9. Thoái binh chế binh
“Có thuật lui binh, có phép chế binh.”
Một người bình tĩnh, thận trọng, luôn làm điều thiện, đức độ cao cả, thì dù một thân một mình đi vào hang ổ đối phương, cũng có thể làm cho đối phương phải kính nể, không dám làm hại. Một người như vậy thì nơi nào cũng là đất sống, không có gì đáng gọi là hiểm nguy.
“Hạng Vũ, sau khi chiếm được toàn cõi nước Tần liền chọn ngày lành tháng tốt lên ngôi, xưng hiệu Tây Sở Bá Vương, cai trị 9 quận nước Sở, đóng đô ở Bành Thành, tôn Hoài Vương lên làm Nghĩa Đế, dời sang Giang Nam.
Tây Sở Bá Vương phong cho Bái Công (Lưu Bang) làm Hán Vương, đóng đô ở Nam Trịnh, cai trị 41 huyện
Bái Công lòng bối rối không an. Chư tướng thấy vậy hậm hực nói:
- Hán Trung là đất nhà Tần dùng để đày tội nhân, nay Bá Vương phong chúa công vào trấn nơi đó, chẳng khác nào muốn giam lỏng. Ấy là mưu Phạm Tăng muốn hại chúa công đó.
Phàn Khoái nổi giận nói:
- Phạm Tăng khi chúng ta thái quá. Tôi xin liều chết đem thân chống lại, quyết không nghe lời Bá Vương.
Bái Công cũng tỏ ý hằn học:
- Công ta rất lớn, diệt nhà Tần, thâu đất Quang Trung, lẽ ra phải được làm vua nước Tần, đóng đô ở Hàm Dương mới đáng, sao bị đày vào nơi lam sơn chướng khí, bốn bề núi non, rừng rậm, chịu sao nổi được.
Tiêu Hà vội can:
- Làm vua ở Hán Trung tuy xấu nhưng còn hơn mất cả sự nghiệp! Chịu khuất một người mà thu được thiên hạ, đó là gương vua Thang, vua Vũ đời xưa vậy. Xin đại vương cứ vào Hán Trung, tích thảo đồn lương, chiêu hiền đãi sĩ, lấy Ba Thục làm căn cứ, mộ thêm quân. Ngày kia kéo ra đánh Tam Tần, thì làm gì chẳng thu được thiên hạ?
Trương Lương cũng nói:
- Thục tuy là tội địa nhưng trong có núi non hiểm trở, ngoài có sông ngòi bao quanh, tiến thì có thể chiếm được thiên hạ, lui thì có thể giữ được biên cương. Đó thực là chỗ đất dụng võ. Đại vương nên vui lòng nhận lấy. Nếu tỏ ý bất mãn tất Bá Vương tìm cách ám hại. Hơn nữa Phạm Tăng là kẻ mưu sâu ta không nên chống đối.
Hán Vương (Lưu Bang) bùi ngùi nghe theo và nói:
- Nếu không có tiên sinh giải bày tôi đã lầm việc lớn.
Lịch Tự Cơ nói:
- Chúng ta vào Hán Trung có ba điều lợi: Thứ nhất, đất Thục hiểm trở, xa cách Trung Nguyên, không ai rõ được thực hư. Thứ nhì, trong lúc Đại Vương có công bị Bá Vương bạc đãi, tất lòng dân mến chuộng. Thứ ba, chúng ta có đủ thời giờ, hoàn cảnh để tạo lấy thời thế. Có ba điều lợi như thế lo gì không gồm thâu được thiên hạ sau này.
Hán Vương mừng rỡ liền chọn ngày lành khởi hành.
10. Liệu địch như thần
“Ngồi một chỗ mà nắm biết mọi chuyện trong thiên hạ.”
Bậc đại trí có thể thông qua những diễn biến phức tạp, chằng chịt, thông qua các hiện tượng mà nhận biết phương hướng hành động thật sự của đối phương.
“Khổng Minh đoán chắc Tào Tháo sẽ thất bại trận Xích Bích nên bố trí mai phục ở các đường rút lui của Tháo.
Các tướng ai cũng được Khổng Minh giao nhiệm vụ, chỉ có Quan Vân Trường không thấy Khổng Minh nói động đến câu gì.
