Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

BÁ TƯỚC MONTE CRISTO (Tác giả : Alexandre Dumas - Bản đầy đủ)

42 trả lời, 131 lượt xem — Trang 1 / 2
hoi_ls thấy trong Thư viện chỉ có bản rút gọn. Tháng 12 năm 2008, hoi_ls đã chuyển qua ebook dạng prc bên Diễn đàn Thuvien-ebook bản đầy đủ của cuốn sách này, theo bản in của NXB Văn học năm 2007. Nay hoi_ls sẽ đối chiếu với bản tiếng Anh để sửa lại những danh từ riêng đã được phiên âm qua tiếng Việt (ví dụ: Edmond Dantès thay cho Étmông Đăngtét...) , sửa lại chính tả một số chỗ còn bị sót và cố gắng sẽ đưa lên Diễn đàn trong thời gian nhanh nhất có thể.
 
 
 
 
BÁ TƯỚC MONTE CRISTO
Tác giả : Alexandre Dumas
Người dịch : Mai Thế Sang
(Dich theo nguyên bản tiếng Pháp : Le comte de Monte Cristo
Nxb Calmann Levy - Paris).

Nhà xuất bản Văn học 2007
Khổ : 14.5 x 20.5. Số trang : 662
Hình thức : Bìa cứng

Đánh máy : hoi_ls
 
 


Đăng nhập để trả lời
0
LỜI GIỚI THIỆU 
 
Bộ tiểu thuyết Bá tước Monte Cristo được Alexandre Dumasviết năm 1844. Nhân vật chính là chàng thanh niên Edmond Dantès trở thành thuyền trưởng và sẽ cưới nàng Mercédès xinh đẹp. Bỗng nhiên anh bị vu oan, bị giam cầm và đày đoạ dưới hầm ngục của nhà tù trên đảo If trong suốt mười bốn năm trời.
Dưới ngục sâu tăm tối anh đã được một nhà bác học là linh mục Faria tận tình truyền lại những kiến thức của mình cùng với điều bí mật về một kho tàng trên một đảo nhỏ hoang vắng gần bờ biển nước Ý. Khi linh mục Faria qua đời. Edmond Dantès vượt ngục và tìm được kho báu.
Anh trở thành Bá tước Monte Cristo, lần lược đền ơn và trả oán một cách thích đáng những kẻ đã làm gia đình anh tan nát, hạnh phúc của anh bị chà đạp: chủ ngân hàng Danglars, nghị sĩ Morcerf (Fernand), quan toà Villefort …những đại diện tiêu biểu của bộ máy cai trị tư sản thối nát, đầy rẫy bất công.
Xin trân trọng giới thiệu tiểu thuyết Bá tước Monte Cristo với bạn đọc.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.09.2020 05:37:18 bởi hoi_ls>
PHẦN I : Marseilles
 
Chương I 
TÀU CẬP BẾN 
 
Ngày 24 tháng Hai năm 1815, đài quan sát trên nhà thờ Đức Bà báo tin chiếc tàu Pharaon ba cột buồm từ Smyrna, qua Naples đang trở về. Theo thường lệ, viên hoa tiêu lập tức rời bến ra đón tàu và cũng như mọi khi, sân thượng của pháo đài Saint-Jean đã đông nghịt những kẻ hiếu kỳ. Mỗi lần có một chiếc tàu cập bến là y như cảng Marseilles có một sự kiện trọng đại, nhất là chiếc Pharaon này đã ra đời ở xưởng đóng tàu Phocee cổ kính và ông chủ tàu lại là công dân của thành phố.
Trong khi đó, chiếc tàu vẫn giương đủ những cánh buồm to nhỏ của mình từ từ tiến vào. Nhưng đám người hiếu kỳ trên bến, nhìn dáng điệu buồn bã của con tàu, đã linh cảm được một sự rủi ro hoặc tai họa nào đó đã xảy ra trên tàu.
Tàu vẫn tiến vào một cách lặng lẽ dưới sự điều khiển khéo léo của một chàng trai có dáng điệu nhanh nhẹn, cặp mắt linh hoạt. Chàng đứng bên cạnh viên hoa tiêu, chăm chú theo dõi từng chuyển động của con tàu.
Nỗi lo âu lan tràn khắp đám dân chúng đến nỗi làm cho một người đang đứng xem không chờ cho tàu kịp cập bến, vội nhảy xuống một chiếc xuồng con ra lệnh chèo tới ngay trước mũi chiếc Pharaon. Vừa nhìn thấy người đó, chàng thủy thủ trẻ tuổi kia liền rời khỏi đài chỉ huy, bỏ mũ, chạy xuống đứng sát vào thành tàu. Đó là một thanh niên khoảng chừng mười tám đôi mươi, vóc cao, mảnh dẻ, đôi mắt đen đẹp đẽ và mái tóc màu gỗ mun. Con người anh toát ra vẻ điềm tĩnh và quả quyết đặc biệt của những người từng dạn dày với nguy hiểm, gian lao.
- Này anh Dantès - người đứng dưới xuồng hỏi vọng lên - có chuyện gì xảy ra vậy? Tại sao trên tàu lại có vẻ buồn thảm thế?
- Thưa ông Morrel - chàng thủy thủ trẻ đáp - một tai họa lớn đã xảy ra. Khi tàu tới gần Civita, ông thuyền trưởng Leclere dũng cảm của chúng ta đã từ trần.
- Thế còn hàng hóa? - ông chủ tàu hỏi.
- Thưa ông chủ, hàng hóa không suy suyển gì. Nhưng ông thuyền trưởng đáng thương...
- Ông ta làm sao? Rơi xuống biển ư?
- Thưa không ạ, ông thuyền trưởng bị chết vì bệnh sốt viêm não rất đau đớn.
Rồi anh thanh niên lại quay về phía các thủy thủ và ra lệnh cho họ chuẩn bị thả neo. Khi các thủy thủ đã bắt tay vào việc, anh tiếp tục nói chuyện với ông chủ tàu :
- Thưa ông, tai họa xảy ra một cách đột ngột : ông thuyền trưởng Leclere hội đàm rất lâu với vị chỉ huy cảng Naples. Ngay sau cuộc chia tay rất xúc động đó ông lại lên cơn sốt. Ba ngày sau ông qua đời... Chúng tôi đã làm lễ mai táng ông theo tục lệ : khâm liệm thi hài ông trong một cái võng, rồi chôn cất ở đảo El Giglio. Bây giờ chúng tôi đem về trả cho bà vợ góa của ông tấm huy chương danh dự và thanh kiếm. Thật là uổng công chiến đấu trong suốt mười năm trời với quân đội Hoàng gia Anh để rồi chết trên giường bệnh như một kẻ thường dân.
- Biết làm thế nào hơn được hả anh Edmond? Mọi người chúng ta đều rồi sẽ chết và người cũ phải nhường chỗ cho người mới chứ! Vừa rồi anh quả quyết là số hàng hóa...
- Thưa ông Morrel, còn nguyên vẹn và chắc chắn chuyến này ông sẽ kiếm được hai vạn rưởi francs tiền lãi. Bây giờ mời ông lên tàu và ông Danglars, kế toán viên, sẽ cung cấp cho ông những tin tức cần thiết. Còn tôi, tôi bận phụ trách việc thả neo và treo cờ rủ.
 
 
 

Ông chủ tàu nắm sợi dây cáp của Dantès ném cho và trèo lên tàu với động tác lanh lẹ và khéo léo của một thủy thủ lành nghề, rồi đến gần viên kế toán Danglars vừa ở trong cabin đi ra. Hắn trạc hăm lăm, hăm sáu. Bộ mặt u ám đầy vẻ khúm núm ti tiện đối với cấp trên, hống hách láo xược đối với người dưới và cái chức vụ kế toán của hắn càng làm cho mọi người ghê tởm, trái hẳn với Edmond Dantès, người được cả tàu yêu mến.
- Thưa ông Morrel - hắn nói - ông đã biết tin dữ rồi chứ ạ?
- Phải, phải, ông Leclere thật đáng thương. Ông là một thuyền trưởng dũng cảm và lương thiện.
- Và là một thủy thủ xuất sắc, suốt đời sống giữa trời và biển để bảo vệ quyền lợi cho công ty Morrel & Son, một hãng đóng tàu quan trọng.
- Nhưng - ông chủ tàu vừa theo dõi Dantès điều khiển việc thả neo vừa nói - anh Edmond xem ra cũng thạo nghề không kém người thủy thủ già.
- Vâng - Danglars nhìn Dantès bằng con mắt hằn học - Anh ta hãy còn trẻ và chủ quan lắm. Ông thuyền trưởng vừa tạ thế, anh ta đã tự ý nắm quyền chỉ huy. Chẳng cần hỏi ý kiến ai và làm chúng tôi mất toi một ngày rưỡi ở đảo Elba.
- Chỉ huy chiếc tàu là quyền hạn chính thức của anh ta, vì anh ta là thuyền phó.
- Anh ta đã để mất cả một ngày rưỡi chỉ vì thích được lên bộ, có thế thôi.
- Anh Dantès - ông Morrel quay về phía Edmond gọi - Lại đây tôi bảo.
- Xin ông chờ cho một lát - Dantès đáp và ra lệnh thả neo.
- Ông xem đấy, anh ta cứ tự tiện hành động y như mình đã là thuyền trưởng rồi - Danglars nói.
- Thì đúng phải như thế - ông chủ tàu nói - Tôi biết anh ta còn ít tuổi nhưng rất xứng đáng với chức vụ đó và có nhiều kinh nghiệm trong nghề. Tôi có thể giao phó công việc cho anh ta được.
Nghe câu đó, bộ mặt của Danglars tối sầm lại và hắn lùi lại sau.
 
 
 

- Xin lỗi ông chủ - Dantès lại gần - Công việc đã hoàn tất, ông gọi tôi đến có việc gì ạ?
- Tôi muốn biết tại sao anh lại cho tàu cập vào đảo Elba?
- Tôi chỉ thừa hành mệnh lệnh của ông thuyền trưởng. Trước khi qua đời ông ta có nhờ tôi trao cho Thống soái Bertrand một cái gói.
- Anh có gặp thống soái không?
- Dạ, có ạ.
Ông Morrel nhìn chung quanh rồi kéo Dantès ra chỗ khác, khẽ hỏi:
            - Còn Hoàng đế (1) sức khỏe ra sao?
- Hoàng đế vẫn bình an vô sự. Chính mắt tôi đã nhìn thấy ngài. Lúc tôi đang nói chuyện với Thống soái thì Hoàng đế vào. Ngài hỏi tôi tỉ mỉ về chiếc tàu và có ý định mua lại của công ty ta.
- Này, Dantès - ông Morrel thân mật vỗ vai Edmond - anh đã hành động rất đúng là tuân lệnh ông thuyền trưởng, nhưng nếu người ta biết anh trao một cái gói cho Thống soái Bertrand thì có thể nguy hiểm cho anh đấy.
- Tại sao lại nguy hiểm ạ? Tôi có biết trong gói có gì đâu? Còn Hoàng đế chỉ hỏi tôi những câu thông thường. Xin ông cho tôi rút lui vì nhân viên y tế và hải quan đã đến kia rồi.
Chàng thanh niên vừa đi khỏi thì Danglars chạy ngay đến hỏi ông Morrel :
- Chắc anh ta đã cho ông biết lý do tàu ghé vào đảo Elba?
- Dantès thừa hành theo mệnh lệnh ông Leclere.
- Nhưng ngoài cái gói đó ra, ông thuyền trưởng còn trao cho anh ta một bức thư.
- Sao anh biết?
- Tôi đi qua cửa buồng hé mở của ông thuyền trưởng và liếc thấy - Danglars đỏ mặt nói - nhưng xin ông đừng nói cho Dantès biết, có lẽ tôi đã trông lầm.
Giữa lúc đó Dantès quay lại và Danglars bỏ đi.
- Thế nào, công việc khai báo xong rồi chứ? Chiều nay anh đến ăn cơm với tôi nhé!
- Thưa ông Morrel, xin ông tha lỗi, tôi phải đi thăm cha tôi trước tiên và sau đó đến thăm một người mà tôi luôn luôn nhớ đến...
- A phải rồi, tôi quên mất là ở xóm Catalans có một người đang mong chờ anh không kém gì cha anh, đó là cô Mercédès xinh đẹp.
Dantès mỉm cười nói :
- Cô ấy là vợ chưa cưới của tôi.
- Vậy thì tôi không dám giữ anh. Anh có cần tiền không?
- Thưa ông chủ, tôi đã được trả ba tháng lương trong cuộc hành trình này rồi và cũng đã có đủ tiền đưa cho người cha nghèo khó của tôi. Bây giờ, trước khi từ biệt xin ông cho tôi nghỉ phép mười lăm ngày để cưới vợ, và sau đó còn phải đi Paris nữa.
- Được lắm, nhưng anh phải sắp xếp công việc làm sao để chuyến đi tới, khi chiếc tàu Pharaon nhổ neo phải có thuyền trưởng của nó.
- Thuyền trưởng của nó? - Dantès kêu lên, mắt sáng long lanh - ông muốn chỉ định tôi là thuyền trưởng như tôi hằng mơ ước ư?
- Dantès thân mến! Nếu chỉ có một mình tôi thì việc này coi như xong rồi. Nhưng tôi còn một người hùn vốn nữa. Tôi sẽ cố nói giúp anh, anh có thể tin tưởng vào tôi.
Dantès rơm rớm nước mắt nắm chặt lấy tay ông chủ tàu, nói :
- Ôi ông Morrel! Ông Morrel! Tôi xin nhân danh cha tôi và cô Mercédès, gửi lời cám ơn ông.
- Thế đấy, Edmond ạ, có Thượng đế cho những người có lòng tốt, và bây giờ anh hãy đi thăm cha anh và cô Mercédès đi. Tôi còn ở lại thanh toán với Danglars. Trong chuyến đi vừa qua, anh có hài lòng về anh ấy không?
- Thưa ông Morrel, đứng về tình bạn thì tôi xem chừng anh ta không ưa tôi lắm, nhất là sau một vụ xích mích không đáng kể mà tôi đã cố gắng dàn hòa, nhưng anh ta đã khước từ. Nhưng nói về công việc của một kế toán viên, chắc ông sẽ phải hài lòng về sự chu đáo của anh ấy.
- Anh Dantès, nếu anh được làm thuyền trưởng anh có giữ Danglars ở lại làm việc với anh không?
- Thuyền trưởng hay thuyền phó, tôi cũng đối xử tử tế với những ai được chủ tín nhiệm. Ông cho phép tôi dùng chiếc xuồng của ông để lên bờ chứ?
- Xin cứ tự nhiên. Chúc anh may mắn!
 
 
 

Chàng thủy thủ trẻ tuổi nhảy xuống chiếc xuồng con và bảo hai người giúp việc chèo vào bến La Canebière. Ông chủ tàu mỉm cười nhìn theo chàng thanh niên nhảy lên bờ rồi hòa mình vào đám đông đang đi lại nhộn nhịp. Khi ông quay lại thì thấy Danglars đã đứng ngay phía sau mình, cũng đang theo dõi chàng thủy thủ trẻ tuổi nhưng với cái nhìn khác hẳn cái nhìn của ông.
 
------------------------------------------------------------------------------------
(1) Hoàng đế Napoleon lúc đó đang bị đày ở đảo Elba.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 2 
CHA VÀ CON 
 
Sau khi đi hết đại lộ La Canebière, Dantès rẽ sang một con đường hẻm, bước vào một ngôi nhà phía bên trái, trèo lên bốn cầu thang gác tối om rồi dừng lại phía trước một cái cửa hé mở của một căn buồng nhỏ bé. Đó là chỗ ở của cha anh. Ông lão chưa hay tin chiếc tàu Pharaon đã cập bến. Ông đang đứng trên cái ghế, hai bàn tay run rẩy chữa lại giàn hoa lý. Bỗng có ai ôm ngang lưng ông và một giọng nói quen thuộc cất lên :
- Cha! Cha của con!
Ông lão liền quay lại, kêu lên một tiếng rồi ngã vào cánh tay con. Ông run lên cầm cập, mặt tái nhợt làm Dantès hốt hoảng :
- Cha làm sao thế? Cha ốm đấy ư?
- Edmond con ơi, không đâu, chỉ là do mừng rỡ và xúc động khi bất chợt cha nhìn thấy con đấy thôi... Ôi, lạy Chúa, cha mừng đến chết đi được!
- Xin cha hãy trấn tĩnh lại đi, con đã trở về và chúng ta sắp được sung sướng rồi!
- Nếu vậy thì tốt quá! Con hãy cho cha biết sự sung sướng đó ra sao?
- Thưa cha, ông thuyền trưởng Leclere đã tạ thế. Được sự nâng đỡ của ông Morrel, con có triển vọng thay thế ông ta. Cha nghe rõ chưa? Làm thuyền trưởng khi mới hai mươi tuổi đời với số lương một trăm đồng louis và còn được chia lãi nữa, thật là vượt quá nguyện vọng của một người thủy thủ nghèo xác như con. Khi nào có tiền con sẽ tậu cho cha một ngôi nhà nhỏ có một mảnh vườn để cha tha hồ mà trồng rau... Cha ơi, cha làm sao thế này?
 

Ông lão hầu như kiệt sức, người ngả hẳn ra phía sau nói :
- Không sao đâu!
- Nào cha ơi, cha hãy uống một cốc rượu cho tỉnh người nhé! Rượu để đâu cha?
- Không cần... nhà không còn rượu đâu con ạ!
- Sao cha? Không còn rượu à? - Dantès mặt biến sắc nói - Cách đây ba tháng, trước lúc ra đi, con đã để lại cho cha hai trăm francs kia mà?
- Nhưng con đã quên món nợ anh hàng xóm Caderousse. Khi anh ta đòi, cha đã trả cho anh ta một trăm bốn mươi francs.
- Như vậy cha đã sống ba tháng trời chỉ với sáu chục  francs! Ôi, lạy Chúa, xin Người tha lỗi cho con! Cha làm con ân hận quá.
Dantès kêu lên và quỳ xuống chân ông lão. Ông mỉm cười nói :
- Bây giờ thì con đã về, mọi việc coi như xong xuôi.
- Vâng, con đã về - Dantès đáp - Với một tương lai tốt đẹp và có tiền. Đây, cha hãy cầm lấy tiền đi mua một ít thức ăn...
Nói xong Edmond bày ra bàn những đồng tiền vàng óng ánh làm cho ông lão tươi tỉnh hẳn lên.
 
 
 

Giữa lúc đó cái đầu đen sì với bộ râu xồm xoàm của gã hàng xóm Caderousse xuất hiện ở chân cầu thang. Đó là một gã thợ may, tuổi khoảng hăm lăm, hăm sáu. Với giọng đặc sệt thổ ngữ, gã nhe răng nói chõ vào:
- Edmond, cậu đã về đấy à?
- À anh Caderousse, tôi đã về và sẵn sàng giúp anh bất cứ việc gì để trả cái ơn anh đã cho tôi vay tiền.
- Ơn với huệ quái gì, tôi cho cậu vay, đã được trả sòng phẳng. Chúng ta đã thanh toán với nhau như những người hàng xóm tốt bụng. Lúc nãy tôi ra phố gặp Danglars, hắn bảo cậu đã về nên tôi đến mừng cậu.
- Anh Caderousse tốt bụng quá - ông lão nói - Anh quả có lòng yêu chúng tôi.
- Ồ hẳn là thế rồi. Trên đời còn được mấy người lương thiện! - Gã thợ may nói và liếc mắt nhìn đống tiền trên bàn - Này, anh bạn, giờ thì anh giàu sụ rồi đấy nhỉ?
Dantès thoáng thấy cặp mắt thèm thuồng của Caderousse vội nói :
- Ồ, đâu có phải là của tôi. Đây là món tiền để dành của cha tôi trong lúc tôi đi vắng. Thôi cha ơi, cha cất tiền đi. Nếu khi nào anh Caderousse cần đến, chúng ta sẵn sàng cho anh ấy vay. Bây giờ xin phép cha cho con đến xóm Catalans thăm một người.
- Cô Mercédès phải không con? Con đi đi, cầu Chúa phù hộ cho con cũng như cho vợ con.
- Cụ Dantès ơi - Caderousse xen vào - Cụ nhanh nhẩu quá đấy, cô Mercédès đã là vợ cậu ta đâu kia chứ.
- Nhưng chắc chắn chỉ là nay mai thôi - Edmond đáp.
- Cậu vội vàng thế cũng phải lắm vì cô ta thật xinh đẹp. Những cô gái đẹp như thế thiếu gì người ngấp nghé. Tôi xem chừng cô ta có lắm đám lắm thì phải. Nhưng cậu nên hiểu rằng cậu sắp được làm thuyền trưởng thì cô ta không từ chối cậu đâu.
- Ồ, tôi rất hiểu phụ nữ nói chung và Mercédès nói riêng Edmond đáp - và tôi tin rằng làm thuyền trưởng hay không, cô ấy vẫn trung thành với tôi.
Nói xong anh ôm hôn bố và từ biệt Caderousse bước ra. Lát sau Caderousse cũng cáo từ ông già. Hắn gặp Danglars đang đứng chờ hắn ở đầu phố.
 
 

- Thế nào, cậu đã gặp nó chưa? - Danglars hỏi - Nó có nói gì về chức thuyền trưởng của nó không?
- Mẹ kiếp! Hình như ông Morrel đã hứa với hắn rồi thì phải, nên hắn có vẻ chắc mẩm, lại còn có vẻ láo xược. Hắn hứa cho tôi vay tiền cứ y như một ông chủ nhà băng. Bây giờ thì ngài Dantès còn đếm xỉa gì đến ai nữa vì sắp trở thành ông thuyền trưởng đến nơi rồi. Kể ra hắn đừng làm thuyền trưởng lại tốt hơn, không thì gặp hắn cũng khó nói chuyện.
- Ồ nếu chúng ta muốn, nó sẽ vẫn cứ ở lại địa vị cũ của nó, có thể còn thấp kém hơn là đằng khác - Danglars hỏi tiếp - Còn cô nàng Catalans xinh đẹp thì sao?
- Hắn yêu cô ta mê mệt và đang chạy bổ đi tìm. Nhưng cũng còn rắc rối đấy.
- Sao vậy? Cậu không ưa Dantès lắm phải không?
- Tôi không ưa những thằng huênh hoang. Này, mỗi lần con bé Catalans ấy xuống phố là có một thằng cao lớn, mắt đen, tóc hung, da đỏ mà cô ta gọi là anh họ, rất nhiệt tình bám riết bên cạnh con bé.
- Thật à? Chắc hắn tán tỉnh con bé chứ gì?
- Dĩ nhiên rồi, một thằng thanh niên hai mươi mốt tuổi còn muốn gì hơn đối với một con bé mười bảy.
- Này, bọn ta đến xóm Catalans đi, tôi sẽ đãi cậu một chầu rượu.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 3 
XÓM CATALANS 
 
Xóm Catalans nằm phía sau một ngọn đồi trọc nham nhở. Nó được một đoàn người bí mật, không rõ từ đâu tới xây dựng theo một kiểu kỳ dị, nửa Moor nửa Tây Ban Nha. Họ nói một thứ tiếng lạ tai. Từ bốn thế kỷ nay con cháu họ vẫn ở nguyên trên mảnh đất mà tổ tiên họ đến sinh cơ lập nghiệp, họ giữ nguyên lề thói tập tục riêng cũng như ngôn ngữ riêng của mình. Họ không hề chung đụng với dân cư thành phố Marseilles. Trong một dãy phố duy nhất của xóm có một ngôi nhà nhỏ được ánh nắng mặt trời nhuộm mặt ngoài thành một màu vàng úa rất đẹp, còn bên trong được quét vôi trắng xóa tựa như những lâu đài Tây Ban Nha.
Đứng dựa vào tường là một cô gái xinh đẹp có mái tóc đen huyền, cặp mắt nhung như mắt sơn dương, đôi cánh tay để trần rám nắng tròn trĩnh như đôi cánh tay của thần Venus, đôi chân thuôn thuôn và mềm mại vừa thanh tân vừa khỏe mạnh được bó chặt trong đôi bít tất sợi màu đỏ. Bên cạnh cô là anh chàng thanh niên cao lớn, trạc hai mươi hai tuổi. Anh ta ngồi trên một cái ghế dựa, khuỷu tay chống lên bàn, đang nhìn cô bằng cặp mắt lo âu và tuyệt vọng, dường như van lơn.
 
 

- Sao kia em Mercédès? - Chàng thanh niên nói. - Sắp đến lễ Phục sinh rồi, chúng ta chuẩn bị lễ cưới chứ!
- Anh Fernand, em đã trả lời anh hàng trăm lần rồi sao anh cứ cố tình hỏi mãi thế?
- Nào, em hãy nhắc lại nữa đi, anh van em, em hãy nhắc lại là em khước từ tình yêu của anh mà mẹ em đã ưng thuận, là em đã đùa cợt với hạnh phúc, với cuộc đời anh. Cái chết của anh chắc cũng chẳng có nghĩa lý gì đối với em. Trời ơi! Em Mercédès, anh đã mơ ước bao năm ròng được làm chồng của em và thế là bây giờ hy vọng, mục tiêu duy nhất của anh bị tiêu tan.
- Nhưng anh Fernand, chẳng phải em đã luôn luôn bảo anh rằng giữa chúng ta chỉ là quan hệ anh em. Anh đừng nên đi quá giới hạn ấy, vì trái tim em đã thuộc về người khác rồi, anh còn nhớ chứ?
- Mercédès ạ, em đã nói với anh một sự thật phũ phàng, nhưng em chớ có quên rằng theo phong tục thiêng liêng của người Catalans là trai gái chỉ kết hôn với người cùng họ tộc.
- Anh Fernand, đó chỉ là một thói quen chứ không phải một tục lệ và anh đừng nên viện cái thói quen đó ra làm gì. Em chỉ là một đứa trẻ mồ côi nghèo xác xơ, chỉ có một túp lều với mấy tấm lưới đánh cá của bố mẹ em để lại. Từ một năm nay nếu anh đi nghề chung cùng với em chỉ vì anh là con ông bác, chúng ta đã cùng lớn lên với nhau. Hơn nữa, em sợ nếu em cự tuyệt thì anh sẽ giận.
- Chẳng hề gì. Mercédès à, mặc dầu em sống nghèo nàn và cô độc, em cũng còn hơn chán vạn những cô gái giàu có khác. Anh chỉ cần một người vợ lương thiện và một người nội trợ giỏi.
- Anh Fernand, em không thể nào là lương thiện được nếu em lại đi lấy một người nào đó không phải là người mà em yêu. Mà một người vợ đã không lương thiện thì không thể nào là người nội trợ giỏi được. Em chỉ có thể coi anh như một người bạn, vậy là đủ rồi.
- Em thật là tàn nhẫn và độc ác đối với anh. Cái thằng thủy thủ mà em mong chờ ấy chả được bền đâu, một ngày kia biển cả sẽ chôn vùi nó.
- Ôi! Anh Fernand, em đã lầm vì em cứ tưởng rằng anh là một người tốt bụng. Anh đã nguyền rủa người ta như thế đấy! Nhưng em nói thật, không cần giấu giếm gì nữa : em đã yêu và đang chờ anh ấy, nếu anh ấy không trở về, em cớ thể nói rằng anh ấy đã chết vì yêu em.
Fernand đứng lên đi vòng quanh nhà, rồi quay lại với đôi mắt u tối, nắm chặt tay hỏi :
- Mercédès, em nhất quyết chưa?
- Em yêu Edmond Dantès - Cô gái lạnh lùng nói. - Ngoài anh ấy ra, em không ưng thuận ai làm chồng em cả.
Fernand cúi đầu thất vọng, trút tiếng thở dài nghe thật não ruột rồi nghiến răng ken két :
- Thế nếu nó chết?
- Nếu anh ấy chết, em sẽ chết theo.
- Nếu nó quên em?
Vừa lúc đó bên ngoài có tiếng gọi :
- Mercédès, Mercédès!
Cô gái hai má đỏ ửng thốt lên :
- A, anh xem đấy, anh ấy có quên em đâu, anh ấy đã về kia rồi! Anh Edmond, có em đây!
Fernand mặt tái nhợt, lùi lại phía sau và ngồi phệt xuống ghế.
Edmond và Mercédès ôm chầm lấy nhau. Ánh nắng gay gắt của bầu trời Marseilles xuyên qua cánh cửa bao trùm lấy hai người đang tràn ngập trong hạnh phúc và yêu thương.
 
 

Đột nhiên Edmond nom thấy bộ mặt đang nhăn nhó và tái nhợt, đầy đe dọa trong bóng tối của Fernand. Tay hắn sờ vào chuôi con dao găm giắt ở thắt lưng. Edmond cau mày nói :
- Ồ, xin lỗi, tôi không nhìn thấy anh.
Rồi hỏi Mercédès:
- Ai thế em?
- Anh Dantès, đây là anh họ em, người bạn của em và cũng là người bạn của anh. Anh Fernand là người em yêu hơn cả sau anh đấy.
- À phải - Edmond nói và chìa tay thân thiện cho anh chàng Catalans.
Nhưng Fernand vẫn đứng ngây như phỗng với bộ mặt tối tăm và đe dọa. Mercédès nhìn thẳng vào mắt hắn và khóe mắt như ra lệnh của cô làm hắn bị mê hoặc. Hắn tiến lại gần Edmond và cũng chìa tay ra. Nhưng khi vừa chạm vào tay Edmond, hắn đã vội bỏ chạy ra ngoài. Vừa chạy như bay như biến, hắn vừa bứt tóc kêu :
- Ôi! Đau khổ cho ta quá! Đau khổ cho ta quá!
- Này anh chàng Catalans - Có tiếng gọi - này Fernand, đi đâu thế?
Fernand đứng lại, nhìn quanh quẩn và thấy Caderousse đang ngồi uống rượu với Danglars dưới một vòm cây.
 
 


- Đi đâu mà vội thế - Caderousse nói - Quên cả chào anh em. Lại đây tí đã nào.
- Chai rượu vẫn còn gần đầy - Danglars nói thêm. - Trông anh như người mất hồn, ngồi xuống đây nào!
Fernand lấy tay lau mồ hôi đầm đìa trên trán rồi ngồi phịch xuống ghế. Caderousse nói :
- Bọn mình trông cậu như điên dại, như thằng muốn đâm đầu xuống biển nên bọn mình muốn gọi cậu đến làm mấy hớp rượu còn hơn là uống nước mặn. Trông cậu như anh thất tình ấy!
- Úi chà! - Danglars nói - Một con người khỏe mạnh như cậu ta sao mà có thể thất tình được?
- Danglars, anh xem đấy - Caderousse nói và nháy mắt với bạn - Câu chuyện như sau : Fernand là một chàng trai Catalans dũng cảm và tốt bụng, là dân chài có hạng của Marseilles, yêu một cô gái xinh đẹp tên là Mercédès, nhưng khốn thay cô này lại đi yêu một anh thuyền phó tàu Pharaon, và hôm nay chiếc tàu lại vừa cập bến. Thế là anh chàng Fernand bị ra rìa, tôi cho là một người Catalans thì không đời nào để cho kẻ khác phỗng mất người yêu, và khi Fernand đã trả thù thì hẳn là ghê gớm lắm.
Danglars làm ra vẻ ái ngại cho Fernand, nói :
- Chàng trai đáng thương, cậu ta có ngờ đâu Dantès lại bỗng dưng trở về.
- Nhưng dẫu sao - Caderousse nói và rót thêm rượu cho Fernand - Nó sẽ lấy cô Mercédès xinh đẹp. Bao giờ thì họ tổ chức lễ cưới thế?
- Chao ôi! Chưa đâu - Fernand lẩm bẩm nói.
- Nhưng rồi sẽ cưới - Caderousse nói - Cũng như nó sẽ làm thuyền trưởng tàu Pharaon, phải không Danglars?
Danglars rùng mình vì câu hỏi nhằm trúng tim đen của hắn.
- Nào chúng ta hãy nâng cốc mừng thuyền trưởng Dantès, chồng của cô gái Catalans xinh đẹp.
Caderousse đưa cốc rượu lên môi và uống cạn một hơi, còn Fernand cầm cốc rượu quẳng xuống đất vỡ tan tành.
- Này, này, cậu Fernand - Caderousse nói - Mắt cậu còn tinh tường, thử nhìn xem có phải là cặp tình nhân đang dắt nhau đi ở đằng kia không?
Danglars vẫn theo dõi tâm trạng của Fernand và bộ mặt nhợt nhạt của hắn.
- Phải đấy, chính là Edmond và Mercédès đang đi về phía chúng ta.
Caderousse hơi men chếnh choáng, đứng dậy nói :
- Ồ, Dantès! Ồ, cô gái xinh đẹp! Lại đây nói chuyện cho chúng tôi biết bao giờ thì anh chị tổ chức lễ cưới nào? Bởi cậu Fernand này nhất định không chịu nói.
- Câm mồm đi - Danglars nói - Phải có thái độ nhẫn nhục như Fernand đây này, cậu ta biết điều lắm đấy chứ!
Fernand bị câu nói của Danglars kích động, đã muốn nhảy bổ ra gây sự với tình địch, nhưng Mercédès đã tươi cười nhìn thẳng vào mặt hắn làm hắn run sợ và ngồi phịch xuống ghế.
- Chào bà Dantès! - Caderousse nói.
- Đó chưa phải là tên của tôi đâu! - Mercédès nghiêm trang nói. - Ở xứ sở chúng tôi người ta không gọi tên người con gái bằng tên chồng chưa cưới, vì như thế sẽ đem lại tai họa.
- Xin cô tha lỗi cho anh bạn Caderousse của tôi - Danglars nói
- Anh Dantès, hôn lễ sắp cử hành chưa?
- Chỉ nội ngày mai hoặc cùng lắm là đến ngày kia, anh Danglars ạ! Chúng tôi sẽ tổ chức bữa tiệc đính hôn. Anh và anh Caderousse đều được mời đến dự.
- Sao vội vàng quá thế? - Danglars nói - Tàu Pharaon mãi ba tháng nữa mới ra khơi kia mà!
- Để hưởng hạnh phúc, bao giờ người ta cũng vội vàng. Vả lại tôi cũng còn phải đi Paris nữa.
- A, lần đầu tiên anh đi Paris phải không? Anh đi vì việc riêng à?
- Không, tôi thực hiện nhiệm vụ mà thuyền trưởng Leclere đã giao cho.
- Phải, phải, tôi hiểu rồi! - Danglars nói, nhưng trong bụng hắn nghĩ thầm - Đi Paris để trao cho người nào đó bức thư mà Thống soái đã ủy thác cho nó. Hay lắm! Bức thư này làm ta nảy ra một ý nghĩ tuyệt vời, A ha! Dantès, mi đừng hòng lên được chức thuyền trưởng Pharaon!
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 4
ÂM MƯU 
 
Danglars nhìn theo Edmond và Mercédès cho đến khi cặp tình nhân đi khuất mới quay lại, thấy Fernand vẫn ngồi trên ghế, mặt tái mét và đang run lên vì tức giận, còn Caderousse thì đang say bí tỉ và nghêu ngao hát.
 

- Này Fernand - Danglars nói - Đúng là một đám cưới chẳng được lòng ai. Cậu yêu cô ta lắm thì phải. Đáng lẽ đừng ngồi mà vò đầu, bứt tai như thế, tốt hơn là cậu nên tìm một phương kế để cứu chữa thì vẫn hơn chứ!
- Anh bảo tôi còn làm gì được nào? Tôi muốn đâm chết nó nhưng Mercédès sẽ chết theo nó và tôi cũng sẽ chẳng sống nổi.
- Tôi muốn chữa bệnh cho cậu, - Danglars nói tiếp - Nghĩa là ngăn cản không cho Dantès cưới được vợ mà không phải khử nó.
- Chỉ có cái chết mới làm được chúng xa nhau. - Fernand nói.
- Sống xa nhau cũng chẳng khác gì chết - Danglars nói - Nếu giữa Dantès và Mercédès có một nhà tù thì khác nào đó là một nấm mồ.
- Nhưng khi nó ở tù ra - Caderousse say mềm nhưng hãy còn chưa mất hết lý trí nói - Và một thằng như Edmond Dantès tất sẽ tìm cách trả thù. Vả lại nó không cướp của, giết người thì làm sao bỏ tù nó được.
 

