<Bài viết được chỉnh sửa lúc 02.02.2021 12:29:20 bởi Thanh Vân>
XV
VINH DỰ CÁI CON RỒNG
Thừa được thưởng Nam long bội tinh. Có bút nào tả nổi nỗi sung sướng này?
Ta hãy tưởng tượng một người phu kíp, một người cu-li kéo quạt, một người đi chào khách cho hàng cơm, một người bán rong thuốc trên các xe các tàu, người ấy có bao giờ dám nghĩ rằng đời mình lại được đấng Thiên tử gắn cho bội tinh vào ngực?
Ta lại tưởng tượng một thằng sống toàn bằng gian ác, nó buôn thuốc lừa bịp, chữa bệnh lừa bịp, nó buôn nhựa lậu, mở sòng bạc lậu, nó bỏ vợ tấm cám, nó giết vợ lương thiện, nó phản bạn, phản ân nhân, nó hại dân, hại nước, thằng ấy có bao giờ dám nghĩ rằng đời nó được đức Thiếu quân anh minh của nước nghìn năm văn hiến thưởng cho nó ngôi sao rồng cao quý của triều đình?
Nhưng nếu ta có óc tôn quân, thường dùng thêm tiếng ngự để cặp vào những động từ chỉ hành động của cái người được gọi là Thánh thượng, mà ta lại tưởng lầm là những kẻ hèn hạ, những thằng gian ác không đời nào giàu có, danh giá, thì, nếu ta thấy trước kia, mụ vợ tên cố Hồng được phẩm hàm đường quan, con đĩ tây Bé Tý được Kim bội, chắc là ta không ngã ngửa người nữa, khi nghe tin Trần Đức Thừa bây giờ được bội tinh của Nam triều.
Ma-ri đã chẳng nhiếc móc Thừa là phải nhờ cái mồm thằng Tây và cái thử khoản của hắn là gì? Thật vậy, hai cái ấy tạo nên thế lực, tạo nên tiền tài, để đẻ ra cái sao rồng của tên vua bù nhìn cho hắn.
Cho nên Thừa sung sướng quá. Biết bao thì giờ, tâm trí và tiền bạc mới được hiển vinh như thế này. Hắn đương từ dưới đất đen nhảy tót lên mây xanh, tới chỗ số đỏ! Phen này thì phải khao ra khao!
Trước hết, Thừa bàn với Ma-ri về địa điểm để mời khách. Ở quê hắn? Hắn không có nhà cửa gì hết. Vả cố nhiên Ma-ri không bằng lòng cho hắn khao ở quê. Ở Hà Nội? Hắn chỉ có bốn chiếc nhà, tuy không xấu, nhưng ba chiếc cho thuê, chiếc đẹp nhất, rộng nhất, hắn giữ lại để ở, nhưng không thể chứa được mỗi lúc vài chục người khách. Ở Hải Dương? Nhà này chỉ là sở làm việc, nó tầm thường, không xứng đáng cho những vị khách quý bước chân tới.
Chợt hắn nghĩ ra. Mùa này là mùa thu. Có một nơi rất nhiều nhà đẹp mà không có người ở. Xung quanh, phong cảnh lại rất nên thơ. Ấy là những biệt thự ở các bờ biển. Thừa quyết định thuê ba biệt thự liền nhau ở Đồ Sơn. Bởi vì khách khứa gồm ba hạng khác nhau.
Biệt thự xoàng hơn cả, thì tiếp khách thường. Ấy là những người làng, người họ, những người làm công, những người mang ơn hắn.
Biệt thự đẹp vừa thì tiếp khách tỉnh thành, các công chức và bạn bè của hắn.
Biệt thự đẹp hơn cả thì tiếp các quan, các người được gọi bằng quan, các người có giá trị ngang với quan và các khách tây.
Ăn thì, cơm tàu, hắn thuê hầu sáng cao lâu ở Hải Phòng ra. Cơm tây, hắn thuê bếp ô-ten ở Hà Nội xuống. Cơm tàu có một người gọi là bếp chủ. Cơm tây có một người gọi là xếp. Hai người đầu bếp có nhiệm vụ mua các thứ để nấu nướng. Những người này kê thực đơn trong một tuần lễ, rồi đi Hà Nội, Hải Phòng sắm về. Một chiếc ô-tô con, thường trực để dùng vào việc vận tải. Nhưng khách muốn thứ gì mà hỏi đến, người đầu bếp có quyền đánh dây thép thẳng đến hiệu buôn, yêu cầu gửi ngay thứ ấy ra.
Khách được mời dự tiệc khao sẽ có ô-tô đến đón tận nhà. Họ ở chơi, hôm nào chán, muốn về, thì có xe tiễn tận nhà.
Các thứ chơi thì ngoài phong cảnh, ngoài việc gặp gỡ nhau để chuyện gẫu, có tổ tôm, có thuốc phiện, có cô đầu, có gái nhảy. Thừa đã chọn được năm cô đầu rượu vừa đẹp vừa trẻ, vừa nhí nhảnh, và năm cô đầu hát, nổi tiếng là danh ca. Tiệm Ô-đê-ông đăng-xinh tạm đóng cửa để cho mười hai cô gái nhảy về phục vụ.
Khách ở chơi, không cần có chủ tiếp. Họ sẽ tự làm chủ, coi như ở nhà họ. Bởi vì sẵn kẻ hầu người hạ, đeo chiếc băng đỏ ở cánh tay trái, thì ai muốn gì cứ bảo.
Dự định như vậy, Thừa rất tự hào. Hắn cho là chỉ thua có tiệc khao của ông nghị Lại Văn Trung ở Thái Bình thôi, ông Lại Văn Trung xuất thân là lái lợn, rồi sau có đến hơn nghìn mẫu ruộng, được thưởng đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh. Chiếc mề đay này chỉ quan nào làm đến tổng đốc mới được, ông Lại Văn Trung ở cách tỉnh bốn cây số. Ông khao hẳn một tháng. Ông đưa điện từ thị xã về nhà để thắp đèn. Ông cấm người làng, trong một tháng, không bếp nhà nào được có lửa. Nghĩa là đến nhà ông mà ăn.
Ngày khao chính, ngày Thừa được công sứ Mát-xi-li nhận lời về dự tiệc, là ngày long trọng nhất.