Vân Trường không sao nhịn được, mới nói to lên rằng:
- Tôi từ khi theo anh tôi, đánh dẹp trải bao nhiêu trận mạc, chưa bao giờ tôi phải lùi lại sau. Nay gặp đám giặc to thế này, quân sư không sai gì đến tôi, là ý làm sao?
Khổng Minh cười mà nói rằng:
- Vân Trường đừng giận, tôi muốn nhờ tướng quân giữ cho một chỗ hiểm yếu, nhưng còn hơi ngại một chút, chưa dám phiền đến.
- Có điều gì? Xin quân sư cho tôi được biết.
- Khi xưa Tào Tháo đãi tướng quân hậu lắm, thế nào tướng quân chẳng còn nhớ ơn. Nay Tào Tháo thua trận, tất chạy qua đường Hoa Dung. Nếu để tướng quân ra chặn ở đó, tất nhiên tha mất Tào Tháo. Bởi thế chưa dám nhờ tướng quân việc ấy.
- Quân Sư nghĩ thế thực hảo tâm lắm. Khi xưa tuy tôi có đội ơn Tào Tháo, nhưng tôi đã chém Nhan Lương, Văn Sú để báo ơn rồi. Nay phỏng có gặp nhau, có đâu tôi dám tha được?
- Nếu tướng quân tha thì làm sao?
- Xin chịu tội chết.
- Có phải thế thì lập tức làm tờ cam kết mới xong.
Vân Trường xin ký tờ cam kết, rồi hỏi lại rằng:
- Nếu Tào Tháo không chạy qua đường ấy, thì quân sư dạy làm sao?
- Tôi cũng làm tờ cam kết cùng tướng quân.
Vân Trường mừng rỡ lắm. Khổng Minh lại bảo rằng:
- Tướng quân nên tìm trái núi nào cao ở trong đường Hoa Dung, chứa cỏ đốt lửa lên, để nhử Tào Tháo đến.
Vân Trường nói:
- Tào Tháo thấy khói lửa, biết có quân phục, làm sao y lại đến?
Khổng Minh cười mà rằng:
- Tướng quân không nhớ trong binh pháp có câu “hư hư thực thực” đó sao? Tháo tuy giỏi nhưng có thế mới đánh lừa được nó. Nó trông thấy lửa, tất cho là ta giả dạng phục binh mà lừa nó, quyết nhiên nó đi đến không sai. Tướng quân phải cứ thế mới được.
Vân Trường lãnh mệnh dẫn Châu Xương, Quan Bình và 500 quân ra đường Hoa Dung mai phục.
Huyền Đức nói nhỏ với Khổng Minh rằng:
- Em tôi nghĩa khí trọng lắm, Tào Tháo như quả có đi qua đó, chỉ sợ y lại tha mất đi thì làm thế nào?
Khổng Minh thưa:
- Tôi xem thiên văn, biết rằng số Tào Tháo chưa chết. Vậy mới để việc ấy cho Vân Trường làm, cũng là một việc hay.
Huyền Đức bấy giờ mới biết ý là thế, rồi cùng sang cả Phàn Khẩu để xem Chu Du đánh trận, để Tôn Kiền, Giản Ung ở lại giữ thành.
Quả nhiên Tào Tháo thua trận đã chạy ra đường Hoa Dung. Đến chỗ ngã ba, phân vân chưa biết chạy theo ngả nào thì chợt từ xa thấy trên núi có khói bốc lên. Tháo liền chỉ tay bảo chạy theo hướng ấy. Các tướng đều ngạc nhiên, hỏi:
- Khói lửa ở đó, tất có phục binh, sao lại chạy theo lối ấy?
Tào Tháo cả cười, nói:
- Khổng Minh dùng binh như thần, khi nào lại đã phục binh mà còn đốt lửa cho người ta biết? Ấy là kế nghi binh. Nếu ta đi đường ấy ắt là an toàn.
Đi được vài dặm đường, đến một chỗ hiểm yếu, Tháo đang ngồi trên ngựa bỗng dừng lại cười sằng sặc lên. Các tướng hỏi thì Tháo nói rằng:
- Người ta khen Chu Du, Gia Cát Lượng lắm mưu nhiều kế, nhưng ta coi ra thì vẫn là chưa giỏi. Nếu họ phục sẵn một toán quân ở đây, thì chúng ta đành phải đứng khoanh tay mà chịu trói cả.
