Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

3 truyện ngắn của Hoàng Ly - Đỗ Hồng Linh

3 trả lời, 10 lượt xem — Trang 1 / 1
Xin giới thiệu 3 truyện ngắn của Hoàng Ly - Đỗ Hồng Linh (một tác giả đã quen thuộc với các bạn qua các tiểu thuyết dã sử, võ hiệp). 3 truyện ngắn này được đăng trên Tạp chí Kiến thức Ngày nay, hoi_ls tập hợp lại và chia sẻ cùng các bạn.
 
 
 
 
HẸN GIỜ CHẾT
 

Cả Huỳnh, Cả Trọng, Cả Rinh
Trong ba Cả đó, Tây kinh Cả nào?
Bắc Giang, Phủ Lạng thì thào
Rằng Tây kinh nhất Cả nào bắn ghê
Đứng trên ngọn núi bắn về
Chính ông Cả Trọng bắn ghê nhất đời…

            Hạ tuần tháng năm...
            Một đêm sao thưa, vắng gió. Khắp mấy miệt Phủ Lạng Thương, Nhã Nam, Hữu Lũng, Kép, Bắc Giang, các sơn trấn, sơn thôn nằm im thít dưới sao vơi.
            Từ trong các trại lính, đồn binh, tiếng kèn "buồn ngủ tắt đèn” đã cất lên, âm đồng khê khê quen thuộc “đi" trong đêm hơi, tối nay bỗng nghe lê thê rờn rợn như tiếng kèn âm phủ vọng lên gọi hồn người "về cõi".
            Hồi hộp, nơm nớp, thiu thiu... Dân gian, lính tráng thỉnh thoảng lại giật mình choàng thức vì một vài tiếng súng gần xa, tiếng vó ngựa, giày đinh tuần tiễu khua rầm rập vờn sát khí.
            Sau những ngày giả hoà đầu để giũa vuốt mài nanh, hùm thiêng Yên Thế lại mới vừa rời khỏi hang sâu. Ông Đề Thám lại phất cờ kháng Pháp, và bất kẻ ngày đêm, quân du kích lúc nào cũng có thể bất thần nổ súng vào đầu lính Tây, lính tập, Ả Rập, Lê Dương. Người trong nước thường gọi "ông Đề Thám","Cụ Đề Thám","quân ông Đề Thám"..., nhưng dân miệt Bắc Giang, Phủ Lạng lại gọi “quan Hoàng", “lính quan Hoàng”. Nhiều người tưởng dân Đông Bắc chất phác nôm na, cứ thấy quân cầm súng là gọi “lính”, thực ra không phải vậy. Dân ta chưa bao giờ gọi giặc cướp, thổ phỉ là lính. Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh , Cờ Trắng Bàn Văn Nhị, thậm chí đến Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc từng giúp triều đình đánh Tây, lĩnh chức Đề đốc, song dân ta vẫn gọi là “quân Cờ Đen”, “giặc Cờ Đen" chứ không gọi là "lính Cờ Đen"! Với dân, "lính" là loại quân có tính cách chính thống. Ông Đề Thám kháng Pháp, chỉ chiếm cứ được vùng Yên Thế, dân vẫn gọi quân du kích của ông là lính, ngụ ý tôn sùng, ngầm coi là chính thống!
            "Lính quan Hoàng!" - chỉ nghe 3 tiếng đầy âm hưởng sùng kính này, ngay cả quan Tây cũng phải nể thầm. Bởi ai cũng biết họ bắn giỏi và xông trận rất dũng cảm, gan lì. Đến tướng của quan Hoàng lại càng xuất chúng. Người ta đồn Cả Trọng, Cả Rinh, Cả Huỳnh, Thống Luận đều có tài “thần xạ", nhất là Cả Trọng, con cả “quan Hoàng". Cả Trọng có biệt tài bắn không cần ngắm “đầu ruồi”, bất kể súng trường, súng lục; từng bắn trúng cả chim bay, bắn xuyên qua lỗ đồng tiền cồng cách xa ngót cả trăm thước. Chẳng những bắn nhanh, bắn trúng, Cả Trọng còn có tài lạ nữa: bắn sống, bắn chết theo ý muốn, tuỳ theo tội địch. Bắn sống tức là bắn cho bị thương nặng, nhẹ - tuỳ vùng thân thể của đối tượng mà xạ thủ ngắm - điều này cũng dễ hiểu và những tay súng giỏi đều làm được. Riêng chuyện bắn chết theo ý muốn mới ly kỳ, bởi Cả Trọng có thể biết trước kẻ địch sẽ chết vào lúc nào sau khi trúng đạn, chưa khi nào sai! Tin đồn đến tai các võ quan, lính tráng Tây ta, nhiều kẻ cười ngất cho là chuyên hoang đường...
            Thời điểm này, đã vào đầu thế kỷ 20, các cánh quân Văn Thân, kháng Pháp đã tan. Phan Đình Phùng mất trong Hà Tĩnh; Tham tán Nguyễn Thiện Thuật, Đề đốc Tạ Hiệu (Bãi Sậy) đã bị Hoàng Cao Khải đánh thua, phải thoát sang Nam Ninh (Quảng Tây); Đốc Tít (Đông Triều) bị đày sang Algérie; Cai Kinh, Đốc Ngữ (Phủ Lạng, Yên Thế) người bị bắt, kẻ ra đầu; Đề Kiều (Hưng Hoá) cũng hàng. Riêng chủ tướng quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc đã chịu cùng con nuôi là Woòng Nhì rút sang Đài Loan theo lời cầu dụ của sứ giả nhà Thanh, chỉ còn đám dư binh Lương Tam Kỳ chiếm vùng Chu, Mụ. Nay Cờ Đen Lương Tam Kỳ cũng đã đầu hàng, được đóng yên tại chợ Chu, chặn hậu ông Đề Thám; giờ yên các mặt, quân Pháp, quân triều đã lập vòng đai thép quanh chiến khu Yên Thế. Tuy dân miền Đông Bắc nhiều người vẫn ngầm giúp ông Đề, song cũng chẳng thiếu kẻ hám lợi làm trảo nha cho Pháp để triệt các đường tiếp trợ binh lương, vũ khí của “quan Hoàng"…!
            Giữa cảnh lâm tuyền Nhã Nam về đêm đầy bí ẩn bỗng hiện ra một bóng người, dáng trẻ, đi vùn vụt êm như chồn cáo về hướng Yên Thế, vẻ thạo đường thuộc lối hết sức.
            Khoảng giờ Tý y đã tới ngoại vi vùng chiến khu thiên hiểm, dừng lại ngay đầu hẻm núi, ngó quanh đoạn rúc lên mấy tiếng như cú mèo kêu. Lập tức có tiếng rúc đáp vọng lại , từ trong bóng tối một bóng quân canh xách súng trường hiện ra trên mỏm đá cao xế phía trước.
            - Hai mươi giấc tốt, hăm mốt nửa đêm. Sao đến chậm thế?
            - Phải đợi tối mới đi được! Lại không dám cưỡi ngựa, sợ chúng để ý!
            - Cậu Cả đang đợi! Có ngựa chờ sẵn đấy, vào nhanh đi!
            Ba tiếng kiểng gióng lên, một bóng phóng ngựa từ trong núi ra, dắt theo một con ngựa nữa. Bóng trẻ thót lên luôn lưng ngựa, tiếng vó câu tắt nhanh sau vách đá. Cầu vồng Yên Thế trung tâm khu chiến nằm giữa những đợi núi đèo hiểm hóc. Tổng dinh giờ này như đã ngủ dưới sao, giữa một vùng trại quân trấn rải rác theo thế liên hành. Dựa lưng vách núi có một căn nhà sàn. Bên trong, cuối nhà có một chiếc bàn mộc rộng choán hẳn góc sàn, trên trải một tấm bản đồ lớn có ghi rõ các đồn binh Tây, triều, các yếu lộ xuyên sơn… Một cái giá đèn bằng gỗ, cao, trên đặt một đĩa dầu nam cháy vật vờ, hắt ánh sáng vàng úa, loang lổ trên cảnh vật. Một người đàn ông, còn trẻ, nét mặt rắn rỏi, ngồi im như tượng đá, hai con mắt sáng nhìn trừng trừng vào tấm bản đồ quân sự, vẻ đăm chiêu đến căng thẳng.
            Bỗng có tiếng vó ngựa dừng rập trước nhà sàn. Người tuổi trẻ thở phào thành tiếng, ngả lưng dựa ra sau.
            Cửa mở nhẹ, một người trung niên bước vào kính cẩn:
            - Bẩm cậu Cả, người ấy đã vào. Xin gặp cậu!
            - Ta đang đợi đây! Thắp thêm lửa cho sáng.
            Người trung niên đốt thêm một đĩa đèn, quay ra mời khách vào. Đó là một chàng trai Kinh trạc 24, 25 tuổi, vẻ khôn ngoan, gan góc hơn người. Chính người vừa băng rừng tìm đến cứ địa. Y cúi đầu lễ phép:
            - Bẩm cậu Cả...
            - Cứ ngồi nghỉ, uống nước đã! Xem chừng chú mệt rồi đó! Ta đã để sẵn một bình trà ướp sen đợi chú!
            Chàng trai mới tới ngồi xuống chiếc ghế sát góc bàn, gần người được gọi là “cậu Cả" - tức Cả Trọng, con trai cụ Đề Thám và là vị tướng du kích khét danh thần xạ.
           Trà nước, điếu đóm được người hầu bưng ra. Cả Trọng tự tay rót trà ra chén đưa khách. Chàng trai kính cẩn đỡ lấy. Chủ khách đối ẩm ung dung, nhưng trong lòng cả hai đều như biển sóng ngầm. Vị khách chính là người bí mật chỉ huy đội do thám của nghĩa quân Yên Thế, hoạt động bên ngoài. Y quê miệt Hữu Lũng nên các tướng tuỳ cận "quan Hoàng" thường gọi "người ngoài lũng". Đêm nay có việc cơ mật nên y phải vào gặp Cả Trọng.
            Cạn tuần trà. Cả Trọng đẩy khay ấm chén sang bên, nhìn y:
            - Ta vào việc! Ngoài đó thế nào?