Danglars không để ý đến câu nói của gã say rượu, quay lại hỏi Fernand.
- Thế nào? Không cần phải giết nó, cậu thấy không?
- Tôi biết anh cũng căm thù nó vì một lý do nào đó - Fernand nắm chặt tay Danglars nói - Xin anh cho biết phải làm gì tôi sẽ tuân lệnh.
- Đem giấy bút lại đây. Là kế toán viên, những thứ đó là công cụ của tôi.
- Đem giấy bút lại đây - Fernand gọi.
Người hầu bàn đem những thứ đó lại.
- Tôi nghĩ rằng những cái này - Caderousse nói - lại có thể giết người chắc chắn hơn là đâm trộm ở chỗ vắng, cho nên tôi ghê sợ chúng hơn là gươm giáo.
Nói xong, hắn lại uống thêm một cốc nữa. Danglars nói tiếp :
- Này, tôi cứ giả thử trong chuyến đi vừa qua, Dantès đã ghé vào đảo Elba, nếu có ai tố cáo nó là tay chân của Bonapar...
- Tôi sẽ đi tố cáo nó - Fernand vội vàng nói.
Danglars dùng tay trái cầm bút viết bằng thứ chữ ngả, khác với lối chữ hắn viết thường ngày rồi đưa cho Fernand đọc :
“Là một kẻ trung thành với Đức vua (2) và giáo hội, tôi xin báo để quan Chưởng lý biết là tên Edmond Dantès, thuyền phó tàu Pharaon, trước khi trở về Marseilles, sáng hôm nay đã ghé Naples và Porto-Ferrajo để chuyển một bức thư của Murat cho kẻ tiếm ngôi (3) và một mật chỉ của kẻ tiếm ngôi cho Ủy ban Bonapar ở Paris. Tội trạng này sẽ được chứng minh sau khi nó bị bắt. Bức thư nói trên sẽ được tìm thấy trong người nó, hoặc ở nhà bố nó, hoặc trong cabin trên tàu Pharaon”.
- Tốt lắm! Thế là cậu trả được mối thù mà chả có ai oán trách được cậu, miễn là cậu bỏ bức thư tố cáo này trong phong bì và gửi cho quan Chưởng lý. Thế là xong.
Caderousse tuy đã say mèm nhưng cũng hiểu rằng bức thư tố cáo đó sẽ đem lại tai họa, bèn nói :
- Phải, thế là xong, nhưng thật là xấu xa đê tiện!
Nói xong hắn giơ tay muốn cầm lấy bức thư, nhưng Danglars gạt tay hắn ra và nói :
- Tôi nói và làm đùa đấy thôi, chứ ai lại muốn hại Dantès, trông đây này...
Hắn cầm bức thư vò lại rồi ném vào gốc cây. Hắn đứng lên nhưng vẫn nhìn Fernand đang ngồi nguyên tại chỗ, mắt không rời bức thư vò tròn nằm ở chỗ đó, rồi bảo Caderousse :
- Caderousse, cậu mà nốc nữa thì đến phải ngủ lại đây mất. Ta về thôi.... Đưa tay đây.
- Nào thì về - Caderousse nói - Nhưng không ai phải dìu cả. Còn Fernand, cậu có về cùng chúng tớ không?
- Không, tôi quay lại xóm Catalans - Fernand đáp.
Danglars kéo Caderousse đi về phía Marseilles. Đi được vài chục bước, hắn ngoái cổ lại và trông thấy Fernand lấy bức thư, bỏ vào túi và chạy vội ra khỏi quán rượu.
Công việc xếp đặt thế là đâu vào đấy - Hắn nghĩ bụng - Bây giờ mặc cho mọi việc tiếp diễn.
 
------------------------------------------------------------------
(2) Vua Louis XVIII lúc đó đang thay thế Napoleon (ND).
(3) Ám chỉ Bonapar

 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.09.2020 05:48:29 bởi hoi_ls>
Chương 5 
BỮA TIỆC ĐÍNH HÔN

Ngày hôm sau, trời rất đẹp. Cảnh vật chan hòa ánh nắng. Bữa tiệc được tổ chức cũng ở ngay quán rượu có vòm cây đó. Mặc dầu đã ấn định vào buổi trưa nhưng từ mười một giờ khách khứa đã kéo đến. Đó là các thủy thủ tàu Pharaon và mấy người bạn của Dantès. Có tin ông chủ tàu cũng sẽ đến dự. Đó là một điều vinh dự cho Dantès. Danglars và Caderousse được mời cũng xác nhận tin này. Quả nhiên một lát sau ông Morrel đến và được các thủy thủ vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Sự có mặt của ông như một lời xác nhận chính xác cho tin đồn Dantès sẽ được chỉ định làm thuyền trưởng.
Một nhóm người nữa bước vào quán. Đó là bốn cô gái ở xóm Catalans, bạn của Mercédès rồi tới Edmond khoác tay người vợ chưa cưới. Đi phía sau là ông già Dantès rồi đến Fernand với nụ cười chua chát và hiểm độc. Mercédès và Edmond quá say sưa vì hạnh phúc nên không để ý thấy nụ cười của gã. Danglars và Caderousse đến bắt tay Edmond rồi một gã đến ngồi cạnh Fernand, một gã đến ngồi cạnh ông già Dantès. Ông lão mặc một chiếc áo lễ bằng lụa có điểm những chiếc cúc viền kim loại, đội một chiếc mũ có tua trắng, xanh, tay chống chiếc ba toong. Trông ông lão giống như một vị trưởng giả của thế kỷ trước đi dạo trong công viên Luxembourg và Tuileries.

Dantès mặc rất đơn giản. Anh làm ở ngành hàng hải dân dụng nên áo của anh nửa nhà binh, nửa dân thường. Bộ mặt anh rạng rỡ vui sướng vì kiêu hãnh có một người yêu xinh đẹp Mercédès có vẻ đẹp của một cô gái Hy Lạp trên đảo Cyprus với đôi môi đỏ mọng, dáng đi thanh thản của người Andalucia và luôn nở nụ cười hồn nhiên, chân thật, dường như muốn nói : “Các bạn hãy chia sẻ nỗi vui sướng với tôi...”
Ông Morrel cũng đến chúc mừng hai người và nhắc lại lời hứa của ông với Dantès trước mặt các thủy thủ. Mercédès mời ông chủ tàu ngồi phía tay phải cô, còn phía tay trái mời Fernand. Những câu nói dịu dàng của cô gái càng làm gã anh họ bầm gan tím ruột và gã cứ ngồi thừ ra, mặt tái mét. Còn Dantès ngồi cạnh Danglars và ông Morrel. Mọi người vào tiệc.

Những đĩa dồi lợn thơm phức, những con tôm hùm đỏ ối, những đĩa sò tươi rói bắt đầu được chuyền tay nhau cùng với những chai rượu màu vàng nhạt. Giữa lúc đó có tiếng người nói lao xao bên ngoài, có tiếng đi huỳnh huỵch và có tiếng vũ khí chạm vào nhau lách cách, làm cho những khách dự tiệc đang nói chuyện ồn ào phải im bặt. Đồng thời ba tiếng súng nổ vang sau cửa làm mọi người nhìn nhau sửng sốt.
- Nhân danh luật pháp - Một tiếng nói to vang lên như không cho ai trả lời.
Tức thì cánh cửa mở toang, viên quận trưởng đeo băng tam tài (4) tiến vào phòng, theo sau là bốn người lính cầm súng, có viên cai dẫn đầu. Ai nấy đều hoảng sợ. Chỉ có ông chủ tàu tiến đến trước mặt viên quận trưởng mà ông quen biết từ trước hỏi :
- Có chuyện gì thế ông quận trưởng? Có thể là một sự nhầm lẫn chăng?
- Thưa ông Morrel - Viên quận trưởng đáp - Không thể có sự nhầm lẫn được. Tôi đem theo đây trát truy nã và buộc phải thừa hành công lệnh. Ở đây ai có tên là Edmond Dantès?
Tất cả mọi người đều quay về phía chàng thanh niên, anh tỏ rất ngạc nhiên nhưng vẫn giữ được phong cách, tiến lên một bước, anh nói :
- Thưa ông quận trưởng, tôi đây.
- Edmond Dantès - Viên quận trưởng nói tiếp - Nhân danh luật pháp, tôi bắt anh.
- Bắt tôi? - Edmond tái mặt nói - Vì lý do gì ạ?
- Tôi không biết. Đến lúc hỏi cung anh sẽ rõ.

Ông Morrel hiểu rằng không thể làm gì hơn để cứu vãn tình thế, ông hiểu rằng một viên quận trưởng đeo băng tam tài không còn là một con người nữa, đó là một cái máy thừa hành luật pháp. Ngược lại, bố của Dantès nhảy xổ lại phía người đại diện nhà nước mà van lơn, khóc lóc rất thảm thiết khiến viên quận trưởng phải động lòng.
- Ông cụ ơi, hãy bình tĩnh lại, có thể là con cụ chỉ có sơ suất trong việc khai báo và sẽ được thả ra sau khi xác minh.

- Thế này là thế nào? - Caderousse hỏi Danglars.
- Nào tôi có biết gì đâu, tôi cũng như cậu thôi - Danglars làm bộ ngạc nhiên đáp.
Caderousse đưa cặp mắt tìm Fernand nhưng hắn đã biến mất, bèn nói :
- Ồ, ồ, Danglars, cái trò đùa của anh ngày hôm qua thật là tai hại, cái thằng Fernand nó chuồn đâu rồi?
- Nào tôi có biết - Danglars đáp - Kệ xác nó.

Trong khi đó Dantès bắt tay từ biệt tất cả các bạn hữu rồi đi theo viên quận trưởng. Một cỗ xe ngựa mở toang cửa chờ ở trước quán rượu. Anh lên xe, viên quận trưởng và hai người lính lên sau. Cửa xe đóng lại và cỗ xe lên đường đi Marseilles.
- Tạm biệt anh Dantès - Mercédès chạy theo kêu to. - Tạm biệt anh, Dantès.
Edmond nghe thấy tiếng kêu của người yêu liền thò đầu ra khỏi cửa xe, cõi lòng tan nát, nói với lại :
- Tạm biệt em, Mercédès!
- Bà con hãy chờ ở đây - ông Morrel nói - Tôi sẽ lấy xe đi Marseilles xem sự thể ra sao, lát nữa trở về tôi sẽ báo tin cho bà con hay.
- Phải đấy, mời ông đi ngay cho - Mọi người đồng thanh nói và xì xào bàn tán về sự bất hạnh vừa xảy ra. Mỗi người đoán một cách. Bố của Dantès và Mercédès ôm nhau khóc nức nở vì cùng chung một cảnh ngộ đau thương.
- Tôi cho rằng - Danglars nói - Dantès đã mang đồ quốc cấm về.
- Có lẽ phải đấy - ông già đáng thương nói - Hôm qua cháu nó bảo với tôi là cháu có mua cho tôi một hòm cà phê và một hòm thuốc lá ngoại.
- Thế thì đúng rồi - Danglars nói - Nhân viên hải quan có lẽ đã tìm ra món hàng lậu, chúng ta hãy chờ xem.
- Bà con ơi! - Một người bạn của Danglars bỗng dưng kêu lên - ông Morrel đã về kia rồi.

Quả nhiên ông chủ tàu vừa đi về, mặt tái nhợt, ông lắc đầu nói :
- Bà con ạ, sự việc vô cùng quan trọng chứ không như chúng ta tưởng đâu. Anh ta bị tố cáo là tay chân của Bonapar và trong lúc này đó là một tội trạng rất khủng khiếp.
Mercédès kêu rú lên và bố của Dantès run cầm cập.

- Có thể là như thế - Danglars nói - Vì chiếc tàu Pharaon đã ghé vào đảo Elba và anh ta đã lên bộ mất một ngày. Chúng ta hãy chờ xem, nếu anh ta oan thì sẽ được thả ngay. Còn nếu có tội thì không làm cách nào mà gỡ được cả.
- Anh có tin như vậy không, anh Danglars? - ông Morrel hỏi.
- Tôi đã từng nói với ông rằng Dantès đã cho tàu đỗ ở đảo Elba không có lý do chính đáng và tôi cũng đã nghi hành động của anh ta. Còn đối với ông thì cụ Policar Morrel ngày trước cũng từng phục vụ dưới triều đại Napoleon và người ta cũng sẽ nghi ông còn luyến tiếc kẻ tiếm ngôi, ông không nên dính líu vào việc này.
- Anh Danglars, anh là một người tốt bụng, tôi sẽ lưu ý tới anh.
- Bây giờ tàu Pharaon thiếu thuyền trưởng, ông tính sao?
- Ba tháng nữa tàu mới nhổ neo và cho tới ngày ấy Dantès có thể được thả.
- Trong khi chờ đợi tôi cũng biết rành rọt về công việc điều khiển tàu, ông có thể cho tôi làm thuyền trưởng tạm thời.
- Bao giờ Dantès trở về tôi sẽ trở lại nhiệm vụ cũ, như thế sẽ rất tiện việc cho ông.
- Được để công việc khỏi bị đình trệ tôi chấp nhận lời đề nghị của anh.
- Ông cứ yên tâm, còn Edmond, chúng ta có thể đi thăm anh ta được không?
- Quan phó chưởng lý de Villefort là người tôi quen biết. Tôi sẽ đến lo lót với ngài cho Edmond, mặc dù ngài là một người bảo hoàng rất hăng say, cộng với chức phó chưởng lý, tôi vẫn cho rằng ngài không phải là người độc ác.
- Vâng, nhưng tôi nghe nói ngài là một người có rất nhiều tham vọng.
- Rồi chúng ta sẽ biết, - ông Morrel thở dài nói và đi về phía tòa án.
 
--------------------------------------------------------------
(4) Người đại diện chính quyền của nước Pháp.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 6 
QUAN PHÓ BIỆN LÝ

Cùng ngày hôm đó, cũng vào giờ đó, ở phố Grand Cours, trong một tòa nhà cổ kính kiến trúc kiểu gôtích, người ta cũng tổ chức một bữa tiệc đính hôn, nhưng khách đến dự không phải là những thủy thủ và thường dân, mà toàn là những thẩm phán đã xin từ chức, những sĩ quan cao cấp bỏ hàng ngũ để phục vụ triều đại cộng với những thanh niên gia đình quý tộc còn căm thù kẻ tiếm vị (5). Tất cả mọi người đều bàn tán về thời thế, những vụ tranh chấp về tôn giáo và chính trị. Vị hoàng đế sau một thời gian trị vì hơn một nửa châu Âu với một trăm hai mươi triệu thần dân nói mười thứ tiếng khác nhau để tung hô : “Napoléon vạn tuế!”, nay là chúa tể đảo Elba với năm sáu nghìn dân đang được coi như là một kẻ bị đào thải khỏi nước Pháp và ngôi báu. Các ngài thẩm phán đang công kích ông ta về những sai lầm chính trị. Các nhà quân sự nói về những thất trận ở Moscow và Leipsic. Các bà bàn tán về vụ ly dị của ông ta với hoàng hậu Josephine. Và tất cả những vị bảo hoàng đó đều vui mừng trước sự sụp đổ của con người và chế độ chuyên chế, đang hí hửng trước cuộc sống mới, dường như họ mới thoát khỏi một cơn ác mộng.
Hầu tước de Saint-Méran đeo huân chương Saint Louis, nâng cốc chúc thọ vua Louis XVIII, được cử tọa hoan nghênh nhiệt liệt. Hầu tước phu nhân, một người đàn bà có cặp mắt sắc sảo, đôi môi mỏng dính, cách mặc diêm dúa mặc dù bà tuổi đã trạc năm mươi nói :
- Chúng ta rất trung thành và tha thiết với Đức vua kính mến, còn kẻ tiếm vị chỉ là Napoleon đáng nguyền rủa, có phải không Villefort?
- Bà lớn bảo sao?... Xin lỗi bà lớn, tôi không theo dõi câu chuyện - Villefort đang nói chuyện với một thiếu nữ, hỏi lại.
- Thôi - Hầu tước nói - Bà hãy để yên cho hai anh chị chuyện trò với nhau, anh ta còn nhiều chuyện đáng nói hơn là chính trị.
- Con xin lỗi mẹ - một thiếu nữ trẻ đẹp, có bộ tóc vàng và cặp mắt nhung nói. Con xin nhường mẹ nói chuyện với anh Villefort.
- Renée, mẹ tha lỗi cho con... Bây giờ, anh Villefort ạ, chúng ta không thể tin cậy và có cảm tình với phe Bonapar được.
- Ồ thưa bà lớn, họ là những người cuồng tín. Đối với họ, Napoleon là một Thánh nhân ở phương Tây, có những tham vọng lớn lao, một nhà lập pháp, một bậc thầy, tượng trưng cho bình đẳng. Nhưng thưa bà lớn, ngày mùng 4 tháng Tư năm 1814 (6) không phải là một ngày hạnh phúc cho nhân dân Pháp và không đáng ăn mừng. Cái đó chứng tỏ rằng khi ông ta đã ngã gục thì không thể nào còn ngóc đầu lên được nữa.
- Mẹ ơi! Mẹ ơi! - Renée nói, - chúng ta đã giao ước với nhau là không nên nhắc tới những kỷ niệm đau khổ kia mà.
- Thưa bà - Villefort nói - tôi cũng đồng ý với cô de Saint-Méran là chúng ta nên quên quá khứ và đừng xen lẫn vào những sự việc mà ý muốn của Chúa đã trở thành bất lực. Bản thân tôi, tôi cũng quên rằng ông Noirtier cha tôi, thuộc phe Bonapar, còn tôi,  de Villefort lại thuộc phe bảo hoàng.
- Nhưng này Villefort - Bà hầu tước nói - anh nên nhớ là Đức vua rất tin cậy vào chúng ta, và nếu có một kẻ phiến loạn nào rơi vào tay anh thì anh nên coi chừng vì gia đình anh cũng sẽ bị nghi vấn là có quan hệ với quân phiến loạn.
- Chao ôi! Thưa bà, chức vụ của tôi đã buộc tôi phải nghiêm khắc. Napoleon ở đảo Elba rất gần đất Pháp chính là niềm hy vọng của họ. Marseilles hàng ngày thiếu gì những kẻ kiếm chuyện gây sự với những người bảo hoàng.
- Phải đó - Bá tước de Salvieux, bạn của Saint-Méran tiếp lời - Ở Paris người ta đã tính đến chuyện đưa ông ta ra đảo Saint Helena ở xích đạo, cách xa nước Pháp hai nghìn dặm.
- Đúng thế, Liên minh Thần thánh (7) đã đuổi Napoleon ra khỏi châu Âu, - Hầu tước phu nhân nói, - cũng như Villefort sẽ đuổi những kẻ phiến loạn ra khỏi Marseilles.
- Thưa bà, - Villefort mỉm cười, - tôi không làm ổn định tình thế, tôi chỉ trả thù, có thế thôi.
- Ồ, anh Villefort, - một người bạn gái của Renée nói, - em đang mong được dự một phiên tòa đại hình vì người ta nói rằng nó ly kỳ lắm.
- Vâng thưa cô, ly kỳ lắm, vì đó là một tấn bi kịch thật sự, - Villefort trả lời. - Một người đang sống yên lành ở nhà, ngày hôm sau bị tống vào nhà tù với tên đao phủ. Đối với những người đang tìm những xúc cảm mạnh, cảnh tượng đó rất đáng xem và lần này tôi sẽ không quên mời cô.
- Câu chuyện của anh làm em rùng mình, - Renée nói.
- Ngài Villefort thật là một người cần thiết cho chế độ chúng ta. - Một khách dự tiệc lên tiếng.
Giữa lúc đó, một người hầu phòng vào nói nhỏ điều gì đó với Villefort. Viên phó biện lý liền đi ra ngoài một lát rồi trở vào vẻ mặt tươi cười hớn hở.
 
 
 

Renée say đắm nhìn người chồng chưa cưới của mình, một thanh niên lịch sự, đẹp trai, có nước da trắng và bộ ria mép đen. Villefort cho biết :
- Người ta lại mới đến quấy rầy bữa tiệc đính hôn của tôi. Lần này thật là một trường hợp nghiêm trọng. Người ta vừa phát giác ra một nhóm Bonapar phản động và đây là bức thư tố cáo.
Villefort đọc bức thư tố cáo cho mọi người nghe. Renée nói :
- Nhưng bức thư gửi cho quan Chưởng lý kia mà và, hơn nữa, lại là một bức thư nặc danh.
- Phải, quan Chưởng lý đang đi vắng, anh được quyền thay. Thủ phạm đã bị bắt.
- Anh Villefort, - Renée chắp hai tay vào nhau nói, - anh nên độ lượng vì hôm nay là ngày đính hôn của chúng ta.
- Em đừng lo, anh sẽ cố gắng làm tròn phận sự.
- Ồ, Villefort, - Hầu tước phu nhân nói. - Anh đừng có nghe nó.
- Dạ, thưa bà, tôi sẽ làm tròn phận sự phó biện lý theo đúng lương tâm tôi, nghĩa là rất khắc nghiệt.
Villefort nói xong, nhìn người vợ chưa cưới của mình như muốn nói : “Em Renée, em cứ yên trí, anh sẽ độ lượng”.
Renée âu yếm nhìn người chồng chưa cưới, và Villefort rời khỏi bàn tiệc.
 
 
--------------------------------------------------------
(5) Tức Napoleon Bonapar (ND).
(6) Ngày Napoleon bị đánh đổ.
(7) Liên minh các nước châu Âu chống Napoleon.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 7 
HỎI CUNG

Villefort vừa ra khỏi phòng ăn thì lập tức y trút bộ mặt vui vẻ để lấy lại bộ mặt nghiêm nghị mà nghề nghiệp của một kẻ nắm vận mệnh người khác bắt buộc phải như thế. Thật vậy, ngoài cái xu hướng chính trị của người cha khiến y phải suy nghĩ thì Gérard de Villefort là một người sung sướng vì mới hai mươi bảy tuổi, y đã có một địa vị khá cao trong ngành thẩm phán, có nhiều tiền của. Hơn nữa y lại sắp sửa kết hôn với tiểu thư Renée  de Saint-Méran, dòng dõi một gia đình có lắm quyền thế lúc bấy giờ. Điều đó sẽ đem lại cho ý một món hồi môn gần nửa triệu.
Ra tới cổng, gặp viên quận trưởng cảnh binh đang đứng chờ, y nói :
- Tôi đã đọc bức thư tố cáo, xin ông cho biết chi tiết về thủ phạm vụ âm mưu này.
- Những giấy tờ khám thấy trong người nó đã được niêm phong và để trong văn phòng của ngài. Còn thủ phạm tên Edmond Dantès, thuyền phó tàu Pharaon chuyên chở bông từ Ai Cập đến Marseilles cho công ty Morrel & Son. Nó hãy còn trẻ lắm, mới độ mười chín, hai mươi tuổi.
Vừa lúc đó một người đang đứng chờ ở đầu phố chạy đến, đó là ông Morrel, ông nói :
- Thưa ngài Villefort, người ta vừa bắt người thuyền phó của tôi. Có thể là một sự nhầm lẫn. Tôi xin cam đoan với ngài anh ta quả là một người hiền lành, lương thiện nhất, một người làm việc rất đắc lực của công ty chúng tôi, tôi xin thành thực bảo lãnh với ngài.
- Ông nên biết rằng - Villefort lạnh lùng nói - người ta chỉ hiền lành lương thiện trong đời tu, còn về chính trị thì không như thế đâu. Ông cứ yên tâm, tôi sẽ làm việc hết sức vô tư, và nếu quả thật anh ta có tội thì trong giai đoạn khó khăn này tôi buộc phải thừa hành công vụ.

Nói xong, Villefort gật đầu chào ông chủ tàu còn sững sờ đứng đó, rồi bước vào một tòa nhà bên cạnh tòa án. Phòng ngoài đông đặc những sen đầm và cảnh binh vây lấy phạm nhân, còn phạm nhân vẫn đứng yên lặng và bình tĩnh. Villefort đi qua, liếc mắt nhìn Dantès và cầm lấy cái gói do một cảnh binh đưa cho. Y bước vào bàn giấy và ra lệnh dẫn phạm nhân vào. Mặc dù mới chỉ nhìn thoáng qua Villefort cũng nhận thấy chàng trai này có vầng trán rộng thông minh, cặp mắt can đảm, cái miệng chân thật để lộ hai hàm răng trắng bóng.

Ngay sau đó, Dantès bước vào, mặt anh hơi tái nhưng vẫn bình tĩnh. Anh mỉm cười cúi đầu chào người đại diện cho công lý Villefort hỏi tên tuổi nghề nghiệp rồi hỏi tiếp Dantès.
- Anh làm gì trước lúc bị bắt?
- Tôi đang dự bữa tiệc đính hôn của tôi với một cô gái mà tôi yêu từ ba năm nay.
Villefort thường ngày vẫn thản nhiên cũng phải giật mình về sự trùng hợp đó. Giọng nói cảm động của Dantès làm thức tỉnh một chút tình cảm trong thâm tâm y, vì bản thân Villefort cũng sắp lấy vợ, cũng sắp được hưởng hạnh phúc như anh ta.
- Trước kia anh có làm việc cho Bonapar không?
- Tôi sắp vào hải quân thì ông ta bị truất ngôi.
- Người ta nói anh có những tư tưởng chính trị quá khích.
- Những tư tưởng quá khích? Chao ôi thưa ngài! Tôi chưa có một chính kiến nào, tôi mới mười chín tuổi, chỉ biết làm việc.
Nhìn bộ mặt hiền lành cởi mở của anh, Villefort chợt nghĩ tới câu nói của Renée xin độ lượng cho phạm nhân và Villefort cảm thấy hình như anh ta bị oan uổng. Có lẽ niềm hạnh phúc đã làm cho những kẻ ác trở nên tốt bụng hơn. Bộ mặt Villefort trở nên tươi tỉnh, y tiếp tục :
- Anh có ai thù hằn không?
- Thưa ngài, ở địa vị nhỏ bé của tôi, thì còn có ai thèm thù hằn. Tôi có hơn mười thủy thủ dưới quyền, tôi coi họ đều là anh em.
- Nếu không có kẻ thù thì chắc phải có người ghen ghét. Anh mới mười chín tuổi, sắp làm thuyền trưởng và kết hôn với một cô gái đẹp yêu anh, đó là một hạnh phúc hiếm có.
- Ngài hiểu biết lòng người hơn tôi, nhưng tôi tin rằng nếu trong số bạn hữu của tôi có người nào ghen ghét thì tôi cũng không muốn biết để căm thù.
- Anh nghĩ sai rồi, anh phải nhìn xung quanh với con mắt sáng suốt và thấy anh là người thật thà, tôi muốn giúp anh tìm ra ánh sáng của bức thư tố giác này. Anh có nhận ra chữ của ai không?
Nói xong Villefort đưa bức thư tố giác cho Dantès. Anh đọc xong, cau mày nói :
- Thưa ngài, tôi không nhận ra chữ của ai cả và tôi rất đội ơn sự tận tâm của ngài. Bức thư viết rất khéo léo, chứng tỏ người ghen ghét tôi là một kẻ có tâm địa rất ghê gớm.
- Những lời tố cáo có đúng sự thật không? - Villefort quẳng bức thư xuống bàn hỏi.
- Tôi xin thành thật nói với ngài là khi tàu vừa rời khỏi Naples, ông thuyền trưởng bỗng nhiên bị ốm nặng. Ba ngày sau ông biết mình không sống được nữa, ông ra lệnh cho tôi lái tàu đến đảo Elba, đổ bộ lên Porto-Ferrajo, trao một bức thư cho Thống soái và có thể được giao một nhiệm vụ khác nữa. Hôm sau ông Leclere tạ thế. Tôi làm theo lời dặn dò của ông ấy. Tôi đã gặp Thống soái, trao bức thư nói trên và sau đó Thống soái đưa cho tôi một bức thư khác, dặn tôi phải đích thân đi Paris trao cho một người bạn của Thống soái.

- Đúng rồi - Villefort nói - Tôi tin rằng đó là sự thật, và nếu anh có tội chẳng qua vì đã dại dột tuân theo mệnh lệnh của viên thuyền trưởng. Anh đưa bức thư đó cho tôi và sau khi sự việc được xác minh, tôi sẽ ra lệnh thả anh.
- Vậy là tôi sẽ được trả lại tự do, thưa ngài? - Dantès vui sướng hỏi lại.
- Phải, nhưng đưa bức thư đây đã.
- Bức thư đó ở ngay trước mặt ngài, lẫn trong số giấy tờ mà người ta đã khám thấy trong người tôi.
- Xem bức thư gửi cho ai nào?
Villefort vừa nói vừa lục trong đám giấy tờ, rút ra bức thư và đọc thấy địa chỉ người nhận : “Gửi ngài Noirtier số 13 phố Coq-Héron, Paris”.
Giá như sét có đánh trên đầu Villefort thì cũng không làm cho y choáng váng nhanh đến thế. Y đã toan đứng lên, sắp sửa ra đi, bỗng lại ngồi thụp xuống chiếc ghế bành, mặt tái nhợt, nhìn bức thư với đôi mắt hoảng sợ. Dantès ngạc nhiên hỏi :
- Ngài có biết người đó là ai không?
- Không - Villefort đáp - Một bầy tôi trung thành của Đức vua không thể quen biết những tên phiến loạn được. Anh đã đưa bức thư cho ai xem chưa?                         
- Tôi không biết nội dung bức thư nói gì và tôi cũng chưa cho ai xem cả.
- Tất cả mọi người đều không biết anh mang bức thư gửi cho Noirtier ở Paris chứ?
- Không một ai biết cả.
- Quá lắm! - Quá lắm! - Villefort lẩm bẩm, vầng trán y nhăn lại làm khuôn mặt càng trở nên tối tăm, đôi môi nhợt nhạt, cặp mắt long lên, đôi bàn tay run rẩy ôm lấy đầu.
- Trời! Ngài làm sao thế? - Dantès ngạc nhiên hỏi.
Villefort không đáp, ngẩng khuôn mặt bơ phờ, nhìn bức thư một lần nữa rồi nói tiếp :
- Anh nói là không biết nội dung bức thư, có đúng thế không?
- Tôi xin lấy danh dự mà thề rằng tôi hoàn toàn không biết gì cả.
Villefort lấy tay vuốt những giọt mồ hôi chảy đầm đìa trên trán, đọc lại bức thư đến lần thứ ba, rồi nghĩ bụng : “Nếu hắn biết nội dung bức thư, nếu hắn biết Noirtier là bố của ta thì sự nghiệp của ta sẽ đi đời, sẽ mất sạch”.
- Không còn nghi ngờ gì nữa! - Y bỗng thốt lên.
- Nhưng trời ơi! - Anh thanh niên đáng thương nói - Nếu ngài ngờ vực tôi, tôi xin sẵn sàng trả lời những câu hỏi của ngài.
- Những lời tố cáo anh vô cùng nghiêm trọng, tôi không có đủ thẩm quyền như tôi đã tưởng để trả lại tự do cho anh, và trước khi có một quyết định, tôi cần phải hỏi ý kiến quan chánh án đã. Anh thấy rõ thái độ của tôi đối với anh chứ?
- Dạ, ngài thật là một người tốt bụng, tôi xin đa tạ ngài.
- Này anh bạn, tôi chỉ giữ anh lại một ít lâu nữa thôi. Còn bức thư đã làm anh mắc tội, anh xem đây này...
Villefort đến gần lò sưởi ném bức thư vào lửa, đợi nó cháy hết rồi nói :
- Tôi đã thiêu hủy nó rồi. Bây giờ anh có thể tin tưởng vào tôi.
- Tôi sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh của ngài.
- Không phải là mệnh lệnh, mà là những lời khuyên bảo. Chỉ có anh là thấy bức thư đó, bây giờ nó không còn nữa. Sau này có ai hỏi anh, anh phải chối là không hề có nó và thế là anh sẽ thoát nạn. Anh hãy thề đi.
- Thưa ngài, tôi xin thề! Ngài cứ yên tâm.

Villefort kéo chuông, viên quận trưởng cảnh sát đi vào. Villefort rỉ tai hắn vài câu và hắn gật đầu, rồi quay lại bảo Dantès.
- Anh cứ yên tâm theo ông quận trưởng.
Dantès cúi chào, nhìn Villefort bằng con mắt hàm ơn.
Hai người vừa đi khỏi, Villefort đã ngã gục xuống ghế như người bị kiệt sức, lẩm bẩm : “Trời ơi! Định mệnh thật éo le... Nếu quan Chưởng lý có mặt hôm nay ở Marseilles và quan Chánh án hỏi cung thay ta thì ta hết đời vì bức thư đáng nguyền rủa đó. Ôi! Cha ơi cha! Cha còn cản trở bước đường tiến thân của con đến bao giờ nữa?!”.
Rồi đột nhiên, một ý nghĩ thoáng hiện trong đầu óc y. Bộ mặt nhăn nhó của y trở lại tươi tỉnh, một nụ cười nở trên đôi môi đang mím chặt. Y nghĩ thầm : "Đúng rồi, bức thư đáng lẽ làm hại ta, nhưng ngược lại nó sẽ có thể mạng lại giàu sang, vinh hiển cho ta. Phải hành động ngay mới được".
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 8 
LÂU ĐÀI IF

Viên quận trưởng, ra khỏi phòng, gọi hai cảnh binh kèm Dantès, rồi đưa anh đi qua một hành lang tối om, rùng rợn, thông sang tòa án và từ đó ăn thông luôn sang trại giam. Sau khi đi quanh co một lúc, họ dẫn Dantès đến một cái cửa có chấn song. Viên quận trưởng cầm một cái dùi sắt gõ ba tiếng. Tiếng vang như dội vào trái tim anh. Dantès bước qua khung cửa khủng khiếp, anh hít phải thứ không khí nặng nề, hôi hám. Thế là anh đã vào tù. Người ta dẫn anh vào một buồng giam có cửa sắt rồi khóa trái lại. Tuy nhiên anh vẫn chưa lấy làm sợ hãi lắm vì lời nói của viên phó biện lý còn văng vẳng bên tai. Hôm đó là một ngày đầu tháng Ba. Một lát sau, căn buồng chìm ngập trong đêm tối. Vào khoảng mười giờ, có tiếng chân người đi trong hành lang và dừng lại trước cửa buồng giam. Tiếng mở khóa lách cách và cánh cửa mở ra. Dưới ánh sáng của hai ngọn đuốc, Dantès nhìn thấy bốn lưỡi lê sáng loáng của mấy người cảnh binh bồng súng. Anh hỏi :
- Ngài phó biện lý cho đòi tôi chăng?
- Hình như thế - Một cảnh binh đáp.
Câu trả lời mang lại cho Dantès một tia hy vọng le lói. Anh bình tĩnh đi theo họ. Một cỗ xe đã chờ sẵn ở cửa trại giam. Chẳng chút ngần ngại, Dantès bước lên xe. Cỗ xe chuyển bánh. Anh nhìn qua cửa xe có chấn song sắt và thấy xe chạy về phía bến cảng. Một lát sau, xe dừng lại trước hàng rào kiểm soát. Một tiểu đội lính cầm súng, lưỡi lê tuốt trần, dàn thành một hàng rào từ cỗ xe xuống bến tàu. Người ta đưa anh xuống một chiếc xuồng buộc sẵn ở đó và để anh ngồi ở đằng lái với bốn cảnh binh. Chiếc xuồng rời bến, anh được hít thở không khí trong lành của biển cả và đêm tối. Anh cảm thấy khoan khoái bèn chắp hai tay vòng lại, ngửa mặt lên trời cầu nguyện. Chiếc xuồng vẫn từ từ đi xa bờ, rồi vượt qua cây đèn biển.

- Người ta đem tôi đi đâu thế này? - Dantès ngạc nhiên hỏi một cảnh binh.
- Lát nữa anh sẽ rõ, chúng tôi không được phép nói cho anh biết.
Dantès lặng thinh, nghĩ đến những câu chuyện vẩn vơ, và bằng con mắt từng quen thuộc với đêm tối, anh cố chọc thủng tấm màn bí mật. Xuồng đi qua xóm Catalans, gần sát bờ, anh nom thấy có ánh đèn le lói và bóng một người con gái dường như đang đứng thẫn thờ chờ anh. Liệu linh tính có báo cho Mercédès biết người yêu của cô đang ở cách cô có vài trăm bước không? Anh muốn kêu to lên một tiếng, nhưng rồi kìm lại được vì sợ mấy người lính áp tải cho anh bị hóa điên. Xuồng vẫn tiếp tục lướt sóng. Dantès chăm chú nhìn về phía trước mặt cách xa anh vài trăm sải, một hòn núi đá hiểm trở in hình một tòa lâu đài đen ngòm. Anh kêu lên :
- Trời ơi! Lâu đài If! Tại sao đưa tôi đến đây? Lâu đài If là một nhà ngục cho những tù chính trị quan trọng. Tôi chẳng làm chính trị, tôi chẳng có tội tình gì, người ta bỏ tù tôi không bằng chứng, không có án tù, ngài Villefort đã hứa rồi kia mà...
            Một cảnh binh trên ngắt lời:
- Tôi chẳng biết ngài Villefort đã hứa hẹn những gì với anh. Nhưng tội trạng đã rành rành ra đây. Bây giờ chúng tôi được lệnh phải đem anh đến lâu đài If.
 

