhìn những tia chớp rạch kèm theo tiếng sấm nổ vang trời. Cứ như tôi đang ở núi Buck, cảm nhận sức mạnh đó ở trái đất và trên bầu trời.
Sáng hôm sau trời trong vắt không một gợn mây. Chúng tôi có một bữa ăn dã ngoại với rượu vang và bánh bột nhồi trong vườn Villa Borghese. Mặt trời ấm nóng, những chiếc bánh bột nhồi thơm ngon như thức ăn của thiên sứ. Tôi không nhớ có bao giờ mình cảm nhận sâu sắc hơn thế về hiện tại như khi đó hay không. Một người bạn nói điều gì đó về Hobbes và không nghĩ ngợi tôi đọc một dòng của Mill. Dường như đưa tiếng nói này từ quá khứ tới một khoảnh khắc vốn đã thấm đẫm quá khứ là tự nhiên, dù tiếng nói đó trộn lẫn với tiếng của tôi. Mọi người im lặng một lát khi họ nhìn xem ai vừa nói, rồi một người hỏi câu đó trích từ đâu, và cuộc trò chuyện tiếp tục.
Trong thời gian còn lại của tuần đó, tôi trải nghiệm Rome giống như họ: như một địa danh lịch sử, nhưng cũng là một nơi của đời sống, của ẩm thực, giao thông, của xung đột và đe dọa. Thành phố không còn là một viện bảo tàng nữa; đối với tôi nó sống động như núi Buck. Quảng trường Piazza del Pololo. Nhà tắm Caracalla. Bảo tàng Castel Sant'Angelo. Những điểm đến này trở nên rất thật đối với trí óc tôi, như nàng công chúa da đỏ, như toa tàu hỏa màu đỏ, như cái máy Xén. Thế giới mà chúng đại diện, thế giới của triết học, khoa học, văn học – cả một nền văn minh – mang một đời sống khác biệt so với đời sống mà tôi đã biết. Tại phòng Trưng bày Nghệ thuật Cổ đại Quốc gia, tôi đứng trước tác phẩm Judith chặt đầu Holoferner của Caravaggio mà không một lần nghĩ tới những con gà.
Tôi không biết điều gì đã tạo ra thay đổi này, tại sao bỗng nhiên tôi có thể tiếp xúc với những nhà tư tưởng vĩ đại của quá khứ hơn là tôn sùng họ đến mức im bặt. Nhưng có điều gì đó về thành phố này, với lớp nhựa đường đen và đá cẩm thạch trắng đậm màu lịch sử, sáng chói trong ánh đèn giao thông, đã cho tôi thấy tôi có thể thán phục quá khứ mà không bị nó làm cho câm lặng.
Tôi vẫn đang thở trong mùi ẩm mốc của những lớp đá cổ kính khi tôi đến Cambridge. Tôi chạy vội lên cầu thang, lo lắng kiểm tra hộp thư điện tử, biết rằng thế nào cũng sẽ có thư của Drew. Khi mở máy tính ra, tôi thấy quả là Drew có gửi thư cho tôi, nhưng cũng có thư của người khác nữa: chị của tôi.
Tôi mở thư nhắn của chị Audrey. Bức thư được viết thành một đoạn đài, hầu như không có chấm câu, đầy lỗi chính tả, và thoạt đầu tôi quanh quẩn với những lỗi ngữ pháp kì cục mà nhờ đó bức thư trở nên câm bặt. Nhưng từ ngữ trong thư không hề câm bặt; chúng gào lên với tôi từ màn hình máy tính.
Audrey nói đáng lẽ chị nên ngăn chặn Shawn từ nhiều năm trước, trước khi anh có thể làm với tôi những gì mà anh đã làm với chị. Chị nói rằng khi chị còn nhỏ, chị muốn kể cho mẹ biết, muốn cầu cứu mẹ, nhưng chị nghĩ mẹ sẽ không tin chị. Chị nói đúng. Trước đám cưới của chị, chị đã trải nghiệm những cơn ác mộng, những cảnh hồi tưởng, và chị đã kể với mẹ. Mẹ nói rằng những ký ức đó là tưởng tượng, không thể có chuyện đó được. Đáng lẽ chị nên giúp em, Audrey viết. Nhưng khi chính mẹ đẻ của chị không tin chị, chị không tin vào bản thân mình nữa. [1]
Đó là một sai lầm mà chị định sửa chữa. Chị viết, Chị tin rằng Chúa sẽ truy cứu trách nhiệm của chị nếu chị không ngăn Shawn gây tổn thương cho người khác. Chị sẽ đương đầu với Shawn, với bố mẹ, và chị bảo tôi hãy đứng về phía chị. Em đứng về phía chị hay không thì chị vẫn sẽ làm. Nhưng không có em, có thể chị sẽ thất bại.
Tôi ngồi trong bóng tối hồi lâu. Tôi giận chị vì đã viết thư cho tôi. Tôi cảm thấy chị đã giật tôi khỏi một cuộc sống, nơi tôi đang hạnh phúc, và kéo tôi trở lại một cuộc sống khác.
Tôi gõ thư trả lời. Tôi bảo với chị rằng chị đúng, rằng tất nhiên chúng tôi nên ngăn Shawn lại, nhưng tôi bảo chị đừng làm gì hết cho tới khi tôi có thể trở về Idaho. Tôi không biết tại sao tôi lại bảo chị đợi, tôi không biết tôi nghĩ thời gian sẽ mang lại lợi ích gì mà bảo chị đợi. Tôi không biết tôi nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng tôi nói chuyện với bố mẹ, nhưng bằng trực giác tôi hiểu những gì đang bị đe dọa. Chừng nào chúng tôi chưa hỏi thì chừng đó vẫn còn khả năng để tin rằng bố mẹ sẽ giúp. Nói với bố mẹ là đánh liều với điều không thể tưởng tượng nổi: đó là đánh liều với rủi ro của việc biết rằng bố mẹ đã biết tất cả rồi.
Audrey đã không đợi, dù chỉ một ngày. Sáng hôm sau chị cho mẹ xem thư của tôi. Tôi không thể hình dung ra mọi chi tiết của cuộc trò chuyện đó, nhưng tôi biết rằng, đối với Audrey, quả là nhẹ nhõm khôn tả khi đặt những lời lẽ của tôi trước mẹ, cuối cùng để có thể nói, con không điên. Và Tara cũng vậy.
Suốt ngày hôm đó, mẹ ngẫm nghĩ về bức thư của tôi. Tầm chiều ở Idaho, tức là gần nửa đêm ở Anh, mẹ, vốn không biết gọi điện thoại quốc tế, lại có thể tìm được tôi trên mạng. Những con chữ trên màn hình nhỏ xíu, bị giới hạn trong hộp nhắn tin nhỏ xíu ở góc trình duyệt, nhưng bằng cách nào đó chúng dường như nuốt cả căn phòng. Mẹ kể với tôi rằng mẹ đã đọc thư của tôi. Tôi gồng mình chuẩn bị hứng cơn tam bành của mẹ.
Mẹ viết, thật khó để đối mặt với hiện thực. Để hiểu ra rằng có một điều gì đó thật xấu xí, và mẹ đã từ chối nhìn nhận nó.
Tôi phải đọc những dòng này không biết bao nhiêu lần trước khi tôi hiểu. Trước khi tôi hiểu ra rằng mẹ không tức giận, không trách tôi, cũng không cố thuyết phục tôi tin rằng chỉ là tôi tưởng tượng ra chuyện ấy. Mẹ tin tôi.
Tôi nói với mẹ, mẹ đừng tự trách bản thân. Từ khi bị tai nạn đầu óc mẹ không còn được như trước nữa.
Có lẽ vậy, mẹ nói. Nhưng đôi khi mẹ nghĩ chúng ta đã chọn căn bệnh của mình, bởi vì về một mặt nào đó chúng có lợi cho chúng ta.
Tôi hỏi mẹ tại sao mẹ chưa bao giờ ngăn Shawn làm tổn thương tôi.
Shawn luôn nói con chọn đối đầu, và mẹ nghĩ mẹ tin điều đó, bởi vì điều đó dễ hơn. Bởi vì con mạnh mẽ, có lý trí, và bất cứ ai cũng có thể thấy. Shawn thì không.
Mẹ giải thích không hợp lý chút nào. Nếu tôi dường như có lý trí thì tại sao mẹ lại tin Shawn khi anh nói với mẹ rằng tôi chọn đối đầu? Rằng tôi cần bị khuất phục, bị trừng phạt.
Mẹ nói [2], mẹ là một người mẹ. Những người mẹ che chở. Mà Shawn là đứa bị hư tổn như thế.
Tôi muốn nói rằng mẹ cũng là mẹ của tôi nhưng tôi không nói. Tôi nhắn rằng tôi không nghĩ bố sẽ tin chuyện này.
Mẹ viết, Bố sẽ tin. Nhưng thật khó cho bố. Nó nhắc bố nhớ đến những thương tổn mà chứng rối loạn lưỡng cực của bố đã gây ra cho gia đình ta.
Trước đó tôi chưa từng nghe thấy mẹ thừa nhận rằng bố có thể bị bệnh tâm thần. Nhiều năm trước tôi đã nói với mẹ những gì tôi học được ở lớp học tâm lý về chứng rối loạn lưỡng cực và tâm thần phân liệt, nhưng mẹ gạt đi. Giờ đây, nghe mẹ nói đến chứng bệnh đó tôi có cảm giác như được giải phóng. Chứng bệnh ấy đã cho tôi một lý do để lao vào bên cạnh bố, vậy nên khi mẹ hỏi tại sao tôi không tìm đến mẹ sớm hơn, tại sao tôi không xin mẹ giúp, tôi đã trả lời thật lòng.
Tôi nói, bởi vì mẹ cũng bị bố bắt nạt. Ở trong nhà chúng tôi, mẹ không có sức mạnh. Bố cầm trịch tất cả và bố sẽ không giúp chúng tôi.
Mẹ nói, bây giờ mẹ mạnh mẽ hơn rồi. Mẹ không sợ hãi nữa.
Khi tôi đọc dòng đó, tôi hình dung ra mẹ mình là một phụ nữ trẻ, thông minh, đầy năng lượng, nhưng cũng đầy lo âu và dễ phục tùng. Sau đó hình ảnh ấy thay đổi, mẹ gầy, thon, tóc mẹ buông dài, thẳng mượt và có màu sáng bạc.
Tôi viết, Emily đang bị bắt nạt.
Mẹ viết, Đúng vậy. Giống như mẹ.
Chị ấy là mẹ, tôi nói.
Nó là mẹ đấy. Nhưng bây giờ chúng ta biết nhiều hơn rồi. Chúng ta có thể viết lại câu chuyện này.
Tôi hỏi về một chuyện cũ. Đó là chuyện xảy ra nhiều tuần trước khi tôi rời nhà đến BYU, sau khi Shawn có một đêm đặc biệt tồi tệ. Anh làm mẹ khóc, sau đó ngồi phịch xuống sofa bật TV. Tôi thấy mẹ khóc ở bàn bếp, và mẹ bảo tôi đừng tới BYU. “Con là người duy nhất đủ mạnh mẽ để điều khiển nó,” mẹ nói. “Mẹ không thể, bố con cũng không thể. Chỉ có con.”
Tôi gõ chậm, ngập ngừng: Mẹ có nhớ đã bảo con đừng đi học, rằng con là người duy nhất có thể điều khiển Shawn không?
Có, mẹ nhớ.
Tạm ngừng, sau đó những con chữ xuất hiện – những từ mà tôi không biết là mình cần nghe, nhưng khi nhìn thấy chúng, tôi hiểu rằng cả đời tôi đã tìm kiếm chúng.
Con là con của mẹ. Đáng lẽ mẹ nên bảo vệ con.
Tôi tưởng chừng mình đã sống cả một cuộc đời trong khoảnh khắc tôi đọc những dòng chữ đó, một cuộc đời khác với cuộc đời mà tôi thực sự đã sống. Tôi trở thành một con người khác, nhớ một tuổi thơ khác. Lúc đó tôi không hiểu được sự màu nhiệm của những từ đó, và bây giờ tôi cũng không hiểu được. Tôi chỉ biết điều này: rằng khi mẹ nói với tôi rằng mẹ không phải là người mẹ mà mẹ mong ước trở thành đối với tôi, lần đầu tiên mẹ đã trở thành người mẹ đó.
Con yêu mẹ, tôi viết, và đóng máy tính lại.
Mẹ và tôi chỉ nhắc đến cuộc chuyện trò đó duy nhất một lần, trên điện thoại, một tuần sau đó. “Chuyện sẽ được giải quyết thôi con,” mẹ nói. “Mẹ đã kể với bố con điều mà con và chị con nói rồi. Shawn sẽ được giúp đỡ.”
Tôi gạt chuyện đó ra khỏi đầu. Mẹ đã đứng lên đấu tranh. Mẹ mạnh mẽ. Mẹ đã gây dựng cơ sở kinh doanh của mình, với tất cả những người ấy làm việc cho mẹ, và nó vượt trội so với việc của bố cũng như các cơ sở kinh doanh khác trong thị trấn. Mẹ, người phụ nữ để phục tùng ấy, có nội lực mà tất cả những người còn lại trong gia đình tôi không thể đoán trước được. Còn bố. Bố đã thay đổi. Bố đã ôn hòa hơn, dễ cười hơn. Tương lai có thể khác quá khứ: tôi không còn nhớ mẹ ở trong bếp lắng nghe khi Shawn ghìm tôi xuống sàn nhà, ép chặt khí quản tôi. Tôi không còn nhớ hình ảnh mẹ quay nhìn đi chỗ khác nữa.
Cuộc sống của tôi ở Cambridge đã thay đổi – hoặc đúng hơn, tôi đã thay đổi thành một người khác biết tin tưởng rằng mình thuộc về Cambridge. Gần như chỉ sau một đêm nỗi hổ thẹn mà tôi cảm thấy về gia đình đã chuồn khỏi tôi. Lần đầu tiên trong đời tôi có thể thoải mái giới thiệu mình từ đâu đến. Tôi thừa nhận với các bạn mình rằng tôi chưa bao giờ đến trường học phổ thông. Tôi miêu tả núi Buck, với những bãi phế liệu, khu chuồng trại và bãi quây gia súc. Tôi thậm chí kể với họ về cái hầm chứa đầy đồ dự trữ ở ngoài cánh đồng lúa mì, và thùng phuy xăng được chôn ở gần nhà kho cũ.
Tôi kể với họ rằng tôi nghèo, tôi kể với họ tôi từng dốt nát lắm, và khi kể những điều đó tôi không gợn chút xấu hổ. Chỉ khi đó tôi mới hiểu cảm giác xấu hổ bắt nguồn từ đâu: đó không phải là bởi tôi đã không học ở một trường nhạc xây bằng đá cẩm thạch hay bởi bố tôi không phải là một nhà ngoại giao. Đó không phải bởi bố tôi điên điên dở dở, hay bởi mẹ tôi phục tùng bố. Cảm giác xấu hổ bắt nguồn từ việc có một người cha đã đẩy tôi về phía những lưỡi xén rào rạo của cái máy Xén, thay vì đẩy tôi ra xa khỏi nó. Cảm giác xấu hổ bắt nguồn từ những lúc tôi bị ghìm trên sàn nhà, biết rằng mẹ ở ngay phòng bên, nhắm mắt, bịt tai, trong khoảnh khắc đó lựa chọn tuyệt nhiên không làm mẹ của tôi.
Tôi tạo một lịch sử mới cho bản thân. Tôi trở thành một vị khách thường xuyên của những bữa tối, với những câu chuyện săn bắn và về loài ngựa, về việc thu phế liệu, đấu tranh với những trận hỏa hoạn trên núi. Về người mẹ thông minh của tôi, một bà đỡ, một doanh nhân; về người cha lập dị của tôi, một người bán đồng nát và là người cuồng tín. Tôi nghĩ cuối cùng tôi cũng đã trung thực về cuộc sống mà tôi đã sống trước kia. Đó không phải là sự thật tuyệt đối, nhưng nó thật theo một nghĩa rộng hơn: thật đối với những gì sẽ diễn ra trong tương lai, giờ thì mọi chuyện đã thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn. Bởi giờ đây mẹ tôi đã tìm được sức mạnh của bản thân.
Quá khứ là một bóng ma, không có thực, không có sức ảnh hưởng. Chỉ tương lai mới có trọng lượng mà thôi.
 
[1] Các dòng in nghiêng có hàm ý nội dung trong thư điện tử được trích dẫn theo trí nhớ, không phải được trích dẫn trực tiếp, tuy nhiên vẫn giữ đúng ý nghĩa. — TG
[2]  Nguyên văn: Có lúc tác giả dùng said, và có lúc dùng wrote.
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 32 - Cánh Phụ Nữ Ồn Ào Trong Một Ngôi Nhà Rộng