            "Người ngoài lũng” lập tức rút trong cán dao rừng ra một cuộn giấy bản, trải rộng trước mặt Cả Trọng. Mặt giấy đầy chữ Nôm, có xen chữ Latinh lẫn con số, nét vẽ chi chít. Giọng y chìm hẳn:
            - Thế trận, dân tình, quân vụ... mọi chuyện đều ghi rõ, quân Tây, quân triều ngụy đang thắt mạnh vòng đai. Hiện địch đang tung ra nhiều đội tuần tiễu, di chuyển bất thường, khắp các vùng. Tai hại nhất là lần nay chúng kỹ trước khi tiến đánh, dùng nhiều thổ hào trấn giữ các làng tổng, thả "lính đỏ" khắp nơi tìm bắt những người giúp ta!
            - Hừ! Bọn này mới nguy hại!
            - Tây đã dẹp xong các miền, hiện đang rảnh tay, mạnh thế, nhắm vào Phủ Lạng Bắc Giang. Dân gian tuy yêu quí ta, nhưng hiện như gà phải cáo! Thổ hào, dân giã Kinh, Mán, Thổ kẻ theo Tây vì cầu an, hoặc vì bạc "xoè", chỉ làm cho có chuyện; nhưng cũng lắm kẻ rất đắc lực, cậy thế mạnh, sục sạo, phá phách khốc hại! Đây, cậu Cả xem sẽ rõ!
            Hai người ngồi sát nhau, nói nhỏ to rất lâu. Dưới ánh lửa, cặp mày Cả Trọng nhiều phen nhíu lại, mắt như bốc cháy nhìn mảnh giấy trên bàn. Chợt "người ngoài lũng" cao giọng:
            - Còn viên Chánh tổng vùng Hữu Lũng...
            Cả Trọng bật ngồi thẳng lưng, hỏi dồn:
            - À, tên đó... sao? Chú đã gửi được tờ án thư cuối cùng cho hắn chưa?
            - Dạ! Đã gửi tới tay! Hắn xem xong cười ngất, đọc cho thủ hạ nghe, cùng cười rộ! Hắn bảo, hùm con rời hang ổ mò ra ngoài... sẽ thành dê con sa rọ, còn hòng doạ ai! Hắn còn lớn tiếng thề sẽ bắt hết những ai giúp du kích Yên Thế, và gửi cả tờ giấy lên Bắc Giang cho quân Tây để tỏ dạ trung thành!
            Cả Trọng gật gù, ngồi im. "Người ngoài lũng" hỏi khẽ:
            - Thưa, chẳng hiểu lệnh chủ tướng nhà... ra sao? Xem chừng kẻ ác đó không khi nào chịu hối cải!
            - "Người" bảo bất đắc dĩ mới phải tỉa lá sâu, vì tỉa đi, lá khác lại sâu, tỉa nhiều chỉ làm cho lòng người khủng khiếp! Phải bón cho cây tươi tốt, phải bắt sâu tận gốc! “Người" muốn đánh thẳng vào quân Tây, phá đồn trại, phá vỡ vòng đai hơn là tỉa từng con sâu con kiến!
            - Nhưng lúc này con sâu cái kiến đang phá hoạt, cắn đốt dân gian, làm nhiều người sợ không dám giúp ta! Nếu kẻ theo giặc không bị trừng trị, chúng sẽ đua nhau nhởn nhơ phò địch hại ta càng nhiều, và dân chúng sẽ chán nản, cầu an hết, vì không thấy thiện ác đáo đầu, không tin tài sức ta nữa! Trừ được kẻ ác cũng là bảo vệ cho người giúp ta! Theo ý kẻ này, giờ nên trừ sâu kiến, đợi khi mạnh sẽ cho một mồi lửa lớn!
            Cả Trọng trầm mặt, lặng lẽ rít một hơi thuốc lào, vẻ cân nhắc trước đề nghị của kẻ bộ thuộc, hồi lâu mới thong thả đáp:
            - Chú nói đúng! Ta sẽ định kế hoạch ngay đêm nay! Chú đã rõ hết địa thế rồi chứ?
           - Dạ...cả miệt Hữu Lũng, Nhã Nam, Phủ Lạng, Kép... tôi thuộc kỹ, còn trại viên chánh tổng đó thì rõ từng viên gạch, từng tay súng! Cậu Cả chỉ cần đem một đại đội tới là đủ!
            - Còn lộ trình và thói quen di chuyển của hắn?
            - Dạ, hắn đi đâu cũng đem theo ít nhất 30 tay súng! Hắn đi về bất thường, nhưng lại có lệ ngày thứ bảy hay ra tỉnh gặp quan thầy, chiều chủ nhật mới trở về Hữu Lũng. Như tối nay, hắn hiện có mặt ngoài Bắc Giang!
            - À, hay lắm! Chắc chắn hắn sẽ đi qua quan lộ?
            - Dạ, chắc chắn! Vì đó là con đường yên nhất, đầy đồn binh, nên hắn thường đi con đường đó về qua Hữu Lũng!
            - Được! Vậy chiều mai tên đó sẽ chết! Ta sẽ định giờ sau!
            - Cậu Cả đem binh phục đánh giữa ban ngày ư? Không nên! Tây hiện đang kiểm soát gắt, đường đó chạy giữa các đồn binh... Cậu Cả đừng vào trọng địa, nguy hiểm!
            - Chú yên tâm! Ta không tấn công mở trận với con kiến con sâu độc, ta chỉ cần một viên đạn! Sáng mai, chú theo làm hướng đạo, chỉ mặt hắn cho ta. Mình sẽ có thêm 3 tay súng vệ thuộc rừng!
            - Tất cả chỉ có 5 tay súng! Bẩm, liệu cậu Cả… có mạo hiểm, khinh xuất quá không?
            - Không ngủ kỹ, ăn no trước khi ra quân mới là khinh xuất! Giờ chú hãy đi ăn cơm rồi đánh một giấc cho đẫy. Sáng mai ta lên đường!
            …Núi rừng còn ngậm hơi sương, 5 thớt ngựa đã rời khu Tổng dinh Yên Thế, tiến về hướng chếch Đông. Cả 5 con ngựa đều thuộc loại chiến mã, giống ngựa Nước Hai Cao Bằng, đanh sắn, thạo đường núi quen vượt suối băng đèo, chạy kiệu băm, kiệu nhỡ rất êm.
            Đường xuyên sơn nhỏ hẹp ngựa đi hàng một, người Kinh trung niên đi trước, "người ngoài lũng” đi sát sau, Cả Trọng đi giữa, phía sau là hai thuộc hạ Kinh, Thổ. Kẻ mặc quần áo chàm, người quần áo nâu tứ than, riêng "người ngoài lũng" lại mặc áo the, khăn lượt giống nho sinh, còn Cả Trọng mặc đồ kaki, đội "mũ thuộc địa”, thắt lưng da to bản, vai khoác cây súng trường, sườn phải còn đeo thêm một khẩu súng ngắn, loại cối đạn 6 lỗ, thoáng trông như cai đội lính tập.
            Vào khoảng xế chiều, cả 5 thớt ngựa vụt hiện trên lưng chừng một ngọn đồi cách quan lộ khoảng 200 thước giữa vùng đồn binh Tây, ta san sát. Bên kia, xế trước đồi là một rặng núi nằm chênh chếch, quan lộ chạy uốn khúc qua, cách vùng Hữu Lũng độ hơn chục cây số.
            Năm người mồ hôi đẫm áo, cả 5 con vật cùng ướt sũng lông sau cuộc viễn hành. Cả Trọng vượt lên trước cùng “người ngoài lũng", dừng ngựa dưới một tàn cây rậm, 3 người tuỳ cận trấn 3 chỗ phía sau.
            Cả Trọng rút khăn lau mồ hôi và rút trong bao da ra một cái ống nhòm dài, loại viễn kính hải quân, chiếu xuống đường, rê một vòng rộng.
            Dân Kinh, Thổ qua lại từng tốp nhỏ, thỉnh thoảng có một tiểu đội kỵ binh tuần tiễu ngược rầm rập, xa chút bên kia đường một nóc lô cốt đồn Tây nhô lên trên cao điểm dòm về hướng Yên Thế. Xa tít nữa, phía hữu lại còn một đồn nữa, mạn sông Thương.
            Cả Trọng trao ống nhòm cho người hướng đạo. Y rê một vòng, thì thào:
            - Trọng địa! Ôi chao! Đồn Tây san sát, sao cậu Cả không chọn khúc dưới gần Hữu Lũng? Súng nổ, nếu lính Tây kéo ra, ta dễ lọt vòng vây!
           - Không sao! Chỗ trọng địa mới là chỗ bất ngờ nhất, địch sẽ không phòng bị, ta dễ hạ hơn ! Lính Tây kéo ra sao kịp! Nhớ cho kỹ: ta sẽ nổ ngay khi hắn đổ xuống chân dốc, khúc vòng cung đó! À, thường khoảng mấy giờ hắn về qua?
            - Thường vào độ 4 giờ, nhưng có khi muộn hơn không chừng!
            - Giờ mới 3 giờ chiều, xuống ngựa đợi thôi!
            Năm thầy trò rời yên ngựa. Cả Trọng ngồi dựa gốc cây, nhắm mắt lại, súng trường dựng bên cạnh. Cành lá che kín đàng trước, mấy tuỳ cận quan sát tứ bề, “người ngoài lũng" lướt lên cao chút đăm đăm dòm xuống đường cái.
            Thời gian nặng nề trôi. Từng phút, khắc khoải, hồi hộp, khó thở. Mặt trời tháng năm đã ngả bóng cây rừng, cột dây thép; ánh nắng xiên khoai vẫn còn hun nóng, nhưng sương lam vài dải đã bắt đầu dăng lê thê.
            Bốn giờ rưỡi…! Năm giờ…! Dưới đường, khách đi chợ về từng đoàn về vội vã, lác đác vài bóng ngựa thồ xuôi...
            Người hướng đạo bồn chồn, lẩm bầm:
            - Quái! Hay hắn không về chiều nay?
            Đột nhiên y vụt kêu khẽ:
            - Kia! Đúng bọn nó rồi! Cậu Cả!
            Y nhảy xuống, mấy tuỳ cận chồm ra vạch lá dòm. Cả Trọng mở mắt, rất chậm, nhấc cây súng đeo vai, mũi súng chỉ địa, lững thững tiến ra trước. Người hướng đạo trao lại viễn kính, trỏ xuống đường cái:
            - Cậu xem kìa! Đúng bọn nó!