Nhanh như chớp Dantès vụt đứng lên, toan lao xuống biển. Nhưng bốn bàn tay khỏe mạnh đã giữ anh lại. Anh kêu lên một tiếng thất vọng rồi nằm vật xuống.
- Không xong đâu - Tên cảnh binh nói và lấy đầu gối đè lên ngực anh - Này anh bạn, chỉ cần anh cử động là tôi sẽ cho anh xơi ngay một viên đạn. - Và hắn chĩa mũi súng vào thái dương anh.
Lời hứa hẹn của Villefort vụt trở lại trong óc Dantès và anh thấy ghê tởm rằng mình phải chết trong tay của tên cảnh binh này. Ngay lúc đó xuồng bị lay mạnh và tiếng thừng kéo cọt kẹt cho anh biết xuồng đã cập bến. Mấy tên cảnh binh giữ chặt tay anh và nắm cổ áo anh, lôi anh lên bờ. Dantès không kháng cự, anh đi như người say rượu, bước lảo đảo lên những bậc thang, qua một cánh cửa, như một cái máy. Rồi cánh cửa khép ngay lại sau lưng anh. Anh nhìn mọi vật xung quanh như qua một lớp sương mù. Anh thấy mình đứng giữa một cái sân có bốn bức tường cao vút nghe thấy tiếng bước chân chậm chạp, đều đều của bọn lính canh.

Có tiếng người hỏi :
- Phạm nhân đâu rồi?
Tên lính canh đẩy Dantès lên phía trước. Anh đi theo người dẫn đường tới một cái hầm ẩm ướt và trần trụi. Một ngọn đèn dầu cháy le lói đặt trên một chiếc ghế đẩu chiếu sáng bộ mặt bỉ ổi của tên cai ngục. Hắn bảo Dantès :
- Đêm nay anh ngủ tạm ở đây. Bây giờ khuya rồi, ông giám thị đã đi ngủ. Sáng mai anh có thể được chuyển đi nơi khác Anh cầm lấy miếng bánh này, còn nước ở trong cái hũ kia, và đống rơm trong góc buồng là nơi anh ngả lưng.
Không để cho Dantès có thì giờ nhìn miếng bánh, hũ nước và đống rơm ở đâu, tên cai ngục vội xách đèn đi ra và đóng sập cửa lại. Thế là còn mình anh đứng trơ trọi trong bóng tối, giữa những bức tường ẩm ướt và giá lạnh đến ghê người.
 

Tờ mờ sáng hôm sau, tên cai ngục vào và nhìn thấy Dantès vẫn còn đứng nguyên tại chỗ không nhúc nhích, mắt nhìn xuống đất. Vậy là anh đã đứng suốt đêm không ngủ. Hắn đến vỗ vai làm anh giật mình :
- Anh không ngủ à?
- Tôi không biết nữa.
- Anh không đói à?
- Tôi không biết nữa.
- Anh muốn gì?
- Tôi muốn gặp ông giám thị.
Tên cai ngục bước ra và đóng sầm cửa lại.
Dantès nhìn theo hắn. Anh nắm chặt tay vào song cửa sắt. Lồng ngực anh như sắp vỡ ra, anh khóc nức nở. Anh quỳ xuống, dập đầu xuống đất và cầu nguyện rất lâu. Anh ôn lại dĩ vãng, tự hỏi không biết vì sao mới mười chín tuổi đầu, anh đã làm gì nên tội mà phải chịu hình phạt này.
Suốt ngày hôm đó, anh chỉ ăn vài mẩu bánh và uống vài ngụm nước. Lúc thì anh trầm ngâm suy nghĩ, lúc thì lòng lộn đi quanh buồng như con thú dữ trong chuồng. Ngày hôm sau nữa, cũng vào giờ đó, tên cai ngục lại trở lại. Hắn nói :
- Ngày hôm nay chắc là anh biết điều hơn. Phải can đảm lên một tí chứ! Anh muốn tôi giúp việc gì, nếu có thể, tôi sẽ giúp.
- Tôi muốn gặp ông giám thị.
- Không có lệnh cho anh được chuyển buồng. Nội quy không cho phép anh được gặp ông giám thị.
- Thế người ta cho phép tôi làm gì?
- Anh được phép mua thức ăn, ra sân chơi và đọc sách.
- Tôi chả cần sách vở, chơi bời gì hết. Tôi ăn uống thế nào cũng mặc tôi, chỉ cần gặp ông giám thị thôi.
- Nếu anh cứ bướng bỉnh như vậy, tôi sẽ không cho anh ăn nữa!
- Được tôi sẽ nhịn đói cho đến chết.
Giọng nói cương quyết của Dantès làm tên cai ngục giật mình, vì cái chết của một tù nhân làm hắn thiệt mỗi ngày mười xu hắn bèn đấu dịu :
- Này anh bạn, không bao giờ một ông giám thị lại bước vào buồng một phạm nhân. Nhưng nếu anh ngoan ngoãn thì tôi sẽ cho anh ra sân chơi, và lúc nào đó, nếu ông giám thị đi ngang qua, anh có thể được gặp mặt và hỏi chuyện.
- Nhưng đến bao giờ tôi mới gặp được sự may mắn ấy?
- Mẹ kiếp! Có thể là một tháng, ba tháng, sáu tháng hoặc một năm không chừng.
- Thế thì lâu quá. Tôi không thể chờ được. Tôi muốn gặp ông ấy ngay bây giờ.
- A ha! Anh đừng nên nghĩ vớ vẩn như vậy. Cứ nghĩ như vậy thì mươi lăm ngày nữa anh sẽ hóa điên mất thôi!
- Chắc không?
- Sao lại không chắc! Lão thầy tu, trước đây ở gian buồng này cứ lải nhải mãi là sẽ tặng một triệu đồng cho ông giám thị nếu lão được trả lại tự do, rồi sau cũng đâm ra mất trí.
- Ông ta rời phòng này bao lâu rồi?
- Hai năm
- Người ta thả ông ta rồi ư?
- Không, người ta nhốt lão vào hầm kín.
- Tôi không phải là thầy tu và cũng không phải là thằng điên để hứa tặng ông một triệu. Tôi có thể cho ông một trăm đồng nếu ông mang cho tôi một bức thư gửi cho cô Mercédès, ở Marseilles, xóm Catalans...
- Nếu bị bại lộ, tôi sẽ mất việc làm với số lương hai ngàn francs mỗi năm. Tôi chả dại gì mà làm việc ấy.
- Vậy thì nghe đây! Nếu ông từ chối không chuyển thư cho tôi thì một ngày kia, ông đi vào đây, tôi sẽ nấp sau cánh cửa và cầm cái ghế này choảng cho ông vỡ sọ ra.
- Anh dọa tôi hả? - Tên cai ngục lùi lại nói : - Đầu óc anh đã bắt đầu quay cuồng rồi. Lão thầy tu lúc đầu cũng đã có hành động như anh. Chỉ ba ngày nữa anh cũng hóa điên. Cũng may trong lâu đài If này còn nhiều hầm kín lắm.
Dantès liền cầm lấy chiếc ghế đẩu và quay tròn một vòng trên đầu hắn. Hắn nói :
- Được lắm, được lắm! Ta sẽ đi báo ông giám thị theo đúng ý của anh.

Một lát sau hắn trở lại với bốn tên lính và một viên đội xếp, hắn nói :
- Theo lệnh ông giám thị, các anh đem nhốt tên này vào hầm kín. Cho những thằng điên vào ở với nhau.
Bốn tên lính túm lấy Dantès lôi đi. Anh bước xuống mười lăm bậc thang như người mất hồn và bị đẩy vào hầm kín.
Khi cửa hầm đóng lại, anh giơ thẳng tay về phía trước mò mẫm đi và đụng vào tường. Anh ngồi xuống một góc hầm, không nhúc nhích và mở to đôi mắt đã quen nhìn trong bóng tối để cố nhận ra những vật xung quanh.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 9 
TỐI HÔM LỄ ĐÍNH HÔN

Villefort quay lại phố Grand Cours vào nhà hầu tước Saint-Méran. Y thấy khách dự tiệc đã sang phòng khách dùng cà phê. Mọi người đang chờ y, nhất là Renée. Villefort lại gần bà mẹ vợ tương lai, nói :
- Thưa hầu tước phu nhân, xin phu nhân tha lỗi cho tôi đã bỏ dở bữa tiệc, và rồi tôi lại phải đi ngay bây giờ vì một câu chuyện vô cùng hệ trọng... Và xin hầu tước cho phép tôi được nói chuyện riêng với ngài một lát.
- Việc quan trọng đến thế kia ư? - Lão hầu tước hỏi.
- Dạ, quan trọng lắm - Rồi Villefort quay sang Renée nói tiếp - Anh sẽ phải xa em một vài ngày.
- Anh đi đâu? - Renée xúc động hỏi.
- Anh muốn nói chuyện riêng với tôi phải không? - Lão hầu tước nói - Vậy xin mời anh vào văn phòng tôi. Rồi lão khoác tay Villefort đi vào.
- Thưa hầu tước, tôi phải cấp tốc đi Paris. Xin hầu tước tha lỗi vì một câu hỏi tò mò hơi lỗ mãng của tôi : Hầu tước có lợi tức đồng niên không?
- Tôi có những trái phiếu vào khoảng sáu bảy triệu francs, đó là cả gia sản của tôi.
- Vậy thì hầu tước phải bán ngay đi, nếu không muốn nay mai sẽ bị phá sản.
- Mẹ kiếp! Tôi biết làm sao bây giờ?
- Hầu tước nên viết ngay một giấy ủy quyền cho tôi, rồi gửi giấy đó cho người quản lý tài sản của hầu tước tại Paris, và viết thêm một bức thư riêng để tôi được bệ kiến Đức vua mà không phải qua các nghi thức ở cung đình, để khỏi làm chậm trễ công việc của tôi.
- Trong lúc chờ đợi, anh hãy tranh thủ chuẩn bị hành trang.

Villefort vội vàng đi ra. Vừa ra khỏi cửa, y đã thấy một cô gái Catalans xinh đẹp đang đứng yên lặng, chờ đợi. Đó chính là Mercédès đang đi dò hỏi tin tức của Dantès. Cô rất muốn biết anh bị bắt vì nguyên nhân gì. Villefort đã được Dantès nói cho biết về người vợ chưa cưới của mình nên y nhận ra ngay cô gái. Y nói với Mercédès :
- Này, anh ta đã mắc trọng tội, tôi không thể nào gỡ cho được.
- Thưa ngài, bây giờ anh ấy ở đâu? - Cô gái vừa khóc nấc lên vừa hỏi.
- Tôi không biết. Anh ta không còn thuộc quyền của tôi nữa rồi.
Nói xong, Villefort gạt Mercédès ra và đi thẳng. Về đến nhà, y đóng cửa lại, gieo mình xuống ghế bành, thở dài. Một cái ung nhọt hiểm nghèo vừa chớm phát trong trái tim bệnh hoạn của y. Y thấy con người mà y đã đem làm vật hy sinh cho tham vọng của mình, con người vô tội mà y đã đem trả nợ thay cho người cha tội lỗi của y, tay anh ta dắt theo người yêu đang xuất hiện trước mặt y với bộ mặt xanh xao và đe dọa, làm y hối hận và đau nhói trong tim. Trong đầu óc y đã có một giây phút do dự. Nếu lúc đó mà có tiếng nói dịu dàng của Renée xin khoan dung cho Dantès, nếu Mercédès nói với y : “Nhân danh Thượng đế chí tôn, xin ngài trả lại người chồng chưa cưới cho tôi!” thì có lẽ y đã ký giấy phóng thích cho chàng thanh niên bị oan uổng đó. Nhưng trong căn buồng tĩnh mịch mà y đang ngồi lại không có lấy một tiếng nói nào. Một lát sau cửa mở, một người hầu phòng bước vào và thưa rằng xe đã sẵn sàng. Villefort nhảy chồm lên như một kẻ chiến thắng trong một cuộc giao tranh thầm kín. Y ra mở ngăn kéo bàn, dốc vào túi tất cả số vàng bạc có trong đó, khoác vội chiếc áo choàng lên vai và bước ra. Y nhảy lên xe, ra lệnh quay lại phố Grand Cours.

Mercédès thất vọng trở về xóm Catalans, người rũ rượi. Cô nằm vật xuống giường như sắp chết. Fernand quỳ gối dưới chân cô, ôm hôn đôi bàn tay giá lạnh của cô. Mercédès mê man suốt một đêm, trời sáng lúc nào không hay. Nỗi đau khổ đã làm cô tê liệt mọi cảm giác.
Ông Morrel cũng lo chạy chọt hết người này đến người kia. Nhưng vì Dantès bị buộc tội là tay sai của Napoleon, trong lúc Napoleon lại đang lăm le trở về cướp lại chính quyền, nên không ai dám dây vào chuyện đó e bị vạ lây.

Còn gã Caderousse suốt ngày chỉ làm bạn với chai rượu, không dám vác mặt ra ngoài vì lo sợ và bị lương tâm cắn rứt.
Riêng Danglars, hắn chẳng chút sợ hãi và không hề bị giày vò bởi việc làm của mình. Ngược lại, hắn thấy vui sướng vì đã chiếm được địa vị trên chiếc tàu Pharaon từ tay địch thủ. Hình như hắn đã sinh ra với cái bút và lọ mực thay thế trái tim, và cuộc sống đối với hắn chỉ là cộng trừ lỗ lãi. Một đối thủ bị loại trừ và số lợi tức của hắn được cộng thêm vào làm cho hắn càng ăn ngon, ngủ kỹ.
Villefort bỏ hai bức thư vào cặp, ôm hôn cô Renée, hôn tay hầu tước phu nhân, bắt tay hầu tước Saint-Méran, trèo lên xe ngựa và thẳng đường đến Paris, trong lúc ông già Dantès, đang lo sợ và đau đớn khôn cùng.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 10 
PHÒNG NHỎ TRONG ĐIỆN TUILERIES

Tại một phòng nhỏ trong điện Tuileries, nơi trước kia Hoàng đế Napoleon vẫn làm việc, vua Louis XVIII đang ngồi trước một bàn giấy bằng gỗ lúp, nghe một vị cận thần, tuổi quãng năm mươi, tóc đã hoa râm, khuôn mặt quý tộc trang nghiêm, đang trình bày tình thế hiện tại.
- Tâu bệ hạ, sắp có nạn đói. Nhưng với một người ngày đêm chăm lo đến quốc sự như bệ hạ, chúng ta có thể tránh được. Nhưng hạ thần cho rằng việc đáng lo ngại là tình hình mấy tỉnh miền Nam. Hiện ở đó đang ngấm ngầm một mưu toan nổi dậy.
- Bọn nào thế - Louis XVIII lơ đễnh hỏi - Quận công Blacas thân mến, ông chỉ hay đem tới cho ta những tin khủng khiếp.
- Chính là Bonapar và phe cánh của y - Quận công Blacas nói - Tôi buộc lòng phải tâu với bệ hạ rằng đó hoàn toàn không phải là tin đồn đại. Tôi có một người thân tín chuyên theo dõi tình hình miền Nam. ông ta vừa tới đây và cho biết rằng bệ hạ có thể bị lâm nguy.
- Này, quận công, mời ông hãy đọc bản báo cáo của ông Bộ trưởng Cảnh sát mới gửi cho tôi hôm qua, nó còn nằm ở ngay phía tay trái tôi đây. À hay quá, nam tước Dandré cũng vừa đến kia rồi.

Nam tước Dandré, vẻ mặt tươi tỉnh, bước vào. Ông ta đứng tì tay lên một cái ghế bành, hỏi :
- Bệ hạ đã đọc bản báo cáo của tôi ngày hôm qua chưa?
- Có đấy - Louis XVIII mỉm cười trả lời - Bonapar đang buồn chết đi được, suốt ngày chỉ ngắm bọn thợ mỏ làm việc. Có lẽ ông ta ngồi gãi ghẻ để giải buồn đấy - Louis XVIII tiếp tục giễu cợt - Con người vĩ đại, vị anh hùng, bậc á thánh ấy có lẽ đã mắc bệnh ngoài da, nó đang hành hạ ông ta.
- Còn hơn thế nữa - ông Bộ trưởng Cảnh sát phụ họa theo - Chỉ ít bữa nữa y sẽ hóa điên. Thỉnh thoảng y khóc nức nở rồi lại cười ha hả và đứng hàng giờ trên bãi biển ném những hòn sỏi xuống nước. Đó là những triệu chứng của bệnh thần kinh.
Quận công Blacas hết sức bực mình trước cái lối bông phèng của hai người, bèn lên tiếng :
- Hay hắn ta đang khôn ngoan thêm ra cũng chưa biết chừng!
- Thế ra ngài vẫn chưa tin à? - Nam tước Dandré nói - Mới đây Bonapar đã chịu lễ rửa tội. Và một hôm có hai người lính già vẫn theo hầu hạ y ngỏ ý muốn trở về Pháp, y đã cho phép họ trở về phục vụ Đức vua mới. Sự thể đúng như vậy.
- Thế nào quận công Blacas? - Louis XVIII nói với vẻ đắc thắng - ông nghĩ thế nào?
- Tâu bệ hạ, giữa ngài Bộ trưởng Cảnh sát và tôi, có thể có người sai lầm. Nhưng tôi nghĩ rằng để cho nam tước Dandré có nhiệm vụ bảo vệ Đức vua thì chính tôi đã lầm. Bây giờ xin bệ hạ cho phép tôi gọi người thân tín của tôi ở Marseilles vừa tới đây được vào bệ kiến.
- Tên người đó là gì?
- De Villefort, con của nguyên lão nghị viện Noirtier, có chân trong phe đảng Girondin như bệ hạ đã biết.
- Sao bệ hạ lại dùng con trai lão ta? - Dandré hỏi.
- Ông bạn ơi, ông đừng có lo - Louis XVIII trả lời - Villefort là một gã có nhiều tham vọng, hắn sẽ hy sinh tất, kể cả cha hắn. Cho gọi hắn vào.

Villefort bước vào phòng, quần áo hãy còn xộc xệch và bám đầy bụi đường. Tuy như thế là không đúng với nghi thức của triều đình nhưng vì theo lệnh của nhà vua nên không ai chú ý đến điều đó. Louis XVIII hỏi :
- Ông De Villefort, quận công Blacas vừa cho ta hay là ông sẽ báo cáo một tin quan trọng.
- Tâu bệ hạ, hạ thần đã có hẳn một bản tường trình rành rọt về vấn đề này. Bây giờ hạ thần chỉ có thể tâu vắn tắt với bệ hạ là hạ thần vừa khám phá một âm mưu đảo chính rất nguy hại cho ngôi báu của bệ hạ. Kẻ chiếm ngôi đã trang bị đầy đủ cho ba chiến thuyền, giờ đây đã rời khỏi đảo Elba đi Naples hoặc trở về Pháp chưa biết chừng, vì bệ hạ lưu ý cho là y còn có phe cánh ở Ý và ở Pháp.
- Ta biết việc đó rồi, Louis XVIII nói vẻ xúc động - ông nói tiếp đi.
- Hạ thần vừa hạ lệnh bắt một tên thủy thủ ngỗ ngược thân Bonapar mà hạ thần đã cho theo dõi từ lâu. Tên phản nghịch đó đã bí mật đến đảo Elba để trao một bức thư của Thống soái Murat cho Bonapar và sẽ liên lạc với nhóm phiến loạn ở Paris đang đón chờ một cuộc đổ bộ nay mai lên đất Pháp.
- Một âm mưu đảo chính trong lúc này không phải dễ dàng đâu - Louis XVIII mỉm cười - Ta đã cho tăng cường việc canh phòng ở bờ biển Địa Trung Hải từ mấy tháng nay. Nếu Bonapar đổ bộ lên đất Ý, y sẽ phải đụng đầu với quân đội của Liên minh Thần thánh. Nếu y đổ bộ lên đất Pháp với một dúm người, y sẽ bị dân chúng quật chết toi ngay. À, nam tước Dandré đã trở về kia rồi.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.09.2020 04:56:30 bởi hoi_ls>
Chương 11 
CON QUỶ ĐẢO CORSE

Viên Bộ trưởng Cảnh sát bước vào, mặt tái mét, cặp mắt lơ láo, người run rẩy. Louis XVIII thấy bộ mặt hốt hoảng của ông ta, vội hỏi :
- Thế nào? Có đúng như lời nói của quận công Blacas mà Villefort vừa xác nhận không?
- Tâu bệ hạ - Dandré quỳ xuống như muốn ôm lấy chân nhà vua - Quả là bất hạnh cho tôi.
- Ông nói đi! - Louis XVIII lùi lại, cau mày.
- Tâu bệ hạ - Dandré tiếp - Kẻ tiếm ngôi đã rời đảo Elba ngày 28 tháng Hai và đổ bộ lên đất Pháp ngày 1 tháng Ba ở cảng Antibes.
- Ở cảng Antibes? Cách Paris hai trăm năm mươi dặm, từ ngày 1 tháng Ba mà mãi đến hôm nay là mồng 3 tháng Ba ông mới biết... Ta không sao tin được. Hoặc ông đã bị người ta báo sai, hoặc ông đã mất trí rồi.
- Chao ôi! Tâu bệ hạ, sự thực quả là như vậy!

Louis XVIII vừa phẫn nộ, vừa run sợ, chồm lên như bị đâm trúng tim và kêu lên :
- Trên đất Pháp! Kẻ tiếm ngôi đã có mặt trên đất Pháp! Không ai đề phòng y cả à? Người ta đều đồng lõa với y à?
Quận công Blacas tiến đến bên cạnh nhà vua và thốt lên :
- Ôi, ông Dandré không phải là kẻ phản bội đâu, tâu bệ hạ! ông ta đã mù quáng, và tất cả chúng ta đều đã mù quáng mất rồi!
- Tâu bệ hạ - Villefort nói - Kẻ tiếm ngôi không được người miền Nam ủng hộ, họ sẽ chống lại y kịch liệt.
- Nhưng y cũng vẫn sẽ tiến, vẫn cứ tiến tới Paris! Còn ở miền Dauphiné thì sao?
- Tôi xin tâu bệ hạ một sự thật đau xót. Cả đám dân miền núi đều ủng hộ Bonapar.
- Y có được bao nhiêu quân tất cả?
- Tâu bệ hạ, tôi không được biết - Bộ trưởng Cảnh sát đáp.
Louis XVIIII cười chua chát :
- Thế nào? Ông không biết hả ông Bộ trưởng Cảnh sát? Chẳng lẽ cái đó không lấy gì làm quan trọng!
- Bức điện chỉ nói ngày đổ bộ chứ không nói quân số.
Louis XVIIII giận tái người :
- Thế là quân đội bảy nước liên minh đã đánh đổ con người đó, và nhờ một phép mầu nhiệm của Thượng đế đã đưa ta lên nối lại ngôi của cha ông ta sau hai mươi lăm năm sống lưu vong. Và bây giờ, khi ta vừa đạt tới nguyện vọng của mình thì một sức mạnh mà ta tưởng đã nắm trong tay lại nổ tung ra làm tiêu tan cả sự nghiệp của ta.
- Tâu bệ hạ, đó là định mệnh! - Bộ trưởng Cảnh sát vừa nói vừa cúi rạp người xuống.
De Blacas đưa tay lên vuốt cái trán ướt đẫm mồ hôi. Villefort cười thầm về cái vai trò quan trọng của hắn. Louis XVIII nói tiếp:
- Ôi! Ngai vàng của ta sẽ sụp đổ. Thà ta bước lên đoạn đầu đài như anh Louis XVI của ta còn hơn là bị đuổi ra khỏi cung điện Tuileries bởi sự lố bịch... Ông Villefort, ông hãy lại gần đây và nói với ông Bộ trưởng Cảnh sát những vấn đề mà ông ta chưa biết. Ông mới chỉ là một anh thẩm phán tầm thường mà còn linh lợi hơn cả một bộ máy cảnh sát và ông có thể bảo vệ được ngôi báu của ta nếu ông có đầy đủ quyền hành như ông ấy.
Villefort nghiêng mình với vẻ đắc thắng, còn Dandré thì nhìn hắn bằng con mắt cay cú.
- Thôi được - Louis XVIII tiếp lời - Bây giờ nhiệm vụ chính là của ông Bộ trưởng Quốc phòng. À này, ông nam tước! Ông có tin gì thêm về vụ phố Saint-Jacques không? Hình như vụ này có liên quan đến cái chết của tướng Quesnel thì phải.
Nghe nói đến tên tướng Quesnel, Villefort giật mình, còn Bộ trưởng cảnh sát thì đáp :
- Dạ, tâu bệ hạ, không phải tướng Quesnel tự sát mà bị ám sát mới đúng. Một kẻ lạ mặt đến tìm tướng Quesnel tại nhà và hẹn gặp ông ta ở phố Saint-Jacques. Người đầy tớ ông ta cho biết kẻ lạ mặt vào khoảng trên năm mươi tuổi, để râu mép, mắt đen và lông mày rậm. Hắn khoác áo choàng màu lơ và ve áo có đeo Bắc đẩu bội tinh. Ngày hôm qua một thám tử của tôi theo dõi một người có đặc điểm nói trên và đến phố Coq-Héron thì người đó biến mất.
Villefort phải tựa người vào lưng ghế vì hắn thấy chân đứng không vững nữa. Chỉ nghe nói kẻ lạ mặt đã thoát, hắn mới thở phào nhẹ nhõm. Louis XVIII bảo Bộ trưởng Cảnh sát :
- Ông phải cố tìm cho bằng được kẻ đó. Hắn có phải là tay chân của Bonapar hay không cũng đều phải trừng trị thích đáng vì tội giết người.

Và quay về phía Villefort, nhà vua bảo :
- Ông Villefort, ông hãy về nghỉ đã. Đi đường chắc xa ông mệt lắm. Ông về nhà ông Noirtier chứ?
- Dạ, tôi trọ ở khách sạn Madrid và chưa gặp cha tôi.
- À đúng rồi, tôi quên mất, vì trung thành với Hoàng gia mà ông ta đã lạnh nhạt với cha ông. Và đây, tôi đền công cho ông.
Louis XVIII liền tháo chiếc Bắc đẩu bội tinh đang đeo ở cổ áo ra trao cho Villefort. Villefort vội đỡ lấy và đưa lên môi hôn, mắt long lanh vì kiêu hãnh, rồi nói :
- Tâu bệ hạ, nửa giờ nữa hạ thần sẽ trở về Marseilles.
 - Này, ông Villefort, nếu ta có quên ông, thì ông chớ có ngại nhắc lại cho ta kỷ niệm này nhé.
Nói xong, Louis XVIII sai đi mời viên Bộ trưởng Quốc phòng đến.

 
Villefort ra ngoài, gọi một chiếc xe ngựa về khách sạn.
Hắn vừa ngồi vào bàn ăn thì có tiếng kéo chuông. Một người hầu phòng vào báo rằng có một người lạ mặt muốn gặp nhưng lại không chịu xưng tên.

 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 12 
CHA VÀ CON

Noirtier chính là người lạ mặt đã không chịu xưng tên, bước vào. Ông ta đóng cửa phòng rất cẩn thận, bước tới giơ tay cho Villefort bắt, rồi mỉm cười bảo :
- A ha, anh Gérard! Hình như gặp tôi, anh không vui thì phải. Anh vừa tổ chức lễ đính hôn ngày 28 tháng Hai ở Marseilles, thế mà hôm nay, mồng 3 tháng Ba, anh đã có mặt ở đây rồi.
- Thưa cha đúng thế - Villefort ghé vào tai lão nói - Vì cha mà con phải lên đây và nhờ cuộc hành trình của con mà có thể cứu nguy cho cha.
- Vậy à? Chuyện nghe ly kỳ quá.
- Cha có nghe thấy nói đến một nhóm thân Bonapar ở phố Saint-Jacques...
- Số nhà 53, chính cha là phó hội trưởng.
- Nhà vua vừa cho con hay là tướng Quesnel được mời tới lúc chín giờ tối, và sáng hôm sau người ta đã thấy xác ông nổi trên sông Seine.
- Còn tôi, tôi sẽ kể với anh một câu chuyện không kém phần ly kỳ...
- Cha im đi, chuyện đó con biết rồi. Bonapar đã đổ bộ lên đất Pháp và ông ta có gửi cho cha một bức thư từ đảo Elba. Con đã tóm được kẻ đưa thư, và, nếu bức thư ấy lọt vào tay người khác, thì vào giờ này chắc chắn là cha đã bị xử bắn rồi.
- Bức thư đó đâu?
- Con đã đốt đi rồi vì sợ liên quan đến tính mệnh của cha.
- Và cả đến bước đường công danh của anh nữa. Bây giờ tôi không còn lo ngại gì vì đã có anh che chở.
- Nhưng tướng Quesnel đã bị mưu sát và cơ quan cảnh sát đang truy nã gắt gao...
- Bị mưu sát? Ai bảo thế?
- Chính nhà vua.
- Nhà vua? Ngài cũng thừa hiểu là trong chính trị con người không còn nữa mà chỉ còn lý tưởng; tình cảm không còn nữa mà chỉ còn quyền lợi; người ta không mưu sát, người ta chỉ trừ bỏ đi một chướng ngại vật, có thế thôi!
- Cha đang trông chờ kẻ tiếm ngôi trở về à?
- Đúng thế đấy. Hoàng đế đang trên con đường đi Grenoble. Ngày 12 sẽ tới Lyons và ngày 25 sẽ có mặt ở Paris.
- Dân chúng sẽ nổi dậy.
- Để theo Người.
- Quân đội sẽ được điều đến.
- Để hộ giá Người trở về thủ đô.
- Sao cha biết tường tận vậy? - Villefort nhìn cha ngạc nhiên hỏi.
- Trời! Dễ hiểu quá thôi. Những người cầm quyền như các anh chỉ biết có tiền bạc, còn chúng tôi chỉ biết có lòng trung thành.

Nói xong, ông già Noirtier chuẩn bị bước ra, Villefort nắm tay cha giữ lại :
- Cơ quan cảnh sát của nhà vua có thể là tồi, nhưng họ cũng biết rõ hình dáng con người lạ mặt mặc áo choàng màu lơ và đeo Bắc đẩu bội tinh.
- Thế à? Chúng cũng chỉ là những thằng ngốc như tôi đã nói.
Nói xong, Noirtier cởi áo ra, đến gần bàn rửa mặt, cạo phăng râu mép đi, sửa lại bộ tóc, khoác chiếc áo màu nâu của Villefort, đội chiếc mũ vành cong của viên phó biện lý ngắm nghía mình trước gương rồi quay lại hỏi :
- Thế nào? Liệu chúng còn nhận ra tôi nữa không?
Villefort vừa sợ hãi vừa thán phục đáp :
- Thưa không đâu ạ.
- Này anh, anh đã cứu mạng tôi, nay mai tôi sẽ đền ơn anh. Bây giờ anh đến nói với nhà vua rằng ông ta bị người ta lừa dối về nội tình nước Pháp, về tinh thần của dân chúng và lính tráng. Người mà ông ta gọi là con quỷ đảo Corse, kẻ tiếm ngôi ở Nevers đã được gọi là Bonapar ở Lyons, Hoàng đế ở Grenoble và nay mai sẽ được tung hô vạn tuế ở Paris.
Nói xong ông già điềm tĩnh đi ra. Villefort mặt tái nhợt vì xúc động, chạy lại cửa sổ nhìn theo người cha đang thản nhiên đi giữa mấy tên mật vụ đứng lảng vảng ở đầu phố để đón bắt người lạ mặt có bộ ria mép đen và khoác áo choàng màu lơ. Chờ ông Noirtier đi khuất hẳn, hắn mới trở vào, bỏ mũ và áo của cha vào đáy hòm rồi chuẩn bị trở về Marseilles.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 13 
THỜI KỲ MỘT TRĂM NGÀY

Noirtier đã tiên đoán rất đúng. Sự việc xảy ra dồn dập, mau lẹ lạ kỳ, dường như có phép mầu nhiệm và vô tiền khoáng hậu. Hoàng đế Napoleon trở lại điện Tuileries mà vua Louis vừa rời bỏ, và ông ta lại ngồi vào cái bàn gỗ lúp trong văn phòng nhỏ ưa thích của ông để thảo ra những sắc lệnh mới nhằm trấn áp bọn bảo hoàng. Viên chánh biện lý bị huyền chức. Villefort đáng lẽ cũng bị cùng chung số phận nếu không nhờ sự che chở của Noirtier. Ông già đã trở thành một người có quyền thế trong triều suốt khoảng thời gian mà người ta gọi là “Một trăm ngày”. Viên phó biện lý tạm thời được nắm quyền tư pháp ở Marseilles. Villefort hoãn ngày cưới vợ vì hắn tính nếu hoàng đế đứng vững thì hắn sẽ nhờ cha tìm cho món khác; nếu Louis XVIII trở lại ngôi báu thì ảnh hưởng của hầu tước Saint-Méran sẽ nâng cao địa vị cua hắn lên. Trong lúc hắn đang khoái trá tính chuyện bắt cá hai tay, thì có người vào báo ông chủ hãng tàu muốn gặp.

Ông Morrel thấy Villefort vẫn bình tĩnh, lạnh lùng kiểu cách như sáu tuần lễ trước đây. Hắn chống khuỷu tay lên bàn giấy nhìn ông bằng con mắt dò xét.
- Xin ông cho biết, ông đến có việc gì?
- Thưa ngài, chắc ngài còn nhớ có một hôm tôi đến yêu cầu ngài khoan dung cho một anh thanh niên đáng thương, thuyền phó chiếc tàu của tôi bị buộc tội liên lạc với đảo Elba. Ngày đó ngài phò vua Louis XVIII đã thi hành đúng nhiệm vụ của ngài. Nhưng hôm nay ngài làm việc dưới triều đại Napoleon, bổn phận ngài là che chở cho anh ta, và tôi muốn được biết hiện giờ anh ta ở đâu?