Lần tiếp theo khi tôi trở về núi Buck, đó là mùa thu và bà-ở-chân-đồi sắp mất. Bà đã chống chọi với bệnh ung thư tủy xương trong chín năm; giờ đây cuộc chiến sắp kết thúc. Tôi vừa mới biết rằng mình đã giành được một suất học tiến sĩ tại Cambridge thì mẹ viết thư cho tôi. “Bà lại vào viện rồi,” mẹ thông báo. “Về mau đi. Mẹ nghĩ đây sẽ là lần cuối.”
Khi tôi xuống sân bay ở Salt Lake, bà lúc tỉnh lúc mê. Drew đón tôi ở sân bay. Khi đó quan hệ của chúng tôi đã vượt trên mức bạn bè, và Drew nói rằng anh sẽ lái xe đưa tôi về Idaho, tới bệnh viện của thị trấn.
Từ khi đưa Shawn tới bệnh viện ấy nhiều năm trước, tôi chưa quay lại đó, và khi tôi bước đi trong hành lang trắng toát sực mùi thuốc khử trùng, tôi khó mà không nghĩ đến anh. Tôi tìm thấy phòng của bà. Ông tôi đang ngồi bên giường bà, nắm bàn tay trơ xương của bà. Mắt bà mở và bà nhìn tôi. “Tara bé bỏng của bà từ tận bên Anh đã về đây rồi,” bà nói, rồi mắt bà nhắm lại. Ông siết tay bà nhưng bà đã thiếp đi. Người y tá nói với chúng tôi rằng bà có thể sẽ ngủ trong nhiều giờ.
Drew nói rằng anh sẽ lái xe đưa tôi về núi Buck. Tôi đồng ý và khi ngọn núi chưa hiện ra trong tầm nhìn tôi đã tự hỏi liệu có phải mình đã phạm một sai lầm hay không. Drew đã nghe những câu chuyện của tôi, nhưng vẫn có rủi ro trong việc đưa anh tới đây: đây không phải là một câu chuyện, và tôi không chắc những ai sẽ đóng vai mà tôi đã viết sẵn cho họ.
Nhà tôi nhốn nháo, lộn xộn. Chỗ nào cũng có những phụ nữ, vài người đang nhận đơn đặt hàng qua điện thoại, những người khác pha chế tinh dầu hoặc lọc rượu thuốc. Có một phòng mới được xây thêm ở phía nam của ngôi nhà, nơi những phụ nữ trẻ đang đóng chai và gói hàng để chuyển đi. Tôi để Drew ngồi trong phòng khách và đi vào phòng vệ sinh, nơi duy nhất trong nhà trông có vẻ vẫn như những gì tôi đã nhớ. Khi tôi bước ra khỏi đó tôi gặp một bà già có mái tóc xơ loăn xoăn, đeo đôi kính mắt vuông to tướng.
“Buồng vệ sinh này chỉ dành cho người quản lý cấp cao,” bà nói. “Thợ đóng chai dùng buồng vệ sinh ở phòng phụ kia.”
“Cháu không làm việc ở đây,” tôi nói.
Bà nhìn tôi chằm chằm. Tất nhiên tôi làm việc ở đây. Mọi người đều làm việc ở đây.
“Buồng vệ sinh này chỉ dành cho người quản lý cấp cao,” bà nhắc lại, cố đứng thẳng người hết mức có thể. “Cô không được phép rời khỏi phòng phụ.”
Bà bỏ đi trước khi tôi kịp trả lời.
Tôi vẫn chưa nhìn thấy bố hay mẹ đâu cả. Tôi quay vào trong nhà và thấy Drew đang ngồi trên sofa nghe một phụ nữ giải thích rằng thuốc giảm đau aspirin có thể gây vô sinh. Tôi nắm tay anh, kéo anh đi theo mình, mở đường đi qua chỗ những người lạ.
“Nơi này là thật đấy chứ?” Anh hỏi.
Tôi tìm thấy mẹ trong một phòng không có cửa sổ ở dưới tầng hầm. Tôi có cảm giác rằng mẹ đang trốn ở dưới đó. Tôi giới thiệu mẹ với Drew và mẹ nở nụ cười ấm áp. “Bố đâu ạ?” Tôi hỏi. Tôi ngờ rằng bố ốm phải nằm trên giường, bởi vì bố hay bị các bệnh về phổi từ khi vụ nổ làm tổn thương phổi của bố.
“Mẹ chắc chắn bố đang phấn khích đấy,” mẹ nói, ngước nhìn lên trần nhà có những tiếng bước chân thình thịch.
Mẹ cùng chúng tôi đi lên cầu thang. Vừa thò mặt ra khỏi tầng hầm, mẹ bị mấy nhân viên gọi dồn dập để trả lời thắc mắc của khách hàng. Tất cả mọi người dường như đều muốn hỏi ý kiến của mẹ – về các vết bỏng, về chứng hồi hộp, về những đứa trẻ sơ sinh thiếu cân của họ. Mẹ phẩy tay bảo họ đi chỗ khác và dấn bước về phía trước. Ấn tượng mà mẹ cho thấy khi mẹ di chuyển trong nhà của mình là ấn tượng về một người nổi tiếng trong một nhà hàng đông khách, cố gắng không để ai nhận ra mình.
Bàn của bố tôi to cỡ bằng một chiếc ô tô. Nó được đặt ở trung tâm của đống lộn xộn. Bố đang nói chuyện qua chiếc điện thoại mà bố kẹp giữa má và vai để nó không trượt qua hai bàn tay nhợt nhạt của bố. “Với bệnh tiểu đường thì lũ bác sĩ chẳng thể giúp gì được đâu,” bố nói oang oang. “Nhưng Chúa có thể!”
Tôi liếc nhìn Drew đang mỉm cười. Bố gác máy quay sang chúng tôi. Bố đón chào Drew với nụ cười rộng đến mang tai. Bố tỏa ra thứ năng lượng được cảnh hỗn loạn ồn ào trong nhà làm tiếp cho. Drew nói rằng anh ấn tượng với việc kinh doanh của gia đình, và bố dường như cao thêm hơn chục phân. “Chúng tôi được ban phước vì làm công việc của Chúa,” bố nói.
Điện thoại lại đổ chuông. Ít nhất ba nhân viên có nhiệm vụ trả lời điện thoại, nhưng bố nhảy bố tới, chộp lấy ống nghe như thể bố đang đợi một cuộc gọi quan trọng. Tôi chưa bao giờ thấy bố đầy sinh lực như thế.
“Sức mạnh của Chúa trên trái đất,” bố gào vào điện thoại. “Những loại tinh dầu đó là thế đấy: Thuốc của Chúa!”
Không khí ồn ào trong nhà khiến tôi mất phương hướng, vậy nên tôi dẫn Drew lên núi. Chúng tôi đi dạo qua những cánh đồng lúa mì mọc hoang và từ đó tới vạt thông ở chân núi. Sắc màu của mùa thu thật dịu êm, chúng tôi ở trên đó nhiều giờ nhìn xuống thung lũng yên tĩnh. Xế trưa chúng tôi mới quay về nhà và Drew lên đường trở về thành phố Salt Lake.
Tôi bước vào Nhà nguyện qua ô cửa kiểu Pháp và ngạc nhiên bởi sự tĩnh lặng. Nhà tôi vắng vẻ, điện thoại đều bị tháo cáp hết, mọi phòng thuốc đều bị bỏ không. Mẹ tôi ngồi một mình ở giữa phòng.
“Bệnh viện gọi điện tới,” mẹ nói. “Bà mất rồi.”
Bố tôi mất hứng làm ăn. Bố bắt đầu dậy muộn, càng ngày càng muộn hơn, và khi bố dậy, dường như chỉ để sỉ nhục và buộc tội. Bố gầm lên với Shawn về bãi phế liệu, lên lớp cho mẹ về cách quản lý nhân viên của bà. Bố tát Audrey khi chị cố làm bữa trưa cho bố, và quát mắng tôi vì gõ bàn phím quá ồn. Cứ như thể bố muốn đánh nhau, muốn trừng phạt bản thân vì cái chết của bà tôi. Hoặc có lẽ sự trừng phạt là dành cho cuộc đời bà, cho cuộc xung đột giữa họ, cuộc xung đột mà chỉ bây giờ, khi bà chết, mới kết thúc.
Ngôi nhà dần dần đông đúc trở lại. Những chiếc máy điện thoại lại được kết nối, và những phụ nữ xuất hiện để trả lời điện thoại. Bàn của bố tôi vẫn trống không. Bố nằm lì trên giường hết ngày này qua ngày khác, nhìn đăm đăm lên trần nhà trát vữa. Tôi mang bữa tối vào cho bố, như tôi vẫn làm khi còn bé, và y như hồi bé – bây giờ tôi cũng tự hỏi liệu bố có biết tôi đang ở đó hay không.
Mẹ tôi chạy qua chạy lại với sinh lực của mười người, pha rượu thuốc và tinh dầu, chỉ đạo các nhân viên thu xếp tang lễ và nấu ăn cho từng người anh em họ, từng bà cô ghé qua để tưởng nhớ bà tôi mà không báo trước. Trong hầu hết thời gian tôi thấy mẹ đeo tạp dề, đứng trông một mẻ thịt nướng, mỗi tay cầm một chiếc điện thoại, một dành cho khách hàng, chiếc còn lại để trả lời một ông chú hoặc một người bạn gọi tới chia buồn. Trong khi tất cả những việc đó diễn ra, bố tôi vẫn nằm lì trên giường.
Bố phát biểu tại đám tang. Bài điếu văn của bố là một bài giảng đạo kéo dài hai mươi phút về những lời hứa của Chúa với Abraham. Bố nhắc đến bà hai lần. Đối với những người lạ, dường như bố tôi hầu như không bị ảnh hưởng khi mất đi mẹ đẻ của bố, nhưng chúng tôi biết rõ hơn, chúng tôi có thể thấy được nỗi suy sụp.
Sau lễ tang, khi chúng tôi về đến nhà, bố nổi giận vì bữa trưa chưa được chuẩn bị xong. Mẹ nhoài ra để phục vụ món thịt hầm mà mẹ đã để chế độ nấu chậm, nhưng sau bữa ăn bố dường như vẫn tức giận không kém vì đống bát đĩa bẩn, và mẹ vội vã cất dọn, sau đó lại bực tức vì mấy đứa cháu chơi đùa quá ồn ào trong khi mẹ vội lao ra, cố bảo chúng trật tự.
Tối hôm đó, khi nhà đã vắng vẻ và im ắng, từ phòng khách tôi lắng nghe bố mẹ mình to tiếng ở trong bếp.
“Việc tối thiểu ông có thể làm,” mẹ nói, “là điền chữ vào những tấm thiếp cảm ơn. Dù sao đó cũng là mẹ của ông.”
“Đó là việc của người vợ,” bố nói. “Tôi chưa bao giờ nghe nói một người đàn ông nào lại ngồi viết thiếp cả.”
Bố nói không phải chút nào. Trong mười năm, mẹ là lao động chính có thu nhập trong gia đình, trong khi vẫn phải nấu ăn, lau dọn nhà cửa, giặt giũ, và tôi chưa bao giờ nghe thấy mẹ biểu lộ điều gì có thể gọi là oán giận. Cho đến bây giờ.
“Vậy thì ông nên làm việc của người chồng đi,” mẹ nói, giọng mẹ cất cao.
Chẳng bao lâu sau cả bố và mẹ đều gầm lên. Bố cố dồn mẹ, cố khuất phục mẹ bằng cơn giận dữ, như bố thường thể hiện, nhưng điều này chỉ càng khiến mẹ bướng bỉnh hơn. Cuối cùng mẹ quẳng những tấm thiếp lên bàn và nói, “Viết hay không thì tùy. Nhưng nếu ông không viết thì chẳng ai viết đâu.” Rồi mẹ bước xuống cầu thang. Bố đi theo, và trong một tiếng đồng hồ tiếng quát tháo của họ vọng lên qua sàn nhà.
Tôi chưa bao giờ nghe thấy bố mẹ mình gầm lên như thế – ít nhất, mẹ không như vậy. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ không chịu nhượng bộ.
Sáng hôm sau tôi thấy bố ở trong bếp, đổ bột ra thành thứ gì đó trông như keo dán mà tôi đoán chắc là bột nhão để làm bánh kếp. Nhìn thấy tôi, bố bỏ túi bột xuống và ngồi vào bàn. “Mày là phụ nữ, đúng không nhỉ?” Bố hỏi. “Vậy thì đây là bếp đấy.” Bố con tôi nhìn nhau trừng trừng và tôi nghĩ về khoảng cách vừa mới nảy nòi ra giữa chúng tôi – những từ đó đối với đôi tai của bố nghe mới tự nhiên làm sao, còn đối với đôi tai của tôi thì khó chịu biết nhường nào.
Không có vẻ như mẹ để kệ bố tự làm bữa sáng. Tôi nghĩ có lẽ mẹ ốm, vậy nên tôi đi xuống cầu thang để xem mẹ ra sao. Vừa mới tới đầu cầu thang tôi đã nghe thấy âm thanh đó: tiếng nức nở nghẹn ngào vọng ra từ buồng vệ sinh, bị tiếng máy sấy tóc dìm xuống. Tôi đứng bên ngoài cánh cửa, lắng nghe hơn một phút và chết lặng. Mẹ muốn tôi đi khỏi đó, làm như tôi không nghe thấy gì chăng? Tôi đợi mẹ bình tĩnh lại, nhưng những tiếng nức nở của mẹ chỉ càng dữ dội hơn.
Tôi gõ cửa. “Con đây,” tôi nói.
Cánh cửa mở, và mẹ tôi ở đó, thoạt đầu là một phần sau đó là một phần lớn hơn, da mẹ sáng lấp lánh khi vừa tắm, chiếc khăn tắm quá nhỏ để che phủ người mẹ. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy mẹ mình như thế này và theo bản năng tôi nhắm mắt lại. Thế giới biến thành màu đen. Tôi nghe thấy một tiếng thịch, tiếng cạch của nhựa, và mở mắt ra. Mẹ đánh rơi chiếc máy sấy và nó đập xuống sàn nhà, tiếng ồn mà nó gây ra được nhân đôi khi nó nảy lên trên sàn xi măng không trải thảm. Tôi nhìn mẹ, và nhìn mẹ, khi mẹ kéo tôi về phía mẹ và ôm tôi. Nước từ người mẹ thấm vào quần áo tôi, và tôi cảm thấy từng giọt nước từ tóc mẹ nhỏ xuống vai mình.
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 33 - Bùa Phép Của Vật Lý

Tôi không ở lại núi Buck lâu, có lẽ chỉ một tuần. Hôm tôi rời núi, Audrey bảo tôi đừng đi. Tôi không nhớ cuộc trò chuyện đó, nhưng tôi nhớ đã viết nhật ký về nó. Tôi viết về nó trong buổi tối đầu tiên tôi trở lại Cambridge, trong khi ngồi trên cây cầu đá nhìn lên Nhà thờ ở trường Kings College. Tôi nhớ khi đó dòng sông phẳng lặng; tôi nhớ những chiếc lá thu bay la đà đậu xuống mặt nước trong như gương. Tôi nhớ tiếng ngòi bút của mình lạo xạo trên mặt giấy, kể lại kín tám trang, kể chính xác những gì chị gái tôi đã nói. Nhưng ký ức về chị nói rằng cuộc trò chuyện đó đã biến mất rồi: như thể tôi viết ra để quên.
Audrey bảo tôi hãy ở lại. Chị nói, Shawn khỏe quá, có sức thuyết phục quá nên một mình chị không thể đương đầu với anh. Tôi bảo chị rằng chị không cô đơn, chị có mẹ. Audrey nói tôi không hiểu. Rốt cuộc không ai tin chúng tôi hết. Nếu chúng tôi đề nghị bố giúp thì chị dám chắc bố sẽ gọi cả hai chúng tôi là lũ điêu trá. Tôi bảo chị rằng bố mẹ đã thay đổi và chúng tôi nên tin tưởng họ. Rồi tôi lên máy bay và đi cách xa đó năm nghìn dặm.
Nếu tôi cảm thấy có lỗi vì đã ghi lại những nỗi sợ hãi của chị gái mình từ một khoảng cách an toàn, được vây quanh bởi những thư viện lớn và những nhà thờ cổ kính, thì tôi chỉ bộc lộ một dấu hiệu duy nhất về điều đó, ở dòng cuối mà tôi đã viết tối hôm ấy: tối nay Cambridge bớt đẹp hơn.
Drew đã đến Cambridge với tôi, anh được nhận vào chương trình đào tạo thạc sĩ nghiên cứu về Trung Đông. Tôi đã kể với anh cuộc trò chuyện giữa tôi và Audrey. Anh là người bạn trai đầu tiên được tôi kể cho nghe về gia đình tôi – kể thật sự, kể sự thật chứ không phải là những chuyện vặt vãnh gây cười. Tôi nói, tất nhiên toàn bộ những chuyện tôi kể đều thuộc về quá khứ. Gia đình em bây giờ khác rồi. Nhưng anh vẫn nên biết. Để anh có thể trông chừng em. Phòng khi em làm chuyện gì đó điên rồ.
Kỳ học đầu tiên trôi qua trong những bữa tối nhộn nhịp và những bữa tiệc khuya, bị ngắt quãng bởi những tối thậm chí còn khuya hơn ở trong thư viện. Để đạt tiêu chuẩn lấy bằng tiến sĩ, tôi phải tạo ra một nghiên cứu học thuật nguyên bản của chính mình. Nói cách khác, đã dành năm năm đọc lịch sử, bây giờ tôi được yêu cầu phải viết về nó.
Nhưng viết về cái gì cơ chứ? Trong khi đọc để làm luận văn thạc sĩ, tôi đã ngạc nhiên khi phát hiện ra dư âm của thuyết thần học Mặc Môn ở những nhà triết học nổi tiếng của thế kỷ mười chín. Tôi đề cập điều này với thầy hướng dẫn, giáo sư David Runciman. “Đó là công trình của em đấy,” ông nói. “Em có thể làm điều mà chưa ai từng làm: em có thể nghiên cứu chủ nghĩa Mặc Môn không chỉ dưới góc độ là một phong trào tôn giáo, mà là phong trào trí thức.”
Tôi bắt đầu đọc lại những bức thư của Joseph Smith và Brigham Young. Khi còn nhỏ tôi đã đọc những bức thư này – để tỏ lòng thờ phụng; giờ đây tôi đọc chúng bằng con mắt khác, không phải con mắt của một nhà phê bình, nhưng cũng chẳng phải con mắt của một môn đồ. Tôi nghiên cứu tục đa thê, không phải dưới góc độ là một học thuyết mà là một chính sách xã hội. Tôi so sánh nó với những mục tiêu của riêng mình, cũng như với những phong trào và học thuyết khác trong cùng giai đoạn. Tôi cảm thấy việc đó giống như một hành động cực đoan.
Những người bạn ở Cambridge đã trở thành gia đình của tôi, và tôi có cảm giác mình hòa hợp với họ, cảm giác mà trong nhiều năm đã thiếu vắng ở núi Buck. Đôi khi tôi cảm thấy mình đáng ghét vì những cảm giác như thế. Tôi nghĩ thật không tự nhiên khi đứa em gái lại yêu quý một người lạ hơn anh trai nó, và loại con gái gì lại thích một thầy giáo hơn bố đẻ của nó?
Nhưng dù tôi ước thực tế khác kia, tôi vẫn không muốn về nhà. Tôi thích cái gia đình mà mình đã lựa chọn hơn gia đình mà mình được ban cho, vậy nên tôi càng hạnh phúc hơn ở Cambridge, thì niềm hạnh phúc của tôi càng bị làm ô uế bởi cảm giác rằng tôi đã phản bội núi Buck. Cảm giác đó trở thành một phần thân thể tôi, một thứ gì đó mà tôi có thể nếm trên lưỡi, hoặc ngửi thấy từ hơi thở.
Tôi mua một vé đi Idaho cho dịp Giáng sinh. Tối trước hôm tôi bay, có một bữa tiệc ở trường. Một trong những người bạn của tôi đã lập một đội hợp xướng để hát thánh ca trong bữa tiệc. Đội hợp xướng đã luyện tập trong nhiều tuần, nhưng đúng hôm bữa tiệc diễn ra, giọng nữ cao của đội bị viêm phế quản. Trưa hôm đó điện thoại của tôi đổ chuông. Một người bạn gọi tới. “Hãy nói với tớ rằng cậu biết người nào đó có thể hát đi,” cậu ấy nói.
Đã nhiều năm rồi tôi không hát, và chưa bao giờ tôi hát mà không có bố tôi nghe, nhưng vài giờ sau tôi tham gia đội hợp xướng trên một bục cao gần những thanh xà mái nhà, phía trên cây thông Giáng sinh khổng lồ thống trị hội trường. Tôi trân quý khoảnh khắc đó, thích thú với niềm lâng lâng mà tôi cảm thấy khi một lần nữa lại có âm nhạc dâng trào từ lồng ngực mình, và tự hỏi nếu bố tôi ở đây thì bố có bất chấp trường đại học và chủ nghĩa xã hội để nghe tôi hát hay không. Tôi tin là có.
Núi Buck không thay đổi. Nàng công chúa bị chôn vùi trong tuyết nhưng tôi có thể nhìn thấy những đường nét bí ẩn của đôi chân nàng. Khi tôi về đến nhà, mẹ tôi đang ở trong bếp, một tay khuấy nồi thịt hầm, một tay cầm điện thoại giải thích các đặc tính của cây ích mẫu. Bàn của bố vẫn trống không. Mẹ nói, bố đang nằm trên giường, ở dưới tầng hầm. Có gì đó đã kìm hãm lá phổi của bố.
Một người lạ lực lưỡng ngật ngưỡng bước vào qua cửa sau. Vài giây trôi qua tôi mới nhận ra đó là anh trai mình. Râu của Luke quá rậm, anh trông giống một trong những con dê của anh. Mắt trái anh trắng dã, không có sự sống: vài tháng trước anh bị một cái súng sơn bắn trúng mặt. Anh đi qua phòng và vỗ vào lưng tôi, còn tôi nhìn không chớp bên mắt còn lại của anh, tìm kiếm một nét quen thuộc. Nhưng phải đến khi tôi nhìn thấy cái sẹo gồ lên trên cẳng tay anh, và một vết sẹo hình dấu kiềm cong cong rộng năm phân nơi cái máy xén đã cắn mất thịt anh tôi mới chắc chắn người đàn ông này là anh trai mình. [1]
Anh kể với tôi rằng anh đang sống với vợ và một đàn con trong cái nhà lắp ghép ở sau khu chuồng trại, anh kiếm tiền nhờ khoan dầu ở Bắc Dakota.
Hai ngày trôi qua. Tối nào bố cũng từ tầng hầm đi lên, ngồi xuống sofa ở trong Nhà nguyện, vừa ho khù khụ vừa xem TV hoặc đọc Kinh Cựu Ước. Tôi dành thời gian trong ngày của mình học và giúp mẹ.
Vào tối thứ ba tôi đang ngồi ở bàn ăn đọc sách thì Shawn và Benjamin bước vào qua cửa sau. Benjamin đang nói với Shawn về cú đấm mà anh tung ra sau một tai nạn nhỏ ở trong thành phố. Anh nói rằng trước khi trèo ra khỏi xe tải để đối mặt với tay lái xe kia, anh đã giất khẩu súng ngắn vào cạp quần bò. “Gã đó không biết gã phải đối mặt với điều gì đâu,” Benjamin nói, cười toe toét.
“Chỉ một thằng ngốc mới mang súng trong một vụ va chạm kiểu như thế,” Shawn nói.
“Em mang thì mang thôi chứ có dùng đâu,” Benjamin càu nhàu.
“Vậy thì đừng có mang,” Shawn nói. “Khi mà mày biết mày sẽ không dùng nó. Nếu mày mang súng thì mày có thể sẽ dùng nó, thực tế là vậy. Một vụ đấm nhau có thể biến thành một vụ đấu súng nhanh lắm đấy.”
Shawn nói một cách điềm tĩnh và có suy nghĩ. Mái tóc vàng của anh bẩn và chưa được cắt, mọc dài bù xù, còn mặt anh đầy râu ria lởm chởm màu diệp thạch. Mắt anh sáng lấp lánh dưới lớp dầu mỡ và bụi bẩn như những ngọn lửa màu xanh dương trong đám tro. Vẻ mặt cũng như lời nói của anh dường như thuộc về một người đàn ông già dặn hơn nhiều, một người đàn ông có bầu máu nóng đã nguội bớt, giờ đây đã yên bình.
Shawn quay sang tôi. Tôi luôn tránh mặt anh, nhưng bỗng nhiên điều đó dường như không công bằng. Anh đã thay đổi; thật tàn nhẫn khi làm như anh không thay đổi. Anh hỏi tôi có muốn đi xe một vòng không, tôi nói có. Shawn muốn ăn kem vậy nên chúng tôi mua sữa lắc. Cuộc trò chuyện ôn hòa và thoải mái, giống như nhiều năm trước vào những buổi chạng vạng ở bãi quây gia súc chúng tôi đã trò chuyện. Anh kể với tôi về việc điều hành đội lao động mà không có bố, về những lá phổi yếu ớt của Peter – về những cuộc phẫu thuật và những ống thở oxy mà nó vẫn phải đeo vào ban đêm.
Chúng tôi sắp về tới nhà, chỉ còn cách núi Buck một dặm thì Shawn bất ngờ bẻ lái và chiếc xe trượt trên băng. Anh cho xe xoay tròn, lốp xe bị kẹt rồi chiếc xe lao vọt tới một con đường phụ.
“Chúng ta đi đâu vậy?” Tôi hỏi, nhưng con đường đó chỉ dẫn đến một nơi.
Nhà thờ tối, bãi đỗ xe vắng tanh.
Shawn lượn một vòng quanh bãi rồi đỗ xe gần lối cổng chính.
Anh tắt đề máy và đèn pha lịm dần. Trong bóng tối tôi hầu như không thể nhìn thấy đường cong trên khuôn mặt anh.
“Mày đã nói chuyện nhiều với Audrey phải không?” Anh nói.
“Không hẳn,” tôi đáp.
Anh dường như nguôi đi, rồi anh nói, “Audrey là cái con khốn dối trá.”
Tôi nhìn đi chỗ khác, dán mắt vào ngọn tháp của nhà thờ hiện ra trong ánh sao.
“Tao sẽ găm một viên đạn vào đầu nó,” Shawn nói, và tôi cảm thấy người anh chuyển động về phía tôi. “Nhưng tao không muốn lãng phí một viên đạn tốt vào một con chó cái vô tích sự.”
Việc tôi không nhìn anh là cực kỳ cần thiết. Chừng nào tôi còn dán mắt vào ngọn tháp, chừng đó tôi gần như tin rằng anh không thể động vào tôi. Gần như. Bởi vì ngay cả khi tôi bám lấy niềm tin này, tôi vẫn đợi để cảm thấy hai bàn tay anh trên cổ mình. Tôi biết tôi sẽ cảm thấy chúng, và sẽ sớm cảm thấy, nhưng tôi không dám làm bất cứ điều gì có thể phá vỡ bùa phép đợi chờ. Trong khoảnh khắc đó tôi phần nào tin, như tôi đã luôn tin, rằng chính tôi sẽ phá vỡ bùa phép đó, sẽ là người gây ra việc đó. Khi yên lặng bị phá vỡ và cơn tức tối của anh dồn lên tôi, tôi sẽ biết rằng điều gì đó mình đã làm là chất xúc tác, là nguyên nhân. Trong trạng thái mê tín đó tôi có niềm hi vọng; tôi có ảo tưởng rằng mình kiểm soát được.
Tôi ngồi im, không suy nghĩ, chẳng cử động.
Đề máy kêu tách và động cơ gầm gừ hoạt động. Không khí ấm áp tràn vào qua các lỗ thông.
“Mày cảm thấy như phim hả?” Shawn nói. Giọng anh dửng dưng. Tôi nhìn thế giới quay tròn khi chiếc xe xoay tròn rồi lắc lư trở lại đường cao tốc. “Như phim nghe có vẻ đúng đấy,” anh nói.
Tôi không nói gì, không sẵn sàng cử động hoặc nói chuyện vì sợ rằng mình xâm phạm bùa phép vật lý [2] mà tôi vẫn tin là đã cứu mình. Shawn dường như không biết đến sự im lặng của tôi. Anh lái xe nốt dặm cuối về núi Buck, vừa lái xe vừa vui vẻ nói, gần như bông đùa, về chuyện xem hay không xem bộ phim Người Đàn Ông Biết Quá Ít.
 