Từ cổng biệt thự vào đến thềm, chiếu cạp điều mới được trải cái nọ liền cái kia. Ở sân, thiết lập hương án bái vọng Vua. Hương án cũng bày trên chiếu cạp điều, nhưng là chiếu hoa cho trịnh trọng. Bày chếch về hướng Nam. Trên hương án, có giá gương, có độc bình cắm hoa và có đèn nến ở hai bên, giữa là chiếc đỉnh đồng lớn để đốt trầm. Sau đỉnh trầm là cái hòm sắc phủ ngoài bằng mấy vuông nhiễu hoa, màu cánh sen. Hòm sơn son thiếp vàng, mới sắm, trong có đạo sắc bội tinh giấy vàng in rồng bằng ngân nhũ, và chiếc hộp đỏ lót xa-tanh trắng, đựng bội tinh.
Thừa đội khăn, mặc áo gấm lam, quần nhiễu tây trắng và lận bít tất tơ, giày ban da loáng đen nhoáng.
Hôm nay, hắn không cười. Lúc nào đối với khách, dù là khách hay cợt nhả, hắn cũng vâng, dạ, rất lễ phép. Rõ là cử chỉ một nhân vật thượng lưu.
Mười giờ sáng, ô-tô thượng tá Hải Dương tới. Đây là vị quan đại diện cho quan tổng đốc về gắn bội tinh cho Thừa.
Thừa vội vàng ra tận cổng vái chào.
Thượng tá xuống xe, bắt tay chủ nhân, rồi đi vào buồng khách giải khát.
Thừa thấy người lính mang theo hòm mũ áo thì hắn yên tâm. Người đại diện cho cụ thượng này, vì muốn giản dị, nên chỉ định mặc áo thụng, khi tuyên sắc mà thôi. Thừa đã phải khấn đủ một trăm, vị quan gắn bội tinh cho hắn mới bằng lòng đội mũ, mặc áo triều đình cho trọng thể.
Uống nước xong, thượng tá vào buồng riêng để bận phẩm phục. Buồng này là buồng đặc biệt, nên bày lọ hoa, tủ gương, lại có chậu thau, xà-phòng và khăn tay mới. Sau khi rửa mặt bằng nước ngũ vị sực mùi hồi và mùi quế, tên quan thay thường phục để mặc phẩm phục.
Bởi vì y là chức tri phủ hạng nhất, hàng chánh ngũ phẩm, thì là thuộc quan thôi, nhưng giữ nhiệm vụ thượng tá, thì lớn nhỏ cũng là quan tỉnh, nghĩa là đường quan. Cho nên mũ áo của y nửa là chánh ngũ, nửa là tòng tứ. Vì chưa làm bố chánh, y chưa sắm áo mới, màu khác, vì đắt tiền nên vẫn mặc áo thêu, màu lá cây, nhưng trên mũ y gắn đôi giao long bằng bạc ở phía dưới cầu.
Sắm sửa xong, y cầm chiếc hốt ở hai tay, đi nhẹ nhàng bằng đôi hia vải, trên nền gạch có trải chiếu.
Nếu các bạn độc giả thanh niên đọc đến đây, chê là tác giả tả một thằng phong kiến ăn vận phong kiến mà nói sơ sài quá, các bạn chưa thể hình dung ra được, thì tác giả xin mời hôm nào các rạp hát diễn tuồng, thì các bạn vào xem. Ở đây, có những vai đóng vua, có những vai đóng quan. Các bạn muốn biết thượng tá Hải Dương lúc này thế nào, thì các bạn cứ nhìn một vai quan, nhưng điều cốt yếu, là các bạn phải tự thí dụ là vai tuồng ấy không đeo râu bằng lông đuôi ngựa. Đúng thế, mồm thượng tá nhẵn thin thín. Vì y vừa cạo râu. Y lại đeo kính trắng, gọng giả đồi mồi.
Người thay vua bù nhìn xuống thềm.
Hàng trăm khách của Thừa đã đứng đợi ở sân. Một tràng pháo tay nổi lên vang dậy để chào.
Đây là cách hoan nghênh kiểu văn minh.
Quan vẫn nghiêm trang. Mắt nghiêm trang. Mặt nghiêm trang. Dù trước mặt ngài có vô khối má hồng, vô khối môi son, vô khối mắt huyền, và vô khối áo màu như luống hoa sặc sỡ, ngài vẫn nhìn thẳng, tiến từng bước thong thả. Nhưng không hiểu vì sao, ngài không đến hương án bái vọng bày cách thềm không xa. Ngài vẫn nhìn thẳng, và đi chếch ra phía cổng. Mọi người nhìn theo, thấy ngài đi xa hương án quá, đều ngơ ngác. Thì ra thế này: tới chỗ nên quành đúng giữa hương án, ngài mới quay ngoắt lại, đi thẳng vào. Mọi người trầm trồ:
- À ra thế. Ngài không dùng tà đạo, mà theo chính đạo.
Thừa đã chờ từ lâu, nhưng đứng ngoài chiếu. Hắn cũng mặc như khi nãy, nhưng thêm ra ngoài chiếc áo thụng lam mới may.
Bỗng hai bên chiếu, trước hương án, hai người thông phán ty tổng đốc, cũng mặc áo tấc, khuỳnh hai tay chắp, và giơ ngang miệng. Họ làm cái việc gọi là xướng tế. Tức như trong bộ đội, người chỉ huy hô các động tác. Nhưng khác người chỉ huy bộ đội, họ không hô bằng tiếng ngắn cho mạnh, cho hùng, mà họ xướng. Tức là nói to, nhưng thong thả, ê a như hát. Họ đọc từng động tác cho người vào tế làm theo. Họ xướng bằng chữ nho, ví dụ tựu vị là vào chỗ, bình thân là đứng thẳng, bái là lạy, hưng là dậy, vân vân. Nhưng vì mấy ông thông phán không biết chữ nho, và không thuộc trật tự các động tác, nên phải biên sẵn bằng quốc ngữ vào tờ giấy nhỏ, để khi khuỳnh tay trước mặt, các ông nhìn vào để đọc.
Thừa cũng vậy. Hắn đã học nghĩa từng tiếng hô, và thuộc lòng trật tự các động tác. Cho nên, dù mấy ông thông phán xuống lấy giọng cho dõng dạc, đến nỗi từng tiếng chỉ phát âm lơ lớ, ví dụ Bình thân thì Bì thơơơ ơ ơơ, Hưng thì Hơơơ ơ ơơ, Thừa cũng nghe hiểu và làm không sai.
Khi bên đông xướng đến tiếng tuyên sắc, thì thượng tá bước vào chiếu. Bên tây xướng xướng cho Thừa quỳ xuống, thì tri huyện tập sự ở dinh tổng đốc - anh chàng này trẻ lắm, vì mới đỗ năm ngoái - lon ton, để cả giày tây, bước vào chiếu, đúng trước hương án, chắp tay vái một cái, rồi mở hòm sắc, lấy tờ giấy vàng, đưa bằng hai tay cho thượng tá. Trong khi tên quan này mở rộng tờ sắc ra trước mặt, thì tri huyện để sẵn hộp bội tinh ra mé thành hương án, vái nhanh một cái, rồi lùi ra ngoài chiếu. Hắn nhìn mọi người, tủm tỉm cười.