            Cả Trọng rê ống kính chiếu theo ngón tay chỉ. Ngay trên ngọn dốc khúc đường lượn vòng thúng, vừa nhô lên một toán người ngựa lố nhố, đang phóng kiệu nhỡ đổ dốc theo hàng một, ngót 30 bóng mặc toàn quần áo vàng trông như lính tập. Cả đám đều đeo súng chỉ thiên, sườn dắt dao, kiếm tua tủa trông rất mạnh tợn.
            Thản nhiên như không, Cả Trọng đứng xoạc chân trái về đàng trước, trao ống nhòm cho "người ngoài lũng", khô giọng:
            - Nhìn cho kỹ xem tên Chánh tổng vùng Hữu Lũng đâu?
            - Hắn là kẻ phóng ngựa thứ tư! Chính tên cao lớn đội mũ vàng đó, cậu Cả!
            - Nhận rõ chưa? Chắc chắn không lầm chứ?
            - Dạ, lầm sao được! Tôi thuộc cả từ dáng dấp hắn mà!
            - Tha cho nó tội chết đường! Cho nó về tới cổng mới chết ! Nhớ lệnh ta: không ai được nổ súng! Sửa soạn, ta bắn xong lên ngựa rút ngay lập tức! - Cả Trọng bảo thuộc hạ.
            Dưới đường cái, từng bóng nhân mã phi nhấp nhô xuống cuối dốc. Người con trai "quan Hoàng" buông thõng tay phải dọc ngọn súng chỉ địa, đu đưa, ve vẩy nhẹ, thân hình chợt cứng đờ. Đột nhiên "người ngoài lũng" vùng kêu giật giọng:
            - Cậu Cả! Hắn đang vượt lên hàng đầu... kìa! - Miệng kêu, tay trỏ, mặt y ngoảnh sang nhìn chủ tướng. Nhưng... tiếng kêu chưa dứt, bỗng ngay lúc đó trời vụt tối sầm, nổi gió cuồng cuốn tung lá rừng, cát bụi vãi táp vào người ngựa mịt mù dưới đường. Trên đồi, người hướng đạo giật mình khi thấy người con cả "quan Hoàng", mặc kệ lá rừng tới tấp trút đổ xuống đầu, mặt như đàn bướm, bất thần vung mạnh cánh tay phải nửa vòng tròn, hất vụt ngọn súng trường lên đến “bạch” cái, nách đã kẹp phăng báng súng, đồng thời ngón tay trỏ dính luôn vào cò, bóp nghiến, nhanh như chớp. Mọi cử động như chỉ dồn vào một động tác. Đoàng! Tiếng đạn nổ xé rách không gian, át cả tiếng cuồng phong rung cây đổ lộc ào ào.
            Cả người hướng đạo vùng Hữu Lũng cùng đám tuỳ cận đều đổ dồn mắt dòm xuống đường cái, đúng lúc bóng cao lớn vừa vượt lên trước, xuống hẳn chân dốc, và trên ngọn dốc bỗng lại nhô lên 5,7 bóng kỵ binh Tây cao lênh khênh.
            Nhưng... viên Chánh tổng vẫn phóng ngựa đi như thường. Trên này, Cả Trọng lại hất "bạch" cái nữa, cây súng đã đeo gọn trên vai, chỉ thiên.
            - Thôi rút!
            Người hướng đạo vẻ băn khoăn hỏi lại:
            - Sao Cậu cả không bắn thêm phát nữa? Nó phi nhanh quá chắc không trúng rồi.
            Cả ba tuỳ cận kia cũng lộ vẻ thất vọng, mấy tay cò, nhưng dưới đường cái, qua mấy giây ngơ ngác phân tâm, bọn viên Chánh tổng Hữu Lũng đã chỉ súng lên đồi vừa bắn trả vừa thúc ngựa phi như bay trong gió bụi. Toán lính Tây trên dốc cũng hô to khẩu lệnh, nhất loạt bắn vãi lên đồi. Cả Trọng phất tay, thót lên ngựa, bọn tuỳ cận lật đật làm theo, 5 thớt ngựa quay đầu phi xuống sườn đồi bên này, lát sau đã rời khỏi khu vực trọng địa. Tiếng súng Tây bắn đuổi vẩn vơ vài loạt rồi im bặt...
            Trên đường trở về cứ địa, "người ngoài lũng" chừng nhịn không nổi, bật hỏi Cả Trọng:
            - Bẩm... liệu phát đạn cậu bắn có trúng hắn không? Bọn tôi thấy hắn vẫn phi như bay, không có vẻ gì là bị đạn! Hay… chỉ bị thương nhẹ?
            - Hắn về tới nhà sẽ chết. Ta hẹn cho tên Chánh tổng vừa dừng trước cổng, xuống ngựa và sẽ chết gục bên chân ngựa. Ta có ý tha cho nó tội chết đường đó!
           Người con cả "quan Hoàng" điềm nhiên đáp. Đám thuộc hạ chẳng ai dám hỏi nữa tuy trong lòng đều bán tín bán nghi!
***
            Hai ngày sau, "người ngoài lũng" mò về miệt Hữu Lũng, liền được tin viên chánh tổng kia chết thật rồi. Và chết đúng lúc về tới cổng, vừa xuống ngựa là gục luôn bên chân ngựa, đúng như Cả Trọng đã hẹn trước!
            Vừa mừng vừa sợ, y lần luôn tới trại của viên Chánh tổng, vờ phúng điếu chia buồn để dò hỏi. Thì ra, viên Chánh tổng vốn khoẻ mạnh, lại thắt một sợi dây lưng bằng da to bản, đeo bao đạn. Cả Trọng đã bắn vào mạng mỡ hắn, đúng ngay chỗ mép dây lưng, giữa lúc thân hình hắn đang nhấp nhô trên lưng ngựa phi. Nhờ mép da dây lưng hãm sức, viên đạn chui vào bụng vừa độ, lại thịt mỡ, nội tạng chỗ đó lùng nhùng, nhu năng chế cương nên đạn không phá dữ. Theo nhịp ngựa phi, người nhấp nhô theo, lỗ thủng được dây da bít chặt mấy giây lại để hở, cứ thế bít hở, hở bít, máu ứa ra rồi lại cầm theo nhịp dây da lên xuống. Và có lẽ, dù biết trúng đạn nhưng là chỉ bị thương nhẹ, lại sợ bị lọt ổ phục kích, hắn cứ giục ngựa phóng như bay cùng thủ hạ về tới trại ở Hữu Lũng. Tuy sức khoẻ hơn người, song trong suốt quãng đường dài chục cây số máu cũng rỉ ra nhiều. Khi về tới cổng , vừa rời lưng ngựa, việc đầu tiên là hắn cởi vội dây lưng da để xem vết thương nặng nhẹ ra sao. Dây lưng vừa cởi, máu lập tức tuôn chảy ộc ra sau cả nửa giờ bị tức nghẽn, ướt đẫm áo quần. Thủ hạ xúm vào cấp cứu nhưng đã muộn, hắn chỉ kêu được một tiếng rồi gục xuống tắt thở luôn bên chân ngựa!*
 
Đăng nhập để trả lời
0
TÌNH YÊU TRUYỀN KIẾP 

 
            Mưa phùn, gió bấc. Trời rét căm căm, mây mù sa thấp. Một đêm thượng tuần tháng chạp.
            Hà Nội về khuya vắng lặng, hàng cây bên đường ướt át rủ bóng vật vờ, gió đưa xào xạc. Bóng đèn điện kẻ từng hàng thẳng tắp, xa hun hút mặt phố dài võng xuống như trĩu nặng nỗi buồn đêm mưa. Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi ướt loáng chạy vụt qua, bánh xe nghiến nước tung toé, hắt cả lên khách bộ hành lướt thướt đi dưới hàng hiên.
            Bờ hồ Gươm liễu rủ, mỗi cơn gió thổi, vài chiếc lá vàng bay dật dờ chao qua chao lại trong ánh đèn vàng vọt rồi đáp xuống mặt hồ trôi đi, lạc lõng...
            Từ trong bóng cây, một bóng người lặng lẽ đi ra gần bờ nước, hờ hững bước lên cầu Thê Húc, đứng nhìn mặt nước hồi lâu, khẽ buông tiếng thở dài. Ánh đèn soi mặt người tuổi trẻ đậm nét tư lự. Chàng ta đội mũ “phớt", mặc "măng-tô-xan”, ngoài khoác áo mưa, dáng cao, lẳn người, trông vẻ phong lưu. Ngang qua vũ trường Taverne Royale, bước chân người tuổi trẻ chợt chậm lại, tiếng nhạc từ trong hắt ra dập dìu.
            Bỗng từ xa, phía Nhà Kèn, một chiếc xe hơi đít vịt đang phóng vùn vụt tới chợt “phanh" gấp. Tiếng xe thắng bất thần khiến chàng trai giật mình quay lại cau mày nhìn.
            Một người đàn ông trạc ba mươi, cao to như lực sĩ, khoác pa-đờ-xuy màu xám nhạt, đẩy cửa xe bước vội xuống nói như reo:
            - Dũng! Ôi chao! Đêm khuya mưa gió, sao lại lang thang bờ hồ thế này?
            - À… Đạt! Mình đi tản bộ chút! Đêm nay tự nhiên mình lại thấy trống trải, bâng khuâng như nhớ... dĩ vãng xa xôi tự kiếp nào!
            Chàng tuổi trẻ tên Dũng nhếch miệng cười khó hiểu, vỗ nhẹ vai bạn. Hai người là bạn thân. Hoàng Đạt lớn hơn Dũng mấy tuổi, võ sĩ quyền anh nổi tiếng, hiện làm huấn luyện viên, mở phòng tập tại Hà Nội Ngoài môn đánh "bốc”, Đạt cũng dạy cả võ Trung Hoa, đặc biệt còn thông thạo khá nhiều kỳ môn dị thuật bí truyền, do từng giang hồ ngược xuôi các miền biên địa ma thiêng nước độc. Còn Trần Dũng hiện là sinh viên. Chàng và Đạt gần nhau qua cái duyên võ nghệ. Dũng thích văn chương thơ phú, trọng văn học nhưng cũng chuộng côn quyền, ưa nghiệp võ. Tính rất đa cảm, thường được bằng hữu gán cho cái tên "Dũng thi sĩ”.