[1] Tôi nhớ đó là vết sẹo do Luke làm việc với cái máy xén; tuy nhiên, có thể đó là vết sẹo từ một vụ tai nạn khi anh lợp mái nhà. — TG
[2] Có thể Tara ngầm coi mối quan hệ giữa cô và Shawn cũng giống nguyên tắc lực — phản lực trong vật lý. Nếu cô dám lên tiếng (“lực tác động”) thì anh cô sẽ bóp cổ cô (“phản lực”).
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 34 - Cốt Lõi Của Những Điều Ấy

Tôi không cảm thấy mình đặc biệt can đảm khi bước tới chỗ bố trong nhà nguyện tối hôm đó. Tôi hiểu vai trò thăm dò của mình: tôi ở đó để sắp đặt thông tin, để nói với bố rằng Shawn đã đe dọa Audrey, bởi vì bố sẽ biết phải làm gì.
Hoặc có lẽ tôi bình tĩnh bởi vì tôi không ở đó, không thực sự ở đó. Có lẽ tôi ở cách xa cả một đại dương, ở một lục địa khác, đọc Hume dưới mái vòm bằng đá. Có lẽ tôi đang chạy qua King's College, với cuốn Khảo luận về bất bình đẳng kẹp nách.
“Bố, con cần nói với bố một chuyện.”
Tôi nói rằng Shawn đã đùa cợt về ý định bắn Audrey, và rằng tôi nghĩ đó là bởi Audrey dám đương đầu với anh, phản ứng trước cách cư xử của anh. Bố nhìn tôi trừng trừng, và lớp da đã từng là môi bố rúm lại. Bố lớn tiếng gọi mẹ và mẹ xuất hiện. Tâm trạng của mẹ ủ dột; tôi không thể hiểu tại sao mẹ không nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Chính xác thì mày đang nói gì hả?” Bố nói.
Từ phút ấy, đó là một cuộc thẩm vấn. Mỗi lần tôi gợi ý rằng về một mặt nào đó Shawn tỏ ra bạo lực hoặc gian manh là y như rằng bố gầm lên với tôi: “Bằng chứng đâu mà mày nói thế? Mày có bằng chứng không hả?”
“Con có những trang nhật ký,” tôi nói.
“Mang chúng ra đây, tao sẽ đọc.”
“Con không mang nhật ký về đây,” Đó là lời nói dối; cuốn nhật ký ở dưới đệm giường tôi.
“Tao phải nghĩ gì nếu mày không có bằng chứng?” Bố vẫn gầm lên. Mẹ ngồi trên thành sofa, miệng há hốc, méo mó. Mẹ trông thật đau khổ.
“Bố không cần bằng chứng,” tôi nói khẽ. “Bố đã thấy rồi còn gì. Cả bố và mẹ đều đã thấy.”
Bổ nói chừng nào Shawn chưa mục ra ở trong tù thì tôi còn chưa hài lòng, rằng tôi từ Cambridge về chỉ để gây chuyện. Tôi nói tôi không muốn Shawn ngồi tù nhưng cần phải can thiệp. Tôi quay sang mẹ, đợi mẹ góp tiếng nói cùng tôi, nhưng mẹ lặng thinh. Mẹ nhìn dán mắt xuống sàn nhà như thể bố và tôi không ở đó.
Có một khoảnh khắc tôi hiểu mẹ sẽ không nói, rằng mẹ sẽ ngồi đó và không nói gì, rằng tôi đơn độc. Tôi cố làm cho bố bình tĩnh lại nhưng giọng tôi run rẩy, đứt quãng. Rồi tôi khóc – những tiếng nức nở bật ra từ một nơi nào đó, một phần nào đó thuộc con người tôi mà đã nhiều năm tôi không cảm nhận được, đã quên rằng nó có tồn tại. Tôi nghĩ mình có thể sẽ nôn.
Tôi chạy vào buồng vệ sinh. Tôi run từ chân tới ngón tay. Tôi phải nhanh chóng kiềm chế những tiếng nức nở này – nếu tôi không thể kiểm soát được những tiếng nức nở này thì bố sẽ không bao giờ coi những gì tôi nói là nghiêm túc – vậy nên tôi chặn đứng cơn khóc bằng những phương pháp cũ: nhìn chằm chằm vào mặt mình trong gương và mắng cái đứa ở trong gương vì mỗi giọt nước mắt trào ra. Đó là một phương pháp quen thuộc, mà nhờ nó tôi đập tan ảo tưởng mà tôi đã xây dựng công phu trong năm vừa qua. Quá khứ không có thật, tương lai không có thật, cả hai đều tiêu tan.
Tôi nhìn chằm chằm vào hình ảnh của mình trong gương. Chiếc gương thôi miên, với ba lớp ghép được đóng khung bằng chất liệu giả gỗ sồi. Đó vẫn là chiếc gương mà tôi soi khi còn nhỏ, khi còn là một bé gái, khi tôi ở tuổi mới lớn, nửa là phụ nữ, nửa là bé gái. Phía sau tôi là cái bồn cầu mà Shawn đã dúi đầu tôi vào, giữ tôi ở đó cho tới khi tôi nhận mình là đồ đĩ.
Tôi thường nhốt mình trong buồng vệ sinh này sau khi Shawn buông tôi ra. Tôi di chuyển các tấm kính cho tới khi chúng nhân mặt tôi thành ba, sau đó tôi nhìn trừng trừng từng khuôn mặt, nghĩ về những gì Shawn đã nói và những gì anh bắt tôi nói, cho tới khi điều đó trở nên thật thay vì chỉ là điều mà tôi nói để chấm dứt cái đau. Và đây vẫn là tôi, và đây vẫn là tấm gương đó. Cũng vẫn khuôn mặt ấy, lặp lại trong ba tấm gương.
Chỉ có điều nó không như cũ. Khuôn mặt này già hơn, lơ lửng phía trên chiếc áo len cashmere mềm mại. Nhưng tiến sĩ Kerry nói đúng: không phải quần áo làm cho khuôn mặt này, người phụ nữ này, khác đi. Chính điều gì đó trong đôi mắt cô ta, điều gì đó toát lên từ khuôn cằm của cô ta – một niềm hy vọng hoặc một niềm tin hoặc lòng tin chắc – rằng một cuộc đời không phải là điều không thể thay đổi được. Tôi không biết gọi điều mình đã nhìn thấy là gì, nhưng tôi cho rằng nó giống như đức tin.
Tôi đã lấy lại được cảm giác bình tĩnh yếu ớt, và rời khỏi buồng vệ sinh, mang thái độ bình tĩnh đó cẩn thận như nó là một chiếc đĩa sứ đang được để trên đầu tôi. Tôi đi chầm chậm trong hành lang, bước từng bước ngắn và đều.
“Con đi ngủ đây,” tôi nói khi đi vào Nhà nguyện. “Ngày mai chúng ta sẽ nói chuyện này.”
Bố đang ngồi ở bàn của bố, cầm điện thoại bằng tay trái. “Chúng ta sẽ nói ngay bây giờ,” bố nói. “Bố đã cho Shawn biết những gì mày nói. Nó đang tới đây.”
Tôi đã tính đến việc bỏ chạy. Liệu tôi có thể lấy xe trước khi Shawn bước vào nhà hay không? Chìa khóa xe ở đâu nhỉ? Tôi nghĩ, mình cần lấy máy tính xách tay, trong đó có nghiên cứu của mình. Bỏ nó lại đi, đứa con gái ở trong gương giục.
Bố bảo tôi ngồi xuống và tôi ngồi xuống. Tôi không biết mình đã đợi bao lâu trong tình trạng tê liệt vì do dự, nhưng khi cánh cửa kiểu Pháp bật mở và Shawn bước vào, tôi vẫn đang tự hỏi liệu có thời gian để trốn hay không. Bỗng nhiên căn phòng rộng thênh thang trở nên nhỏ xíu. Tôi nhìn hai bàn tay mình. Tôi không thể ngước mắt lên.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân. Shawn đã bước vào phòng và bây giờ đang ngồi cạnh tôi trên sofa. Anh đợi tôi nhìn anh, và khi tôi không nhìn, anh đưa tay ra nắm tay tôi. Nhẹ nhàng, như thể anh đang vuốt ve những cánh hoa hồng, anh gỡ những ngón tay tôi thẳng ra và thả một thứ gì đó vào lòng bàn tay tôi. Tôi cảm thấy cái lạnh của lưỡi dao trước khi tôi nhìn thấy nó, và cảm thấy máu thậm chí trước khi tôi nhìn thấy một vệt đỏ giữa lòng tay.
Con dao nhỏ, chỉ dài hơn chục phân và rất mỏng. Lưỡi dao ánh lên màu đỏ thẫm. Tôi cọ cọ ngón tay cái và ngón trỏ vào nhau, sau đó đưa chúng lên mũi ngửi. Mùi kim loại. Rõ ràng đó là máu. Không phải máu của tôi – anh chỉ đưa nó cho tôi thôi – nhưng máu của ai mới được chứ?
“Nếu mày thông minh, ‘gai ém' ạ,” Shawn nói, “thì mày sẽ dùng cái này cho chính mày. Bởi vì như thế tốt hơn những gì tao sẽ làm với mày nếu mày không tự làm.”
“Không ai yêu cầu việc ấy đâu,” mẹ nói.
Tôi há hốc miệng nhìn mẹ, rồi nhìn Shawn. Lúc đó chắc hẳn tôi trông như một con ngốc đối với họ, nhưng tôi không hiểu được chuyện đang xảy ra đủ rõ để có thể phản ứng.
Tôi phần nào tự hỏi liệu mình có nên quay vào buồng vệ sinh, chui vào trong gương và cử đứa con gái khác ra, cái đứa con gái mười sáu tuổi ấy. Tôi nghĩ, đứa con gái đó có thể đương đầu với chuyện này. Nó sẽ không sợ hãi như tôi. Nó sẽ không bị tổn thương như tôi. Nó là đá, không yếu mềm như da thịt. Tôi không hiểu rằng chính nỗi yếu mềm ấy – chính việc sống vài năm của một cuộc đời chấp nhận yếu mềm đó – cuối cùng đã cứu tôi.
Tôi nhìn lưỡi dao. Bố bắt đầu thuyết giảng, chốc chốc lại ngừng để mẹ có thể thông qua những nhận xét của bố. Tôi nghe thấy những giọng nói, giọng nói của chính tôi giữa những giọng nói đó, đang ngâm nga bản hòa âm trong một khán phòng cổ kính. Tôi nghe thấy tiếng cười, tiếng rượu vang được rót ra từ một cái chai, tiếng leng keng của những con dao cắt bơ chạm vào đĩa sứ. Tôi nghe được chút ít bài lên lớp của bố, nhưng tôi nhớ chính xác, như thể lúc này nó đang diễn ra, đang được truyền qua đại dương và lùi qua ba buổi hoàng hôn để trở về buổi tối tôi hát với các bạn bè trong đội hợp xướng. Tôi nghĩ, chắc là mình đã ngủ thiếp đi. Nhiều rượu vang quá. Nhiều thịt gà tây Giáng sinh quá.
Đã quyết định là mình đang mơ, tôi làm điều mà một người trong mơ làm: tôi cố hiểu và áp dụng các quy luật của hiện thực kỳ quặc này. Tôi tranh luận với những cái bóng kì dị thủ vai gia đình mình, và khi tranh luận thất bại, tôi nói dối. Những kẻ mạo danh đã bẻ cong sự thật. Bây giờ đến lượt tôi bẻ cong nó. Tôi nói với Shawn rằng tôi chẳng nói gì với bố hết. Tôi nói những câu đại loại như “Em không biết bố lấy đâu ra cái ý đó.” và “Chắc bố nghe nhầm.” hy vọng rằng nếu tôi cự tuyệt nhận thức của họ thì họ đơn giản sẽ tiêu tan. Một giờ sau, khi bốn người chúng tôi vẫn đang ngồi trên sofa, tôi cuối cùng cũng chịu chấp nhận sự tồn tại thực thể của họ. Họ ở đây thật, vậy nên tôi cũng thế. Vệt máu trên tay tôi đã khô. Con dao nằm trên thảm, bị tất cả mọi người lãng quên, trừ tôi. Tôi không dám nhìn nó. Máu của ai? Tôi nhìn anh trai mình. Người anh ấy không có vết thương.
Bố bắt đầu bài thuyết giảng mới, và lần này tôi thuộc về hiện tại đủ để nghe nó. Bố giải thích rằng những đứa bé gái cần được hướng dẫn để biết cách cư xử thích hợp ở những chỗ có đàn ông, để không trở nên quá hấp dẫn. Bố nhận thấy những thói quen thiếu đứng đắn ở mấy đứa con gái của chị tôi, mà lớn nhất trong số đó mới sáu tuổi. Shawn điềm tĩnh. Anh bị giọng nói đều đều kéo dài liên miên của bố làm cho chùng xuống. Hơn thế, anh cảm thấy được bảo vệ, được thanh minh, để rồi khi bài giảng của bố kết thúc anh nói với tôi, “Anh không biết tối nay mày nói với bố những gì nhưng chỉ nhìn mày thôi anh có thể biết anh đã làm tổn thương mày. Vậy cho anh xin lỗi.
Chúng tôi ôm nhau. Anh cười giống như chúng tôi luôn cười sau một trận đánh nhau. Tôi mỉm cười với anh như tôi luôn làm thế, như đứa con gái ấy luôn làm thế. Nhưng đứa con gái ấy không có ở đó, và nụ cười đó là giả tạo.
Tôi đi về phòng mình, đóng cửa lại, khẽ khàng cài chốt cửa, và gọi điện cho Drew. Tôi nói chẳng đâu ra đâu vì hoảng sợ, nhưng cuối cùng anh cũng hiểu. Anh nói tôi nên rời khỏi đó, ngay lập tức, và anh sẽ đón tôi ở ngang đường. Tôi nói tôi không thể. Lúc đó mọi chuyện đã lắng dịu. Nếu cố chạy trốn trong đêm thì tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra.
Tôi lên giường nhưng không ngủ được. Tôi đợi đến sáu giờ sáng, sau đó tôi tìm thấy mẹ trong bếp. Tôi đã mượn xe của Drew để lái về núi Buck, vậy nên tôi nói với mẹ rằng có chuyện đột xuất và Drew cần xe của anh ở Salt Lake. Tôi nói khoảng một hoặc hai ngày sau tôi sẽ quay lại.
Vài phút sau tôi lái xe xuống đồi. Đường cao tốc hiện ra trước mắt tôi khi tôi nhìn thấy gì đó và dừng xe lại. Đó là chiếc xe đầu kéo mà Shawn sống với Emily và Peter trên đó. Cách chiếc xe vài bước chân, gần cửa lên xuống, có máu loang trên mặt tuyết. Có sinh vật nào đã chết ở đó.
Sau này, qua lời kể của mẹ tôi được biết đó là Diego, con chó chăn cừu giống Đức mà vài năm trước Shawn đã mua. Con chó là thú cưng, được Peter rất quý. Tối hôm ấy sau khi bố tôi gọi điện bảo Shawn đến, anh đã bước ra ngoài cái nhà xe đó và dùng dao đâm con chó đến chết trong khi đứa con trai nhỏ của anh, đứng chỉ cách đó vài bước chân, nghe Diego kêu thảm thiết. Mẹ nói vụ hành hình đó chẳng liên quan gì đến tôi hết, rằng đó là bởi con Diego cắn chết lũ gà con của Luke. Mẹ bảo đó chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi.
Tôi muốn tin mẹ nhưng tôi không thể. Chuyện con Diego cắn chết lũ gà của Luke xảy ra cách đó đã hơn một năm. Vả lại, con Diego thuộc giống chó thuần chủng. Shawn đã trả năm trăm đô-la mua nó. Anh có thể bán nó đi kia mà.
Nhưng lý do thực sự khiến tôi không tin lời mẹ chính là con dao. Tôi đã nhìn thấy bố và các anh trai mình buộc phải cho hàng chục con chó chết trong từng ấy năm – hầu hết là chó hoang, mà nếu không “bị xử” thì chúng sẽ không tránh xa chuồng gà. Tôi chưa bao giờ thấy ai dùng dao với một con chó. Chúng tôi bắn chúng, bắn vào đầu hoặc vào tim, để cái chết diễn ra thật nhanh. Nhưng Shawn đã chọn một con dao, và con dao có lưỡi chỉ bằng ngón tay cái của anh.
Đó là con dao mà người ta chọn để trải nghiệm giết chóc, để cảm thấy máu chảy xuống tay khi tim của sinh vật bị hại ngừng đập. Đó không phải con dao của người nông dân, thậm chí chẳng phải con dao của đồ tể. Đó là con dao của cơn cuồng nộ.
Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra trong những ngày sau đó. Thậm chí bây giờ, khi xem xét kỹ lưỡng các yếu tố của cuộc chạm trán – nào là đe dọa, phủ nhận, nào là thuyết giảng, xin lỗi – tôi thấy thật khó để kể lại. Nhiều tuần sau, khi tôi nghĩ về nó, tôi thấy dường như mình đã phạm cả nghìn sai lầm, cắm hàng nghìn mũi dao vào trái tim của chính gia đình mình. Chỉ sau này tôi mới chợt nghĩ rằng bất cứ thiệt hại nào xảy ra tối hôm đó có thể đều do mình tôi gây ra. Và phải hơn một năm sau tôi mới hiểu cái điều mà đáng lẽ đã rõ ràng ngay lập tức: rằng mẹ tôi không đối đầu với bố tôi, và bố tôi không đối đầu với Shawn. Bố chưa bao giờ hứa giúp tôi và Audrey. Mẹ đã nói dối.
Giờ đây, khi tôi nhớ lại lời mẹ, nhớ cách chúng xuất hiện như bởi phép màu trên màn hình, một chi tiết nổi bật hơn tất cả những điều còn lại: rằng mẹ đã miêu tả bố là người mắc chứng rối loạn lưỡng cực. Đó chính là chứng rối loạn mà tôi đã ngờ rằng bố mắc phải. Đó là lời của tôi, chứ không phải của mẹ. Rồi tôi tự hỏi phải chăng, có lẽ mẹ, người luôn phản ánh hoàn hảo ý muốn của bố, đêm hôm đó đơn thuần đã phản ánh ý muốn của tôi.
Không, tôi tự nhủ. Đó là lời của mẹ. Nhưng có là của mẹ hay không, thì những lời đã an ủi và xoa dịu tôi cũng rỗng tuếch. Tôi không dám nói là chúng không đáng tin cậy, nhưng lòng chân thật đã không thể tạo cốt lõi cho chúng, và chúng bị những luồng ý kiến khác, mạnh hơn cuốn đi.
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 35 - Phía Tây Của Mặt Trời