Tiếng xướng Độc sắc. Thượng tá e hèm để lấy giọng, rồi vái một vái mới đọc lòng sắc. Lòng sắc một bên là chữ Hán, một bên là chữ Pháp. Vì y không biết chữ Hán, nên đọc chữ Pháp. Đọc xong, y lại vái, cuộn tờ sắc, bỏ vào hòm, rồi mở hộp bội tinh. Lúc này, Thừa hồi hộp nhất. Thượng tá gắn chiếc bội tinh vào ngực áo của Thừa có khâu sẵn hai cái khuyết nhỏ. Rồi hắn cúi xuống, giơ bàn tay ra ngoài áo thêu, chìa về phía Thừa. Thừa hiểu cái cử chỉ ấy. Hắn đương chắp hai tay trong áo thụng, cũng giơ bàn tay ra. Hai bàn tay nắm nhau và rung rung. Thừa vừa bắt tay, vừa cúi đầu rất cung kính.
Tràng pháo tay vỗ vang dậy. Tràng pháo thật cũng nổ vang dậy. Khói xanh bốc như mây, tỏa một hơi thơm, rắc những mảnh xác nhỏ lăn tăn như công-phét-ty. Theo tiếng xướng, Thừa lạy tạ hai lạy. Thế là lễ tất.
Thượng tá trở vào buồng, cởi mũ áo. Thừa cũng cởi áo thụng, và gài bội tinh vào ngực áo phẩm chẽn mà hắn mặc.
Khách khứa đến ngắm chiếc bội tinh, vỗ vai, khen ngợi và chia vui với Thừa. Họ tìm những lời đẹp đẽ nhất để vừa cười vừa nói. Nhưng Thừa vẫn chắp tay, vâng, dạ, rất lễ phép để nhận sự chúc tụng thân mật.
Từ đó, thỉnh thoảng pháo được đốt từng bánh dài. Trong các biệt thự, nổi lên tiếng trống, tiếng đàn, tiếng phách và tiếng hát véo von.
Đến mười một giờ, các quan, các người có giá trị ngang quan, các người được gọi bằng quan vào tiệc.
Thừa và Ma-ri không ăn với khách. Hai người chỉ mời, chỉ kiểm soát xem tiệc thiếu thứ gì, thì sai bảo lấy: ông bà hàn chờ đón cụ sứ, và khách tây đầm.
Hôm nay, khách tây đầm ăn tiệc với cụ sứ không phải quan tiến sĩ y khoa Pi-ca, không phải quan trạng sư Rô-măng, không phải quan cẩm mật thám Pha-lăng-xô, không phải quan chánh đoan Mác-tanh, v.v… Những quan này, kể cả thằng Tây lục lộ trẻ gọi Thừa là pa-pa, họ đều là bạn của Thừa, đã được Thừa mời rồi.
Nhưng cũng không phải quan phó sứ, quan mật thám, quan kho bạc, v.v… là những quan ở tỉnh Hải Dương, mà Thừa là thần dân. Những quan này cũng đã được Thừa mời rồi.
Khách tây đầm đến ngày hôm nay, dự tiệc mừng Thừa với công sứ Mát-xi-li, đều không phải là bạn của Thừa, không phải là các quan ở Hải Dương. Họ không biết Thừa là ai. Vì họ không quen Thừa. Họ đến dự tiệc, vì họ là bạn riêng của vợ chồng Mát-xi-li. Họ được đôi này mời. Vì Thừa đã xin với quan thầy cái vinh dự đặc biệt ấy.
Vậy cái biệt thự sang trọng nhất, hôm nay được tiếp tên quan chủ tỉnh Hải Dương và những bạn bè của nó mà nó viết thiếp mời, y như nó bỏ tiền của nó ra thết tiệc vậy.
Tất cả là ba mươi hai đứa, cả đực lẫn cái. Chúng nó bắt tay vợ chồng người chủ bữa tiệc, tức là người mời chúng nó. Thừa cũng đứng đón. Tên công sứ cũng giới thiệu Thừa với chúng bạn. Có đứa bắt tay Thừa, vỗ vai Thừa, và đập tay vào ngực Thừa để khen ngợi và chúc tụng.
Nhưng cũng có đứa được Thừa vái, chỉ gật đầu trả lời. Và có một vài đứa, không gật đầu.
Bữa tiệc này có thể nói là bữa tốn kém nhất từ trước đến giờ.
Trong buồng khách và trong buồng ăn, bày toàn hoa tươi mới đem ở Hà Nội về sáng hôm nay.
Mùi thuốc lá thượng hảo hạng tỏa ra thơm phức. Rượu khai vị cũng thượng hảo hạng rót la liệt ra từng cốc con.
Anh bồi đội khăn, mặc áo cộc trắng, dài gần lấp đũng quần, có cổ cồn là bóng, bưng từng khay bạc những rượu và thuốc lá, theo Thừa và Ma-ri đến tận mặt khách để mời.
Trước khi vào tiệc, khách được rửa tay bằng nước pha nước hoa.
Tiệc dùng toàn thìa đĩa bạc. Mỗi món ăn thay một lượt thìa đĩa mới.
Trong khi khách ăn, Thừa và Ma-ri đứng ở buồng cạnh, để thì thầm với bồi, nhắc họ những chỗ sai sót.
Tiệc xong, đến khiêu vũ.
Thừa xin phép tên công sứ cho ba đứa con gái hắn được nhảy hầu các quan.
Được quan thầy đồng ý, Thừa cho chúng nó đến.
Hôm nay, chúng nó mặc đẹp như tiên, đến nỗi các quan đực nhìn thấy phải bấm nhau.
Nhạc du dương nổi lên. Công sứ Hải Dương ôm con Rô-da-lin. Một tên nữa ôm con Ma-gơ-rít. Một tên khác nữa ôm con Ca-mê-li-a. Lũ tây đầm khác ôm nhau, lượn trong buồng. Ngoài sân, pháo nổ ran, khói xanh lọt qua cửa sổ, làm mờ cả không khí, hơi rượu, hơi thuốc lá hòa với hơi phấn, hơi nước hoa, hơi hôi nách, bây giờ trộn với hơi pháo, thành ra một mùi thơm không ra thơm, khẳn không ra khẳn. Thời Pháp thuộc, ta vẫn quen gọi mùi này là mùi tây đầm.