            - Mình kiếm chỗ nào giải sầu đi, Dũng! Cậu thích Taverne Royale này hay lại đằng Bồng Lai?
            Đạt ân cần nhìn Dũng, vẻ cảm thông tâm trạng người bạn đa sầu.
            - Ồ! Cậu biết đó! Tớ không hợp lắm với không khí vũ trường...
            Đạt cười xòa, kéo bạn lên xe.
            - Vậy thì trực chỉ... cao lâu Hàng Buồm! Hà! Với thi sĩ thì chỉ có Trúc Diệp Thanh, Mai Quế Lộ mới nguôi ngoai nỗi sầu vạn cổ! Hà hà!
            Xe qua mấy dãy phố, đến khu Hàng Buồm. Hoàng Đạt chọn một hiệu ăn khách trú quen thuộc mời bạn vào. Hai chàng lên gác tìm một bàn sát ban-công vừa trò chuyện vừa ngắm nhìn phố xá rét mướt, tận hưởng cái phong vị của Hà Nội đêm mưa.
            Đạt luôn miệng giục bạn ăn, nhưng Trần Dũng chỉ uống nhiều hơn, vẻ mặt càng lúc thêm trầm mặc, nhiều lúc quên cả đối đáp với bạn.
            Hoàng Đạt đã quen với tính cách của Dũng nên chỉ cười, không chấp. Từ khi thân nhau, Dũng hường kể về tâm trạng buồn vẩn vơ không căn cứ của chàng. Đạt xem đó là một căn bệnh mà những kẻ lãng mạn thường mắc phải. Có lần chàng đã bảo thẳng Trần Dũng như vậy, nhưng Dũng lắc đầu phản đối:
            - Cậu không hiểu! Chẳng phải mình giống như các tay “lãng mạn còm” ấy đâu!
            Chàng sinh viên tỏ vẻ khổ sở khiến Đạt ái ngại bèn lảng sang chuyện khác. Bụng vẫn cho rằng bạn lãng mạn, giàu tưởng tượng. Nếu chẳng vì ngại Dũng chạm tự ái có lẽ Đạt đã khuyên bạn tới gặp một đốc-tờ chuyên khoa tâm thần!
            Chính căn bệnh quái gở đó đã lôi Dũng ra khỏi giường, đẩy chàng đi lang thang vô định giữa kinh thành Hà Nôi trong đêm trước khi Đạt tình cờ gặp.
            - Thêm một bình nữa nhé?
            Đạt hỏi bạn. Trần Dũng châm điếu xì gà thứ hai, gật gù chưa kịp đáp bỗng có tiếng chân chạy rầm rập lên cầu thang. Thực khách ai nấy cùng quay lại nhìn. Một người đàn ông đội mũ dạ, trạc bốn mươi, vụt nhô lên dòm nhớn nhác vẻ muốn tìm ai đó.
            - Kìa! Chú tài Lực!
            Trần Dũng nhác thấy vội gọi giật. Người kia nhận ra chàng, hấp tấp bước lại, kêu lên:
            - Cậu Ba! Trời! Tôi đi tìm cậu từ bảy giờ tối đến giờ! May quá !
            Hai người tuổi trẻ cùng thoáng giật mình, Trần Dũng đứng phắt dậy hỏi dồn:
            - Chuyện gì thế?
            Tài Lực, người lái xe cho cha Trần Dũng dưới Nam Định, vừa thở vừa đáp:
            - Cụ lớn ở nhà lên cơn đau, truyền lên đón cậu về gấp! Xem chừng cụ… khó qua nổi! Cụ bảo có chuyện hệ trọng cần gặp cậu Ba!
            Dũng hoảng hốt:
            - Còn các anh tôi?
            - Bẩm... Cậu Cả, cậu Hai chắc đã về Nam Định đủ cả rồi.
            Trần Dũng quay nhìn Hoàng Đạt. Không đợi bạn nói, họ Hoàng khoát tay:
            - Mình cùng về Nam với cậu!
            Ba người rời khỏi hiệu ăn. Mấy phút sau hai chiếc xe hơi xả hết tốc lực phóng trên quốc lộ như tên bắn.
            Hơn hai giờ khuya mới tới Nam Định. Mưa vẫn sụt sùi. Hai chiếc xe dừng trước một tòa nhà lớn trên phố. Trần Dũng, Hoàng Đạt theo tài Lực phóng lên thềm. Gia nhân nam nữ, họ hàng thân thích đứng đầy trong phòng khách. Một người trạc ba mươi, dáng mập mạp từ trên gác chạy xuống, nắm tay Dũng ứa nước mắt, giọng chìm hẳn:
            - Chú Ba! Chú về hơi muộn! Thầy vừa "đi" được nửa giờ!
            Trần Dũng bàng hoàng đứng lặng. Người vừa nói chính là Trần Thường, anh cả của Dũng. Chàng theo mọi người lên gác. Trong căn phòng cổ kính, cựu Tổng đốc Trần Hùng nằm ngay ngắn trên giường, mặt phủ tờ giấy bản trắng toát. Trần phu nhân ngồi cạnh khóc nghẹn.
            Dũng cúi xuống lật tờ giấy bản nhìn mặt phụ thân. Phu nhân gạt lệ bảo:
            - Thầy bỗng lên cơn bạo bệnh, lập tức cho tìm các con về! Nửa giờ trước thầy còn hỏi! Thầy có chuyện quan trọng muốn nói với con!
            Dũng lấy khắn lau nước mắt, ngạc nhiên hỏi:
            - Thưa, chuyện gì đó mẹ? Sao không nói với hai anh con?
            Trần phu nhân chợt đưa mắt ra hiệu cho mọi người lui ra hết, trong phòng chỉ còn lại ba người con trai lớn.
            - Thầy "đi" hồi một giờ ba mươi lăm phút, lòng ân hận vô cùng vì không cho con biết sớm! Thầy chỉ trối những việc bình thường, còn việc chính như chúc thư và “việc kia" thầy dặn phải chờ tổ phụ về định đoạt!
            Trần Dũng không khỏi cau mày hỏi lại:
            - Chờ tổ phụ về ư? Tổ phụ nào? Thầy mê sảng đến thế sao?
            - Không đâu! Thầy tỉnh táo cho đến khi nhắm mắt!
            Người anh cả Trần Thường lắc đầu xen vào nói:
            - Tôi cũng nghe thầy trối mọi chuyện để cụ tổ về định đoạt! Và theo đúng di ngôn lập nguyện của giòng họ Trần ta, thì chính chú là... cụ tổ!
            - Trời! Anh cũng… loạn trí rồi ư?
            Trần Dũng sửng sốt kêu lên. Nhưng Trần phu nhân đã nghiêm giọng nói luôn:
            - Dũng! Anh cả con không loạn trí. Chỉ có con chưa biết chuyện bí ẩn của giòng họ Trần ta, vì thầy con đã do dự suốt hai mươi mấy năm chưa dám cho con rõ!
            Ánh nến lắt lay hắt tỏa lên gương mặt phu nhân mờ ảo, giọng bà trầm trầm xa xăm như từ dĩ vãng vọng về:
            - Chuyện như vầy! Ngót trăm năm xưa, cụ tam đại các con làm võ tướng triều đình, chống giặc khắp các miền thượng du đất Bắc. Thường cùng Tôn Thất Thuyết, Hoàng Kế Viêm, Ông Ích Khiêm hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đánh quân Tây Dương, quân Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh, Cờ Trắng Bàn Văn Nhị... Cụ nhà ta văn võ kiêm toàn, làm đến chức Tĩnh Biên phó sứ thì mất bởi một cơn đau ngực lạ lùng! Trước khi thác người có di ngôn lại là sẽ... trở về cõi thế, đầu thai vào cửa nhà Trần ta! “Người" có viết tên họ “người" vào hai lòng bàn chân, hẹn con cháu về sau nếu đẻ con trai cứ thấy ai có hai chữ dưới lòng bàn chân tức đó là “Người"! Sau này, con cháu vẫn giữ kín di ngôn đó, nhưng ông nội con sinh nhiều con vẫn không thấy! Đến đời thầy con, lần thứ ba mẹ vừa chuyển bụng đẻ ra con, ai nấy đều giật mình, thấy chữ ở bàn chân mới biết lời nguyện xưa đã ứng! Cụ tam đại trở về dương thế vì chuyện bí mật nào đó chưa ai được rõ! Trần Dũng hãy xem lại lòng bàn chân của con đi!
            Dũng vội cởi giầy, vớ, soi nến xem lòng bàn chân mình. Thật ngoài sức tưởng tượng! Lòng bàn chân phải có chữ Trần, chân trái có chữ Dũng, mờ mờ nét chàm xanh! Từ thuở bé đến giờ chàng trai chưa khi nào để ý thấy, vì chúng cũng hơi giống các nét chỉ ngang dọc thường có!
            - Thầy con để di vật trong tay! Chỉ riêng con mới được nhận! Chuyện bí mật liên quan đến... chứng bệnh đau ngực di truyền của giòng họ Trần ta!
            Nghe mẹ nói, Trần Dũng vội ngó kỹ thi hài phụ thân, lúc đó mới nhận thấy hai bàn tay ông vẫn nắm chặt, không ai gỡ nổi!
            Chàng trai bàng hoàng kinh dị lặng đi, hồi lâu mới run giọng khấn:
            - Nếu con là tằng tổ phụ đầu thai, xin cho nhận di vật.
            Lạ thay! Dũng vừa chạm , tay ông cụ đã mềm như bún. Bàn tay trái ông có một mảnh giấy gấp nhỏ, nét chữ thảo đã run hẳn:
            “Di vật tổ phụ để trong hộp “sắc". Chỉ mình Trần Dũng mới được lấy chìa khóa mở hộp đó. Xin tha tội đứa cháu nội bất hiếu đã có lúc định quên di ngôn tổ phụ”.
            Chàng trai cúi đầu, cầm lấy chùm chìa khóa rồi một mình bước sang gian phòng thờ.
            Ánh nến vật vờ úa vàng trên bàn thờ. Trần Dũng nhìn dãy bát hương, bài vị, thần chú xếp đặt trên đó, bỗng giật mình đọc thấy hai chữ “Trần Dũng" trên bài vị tằng tổ phụ! Sau bài vị có đặt một hộp “sắc" dài chạm trổ, sơn son thiếp vàng.