Villefort làm ra bộ sửng sốt hỏi :
- Tên anh ta là gì nhỉ?
- Edmond Dantès.
- Dantès, Edmond Dantès, ông không nhầm chứ?
- Không thể nhầm được ạ, tôi biết anh ta từ mười năm nay và anh ta làm việc cho tôi từ bốn năm nay.
Villefort giở một quyển sổ to ở ngăn tủ ra, tìm một lát rồi lại mở một cuốn khác, cuối cùng nói :
- A, tôi nhớ ra rồi. Một thanh niên thủy thủ, sắp lấy một cô gái Catalans, can vào một tội rất nặng. Tôi đã làm một bản báo cáo kèm theo những giấy tờ bắt được trong người anh ta, gửi lên Paris và tám ngày sau người ta đã đem anh ta đi biệt tích.
- Biệt tích - ông Morrel thốt lên - Người ta đã làm gì anh ấy?
- Ồ, ông cứ yên tâm, chắc chắn là bị đưa đi an trí ở một nơi nào đó và chắc chỉ ít ngày nữa anh ta sẽ được trở về điều khiển con tàu của ông. Hoàng đế mới trở về có mươi lăm hôm, lệnh tha chắc chưa thảo kịp.
- Có cách nào làm những thủ tục nhanh chóng hơn được không?
- Ông Morrel thân mến, thời nào cũng thế thôi. Các chính thể nối tiếp nhau và giống hệt nhau : bộ máy nhà tù đặt ra ở từ thời vua Louis XII đến nay vẫn còn tồn tại. Tôi muốn mách ông một cách là ông có thể biên thư cho ngài Bộ trưởng Tư pháp để kháng cáo.
- Chao ôi! Mỗi ngày ngài bộ trưởng nhận được hàng trăm đơn trong khi ngài chỉ có thì giờ đọc được vài ba cái?
- Nhưng nếu bức thư đó được chính tay tôi chuyển đi thì nó sẽ được đọc ngay chưa biết chừng.
- Tôi biết viết thế nào bây giờ?
- Được, ông cầm lấy giấy bút, ngồi vào đây viết theo tôi đọc. Chúng ta phải làm khẩn trương vì anh chàng Dantès hẳn đang mong chờ.
Villefort đọc cho ông Morrel viết xong đơn, cầm lấy đọc to rồi nói :
- Bây giờ ông có thể trông cậy vào tôi, tôi sẽ gửi đi ngay hôm nay và sẽ đảm nhiệm mọi công việc.
Lời nói quả quyết của Villefort làm ông Morrel chứa chan hy vọng. Ông liền quay về báo tin cho ông già Dantès biết là chỉ nay mai sẽ được gặp con trai. Nhưng Villefort đáng lẽ gửi bức thư đi Paris như đã hứa thì hắn lại giấu kín để sau này làm tài liệu buộc tội thêm cho Dantès.
Trong thời kỳ một trăm ngày ấy, ông Morrel đã hai lần xin tha cho anh thanh niên bất hạnh, nhưng Villefort cứ hứa hẹn hão huyền cho đến ngày cuộc bại trận ở Waterloo [link=file:///E:/TIFF/TVE/My%20eBooks/BatuocMongtoCrixto/BatuocMongtoCrixto.html#M08](8)[/link] xảy ra. Thế là Dantès vẫn cứ bị bỏ rơi trong ngục tối, anh không hay biết gì về việc mất ngôi của Louis XVIII, về thời kỳ một trăm ngày Napoleon nắm lại chính quyền, về sự suy sụp của ông ta sau cuộc bại trận ở Waterloo, và vua Louis XVIII lại trở về điện Tuileries lần thứ hai.
Còn Danglars, sau khi tố cáo Dantès, rất hí hứng, cho là trời giúp hắn. Nhưng khi Napoleon trở về Paris, hắn rất lo sợ Dantès sẽ trở về, biết được chuyện này và sẽ trả thù. Hắn xin ông Morrel cho thôi việc và giới thiệu hắn đến làm công cho một hãng buôn Tây Ban Nha. Ít ngày sau hắn đi Madrid và từ đó không ai thấy tăm hơi hắn đâu nữa.
Còn Fernand, từ ngày Dantès đi khỏi, hôm nào cũng ra ngồi ở bãi biển xóm Catalans để rình. Nếu anh thủy thủ trẻ tuổi trở về, hắn sẽ thi hành âm mưu hạ sát. Giữa lúc đó, Hoàng đế Napoleon tuyển mộ thêm lính để đi xâm chiếm nước ngoài. Fernand đau khổ và thất vọng, hắn liền từ giã Mercédès ra tòng quân.
Mercédès vẫn quý Fernand như một người anh, nên ngày hắn ra đi, cô buộc cái ba lô cho hắn và nói :
- Anh Fernand, em chỉ còn có anh trên đời này, nếu anh chết trận thì em sẽ sống cô độc suốt đời, không còn ai làm bạn nữa.
Câu nói đó làm cho Fernand còn nuôi hy vọng. Nếu Dantès không về, một ngày kia hắn sẽ lấy được Mercédès làm vợ.

Mercédès sống âm thầm giữa mảnh đất khô cằn và biển cả. Cô đi lang thang như người điên trong xóm Catalans, mắt đẫm lệ, thỉnh thoảng ra đứng ở bờ biển nhìn về phía Marseilles, nghe tiếng sóng vỗ rì rầm như nỗi đau khổ vô bờ của cô, với sự chờ đợi vô vọng.
Caderousse, cũng đăng lính như Fernand, nhưng vì nó có vợ nên hắn chỉ bị điều ra biên giới. Ông già Dantès, sau ngày hoàng đế thất trận, không còn hy vọng gì nữa. Sau đúng năm tháng xa đứa con thân yêu, ông trút hơi thở cuối cùng trong tay Mercédès. Ông Morrel lo liệu ma chay cho cụ và trả vài món nợ lặt vặt mà cụ vay trong lúc lâm bệnh. Trong tình thế hiểm nghèo này, việc giúp đỡ người cha của một kẻ được mệnh danh là tay sai của Bonapar không phải chỉ là một việc thiện, mà còn là một hành động dũng cảm đong thời còn là một tội lỗi đối với nhà cầm quyền.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 10.09.2020 05:27:36 bởi hoi_ls>
Chương 14 
NGƯỜI TÙ NỔI GIẬN VÀ NGUỜI TÙ MẤT TRÍ

Một năm sau khi Louis XVIII trở lại ngôi báu, lâu đài If được viên Tổng thanh tra trại giam đến thăm. Dantès ở dưới hầm kín đã nghe thấy ở bên trên người ta chuẩn bị cuộc đón tiếp, vì tai anh đã quen nghe thấy tiếng động trong cái im lặng của đêm tối. Tự coi là đã bị chôn sống trong nấm mồ lạnh lẽo, anh đoán chừng trên thế giới người sống sắp xảy ra một sự kiện gì đó khác thường. Quả thật, viên Tổng thanh tra đã vào từng buồng giam, từng xà lim, hỏi han một số phạm nhân về chế độ ăn uống và nguyện vọng của họ, hết thảy đều trả lời thức ăn rất tồi và yêu cầu được phóng thích vì ngoài cái tự do, họ không còn đòi hỏi gì hơn.
Viên Tổng thanh tra mỉm cười quay lại bảo lão giám thị :
- Không hiểu tại sao chúng ta lại buộc phải làm một nhiệm vụ hoàn toàn vô ích, vì cả trăm nghìn người đều trả lời giống nhau. Còn hạng người nào nữa không?
- Dạ, chúng tôi còn một loại tù nguy hiểm đang bị nhốt trong hầm kín.
- Nào, chúng ta hãy làm cho tròn phận sự - Viên Tổng thanh tra tỏ vẻ chán nản, lắc đầu.
Tức thì lão giám thị gọi thêm hai người lính đi hộ vệ rồi cả nhóm đi xuống khu hầm kín sặc mùi hôi thối, mốc meo đến nỗi viên thanh tra phải kêu lên :
- Mẹ ơi! Thằng nào lại có thể sống nổi được ở đây!
- Dạ, một tên phản nghịch vô cùng nguy hiểm bị giam trên một năm nay rồi và có lần nó đã toan giết chết người cai ngục. Bây giờ nó gần như mất trí rồi. Ngoài ra, cách hầm kín này khoảng hai mươi bộ ở mé dưới, còn có một hầm kín nữa giam một tên linh mục già, cựu đảng trưởng người Ý. Bị nhốt từ năm 1811, mất trí năm 1813 và bây giờ không ai nhận ra được hình thù lão ta nữa.
- Được, tôi sẽ lần lượt đến thăm cả hai. Bây giờ vào hầm này trước.
Tiếng khóa vặn, tiếng then sắt cót két, rồi cánh cửa nặng nề mở ra. Dantès đang ngồi ở một góc hầm, ngẩng đầu lên thì thấy một người lạ mặt đứng giữa hai tên cai ngục cầm đuốc và hai tên lính cầm súng, anh liền nhảy xổ ra, hai tay chắp vào nhau. Hai tên lính vội vàng chĩa lưỡi lê ra phía trước còn viên thanh tra lùi lại một bước hỏi :
- Anh muốn gì?
- Tôi muốn biết tôi mắc tội gì? Tôi yêu cầu được xét xử, nếu tôi có tội thực sự, các ông hãy đem bắn tôi đi; nếu tôi vô tội xin thả tôi ra.
- Anh có được ăn uống đầy đủ không?
- Cái ăn đối với tôi không quan trọng. Tôi chỉ yêu cầu các ông trong ngành tư pháp đừng để cho một người vô tội chết oan trong ngục.
- Anh bị bắt ngày nào?
- Ngày 28 tháng Hai năm 1815, lúc hai giờ chiều.
- Hôm nay là 30 tháng Bảy năm 1816. Anh bị giam mới có mười bảy tháng - Viên thanh tra tính trên ngón tay nói.
- Mới có mười bảy tháng! Ôi, thưa ngài, ngài nên biết rằng mười bảy tháng trong tù tức là mười bảy năm, mười bảy thế kỷ đối với tôi một người sắp được hưởng hạnh phúc với người yêu, đang đứng trước một tương lai tốt đẹp, một người quen vẫy vùng với sóng gió, với biển cả, với đời sống tự do, tự lập.
- Được tôi sẽ nghiên cứu hồ sơ của anh. Ai ra lệnh bắt anh?
- Ông De Villefort.
- Ông De Villefort đổi đi Toulouse một năm nay rồi.
- Thảo nào! - Dantès lẩm bẩm - ông ta là cứu tinh của tôi, ông ta tốt với tôi lắm!
- Tôi sẽ về xem lời phê của ông ta trong tập hồ sơ về anh.

Nói xong, viên Tổng thanh tra đi ra và Dantès lại bị khóa chặt lại cùng với niềm hy vọng trong hầm kín. Nhóm người đi đến nơi giam vị linh mục người Ý. Viên thanh tra hỏi giám thị :
- Lão bị điên hay sao?
- Một bệnh điên kỳ quặc - Viên giám thị đáp - Lão nói lão có một kho tàng khổng lồ. Năm đầu lão gạ biếu chính phủ một triệu francs nếu thả lão ra. Năm thứ hai, hai triệu và cứ như thế tăng dần cho đến năm nay là năm thứ năm rồi.
- Hay nhỉ! Nhà triệu phú có tên gì?
- Linh mục Faria, số 27.
Cửa hầm mở, viên Tổng thanh tra đưa cặp mắt tò mò nhìn vào căn hầm kín của vị linh mục mất trí. Giữa hầm, trọng một hình trụ vẽ bằng thạch cao trát rường, một ông già nằm phủ phục gần như trần truồng vì chỉ còn mấy mảnh vải che thân đã rách bươm. Lão đang mê mải vạch những đường hình học rất to và giải một bài toán của Archimedes, nên mặc dù cửa đã mở, lão vẫn không hay biết gì. Mãi đến khi nền đất ẩm ướt mà lão đang nằm được chiếu sáng bởi hai ngọn đuốc, lão mới ngẩng đầu lên, cầm cái chăn quấn vào người. Viên Tổng thanh tra lên tiếng hỏi :
- Ông có đòi hỏi gì không?
- Tôi ấy ư? - Vị linh mục ngạc nhiên hỏi - Tôi chả đòi hỏi gì cả.
- Tôi được chính phủ phái đến đây thu lượm những khiếu nại của tù nhân.
- Ôi - Vị linh mục thốt lên - Thế thì lại là chuyện khác. Thưa ngài, tôi là linh mục Faria sinh ở Rome, thư ký riêng của Đức giáo chủ Spada trong hai mươi năm. Tôi bị bắt đầu năm 1811 không biết vì lý do gì và bị giam cho đến bây giờ. Tôi yêu cầu nhà cầm quyền Pháp thả tôi ra vì tôi bị bắt ở một địa hạt thuộc nước Ý, dưới quyền cai trị của người Pháp. Ngày nay tôi cho rằng Hoàng đế Napoleon đã thực hiện được giấc mơ của Machiavelli và Cæsar Borgia, là thống nhất nước Ý.
- Những hiểu biết về thời cuộc của ông đã quá lỗi thời, vì Thượng đế đã thay cái ý đồ của con người mà ông sùng bái rồi. Tôi đến đây không phải để giải thích cho ông về tình hình chính trị mà muốn biết ông được ăn ở ra sao?
- Cái ăn thì nhà tù nào chả giống nhà tù nào, nghĩa là rất tồi. Còn ở đây thì ông trông đấy : ẩm ướt và hôi hám. Tôi không đếm xỉa đến những cái đó. Bây giờ tôi muốn phát hiện một việc vô cùng quan trọng và có lợi rất lớn cho chính phủ.

Lão giám thị ghé vào tai viên thanh tra thì thầm: "Sắp đến lúc rồi đấy!". Viên thanh tranh liền trả lời tù nhân :
- Ông linh mục ơi! Việc đó không thể được đâu.
- Thế nào? Làm lợi cho chính phủ năm triệu, một số tiền khổng lồ!
Viên thanh tra trả lời lại với giọng châm biếm :
- Tôi đã được báo trước rồi. Ông lại muốn nói tới cái kho tàng của ông, có phải không nào?
- Thưa ngài thanh tra - Lão giám thị nói - Từ năm năm nay tôi nghe đã chán tai rồi.
- Nếu tôi không được ra khỏi trại giam - Faria nắm lấy tay viên thanh tra nói - Nếu tôi chết mà không truyền được cho người khác điều bí mật của tôi thì kho tàng đó sẽ trở thành vô dụng. Tôi có thể cho sáu triệu nếu người ta thả tôi ra.
- Ông nói rất đúng - Viên thanh tra bảo nhỏ với lão giám thị - Nếu ông ta không mất trí thì câu chuyện có thể tin được đấy.
- Tôi không mất trí đâu - Vị linh mục rất thính tai nói tiếp
- Tôi nói thật đấy. Tôi sẽ nguyền rủa ngài như đã nguyền rủa những người đã không chịu nghe tôi. Mời ngài đi ra ngay đi, tôi không muốn nói gì nữa.
Nói xong, linh mục Faria ném cái chăn xuống giường, cầm lấy miếng thạch cao rồi lại tiếp tục công việc của ông ta.

Còn về Dantès, viên thanh tra giữ lời hứa. Khi lên văn phòng lão giám thị, ông mở sổ giam ra xem thì thấy ghi : “Edmond Dantès : Một kẻ theo phái Bonapar cuồng nhiệt, đã tích cực tham gia vào vụ Napoleon từ đảo Elba quay về. Phải giữ hết sức bí mật và canh phòng nghiêm ngặt”.
Viên Tổng thanh tra liền ghi xuống bên dưới: "Không thể làm gì khác được".
Dantès, từ khi bị giam cầm, không còn biết ngày tháng là gì. Nghe viên thanh tra nói, anh cầm một miếng thạch cao viết lên tường 30-7-1816 và mỗi ngày vạch một nét để đánh dấu thời gian.
Ngày tháng trôi đi, Dantès vẫn mong chờ, vẫn hy vọng. Một năm sau, lão giám thị chuyển đi nơi khác và mấy tên cai ngục cũng theo gót. Viên giám thị mới đến không có thì giờ nhớ hết các tù nhân, chỉ gọi họ bằng con số buồng giam. Tòa lâu đài khủng khiếp đó có năm mươi buồng. Anh thủy thủ trẻ tuổi bất hạnh ở buồng số 34 nên được gọi tên bằng con số 34.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 15 
SỐ 34 VÀ SỐ 27

Dantès lần lượt phải trải qua biết bao nỗi khổ cực của một người tù bất hạnh bị bỏ quên trong ngục tối. Thoạt tiên anh cầu cứu con người, nhưng sau khi mọi hy vọng đã tiêu tan, anh cầu cứu đến Thượng đế. Anh mong người ta chuyển anh sang một buồng khác dù có sâu hơn và tối tăm hơn, vì dù sao sự di chuyển cũng làm anh khuây khỏa được ít ngày. Anh xin được ra ngoài chơi, được đọc sách, được phát dụng cụ để lao động, nhưng tất cả những điều đó đều bị cự tuyệt. Không nản lòng, anh tiếp tục đề nghị. Nhưng lần nào tên cai ngục cũng cứ làm thinh. Anh thèm được nói chuyện với một người nào khác, ngoài tên cai ngục. Vì được nói chuyện với một người, dù người đó câm , đối với anh lúc này cũng là một điều vui sướng. Trước kia anh rất ghê sợ những tên lưu manh giết người, nhưng bây giờ anh lại cầu mong được giam chung với bọn đó để được nhìn thấy những bộ mặt khác, ngoài bộ mặt lạnh lùng của tên cai ngục. Anh cho những người tù khổ sai còn sướng hơn mình vì mặc dù bị đeo xiềng xích, mặc quần áo đánh số, họ vẫn được nhìn trời, nhìn đất, được hít thở không khí trong lành ngoài trời. Anh yêu cầu được giam chung với vị linh mục mất trí mà anh được nghe nói đến, nhưng viên.giám thị cũng từ chối nốt.

Thất vọng với con người, anh quay về Thượng đế. Anh nhớ lại những câu kinh mà mẹ anh đã dạy anh hồi còn bé, vì đối với một con người đau khổ, sự cầu nguyện là lời tâm tình của mình đối với Thượng đế. Anh đọc kinh rất to, rất hăng say và anh cảm thấy rất khoan khoái. Anh nhìn thấy Thượng đế xuất hiện sáng ngời, là Đấng Toàn Năng trước cuộc sống hèn mọn và bất lực của mình. Và sau mỗi câu kinh, anh nguyện sẽ làm theo lời Chúa, cầu xin Người tha tội cho những người làm nhục anh.
Mặc cho những lời cầu nguyện nhiệt thành, đầy tin tưởng, anh vẫn bị ở tù. Ý nghĩ của anh trở nên âm u, mờ mịt. Anh không tin tưởng vào sức mạnh vô biên của Thượng đế nữa vì bản chất của anh là một con người bình dân, không học thức, chỉ có một niềm tin hời hợt, nên anh để mất nó cũng giống như những người đã làm mất nó sau khi đã thắng lợi và không sử dụng đến nó nữa. Sự điên cuồng lại nối tiếp theo nỗi khổ hạnh. Anh chửi rủa om sòm, húc người vào tường, nổi xung với mọi thứ ở xung quanh và ngay cả với chính mình. Bức thư tố cáo mà Villefort đã đưa cho anh đọc lại hiện ra trong óc anh. Anh cho rằng đó là sự trả thù của con người chứ không phải của Thượng đế. Anh mong ước những kẻ đó phải chịu những cực hình khủng khiếp, và sau đó phải chết.
Cứ lẩn quẩn mãi với cái chết của kẻ thù, anh nẩy ra ý định muốn chết. Thật đáng thương cho những kẻ nào trong lúc bất hạnh đã có ý nghĩ đen tối đó. Anh hồi tưởng lại lúc còn là con người tự do, có quyền hành với một nhóm người sẵn sàng tuân theo mệnh lệnh của mình trong những lúc trời sẫm tối, khi mặt biển dâng lên và gào thét trước dông tố như một con chim khổng lồ giương hai cánh ra hai phía chân trời. Anh cảm thấy chiếc tàu trở thành bất lực, nhẹ như lông hồng và thấy cái chết xuất hiện, khi đó nó lại làm anh run sợ. Anh lấy hết sức mình để chống đỡ, thấy sung sướng được trở lại với cuộc sống hạnh phúc. Nhưng bây giờ thì khác hẳn. Anh đã mất hết mọi thứ làm anh yêu cuộc sống và như đã nhìn thấy cái chết mỉm cười với mình như bà mẹ mỉm cười với đứa con thơ. Anh muốn chết như người đi ngủ sau lúc mệt mỏi rã rời. Khi ý nghĩ đó chớm nở trong đầu, anh lại trở nên hiền lành và tươi tỉnh. Anh ăn ít đi, không ngủ nữa và cảm thấy dễ chịu.
Sau bốn năm bị giam cầm, Dantès nói: "Tôi muốn chết" và đang tìm cách để chết. Có một cách đơn giản: buộc khăn mùi soa vào một chấn song sắt và treo cổ, nhưng anh thấy ghê rợn trước cái chết ấy. Anh chọn cách thứ hai : không ăn nữa. Anh phải đấu tranh rất gay go, quyết liệt. Đang ở tuổi thanh xuân, những món ăn dù là kinh tởm trong tù vẫn cứ trở nên thơm ngon trước cái đói đang cào cấu ruột gan. Một đôi khi anh mân mê hàng giờ miếng thịt thiu hoặc khúc cá ươn, mắt dán vào mẩu bánh đen sì. Nhưng cuối cùng anh vẫn giữ được lời hứa. Anh khắc nghiệt với cuộc sống ít ỏi còn sót lại. Rồi đến một ngày anh không còn sức để đứng dậy nữa, không còn nhìn thấy gì nữa, và ốm nặng. Edmond đang đón chờ cái chết.
Một hôm anh cảm thấy hơi dễ chịu. Cái đói, cái khát không còn giày vò anh nữa. Lúc nào anh nhắm mắt, anh nhìn thấy những đốm lửa chập chờn tựa hồ những con ma trơi trong buổi hoàng hôn trên xứ sở của thần chết.
Đột nhiên, vào khoảng nửa đêm, anh thấy có tiếng động âm thầm từ phía sau bức tường anh đang nằm, Edmond đã quen nghe tiếng động của những con vật kinh tởm đến quấy rầy anh, nhưng lần này tiếng động có vẻ khác thường. Anh ngóc đầu lên để nghe cho rõ hơn. Đó là tiếng nạo đều đều của một cái vuốt lớn, một cái răng khỏe, hoặc của một dụng cụ nào đó trên đá. Mặc dù đã đuối sức, một ý nghĩ vẫn luôn luôn lởn vởn trong đầu óc anh : tự do. Tiếng động đó đến vừa đúng lúc khi mà mọi tiếng động không còn đến với anh nữa. Dường như Thượng đế đã đoái thương tới nỗi thống khổ của anh và ngăn anh trước miệng hố mà anh sắp sa vào.
Edmond vẫn lắng tai nghe. Sau gần ba tiếng đồng hò, tiếng động im bặt, và vài giờ sau lại nghe thấy nó tiếp tục to hơn và gần hơn. Edmond đang chú ý tới tiếng động thì tên cai ngục đem thức ăn vào. Anh giả vờ nói huyên thuyên, cố lấy giọng kêu la ầm ỹ. Hắn tưởng anh mê sảng nên bỏ đi ra ngay, Edmond lại được tự do nghe ngóng. Tiếng động nghe rõ mồn một. Anh thầm nghĩ có lẽ một người tù đáng thương nào đó đang tìm cách thoát thân và anh ao ước được giúp một tay.
Anh quay lại nhìn đĩa xúp mà tên cai ngục vừa đem vào, loạng choạng bước đến gần rồi cầm đưa lên môi và húp hết. Anh cảm thấy vô cùng khoan khoái. Sau đó anh đi nằm. Vậy là anh không muốn chết nữa.
Suốt đêm hôm đó anh không ngủ. Sáng hôm sau tên cai ngục đem thức ăn vào. Edmond ăn ngấu nghiến, ăn cả thức ăn hôm trước còn lại. Anh muốn có sức để giúp người tù nào đó đã làm việc không mệt mỏi.
Anh kéo chiếc giường ra xa bức tường có tiếng động và kiếm một vật gì để cào lớp thạch cao ẩm ướt, rồi sau đó sẽ nậy tảng đá ra. Nhưng anh chẳng tìm thấy gì. Chẳng có một vật gì sắc để có thể sử dụng được. Trong hầm chỉ có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, một cái thùng và một hũ nước. Cái thùng đã bị tháo mất quai. Dantès chỉ còn trông cậy vào cái hũ nước. Anh ném hũ xuống đất làm cái hũ vỡ tan ra rồi chọn lấy một mảnh có cạnh sắc đem giấu dưới đệm rơm. Suốt đêm anh làm công việc gay go đó. Đến gần sáng anh kê lại giường, lòng tràn trề hy vọng.

Lúc tên cai ngục vào, Dantès báo là hôm trước anh chẳng may làm rơi cái hũ lúc uống nước. Tên cai ngục làu bàu mấy câu rồi đi ra. Một lát sau hắn trở vào với cái hũ mới và nhắc anh phải giữ gìn cẩn thận. Lúc hắn vừa đi khỏi, Dantès nhảy bổ tới giường, kéo nó ra chỗ khác rồi tiếp tục công việc. Vì bị ẩm, lớp thạch cao đã có thể cạo được, tuy mỗi giờ chỉ được một nắm con.
Một nhà toán học có thể tính được. Nếu không đụng phải đá, trong hai năm có thể đào được một cái hố vuông, mỗi cạnh hai bộ và sâu hai mươi bộ. Anh đã ở trong hầm kín sáu năm rồi thì công việc này dù có chậm và khó nhọc đến mấy anh cũng sẽ làm xong. Ý nghĩ đó tăng thêm cho anh lòng hăng hái.
Sau ba ngày, anh cạo hết lớp thạch cao làm trơ ra bức tường xây bằng đá vụn, có xen những hòn đá tảng. Phải nậy cho được hòn đá đó ra, nhưng vì đá cứng nên những mảnh hũ bị vỡ nát vụn. Sau một tiếng đồng hồ mất công toi, Dantès lau mồ hôi trán và lo lắng. Lẽ nào phải ngừng công việc trong lúc mới bắt đầu này?
Hàng ngày tên cai ngục mang xúp đến. Xúp đựng trong một cái xoong cán sắt được đổ vào đĩa cho anh. Anh liền nay ra ý nghĩ và mỉm cười. Tối hôm đó, ăn xúp xong anh đặt cái đĩa xuống ngay trước cửa. Sáng hôm sau tên cai ngục bước vào, vô ý giẫm lên, cái đĩa vỡ tan tành. Lần này do chính hắn làm vỡ đĩa nên hắn chỉ càu nhàu, không biết đổ xúp vào đâu, Dantès bảo hắn để cái xoong lại. Tên cai ngục lười không muốn đi lấy cái đĩa khác, liền ưng thuận ngay.
Dantès ăn vội ăn vàng rồi bắt tay vào việc. Anh lấy cái cán xoong lách vào kẽ đá và một giờ sau đã nậy được hòn đá ra, tạo được một lỗ thủng khoảng mười lăm phân. Anh dồn những mảnh thạch cao vụn ra một góc hầm, lấy đất phủ lên, tiếp tục đào. Đến gần sáng, anh lại đặt hòn đá vào chỗ cũ, kê lại giường rồi đi nằm. Khi tên cai ngục đem thức ăn vào, anh hỏi :
- Thế nào, bác không đem đến cho tôi một cái đĩa khác à?
- Nếu ai cũng đập phá như anh thì còn lấy đâu ra đĩa nữa. Tôi sẽ để cho anh dùng cái xoong thay cho đĩa.

Dantès chắp hai tay ngửa mặt lên trời. Anh muốn cảm ơn Thượng đế đã ban cho anh mảnh sắt quý hơn mọi thứ anh đã được hưởng từ trước đến nay. Anh đào suốt ngày đêm, moi ra từng nắm xi măng và đá vụn. Sau ba ngày làm việc, anh nhận thấy cái cán xoong không còn có thể nạo được nữa. Nó vướng phải một mặt phẳng. Anh lấy tay sờ thì thấy đó là một cái rầm chắn ngang. Bây giờ thì đành phải đào một con đường khác ở phía trên hoặc phía dưới. Anh chưa hề nghĩ rằng có lúc lại gặp phải vật chướng ngại đó. Anh thốt lên :
- Ôi lạy Chúa! Con đã cầu xin Chúa và con những tưởng rằng Chúa đã thấu lòng con. Ôi, lạy Chúa! Chúa đã tước mất nốt quyền tự do của con. Chúa đã không cho cái quyền được chết yên ổn thì bây giờ Chúa hãy thương con, đừng làm con mất hết hy vọng.
Đột nhiên một tiếng nói như từ trong lòng đất, hay từ một nấm mồ vẳng đến :
- Ai nói với Chúa và tuyệt vọng thế?
Dantès thấy sởn gai ốc, tóc gáy dựng lên. Anh vội vàng quỳ mọp xuống. Đã từ bốn năm nay anh chỉ nghe tiếng nói của tên cai ngục. Đối với một người tù, tên cai ngục không phải là một con người. Nó là một tấm cửa, một hàng chấn song bằng xương, bằng thịt. Anh thốt lên :
- Nhân danh Chúa! Người hãy nói nữa đi, người là ai?
- Còn anh là ai? - Tiếng người đó lại hỏi.
- Là một người tù bất hạnh tên là Edmond Dantès, quốc tịch Pháp, thủy thủ, bị bắt ngày 28 tháng Hai năm 1815 về tội giúp Hoàng đế cướp lại chính quyền.
- Thế nào, Hoàng đế đã trở về cướp chính quyền à?
- Hoàng đế đã thoái vị năm 1814 và bị đầy ra đảo Elba. Tại sao người lại không biết việc đó?
- Tôi bị bắt từ năm 1811.
Dantès giật mình, người đó đã bị tù lâu hơn anh bốn năm trời. Tiếng người lại vọng tới :
- Bây giờ anh đừng đào nữa, mà cho tôi biết cái lỗ của anh đào nằm vào chỗ nào?
- Sát mặt đất, sau giường tôi.
- Buồng của anh thông ra đâu?
- Ra một hành lang rồi thông ra sân.
- Chao ôi! Cái compa chết tiệt của tôi chỉ chệch có một ly, thế mà nó làm tôi đã đào nhầm mất mười lăm bộ. Tôi định đào một con đường thông ra biển, tôi sẽ bơi ra đảo Tiboulen để trốn thoát. Bây giờ thì hỏng cả rồi!
- Người hãy cho tôi biết người là ai?
- Tôi là... tôi là ... số 27.
- Người không tin tôi ư? Ôi, lạy Chúa! Tôi xin nhân danh Chúa thề với người là tôi thà đập đầu vào tường tự sát còn hơn là tố giác việc làm của người. Xin người đừng bỏ tôi.
- Cứ nghe giọng nói của anh, tôi đoán hình như anh là một thanh niên.
- Lúc bị bắt tôi mới mười chín tuổi.
- Ở cái tuổi ấy chưa có thể phản bội được. Nếu vậy tôi sẽ đặt một kế hoạch khác, anh hãy chờ tôi.
- Thế người không bỏ tôi chứ? Người sẽ giúp tôi và chúng ta sẽ cùng đi trốn. Nếu người còn ít tuổi tôi sẽ là bạn của người, nếu người nhiều tuổi hơn, tôi sẽ là con của người. Tôi có một người cha bảy mươi tuổi. Tôi sẽ kính mến người như cha tôi vậy.
- Được, mai sẽ hay.
            Suốt ngày hôm đó Dantès đi đi lại lại trong hầm, lòng vô cùng phấn khởi. Anh biết là người ta muốn giết anh, nhưng bây giờ anh sắp có một người bạn để cùng nhau chia sẻ nỗi khổ cực. Chính tiếng nói thần kỳ đó đã đưa anh trở về với cuộc sống. Tối hôm đó anh cứ ngồi lì trên giường để che lỗ thủng  đang đào dở. Khi tên cai ngục vào, anh nhìn hắn bằng con mắt trợn trừng. Hắn ngỡ anh sắp lên cơn nên chỉ lắc đầu rồi bước ra. Anh vội vàng chuyển cái giường ra chỗ khác và nghe có ba tiếng gõ đều đặn.
            - Nó đi chưa? - tiếng người đó hỏi.
            - Đi rồi ạ. Chúng ta có mười hai tiếng đồng hồ để tự do làm việc.
            Dantès chui vào lỗ hổng, thấy khối đất đá bên trong đổ sụp. Thế rồi từ miệng hố đen ngòm, sâu hoắm một cái đầu người chui ra, rồi đến cái mình và cuối cùng là một người hẳn hoi, nhanh nhẹn lách ra khỏi miệng hố.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 16 
NHÀ BÁC HỌC NGUỜI Ý

            Dantès ôm chầm lấy người bạn mới mà anh đã mỏi mắt mong chờ. Đó là một ông già bé nhỏ, tóc bạc phơ, đôi mắt sắc sảo ẩn dưới hàng lông mày rậm. Bộ râu của ông dài chấm ngực, mặt gày võ vàng, nhưng vẫn có những nét đặc biệt của người trí thức. Người ông nhễ nhại mồ hôi. Ông già khoảng gần bảy mươi tuổi, người còn khỏe, cử chỉ nhanh nhẹn. Ông vui mừng đón tiếp chàng thanh niên, cảm ơn lòng nhiệt tình của anh và chính ông cũng nhận thấy tâm hồn tưởng như đã giá lạnh của mình được sưởi ấm trở lại.
            - Trước hết phải tạm thời bịt cái lỗ này lại đã - ông già nói xong liền bê ngay hòn đá ấn vào lỗ hổng - Hòn đá này được nạy ra sơ sài quá, anh không có dụng cụ gì à? Tôi có đầy đủ, trừ một cái giũa. Đây là một cái đục.
            Dantès ngắm nghía cái đục nhọn rất cứng có chuôi bằng gỗ hỏi :
            - Bác làm bằng gì thế?
            - Bằng cái chốt sắt của cái giường tôi nằm. Tôi đã dùng nó để đào con đường từ buồng tôi đến tận đây, dài vào khoảng năm mươi bộ. Nhưng vì thiếu dụng cụ hình học chính xác, tôi đã đào chệch cái đường huyền mất mười bộ, nên đáng lẽ nó ăn thông ra bức tường trông ra biển thì lại đâm thẳng vào buồng của anh. Công việc thế là hỏng bét cả. Bây giờ muốn đi từ buồng anh ra bức tường trông ra biển thì mười người thợ mỏ với đầy đủ dụng cụ mới đục thủng được bức tường đá. Còn muốn đào xong con đường đó thì phải mất một thời gian là mười năm. Còn có một con đường nữa tới cái hành lang có lính canh. Như vậy khó lòng trốn thoát từ buồng của anh. Thôi, hãy để Thượng đế định đoạt số phận của chúng ta.
            - Bây giờ xin bác cho cháu biết bác là ai? - Dantès ngạc nhiên trước sự thất vọng của ông già, hỏi.
            - Tôi là linh mục Faria bị bắt năm 1811 tại một tỉnh của nước Ý, được chuyển sang Pháp, rồi bị giam giữ ở lâu đài If này. Từ năm 1807, tôi đã mơ ước nước Ý đang bị chia năm xẻ bảy thành những vương quốc hèn yếu đâm chém lẫn nhau trở thành một nước Ý thống nhất. Ước mơ này Hoàng đế Napoleon muốn thực hiện năm 1811. Tôi tưởng ông ta đã nghe theo kế hoạch của tôi, nhưng ông ta lại quá khờ khạo và làm hỏng việc. Thật là tai hại cho nước Ý.
            - Tại sao ở đây người ta đồn rằng bác bị mất trí?
            - Phải, phải - Linh mục cười chua chát - Tôi đã làm ra vẻ bị mất trí để mua vui cho chúng. Anh nên biết rằng tôi đã tốn công, tốn sức trong bốn năm trời để làm xong những dụng cụ cần thiết và ba năm để đào một con đường trên một địa hình rắn như đá. Tôi đã dùng một cái vòm cầu thang để đổ số đất và đá vụn đào ra. Đến bây giờ cái vòm đó đã đầy ắp không nhét thêm vào đâu được nữa.

            Linh mục Faria nói xong, nằm lăn xuống giường của Dantès, còn anh thanh niên đứng bên cạnh. Trước đây chưa bao giờ Dantès nghĩ đến chuyện vượt ngục. Những sự việc mà vị linh mục vừa nói đã vượt quá sức tưởng tượng của anh. Đào một con đường năm mươi bộ trong ba năm trời để rồi nhảy từ trên cao năm sáu chục bộ xuống biển. Nếu không bị vỡ tan sọ bởi những tảng đá thì cũng dễ bị ăn đạn của bọn lính canh. Nếu may mắn tránh được những rủi ro đó, thì lại còn phải bơi một dặm nữa mới hòng thoát thân. Nghĩ đến những nỗi éo le đó cũng đủ làm người ta phải nản chí. Anh thấy một ông già mà vẫn còn cố bám vào cuộc sống với một nghị lực phi thường như vậy thì cũng đủ nêu cho anh một tấm gương kiên trì và dũng cảm. Rồi anh suy tính : Nếu linh mục Faria đã đào được năm mươi bộ thì anh, một thanh niên khỏe mạnh khéo léo, sẽ phải đào được một trăm bộ. Linh mục đã đào ba năm, anh sẽ đào sau một năm. Một thầy tu già yếu dám bơi từ lâu đài If tới một hòn đảo gần đấy thì anh, một thủy thủ bơi giỏi, một thợ lặn, anh chỉ bơi trong một giờ. Được, anh sẽ làm được tất cả.