Khiêu vũ hơn một giờ đồng hồ, cả con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít lẫn con Ca-mê-li-a chẳng được nghỉ một lần nào. Công sứ Hải Dương cho vợ ôm thằng khác. Nó chỉ ôm ba đứa con gái của Thừa. Hết lượt này, nó lại ôm lượt khác. Thừa và Ma-ri thấy vậy, thì sung sướng vô ngần. Cả ba đứa con gái cũng rất hoan hỉ.
Thấy mọi người có vẻ mệt nhọc, Thừa xin phép mời các quan thưởng thức cái thú bản xứ.
Hắn bắt cô đầu vào hát. Mọi người cũng lắng nghe.
Nhưng độ mười phút, muốn chừng không chịu được giọng ề a kéo dài, ghê rợn như tiếng rú, tiếng khóc, nhất là tiếng trống chầu vang trong buồng làm chói tai, công sứ Hải Dương cho lệnh nghỉ. Nó làm ra vẻ rộng rãi, mở ví lấy tiền, thưởng cho cô đầu hai đồng, thưởng cho người kép hai đồng, và thưởng cho người cầm chầu hai đồng. Người bạn của Thừa, là ông hàn Dễ, có tiếng là chầu hay, nên được mời lên cầm chầu hầu các quan nghe, thấy cụ sứ thưởng tiền, thì lắc đầu, không cầm:
- No! No! Méc-xi! [119]
Tên thực dân không hiểu vì sao. Và Thừa cũng không làm thế nào mà giảng cho các quan hiểu được cái vai của hàn Dễ.
* * *
Trong thiếp mời các bạn đến dự tiệc khao, Thừa có ghi ở cuối bốn chữ: Xin miễn đồ mừng. Ý của hắn, là nhắc cho mọi người đừng quên việc mừng hắn. Về phía các bạn hắn, họ cũng cho bốn chữ ấy là lời dặn chiếu lệ, cho nên không ai đến người không.
Đồ mừng, phần lớn là câu đối đỏ, ba bốn người chung nhau thửa một đôi, mỗi người tốn độ trong ngoài một đồng bạc.
Nhưng tựu trung cũng có những đồ mừng quý giá như chiếc đĩa bạc, cái lọ bằng đồng hun, nhện đồng bạch, để cắm hoa, hoặc một bức thêu nền xa-tanh. Ấy là đồ mừng của những người bạn thân.
Thừa treo và bày những thức ấy khắp mấy gian nhà, để người không mừng gì phải nghĩ ngợi.
Trong các đồ mừng, câu đối bằng chữ nho, ít người hiểu, nên không ai bàn tán mấy, người ta chỉ thì thào với nhau nhất về bức thêu mà lạc khoản là Nguyễn Thúc Lăng.
Thừa có mời ông Lăng. Hắn yên trí lão giờ này chỉ đến người không. Ông được cái lãi ăn cỗ không mất tiền. Ông ở đến bao giờ cũng được, khứ hồi không tốn một xu nhỏ. Nhưng đến khi ông thầu khoán già đưa tặng bức thêu, thì cả Thừa lẫn Ma-ri đều ngạc nhiên. Cảm động làm sao!
Thừa bèn nhanh nhẩu treo ngay ở giữa nhà.
Bức này thêu con rồng. Rồng là vua. Cũng có ý là bội tinh Nam long. Thừa thích cái ý nghĩa sâu xa mà ông Lăng nghĩ ra để mừng hắn.
Nhưng Thừa chỉ thích bức thêu ấy đến hôm ông Hoài Tân Tử vừa đen vừa cao ngất nghểu đến mà thôi.
Ông nhà thơ đọc các câu đối, và ngắm đến bức thêu rồng.
Thấy tên người tặng là Nguyễn Thúc Lăng, ông nói đùa với Thừa:
- Thằng cha dễ thường dở chứng chết!
Nhưng bỗng ông nghiêm nét mặt, có vẻ suy nghĩ, ông hỏi Thừa:
- Hay là treo ngược?
Ma-ri bĩu môi:
- Xin lỗi nhé. Nếu treo thế kia thì ngược chữ à?
Ông Tình muôn thuở gật gật, hẳn ông biết là ông nói sai.
Ông mới bấm Thừa và Ma-ri vào buồng riêng, ông nói:
- Chúng mày nên cẩn thận các câu đối. Bọn nhà nho hay xỏ mát bằng chữ nghĩa lắm đấy. Ngày trước, lão Lại Văn Trung được Bắc đẩu bội tinh, có người mừng hai chữ Đại Lai.
Ma-ri hỏi:
- Nghĩa là gì?
- Theo nghĩa thì rất hay. Nhất là hai chữ này lại là chữ sẵn lấy trong sách. Chữ trong sách, mà nói đúng được việc của người mình, là tài. Lão Trung giàu, nay được gắn mề-đay sao đỏ, đều là những sự kiện lớn lao nó đến nhà. Đại là lớn, lai là lại.
Thừa gật gù:
- À, thế thì hay chữ thật.
Ông Hoài Tân Tử mỉm cười, xua tay:
- Nhưng hai chữ ấy tài hơn, vì nó chửi Lại Văn Trung cay độc.
Ma-ri hỏi:
- Sao lại là chửi?
- Bởi vì Đại lai là lớn lại, nói lái thì là lái lợn.
Cả Thừa lẫn Ma-ri đều tròn cả mắt lẫn miệng:
- À!
Thừa hỏi:
- Thế những câu đối mừng tao, mày có nghi câu nào xỏ tao không?
Ông nhà thơ lắc đầu:
- Tao bảo chúng mày cẩn thận thôi, vì tao không biết rõ. Nhưng tao biết đích xác là thằng thầu khoán già nó chửi mày, Thừa ạ.
- Nó chửi tao bằng con rồng?
- Phải, hẳn vợ chồng mày thấy nó chịu bỏ ra mười mấy đồng bạc mua bức thêu cũng phải ngạc nhiên như tao. Tao ngạc nhiên, thì tao nghĩ ngay rằng nó chịu tốn kém để làm gì. Tao sực trông thấy ngay.
Ma-ri nói:
- Rồng là vua. Thằng hàn được Nam long bội tinh là được đội ơn vua ban cho bội tinh con rồng. Nó chửi ở chỗ nào? Mày chỉ khéo tán!
Ông Tình muôn thuở:
- Phải rồi. Rồng. Chúng bay muốn sống thì cất ngay đi không! Phải rồi. Rồng. Nhưng mà lại là rồng lộn, khỉ ạ!
Ma-ri bẽn lẽn:
- Á à! Tiên nhân nó! Đểu thật!