Đang nói thì lại nghe thấy tiếng pháo lệnh ở đâu nổ lên đùng đùng, rồi có 500 quân kéo ra. Một viên đại tướng cầm Thanh long đao, cưỡi ngựa xích thố, xông đến chặn ngang đường đi.
Ấy là Quan Vân Trường thực hiện đúng như lời dặn của Khổng Minh, bố trí quân lính nơi chỗ hiểm lộ này rồi đốt lửa lên mà nhử Tào Tháo đến.
Quân Tào thấy vậy người nào người nấy xanh mặt, đứng nhìn nhau không biết làm thế nào. Tháo bảo các tướng rằng:
- Đã đến nước này, chỉ còn một cái chết mà thôi. Vậy phải liều mà quyết một trận tử chiến, nhất sống nhì chết, chớ không mưu mẹo nào hơn nữa.
Các tướng nói:
- Người tuy rằng còn có thể địch được, nhưng ngựa thì đã hết sức rồi, còn đánh làm sao được nữa!
Trình Dục nói:
- Tôi vẫn biết Vân Trường là người nghĩa khí, ngạo người trên, mà không thèm khinh người dưới, chê người khỏe mà không thể hiếp người nguy. Ân oán phân minh, tín nghĩa rõ ràng. Thừa tướng khi xưa có ân tình với ông ấy, nay ngài phải hạ mình mà kêu cầu với y, thì họa may mới thoát được nạn này.
Tào Tháo nghe lời ấy, tế ngựa ra trước, rồi chào hỏi rằng:
- Tướng quân lâu nay mạnh khỏe chứ?
Vân Trường cũng chào rồi nói rằng:
- Tôi phụng mệnh quân sư, ở đợi thừa tướng nơi đây đã lâu.
Tháo nói:
- Tháo tôi bị thua trận, thế đã nguy khốn lắm, đến đây lại không có đường nào mà chạy. Xin tướng quân nghĩ đến tình nghĩa khi xưa.
- Tôi tuy đội ơn Thừa Tướng khi trước, nhưng đã chém Nhan Lương, Văn Sú và đánh giải vây Bạch Mã để báo ơn thừa tướng rồi. Việc hôm nay là việc người trên sai, tôi đâu dám vì chút tình riêng mà bỏ việc công cho được.
- Thế tướng quân còn nhớ chuyện chém tướng năm cửa ải hay không? Đại trượng phu cốt phải trọng điều tín nghĩa. Tướng quân đã xem sách Xuân Thu, không biết việc Dữu Công Chi Tư, đuổi theo Tử Trạc Nhụ Tử đó sao?
Vân Trường xưa nay vẫn là người trọng nghĩa, nhớ đến tình nghĩa khi xưa Tào Tháo đãi mình rất hậu, cùng là tặng áo tặng vàng lúc ra khỏi năm cửa ải. Nghe thấy Tháo nói cũng động lòng. Vả lại thấy quân Tào Tháo đứa nào cũng rơm rơm nước mắt, đứng run lập cập, lại càng thương mà không nỡ giết. Bởi thế quay ngay đầu ngựa về, rõ ràng cố ý tha cho Tào Tháo.
Vân Trường quay ngựa lại thì Tào Tháo đã chạy xa mất rồi. Mới quát to lên một tiếng. Quân sĩ của Tào Tháo đều xuống cả ngựa, lạy thụp sát đất, sụt sùi khóc lóc. Vân Trường lại càng thương xót lắm. Giữa lúc ấy Trương Liêu ở mặt sau tế ngựa đến. Vân Trường lại động lòng bạn cũ, không biết nói làm sao, chỉ thở dài một tiếng, rồi tha tuốt cho quân sĩ đi cả.
Khổng Minh ở trong trướng mà biết Tào Tháo sẽ chạy ra ngã đường Hoa Dung, biết Quan Vân Trường tất tha Tào Tháo, biết số mệnh Tào Tháo chưa chết nên mới để Vân Trường có dịp đền ơn Tào Tháo. Thật là liệu địch như thần vậy.
11. Nhìn xa trông rộng
“Bậc đại trí dùng cái mà mọi người không hay biết, cũng dùng cái mà mọi người không nhìn thấy.”
Cái mà mọi người không hay biết, không nhìn thấy, thì chỉ bậc đại trí mới thấy rõ, như vậy gọi là biết nhìn xa trông rộng.