            Dũng mang xuống đặt lên chiếc bàn độc thấp, lựa chìa khóa mở ra. Trong hộp đầy “sắc" vua phong. Dưới đáy còn một tầng kín, mở ra thấy có một khẩu súng lục cổ, một thanh gươm, một chiếc tù và bằng sừng linh dương, một tấm họa đồ đặc biệt và một cuốn sách nhỏ, bìa bằng da báo gấm, ngoài có tấm biển vàng khắc hàng chữ:
            “Tĩnh Biên phó sứ Trần Dũng di thư”.
            Bồi hồi, chàng trai mở sách ra. Trang đầu có mấy hàng chữ Hán lớn, viết lối chân phương:
            "Cái văn: phụ tác tử thừa, thử chi vị kế, bất cải ư tổ tông chi đạo, khả vị hiếu hĩ” (Thường nghe: Cha làm con theo đó là nối, không đổi đạo tổ tiên, ấy là hiếu).
            Các trang sau viết theo lối chữ Nôm thảo coi rất hoa mỹ, tỏ rõ tay bút tài hoa khác người:
            “Chúc thư lập nguyện của Trần Dũng để lại cho con cháu, chi phái trực hệ giòng Trần ta. Ta cầm bút thảo những dòng này khi lên cơn đau tức ngực, linh cảm sắp gần đất xa trời, và biết chắc là chứng bệnh quái gở này sẽ thành bệnh di truyền trong chi phái nhà ta. Lỗi tại ta hay tại số mệnh?
            Ta sinh ra trong cửa tướng, từ nhỏ chỉ biết phòng văn, trường võ, lớn lên xông pha trăm trận, chỉ biết vui với mũi tên, hòn đạn.
            Nhưng gặp hồi vận nước suy vi, quan hủ quan tham đầy cõi, đến nỗi để mất nhân tâm hơn dị tịch, ta biết dẫu có lầy gan nát óc, dày công hãn mã cũng khó mong xoay lại nước cờ. Tuy vậy, đã làm tướng không lẽ cúi đầu khuất phục? Ta đánh trận suốt Bắc, Trung, Nam; đương thời đã sống dưới cờ Hoàng Kế Viêm, Tôn Thất Thuyết, Ông Ích Khiêm, cùng đánh quân Tây Dương, đánh giặc Cờ Vàng, Cờ Trắng. Và hồi cùng ông Thuyết đánh Cờ Vàng, tháng tám năm Ất Hợi (1875), trong trận đất Vĩnh Tường, chính ta đã bắn què Hoàng Sùng Anh và bắt sống y!
            Ta lại quen thân với tướng Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc và con nuôi Lưu là Woòng Nhì.Ta thường được cử hợp binh triều đình với quân Cờ Đen đánh Tây Dương. Ngày tướng Cờ Đen Bá Dương bắt sống Henri Rivière tại Cầu Giấy, ta cùng Lưu nằm miệt Phùng bày kế.
            Nhưng sau triều đình phải ký hòa ước với Tây Dương, sai người ra Bắc triệu các tướng về và báo cho Lưu Vĩnh Phúc biết. Lưu cứ đánh. Ta hợp với Lưu tiếp tục mở trận khắp các miền Sơn Tây, Phú Thọ, Tuyên Quang, lên tận Lào Cai...
            Ngày kia Tây Dương tụ quân mạnh đánh tràn, chúng ta phải rút vào rừng. Một đêm ta cùng Woòng Nhì xuyên sơn sang miền Phong Sa Ly đánh địch, không ngờ lại bị địch phục chặn ngay tại biên thuỳ. Quân thua tứ tán, ta bị thương một mình một ngựa chạy bừa, tới miền ba biên giới bỗng lạc vào một cõi thần tiên của bà Chúa Ngàn. Cõi này không ai đến nổi, có núi Bạc, núi Vàng, có nguồn nước trường sinh. Bà Chúa Ngàn ngự trị đã nhiều thế kỷ nhờ nguồn nước lạ đó. Bà chữa thương cho ta, và như có tiền duyên nên vừa gặp, ta cùng bà đã yêu nhau tha thiết!
            Nhưng ta còn vợ con, còn nghĩa vụ, nên nửa năm sau ta ngỏ ý đòi về thu xếp việc riêng, hẹn năm năm sẽ trở lại với nàng.
            Nàng trao cho ta một bình nước, một cái sừng linh dương, nghẹn ngào bảo:
            - Ai đã vào Ngàn này, uống nước ăn cơm, ngửi hương hoa đều có thể trường sinh. Tuy nhiên, nếu một ngày không có nước Ngàn sẽ thắt tim mà thác! Bình nước này chàng giữ cẩn thận, mỗi ngày uống một ngụm, lau mình một ngụm, đủ năm năm chàng trở lại, thiếp chờ. Chàng cứ an lòng lo việc đời, dẫu sao dời vật đổi, thiếp vẫn chờ. Dù hàng năm, hàng thế kỷ, đời đời! Kiếp này nếu chàng gặp tai biến, thiếp sẽ chờ kiếp sau, kiếp sau nữa! Hãy tới vùng tháp Cửu Thiên, thổi chiếc sừng linh dương, thiếp sẽ ra đón chàng. Xin chàng chớ phụ! Đừng để bệnh thắt tim thành bệnh lưu truyền cho con cháu! Ngoài đời còn loạn!
            Ta cảm động đỡ lấy, cùng nàng ân ái biệt ly, khi tỉnh dậy đã thấy nằm trên tháp, mùi da thịt nàng còn ướp nồng ngực áo.
            Ngựa buộc ngay chân tháp. Ta lên ngựa ra roi, xuyên lâm tìm về bản dinh Lưu Vĩnh Phúc. Lưu đã về Tuyên Quang. Ta lần về Tuyên, may gặp Woòng Nhì, Woòng đưa ta đi gặp cha nuôi. Chủ soái Cờ Đen, Đề đốc Nam triều đang nằm hút thuốc phiện. Trông ông già hẳn đi. Giọng Lưu thật bi hùng:
            - Triều đình ký hoà ước nhận cuộc bảo hộ rồi! Tây Dương lại nhờ triều đình Mãn Thanh triệu Lưu này về trấn Đài Loan! Nhưng nhiều tướng không chịu! Tướng Tây mới đánh Sơn Tây, Hưng Hóa, sắp đánh Tuyên Quang! Hoàng Kế Viêm về Huế rồi! Lưu này đánh trận tại đây đã hai mươi năm, giờ vẫn giúp nước Nam! Tiên sinh tính sao?
            Ta nắm tay Lưu cảm động, thâm tâm định sẽ trông vào núi Vàng, núi Bạc của bà Chúa Ngàn, lấy tiền mộ quân cùng Lưu hợp chiến
            Ta bèn lẻn về Sơn Tây đem gia đình lên Tuyên Quang.
            Ngay hôm sau Tây tiên đánh Tuyên Quang. Ta cùng quân Cờ Đen vừa chặn vừa rút, nào ngờ lúc đã đóng yên trong rừng, xem lại mới hay bình nước Ngàn đã bị đạn xuyên thủng lỗ chỗ, nước quí đã cạn từ lâu.
            Hỡi ôi! Nghiệt số! Mắt ta đã hoa, tim đang thắt! Không! Ta sẽ trở lại gặp nàng! Ta viết tên vào lòng bàn chân vì sợ sẽ quên tiền kiếp mình! Hỡi con cháu! Nếu đẻ ra kẻ có tên dưới chân, là ta đó! Hãy trao chúc thư cho Trần Dũng hậu thân! Trần Dũng! Hãy tìm tới xứ Ngàn, dẫu đã lâu hàng bao thế kỷ! Nàng đang chờ cố nhân! Giòng họ ta sẽ khỏi bệnh di truyền! Nếu không tin, ngươi có quyền đốt hết di thư, di vật, sống đời cháu chắt, coi tất cả chỉ là cơn mê sảng của tiền nhân! Nếu đi, hãy chờ năm Tý, năm Trần Dũng về trần, vì ta lập nguyện sẽ trở lại xứ Ngàn vào năm Tý!".
            Chàng tuổi trẻ gấp chúc thư lại, lòng bàng hoàng như đang trong cõi mộng. Rất lâu chàng khẽ thở dài, cúi xem lại lòng bàn chân rồi nhìn lên tấm bài vị cụ tam đại, lẩm bẩm:
            - Chân có chữ, sinh năm Tý, ta là hậu thân tằng tổ phụ! Giờ ta mới hiểu vì sao từ ngày có trí khôn ta hay buồn mang mang như nhớ về dĩ vãng xa xăm...!
***
            Ba biên giới...
            Miền giao địa Việt Trung Lào...
            Theo họa đồ của cụ tam đại Trần Dũng Tĩnh Biên phó sứ, chàng trai họ Trần cùng Hoàng Đạt, thêm Ngọc Bích - người yêu của họ Hoàng, lần mò khắp rừng thẳm khe sâu, lang thang mãi để tìm tháp Cửu Thiên. Nhưng đã gần tuần lễ trôi qua vẫn không ra manh mối. Hỏi thổ dân, ai cũng sợ sệt lắc đầu, bảo đấy là “tháp ma tháp quỉ", nếu ai trông thấy sẽ quên đường về.
            Một ông lão ngoài bảy mươi tuổi ở vùng Apuchải cho biết: đã hơn thế kỷ nay chưa ai gặp được tháp đó!
            Cả ba người trẻ tuổi không nản chí, cứ đi. Rồi một buổi hoàng hôn ba mươi tết, ba người đến một vùng hoang tịch không vết chân người . Vừa lên tới một đỉnh đèo cao, bỗng thấy hình ngọn tháp kỳ dị đằng xa, mây khói mịt mù.
            - Kia rồi!
            Cả bọn bật kêu sửng sốt, mừng rỡ, lập tức giục ngựa tiến tới. Đường mòn đã bị xóa nhoà tự bao giờ, may sao xuống chân đèo lại gặp một dòng suối chảy về hướng tháp. Trông tưởng gần, ngờ đâu vừa phát dây leo, cỏ lau , vừa đi, mãi tới khi trời tối mịt mới đến chân tháp. Trời đêm đen như mực. Gió thổi vi vu, khí lạnh ghê người. Ba con ngựa sợ hãi cứ hí loạn chực phá chạy, bọn Trần Dũng phải vất vả mới ghìm lại được.