Chú thích:
119)
VINH DỰ CÁI CON RỒNG
Thừa được thưởng Nam long bội tinh. Có bút nào tả nổi nỗi sung sướng này?
Ta hãy tưởng tượng một người phu kíp, một người cu-li kéo quạt, một người đi chào khách cho hàng cơm, một người bán rong thuốc trên các xe các tàu, người ấy có bao giờ dám nghĩ rằng đời mình lại được đấng Thiên tử gắn cho bội tinh vào ngực?
Ta lại tưởng tượng một thằng sống toàn bằng gian ác, nó buôn thuốc lừa bịp, chữa bệnh lừa bịp, nó buôn nhựa lậu, mở sòng bạc lậu, nó bỏ vợ tấm cám, nó giết vợ lương thiện, nó phản bạn, phản ân nhân, nó hại dân, hại nước, thằng ấy có bao giờ dám nghĩ rằng đời nó được đức Thiếu quân anh minh của nước nghìn năm văn hiến thưởng cho nó ngôi sao rồng cao quý của triều đình?
Nhưng nếu ta có óc tôn quân, thường dùng thêm tiếng ngự để cặp vào những động từ chỉ hành động của cái người được gọi là Thánh thượng, mà ta lại tưởng lầm là những kẻ hèn hạ, những thằng gian ác không đời nào giàu có, danh giá, thì, nếu ta thấy trước kia, mụ vợ tên cố Hồng được phẩm hàm đường quan, con đĩ tây Bé Tý được Kim bội, chắc là ta không ngã ngửa người nữa, khi nghe tin Trần Đức Thừa bây giờ được bội tinh của Nam triều.
Ma-ri đã chẳng nhiếc móc Thừa là phải nhờ cái mồm thằng Tây và cái thử khoản của hắn là gì? Thật vậy, hai cái ấy tạo nên thế lực, tạo nên tiền tài, để đẻ ra cái sao rồng của tên vua bù nhìn cho hắn.
Cho nên Thừa sung sướng quá. Biết bao thì giờ, tâm trí và tiền bạc mới được hiển vinh như thế này. Hắn đương từ dưới đất đen nhảy tót lên mây xanh, tới chỗ số đỏ! Phen này thì phải khao ra khao!
Trước hết, Thừa bàn với Ma-ri về địa điểm để mời khách. Ở quê hắn? Hắn không có nhà cửa gì hết. Vả cố nhiên Ma-ri không bằng lòng cho hắn khao ở quê. Ở Hà Nội? Hắn chỉ có bốn chiếc nhà, tuy không xấu, nhưng ba chiếc cho thuê, chiếc đẹp nhất, rộng nhất, hắn giữ lại để ở, nhưng không thể chứa được mỗi lúc vài chục người khách. Ở Hải Dương? Nhà này chỉ là sở làm việc, nó tầm thường, không xứng đáng cho những vị khách quý bước chân tới.
Chợt hắn nghĩ ra. Mùa này là mùa thu. Có một nơi rất nhiều nhà đẹp mà không có người ở. Xung quanh, phong cảnh lại rất nên thơ. Ấy là những biệt thự ở các bờ biển. Thừa quyết định thuê ba biệt thự liền nhau ở Đồ Sơn. Bởi vì khách khứa gồm ba hạng khác nhau.
Biệt thự xoàng hơn cả, thì tiếp khách thường. Ấy là những người làng, người họ, những người làm công, những người mang ơn hắn.
Biệt thự đẹp vừa thì tiếp khách tỉnh thành, các công chức và bạn bè của hắn.
Biệt thự đẹp hơn cả thì tiếp các quan, các người được gọi bằng quan, các người có giá trị ngang với quan và các khách tây.
Ăn thì, cơm tàu, hắn thuê hầu sáng cao lâu ở Hải Phòng ra. Cơm tây, hắn thuê bếp ô-ten ở Hà Nội xuống. Cơm tàu có một người gọi là bếp chủ. Cơm tây có một người gọi là xếp. Hai người đầu bếp có nhiệm vụ mua các thứ để nấu nướng. Những người này kê thực đơn trong một tuần lễ, rồi đi Hà Nội, Hải Phòng sắm về. Một chiếc ô-tô con, thường trực để dùng vào việc vận tải. Nhưng khách muốn thứ gì mà hỏi đến, người đầu bếp có quyền đánh dây thép thẳng đến hiệu buôn, yêu cầu gửi ngay thứ ấy ra.
Khách được mời dự tiệc khao sẽ có ô-tô đến đón tận nhà. Họ ở chơi, hôm nào chán, muốn về, thì có xe tiễn tận nhà.
Các thứ chơi thì ngoài phong cảnh, ngoài việc gặp gỡ nhau để chuyện gẫu, có tổ tôm, có thuốc phiện, có cô đầu, có gái nhảy. Thừa đã chọn được năm cô đầu rượu vừa đẹp vừa trẻ, vừa nhí nhảnh, và năm cô đầu hát, nổi tiếng là danh ca. Tiệm Ô-đê-ông đăng-xinh tạm đóng cửa để cho mười hai cô gái nhảy về phục vụ.
Khách ở chơi, không cần có chủ tiếp. Họ sẽ tự làm chủ, coi như ở nhà họ. Bởi vì sẵn kẻ hầu người hạ, đeo chiếc băng đỏ ở cánh tay trái, thì ai muốn gì cứ bảo.
Dự định như vậy, Thừa rất tự hào. Hắn cho là chỉ thua có tiệc khao của ông nghị Lại Văn Trung ở Thái Bình thôi, ông Lại Văn Trung xuất thân là lái lợn, rồi sau có đến hơn nghìn mẫu ruộng, được thưởng đệ ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh. Chiếc mề đay này chỉ quan nào làm đến tổng đốc mới được, ông Lại Văn Trung ở cách tỉnh bốn cây số. Ông khao hẳn một tháng. Ông đưa điện từ thị xã về nhà để thắp đèn. Ông cấm người làng, trong một tháng, không bếp nhà nào được có lửa. Nghĩa là đến nhà ông mà ăn.
Ngày khao chính, ngày Thừa được công sứ Mát-xi-li nhận lời về dự tiệc, là ngày long trọng nhất.
Từ cổng biệt thự vào đến thềm, chiếu cạp điều mới được trải cái nọ liền cái kia. Ở sân, thiết lập hương án bái vọng Vua. Hương án cũng bày trên chiếu cạp điều, nhưng là chiếu hoa cho trịnh trọng. Bày chếch về hướng Nam. Trên hương án, có giá gương, có độc bình cắm hoa và có đèn nến ở hai bên, giữa là chiếc đỉnh đồng lớn để đốt trầm. Sau đỉnh trầm là cái hòm sắc phủ ngoài bằng mấy vuông nhiễu hoa, màu cánh sen. Hòm sơn son thiếp vàng, mới sắm, trong có đạo sắc bội tinh giấy vàng in rồng bằng ngân nhũ, và chiếc hộp đỏ lót xa-tanh trắng, đựng bội tinh.