            - Con đường hầm của bác dẫn tới hành lang phải không?
            - Phải, vào khoảng mười lăm bước.
            - Ở khoảng giữa hành lang chúng ta sẽ đục thẳng lên như hình chữ thập. Chúng ta sẽ nhảy ra ngoài hành lang, giết tên lính canh rồi trốn ra ngoài. Bác có tinh thần dũng cảm và nghị lực cháu có sức khỏe, chúng ta nhất định sẽ thành công.
            - Hãy khoan đã anh bạn trẻ ơi. Tôi thừa sức chọc thủng một bức tường và hủy hoại một cái cầu thang, nhưng tôi không dám đâm thủng một bộ ngực và hủy hoại một mạng người.
            - Thế nào ạ, để được tự do, bác không dám làm việc đó sao?
            - Sao trước kia anh không giết chết tên cai ngục để chạy trốn?
            - Cháu chưa nghĩ tới chuyện đó.
            - Vì anh thấy ghê tởm trước một tội ác đấy thôi. Một con hổ làm đổ máu vì bản chất, vì thú tính. Nhưng một con người, ngược lại, sợ đổ máu không phải vì luật lệ xã hội ngăn cấm mà vì những quy luật thiên nhiên. Chúng ta hãy chờ một cơ hội khác. Có thể sự may rủi sẽ đem lại cho chúng ta một cơ hội tốt hơn. Anh hãy tin tôi, tôi ở tù đã mười hai năm rồi.

            Dantès thở dài nói :
            - Bác chờ đợi lâu thật. Ngoài công việc đào hầm ra, bác còn làm gì để giải sầu không?
            - Tôi viết sách và học.
            - Người ta cho bác giấy bút và mực à?
            - Không, tôi tự chế tạo lấy tất cả. Tôi đã viết xong một cuốn : "Luận cương về một nền quân chủ hợp nhất ở Ý" bằng hai cái áo sơ mi và tôi đã khâu liền lại và phẳng như giấy.
            - Ngoài sự hiểu biết về khoa học, triết học, chắc bác còn biết nhiều thứ tiếng nước ngoài?
            - Tôi nói được năm thứ tiếng và đang tự học tiếng Hy Lạp mới.
            Dantès mỗi lúc một thêm ngạc nhiên về khả năng siêu phàm của con người kỳ dị đó.
            - Bao giờ bác cho cháu xem những phát minh của bác?
            - Ngay bây giờ, nếu anh muốn. Hãy theo tôi.
            Nói xong, linh mục chui vào hầm, Dantès chui theo sau.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 17 
CĂN BUỒNG CỦA LINH MỤC

            Dantès chui theo đường hầm sang buồng linh mục Faria. Anh chăm chú quan sát, nhưng thoạt đầu anh chẳng thấy gì là đặc biệt.
            - Tốt lắm - Linh mục nói - Mới mười hai giờ kém 15, chúng ta còn vài tiếng đồng hồ nữa.
            Dantès không hiểu ông linh mục xem giờ ở đâu mà lại nói một cách chính xác như vậy.
            - Anh hãy nhìn tia sáng lọt qua cửa sổ và nhìn những nét tôi vạch trên tường. Nhờ những cái đó tôi biết giờ giấc chính xác như có đồng hồ vậy.
            Nói xong, linh mục bước đến cạnh lò sưởi, nạy một viên đá trong lò rồi thò tay vào trong một cái hốc khá sâu, rút ra mấy cuộn băng rộng khoảng mười phân, dài mười tám phân, có đánh số, viết bằng tiếng mẹ đẻ của linh mục.
            - Đây là cuốn sách của tôi, gồm sáu mươi tám băng vải. Tôi đã phải dùng hai cái áo và tất cả số khăn mùi soa tôi có. Sau này đem in thành sách chắc có giá trị lắm đây.
            Sau đó linh mục cho Dantès xem cái quản bút, ngòi bút, mực, một con dao rất sắc được làm toàn bằng những thứ kiếm được trong buồng giam.
            - Ban đêm bác làm việc thế nào?
            - Tôi lọc mỡ ở thịt trong thức ăn làm thành những cây nến. Còn diêm thì dùng hai hòn sỏi và miếng giẻ rách.

            Linh mục xếp những thứ đó vào chỗ cũ rồi đi đến bên giường, dịch nó ra chỗ khác. Đoạn ông nạy một hòn đá đằng sau giường, lôi ra một cái thang dài khoảng ba mươi bộ, rất chắc, được bện bằng sợi vải may quần áo và khăn trải giường.
            - Tôi định buộc cái thang này vào cửa sổ mà tôi sẽ cậy hết các chấn song rồi trèo ra bên ngoài. Nhưng khốn nỗi cái cửa sổ này lại trông ra một cái sân có lính canh, nên tôi đành phải bỏ kế hoạch đó và chờ một cơ hội khác.
            - Khối óc của bác quả là kỳ lạ. Chắc bác sung sướng lắm vì có được nhiều hiểu biết như vậy.
            Linh mục cười, bảo :
            - Bây giờ đến lượt anh kể cho tôi nghe về cuộc đời của anh.
            - Cháu là một người vô cùng bất hạnh và cháu xin thề với bác là cháu hoàn toàn oan uổng.
            Rồi anh kể về chuyến đi cuối cùng của anh sang Ai Cập, về cái chết của ông thuyền trưởng Leclere, về bức thư mà Hoàng đế giao cho anh mang về cho ông Noirtier ở Paris, đến lễ đính hôn của anh với Mercédès cho tới khi anh bị bắt.
            Nghe xong, linh mục ngồi suy nghĩ khá lâu rồi hỏi anh :
            - Có ai ghen tức với anh nếu anh được làm thuyền trưởng không?
            - Mọi người trên tàu đều yêu mến cháu, trừ viên kế toán Danglars mà đã có lần giữa cháu và anh ta xảy ra xích mích.
            - Hắn có biết anh mang theo bức thư trong người không?
            - Có ạ.
            - Bức thư tố cáo viết như thế nào?
            - Cháu nhớ rất rõ vì đã đọc đi đọc lại ba bốn lần.
            Nói xong, Dantès đọc bức thư. Linh mục liền nhún vai :
            - Thật rõ như ban ngày. Anh thật là ngây thơ. Thường ngày chữ của Danglars viết thế nào?
            - Chữ Danglars viết đứng, còn chữ trong bức thư lại viết ngả.
            - Có phải như thế này không?
            Linh mục cầm bút chấm vào mực và dùng tay trái viết.
            - Ôi! Đúng rồi! Đúng y như chữ viết trong thư tố cáo.
            Dantès kêu lên như vậy và hoảng sợ nhìn linh mục. Ông lại nói tiếp :
            - Bây giờ sang câu hỏi thứ hai : Nếu anh lấy cô Mercédès có ai ghen tức không?
            - Có đấy ạ. Anh họ cô ta, một anh chàng người Catalans tên là Fernand. Có một lần hắn đã dọa đâm cháu.
            - Danglars có quen biết Fernand không?
            - Có đấy ạ. Trước hôm lễ đính hôn cháu thấy hai đứa ngồi uống rượu với gã thợ may Caderousse là hàng xóm của cháu. Khi cháu đi qua, cháu nhìn thấy trên mặt bàn có để giấy bút - Rồi Dantès ôm đầu kêu lên - Ôi! Những quân khốn kiếp, quân khốn kiếp!
            Linh mục lại mỉm cười hỏi tiếp :
            - Người nào hỏi cung anh?
            - Viên phó biện lý, còn trẻ, vào khoảng hăm bảy, hăm tám. Ông ta xử sự với cháu rất lịch sự, ăn nói nhã nhặn và than phiền cho số phận hẩm hiu của cháu. Chính ông ta đã đốt đi bức thư gửi cho ông Noirtier để tiêu hủy tang vật làm cháu mắc tội và sau đó còn bắt cháu thề là không được nói chuyện đó ra.
            - Noirtier - Linh mục nhắc lại - Noirtier, tôi biết đó là một đảng viên Girondin trong thời kỳ cách mạng. Thế viên phó biện lý tên gì?
            - De Villefort.
            Linh mục cười sặc sụa nói :
            - Cái lão Noirtier ấy là bố đẻ của Villefort.
            Như sét đánh ngang tai, Dantès ngã quỵ xuống. Hai tay ôm chặt lấy đầu, anh thét lên một tiếng dữ dội loạng choạng bước đến cửa hầm, chui vào và quay trở về buồng giam của mình. Về tới nơi, anh ngã vật xuống giường, suốt cả buổi tối đó anh nằm im lặng như một pho tượng, mắt mở thao láo, không nhúc nhích. Rồi sau đó anh nảy ra một quyết định khủng khiếp và thề những câu rất độc địa.
            Sau khi tên cai ngục đi khỏi, Dantès thấy linh mục chui sang mời anh ăn chung. Hôm đó là chủ nhật, linh mục được hưởng một cốc rượu do viên giám thị chiếu cố địa vị và sự mất trí của linh mục, đã ban cho đặc ân ấy.
            Lúc ngồi vào ăn, Dantès lấy lại được vẻ mặt bình thường, nhưng trong lòng anh đã hình thành một quyết định cứng rắn. Linh mục Faria chăm chú nhìn anh rồi lắc đầu buồn bã :
            - Tôi tự trách mình đã nói cho anh biết rõ sự thật và đã gieo rắc vào lòng anh một ý nghĩ mới mà trước đây anh không có : trả thù.
            - Thôi chúng ta nói sang chuyện khác - Dantès mỉm cười nói - Cháu là một thanh niên dốt nát chưa mấy hiểu biết về cuộc sống nên cháu rất sung sướng nếu được bác truyền cho cháu những hiểu biết của bác và hẳn vì thế mà bác sẽ được giải trí đôi phần.
            - Chao ôi! - Linh mục nói - Những hiểu biết của con người chỉ có hạn. Có lẽ sau vài ba năm tôi dạy anh toán học, lý, hóa, lịch sử và ba, bốn sinh ngữ. Anh sẽ thông thạo những điều tôi dạy. Nhưng đấy mới chỉ là lý thuyết thôi, còn thực hành thì chưa đâu. Vì học chưa phải đã là hiểu biết : học chỉ cần trí nhớ, còn nhận thức thì phải có triết lý. Triết lý không cần phải học, triết lý là thu lượm những khoa học mà các bậc thánh hiền ứng dụng. Triết lý là đám mây rực rỡ mà Chúa Jesus đã đặt chân vào để bay lên trời.
            Từ tối hôm đó, hai bác cháu tù nhân thảo ra một kế hoạch học tập. Dantès có một trí nhớ kỳ diệu, một nhận thức tuyệt vời, cho nên chỉ sau sáu tháng anh đã nói được tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh và tiếng Đức. Sau một năm anh đã biến thành một con người khác hẳn.

            Còn linh mục Faria, Dantès nhận thấy, mặc dù gặp được anh, ông già có phần khuây khỏa bớt, nhưng bộ mặt ông ngày càng trở nên đăm chiêu. Ông có vẻ nghĩ ngợi nhiều, thỉnh thoảng lại thấy ông thở dài và khoanh tay trước ngực đi đi lại lại trong buồng giam. Đột nhiên một hôm ông hỏi :
            - Dantès, anh khỏe lắm phải không?
            Dantès không trả lời, chỉ cầm cái đục uốn cong lại rồi lại bẻ thẳng ra.
            - Anh có dám cam kết là chỉ giết tên lính canh trong trường hợp bất đắc dĩ không?
            - Cháu xin lấy danh dự mà thề.
            - Vậy thì bây giờ chúng ta đã có thể thực hiện kế hoạch được rồi đấy.
            - Cần thời gian bao lâu?
            - Một năm, và chúng ta phải bắt tay vào công việc ngay.
            Linh mục đưa cho Dantès xem một bản sơ đồ vẽ hai cái buồng của ông và Dantès. Giữa đường hầm thông sang nhau ông kẻ một đường hầm khác thông ra hành lang có tên lính gác. Tới chỗ đó họ sẽ khoét một cái hố rộng, dỡ một phiến đá lát hành lang. Và đến một lúc nào đó, tên lính canh đi tới thì sẽ trói gô nó lại, nhét giẻ vào mồm. Sau đó hai người trèo qua cửa sổ hành lang dùng chiếc thang trốn ra ngoài.
            Dantès vỗ tay reo lên, đôi mắt long lanh. Kế hoạch thật đơn giản. Ngay hôm đó, hai thầy trò bắt tay vào công việc với lòng hăng say sau một thời gian dài nghỉ ngơi, với một ý chí thầm lặng và cương quyết. Số đất đào ra được lần lượt rắc lên cửa sổ từng ít một và được gió cuốn ra xa.
            Trong một năm ròng đào bới bằng những dụng cụ do họ tự chế, linh mục vẫn tiếp tục dạy Dantès học ngoại ngữ và lịch sử những nước lớn, học về những vĩ nhân, cách đối nhân xử thế, những nghi thức ngoại giao của tầng lớp thượng lưu.
            Sau mười lăm tháng, đường hầm đã đào xong. Hai người đã nghe thấy trên đầu tiếng bước chân của tên lính canh. Trong lúc Dantès đang dùng một cái xà để chống phiến đá lát hành lang, còn linh mục đang buộc lại cái thang dây ở phía sau thì đột nhiên anh nghe tiếng gọi giật với giọng kêu cứu. Anh chạy vội đến thì thấy linh mục mặt mũi nhợt nhạt,  tay co quắp, trán ướt đẫm mồ hôi. Anh vội hỏi :
            - Ôi lạy Chúa! Bác làm sao thế này?
            - Tôi nguy mất rồi anh ạ. Căn bệnh hiểm nghèo của tôi lại tái phát. Tôi mắc phải nó sau ngày bị bắt giam và bây giờ tôi lại thấy sắp lên cơn rồi. Anh chạy ngay về buồng tôi, nhấc cái giường lên, moi trong một cái chân rỗng, thấy một lọ con đựng một thứ thuốc nước đỏ còn độ một nửa, mang lên đây cho tôi... Hay tốt hơn hết, anh dìu tôi về buồng vì tôi sợ sẽ lên cơn lâu.
            Dantès vội dìu linh mục về buồng của ông và đặt ông nằm lên giường.
            - Cám ơn anh - Linh mục run cầm cập nói - Tôi đang lên cơn đây này. Anh hãy đổ mươi giọt nước trong lọ vào mồm tôi, tôi sẽ qua khỏi thôi. Anh cố gắng giúp tôi... tôi thấy... tôi...
            Linh mục chưa nói hết câu, mắt đã trợn ngược, miệng nhăn nhó và rên la thảm thương. Dantès phải lấy chăn bịt mồm ông lại, rồi cậy hàm răng cứng nhắc của ông để đổ thuốc. Một giờ sau, bộ mặt linh mục trở lại hồng hào, đôi mắt bình thản, chân tay bắt đầu cử động, và thở đều.
            Thấy thế, Dantès reo lên :
            - A! Bác khỏi rồi!

            Linh mục còn chưa nói được, chỉ giơ tay chỉ về phía cửa buồng. Dantès hiểu là sắp đến giờ tên cai ngục mang thức ăn vào anh vội vã chui về giường mình. Khi tên cai ngục vừa đi khỏi, Dantès sốt ruột vội vàng chui sang buồng linh mục. Tuy đã hồi tỉnh nhưng ông vẫn còn nằm nguyên trên giường, lắc đầu.
            - Lần trước tôi lên cơn đau nửa giờ, nhưng sau đó tôi đứng dậy được ngay. Lần này tôi bị liệt một chân và một tay, đầu thấy choáng váng. Đến lần thứ ba tôi sẽ tê hệt hẳn và sẽ không sống được nữa đâu.
            - Không đâu, bác không thể chết được vì đến lần thứ ba chúng ta đã được tự do rồi và có đủ điều kiện để chữa cho bác khỏi bệnh.
            - Nhưng cháu ạ, muốn thoát thân phải đi được và bây giờ bác bị liệt nửa người rồi, làm sao mà bơi được.
            - Chúng ta sẽ chờ mười ngày, một tháng, hai tháng nếu cần.
            - Cháu ạ, bệnh của bác là một bệnh di truyền. Ông bác, cha bác đều mắc chứng bệnh này và đều bị chết sau lần lên cơn thứ ba. Bác sẽ ở lại đây và cái chết sẽ là sự giải thoát cho bác. Còn cháu, cháu còn trẻ, còn khỏe, thông minh, cháu hãy trốn đi đừng quan tâm đến bác nữa.
            - Không đâu - Dantès nói - Cháu xin thề có Chúa là cháu không bỏ bác chết một mình ở đây, cháu sẽ ở lại với bác.
            Linh mục nhìn chàng thanh niên hiền hậu, cao quý mà lời nói biểu hiện rõ tấm lòng trung thực. Ông nắm lấy tay anh bảo :
            - Rồi đây cháu sẽ được đền đáp vì lòng hy sinh không chút vụ lợi và cao cả của cháu.

 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 18 
KHO BÁU

            Sáng hôm sau, Dantès trở lại buồng linh mục. Anh thấy ông già cầm trong bàn tay trái còn cử động được một mảnh giấy cuộn tròn. Ông đưa cho anh xem rồi mỉm cười hỏi :
            - Cháu có biết cái gì đây không? Thử nhìn kỹ xem nào.
            - Cháu chỉ thấy nó là một mảnh giấy cháy dở, bên trên viết những chữ kiểu Gôtích và bằng một thứ mực kỳ lạ.
            - Bác bảo để cháu biết mảnh giấy này là kho tàng của bác và từ ngày hôm nay một nửa của nó thuộc về cháu.
            Dantès toát mồ hôi trán. Từ trước tới nay anh đã tránh không muốn nói tới cái kho tàng mà do nó ông linh mục bị người ta cho là mất trí. Hôm nay ông lại nhắc tới. Có thể ông sắp lên cơn điên chăng? Linh mục nói tiếp :
            - Phải, thấy cháu tái mặt và run run, bác biết là cháu lại cũng cho bác sắp lên cơn điên. Nhưng không đâu, cháu cứ yên tâm. Cháu Dantès, kho tàng này có thật đấy, không một ai tin lời nói của bác và đều cho là bác mất trí. Còn cháu, cháu biết là bác không mất trí và cháu sẽ tin bác. Giờ đây bác phải gấp rút nói cho cháu biết. Biết đâu ngày mai hoặc ngày kia cơn thứ ba sẽ xảy đến cho bác, thế là mọi việc đều hỏng cả. Lắm lúc bác cảm thấy chua xót bởi một kho tàng khổng lồ như vậy sẽ trở thành vô dụng vì sự ngu xuẩn và độc ác của những kẻ mà bác căm thù. Và bây giờ, bác đã biến lòng căm thù bọn chúng thành tình thương yêu, bác dành nó cho cháu, vì bác thấy cháu còn trẻ và đầy hứa hẹn. Cháu xứng đáng được hưởng niềm hạnh phúc này.
            Edmond quay đầu đi, thở dài. "Ta đành phải chiều theo ý người!". Anh nghĩ bụng và cầm lấy mảnh giấy đã cháy mất một nửa lên đọc :
                        Người thừa kế duy nhất của tôi...
                        ...một kho tàng trị giá hai...
                        ...tiền La Mã ở cái hố thứ hai
                                    25 tháng Tư năm 1498
            - Thế nào? - Linh mục hỏi - Cháu chả hiểu gì cả phải không? Nhưng bác, bác đã tốn rất nhiều đêm mới lần mò tính toán tìm cho ra những dòng chữ đã bị cháy để xây dựng lại tờ di chúc. Trước hết, bác cho cháu biết lịch sử của nó như sau : Cháu phải biết rằng trước đây bác làm thư ký riêng của Hồng Y giáo chủ Spada, người cuối cùng của dòng họ Spada nổi tiếng giàu có.

            Một hôm Giáo chủ đưa cho bác xem cuốn lịch sử thành Rome. Nhờ đó bác được biết cụ tổ của Giáo chủ bị Giáo hoàng Alexander VI đầu độc để chiếm đoạt gia sản, lấy tiền xây dựng cơ nghiệp ở Ý và gây chiến với hoàng đế Pháp Louis XII. Sau khi chiếm đoạt được gia sản của Cæsar Spada, Giáo hoàng không tìm thấy kho tàng quý giá mà chỉ thấy một tờ di chúc để lại cho người cháu những đồ đạc và sách vở trong đó có một cuốn kinh thánh mạ vàng, in rất đẹp được truyền lại cho các con cháu đời sau, cuối cùng là cho vị Hồng y giáo chủ mà bác làm thư ký riêng. Năm 1807 Giáo chủ mất và để lại cho bác toàn bộ sách vở của Người cùng với cuốn kinh thánh.
            Bác rời Rome đi Florence và một đêm bác trở dậy thấy ngọn đèn tắt ngấm. Bác sờ tìm bao diêm, không thấy đâu, nhưng nhớ là trong cuốn kinh thánh có một mảnh giấy vàng khè dùng để đánh dấu trang. Bác liền dùng mảnh giấy đó để châm đèn. Khi gí mảnh giấy vào một ngọn nến sắp tàn, bác nhìn thấy tờ giấy trong khi cháy, có những dòng chữ hiện dần lên ở chân ngọn lửa. Bác hoảng hốt, dập tắt ngay mảnh giấy đã bị cháy mất một nửa và nhận thấy các chữ được viết bằng một thứ mực đặc biệt và chỉ hiện ra khi bị hơ thật nóng.
            Mảnh giấy còn lại là mảnh giấy cháu vừa được đọc đấy. Và đây là toàn bộ tờ di chúc mà bác đã xây dựng lại bằng cách đo khoảng cách của các dòng chữ, của các chữ viết và tìm ra được những chữ thiếu. Cháu hãy ghép hai mảnh giấy lại với nhau và đọc tiếp đi.

            Dantès đọc :
            Hôm nay, ngày 25 tháng Tư năm 1498, được tin Giáo hoàng Alexander VI mời đến dự tiệc, tôi biết là sẽ cùng chung số phận với các Hồng y giáo chủ Caprara và Bentivoglio bị đầu độc. Tôi tuyên bố để lại cho cháu tôi là Guido Spada, người thừa kế duy nhất của tôi, một kho tàng mà tôi đã chôn giấu trong một cái hang ở đảo Monte Cristo, gồm vàng nén, tiền vàng, châu báu, đồ trang sức trị giá vào khoảng hai triệu đồng La Mã, ở cái hố thứ hai của tảng đá thứ hai mươi, bắt đầu từ cái vụng nhỏ dọc theo núi đá.
            "25 sáng Tư năm 1498 - Cæsar Spada"
            Đọc xong, Dantès hỏi :
            - Tìm được kho tàng này bác sẽ dùng làm gì?
            - Bác có một ước mơ to lớn là thống nhất nước Ý cho nên đã bị cơ quan cảnh sát của hoàng gia theo dõi. Bác vừa bước chân tới Piombino thì bị bắt. Bây giờ cháu đã biết kết cục đó ra sao rồi. Bác cháu ta sẽ chia đôi kho tàng đó, nếu chẳng may bác chết, nó sẽ thuộc về cháu. Một di sản lớn lắm, vào khoảng mười ba triệu tiền bây giờ.
            - Thật quá sức tưởng tượng - Dantès hoảng sợ nói - Thế không còn người thừa kế nào khác nữa ư?
            - Không còn ai cả. Hồng y giáo chủ Spada là người cuối cùng của dòng họ Spada. Khi để lại cho bác cuốn kinh thánh kỳ diệu đó, bác đã trở thành người thừa kế duy nhất của Người. Ngày nay, nếu chẳng may bác chết, cháu sẽ là đứa con của bác. Vì Thượng đế đã phái cháu xuống để an ủi một người tù không thể vượt ngục được, một con người không thể có con được.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 19 
LÊN CƠN LẦN THỨ BA

            Linh mục Faria chưa biết đảo Monte Cristo ra sao, Dantès lại biết rất rõ vì anh đã đi qua đó nhiều lần. Đó là một hòn núi đá hình nón hoàn toàn hoang vắng, nằm ở giữa đảo Corse và đảo Elba. Anh bèn vẽ sơ đồ cho linh mục và linh mục hướng dẫn anh cách tìm ra cái kho báu. Đối với hai con người xấu số này, những ngày bàn bạc trở thành những ngày sung sướng nhất và chóng hết nhất. Ngoài ra, tuy bị liệt một tay và một chân, trí óc của linh mục Faria vẫn sáng suốt và ông già vẫn tiếp tục dạy anh thanh niên học. Tuy nhiên những lúc xa nhau, mỗi người lại theo đuổi những ý nghĩ riêng của mình.
            Một đêm, Dantès đang ngủ bỗng giật mình tỉnh giấc vì anh nghe hình như có tiếng người gọi tên anh kèm theo tiếng rên rỉ. Như có linh tính báo trước, anh vội vã chui sang buồng linh mục thì thấy ông già mặt tái nhợt, nhăn nhó, đứng chống tay vào thành giường. Gương mặt khủng khiếp của linh mục cho thấy rõ là cơn thứ ba đang đến. Anh kêu lên một tiếng đau đớn và muốn chạy ra cửa để kêu cứu. Nhưng linh mục vẫn còn sức để nắm tay anh lại :
            - Đừng có dại dột thế cháu. Bọn cai ngục mà khám phá ra bí mật của chúng ta thì chết cả đôi.
            - Ôi bác ơi, trong lúc xúc động quá cháu đã quên khuấy đi mất. Cháu còn có thể cứu bác được một lần nữa.

            Nói xong, Dantès đến chân giường moi ra lọ thuốc rồi ôm lấy ông già đặt nằm lên giường. Ông già thều thào :
            - Bác thấy người lạnh toát rồi. Chỉ năm phút nữa cơn sẽ lên tới cực độ và sau mười lăm phút bác sẽ không còn nữa.
            Dantès quì xuống, gục đầu vào thành giường. Ông già nói tiếp :
            - Nghe đây cháu, đứa con yêu quý mà Thượng đế đã ban cho ta, cái kho tàng của dòng họ Spada là có thật. Con hãy trốn ra đảo Monte Cristo để hưởng lấy kho báu đó. Ta chúc con giàu sang, hạnh phúc mà con xứng đáng được hưởng. Vĩnh biệt!?! Vĩnh biệt con yêu quý?!!
            Linh mục phều phào, rồi dùng hết sức tàn nói tiếp : "Monte Cristo !?!... Đừng quên Monte Cristo !!!..."

            Chân tay ông già co quắp lại, mắt trợn ngược, mép sùi bọt đỏ như máu. Dantès vội cạy hàm răng nhỏ đúng mười giọt thuốc vào miệng ông già. Anh chờ năm phút, mười phút, rồi nửa giờ chẳng thấy chuyển biến gì bèn đổ nốt chỗ thuốc còn lại vào miệng ông. Lập tức có phản ứng ngay : người ông linh mục run bắn lên, đôi mắt mở to nom rất ghê sợ. Ông thở dài gần như kêu lên rồi dần dần nằm im không động đậy nữa.
            Edmond cúi xuống để tay lên ngực linh mục Faria. Một lát sau thấy người ông già lạnh dần và tim không đập nữa, đôi mắt ông tuy đã hết sinh khí vẫn mở trừng trừng. Ánh sáng chập chờn của cây nến lướt trên khuôn mặt trắng bệch của xác chết. Một nỗi kinh hoàng ghê gớm không thể kìm hãm được xâm chiếm tâm hồn Dantès. Anh lấy tay cố vuốt đôi mắt trắng dã nhiều lần nhưng không được. Anh vội vàng tắt cây nến rồi trở về buồng mình vì đã sắp đến giờ cai ngục mang thức ăn vào. Anh nôn nóng muốn biết  sự thể ở buồng linh mục ra sao nên anh chẳng thiết gì ăn uống.
            Khi tên cai ngục vừa ra khỏi, anh chui ngay vào đường hầm. Vừa đến cuối hầm đã nghe thấy trong buồng linh mục có tiếng huyên náo. Tên cai ngục đang kêu thất thanh, gọi mấy tên khác tới, và sau đó là viên giám thị. Edmond nghe tiếng chúng lay xác chết trên giường và viên giám thị ra lệnh dội nước lên mặt vị linh mục. Thấy không ăn thua gì, viên giám thị liền cho đi mời bác sĩ.
            - Thế là lão già mất trí đã trở về với cái kho tàng của lão - Tiếng một đứa giễu cợt.
            - Lão có bao nhiêu triệu mà lúc chết chẳng có lấy một mảnh vải liệm - Tiếng đứa khác tiếp theo.
            - Chúng ta sẽ tặng cho lão một cái bao tải chứ sao.
            Edmond nghe không sót một câu nào. Anh ngồi không nhúc nhích và hầu như nín thở. Một lát sau, viên giám thị trở lại cùng với một bác sĩ trại giam. Mấy phút im lặng rồi tiếng thịt cháy xèo xèo, mùi khét lẹt bốc lên. Tiếng bác sĩ :
            - Đốt thịt thế này rồi mà chẳng thấy chuyển, chứng tỏ lão già này chết thật sự rồi.
            Sau đó có tiếng người ra vào tấp nập, Dantès nghe thấy tiếng chiếc giường kêu cọt kẹt, tiếng một vật được di động và tiếng vải sột soạt. Rồi có tiếng viên giám thị :
            - Mười giờ đêm nay sẽ khiêng lão đi. Chẳng cần phải canh gác làm gì, cứ khóa cửa để đấy.

            Có tiếng chân người bước ra khỏi buồng rồi tiếng chìa khóa nghiến trong ổ khóa. Sự im lặng ghê rợn của cái chết tràn ngập khắp nơi, xâm nhập vào tâm hồn giá lạnh của chàng thanh niên.
            Trong buồng không còn ai nữa. Dantès chui ra khỏi đường hầm vào buồng giam linh mục mà lúc này chỉ là cái nhà xác.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 20 
NGHĨA ĐỊA CỦA LÂU ĐÀI IF

Một chiếc bao vải thô đặt nằm dài trên giường. Những chỗ lồi lõm hằn lên một hình người, dài và cứng đờ. Đó là linh mục Faria nằm trong tấm vải liệm không mất tiền mua. Thế là hết. Anh phải xa một người thân thiết, một người cùng cảnh mà cuộc sống chung đã đem lại cho anh biết bao sức mạnh, biết bao nghị lực, biết bao hiểu biết. Anh ngồi xuống giường, ngao ngán, cảm thấy mình từ nay vô cùng cô đơn và đau khổ.
Có một lúc anh muốn tự sát để đi theo linh mục Faria vì cái chết sẽ là một sự giải thoát để chấm dứt những nỗi đau thương. Nhưng rồi anh lại từ bỏ cái ý nghĩ xấu xa, hèn nhát đó, và đột nhiên anh thấy khát khao cuộc sống tự do. Không, anh phải sống và chiến đấu đến cùng để chiếm lại niềm hạnh phúc đã bị chiếm đoạt, để trả thù những tên khốn kiếp đã làm hại đời anh, cũng như để đền ơn những người đã xử tốt với mình.
“Ôi, lạy Chúa! Chỉ có chết mới ra khỏi được đây sao?”
Chết mới ra khỏi đây! Câu nói đó tù miệng anh thốt lên lại đập vào tai anh, và như một tiếng vang lặp đi lặp lại trong óc anh, làm anh chợt nảy ra một ý nghĩ táo bạo. Anh kêu lên : “Thì ta hãy đi theo con đường của người chết chứ sao”.
Anh vội vàng cầm con dao sắc của linh mục, cắt dây, mở bao tải, kéo xác chết ra ngoài, mang sang buồng anh rồi đặt lên giường. Anh đội cái mũ của anh lên đầu xác chết, để xác bác linh mục Faria quay mặt vào tường, lấy cái chăn đắp lên người. Anh làm như vậy khi để tên cai ngục mang thức ăn vào giường vẫn tưởng là anh đang ngủ như thường lệ. Xong đâu đấy, anh trở lại buồng linh mục, lấy kim chỉ, chui vào bao tải rồi khâu đầu bao ở bên trong lại. Anh định bụng, nếu trong lúc đi đường, những đứa khiêng anh phát hiện thấy sự giả mạo, anh sẽ dùng dao rạch cái bao ra rồi chạy trốn. Nếu chúng đuổi theo, anh sẽ phải dùng dao để khử chúng. Nếu chúng đem ra nghĩa địa chôn, chờ chúng lấp đất xong, anh sẽ bới đất chui lên rồi tẩu thoát.

Anh chỉ còn một mối lo ngại là đến bảy giờ tối tên cai ngục có thể đem thức ăn vào, trái với thường lệ, sẽ đánh thức anh dậy thì kế hoạch bị lộ. Nhưng quá giờ đó không thấy động tĩnh gì, anh biết là mình đã thoát.
Mười giờ đêm, anh nghe có tiếng chân người bước vào buồng. Anh cố nín thở, lấy hết can đảm chờ. Nhìn qua khe hở của bao tải, anh thấy hai đứa tiến đến cạnh giường, còn đứa thứ ba cầm đuốc đứng ở cửa buồng. Một đứa nhấc đầu chiếc bao tải lên, rồi nói một câu làm anh rợn tóc gáy :
- Lão già này trông gầy gò thế mà nặng đáo để.
Hai đứa đặt chiếc bao lên cáng rồi khiêng ra khỏi buồng. Tên cầm đuốc đi trước soi đường. Chúng khiêng cái bao lên khỏi cầu thang. Chỉ một lát sau anh thấy mát lạnh và khoan khoái hít thở bầu không khí trong lành ngoài trời. Đi được vài chục bước, chúng đặt cáng xuống đất. Anh nghe có một vật nặng rơi gần người rồi một sợi dây thừng siết chặt vào chân anh làm anh đau nhói. Chúng lại khiêng cáng đi và một lát sau anh nghe có tiếng sóng vỗ rì rầm đập vào những tảng đá.
- Trời xấu quá - Một đứa nói - Đêm nay mà đi biển thì chả thú vị gì.
- Linh mục sẽ bị ướt như chuột lột mất thôi.
Cả ba đứa cùng phá lên cười. Dantès không hiểu câu nói đùa của chúng nhưng cảm thấy sởn gai ốc. Được vài bước đi nữa, Dantès thấy một đứa nắm đầu, một đứa nắm chân anh nhấc bổng lên rồi thấy chúng đung đưa anh như đưa võng, đòng thời cùng đếm : Một... hai... ba... này!