Tôi trốn khỏi núi với những cái túi chưa được nhét đầy đồ và không về lấy những thứ mà tôi đã bỏ lại. Tôi tới Salt Lake và ở đó với Drew cho đến hết kỳ nghỉ.
Tôi cố quên tối hôm ấy. Lần đầu tiên trong mười lăm năm, tôi gấp cuốn nhật ký lại, và cất nó đi. Ghi nhật ký là suy tư, mà tôi thì không muốn suy tư về bất cứ điều gì.
Sau ngày đầu năm mới tôi trở lại Cambridge, nhưng tôi rút lui khỏi bạn bè. Tôi đã thấy trái đất rung, đã cảm nhận được cú sốc mở đầu; giờ đây tôi đợi sự kiện địa chấn sẽ làm thay đổi cảnh quan. Tôi biết nó sẽ bắt đầu như thế nào. Shawn sẽ nghĩ về những gì bố đã nói với anh trên điện thoại, và sớm muộn gì anh cũng sẽ hiểu ra rằng khi tôi phủ nhận – rằng bố hiểu lầm tôi – là tôi dối trá. Khi hiểu ra sự thật, anh sẽ khinh thường bản thân anh trong khoảng một giờ. Sau đó anh sẽ chuyển nỗi khinh ghét đó sang tôi.
Điều đó xảy ra vào đầu tháng Ba. Shawn gửi cho tôi một bức thư điện tử. Không chào, không có tin tức gì. Chỉ có một chương trích từ Kinh Thánh, từ Phúc âm Matthew, với một câu in đậm được tách riêng: Hỡi dòng dõi rắn lục, bay vốn là loài xấu, làm sao nói được sự tốt? Câu đó làm máu tôi đóng băng.
Một giờ sau Shawn gọi điện cho tôi. Giọng anh bình thường, và chúng tôi nói chuyện hai mươi phút về Peter, về chuyện phổi thằng bé đang phát triển. Rồi anh nói:
“Anh phải quyết định một điều, và anh muốn có lời khuyên của em.”
“Được mà.”
“Tao không thể quyết định,” anh cất tiếng. Anh ngừng một lát, và tôi nghĩ có lẽ điện thoại bị gián đoạn kết nối. “Tao nên tự giết mày, hay là thuê một thằng ám sát.” Nỗi im lặng đầy tĩnh điện. “Thuê có lẽ rẻ hơn, khi tao tính đến tiền vé máy bay,”
Tôi vờ như không hiểu, nhưng điều đó chỉ khiến anh hùng hổ hơn. Bây giờ anh phóng ra những lời lăng mạ, những tiếng gầm gừ. Tôi cố làm anh bình tĩnh lại nhưng vô ích. Cuối cùng chúng tôi đã hiểu nhau. Tôi gác máy, nhưng anh gọi lại một lần, lần nữa và lần nữa, mỗi lần đều nhắc lại một điều rằng tôi nên cẩn thận, rằng kẻ ám sát anh thuê sẽ đến tìm tôi. Tôi gọi điện cho bố mẹ.
“Nó không có ý đó đâu,” mẹ nói. “Dù sao, nó cũng chẳng có nhiều tiền đến mức ấy.”
“Điều đó không quan trọng,” tôi nói.
Bố muốn có bằng chứng. “Mày không ghi âm lại cuộc gọi đó sao?” Bố nói. “Làm sao bố biết nó có nói nghiêm túc không chứ?”
“Anh ấy nói giống như anh ấy đã dọa con với con dao dính máu đó,” tôi nói.
“Nó nói đùa thôi.”
“Điều đó không quan trọng,” tôi lặp lại.
Cuối cùng những cuộc gọi cũng chấm dứt, nhưng không phải vì bất cứ điều gì bố mẹ tôi đã làm. Chúng chấm dứt khi Shawn loại bỏ tôi khỏi cuộc sống của anh. Anh viết thư, bảo tôi hãy tránh xa vợ con anh, tránh xa anh. Bức thư đó dài, cả nghìn từ buộc tội và chọc tức, nhưng cuối thư giọng anh buồn rầu. Anh nói anh yêu những anh em trai của anh, rằng họ là những người đàn ông tốt nhất mà anh biết. Anh viết, tao yêu mày nhất trong số đó, nhưng lúc nào mày cũng đâm dao vào lưng tao.
Đã nhiều năm tôi không còn gắn bó với anh trai mình, nhưng mất mát đó, dù tôi đã biết trước nhiều tháng, vẫn khiến tôi choáng váng.
Bố mẹ tôi nói rằng anh có lý trong việc từ mặt tôi. Bố nói tôi quá kích động, rằng tôi đã đưa ra lời buộc tội thiếu suy nghĩ khi mà rõ ràng trí nhớ của tôi không đáng tin cậy. Mẹ nói nỗi tức giận của tôi là một mối đe dọa thực sự và rằng Shawn có quyền bảo vệ gia đình anh. “Cơn tức giận của con tối hôm đó,” mẹ nói với tôi trên điện thoại, ám chỉ cái tối Shawn giết con Diego, “nguy hiểm gấp đôi Shawn kia.”
Hiện thực hóa lỏng. Đất dưới chân tôi sụt xuống, lôi tôi xuống phía dưới, xoay tròn nhanh chóng mặt, như cát chảy qua một lỗ ở đáy vũ trụ. Lần tiếp theo chúng tôi nói chuyện, mẹ bảo với tôi rằng con dao đó không hề có ý đe dọa. “Shawn cố làm cho con thoải mái hơn,” mẹ nói. “Nó biết nếu nó cầm dao thì con sợ, vậy nên nó đưa con dao cho con.” Một tuần sau mẹ nói chẳng có con dao nào ở đó hết.
“Khi nói chuyện với con,” mẹ nói, “sự thật của con rất cong vênh. Nói chuyện với con giống như nói với người nào đó không từng ở đây vậy.”
Tôi đồng ý. Sự thực đúng là như vậy đó.
Mùa hè đó tôi được cấp một khoản kinh phí để đi làm nghiên cứu ở Paris. Drew đi cùng tôi. Căn hộ của chúng tôi ở quận sáu, gần vườn Luxembourg. Cuộc sống của tôi ở đó hoàn toàn mới, và gần với tình trạng sáo rỗng hết mức mà tôi có thể tạo ra. Tôi bị cuốn hút vào những phần của thành phố nơi có đông khách du lịch nhất để tôi có thể ném mình vào giữa đám đông. Đó là một dạng cuồng nhiệt của quên lãng, và tôi dành cả mùa hè theo đuổi nó: để mình mất hút trong đám đông khách du lịch, cho phép bản thân được xóa sạch cá tính, tính cách, toàn bộ lịch sử. Điểm tham quan nào càng đông thì tôi càng bị cuốn vào.
Tôi ở Paris được vài tuần và vào một buổi trưa, vừa mới từ lớp học tiếng Pháp ra, tôi dừng chân tại một quán cà phê để kiểm tra thư điện tử. Có một bức thư của chị gái tôi.
Bố tôi tới nhà chị trên đó – tôi hiểu câu này ngay lập tức – nhưng tôi phải đọc thư vài lần mới hiểu được chính xác. Bố tôi chứng minh với chị rằng Shawn đã được Chúa Cứu thế [1] gột rửa, rằng bây giờ anh là một con người mới. Bố muốn cảnh báo Audrey rằng nếu chị còn khơi lại quá khứ thì điều đó sẽ hủy hoại cả gia đình chúng tôi. Bố nói, việc Audrey và tôi tha thứ cho Shawn là ý Chúa. Nếu chúng tôi không tha thứ, tội lỗi của chúng tôi sẽ lớn hơn.
Tôi có thể dễ dàng mường tượng ra cuộc gặp đó, vẻ nghiêm trang của bố khi bố ngồi đối diện với chị tôi, cũng như sự sùng kính và uy quyền trong lời nói của bố.
Audrey nói với bố rằng chị cũng đã được Chúa Cứu thế chuộc tội cho từ lâu, được tiếp thêm sức mạnh và đã tha thứ cho anh trai mình. Chị nói rằng tôi đã khiêu khích chị, khuấy động cơn tức giận bên trong chị. Rằng tôi đã phản bội chị bởi vì tôi đã cho phép bản thân đầu hàng trước nỗi sợ hãi, vương quốc của quỷ Satan, hơn là bước đi bên Chúa cùng với đức tin. Chị nói điều đó rất nguy hiểm bởi vì tôi đã bị nỗi sợ hãi và cha đẻ của nỗi sợ hãi là quỷ Satan điều khiển.
Cuối thư chị viết rằng tôi không được đón chào ở nhà chị, hoặc thậm chí gọi điện cho chị cũng không, trừ khi có người nào khác giám sát để chị không bị khuất phục trước ảnh hưởng của tôi. Khi tôi đọc dòng đó, tôi cười phá lên. Tình huống éo le nhưng không phải là không mỉa mai: vài tháng trước, chính Audrey đã nói rằng Shawn nên chịu giám sát khi có mặt bọn trẻ. Bây giờ, sau những nỗ lực của chúng tôi, người sẽ bị giám sát là tôi.
Khi tôi mất chị gái mình, tôi mất gia đình.
Tôi biết bố sẽ dành cho các anh trai tôi những cuộc viếng thăm tương tự. Họ có tin bố không? Tôi nghĩ họ tin. Suy cho cùng, Audrey sẽ xác nhận nó. Sự phủ nhận của tôi, những lời huênh hoang rỗng tuếch của một người xa lạ, sẽ trở nên vô nghĩa. Tôi đã đi quá xa, đã thay đổi quá nhiều, chỉ còn rất ít nét giống với đứa con gái đầu gối ghẻ lở mà họ nhớ là em gái họ.
Có rất ít hy vọng kiểm soát cái quá khứ mà bố và chị gái đang nhào nặn cho tôi. Lời kể của họ sẽ thuyết phục các anh trai tôi trước, sau đó nó sẽ lan tới các cô dì, chú bác, các anh chị em họ của tôi, và tới khắp thung lũng. Tôi đã mất hết họ hàng, và vì chuyện gì nhỉ?
Đang trong trạng thái tinh thần đó tôi nhận được một bức thư khác: tôi đã giành được học bổng nghiên cứu ngắn hạn tại Harvard. Tôi không nghĩ có bao giờ mình nhận được một tin như vậy với nỗi dửng dưng hơn thế. Tôi biết mình nên cảm thấy ngập tràn biết ơn rằng mình, một đứa con gái dốt nát chui ra từ một đống phế liệu, lại được phép học ở đó, nhưng tôi không thể nào hứng khởi trong hoàn cảnh đó. Tôi bắt đầu nhận thức được mình phải trả giá những gì khi tiếp cận với nền giáo dục, và bắt đầu oán giận nó.
Sau khi đọc thư của Audrey, tôi thấy quá khứ thay đổi. Điều đó bắt đầu với ký ức của tôi về chị. Chúng biến đổi. Khi tôi nhớ lại bất cứ giây phút nào của thời ấu thơ tôi và chị bên nhau, những giây phút dịu dàng hoặc hài hước, những lúc đứa con gái là tôi và đứa con gái là chị, ký ức lập tức thay đổi, bị vấy bẩn, trở nên thối rữa, Quá khứ trở nên đáng ghê sợ chẳng khác gì hiện tại.
Thay đổi ấy lặp lại với mỗi thành viên gia đình tôi. Những kỷ niệm của tôi về họ trở thành điềm bảo, sự kết tội. Đứa bé gái trong gia đình họ, đứa bé đã từng là tôi, không còn là một đứa bé nữa, mà đã trở thành gì đó khác, đầy đe dọa và thâm độc, một đối tượng sẽ hủy hoại họ.
Cả tháng trời đứa trẻ quái vật đó lén theo tôi trước khi tôi tìm được một logic để trục xuất nó: logic đó là, có lẽ tôi bị điên. Nếu tôi bị điên thì mọi chuyện xảy ra thật dễ hiểu. Nếu tôi không bị điên thì chẳng chuyện gì có thể hiểu nổi. Cái logic này dường như thật đáng nguyền rủa. Nhưng nó cũng là một sự giải thoát. Tôi không xấu xa; tôi bị bệnh.
Tỏi bắt đầu chiều theo đánh giá của người khác, luôn luôn chiều theo. Nếu Drew nhớ một điều gì đó khác so với tôi đã nhớ thì tôi lập tức thừa nhận điều đó theo cách của anh. Tôi bắt đầu dựa vào Drew để anh kể cho tôi nghe những sự kiện trong cuộc sống của chúng tôi. Tôi thích thú với mối nghi ngờ bản thân xem liệu tuần trước hoặc tuần trước nữa chúng tôi có gặp một người bạn đặc biệt nào hay không, hoặc tiệm bánh kếp ưa thích của tôi ở cạnh thư viện hay gần bảo tầng. Việc hỏi những chuyện lặt vặt như thế, và khả năng nắm bắt chúng của tôi, cho phép tôi nghi ngờ rằng liệu bất cứ điều gì tôi nhớ có thật sự xảy ra hay không.
Những trang nhật ký của tôi là một vấn đề. Tôi biết rằng ký ức của tôi không chỉ là ký ức, rằng tôi đã ghi lại chúng, rằng chúng tồn tại dưới dạng mực đen, giấy trắng. Điều này không chỉ có nghĩa là trí nhớ của tôi không chính xác. Ảo giác nằm ở sâu hơn, ở phần cốt lõi của trí não tôi, phần hư cấu ra mọi khoảnh khắc của sự việc, sau đó ghi lại những gì nó đã hư cấu.
Trong tháng tiếp theo tôi sống cuộc sống của kẻ mất trí. Nhìn nắng tôi ngờ đó là mưa. Tôi cảm thấy mình luôn muốn nhờ mọi người xác nhận xem họ có đang nhìn thấy những gì tôi thấy hay không. Cuốn sách này màu xanh đấy chứ? Tôi muốn hỏi. Người đàn ông đó cao nhỉ?
Đôi khi mối hoài nghi này được thể hiện chắc chắn và cương quyết: có những ngày càng nghi ngờ trí minh mẫn của mình, tôi lại càng quyết liệt bảo vệ những ký ức, “sự thật” của riêng mình. Shawn bạo lực, nguy hiểm, và bố tôi là người bảo vệ của anh. Tôi không thể chịu nổi khi nghe bất cứ một ý kiến nào khác về chuyện này.
Vào những lúc đó, tôi cuống cuồng tìm kiếm một lý do để nghĩ mình không điên. Bằng chứng. Tôi cần bằng chứng như cần khí trời. Tôi viết thư cho Erin – người phụ nữ mà Shawn đã hẹn hò trước và sau khi hẹn hò với Sadie, người mà từ năm mười sáu tuổi tôi chưa gặp lại. Tôi nói với chị những gì tôi nhớ và hỏi chị, thẳng thừng, rằng liệu có phải tôi bị loạn trí hay không. Chị trả lời ngay tắp lự rằng tôi không hề loạn trí. Để giúp tôi tin bản thân, chị chia sẻ những ký ức của chị – về chuyện Shawn quát vào mặt chị rằng chị là đồ đĩ. Từ đó đập vào tâm trí tôi. Tôi không nói với chị rằng anh cũng gọi tôi như thế.
Erin kể với tôi một chuyện khác. Một lần, khi chị nói lại Shawn – chỉ một chút thôi, chị nói, như thể thái độ của chị bị đem ra xét xử – anh lôi chị ra khỏi nhà chị và đập đầu chị vào bức tường gạch mạnh đến nỗi chị nghĩ anh sẽ giết chết chị. Hai bàn tay anh khóa cổ họng chị. Lần đó mình may mắn, chị viết. Mình đã kịp kêu lên trước khi anh ta bắt đầu làm mình ngạt thở, và bà mình nghe thấy tiếng kêu, kịp ngăn anh ta lại. Nhưng mình biết mình đã nhìn thấy gì trong mắt anh ta.
Bức thư của chị như một thanh vịn gắn với sự thật, một thanh vịn mà tôi có thể đưa tay ra với và nắm chặt lấy khi đầu óc tôi bắt đầu quay cuồng. Đúng là như vậy, cho đến khi tôi chợt nảy ra ý nghĩ có thể chị ấy cũng điên như mình. Chị ấy rõ ràng đã bị tổn thương, tôi tự nhủ. Làm sao tôi có thể tin lời kể của chị sau những gì chị đã trải qua? Tôi không thể trao lòng tin cho người phụ nữ này bởi vì hơn ai hết, tôi biết những tổn thương tâm lý nơi chị nghiêm trọng đến mức nào. Vậy nên tôi tiếp tục tìm kiếm bằng chứng từ nguồn khác.
Bốn năm sau, hoàn toàn tình cờ, tôi có được bằng chứng đó.
Trong khi đi làm nghiên cứu ở Utah, tôi gặp một người đàn ông trẻ, người đã “nóng mặt” khi biết họ của tôi.
“Westover,” anh ta nói, mặt sa sầm. “Cô có họ hàng gì với Shawn không?”
“Anh trai tôi đấy.”
“Ồ, lần cuối cùng tôi gặp anh trai cô,” anh ta nói, nhấn mạnh mấy từ cuối cùng như thể anh đang phỉ nhổ vào nó, “hắn ta đang dùng hai tay bóp cổ em họ tôi, và hắn đập đầu cô ấy vào tường gạch. Nếu không có bà tôi thì hắn đã giết con bé.”
Bằng chứng đấy. Một nhân chứng. Một lời kể không thiên vị. Nhưng khi tôi nghe chuyện đó, tôi không còn cần nghe nó nữa. Cơn sốt nghi ngờ bản thân đã dứt từ lâu. Không phải là tôi tuyệt đối tin trí nhớ của mình, mà tôi tin nó nhiều như tin trí nhớ của bất cứ ai, và tin nhiều hơn trí nhớ của một số người.
Nhưng đó là nhiều năm xa rồi.
[1] Những đau khổ và cái chết của Chúa Jesus là để chuộc lại tội lỗi của loài người.
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 36 - Bốn Cánh Tay Dài, Xoay Tít