Thừa đội khăn, mặc áo gấm lam, quần nhiễu tây trắng và lận bít tất tơ, giày ban da loáng đen nhoáng.
Hôm nay, hắn không cười. Lúc nào đối với khách, dù là khách hay cợt nhả, hắn cũng vâng, dạ, rất lễ phép. Rõ là cử chỉ một nhân vật thượng lưu.
Mười giờ sáng, ô-tô thượng tá Hải Dương tới. Đây là vị quan đại diện cho quan tổng đốc về gắn bội tinh cho Thừa.
Thừa vội vàng ra tận cổng vái chào.
Thượng tá xuống xe, bắt tay chủ nhân, rồi đi vào buồng khách giải khát.
Thừa thấy người lính mang theo hòm mũ áo thì hắn yên tâm. Người đại diện cho cụ thượng này, vì muốn giản dị, nên chỉ định mặc áo thụng, khi tuyên sắc mà thôi. Thừa đã phải khấn đủ một trăm, vị quan gắn bội tinh cho hắn mới bằng lòng đội mũ, mặc áo triều đình cho trọng thể.
Uống nước xong, thượng tá vào buồng riêng để bận phẩm phục. Buồng này là buồng đặc biệt, nên bày lọ hoa, tủ gương, lại có chậu thau, xà-phòng và khăn tay mới. Sau khi rửa mặt bằng nước ngũ vị sực mùi hồi và mùi quế, tên quan thay thường phục để mặc phẩm phục.
Bởi vì y là chức tri phủ hạng nhất, hàng chánh ngũ phẩm, thì là thuộc quan thôi, nhưng giữ nhiệm vụ thượng tá, thì lớn nhỏ cũng là quan tỉnh, nghĩa là đường quan. Cho nên mũ áo của y nửa là chánh ngũ, nửa là tòng tứ. Vì chưa làm bố chánh, y chưa sắm áo mới, màu khác, vì đắt tiền nên vẫn mặc áo thêu, màu lá cây, nhưng trên mũ y gắn đôi giao long bằng bạc ở phía dưới cầu.
Sắm sửa xong, y cầm chiếc hốt ở hai tay, đi nhẹ nhàng bằng đôi hia vải, trên nền gạch có trải chiếu.
Nếu các bạn độc giả thanh niên đọc đến đây, chê là tác giả tả một thằng phong kiến ăn vận phong kiến mà nói sơ sài quá, các bạn chưa thể hình dung ra được, thì tác giả xin mời hôm nào các rạp hát diễn tuồng, thì các bạn vào xem. Ở đây, có những vai đóng vua, có những vai đóng quan. Các bạn muốn biết thượng tá Hải Dương lúc này thế nào, thì các bạn cứ nhìn một vai quan, nhưng điều cốt yếu, là các bạn phải tự thí dụ là vai tuồng ấy không đeo râu bằng lông đuôi ngựa. Đúng thế, mồm thượng tá nhẵn thin thín. Vì y vừa cạo râu. Y lại đeo kính trắng, gọng giả đồi mồi.
Người thay vua bù nhìn xuống thềm.
Hàng trăm khách của Thừa đã đứng đợi ở sân. Một tràng pháo tay nổi lên vang dậy để chào.
Đây là cách hoan nghênh kiểu văn minh.
Quan vẫn nghiêm trang. Mắt nghiêm trang. Mặt nghiêm trang. Dù trước mặt ngài có vô khối má hồng, vô khối môi son, vô khối mắt huyền, và vô khối áo màu như luống hoa sặc sỡ, ngài vẫn nhìn thẳng, tiến từng bước thong thả. Nhưng không hiểu vì sao, ngài không đến hương án bái vọng bày cách thềm không xa. Ngài vẫn nhìn thẳng, và đi chếch ra phía cổng. Mọi người nhìn theo, thấy ngài đi xa hương án quá, đều ngơ ngác. Thì ra thế này: tới chỗ nên quành đúng giữa hương án, ngài mới quay ngoắt lại, đi thẳng vào. Mọi người trầm trồ:
- À ra thế. Ngài không dùng tà đạo, mà theo chính đạo.
Thừa đã chờ từ lâu, nhưng đứng ngoài chiếu. Hắn cũng mặc như khi nãy, nhưng thêm ra ngoài chiếc áo thụng lam mới may.
Bỗng hai bên chiếu, trước hương án, hai người thông phán ty tổng đốc, cũng mặc áo tấc, khuỳnh hai tay chắp, và giơ ngang miệng. Họ làm cái việc gọi là xướng tế. Tức như trong bộ đội, người chỉ huy hô các động tác. Nhưng khác người chỉ huy bộ đội, họ không hô bằng tiếng ngắn cho mạnh, cho hùng, mà họ xướng. Tức là nói to, nhưng thong thả, ê a như hát. Họ đọc từng động tác cho người vào tế làm theo. Họ xướng bằng chữ nho, ví dụ tựu vị là vào chỗ, bình thân là đứng thẳng, bái là lạy, hưng là dậy, vân vân. Nhưng vì mấy ông thông phán không biết chữ nho, và không thuộc trật tự các động tác, nên phải biên sẵn bằng quốc ngữ vào tờ giấy nhỏ, để khi khuỳnh tay trước mặt, các ông nhìn vào để đọc.
Thừa cũng vậy. Hắn đã học nghĩa từng tiếng hô, và thuộc lòng trật tự các động tác. Cho nên, dù mấy ông thông phán xuống lấy giọng cho dõng dạc, đến nỗi từng tiếng chỉ phát âm lơ lớ, ví dụ Bình thân thì Bì thơơơ ơ ơơ, Hưng thì Hơơơ ơ ơơ, Thừa cũng nghe hiểu và làm không sai.
Khi bên đông xướng đến tiếng tuyên sắc, thì thượng tá bước vào chiếu. Bên tây xướng xướng cho Thừa quỳ xuống, thì tri huyện tập sự ở dinh tổng đốc - anh chàng này trẻ lắm, vì mới đỗ năm ngoái - lon ton, để cả giày tây, bước vào chiếu, đúng trước hương án, chắp tay vái một cái, rồi mở hòm sắc, lấy tờ giấy vàng, đưa bằng hai tay cho thượng tá. Trong khi tên quan này mở rộng tờ sắc ra trước mặt, thì tri huyện để sẵn hộp bội tinh ra mé thành hương án, vái nhanh một cái, rồi lùi ra ngoài chiếu. Hắn nhìn mọi người, tủm tỉm cười.