Tức thì người anh bị tung lên trong khoảng không vô tận, rơi xuống, rơi xuống mãi, tựa hồ như một con chim bị thương. Một nỗi kinh hoàng khủng khiếp làm toàn thân anh giá lạnh. Một vật rất nặng kéo tuột người anh xuống phía dưới, lao xuống rất nhanh như một mũi tên, xuống nước lạnh ngắt làm anh buột ra một tiếng kêu rùng rợn.
Dantès đã bị quẳng xuống biển với một hòn đạn đại bác nặng ba mươi sáu cân buộc vào chân.
Vậy, cái nghĩa địa của lâu đài If chính là biển cả!
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 21 
ĐẢO TIBOULEN

Dantès bị choáng váng, gần như nghẹt thở. Nhưng anh nhanh trí, cầm con dao sắc đã chuẩn bị từ trước rạch cái bao và chui được ra ngoài. Song anh vẫn thấy một vật gì nặng cứ kéo anh xuống phía dưới. Anh vội co người lại, nắm được sợi dây thừng quấn ở cổ chân, nghiến răng, cố lấy hết sức cầm dao cắt đứt được sợi dây thừng. Tức thì anh dùng chân đạp mạnh một cái, và nhô lên được khỏi mặt nước.
Anh hít một hơi không khí, rồi lại hụp ngay xuống nước để đề phòng có ai nhìn thấy chăng. Một lát sau anh ngoi lên và thấy đã cách xa chỗ bị quẳng xuống khoảng năm mươi bước.
Bầu trời đen như mực, biển động rất mạnh như báo trước một cơn dông tố. Trước mặt anh, trên nền trời đen ngòm, in hình tòa lâu đài khủng khiếp. Anh định được phương hướng. Xung quanh lâu đài If có mấy hòn đảo có người ở, riêng đảo Tiboulen ở cách xa một dặm là hoang vắng. Giữa lúc đó anh thấy phía xa cây đèn biển le lói như một ngôi sao, và cứ bơi theo phía bên trái là sẽ tới được đảo đó. Những lời dặn dò của linh mục Faria vẫn còn văng vẳng bên tai như tiếp thêm cho anh sức lực và lòng can đảm trong lúc nguy nan.
Anh vẫn bơi, lòng tràn đầy niềm sung sướng vô hạn của một con người tự do. Khoảng một giờ sau, hình bóng tòa lâu đài khủng khiếp đã khuất trong đám sương mù của đêm tối. Anh bơi ngửa để nghỉ một lát, nhưng biển động mỗi lúc một mạnh, bầu trời càng tối đen. Một đám mây dày đặc sa xuống mặt nước và bỗng nhiên anh thấy đau nhói ở đầu gối. Anh lấy tay sờ thì tay chạm phải một hòn đá. Ở cách xa anh chừng hai mươi bước là đảo Tiboulen với những tảng đá hình thù cổ quái.
Dantès tiến vào bờ, lần đi được vài bước rồi nằm bên một tảng đá. Anh cảm ơn Thượng đế đã dành cho anh một cái giường rất êm, nhất là trong lúc này. Rồi mặc cho bão táp, mặc cho những giọt mưa bắt đầu rơi, mặc cho người mệt nhoài, anh đánh một giấc ngon lành, tâm hồn sảng khoái và đê mê bởi một niềm hạnh phúc mà không bao giờ anh ngờ tới. Một giờ sau, một tiếng sét nổ long trời làm anh choàng dậy. Cơn bão đang điên cuồng lòng lộn, thỉnh thoảng một tia chớp lóe lên chiếu sáng nền trời đầy mây và những ngọn sóng đang dồn dập xô vào bờ.
Bằng con mắt sắc sảo của một thủy thủ lành nghề, Dantès nhìn xung quanh tìm một tảng đá cao nhất để trú ẩn. Anh ngồi thu mình trong một cái hốc nhỏ, những đợt sóng bắn tung tóe sát chân anh. Anh có cảm tưởng hòn đảo đang rung lên như một con tàu bị đứt neo quay cuồng trong bão táp bao la, lôi anh xuống đáy biển. Anh sực nhớ ra là từ hai mươi bốn giờ qua anh chưa ăn một chút gì. Bụng anh đói cồn cào và khát khô cả họng. Anh giơ tay hứng nước mưa uống. Một tia chớp lóe lên làm sáng rực một góc trời giúp anh trông thấy ở phía xa xuất hiện một con thuyền đánh cá tựa hồ một bóng ma nhấp nhô trên làn sóng.
Một tia chớp nữa làm anh nhìn thấy có bốn người đang bấu víu vào cột buồm, và người thứ năm cầm chiếc bánh lái đã bị gãy. Họ đang kêu la thảm thiết và tuyệt vọng. Trên cột buồm, một cánh buồm rách bươm, ngả nghiêng tung bay trước gió, rồi bỗng dưng nó bị tiếng "rắc" rùng rợn kéo theo những tiếng kêu thất thanh vọng tới tai anh.
Một tia chớp khác làm anh thấy chiếc thuyền đã bị vỡ tung và giữa những mảnh thuyền trôi lềnh bềnh trên sóng, những bộ mặt trắng bệch và những cánh tay giơ lên trời. Cảnh tượng khủng khiếp ấy chỉ diễn ra trong giây lát, cảnh vật lại chìm vào trong đêm tối. Dantès chú ý nhìn, nghe ngóng. Không còn một tiếng động nào, một tiếng kêu la nào, mà chỉ còn cơn bão hãi hùng đang gào thét trong gió rít và trên những ngọn sóng bọt tung trắng xóa.
Ngày đã rạng, Dantès đứng lặng lẽ nhìn cảnh tượng hùng vĩ của đất trời mà đã từ lâu lắm anh không được thấy. Biển đã lặng. Xác chiếc thuyền đánh cá nhô lên khỏi mặt nước lặng như tờ.
Anh nghĩ thầm : "Một vài giờ nữa tên cai ngục sẽ mang thức ăn vào. Nhìn thấy xác linh mục nằm trên giường của ta, hắn sẽ khám phá ra mưu mô của ta và báo động. Chúng sẽ hỏi những đứa đã quẳng ta xuống biển. Bọn này sẽ khai là có nghe thấy tiếng kêu của ta lúc sắp rơi xuống nước. Rồi chúng sẽ bắn súng hiệu và bọn cảnh binh nai nịt đầy đủ vũ khí sẽ chèo thuyền đi tìm. Bọn cảnh binh và đặc vụ ở trên bờ sẽ được lệnh truy nã tên tù vượt ngục, và thế là ta sẽ bị bao vây bởi đất, bởi trời và bởi những con người hung hãn. Tính mạng của ta sẽ nằm trong tay bất cứ kẻ nào bắt được ta đem nộp để lĩnh hai mươi francs tiền thưởng".
Trong lúc Dantès đang lo sợ như thế thì đôi mắt rất tinh tường của anh phát hiện một cánh buồm nhỏ ở phía chân trời. Dần dần hiện ra một chiếc thuyền buồm. Qua hình dáng anh nhận ra được là thuyền của người Ý đi từ cảng Marseilles tới và đang rẽ sóng tiến về phía anh. Dantès nghĩ thầm có lẽ chiếc thuyền này là của bọn buôn lậu hoặc cướp biển. Chúng sẽ sẵn sàng bán rẻ anh hơn là làm một việc lương thiện.
Đang phân vân, không biết sẽ đối xử và trả lời chúng ra sao, Dantès quay lại nhìn chiếc thuyền đánh cá bị đắm. Anh thấy một chiếc mũ vải của một thủy thủ mất tích mắc vào một mỏm đá. Gần đó, một vài xà gỗ nổi lênh bềnh trên mặt nước. Anh nẩy ra một ý, bơi ra chỗ đó, vớ lấy một cái xà gỗ, đội chiếc mũ vải lên đầu rồi tiến ra chiếc thuyền buồm lúc này cũng đang tiến gần. Tuy đã kiệt sức nhưng anh vẫn ngồi thẳng trên cái xà, tay cầm mũ vẫy, miệng kêu cứu. Tiếng kêu thất thanh của anh vọng tới tai những người trên thuyền và lập tức có hai người chèo một chiếc xuồng con đến. Giữa lúc đó anh bị luồng sóng rất mạnh lật anh xuống biển. Chân tay rã rời, người mệt lả anh cố ngoi lên, thét lên một tiếng rùng rợn của một người sắp bị nước cuốn trôi. Một đợt sóng khác lại dìm anh xuống sâu. Anh vừa kịp ngoi lên thì một bàn tay nắm lay tóc anh và cùng lúc đó anh ngất đi.
Lúc mở mắt Dantès thấy mình nằm trên sàn thuyền, anh thốt lên một tiếng reo mừng. Một thủy thủ đang cầm một cái chăn dạ xát mạnh vào chân tay và mình mẩy anh. Một thủy thủ khác ấn cái bầu đựng rượu vào miệng anh. Người thứ ba, mà anh đoán là chủ thuyền hoặc hoa tiêu, đang nhìn anh bằng con mắt ái ngại. Sự chăm sóc của hai thủy thủ làm anh hồi tỉnh và mấy ngụm rượu rum sưởi ấm thêm cho anh.
Thấy anh đã có vẻ tỉnh, người chủ thuyền hỏi anh bằng tiếng Pháp lơ lớ :
- Anh là ai và ở đâu đến?
- Tôi là một thủy thủ ở đảo Malta, làm việc trên một chiếc tàu chở rượu từ Ý về đến đây thì bị đắm. Ông thuyền trưởng bị va đầu vào một mỏm đá chết và ba bạn đồng nghiệp của tôi cũng bị mất tích - Dantès đáp bằng tiếng Ý và chỉ về phía chiếc thuyền bị đắm - Cảm ơn các bạn đã cứu tôi sống, nếu không tôi đã nằm trong bụng cá rồi. Lúc nãy bạn nào đã nắm tóc tôi kéo lên?
Một thủy thủ vẻ mặt thật thà, chất phác, có bộ râu quai nón đen đáp :
- Tôi đây, chỉ chậm một tí nữa là anh đi đứt. Trông thấy bộ tóc và râu dài của anh, tôi cứ ngỡ anh là quân cướp biển. Bây giờ anh tính sao? - Người chủ thuyền hỏi.
- Chao ôi - Dantès đáp - Chiếc thuyền bị đắm rồi, ông thuyền trưởng và bạn tôi không còn nữa. Tôi mong các ông thả tôi xuống một cảng gần nhất và tôi sẽ đi kiếm việc làm.
- Anh hiểu rõ Địa Trung Hải chứ?
- Tôi đi biển từ thuở nhỏ, không một bến nào tôi không biết và nhắm mắt cũng tìm được đường đi, mặc dù khó khăn, hiểm trở đến mấy.
- Thế thì còn đợi gì mà chả cho anh ta gia nhập vào bọn mình - Người thủy thủ đã cứu Dantès nói.
- Được - Người chủ thuyền nói - Để còn xem tài anh ta ra sao đã. Anh hãy cầm lái cho thuyền này lên đường đi Leghorn xem sao.
Dantès bước ra điều khiển tay lái và bảo mấy thủy thủ làm theo lệnh của mình với một kinh nghiệm nhà nghề rất thành thạo khiến người chủ thuyền nhìn anh ngạc nhiên và thán phục.
Thuyền buồm len lỏi qua những núi đá rồi vững vàng ra khơi để về phía đảo Rion dưới sự điều khiển khéo léo của Dantès. Mọi người thấy anh có đôi mắt sáng, vóc người khỏe mạnh và nhanh nhẹn đều trầm trồ, khen ngợi.
Jacopo, tên người thủy thủ đã cứu anh, đưa cho anh mượn một bộ quần áo để mặc, một mẩu bánh mì và một bầu rượu rum. Anh vừa đưa bầu rượu lên môi thì ở phía lâu đài If có một làn khói trắng bay lên bầu trời, rồi một tiếng súng nổ vang. Chủ thuyền và các thủy thủ đều ngạc nhiên nhìn về phía đó.

Dantès điềm nhiên tu hết chỗ rượu còn lại rồi chậm rãi nói :
- Chắc có một tên tù vượt ngục và người ta bắn súng báo động đấy.
Nói xong, anh lại đàng hoàng ra ngồi bẻ lái. Khi chiếc thuyền buồm đã đi khỏi lâu đài If, Dantès hỏi Jacopo :
- Hôm nay là ngày bao nhiêu nhỉ? Tôi đi chuyến này lâu quá nên quên cả ngày tháng.
- Ngày 28 tháng Hai năm 1829.

Tính đến hôm nay, Dantès bị bắt vừa đúng mười bốn năm. Anh bước vào lâu đài If hồi mới mười chín tuổi, bây giờ đã ba mươi ba.
Một nụ cười chua chát và đau khổ nở trên môi anh. Giờ đây, Mercédès ra sao sau khi cho là anh đã chết? Anh càng thêm căm thù bọn khốn kiếp đã hãm hại đời anh.
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.09.2020 09:26:47 bởi hoi_ls>
Chương 22 
BỌN BUÔN LẬU

Dantès mới sống có một ngày với những người bạn mới mà anh đã biết được ông chủ chiếc thuyền buồm La Jeune Amélie này là ai. Những ngôn ngữ, cử chỉ của họ không thể lọt qua cặp mắt tinh tường của anh. Ngược lại, ông chủ thuyền vẫn chưa hoàn toàn tin cậy vào anh vì nghề buôn lậu của ông bắt buộc phải đề phòng những mánh lới và thủ đoạn của hải quan. Thoạt đầu, ông nghi anh là nhân viên hải quan trá hình. Sau khi nghe phát súng nổ trên lâu đài If, ông lại ngờ anh là tù vượt ngục nên thấy vững tâm hơn. Rồi dần dần thấy anh thông thạo nghề đi biển, nói năng dịu dàng và điềm đạm, ông thấy hài lòng có được một người giúp việc nhanh nhẹn và tháo vát như vậy.
Khi thuyền cập bến Leghorn, Dantès tìm đến một hiệu cắt tóc để xem mặt mũi mình ra sao sau mười bốn năm trời. Người thợ rất ngạc nhiên khi thấy khách có bộ tóc dài chấm lưng và bộ râu rậm đen ngòm. Khi bộ tóc đã được sửa sang gọn ghẽ, bộ râu đã được cạo nhẵn, Dantès cầm gương lên soi và giật mình trước sự biến đổi của bộ mặt mình.

Bộ mặt tròn trĩnh của chàng thanh niên lúc bước chân vào lâu đài If bây giờ đã là bộ mặt gân guốc, cứng rắn của một con người đầy nghị lực. Đôi lông mày uốn cong trên cặp mắt u buồn, sắc sảo, ánh lên những tia chán chường và lòng căm thù thầm kín. Da mặt từ lâu không tiếp xúc với ánh nắng trở nên xanh nhợt và mớ tóc đen nhánh làm cho khuôn mặt anh lại có một vẻ đẹp đài các của giới thượng lưu. Những hiểu biết mà anh đã học tập được trong tù phản chiếu thêm lên bộ mặt vẻ thông minh, lanh lợi. Tầm vóc to lớn của anh một phần là do kết quả của những năm tháng lao động đào hầm trong tù, biểu lộ một sức lực phi thường. Giọng nói của anh cũng đã thay đổi, lúc dịu dàng, lúc đanh thép. Nhìn vào mặt mình trong gương anh phải mỉm cười vì mình cũng không nhận ra mình thì còn một ai biết đây là Edmond Dantès xưa kia nữa!
Ở hiệu cắt tóc ra, anh đi mua một bộ quần áo thủy thủ mới, mặc vào. Khi trở về thuyền, ai cũng phải kinh ngạc thấy anh chàng râu tóc xồm xoàm sắp chết đuối, đã đổi lốt thành một thủy thủ lịch sự, bảnh bao. Anh báo với mọi người rằng thời hạn để tang của anh đã chấm dứt nên anh có thể cắt tóc và cạo râu được. Người chủ thuyền cũng có cảm tình với anh nên muốn thuê mướn anh lâu dài, nhưng anh chỉ nhận giúp việc trong ba tháng thôi.
Chiếc thuyền cập bến Leghorn tám ngày, khi trong khoang đã đầy ắp hàng cấm, nó lại lên đường đi đảo Corse. Chiếc La Jeune Amélie rẽ sóng ra khơi, đưa Edmond đến chân trời xanh thẳm mà anh đã từng sống trong thời niên thiếu và hằng mơ ước trong bao năm bị giam cầm. Sáng hôm sau, anh lên sàn thuyền đứng nhìn về một hòn núi đá lởm chởm mà ánh dương nhuộm đỏ : đó là đảo Monte Cristo. Anh muốn nhào xuống để bơi ra hòn đảo thần kỳ ấy, và với tài bơi của anh chỉ mất chừng nửa giờ thôi... Nhưng anh nghĩ không có vũ khí, không có dụng cụ để đào bới thì cũng vô ích và chỉ tổ gây thắc mắc cho những người trên thuyền, nên anh chờ. Một con người như Dantès đã chờ đợi tự do trong mười bốn năm trời, bây giờ đây anh đã biết chờ đợi dù là sáu tháng, dù là một năm để chiếm cái kho tàng khổng lồ đó. Anh đã nắm được mọi chi tiết bản sơ đồ và đã học thuộc lòng tờ di chúc của Hồng y giáo chủ Spada theo lời chỉ bảo tận tình của linh mục Faria, nên không cần phải vội vã lắm.
Chiếc thuyền buồm vẫn tiến về đảo Corse. Một đêm, người ta nhìn thấy có ánh đèn le lói trên bờ. Trên thuyền một chiếc đèn hiệu được treo lên và một lát sau có bốn chiếc xuồng từ trong bờ chèo ra đậu sát vào chiếc La Jeune Amélie.
Đến hai giờ sáng, số hàng hóa đã được chuyển hết xuống những chiếc xuồng rồi được đưa lên bờ rất kín đáo và an toàn. Theo luật lệ của những người buôn lậu, số tiền lời được chia ngay ngày hôm sau, và mỗi người được một trăm đồng tiền Ý. Sau đó chiếc La Jeune Amélie lại chở thuốc lá và rượu vang đến đảo Lucca, nhưng lần này bị chạm trán với nhân viên hải quan. Một cuộc đọ súng đã xảy ra. Kết quả một nhân viên hải quan bị hạ và hai thủy thủ bị thương. Dantès là một trong hai thủy thủ đó. Một viên đạn đã xuyên qua vai trái anh.
Dantès hầu như lấy làm sung sướng về cuộc đọ súng đó và anh hài lòng về vết thương của mình, vì những cái đó đã dạy cho anh cách đối diện với gian nguy và cách chịu đựng đau đớn. Anh đã nhìn người hải quan chết, nhưng do tình cảm nhân đạo đã nguội lạnh, anh hầu như không thấy xúc động gì. Jacopo thấy anh ngã xuống, chạy đến nâng anh dậy và sau đó đã săn sóc anh một cách tận tình. Dantès lấy làm ngạc nhiên về mối thiện cảm của con người ấy đối với mình. Người ấy mong đợi gì ở ta, ngoài món tiền chia nhau thường kỳ?
Cũng may Dantès chỉ bị thương nhẹ. Nhờ có một thứ cỏ mà những người buôn lậu thường dự trữ sẵn, vết thương của anh lành nhanh chóng. Dantès muốn thử Jacopo, biếu anh ta số tiền được chia để đền công lao săn sóc, nhưng đã bị Jacopo bực tức khước từ.
Sau ba tháng sống chung với những người buôn lậu, Dantès đã thu lượm được rất nhiều. Anh trở thành một kẻ buôn lậu thành thạo cũng như trước đây anh là một thủy thủ dũng cảm. Anh bắt liên lạc được với tất cả những người buôn lậu ở bờ biển. Anh biết được tất cả các mật hiệu để bọn cướp biển ấy nhận ra nhau. Anh cũng đã đi qua, đi lại vài chục lần đảo Monte Cristo nhưng chưa lần nào anh tạo được cơ hội để ghé lên đó. Anh quyết định, sau khi hết hạn làm việc với ông chủ thuyền, anh sẽ thôi việc và thuê một chiếc thuyền nhỏ dùng vào việc riêng của anh. Anh có thể làm được việc này vì anh đã dành dụm được một số tiền.

Giữa lúc đó, một sự kiện vô cùng may mắn xảy đến. Anh được ông chủ thuyền tin cậy nên một buổi tối ông chủ cầm tay anh dắt vào quán Via del’ Oglio, là nơi thường tụ tập những người buôn lậu để bàn bạc. Lần này có một việc quan trọng : Một chiếc tàu chở tơ lụa từ vùng Cận Đông tới. Cần phải tìm một địa điểm trung gian để chuyển hàng hóa tới đó rồi “đẩy” vào bờ biển nước Pháp. Một món hời lớn, mỗi người ít ra cũng được chia năm, sáu chục peso.
Ông chủ thuyền gợi ý nơi chuyển hàng là đảo Monte Cristo, vì đảo này hoang vắng, không có lính canh, không có hải quan. Nghe thấy tên Monte Cristo, Dantès sướng run lên. Anh phải đứng dậy để che giấu niềm xúc động. Cuối cùng, công việc ngã ngũ : Tối mai, nếu biển yên tĩnh họ sẽ gặp nhau trên hòn đảo làm nơi chuyển hàng ấy.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 23 
ĐẢO MONTE CRISTO

Dantès không thể ngờ rằng, sau một thời gian dài số phận khắc nghiệt đeo đẳng theo anh, thì giờ đây anh đã gặp được dịp may mắn lạ thường. Suốt đêm đó anh nôn nóng vì những ý nghĩ quay cuồng trong óc. Vừa nhắm mắt, tờ di chúc của Hồng y giáo chủ Spada đã hiện ra rực rỡ với những hàng chữ sáng ngời. Anh vừa chợp mắt một lát thì những giấc mộng kỳ quái lại đến. Anh thấy mình bước xuống một cái động thần kỳ chất đầy vàng bạc châu báu giống như Ali Baba trong truyện “Nghìn lẻ một đêm”.
Sáng hôm sau, chiếc  La Jeune Amélie giương tất cả buồm, lướt với một tốc độ lớn, tiến tới đảo Monte Cristo. Hai giờ sau, nó đã vượt qua đảo Elba, và hòn đảo "kho tàng" đã thấy xuất hiện lờ mờ ở phía chân trời. Đến năm giờ chiều, toàn bộ hòn đảo đã nom rõ. Dantès chăm chú nhìn hòn đảo nhuốm đỏ ánh dương, lòng vô cùng bồi hộp. Đúng mười giờ đêm chiếc  La Jeune Amélie cập bến, đến chỗ hẹn đầu tiên. Dantès nhảy vội lên bờ và nếu không tự kiềm chế được, anh đã quỳ xuống hôn mặt đất như Lucius Brutus ngày xưa.

Một giờ sau, trăng lên cao tỏa ánh bạc lên những mỏm đá nhấp nhô. Hòn đảo này rất quen thuộc đối với những thủy thủ của thuyền  La Jeune Amélie, vì đấy là nơi họ thường đậu lại. Riêng có Dantès là chưa xuống đấy bao giờ. Anh hỏi Jacopo :
- Đêm nay chúng ta ngủ ở đâu?
- Ở dưới thuyền chứ còn ở đâu - Anh chàng đảo Corse đáp.
- Sao không tìm một cái hang để trú chân có tốt hơn không?
- Trên đảo này làm gì có cái hang nào.
Câu trả lời làm Dantès lạnh gáy. Anh nghĩ có thể những cái hang đã bị chôn vùi sau một biến cố nào đó, hoặc do Hồng y giáo chủ cho lấp đi vì thận trọng. Vậy thì đêm nay không thể tìm ra được, phải chờ đến sáng hôm sau vậy.
Vừa lúc đó ở ngoài có tiếng súng hiệu và chiếc  La Jeune Amélie cũng nổ súng trả lời. Một lát sau, một chiếc tàu chậm rãi, lặng lẽ tiến vào đảo, thả neo ở gần đó. Công việc chuyển hàng bắt đầu. Dantès làm việc suốt đêm mà không hề tỏ vẻ mệt nhọc. Đến sáng thì mọi việc xong xuôi. Anh mượn một khẩu súng và xin mấy viên đạn nói là để đi săn con sơn dương đang chạy nhảy trên những mỏm đá. Không ai ngăn cản thú đi săn của anh và để mặc anh đi. Chỉ có Jacopo là nằng nặc đòi đi theo. Anh không dám từ chối vì sợ có người nghi kỵ điều gì chăng. Vừa đi được mấy trăm bước, anh đã bắn được một con dê rừng đưa giao Jacopo đem về để mấy thủy thủ làm thịt sớm cho tươi. Anh dặn Jacopo khi nào nấu nướng xong thì bắn một phát súng báo tin để anh về cùng ăn.
Jacopo vừa đi khỏi, Dantès liền len lỏi giữa hai bức vách của những tảng đá và lần theo một con đường mòn mà nước biển đã bào mòn theo thời gian và chưa hề có ai đặt chân tới. Anh cứ theo bờ biển, quan sát kỹ lưỡng mọi địa hình. Tới một chỗ nghi vấn là vết tích của những hang đá, anh nhận ra những kẽ hở đó do bàn tay của con người tạo ra. Mặc dù bị rêu phong phủ kín, những kẽ hở đó được vạch đều đặn thành hàng, dường như có ý đánh dấu. Đi thêm mấy chục bước, những kẽ hở đó dẫn đến một tảng đá hình tròn và những kẽ hở đó đến đây cũng chấm dứt. Anh cho là mình đã tìm được mục tiêu rồi, liền quay trở lại.
Trong lúc đó, những người bạn anh đã quay xong con dê, bày bánh mì và hoa quả ra chuẩn bị bữa ăn. Họ bắn một phát súng báo hiệu và thấy ngay Dantès đang nhanh nhẹn nhảy trên những mỏm đá tìm đường về. Giữa lúc họ đang thích thú theo dõi những bước nhảy như bay của Dantès thì đột nhiên thấy anh bị trượt chân loạng choạng mất một giây và rơi xuống cùng một tiếng kêu to. Mọi người hoảng hốt, đổ xô đến chỗ anh, thấy Dantès nằm sóng soài, máu me đầy người, gần như bất tỉnh. Jacopo vội đổ vào miệng anh một ít rượu rum và thấy có hiệu quả ngay. Một lát sau, Dantès mở mắt, kêu đau ở đầu gối và lưng. Họ muốn khiêng anh xuống thuyền, nhưng vừa mới được nâng lên, anh đã kêu la, rên rỉ và yêu cầu tránh cho anh mọi sự di chuyển vì quá đau đớn. Anh bảo mọi người trở về ăn trước, anh không thấy đói và cần nằm yên một lát. Khi họ ăn uống xong trở lại thì thấy Dantès kêu đau hơn, thậm chí không thể cử động được. Ông chủ thuyền rất phân vân, không nỡ bỏ anh lại nên muốn hoãn giờ khởi hành. Dantès không muốn ông vi phạm luật lệ của phường buôn lậu do tình cảm riêng tư, bèn nói với ông :
- Cơ sự này do chính tôi gây ra thì tôi phải gánh chịu hậu quả. Tôi chỉ yêu cầu ông để lại cho tôi một số bánh bích quy, một khẩu súng, một ít đạn và một cái cuốc chim để tôi có thể sống ở đây vài ngày.
- Nhưng chúng tôi còn phải đi những tám hôm - ông chủ thuyền lưỡng lự - Lúc trở về không biết có ghé được vào đây để đón anh không?
- Không hề gì, nay mai nếu ông có gặp được một chiếc thuyền đánh cá nào đó, ông nhắn họ đến đây chở tôi tới  Leghorn, tôi sẽ trả cho họ hai mươi lăm peso.
- Ông chủ ạ - Jacopo ngập ngừng - Chỉ có cách này tôi thấy là tiện nhất : Tôi sẽ cùng ở lại đây để chăm nom Dantès.
- Jacopo - Dantès nắm tay người bạn thủy thủ - Anh thật là một người bạn tốt bụng. Thượng đế sẽ ban phước lành cho anh. Anh và các bạn cứ yên lòng ra đi và tôi xin cám ơn lòng nhiệt tình của các bạn.
Ông chủ thuyền đành lắc đầu vì biết rằng không thể lay chuyển được ý định của Dantès. Ông hứa làm đúng theo các ý muốn của anh. Mọi người lưu luyến chia tay. Khi thuyền đã ra xa, họ vẫn còn quay lại nhìn và vẫy tay. Dantès nghĩ thầm : "Lạ lùng thay, từ chính những con người này mà ta tìm thấy được tình bạn chân thành và thắm thiết".

Thế rồi anh thận trọng lê lên một mỏm đá, từ đấy anh có thể nhìn bao quát ra biển. Anh thấy chiếc thuyền nhổ neo, bập bềnh một cách duyên dáng như con chim hải âu sắp cất cánh bay.
Một giờ sau, con thuyền hoàn toàn biến mất, Dantès nhẹ nhàng và nhanh nhẹn đứng lên. Anh cầm khẩu súng và chiếc cuốc chim chạy như bay đến chỗ tảng đá tròn có những kẽ hở. Anh bỗng nhớ đến câu chuyện về một người đánh cá Ai Cập mà linh mục Faria đã kể, anh kêu to : “Vừng ơi! Hãy mở cửa ra”.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 24 
LÓA MẮT

Dantès chạy như bay trên những tảng đá được ánh nắng tháng Năm sưởi ấm và càng thêm sinh động giữa tiếng ve kêu inh ỏi và lá cây xào xạc. Anh vừa xúc động vừa lo sợ. Mặc dù đứng trên một hòn đá vắng tanh, chỉ có một mình mà anh vẫn cứ có cảm tưởng như hàng trăm, hàng nghìn con mắt đang nhòm ngó. Cái cảm giác đó mạnh đến nỗi lúc sắp bắt tay vào việc, anh phải ngừng lại, bỏ cuốc xuống, cầm lấy khẩu súng, trèo một lần nữa lên mỏm đá cao nhất của đảo và nhìn ra xung quanh. Anh chẳng thấy một bóng thuyền, một bóng người nào hết, chỉ có mặt biển xanh biếc mênh mông cùng tiếng sóng vỗ ì ầm.
Anh lại chạy nhanh xuống nhưng rất thận trọng. Anh sợ rằng đúng vào lúc này nhỡ lại xảy ra đúng cái tai nạn mà lúc nãy anh đã khôn khéo đóng kịch.

Anh loay hoay không biết dùng cách nào để bẩy được tảng đá tròn khổng lồ ra khỏi bệ của nó. Việc đó đòi hỏi phải có sức khỏe ghê gớm mới làm nổi. Anh bèn trèo lên tảng đá và để ý thấy có một cái rãnh thoai thoải ra phía sau. Anh bèn lần theo cái rãnh đó và tụt xuống. Một tảng đá to, cỡ một người ôm, nằm ở dưới chân như thể để chèn tảng đá lớn, và hình như đã có bàn tay khôn khéo nào phủ đất lên trên. Cỏ và rêu mọc kín, thoạt trông tưởng chừng như nó gắn liền với tảng đá lớn. Anh cạo hết đất và đá vụn quanh tang đá và chỉ mười phút sau đã bẩy được hòn đá chèn ra. Lúc đó hiện ra một cái hốc trống có thể đút lọt tay vào. Anh chặt một cành cây dùng làm đòn để bẩy nhưng vô hiệu. Tảng đá chỉ có thể lay chuyển khi có một sức mạnh thần kỳ. Anh chợt nhớ là Jacopo có để lại cho anh một cái sừng tê giác chứa đầy thuốc súng. Anh liền nảy ra một ý và mỉm cười. Anh dùng cuốc xẻ một cái rãnh giữa hai tảng đá như của người đánh mìn. Anh đổ đầy thuốc súng vào rồi xé chiếc khăn tay ra cuốn một ít thuốc súng vào làm ngòi. Anh châm ngòi rồi chạy ra xa. Một tiếng nổ dữ dội, làm vỡ tan tảng đá nhỏ và làm bật luôn tảng đá lớn ra xa khỏi bệ. Dantès bước lại gần và thấy tảng đá lớn đã nằm nghiêng không còn chỗ tựa. Anh cầm đầu đòn bẩy cố hết gân sức lay chuyển tảng đá, xê dịch nó dần dần. Một lát sau nó đã lăn lông lốc rồi rơi tòm xuống biển để lộ ra một cái bệ hình tròn, ở chính giữa có một cái vòng sắt gắn vào một phiến đá hình vuông.

Dantès kêu lên một tiếng kinh ngạc. Anh không ngờ đạt được kết quả một cách mau lẹ như vậy. Anh muốn tiếp tục công việc nhưng hai chân anh run bắn lên, tim anh đập dồn dập. Anh như thấy một đám mây nóng bỏng bay qua trước mắt. Anh buộc lòng phải dừng lại.
Nhưng thời gian lưỡng lự ấy chỉ như ánh chớp. Edmond lại đưa đòn bẩy vào trong vòng sắt và từ từ nâng phiến đá lên. Phiến dưới lộ ra một cái nền dốc như kiểu một chiếc cầu thang thoai thoải dẫn xuống một cái hang tối om.
Nếu là một người khác thì đã lao xuống, đã reo lên những tiếng vui mừng, nhưng Dantès thì khác. Anh dừng lại, tái mặt vì nghi ngờ. Anh tự nhủ : “Nào, hãy can đảm lên chứ! Ta đã từng quen với bao nỗi bất hạnh, đừng để cho sự thất vọng quật ngã ta. Cũng có thể là bác Faria đã nằm mơ, chứ giáo chủ Spada chả chôn cái gì ở đây cả. Có thể là ngay bản thân ông ta cũng chưa bao giờ lai vãng đến đây”.
Anh cứ đứng im lặng một lúc như vậy rồi lại nói một mình : “Bây giờ ta chẳng còn trông mong gì nữa cả. Ta đã bao lần tự nhủ chỉ có điên rồ mới nuôi một hy vọng nào đó. Rút cục cuộc mạo hiểm này chỉ là để thỏa mãn tính tò mò của ta, thế thôi... Nào, ta cứ xuống xem...”
Thế rồi anh bước xuống hang, nụ cười nghi hoặc nở trên môi và lẩm bẩm : "Biết đâu đấy". Anh tưởng tượng sẽ bước vào hang tối với bầu không khí khó thở. Nhưng ngược lại, anh thấy một ánh sáng êm dịu màu xanh và một bầu không khí mát rượi. Không khí và ánh sáng bên trong không phải chỉ do miệng hố mới mở, mà còn do những kẽ hở của những tảng đá, đứng bên ngoài không trông thấy, để lọt vào. Cũng qua những kẽ hở thấy cả những mảng trời xanh và những cành lá run rẩy đùa cợt.
Sau một vài phút đứng trong cái động đó, anh cảm thấy không khí ấm áp hơn, hang vẫn ẩm thấp nhưng đã có mùi thơm của hoa lá. Đã quen với bóng tối nên anh có thể nhìn thấy những góc xa nhất trong hang. Hang toàn bằng những phiến đá có vảy óng ánh như kim cương.
- Than ôi! - Dantès nghĩ thầm - Phải chăng đó là cái kho tàng của giáo chủ Spada mà linh mục Faria đã nhìn thấy trong giấc mơ và cho đó là những của cải khổng lồ?
Nhưng anh bỗng nhớ lại những đòng chữ trong bản di chúc mà linh mục Faria đã bắt anh phải học thuộc lòng : "Trong góc xa nhất của cái động thứ hai". Vậy đây mới chỉ là động thứ nhất, còn phải tìm động thứ hai nữa. Lối vào của nó Dantès định hướng : động thứ hai tất nhiên phải ăn sâu vào phía trong đảo. Anh thăm  dò các kẽ đá, anh dùng cuốc gõ vào một vách đá mà anh đoán đấy có thể là cái cửa, do cẩn thận người ta đã lấp đi. Tiếng vang lên khác với tiếng cuốc ở những chỗ khác làm cho Dantès giật mình toát mồ hôi. Anh dán mắt vào chỗ đó, và do linh tính đặc biệt của một người tù, anh nhận thấy chỗ đó có thể là một cái cửa. Anh bổ một nhát nữa mạnh hơn, tức thì một lớp vữa như vữa trát tường long ra, rơi xuống và để lộ một viên đá trắng, mềm như những viên đá thường dùng. Người ta đã bít cái cửa ấy lại bằng những viên đá rồi trát lên một lớp vữa, trên mặt lớp vữa đó người ta làm giả màu óng ánh của đá.
Dantès lại dùng đầu nhọn của chiếc cuốc bổ thêm một nhát mạnh nữa. Lưỡi cuốc ngập sâu vào cỡ một gang tay. Đó đúng là nơi cần phải đào bới.
Kỳ lạ thay con người. Đáng lẽ điều đó càng chứng tỏ linh mục Faria đã không lầm và càng cổ vũ Dantès, thì ngược lại nó làm anh bủn rủn cả chân tay. Cái cuốc rời khỏi bàn tay rơi phịch xuống đất. Anh chùi tay lên trán, tự nhủ phải ra xem có người nào dò la không. Anh chạy ra ngoài, nhưng thực tế là anh thấy mình đang thiếu không khí và cảm thấy hình như mình sắp ngất.
Đảo hoàn toàn hoang vắng. Dantès chưa có tí gì vào bụng. Nhưng lúc này mà ăn uống thì mất thì giờ quá. Anh tợp một ngụm rượu rum rồi trở vào động, lòng vững tin hơn.
Sau vài nhát cuốc, anh thấy những viên đá không phải là xây dính vào với nhau, mà chỉ là đặt cạnh nhau rồi phủ sơ sài lên bên ngoài một lớp vữa. Anh đưa lưỡi cuốc vào một kẽ đá bẩy lên. Anh vui sướng thấy hòn đá rơi xuống. Bây giờ anh chỉ còn việc dỡ từng viên đá ra.
Cửa đã mở ra một lỗ, Dantès đã có thể chui vào được. Nhưng anh chậm lại ít phút như để có thêm thời gian bấu víu vào niềm hy vọng đang tới.
Cái động thứ hai này thấp hơn, tối hơn và có vẻ đáng sợ hơn cái trước. Không khí luồn được vào bên trong chỉ qua cái cửa vừa mở. Bên trái cái cửa là một góc sâu và tối. Nhưng, như ta đã biết, đối với Dantès, tối tăm không có nghĩa lý gì. Anh đưa cặp mắt thăm dò. Động thứ hai này cũng rỗng tuếch như cái thứ nhất.
Kho tàng, nếu có, chắc phải được chôn trong góc tối ấy. Giờ phút ghê gớm đã đến. Bới hai tấc đất nữa sẽ là sự sung sướng tột cùng hoặc là nỗi thất vọng hoàn toàn. Anh tiến vào góc đó và cương quyết tấn công mặt đất. Đến nhát cuốc thứ năm hoặc thứ sáu thì có tiếng sắt va vào nhau. Anh thăm dò chỗ bên cạnh. Ở đây cuốc cũng bị vấp phải một vật gì đó nhưng ,không có tiếng kim loại như vừa rồi.
Dantès tự nhủ : "Chắc là một cái hòm gỗ bịt đai sắt". Vừa lúc đó, một cái bóng lướt nhanh qua cửa hang. Dantès quẳng ngay cuốc xuống, cầm lấy khẩu súng, nhảy qua lỗ, lao vọt ra ngoài. Một con dê rừng chồm qua cái hang thứ nhất đang đứng gặm cỏ cách đấy có mấy bước. Đó thật là một dịp rất tốt để bảo đảm bửa ăn cho anh. Nhưng Dantès không dám bắn, anh sợ tiếng nổ làm cho người nào đó chú ý chăng. Suy nghĩ một lát, anh chặt một cành cây có nhựa đốt lên làm đuốc theo kiểu những người buôn lậu vẫn nấu thức ăn. Anh lại trở vào trong hang. Anh không muốn bỏ sót một chi tiết nào về những sự kiện anh sắp thấy.
Anh đưa bó đuốc lại gần chỗ anh mới đào và nhận thấy anh đã không nhầm. Lưỡi cuốc của anh vừa lần lượt chạm vào sắt và gỗ. Anh cắm bó đuốc xuống đất rồi lại tiếp tục đào. Chẳng bao lâu, một khoảng trống, rộng mỗi chiều một bước chân, được,đào xong và để lộ ra trước mắt một chiếc hòm gỗ có đai sắt. Ở giữa nắp hòm nổi bật lên một miếng bằng bạc mà đất chưa làm mờ được. Đó là gia huy của dòng họ Spada : một thanh gươm đặt chéo lên trên một cái khiên và phía trên có hình mũ giáo chủ. Dantès nhận ra dễ dàng vì linh mục Faria đã bao lần vẽ cái đó cho anh xem.