Đó là một buổi trưa tháng Chín đầy nắng khi tôi cố nhấc chiếc vali của mình qua khu Harvard Yard. Kiến trúc thời thuộc địa của nó khiến tôi có cảm giác xa lạ nhưng cũng diêm dúa và kém phần uy nghi so với những tháp nhọn kiểu Gothic của trường Cambridge. Thư viện trung tâm, được gọi là Thư viện Widener, là thư viện rộng nhất tôi từng thấy, và trong vài phút tôi quên năm vừa qua của mình, nhìn nó không chớp mắt trong nỗi kinh ngạc.
Phòng của tôi nằm trong khu kí túc xá dành cho nghiên cứu sinh gần trường Luật. Nó nhỏ và giống như cái hang – tối tăm, ẩm thấp, lạnh lẽo, với những bức tường màu xám tro và đá lát lạnh lẽo màu xám chì. Tôi dùng ít thời gian ở trong đó hết mức có thể. Trường đại học dường như mở ra một khởi đầu mới, và tôi định nhận lấy cơ hội đó. Tôi đăng ký mọi khóa học mà tôi có thể chèn vào thời gian biểu, từ khóa học về Chủ nghĩa duy tâm ở Đức, Lịch sử của chủ nghĩa thế tục đến các khóa học về Chủ nghĩa vô thần, và Luật. Hàng tuần tôi tham gia nhóm nghiên cứu để thực hành tiếng Pháp và tham gia một nhóm khác để học đan. Trường đào tạo sau đại học mở một khóa học vẽ chì than miễn phí. Trong đời mình tôi chưa bao giờ vẽ, nhưng tôi cũng đăng ký học.
Tôi bắt đầu đọc – Hume, Rousseau, Smith, Godwin, Wollstonecraft và Mill. Tôi chìm đắm vào thế giới mà họ đã sống, những vấn đề mà họ đã cố giải quyết. Tôi trở nên bị ám ảnh bởi quan niệm của họ về gia đình – một con người phải cân nhắc giữa các bổn phận đặc biệt của mình với gia đình và những bổn phận với toàn xã hội. Sau đó tôi bắt đầu viết, dệt những sợi mà tôi rút ra được từ cuốn Những nguyên tắc đạo đức của Hume với những sợi từ cuốn Quá trình nô lệ hóa người phụ nữ của Mill. Đó là một bài viết hay, thậm chí khi ngồi viết nó tôi đã biết điều đó, và khi tôi viết xong tôi để nó ra một chỗ. Đó là chương đầu tiên trong luận văn tiến sĩ của tôi.
Một buổi sáng Chủ nhật, vừa từ lớp học vẽ về tôi thấy có thư của mẹ. Mẹ nói, bố mẹ sẽ đến Harvard. Tôi đọc dòng đó ít nhất ba lần, tin chắc mẹ đang đùa. Bố chẳng đi đâu cả – tôi chưa bao giờ thấy bố đi bất cứ đâu trừ đi Arizona để thăm bà nội tôi – vậy nên ý tưởng bố sẽ bay dọc đất nước để thăm đứa con gái mà bố tin là đã bị quỷ dữ chiếm mất dường như thật đáng buồn cười. Thế rồi tôi hiểu: bố sẽ đến để cứu vớt tôi. Mẹ nói bố mẹ đã đặt vé máy bay rồi và sẽ ở lại phòng ký túc xá của tôi.
“Bố mẹ có muốn ở khách sạn không ạ?” Tôi hỏi. Bố mẹ không muốn.
Vài ngày sau, tôi đăng nhập vào một chương trình trò chuyện qua mạng mà đã nhiều năm rồi tôi không sử dụng. Có một tiếng keng vui nhộn và một cái tên chuyển từ màu xám sang màu xanh lá. Charles đang trực tuyến. Tôi không nhớ chắc chắn ai là người bắt đầu cuộc trò chuyện, hoặc ai đã gợi ý chuyển từ gõ phím sang nói chuyện điện thoại. Chúng tôi nói chuyện một tiếng đồng hồ, và cứ như không một giây phút nào đã trôi qua.
Anh hỏi tôi đang học ở đâu; khi tôi trả lời, anh nói, “Harvard! Tuyệt quát”
“Ai nghĩ em sẽ học Harvard chứ gì?”
“Anh nghĩ thế,” anh nói, và đó là sự thật. Anh luôn nhìn nhận tôi như thế, từ rất lâu rồi, trước khi có bất cứ lý do nào để làm thế.
Tôi hỏi anh làm gì sau khi tốt nghiệp đại học và tôi nhận thấy nỗi im lặng căng thẳng. “Mọi chuyện không như anh dự tính,” anh nói. Anh chưa bao giờ tốt nghiệp. Anh bỏ học giữa năm thứ hai sau khi con trai anh ra đời, bởi vì vợ anh bị ốm và có một đống đơn thuốc cần thanh toán. Anh đăng ký đi khoan dầu ở Wyoming. “Anh chỉ định làm vài tháng thôi,” anh nói. “Đó là một năm trước.”
Tôi kể với anh về Shawn, kể tôi đã mất Shawn, và đang mất gia đình của mình như thế nào. Anh lắng nghe trong im lặng, rồi sau khi trút một tiếng thở dài anh nói, “Em đã bao giờ nghĩ có lẽ em nên buông bỏ họ chưa?”
Tôi chưa từng nghĩ vậy, chưa một lần nào. “Chuyện đó không phải là mãi mãi,” tôi nói. “Em có thể hàn gắn.”
“Thật buồn cười là em có thể thay đổi nhiều như vậy,” Charles nói, “nhưng em nói nghe vẫn y như khi chúng mình mười bảy.”
Bố mẹ tôi đến khi lá cây bắt đầu chuyển màu, khi khuôn viên đại học đang bước vào khoảng thời gian đẹp nhất, những chiếc lá đỏ, lá vàng của mùa thu hòa quyện với màu gạch đỏ tía. Với văn phạm của người quê mùa cục mịch, chiếc áo sơ mi vải bông chéo và mũ lưỡi trai có biểu tượng thành viên trọn đời của hội các thợ săn và những người thích súng NRA, bố sẽ luôn lạc lõng ở Harvard, nhưng những vết sẹo của bố làm tăng hiệu ứng đó. Trong nhiều năm kể từ khi vụ nổ xảy ra, tôi đã nhiều lần nhìn bố, nhưng chỉ đến khi bố tới Harvard và tôi nhìn bố đối nghịch với cuộc sống của tôi ở đó, tôi mới hiểu bản thân bố đã biến dạng nặng đến mức nào. Nhận thức ấy đến với tôi qua con mắt của người khác – những người lạ chợt biến sắc mặt khi bố đi qua họ trên đường, những người ngoái lại để nhìn bố lần thứ hai. Sau đó tôi cũng nhìn bố, và nhận thấy da ở cằm bố căng đến mức nào, trông y như nhựa; môi bố thiếu tròn trịa tự nhiên ra sao; má bố hõm vào một góc trông gần như bộ xương. Bàn tay phải của bố, bàn tay bố thường giơ lên để chỉ thứ này, thứ nọ, xương xẩu, cong queo và khi tôi nhìn nó, tương phản với những tháp chuông và cột cổ kính của Harvard, dường như đối với tôi nó là móng vuốt của một sinh vật nào đó trong thần thoại.
Bố hầu như không quan tâm đến trường đại học ấy, vậy nên tôi đưa bố vào thành phố. Tôi hướng dẫn bố cách lên tàu điện ngầm – cách trượt thẻ qua rãnh và đi qua cánh cửa quay. Bố cười rõ to, như thể đó là một công nghệ không tưởng. Một người đàn ông vô gia cư đi dọc toa của chúng tôi hỏi xin một đô-la. Bố đưa cho ông ta tờ năm mươi đô nhàu nhĩ.
“Nếu bố tiếp tục làm thế ở Boston thì bố sẽ không còn đồng nào đâu,” tôi nói.
“Bố không tin,” bố vừa nháy mắt vừa nói. “Bố mẹ đang ăn nên làm ra lắm. Bố mẹ tiêu không hết đâu!”
Vì sức khỏe của bố không được tốt, bố ngủ trên giường. Tôi mua một tấm nệm hơi cho mẹ. Tôi ngủ trên sàn gạch. Cả bố và mẹ đều ngáy như sấm, và tôi mất ngủ cả đêm. Khi mặt trời mọc tôi vẫn nằm trên sàn, nhắm mắt, thở chậm và sâu, trong khi bố mẹ lục tủ lạnh mini của tôi và bàn luận về tôi bằng giọng thì thầm.
“Chúa cử tôi đến để làm chứng,” bố nói. “Con bé có lẽ chưa được đưa đến cho Chúa đâu.”
Trong khi họ nghĩ cách tìm lại con người cũ của tôi, tôi nghĩ cách để mặc họ làm. Tôi sẵn sàng nhượng bộ, dù điều đó có nghĩa là một câu thần chú. Một phép màu sẽ có ích đấy: nếu tôi dàn cảnh tái sinh thuyết phục thì tôi có thể tách khỏi mọi điều mình đã nói và làm trong năm vừa qua. Tôi có thể rút lại tất cả – đổ lỗi cho quỷ Satan và được làm lại cuộc đời. Tôi mường tượng, là một mạch máu sạch tinh, mình sẽ được quý mến nhường nào. Sẽ được yêu quý ra sao. Tất cả những gì tôi phải làm là đổi những ký ức của tôi lấy những ký ức của bố mẹ, và tôi lại có thể có được gia đình.
Bố muốn tới thăm Sacred Grove ở Palmyra, New York – khu rừng, nơi mà theo nhà tiên tri Joseph Smith, Chúa đã hiển linh và ra lệnh cho ngài lập một giáo hội đích thực. Chúng tôi thuê một chiếc xe hơi và sáu giờ sau đã có mặt ở Palmyra. Gần khu rừng, nằm tách khỏi đường cao tốc, có một đền thờ sáng lung linh, trên đỉnh có bức tượng thiên sứ Moroni bằng vàng. Bố dừng xe và bảo tôi đi qua khuôn viên của đền thờ. “Hãy chạm vào đền thờ,” bố nói. “Sức mạnh của nó sẽ gột rửa con.”
Tôi nhìn kỹ mặt bố. Vẻ mặt bố căng – tha thiết, tuyệt vọng. Với tất cả những cảm xúc đó bố muốn tôi chạm vào đền thờ và được cứu rỗi.
Bố và tôi nhìn đền thờ. Bố nhìn thấy Chúa; tôi nhìn thấy đá granite. Bố con tôi nhìn nhau. Bố thấy một phụ nữ bị nguyền rủa; tôi nhìn thấy một ông già mắc bệnh tâm thần, bị các tín điều của ông làm biến dạng theo nghĩa đen. Tuy nhiên, đắc thắng. Tôi nhớ những lời của Sancho Panza: Một hiệp sĩ giang hồ là người bị đánh bại và sau đó thấy mình là hoàng đế.
Giờ đây khi tôi nhớ lại lúc đó, hình ảnh ấy nhòa đi, tái lập thành hình ảnh một hiệp sĩ đầy nhiệt huyết cưỡi chiến mã, lao vào một trận đánh tưởng tượng, tấn công những cái bóng, thọc gươm vào lớp không khí mỏng. Cằm của hiệp sĩ toát lên vẻ nghiêm nghị, lưng thẳng thớm. Đôi mắt người đó bừng bừng kết tội, phóng ra những tia lửa thiêu đốt cả nơi đôi mắt đó ngự trị. Mẹ tôi ném về phía tôi cái nhìn hoài nghi, uể oải, nhưng khi bố liếc nhìn mẹ bố mẹ hợp nhất về tinh thần, sau đó cả hai người dùng thương tấn công những cối xay gió.
Tôi đi qua khuôn viên và đặt tay lên mặt đá của đền thờ. Tôi nhắm mắt lại, cố tin rằng hành động đơn giản này có thể tạo ra phép màu mà bố mẹ nguyện cầu cho tôi. Tất cả những gì tôi phải làm là chạm vào di tích này, và bằng sức mạnh của Đấng Toàn Năng, tất cả sẽ lại đâu vào đấy.
Nhưng tôi chẳng cảm thấy gì. Chỉ thấy đá lạnh.
Tôi trở lại xe. “Đi thôi,” tôi nói.
Khi mà chính cuộc sống dường như là điên rồ thì ai biết sự điên rồ nằm ở đâu?
Trong những ngày sau, tôi viết câu ấy ở mọi chỗ – viết vô thức, bột phát. Giờ đây tôi tìm thấy dòng chữ trong các cuốn sách mà đạo đó tôi đang đọc, trong những cuốn vở ghi bài, trên lề của những trang nhật ký. Đọc nó là đọc một câu thần chú. Tôi bắt bản thân phải tin nó – tin rằng không có khác biệt thực sự giữa những gì tôi biết là thật và những gì tôi biết là không thật. Để thuyết phục bản thân rằng có chút giá trị nào đó trong những gì tôi đã tính toán để làm, trong việc nhượng bộ những nhận thức về đúng, sai của mình, về hiện thực, về trí minh mẫn, để giành được tình yêu của bố mẹ. Vì họ, tôi tin mình có thể mặc áo giáp, tấn công gã khổng lồ, dù những gì tôi nhìn thấy chỉ là những cối xay gió.
Chúng tôi vào khu rừng thiêng Sacred Grove. Tôi đi đầu và tìm được một chiếc ghế băng dưới tán cây. Đó là một khu rừng tươi đẹp và đậm lịch sử. Nó là lý do tổ tiên của tôi đến nước Mỹ. Một cành cây nhỏ gãy tách, và bố mẹ tôi xuất hiện. Họ ngồi xuống bên tôi, mỗi người một bên.
Bổ nói trong suốt hai tiếng đồng hồ. Bố chứng minh rằng bố đã nhìn thấy các thiên thần và quỷ dữ. Bố đã thấy quỷ dữ hiện hình rõ rành rành, và đã được Chúa Jesus ghé thăm, như những nhà tiên tri thời xưa, như Joseph Smith đã được gặp Chúa trong khu rừng này. Bố nói, niềm tin của bố không còn là niềm tin, mà là trạng thái tri ngộ hoàn hảo.
“Con đã bị quỷ Satan điều khiển,” bố thì thầm, bàn tay bố đặt trên vai tôi. “Bố có thể cảm thấy điều đó ngay khi bố bước chân vào phòng con.”
Tôi nghĩ đến phòng ký túc xá của mình – nghĩ đến những bức tường u ám và gạch lát lạnh lẽo, nhưng cũng nghĩ đến những bông hoa hướng dương mà Drew đã gửi tới, cùng bức tranh thảm treo tường mà một người bạn Zimbabwe đã mang sang từ ngôi làng của anh.
Mẹ không nói gì. Mẹ nhìn đăm đăm xuống đất, mắt mẹ long lanh, môi mẹ mím lại. Bố khích tôi phản ứng. Tôi tìm kiếm nơi bản thân mình, tìm sâu bên trong, dò dẫm tìm những lời mà bố cần nghe. Nhưng những lời đó không ở trong tôi, hoặc chưa.
Trước khi chúng tôi trở lại Harvard, tôi thuyết phục bố mẹ đi đường vòng tới thác Miagara. Bầu không khí trong xe nặng nề, và thoạt đầu tôi tiếc vì đã gợi ý đi theo đường vòng, nhưng khi bố nhìn thấy thác nước, tâm trạng của bố thay đổi hẳn, trở nên hoan hi.
Tôi có một chiếc máy ảnh. Bố luôn ghét máy ảnh nhưng khi bố nhìn thấy máy ảnh của tôi mắt bố sáng lên đầy phấn khích. “Tara! Tara!” bố reo lên, chạy lên trước tôi và mẹ. “Hãy chụp một bức ở góc này. Không đẹp sao!” Cứ như thể bố hiểu rằng chúng tôi đang gói ghém một kỷ niệm, một điều gì đó đẹp để mà sau này chúng tôi sẽ cần đến. Hoặc có lẽ tôi tưởng như vậy bởi vì lúc đó tôi cảm thấy thế. Tôi viết trong nhật ký, Có vài bức ảnh của hôm nay có thể sẽ giúp mình quên khu rừng ấy. Có một bức ảnh mình và bố vui vẻ bên nhau. Là bằng chứng cho thấy điều đó là có thể.”
Khi chúng tôi trở lại Harvard, tôi đề nghị thuê khách sạn cho bố mẹ. Bố mẹ không chịu đi. Trong một tuần, chúng tôi chen chúc nhau trong phòng ký túc xá của tôi. Sáng nào bố cũng lê bước qua một tầng cầu thang tới phòng tắm chung với độc chiếc khăn tắm màu trắng nhỏ trên người. Nếu là ở BYU điều đó sẽ khiến tôi xấu hổ, nhưng ở Harvard tôi nhún vai. Tôi đã vượt trên nỗi ngượng ngùng rồi. Ai nhìn thấy bố, hoặc bố nói gì với họ, hoặc làm họ sốc ra sao thì quan trọng gì chứ? Điều tôi quan tâm là ý kiến của bố, bố là người tôi đang để mất.
Rồi cũng đến đêm cuối bố mẹ tôi ở Harvard, và tôi vẫn chưa được tái sinh.
Mẹ và tôi quanh quẩn trong căn bếp dùng chung với những người khác để làm món thịt bò hầm khoai tây rồi bê món đó trên khau mang về phòng. Bố lặng lẽ nhìn đĩa thức ăn, như bố đang ngồi một mình. Mẹ nhậ xét đôi câu về món đó, và mẹ cười căng thẳng rồi im lặng.
Khi chúng tôi ăn xong, bố nói bố có quà cho tôi. "Đó là lý do tại sao bố tới đây," bố nói. "Để ban cho con sự ban phước của giới giáo sĩ."
Trong tôn giáo Mặc Môn, giới giáo sĩ là sức mạnh của Chúa để thực hiện công việc trên trần gian – để khuyên răn, chỉ bảo, chữa bệnh, và để xua đuổi quỷ dữ, Sức mạnh đó được ban cho đàn ông. Đây là thời khắc quan trọng: nếu tôi chấp nhận sự ban phước này, bố sẽ tẩy uế cho tôi. Bố sẽ đặt tay lên đầu tôi, đuổi con quỷ đã bắt tôi nói những điều khiến tôi không được đón chào trong gia đình mình. Tất cả những gì tôi phải làm là chịu nhận, và trong năm phút việc đó sẽ kết thúc.
Tôi nghe thấy mình nói không.
Bố há hốc miệng nhìn tôi, không thể tin nổi, sau đó bố bắt đầu chứng minh – không phải về Chúa, mà về mẹ. Bố nói, thảo dược của mẹ là sứ mệnh thiêng liêng mà Chúa giao phó. Mọi chuyện đã xảy ra với gia đình của chúng tôi, mọi vết thương, tất cả những lần cận kể cái chết, là bởi chúng tôi đã được lựa chọn, chúng tôi đặc biệt. Chúa đã sắp đặt tất cả những chuyện đó để chúng tôi có thể – lên án hệ thống y tế và chứng minh sức mạnh của Chúa.
“Con có nhớ lần Luke bị bỏng chân không?” Bố nói, như thể tôi có thể quên chuyện đó. “Đó là kế hoạch của Chúa. Đó là một chương trình truyền thụ. Cho mẹ con. Để mẹ chuẩn bị sẵn sàng cho những gì xảy ra với bố sau đó.”
Vụ nổ, vụ bỏng ấy. Bố nói vinh dự thiêng liêng tột bậc là được làm bằng chứng sống về sức mạnh của Chúa. Bố nắm hai tay tôi bằng những ngón tay dị dạng của ông và nói với tôi rằng vẻ biến dạng của bố đã được định trước. Rằng nó là một niềm hạnh phúc dịu dàng, rằng nó đưa các linh hồn đến với Chúa.
Mẹ bổ sung bằng giọng thì thầm, cung kính. Mẹ nói rằng chỉ bằng cách điều chỉnh một luân xa là mẹ có thể ngăn chặn một cơn đột quy; rằng mẹ có thể chặn đứng cơn đau tim bằng cách truyền năng lượng; rằng mẹ có thể chữa được bệnh ung thư nếu người bệnh có đức tin. Mẹ nói chính mẹ bị ung thư vú, và mẹ đã tự chữa khỏi bệnh cho mình.
Đầu tôi ngẩng phắt lên, “Mẹ bị ung thư ư?” Tôi nói. “Mẹ chắc chứ? Mẹ đã làm xét nghiệm chưa?”
“Mẹ không cần phải làm xét nghiệm,” mẹ nói. “Mẹ thử trên cơ bắp rồi. Đó là bệnh ung thư. Mẹ đã chữa được rồi.”
“Đáng lẽ bố mẹ cũng có thể chữa khỏi bệnh cho bà,” bố nói. “Nhưng bà đã quay lưng lại với Chúa. Bà thiếu đức tin và đó là lý do tại sao bà chết. Chúa sẽ không chữa lành cho những người thiếu đức tin.”
Mẹ gật đầu nhưng không hề nhìn lên.
“Tội lỗi của bà nghiêm trọng,” bố nói. “Nhưng tội lỗi của con còn nghiêm trọng hơn cơ đấy, bởi vì con đã được cho biết sự thật nhưng vẫn quay lưng lại với sự thật.”
Căn phòng im ắng ngoại trừ tiếng rì rì của giao thông trên phố Oxford.
Đôi mắt bố nhìn như dán vào tôi. Đó là cái nhìn của một nhà tiên tri có sức mạnh và quyền lực được thu hút từ vũ trụ. Tôi muốn đương đầu với cái nhìn đó, để chứng minh mình có thể chịu đựng sức nặng của nó, nhưng sau vài giây một điều gì đó trong tôi oằn lại, một lực từ bên trong đã chịu nhượng bộ, và mắt tôi nhìn xuống sàn.
“Ta được Chúa trao trọng trách chứng minh rằng thảm họa đang ở phía trước con,” bố nói. “Thảm họa sẽ sớm xảy ra thôi, rất sớm, và nó sẽ hủy hoại con, hủy hoại con hoàn toàn. Nó sẽ dồn con xuống tột cùng của thấp kém. Và khi con ở dưới đó, khi con nằm đó trong tàn tạ, con sẽ cầu xin Chúa Cha linh thiêng rủ lòng thương.” Giọng bố, kích động cao độ, giờ đây hạ thấp thành lẩm bẩm. “Và khi đó Chúa sẽ không nghe con đâu.”
Tôi nhìn thắng vào mắt bố. Bố bừng bừng kết tội; tôi gần như có thể cảm thấy nhiệt tỏa ra từ bố. Bố rướn người về phía trước, ghé sát mặt bố vào mặt tôi và nói, “Nhưng bố sẽ nghe.”
Im lặng ngự trị, không bị khuấy đảo, đầy ngột ngạt.
“Bố sẽ dành cho con sự ban phước, một lần cuối,” bố nói.
Sự ban phước là một niềm hạnh phúc. Bố đưa ra cho tôi những điều kiện quy phục y như bố đã đưa ra cho chị gái tôi. Tôi mường tượng chắc hẳn chị cảm thấy được giải thoát khi hiểu rằng chị có thể đổi sự thật của chị – sự thật mà tôi và chị cùng chia sẻ – lấy sự thật của bố. Chị chắc hẳn phải cảm thấy hàm ơn biết nhường nào khi trả cái giá khiêm tốn như thế. Tôi không thể phán xét chị vì lựa chọn của chị, nhưng vào lúc đó tôi biết mình không thể lựa chọn nó cho bản thân. Tất cả những gì mà tôi đã nỗ lực để đạt được, tất cả những năm học hành của tôi, là để tôi có được đặc quyền này: quyền nhìn và trải nghiệm nhiều sự thật hơn những sự thật được bố mang đến cho, và dùng những sự thật đó để kiến tạo tinh thần mình. Tôi đã dần tin rằng khả năng đánh giá nhiều ý kiến, nhiều lịch sử, nhiều quan điểm chính là cốt lõi của việc tự-sinh. Nếu bây giờ nhượng bộ thì tôi sẽ thất bại không chỉ trong một cuộc xung đột. Tôi sẽ mất quyền giám hộ tinh thần của chính mình. Đây là cái giá mà tôi bị đòi hỏi phải trả, và bây giờ tôi hiểu điều đó. Điều mà bố tôi muốn tống khứ khỏi tôi không phải là quỷ dữ: mà là bản thân tôi.
Bố cho tay vào túi quần, lấy ra một lọ tinh dầu bé xíu đặt vào lòng bàn tay tôi. Tôi nhìn nó. Lọ dầu này là thứ duy nhất được cần đến để thực hiện nghi lễ này, lọ dầu và quyền năng linh thiêng đều nằm trong bàn tay biến dạng của bố. Tôi tưởng tượng ra mình chịu tuân phục, tưởng tượng ra mình nhắm mắt, và rút lại những báng bổ của mình. Tôi hình dung cảnh mình thuật lại những thay đổi của bản thân, một quá trình biến đổi thần thánh nhường nào, và tôi sẽ gào lên lời biết ơn ra sao. Lời đã sẵn sàng, đã được hình thành chỉ đợi để bay ra từ môi tôi.
Nhưng khi tôi mở miệng ra, chúng biến mất.
“Con yêu bố,” tôi nói. “Nhưng con không thể. Con xin lỗi.”
Bố tôi đứng phắt dậy.
Bố nhắc lại, có một con quỷ đang ở trong phòng tôi, rằng bố không thể ở lại thêm một đêm nào nữa. Chuyến bay của bố mẹ là vào sáng ngày hôm sau, nhưng bố nói thà ngủ trên ghế đá còn hơn ngủ trong căn phòng có quỷ dữ.
Mẹ lăng xăng đi quanh phòng, nhét áo và tất vào vali. Năm phút sau bố mẹ rời khỏi đó.
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 37 - Liều Mình Cứu Vãn