            Hoàng Đạt chiếu đèn rê ngược từ dưới lên. Tháp bằng đá xanh, rêu phong phủ đầy dây leo chằng chịt lên tận tầng thứ ba. Có giống leo tận ngọn, lá vật vờ.
            Ngọc Bích rùng mình bảo hai chàng:
            - Này! Sao trông có vẻ nặng nề âm khí lạ!
            Dũng, Đạt đưa mắt nhìn nhau, cùng chung ý nghĩ như nàng.
            - Hừ! Bất kể thế nào, đã đến thì phải vào thôi!
            Chàng võ sư trao đèn cho người yêu, rút soạt lưỡi dao rừng phát quang lối đi dắt ngựa lên trước.
            Lát sau, một bếp lửa cháy rực được nhóm lên giữa nền tháp, xua bớt lãnh khí.
            Trần Dũng xem đồng hồ, vẻ tư lự:
            - Hơn mười giờ rồi! Chỉ còn một lát nữa là sang năm Tý... năm "Người” lập nguyện trở lại xứ ngàn!
            - Tớ hiểu! Nhưng giờ này hãy còn sớm, ăn uống cho lại sức cái đã! Cố nhân trùng phùng, chớ để nàng thấy mặt mũi tình lang ủ dột vì... đói bụng!
            Đạt gượng bông đùa, che dấu nỗi xúc động.
            Ăn uống xong đã quá mười  một giờ đêm, Trần Dũng chừng  nóng lòng, đứng vụt lên.
            - Tớ ra ngoài chuẩn bị trước! Sắp đến giờ lên tháp!
            Chàng quơ bọc hành trang bước ra liền. Mươi phút đã thấy một viên võ tướng thời cổ mặc giáp, đội mũ trụ, đeo súng, tay xách gươm đi vào.
            Dù đã biết trước, Hoàng Đạt, Ngọc Bích vẫn không khỏi giật mình, tưởng như một hình bóng vừa từ dĩ vãng hiện về.
            - Ồ! Dũng!
            Trần Dũng mặc võ phục của cụ tam đại, mặt lộ vẻ khắc khoải, bồn chồn đi tới đi lui trong tháp.
           - Hai bạn ở dưới này, tớ lên trên xem sao!
            - Khoan! Để bọn này cùng lên! Tháp hoang lâu năm e có lắm độc xà, độc vật!
            Đạt, Bích cùng đứng lên. Chàng võ sư rút khẩu pạc-hoọc, lăm lăm đề phòng bất trắc, đoạn chiếu đèn đi trước mở đường.
            Vừa lên tầng hai , bỗng "rào” một tiếng, dây leo xao động, một con trăn gió cực lớn phóng vụt tới. Không chậm một giây, Đạt vẩy súng.
            - Đoàng!
            Con trăn rớt xuống nền đá giãy dụa, quật đuôi rầm rầm. Ngay lúc đó lại một con nữa từ đâu quặng vèo tới, ngay đầu gối. Đạt vội quay đèn, súng định nổ tiếp nhưng đầu trăn đã chạm ống quần.
            Phập!
            Đầu trăn rụng "bộp". Trần Dũng từ phía sau vọt lên theo đường gươm. Ba người lên tầng ba, suýt bị rắn rết cắn. Lên tầng bốn, năm suýt bị ong độc đốt. Thang đá rêu trơn khiến Ngọc Bích trượt chân mấy lần suýt ngã. Mấy phút sau cả bọn tới tầng chín cao chót vót.
            Khí lạnh thấu xương, gió vù vù, tháp hoang quạnh quẽ, trên có treo một quả chuông, đầy bụi, rêu.
            Ba người bước ra lan can nhìn về hướng Tây Bắc. Dãy núi đá sừng sững in vào nền trời, âm u như quái tượng biên khu đêm hoang tịch. Trần Dũng càng lúc càng thêm khắc khoải, chốc chốc lại xem đồng hồ.
            Mười hai giờ. Giao thừa rồi. Đã sang năm Tý.
            Chàng trai họ Trần xúc động, thở mạnh liền mấy hơi đoạn từ từ đưa chiếc sừng linh dương lên miệng thổi.
            Trong khoảnh khắc, Hoàng Đạt, Ngọc Bích cùng lặng người trước âm sừng phát ra vang lên, bay vãi trong không gian. Trần Dũng mới tập thổi tù và được ít ngày, nhưng âm thanh nghe nổi chìm thê lương lạ lùng, lan truyền xa hút...
            Dứt ba hồi, vẫn chẳng thấy gì lạ! Dũng thổi ba hồi nữa, vẫn im. Nhưng vừa dứt hồi thứ chín, thì lạ thay, từ dãy núi cao ngất âm u kia bỗng có tiếng tù và linh dương nổi lên, vọng tới tháp đúng chín hồi rền rĩ thê lương, nghe như vọng âm chậm của tiếng tù và Trần Dũng vừa thổi.
           Cả bọn nín thở.
            Bỗng nghe dưới chân tháp xôn xao rồi tiếng người , tiếng ngựa, có tiếng đàn bà thánh thót đưa lên:
            - Trần Dũng Tĩnh Biên phó sứ đã tới đó sao? Trời ơi! Thiếp đợi chàng đã gần thế kỷ!
            Cả ba cùng giật mình sửng sốt, Trần Dũng vùng phóng tới đầu cầu thang. Ánh đèn lồng cổ kính dập dềnh huyền ảo, một đám gái hầu phò một nữ lang mặc lối các cô nàng sơn cước đi lên, gót sen thoăn thoắt, hương thơm ngạt ngào. Nữ lang lên hẳn trên, đẹp như tiên giáng trần. Nàng nhìn Trần Dũng thỏ thẻ:
            - Lang quân! Sao chàng tới chậm thế? Nơi Ngàn thiêng thiếp đếm từng khắc chờ mong! Ôi! Chàng vẫn trẻ như xưa!
            Trần Dũng có vẻ lúng túng:
            - Ngày ấy"Người" về xuôi không may lâm trận thủng bình nước quí. Mãi đến đời cháu 3 đời Trần Dũng này mới được biết tiền thân!
            Nước mắt chảy thành giòng, nữ lang bước tới gục vào ngực Dũng:
            - Hãy theo thiếp vào Ngàn... nối lại duyên xưa.
            Như mê, Trần Dũng để mặc nàng dắt đi. Bất thần Hoàng Đạt vụt lại, quát dữ:
            - Yêu nghiệt! Không được hại bạn ta!
            Cả hai cùng quay mặt lại, nữ lang cau mày liễu:
            - Chàng này là ai, sao dữ thế?
            Dũng có vẻ không vui:
            - Đạt! Điên sao? Y hồi tù và rứt, nàng ra đón! Đây là Bà Chúa Ngàn!
            Đạt lạnh lùng:
            - Tới nhanh như gió thoảng, đâu phải người trần! Nếu là tiên tất không sợ súng ống!
            Dứt lời chàng trai họ Hoàng chĩa pạc-hoọc nổ luôn một phát giữa ngực nữ lang. Nàng vẫn đứng yên, mỉm cười. Đạt lại rút soạt ra một thanh gươm gỗ quấn chỉ ngũ sắc quát:
            - Đây là gươm lệnh của thầy phù thủy, nếu chịu nổi, không phải yêu ma!
            Véo! Gươm gỗ chém lia, nữ lang buông Dũng nhảy vụt xuống thang. Đạt phóng gươm theo. Rào! Một cơn gió lạnh, cả lũ gái hầu cũng biến theo ánh đèn lồng. Có tiếng rú mơ hồ. Đạt chiếu đèn bấm đuổi theo. Thanh gươm gỗ cắm ngay kẽ cửa sổ chân thang tầng tám, thành cửa sổ có mấy giọt máu đen như mực. Đạt lấy gươm đuổi theo nữa, Trần Dũng, Ngọc Bích cũng theo sát.
            Nhưng xuống đến tầng dưới cùng vẫn không thấy gì, ngó ra ngoài chỉ có mấy con ngựa buộc đó. Ba người đang rê đèn bấm quanh chân tháp, bỗng lại nghe tiếng đàn sáo véo von lẫn tiếng nhạc ngựa khua, rồi ánh lửa bập bùng từ xa chuyển nhanh tới. Có tiếng đàn bà truyền lanh lảnh như khánh vàng:
           - Mau lên! Không khéo nó đã hại chàng rồi! Trời ơi!
            Một đám hàng trăm thổ dân, gươm đao sáng lòa theo dòng đuốc kéo tới chân tháp. Có tiếng hô lớn:
            - Bẩm Chúa Ngàn! Có ba người! Ai là Trần tướng quân?
            Đám đông dàn hàng, để hở một đường trống. Một bọn gái mặc theo lối Thái Đen phò một bà nàng mặc lối Thái Trắng, ngoài khoác áo choàng, cưỡi con ngựa bạch phi lên, dừng rập bên thềm tháp. Vừa thấy Trần Dũng, nàng kêu thánh thót:
            - Trời! Lang quân đây! Thiếp đợi chàng đã ngót trăm năm, chàng ơi!
            Dũng, Đạt, Ngọc Bích cùng nhìn sững. Bà Chúa trông chỉ trạc hai mươi, đẹp tuyệt trần, từ mặt mũi, dáng vẻ toát ra vẻ đài các quí tộc, phảng phất nét uy nghi lạ thường.
            Trần Dũng chưa kịp lên tiếng, Hoàng Đạt đã đâm thử gươm son vào tay nàng. Nàng vẫn ngồi yên, vẻ ngạc nhiên, rồi như chợt hiểu:
            - A, phải con tinh tháp Cửu Thiên vừa hiện hình? Công tử tưởng ta là gái hồ ly ư?
            Đạt thu gươm, lộ vẻ kinh ngạc:
            - Trời! Tiền nhân để chúc thư không phải vì mê sảng! Bà Chúa Ngàn thật đây ư?
            Chúa Ngàn giơ tay, gái hầu đỡ xuống ngựa. Nàng tiến lên thềm nhìn Trần Dũng, nước mắt ròng ròng:
            - Trần tướng quân! Khi Tĩnh Biên phó sứ chàng về xuôi, quá 5 năm không trở lại, thiếp biết chàng đã lìa đời vì hết nước quí! Nhiều lần thiếp định quyên sinh, nhưng nhớ lại lời ước hẹn nên cố chờ... đến nay!
            Dũng bỗng nghẹn ngào, ngùi giọng:
            - Trần Dũng xưa lâm trận, bị thủng bình cạn nước mãi đến kiếp này mới nhận được tiền thân nhờ xưa có viết chữ vào lòng bàn chân làm chứng tích! Mấy đời cách biệt, may giờ được gặp lại nàng... trong kiếp này.
            Hai người ôm chầm lấy nhau. Chàng trai họ Trần bàng hoàng trong vòng tay người đẹp tiên triều. Nàng thỏ thẻ:
            - Lang quân giống xưa như đúc một khuôn, chỉ khác kiếp này chàng trẻ hơn xưa khi gặp thiếp!
            Hoàng Đạt buột miệng:
            - Dũng có râu quai nón, nếu để chắc cũng giống hệt... bức vẽ truyền thần cụ tam đại.
            Chàng lại nhìn bà Chúa Ngàn lẩm bẩm:
            - Có thể nào người ta trẻ mãi vậy chăng?
            Chúa Ngàn hơi mỉm cười, giải thích:
            - Trong Ngàn có nguồn nước từ ruột quả đất phát ra, tụ kết tinh hoa sinh khí ngũ hành, uống vào, tắm rửa sẽ bồi dưỡng thân thể như thuốc trường sinh bất lão. Tuy nhiên, ai đã dùng nước đó, tạng phủ đổi khác, một ngày không dùng sẽ thắt tim mà thác! Xưa Tĩnh Biên phó sứ Trần Dũng qua đời cũng vì nguyên nhân đó!
            Trần Dũng giới thiệu Hoàng Đạt, Ngọc Bích với Bà Chúa Ngàn, lại đưa nàng vào tháp lấy di vật cho xem, cả bình nước thủng năm xưa. Chúa Ngàn âu yếm khoác tay Dũng, bảo:
            - Thôi, xin rước tất cả vào Ngàn! Trời cũng sắp sáng rồi, về còn chuẩn bị tiệc mừng!
            Đạt, Bích cùng trao đổi một cái nhìn ý nghĩa. Cả hai cùng cảm thấy ngậm ngùi nao nao trước phút chia tay với người bạn thân thiết, khó còn dịp tái ngộ.
            Trần Dũng cũng đồng tâm trạng, và dẫu đã hiểu ý đôi bạn từ trước, chàng vẫn cố khuyên nhủ:
            - Hãy cùng Dũng này vào Ngàn thiêng sống kiếp trường sinh tránh luật hủy diệt tàn nhẫn của thời gian. Nghe mình đi, hai bạn!
            - Thiếp và lang quân đạt lời nguyền cũng nhờ vợ chồng công tử giúp đỡ, ân tình này cả xứ Ngàn đời đời ghi tạc. Mong Hoàng công tử với phu nhân vào Ngàn cùng chung hưởng hạnh phúc, xa lánh thế lụy phù sinh.
            Bà Chúa Ngàn khẩn khoản mời Đạt, Bích. Song cả hai một mực chối từ xin kiếu. Chàng võ sư họ Hoàng cảm khái nắm tay người bạn từng gắn bó sâu đậm trong đời, giọng chùng hẳn xuống, buồn mang mang như hơi gió biên thùy:
            - Hợp rồi tan, tan rồi lại hợp...! Trần Dũng giờ đã thỏa nguyện kiếp xưa, sum họp với người yêu. Bọn mình được chứng kiến cảnh đoàn tụ của bằng hữu, thế là đủ! Hai vị vun đắp một tình yêu bất diệt trong cõi bất tử, mình với Ngọc Bích cũng gắng tạo dựng một hạnh phúc bất biến giữa cõi đời hữu hạn! Ai có phận nấy, hãy chấp nhận và xem những gì đã qua giữa chúng ta như một kỷ niệm đẹp!
            Đạt, Bích tiễn đôi bạn tình truyền kiếp lên ngựa. Trần Dũng vẻ quyến luyến, trao chiếc sừng linh dương cho Đạt dặn dò:
            - Mỗi năm, vào đêm trừ tịch, bọn mình sẽ chờ nghe tiếng tù và thổi đi từ tháp này để ra đón hai bạn! Hãy giữ lấy nó, mai sau có khi dùng đến!
            Hoàng Đạt cầm chiếc sừng, mỉm cười:
            - Mình giữ làm kỷ niệm, nhưng bạn đừng chờ! Thôi, hai vị hãy lên đường!
            Tiếng đàn sáo dặt dìu nổi lên, đám gái hầu tùy tùng phò Bà Chúa Ngàn cùng Trần Dũng đi xa dần... Ngọc Bích, Hoàng Đạt đứng lặng trông theo. Chàng võ sư bỗng đưa tù và lên miệng thổi một hơi dài. Âm sừng linh dương bay vãi theo hơi gió, nổi chìm ngân nga như đuổi theo tiếng nhạc vào Ngàn… *
 
Đăng nhập để trả lời
0
THẠCH CẨU GIỮ MỒ 

 
            Đêm trừ tịch năm Dậu bước sang năm Tuất. Trời rét căm căm.
            Dân làng Thượng hầu hết đã đi ngủ sớm, đợi dậy đón giao thừa. Chỉ còn ít người ngồi ngủ gật trước hiên nhà, chờ vớt bánh chưng.
            Từ trong vườn hậu nhà viên tiên chỉ, bỗng có một bóng đen chui giậu ra ngõ nhìn trước ngó sau rồi rảo bước đi nhanh về phía cuối làng.
            Gió thổi vi vu ngõ tối, bụi tre xao động phát ra những tiếng ken két như tiếng nghiến răng. Bóng đen cắm đầu chạy, thoắt đã ra tới cánh đồng. Ngoài đó có một bãi hoang rậm rạp, gò đống ngổn ngang, cách giậu tre cuối làng Thượng chừng trăm thước.
            Do dự mươi khắc, bóng đen chạy thẳng đến khu gò vắng. Hình dáng thoáng nổi trên mô đất cao, dáng đàn bà trẻ.
            Ngay lúc đó, từ trên gò, một bóng trai tráng chạy vụt xuống:
            - Liêu! Sao lâu thế? Làm anh nóng ruột quá!
            - Anh! Khổ quá! Mãi lão ta mới ngủ.
            - Lên gò cho kín đi em ! Anh trải chiếu rồi !
            Chàng trai vừa dứt lời, chợt trên gò mơ hồ như có tiếng chó tru. Cô gái lẩm bẩm:
            - Tiếng chó sủa... Sao lại có tiếng chó sủa?
            - Chó làng bên đấy. Gò làm gì có chó!
           - Có ông thạch cẩu...
           Chàng trai cười khì như chế nhạo rồi nắm tay cô gái kéo thốc lên gò. Trên gò có một tòa miếu cổ bỏ hoang. Ngói vỡ, tường xiêu, không cửa, chẳng biết từ đời nào, hương khói vắng lạnh. Nhiều người trong làng bảo đó là cái nhà mồ vì cái nó giống cái long đình... Ngôi miếu mồ hoang phế này đứng ngay cạnh gốc cây si um tùm, rễ phủ loà xoà cả lên nóc.
            Trong miếu mồ này có một con chó đá mình mẩy rêu phong, to bằng chó thật.
            Chàng trai kéo cô gái vào hẳn bên trong. Chàng là cậu giáo dạy tư ở làng, chưa vợ, tên Sinh. Còn nàng là Liêu, vợ lẽ viên tiên chỉ già làng Thượng. Liêu vốn là con gái út một nhà nho lỗi thời, nhà nghèo mắc nợ, phải gả cho viên tiên chỉ. Cả hai mới phải lòng nhau hơn tháng nay, tình đang say, nhân đêm ba mươi Tết lén hẹn hò. Sinh đến trước, mang theo cả tấm chiếu manh trải sẵn bên con chó đá mốc rêu.
            Cửa miếu hướng Đông, gió bấc thổi bên ngoài, bên trong tương đối kín gió. Sinh ôm Liễu vào lòng như muốn truyền hơi ấm cho nàng.
            "Gừ... gừ!" - Bỗng lại nghe có tiếng chó quanh đó. Liễu sợ sệt bảo người yêu:
            - Tiếng chó gừ! Anh ơi... em sợ!
            - Chắc có con chó hoang, chó đói nào quanh đây!
            - Hay... ông thạch cẩu!
            Sinh cười khà trấn an. Giây lát tiếng đôi nam nữ lại vang lên trong bóng
tối, thầm thì, đầy xúc cảm yêu đương. Đột nhiên Liêu duỗi chân về phía chó đá, kêu lên:
            - Ơ… thạch cẩu đâu rồi?
            Sinh cũng khua chân, kêu "lạ nhỉ?!”, đoạn nhảy phắt dậy, moi diêm đánh lên soi thử. Miếu trống trơn.
            - Chó đá đâu rồi? Rõ vừa thấy đây?
            Đôi nam nữ cùng nhìn nhau, nghi hoặc. Gió thổi rạp lửa diêm, soi rõ hình cặp trai gái khoả bán thân tràn trề sinh lực. Út Liễu dòm quanh, bất chợt ré lên:
            - Kìa! Chó kìa!
            "Gừ! Hộc !" - Từ cửa miếu, một bóng chó lù lù đi vào, há mõm nhe nanh vẻ hung tợn hết sức, nhác trông đúng con chó đá!
            Giáo Sinh, Út Liễu vùng rú lên khủng khiếp...
            Đúng giờ giao thừa, cả nhà viên tiên chỉ dậy đón năm mới, không thấy Út Liễu bèn đốt đuốc kéo nhau đi tìm khắp làng.
            Lên tới gò thạch cẩu, ai nấy kinh hồn khi thấy xác đôi nam nữ nằm dưới chân con chó đá, máu loang sũng nền gạch vỡ!
            Cả hai đều bị đứt lìa cổ họng, mình mẩy đầy dấu vuốt thú cào cắn. Soi quanh miếu mồ, tuyệt không một vết chân chó, chừng coi mõm thạch cẩu mọi người đều khiếp đảm vì thấy bê bết máu tươi.