Kho tàng đây rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Chẳng ai lại đi chôn một cái hòm rỗng một cách cẩn thận đến thế này. Chỉ một loáng sau, tất cả đất xung quanh nắp hòm đã được vét sạch và Dantès thấy một ổ khóa, khóa hai đầu đai sắt. Anh nắm cái đai định nhấc hòm lên nhưng không tài nào nhấc nổi. Khóa cũng không tài nào mở ra được vì không có chìa. Anh lách mũi cuốc vào khe giữa nắp và hòm rồi bẩy mạnh lên. Một tiếng "rắc", nắp hòm bật ra khỏi bản lề và nẹp sắt.
Dantès cảm thấy như đang lên cơn sốt dữ dội. Anh cầm lấy khẩu súng, nạp đạn vào để xuống bên cạnh. Anh nhắm mắt lại như đứa trẻ thường làm khi không đếm được hết các vì sao trên trời. Rồi anh mở mắt ra, mắt anh hoa lên.
Chiếc hòm có ba ngăn. Ngăn thứ nhất chứa đầy tiền vàng óng ánh. Ngăn thứ hai toàn vàng nén sắp xếp có thứ tự. Ngăn thứ ba đầy kim cương, ngọc trai, ngọc bích sáng ngời.
Dantès run rẩy đưa tay thọc sâu xuống hòm. Anh mân mê nắm vuốt số vàng và châu báu hồi lâu rồi mới đứng lên chạy ra khỏi hang như một kẻ sắp lên cơn điên. Anh nhảy lên một hòn đá cao trông ra biển, nhìn quanh đảo, vẫn thấy vắng lặng. Chỉ có anh, một mình anh với cái kho tàng khổng lồ, khủng khiếp, kỳ quái, không sao đếm được, nó thuộc quyền sở hữu của anh. Anh tỉnh hay mê đây? Hai tay ôm đầu, anh chạy như điên như cuồng trên đảo, làm cho những con dê rừng và đàn hải âu phải hoảng sợ vì những tiếng la hét của anh.
            Một chốc anh quay trở lại hang mà vẫn còn ngập ngừng chưa tin hẳn vào mắt mình. Anh chạy thẳng vào hang rồi đứng trước cái hòm đầy vàng bạc, châu báu. Anh quỳ xuống, hai tay ôm lấy ngực như sợ tim mình vỡ tung ra, miệng anh lầm rầm cầu nguyện. Dần dần anh bình tĩnh trở lại, và từ giờ phút đó anh cảm thấy sung sướng lạ thường bởi vì anh đã có niềm tin vào hạnh phúc của mình.
            Anh bắt đầu đếm kho báu : có một nghìn thỏi vàng. Anh nhặt ra hai mươi nhăm nghìn đồng Guinea vàng, trị giá mỗi đồng 80 francs hiện tại, và nhận thấy ngăn đó mới chỉ vơi có một nửa. Anh chụm hai lòng bàn tay lại để vốc những vốc kim cương, châu báu.
            Trời đã ngả về chiều. Sợ bị ai bất chợt thấy mình trong hang, anh cầm lấy khẩu súng, đi ra. Một miếng bánh bích quy và vài ngụm rượu, đó là tất cả bữa ăn của anh. Rồi anh đặt lại viên đá, nằm lên đó, dùng thân mình để bịt cửa vào. Anh ngủ được vài giờ. Đêm hôm đó là một đêm vừa sung sướng vừa hãi hùng. Con người đó đã hai ba lần trong đời gặp phải những nỗi xúc động ghê gớm.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 25 
NGƯỜI LẠ MẶT

            Đến nửa đêm Dantès thức giấc, nằm đợi trời sáng. Ánh bình minh đầu tiên vừa hé, anh đã nhổm dậy và trèo lên mỏm đá. Cũng như hôm qua, anh thăm dò xung quanh. Cảnh vật vắng lặng, hoang vu. Anh đi xuống hang, mở hòm ra, vốc một vốc kim cương, ngọc quý nhét vào túi rồi đậy nắp hòm lại, rắc cát lên trên làm mất hết dấu vết đào bới. Xong đâu đấy, anh ra khỏi hang, đặt phiến đá vào chỗ cũ, lấy đất phủ lên miệng hang, trồng mấy cây lau lên trên, xóa những vết chân ở quanh đó rồi đi ra bờ biển.
            Giờ đã đến lúc anh phải trở về với cuộc sống, với loài người và dùng tiền tài, vốn là một sức mạnh vô biên để chiếm lấy một địa vị, một ảnh hưởng và một uy quyền trong xã hội.
            Ngày thứ sáu, thuyền  La Jeune Amélie quay trở lại. Từ xa, bóng con thuyền lướt trên biển đã được Dantès nhận ra. Anh giả vờ lết ra bờ biển. Khi các thủy thủ lên bờ, họ thấy anh hãy còn rên. Anh nói với họ rằng anh đã đỡ nhiều. Jacopo cho anh biết, đêm qua họ bị chiếc tàu tuần tiễu lùng bắt, may nhờ đêm tối mới chạy thoát nên phải quay về đảo Monte Cristo nhân thể đón luôn anh. Nói chung chuyến đi đó không đến nỗi xấu và tất cả mọi người, nhất là Jacopo, đều lấy làm tiếc là Dantès không tham gia nên không được chia phần, mỗi phần lên tới năm mươi đồng Guinea. Ngay tối hôm đó anh xuống thuyền đi Leghorn.
            Đến Leghorn, anh bán cho một người Do Thái bốn viên kim cương loại nhỏ nhất, được hai chục vạn francs. Hôm sau, anh mua một chiếc thuyền nhỏ mới nguyên cho Jacopo và còn cho thêm một trăm đồng peso để thành lập nhóm thủy thủ với điều kiện Jacopo sẽ đi Marseilles để thăm dò tin tức về một ông già tên là Louis Dantès ở phố Allées de Meilhan và một cô gái tên là Mercédès ở xóm Catalans. Sau đó hai bên hẹn gặp nhau ở đảo Monte Cristo. Bây giờ đến lượt Jacopo, anh ta ngạc nhiên tưởng như mình đang ở trong một giấc mơ. Edmond phải giải thích là anh vừa được thừa hưởng gia tài của một ông bác ở Leghorn và việc anh bỏ nhà ta đi làm nghề thủy thủ là do bất hòa với gia đình.

            Sau đó Dantès từ biệt ông chủ thuyền vì giao kèo đã hết hạn. Ông chủ rất tiếc vì mất Dantès, nhưng thấy anh vừa được thừa hưởng gia tài nên cũng mừng cho anh. Sáng hôm sau, Jacopo lên đường đi Marseilles, còn Dantès đi về Genoa. Anh đến hải cảng này vốn là nơi nổi tiếng có những thợ đóng tàu giỏi. Anh gặp một ông chủ hãng đóng tàu đang cho hạ thủy một chiếc du thuyền của một người Anh đặt với giá bốn vạn francs. Dantès liền trả sáu vạn để lấy chiếc du thuyền đó, còn ông chủ hãng đóng tàu sẽ đóng chiếc khác cho người Anh. Người chủ hãng thấy được giá hời liền ưng thuận ngay.

            Hai giờ sau Dantès đã tự mình điều khiển chiếc du thuyền, rời cảng Genoa ra đảo Monte Cristo. Chiều hôm sau anh tới nơi và ghé thuyền vào một vũng nhỏ. Anh vào hang và thấy tất cả vẫn còn nguyên vẹn. Anh liền chuyển hết xuống thuyền, xếp tất cả vào một cái tủ bí mật. Hôm sau, anh lái thuyền đi quanh đảo, xem xét rất kỹ tất cả các ngõ ngách để biết rõ từng chi tiết và đặc điểm.

            Được mấy hôm, Jacopo đến chỗ hẹn, báo cho Dantès biết là ông già Dantès đã chết, còn cô Mercédès thì mất tích. Anh nghe tin đó rất bình tĩnh, từ biệt Jacopo rồi đi Marseilles. Cái chết của cha không làm anh ngạc nhiên vì lúc anh bị bắt ông già đã bảy mươi tuổi. Nhưng còn Mercédès? Anh không thể để lộ bí mật của anh được, anh không thể nói hết chi tiết cho Jacopo được. Vả lại, còn có những điều anh muốn biết mà chỉ có thể đích thân anh đi tìm. Cái gương trong hiệu cắt tóc ở Leghorn đã cho anh biết không ai có thể nhận được ra anh nữa. Hơn nữa bây giờ anh có đầy đủ các phương tiện để cải trang.
            Một buổi sáng, chiếc du thuyền cặp bến Marseilles và Dantès thả neo ở chỗ trước đây người ta đã đưa anh xuống thuyền để ra lâu đài If. Anh không khỏi hồi hộp khi một tên cảnh sát tiến đến hỏi giấy tờ. Anh xuất trình hộ chiếu người nước Anh mà anh đã mua ở Leghorn. Với tư cách người nước ngoài, anh sẽ được kính nể hơn.
            Người đầu tiên mà anh gặp trên đại lộ Canebière là một thủy thủ cũ của tàu Pharaon mà anh đã từng chỉ huy. Chính con người này sẽ cho anh biết người ta có còn nhận ra được anh nữa không. Anh tiến thẳng đến, hỏi người đó vài câu. Người đó trả lời mà không hề có một chút biểu hiện nào quen biết anh. Anh đưa cho người thủy thủ đó một đồng tiền để thưởng công. Một lát sau, thấy người đó chạy theo. Dantès quay lại, người thủy thủ nói :
            - Thưa ông, có lẽ ông nhầm. Đáng lẽ ông thưởng cho tôi một đồng 2 franc thì lại đưa cho tôi một đồng vàng!
            - Anh bạn ạ - Dantès đáp - Tôi không nhầm đâu. Nhưng lòng thật thà của anh xứng đáng được thưởng nữa. Đây là đồng thứ hai mong anh cầm lấy để uống rượu để chúc sức khỏe cho tôi và cho các bạn anh.
            Anh thủy thủ nhìn Dantès kinh ngạc đến nỗi quên cả cám ơn. Một lúc sau anh ta tự lẩm bẩm : "Có lẽ là một tay tỉ phú vừa ở Ấn Độ về".
            Dantès tiếp tục đi. Mỗi bước đi lại làm anh thêm hồi hộp. Những kỷ niệm của thời niên thiếu lại xuất hiện ở mỗi đầu phố. Tới đường Allées de Meilhan, anh cảm thấy đầu gối như muốn quỵ xuống. Anh phải vịn vào một gốc cây, dừng lại một lát để trấn tĩnh. Anh đi vào một ngôi nhà tồi tàn mà trước đây anh đã sống với cha anh. Anh bước qua cửa, vào hỏi xem còn có buồng nào trống để thuê. Nhà đã chật hết, nhưng anh cố nài để được vào thăm tầng thứ năm. Người gác cổng buộc lòng phải đưa anh lên. Buồng này gồm hai ngăn, có một cặp vợ chồng mới cưới được tám ngày đang ở.
            Thấy cặp vợ chồng đó, Dantès thở dài. Căn buồng đã khác xưa nhiều lắm. Anh không còn nhận ra là căn buồng của cha anh xưa kia nữa. Đâu phải thứ giấy dán tường thưở xưa, tất cả đồ đạc cũ vốn là bạn thời niên thiếu của anh, đã biến hết. Anh quay lại phía chiếc giường, cũng không phải là cái giường hồi xưa mà người cha già của anh đã nằm, và lúc hấp hối còn gọi tên anh.
            Cặp vợ chồng trẻ ngạc nhiên nhìn con người có vầng trán nghiêm trang, nhưng trên má đang lăn hai giọt nước mắt long lanh, trong khi đôi mắt anh vẫn mở to, không chớp. Lúc đi xuống tầng dưới anh hỏi thăm người thợ may Caderousse, thì được người ta cho biết hắn làm ăn thua lỗ và bây giờ đã mở một quán trọ ở đường Beaucaire.

            Sau đó, Dantès tìm đến ông chủ ngôi nhà, tự giới thiệu là hầu tước Wilmore (tên trong hộ chiếu) ngỏ ý muốn mua ngôi nhà nhỏ đó với giá hai mươi lăm nghìn francs, nghĩa là đắt hơn mười ngàn francs, với điều kiện là cặp vợ chồng mới cưới sẽ dọn xuống tầng dưới và ở bất cứ tầng nào mà họ thích, nhưng không phải trả thêm tiền nhà. Sự việc lạ lùng này làm xôn xao dư luận những người ở nhà thuê và cả Allées de Meilhan.
            Ngay buổi chiều hôm đó, người ta thấy ông khách lạ mặt ấy đi dạo khắp xóm Catalans, rồi bước vào một cái lều của dân chài lưới hỏi thăm các tin tức khác.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 26 
QUÁN TRỌ CẦU PONT DU GARD

            Những người khách, có dịp đi thăm miền Nam nước Pháp, đều nhìn thấy trên đường đi Beaucaire một quán trọ có tấm biển bằng tôn trên vẽ hình cái cầu máng Pont du Gard, nằm ở mé đường bên trái, quay lưng ra sông Rhône. Bên cạnh quán trọ là một mảnh vườn trồng ôliu và vả dại. Từ tám năm nay người ta thấy quán trọ này do một cặp vợ chồng quản lý và chỉ mướn có một cô hầu phòng và một anh coi chuồng ngựa cho khách mà thôi.
            Ông chủ quán là một người trạc bốn mươi lăm tuổi, cao, gầy, cặp mắt sâu hoắm và sáng, mũi khoằm, tóc và râu quai nón rậm, xoăn, điểm vài sợi bạc. Thêm nữa, ông ta còn có nước da rám nắng của những người miền biển và hàm răng trắng khập khiễng trông rất sợ. Người đàn ông đó không phải ai xa lạ, chính là gã thợ may Caderousse, người hàng xóm trước đây của Dantès.
            Vợ hắn, ngược lại, là một mụ đàn bà xanh rớt, gầy gò như que củi và ốm yếu luôn. Suốt ngày mụ ngồi thu hình trên giường hoặc trong chiếc ghế bành, người run bần bật. Còn anh chồng thì suốt ngày đứng tựa cửa đón khách qua đường, mà khách thì đi lại rất thưa thớt. Quán trọ vắng khách làm mụ vợ luôn mồm mè nheo chồng và anh chồng chỉ còn cách đổ lỗi cho số phận.

            Một buổi chiều, Caderousse đứng ngóng khách trên quãng đường vắng tanh. Hắn chán nản, vừa định quay vào trong nhà thì thấy từ đằng xa một người cưỡi ngựa đi tới rồi dừng lại trước quán trọ. Đó là một vị linh mục, đầu đội mũ ba múi, tay cầm một chiếc gậy ngắn đầu bịt sắt. Vị linh mục xuống ngựa, buộc con vật vào hàng rào. Lập tức chủ quán chạy ra tất tả đón khách. Vị linh mục nhìn hắn một lát bằng cặp mắt kỳ dị và chăm chú dường như muốn tìm xem có sự phản ứng nào ở hắn không. Nhưng khi thấy hắn không có chút gì ngạc nhiên, ông nói bằng một giọng lơ lớ tiếng Ý :

            - Ông có phải tên là Caderousse không?
            - Thưa ông vâng - Chủ quán ngạc nhiên đáp - Tôi chính là Gaspard Caderousse.
            - Gaspard Caderousse... phải, có lẽ đúng tên, họ. Trước đây ông ở ngõ Allées de Meilhan, tầng thứ tư có phải không?
            - Dạ đúng ạ.
            - Ông làm nghề thợ may?
            - Vâng, nhưng nghề đó không sinh lợi. Trời đất ở cái tỉnh Marseilles ấy nóng quá, chẳng ai còn muốn mặc quần áo nữa. Mà này, trời đang nóng hầm hập, ông có cần phải giải khát không?
            - Có chứ. Cho tôi một chai rượu loại ngon nhất và chúng ta sẽ nói chuyện với nhau.

            Và không để mất cơ hội có thể tiêu thụ được chai rượu Cahors cuối cùng còn lại, Caderousse vội mở cửa hầm, chui xuống. Năm phút sau trở lên, hắn thấy linh mục đã ngồi trên chiếc ghế đẩu, chống khuỷu tay lên mặt bàn.
            - Ông có một mình thôi à? - Linh mục hỏi.
            - Ôi, lạy Chúa! Một mình. Vâng, gần như thế, thưa ông linh mục, vì rằng vợ tôi chẳng giúp gì cho tôi được. Nó lúc nào cũng ốm yếu, khổ thân cho mụ La Carconte nhà tôi!
            - À thế ra ông đã lấy vợ - Linh mục nói và nhìn ra xung quanh như muốn đánh giá tài sản đồ đạc của cái gia đình nghèo nàn này.
            - Thưa ông linh mục, ông thấy tôi chẳng lấy gì làm sung túc có phải không? Biết làm sao được. Trên đời này những người làm ăn lương thiện khó phát đạt lắm.
            Vị linh mục quắc mắt nhìn hắn. Caderousse lắc đầu quầy quậy nói tiếp :
            - Vâng, một người lương thiện. Tôi có thể tự khoe với ông như vậy. Trong thời đại này, mọi người không có thể nói vậy được.
            - Điều ông vừa tự hào ấy - Linh mục nói - Nếu đúng thì càng tốt, vì tôi tin tưởng rằng sớm hay muộn người lương thiện cũng sẽ được thưởng, còn kẻ gian ác sẽ bị trừng trị.
            - Ở địa vị ông có thể nói thế được, sau đó người ta có muốn tin ông hay không là tùy người ta.
            - Ông nói như vậy là nhầm đấy. Bây giờ tôi muốn biết một số bằng chứng về việc tôi sắp làm.
            - Ông nói thế là thế nào? - Caderousse ngạc nhiên hỏi lại.
            - Tôi muốn cần phải xác minh trước hết xem ông có phải là người tôi đang tìm không.
            - Ông muốn tôi có những bằng chứng gì?
            - Vào năm 1814 - 1815, ông có biết một người thủy thủ tên là Dantès không?
            - Dantès!... Có chứ, cậu Edmond đáng thương ấy. Đó là một người bạn tốt của tôi trước kia - Caderousse kêu lên, mặt đỏ bừng, trong khi đó thì cặp mắt sáng và quả quyết của linh mục như mở to ra để chụp lấy con người mà ông đang hỏi.
            - Phải, anh ta tên là Edmond thì phải.
            - Đúng, tên cậu ta là Edmond mà. Tôi biết lắm chứ. Cũng đúng như tên tôi là Gaspard Caderousse. Ông biết cậu Edmond à? Cậu thanh niên đáng thương ấy bây giờ ra sao? Còn sống không? Được tự do rồi chứ? Có được sung sướng không?
            - Anh ta đã chết trong tù rồi, thất vọng và khốn khổ hơn bất cứ một người tù khổ sai nào.

            Mặt Caderousse tái đi như cái xác chết. Hắn quay lại và linh mục thấy hắn chùi một giọt nước mắt bằng góc cái khăn quàng cổ.
            - Khốn khổ thay cậu bé - Caderousse lẩm bẩm - Đấy lại là một bằng chứng về câu nói của tôi! Chúa chỉ tốt với những kẻ xấu.
            - Ông có vẻ yêu mến cậu ta lắm thì phải? - Linh mục hỏi.
            - Vâng, tôi mến cậu ta lắm, mặc dù tôi tự trách mình đã có lúc ghen tị với hạnh phúc của cậu ta. Nhưng từ đó tôi xin thề rằng tôi đã rất đau lòng về số phận hẩm hiu của cậu Edmond.
            Im lặng một lúc, trong lúc đó cặp mắt sắc sảo của linh mục không ngớt quan sát nét mặt thay đổi của tên chủ quán.
            - Ông cũng biết cậu ta à? - Caderousse hỏi.
            - Tôi đã được mời đến bên giường để làm lễ rửa tội cho anh ta.
            - Thế Edmond vì sao mà chết? - Caderousse nghẹn ngào hỏi.
            - Còn vì sao nữa khi người ta chết lúc ba mươi tuổi trong tù - Trong khi Caderousse lau mồ hôi trán, linh mục nói tiếp - Điều lạ lùng nhất là lúc Dantès sắp chết, anh ta đã hôn lên cây thánh giá và thề với tôi là anh ta không hiểu vì nguyên nhân gì mà anh bị bắt.
            - Đúng, đúng đấy - Caderousse thì thào - Cậu ta không biết được đâu. Không, thưa ông linh mục, cậu ta không nói dối đâu.
            - Vì vậy anh ta đã trao cho tôi nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề đó để vong linh anh ta được giải thoát. Trong khi ở tù, Edmond có gặp một nhà tư sản người Anh bị ốm nặng. Anh đã tận tình chăm sóc ông nên lúc được tha ra, nhà tư sản Anh đã biếu Edmond một viên kim cương trị giá năm vạn francs.
            - Năm vạn francs kia ư? - Caderousse nói - Chắc là nó phải to bằng quả lê ấy nhỉ?
            - Cũng chưa hẳn - Linh mục nói - Rồi ông cũng sẽ thấy vì tôi có mang theo đây.
            Nói xong linh mục rút trong túi ra một cái hộp con bọc da lừa và giơ cho Caderousse xem viên kim cương sáng long lanh nằm trên một cái nhẫn tuyệt đẹp. Xong ông lại đóng hộp lại, cất vào túi Nhưng viên kim cương ấy vẫn còn sáng rực trong đầu óc Caderousse. Cặp mắt hắn nẩy lửa, hắn hỏi ông linh mục :
            - Nhưng vì sao ông có hạt kim cương này? Edmond tặng ông chăng?
            - Không, tôi chỉ là người thực hiện lời di chúc của anh ta thôi. Anh ta đã nói với tôi như sau : "Tôi có ba người bạn tốt và một người vợ chưa cưới, cả bốn người tôi tin chắc rằng đều tiếc thương tôi lắm. Một trong những người bạn đó là Caderousse...
            Caderousse run lên. Linh mục làm ra vẻ không để ý nói tiếp :
            - Người bạn thứ hai tên là Danglars, người thứ ba, tuy là tình địch của tôi, nhưng cũng yêu tôi lắm...
            Một nụ cười quỷ quái nở trên môi Caderousse, hắn định ngắt lời linh mục nhưng linh mục cứ nói :
            - Khoan đã, hãy để tôi nói tiếp, nếu ông có ý kiến gì thì sẽ nói sau. Người thứ ba tuy là tình địch của tôi nhưng cũng yêu tôi lắm tên là Fernand. Còn người vợ chưa cưới của tôi tên là... tên là gì ấy nhỉ tôi quên mất rồi - Linh mục nói.
            - Mercédès - Caderousse nhắc.
            - A phải, đúng đấy - Linh mục nói có vẻ nghẹn ngào - Mercédès...
            - Thế rồi sao nữa? - Caderousse hỏi.
            - "Ông sẽ đến Marseilles" vẫn là lời Dantès nói đấy nhé. "Ông bán viên kim cương này và chia làm năm phần, tặng những người bạn tốt của tôi mà tôi đã nói".
            - Sao lại năm phần? - Caderousse nói - ông mới nêu tên có bốn người.
            - Bởi vì người thứ năm đã chết rồi, theo như người ta đã nói với tôi... Người thứ năm là cha của Dantès.
            - Than ôi! Vâng - Caderousse nói - Vâng, ông già đã chết rồi.
            - Tôi đã biết tin ấy ở Marseilles - Linh mục nói cố làm ra vẻ tự nhiên - Chết từ lâu rồi nên tôi chưa hiểu vì sao mà chết.
            - Còn ai biết chuyện ấy hơn tôi, lúc ấy tôi đứng ở cửa buồng ông già. Trời ơi! Vâng, một năm sau khi con trai mất tích thì ông già chết.
            - Nhưng vì sao mà chết?
            - Các thầy thuốc có nói tên bệnh... Những người biết ông thì nói ông già chết vì đau khổ... Còn tôi, chính mắt tôi nom thấy ông chết, tôi nói rằng ông già chết vì...
            Caderousse ngừng lại, linh mục bồn chồn hỏi :
            - Vì sao?
            - Chết vì đói!
            - Vì đói! - Linh mục chồm lên khỏi chiếc ghế đẩu - Chết đói! Trời ơi! Những con súc vật khốn khổ nhất cũng không đến nỗi chết đói! Những con chó lang thang trên đường phố cũng tìm được từ bàn tay từ thiện ném cho nó một mẩu bánh. Thế mà một người, một con chiên của Chúa, lại chết đói giữa những con người cùng giáo dân như người đó. Không, không thể thế được! Không thể thế được!
            - Tôi nói điều tôi đã nói - Caderousse nói tiếp.
            Một giọng từ cầu thang nói vọng ra :
            - Anh nhầm rồi đấy, anh Caderousse. Việc gì anh can thiệp vào chuyện ấy?
            Hai người quay đầu lại và thấy cái đầu ốm yếu của mụ La Carconte xuất hiện ở đầu tay vịn của thang gác.

            - Thế cô cũng can thiệp vào đây làm gì? Ông linh mục đây hỏi thì tôi đáp, đó là theo phép lịch sự.
            - Phải, nhưng sự thận trọng yêu cầu anh phải từ chối. Ai bảo cho anh biết người ta hỏi với ý định gì? Đồ ngốc.
            - Thưa bà, với một ý định tốt. Ông chồng của bà không phải lo ngại gì cả, miễn là ông nói đúng sự thật.
            - Không phải lo ngại gì cả. Phải, người ta bắt đầu bằng những lời hứa tốt đẹp, nhưng khi bỏ ra đi thì quên hết điều đã nói, để rồi một ngày kia nỗi bất hạnh rơi xuống đầu những kẻ thấp hèn mà chẳng hiểu từ đâu tới cả.
            - Cứ yên trí bà ơi! Điều bất hạnh không phải vì tôi mà ra, tôi xin bảo đảm với bà như vậy.
            Mụ La Carconte lầu bầu vài câu nữa rồi lại bắt đầu run lên vì sốt rét. Trong khi đó linh mục, sau khi uống vài ngụm nước, đã trở lại bình tĩnh. ông hỏi tiếp :
            - Nhưng ông già đau khổ ấy đã bị mọi người bỏ rơi đến nỗi phải chết một cái chết như vậy sao?
            - Ôi, thưa ông, không phải là cô gái Mercédès xóm Catalans, không phải là ông Morrel đã bỏ rơi ông già đâu. Nhưng ông già khốn khổ ấy có một ác cảm sâu sắc với Fernand. Tên này mà Dantès cũng kể vào số những bạn tốt của cậu ta à?
            - Không đúng thế sao? - Linh mục hỏi.
            - Gaspard, Gaspard - mụ La Carconte lại từ đầu cầu thang nói vọng xuống - Hãy coi chừng lời nói của anh đấy.
            Caderousse phác một cử chỉ sốt ruột, không trả lời vợ mà tiếp tục với vị linh mục :
            - Người ta có thể là bạn với người cướp vợ mình không? Nếu Dantès có một trái tim vàng mới coi người đó là bạn... Khổ thân cậu Edmond!... Cậu ta không nên biết gì thì hơn. Cậu ta đau khổ lắm nên lúc chết mới tha thứ cho chúng. Và người ta muốn nói gì thì nói, tôi rất sợ những lời chửi rủa của người chết hơn là sợ thù hằn của người sống!
            - Đồ ngốc! - Mụ La Carconte quát lên.
            - Vậy ông có biết Fernand đã làm gì đối với Dantès không?
            - Biết lắm chứ!
            - Vậy ông hãy nói đi.
            - Gaspard! - Mụ La Carconte lại lên tiếng. - Anh muốn làm gì thì làm nhưng phải nghe tôi đấy.
            - Lần này thì tôi nghe vậy - Caderousse đáp lời vợ.
            - Vậy là ông không muốn nói gì nữa hả? - Linh mục hỏi.
            - Để làm gì kia chứ? - Caderousse đáp - Nếu cậu ta còn sống đến tôi để tìm hiểu sự thật, tôi cũng không nói. Nay theo ông nói, cậu ta đã chết rồi cậu ta không còn có thể trả thù được nữa. Chúng ta hãy dập tắt tất cả cái đó đi là khôn ngoan hơn cả.
            - Vậy ông muốn là tôi sẽ chia cho những con người mà ông cho không phải là bạn, một phần thưởng về lòng trung thành?
            - Ông nói đúng đấy. Vả lại phần của Dantès dành cho họ chỉ như giọt nước bỏ vào biển cả thôi.
            - Ấy là chưa kể họ có thể bóp anh chết bẹp - Mụ La Carconte chen vào.
            - Sao kia? Những người đó đã trở nên giàu sang và có thế lực lắm à? - Linh mục vội hỏi.
            - Vậy ông chưa biết chuyện à?
            - Chưa. Ông hãy kể cho tôi nghe đi.
            Caderousse có vẻ suy nghĩ một lát :
            - Không được đâu, chuyện dài lắm!
            - Tùy ông thôi. Tôi tôn trọng sự thận trọng của ông. Vả lại ông làm như thế là rất đúng. Thôi chúng ta không nói đến nữa. Nhiệm vụ tôi là gì? Một nghi thức bình thường thôi. Vậy tôi sẽ bán viên kim cương này đi.
            Linh mục rút trong túi ra và mở nắp hộp. Viên kim cương sáng óng ánh trước cặp mắt đang hoa lên của Caderousse. Hắn hấp tấp gọi vợ :
            - Này nhà nó ơi, lại đây mà xem viên kim cương.
            - Kim cương à? - Mụ La Carconte bước xuống cầu thang - Kim cương nó thế nào?
            - Nhà không nghe thấy gì à? Đó là viên kim cương mà cậu bé đã để lại cho chúng ta theo di chúc : Trước tiên cho bố cậu, rồi cho ba người bạn thân là Danglars, Fernand và tôi cùng với người vợ chưa cưới Mercédès nữa. Trị giá năm mươi ngàn francs đấy!
            - Ồ, đẹp quá! - Mụ La Carconte kêu lên.
            - Một phần năm của nó thuộc về tôi chứ? - Caderousse hỏi.
            - Phải - Linh mục đáp - Cộng thêm một phần của ông già bố Dantès. Vậy là tôi sẽ chia món tiền ra làm bốn phần bằng nhau cho bốn ông.
            - Tại sao lại cho bốn chúng tôi? - Mụ La Carconte hỏi.
            - Vì là bốn người bạn tốt của Dantès.
            - Bạn phải là những người không bao giờ phản bội - Mụ La Carconte lầu bầu.
            - Phải, phải - Caderousse nói - Đó là điều tôi đã nói rồi : thưởng cho một sự phản bội là một điều xúc phạm, một điều phạm thánh, có thể nói là một tội lỗi nữa.
            Linh mục lại bỏ hộp đựng kim cương vào túi áo rồi điềm nhiên nói :
            - Chính ông đã muốn như vậy. Bây giờ ông cho tôi địa chỉ của những người bạn của Dantès để tôi thực hiện nguyện vọng cuối cùng của anh ta.
            Những giọt mồ hôi to tướng chảy từ trên trán Caderousse xuống. Hắn thấy linh mục đứng lên, đi ra cửa như để xem qua con ngựa rồi lại trở vào. Hai vợ chồng Caderousse nhìn nhau một cách đầy ý nghĩa. Caderousse bảo vợ :
            - Đáng lẽ viên kim cương đó phải thuộc cả về chúng ta.
            - Anh tin thế à?
            - Lão thầy tu không muốn lừa dối chúng ta đâu.
            - Thôi thế tùy anh, tôi không can thiệp vào nữa.
            Nói xong, mụ lại rên hừ hừ và leo lên cầu thang, hai hàm răng va vào nhau lập cập mặc dù trời rất nóng.
            - Tôi đã quyết định rồi.
            - Quyết định thế nào? - Linh mục hỏi.
            Nói cho ông biết tất cả.
            - Tôi cho như vậy mới đúng. Không phải là tôi muốn biết những điều ông muốn giấu tôi, mà chỉ chia của cho đúng theo nguyện vọng của người quá cố.
            - Tôi cũng mong như vậy - Caderousse đáp lại, mặt nóng lên vì hy vọng và tham lam.
            - Nào, bây giờ tôi nghe ông.
            - Ông chờ cho một chút, người ta có thể đến quấy rầy chúng ta ở những đoạn quan trọng thì phiền lắm. Vả lại tôi cũng không muốn có ai biết ông đã đến đây.
            Caderousse đứng dậy, ra đóng cửa. Hắn còn cẩn thận chốt thêm một cái then ngang. Linh mục chọn một chỗ thuận tiện để ngồi nghe cho được thoải mái. Ông ngồi vào một góc khuất ánh sáng, trong lúc đó ánh sáng lại dọi vào mắt kẻ nói chuyện. Caderousse mang một cái ghế đẩu lại và ngồi đối diện với linh mục.