Ai đó đang la hét, tiếng la hét không thay đổi, kéo dài, to đến nỗi nó làm tôi tỉnh giấc. Trời tối. Có những ngọn đèn đường, vỉa hè, tiếng ầm ĩ của những chiếc ô tô ở xa xa. Tôi đang đứng giữa phố Oxford, cách phòng ký túc xá của tôi nửa dãy phố. Tôi đi chân đất, mặc áo ba lỗ và quần thụng nỉ. Tôi cảm thấy mọi người đang trố mắt nhìn tôi, nhưng lúc đó là hai giờ sáng và đường phố vắng tanh.
Bằng cách nào đó tôi đã trở lại tòa nhà ký túc xá, và ngồi trên giường, cố nhớ lại những gì đã xảy ra. Tôi nhớ mình đã đi ngủ. Tôi nhớ mình đã mơ. Điều mà tôi không nhớ là việc tôi bật dậy khỏi giường và chạy nhanh qua hành lang, lao ra đường, vừa chạy vừa la hét, nhưng đó là những gì tôi đã làm.
Tôi đã mơ về nhà mình. Tôi mơ thấy bố xây một mê cung trên núi Buck và làm tôi bị mắc kẹt ở đó. Những bức tường của mê cung cao hơn ba mét và được dựng bằng các đồ tích trữ từ căn hầm gốc của bố – những bao ngũ cốc, những thùng đạn, những thùng mật ong. Tôi tìm kiếm một thứ gì đó, một thứ quý giá mà tôi chưa bao giờ có thể thay thế. Tôi phải thoát khỏi mê cung mới lấy lại được nó, nhưng tôi không thể tìm được đường ra, và bố đang săn đuổi tôi, vít kín các lối ra bằng những bao ngũ cốc chất đống thành chướng ngại vật.
Tôi không tham gia nhóm học tiếng Pháp nữa, rồi tôi bỏ lớp học vẽ. Thay vì đọc ở thư viện hoặc đi nghe giảng, tôi xem TV trong phòng mình, xem hết mọi bộ phim dài tập nổi tiếng trong hai thập kỷ qua. Khi một tập kết thúc, tôi bắt đầu xem tập tiếp theo mà không suy nghĩ, y như nhịp thở này nối tiếp nhịp thở khác. Tôi xem TV mười tám, hai mươi tiếng đồng hồ mỗi ngày. Khi ngủ tôi mơ thấy nhà mình, và ít nhất mỗi tuần một lần tôi tỉnh dậy, đứng trên đường phố giữa lúc nửa đêm, tự hỏi tiếng la hét mà tôi nghe thấy trước khi tỉnh giấc có phải là của chính mình hay không.
Tôi chẳng học hành gì. Tôi cố đọc nhưng các câu chữ chẳng có nghĩa gì hết. Tôi cần chúng không có nghĩa gì. Tôi không thể chịu đựng nổi việc xâu chuỗi các câu thành những mạch tư duy, hoặc dệt những mạch tư duy đó thành các quan điểm. Các quan điểm quá giống với những gì phản chiếu – mà ở tôi là phản chiếu biểu cảm trên khuôn mặt căng lên của bố trước khi bố rời khỏi chỗ tôi.
Điều mấu chốt của tình trạng suy sụp tinh thần là dù bạn bị như vậy rõ rành rành đến mức nào, thì nó cũng không rõ ràng đối với bản thân bạn. Mình ổn mà, bạn nghĩ. Hôm qua mình xem TV hai mươi tư tiếng đồng hồ liền mà có sao đâu. Mình có sụp đổ đâu. Mình chỉ lười chút thôi. Tôi không rõ tại sao thà nghĩ bản thân mình lười biếng còn hơn là nghĩ mình lo âu, sầu khổ. Nhưng nghĩ thế là hơn. Và còn hơn thế: đó là chuyện sống còn.
Cho đến tháng Mười Hai tôi đã bỏ bê việc nghiên cứu đến mức tôi hiểu ra rằng chỉ cần dừng một tối để bắt đầu xem một tập mới của phim Phá Luật là tôi không thể lấy bằng tiến sĩ. Tôi cười như điên đại mất mười phút trước tình cảnh trớ trêu này; tôi đã hi sinh cả gia đình để đi học, để tiếp cận với nền giáo dục, vậy mà giờ đây tôi có thể đánh mất mục tiêu đó.
Sau vài tuần nữa trong tình trạng này, một tối tôi loạng choạng bò ra khỏi giường, quyết định rằng mình đã mắc sai lầm, rằng khi bố đề nghị ban phước cho tôi, tôi nên nhận. Nhưng bây giờ chưa phải dã quá muộn. Tôi có thể khắc phục, sửa chữa sai lầm đó.
Tôi mua vé đi Idaho cho kỳ nghỉ Giáng sinh. Hai ngày trước chuyến bay, tôi tỉnh giấc trong trạng thái mồ hôi đầm đìa, lạnh toát, Tôi mơ thấy mình ở trong bệnh viện, nằm trên tấm khăn trải giường trắng toát, cứng quèo. Bố ở dưới chân chiếc băng ca, nói với một viên cảnh sát rằng tôi đã dùng dao tự đâm mình. Mẹ lặp lại lời bố, mắt mẹ đầy hoảng loạn. Tôi ngạc nhiên khi nghe thấy giọng bố gào lên rằng tôi cần phải được chuyển sang một bệnh viện khác. “Thằng ấy sẽ phát hiện ra con bé ở đây,” bố gào và gào.
Tôi viết thư cho Drew đang sống ở Trung Đông. Tôi kể với anh rằng tôi sắp về núi Buck. Khi anh hồi âm, giọng anh khẩn nài, gay gắt, như thể anh đang cố băng qua lớp sương mù mà tôi đang sống ở trong. Tara yêu quý, anh viết. Nếu Shawn đâm em, em sẽ không được đưa đi bệnh viện đâu. Em sẽ bị đưa xuống tầng hầm và cho dùng oải hương để trị vết thương đấy. Anh xin tôi đừng đi, nói cả trăm điều mà tôi đã biết mà không quan tâm, và khi nỗ lực đó chẳng ăn thua, anh nói: Em đã kể với anh chuyện của em để anh có thể ngăn em nếu em làm điều gì điên rồ. Tara ạ, đó là chuyện này đấy. Chuyện này điên rồ đấy.
Mình vẫn có thể hàn gắn, tôi lẩm bẩm khi máy bay cất cánh khỏi đường băng.
Khi tôi về đến núi Buck, đó là một buổi sáng mùa đông quang đãng. Tôi nhớ mùi khô lạnh của đất đóng băng khi tôi về đến nhà và cảm giác của băng và đá cuội lạo xạo dưới gót giày. Bầu trời xanh đến mức đáng kinh ngạc. Khi bà tôi còn sống, bằng cách chì chiết, la mắng và đe dọa, bà đã làm cho bãi phế liệu của bố tôi được quây lại. Giờ đây phế liệu đã phủ khắp trang trại và lan về phía chân núi. Những ngọn đồi thoai thoải, đã từng là những hồ tuyết tuyệt đẹp, giờ lốm đốm những chiếc xe tải hỏng và thùng sắt han gỉ, bẩn thỉu.
Mẹ mừng rơn khi tôi bước vào cửa. Tôi không nói trước với mẹ là tôi sẽ về, hy vọng rằng, nếu không ai biết thì tôi sẽ có thể tránh được Shawn. Mẹ căng thẳng nói liến thoáng. “Mẹ sẽ làm bánh quy và nước sốt cho con!” nói rồi mẹ lao vào bếp.
“Lát nữa con sẽ giúp mẹ,” tôi nói. “Con cần gửi một bức thư điện tử.”
Chiếc máy tính của gia đình được để ở phần cũ của ngôi nhà, phần đã từng là phòng khách trước khi nhà được tu sửa. Tôi ngồi xuống viết cho Drew, bởi vì tôi đã hứa, như một thỏa thuận giữa chúng tôi, rằng khi ở núi Buck cứ hai tiếng đồng hồ tôi lại viết cho anh một lần. Tôi lay chuột và màn hình bật sáng. Trình duyệt đã mở sẵn; ai đó quên thoát ra sau khi dùng. Tôi định mở một trình duyệt khác nhưng dừng lại khi nhìn thấy tên mình. Tên tôi hiển thị trong bức thư được mở từ trước trên màn hình, mà mẹ đã gửi đi chỉ vài phút trước. Thư gửi cho bạn gái cũ của Shawn, chị Erin.
Tiền đề của bức thư là Shawn đã tái sinh, được gột rửa về mặt tâm linh. Rằng Đấng Cứu Thế đã chữa lành cho gia đình chúng tôi, và rằng tất cả mọi người đều đã phục hồi. Tất cả, trừ tôi. Mẹ viết, Thánh linh đã thì thầm tới tôi sự thật về con gái tôi. Đứa con tội nghiệp của tôi đã đầu hàng trước nỗi sợ hãi và sợ hãi đã khiến nó cố làm cho những nhận thức sai lầm của nó được công nhận. Tôi không biết liệu nó có là một mối nguy hiểm đối với gia đình tôi hay không, nhưng tôi có những lý do để nghĩ rằng nó có thể là mối nguy hiểm. [1]
Thậm chí trước khi đọc bức thư đó tôi đã biết rằng mẹ và bố cùng có chung quan điểm không mấy tốt đẹp về tôi, rằng mẹ tin quỷ dữ đã chế ngự tôi, rằng tôi nguy hiểm. Vậy mà khi nhìn những từ đó trên màn hình, khi đọc bức thư và nghe thấy cả giọng mẹ ở đó, người tôi lạnh toát.
Có nhiều điều hơn thế về bức thư ấy. Trong đoạn cuối, mẹ miêu tả đứa con thứ hai của chị Emily, một đứa con gái, chào đời một tháng trước. Mẹ là bà đỡ. Cuộc sinh nở diễn ra tại nhà và, theo mẹ, Emily bị chảy máu gần chết trước khi họ có thể đến bệnh viện. Mẹ kết thư với niềm tin rằng đêm đó Chúa đã hiển linh qua bàn tay mẹ, cuộc sinh nở là bằng chứng về sức mạnh của Chúa.
Tôi nhớ chuyện Peter chào đời đầy kịch tính: nó đã trượt ra khỏi người Emily như thế nào, nặng chỉ hơn nửa kilogram; nó tím tái như thế nào, và họ nghĩ nó đã chết; họ đã vật lộn trong trận bão tuyết ra sao để tới được bệnh viện thị trấn, chỉ để được nói cho biết rằng bệnh viện ấy không đủ phương tiện, và chẳng có chiếc trực thăng nào bay trong bão tuyết; hai chiếc xe cứu thương đã được điều đi khẩn cấp tới bệnh viện McKay-Dee ở Ogden. Một phụ nữ với tiền sử sinh nở như vậy, có nguy cơ gặp rủi ro cao như vậy, được khuyên cố đẻ lần thứ hai tại nhà dường như là liều lĩnh đến mức ảo tưởng.
Nếu lần sinh nở đầu tiên là ý Chúa thì lần sinh nở thứ hai là ý của ai?
Tôi vẫn đang ngạc nhiền về sự chào đời của cháu gái mình, thì Erin hồi âm.
Bác đã đúng về Tara, chị viết. Cô ấy lầm lạc vì thiếu đức tin. Erin nói với mẹ tôi rằng việc tôi nghi ngờ bản thân – việc tôi viết thư cho chị, Erin, để hỏi liệu tôi có nhầm hay không, các ký ức của tôi có thật hay không – là bằng chứng cho thấy tâm hồn tôi gặp nguy, rằng tôi không đáng tin cậy: Cô ấy đang xây dựng cuộc sống của mình bằng nỗi sợ hãi. Cháu sẽ cầu nguyện cho cô ấy. Cuối thư, Erin ngợi khen tài đỡ đẻ của mẹ. Bác là một anh hùng thực sự, chị viết.
Tôi đóng trình duyệt đó lại, nhìn đăm đăm vào mặt giấy dán tường phía sau màn hình. Đó vẫn là những hoa văn từ thời thơ ấu của tôi. Tôi đã mơ được thấy nó bao lâu rồi? Tôi đã đến để giành lại nó, để cứu vãn nó. Nhưng chẳng có gì ở đây để cứu vãn hết, chẳng có gì để nắm giữ. Chỉ có cát đang chuội, lòng trung thành đang chuội đi, những lịch sử đang chuội đi.
Tôi nhớ đến giấc mơ đó, cái mê cung ấy. Tôi nhớ đến những bức tường được dựng bằng bao ngũ cốc và hòm đạn, bằng nỗi sợ hãi và chứng hoang tưởng của bố tôi, bằng những lời trích trong Kinh Thánh và lời tiên tri của bố. Tôi đã muốn thoát khỏi mê cung với những đường hình chữ chi gây mất phương hướng và những lối mòn điều biến của nó, để tìm điều quý giá ấy. Nhưng bây giờ tôi đã hiểu: điều quý giá ấy, đó là mê cung. Đó là tất cả những gì còn lại của cuộc sống mà tôi từng có ở đây: một trò chơi ô chữ có những luật chơi mà tôi sẽ không bao giờ hiểu được, bởi vì chúng không phải là luật mà là một cái lồng muốn nhốt tôi. Tôi có thể ở lại, và tìm kiếm những gì là gia đình, hoặc có thể đi, bây giờ, trước khi những bức tường chuyển động và lối ra bị đóng sập lại.
Khi tôi bước vào bếp, mẹ đang cho bánh quy vào lò. Tôi nhìn quanh, lục soát ngôi nhà trong óc. Mình cần thứ gì từ nơi này nhỉ? Chỉ có một thứ: những cuốn nhật ký của tôi. Tôi tìm thấy chúng dưới giường mình, trong một cái hộp, nơi tôi đã để chúng lại. Tôi mang chúng ra xe, để chúng ở ghế sau.
“Con lái xe đây, mẹ ạ,” tôi nói với mẹ. Tôi cố giữ giọng nhẹ nhàng. Tôi ôm mẹ, rồi nhìn núi Buck thật lâu, ghi nhớ mọi đường nét và hình dáng. Mẹ đã nhìn thấy tôi mang những cuốn nhật ký ra xe. Mẹ chắc hẳn đã biết điều đó có nghĩa là gì, cảm nhận được nỗi niềm từ biệt trong hành động đó, bởi vì mẹ gọi bố tới. Bố dành cho tôi cái ôm gượng gạo rồi nói, “Bố yêu con, con biết chứ?”
“Con biết, tôi nói. “Đó là điều chưa bao giờ phải bàn cãi.” Đó là những lời cuối cùng tôi nói với bố mình.
Tôi lái xe về phía nam; tôi không biết mình đang đi đâu. Đã gần đến Giáng sinh rồi. Tôi quyết định đến sân bay, đáp chuyến bay đầu tiên tới Boston thì Tyler gọi điện.
Đã nhiều tháng rồi tôi không nói chuyện với anh – sau những gì xảy ra với Audrey, dường như việc tâm sự với các anh chị tôi là vô ích. Tôi chắc chắn rằng mẹ đã kể với tất cả các anh trai tôi, tất cả các anh chị em họ, các cô, dì, chú, bác của tôi câu chuyện mà mẹ đã kể với Erin: rằng tôi bị ám ảnh, tôi nguy hiểm, tôi bị quỷ dữ điều khiển. Tôi đoán quả không sai: mẹ đã cảnh báo bọn họ. Nhưng khi đó mẹ đã mắc sai lầm.
Sau khi tôi rời khỏi núi Buck, mẹ hoảng sợ. Mẹ sợ rằng tôi có thể liên lạc với Tyler và rằng nếu tôi làm thế thì anh có thể sẽ thông cảm với tôi. Mẹ quyết định gọi cho Tyler trước, bác bỏ bất cứ điều gì tôi có thể kể với anh, nhưng mẹ đã tính sai. Mẹ đã không dừng lại để nghĩ xem những lời phủ nhận của mình nghe ra sao khi chúng đến vu vơ như thế.
“Tất nhiên Shawn không đâm chết Diego và không dùng con dao đó để dọa Tara,” mẹ quả quyết với Tyler, nhưng với Tyler, người chưa hề nghe tôi hay bất cứ ai khác kể, mẹ nói thế chẳng khác nào thừa nhận. Sau khi tạm biệt mẹ qua điện thoại, Tyler gọi điện cho tôi, yêu cầu được biết chuyện gì đã xảy ra và tại sao tôi không đến chỗ anh.
Tôi cứ nghĩ anh sẽ nói rằng tôi dối trá nhưng không. Anh chấp nhận gần như ngay lập tức sự thật mà tôi đã dành một năm để phủ nhận. Tôi không hiểu tại sao anh lại tin tôi, nhưng khi anh kể với tôi những chuyện của chính anh và tôi đã nhớ ra: Shawn cũng đã là anh trai của anh.
Trong những tuần tiếp theo, Tyler bắt đầu thử bố mẹ tôi theo cách không đối đầu, và rất tinh tế mà chỉ anh mới có. Anh gợi ý rằng có lẽ tình cảnh đã không được xem xét thấu đáo, rằng có lẽ tôi không bị ám ảnh. Có lẽ tôi không hề xấu xa.
Tôi có thể đã được an ủi qua cách Tyler cố gắng giúp tôi, nhưng ký ức về chị gái tôi quá nhức nhối, và tôi không tin anh. Tôi biết rằng nếu Tyler có thể đương đầu với bố mẹ tôi – thực sự đương đầu với họ – thì họ sẽ buộc anh chọn giữa tôi và họ, giữa tôi và những người còn lại trong gia đình. Và qua trải nghiệm với Audrey tôi thừa biết: anh sẽ không chọn tôi.
Chương trình nghiên cứu ngắn hạn của tôi tại Harvard kết thúc vào mùa xuân. Tôi bay sang Trung Đông, nơi Drew đang làm nghiên cứu theo chương trình học bổng Fullbright. Phải nỗ lực ít nhiều, nhưng tôi đã cố gắng giấu không cho Drew biết mình bất ổn đến mức nào, hoặc chí ít tôi cũng nghĩ mình bất ổn. Có lẽ không phải như vậy. Tất nhiên, anh là người đuổi theo tôi quanh căn hộ của anh khi tôi choàng tỉnh giữa đêm khuya, la hét và chạy như ma đuổi, không biết mình đang ở đâu, nhưng có nhu cầu cấp thiết thoát khỏi đó.
Chúng tôi rời khỏi Amman và lái xe về phía Nam. Vào ngày lực lượng Đặc nhiệm của Hải quân Mỹ giết Bin Laden chúng tôi đang ở trong một trại của người Ả Rập du cư trên sa mạc Jordani. Drew nói tiếng Ả Rập, và khi tin đó được truyền đi anh nói chuyện hàng giờ với những người hướng dẫn viên của chúng tôi. “Ông ta không phải người Hồi giáo,” họ nói với Drew khi chúng tôi ngồi trên cát lạnh nhìn đống lửa trại. “Ông ta không hiểu đạo Hồi, nếu không ông ta đã không làm những điều tồi tệ mà ông ta đã làm.”
Tôi quan sát Drew nói chuyện với những người Ả Rập du cư, nghe những âm thanh êm nhẹ, lạ tai thoát ra từ đôi môi anh, và ngạc nhiên trước sự hiện diện không hợp lý của mình ở đó. Mười năm trước, khi hai tòa tháp đôi đổ sập, tôi chưa hề nghe nói đến đạo Hồi. Giờ đây, tôi đang uống trà ngọt với những người du cư Zalabia và ngồi xổm trên một cồn cát ở Wadi Rum, thung lũng Mặt Trăng, cách biên giới Saudi Arabia gần hai mươi dặm.
Khoảng cách – hữu hình và vô hình – vắt ngang thập kỷ vừa qua gần như làm tôi ngừng thở, và tôi tự hỏi phải chăng mình đã thay đổi quá nhiều. Tất cả việc học tập, đọc, nghĩ, đi đây đi đó, đã biến đổi tôi thành một con người không còn thuộc về bất cứ nơi nào rồi chăng? Tôi nghĩ về đứa con gái, chẳng biết gì ở bên ngoài bãi phế liệu nhà mình, ngọn núi nơi mình sống, đã nhìn không chớp vào màn hình TV, nhìn và nhìn khi hai chiếc máy bay đâm thẳng vào hai tòa tháp trắng trông thật lạ mắt. Lớp học của đứa con gái ấy là một đống phế liệu. Giáo trình của nó là những miếng sắt vụn. Nhưng đứa con gái ấy có một điều quý giá mà tôi – dẫu có tất cả mọi cơ hội, hoặc có lẽ vì tất cả mọi cơ hội đó – không có.
Tôi trở lại nước Anh, nơi tôi tiếp tục gỡ rối. Tuần đầu tiên sau khi trở lại trường Cambridge, hầu như đêm nào tôi cũng thức dậy, chạy ra đường phố, la hét, rồi lại thiếp đi. Tôi bị những cơn đau đầu kéo dài nhiều ngày hành hạ. Nha sĩ của tôi nói tôi nghiến răng. Da tôi nứt nẻ nặng đến nỗi hai lần những người lạ dừng tôi lại trên đường và hỏi liệu có phải tôi đang bị dị ứng hay không. Tôi nói không. Tôi nói bình thường tôi trông vẫn thế.
Một buổi tối, tôi tranh cãi với một người bạn về một chuyện vặt, và trước khi tôi biết chuyện gì đang xảy ra, tôi thu mình vào góc tường, ngồi bó gối, cố giữ cho tim khỏi nhảy khỏi lồng ngực. Bạn tôi vội chạy tới để giúp đỡ và tôi thét lên. Phải mất một tiếng đồng hồ tôi mới để cho cô ấy chạm vào người, trước khi tôi có thể buộc mình ra khỏi góc tường đó. Sáng hôm sau tôi nghĩ, vậy đó là một sự tấn công đáng sợ cơ đấy.
Ngay sau đó tôi gửi một bức thư cho bố tôi. Tôi không tự hào về bức thư đó. Nó đầy giận dữ, là tiếng gào “Con ghét bố!” của một đứa con cứng đầu nhằm vào một người cha. Bức thư đầy những từ như “hung dữ,” “bạo chúa” và nó gồm nhiều trang, cả một tràng sỉ vả và gây tức bực.
Đó là cách tôi nói với bố mẹ mình rằng tôi sẽ cắt liên lạc với họ. Giữa những lời lăng mạ và cơn tức giận, tôi nói tôi cần một năm để chữa lành bản thân; sau đó, có lẽ tôi sẽ trở về cái thế giới điên dại của họ để cố gắng hiểu nó.
Mẹ xin tôi hãy tìm cách khác. Bố không nói gì.
 