Tiếng xướng Độc sắc. Thượng tá e hèm để lấy giọng, rồi vái một vái mới đọc lòng sắc. Lòng sắc một bên là chữ Hán, một bên là chữ Pháp. Vì y không biết chữ Hán, nên đọc chữ Pháp. Đọc xong, y lại vái, cuộn tờ sắc, bỏ vào hòm, rồi mở hộp bội tinh. Lúc này, Thừa hồi hộp nhất. Thượng tá gắn chiếc bội tinh vào ngực áo của Thừa có khâu sẵn hai cái khuyết nhỏ. Rồi hắn cúi xuống, giơ bàn tay ra ngoài áo thêu, chìa về phía Thừa. Thừa hiểu cái cử chỉ ấy. Hắn đương chắp hai tay trong áo thụng, cũng giơ bàn tay ra. Hai bàn tay nắm nhau và rung rung. Thừa vừa bắt tay, vừa cúi đầu rất cung kính.
Tràng pháo tay vỗ vang dậy. Tràng pháo thật cũng nổ vang dậy. Khói xanh bốc như mây, tỏa một hơi thơm, rắc những mảnh xác nhỏ lăn tăn như công-phét-ty. Theo tiếng xướng, Thừa lạy tạ hai lạy. Thế là lễ tất.
Thượng tá trở vào buồng, cởi mũ áo. Thừa cũng cởi áo thụng, và gài bội tinh vào ngực áo phẩm chẽn mà hắn mặc.
Khách khứa đến ngắm chiếc bội tinh, vỗ vai, khen ngợi và chia vui với Thừa. Họ tìm những lời đẹp đẽ nhất để vừa cười vừa nói. Nhưng Thừa vẫn chắp tay, vâng, dạ, rất lễ phép để nhận sự chúc tụng thân mật.
Từ đó, thỉnh thoảng pháo được đốt từng bánh dài. Trong các biệt thự, nổi lên tiếng trống, tiếng đàn, tiếng phách và tiếng hát véo von.
Đến mười một giờ, các quan, các người có giá trị ngang quan, các người được gọi bằng quan vào tiệc.
Thừa và Ma-ri không ăn với khách. Hai người chỉ mời, chỉ kiểm soát xem tiệc thiếu thứ gì, thì sai bảo lấy: ông bà hàn chờ đón cụ sứ, và khách tây đầm.
Hôm nay, khách tây đầm ăn tiệc với cụ sứ không phải quan tiến sĩ y khoa Pi-ca, không phải quan trạng sư Rô-măng, không phải quan cẩm mật thám Pha-lăng-xô, không phải quan chánh đoan Mác-tanh, v.v… Những quan này, kể cả thằng Tây lục lộ trẻ gọi Thừa là pa-pa, họ đều là bạn của Thừa, đã được Thừa mời rồi.
Nhưng cũng không phải quan phó sứ, quan mật thám, quan kho bạc, v.v… là những quan ở tỉnh Hải Dương, mà Thừa là thần dân. Những quan này cũng đã được Thừa mời rồi.
Khách tây đầm đến ngày hôm nay, dự tiệc mừng Thừa với công sứ Mát-xi-li, đều không phải là bạn của Thừa, không phải là các quan ở Hải Dương. Họ không biết Thừa là ai. Vì họ không quen Thừa. Họ đến dự tiệc, vì họ là bạn riêng của vợ chồng Mát-xi-li. Họ được đôi này mời. Vì Thừa đã xin với quan thầy cái vinh dự đặc biệt ấy.
Vậy cái biệt thự sang trọng nhất, hôm nay được tiếp tên quan chủ tỉnh Hải Dương và những bạn bè của nó mà nó viết thiếp mời, y như nó bỏ tiền của nó ra thết tiệc vậy.
Tất cả là ba mươi hai đứa, cả đực lẫn cái. Chúng nó bắt tay vợ chồng người chủ bữa tiệc, tức là người mời chúng nó. Thừa cũng đứng đón. Tên công sứ cũng giới thiệu Thừa với chúng bạn. Có đứa bắt tay Thừa, vỗ vai Thừa, và đập tay vào ngực Thừa để khen ngợi và chúc tụng.
Nhưng cũng có đứa được Thừa vái, chỉ gật đầu trả lời. Và có một vài đứa, không gật đầu.
Bữa tiệc này có thể nói là bữa tốn kém nhất từ trước đến giờ.
Trong buồng khách và trong buồng ăn, bày toàn hoa tươi mới đem ở Hà Nội về sáng hôm nay.
Mùi thuốc lá thượng hảo hạng tỏa ra thơm phức. Rượu khai vị cũng thượng hảo hạng rót la liệt ra từng cốc con.
Anh bồi đội khăn, mặc áo cộc trắng, dài gần lấp đũng quần, có cổ cồn là bóng, bưng từng khay bạc những rượu và thuốc lá, theo Thừa và Ma-ri đến tận mặt khách để mời.
Trước khi vào tiệc, khách được rửa tay bằng nước pha nước hoa.
Tiệc dùng toàn thìa đĩa bạc. Mỗi món ăn thay một lượt thìa đĩa mới.
Trong khi khách ăn, Thừa và Ma-ri đứng ở buồng cạnh, để thì thầm với bồi, nhắc họ những chỗ sai sót.
Tiệc xong, đến khiêu vũ.
Thừa xin phép tên công sứ cho ba đứa con gái hắn được nhảy hầu các quan.
Được quan thầy đồng ý, Thừa cho chúng nó đến.
Hôm nay, chúng nó mặc đẹp như tiên, đến nỗi các quan đực nhìn thấy phải bấm nhau.
Nhạc du dương nổi lên. Công sứ Hải Dương ôm con Rô-da-lin. Một tên nữa ôm con Ma-gơ-rít. Một tên khác nữa ôm con Ca-mê-li-a. Lũ tây đầm khác ôm nhau, lượn trong buồng. Ngoài sân, pháo nổ ran, khói xanh lọt qua cửa sổ, làm mờ cả không khí, hơi rượu, hơi thuốc lá hòa với hơi phấn, hơi nước hoa, hơi hôi nách, bây giờ trộn với hơi pháo, thành ra một mùi thơm không ra thơm, khẳn không ra khẳn. Thời Pháp thuộc, ta vẫn quen gọi mùi này là mùi tây đầm.