Đăng nhập để trả lời
0
Chương 27 
CÂU CHUYỆN KỂ

            Caderousse nói:
            - Trước hết tôi đề nghị Cha phải hứa với tôi một điều.
            - Điều gì vậy?
            - Là Cha chỉ được sử dụng những chi tiết trong câu chuyện của tôi vào công việc riêng của Cha, chứ không được để lộ ra tôi là người đã nói. Vì những người mà tôi sắp nói đến đây đều giàu và có thế lực cả. Họ chỉ cần búng móng tay là đủ làm tôi tan xác pháo rồi.
            - Ông cứ yên tâm ông bạn ạ. Tôi là linh mục, tôi biết giữ bí mật những lời xưng tội. Ông nên nhớ là chúng ta chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là làm toại nguyện một cách trọn vẹn ý muốn của người bạn của chúng ta. Vậy xin ông hãy chớ rụt rè, và mong ông vô tư. Ông hãy nói lên sự thật, tất cả sự thật. Tôi không biết và có lẽ cũng không bao giờ biết tới những nhân vật mà ông sắp kể với tôi. Vả lại tôi là người Ý chứ không phải người Pháp. Tôi thuộc về Chúa chứ không thuộc về loài người. Tôi sẽ trở về tu viện và chỉ ra ngoài khi nào phải hoàn thành những nguyện vọng cuối cùng của người chết mà thôi.
            - Vậy thì - Caderousse nói - tôi muốn hơn thế nữa phải có trách nhiệm tố giác những tình bạn mà cậu Edmond đáng thương ấy đã lầm tưởng là trung thành và tận tụy.
            - Ta hãy bắt đầu từ người bố đã. Edmond đã nói với tôi rất nhiều về ông già ấy và tỏ ra có một tình thương yêu sâu sắc.
            - Câu chuyện thương tâm lắm Cha ạ! - Caderousse lắc đầu - Có lẽ Cha cũng đã biết bắt đầu ra sao rồi.
            - Phải. Edmond đã kể cho tôi nghe sự việc cho đến lúc anh ta bị bắt ở một cái quán nhỏ ở gần Marseilles.
            - Vâng, trong bữa tiệc đính hôn. Bữa tiệc bắt đầu thì vui mà kết thúc rất buồn thảm. Ông Morrel chạy đi xem tình hình ra sao. Chẳng có gì vui vẻ cả. Còn ông già Dantès trở về nhà một mình, vừa khóc vừa gấp bộ quần áo cưới lại. Suốt ngày ông đi đi lại lại trong phòng, buổi tối ông cũng không chịu nằm. Tôi ở buồng dưới, nghe thấy tiếng chân ông bước suốt đêm.
            Ngày hôm sau cô Mercédès đi Marseilles cầu xin sự che chở của ông Villefort nhưng không kết quả gì. Cô muốn đón bố của Edmond về nhà cô để chăm sóc nhưng ông không chịu, ông cụ bảo:
            - Không, tôi không rời bỏ ngôi nhà tôi đang ở đi đâu cả, vì con trai tôi nó yêu quý tôi hơn mọi thứ trên đời này. Nếu nó được ra khỏi tù sẽ chạy đến đây tìm tôi trước tiên. Nó sẽ nghĩ sao một khi nó không thấy tôi đợi nó ở đây?
            Tôi nghe thấy những câu nói ấy vọng từ trên gác xuống. Trong thâm tâm, tôi cũng muốn cô gái dỗ được ông già đi, vì những tiếng bước chân của ông hàng ngày trên đầu tôi làm tôi không thể chịu được.
            - Nhưng tại sao chính ông không lên tận nơi khuyên nhủ ông già?
            - Ôi, lạy Chúa! Người ta chỉ an ủi những ai muốn được an ủi. Ông già này thì không muốn thế. Vả lại, tôi cũng cảm thấy hình như ông già không muốn gặp tôi. Một đêm bỗng nhiên tôi nghe những tiếng khóc nức nở. Không thể đừng được, tôi lên gác xem sao. Nhưng khi tôi tới cửa buồng thì ông già không khóc nữa, ông cầu nguyện. Thật không có lời lẽ nào nói hết được nỗi đau khổ. Tôi tự nhủ thầm : "May mắn làm sao trời đã không cho ta có một đứa con nào" vì nếu tôi làm cha mà phải chịu nỗi thống khổ như của ông già này thì tôi sẽ nhảy luôn xuống biển mà chết quách đi cho rảnh.
            - Ông già khốn khổ quá chừng.
            - Càng ngày ông già càng sống cô độc và xa lánh mọi người. Thỉnh thoảng ông Morrel, tức ông chủ tàu và cô Mercédès có đến thăm, nhưng cửa đóng kín mít. Tôi biết là ông già có ở nhà nhưng ông không muốn tiếp. Một hôm, trái với thường lệ, ông già chịu tiếp cô Mercédès. Và bản thân cô bé cũng khốn khổ, mặc dù đang ở trong nỗi thất vọng hoàn toàn, cô vẫn cố gắng động viên ông già. Ông bảo cô :
            - Con ơi, hãy tin lời cha, nó chết rồi. Và đáng lẽ chúng ta đợi nó, thì nó lại đang đợi chúng ta. Cha sung sướng quá vì cha già hơn con nên cha sẽ là người được gặp nó trước tiên.

            Dù người ta có lòng tốt đến đâu đi nữa, người ta cũng không thể đến mãi với kẻ không muốn tiếp mình. Vì vậy, chẳng bao lâu ông già hoàn toàn bị cô độc. Chỉ đôi khi tôi thấy có một số người lạ mặt đi lên nhà ông già. Lúc xuống, họ mang theo một số gói gì đó. Tôi hiểu là ông già đang bán dần đồ đạc để sống. Sau cùng, không còn gì để bán nữa. Ông già đã ba lần lỗi hẹn tiền nhà rồi, người ta dọa đuổi ông ra ngoài, ông già xin khất lần cuối cùng là tám ngày nữa. Tôi biết chi tiết việc này vì ông chủ nhà sau khi ra khỏi buồng ông già, lại vào buồng tôi.
            Trong ba ngày đầu cuộc hẹn, tôi đều nghe thấy tiếng bước chân ông già như thường lệ. Đến ngày thứ tư, tôi không nghe thấy gì nữa. Tôi đánh liều lên xem sao. Cửa buồng đóng, nhưng qua lỗ khóa tôi nhìn thấy ông già xanh xao, yếu ớt đến độ tôi cho là ông ốm nặng.
            Tôi đi báo cho ông Morrel và cô Mercédès biết. Hai người vội chạy đến, ông Morrel còn mang theo một người thầy thuốc. Thầy thuốc chẩn đoán bệnh loét dạ dày và ra lệnh ông phải nhịn ăn. Lúc đó tôi cũng có mặt ở đấy. Tôi không thể nào quên được cái mỉm cười của ông già khi nghe thấy lệnh của thầy thuốc. Từ đó ông già mở cửa, ông đã có lý do để chẳng phải ăn gì.
            Mercédès đến, thấy ông già thay đổi nhiều quá cho nên, cũng như lần trước, cô muốn mang ông già về nhà cô. Ông Morrel cũng muốn như vậy và muốn dùng cả sức mạnh để cưỡng bức ông già. Nhưng ông già la hét ghê quá nên họ lại đành phải thôi.
            Cô Mercédès ngồi lại bên giường. Ông Morrel, lúc về, ra hiệu cho cô gái biết ông để lại một túi tiền trên mặt lò sưởi. Nhưng dựa vào lệnh của thầy thuốc, ông già chẳng chịu ăn gì. Cuối cùng, sau chín ngày tuyệt vọng và tuyệt thực, ông già trút hơi thở cuối cùng. Lúc hấp hối ông trối trăng với cô Mercédès : "Nếu con gặp lại được Edmond, con nói với nó rằng cha chết và cầu phúc cho nó!".
            Nghe đến đây, vị linh mục đứng lên, đi hai vòng quanh buồng, đưa bàn tay run rẩy lên cổ họng khô bỏng, rồi nói :
            - Vậy là ông già chết vì...
            - Vì đói, thưa Cha, và xin bảo đảm đó là sự thật hiển nhiên như hai chúng ta đây đều là giáo dân cả.
            Linh mục vội đưa tay ra cầm lấy cốc nước. Ông uống một hơi cạn, rồi lại ngồi xuống, cặp mắt đỏ ngầu, hai má tái ngắt.
            Caderousse kể tiếp vụ tố cáo Dantès, do Danglars chủ mưu, đã diễn ra như thế nào. Linh mục đột nhiên kêu lên :
            - Nhưng lúc đó chính ông cũng có mặt ở đấy kia mà.
            - Tôi? - Caderousse ngạc nhiên hỏi - Ai nói cho Cha biết là tôi cũng có mặt ở đấy?
            Linh mục thấy mình đã quá đà, vội nói chữa :
            - Chẳng ai nói cả. Nhưng phải có mặt ở đấy thì mới biết được những chi tiết như thế chứ.
            - Đúng đấy - Caderousse ấp úng nói - Tôi có ở đấy.
            - Thế tại sao ông không phản đối hành động xấu xa ấy? Vậy thì ông là tòng phạm rồi.
            - Thưa Cha - Caderousse đáp - Chúng chuốc rượu cho tôi say mèm gần như mất cả lý trí. Tôi nhìn thấy như qua một đám mây mờ. Tôi đã nói những gì mà một người trong tình cảnh đó có thể nói được, nhưng chúng trả lời chỉ là một câu chuyện đùa thôi, và chuyện đó chẳng có hậu quả gì đâu.
            - Nhưng ngày hôm sau, ngày hôm sau ông thấy rõ hậu quả như thế nào rồi, thế mà không nói gì cả. Lúc Dantès bị bắt ông cũng được chứng kiến kia mà!
            - Thưa Cha vâng, tôi được chứng kiến và tôi muốn nói, nhưng Danglars ngăn cản tôi. Hắn bảo : "Nếu chẳng may nó có tội thật, nếu đúng nó có mang bức thư cho nhóm thân Bonapar ở Paris, thì kẻ nào ủng hộ nó cũng sẽ bị ghép vào tội tòng phạm". Tôi rất sợ cái món chính trị nên đành phải câm mồm. Đó là một điều hèn, tôi công nhận, nhưng không phải là một tội lỗi.
            - Tôi hiểu rồi, ông đã để mặc cho chúng làm, có thế thôi.
            - Thưa Cha vâng. Đó là điều hối hận đêm ngày của tôi. Tôi vẫn thường cầu Chúa xin tha tội. Mặc dù đó là việc độc nhất trong đời tôi đáng phải khiển trách, tôi vẫn cho nó là nguyên nhân của tất cả vận xúi quẩy của tôi. Do đó thỉnh thoảng vợ tôi có phàn nàn, tôi vẫn phải mắng át nó đi rằng : "Hãy im đi! Thượng đế muốn như vậy đó".
            - Tốt thôi. - ông đã thành khẩn nhận lỗi như vậy là đáng được Edmond tha thứ.
            - Khốn khổ thay, Edmond đã chết rồi và chưa tha thứ cho tôi.
            - Edmond chưa biết.
            - Nhưng bây giờ cậu ta biết rồi, có thể như vậy. Người ta nói rằng người chết biết hết.
            Im lặng một lát, linh mục đứng lên, đi đi lại lại có vẻ suy nghĩ. Cuối cùng ông trở về chỗ ngồi rồi hỏi tiếp :
            - Tôi thấy ông đã nhiều lần nói đến tên ông Morrel, ông đó là ai vậy?
            - Đó là ông chủ tàu Pharaon, ông chủ của Dantès.
            - Thái độ của ông ta như thế nào trong suốt cả tấn kịch bi thảm ấy?
            - Thái độ của một người lương thiện, can đảm và đầy tình nghĩa. Dễ có đến mấy chục lần ông ta can thiệp cho Edmond. Khi Hoàng đế trở về, ông viết đơn lên Người, thỉnh cầu, đe dọa, đến nỗi đến thời kỳ Phục hưng thứ hai ông đã bị ngược đãi, bị coi như là kẻ thân Bonapar. Như tôi đã nói, hàng chục lần ông ta đến nhà ông già Dantès để lôi ông già ra khỏi nhà. Và trước hôm ông già mất, tôi xin nói lại rằng ông ta đã để lại một túi tiền trên mặt lò sưởi. Người ta đã dùng số tiền đó để trang trải nợ nần và lo ma chay cho ông già. Tôi còn giữ cái túi đựng tiền đó, một cái túi lưới to, màu đỏ.
            - Thế... - Linh mục hỏi - ông Morrel còn sống không?
            - Còn - Caderousse đáp.
            - Vậy ông ta là người được Chúa che chở. Ông ta hẳn là... giàu có, hạnh phúc lắm?
            Caderousse mỉm cười chua chát :
            - Vâng, cũng hạnh phúc như tôi đây.
            - Ông Morrel đang bị khốn khổ ư? - Linh mục kêu lên.
            - Ông ta sắp bần cùng rồi, hơn thế nữa, sắp mất cả danh dự.
            - Sao thế?
            - Vâng, như thế đấy. Sau hai mươi lăm năm làm việc, sau khi đã chiếm được địa vị danh giá nhất trong giới thương nhân ở Marseilles, ông Morrel đã bị phá sản từ đầu đến cuối. Trong hai năm ông bị mất liền năm chiếc tàu buôn, bị vỡ nợ ba lần rất kinh khủng và hiện nay chỉ còn hy vọng vào một chiếc tàu, chính là chiếc Pharaon mà Dantès đã chỉ huy trước kia. Nó đang từ Ấn Độ trở về với đầy hàng hóa trong khoang. Nếu chiếc này bị đắm nốt như những chiếc khác thì ông ta sẽ nguy to.
            - Ông ta có vợ con gì không?
            - Có chứ, bà vợ ông rất hiền lành, tốt bụng. Cô con gái sắp lấy người cô yêu. Cậu con trai làm trung uý trong quân đội. Nhưng ông cũng biết rõ là tất cả các cái đó chỉ làm tăng gấp đôi nỗi thống khổ của ông ta thôi chứ không làm giảm được. Vì nếu ông ta chỉ có một mình thì một viên đạn vào óc là xong tất cả.
            - Kinh khủng thật! - Linh mục lẩm bẩm.
            - Đấy, Cha xem, Thượng đế ban thưởng cho những người có đạo đức như thế đấy! Như tôi đây, ngoài cái việc tôi vừa kể với ông, suốt đời tôi chưa làm một việc gì xấu, thế mà tôi cứ khốn khổ như thế này đây. Sau khi trông thấy vợ tôi chết vì bệnh sốt rét mà tôi chẳng làm gì được, tôi cũng đến phải chết đói như ông già Dantès mất thôi. Trong khi đó Danglars và Fernand nằm trên đống vàng.
            - Thế nào?
            - Bởi vì bọn chúng gặp đầy may mắn. Còn những người lương thiện thì luôn gặp số phận hẩm hiu.
            - Danglars, tên thủ phạm chính, tên đầu sỏ, hiện giờ thế nào?
            - Hắn được ông Morrel giới thiệu vào làm trong một ngân hàng Tây Ban Nha. Trong cuộc chiến tranh Tây Ban Nha, hắn có dự phần vào việc cung cấp vũ khí và quân dụng cho quân đội Pháp. Nhờ những mánh khóe tinh vi, hắn trở nên giàu kếch xù và lấy được con gái ông chủ ngân hàng. Sau khi góa vợ, hắn lại lấy một bà góa, bà Nargonne, con gái vị cận thần của đức vua hiện nay, nhờ đó hắn được phong nam tước. Bây giờ hắn là triệu phú nam tước Danglars... có một tòa biệt thự ở phố Mont-Blanc, mười con ngựa trong chuồng, sáu gia nhân trong nhà và không biết bao nhiêu là triệu đồng trong két.
            - Thế - Linh mục bỗng nói bằng một giọng lạ lùng - Danglars có sung sướng không?
            - Sung sướng. Bố ai mà biết được. Khổ cực hay hạnh phúc, đó là bí mật của những bức tường. Tường có tai nhưng không có lưỡi. Nếu người ta được sung sướng vì tiền thì Danglars quả rất sung sướng.
            - Còn Fernand?
            - Fernand thì lại còn đặc biệt hơn.
            - Nhưng một anh đánh cá nghèo hèn làm thế nào mà trở nên giàu có. Anh ta không mưu lược, không học thức. Thú thực là tin đó vượt quá trí tưởng tượng của tôi.
            - Điều đó ai cũng thấy thế. Trong cuộc đời của hắn phải có một sự bí mật nào đó chưa ai khám phá ra được.
            - Thế tuần tự, hắn leo thang như thế nào, xin ông cứ nói cho tôi biết.
            - Sau khi trở lại ngôi báu, Napoleon ra lệnh tuyển rất nhiều quân. Fernand buộc phải đăng lính. Cả tôi cũng vậy. Nhưng vì tôi nhiều tuổi hơn hắn, lại vừa mới lấy vợ, nên chỉ bị điều ra bờ biển mà thôi. Còn Fernand bị phân công vào một đơn vị chiến đấu và có dự chiến trận Ligny. Một đêm, sau chiến trận, hắn gác ở cổng nhà một viên tướng. Viên tướng này có quan hệ bí mật với quân địch. Đêm hôm đó, viên tướng phải đến gặp quân Anh, ông ta dụ dỗ Fernand đi theo. Thế là Fernand bỏ vọng gác đi theo viên tướng sang hàng ngũ quân địch. Việc làm của Fernand, nếu Napoleon còn ở ngôi, thì thế nào cũng bị đưa ra tòa án binh. Nhưng ngược lại, được tín nhiệm của dòng họ Bourbons, hắn trở về Pháp với lon thiếu uý. Nhờ có sự che chở của viên tướng, hắn được phong đại úy năm 1823 trong cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha, nên được cử sang Madrid làm sĩ quan tình báo. Vì quen thuộc địa dư và đường đi lối lại hiểm trở nên hắn giúp được đơn vị một số việc. Do vậy, trong chiến dịch ngắn ngày đó, và sau khi chiếm được Trocadero hắn được phong thiếu tá và được thưởng Bắc đẩu bội tinh cùng với chức vị bá tước.
            - Số phận! Số phận! - Linh mục lẩm bẩm.
            - Vâng, nhưng như thế vẫn chưa hết đâu. Chiến tranh Tây Ban Nha kết thúc, tương lai của Fernand sẽ mờ mịt nếu có hòa bình lâu dài ở châu Âu. Nhưng Hy Lạp đã nổi lên chống lại Thổ Nhĩ Kỳ để giành độc lập. Tất cả mọi người đều đổ dồn cặp mắt về phía Athens. Đó là phong trào ủng hộ Hy Lạp. Chính phủ Pháp cũng phải ủng hộ Hy Lạp và phái Fernand sang phục vụ ở Hy Lạp.
            Ít lâu sau người ta nghe tin bá tước Morcerf, tên của Fernand, vào làm việc cho quốc vương Ali Pasha với quân hàm thiếu tướng.

            Rồi Ali Pasha bị giết như ông đã biết. Nhưng trước khi chết, để đền bù công lao cho người đã giúp mình, Ali Pasha thưởng cho Fernand một món tiền lớn và hắn trở về Pháp. Ngày nay ngài bá tước De Morcerf có một biệt thự lộng lẫy ở Paris, phố Helder, số nhà 27.
            Linh mục lưỡng lự một lát ròi cố gắng hỏi tiếp :
            - Còn Mercédès, người ta nói cô mất tích có phải không?
            - Mất tích, vâng. Mất tích như mặt trời về chiều để sáng hôm sau lại mọc lên chói lọi hơn.
            - Cô ta cũng trở nên giàu có? - Linh mục hỏi với một nụ cười châm biếm.
            - Mercédès giờ đây là một trong những bà lớn ở Paris.
            - Ông nói tiếp đi, tôi nghe chuyện cứ như trong một giấc mơ.
            - Khi Dantès bị bắt, trước tiên phải công nhận là Mercédès rất thất vọng. Tôi đã kể ông nghe cô ta đến van nài với Villefort và sự tận tâm của cô với ông già Dantès. Đang thất vọng thì lại một đau khổ nữa đến với cô : Fernand ra trận. Cô không biết tội lỗi của Fernand và vẫn coi hắn như một người anh. Fernand đi rồi, Mercédès sống cô độc. Ba tháng trôi qua, ba tháng đầy nước mắt : không tin tức gì về Edmond, không tin tức gì về Fernand, trước mắt cô chỉ còn là một ông già đang chết dần chết mòn vì đau khổ.
            Một buổi chiều, sau khi đã ngồi suốt ngày như thường lệ ở góc hai con đường đi Marseilles và về Catalans, cô rũ rượi trở về nhà. Bỗng nhiên cô nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc. Cô quay lại, cánh cửa mở ra và Fernand xuất hiện trong bộ quân phục thiếu uý.
            Đây không phải là một nửa vấn đề mà cô khóc. Một phần tư thôi! Fernand đã trở về với cô. Mercédès nắm tay Fernand với một niềm vui sướng mà Fernand tưởng lầm là tình yêu. Nhưng đó chỉ là một niềm vui sướng của một người thấy mình không còn bị cô độc nữa, và thấy lại một người bạn sau bao ngày buồn thảm đơn độc. Và cần phải nói thêm là Fernand chưa hề bị cô ghét bỏ, mà chỉ không được cô yêu, có thế thôi. Một người khác đã chiếm mất trái tim của Mercédès rồi người đó đi vắng... bị mất tích... có thể là chết rồi. Nghĩ đến đây; Mercédès nức nở khóc. Trước đây cô không tin như thế, nhưng ông già Dantès đã chả nhiều lần nói với cô : "Edmond của chúng ta chết thật rồi, nếu không, nó đã trở về".
            Ông già đã chết, như tôi đã nói với ông. Nếu ông già còn sống, Mercédès có thể không bao giờ là vợ người khác. Fernand hiểu như thế. Khi ông già chết, hắn trở về lần này với lon thiếu uý. Lần đi trước, hắn không nói một câu yêu đương nào với cô. Lần này hắn nhắc lại với cô rằng hắn yêu cô. Mercédès xin hắn gia hạn cho sáu tháng nữa để chờ đợi và khóc Edmond.
            Nghe đến đây, linh mục mỉm cười chua chát nói :
            - Thực tế tổng cộng tất cả là mười tám tháng. Còn đòi hỏi gì hơn ở một người tình yêu quý? - Rồi ông lẩm bẩm một câu của một thi sĩ người Anh - "Mong manh yếu đuối, tên của mi là phụ nữ".
            Caderousse nói tiếp :
            - Sáu tháng sau cuộc hôn lễ diễn ra tại nhà thờ Accoules là nơi đáng lẽ làm lễ cưới với Edmond. Vậy là Mercédès đã lấy chồng. Trước mắt mọi người, cô có vẻ bình tĩnh, nhưng rất có thể cô ngã ngất khi đi qua cái quán trước đây đã tổ chức lễ đính hôn với Edmond.
            Fernand sung sướng hơn nhưng không yên tâm.hơn. Thời kỳ đó tôi gặp hắn luôn nên tôi biết, hắn rất lo sợ Edmond sẽ trở về. Hắn vội vã thu xếp đưa vợ ra nước ngoài, vì ở Catalans nguy hiểm và nhiều kỷ niệm quá. Tám ngày sau lễ cưới, hai vợ chồng ra đi.

            - Thế ông có bao giờ gặp lại Mercédès không? - linh mục hỏi.
            - Có - Caderousse đáp - Trong thời gian có chiến tranh với Tây Ban Nha, Fernand đưa vợ đến Perpignan cùng với đứa con trai. Tôi gặp họ ở đấy.
            Linh mục rùng mình hỏi :
            - Có con rồi à?
            - Vâng, con trai lên là Albert. Cô ta bây giờ giàu sang phú quý rồi nhưng không hạnh phúc đâu, tôi có cảm giác như vậy.
            - Còn viên phó biện lý Villefort, ông ta có nhúng tay vào vụ bắt bớ Dantès không?
            - Ông ta không phải là bạn tôi nên tôi không biết rõ chuyện. Tôi chỉ biết là sau khi làm lễ thành hôn với tiểu thư Saint-Méran, ông ta được chuyển đi nơi khác. Rất có thể là ông ta cũng giàu có như Danglars, danh vọng như Fernand, chỉ còn mình tôi là nghèo khổ và bị Thượng đế bỏ quên.
            - Ông bạn ơi, ông lầm đấy. Thượng đế quang minh, chính trực không bỏ quên ai đâu và đây là bằng chứng.
            Nói xong, linh mục rút viên kim cương ra trao cho Caderousse rồi nói tiếp :
            - Viên kim cương này đáng lẽ chia cho bốn người, nhưng tôi thấy chỉ có mình ông xứng đáng là bạn của Dantès nên nó sẽ thuộc quyền sở hữu của riêng ông. Mời ông cầm lấy, nó đáng giá năm chục nghìn francs đấy.
            Caderousse vừa vuốt mồ hôi trên trán vừa nói :
            - Ôi thưa ông, ông không nói đùa tôi đấy chứ? Ông đừng nên làm tôi vừa sung sướng vừa thất vọng.
            - Tôi đã hiểu thế nào là sung sướng và thất vọng - Linh mục mỉm cười nói - Và tôi không bao giờ nỡ đùa với tình cảm của người khác. Xin ông cứ cầm lấy, và ngược lại, ông cho tôi xin cái túi đựng tiền bằng chỉ đỏ mà ông Morrel đã để lại trên mặt lò sưởi buồng ông già Dantès, ông đã nói với tôi là ông còn giữ.
            Caderousse càng ngạc nhiên hơn, hắn vội chạy đi mở tủ lấy cái túi ra. Túi bằng tơ đỏ có đính hai cái vòng đồng mạ vàng. Linh mục cầm lấy cái túi và trao viên kim cương cho Caderousse. Tên chủ quán kêu lên :
            - Ôi ông thật là người nhà trời, thưa ông! Vì sự thật là không ai biết Edmond đã trao nó cho ông và ông hoàn toàn có thể im đi.
            Linh mục nghĩ thầm "Chà, điều đó có nghĩa là mi có thể làm như vậy lắm". Rồi linh mục đứng lên, cầm lấy mũ và găng tay, nói :
            - Tất cả những điều ông nói với tôi là sự thật cả đấy chứ?
            - Tôi xin thề trước cây thánh giá kia và sự thể thế nào, tôi đã nói đúng như thế.
            - Vậy thì tốt lắm! Mong ông sử dụng lương thiện số tiền này nhé! Vĩnh biệt ông, tôi phải đi xa khỏi loài người đã tự gây cho nhau biết bao tai họa.
            Rồi, không chú ý đến những tình cảm dạt dào của tên chủ quán, vị linh mục đẩy cửa bước ra ngoài, lên ngựa đi thẳng.
            Lúc Caderousse quay lại hắn thấy mụ La Carconte đứng đằng sau hắn tái xanh và run rẩy hơn bao giờ hết. Mụ hỏi :
            - Những điều tôi vừa nghe thấy có đúng là sự thật không?
            - Chẳng có gì thật hơn, vì nó đây - Caderousse sướng như điên đáp, và xòe tay ra.
            Mụ vợ ngắm nghía nó một lát rồi nói như gầm lên :
            - Nó giả thì sao?

            Mặt Caderousse tái mét, người lảo đảo, hắn thì thào :
            - Giả, giả!... Thế tại sao người ta cho mình kim cương giả để làm gì?
            - Đồ ngu! Để moi hết bí mật của anh mà không phải trả tiền chứ sao!
            Caderousse đứng lặng đi một lúc lâu chịu đựng sức nặng của giả thiết đó. Lát sau hắn cầm mũ lên và nói :
            - Rồi chúng ta sẽ biết.
            - Làm sao mà biết được?
            - Ở ngoài chợ có những tay thợ kim hoàn ở Paris về, tôi sẽ đưa họ xem.
            Rồi hắn lao ra khỏi nhà, ngược chiều với hướng đi của vị linh mục. Còn lại một mình, mụ La Carconte lẩm bẩm : "Năm chục nghìn francs! Đó là một món tiền... nhưng chưa hẳn là một gia tài".
 
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 28 
CUỐN SỔ NHÀ TÙ

            Ngày hôm sau, trên đường đi Beaucaire, người ta thấy một người đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi, mặc chiếc áo đuôi tôm màu lơ, một chiếc quần bằng lụa Trung Quốc, một áo gilê trắng, giọng nói lơ lớ tiếng Anh, đến ra mắt viên thị trưởng thành phố Marseilles.
            - Thưa ngài thị trưởng, tôi là người đại diện của hãng Thomson & French ở Rome. Từ mười năm nay hãng chúng tôi giao dịch với công ty Morrel ở Marseilles. Vừa qua chúng tôi nghe tin công ty này sắp bị phá sản. Điều đó làm chúng tôi rất lo lắng. Vậy xin ngài cho chúng tôi được biết tình hình công ty Morrel hiện nay bởi công ty còn giữ của chúng tôi mười vạn francs.
            - Vâng, tôi biết rõ là trong vòng năm năm nay ông Morrel đã gặp rủi ro dồn dập. Ông ta bị đắm luôn năm chiếc tàu và ba bốn lần suýt bị phá sản. Về đạo đức của ông ta, với danh nghĩa thị trưởng, tôi có thể cam đoan với ông, ông ta là một người thật thà, đứng đắn và đáng tin cậy. Còn về tiền nong thì phải hỏi ông De Boville, thanh tra các nhà tù. Nghe đâu ông ấy có mua nhiều cổ phần của công ty Morrel nên nhất định biết rõ công việc làm ăn của công ty đó.
            Người Anh ngỏ lời cám ơn, chào viên thị trưởng và gặp ông Boville, thanh tra nhà tù, theo lời giới thiệu của ông thị trưởng. Viên thanh tra đang ngồi ở bàn giấy. Lúc nom thấy ông ta, người Anh có vẻ giật mình như không phải lần đầu tiên gặp ông. Song với vẻ thản nhiên thường có theo bản tính, người Anh đặt vấn đề với ông Boville như đã làm với ông thị trưởng. Ông Boville nói :
            - Chao ôi! Những lo âu của ngài không phải là vô căn cứ. Bản thân tôi cũng đang thất vọng. Tôi mua hai trăm nghìn francs cổ phiếu của công ty Morrel, một nửa đến ngày 15 tháng này thì được hoàn lại, còn một nửa sang tháng sau. Nhưng vừa đây ông Morrel báo cho tôi biết nếu ngày 15 này tàu Pharaon không trở về Marseilles thì ông ta không thể thanh toán với tôi được. Như thế có nghĩa là ông ta phá sản, còn tôi thì sẽ mất sạch gia tài.
 

            
            Người Anh có vẻ suy nghĩ một lát rồi nói :
            - Ngài lo sợ ư?
            - Tôi thì coi như đã mất rồi.
            - Nếu vậy tôi sẽ mua lại.
            - Ngài mua lại! Chắc với điều kiện là với giá hạ?
            - Không đâu - Người Anh mỉm cười đáp - Công ty chúng tôi không làm việc ấy. Hai trăm nghìn là hai trăm nghìn.
            - Ngài trả tiền nào?
            - Bằng tiền mặt ngay lập tức.
            Nói xong, người Anh rút trong túi ra một tập giấy bạc có thể là nhiều gấp đôi số tiền cần cho ông Boville. Bộ mặt của viên thanh tra rạng rỡ hẳn lên, nhưng ông ta cố trấn tĩnh lại và nói :
            - Thưa ngài, nhưng tôi cần phải báo trước để ngài biết rằng chỉ có năm phần trăm may rủi là thu lại được số tiền đó.
            - Điều đó không can gì đến tôi. Tôi chỉ cần biết rằng hãng Thomson & French chúng tôi được cái lợi là làm phá sản được một hãng đối địch. Còn tôi, tôi muốn xin ngài một cái lợi khác : món hoa hồng.
            - Vâng thưa ngài, như vậy là hợp lý quá rồi! Thông thường là 1,5 phần trăm nhưng ngài yêu cầu hai hay ba? Hay hơn nữa xin ngài cứ nói.
            - Thưa ông - Người Anh mỉm cười nói - Tôi cũng như hãng của chúng tôi không làm cái việc đó. Khoản hoa hồng của tôi tính bằng cách khác.
            - Xin ngài cứ nói, tôi sẵn sàng nghe.
            - Ngài là thanh tra các nhà tù có phải không?
            - Từ mười bốn năm nay.
            - Ngài giữ các sổ giam tù nhân?
            - Vâng, và cả những hồ sơ của từng tù nhân nữa.
            - Ngày trước, lúc ở Rome tôi có một ông thầy học là linh mục bỗng nhiên bị mất tích. Sau này tôi được biết ông ta đã bị bắt và bị giam ở lâu đài If, tôi muốn biết một số chi tiết về ông ấy.
            - Ông ấy tên là gì?
            - Linh mục Faria.
            - À, tôi biết rõ lắm, ông ấy bị điên.
            - Người ta nói thế! - Người Anh thản nhiên nói.
            - Ờ. Chắc chắn là thế mà! - ông Boville kêu lên.
            - Cũng có thể. Nhưng điên như thế nào?
            - Ông ta quả quyết là ông ta biết chỗ chôn cất một kho tàng rất lớn và hứa tặng cho chính phủ những món tiền điên rồ nếu thả ông ấy ra.
            - Tội nghiệp ông ấy! Ông ấy chết rồi phải không?
            - Vâng, cách đây khoảng năm sáu tháng, vào tháng Hai năm vừa qua.
            - Ông có trí nhớ tốt quá nhỉ?
            - Tôi nhớ được vụ đó bởi vì cái chết của ông ấy có kèm theo một sự kiện kỳ lạ.
            - Tôi có thể biết được không? - Người Anh hỏi với vẻ tò mò.
            - Được chứ! Cái hầm giam linh mục cách một cái hầm khác chừng vài ba chục bước, trong hầm này giam một tên thân Bonapar rất nguy hiểm.
            - Thật vậy ư? - Người Anh hỏi.
            - Vâng - ông Boville đáp - Tôi đã có dịp gặp con người đó vào năm 1816 hoặc 1817. Con người này để lại cho tôi một cảm tưởng sâu sắc, không bao giờ tôi quên được bộ mặt anh ta - Người Anh mỉm cười kín đáo, ông Boville nói tiếp - Hai cái hầm giam hai người ở cách nhau chừng ba chục bước như tôi đã nói, tên anh ta là Edmond Dantès thì phải...
            - Con người nguy hiểm đó tên là...
            - Edmond Dantès... Vâng, thưa ông. Hình như tên Edmond Dantès ấy đã tạo ra những dụng cụ, vì người ta khám phá ra một con đường ngầm mà hai tù nhân đã dùng để đi lại với nhau.
            - Con đường ngầm đó dùng vào mục đích vượt ngục?
            - Đúng thế, nhưng không may cho cả hai là linh mục Faria bị lên cơn bại liệt rồi chết.
            - Tôi hiểu rồi, điều đó làm kế hoạch vượt ngục bị phá sản.
            - Đối với người chết thì đúng - ông Boville đáp - Nhưng không đúng với người sống. Ngược lại, tên Dantès đã tìm thấy ở đó một biện pháp để tiến hành vượt ngục nhanh hơn. Có lẽ hắn đã nghĩ rằng những người chết ở lâu đài If được chôn ở nghĩa địa như bình thường. Hắn đem xác chết sang hầm của hắn, rồi chui vào bao thay thế xác chết, khâu lại cẩn thận và đợi lúc chôn.
            - Đấy là một biện pháp mạo hiểm - Người Anh nói, - chứng tỏ một sự can đảm phi thường
            - Ồ, thì tôi chẳng nói với ông rằng hắn là một con người nguy hiểm mà! Nhưng may thay cho nhà cầm quyền, hắn đã tự giết mình.
            - Thế nào kia?
            - Ông không hiểu à? Lâu đài If không có nghĩa địa. Người ta quẳng xác hắn tù trên mỏm đá cao xuống biển, chân lại buộc một viên đạn đại bác. Nếu không bị đập đầu vào đá thì hắn cũng bị nhấn chìm xuống đáy biển rồi.
            - Vậy là - Người Anh cố trấn tĩnh nói - kẻ vượt ngục đã bị chết đuối?
            - Việc đó đã quá rõ ràng?
            - Thế là ông giám thị nhà tù cùng một lúc thoát nợ được một tên điên và một tên tù nguy hiểm!
            - Đúng thế. Người ta có thể cấp giấy chứng nhận bất kỳ vào lúc nào là hai tên ấy đều không còn ở trên trần thế này nữa.
            - Thôi - Người Anh nói - Ta quay về với quyển sổ tù.
            - À vâng, xin ông vào phòng giấy của tôi, tôi sẽ đưa ông xem.
 

            Tất cả đều rất ngăn nắp, trật tự. Mỗi cuốn sổ đều có số của nó. Mỗi hồ sơ đều có ngăn riêng. Viên thanh tra mời người Anh ngồi vào ghế bành và đặt trước mặt ông ta cuốn sổ và hồ sơ có liên quan đến lâu đài If. Để khách có thể tự do tra cứu, ông ngồi vào cái ghế ở góc buồng và đọc báo.
            Người Anh tìm được một cách dễ dàng hồ sơ về linh mục Faria. Nhưng rồi ông ta chỉ giở lướt qua để tìm đến tập của Edmond Dantès. Mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn thư tố cáo, khẩu cung can thiệp của ông Morrel, chú thích của Villefort. Ông gập bức thư tố cáo lại và nhét vào túi áo của mình. Ông đọc những bức thư của ông Morrel kêu nài lên Hoàng đế Napoleon thời kỳ Hoàng đế mới trở về cầm quyền. Ông hiểu ra rằng tất cả những bức thư này Villefort không gửi đi mà giữ lại và chúng đã trở thành một thứ vũ khí lợi hại của hắn khi vua Louis trở lại ngai vàng.
 

            Ông đọc chú thích của Villefort : "Edmond Dantès, kẻ theo phái Bonapar cuồng nhiệt, đã tích cực tham gia vào vụ Napoleon từ đảo Elba quay về. Phải giam giữ hết sức bí mật và canh phòng nghiêm ngặt".
            Dưới đó là một dòng chữ khác : "Không thể làm gì khác được", Đó là lời ghi của viên thanh tra hồi đến thăm Dantès.
            - Xin cảm ơn ngài, tôi thỏa mãn rồi!
            Nói xong ông cúi chào và lặng lẽ bước ra.
 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»