 [1] Phần in nghiêng được trích dẫn theo trí nhớ, tuy nhiên ý nghĩa không có gì thay đổi. — TG


Đăng nhập để trả lời
0

Chương 38 - Gia Đình

Tôi thất bại, không thể lấy bằng tiến sĩ.
Nếu tôi giải thích với thầy hướng dẫn, tiến sĩ Runciman, tại sao tôi lại không thể tập trung làm việc được, thì chắc hẳn ông đã giúp tôi, bảo đảm khoản tài trợ bổ sung, và xin khoa cho tôi thêm thời gian. Nhưng tôi đã không giải thích, tôi không thể. Ông không biết tại sao đã gần một năm trôi qua kể từ khi tôi gửi công trình cho ông, vậy nên khi tôi gặp ông ở văn phòng của ông vào một buổi trưa tháng Bảy u ám, ông gợi ý rằng tôi nên bỏ.
“Chương trình tiến sĩ đòi hỏi đặc biệt khắt khe,” ông nói. “Nếu em không làm thì cũng không sao.”
Tôi rời văn phòng ông, trong lòng đầy cảm giác phẫn nộ với chính mình. Tôi tới thư viện, tìm hơn chục cuốn sách và tha về phòng mình đặt lên bàn. Nhưng đầu óc tôi bị suy nghĩ lý tính làm cho buồn nôn, và đến sáng hôm sau những cuốn sách đã được chuyển lên giường, chất đống trên chiếc máy tính xách tay trong khi tôi xem hết tập này đến tập khác phim Khắc Tinh Ma Cà Rồng.
Mùa thu năm đó, Tyler đương đầu với bố tôi. Anh nói chuyện với mẹ trước, qua điện thoại. Sau đó anh gọi điện cho tôi kể lại cuộc nói chuyện. Anh nói rằng mẹ đứng về “phía chúng ta,” rằng mẹ nghĩ chuyện về Shawn không thể chấp nhận được và đã thuyết phục bố làm điều gì đó.
“Bố đang lo việc đó,” Tyler nói. “Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Em có thể về nhà.”
Hai ngày sau điện thoại của tôi đổ chuông, tôi tạm dừng bộ phim để trả lời điện thoại. Đó là Tyler. Việc hỏng bét cả. Sau cuộc nói chuyện với mẹ anh cảm thấy không thoải mái, vậy nên anh gọi điện cho bố để xem chính xác phải làm gì với Shawn. Bố trở nên tức giận, hùng hổ. Bố quát mắng Tyler rằng nếu anh khơi lại chuyện, anh sẽ bị từ mặt, rồi bố cúp máy.
Tôi không thích mường tượng ra cuộc nói chuyện này. Tật nói lắp của Tyler luôn trở nên tồi tệ hơn khi anh nói chuyện với bố. Tôi hình dung ra anh mình gập người trước ống nghe, cố tập trung để đẩy những từ đang bị giắt trong họng ra, trong khi bố tuôn lời khó nghe như bắn liên thanh.
Tyler vẫn đang choáng váng vì lời đe dọa của bố thì chuông điện thoại của anh reo. Anh cứ nghĩ đó là bố gọi tới để xin lỗi, nhưng đó là Shawn. Bố đã kể cho Shawn nghe tất cả. “Tao có thể loại mày khỏi cái gia đình này trong vòng hai phút,” Shawn nói. “Mày biết tao có thể làm điều đó đấy. Cứ hỏi Tara mà xem.”
Tôi nghe Tyler kể chuyện này trong khi nhìn chằm chằm vào hình ảnh diễn viên Sarah Michelle Gellar bất động trên màn hình. Tyler nói một lúc lâu, lướt qua các sự việc nhưng lại nấn ná trong hoang mạc của lý tính và trạng thái tự buộc tội. Tyler nói, bố chắc hẳn đã hiểu lầm. Có sự hiểu lầm, sự truyền đạt thông tin sai lệch. Có lẽ đó là lỗi của anh, có lẽ anh đã không diễn đạt điều đúng theo đúng cách. Hẳn là thế. Anh đã gây ra chuyện này, anh có thể sửa chữa nó.
Nghe anh nói, tôi có cảm giác lạ lùng của thái độ xa cách, gần như là dửng dưng, như thể tương lai của tôi với Tyler, người anh mà tôi biết và yêu quý trong suốt cuộc đời, là một bộ phim mà tôi đã xem và biết rõ kết thúc của nó. Tôi biết rõ đầu cua tai nheo của kịch bản này bởi vì tôi đã sống với nó rồi, qua trải nghiệm với chị gái tôi. Đây chính là lúc tôi mất Audrey: đây là lúc tôi đã hiểu việc ngoảnh mặt bước đi dễ hơn bao nhiêu – đổi chác kiểu gì mà lại đi đổi cả gia đình lấy một đứa em gái cơ chứ.
Vậy nên, tôi đã biết rằng Tyler cũng làm theo cách của Audrey thậm chí trước khi điều đó xảy ra. Tôi có thể nghe thấy bàn tay anh siết chặt qua tiếng vọng kéo dài của điện thoại. Anh đang quyết định nên làm gì, nhưng tôi biết điều mà anh không biết: rằng thực ra việc đó đã được quyết định rồi, và điều anh đang làm bây giờ là biện minh kéo dài cho quyết định đó mà thôi.
Tháng Mười tôi nhận được bức thư đó.
Thư đến dưới dạng tập tin PDF được Tyler và Stefanie đính kèm. Anh chị giải thích rằng bức thư đã được thảo cẩn thận, có suy nghĩ, và rằng một bản sao của nó sẽ được gửi cho bố mẹ tôi. Khi tôi đọc thấy những dòng chữ đó tôi biết nó có nghĩa là gì. Nó có nghĩa rằng Tyler đã sẵn sàng tố giác tôi, sẵn sàng nói những lời của bố tôi, rằng tôi bị quỷ ám, rằng tôi nguy hiểm. Bức thư là một dạng phiếu ưu đãi, một dạng giấy phép để anh trở lại với gia đình.
Tôi không thể ép mình mở tập tin đính kèm; một bản năng nào đó trong tôi đã túm chặt những ngón tay tôi. Tôi nhớ Tyler đã từng như thế nào khi tôi còn bé, một người anh trai ít nói, chăm chú đọc sách trong khi tôi nằm phía dưới bàn của anh, nhìn không chớp mắt đôi tất của anh, thở bằng âm nhạc của anh. Tôi không chắc mình có thể chịu đựng nổi điều này, chịu đựng được việc nghe những lời đó trong giọng nói của anh.
Tôi bấm chuột, tập tin mở ra. Tôi đã gạt bản thân ra xa đến nỗi tôi có thể đọc toàn bộ bức thư mà không hiểu nó: Bố mẹ của chúng ta bị tâm thế lăng mạ, trấn áp và kiểm soát điều khiển… Họ thấy thay đổi là nguy hiểm và sẽ trục xuất bất cứ ai đòi thay đổi. Đây là một quan niệm lầm lạc về lòng trung thành đối với gia đình… Họ khẳng định rằng họ có đức tin, nhưng đây không phải là những gì Phúc Âm dạy. Hãy bảo trọng. Anh chị yêu em.
Qua vợ của Tyler, chị Stefanie, tôi biết được chuyện về bức thư đó, biết rằng những ngày sau khi bị bố tôi dọa từ mặt, tối nào đi ngủ Tyler cũng nói to với chính mình, nói đi nói lại, “Mình phải làm gì đây? Nó là em gái mình.”
Khi nghe được chuyện đó, tôi đưa ra một quyết định tích cực duy nhất mà tôi có thể đưa ra trong nhiều tháng: tôi đăng ký sử dụng dịch vụ tư vấn tâm lý của trường đại học. Tôi được tạo điều kiện gặp một phụ nữ trung niên hoạt bát có những lọn tóc xoăn tít và đôi mắt sắc, hiếm khi nói trong những phiên trị liệu của chúng tôi, thích để tôi tự bộc bạch hơn, và tôi đã làm thế hết tuần này đến tuần khác, hết tháng này sang tháng khác. Ban đầu việc tư vấn chẳng có tác động gì hết – tôi không thể nghĩ đến một cuộc gặp mà tôi sẽ miêu tả là “có ích” – nhưng sức mạnh tổng hợp của các phiên là không thể phủ nhận được. Khi đó tôi không hiểu, và bây giờ tôi vẫn không hiểu, nhưng có một điều gì đó đã dung dưỡng, trong khoảng thời gian tôi trị liệu ấy, khiến tôi thừa nhận rằng tôi cần thứ mà tôi không thể tự cho mình.
Tyler cũng gửi bức thư đó cho bố mẹ chúng tôi, và khẳng định với tôi anh không bao giờ dao động. Mùa đông đó tôi dành nhiều giờ nói chuyện điện thoại với anh và Stefanie, người đã trở thành chị gái của tôi. Họ sẵn sàng nói chuyện với tôi bất cứ khi nào tôi cần, mà thời gian đó tôi cần nói chuyện nhiều.
Tyler đã phải trả giá cho bức thư đó, mặc dù cái giá khó mà xác định được. Anh không bị từ, hoặc ít nhất sự từ mặt đối với anh không phải là mãi mãi. Cuối cùng anh “đình chiến” với bố, nhưng quan hệ bố con giữa họ không bao giờ còn được như trước nữa.
Tôi đã xin lỗi Tyler nhiều đến mức không thể đếm được, vì những gì tôi đã khiến anh phải trả giá, nhưng ngôn từ được đưa ra lúng túng, vụng về và tôi cứ vấp hoài khi nói. Biết nói sao đây? Làm thế nào bạn có thể nặn ra một lời xin lỗi khi làm suy yếu mối quan hệ của một người với bố đẻ của người đó, với gia đình của người đó cơ chứ? Có lẽ không có ngôn từ cho điều ấy. Làm thế nào bạn cảm ơn một người anh trai đã không chịu bỏ bạn, nắm chặt tay bạn và kéo bạn lên, đúng lúc bạn đã quyết định ngừng vùng vẫy và để mình chìm xuống? Cũng không có ngôn từ cho điều đó.
Mùa đông năm ấy dài lê thê, sự ảm đạm chỉ bị làm ngắt quãng bởi những phiên tư vấn tâm lý hằng tuần của tôi và cảm giác kỳ cục về mất mát, gần như cảm giác mất người thân, mà tôi cảm thấy mỗi khi tôi xem xong một bộ phim truyền hình dài tập và phải tìm một bộ phim khác.
Mùa xuân, rồi mùa hè đến, và cuối cùng khi mùa hè chuyển sang thu, tôi nhận thấy mình đã có thể tập trung mà đọc. Tôi đã có thể nằm giữ ý nghĩ trong đầu ngoài cơn tức giận và tự buộc tội. Tôi quay lại với chương luận văn mà tôi đã viết gần hai năm trước tại Harvard. Tôi lại đọc Hume, Rousseau, Smith, Godwin, Wollstonecraft và Mill. Tôi lại nghĩ về gia đình. Có một câu hỏi khó trả lời trong đó, một điều gì đó không thể giải đáp được. Tôi hỏi, con người ta phải làm gì khi nghĩa vụ của họ đối với gia đình xung đột với các nghĩa vụ khác – đối với bạn hữu, với xã hội, với bản thân?
Tôi bắt đầu làm nghiên cứu. Tôi thu hẹp phạm vi nghiên cứu, nâng cao hàm lượng học thuật và tính cụ thể. Cuối cùng, tôi chọn bốn phong trào trí thức từ thế kỷ mười chín và nghiên cứu những người theo phong trào đó đã đấu tranh với vấn đề bổn phận đối với gia đình như thế nào. Một trong những phong trào mà tôi chọn là chủ nghĩa Mặc Môn của thế kỷ mười chín.
Tôi làm việc miệt mài suốt một năm và đến cuối năm tôi đã có được bản thảo của đề tài: “Gia đình, Đạo đức, và Khoa học xã hội trong tư tưởng của người Mỹ Angles, giai đoạn 1813–1820”.
Chương về chủ nghĩa Mặc Môn là chương tôi yêu thích. Khi còn nhỏ, ở lớp học giáo lý, tôi được dạy rằng toàn bộ lịch sử là nhằm chuẩn bị cho đạo Mặc Môn: rằng mọi sự kiện kể từ cái chết của Jesus đều được Chúa sắp đặt để thời khắc nhà tiên tri Joseph Smith quỳ trong khu rừng Sacred Grove có thể xảy ra, và để Chúa khôi phục một giáo hội đích thực. Các cuộc chiến tranh, di cư, các thảm họa thiên nhiên – tất cả những sự kiện ấy là những khúc mở đầu dẫn đến câu chuyện Mặc Môn. Nói cách khác, lịch sử thế tục có xu hướng bỏ sót các phong trào tâm linh như đạo Mặc Môn.
Luận văn của tôi nhìn nhận lịch sử theo cách khác, không theo Mặc Môn, cũng chẳng chống Mặc Môn, không thiên về tâm linh, nhưng cũng chẳng báng bổ. Nó không coi đạo Mặc Môn là mục tiêu của lịch sử loài người, nhưng cũng không xem nhẹ đóng góp của đạo Mặc Môn trong quá trình vật lộn với những vấn đề của thời đại. Thay vì thế, nó coi hệ tư tưởng Mặc Môn là một chương trong câu chuyện rộng lớn hơn của loài người. Trong luận văn của tôi, lịch sử không tách những người Mặc Môn khỏi gia đình nhân loại; lịch sử ràng buộc nó với gia đình nhân loại.
Tôi gửi bản thảo luận văn cho tiến sĩ Runciman, và vài ngày sau tôi gặp ông tại văn phòng của ông. Ông ngồi đối điện với tôi ở bên kia bàn và, với cái nhìn kinh ngạc, ông nói luận văn của tôi tốt. “Một số phần rất tốt,” ông nói. Bây giờ ông mỉm cười. “Tôi sẽ ngạc nhiên nếu với luận văn này em không giành được học vị tiến sĩ.”
Khi cuốc bộ ra về với tập bản thảo nặng trịch, tôi nhớ đã dự một trong những buổi giảng bài của tiến sĩ Kerry, ông đặt câu hỏi mở đầu là: "Ai viết nên lịch sử?" lên bảng đen. Tôi nhớ khi đó câu hỏi ấy đối với tôi mới lạ lùng làm sao. Theo quan niệm của tôi, một nhà sử học không phải là con người, nhà sử học giống như bố tôi, giống một nhà tiên tri hơn là con người, có tầm nhìn của quá khứ, giống như những con người của tương lai, không thể bị nghi ngờ, hoặc không thể bị bổ sung. Giờ đây, khi tôi đi qua trường King's College, trong cái bóng của nhà thờ đồ sộ, dường như trạng thái thiếu tự tin kỳ cục của tôi có vẻ buồn cười. Ai viết nên lịch sử? Tôi nghĩ. Tôi viết.
Vào sinh nhật lần thứ hai mươi bảy, ngày sinh nhật mà tôi chọn, tôi nộp luận văn tiến sĩ. Buổi bảo vệ luận văn diễn ra vào tháng Mười Hai, trong một căn phòng nhỏ được bài trí đơn giản. Tôi bảo vệ thành công và trở lại London, nơi Drew đã có việc làm và chúng tôi thuê một căn nhà. Vào tháng Một, gần mười năm kể từ khi tôi đặt chân đến lớp học đầu tiên trong đời mình tại BYU, Đại học Cambridge xác nhận với tôi: Tôi là tiến sĩ Westover.
Tôi đã xây dựng một cuộc sống mới, và đó là một cuộc sống hạnh phúc, nhưng tôi cảm thấy mất mát không chỉ dừng lại ở sự mất gia đình. Tôi đã để mất núi Buck, không phải bằng việc rời khỏi đó mà là rời khỏi đó âm thầm lặng lẽ. Tôi đã rút lui, bỏ chạy sang bên kia đại đương và để bố kể câu chuyện của tôi thay tôi, định nghĩa tôi với bất cứ ai tôi từng biết. Tôi đã nhường quá nhiều lãnh thổ – không chỉ là ngọn núi, mà toàn bộ quá khứ chung của chúng tôi.
Đã đến lúc về nhà.
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 39 - Nhìn Đàn Trâu Trở Về

Tôi về thung lũng đúng vào tiết xuân. Tôi lái xe dọc con đường cao tốc dẫn tới rìa thị trấn, rồi dừng lại tại một con dốc thẳng đứng nhìn ra đồi Bear River. Từ đó tôi có thể nhìn bao quát khu vực lòng chảo, một tác phẩm chắp ghép của những cánh đồng bạt ngàn hứa hẹn trải dài tới tận núi Buck. Ngọn núi phủ đầy màu xanh của những cây thường xanh, ngời lên sắc màu tươi sáng tương phản với những gam màu nâu và xám của đá phiến sét và đá vôi. Nàng công chúa tươi tắn hơn bao giờ hết. Nàng đứng quay mặt về phía tôi, thung lũng ở giữa chúng tôi, ngời ngời sự bất diệt.
Nàng công chúa đã luôn ám ảnh tôi. Từ bên kia đại dương tôi nghe thấy nàng gật đầu ra hiệu, như thể tôi là một con bê non bất kham đã lạc khỏi đàn bê của nàng. Thoạt đầu giọng nàng dịu dàng, dỗ dành, nhưng khi tôi không trả lời, khi tôi cứ ở xa lắc xa lơ, nàng quay ra giận dữ. Tôi đã phản bội nàng. Tôi hình dung ra khuôn mặt nàng cau có vì giận dữ, dáng đứng của nàng nặng nề, đầy đe dọa. Nàng sống trong tâm trí tôi như thế trong nhiều năm, một vị thần của nỗi khinh bỉ.
Nhưng giờ đây nhìn nàng, đứng nhìn ra những cánh đồng và đồng cỏ của nàng, tôi biết rằng mình đã hiểu lầm nàng. Nàng không giận tôi vì đã ra đi, bởi vì ra đi là một phần trong vòng quay của nàng. Vai trò của nàng không phải là quây những con trâu trong bãi quây gia súc, không phải là dùng sức mạnh để tập trung và giam nhốt chúng. Mà là mừng chúng trở về.
Tôi trở lại đường cũ, đi một phần tư dặm vào thị trấn và đỗ xe bên cạnh hàng rào cọc nhọn màu trắng của bà-trong-thị-trấn. Trong tâm trí tôi, nó vẫn là hàng rào của bà, dù bà không còn sống ở đó nữa: bà đã chuyển tới một nhà dưỡng lão gần phố Chính.
Đã ba năm rồi tôi chưa gặp ông bà tôi, kể từ khi bố mẹ tôi bắt đầu nói với bà con họ hàng của chúng tôi rằng tôi bị quỷ ám. Ông bà tôi yêu con gái họ. Tôi chắc rằng họ tin lời kể của mẹ. Vậy nên tôi chịu để mất họ. Đã quá muộn để giành lại bà – bà đang bị căn bệnh Alzheimer hành hạ và bà không nhận ra tôi – vậy nên tôi đến thăm ông, để tìm hiểu xem trong cuộc sống của ông có chỗ dành cho tôi hay không.
Ông cháu tôi ngồi trong phòng khách; tấm thảm ở đó vẫn là tấm thảm trắng loăn xoăn từ thời ấu thơ của tôi. Chuyến ghé thăm ông của tôi ngắn ngủi và lịch sự. Ông nói về bà, người mà ông đã chăm sóc một thời gian dài sau khi bà không còn nhận ra ông nữa. Tôi kể với ông về nước Anh. Ông nhắc đến mẹ tôi, và khi nói về mẹ tôi, ông có cái vẻ kính sợ mà tôi đã thấy trên mặt các đệ tử của mẹ. Tôi không trách ông. Qua những gì tôi nghe được, bố mẹ tôi là những người có ảnh hưởng ở thung lũng. Mẹ tôi kinh doanh các sản phẩm của mẹ như một lựa chọn thiên về tâm linh thay cho chương trình bảo hiểm sức khỏe bắt buộc Obamacare của Chính phủ Liên bang, và mẹ làm ra bao nhiêu sản phẩm bán hết bấy nhiêu, thậm chí có mấy chục nhân viên làm việc cho mẹ.
Ông nói, hẳn là Chúa đứng sau thành công kỳ diệu đó. Bố mẹ tôi chắc hẳn được Chúa giao phó làm những việc mà họ đã và đang làm, trở thành những người chữa bệnh nổi tiếng, đưa mọi người đến với Chúa. Tôi mỉm cười và đứng dậy. Ông vẫn là người ông hiền lành mà tôi nhớ, nhưng tôi choáng váng bởi sự xa cách giữa chúng tôi. Tôi ôm ông ở ngưỡng cửa, và nhìn ông thật lâu. Tôi không tin trong những năm còn lại của ông trên cõi đời này tôi có thể chứng minh với ông rằng tôi không phải là người như bố tôi đã nói, rằng tôi không phải là đồ xấu xa.
Tyler và Stefanie sống cách núi Buck một trăm dặm về phía Bắc, ở Idaho Falls. Đó là nơi tôi định đến tiếp theo, nhưng trước khi rời khỏi thung lũng, tôi viết cho mẹ tôi. Đó là một bức thư ngắn.
Tôi nói rằng tôi đang ở gần đó, và muốn mẹ gặp tôi trong thị trấn. Tôi nói, tôi không sẵn sàng gặp bố, nhưng đã mấy năm rồi tôi chưa nhìn thấy khuôn mặt mẹ. Mẹ sẽ đến chứ?
Trong bãi đậu xe của cửa hàng Stokes tôi đợi mẹ trả lời. Tôi không phải đợi lâu.
Mẹ đau lòng khi con nghĩ rằng đòi hỏi như vậy là có thể chấp nhận được. Một người vợ không thể đi đến bất cứ chỗ nào mà chồng mình không được hoan nghênh. Mẹ sẽ không vào hùa với thói vô lễ rành rành đó.
Bức thư dài và đọc nó khiến tôi phát mệt, như thể mình đã chạy một đoạn đường rất dài. Phần chính của nó là bài giảng về lòng trung thành: gia đình luôn bao dung, và rằng nếu tôi không thể bao dung với gia đình thì tôi sẽ hối tiếc vì điều đó trong suốt phần đời còn lại. Mẹ viết, quá khứ, dù nó là gì, cũng phải được đào sâu chôn chặt và được để thối rữa trong lòng đất.
Mẹ nói tôi được hoan nghênh trở về nhà, rằng mẹ nguyện cầu cho cái ngày tôi chạy vào nhà qua cửa sau và reo lên, “Con đã về!”
Tôi muốn đáp ứng lời nguyện cầu của mẹ – tôi chỉ cách núi Buck chưa đầy mười dặm – nhưng tôi biết cái hiệp ước bất thành văn mà tôi sẽ phải thực hiện khi tôi bước qua cánh cửa đó. Tôi có thể có được tình yêu của mẹ, nhưng có những điều kiện, vẫn là những điều kiện mà bố mẹ đã đặt ra cho tôi ba năm trước: rằng tôi phải đổi sự thật của tôi lấy sự thật của bố mẹ, rằng tôi phải đem những gì mình biết chôn sâu, để nó thối rữa trong lòng đất.
Bức thư của mẹ chẳng khác gì tối hậu thư: Tôi có thể gặp mẹ và bố, hoặc tôi sẽ không bao giờ gặp lại mẹ nữa. Mẹ không bao giờ nhượng bộ.
Trong khi tôi đọc thư, bãi đỗ đã đầy xe. Tôi để cho những lời của mẹ lắng xuống, rồi khởi động xe và chạy lên phố chính. Đến ngã tư tôi rẽ về phía Tây, về phía núi. Trước khi rời khỏi thung lũng, tôi muốn nhìn nhà tôi một lát.
Trong nhiều năm tôi đã nghe nhiều lời đồn đại về bố mẹ mình: rằng họ là triệu phú, rằng họ xây cả một pháo đài trên núi, rằng họ cất giấu thực phẩm đủ dùng trong nhiều thập kỷ. Thú vị nhất là những chuyện xung quanh việc bố thuê tuyển và sa thải người làm. Thung lũng vẫn chưa hồi phục sau cuộc suy thoái; mọi người đều cần việc làm. Bố mẹ tôi là những chủ lao động lớn nhất trong hạt, nhưng từ những gì tôi biết tôi có thể nói trạng thái tinh thần của bố đã khiến bố khó giữ các nhân viên lâu dài: khi chứng hoang tưởng bộ phận phát tác, bố có xu hướng đuổi việc nhân viên gần như vô cớ. Nhiều tháng trước bố đã thuê Diane Hardy, vợ cũ của Rob, người đã đến đưa chúng tôi về sau vụ tai nạn xe hơi thứ hai. Diane và Rob làm bạn với bố mẹ tôi đã hai mươi năm. Cho đến khi bố tôi đuổi việc Diane.
Có lẽ trong một lần chứng hoang tưởng bộ phận phát tác khác bố đã sa thải dì Angie, em gái của mẹ. Dì Angie đã nói chuyện với mẹ, tin rằng chị gái mình sẽ không bao giờ đối xử với người ruột thịt theo cách đó. Khi tôi còn nhỏ thì đó là việc kinh doanh của mẹ; bây giờ đó là doanh nghiệp của mẹ và cũng là của bố. Nhưng trong cuộc tỉ thí để biết nó thực sự là của ai, bố đã thắng: Dì Angie bị đuổi việc.
Thật khó để chắp nối những gì xảy ra tiếp theo vào chuyện ấy, nhưng theo những gì sau này tôi được biết thì dì Angie đã nộp hồ sơ xin trợ cấp thất nghiệp, và khi Sở Lao động gọi điện cho bố mẹ tôi để xác nhận rằng dì đã bị chấm dứt hợp đồng lao động, bố đã để mất chút lý trí còn lại. Bố nói rằng không phải Sở Lao động gọi điện cho bố mà là Sở An ninh đóng giả Sở Lao động. Bố nói dì Angie đã đưa tên bố vào danh sách phần tử khủng bố cần theo dõi. Giờ đây Chính phủ đang theo dõi bố – rình tiền của bố, súng ống của bố, xăng dầu của bố. Cứ như thể vụ Ruby Ridge lặp lại từ đầu.
Tôi rời khỏi đường cao tốc và rẽ vào con đường trải sỏi, sau đó bước ra khỏi xe, nhìn lên núi Buck. Ngay lập tức tôi thấy ít nhất vài lời đồn đại về bố mẹ mình là đúng – một là bố mẹ tôi kiếm bộn tiền. Ngôi nhà thật đồ sộ. Ngôi nhà mà tôi lớn lên có năm phòng ngủ; giờ đây nó được mở rộng về mọi hướng, trông như thể nó có tới ít nhất bốn mươi phòng ngủ.
Tôi nghĩ việc bố bắt đầu sử dụng tiền mà bố mẹ đang có để chuẩn bị cho Ngày Tận Thế chỉ còn là vấn đề thời gian. Tôi hình dung ra mái nhà đầy những tấm pin năng lượng mặt trời, được bày như một bộ bài. “Chúng ta cần tự cung tự cấp,” tôi mường tượng ra bố nói thế khi bố kéo những tấm pin đọc ngôi nhà khổng lồ của bố. Trong những năm tới, bố sẽ dùng hàng trăm nghìn đô-la mua thiết bị và sục sạo khắp núi để tìm nguồn nước. Bố không muốn phụ thuộc vào Chính phủ, và bố biết núi Buck chắc hẳn có nước, nếu như bố có thể tìm. Những vết rạch cỡ bằng sân bóng đá sẽ xuất hiện ở chân núi, để lại một vùng tan hoang gồm những rễ bị gãy và những cái cây bật gốc nơi đã từng là một cánh rừng. Vào cái ngày bố trèo lên cỗ máy bò tựa con rận xé toác những ruộng lúa mì như thảm lụa, có thể bố sẽ lẩm bẩm, “Phải tự lực cánh sinh”.
Bà-trong-thị-trấn qua đời đúng vào Ngày Của Mẹ.
Tôi đang làm nghiên cứu ở Colorado thì nghe được tin bà mất. Tôi lập tức lên đường tới Idaho, nhưng trong khi đi tôi hiểu rằng mình chẳng có nơi nào để ở lại. Đó là khi tôi nhớ ra dì Angie, và nhớ rằng bố tôi đã nói với tất cả những ai có thể nghe rằng dì đã đưa bố vào danh sách đối tượng khủng bố cần theo dõi. Mẹ đã từ mặt dì; tôi hy vọng mình có thể lại có được dì.
Dì Angie sống ở cạnh nhà ông tôi, vậy nên một lần nữa tôi lại đỗ xe dọc hàng rào cọc nhọn màu trắng đó. Tôi gõ cửa. Dì Angie chào tôi lịch sự, giống hệt ông tôi. Rõ ràng trong năm năm qua dì đã nghe bố mẹ tôi kể nhiều về tôi.
“Cháu sẽ thỏa thuận với dì,” tôi nói. “Cháu sẽ quên mọi điều bố cháu đã nói về dì, nếu như dì quên mọi điều bố đã nói về cháu.” Dì cười, nhắm mắt lại, hất đầu về phía sau theo cái cách gần như khiến trái tim tôi tan vỡ, trông dì thật giống mẹ tôi.
Tôi ở lại với dì Angie cho đến khi tang lễ được cử hành.
Trong những ngày trước lễ tang, các anh chị em của mẹ tôi tập trung tại ngôi nhà thuở ấu thơ của họ. Họ là những người bác, người cậu, nhưng vài người trong số họ từ bé tôi chưa gặp lại. Cậu Daryl, người mà tôi hầu như không biết, gợi ý rằng các anh chị em của cậu nên có một buổi trưa quây quần tại một nhà hàng yêu thích ở Lava Hot Springs. Mẹ tôi từ chối đến. Mẹ không chịu đi nếu không có bố tôi, mà bố và dì Angie thì đã trở thành người dưng.
Đó là một buổi trưa tháng Năm đầy nắng khi tất cả chúng tôi leo lên một chiếc xe bán tải rộng và lái xe đi khoảng một giờ. Thật không thoải mái khi tôi biết mình thế chỗ của mẹ, đi với người cha và các anh chị em của mẹ để tưởng nhớ mẹ của mẹ, một người bà mà tôi chẳng biết nhiều lắm. Tôi sớm hiểu ra rằng tôi không biết rõ bà là người tuyệt vời bởi vì các con của bà đều háo hức muốn tuôn ra những hồi ức và thích trả lời những câu hỏi về bà. Với từng câu chuyện bà tôi đều được làm nổi bật, nhưng người phụ nữ hình thành từ những kỷ niệm chung của họ không hề giống người phụ nữ mà tôi nhớ. Đó là lúc tôi hiểu ra rằng mình đã xét đoán bà tàn nhẫn dường nào, nhận thức của tôi về bà méo mó ra sao, bởi vì tôi đã nhìn bà qua lăng kính tàn nhẫn của bố mình.
Trên đường về, bác Debbie mời tôi đến thăm bác ở Utah. Cậu Daryl bắt chước bác. “Bọn ta muốn có cháu ở Arizona,” cậu nói. Chỉ trong một ngày tôi đã tìm lại được gia đình – không phải của tôi, mà là của mẹ.
Đám tang diễn ra vào ngày hôm sau. Tôi đứng ở một góc, nhìn các anh chị mình lần lượt xuất hiện.
Có Tyler và Stefanie. Họ đã quyết định dạy bảy đứa con của mình tại nhà, và theo tôi biết, bọn trẻ đang được giáo dục theo một tiêu chuẩn rất cao. Luke đến tiếp theo, với một đàn con đông đến nỗi tôi không đếm xuể. Anh nhìn thấy tôi và đi từ đầu kia của căn phòng tới, và chúng tôi nói chuyện qua loa vài phút, không ai trong chúng tôi thừa nhận rằng đã nửa thập kỷ rồi anh em tôi chưa gặp nhau, chẳng ai nói bóng gió vì sao. Anh có tin những gì bố nói về em không? Tôi muốn hỏi anh. Anh có tin rằng em là đứa nguy hiểm không? Nhưng tôi không hỏi. Luke làm việc cho bố mẹ tôi, và không được học hành, anh cần việc làm đó để nuôi gia đình. Việc ép anh chọn một bên sẽ chỉ mang lại kết cục đau lòng mà thôi.
Richard, sắp lấy bằng tiến sĩ ngành hóa học, từ Oregon xuống cùng Kami và các con của họ. Anh mỉm cười với tôi từ phía cuối nhà thờ. Vài tháng trước, Richard đã viết thư cho tôi. Anh nói anh rất tiếc vì đã tin bố, rằng anh ước gì có thể làm nhiều hơn để giúp tôi khi tôi cần điều đó, và rằng từ giờ trở đi, tôi có thể hy vọng vào sự ủng hộ của anh. Anh nói, chúng tôi là ruột thịt.
Audrey và Benjamin chọn một băng ghế gần cuối. Audrey đến sớm, khi nhà thờ còn vắng vẻ. Chị nắm lấy cánh tay tôi thì thầm rằng việc tôi từ chối gặp bố là một tội lớn. “Bố là người vĩ đại,” chị nói. “Trong suốt phần đời còn lại em sẽ tiếc vì không chịu nhún mình và nghe lời khuyên của bố.” Đó là những lời đầu tiên chị gái tôi nói với tôi trong nhiều năm và tôi không phản ứng trước những lời đó.
Trước khi tang lễ bắt đầu Shawn đến cùng với Emily, Peter và đứa con gái nhỏ mà tôi chưa gặp bao giờ. Đó là lần đầu tiên tôi ở trong một phòng cùng với anh kể từ cái đêm anh giết con Diego. Tôi căng thẳng, nhưng điều đó không cần thiết. Trong suốt buổi lễ anh không nhìn tôi một lần.
Anh cả của tôi, Tony, ngồi với bố mẹ tôi, năm đứa con anh ngồi thành hàng trên băng ghế. Tony đã lấy được bằng GED và đã gây dựng được một công ty vận tải thành công ở Las Vegas, nhưng doanh nghiệp của anh không sống sót qua cuộc suy thoái kinh tế. Giờ đây anh làm việc cho bố mẹ tôi, giống như Shawn, Luke và vợ của họ, cũng như Audrey và Bejamin, chồng chị. Giờ đây nghĩ về điều đó, tôi hiểu rằng tất cả các anh chị của mình, trừ Richard và Tyler, đều phụ thuộc vào bố mẹ tôi về mặt kinh tế. Gia đình tôi bị chẻ ra ở giữa – ba người rời núi, bốn người ở lại. Ba người có học vị tiến sĩ, bốn người không có bằng tốt nghiệp trung học. Một vết nứt đã xuất hiện, và đang lớn dần.
Một năm trôi qua trước khi tôi trở lại Idaho. Vài giờ trước chuyến bay từ London, tôi viết thư cho mẹ – như tôi luôn làm, và tôi sẽ luôn làm – để hỏi liệu mẹ có gặp tôi không. Một lần nữa, phản ứng của mẹ rất mau lẹ. Mẹ sẽ không gặp tôi, mẹ sẽ không bao giờ làm vậy, trừ khi tôi gặp bố. Mẹ nói, gặp tôi mà không có bố là thiếu tôn trọng chồng của mẹ.
Trong chốc lát, điều đó – cuộc hành hương thường niên trở về ngôi nhà vẫn tiếp tục hắt hủi tôi – trở nên vô nghĩa, và tôi tự hỏi mình có nên đi hay không. Sau đó tôi nhận được một bức thư khác, từ dì Angie. Dì nói ông ngoại tôi đã hủy bỏ các kế hoạch của ông cho ngày hôm sau, và thậm chí từ chối đến đền thờ như ông thường làm vào các ngày thứ Tư, bởi vì ông muốn có mặt ở nhà phòng khi tôi ghé qua. Dì Angie viết thêm: Khoảng mười hai tiếng nữa dì sẽ đón cháu! Nhưng ai đang đếm giờ nhỉ?
Đăng nhập để trả lời
0

Chương 40 - Được Học

Khi còn nhỏ, tôi đã đợi trí óc của mình phát triển, đợi tích lũy kinh nghiệm và đợi những lựa chọn của mình trở nên chín chắn, để làm nên chân dung một con người. Con người đó, hay chân dung về một con người, thuộc về nơi ấy. Tôi thuộc về ngọn núi ấy, ngọn núi đã tạo ra tôi. Chỉ khi lớn hơn tôi mới tự hỏi phải chăng mình đã bắt đầu như thế nào thì sẽ kết thúc như thế – phải chăng hình hài đầu tiên mà một con người hình thành là hình hài đích thực duy nhất của con người đó.
Khi tôi viết những chữ cuối cùng của câu chuyện này, tôi không gặp bố mẹ mình đã nhiều năm, kể từ đám tang của bà ngoại. Tôi thân thiết với Tyler, Richard và Tony, và qua họ, cũng như qua gia đình khác, tôi được biết về những gì đang diễn ra trên núi – về những vết thương, bạo lực và lòng trung thành luôn thay đổi. Nhưng bây giờ những tin đó đến với tôi như những lời đồn đại xa xăm, như một món quà. Tôi không biết mối ngăn cách có là mãi mãi hay không, không biết liệu một ngày nào đó mình có tìm được một lối về hay không, nhưng giờ đây mối ngăn cách ấy mang đến cho tôi bình yên.
Bình yên không đến dễ dàng. Tôi mất hai năm để liệt kê sai lầm của bố mình, liên tục cập nhật bản thống kê, như thể việc kể ra mọi nỗi oán giận, mọi hành động thô bạo có thật và được tưởng tượng ra, hoặc bị lờ đi, sẽ biện minh cho quyết định gạt bố ra khỏi cuộc sống của tôi. Khi đã biện minh cho điều đó, tôi nghĩ cảm giác tội lỗi bóp nghẹt cổ tôi sẽ buông tha tôi và tôi có thể thở được.
Nhưng việc chứng minh không có tác dụng đối với cảm giác có lỗi. Không cơn tức giận hay phẫn uất nào nhằm vào người khác có thể làm nó dịu bớt, bởi vì nó không liên quan gì đến người khác. Cảm giác có lỗi là mối sợ hãi đối với nỗi đau khổ của bản thân. Nó không liên quan đến người khác.
Tôi buông bỏ cảm giác có lỗi khi chấp nhận quyết định của mình về những điều kiện của riêng nó, mà không liên tục truy cứu những nỗi bất bình cũ, mà không so sánh những lỗi của bố với lỗi của tôi. Mà không nghĩ đến bố chút nào. Tôi học cách chấp nhận quyết định của mình vì lợi ích của bản thân, vì tôi, chứ không phải vì bố. Bởi vì tôi cần làm thế, chứ không phải vì bố không đáng được như thế.
Đó là cách duy nhất tôi có thể yêu bố mình.
Khi bố can dự vào cuộc sống của tôi, đấu tranh gay gắt với tôi để điều khiển cuộc sống đó, tôi nhìn bố với con mắt của một người lính, qua lớp sương mù xung đột. Tôi không thể nhận ra những phẩm chất tốt của bố. Khi bố đứng trước tôi, cao hơn hẳn, đầy phẫn nộ, tôi không thể nhớ, khi tôi còn nhỏ, tiếng cười của bố đã từng khiến bụng bố rung lên như thế nào, kính mắt của bố lấp lánh ra sao. Với diện mạo nghiêm khắc của bố bây giờ, tôi không tài nào nhớ lại cái cách môi bố, trước khi biến mất vì bị cháy, rúm lại khi một ký ức khiến những giọt lệ ứa ra từ mắt ông. Chỉ bây giờ, với khoảng cách nhiều dặm xa và những năm tháng xa cách giữa hai bố con tôi, tôi mới có thể nhớ đến những điều đó.
Nhưng những gì ở giữa tôi và bố không chỉ là thời gian hay khoảng cách. Đó là thay đổi trong bản thể. Tôi không còn là đứa con mà bố đã nuôi, nhưng bố là người cha đã nuôi đứa con ấy.
Nếu có khi nào đó mối bất hòa, rạn vỡ giữa bố con tôi trong hai thập kỷ qua, cuối cùng đã trở nên quá rộng để có thể bắc cầu, thì tôi tin đó là buổi tối mùa đông ấy, khi tôi nhìn chằm chằm hình ảnh mình trong tấm gương ở buồng vệ sinh, trong khi không hề biết bố tôi cầm điện thoại trong bàn tay xương xẩu của mình và gọi cho anh tôi. Diego, con dao. Chuyện diễn ra sau đó rất kịch tính. Nhưng kịch tính thực sự đã xảy ra trong buồng vệ sinh.
Nó đã xảy ra ở trong đó khi, vì những lý do tôi không hiểu, tôi đã không thể trèo vào trong gương và cử đứa con gái mười sáu tuổi trong đó ra thế chỗ mình.
Từ trước cho tới lúc đó, đứa con gái ấy luôn ở trong ấy. Dù tôi trông có vẻ đã thay đổi ra sao – dù con đường học hành của tôi có rạng rỡ đến mức nào, dù vẻ ngoài của tôi thay đổi ra sao – tôi vẫn là đứa con gái ấy. Trong điều kiện tốt nhất, tôi là hai con người, một phần hồn rạn nứt. Đứa con gái ấy ở bên trong, và xuất hiện bất cứ khi nào tôi bước vào cửa nhà bố tôi.
Tối hôm đó tôi đã gọi đứa con gái ấy và nó không trả lời. Nó đã rời bỏ tôi. Nó đã ở yên trong gương. Những quyết định mà tôi thực hiện sau thời điểm đó không phải là những quyết định mà đứa con gái ấy đưa ra. Đó là những quyết định của một người đã thay đổi, một bản ngã mới.
Các bạn có thể gọi bản ngã này bằng nhiều cái tên. Biến hình. Lột xác. Dối trá. Phản bội.
Tôi gọi nó là hành trình giáo dục.
Đăng nhập để trả lời
0

Lời cảm ơn

Tôi mang ơn các anh Tyler, Richard và Tony của tôi rất nhiều vì đã khiến cho cuốn sách này ra đời, trước hết là bởi các anh đã sống trong câu chuyện đời thực, sau đó là trong trang sách. Nhờ các anh và các chị dâu tôi, Stefanie, Kami và Michele, tôi đã biết được nhiều điều về gia đình, đặc biệt là Tyler và Richard rất hào phóng chia sẻ thời gian cũng như ký ức của các anh. Hai anh còn đọc giúp tôi những bản nháp, bổ sung chi tiết, và khiến cuốn sách chính xác hết mức có thể. Mặc dù trong một số sự việc, góc nhìn của chúng tôi có thể khác nhau, song các anh vẫn sẵn lòng xác minh lại, vì vậy tôi mới có thể hoàn thành cuốn sách.
Giáo sư David Runciman đã khích lệ tôi viết tự truyện này và là một trong những người đầu tiên đọc bản thảo. Thiếu đi niềm tin của ông dành cho cuốn sách, có lẽ bản thân tôi không bao giờ có thể đặt niềm tin vào nó.
Tôi biết ơn những người đã coi sách là công trình của đời mình, và những ai đã tặng một phần cuộc đời đó cho cuốn sách này: những người đại diện của tôi, Anna Stein và Karolina Sutton; các biên tập viên tuyệt vời của tôi, Hilary Redmon và Andy Ward tại Random House, và Jocasta Hamilton tại công ty xuất bản Hutchinson; cũng như nhiều người khác đã làm công việc biên tập, trình bày và giới thiệu câu chuyện này. Đáng kể nhất, Boaty Boatwright tại ICM là nhà vô địch không biết mệt mỏi. Tôi cũng dành lời cảm ơn đặc biệt cho Ben Phelan, người được giao phó phần việc khó khăn nhất – xác minh thông tin trong cuốn sách này, người đã làm việc cực kì chuyên nghiệp và tinh tế.
Tôi đặc biệt biết ơn những người đã đặt niềm tin vào cuốn sách trước khi nó trở thành một cuốn sách, khi nó mới chỉ là mớ giấy tờ lộn xộn được in ra tại nhà. Những độc giả đầu tiên là Tiến sĩ Marion Kant, Tiến sĩ Paul Kerry, Annie Wilding, Livia Gainham, Sonya Teich, Dunni Alao và Suraya Sidhi Singh.
Bác Debbie và dì Angie đã xuất hiện trong cuộc sống của tôi vào một thời điểm cực kỳ quan trọng, sự ủng hộ, giúp đỡ của họ có nghĩa là tất cả. Cảm ơn Giáo sư Jonathan Steinberg vì ông đã tin tưởng tôi. Tôi biết ơn Drew Mecham, người bạn yêu quý đã trở thành điểm tựa giàu cảm xúc mà cũng đầy thực tiễn, để tôi viết cuốn sách này.
 
HẾT
Đăng nhập để trả lời
0
Được Học - Tara Westover
 
Đã mang vào thư viện
Cảm ơn Pandaa, chúc bạn luôn vui và an lành
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»