“Trương Lương bái biệt Hán Vương trở lại Trung Nguyên. Hán Vương tiễn đưa mấy dặm đường mới trở về, bỗng phía sau có tiếng kêu la ầm ỉ, và ngọn lửa cháy ngất trời, lan ra hơn ba mươi dặm. Hỏi ra mới biết Trương Lương đốt Sạn đạo[1]rồi.
Hán Vương thất kinh, ngước mặt lên trời than:
- Ôi chao! Trương Lương đã trở về còn nhẫn tâm đốt sạn đạo là cố ý giam lỏng chúng ta nơi đây, trọn đời bỏ xương trong núi thẳm rồi.
Quân sĩ cũng đều nhao nhao chửi mắng Trương Lương và nói:
- Trời ơi! Thế là chúng ta đành sống làm mọi nơi xứ Hán Vương, để rồi chết làm quỷ ở nơi hoang vu này, chứ còn đường sá đâu mà mong trở về nữa!
Đang lúc ba quân huyên náo, Tiêu Hà chạy lại nói nhỏ với Hán Vương:
- Xin Đại Vương chớ oán Trương Lương. Sở dĩ Trương Lương đốt sạn đạo là để cho Bá Vương không còn để ý đến ta nữa. Quân tướng Tam Tần ăn no ngủ kỹ không đề phòng, xin Đại Vương xét lại. Hơn nữa, Lương đã đốt con đường này ắt biết là còn có đường khác.
Hán Vương sực tĩnh, thở hào hễn nói:
- Nếu không có nhà ngươi, ta đã hiểu lầm mà oán trách người hiền.”
Chú thích:
[1] Sạn đạo: con đường hiểm nghèo duy nhất dẫn vào đất Hán Trung, làm bằng nhiều cây gỗ bắt ngang qua những khe núi, nên khi bị đốt cháy thì không còn đi được nữa.
12. Mưu thâm thích hợp
“Phàm theo hay bỏ, thuận hay nghịch, phải tùy hoàn cảnh. Hợp ở mưu, ắt thành ở sự. Bỏ ta theo người, bỏ người theo ta, ấy là do mưu thuật có toàn vẹn hay không.”
Dùng thiên hạ có mưu kế này, dùng một nước có mưu kế khác. Dùng một phái có mưu kế nọ, dùng một người có cách dùng riêng. Lớn, nhỏ, tiến thoái... đều phải có cách thích hợp. Xưa nay kẻ giỏi xoay trở, theo hay bỏ, giúp được bốn biển, chi phối được chư hầu đều trải qua lắm phen chuyển hóa theo hay bỏ, mới tìm ra chỗ thích hợp. Cho nên Y Doãn mấy bận theo vua Thang, mấy bận theo vua Kiệt, cuối cùng mới theo vua Thang. Lã Vọng ba lần theo Văn Vương, ba lần nhập điện, vẫn chưa thật rõ, cuối cùng mới hợp với Văn Vương.
“Trương Lương từ giã Hàn Vương đi với Lịch Sinh đến yết kiến Bái Công (Lưu Bang). Dọc đường Lịch Sinh nghĩ thầm:
- Trương Lương đã trúng kế ta rồi.
Còn Trương Lương thì mỉm cười, tự nghĩ:
- Ý Lịch Sinh đến đây cốt mượn ta chớ đâu phải mượn lương. Ta đi đây cốt để xem thử Bái Công đãi người như thế nào.
Bái Công vốn đã bàn mưu với Lịch Sinh nên sắp xếp sẵn sàng đợi Trương Lương. Khi được tin, Bái Công sai Phàn Khoái ra đón rước.
Thoạt nhìn Phàn Khoái, Trương Lương nghĩ thầm:
- Người này quả là một bậc khai quốc công thần.
Khi vào đến cửa, Bái Công lại dẫn Tiêu Hà, Tào Tham ra tiếp đón.
Trương Lương thấy Bái Công mũi lớn, mặt rồng, thật đáng là vị an bang chân mệnh, còn bọn Tiêu Hà mày ngài hàm én trông đúng là những bậc anh hùng cái thế, lòng mừng thầm:
- Có minh quân tất có tôi hiền. Ta đi chuyến này thật là gặp dịp. Xưa thầy ta là Hoàng Thạch Công bảo ta sau này phò thánh quân lưu danh vạn cổ, thế thì đây là nơi dung thân rồi.
Nghĩ vậy, liền đến vái lạy Bái Công và nói:
- Nay Minh Công đem quân đánh Tần, đi đến đâu trăm họ cung đón đầy đủ, lương thực ê chề, cớ sao lại nghe lời anh cuồng sĩ đến nước tôi mượn lương? Hay là Minh Công muốn mượn Lương tôi đến giúp việc chăng?
Bái Công nghe Trương Lương nói thất kinh, không biết trả lời thế nào.
Tiêu Hà vội đỡ lời:
- Chúa tôi lấy cớ mượn quân lương, nhưng kỳ thực là muốn mượn Trương Lương đó. Còn Tiên sinh lại đây yết kiến chúa tôi để thuyết khách. Tuy nhiên, tiên sinh lại không dở giọng thuyết khách, có lẽ tiên sinh thấy chúa tôi có thể giúp tiên sinh thỏa chí bình sinh chăng?
Trương Lương nghe Tiêu Hà nói, chắp tay xá một cái và nói:
- Tâm can tôi, túc hạ đã thấu rõ, tôi không dám chối, xin đem thân giúp Minh Công. Song phải trở về tâu lại với Hàn Vương tôi đã rồi mới dám tùy hành.
Bái Công mừng rỡ, mở tiệc tiếp đãi Trương Lương rất ân cần.
Hôm sau, Bái Công cùng đi với Trương Lương qua Hàn Thành. Hàn Vương được tin, dẫn bá quan ra nghênh tiếp. Hàn Vương nói:
- Tiểu quốc tôi mới lập, thực còn nghèo lắm, không lấy gì giúp đỡ túc hạ được. Vừa rồi tôi có sai Trương Lương đến cáo lỗi, chẳng hay túc hạ có niệm tình chăng?
Bái Công nói:
- Điện hạ không có lương, tôi đâu dám nài ép. Nay tôi đem quân đánh Tần, nghe Tử Phòng là người hiền, vậy xin mượn Tử Phòng ít lâu, sớm tối bàn việc quân cơ, chớ lúc diệt Tần xong sẽ giao trả lại.
Hàn Vương nói:
- Trương Lương với tôi không thể xa rời được một chốc, nay tướng quân vì việc chung của thiên hạ mà mượn, tôi cũng vui lòng. Song sau khi thành công phải trả lại, chớ sai ước.
Bái Công vâng lời, bái tạ Hàn Vương rồi cùng Trương Lương trở về dinh.
Từ đó, Bái Công với Trương Lương ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu, đêm ngày bàn việc lớn trong thiên hạ. Trương Lương đem cái sách lục thao, tam lược nói cho Bái Công nghe. Bái Công nghe đến đâu nhớ đến đấy, không hề thiếu sót chỗ nào. Trương Lương khâm phục, nhủ thầm:
- Từ khi Hoàng Thạch Công cho ta quyển sách này, ta giảng cho ai nghe cũng lờ mờ không hiểu nổi, thế mà Bái Công chỉ nghe qua đã tinh tường, không sót một nghĩa, thật là kẻ thông minh đáng vì chân chúa.”
13. Đột phá yếu điểm
“Từ ngoài chế ngự bên trong, sự việc có điểm cốt lõi, phải nhằm vào đó.”
Muốn khống chế nội tâm kẻ khác, phải nắm chắc đâu là điểm mấu chốt, đâu là chỗ yếu mà chĩa mũi nhọn vào đó.
“Vua tôi Hán Vương đóng quân ở Cổ Lăng là một thành nhỏ, bị quân Hạng Vũ vây đánh rất gấp, nên phải rút chạy về Thành Cao.
Hán Vương nói:
- Nếu đến Thành Cao, quân Sở lại kéo đến vây nữa thì biết làm thế nào?
Trương Lương nói:
- Việc ấy không lo. Quân ta về Thành Cao độ ba ngày, quân Sở ắt phải lui.
Hán Vương hỏi:
- Tiên sinh có kế gì lui được quân Sở?
Trương Lương tâu:
- Quân Sở chiến đấu cũng không thể giữ nổi được đất, vì đường vận lương từ Bành Thành đến đây rất khó khăn. Vả lại, vừa rồi tôi được tin Bành Việt đem quân chặn đường vận lương của Sở. Muốn chắc ý tôi lại sai hai tướng Trương Thương và Trang Tà lẻn đốt kho lương của Sở rồi. Vì vậy chẳng bao lâu quân Sở phải kéo về.
Hán Vương nghe nói an lòng truyền quân mã thẳng đường đến Thành Cao.
Sang hôm sau, Hạng Vương được tin quân Hán bỏ Cổ Lăng, về Thành Cao, liền đốc quân đến vây.
Sau ba ngày công phá, bỗng có Chung Ly Muội và Quý Bố chạy đến báo:
- Hôm nay trong quân bị thiếu lương, vừa rồi lại có tin kho lương Liễu Thôn bị quân Hán cướp đốt rồi. Nếu nay mai Hàn Tín kéo quân đến đây, quân ta không thể nào rút lui được, ắt phải chết đói.
Hạng Vương nói:
- Ta đã lo việc thiếu lương thực. Nay Kho Liễu Thôn bị đốt thì còn đóng quân ở đây làm sao được.
Liền truyền lệnh rút quân về, sai Hoàn Sở, Ngu Tử Kỳ đi đoạn hậu đề phòng quân Hán đuổi theo.
Ba quân lớn nhỏ đang lúc lo thiếu lương, chờ có lệnh giải binh, tức thời như gió cuốn mây bay, chưa đầy nửa ngày đã rút về hết sạch.
14. Tam giáo cửu lưu “Tìm kiếm nhân tài, phải tìm khắp gần xa, phải có những người tài về từng phương diện, để khi cần sẽ sử dụng.”
Một người muốn dựng nghiệp lớn, phải chiêu nạp được nhiều người có tài năng.
“Tử Nghiêm là người nước Trịnh, rất biết chọn và dùng người. Công Tôn Huy am tường tình hình bốn nước. Tỳ Thâm giỏi bày mưu. Phùng Giản Tử có tài phán đoán đại sự. Tử Đại Thúc văn hay chữ tốt. Gặp sự việc liên quan giữa các nước, Tử Nghiêm hỏi Công Tôn Huy, sau đó bàn mưu kế với Tỳ Thâm, đoạn để Phùng Giản Tử phán đoán khả năng diễn biến. Sau khi xong việc, để Tử Đại Thúc soạn lời văn ứng đối với quan khách các nước.”
15. Thay cũ đổi mới “Uốn lượn thì toàn vẹn, cong ắt sẽ qua, đầy ắt tràn, rách nát ắt đổi mới, ít rồi đủ, nhiều ắt giảm.”
Thay cũ đổi mới là qui luật phát triển của vạn vật trong vũ trụ. Song sáng tạo cái mới bao giờ cũng đều dựa trên cơ sở truyền thống sẵn có. Không kế thừa truyền thống thì đừng nói gì đến sáng tạo cái mới. Phải hiểu thấu đáo truyền thống, mới có thể tiếp nhận tinh hoa và gạt bỏ cặn bả, từ đó mà phát huy thêm tinh hoa của truyền thống.
16. Xử lý linh hoạt “Lợi hay thiệt, được hay mất, nhiều hay ít, đều dùng âm dương chế ngự. Dương động mà vận hành, âm tĩnh mà thu tàng. Dương động mà hiện ra, âm theo mà nhập vào. Dương cực sinh âm, âm cực sinh dương.”
Vạn vật trong thiên hạ luôn luôn thay đổi. Khí hậu có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông luôn thay đổi. Đời người có sống chết. Đủ thấy biến đổi là qui luật phát triển của vạn vật. Ta phải linh hoạt chứ không máy móc xử lý sự việc, mới có thể thắng không kiêu bại không nản.
17. Thiên địa vô thường “Trời đất luôn thay đổi, há có gì trường cửu.”
Một cái lý chung xuyên suốt giữa trời và người. Khí trời luôn đổi, nhân sự làm sao bất biến. Một người chỉ một mực theo đuổi truyền thống mà không đổi mới, ắt sẽ bị lạc hậu so với thời cuộc.
18. Nhỏ mà thấy lớn “Quan sát sự việc, luận về vạn sự, chớ tranh hơn thua. Phải biết nhìn cái tuy nhỏ, mà thấy nó lớn lao.”
Người thông minh không chỉ căn cứ vào triệu chứng nhỏ bé mà còn biết nó tiềm ẩn sự kiện trọng đại.
Đừng xem thường đóm lửa nhỏ, nếu có điều kiện, môi trường thích hợp nó sẽ gây nên đám cháy lớn hoặc hỏa hoạn.
★
★
★
★
★
0