            Viên tiên chỉ già chỉ kêu được một tiếng, ngã lăn ra và... không bao giờ còn dậy đón giao thừa nữa!
            Từ năm Tuất quái gở đó, dân làng Thượng không ai dám bén mảng tới gò thạch cẩu nữa. Ngay đám mục đồng cũng chẳng dám dắt trâu lên gò cho ăn cỏ!
            Khu gò đồng ngày càng hoang rậm. Năm sau, đúng vào đêm trừ tịch, dân làng Thượng nhiều người nghe văng vẳng có tiếng chó tru ngoài gò, lẫn tiếng người rú thê thảm vọng về.
            Ai cũng sợ, cho là oan hồn giáo Sinh, Út Liễu kêu khóc, thành ma trành hầu thạch cẩu tinh!
            Từ đó, vùng gò hoang thành cấm địa. Người ta còn đồn rằng, vào những đêm mưa thâm tối trời hay thấy bóng người bóng chó đánh đu rê si bay bổng lên tận ngọn…!
            Như thế đúng một giáp 12 năm trôi qua. Một hôm, vào tháng chạp, có một đám Khách ngót 40 người tới làng Thượng, xin gặp nhóm chức việc, bô lão, kỳ hào vì chuyện quan trọng.
            Tất cả tụ tập tại đình. Chú Khách đứng đầu đám là một lão trạc sáu mươi tuổi, tướng đạo mạo, đeo kính trắng, râu dài, có vẻ quí phái. Lão mặc xường xám dài, nghiêm mặt trình với đám chức việc, bô lão làng Thượng:
            - Chúng tôi nghĩ trên đời này không gì hơn sự thành thực! Chúng tôi lặn lội từ quê nhà sang đây cốt để thưa với quí xã một chuyện quan trọng, đó là, theo di chúc tổ tiên, chúng tôi sang Nam để lấy kho vàng của gia tộc đã yểm tàng cách nay nhiều thế kỷ! Người Hoa chúng tôi để của theo phép riêng, không thể lấy được nếu không biết phép! Vậy chúng tôi xin bàn với quí vị: kho vàng này sẽ chia đều bốn phần, chúng tôi hai, làng Thượng một, còn một để nộp cấp trên. Xin các cụ cho biết ý kiến?
            Cả làng sửng sốt. Lý trưởng ngơ ngác:
            - Nhưng kho vàng ở đâu?
            Lão Khách điềm đạm đáp:
            - Ở ngay đây! Chúng tôi có thể lấy lên nếu quí vị thuận điều vừa nói!
            Cả làng nhìn nhau. Không ai lạ gì lối để của người Tàu, thiên hạ đừng hòng đụng tới! Nên, xem chừng ai cũng thích đề nghị của lão Khách. Một cụ già hỏi:
            - Tại sao các ông không bí mật đến lấy đi?
            - Xưa nay thường vậy! Nhưng chúng tôi nghĩ khác! Họ chúng tôi gặp tai biến, di chúc thất lạc, giờ mới tìm được, tôi là trưởng tộc nghĩ: lộc trời đừng hưởng trọn mới bền, nên muốn xử đường đường chính chính! Vả lại di chúc cũng dạy chúng tôi phải tặng nước Nam một nửa gọi là đền công giữ của!
            Làng Thượng bàn nhau thuận hết, vội sai người lên trình cấp trên. Thế rồi huyện, tỉnh cùng cho người về thị chứng, ký cả vào giấy giao ước, ghi rõ từng điều.
            Đâu đấy xong xuôi lão Khách mới cho hay: kho vàng chôn trên gò thạch cẩu, ngay dưới ngôi nhà mồ. Lão Khách trầm lời nói:
            - Có phải cách nay một giáp đã có kẻ bị chó đá cắn chết trong nhà mồ không? Đó chính là thạch cẩu giữ mồ, chó đá được yểm phù thiêng sẽ cắn chết kẻ nào đến lấy kho vàng. Đôi trai gái kia bị cắn vì đã làm ô uế linh cẩu. Có phải 12 năm nay, cứ đêm trừ tịch là có tiếng chó tru không? Linh cẩu biết sắp có con cháu chủ kho vàng sang lấy của nên tru gọi đó! Linh cẩu còn muốn thoát khỏi nhà mồ, rất may đêm không ai tới đó, nếu tới sẽ bị nó cắn chết tươi!
            Cả làng Thượng lúc đó mới hay gò miếu đó là nơi yểm kho vàng, chó đá giữ kho! Ai nấy đều ghê thay phép Tàu để của, nhưng tất cả đều mừng vì sắp được chia vàng.
            Lão Khách khởi sự đào vàng đúng đêm 30 Tết.
            Theo lệnh lão, dân làng Thượng không ai được tới gò thần, trừ một ban đại diện có cả các chức việc trên tỉnh, huyện và một số tuần đinh.
            Khoảng 8 giờ tối, bọn lão Khách bày biện lễ tam sinh đem tới trước nhà mồ. Đuốc thắp sáng rực, lão Khách đứng đọc chú hô thần xong mới sai gia nhân, tuần đinh phát cỏ, lùm bụi lấy lối vào. Lễ vật đặt ngay trước mõm chó đá. Răng chó đá còn sỉn vết máu 12 năm trước!
            Dưới ánh đuốc, lão Khách xoã tóc, đọc chú hô thần cẩu, coi hết sức quái gở. Bỗng lão hú lên một tiếng dài, quơ cái chày vồ đập “bốp", chó đá vỡ tan thành nhiều mảnh. Thì ra chó rỗng!
            Lão thở phào, trỏ ngay chỗ chó đá vừa đứng xưa nay, hô:
            - Thạch cẩu đã giải linh về âm cảnh, cửa kho vàng đã mở, đào chỗ này cho mau! Phải thấy vàng đúng giao thừa, nếu không, vàng về mỏ hết!
            Tuần đinh, gia nhân lão Khách xách cuốc, thuổng, móng, vồ vào, bắt đầu đào xới! Toàn trai tráng lực lưỡng, đào rất nhanh. Nhưng mới được chừng thước sâu, bỗng chạm đá. Hì hục nạy được phiến đá lên, lại gặp một tảng nhựa thông, thơm khét, xúc đi xong, lại gặp một tầng gạch cổ rắn hơn đá. Lão Khách sai nạy từng viên ném sang bên, tầng gạch sâu ngót 3 thước. Nạy hết gạch thấy hiện rõ một cái nhà mồ ngầm rộng, dài, cao cỡ 3 thước, soi đuốc vào, trong có một cỗ quan tài và mấy cái chum lớn quàn đó.
            - Vàng! Vàng đây rồi!
            Lão Khách gọi các chức sắc đại diện xuống. Mặt rạng rỡ, lão nói lớn:
            - Xin sửa soạn quang thúng sẵn! Nào, bắt đầu mở nắp quan tài, nắp chum! Theo di chúc, trong chỉ có vàng ròng!
            Một bô lão kêu lên:
            - Ôi chao! Của đâu lắm thế! Một nhà vàng, ít nhất vài tấn!
            Tuần đinh, gia nhân xúm vào mở nắp trước những cặp mắt mở to.
            Nắp vừa mở, lão Khách giơ đuốc soi dòm vào, bỗng hét lên, ngã vật xuống, bất tỉnh nhân sự.
            Không ai hiểu chuyện gì xảy ra. Chức việc bô lão lật đật tiến lại sát bên dòm cũng buột miệng kêu "Ôi thôi! Chết tôi rồi!” và cùng lăn quay ra đất.
            Thì ra, quan tài rỗng! Cạy qua mấy cái chum, tất cả cũng đều rỗng tuếch!
            Lát sau lão Khách được cứu tỉnh, mặt mày thiểu não, trỏ cỗ quan tài, dãy chum, lắc đầu, giọng thê thảm:
            - Thế là xong! Phúc nhà tôi hết rồi! Để lâu quá kỳ hạn, vàng đã tiêu về mỏ hết, còn đâu?! Bao công trình lặn lội, uổng cả!
            Dân làng và các chức việc, bô lão cũng tiếc ngẩn ngơ, song thấy lão Khách đau khổ quá, đành kiếm lời an ủi cho nguôi.
            Mọi người chán nản trở về làng. Lão Khách cùng gia nhân quyến thuộc xin lưu lại nghỉ ngơi qua cái Tết.
            Nhưng sáng mùng ba, bỗng đám lão Khách biến sạch!
            Viên Lý trưởng cho họ ở trọ nhà, sáng dậy, sai mời lão Khách uống trà mới phát giác chạy vào buồng lão, chỉ thấy mấy viên gạch xếp chồng trên giường và một phong thư. Vừa lúc mấy chủ nhà cho trọ khác trong làng cũng  vừa kéo nhau tới.
            Mọi người bóc thư ra coi. Trong có mấy hàng chữ Hán, đại ý: "Cám ơn quí ông đã cho tá túc trong những ngày đào kho vàng tổ phụ. Cám ơn đã giúp đỡ và xin lỗi vì chúng tôi đã buộc lòng phải giữ kín kho vàng đến phút chót. Nhân năm mới, xin “mừng tuổi" quí ông hai viên gạch, huyện, tỉnh mỗi cơ quan hai viên, còn một viên tặng mấy vị cho ở nhờ và anh em có công đào mỏ”.
            Vẫn chưa ai hiểu ý tứ ra sao?! Bèn kéo nhau ra gò thạch cẩu thì thấy cảnh huyệt mồ đào bới vẫn y đó, song toàn bộ số gạch xây cất nhà mồ nạy lên đã mất sạch!
            Bèn chạy ùa về nhà viên Lý trưởng. Lý trưởng lấy một viên gạch đập vỡ ra, mới hay chỉ là vỏ gạch nung già rắn hết sức, trong toàn vàng ròng sáng lóe. Ước lượng mỗi viên gạch vàng phải nặng đến cả chục cân!
            Mọi người chết lặng hồi lâu, Lý trưởng mãi mới lắp bắp:
            - Tàu… để… của!
            Từ đấy, không ai còn nghe tiếng chó quái tru hú vào đêm trừ tịch nữa.*
 
Đăng nhập để trả lời
0
Ba truyện ngắn của Hoàng Ly - Đỗ Hồng Linh
 
Đã mang vào thư viện
 
cảm ơn và chúc Hoi_Ls luôn an lành




Đăng nhập để trả lời
0