Khiêu vũ hơn một giờ đồng hồ, cả con Rô-da-lin, con Ma-gơ-rít lẫn con Ca-mê-li-a chẳng được nghỉ một lần nào. Công sứ Hải Dương cho vợ ôm thằng khác. Nó chỉ ôm ba đứa con gái của Thừa. Hết lượt này, nó lại ôm lượt khác. Thừa và Ma-ri thấy vậy, thì sung sướng vô ngần. Cả ba đứa con gái cũng rất hoan hỉ.
Thấy mọi người có vẻ mệt nhọc, Thừa xin phép mời các quan thưởng thức cái thú bản xứ.
Hắn bắt cô đầu vào hát. Mọi người cũng lắng nghe.
Nhưng độ mười phút, muốn chừng không chịu được giọng ề a kéo dài, ghê rợn như tiếng rú, tiếng khóc, nhất là tiếng trống chầu vang trong buồng làm chói tai, công sứ Hải Dương cho lệnh nghỉ. Nó làm ra vẻ rộng rãi, mở ví lấy tiền, thưởng cho cô đầu hai đồng, thưởng cho người kép hai đồng, và thưởng cho người cầm chầu hai đồng. Người bạn của Thừa, là ông hàn Dễ, có tiếng là chầu hay, nên được mời lên cầm chầu hầu các quan nghe, thấy cụ sứ thưởng tiền, thì lắc đầu, không cầm:
- No! No! Méc-xi! [119]
Tên thực dân không hiểu vì sao. Và Thừa cũng không làm thế nào mà giảng cho các quan hiểu được cái vai của hàn Dễ.
* * *
Trong thiếp mời các bạn đến dự tiệc khao, Thừa có ghi ở cuối bốn chữ: Xin miễn đồ mừng. Ý của hắn, là nhắc cho mọi người đừng quên việc mừng hắn. Về phía các bạn hắn, họ cũng cho bốn chữ ấy là lời dặn chiếu lệ, cho nên không ai đến người không.
Đồ mừng, phần lớn là câu đối đỏ, ba bốn người chung nhau thửa một đôi, mỗi người tốn độ trong ngoài một đồng bạc.
Nhưng tựu trung cũng có những đồ mừng quý giá như chiếc đĩa bạc, cái lọ bằng đồng hun, nhện đồng bạch, để cắm hoa, hoặc một bức thêu nền xa-tanh. Ấy là đồ mừng của những người bạn thân.
Thừa treo và bày những thức ấy khắp mấy gian nhà, để người không mừng gì phải nghĩ ngợi.
Trong các đồ mừng, câu đối bằng chữ nho, ít người hiểu, nên không ai bàn tán mấy, người ta chỉ thì thào với nhau nhất về bức thêu mà lạc khoản là Nguyễn Thúc Lăng.
Thừa có mời ông Lăng. Hắn yên trí lão giờ này chỉ đến người không. Ông được cái lãi ăn cỗ không mất tiền. Ông ở đến bao giờ cũng được, khứ hồi không tốn một xu nhỏ. Nhưng đến khi ông thầu khoán già đưa tặng bức thêu, thì cả Thừa lẫn Ma-ri đều ngạc nhiên. Cảm động làm sao!
Thừa bèn nhanh nhẩu treo ngay ở giữa nhà.
Bức này thêu con rồng. Rồng là vua. Cũng có ý là bội tinh Nam long. Thừa thích cái ý nghĩa sâu xa mà ông Lăng nghĩ ra để mừng hắn.
Nhưng Thừa chỉ thích bức thêu ấy đến hôm ông Hoài Tân Tử vừa đen vừa cao ngất nghểu đến mà thôi.
Ông nhà thơ đọc các câu đối, và ngắm đến bức thêu rồng.
Thấy tên người tặng là Nguyễn Thúc Lăng, ông nói đùa với Thừa:
- Thằng cha dễ thường dở chứng chết!
Nhưng bỗng ông nghiêm nét mặt, có vẻ suy nghĩ, ông hỏi Thừa:
- Hay là treo ngược?
Ma-ri bĩu môi:
- Xin lỗi nhé. Nếu treo thế kia thì ngược chữ à?
Ông Tình muôn thuở gật gật, hẳn ông biết là ông nói sai.
Ông mới bấm Thừa và Ma-ri vào buồng riêng, ông nói:
- Chúng mày nên cẩn thận các câu đối. Bọn nhà nho hay xỏ mát bằng chữ nghĩa lắm đấy. Ngày trước, lão Lại Văn Trung được Bắc đẩu bội tinh, có người mừng hai chữ Đại Lai.
Ma-ri hỏi:
- Nghĩa là gì?
- Theo nghĩa thì rất hay. Nhất là hai chữ này lại là chữ sẵn lấy trong sách. Chữ trong sách, mà nói đúng được việc của người mình, là tài. Lão Trung giàu, nay được gắn mề-đay sao đỏ, đều là những sự kiện lớn lao nó đến nhà. Đại là lớn, lai là lại.
Thừa gật gù:
- À, thế thì hay chữ thật.
Ông Hoài Tân Tử mỉm cười, xua tay:
- Nhưng hai chữ ấy tài hơn, vì nó chửi Lại Văn Trung cay độc.
Ma-ri hỏi:
- Sao lại là chửi?
- Bởi vì Đại lai là lớn lại, nói lái thì là lái lợn.
Cả Thừa lẫn Ma-ri đều tròn cả mắt lẫn miệng:
- À!
Thừa hỏi:
- Thế những câu đối mừng tao, mày có nghi câu nào xỏ tao không?
Ông nhà thơ lắc đầu:
- Tao bảo chúng mày cẩn thận thôi, vì tao không biết rõ. Nhưng tao biết đích xác là thằng thầu khoán già nó chửi mày, Thừa ạ.
- Nó chửi tao bằng con rồng?
- Phải, hẳn vợ chồng mày thấy nó chịu bỏ ra mười mấy đồng bạc mua bức thêu cũng phải ngạc nhiên như tao. Tao ngạc nhiên, thì tao nghĩ ngay rằng nó chịu tốn kém để làm gì. Tao sực trông thấy ngay.
Ma-ri nói:
- Rồng là vua. Thằng hàn được Nam long bội tinh là được đội ơn vua ban cho bội tinh con rồng. Nó chửi ở chỗ nào? Mày chỉ khéo tán!
Ông Tình muôn thuở:
- Phải rồi. Rồng. Chúng bay muốn sống thì cất ngay đi không! Phải rồi. Rồng. Nhưng mà lại là rồng lộn, khỉ ạ!
Ma-ri bẽn lẽn:
- Á à! Tiên nhân nó! Đểu thật!
Chú thích:
119)
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai