Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

NGỰA THÁI (THAI HORSE) - William Diehl (HẾT) 🔒

59 trả lời, 131 lượt xem — Trang 2 / 2

ĐỘT KÍCH

 
Cohen đã gửi Tiana đến nhà Bà Mập ở qua đêm. Anh ngồi trên giường nhìn Hatcher mở chiếc cặp Halliburton, bật khóa máy quay phim video và lấy ra bộ phận cò súng bằng nhựa. Anh vặn ống kính chụp xa lấy ra ống ngắm. Anh lấy báng súng ngắn từ các ống kính khác ra và hai băng đạn từ các bình điện. Cohen nói:
- Cái đó đẹp quá! Gì thế?
- Khẩu Aug của Áo. - Hatcher nói trong khi ráp món vũ khí. - Tôi cần một số đạn.
- Chả khó. - Cohen nói. Anh ra lệnh cho Sing và tay Tàu to con lách ra khỏi phòng độ một hai phút rồi trở lại với bốn chiếc hộp. - Đủ chứ?
Hatcher cười thì thầm:
- Chỗ đó phải đủ cho hai trăm phát.
Cohen tập họp đám thủ hạ ít ỏi của mình trong phòng khách, một nhóm người khá cứng cỏi, mặc quần dài đen, áo cổ tròn, mang mặt nạ bằng vải đen để hòa lẫn vào bóng tối. Tất cả được trang bị tiểu liên Mac 10. Cohen nói với họ bằng tiếng Tàu:
- Chắc bọn chúng sẽ đánh chúng ta ở cả mặt trước và mặt sau. Hatcher, Sing và tôi sẽ ở trong nhà. Chúng ta sẽ tắt đèn trong nhà. Chúng ta sẽ dụ cho bọn chúng tìm đến ta. Louie, anh lên trên mái nhà. George, Joey Chen và Lee ở trong vườn. Sammy canh khu đất phía sau. Có thêm gì nữa không Hatcher?
Hatcher lắc đầu.
Hatcher còn một ý nghĩ cuối cùng nữa, nhưng đó là một điều anh ngại thảo luận với những người này. Lung là tên cuối cùng trong năm thành viên của băng Dragon’s Breath (Hơi thở của rồng), những tên đã từng chạy ma túy cho White Powder Mama (Bà Má Bạch Phiến) từ Thái Lan đến Sài Gòn, và có nhiều khả năng biết về cái trại Huie-kui. Anh cần giữ cho Lung sống, ít ra là đủ để có thời gian tra vấn hắn. Nhưng điều đó có vẻ đòi hỏi quá đáng đối với tiểu đội của Cohen, những người đang đem mạng sống của mình ra để phục vụ cho tay Tsu Fi này... và cho anh.
Cuối cùng anh nói: “nếu có cơ may giữ được cho tên Lung sống thì tôi muốn tra hỏi hắn”.
Cohen nhướng mày nhìn anh. Hatcher vội vàng nói thêm:
- Nhưng không được làm nguy hiểm đến tính mạng của bất cứ người nào.
Trời bắt đầu mưa, một cơn mưa phùn nhỏ báo hiệu một trận mưa xối xả sẽ đến. Điều này rất có lợi cho Lung. Mưa sẽ át đi tiếng động cơ xe của bọn gangster, tất cả bọn chúng đều mặc đồ đen.
Tài xế của y đã đậu xe trên khúc đường ngoặt phía dưới nhà Cohen. Lung và hai tên giết người nữa xuống xe và lặng lẽ nhanh chóng chạy xuyên qua rừng lá đến chân tường vây quanh cơ ngơi của Cohen. Mặt đất ở đây bằng phẳng trở lại sau một đoạn dốc ra xa căn nhà tới vài trăm thước.
Lung đoán rằng sẽ có ít nhất là một người gác ở khu đất phía sau nhà, có thể còn hơn, vì thế hắn đã lên kế hoạch đột kích cho sát. Hắn tung một cái móc câu lên hai lần mới ngoắc được vào bờ tường rồi bám dây leo lên bờ tường và cắt dây điện. Hắn bấm đèn pin soi hai lần rồi buông mình vào bên trong hàng rào, rơi xuống đất trong tư thế ngồi xổm giữa đám dây leo và cỏ ống cao đến đầu gối.
Phía trên hắn, xuyên qua các cành cây, hắn có thể nhìn thấy các ngọn đèn pha trên ban công nhà Cohen cách đấy vài trăm thước, rọi những vòng sáng xuống tán lá bên dưới. Hắn giữ nguyên tư thế ngồi xổm, đôi tai cảnh giác nghe các tiếng động trong bóng tối. Hai tên kia lặng lẽ buông mình xuống cạnh hắn.
Cơn mưa phùn đã trở thành mưa mau.
Bọn chúng nhanh chóng tản ra cho đến khi cả ba tên hung đồ làm thành một hàng từ vách phía Đông sang vách phía Tây của gia trang Cohen. Bọn chúng vẫn chưa phát hiện ra người gác ở bờ dốc phía sau. Bọn chúng đi vào hết sức im lặng xuyên qua các đám dây leo và cỏ đan chằng chịt tiến về phía ngôi nhà, người cúi thấp, chờ đợi một bóng người hiện ra trên nền ánh sáng đèn pha, mỗi tên có một ống nghe nhét ở tai được nối liền với một máy phát tín hiệu chạy pin.
Chính Lung đã phát hiện ra người gác của Cohen - Sammy - đang ngồi xổm ở khu đất trống dưới ban công, đôi mắt sục tìm khu vực bên kia vòng ánh sáng đèn pha. Lung bấm nút máy phát tín hiệu hai lần. Hai gã giết người kia nghe thấy tín hiệu và lo cứng người lại. Lung có tránh nhiệm hạ thủ người gác khi người của bọn chúng báo hiệu rằng cuộc đột kích vào phía trước đã bắt đầu. Lung đang nằm trong đám cỏ cao cách xa Sammy - bóng đen đeo mặt nạ đang ngồi xổm - khoảng chừng ba mươi thước.
Lung nâng khẩu súng dài lên, một khẩu Mannlicher đã nạp một mũi tên tẩm thuốc mê có thể hạ người gác bất tỉnh ngay tức khắc... Hay hơn là một viên đạn vì viên đạn có thể chỉ làm người gác bị thương và tạo cơ hội cho anh ta kêu lên báo động.
Y ngắm Sammy qua ống nhòm hồng ngoại tuyến rồi nâng ống nhòm lên nhìn về phía ban công. Đèn trong nhà tắt hết. Y hạ thấp súng xuống, ngắm đúng cổ họng Sam và chờ tín hiệu từ ngoài đường.
Ở trên nóc nhà, thủ hạ của Cohen quan sát qua ống nhòm thấy một chiếc xe hơi chạy đến đón người đàn ông ở gần vườn Thực vật. Anh ta thì thầm vào máy bộ đàm: “Bọn chúng đã đến đón gã đàn ông ở trên đồi. Hình như có ba tên nữa trên xe”.
Bên trong căn nhà tối lờ mờ, Hatcher chửi thề dữ dội: “Thế đấy! Thằng chó đẻ Varney đã bán ta cho tên Lung. Chính nó tham gia vào vụ này”.
Varney và tay phụ tá của hắn, một Hạ sĩ trẻ người Á Đông tên là Henry Dow, đã lên đến đỉnh núi. Hạ sĩ Dow biết rất ít chi tiết về vụ này. Họ sẽ đưa một người đàn ông về để bảo vệ, đấy là tất cả những gì anh ta biết. Gã Hạ sĩ lực lưỡng trẻ tuổi này làm cớm đã được bốn năm và chẳng bao giờ hỏi han gì.
Varney từ từ đến gần cổng gia trang của Cohen trong làn mưa. Hắn nhìn thấy chiếc xe của bọn kẻ cướp Tam Kết quẹo vào theo sau hắn, đèn xe không bật. Gã Hạ sĩ, lơ đãng vì cơn mưa, đang nhìn đăm đăm qua kính chắn gió, không nhận thấy chiếc xe. Khi bọn chúng đến gần cổng Varney chớp đèn rồi nhấc máy điện đàm, gọi cho điện thoại viên ở sở cảnh sát và yêu cầu nối với điện thoại của Cohen. Hatcher thì thầm:
- Chúng chơi trò theo xe của Varney để lọt vào khi cổng được mở.
Cohen truyền lại câu nói đó cho những người khác. Anh ta mang một khẩu Smith&Wesson 357 và một khẩu Colt 45 của quân đội gài vào dây lưng vải mà anh ta thắt trong dịp này. Hatcher nhìn anh ta cười và nói:
- Trông anh buồn cười quá.
Cohen mỉm cười nham hiểm:
- Đừng đánh giá tôi thấp, Người Có Đôi Mắt Đá ạ! Tôi biết sử dụng mấy thứ này như thế nào!
- Biết được thế tôi thấy an tâm hơn. - Hatcher lầm bầm. Anh mở cửa kính thông ra ban công - Tôi sẽ kiểm tra phía sau.
Anh nhẹ nhàng lom khom lách qua cửa sau và trườn về phía lan can của ban công. Bấy giờ mưa đang rơi đều đặn và tầm nhìn rất kém. Ở phía dưới, anh trông thấy Sammy gác, ngồi xổm gần một cái cột chống, khẩu Mac 10 được che dưới áo mưa. Hatcher trở vào trong để tránh mưa.
Ở tít phía dưới, ngồi trong đám cỏ ướt, Lung xem đồng hồ tay. Giờ này Varney có thể hành động bất cứ lúc nào. Ngay khi cuộc chiến xảy ra ở phía trước nhà thì sẽ có sự rối loạn đủ để cho thủ hạ của hắn nêu lên các cột chống, vượt qua ban công và đột kích ngôi nhà từ mặt sau.
- Bọn chúng đến đây. - Thủ hạ của Cohen ở trên nóc nhà nói qua máy bộ đàm.
Trong chiếc xe hơi chạy sau xe Varney, một trong những tên giết người nhìn thấy đèn xe của Varney nhấp nháy. “Tới!”, hắn nói vào máy bộ đàm.
Ở phía sau nhà, Lung nghe thấy hiệu lệnh và bắn đi phát tên tẩm thuốc mê, mắt nhìn qua ống ngắm đêm thấy mũi phi tiêu cắm phập vào cổ họng Sammy. Hắn trông thấy tên gác của Cohen ngã ngửa ra dựa vào cột chống, đôi mắt trợn tròn lên rồi tựa vào cột ngồi xệp xuống đất, đôi vai rũ xuống và để rớt vũ khí.
Lung nhấn máy phát tín hiệu hai lần, và hai tên cướp ở phía sau phóng thật nhanh qua bãi cỏ dưới màn mưa tiến về phía các cột chống ban công. Lung rút từ tay áo ra một lưỡi dao nhọn rồi nắm lấy tóc Sammy, đẩy đầu anh ra ra sau và cắt ngang cổ họng.
- Đây là Trung sĩ Varney.- Gã Trung sĩ Ănglê nói vào máy khi nghe tiếng cũng trả lời điện thoại. - Ông làm ơn cho mở cổng, được chứ? - Hắn cho xe chạy từ từ rồi dừng lại.
- Chúng tôi mở cổng đây, - Cohen nói, tay ấn nút điện mở cổng.
Khi hai cánh cổng lưới sắt đồ sộ từ từ mở ra, Varney đập mạnh chân ga. Chiếc xe của hắn chồm về phía trước và rú lên lao vào đường xe chạy của nhà Cohen. Dàn đèn phía trước đầu xe đập vào người một thủ hạ của Cohen khiến tay súng ấy không kịp nhảy tránh vào vườn hoa hồng kế bên.
Phía sau hắn là chiếc xe của bọn giết người, các bánh xe rít lên, rú máy lao qua cánh cổng đang đóng lại đằng sau Varney.
Chiếc xe của Varney thắng gấp còn lao đi một đoạn trước mặt tiền ngôi nhà, nhảy lên một bờ lề nhỏ và đâm sầm vào vườn. Hắn và Hạ sĩ Dow vội lao ra hai bên cửa xe. Phía sau họ, các tên giết người của Lung lao ra khỏi xe nhảy vào các vườn hoa, và trong lúc Dow đứng dậy, chiếc xe sau không người lái đâm sầm vào xe của Varney. Nó đập vào vè cản phía sau, lệch sang bên và nghiến ken két bên hông chiếc xe cảnh sát. Gã cảnh sát cường tráng rú lên khi hắn bị nghiến chết giữa hai chiếc xe. Varney choáng váng vừa nhào ra khỏi xe bị bọn giết người hạ gục ngay tức khắc.
Bên trong Sing và Cohen nấp sau một chiếc trường kỉ lúc cánh cửa bị bắn vỡ vụn bởi cả chục đầu đạn. Kính và bóng đèn vỡ tung tóe trong phòng. Hatcher từ cửa phòng ngủ nhìn ra thì thầm:
- Mọi người an toàn cả chứ?
- Cho đến bây giờ thì vẫn ngon lành. - Cohen nhanh nhẹn đáp. Họ có thể nghe thấy tiếng nổ lốp đốp của các khẩu Uzi mà bọn thủ hạ của Lung bắn được nhanh chóng đáp lại bởi những tiếng nổ trầm hơn của các khẩu Mac 10. Màn đêm bị xé rách bởi đạn phản chiếu qua các cửa sổ như ánh chớp ở phía xa. Cohen và Sing tập trung tinh thần vào cửa trước đề phòng trường hợp bọn thủ hạ của Lung phá vào.
Ở phía sau nhà, Lưng và hai tên thủ hạ nhanh nhẹn cột vào mắt cá chân những sợi dây da có gắn đinh nhọn. Chúng thắt dây lưng - loại mà các nhân viên kéo đường dây điện thoại dùng - vào các cột chống, đạp mạnh các đầu đinh vào cột rồi bắt đầu leo lên.
Bên trong Hatcher nhìn thấy tên giết người đầu tiên của Lung lên đến mặt ban công, nhảy qua lan can và phóng về phía phòng ngủ. Hatcher lao vào nấp sau giường. Trong bóng tối và trời mưa, tên giết người này chỉ nhìn thấy thấp thoáng bóng người cử động trong phòng nên bắn một tràng đạn từ khẩu Uzi. Các đầu đạn cắm phập vào tường có gắn gương và bóng Hatcher trong gương vỡ tung ra những mảnh gương vỡ. Hatcher đặt cả hai tay lên giường và bắn một tràng ngắn từ khẩu Aug. Chừng nửa chục đầu đạn xuyên vào người tay súng này, từ cằm đến bụng. Tên gangster khựng lại bật ngửa ra, khi các đầu đạn xuyên vào người hắn. Hắn lật người qua lan can ban công và rơi xuống mất hút.
Từ một phòng khác Hatcher nghe thấy một tràng đạn Uzi nữa. Anh lom khom chạy ra lối cửa phòng khách đúng lúc nhìn thấy một tên gangster khác vừa chạy ngoằn nghoèo vào căn phòng tối mờ, vừa bắn súng cắp ở ngang hông. Tủ để sách, bình bông, hoa và tranh ảnh vỡ vụn tung tóe, Cohen từ phía sau chiếc trường kỉ bật dậy và bóp cò khẩu 357. Viên đạn trúng ngay ngực tên cầm súng làm hắn lảo đảo, khẩu súng vẫn còn nhả đạn. Những chùm hoa kết bằng lông vũ bung lên từ chiếc trường kỉ. Cohen cảm thấy nhói, một cái ở bên sườn, rồi đau buốt như ong chích. Anh nhìn xuống. Trời ơi, anh nghĩ, ta bị trúng đạn rồi!
Tên giết người cảm thấy đầu đạn nóng hổi xuyên sâu vào lồng ngực và làm vỡ tim hắn trong khi buồng phổi tràn ứ máu. Người hắn gập lại và ngã sấp xuống như một người đang cầu nguyện trước tượng Đức Phật.
Trong lúc Hatcher lăn vào phòng ngủ, anh nhìn thấy Lung trèo vào ban công. Bóng tên cướp in trên lối cửa, mặt đẫm nước mưa chảy ròng ròng, đôi mắt cháy rực căm thù. Một thoáng sau hắn trông thấy Hatcher đúng lúc Hatcher đã kịp bắn một tràng vào hắn. Lung nhảy sang một bên nhưng một viên đạn đã xém đứt tai hắn, chiếc tai tan thành một đám bụi máu và thịt. Hatcher nhảy qua giường và phóng qua lối cửa, vung khẩu Aug lên.
Anh đập thẳng vào quai hàm Lung làm dập cằm và đấm hắn văng ngược trở lại lan can. Nhưng gã Á Đông này dẻo dai hơn Hatcher tưởng. Hắn vung lưỡi dao ra chém đứt tay áo của Hatcher. Hatcher chộp lấy cổ tay Lung đẩy ngược lên, vặn nó ra xa người anh làm con dao rơi xuống. Lung ngã ra sau, hắn víu lấy Hatcher và cả hai đều ngã nằm vắt ngang lan can. Hatcher móc khuỷu tay vào thanh gỗ ngang giữ người lại được. Anh vẫn còn nắm được cổ tay Lung nhưng gã gangster treo lủng lẳng rồi tuột khỏi tay anh và rớt xuống, hắn cố uốn người trong khi rơi để hai chân xuống trước. Tuy nhiên hắn đã rơi xuống trong tư thế nằm ngang, cú rơi nặng nề dồn không khí ra khỏi phổi hắn và làm gẫy hai xương sườn. Lung bị văng xuống sườn dốc đến tận rìa bãi cỏ.
Hắn đau đớn ngã sấp mặt xuống, các xương sườn gãy đau buốt, một bên mặt rách nát vì những viên đạn của Hatcher. Hắn co hai gối nhổm người lên và bò lê xuống đồi về phía bóng tối.
Phía sau hắn, Hatcher quặp hai chân vào trụ cột tụt xuống đất. Anh chộp lấy con dao của Lung đang nằm trong bùn và phóng xuống sườn dốc.
Lung lao vào đám cỏ cao, nhưng các xương sườn bị gãy của hắn đau đớn hơn mức hắn có thể chịu đựng.
Hắn ngã xuống trong tiếng rên rỉ và cố bò nốt vài tấc cuối cùng vào vùng bóng tối. Hắn sắp sửa ra khỏi vòng cung chiếu sáng của đèn pha thì cảm thấy bàn tay sắt của Hatcher chộp lấy cổ áo phía sau, kéo hắn đứng lên, nghe giọng nói khàn khàn của Hatcher rít lên bên tai:
“Mày! Đồ chó đẻ! Nhẽ ra mày đã phải chết lâu rồi”. Anh đặt mũi dao của chính Lung vào gáy tên cướp này, ấn mạnh vừa đủ để làm rách da: “Mày còn vài câu hỏi phải trả lời”, anh khàn giọng nói.
Lung nhục nhã và thất bại, cố đứng vững trên hai chân rồi cong bật người lên, cho lưỡi dao thọc sâu vào cổ mình. Tiếng thét của hắn như tiếng kêu của một con vật. Hatcher rụt tay lại nhưng vì con dao cắm quá sâu nên cán dao nhớp nháp tụt khỏi tay anh. Anh nghe thấy tiếng kêu ằng ặc của Lung, cơn dẫy chết không thể lầm được, cảm thấy người hắn run bần bật rồi nhũn ra.
Hatcher đứng bên hắn, tay vẫn còn nắm chặt cổ áo hắn. Đầu Lung gục về phía trước. Hatcher buông tên giết người rơi úp mặt xuống vũng bùn dưới chân anh. “Hoan hô mày đã xuống địa ngục”, giọng nói vỡ vụn của anh vang lên, anh vẫn đứng bên xác tên giết người trời mưa tầm tã xối vào mặt.
 
0

MỘT CHUYỆN KHÓ KHĂN

 
Rạng đông ngày hôm sau trong gia trang của Cohen diễn ra một quang cảnh rất sôi động. Sáu sĩ quan cảnh sát đã kết thúc việc chụp ảnh, hỏi cung và cố ghép lại với nhau những gì đã xảy ra đêm qua. Thợ ảnh chụp hình các thi thể, các xe hơi và những gì còn lại của cả hai chiếc xe đã được mang đi. Hiện tại thợ làm vườn đang sửa sang lại phần hư hỏng ở phía trước nhà.
Một chiếc xe chính quyền chạy vào lối đi. Đại tá Jeffrey Holloway bước xuống và chậm rãi xoay người một vòng trên một gót chân để quan sát các nơi đổ vỡ ở nhà Cohen.  Holloway chẳng phải là một người vui vẻ. Người đàn ông cầm đầu Trung tâm cảnh sát của Hong Kong này cao khoảng 1m8, mái tóc bạc cắt ngắn gần như kiểu tóc cua phát xít Đức; trên gương mặt mỏng dính, quắt queo, nghiêm khắc, ngự trị một đôi mắt xám sẫm. Mặc dù dưới sức nóng của mặt trời buổi sáng, bộ đồng phục vải ka ki được ủi hồ vẫn giữ được không một nếp nhăn.
Ông ta rảo bước ra phía cửa trước nhà Cohen như một lính gác ở cung điện, người thẳng đờ tưởng như ngã ra sau. Ông ta đập đập chiếc roi ngựa - dấu hiệu cấp bậc của ông ta - vào một bên đùi.
Holloway ước tính sự thiệt hại của căn nhà rồi bước xuống lối cửa mở vào phòng khách. Cohen bị rách một bên sườn vì một viên đạn đang nằm trên giường. Lão Ping, thầy châm cứu, cúi xuống người anh ta, cắm những mũi kim để diệt cơn đau ở các vết thương đã được một bác sĩ băng bó.
Khi lão Ping làm xong thì Holloway bước vào phòng ngủ. Ông ta ra lệnh cho người thợ đang sửa sang các tấm gương gắn tường bị vỡ ra ngoài. Hatcher tựa lưng vào tường và chẳng nói gì. Holloway gằn giọng:
- Một trận đánh cướp, hai sĩ quan cảnh sát thiệt mạng, tám người khác chết. Tôi muốn nói: đúng là một cảnh địa ngục kinh hoàng.
- Ông hơi bối rối một chút phải không, thưa đại tá? - Cohen trả lời, mắt vẫn không nhìn ông ta. - Nhà tôi bị bọn hung đồ Tam Kết tấn công. Sao ông lại dám đến đây nói như ngụ ý rằng chính tôi là kẻ chủ mưu vụ lộn xộn này.
Ông ta gắt lại:
- Anh cứ luôn luôn chuốc lấy phiền muộn trong bao nhiêu năm qua.
Cohen nằm yên lặng với các mũi kim thò ra ở cổ, bụng và hai đầu gối. Anh nằm đấy hoạch định chiến lược của mình, quyết định thế nào cho tốt nhất để đối phó với tình thế này một cách thật khéo léo. Lão già Tsu Fi đã từng khuyên Cohen “Đừng bao giờ ép một người vào đường cùng. Hắn sẽ buộc phải chống lại. Luôn luôn phải mở cho hắn một lối thoát”.
Cohen thở dài và khoanh tay trước ngực. Anh nói với Holloway:
- Ông đang đi bên bờ vực đấy.
- Thật thế à? - Viên sĩ quan hợm mình nhướng đôi mày nói.
Cohen nói thẳng ra:
- Gã Varney của ông đã tham gia vào vụ này đấy.
- Buồn cười thật! - Holloway gắt, giọng nói ông ta bắt đầu sôi lên. - Một trong những sĩ quan giỏi nhất của tôi đấy!
Cohen cười ông ta:
- Đầu tiên Varney ngầm báo cho Lung biết Hatcher đang ở Hong Kong rồi hắn dẫn bọn giết người qua cổng nhà tôi. Cuối cùng chính người của Lung đã giết hắn để bịt đầu mối.
- Hoàn toàn bịa đặt! - Viên đại tá gầm lên.
- Này đại tá, Varney đã đến gặp Hatcher sáng hôm qua ở khách sạn Peninsula. Khoảng hai giờ sau, Lung đã xông vào phòng để giết Hatcher. Hắn không gặp vì Hatcher đã rời tới đây. Rồi Varney gọi điện về đây cho Hatcher bảo rằng đội cảnh sát muốn đưa anh đi để bảo vệ. Ông có hay biết tất cả những việc đó không?
Holloway im lặng nhìn Cohen chằm chằm, đôi mắt nhíu lại.
Cohen tiếp tục:
- Khi hắn tới cổng nhà tôi, từ trên xe cảnh sát của hắn, hắn đã qua một đường dây khác gọi đến số điện thoại ở đây. Rồi hắn dẫn thủ hạ của Lung vào đây. Tôi chắc chắn rằng tất cả các việc này có thể kiểm tra lại trên các hồ sơ lưu của ông. Nhưng tôi dám cuộc rằng Varney đã không báo cáo việc Hatcher đến Hong Kong, bởi vì hắn đã báo cáo việc ấy cho Lung, chứ không phải cho cảnh sát. Hoặc hắn nói là hắn đặt kế hạch bảo vệ Hatcher, nhưng hắn chẳng hề có ý định ấy. Hãy kiểm tra những người điều hành vô tuyến điện của ông đi, ông sẽ biết ngay rằng hắn đã gọi điện từ trên xe của hắn đến số điện thoại không có trong niên giám của tôi vài giây trước khi bọn chúng tấn công chúng tôi.
Cơn giận của Holloway bắt đầu từ từ đổi sang nghi ngờ. Ông ta nói có vẻ còn nghi vấn:
- Sự phỏng đoán rất hợp lí.
Cohen nói:
- Hatcher đã nghĩ đó là mấy tay cớm đang bám đuôi anh ấy nhưng thật ra đó là bọn hung đồ Bạch Thủ của Lung đã được Varney ngầm báo tin cho. Và tệ hơn nữa, những người ở ngay trong đội cảnh sát của ông cũng tham gia vào.
- Anh đang đưa ra những lời kết tội thiếu trách nhiệm. - Holloway nói với vẻ đe dọa.
- Bọn giết người đã ở sẵn bên ngoài chờ chúng tôi mở cổng cho Varney là ào vô. - Cohen thở dài nói. - Chính hắn đã dẫn bọn chúng vào đây.
- Thật tường tận. Để xem điều gì sẽ xảy ra khi ông mang câu chuyện ấy ra toà.-Holloway nói.
- Chẳng ai ra tòa cả. - Cohen nói thẳng.
- Ủa?
- Đại tá, đừng có khó chịu với tôi. Ông có chú ý đến sự thật không?
- Sự thật? Hà! - Holloway khịt mũi.
- Hãy nghe tôi.- Cohen gằn giọng. - Hatcher cắt được cái đuôi bám theo ở đường Cat. Nhưng khi anh ấy đến đây thì người của Lung đang theo dõi ngôi nhà này đã nhìn thấy. Đấy là lý do tại sao Varney tìm ra nơi ở của Hatcher… Lung đã chỉ cho hắn.
- Vậy chúng ta phải bố trí câu chuyện này thế nào? - Holloway thận trọng hỏi.
- Giản dị thôi. Hãy báo cáo rằng Varney đã tới vì có người kêu cứu. - Cohen nói. - Hắn và người thuộc hạ đã anh dũng hy sinh trong khi cố bảo vệ những công dân vô tội bị bọn trộm cướp tấn công. Ông hãy tổ chức cho Varney một tang lễ anh hùng và tôi sẽ quên đi tất cả. Nếu không, ông có thể gây nên một chuyện thối tha rùm beng đấy. Và chúng tôi có thể hỗ trợ thêm cho đơn kiện của chúng tôi bằng chính những hồ sơ lưu của ông. Ông thích cách nào?
- Anh dám hăm dọa tôi! - Holloway căm phẫn gằn giọng.
- Hăm dọa, quỉ thần ơi! - Cohen đáp lại. - Đấy là giải pháp cho một tình huống hết sức xấu xa.
- Tôi sẽ gặp anh dưới địa ngục đầu tiên. - Holloway nghiêm khắc nói.
- Đại tá, ông đang bịp bợm đấy. - Cohen nói với vẻ khó chịu. - Ông đã có lối thoát, hãy nắm lấy thời cơ, không thì mất đấy.
Holloway cắn môi giữa hai hàm răng. Ông im lặng trong nhiều giây.
- Hãy gọi người của ông vào. - Cohen từ tốn nói. - Tôi sẽ kể lại cho họ một cách thích hợp sự việc đã xảy ra.
Các tấm gương trong phòng khách đã được thay thế. Lão Ping đã rút các mũi kim và đi khỏi vào lúc Tiana trở về nhà, nhào đến bên cạnh Cohen. Anh ta đóng kịch y như thật: co rúm người lại vẻ đau đớn, nói với giọng run rẩy. Nàng nhẹ nhàng ôm lấy cổ anh, mơn trớn mặt anh và thì thầm:
- Ngo jungyi nei (em yêu anh).
- Anh cũng yêu em, cưng ạ!
Anh nói và qua vai nàng, nháy mắt với Hatcher đang ngồi ở mép giường.
- Sao anh không nằm trong bệnh viện? - Nàng hỏi.
- Anh còn quá khỏe mà.- Anh nói và phá lên cười.
Nàng ngồi bật dậy, giận dữ nói:
- Anh đang trêu em!
- Không, anh chỉ đùa tí thôi.
- Đây không phải là chuyện đề đùa tí thôi! - Nàng nghiêm khắc nói.
- Hãy nói cho nàng nghe, Hatcher. Tôi có khỏe không? Đêm qua tôi đã làm gì ở đây?
- Anh ấy là bạn của anh, anh ấy sẽ nói tốt cho anh, - Nàng nói, mắt xấc xược nhìn Hatcher chằm chằm.
- Người Có Đôi Mắt Đá không nói dối. - Cohen nói. - Anh không nghĩ rằng con người tôi có cái tính đó chứ, Hatcher?
- Tôi nghĩ cái cách đối xử với viên đại tá đáng khâm phục hơn.
- Thôi đi! - Cohen phất tay la lớn. Anh kéo áo lên để lộ một bên sườn băng bó. - Nhìn đây này, Quả Tim Màu Tím yêu quí của anh, anh đã bị thương trong khi bắn nhau. Chỉ lệch vài phân thôi thì Đức Phật đã ngồi trên giường này thay chỗ hai vị đấy.
- Em phải đi thăm những người còn lại trong nhà. - Tiana nói để xin phép đi.
Khi nàng ra khỏi phòng, Cohen nhăn mặt với Hatcher, hỏi:
- Có việc gì thế?
Hatcher đáp:
- Năm người của anh đã chết ở đây đêm qua chỉ để bảo vệ tôi. Tôi đến đây làm nhiệm vụ này không phải để họ bị giết. Chuyện ngày xưa đang bắt đầu lặp lại. Đáng lẽ tôi không nến đến đây.
Cohen chồm người về phía bạn, đặt tay lên tay của Hatcher nghiêm trang nói:
- Nghe tôi này, Hatcher. Anh đã có một số kẻ thù vào thời của anh. Anh chẳng thể nào lẩn tránh được bọn chúng. Nhưng trước khi tim anh đổ máu, hãy để tôi nói cho anh biết rằng mọi người đêm qua ở đây đều có lí do để căm thù bọn Tam Kết Chiu Chao. Tất cả bọn họ đều có những mối hận xưa cần thanh toán. Mỗi người trong bọn họ đã tự nguyện ở đây và vui lòng chờ cơ hội đến. Gia đình họ sẽ được chăm sóc suốt đời. Thật sự chẳng phải vì anh mà họ liều mạng đâu.
- Chắc là thế. Bây giờ thì anh cũng sẽ nằm trong sổ đen của thằng Fong. - Hatcher nói.
- Không. - Cohen trả lời. - Tấn công nhà ở của một người là hành động hèn nhát. Ngay bọn Tam Kết cũng mang nhục. Lung đã chơi tôi mà không có sự đồng ý của thằng Fong, tôi tin chắc như thế. Và bây giờ thì Fong mắc lỗi với tôi. Lung đã làm mất danh dự hắn... và đã làm hỏng việc này trong lúc đang thương lượng. Hãy quên việc đó đi, Tsu Fi ngày xưa này có thể tự lo cho mình được. Anh là người duy nhất hãy còn phải lo về gã Tollie Fong. Anh vẫn dứt khoát đi lên vùng Chin Chin chứ?
- Hơn bao giờ hết. Lần đầu tiên tôi đã nắm được một điều rõ ràng. Một cái tên, Cohen Tàu ạ, tôi đã nắm được một cái tên: Wol Pot. Đó là nơi bắt đầu. Không có Wol Pot thì tôi chẳng biết được gì cả.
- Giả sử Cody không muốn cho ai tìm ra mình. Giả sử anh lật một tảng đá lên và thấy một vật gì đó kinh tởm bò ra...
- Tôi sẽ đối đầu với nó nếu điều đó xảy ra.
- Thôi được, thế thì chỉ có một người mà anh có thể tin rằng sẽ đưa được anh lên đây.
- Ai? - Hatcher hỏi.
- Daphne! - Cohen trả lời.
 
0

BĂNG CHIU CHAO

 
Căn nhà được trồng hoa chung quanh và nằm trên một con đường yên tĩnh ở khu nhà sang trọng của Macao, cách Hong Kong khoảng tám mươi cây số đi bằng tàu thủy lướt. Mặc dầu vẻ ngoài trông yên tĩnh, Macao chứa những bí ẩn đen tối núp dọc theo những đường phố đổ đá cuội và đằng sau những biệt thự xây trên nền đất cao, sơn màu đỏ và vàng cam kiểu vùng Địa Trung Hải. Nó vẫn còn đượm vẻ huyền bí và suy sụp; nó vẫn là trung tâm chở lén những ngoại kiều Tàu sống bất hợp pháp vào Hong Kong bằng thuyền trong đêm u tịch; một trung tâm buôn lậu vàng; một chế độ bảo hộ để cho bọn gangster Tam Kết Tàu tự do hoành hành gây ra tình trạng nghiện bạch phiến, tổ chức các vụ buôn bán ma túy to lớn giữa vùng Tam Giác Vàng của Thái Lan với Amsterdam, với các hải cảng phương Tây khác, đồng thời ra lệnh hành quyết kẻ thù của chúng từ phía sau cái bề ngoài yên tĩnh của những ngôi biệt thự có kiến trúc cầu kỳ. Những cây đa mọc dài theo đường Praia Grande che đậy mọi sự suy đồi.
Lão Wang, thủ lĩnh đã nghỉ hưu của băng Bạch Thủ đang ở độ tuổi tám mươi và đã hơn mười năm là người cầm đầu của băng Tam Kết sống ngoài vòng pháp luật, đang cho con cá nhiệt đới của lão ăn. Lão đã đích thân lựa chọn Tollie Fong làm Cây Sào Đỏ của lão khi Fong vẫn còn ở tuổi hai mươi và chưa bao giờ nghi ngờ sự khôn ngoan trong việc lựa chọn của lão. Nhưng lão đã cảnh cáo Fong rằng Lung là một tên nguy hiểm số một, một tên giết người liều lĩnh và nóng tính mà như lão già nhận xét thì “hắn suy nghĩ như cứt ấy.” Bây giờ thì lão Wang phải đối phó với hậu quả cuộc tấn công của Lung vào Cohen.
Fong về đến nhà đúng vào lúc 10 giờ, sau khi bay từ Bangkok về trên chuyến bay sáng sớm. Ngôi nhà là một biệt thự màu vàng cam kiểu vùng Địa Trung Hải đẹp đến sửng sốt, nằm trên đại lộ Conselheiro chạy vòng quanh đồi Guia và có lẽ trông đẹp nhất trên các bán đảo Macao nhỏ xíu này. Tương truyền rằng đó là nơi ẩn náu của Tôn Dật Tiên khi ông ta mưu đồ lật đổ triều đại Mãn Thanh, một câu chuyện không chính xác nhưng có thể có. Phía trên nó, đứng trên đỉnh đồi cao là những gì còn lại của nhà thờ Thánh Phao Lồ (St Paul’s Church), một tàn tích hùng vĩ đã bị một trận bão tàn phá vào năm 1835. Từ cổng vòm phía sau nhà, lão già có thể nhìn thấy xa xa phía dưới là ngọn hải đăng xưa nhất trên bờ biển Trung Hoa và ở bên kia nó là biển Nam Hải.
Fong đứng ở cửa trước, kiểm tra lại hình dáng của hắn trong gương ở cửa, rồi mới bấm chuông. Hắn là một lực sĩ, da trắng trẻo, một người tập thể dục thẩm mỹ, cao lớn so với một người Tàu, đôi mắt đen có ánh vàng và mái tóc đen hớt hợp thời trang phủ xuống hai tai, phác họa một khuôn mặt diều hâu, gầy. Hắn thích mặc quần áo phương Tây hơn là đang mặc một bộ comple màu xanh sẫm với cà vạt lụa màu đỏ tươi. Fong là một người đẹp trai mà những nét ưa nhìn bị làm hỏng mất chỉ vì cái vẻ khó hiểu đầy đe dọa của hắn, hắn có vẻ là một người không có xúc cảm, khuôn mặt hắn y như mặt nạ chỉ có cái miệng mấp máy. Hắn được một tên cận vệ to như đô vật đưa vào nhà.
Lão già đang ở trong căn phòng ưa thích của lão phía sau nhà và đang ném mồi cho những con cá nước mặn trong ba cái bể nuôi cá to cỡ bốn trăm lít. Cá là tài sản hãnh diện nhất của lão. Lão thuộc tên và thói quen từng con đang trò chuyện với chúng trong lúc rắc bột tôm vào bồn thì Fong được đưa vào. Gã đứng gần lão già và kính cẩn cúi chào. Lão Wang gật đầu.
- Hoan nghênh cậu đã về, Fong.- Lão già nói không ngẩng nhìn lên. - Chuyến đi Bangkok thế nào?
- Ngắn hơn là cháu đã định. Cháu phải rời khỏi đó trước khi làm xong công việc, nhưng ngày mai cháu có thể trở lại đó.
- Việc gì đã xảy ra ở nhà Tsu Fi? - Tay cựu thủ lĩnh hỏi.
- Thằng Lung đã nổi khùng. - Fong nói.
- Đây là tất cả những gì anh nói về vụ ấy à?
- Còn gì khác để nói đâu ạ? Cháu chưa bao giờ quở trách thằng Lung. Nó biết Hatcher đang ở Hong Kong do một gã cảnh sát tên là Varney báo. Thế là nó tấn công ngôi nhà. Bọn chúng đã bị chết hết, kể cả tên cớm. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được sự thực chuyện gì đã xảy ra.
- Ta đã báo trước cho anh rằng một ngày nào đó thằng Lung sẽ làm hại anh. - Tay thủ lĩnh đã nghỉ hưu nói.
Fong gật đầu. Hắn bối rối vì đã làm lão thủ lĩnh già buộc phải đương đầu với một tình thế khó xử mà chủ yêu là do lỗi của hắn. Hắn nói có phần chống chế.
- Lung đã thực hiện lời thề ch’u-tiao trong nhiều năm qua là phải đối đầu với tên Mỹ này.
Ch’u-tiao là lời thề quyết tử, một lời thề danh dự mà theo truyền thống chỉ có thể giải quyết bằng cái chết.
- Vì thế nó đã được thực hiện. Và liệu anh có chấp nhận hành động này không. - Lão già hỏi, vẫn chơi với cá.
- Dĩ nhiên là không ạ.
- Chúng ta không muốn gây chiến với Tsu Fi. - Lão già nói.
Fong quyết định đối đầu trực diện với vấn đề, hắn chậm rãi nói: “Có lẽ đã đến lúc phải khử tên Mỹ gốc Do Thái này đi”
Lão già ngẩng lên, đôi mắt lão lim dim. Lão nhìn Fong chằm chằm trong nhiều giây và gã đàn ông trẻ tuổi này đâm ra lúng túng, biết rằng mình đã nói tầm bậy. “Để ta chỉ cho anh thấy cái này”, lão nói và thò tay vào một cái bồn khác, mở bàn tay ra, một con cá Tang bự màu vàng khoan khoái lượn quanh tay lão.
“Đến đây, Shang, đến đây với bố nào”, lão già thì thầm.
Cuối cùng con cá bơi vào bàn tay lão, mổ vào đấy tìm thức ăn. Lão Wang chộp lấy con cá và nhanh nhẹn thả nó sang một cái bồn khác. Hầu như ngay tức khắc nó bị ba con cá trong bồn mới tấn công, hai con trong số đó chỉ bé bằng nửa nó. Con cá Tang vùng vẫy, thoát được ra lại bị một con cá Domino nhỏ màu đen trắng đớp vào sau mang. Con cá Tang lật nghiêng sang một bên, vẫy đuôi điên cuồng nhưng nó sắp chết rồi. Hai người đàn ông ngắm gần chục con cá đang rỉa con cá Tang cho đến chết. Lão già nói:
- Sau loài người, cá là sinh vật bảo vệ lãnh thổ ghê nhất trên trái đất. Nếu anh đưa một con lạ vào nơi ở của chúng, chúng sẽ giết nó ngay. Cả cá nhỏ cũng tấn công nó. Vì vậy con cá to là thế cũng bị áp đảo. Chúng đã đánh tan sự vững vàng của nó và nó không còn sức chống cự. - Lão nhìn Fong. - Anh có hiểu ta đang nói gì không?
Fong gật đầu. Lão Wang nói:
- Tốt. Anh là Cây Sào Đỏ cứng nhất trong băng Chiu Chao, nhưng nếu gây chiến ngay tại nhà của Tsu Fi và tấn công hắn ở chính khu vực của hắn là tự sát đấy, y như thằng Lung vậy.
- Cháu sẽ không phạm những sai lầm như thế. - Fong nói.
Lão già lại nhìn hắn đăm đăm một lúc nữa rồi gật đầu, nói:
- Chúng ta làm ăn rất nhiều ở Hong Kong. Cohen được kính trọng và nể sợ giữa toàn hội Sun Lee On. Hắn rất có thế lực trong cộng đồng kinh doanh. Làm ăn ở Hong Kong có nghĩa là làm ăn với hắn. Anh phải dẹp cái tính kiêu căng của anh đi. Thằng Lung đã làm hại anh. Nguyên tắc của Hội đòi hỏi anh phải xin lỗi và tỏ thái độ để xoa dịu sự lăng mạ đã xảy ra.
- Đó chính là lý do cháu đã từ Bangkok bay về sáng nay.
- Đúng. Thê thì hãy gọi điện cho hắn. Sắp xếp một buổi gặp mặt ngay trong ngày hôm nay. Hãy làm xong chuyện này. Thật là điều bực mình, tôi không muốn phải chịu đựng lâu hơn nữa!
- Cháu sẽ làm việc ấy ngay bây giờ. - Fong nói.
- Cám ơn, - lão già bảo.- Tôi cũng hiểu rằng chính anh cũng có một lời thề ch’u-tiao quyết tử với tên Mỹ. Nếu cần thiết, anh phải chuẩn bị để gạt nó sang bên.
Fong có vẻ ngạc nhiên, nói:
- Cháu không thể làm thế được!
Nhưng vị tiền bối, bậc thầy của hắn đã cắt ngang không để hắn nói tiếp:
- Anh có thể và sẽ làm được nếu việc đó cần thiết. - Lão nói dứt khoát và quay lại với bầy cá của lão.
Fong hiểu rằng cuộc bàn luận đã chấm dứt. Hắn cúi chào người thầy của hắn.
- Xin kính chào bác.
- Xin chào. - Lão già đáp.
 
0

DAFFY

 
Mùi thuốc súng vần còn phảng phất trong nhà khi họ ngồi chờ Daphne tới. Theo Cohen thì Daphne là người duy nhất họ có thể tin tưởng, thường ngược sông vào vùng đất nguy hiểm đó để buôn bán với bọn trộm cướp, chủ yếu là vải, lụa Thái Lan và vải madras mà nàng buôn lậu vào khu vực không phải đóng thuế này. Nàng có hai điều trợ lực cho nàng: chẳng có gì đe dọa nàng, điều này làm cho bọn cướp kính nể nàng và nàng buôn bán bằng vàng. Ngay cả bọn Ts’e K’am Men Ti cũng chẳng động đến một con buôn mạnh như thế.
Nhưng Hatcher cũng nghi ngờ động cơ của Cohen. Có thể anh ta đang thủ vai thần tình yêu chăng? Cuộc gặp mặt lần đầu tiên của Hatcher với Daphne đã là kết quả của một trò đùa khá tai ác của Cohen. Tay Tsu Fi này đã khẳng định rằng Hatcher sẽ bị nàng hút mất hồn và cũng nhất định cho rằng nàng sẽ phớt lờ anh chàng ngoại quốc người Mỹ xấc xược này.
Cohen, cũng vậy, đang suy nghĩ về cái đêm đó. Một cách khôi hài Daphne đã gắn chặt tình bạn giữa Cohen và Hatcher, bởi vì chính buổi gặp mặt bữa đó của Hatcher với nàng đã củng cố những gì cho đến lúc đó vẫn còn là một tình bạn đang tìm hiểu giữa hai người đàn ông - một thời gian để tranh luận, suy ngầm và cả thử thách nữa. Ngay từ đầu Cohen đã nhìn thấy ở người bạn mới của mình một người đàn ông có sự cân xứng lạ lùng đôi khi làm người ta phải hoảng sợ, - vừa trung kiên, sôi nổi, hay khôi hài lại vừa có những nét u ẩn, thông minh, láu lỉnh, nguy hiểm và không đoán trước được. Anh ta đã nhìn thấy mặt trái con người Hatcher là cái “cò - súng - người” anh ta có thể giết chóc đột ngột và vô tư như một cái bẫy chuột sập. Rồi còn tính lập dị của Hatcher. Anh ngủ trên sàn, thích đọc tiếng Tàu hơn là tiếng Anh, đôi khi nhịn ăn hai ba ngày và có một trí nhớ kì lạ, nó loại ra những chi tiết đã rõ ràng và chỉ giữ lại những gì mà Hatcher xét thấy quan trọng. Thí dụ anh biết rằng tên Sam-Sam thuận tay trái, nhưng chẳng thể tả lại dù chỉ một trong những cái hình xăm trên người tên cướp này.
Hatcher sống sót nhờ giữ gìn hai mặt riêng biệt này trong cá tính của anh rất cân xứng, không bao giờ để cái này lấn át cái kia, như một đồng tiền được đặt đứng trên cạnh của nó.
Đối với Cohen, tất cả những nét này đã làm cho Hatcher thành một người bạn quyến rũ, đáng mến, đáng tin cậy, nhưng chính ở buổi gặp mặt đầu tiên của Hatcher với Daphne, Cohen mới nhận thấy vẻ hiền lành, gần như trẻ thơ trong cá tính của Hatcher, mặc dù sự cân xứng vẫn giữ được. Một mặt, anh hồn nhiên một cách đáng kinh ngạc; mặt khác, anh táo bạo cũng rất ghê gớm.
Họ vừa đến dự buổi tiệc chiêu đãi của Governor’s Ball (Thủ Lĩnh), một quang cảnh ăn chơi phá phách hàng năm ở Lâu đài Trung Hoa mà Cohen để đùa chơi đã lừa cho Hatcher tham gia, làm quen với bọn người hoạt động trên sông nước bí ẩn và bị thù ghét, làm quen với những tiệc rượu, những điệu nhảy và những kẻ mới phất. Đó là lý do để mọi người đến đây. Hatcher phát hiện ra Daphne lúc họ bước vào buổi tiệc. Nàng đang đứng ở phía bên kia phòng nhảy lớn, một pho tượng đẹp sững người không thể tưởng tượng được đang quan sát đám người dự tiệc vai chen vai với một vẻ hờ hững lạnh lùng. Cohen cảm thấy niềm say mê cuốn hút Hatcher ngay tức khắc.
- Quên đi, - Cohen Tàu bảo. - Mắt anh lạc rồi đấy.
- Nàng là ai thế?
- Daphne. Mẹ nàng là người Malaysia. Bố lai nửa Tàu, nửa Pháp.
- Một sự kết hợp dáng kinh ngạc. - Hatcher nói hơi to, mắt đăm đăm nhìn nàng qua đám đông.
- Mọi tay ngoại, quốc ở đất này đều đã thử. - Cohen thì thầm. - Nhưng nàng chẳng thích quan hệ với người phương Tây.
- Chẳng thích ngay cả tay Tsu Fi này, nhưng điều đó cũng chả cản được tôi. - Hatcher trả lời. - Anh quen nàng chứ?
- Ừ, tôi quen nàng. - Cohen trả lời với vẻ e ngại. Những cuộc đối thoại xã giao, đặc biệt trong tnột sự kiện có tầm quan trọng như vậy, làm anh bối rối, vì thế anh nói thêm. - Và cũng xin báo cho anh biết là nàng đặc biệt căm ghét người Mỹ.
- Sao thế?
- Bố nàng là một thợ may rất thành công ở đây, đã xây dựng nên một cơ nghiệp lớn với một số cửa hàng hảo hạng ở Mỹ. Thế rồi một liên doanh lớn của Mỹ chạy đến, quả quyết rằng cái công ty nhỏ của ông ấy có tiềm năng rất lớn, hứa hẹn với ông ấy rất nhiều, rồi ép ông ấy vào đường cùng, từ từ gạt ông ấy ra ngoài và bắt đầu sản xuất đại quy mô loại quần jeans theo tên tuổi và tiếng tăm của ông ấy. Họ thu lời nhiều, rất nhiều, nhưng ông già chẳng được gì hết.
- Công ty tên gì?
- Blue Max, chắc anh đã nghe nói đến.
- Mọi người đều đã nghe nói tới nó.
- Ông già quá nhục nhã nên định tự tử. Nàng đã cứu ông ấy...
Hatcher rời chỗ và đi nhanh tới. Cohen chạy theo sau anh.
- Hãy giới thiệu tôi đi - Hatcher nói trong lúc len lỏi qua đám đông đeo cà vạt tiến về phía nàng. Cohen đi theo, cố nói trong khi lách qua đám khách mời đang chuyện trò líu lo.
- Anh chưa nghe hết phần còn lại. - Cohen nói to át tiếng ồn ào của tiệc rượu.
- Thế phần còn lại là gì?
- Nàng bắt đầu một vụ kinh doanh mới: Loại trừ địch thủ.
Hatcher dừng chân và quay lại nhìn anh với nụ cười rộng:
- Nàng làm giả quần jeans Mỹ à?
Cohen gật đầu: “Nàng làm giả quần jeans hiệu Blue Max... với giá bằng khoảng một nửa giá của bọn chúng”.
- Tuyệt vời.
Cohen gật đầu: “Nàng lột của bọn chúng đủ để bắt đầu làm nhãn hiệu của riêng mình, trở thành người cạnh tranh lớn nhất của bọn chúng, rồi liên hiệp với bọn chúng. Sau hết đi tới nắm trọn quyền, đuổi cổ hết cái bọn tham lam ấy ra”.
- Rất hay! - Hatcher nói.
- Chắc chắn rồi, nhưng bọn ấy đã để lại trong lòng nàng một ấn tượng rất xấu về người Mỹ.
- Thế sao anh lại quen được nàng?
Cohen mỉm cười nói:
- Tôi đã dàn xếp việc hợp nhất, đưa nàng lên địa vị điều khiển. Tôi là một tên Mỹ nàng thích.
Hatcher càng quả quyết gặp nàng hơn bao giờ hết. Anh bắt đầu đi băng qua phòng cùng với Cohen và bảo Cohen:
- Hãy cho tôi vài cái tên.
- Tên ai!
- Mấy thằng đã làm hại nàng. - Hatcher bồn chồn nói lúc họ đến gần nàng - một hay hai cái tên. Nào, nhanh lên!
- Ờ! ... Howard Sylvester, Allen Mitchell...
- Thế đủ rồi. Hãy giới thiệu tôi là Chris London.
Nàng trông còn xinh đẹp hơn nữa khi họ đến gần. Thân hình cao lớn uyển chuyển của nàng bên trong bộ quần áo bó sát bằng lụa màu xanh đậm làm nổi bật từng đường nét tuyệt vời của thân thể nàng và hình như làm tăng thêm sự mịn màng của làn da màu hạnh nhân, gần như màu ca cao, làm cho đôi mắt sâu thẳm, cũng xanh như màu ảo nàng, long lanh hơn. Mái tóc đen huyền được cột lại thành một chiếc đuôi ngựa dài, uốn lượn qua một bên vai tròn và buông lơi giữa đôi gò ngực. Nàng không đeo nhẫn, đồ trang sức duy nhất của nàng là một đôi hoa tai kim cương hình quả lê và một chuỗi hạt xoàn có đính một viên ngọc bích và một viên hồng ngọc nằm ở chỗ lõm trên chiếc cổ mảnh mai như cổ thiên nga của nàng. Nàng cười rạng rờ khi trông thấy Cohen và kêu lên:
- Cohen Tàu! Cuối cùng đã có người để nói chuyện.
Cohen hôn lên má nàng rồi quay sang Hatcher: “Cô Daphne, tôi muốn giới thiệu một người bạn của tôi, Chris,...ờ, ờ… - anh ấp úng, quên mất chữ tên tiếp theo.
- London. - Hatcher mau mắn nói.
Nụ cười biến mất. Nàng thoáng gật đầu nói bằng tiếng Pháp “Chào ông”, nói khẽ đến mức như muốn đuổi người nghe đi. Hatcher bám theo, nói tiếp:
- Tôi là một luật sư. Thực tế, tôi đại diện cho một số người cộng sự ngày xưa của cô.
Nàng quay lại anh, cằm trễ xuống, mắt lạnh lùng nhìn anh chằm chằm dưới đôi mày đen như mun.
- Sao?
- Vâng, Howard Sylvester và Allen Mitchell.
Chẳng có nét gì thay đổi trên mặt nàng, nhưng Cohen gần như đớ cả lưỡi. Anh có thể nhìn thấy tình bạn giữa anh và Daphne Chien đang tiêu tan dần theo từng câu nói của Hatcher. Hatcher bước lại gần nàng, nắm lấy cùi tay nàng thật dịu dàng và hướng nàng ra sân thượng.
- Cô biết đấy, bọn họ đã gom được một tập hồ sơ khá nhiều về việc cô đánh bại họ trước lúc liên hiệp. Họ cảm thấy gặp phải một trường hợp khá gay đối với nhãn hiệu Blue Max mới...
Giọng nói của họ lịm đi giữa đám đông trong khi Cohen đứng nhìn họ. Đôi mắt của nàng là đôi mắt của kẻ giết người, rồi bất thình lình, cả hai dừng lại và quay mặt nhìn nhau. Hatcher nghiêng người về phía nàng và nói rất nhanh. Miệng nàng há ra, nàng có vẻ mất bình tĩnh dù chỉ trong một giây, rồi họ trao đổi, nói qua nói lại, và khi chấm dứt, Hatcher cúi chào, hôn tay nàng và rời bước. Anh rảo bước quay lại với Cohen, mỉm cười, nóỉ:
- Ăn cơm trưa ngày mai, chỉ có hai chúng tôi thôi. Chờ đấy nhé, tôi sẽ mang lại cho anh một ly rượu mạnh pha một ít nước không đá, đúng chứ? - Rồi Hatcher đi lấy.
Vài giây sau Daphne theo tới, mắt nhìn đăm đăm vào Cohen lúc nàng đứng cách anh vài phân.
- Tại sao anh không bảo cho tôi biết anh ta là Hatcher?
- Dù thế nào đi nữa tôi cũng chẳng dám bào chữa. - Cohen lắp bắp nói.
Nàng đăm đăm nhìn theo Hatcher khi anh len lỏi qua đám đông. Cohen hỏi:
- Cô sẽ ăn trưa với anh ấy thật đấy à?
- Vâng.
- Anh ấy nói gì với cô ngoài kia thế? - Cohen hỏi.
Nàng thoáng mỉm cười, đăm đăm nhìn Cohen đến một giây. Rồi nói “Hãy hỏi anh ấy”. Đến lượt nàng cũng bỏ đi.
- Anh nói gì với nàng thế? - Cohen hỏi Hatcher khi anh đem thức uống trở lại.
Hatcher lắc đầu: “Tôi sẽ chẳng bao giờ nói đâu”.
Bây giờ Cohen cảm thấy một Hatcher khác hẳn. Cái cò súng nhạy nổ ấy dường như đã được khóa an toàn. Bộ mặt khắc nghiệt, hấp tấp dường như trở nên dịu dàng hơn, trầm lặng hơn.
Chẳng phải anh ta cảm thấy Hatcher đang trở nên dịu dàng mà đúng hơn là hai mặt trong con người Hatcher đã thoát ra khỏi sự cân bằng. Trong khi Cohen thích thú với cái mặt mới này thì nó cũng làm anh lo ngại. Nếu Hatcher đi lên vùng thượng nguồn sông thì Hatcher không thể có điều kiện để bỏ được cái mặt cũ. Ở vùng đất của bọn Ts’e K’am Men Ti, phải có bản năng chống lại sự khiêu khích. “Bắn trước” là quy luật của sự sống còn.
Tiếng chuông cửa chấm dứt những suy tư trầm ngâm của anh.
Người đàn bà đứng ở cửa có làn da màu cà phê sữa đang đăm đăm nhìn Cohen qua đôi mắt xanh hình quả hạnh nhân. Nàng cao lớn và lịch sự, mặc chiếc áo khoác bằng lụa trơn màu hồng nhạt bên ngoài bộ quần áo bó sát bằng lụa màu hồng ngọc, một bộ đồ trong khêu gợi tuy rất thẩm mỹ. Lúc bước vào nhà, nàng đá bật đôi giầy ra khỏi đôi chân dài có làn da màu ca cao.
- Chào Cohen Tàu, - nàng rủ rỉ êm ái và hôn lên trán anh rồi không ngần ngại nàng hỏi, - anh ấy đâu?
- Ở ngoài ban công.
- Anh ấy có thay đổi không?
- Hơi già đi một tí như tất cả chúng ta. Lãnh thêm vài vết sẹo. - Cohen không nói tiếp nữa vì nàng đã đi ra ban công.
Nàng đứng lại ở cửa, nói:
- Em không bao giờ nghĩ là còn được gặp lại anh. Anh vẫn giống hệt như Hatcher ngày xưa.
Nội tâm của Daphne cũng bị kích động khi thấy anh vẫn còn sống sau bao nhiêu năm xa cách. Từ cái năm xa xưa họ gặp nhau, Hatcher đã sống với Daphne bất cứ khi nào anh đến Hong Kong. Anh ra đi không báo trước và trở lại cũng vậy, chẳng bao giờ nói chuyện về công việc của anh. Nàng đã nghe nói về anh trước lúc họ gặp nhau - rằng Hatcher là tên cướp người Mỹ trên sông gan góc, con sói cô độc làm run sợ ngay cả gã Sam-Sam đầy uy quyền. Chỉ sau khi anh ra đi, những dư luận mới mẻ mới bắt đầu. Rằng anh là một tay giết mướn. Rằng anh làm việc cho cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kì CIA. Rằng anh nuôi dưỡng tình bạn để rồi phản bội những người thân cận nhất của anh. Rằng anh là thành viên một phân ban bí mật của Quân đội được gọi là Âm binh - những người lính hoạt động trong bóng tối.
Quen anh được một năm thì có tiếng đồn rằng Daphne bỏ anh, vì nàng đã nhìn thấy cả hai mặt của anh: mặt lạnh lùng là anh ra đi trong đêm tối để làm bất cứ công việc gì anh phải làm và mặt khác anh là một người tình chiều chuộng, mà tình dục là sự vui thích chứ chẳng phải là sự chinh phục, một sự vui chơi thật tình, từ tốn, đôi khi làm đau đớn, kết thúc ở lúc mà anh gọi là “giây phút cảm giác trong sạch nhất”, giây phút chết giả, cơn khoái khoái; là sự thoát li hoàn toàn của anh ra khỏi thực tại trong chốc lát.
Từ kinh nghiệm của nàng khi ở gần nàng cũng cảm thấy rằng: mọi chuyện đó đều có thể là thật.
Nhưng chẳng sao. Anh còn sống, anh đang ở đây, và giống như Cohen, nàng nhớ lại cái đêm nàng gặp Hatcher, một đêm mà nàng chẳng bao giờ quên được.
Nàng hầu như không kìm nổi cơn tức giận tay luật sư Mỹ trơ tráo này khi hắn đưa nàng ra khỏi phòng nhảy đông đúc của Dinh Trung Quốc để ra sân thượng. Và nàng cũng giận Cohen đã đi giới thiệu họ với nhau. Rồi Hatcher dừng lại và mỉm cười với nàng.
- Tên tôi không phải là London mà là Hatcher. - Anh nói bằng tiếng Pháp hoàn hảo. - Và tôi nghĩ những gì cô đã làm đối với những tên Mỹ đó thật dễ thương và tôi có thể cung cấp cho cô vải bông Ấn Độ, loại thượng hạng, giao hàng ở bất cứ nơi nào cô muốn, bằng một nửa giá hiện nay cô đang trả và nó phải mang lại cho cô tối thiểu chừng mười phần trăm lời trên giá thành”. Anh ngừng một lát rồi nói thêm, “chẳng phải chỉ có vậy, tôi còn có thể làm cho cô vui cười rất nhiều”.
Nàng đã nhìn anh đăm đăm trong nhiều giây, sửng sốt trước sự táo bạo của anh và bị thu hút bởi đôi mắt xám của anh. Nhưng nàng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.
- Bao nhiêu? - Nàng hỏi.
- Bao nhiêu cái gì?
- Bao nhiêu bông vải anh có thể cung cấp, nhanh chậm thế nào và giá bao nhiêu?
- Tôi sẽ lập dự trù. Tôi chẳng làm loại công việc đó trong đầu.
- Tôi cũng vậy. - Nàng nghe thấy mình nói.
- Bữa ăn trưa ngày mai. Làm ăn nghiêm túc. Tôi sẽ có dự trù, cô mang ngân phiếu tới. Không có quản lý, không có kế toán, không có luật sư, chỉ cô và tôi.
- Tôi báo trước cho anh là tôi không nhượng bộ đâu nhé.
- Tôi cũng vậy, - anh nói.- Mọi người đều thất bại khi có sự nhượng bộ nhau. Còn thương lượng với nhau thì ai cùng thắng cả.
- Ủa? Vì sao thế?
- Cô quyết định ngay trước mắt những gì cô thật sự không quan tâm. Khoanh lại những gì quan trọng. Đấy là phương pháp cô nên theo. Tôi sẽ làm y như thế. Hãy tin ở tôi, chúng ta sẽ thương lượng nhanh chóng và có thì giờ để cười đùa thật nhiều trước khi bữa cơm chấm dứt.
- Làm sao mà việc cười đùa lại quan trọng đối với anh như thế? - Nàng hỏi. Anh mỉm cười đáp:
- Cười đùa là chìa khóa mở cửa thiên đàng.
Và ngạc nhiên với chính mình, nàng đã nhận lời mời ăn cơm trưa. Chẳng có chuyện buôn bán bông vải nào giữa họ cả.
Nhưng anh đã làm cho nàng cười rất nhiều. Và anh có lý đấy là chìa khoá mở cửa thiên đàng.
- Tôi trở về phòng đây. - Cohen nói vọng từ phòng khách - Bên sườn của tôi đang bắt đầu nhói đấy.
Họ phớt lờ anh ta. Anh ta nhún vai rồi bỏ đi về phía sau nhà.
Có vài phút ngượng nghịu khi cả Daphne lẫn Hatcher không biết nên nói gì. Nàng phá vỡ không khí lạnh lùng.
- Cổ họng anh làm sao thế? - Nàng hỏi, mắt nhìn đăm đăm vào cái sẹo trên cổ anh.
- Anh đã ở trong một nhà tù rất tệ. Anh đã nói khi không được nói. Một tên lính gác đã quyết định làm cho anh chẳng bao giờ dám nói nữa.
- Có đau lắm không?
- Chẳng đau nữa.
- Em rất mừng. - Nàng nói rồi nhướng một bên mày. - Giọng nói của anh rất khêu gợi.
- Cảm ơn. Trước kia nó không như thế ư?
- Không giống như bây giờ.- Nàng nói. Rồi sau khi ngưng một lúc. - Việc gì đã xảy ra cho anh? Tự nhiên anh biến mất. Mọi người nghĩ anh đã chết.
- Anh trở về Mỹ để làm một việc và bị kẹt. Một vụ kẹt đáng giá ba năm tù. Trong một nhà tù mà tất cả mọi thứ đều bị cấm.
- Thế ba năm còn lại thì sao?
Anh nhún vai:
- Anh tưởng anh đã đi vào quên lãng, Daffy ạ! - Nàng ngửa đầu ra sau và cười to, một giọng cười trong cổ làm ký ức anh tĩnh dậy. Nàng nói:
- Daffy. Em đã không nghe đến cái tên Daffy trong quá nhiều năm rồi. Chẳng có ai khác gọi em là Daffy, - Nàng cười nhỏ dần rồi dịu dàng nói, đôi mắt xanh lấp lánh.- Không, Hatcher, anh chẳng bao giờ đi vào quên lãng cả. Đối với em thì không.
Anh chuyển sang hỏi Daphne:
- Cohen nói nghiêm túc chứ? Em thật sự có thể giúp anh ư?
- Đi ngay vào công việc - Nàng nói. - Thì ra vấn đề sẽ là như vậy đấy hả?
- Anh xin lỗi. Anh cảm thấy hơi vụng về một tí. Anh biết là anh còn nợ em.
Nàng lấy tay bịt miệng anh lại.
- Anh chẳng nợ gì em cả. Chúng ta có hứa hẹn gì đâu. Em cho anh nửa giường của em... với lòng mong đợi có khi đến... bồn chồn.
Anh còn nhớ những lời cầu xin giây phút lạc thú mê say, nhưng anh gạt ngay các ý nghĩ đó. Anh nói:
- Ít nhất anh cũng còn nợ em một lời chào thân tình lúc chia tay.
- Có phải vì thế mà anh trở lại không? Trở lại để chào từ biệt những người bạn đã nghĩ rằng anh chết rồi ư?
- Có lẽ. - Anh khàn khàn thì thầm. Rồi lại cố tránh điều phải làm, anh nói đùa. - Vả lại anh có thể tắm hơi trị liệu ở Estoril. Và đi xông hơi xoa bóp kiểu Thái Lan ở đây...
Nàng quay lưng và bước về phía cửa phòng ngủ, nói “Anh chẳng cần phải đến khách sạn Estoril để xoa bóp, Hatcher, ở đó anh phải nói Jo sahn (tiếng Tàu - “xin chào” khi gặp nhau) cho đúng giọng trước khi nói Joi gin (tạm biệt).
Anh theo nàng vào phòng.
- Làm thế nào em có thể giúp anh hở Daffy? - Anh hỏi.
Nàng bước qua phía bên kia giường.
- Em đã bảo Cohen Tàu là em sẽ giúp... nhưng chỉ với những điều kiện của em. -Hatcher nhìn nàng với vẻ nghi ngờ.
- Ừ hứ! Thế điều kiện như thế nào? - Anh hỏi qua giọng khào khào.
- Anh phải ở ngoài vùng Macao.
- Hiện tại anh chẳng có việc gì đến đó cả.
- Và anh phải làm việc này đúng y như em dặn.
Hatcher mỉm cười:
- Em chả thay đổi tí nào cả.
- Đồng ý chứ?
- Anh sẽ suy nghĩ việc đó.
- Thế còn chuyện có một cái trại tù là sao? - Nàng hỏi.
- Anh đang cố tìm một người. Bọn anh là bạn thân khi còn ở Hải quân. Bố anh ấy là một người anh hùng ở Mỹ. Anh ấy có thể đang ở một trại tù bên Lào. Trại có tên là Huie-kui. Anh nghĩ chắc phải có người nào đó đã làm ăn ở trên ấy vào thời kỳ chiến tranh. Có lẽ họ còn nhớ được điều gì đó chăng.
Nàng quay lưng lại anh và đăm đăm nhìn ra ngoài vịnh lắc đầu, nói:
- Anh đang đi tìm một người đàn ông thôi à?
- Đó là lí do để anh trở lại đây. Tất cả phần còn lại là em, Cohen Tàu... đây là phần thưởng động viên anh.
- Chắc chúng ta có thể đi lén lên vùng nguồn sông và tránh gặp gã Sam-Sam. Có lẽ em thu xếp chuyện ấy được. Chỉ có một người duy nhất em nghĩ có thể giúp anh được. Anh còn nhớ Samuel Anstadt, cái gã mà họ gọi là người Hà Lan không.
- Anh chưa hề gặp tay Hà Lan này.
- Vì hắn hoạt động ở Lào và miền Bắc Việt Nam. Hiện tại em mua vải vóc của hắn. Nhưng khoảng mười năm trước đây hắn bán thuốc men, súng ống, quần áo, tất cả mọi thứ cho Việt Cộng.
- Chúng ta có thể đưa hắn về đây được không? - Hatcher hỏi.
Nàng lắc đầu.
- Hắn bị cảnh sát Hong Kong truy nã. Họ sẽ nhận ra hắn ngay. Nhưng có một chỗ gọi là Leatherneck John’s ở vùng Tsang, cách đây khoảng 80 cây số về phía thượng nguồn...
- Một điểm giao tiếp của Mỹ à? - Hatcher cắt ngang.
Nàng gật đầu:
- Buôn bán và nhậu nhẹt rất nhiều ở đây. Buôn bán ma túy và trao đổi hàng. Đây là một kiểu... vùng tự do. Chúng ta có thể gặp tay Hà Lan ở đấy, nhưng chỉ khi nào ta chắc chắn rằng gã Sam-Sam không có mặt ở trong vùng này.
- Em không nên đi, - Hatcher bảo.
- Em sẽ đi. Họ chỉ nói chuyện với anh khi em yêu cầu họ. Em sẽ phải thu xếp cuộc nói chụyện này.
Một mảnh gương vỡ quên chưa nhặt lấp lánh ở góc phòng làm anh nhớ lại đêm qua. Anh đã làm tính mạng của Cohen bị đe dọa. Bây giờ anh lại sắp sửa làm y như thế đối với nàng. Một lần nữa anh lại nhận chứ không phải cho, hệt như thuở xa xưa.
- Có thể… - Anh bắt đầu nói.
Nàng quay ngoắt lại nhìn anh chằm chằm với đôi mắt xanh rực sáng.
- Không có thể gì cả. Phải thế!
Họ gần như chạm mặt nhau, đôi mắt nàng đòi hỏi phải ưng thuận. Họ nhìn nhau chằm chằm.
- Còn một điều nữa... - Anh đăm đăm cúi nhìn nàng, nụ cười xấc mà nàng nhớ đang đùa giỡn trẽn môi anh.
- Gì!
Anh thận trọng giơ một ngón tay lên dừng lại cách miệng nàng vài phân, rồi từ từ đưa các ngón tay tới miệng nàng, đầu ngón tay chạm vào môi dưới, lấy ngón trỏ thăm dò rồi bóp nó bằng ngón cái và ngón giữa cho đến khi môi nàng dẩu về phía anh. Lưỡi của nàng lấp lánh cách ngón tay anh vài li, đùa giỡn với nó và cuối cùng liếm nó, ngón tay anh thấm ướt, trượt dễ hơn trên đôi môi nàng.
- Phải... - Nàng nói.
Đôi mắt nàng nhắm lại, nàng ngửa đầu ra sau và anh ngả người về nàng, khi môi anh chạm môi nàng, anh dịu dàng ép chặt lên môi nàng. Hơi thở nàng dồn dập và nàng cắn lên môi anh, thăm dò chúng qua đầu lưỡi cho đến khi cuối cùng sự trêu đùa chẳng còn là sự trêu đùa nữa mà là một nỗi đam mê.
Nàng với tay cởi áo khoác ra và để nó rơi xuống sàn trong khi họ vẫn hôn nhau.
Anh vươn bàn tay kia lên và cởi sợi dây mong manh ở một bên vai, rồi sợi bên kia, nhưng nàng ép sát người vào anh giữ cho chiếc áo khỏi rơi xuống.
- Chúa ơi! - Anh thì thầm trên môi nàng, anh cảm thấy nàng dán chặt người, ép hơn vào anh.
Nàng vùi đầu vào vai anh, các bắp thịt căng lên, run lẩy bẩy trong lúc anh từ từ hạ nàng xuống giường cho đến khi đôi tay nàng rũ ra và anh nằm đè lên người nàng, đôi mắt anh nhắm lại, các cơ bắp run rẩy. Nàng đưa cả hai tay lên, ôm lấy cổ anh và ghì chặt anh đè lên người nàng. Nàng lắp bắp nói:
- Hatcher…
 
0

MẮT ĐỐI MẮT

 
Cohen không ngạc nhiên khi Tollie Fong gọi diện tới. Đây là lệ thường - một đòi hỏi danh dự đối với bất cứ ai thuộc các băng Tam Kết, dù cho đấy là băng truyền thống hoặc chi nhánh của nó. Theo truyền thống, Fong đề nghị một cuộc gặp mặt vào buổi trưa hôm đó ở một nhà hàng nằm sâu trong khu Wanchai. Họ đồng ý với nhau về các điều cơ bản. Cuộc gặp mặt được ấn định vào lúc 4 giờ. Mỗi người sẽ mang theo ba đại biểu thuộc nhóm Tam Kết của mình, mỗi người sẽ lựa chọn một người phân xử ở trong Tổng Hội để giám sát cuộc gặp mặt: sẽ không đem theo vũ khí. Việc tấn công vào nhà Cohen không được nói đến một cách đặc biệt.
Cohen chọn bộ áo xường xám tươm tất nhất cho cuộc gặp mặt. Anh rời nhà lúc ba giờ 45 trên chiếc Rolls, mang theo Sing đã ra bệnh viện, và hai người khác trong “gia đình”. Hatcher và Daphne vẫn còn ở sau các cánh cửa đóng kín của phòng ngủ. Chưa cần phải báo cho họ biết về cuộc gặp mặt này.
Chiếc Rolls lướt êm ả xuống núi, chạy ngang qua dinh thủ hiến, tòa lãnh sự Hoa Kỳ, xuống đường Connaught đến khu Wanchai ồn ào náo nhiệt, rồi bò qua các con đường đông đúc, len lỏi giữa các xe và khách bộ hành để đến hẻm Lan Fung, một ngõ vắng lặng và buồn tẻ.
Một tấm bảng hiệu vẽ tay thật đẹp thả lửng một nửa xuống con hẻm hẹp, báo hiệu đã đến tiệm Lon Song, một nhà hàng nhỏ không lộ liễu được dân địa phương ưa chuộng. Tài xế cố đậu thật sát chiếc Rolls gần cửa vào và Cohen theo sau Sing cùng hai người trợ tá của mình bước vào.
Tiệm Lon Song là một chỗ hẹp, ánh sáng yếu ớt, rộng vừa đủ để kê được mười bàn. Không khí nặng nề mùi tỏi. Đã bốn giờ mười phút mà chưa ai ngoài chủ tiệm một người đã già nhưng còn khỏe mạnh có chòm râu cằm hoa râm. Ông ta đăm đăm nhìn Cohen qua cặp kính, mỉm cười và cúi chào.
- Rất vinh dự, thưa Tsu Fi. - Ông ta nói.
- Mấy người khác đến chưa?
- Dạ, rồi. Kể cả các vị phân xử.
- Tốt. - Anh và ba thủ hạ theo lão già qua một hành lang dơ bẩn đến một cánh cửa ở phía sau. Người chủ tiệm mở cửa cho anh. Một cầu thang nhỏ dẫn xuống một gian hầm bụi bặm, thiếu ánh sáng và rõ ràng là ít khi dùng đến. Giữa phòng là một chiếc bàn con với hai cái ghế ở hai bên đối diện nhau. Một bộ ấm trà đặt giữa bàn có hai cái tách nữa.
Theo truyền thống, Tollie Fong là người gây ra điều xỉ nhục đã đến trước. Hắn ngồi ở phía bàn đối diện với cầu thang. Đứng sau hắn là tay trợ tá, tay đều khoanh trước ngực.
Còn có hai người khác trong phòng. Một người là Sam Chin, người lớn tuổi hơn trong cộng đồng người Tàu và là một chủ ngân hàng được kính trọng, thủ lĩnh của một trong các nhóm Tam Kết danh giá nhất của băng Sun Lee On. Người kia là Lon Tung, thủ lĩnh của nhóm Thất Cổ Gia (House of Seven Drums), một trong các nhóm Tam kết Chiu Chao nguy hiểm nhất. Họ có mặt ở đây để giám sát cuộc gặp mặt, để bảo đảm rằng không có bạo lực và cho dù câu chuyện rắc rối là gì đi nữa nó cũng sẽ được giải quyết một cách thỏa đáng, hoặc là bằng những lời xin lỗi được chấp nhận hoặc là bằng việc tuyên chiến chính thức giữa hai nhà. Giữa các nhóm Tam Kết, một cuộc tấn công bất chợt không báo trước của nhóm này đối với nhóm kia bị xem là nhục nhã. Thành viên trong gia đình phạm lỗi sẽ bị khai trừ. Việc Fong sốt sắng đề nghị cuộc gặp mặt là điều bắt buộc.
Fong đứng lên khi Cohen bước xuống cầu thang. Hắn mỉm một nụ cười hầu như không thấy được. Tiếng giết người tàn nhẫn của hắn là điều ai cũng biết.
Hắn và Cohen ngồi đối diện nhau. Fong rót cho mọi người một tách trà. Không một ai khác lên tiếng dù chỉ là một tiếng hắng giọng. Fong hớp một ngụm trà trước khi bắt đầu. Cohen ngả người tựa ra sau, hớp trà và nhìn chằm chằm vào Fong, mắt đối mắt. Cái nhìn này không thể xóa đi trước khi vụ rắc rối được giải quyết bằng cách này hay cách khác - tha lỗi hoặc chiến tranh.
Theo truyền thống, hai người phát ngôn qua vị phân xử của họ, một nghi thức để tránh những sự đối đầu trực tiếp. Như thế tránh được sự mỉa mai và to tiếng trong cuộc đàm phán. Fong giơ một tay lên và Tung ghé tai vào nghe Fong thì thầm rồi nhắc lại:
- Tôi từ Bangkok trở về ngay khi nghe tin về việc bất ngờ đáng tiếc đã xảy ra ở nhà anh đêm qua.
Sam Chin cúi xuống nghe Cohen thì thầm câu trả lời và nhắc lại:
- Anh biết cho rằng cuộc tấn công này không phải được thực hiện lệnh của tôi? Tôi không làm một điều sỉ nhục như thế ở nhà anh.
- Bây giờ nghe anh nói tôi mới biết là như vậy. - Cohen trả lời.
- Tôi đến đây để xin lỗi. - Fong nói qua Lon Tung.
Cuộc đàm thoại tiếp tục theo kiểu như vậy. Fong nói nhỏ những lời giải thích của hắn cho Tung nghe, người này nhắc lại, và Cohen thì trả lời qua Chin.
- Anh đã xâm phạm thô bạo nhà tôi. - Vị phân xử của Cohen nhắc lại, - Một việc làm mất danh dự đối với lời nguyền của các nhóm Tam Kết.
Fong vội thì thầm nhanh một câu trả lời khá dài, đôi mắt hắn bắt đầu rực lên trong ánh sáng yếu ớt.
- Không phải tôi mà là Người Số Một của tôi, và do đó Lung đã trả giá đắt cho tội của hắn. Tôi đến xin bạn tha lỗi cho sự ngu dại của hắn và đề nghị bạn Tsu Fi tha thứ cho tôi.
Hắn dừng lại trong khi Tung lặp lại lời hắn nói, rồi trong khi Cohen chưa kịp trả lời thì hắn lại thì thầm câu gì đó. Tung nói, “và xin được bồi thường cho sự sỉ nhục này”.
Cohen nghiêng người tới, chơi trò láu cá mau lẹ thì thầm vào tai Chin.
- Tôi rất tiếc, tôi không nghe rõ câu cuối, - Chin nhắc lại.
Tung nói:
- Tollie Fong đề nghị được bồi thường việc làm sỉ nhục đối với bạn Tsu Fi.
Cuối cùng Cohen gật đầu. Anh ta hớp một ngụm trà khác trước khi nói nhỏ câu đáp lại cho Chin nghe.
- Vậy thì tôi chấp nhận lời xin lỗi của anh. - Chin lặp lại.
- Xin cám ơn. - Tung gật đầu nói. - Và bồi thường gì mà Tsu Fi cảm thấy thích hợp?
Cohen hớp một ngụm trà, đôi mắt vẫn dán chặt vào mắt Fong. Rồi anh chậm rãi nói nhỏ với Chin. Chin có vẻ ngạc nhiên, nhưng chỉ trong một thoáng. Ông ta đứng thẳng lên và nói:
- Anh phải bỏ qua mối thù với tay ngoại quốc Hatcher, coi đó là lễ vật tạ lỗi.
Những người trong phòng ở cả hai phe đều sửng sốt vì lời đòi hỏi đó. Các vị phân xử - Chin và Tung - nhìn nhau đăm đăm. Họ biết đòi hỏi này sẽ gây rắc rối. Cơn giận sôi lên trong người Fong.
Căm ghét làm nở to đôi tròng mắt hắn. Theo lệnh của thủ lĩnh, hắn phải chấp nhận lời đòi hỏi, nhưng hắn phải phản kháng để giữ thế diện.
Hắn lắc đầu nhưng vẫn mắt đối mắt với Cohen.
- Tôi không thể làm điều đó, - hắn nói nhỏ với Tung bằng một giọng đầy căm thù và đủ to để Cohen nghe thấy. - Thằng Mỹ đó đã ám sát cha tôi.
- Theo tôi biết thì người Mỹ đó đã phải giết trong trường hợp tự vệ, - Cohen thì thầm bằng một giọng cùng đủ to, không chờ Tung truyền lại.
- Hắn đã làm nhục họ nhà Fong, cùng như Lung đà làm nhục nhà anh. - Fong trả lời nhanh nhẹn, vẫn mắt đối mắt, nhưng giờ thì nói thẳng với Cohen.
- Thế thì đây là sự trao đổi công bằng. - Cohen mau lẹ trả lời.
Câu trả lời làm Fong hẫng đi trong một thoáng. Fong là tay chém giết, chứ không phải là kẻ đàm phán.
- Không! Khi nào Hatcher theo Lung xuống âm phủ thì đó mới là trao đổi công bằng. Điều anh đòi hỏi là bất hợp lý.
Cohen đưa hai tay ra tỏ thái độ kiên quyết.
- Tuy nhiên đấy là cái giá anh phải trả cho điều sỉ nhục của thằng Lung.
Fong từ từ lắc đầu, đôi mắt hắn vẫn dán chặt vào mắt Cohen, càng nổi giận thêm theo từng lời nói.
- Tôi đã thề quyết tử, lời thề của Chiu Chao, - Fong chậm rãi nói.
- Danh dự là danh dự, - Cohen bảo. - Tôi nói mối thù đã hết.
- Còn tôi nói rằng việc này là giữa Hatcher và tôi, không dính gì đến anh. - Fong nói, người nghiêng về phía Cohen.
- Thế thì tôi không thể chấp nhận sự tạ lỗi của anh. - Cohen nói với giọng uy quyền giận dữ.
Sam Chin bước ra và hắng giọng, cúi xuống nói: “Khoan đã, tôi nghĩ rằng có lẽ bạn Tsu Fi có thể yêu cầu một lễ vật dễ chấp nhận hơn đối với Tollie Fong để cho cuộc bàn cãi này được giải quyết êm đẹp”.
Cohen vẫn cương quyết giữ ý kiến mình. Theo truyền thống Fong thực sự bị bắt buộc phải chấp nhận bất cứ đòi hỏi nào có lý lẽ.
Cohen nói:
- Không, nhà tôi đã bị tổn hại. Tôi có quyền đòi hỏi như thế. Nó đặc biệt phù hợp vì Lung đã tấn công với mục đích giết chết người Mỹ đang là khách của tôi.
- Và tôi cũng vậy, tôi bảo không. - Fong đáp nhanh.
- Vậy thì tôi sẽ thông báo cho mọi nơi biết rằng Tollie Fong đã vi phạm lời thề đối với băng Sun Lee On.
- Tôi không phải là người của băng Sun Lee On, tôi thuộc nhóm Chiu Chao. - Hắn nói.
- Tất cả chúng ta đều là anh em trong lời thề nguyền - Cohen nói - Nếu anh phản bội nhà Tsu Fi, là anh phản bội anh em Chiu Chao và tất cả các nhóm Tam Kết.
- Cứ cho là như thế. - Fong nói giọng chế giễu, làm hỏng cả lối thoát. Hắn cầm chén trà lên đập vỡ tan trên mặt bàn. Cohen ngả người ra sau, sửng sốt vì sự nổi giận của hắn. Fong vụt cạnh bàn tay sắc như dao xuống các mảnh gốm vỡ.
- Anh đang tuyên chiến với nhà Tsu Fi - Tung nói, rõ ràng ngạc nhiên là Fong đã đưa cuộc chạm trán tới mức này. - Tsu Fi có lí. Anh sẽ đối mặt với sự phẫn nộ của cả các băng Chiu Chao và Sun Lee On.
- Thế thì tôi cũng vậy, tôi phải tuyên chiến... với nhà Tollie Fong. - Cohen nói và đứng lên khinh miệt gạt cái tách vỡ xuống sàn. - Anh có một tiếng đồng hồ để rời khỏi Hong Kong.
Fong ngước nhìn anh chằm chằm và đôi môi hơi cong lên. Chin từ tốn nói:
- Anh có thể suy nghĩ lại.
- Anh có gan đấy, Cohen, dám đe dọa cả người thủ lĩnh mới của nhóm Bạch Thủ.
- Hòn đảo này thuộc về tôi. - Cohen nói dứt khoát. - Nếu anh còn chút ghi ngờ nào về việc ấy thì anh đã ngu xuẩn hơn là tôi nghĩ.
Fong từ từ đứng dậy nói:
- Anh là một người điên, anh bạn Mỹ ạ, đi gây đổ máu chỉ vì cái tên gián điệp Mỹ này. Hắn là một thằng láo toét. Hắn lừa lọc bạn bè. Hắn giết chết những người tin hắn.
- Đây là bạn của tôi. - Cohen trả lời. - Một giờ của anh đang hết dần đấy.
Fong nhìn anh ta chằm chằm thêm một lát nữa, cuối cùng hắn nói:
- Thôi được, tôi sẽ không làm mất danh dự của thủ lĩnh nhóm Bạch Thủ. Nhưng anh làm bẽ mặt tôi, anh Mỹ ạ!
- Rồi sẽ qua thôi. - Cohen nói và Fong lại nổi sung lên. Hắn quay sang từng vị phân xử, cúi chào rồi rầm rầm leo lên cầu thang kéo theo bọn thủ hạ. Lon Tung nhanh chóng bước theo hắn. Đôi vai của Cohen rũ xuống. Anh đã thắng. Tim anh đập rộn ràng trong lồng ngực nhưng anh đã thành công và tránh được một mối tử thù giữa cá nhân anh và nhóm Bạch Thủ.
Sam Chin đặt tay lên vai Cohen, nói:
- Tôi chưa bao giờ thấy anh khắc nghiệt đến thế trong một cuộc đàm phán như vậy.
Cohen nhìn sang người đàn ông lớn tuổi. Anh mệt mỏi nói:
- Tôi đồng ý. Rất tiếc, thủ lĩnh ạ, chẳng có cái gì khác thích hợp cả.
Tollie Fong đứng phía ngoài, nhà hàng chờ xe đến đón. Sẽ không có chiến tranh giữa Tsu Fi và Tsu Fong. Sự thua cuộc trước Cohen vẫn còn nhức nhối, nhưng cần phải như thế. Hiện giờ hắn phải gạt sang bên lời thề giết Hatcher, nhưng điều này có thể chấp nhận được, thực tế nó phù hợp tuyệt với kế hoạch của hắn. Hắn đã từng chờ thám tử báo để tóm Hatcher, hắn có thể chờ thêm vài tuần nữa. Nhưng trong đầu của Tollie Fong thì Hatcher là người đã chết. Chỉ còn là vấn đề thời gian.
 
Bóng râm phía bên ngoài càng lúc càng đổ dài hơn. Daphne nằm bên cạnh Hatcher, quay sang chậm rãi nép sát vào người anh cho đến lúc như toàn thân nàng áp vào một bên người anh.
Nàng nói:
- Em mong là anh sẽ không quậy trên ấy. Không lợi cho công việc của em.
- Có lợi cho công việc của em chứ. Có thể bọn anh sẽ loại gã Sam-Sam giùm em.- Hatcher làu bàu, quay sang ghì nàng chặt hơn.
- Có lẽ em bắt anh phải giữ lời hứa về vụ bông vải Ấn Độ mà anh đã nói, bao nhiêu năm rồi nhỉ?
- Lâu lắm rồi. Anh sẽ xem coi anh làm được gì.
- Khi nào anh đi?
- Ngay sau khi chúng ta làm xong việc ở thượng nguồn sông.
- Và anh sẽ không quay lại nữa.
Anh định nói điều gì đó nhưng nàng đưa tay bịt mồm anh:
- Cohen Tàu đã kể cho em nghe mọi việc. Em biết ở Hong Kong rất nguy hiểm cho anh. Em chỉ muốn biết lần này liệu em có được nói lời từ biệt một cách tử tế không.
- Thì em đã nói rồi. - Anh làu bàu.
Nàng gác chiếc chân dài lên hông anh và kéo anh càng sát lại hơn.
- Em vẫn chưa nói hết.
 
0

KHÓI THUỐC

 
Một gã bí thư cấp thấp trẻ tuổi, người xanh xao, bị chứng ăn không tiêu, tinh thần vô cùng hoang mang tên là Lamar Pellingham tiếp đón Sloan ở cổng toà đại sứ và ngay tức thì tâm sự rằng đây là lần đầu tiên hắn giáp mặt với cái chết trên một bờ biển nước ngoài. Tên đàn ông xanh xao này đã càu nhàu:
- Không thể được, tuyệt đối không thể được. Hình thức, hình thức, hình thức quá xa. Tôi chưa bao giờ thấy một lề lối quan liêu như vậy.
- Vâng, tôi biết những việc này thật rắc rối. Anh nên nghĩ bọn họ sẽ rất vui lòng rứt bỏ được những thứ còn lại thay vì làm cho nó thành quá khó khăn.
- Vâng. Đúng. Dĩ nhiên, - Tay cán bộ ngoại giao trả lời, hơi giật mình vì vẻ lãnh đạm của Sloan, - Ừm... các cô giúp việc đã gói mọi thứ lại, có nghĩa là mọi thứ trừ những cái trong bản viết của hắn. Chúng tôi đã niêm phong căn phòng đó, bỏ riêng nó lại, tôi muốn nói cái bàn viết ấy. Ông biết đấy, trong chuyện vừa qua... ờ... các thứ đã được phân loại ở đây.
Gã nói từng chữ một như đang phun ra khỏi mồm từng cục than hồng. Rõ ràng là gã thấy toàn bộ vấn đề này thật khó chịu.
Sloan nói:
- Quyết định tuyệt hay. Tôi sẽ kiểm tra lại.
- Ông đã gặp bên cảnh sát chưa?
- Chưa. Sau khi đăng kí ở khách sạn tôi đến thẳng đây. Anh có nhận được báo cáo của cảnh sát không?
- Không, điều tra viên là một thiếu tá,... ờ..,tên là Ngy, hắn chả chịu cho biết bất cứ điều gì cả. Đúng là một con người chân thực, hắn bảo hắn cần nó cho việc điều tra. Nhưng tôi có những thứ khác Xin mời theo tôi.
Gã cán bộ ngoại giao trẻ tuổi nóng nảy dẫn Sloan ra phía sau qua các hành lang lộng lẫy của tòa đại sứ Mỹ trên đất Thái đến văn phòng của hắn, một căn phòng ấm cúng nhưng bé nhỏ gần phía sau tòa nhà. Gã lật tìm kẹp hồ sơ để trong tủ đưa ra cho Sloan một chiếc phong bì có ghi “Porter. Giấy tờ cuối cùng. Mật”.
Pellingham nói:
- Mọi thứ đều ở trong ấy. Tất cả các giấy tờ, các giấy bảo hiểm, cả báo cáo chi tiêu sau cùng của hắn nữa.
- Thú vị đấy. Tôi chỉ mang theo các thứ này. - Sloan bảo.
- Có lẽ tôi nên, ờ, làm một bản sao chứ? - Pellingham lắp bắp nói, xoa má bằng bàn tay đầm mồ hôi, biến câu nói lúc đầu là một câu khẳng định thành một câu hỏi.
Sloan mỉm cười trấn an nói:
- Nếu anh thấy thế tiện hơn thì một bản sao cũng tốt thôi.
- Họ bảo rằng,... ờ... đó là một người ngoài cuộc vô tội, có lẽ bị giết chết vì rủi ro, nếu cho rằng một người có thể bị giết vì rủi ro. - Hắn ngập ngừng và khi thấy Sloan không trả lời thì nói thêm - chắc chắn không phải là cái chết của một vị anh hùng. Nhưng tôi nghĩ thế là hay nhất cho các mục đích của ta. Tôi muốn nói là có thể chấp nhận được trong những hoàn cảnh như vậy.
- Có thể chấp nhận được. - Sloan nói, - Một cách đặt vấn đề tuyệt hay. Tôi có thể hiểu tại sao anh đã chọn ngành ngoại giao.
- Vâng, xin cảm ơn, thưa ông. - Pellingham trả lời. - Tôi làm vì gia đình và tất cả.
- Dĩ nhiên. Tôi biết chính xác anh muốn nói gì và tôi đồng ý. - Sloan nói, cố làm cho gã trẻ tuổi ấy thoải mái. - Nhìn đây này, chẳng cần phải lo lắng về vấn đề này nữa. Tôi đang có đây. Nó ở trong tay tôi.
- Nhưng...
Mỉm cười, Sloan đưa trả lại cho Pellingham chiếc phong bì và nói:
- Sao anh không làm bản sao của anh trong khi tôi kiểm các đồ vật của Porter.
- Vâng, vâng, phải đấy. Ông... ờ... có biết họ gửi những thứ còn lại và đồ đạc riêng của hắn đi đâu chưa?
- Đã thu xếp cả rồi.
- Ôi! Cảm ơn Thượng Đế. - Gã ngoại giao mới vào nghề nói như trút được gánh nặng.
- Hãy cho xem buồng của Porter trong lúc anh sao lại bản báo cáo, hả?
- Được. Được.
Gã trẻ tuổi nhìn theo Sloan bước vào buồng của Porter, tự hỏi có nên vào theo không. Nhưng Sloan đóng cửa lại và gã đăm đăm nhìn cánh cửa đến cả phút rồi mới hối hả đi đến máy sao chụp.
Suốt một giờ đồng hồ tìm kiếm chẳng mang lại gì có giá trị cho Sloan ngoài một quyển sổ tay bìa da cỡ 12x 17 cm. Sổ nhật kí của Porter, quyển tự chuyện thực của y bắt đầu vào tháng Giêng năm đó. Sloan nhét nó vào cặp sách. Hắn kiểm qua mọi thứ khác và chẳng còn tìm thấy gì liên quan đến vụ Cody - Wol Pot. Sau khi lấy bản sao tài liệu về Porter, hắn quay về khách sạn.
Hắn cởi chiếc áo sơ mi nhớp nháp, kéo chiếc bàn để dưới cái quạt trần và dùng thời gian còn lại của buổi trưa để đọc hết quyển nhật kí. Porter chắc chắn đã theo dõi sát gã Thái nhỏ con. Quyển sổ được ghi đầy đủ cho đến ngày Porter chết. Phần chi tiêu ghi tỉ mỉ tới 50 xu để uống một lon Coke ở một nơi gọi là American Deli thuộc khu Patpong khi theo dõi. Porter đã trở thành một kẻ sính giấy tờ hết mức.
Rồi cơn nghiền bắt đầu gặm nhấm Sloan. Hắn trở nên lơ đãng và cuối cùng đóng kẹp hồ sơ và quyển số lại. Lúc mặt trời bắt đầu lặn hắn đăm đăm nhìn qua cửa sổ về phía thành phố của những ngọn tháp vàng hình chóp và những mái vòm, lấp lánh trong những tia nắng đang tắt dần, ngắm nhìn chúng mờ dần và cuối cùng vụt tắt như những ngọn nến. Cơn nghiền của hắn và màn đêm nhử hắn ra khỏi phòng, đi xuống phố chính đông người.
Một chiếc xe máy hai chỗ ngồi với một gã tài xế nhỏ bé rắn chắc chờ ở gần lối vào khách sạn. Gã vừa chạy lon ton bên cạnh Sloan vừa nói trong khi bước về phía dãy xe taxi ở ngay cửa.
- Thưa ông, mời ông đi xe tuk-tuk, tốt, rẻ nhất ở thành phố. Rất nhanh.
“Tại sao lại không nhỉ” Sloan nghĩ. Có hàng trăm chiếc xe ầm ĩ loại này ở thành phố. Sẽ không thể nào theo dõi được những hoạt động của hắn.
- Thôi được, nào đi. - Sloan nói.
- Tên tôi rất rắc rối. - Gã nói - Ông có thế gọi tôi là Sy, mấy ông bạn Mỹ thường gọi tôi là Sy.
- Phải. - Sloan nói và ngồi vào chiếc ghế không dễ chịu lắm rồi cho gã một địa chỉ ở quận ven sông.
Cuốc xe chạy ngang qua thành phố chỉ mất có 15 phút và trống ngực của Sloan đã đánh thình thịch lúc họ tới nơi.
Nơi ấy không thay đổi và sẽ chẳng bao giờ thay đổi. Mùi hăng hắc của nước sông nhường chỗ cho một mùi ngọt ngào hơn nhiều. Nó tấn công vào óc hắn và đầu độc tấm thân hắn khi hắn bước xuống một cầu thang hẹp rên rỉ cọt kẹt dưới chân. Lúc hắn xuống tới nơi, cái mùi này trở nên nồng hơn, gắt hơn.
Chủ tiệm vẫn chờ như lệ thường ở chiếc bàn gần cửa. Người này là người mới, nhưng bọn họ tất cả trông đều giống nhau. Những lão già nhăn nheo, lưng còng với cặp mắt thất thần và gương mặt chảy xệ, họ là những bậc thầy của ảo mộng, những kẻ xóa được ác mộng và diệt được các nỗi đau, là những người dẫn đường đi tới Vườn Địa Đàng. Khi theo lão già qua một ngách hẹp ra phía sau, Sloan bắt đầu cảm thấy hơi lâng lâng. Họ bước vào một căn phòng dài, hẹp ố vì thời gian và vì dùng cẩu thả ngăn cách các chiếc, giường. Một màn khói xám lơ lửng trên trần. Dường như người ta đang đi qua một cảnh địa ngục.
Sloan theo lão thầy ảo mộng đến ô thứ ba. Hắn nằm nghiêng trên giường, lấy tư thế cho thoải mái, nhìn lào già Thái nhồi viên thuốc đen vào trong nõ chiếc điếu dài, đốt nó trên ngọn đèn và thổi lửa vào viên thuốc cho đến lúc nó cháy đỏ. Rồi lão đặt cán điếu dày vào môi Sloan. Tên đại tá kéo một hơi dài, cầm thấy làn khói dầu tràn vào phổi, xâm nhập vào huyết quản, bốc thẳng lên óc hắn.
Khi thuốc phiện ngấm, Sloan cảm thấy như điện giật. Người hắn căng lên rồi tê dại đi. Những vết bầm và những vết thương cũ đều lành lại. Đau đớn biến mất, căng thẳng tiêu tan. Nỗi bất hạnh giảm đi. Hình ảnh lão già Thái co lại trước mắt hắn và tan dần trong làn sương mù vàng vọt.
Sloan rên lên rồi xoay người nằm ngửa.
Hắn để cho làn sương bao trùm lấy hắn, ôm ấp hắn và bước sang một thế giới khác.
Đến một nơi có những cánh đồng xanh mướt và hoa lá.
Một bầu trời xanh thẫm trên đầu và ánh nắng sưởi ấm hắn.
Gần đâu đây sóng biển vỗ ì ầm vào bờ đá.
Hắn nằm xuống cỏ tươi mát. Làn gió mơn man thoảng qua người hắn cuốn đi hết những nỗi lo âu. Ở đây không có cái chết. Không có những tiếng kêu đau đớn, không có kẻ thù, không có những công việc bẩn thỉu để giao phó. Không có ác mộng. Chỉ có sự yên tĩnh.
Đó là nơi duy nhất còn lại mà Sloan có thể tìm thấy sự yên ổn.
 
0

TS’E K’AM MEN TI

 
Hatcher và đồng bọn ra đi trước lúc rạng đông hai giờ, len lỏi qua các tàu tuần tra và tàu hải quan của bến cảng nằm trong vịnh ở cửa sông Beijiang nay là hải cảng của Hong Kong, rồi nhằm hướng Tây tiến vào miền Nam Trung Quốc theo một trong nhiều nhánh của con sông Tây Giang (Xijiang) phủ ngợp rừng cây. Đến tờ mờ sáng họ đã đi ngược dòng được khoảng 60 cây số.
Họ đi hai thuyền. Chiếc thứ nhất là một chiếc tắc ráng hẹp, dài, máy đẩy nặng, có một cabin quây bằng phên ở phía sau. Tiếp theo nó là chiếc thuyền như điếu thuốc lá, dài khoảng 10 mét có công suất 600 mã lực, có thể lướt trên mặt nước với tốc độ khoảng 110 km/giờ. Hatcher, Daphne, Cohen và Sing - người lái tàu - cùng một xạ thủ khác là Joey đi trên chiếc đầu. Trên chiếc thứ hai có bốn tay súng người Tàu do một nhóm Tam Kết Chiu Chao thân hữu có tên là Narrow Blade Gang (Lưỡi Dao Hẹp) cho Cohen mướn để yểm trợ trong tình huống Tsu Fi gặp rắc rối. Tất cả bọn họ đều cảm thấy dễ chịu vì nguồn tin tình báo của Daphne cho biết   đã ngược sông và chắc không trở về vùng hùng cứ của Ts’e K’am Men Ti trước ngày mốt.
Lúc mới đi chưa vào tới con sông này, mọi người đều lo âu căng thẳng, canh chừng các tàu tuần tra và tàu hải quan của cảng. Bây giờ thì họ đã thấy thư thái trong lúc chiếc thuyền dài lướt êm trên sông, nép theo bờ cho kín đáo và theo sau là chiếc thuyền hình điếu thuốc lá gây ấn tượng mạnh.
Cohen trông thật kì lạ, anh mặc bộ áo xường xám với sợi nịt súng ngang hông, ngồi như một thái tử trên chiếc ghế bố mỏng, nhìn đăm đăm vào bóng tối phía trước, lẩm bẩm liên tục, tự hỏi về sự ôn hòa của mình, của Hatcher, của Daphne - thực tế là về toàn bộ chuyến đi chết tiệt này. Anh ta đã khăng khăng đòi sắp xếp thuyền bè và các tay súng. Cuối cùng Hatcher phải càu nhàu:
- Nghe này Cohen Tàu, chẳng ai dí súng vào tai cậu bắt cậu đi theo đâu. Tự cậu muốn đi lo liệu súng ống, rồi đem theo cái ghế tắm biển của cậu mà tham gia chuyến đi này.
- Đúng, tôi đã không thể khuyên được anh bỏ vụ Cody. - Cohen trả lời.
- Điều đó thì có liên quan gì?
- Anh hiểu tôi muốn nói gì chứ. Quỷ tha ma bắt cái gã Cody quá đặc biệt này đi.
- Tôi đã bảo anh là chúng tôi cùng học với nhau mà.
- Điều ấy chả nghĩa lí gì. - Cohen khinh khỉnh nói.
- Quỷ thần ơi! Có lẽ là tôi muốn làm một việc cuối cùng có tính chất... nhân đạo... hay danh dự.
Cohen nói:
- Để tôi nói cho anh nghe vài điều mà có thể anh không biết về Sam-Sam. Lần đầu tiên tôi gặp hắn là lúc tôi đã gặp anh, khi đó lão Tsu Fi cử tôi lên đây vào đất Chin Chin lần đầu. Lúc ấy Sam-Sam còn là loại non nớt trong vùng này, đúng chứ? Hắn từ Bắc Kinh xuống vì hắn là một thằng tư bản cuồng nhiệt, mà điều đó ở Bắc Kinh thì không hay. Khoảng sáu tháng trước khi tôi gặp hắn, không biết hắn đã làm gì ở Bắc Kinh mà giết người một cách táng tận lương tâm tôi chưa từng thấy bao giờ. Tôi muốn nói hắn có thể bắn ngay một phát đạn vào óc anh cũng y như là dẫm lên một con rệp vậy.
Lúc ấy tôi chủ yếu đang buôn bán với Joe Cockroach ( Joe Con Gián), anh ta gần như là đại lí mọi thứ hàng. Người ta thương lượng với Joe và hắn gom tất cả - một giá cả, một kẻ nhận tiền giả. Đây là một lối làm ăn tiện lợi. Tôi cũng tin tưởng ở Joe. Tôi biết Joe ở Hong Kong trước đó, lúc anh ta làm về nhập khẩu. Vì thế, có lẽ là vào lần thứ ba tôi lên đây, Sam-Sam đến tìm tôi vào bảo rằng kể từ giờ trở đi chính hắn và tôi sẽ làm ăn với nhau. Hắn nói sẽ đưa ra giá hời hơn. Nhưng tôi đã nói với hắn “Sam-Sam, tôi không thể làm thế được vì tôi đã buôn bán với Joe nhiều năm rồi, vả lại công việc chả giống như trên này ở vùng Ts’e K’ am Men Ti đâu”.
Thế là Sam-Sam bước ra ngoài boong, chúng tôi đang ở trên thuyền - tôi ở trong phòng làm việc của Joe, còn Joe thì đang ở ngoài làm gì đấy - tôi nghe thấy hai phát súng: Bụp! Bụp! Chỉ có thế, tôi phóng ra cửa vừa kịp nhìn thấy Sam-Sam cầm khẩu súng còn bốc khói, túm lấy áo của Joe, nhấc nó lên bằng một tay và ném nó xuống sông.
Sam-Sam quay sang nhìn tôi mỉm cười nói có ý nhấn mạnh: “Bây giờ thì chả còn gì rắc rối nữa”. Rồi hắn cười vang. Sáu tháng sau hắn kiểm soát toàn bộ con sông chết tiệt ấy.
- Tôi biết hết tất cả chuyện ấy, Cohen ạ! - Hatcher nói với tiếng thở dài.
- Ừ, nhưng đây là điều anh chưa biết. Joe Cockroach từ Trung Quốc đến Hong Kong. Hắn làm chuyện này chuyện nọ, chả có gì thành công lắm, rồi hắn đi lên đất Chin Chin và vào nghề buôn lậu. Hắn cho gọi em hắn xuống. Em hắn chính là Sam-Sam.
Hatcher nói cộc lốc:
- Sam-Sam sẽ chẳng có mặt gần đây đâu.
- Ừ, đúng, đấy là điều mà tất cả chúng ta đang hi vọng. - Cohen dài giọng nói. - Sam-Sam sẽ chẳng có mặt quanh đây.
Họ lại rơi vào yên lặng và Cohen bắt đầu ngủ lơ mơ, đầu gật gà gật gù, thình lình tỉnh giấc nhưng lại rơi ngay vào trong mơ.
Trong ánh sáng huyền ảo trước lúc rạng đông anh ta trông giống như một triết gia Tàu thời xưa.
Daphne và Hatcher ngồi cạnh anh ta trên những chiếc băng gỗ của thuyền. Hatcher đang ngả lưng ra sau, đôi chân dài duỗi ra phía trước. Daphne với sang đặt bàn tay vào tay anh. Anh bóp nhè nhẹ và giữ lấy nó trong lúc họ nhìn chằm chằm vào bóng tối đang rạng dần phía trước.
Nàng nghiêng người sang và ngọt ngào nói vào tai anh:
- Đã bao giờ anh lấy vợ chưa, Hatcher?
- Chưa bao giờ.
- Có phải vì anh luôn luôn bị đe dọa không biết sống chết lúc nào phải không?
Anh suy nghĩ một lát rồi đáp:
- Có thể.
- Có bao giờ anh nghĩ đến việc đó không? - Nàng hỏi.
- Không, - anh đáp ngay tức khắc và ngạc nhiên về câu trả lời của anh. - Ý nghĩ đó chưa bao giờ đến với anh.
- Tại sao không?
Hatcher không trả lời ngay. Anh suy nghĩ về tất cả những lí do khách quan, cuối cùng anh mới nói:
- Anh sống cho qua ngày. Hôn nhân là cả quá khứ và tương lai. - Anh quay lại nhìn nàng nói tiếp. - Hoặc có lẽ anh quá ích kỉ, suốt đời cứ nghĩ về một cái gì khác. Nhưng tại sao em lại hỏi? Đây là lời cầu hôn à?
Cả hai cùng cười khẽ trong bóng đêm.
Nàng lắc đầu, nói:
- Không, - Nàng dừng lại một lát rồi hỏi: - Anh có bao giờ lo lắng về cái chết?
- Không, - anh nói nhanh, - anh đã từ bỏ điều đó lâu rồi.
Con sông tỏa ra thành nhiều dòng nước chảy ngoằn ngoèo xuyên qua cánh đồng rậm rạp. Đây là bìa cực Bắc của vùng rừng Đông Nam Á mưa nhiều. Vài cây số về phía Bắc rừng cây nhường chỗ cho các vùng đồi thấp rồi đến núi đá, nhưng ở đây rừng già vẫn còn xinh tươi.
Các tàu tuần tra Trung Quốc, số lượng hạn chế, bỏ qua vùng này một vừng dường như là sào huyệt của tên cướp biển Jean Lafitte vào đầu thế kỉ 18, một vương quốc xanh tươi của bọn sát nhân, ơ đây một chủ tàu có thể vụt mất tăm dạng vào một trong nhiều nhánh sông hoặc biến vào những nơi trú ẩn trong rừng già được phòng thủ mìn và bẫy ngầm. Đó là một khu chợ đen chằng chịt các thuyền bè buôn lậu được bảo vệ bởi thiên nhiên và bởi các tên cướp tự là Đảng Ts’e K’am Men Ti, băng Secret Gate Keepers (Những Người Giữ Cửa Bí Mật), dưới quyền thống trị hung ác của tên Sam-Sam tàn nhẫn, và các tên tay sai của hắn - tên giết người Batal và tên ám sát Billy Tử Thần.
Khi mặt trời lên, các sinh vật của rừng cây ở giải rừng mưa ven sông này thức dậy và thế giới dưới các tàn cây sống lại với những âm thanh buổi sáng. Những con cò kêu quang quác, những con ếch trượt xuống ưỡn bụng ộp oạp và phóng từ cây này sang cây khác, những con mỏ vẹt với chiếc mỏ cứng sục sạo xuyên qua tàn lá tranh ăn với những con dơi ăn trái. Trên cao, những con ó lờ lững bay lượn trên bầu trời đỏ như máu tìm kiếm bữa ăn sáng.
Vào buổi trưa họ đã ở gần các làng nhỏ Jiangmen và Shunde. Họ lướt qua. Giữa trưa họ đã ở sâu trong rừng già. Daphne nói:
- Chúng ta đang đến ranh giới vùng của bọn Ts’e K’am Men Ti.
Hatcher nghiên cứu tấm bản đồ mà nàng đã phác họa trước khi họ ra đi. Nó vạch ra một đường giới hạn ngoằn ngoèo từ con sông cái về hướng Nam. Tám cây số phía trên đường giới hạn là một nhánh sông khác chảy lượn về hướng Đông xuyên qua rừng già rồi quay ngoắt về hướng Tây làm thành một bán đảo hẹp, một khúc quanh trên dòng nước, giống như cái bẫy trong vùng nước, rất dễ làm điểm chặn trong sự cố có kẻ nào đó muốn rút lui nhanh về phía sông chính. Điểm Leatherneck John’s nằm ở phía bên kia khúc quanh. Hatcher chỉ vào cái bán đáo nhỏ xíu và dùng ngón tay vạch một đường thẳng ngang qua góc đảo phía xa điểm Leatherneck John’s và nói nhỏ:
- Chúng ta đang ở đây à?
- Khoảng đó. - Daphne gật đầu.
- Vì thế nếu chúng ta gặp rắc rối ở quán rượu, chúng ta có thể bỏ thuyền lên bộ, rút lui thẳng về đây, đúng không?
Nàng gật đầu. Anh hỏi:
- Bao xa?
- Khoảng hai cây số, có thể ngắn hơn. - Nàng nói.
- Được rồi, - giọng Hatcher khàn khàn, - đấy là vị trí rút của chúng ta. Chúng ta để chiếc thuyền Điếu Thuốc Lá đợi ở đây và chúng ta đi vòng qua khúc quanh trên chiếc tắc ráng. Nếu gặp rắc rối, chúng ta sẽ nhảy lên bờ như thỏ ấy, trở lại đây, bỏ luôn chiếc thuyền kia.
Cohen hỏi:
- Chúng ta mang theo bao nhiêu người?
Hatcher đáp:
- Sing đi vào quán rượu cùng chúng ta, bảo vệ mặt hậu. Có lẽ để một tay súng khác ở trên chiếc tắc ráng coi chừng lỡ Sam-Sam xuất hiện, ba người kia ở lại trên chiếc Điếu Thuốc Lá. Nếu chúng ta phải chạy về thì họ có thể yểm trợ cho đường rút lui của ta. Nếu mọi việc êm xuôi họ chỉ việc theo ta trở về.
- Sam-Sam sẽ không trở về trước ngày mai đâu. - Daphne nhắc lại.
- Ừ hứ. Thế nhưng bao giờ cũng có sự bất ngờ, - Hatcher nói vừa đủ to, - Anh chỉ hết lo âu về Sam-Sam khi chúng ta trở về đến Hong Kong.
- Anh rất cẩn thận. - Daphne mỉm cười nói.
- Và vẫn còn sống. - Hatcher trả lời.- Hãy cùng nhau gánh trách nhiệm và lên đây.
Khi họ vào đến giang sơn của bọn Ts’e K’am Men Ti tiếng rừng hòa lẫn với những tiếng động khác. Tiếng người. Mặt trời bắt đầu lặn sau các rặng cây thì một điệu hát lạ lùng xuyên qua cành lá vọng từ phía trước.
- Gì đó? - Cohen hỏi.
Daphne nói:
- Bọn đàn bà đang hát một bài hanchi, một loại bài ca chúc may mắn.
- Tôi chưa bao giờ được nghe cái đó. - Cohen bảo.
- Em nghĩ đấy là tiếng Cambodia. - Daphne nói.
- Họ là Khmer Đỏ à? - Hatcher hỏi.
Nàng nhún vai:
- Có thể là Khmer Đỏ, du kích tự do Lào, bọn giang hồ sông nước. Chả biết được. Nhớ nhé, bọn đàn bà cũng cừ như bọn đàn ông và có lẽ nhanh nhẹn hơn một chút.
Mặt nước chỉ còn rộng không quá 30 mét. Lúc vòng qua khúc quanh họ nhìn thấy những dấu hiệu đầu tiên của bọn Ts’e K’am Men Ti. Ba chiếc thuyền to cột chắc chắn vào thân cây ở bờ bên phải của họ, thân nhô ra ngoài dòng sông nhỏ. Sing phải cho thuyền lách ra ngoài để vòng qua chúng. Trên chiếc thứ nhất có hai túp lều đứng cạnh nhau ở phía sau thuyền, giống như những vọng gác.
Nhiều phụ nữ, tất cả đều để ngực trần, đội khăn đỏ cột chặt quanh đuôi tóc đen, đang hát vang trong khi cọ rửa sàn thuyền. Trên một góc thuyền hai chiếc nồi to đang bốc khói. Một người đàn bà đang đổ rau và nấu bữa chiều. Một người đàn ông ngồi ở góc khác câu cá.
- Một cảnh nội trợ ấm cúng. - Hatcher lẩm bẩm.
- Ngọt ngào quá, - Cohen nói, - như một buổi đi cắm trại nhân ngày 4 tháng 7 ấy (1).
Có năm hay sáu thùng đựng thiết bị điện tử chất đống ở giữa sàn chiếc thuyền thứ hai, được che đậy cẩu thả bằng một tấm vải dầu. Bên cạnh nó, chiếc thuyền thứ ba chỉ mang mươi, mười lăm thùng đạn. Hatcher xem xét số đạn được qua ống nhòm: loại 9 ly, loại nòng 30, nòng 38, một thùng loại nòng 45. Hatcher nói:
- Rất nhiều đạn và rất ít hàng hóa.
Cohen nói:
- Chắc Sam-Sam cất giấu số hàng lớn của hắn xa hẳn một chút phía trên sông. Hắn không chờ có khách hàng ngày.
- Tốt. - Hatcher nói.
Vượt qua các chiếc thuyền, ngược nhánh sông khoảng 100 mét là điểm Leatherneck John’s, một mảnh đất vuông ruộng, xấu xí với các vách phên và một mái nhà mấp mô. Nó nhô ra mặt sông trên những cột chống và hai mặt là các cầu tàu tạm thời, giống như một bến tàu tồi tàn, nông cạn. Nhiều chiếc thuyền đủ các loại được cột vào cầu tàu. Một chiếc Chris Craft trông tàn tạ, ít nhất cùng đã 20 năm tuổi mang lá cờ Đức rách tả tơi đang phất phơ bay trên cột ăng ten.
Daphne nói:
- Chiếc thuyền câu cũ kĩ màu trắng của tay người Hà Lan đây.
- Tốt, - Cohen thì thầm, - chắc chúng ta có thể rút khỏi nơi đây nhanh. Anh ta quét ống nhòm nhìn xa hơn về phía thượng nguồn. Một chiếc thuyền to chở đầy hàng nặng, che kín bằng vải dầu không thấm nước, nép sát vào bờ cách quán rượu khoảng 100 mét.
- Lạy chúa.- Cohen thở ra:
- Gì đấy? - Hatcher hỏi.
- Hãy quan sát chiếc thuyền to ở xa trên kia xem. - Cohen nói xong Hatcher nhấc ngay ống nhòm lên. - Trung tâm của sự giàu có đấy. Đó là kho hàng.
Trong lúc họ nhìn, một gã đàn ông bước ra phía trước thuyền dạng chân rồi bắt đầu đái xuống sông. Gã là người da đen, cao, rất ốm với mái tóc bóng nhoáng được tết lại thành đuôi heo buộc chặt bằng một dải băng màu đỏ. Chiếc áo sơ mi màu xanh phanh ra, gã đeo một khẩu AK-47 trên vai và giắt ở thắt lưng một khẩu súng lục H&K 9 ly. Gã đeo cặp kính mát gọng vàng hiệu Porsche. Cohen nói:
- Ồ! Đấy là tên người Haiti, mà chúng gọi là Billy Death (Billy Tử Thần) đây. Hắn là tên thích chặt chân người ta. Hãy nhìn xuống mũi thuyền xem.
Hatcher chúc ống nhòm xuống quan sát phía trước thuyền. Ở đấy, có một vật gì trông giống như một đôi giầy treo lơ lửng bằng một sợi dây. Hatcher điều chỉnh ống nhòm, tăng độ dài tiêu điểm, nhìn cho rõ đôi giày. Anh có thể nhìn thấy rõ mảnh da đã thối rữa xám ngoét của một cổ chân rũ xuống qua miệng một trong hai chiếc giầy. Ruồi nhặng bay vù vù quanh nó. Hatcher há hốc miệng:
- Trời ơi!
- Việc sẽ tốt đẹp thôi - Daphne nói. - Hắn không biết anh đến. Chắc hắn chẳng để ý đến ta đâu.
- Ừ, - Cohen nói, - Chỉ là chuyệnlàm ăn thường lệ.
Chiếc thuyền của Sam-Sam là một chiếc bè nổi rộng chất đầy hàng lậu và đạn dược. Hắn để nhiều thủ hạ giỏi nhất ở cạnh và bảy người đàn bà, trong số đó vài người là hầu thiếp, vài người còn cứng rắn hơn cả đàn ông. Batal đi theo nhưng Billy thì không. Gã người Haiti này không thích sông nước.
- Thằng Billy Tử Thần có chuyện gì thế? - Sam-Sam hỏi Batal.
Gã người Iran này đáp:
- Hắn không biết bơi.
Sam-Sam nghĩ điều đó thật buồn cười. Hắn nói:
- Gã sợ không dám đi thuyền vì không biết bơi à?
Gã Iran gật đầu.
- Quỷ thần ơi, tao cũng không biết bơi này. - Sam -Sam vừa nói vừa xoè tay vỗ ngực.
- Tôi cũng không biết bơi. - Batal nổi và cũng cười vang.
Một tiếng huyên náo từ phía sau chiếc thuyền phá vỡ sự vui vẻ của chúng. Tay lái thuyền chạy đến. Sam-Sam hỏi:
- Chuyện gì thế?
Tay lái thuyền chỉ ra phía sau thuyền lắp bắp nói:
- Máy phát điện hỏng rồi.
- Thế thì thay nó đi. Vứt cái đó xuống sông và đem cái khác lên.
Tay lái thuyền lắc đầu nói:
- Không có.
- Chúng ta không có máy điện dự phòng à?
Tay lái tàu lắc đầu, gằm mặt nhìn xuống sàn thuyền. Sam-Sam nổi giận:
- Chỉ có một máy thôi à? Cái con mẹ gì khác chúng ta cũng có trên chiếc thuyền chết tiệt này. Chúng ta có ti vi, máy casét âm thanh nổi, có lụa Thái, vải bông Ấn Độ. Chúng ta có thuốc lá Mỹ, Pháp, Anh, Thổ Nhĩ Kì, Ai Cập. Thế thì tại sao lại chỉ có một máy phát điện! Rồi sao? Có ai trả lời được điều này không?
Hắn điên tiết đi quanh sàn thuyền, đá tung đồ đạc và chửi rủa một mình, đôi mắt rắn của hắn phóng từ người này sang người khác. Thình lình hắn rút khẩu súng ra. Bọn đàn ông và đàn bà trên boong lùi dồn lại thành một đám. Sam-Sam hung dữ bước trên boong thuyền như một người điên, xoay người trên gót chân, nhìn chằm chằm vào mặt người này sang người khác.
Hắn rít lên:
- Ai chịu trách nhiệm?
Đám thủ hạ nhìn hắn trân trân, sợ hãi không dám nói. Hắn rống lên:
- Ai muốn ăn đạn? - Giọng của hắn vang vào rừng và dội trở lại - có ai không?
Hắn đợi thêm một lát nữa, thích thú với nỗi sợ hãi in trên khuôn mặt của đám thủ hạ. Rồi bất thình lình hắn quay người, xả hết băng đạn vào rừng. Chim chóc bay tán loạn, kêu rít lên đau đớn.
Sam-Sam quay lại đám thủ hạ của hắn và cười to. Bọn thủ hạ thở ra nhẹ nhõm. Một tràng cười kích động nổi lên. Sam-Sam nhún vai nói:
- Thế thì chúng ta quay về. Hấp tấp thì dù đi đâu nào có ích gì?



(1) Ngày độc lập của Mỹ.
 


 
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.08.2020 10:53:42 bởi hoi_ls>

LEATHERNECK JOHN’S

 
Sing đưa chiếc tắc ráng vào bến đậu bên cạnh quán Leatherneck John’s và cột thuyền lại. Hatcher nói:
- Mọi người cứ thoải mái trừ khi gặp rắc rối nhé, đồng ý chứ?
Sing và tay súng Joey cùng gật đầu. Sing theo họ bước xuống cái bến tạm thời để vào quán rượu. Một tấm bảng rộng bằng gỗ gắn trên cửa có hàng chữ ‘Leatherneck John’s Last Chance Saloon’ (Quán rượu cực kỳ may rủi của ‘Leatherneck John’s) và một hàng chữ phía dưới ‘Founded 1977’ (Thành lập năm 1977).
Hatcher ngạc nhiên khi họ bước vào chỗ ấy. Anh cứ ngỡ quán rượu là một nơi nghỉ sơ sài, tồi tàn ở giữa cái chợ buôn bán hàng lậu của bọn Ts’e K’am Men Ti. Nhưng căn phòng to ấy sạch sẽ và trang nhã. Một bên có khoảng 20 cái bàn ăn và một bàn bi da. Một người đàn ông da đen với mái tóc rậm bó thành đuôi ngựa đang nằm nghiêng ngủ trên chiếc bàn này. Hắn mặc quần trận màu xanh ô liu, áo sơ mi Hawaii và dùng chiếc áo khoác lông làm gối. Phía bên kia là quầy rượu, một cái quầy dài bằng gỗ sồi trang trí đẹp với mặt quầy bằng đá đen. Hatcher nói:
- Lần gần đây nhất mà tôi thấy một cái quầy rượu đẹp như thế kia là ở Paris.
- Nó đem từ một tụ điểm ở Mong Kok đến. - Cohen nói. - Theo chuyện kể lại thì Leatherneck John đã được toàn bộ chỗ này trong một cuộc chơi súc sắc và chuyển hết lên đây bằng thuyền, ở nơi này thì anh không thể nghe ngóng được gì cả đâu.
Quán vắng ngắt chỉ có ba người đàn ông kể cả gã đang ngủ trên bàn bi da.
Một người đàn ông to con đang ngồi trên một chiếc ghế cao nhâm nhi li bia. Hắn ta ít tóc hơn là những quả bóng bi da, mặc đồ ka ki, chiếc bụng to gầy gập trên chiếc dây lưng vải quân đội. Đây có thể là gã Hà Lan, Hatcher nghĩ thầm. Chiếc đầu hói của hắn bị phỏng nắng và đang tróc da. Những năm sống gian khổ trên sông nước đã tàn phá gương mặt của hắn, để lại một quả cầu phì nộn, đỏ ửng, chằng chịt những tĩnh mạch. Mũi hắn sưng lên và đầy mụn cóc, đôi con mắt lẩn dưới đôi mi dày cộm làm cho hắn có vẻ buồn ngủ.
Kế đó là Leatherneck John, một gã đàn ông khổng lồ, sừng sững, cao ít nhất là 1,9m và dễ dàng cân nặng 110 kí lô, mái tóc đỏ hớt sát da đầu, bộ râu rậm được cắt tỉa tươm tất che kín phần dưới khuôn mặt, hai tay chiếc áo ngụy trang được xắn lên đến tận vai để lộ ra những bắp tay to cỡ bánh xe tải. Leatherneck John trông như một ông già hạng siêu. Lực lưỡng là từ tuyệt vời để tả tầm vóc và thân thể hắn. Không mập nhưng to và rắn chắc không thể tưởng được. Mái tóc rậm cứng và đã ngả bạc. Đôi mắt lấp lánh sự vui tươi dường như hắn vừa nghe xong một câu chuyện tiếu lâm mà hắn chưa kịp phá lên cười. Một kiện tướng bóng đá về hưu, Hatcher nghĩ, hẳn phải vậy. Anh nhìn qua gã đàn ông to lớn và thây lá cờ sáu sọc, được ghim vào tường bằng con dao Marine K-Bar của Thủy Quân Lục Chiến.
- Không được phép mang vũ khí vào phòng, các anh cao bồi ạ!
Leatherneck John nói bằng một giọng thân thiện nhưng không cho tranh cãi. Hatcher và Cohen đưa vũ khí của họ cho Sing. Người cận vệ Tàu cài khẩu Aug nòng ngắn và khẩu 0,357 của Cohen vào thắt lưng rồi bước ra khỏi cửa dừng lại ngay, đứng dựa vào tường. Một tay súng người Tàu khác ở trên chiếc tắc ráng đã rời về phía sau, gần cần lái, ngồi đây với khẩu Uzi đặt dưới một chân.
Hatcher rảo bước đến quầy rượu. Bức tường phía sau quầy là một bức tranh hỗn hợp các thứ đồ vật của Hải quân. Huân chương treo lung tung: một Quả tim tím, một Thập tự Hải quân.
Hatcher không chú ý đến hai thứ này mà để mắt vào một khẩu M-60, hai khẩu M-16, một khẩu súng ngắn chống nổi loạn 870 và một khẩu 45 tự động nhà binh, các bức ảnh, các dây lưng và một cái bi đông. Quầy phía dưới là một đống lộn xộn các dây nịt đạn, hộp đạn và nhiều băng đạn.
Hatcher đưa ra một nắm tay, ngón cái đặt trên các đốt và chĩa thẳng ra. Đó là dấu hiệu “dap”, giữa các cựu chiến binh ở trong nước để tỏ rằng họ đã từng ở Việt Nam. Nghi thức này có thể thực hiện tiếp bằng các cái vỗ tay và búng đốt ngón tay để chỉ đơn vị mà họ đã phục vụ. Leatherneck John nhìn chằm chằm vào nắm tay, rồi nhìn Hatcher và một cái cười mỉm thoáng qua môi hắn. Hắn cũng chìa ra một nắm tay giống như thế, rồi mở một tủ đá kiểu cũ lấy ra hai lon bia. Hắn nhìn Hatcher đăm đăm với đôi mắt lấp lánh trong lúc khui nắp bia. Hắn đặt mạnh một lon bia lên quầy trước mặt Hatcher và nói:
- Tôi không bao giờ quên một khuôn mặt nào.
- Một bản tính đáng khâm phục. - Hatcher thì thầm.
- Tôi đã gặp anh một lần ở Đà Nẵng. Lúc ấy là vào năm, ờ.... để xem, có lẽ là năm 73, khoảng đó.
Hatcher mỉm cười nhưng không nói gì cả. Leatherneck John nói tiếp:
- Anh là Hatcher. Tôi nhận ra anh ngay khi anh vừa bước vào cửa. Tôi đã ở với một tay trong đội Seal, hắn biết anh là ai.
- Anh nói có căn cứ đấy. - Hatcher thì thầm.
- Rất nhiều chuyện về anh ở trên này. - Leatherneck John chậm rãi gật đầu nói và nhếch mép cười.
Hatcher đáp:
- Thật à?
Leatherneck John gật đầu, tiếp:
- Tôi nghe đủ thứ chuyện. Tôi chẳng biết anh tốt hay xấu nữa. Những người bình luận không kết luận gì.
Gã đàn ông nằm trên bàn bi da cựa quậy, hơi xoay đầu và nhìn đăm đăm với vẻ ngái ngủ qua vai về phía Hatcher và Leatherneck John.
- Đừng tin mọi điều anh đã nghe. - Hatcher nói. Anh nâng lon bia lên chúc mừng và uống một hơi dài bia ướp lạnh. Anh quyết định thử cầu may với Leatherneck John.
- Tôi đang tìm một người. Một phi công Hải quân tên là Cody, bị rơi ở vùng trung châu năm 1972.
- Chưa bao giờ nghe nói về hắn. - Leatherneck John nói, rồi làm việc để chấm dứt câu chuyện.
- Anh ấy có thể đã ở trong một trại tù binh quanh vùng Muang.
- Chưa bao giờ nghe nói tới hắn. - Leatherneck John nhắc lại và chồm người qua quầy rượu về phía Hatcher. - Này, cái anh gặp ở đây là một tình thế rất dễ thay đổi. Tôi muốn nói không có bất cứ lí do gì để một kẻ bò lên đây dù chỉ để chào nhau chứ đừng nói đến công việc, đồng ý chứ? Ở trong quán này, giống như là ở thành phố Danzig tự do, anh hiểu chứ. Anh chớ hỏi. Anh đừng trả lời. Anh hãy sống cho hòa thuận. - Hắn vạch một vòng tròn trong không khí, phất tay chỉ quanh phòng. - Ở đây, đó là luật lệ của tôi. Không ai cãi lại tôi. Anh có việc, trao đổi với tôi. Và chỉ có vậy thôi.
- Cám ơn. - Hatcher nói.
Gã đàn ông da đen nằm trên bàn bi da đã xoay người về phía nhóm người, vờ ngủ nhưng đang theo dõi mọi việc qua đôi mắt hé mở. Khi Hatcher quay về bàn, John từ quầy rượu gọi:
- Xin chào Miss Chien, chào mừng cô trở lại quán Cực Kỳ May Rủi này. Sẽ là gì đây? Cơm chiều, nhậu nhẹt hay trao đổi hàng hóa?
- Có rượu mạnh không? - Cohen hỏi.
- Loại tốt nhất. Armagnac 78.
- Họ là khách của tôi, - người đàn ông ngồi ở quầy rượu nói nặng giọng Hà Lan và bước về phía họ, - ghi vào giấy tính tiền của tôi.
Hắn ta nắm lấy tay Daphne trong bàn tay to rộng, lông lá và bóp nhè nhẹ trong khi đánh giá Cohen và Hatcher.
- Mừng gặp cô. - Hắn nói.
- Tôi cũng thế, anh bạn Hà Lan ạ! Đây là Tsu Fi. - Nàng đáp và hất đầu về phía Hatcher - Và anh Tom bạn của chúng tôi.
- Tom, hừ, - hắn nói với vẻ nghi ngờ, - Tôi nghe nói anh đến câu cá.
Hatcher thoáng nhăn mặt rồi cười khi nhìn lại gã Hà Lan, anh làu bàu:
- Đi tìm một người bạn cũ thôi.
Gã Hà Lan khơi chuyện:
- Tôi thấy anh đến gặp John.
- Chúng tôi nói chuyện vui thôi.
- Vâng, chắc chắn rồi. Thôi, chúng ta hãy ngồi xuống nói chuyện rồi tôi còn phải đi.
Họ đến một chiếc bàn và cùng ngồi xuống. Hatcher nhìn trừng trừng, đánh giá gã lái buôn chắc nịch này. Đôi mắt sưng húp của gã đỏ như máu và môi cong lên như một nụ cười chế nhạo muôn thưở.
Gã Hàn Lan nghiêng người qua bàn nói nhỏ với Hatcher:
- Này, tôi biết anh là ai, đồng ý chứ? Không sao đâu. Tôi chẳng quan tâm đến mâu thuẫn giữa anh và Sam-Sam.
- Anh biết gì về mâu thuẫn giữa tôi và Sam-Sam? - Hatcher hờ hững nói khàn khàn
- Ừ, anh thừa biết họ đồn đại như thế nào rồi.
Hatcher đăm đăm nhìn gã lái buôn, nói:
- Không. Chuyện đồn đại thế nào?
Gã Hà Lan nhìn sang Daphne như muốn hỏi: “Sao tên Mỹ khó tính thế”. Nàng nhìn đi chỗ khác. Đấy là cách chơi của Hatcher và nàng quyết định đứng ngoài cuộc. Gã Hà Lan lại nói:
- Tôi chẳng đi tìm chuyện rắc rối. Tôi đến theo yêu cầu của cô Daphne, đồng ý chứ? Tôi biết tất cả về anh, Âm Binh. Tôi chỉ muốn giữ cho chuyện êm xuôi, hiểu chứ? Đừng làm phiền cho tôi, chúng nó biết tôi đang nói chuyện với anh.
Âm Binh. Người lính trong bóng tối.
Từ trước đến nay chưa có ai gọi anh bằng cái tên đó ngay trước mặt anh. Nhưng Hatcher cho qua. Anh nói:
- Quả là lạ. Tôi cho rằng có sự hiểu lầm giữa chúng ta.
Gã Hà Lan nhướng mày và cười:
- Hiểu lầm ư? Vâng, đúng đấy. Một sự hiểu lầm nào đó. Sam-Sam bảo rằng anh nợ hắn năm chục ngàn dollar. Và tiền lời tương ứng nữa.
- Thật khôi hài, - Hatcher thì thầm, lắc đầu và cười khúc khích, - một trò đỏ đen đối với Sam-Sam.
Gã Hà Lan nói:
- Tôi không nghĩ đấy là vấn đề tiền bạc mặc dù nó cũng đáng kể đấy, tôi tin là thế. Hắn bảo anh đã làm nhục hắn.
Hatcher nói:
- Đồ chết tiệt. Những tên cướp có súng. Tôi cũng thiệt ít nhiều.
- Hắn kể chuyện xảy ra không phải như thế. - Gã Hà Lan nói, rồi uống một hớp bia và lấy tay quệt môi.
- Anh có thể nghe mọi điều anh muốn nghe. - Hatcher thì thầm, khoát tay phủ nhận câu nói.
Gã Hà Lan đảo mắt nhanh nhìn chung quanh quán rượu vắng người và nói: “Sam-Sam bảo anh cùng công ty với hắn”.
Hatcher cười khúc khích, ngả người ra sau, vờ sửng sốt. Anh lắc đầu, bảo:
- Nói tiếp đi.
- Hắn bảo anh đã cho hắn vào xiếc. Rằng anh đã dùng tiền của hắn, mua súng ống bắn cho quân du kích Chem rồi bọn Chem dùng súng ống đó chống lại những người mà hắn sắp sửa bán cho số súng ống đó.
- Tôi chẳng phải là loại lọc lừa đó. - Hatcher hờ hững nói. Cả Daphne, Cohen và gã Hà Lan đều nhìn đăm đăm xuống sàn nhà không muốn phản đối. Gã Hà Lan cắm một điếu thuốc vào cái tẩu bằng ngà, dùng cây quẹt bằng vàng mồi thuốc. Hắn ngả người ra sau, thở những vòng khói to nhỏ lên trần, nhìn chúng tan đi.
Leatherneck John mang thức uống lại bàn.
- Quí vị cần gì thêm xin cứ gọi. - Hắn nói rồi quay về quầy.
Hatcher hỏi:
- Sam-Sam còn nói gì nữa?
Gã Hà Lan đáp:
- Hắn bảo anh là quỷ dữ. Hắn bảo anh có khả năng nói chuyện hấp dẫn, anh nói dối tỉnh bơ và giết người như ngóe. Hắn bảo anh có thể thương lượng với cả Thượng Đế để dành phần lợi nhất.
- Hắn biết anh rõ quá. - Cohen nhăn mặt nói.
- Nghe như hắn đang tự tả mình. - Hatcher nói.
Gã Hà Lan cùng cười và nâng li bia chào ngang ngực, hỏi:
- Vậy thì... chuyện gì thế?
- Tôi đang cố tìm xem Việt Cộng có một trại tù lưu động nào tên là Huie-kui không? Có lẽ họ đã gọi nó là cái trại ma. Chuyện này có vào khoảng cuối 1971 đầu 1972.
Gã Hà Lan nhìn Daphne rồi quay lại nhìn Hatcher.
Daphne lấy ra một phong bì đặt lên góc bàn và đè tay lên phong bì, nói: “Năm trăm dollar Hong Kong, như đã thỏa thuận, nếu nguồn tin đáng tin cậy”.
Hatcher lần đầu tiên mới nghe nói đến việc trả tiền cho gã Hà Lan, nhưng anh không can thiệp vào. Anh sẽ trả lại Daphne sau. Bây giờ chẳng phải lúc để bàn đến việc ấy.
Gã Hà Lan nói:
- Họ có rất nhiều trại ở bên ấy.
- Nó phải nằm phía bên kia dãy núi gần Muang.
Gã Hà Lan gật đầu nói:
- Muang, vâng, bên kia dãy núi.
- Chắc đúng là nó - Hatcher nói, mắt sáng lên, mạch đập nhanh hơn - Họ có di chuyển nó lòng vòng không?
- Có, để tránh trực thăng. - Hắn chỉ tay lên trời.
- Anh làm ăn với họ à?
Gã Hà Lan nhún vai: “Sao?” Hatcher lấy ra tấm hình của Cody và nàng Pai mà Schwartz đã cho anh, nói: “Này, tôi chả để ý đến cái trại hoặc cái gì Việt Cộng làm. Chiến tranh đã chấm dứt. Tôi đang tìm một người bạn của tôi”.
- Tất cả bọn Mỹ các anh đều nghĩ rằng bạn bè mình còn sống ở bên ấy. - Gã Hà Lan nói.
Hatcher đưa cho hắn tấm hình vừa nói vừa chỉ vào Cody.
- Gã này đây.
Gã Hà Lan cầm tấm hình để cách mặt chừng vài phân nheo mắt nhìn. Hắn đổi chỗ xoay bức hình ra ánh sáng, nhìn thật kĩ đến một phút. Trong lúc gã ngắm tấm hình thì Daphne nhìn ra cửa sau và bỗng cứng cả người. Hatcher vô tình đưa mắt nhìn theo nàng.
Billy Tử Thần đứng ở cửa, khẩu AK-47 gác trên tay. Leatherneck John nhìn trừng trừng vào hắn, nói:
- Ê, Billy! Cất vật ấy đi. Mày biết luật lệ mà.
Gã đàn ông da đen nhìn chằm chằm qua phòng về phía bàn Hatcher. Leatherneck John lấy khẩu súng ngắn xuống, lắc mạnh cổ tay, ổ đạn trượt vào nòng.
- Mày điếc à? - Leatherneck nói, đặt khẩu súng ngắn lên quầy chĩa nòng về phía Billy Tử Thần, - Nhà tao, luật lệ của tao. Súng ống phải để ngoài.
Billy Tử Thần chép miệng, bước ra cửa, đặt khẩu tiểu liên dựa vào tường. Leatherneck lại hét lên:
- Cả cây “độp nhí” nữa.
Billy móc khẩu súng lục ở thắt lưng ra và đặt bên cạnh khẩu AK-47. Hắn bước lại quầy rượu, đi như khiêu vũ, hai tay đung đưa phía trước như một võ sĩ đánh bốc.
- Bia Nhật ướp lạnh. - Hắn nói líu lo giọng xứ Haiti.
Leatherneck John mở một chai bia và đặt trước mặt.
- Mấy tên Mỹ ngồi với tay Hà Lan là ai vậy? - Billy Tử Thần hỏi.
Leatherneck John nhìn hắn đăm đăm nhiều giây. John nói:
- Harry Truman, Winston Churchill và Eleanor Roosevelt.
Đôi mày của gã Haiti nhíu lại.
- Mày biết là không nên hỏi gì trong quán này, Billy. Hãy nói như tao: chả phải việc của mình.
Ngoài bàn gã Hà Lan không để ý đến Billy Tử Thần. Hắn nhìn vào Hatcher đáp:
- Có thể.
- Có thể sao?
- Vâng, ốm hơn. Trông rất mệt mỏi. Và có một hàm râu vì thế tôi không dám chắc.
- Hắn có bệnh không?
Gã Hà Lan cong môi rồi lắc đầu nói:
- Không, không bệnh. Có lẽ... ma túy.
- Hắn dùng ma túy à?
- Tôi cho là thế.
- Loại nào?
- Ừ... tôi muốn nói có hút chút ít. Có thể là bạch phiến.
- Xì ke và cần sa à?
- Có thể.
- Anh bán mấy thứ ấy à?
- Ma tuý chẳng phải là thứ tôi bán, nhưng,.. - Hắn bỏ lửng câu nói ở đấy. Ở quầy rượu Billy Tử Thần hạ cặp kính mát xuống mũi và nhìn đăm đăm trên gọng kính về phía bàn. Hatcher trừng mắt nhìn lại. Bốn mắt giao nhau một lúc rồi gã Tử Thần quay mặt đi. Hatcher hỏi:
- Lúc ấy là thời gian nào?
- Lâu lắm rồi. Để xem nào, lúc ấy tôi đang chuyển lụa Thái vào Sài Gòn với gã Henrickson người Phần Lan và hắn bị chết vào mùa Đông năm 75. Vào mùa hè, vâng, lần cuối cùng là vào khoảng tháng 6 năm 74.
- 74, - Hatcher nói hơi to, - và Cody là tù binh à?
- Vâng.
- Anh đã nói đó là lần cuối. Thế anh gặp anh ấy bao nhiêu lần?
- Nếu đúng là anh ta thì có lẽ ba, bốn lần. Nhưng tôi không tin chắc có phải anh ta không. Tôi chỉ chắc đúng là cô gái này nhưng...
- Cô gái này? - Hatcher cắt ngang.
- Vâng. Cô gái thì tôi chắc chắn là đúng.
- Anh đã trông thây cô gái này cùng với người đàn ông này à? - Hatcher lặp lại và chỉ vào ảnh Cody và Pai.
- Tôi đã trông thấy cô gái này. Tôi cho đúng là gã, như tôi đã nói...
Hatcher nói: - Tôi thật là đồ chó đẻ!
- Tại sao ông lại không hỏi John. Người ta đồn có lần hắn đã ở trại tù.
- Ở đâu?
Gã Hà Lan nhún vai, đáp:
- Hỏi hắn ấy.
Gã giơ một tay lên làm hiệu và Leatherneck John mở một chai bia nữa đem đến bàn. Hatcher đưa cho hắn tấm hình và hỏi:
- Có biết ai trong những người này không?
John cầm tấm hình xem và hỏi lại:
- Tại sao tôi lại biết?
Hatcher nói:
- Tôi không biết. Anh ta là một tù binh chiến tranh. Tôi nghe nói anh cũng thế. Tôi nghĩ có thể...
- Tôi không bị mắc bẫy đâu. - John nói không có vẻ gì thù oán.
- Tôi chỉ hỏi thôi.
- Tôi sẽ nói với anh đúng như câu tôi đã nói với Billy, anh bạn cao bồi ạ! Quanh đây không có quá khứ. Khi tôi thức dậy vào buổi sáng, cuộc sống lại sang trang. Tôi quên nhiều hơn là nhớ.
Hatcher nói:
- Hắn là một người bạn của tôi. Tôi đang cố giúp hắn.
- Đừng đùa. Giả thử hắn không cần giúp thì sao.
- Có thể như thế. Nếu tôi tìm ra hắn và đúng như anh nói thì tôi bỏ đi ngay.
- Thế tốt cho anh hơn. - John lại nhìn tấm hình và đặt nó lên bàn. - Người đàn bà xinh đấy. - Hắn nói rồi trở về quầy rượu.
Hatcher lầm bầm:
- Semper Fi [1], anh bạn.
John ngừng bước, quay lại phía anh.
- Thế là thế nào?
- Semper Fi. Anh đã là lính thủy, anh biết điều ấy có nghĩa là gì. Người này và tôi là bạn thân. Có thể anh ấy đang kẹt. Có thể anh ấy cần gì đấy. Tôi muốn gởi quà, thế thôi.
- Thế thì cứ đi tìm hắn mà gởi quà.
- Ừ, đúng.
Leatherneck John mỉm cười vui vẻ quay về quầy rượu, nhưng Hatcher quyết định thử một lần nữa. Anh đi theo đến quầy. Billy Tử Thần nhìn chằm chằm dọc theo quầy rượu bằng gỗ sồi về phía anh và hỏi:
- Anh ở đây để mua hay bán?
- Chả mua bán gì cả. Tôi là khách du lịch. - Hatcher thì thầm. Billy Tử Thần cười chế giễu, ném một nắm tiền cắc lên quầy và bỏ đi. Hatcher quay lại và nghiêng người về phía Leatherneck John hỏi:
- Thế còn cô gái? Anh có bao giờ gặp cô gái chưa?
- Tôi đã bảo anh là tôi bị đãng trí, chàng cao bồi ạ! Quỉ quái thật! Tôi chả còn nhớ họ của tôi nữa.
Hatcher đặt tờ 100 dollar Mỹ lên quầy rượu.
- Thú vị đây! - Leatherneck John nói - Đã lâu, tôi chả trông thấy tờ nào. Quanh đây đa số là dollar Hong Kong.
Hắn nhìn đăm đăm tờ giấy bạc một lát, nhặt nó lên và ấn nút máy thu tiền. Quay lại Hatcher hắn nói: “Tôi bán rượu, thức ăn và sự im lặng. Anh muốn đớp một chút, nhậu một tí, một điếu thuốc, chắc tôi có thể giúp anh được”. Hắn đếm ra 95 dollar Hong Kong đặt lên quầy. “Và đây là tất cả những cái tôi có để bán, anh cao bồi ạ!”.
- Cám ơn. - Hatcher nói.
- Không có chi. - John nói, miệng vẫn mỉm cười.
Hatcher nhặt mớ tiền lẻ và quay về bàn. Cohen điềm tĩnh nói:
- Tôi không thích cái bầu không khí đang âm ỉ này. Anh đã lấy được tin tức cần cho anh nếu không còn gì khác thì...
- Tôi cho rằng anh có lí. - Hatcher nói. Anh kéo ghế cho Daphne và cả bọn cùng đứng lên. Gã Hà Lan đặt bàn tay mập ú lên phong bì và nhướng mày nhìn Daphne. Hatcher nói:
- Của anh đây.
- Bedankt [2]. - Gã Hà Lan vừa nói vừa nhét chiếc phong bì vào túi áo trong. “Chúc trở về bình an”. Gã đi ngang qua phòng đến lay gã đàn ông đang nằm trên bàn bi da:
- Đi thôi.
- Ư, ừ. - Gã da đen có búi tóc đuôi ngựa trả lời giọng ngái ngủ.
- Hãy đưa tôi trở về. - Anh đến ngay nhé. - Gã Hà Lan nói cộc lốc và bỏ đi.
Cohen nói:
- Gã đó làm tôi lo ngại. Hắn quá chú ý đến bọn mình.
- Tò mò thôi, - Hatcher nói. - Quỉ ơi, đó không phải...
Anh ngừng nói nhìn ra cửa sổ về phía gà Hà Lan đã ra tới chiếc Chris Craft và đang chuẩn bị rời bến. Anh vội nói:
- Tôi vừa chợt nghĩ đến một điều nữa. Tất cả các bạn hãy trở về chiếc tắc ráng. Tôi cần hỏi gã Hà Lan một câu nữa.
- Nhanh lên! Chúng ta ra khỏi đây càng sớm càng tốt. - Cohen bồn chồn trả lời.
Gã đàn ông với búi tóc đuôi ngựa ngồi dậy trên cạnh bàn bi da, hai chân đung đưa trên sàn, nhìn Hatcher bỏ đi. Hắn nhảy xuống sàn và lững thững bước về phía cửa.
Bên ngoài, hơi nóng đổ xuống rừng cây như một thứ nước ngọt nồng ấm. Gã Hà Lan đang kiểm tra lại xăng nhớt. Hắn nhìn lên vừa lúc Hatcher đến gần chiếc thuyền. Hắn hỏi:
- Gì nữa?
- Một điều nữa. Anh có biết gã Taisung ở trại giam ra sao không?
- Hắn đã trốn. - Gã Hà Lan không ngừng tay trả lời.
- Taisung trốn đi đâu?
Gã Hà Lan đóng nắp bình xăng lại và thông sạch các ống dẫn xăng trong lúc suy nghĩ về câu hỏi này. Hắn bước tới mạn thuyền đứng cạnh Hatcher. Trong lúc họ nói chuyện, Hatcher nhận thấy có cái gì đang trôi xuôi ở bờ sông chỗ khúc ngoặt. Thì ra là một chiếc thuyền to đang từ từ trôi, lượn vòng qua khúc quẹo gắt trên dòng sông hẹp. Gã Hà Lan nói:
- Bangkok.
- Bangkok à?
- Vâng, Bangkok.
- Một điều nữa - Hatcher nói - Theo anh hai chữ Thai Horse (Ngựa Thái) có nghĩa gì?
Cohen ngạc nhiên khi nhắc đến bức tượng của anh ta. Gã Hà Lan cũng lộ vẻ ngạc nhiên.
- Anh nghe nói về Thai Horse ở đâu?
Tim Hatcher đập rộn lên. Cohen hình như còn ngạc nhiên hơn.
- Đó đây. Nó nói lên cái gì? - Hatcher thúc giục.
- Đồn đại thôi.
- Đồn đại thế nào? - Hatcher hăm hở hỏi.
- Có một băng buôn lậu bạch phiến ở Bangkok tên là Thai Horse. Một bọn rất nguy hiểm, không nên dây với bọn chúng. Thế thôi. Chuyện trong lúc nhậu nhẹt, tôi nghĩ thế.
Cohen cố giấu sự ngạc nhiên của mình. Hatcher ngập ngừng. Anh càng đi sâu vào thì câu chuyện càng có vẻ tệ hại hơn cho Cody. Gã Hà Lan biết được đến đâu?
- Thế anh không tin việc đó à?
Anh hỏi và cố giữ cho giọng nói không biểu lộ chút xúc động nào.
- Tôi chỉ tin cái gì mắt thấy và tay sờ thôi. - Gã Hà Lan đáp.
- Nhưng có thể đúng? - Hatcher thôi thúc.
Gã Hà Lan khoát tay nói:
- Phải..., anh biết đấy, - ở Bangkok mọi việc đều có thể có.
Gã nhìn về phía chiếc thuyền to. Hatcher lờ đi. Anh cần một câu trả lời nữa. Nhưng trước khi anh có thể hỏi thì mặt gã Hà Lan biến sắc. Đôi mắt hắn trợn lên, hắn nói:
- Ôi! Thượng Đế!
Hatcher quay lại nhìn. Chiếc thuyền to đã đi hết nửa khúc quanh trên sông. Đứng trước mũi thuyền là Sam-Sam. Hatcher thoáng giật mình, một sự pha trộn giữa lo sợ và ngạc nhiên, anh đã tưởng là bọn chúng sẽ đến bằng ngả kia cơ. Lúc này Sam-Sam đang ở giữa họ và chiếc thuyền Điếu Thuốc. Họ bị chia cắt và có ít nhất hai chục người vừa đàn ông vừa đàn bà trên chiếc thuyền to.
Trong quán rượu, Leatherneck John thốt lên “Lạy Chúa, lại có cuộc đụng độ tóe lửa”. Gã Hà Lan thì thầm với Hatcher trong nỗi kinh hoàng:
- Đấy là Sam-Sam. Hãy rời khỏi đây, bạn! Coi như tôi chưa từng quen anh.
Hatcher túm chặt lấy áo khoác của hắn. Giọng nói đanh thép của anh không tranh cãi:
- Anh có thấy Taisung ở đấy không?
Gã Hà Lan vội lắp bắp đáp:
- Người ta đã thấy hắn ở đó. Bây giờ hắn đang làm ăn bên ấy. Hắn là người Thái.
- Người Thái? Anh biết hắn xưng tên là gì không?
- Wol Pot, - gã Hà Lan kêu lên và vùng ra khỏi tay Hatcher. - Hắn tự xưng là Wol Pot.



[1] Semper Fi có nghĩa là “luôn luôn trung thành” theo câu Semper Fidelis, khẩu hiệu của Thủy quân lục chiến Mỹ.
 [2] Cảm ơn, tiếng Hà Lan.

 


 
0

CUỘC PHÒNG THỦ HAY NHẤT

 
Với nguồn tin Wol Pot đã từng ở trại giam Huie-kui, tim của Hatcher đập nhanh trong lúc anh chạy lao xuống cầu tàu về phía tắc ráng. Cohen đang nhìn chiếc thuyền to của Sam-Sam qua ống nhòm, nói:
- Tôi cho là hắn chưa biết chúng ta đang ở đây. - Anh hạ ống nhòm xuống và nhìn Hatcher. - Có lẽ chúng ta phải chạy nhanh về chiếc thuyền Điếu Thuốc.
Hatcher cầm lấy ống nhòm xem xét chiếc thuyền to.
- Hắn sẽ hãm máy lại ngay một khi hắn nhận ra tôi. Tại sao các bạn không đi trên thuyền này để tôi lên bờ chạy về chỗ nhánh rẽ gặp các bạn ở đấy.
- Không! - Daphne nói - Chúng ta đã cùng nhau đến, chúng ta sẽ cùng nhau về.
Hatcher vẫn nhìn chiếc thuyền to, nói khẽ:
- Đây không phải là lúc để làm anh hùng.
- Daphne có lý. - Cohen nói.
- Này, chỉ có tôi là người hắn muốn giết. Lời thề sống chết là giữa hai chúng tôi thôi chứ không phải các bạn.
Họ nhìn qua ống nhòm thấy Sam-Sam bước dài trên boong thuyền và vươn vai. Một trong những người đàn bà từ trong cabin bước ra. Ả đang xốc lại quần áo và trông cũng gớm ghiếc như Sam-Sam...
- Thấy hắn chứ? - Cohen hỏi, tay vẫn không hạ ống nhòm xuống.
- Ừ hứ.
- Chơi bời một tí buổi sáng, - Cohen nói. - Phì! Nhìn cái ả đàn bà đó xem, ả làm cho giòi bọ cũng phải há hốc mồm.
- Đây không phải là cuộc thi Hoa Hậu Thế Giới. - Hatcher nói.
- Giống Hoa Hậu năm 1912 hơn. - Cohen nói trong khi xoay ống nhòm kiểm tra phầm còn lại của chiếc thuyền to.
Trong lúc Hatcher nhìn thì có một gã đàn ông đến bên Sam-Sam, gã da màu ô liu rám nắng, mặc chiếc sơ mi trắng mở phanh đến bụng. Hai dây nịt súng vắt chéo trên ngực từ vai xuống hông đeo một khẩu M-16 lơ lửng ở vai. Hắn còn đeo khẩu súng lục ở thắt lưng và một con dao rừng. Ba gã đàn ông đứng ở phía trước boong thuyền, nhìn xuống nước và tán gẫu.
- Anh nói đúng, bọn chúng trông như đang chờ một cuộc tấn công. - Cohen nói.
- Kia có phải là thằng người Iran không? - Hatcher hỏi.
- Ừ, thằng Batal. - Cohen hạ ống nhòm xuống. - Thế bây giờ chúng ta làm gì?
- Tôi sẽ lao vào rừng, đi bộ trở lại chiếc thuyền Điếu Thuốc. - Hatcher nói.
Daphne xuất hiện sau lưng họ, nói:
- Tôi không nghĩ thế.
Ở phía xa cuối cầu tàu, Billy Tử Thần đang nói vào máy bộ đàm. Hatcher chĩa ống nhòm nhìn tên dân Haiti đang vừa nói vừa chỉ tay về phía họ, anh hỏi:
- Anh nghĩ chúng đã phát hiện ra tôi chứ? - Anh nói thêm - Phải, hắn đã phát hiện ra tôi.
Anh quay ống nhòm về phía chiếc thuyền to và nhìn thẳng vào ống nhòm của Sam-Sam. Tên cướp biển hạ ống nhòm xuống. Hắn nhếch mép cười đểu cáng, rồi nói “Hatcher”. Hắn nhấc khẩu AK-47 và lên đạn.
- Vừa gặp đã yêu ngay. - Cohen nói.
- Phía sau chúng ta. - Daphne nói.
Billy Tử Thần và một tên cướp khác đang xuống cầu tàu đi về phía họ.
- Sing, anh và Joey hãy lo hai thằng đó. - Hatcher ngắt lời.
Tay gangster người Tàu gật đầu gọn lỏn và cùng Joey nhấc mấy khẩu Uzi của họ leo lên cầu tàu, chậm rãi bước về phía Billy Tử Thần.
Từ cửa quán rượu nhìn ra Leatherneck John nói: “Lạy Chúa, sắp bắt đầu rồi”.
Bên chiếc tắc ráng Hatcher quyết định tức thời. Bọn chúng đông hơn hẳn, hai mươi hay ba mươi chọi một. Hatcher túm lấy cùi tay Cohen và đẩy anh ta lên chiếc tắc ráng. Anh hét to hết sức “Daphne, hãy ẩn vào trong quán rượu, tránh ra khỏi tầm đạn”.
Anh xoay chìa khóa mở máy chiếc tắc ráng.
- Giữ tay lái! - Hatcher ra lệnh cho Cohen và vớ lấy chiếc cặp sách chạy ra phía trước chiếc thuyền dài, hẹp và nằm sát xuống đáy. Anh mở cặp lấy ra một khối nhỏ chất dẻo C-4 màu xám. Anh nhanh nhẹn nắn nó thành môt sợi dây to dài khoảng 6 tấc và dày khoảng 5 phân.
Cohen hỏi:
- Chúng ta đi nơi chết tiệt nào đây?
- Thẳng tới chiếc thuyền to. - Hatcher thét lại.
- Cái gì?
- Hãy tin tôi!
- Anh khùng rồi, Hatcher, anh đúng là đồ khùng thật rồi. - Cohen la lên trong lúc anh bẻ lái chiếc thuyền nhỏ đi về phía chiếc thuyền to của Sam-Sam.
Daphne từ từ lùi lại quán rượu của Leatherneck John, nhìn chiếc tắc ráng và cuộc đụng độ đầu giữa những người của Cohen - Sing và Joey - với Billy Tử Thần và thủ hạ của hắn. Leatherneck John nắm lấy cánh tay Daphne kéo nàng vào trong quán, lầm bầm:
- Ở ngoài ấy cô sẽ tự giết mình.
- Anh giúp được không, làm ơn với? - Daphne khẩn khoản.
- Chả phải chiến trường của tôi, thưa bà. - Leatherneck John nhấn mạnh. - Tôi phải sống ở đây.
- Thế thì cho tôi một khẩu súng! - Nàng rít lên, đôi mắt bốc lửa vì giận giữ và lo sợ.
Gã da đen có búi tóc đuôi ngựa nhìn đăm đăm ra cửa.
Chiếc tắc ráng đang chạy ngoằn ngoèo về phía chiếc thuyền to. Khoảng năm sáu tay súng đang bắn vào nó. Đạn xé rách chiếc lều phên phía sau thuyền làm nó bung ra rơi tung tóe trên mặt nước. Cohen lái con thuyền chạy tránh đạn và lao về phía chiếc thuyền to, còn Hatcher nằm ở phía trước, bắn từng hồi trong lúc anh quấn sợi dây chất C-4 quanh mũi thuyền. Anh rống lên:
- Chạy tránh đạn của chúng.
Trên bờ Sing và Joey đã lên đến cầu tàu. Họ ở cách Billy Tử Thần và tên thủ hạ của hắn khoảng một nửa chiều dài của sân đá banh. Hai người Tàu này dừng lại. Sing ra lệnh:
- Không đi xa hơn nữa.
Trong lúc anh đang giơ tay lên thì một tên trong bọn thủy khấu của Sam-Sam từ phía sau góc quán rượu nhảy ra đâm một dao vào lưng Joey ngay phía trên hông. Joey quay lại gầm lên giận dữ, túm lấy kẻ tấn công, nhưng vết đâm chí tử đã làm hai tay gã Tàu xuội lơ, rơi từ cầu tàu xuống sông. Sing chộp lấy cổ thằng kia bẻ gãy bằng một cú vặn thép. Nó rũ ngay xuống. Sing quay sang phía Billy Tử Thần và tên thuộc hạ bắn một phát xuống cầu tàu. Viên đạn ghim trúng tên thủ hạ ngang ống quyển, hắn ngã bệt xuống cầu tàu rống lên. Khi Sing bắn phát thứ hai vào tên cướp vừa ngã xuống thì Billy Tử Thần nổ luôn hai phát. Các viên đạn cắm phập vào Sing. Sing khuỵu xuống nhưng còn cố đứng lên, nổ súng nữa. Gã Tử Thần lại bắn tiếp Sing ngã sấp xuống, chết ngay.
- Khá gay đấy. - Leatherneck John nói.
Gã đàn ông búi tóc đuôi ngựa đáp:
- Tôi đoán bây giờ là hai mươi chọi hai, chênh lệch ghê gớm như tôi đã nghĩ.
- Chênh lệch chả có nghĩa chó gì ở đây cả. - Leatherneck John nói.
Gã đàn ông búi tóc đuôi ngựa bước dứt khoát về phía quầy rượu và lấy khẩu M-60 treo ở phía sau xuống, cuộn tròn phía dưới khẩu súng trên một cái kệ là một dây nạp đạn đầy. Hắn vắt sợi dây đạn lên một bên vai và quay đầu ra cửa.
- Đứng yên! - Leatherneck John bảo.
- Đừng lo, - gã đàn ông búi tóc đuôi ngựa nói - Tôi sẽ ra ngoài.
- Nhưng không phải với súng của tao.
Gã đàn ông quay mũi súng về phía Leatherneck John:
- Tôi mượn. - Hắn nói dứt khoát lúc bước ra cửa.
Leatherneck John chẳng nói được gì. Hắn đứng nhìn theo mồm há hốc, hai tay chống nạnh.
Billy Tử Thần chạy ngang qua quán rượu, phóng xuống bờ sông, quay lưng về phía gã búi tóc đuôi ngựa.
Trên thuyền, Hatcher đã quấn xong sợi dây chất C-4 quanh mũi thuyền. Anh bật nút một công tắc nhỏ màu đen và mọp sát đầu xuống, với tay ra đằng trước, gài chặt nó vào dây chất nổ mềm. Đạn cày một đường dài theo lan can thuyền cách tai Hatcher vài phân. Chiếc thuyền to vùn vụt lao tới.
Hatcher quay lại, bò về cabin bằng phên đan, bảo Cohen:
- Nào đi!
- Đi đâu?
- Phải rời ngay khỏi đây. Chiếc thuyền này sắp nổ tung lên trời trong giây phút.
- Sao anh không bảo tôi là anh sẽ làm một việc như vậy? - Cohen hét lên.
Đạn xé toạc lan can thuyền gần anh ta. Cohen điên tiết lên muốn tiêu diệt. Anh đứng dậy, bỏ tay lái, cầm khẩu súng đưa thẳng ra phía trước, bắt đầu nổ khẩu 357 về phía Sam-Sam.
- Chúng ta phải chuồn thôi! - Hatcher kêu to và phóng thẳng vào bụng Cohen, đẩy người đàn ông nhỏ con văng ra sau đập vào vách phên. Bức vách đổ sập xuống. Hatcher và Cohen lao qua ca bin mỏng mảnh ra khỏi con thuyền đang phóng nhanh và rơi xuống sông. Chiếc tắc ráng không người lái phóng điên cuồng về chiếc thuyền to. Hatcher và Cohen đập xuống nước mạnh đến nỗi Hatcher choáng váng mất một lát. Anh cảm thấy thân thể Cohen vặn vẹo và trượt ra xa anh. Hatcher lộn một vòng trong dòng nước, giang rộng hai tay giữ cho người đứng yên. Anh ngồi trên mặt nước, hít một hơi dài và lặn sâu xuống, hai tay quờ quạng xung quanh.
Chẳng có gì cả.
Anh trồi lên hít một hơi khác rồi lại lặn xuống, quạt tay thật mạnh và sờ soạng tìm kiếm trong dòng nước tối đen, vẫn không thấy gì cả. Đến khi anh trồi lên thì anh trông thấy đầu Cohen bập bềnh cách anh vài thước. Cohen đã gần hồi tỉnh, chỉ còn mất phương hướng.
Hatcher bơi ba sải thật mạnh, đưa tay ra nắm được tay áo của Cohen: “Tôi nắm được anh rồi, bạn ạ! Yên tâm đi”.
Phía sau họ chiếc tắc ráng phóng thẳng đến chiếc thuyền to. Batal nhìn nó và trông thấy sợi dây chất nổ màu xám chung quanh mũi thuyền. Hắn thét lên và phóng qua mạn thuyền đúng lúc chiếc tắc ráng đâm sầm vào chiếc thuyền to. Sam-Sam vội nhảy sang một bên, chiếc tắc ráng đâm vào, tung lên khỏi mặt nước, mũi chiếc tắc ráng nhô cao hơn thành chiếc thuyền to vài tấc. Thân nó vỡ tan và mũi thuyền đâm sầm vào đống máy ti vi, đè vỡ loảng xoảng các bóng đèn, làm bắn tung tóe các mảnh vỡ. Các bóng đèn nổ như pháo. Cái công tắc đập vào khung một chiếc ti vi và khối thuốc nổ tung. Sam-Sam ở cách đấy khoảng ba mét. Hắn cảm thấy làn không khí nóng thình lình ập đến rồi sức ép quăng hắn lên không như một cây que gẫy. Sức nổ bóp nát phủ tạng hắn và xé thân thể hắn ra từng mảnh. Một giây sau, vụ nổ làm cháy bùng các thùng xăng, phần sau của con thuyền nổ tung như quả bóng. Lửa và các mảnh vụn tung lên trời. Đàn ông và đàn bà trên thuyền bắn tung ra như bông giấy. Sức nổ tung Batal lên khỏi mặt nước, máu phụt ra từ tai, mũi và miệng. Rồi hắn rơi xuống sông, mất đi và từ từ chìm xuống đáy như các mảnh vụn của chiếc thuyền rơi lõm bõm xuống nước và chìm theo hắn.
- Tuyệt! - Gã đàn ông búi tóc đuôi ngựa mỉm cười nói.
- Quái chiêu! - Leatherneck John chỉ có thể thốt lên như thế.
Cách đấy khoảng 100 mét sức ép của vụ nổ dìm cả Hatcher lẫn Cohen xuống nước. Hatcher lại vuột tay khỏi anh bạn Tsu Fi đang choáng váng. Cohen thở gấp nổi lên nghe tiếng nổ giòn của đạn tiểu liên. Những cột nước bắn tung lên trên mặt sông làm anh bừng tỉnh hoàn toàn. Anh vùng vẫy như một con cá mắc câu, hớp vội không khí để thở. Nước bắn tung lên cách mặt Hatcher chừng vài phân khi một tràng đạn cày xé mặt nước. Lần này thì Hatcher đã nhận ra đạn từ đâu bắn tới. Billy Tử Thần đang đứng gần bờ sông, cách đấy khoảng 50 mét, cầm khẩu AK-47 bắn.
Hatcher quay lưng và bơi ngoằn ngoèo ra xa bờ, hét gọi Cohen theo anh. Một tràng đạn khác lướt qua người anh bụp, bụp, bụp, bụp, bụp. Xuôi theo dòng khoảng một cây số sau chiếc thuyền to là chiếc thuyền Điếu Thuốc đang nép sát bờ. Những người trên thuyền đã nhìn thấy Sam-Sam trở về và đã theo sau chiếc thuyền to, cố nép sát bờ để khỏi bị phát hiện. Bây giờ thì tất cả đều tan tành trước mắt họ.
- Chúng ta đến xem. Tay chỉ huy của nhóm ba người Tàu yểm trợ vừa nói, vừa chỉ tay về phía chiếc thuyền to. Chiếc thuyền to nhanh chóng nghiêng sang một bên và bọn Ts’e K’am đang vội vã chạy toán loạn, lo kéo những kẻ bị thương lên bờ chẳng còn nghĩ gì đến Hatcher nữa. Một tiếng nổ khác làm vỡ con thuyền, một cột lửa phụt ra từ đống thùng chứa đạn rồi tiếp theo là những tiếng nổ long trời của các thùng đạn nổ.
Tiếng nổ làm Billy Tử Thần luống cuống, hạ súng xuống và ngập ngừng bước về phía chiếc thuyền to.
Rồi tiếng lụp bụp của đạn 9 li nổ khi bị hun nóng, chúng bắt đầu nổ lia chia ra xung quanh, cắm vào các thân cây rồi rơi lõm bõm xuống nước. Chiếc thuyền to bây giờ cháy đỏ rực.
Billy Tử Thần ngập ngừng rồi chuyển sự chú ý vào Hatcher và Cohen. Hắn nâng khẩu súng AK-47 lên vai và nhắm vào hai cái bóng đang vùng vẫy dưới sông.
Phía sau hắn, cách xa khoảng bảy chục mét, gã búi tóc đuôi ngựa đã bước ra ngoài đứng dưới mái hiên, nâng khẩu M-60 nặng nề lên, móc dây đạn vào ổ và đưa viên đầu tiên lên nòng. Gã vắt khúc dây đạn lên vai và tiến về phía Billy Tử Thần. Gã hét lên:
- Ê! Này, cái thằng mà họ gọi là Billy Tử Thần.
Tên người Haiti quay lại. Gã tóc đuôi ngựa đứng dạng chân trên bờ sông với khẩu M-60 chĩa thẳng vào tên sát nhân, ra lệnh:
- Bỏ súng xuống!
Billy Tử Thần ngập ngừng nhìn gã rồi nhìn ra phía Hatcher. Hắn lưỡng lự một lúc khá lâu rồi quay khẩu súng AK-47 về phía gã tóc đuôi ngựa đeo khẩu M-60.
Khẩu đại liên gầm lên, giật mạnh làm các bắp thịt của gã búi tóc đuôi ngựa rung bần bật. Gần chục phát đạn xuyên vào ngực Billy Tử Thần. Khẩu súng của hắn bắn tung lên trời và hắn lảo đảo vì trúng đạn. Đầu gối hắn bủn rủn. Hắn loạng choạng bước ra mép sông và khuỵu gối quì xuống nước. Hai tay hắn đờ đẫn, để rơi khẩu AK-47 xuống nước và cằm gục xuống ngực. Billy Tử Thần ngã nghiêng rồi xoay úp mặt xuống nước.
Gã tóc đuôi ngựa quay trở lại quán rượu của Leatherneck John, vừa tháo đạn ra khỏi khẩu đại liên và bước lại quầy rượu. Hắn treo khẩu M-60 lên vách và vứt dây đạn vào cái kệ phía dưới.
Leatherneck John nói:
- Mày nên chuồn sớm đi trước khi bọn chúng lo liệu xong vụ này.
- Tôi cũng nghĩ vậy. - Gã búi tóc đuôi ngựa nói.
Tay chủ quán lại hỏi:
- Vì cái chết tiệt gì mà mày làm một việc điên rồ như thế?
- Tôi đã bảo anh là tôi không thích sự chênh lệch.
- Ra thế đấy! Mày không thích sự chênh lệch à?
- Anh có biết nhảy HALO là thế nào không? - Gã búi tóc đuôi ngựa hỏi.
- Biết chứ. Nhảy dù từ trên cao nhưng đến gần mặt đất mới mở dù.
- Tôi đã thực hiện một chuyến nhảy HALO ở vùng trung châu vào năm 74. Trời tối đen, gió đổi hướng nên tôi lạc xa điểm đến gần một cây số, rơi xuống một bụi tre rậm trong vùng địch. Một ngọn tre đâm thẳng qua chân tôi xuyên qua ngoài ống chân, ngay đây này. - Gã kéo ống quần lên và chỉ vào một cái sẹo gớm ghiếc gần giữa xương chày. - Tôi bị ghìm xuống đất bởi cành tre dài khoảng ba mét ấy mà Việt Cộng thì ở khắp nơi. Rồi thình lình tay ấy chả biết từ đâu tới, chặt gẫy cây tre và cõng tôi đi khoảng một cây số trở về vùng quy định. Sau đó anh ta bỏ đi, thế đấy. Chả nói với tôi một lời an ủi trong suốt khoảng thời gian đó. Sau này có người bảo tôi gã đó là Hatcher mà mọi người gọi là Occhi di Sassi - có nghĩa là người Mắt Đá. Bây giờ thì hiểu rồi chứ? - Gã quay sang Daphne. - Bảo Hatcher rằng Jonee Ansa gởi lời cảm ơn. Bây giờ thì chúng tôi hết nợ nần nhau. Cô cũng có thể bảo anh ấy kiểm tra một khu vực gọi là Tombstone ở Patpong. Chỗ ấy có quán Longhorn. Rất nhiều cựu chiến binh Mỹ ở Bangkok lui tới đó.
Gã búi tóc đuôi ngựa quay lưng và biến dạng qua lối cửa sau của quán rượu.
Trên sông chiếc thuyền Điếu Thuốc đang lao qua màn khói tuôn ra từ chiếc thuyền to. Người lái thuyền trông thấy Hatcher và Cohen ở dưới sông. Anh ta lái chiếc thuyền có tốc độ cao bóng láng về phía họ và giảm tốc độ lúc đến bên họ. Một tay súng với tay qua mạn thuyền nắm lấy cổ tay Hatcher. Họ ghì chặt lấy tay và kéo anh lên. Một thủy thủ khác nghiêng người qua thành thuyền kéo Cohen vẫn còn choáng váng lên.
Chiếc thuyền mỏng manh lượn một vòng cung trên sông, quay vào bến đón Daphne rồi rú ga quay trở lại qua làn khói mù mịt của chiếc thuyền to bị phá huỷ đang nghiêng ngửa dữ dội như cố chống chọi để khỏi chìm nhưng rồi vần chìm xuống đáy sông cùng tiếng ùng ục.
Daphne nói:
- Này, em sẽ nói cho anh nghe một điều, Hatcher yêu quý ơi. Anh chắc chắn là đã biết cách qua sông phá cầu đấy.
 
0

CHÀO VĨNH BIỆT

 
Khi họ quay mũi thuyền xuôi dòng trở về, bóng đêm phủ xuống chiếc thuyền như một tấm màn che. Cohen và Hatcher đã cởi quần áo ướt ra. Giờ thì họ nép mình trong ca bin của chiếc tắc ráng để sưởi ấm. Daphne ở lại trên boong. Cohen nói:
- Tôi không thể tin được anh làm cách đó để tìm đường sống.
- Đã làm chứ. - Hatcher sửa lại.
- Theo tôi thì cho tới bây giờ anh vẫn còn đang làm - Cohen nói - Trong vờng 24 giờ vừa qua tôi đã gặp đủ mọi điều kích động mà tôi chưa từng gặp bao giờ.
- Nếu đấy là điều an ủi thì tôi cũng thế. - Hatcher mỉm cười nó. - Anh có rượu mạnh trên cái xuồng này không?
- Tôi chỉ có một ít rượu Amaretto thôi.
- Chẳng dùng được lúc đói bụng.
Cohen co người sâu hơn vào chăn. Anh ta đăm đăm nhìn Hatcher một lúc rồi nói:
- Bỏ đi, Hatcher thân mến.
- Bỏ cái gì?
- Đừng quá vì tình bạn.
- Tôi đã nói với anh lúc trước, Cohen, tôi không thể làm như thế!
- Ừ, tôi biết. Danh dự, chính trực, tình bạn học xưa. Có hơi muộn cho điều ấy không?
- Chẳng muộn cho Cody đâu, nếu anh ấy đang gặp khó khăn.
- Anh đã nghe gã Hà Lan nói chứ. Anh ta là đồ giẻ rách.
- Hắn nói là hắn nghĩ anh ấy hút cần sa nhẹ thôi, lạy Chúa!
- Và cộng tác buôn nữa.
- Tất cả đều chỉ là đoán thôi.
- Chúa ơi, anh thật sự còn nghi ngờ nên không muốn buộc tội anh ta. Anh đã biết đủ để...
- Này, đây là tất cả những điều tôi biết - Hatcher nói, cắt ngang Cohen. - Tôi biết Cody có thể đã thoát ra khỏi chiếc máy bay đó 15 năm trước. Tôi có lí do để tin rằng anh ấy đã ở trong trại Hue-Kui và cô gái đó đã đến gặp anh ấy. Tôi biết một người đàn ông tên là Wol Pot nói rằng đã gặp Cody ở Bangkok và hiện tại Taisung đang ở Bangkok tự xưng là Wol Pot. Tôi cũng biết rằng Windy Porter đã theo dõi hắn rồi bị giết vì gây cản trở, có lẽ một tên Chiu Chao giết người đã làm việc này. Tôi cũng có lí do để tin rằng Wol Pot có thể đã làm việc cho Tollie Fong rồi bị kẹt và vì thế hắn đã tìm đến ta. Anh hãy liên kết các sự kiện ấy lại với nhau, Cohen ạ! Thì đấy là lí do đủ vững để tôi đi Bangkok.
- Anh cũng biết rằng hễ gặp anh là Tollie Fong giết ngay.
- Hắn đã hứa, lời hứa “Mắt Đối Mắt” là xóa mối thù giữa hai chúng tôi.
- Anh tin lời hắn à? Nội tâm hắn chỉ hết hận thù khi anh hoặc hắn một người phải chết đi. Một lời thề máu, Hatcher thân mến ạ! Nếu cần hắn sẽ tạo ra một cái cớ đế xóa bỏ lời hứa “Mắt Đối Mắt”. Vậy thì chớ có hành động khờ khạo.
- Cohen, khi tôi đi làm việc này, tôi chẳng mảy may tin rằng Cody còn sống. Rồi có những điều làm cho tôi phải nghi ngờ. Bây giờ thì vấn đề đã quay sang hướng khác. Hiện tại tôi nghĩ rằng anh ấy còn sống. Và nếu anh ấy còn, tôi sẽ tìm ra anh ấy. Kệ cha thằng Tollie Fong.
- Chắc nhất là phải giết hắn trước.
Hatcher đưa tay ra vò tóc Cohen và nói:
- Tôi cũng rất thương anh, bồ ạ! Hình như tôi lúc nào cũng lấy đi một cái gì của bạn bè và chả bao giờ cho lại cái gì cả.
- Bao giờ cũng có qua có lại cả.
- Đấy là một câu nói thân tình.
- Thân tình cái đít tôi ấy, đừng có tình cảm ướt át. Bọn tôi đã mất anh một lần. Rồi tìm lại được anh. Bây giờ bọn tôi lại sắp sửa mất anh nữa, lần này thì mãi mãi. Tôi biết điều ấy, cả Daphne cũng vậy. - Anh hất hất tay về phía boong thuyền. - Sao anh không đi từ giã nàng đi.
Hatcher cúi đầu, nhìn đăm đăm xuống sàn, rùng mình kéo chăn lên tận tai. - Cám ơn anh, Cohen.
- Ừ.
Hatcher bước ra cửa. Cohen không nhìn lên, nói:
- Tôi mong được tin anh an toàn và mạnh khỏe trên hòn đảo của anh. Nhớ gọi điện khi xong việc, nếu anh vẫn còn nói được.
Đây là những người thương yêu anh, có thể hi sinh cả tính mạng cho anh và thật chẳng có cách nào để chào từ biệt cho thích hợp. Mỗi ý nghĩ đều đưa Hatcher lại gần quá khứ rồi lại dần anh đi xa nó. Nhưng Hatcher không lựa chọn. Nhiệm vụ của anh là đi tìm Murph Cody và nhiệm vụ đó không thể thực hiện được ở Hong Kong mà phải ở Bangkok. Càng gần đến kết quả, Hatcher càng sợ, không biết nó sẽ ra sao đây.
Daphne đang ngồi ở mũi thuyền, nhìn những làn sóng cuộn lên sau đuôi thuyền dưới ánh trăng. Anh ngồi xuống cạnh nàng cầm chiếc chăn quấn quanh vai nàng và kéo nàng sát vào anh.
- Chuyến đi như thế có đáng không, Hatcher? - Nàng hỏi.
- Anh nghĩ là xứng đáng. Nó xác nhận rất nhiều điều nghi ngờ.
- Quả là đắt!
- Đúng, phải chăng là luôn luôn xảy ra như thế?
Họ ngồi im, lặng một lúc rồi nàng hỏi:
- Anh có người đàn bà nào không?
Hatcher ngập ngừng một lát. Ginia có phải là người tình của anh không? Chắc hẳn là nàng sẽ phản đối từ ấy. Nhưng trong tim anh, Hatcher hiện giờ nhận thức được rằng anh đã ràng buộc với nàng tuy không nói ra. Anh chưa bao giờ nói ra điều ấy, nhưng nàng đúng là người anh yêu. Anh thông cảm nàng, muốn chăm sóc nàng, muốn làm cho nàng hạnh phúc. Anh dường như muốn có một sự hiện diện nào đó trong cuộc đời anh. Ginia đã thể hiện toàn diện điều ấy và còn hơn nữa. Cuối cùng anh nói:
- Có.
- Anh đã phải suy nghĩ thật lâu.
- Trước đây chưa bao giờ anh thật sự nghĩ về điều ấy. Anh làm quá nhiều việc.
- Tên nàng là gì?
- Ginia.
- Ginia, - nàng lặp lại, dường như nghiền ngẫm cái tên. - Và nàng như thế nào?
- Rất độc lập. Rất thông minh.
- Đẹp chứ?
- Ừ. Nhưng không đẹp như kiểu em.
- Em không hiểu điều đó.
Hatcher cố nghĩ một cách để diễn tả sự khác biệt giữa một Daphne quyến rũ kì lạ và một Ginia xinh đẹp tự nhiên. Cuối cùng anh nói “Nàng chẳng làm đàn ông ngợp thở như em”. Không đúng hẳn, nhưng là một câu nói dối vô tội cho phép.
- Anh càng ngày càng giỏi ngoại giao, - nàng mỉm cười nói. - Thế nàng có hiểu anh như em không?
- Nàng chẳng biết gì về quá khứ của anh cả.
- Và cả về bạn bè của anh nữa?
- Cả về bạn bè của anh nữa.
- Rồi sẽ có lúc, nào đó anh nói cho nàng nghe chứ?
- Anh nghĩ có một ngày nào đây, nếu thấy thuận tiện.
- Anh có yêu nàng không, Hatcher?
Câu ấy làm anh khựng lại. Đây là những câu hỏi anh chưa bao giờ tự đặt cho mình, bây giờ Daphne đang ép anh phải dối đầu với chúng.
- Đây chắc là một điều mới đối với anh, hở, Daphne thương yêu? - Anh đã trả lời vậy, né tránh một câu trả lời rõ ràng. - Loại tình yêu mà em đang nói đấy đã biến mất khỏi đời anh từ rất lâu rồi, nếu như nó đã từng tồn tại ở đây.
- Nó đã tồn tại ở đấy, Hatcher, anh chẳng bao giờ để cho ai thấy mặt kia của cuộc sống, nhưng em cũng thoáng thấy vài lần. Và Cohen bảo trong anh có hai con người. Một con người mà ai ai cũng thấy và một con người khác không ai thấy được. Thế Ginia có nhìn thấy con người khác đó không?
- Anh nghĩ đó là người duy nhất nàng nhìn thấy.
- Thế thì nàng thật may mắn.
- Hình như anh vẫn đang hành động y như thuở xưa.
- Có một sự khác biệt. Có những lúc anh dường như..., - nàng ngập ngừng, cố tìm chữ cho thích hợp.
- Hưởng thụ à? - Anh nói hết câu giúp nàng.
- Vâng, - nàng đồng tình - Hưởng thụ nó.
- Có lẽ. Nhưng khi nhìn lại thì thấy chẳng có cái gì là trọn vẹn cả. Cái gì đã xong là xong.
Anh ôm má nàng trong lòng bàn tay và xoay mặt nàng vào anh.
- Anh yêu em, Daphne. Chưa có khi nào anh quên em. Nhưng chưa bao giờ anh nghĩ đến việc chúng ta có chung một con đường ổn định nào cả. Cái kiểu chia sẻ ấy ư? Quỉ thần ơi, hình như chẳng có ai trong hai ta lại muốn điều đó cả.
Nàng nhìn ra chỗ khác. Anh ấy tự nói với anh ấy, nàng nghĩ nhưng không nói gì cả, và Hatcher nhận ra rằng trong khi anh nói thật lòng, anh đã làm nàng đau buồn. Đối với anh, quan hệ với Daphne giống như sự dừng chân trong một đêm dài của cả hai người, một chuyện tình lãng mạn thời chiến không có tương lai và không có sự ràng buộc lâu dài. Bây giờ thì đã quá muộn. Anh đã tạo ra một thế giới cho riêng anh, một thế giới quá khác biệt với thế giới của nàng, trong thế giới của anh không thể có chỗ đứng cho nàng, không hi vọng có một quan hệ dài lâu giữa họ. Cuộc sống trên hòn đảo của anh sẽ làm nàng phiền muộn đến chết. Vả lại anh đã một lần cắt liên lạc với cái thế giới đen tối và nguy hiểm này, thế giới của Daphne, Cohen, Harry, Sloan và bọn Ts’e K’am Men Ti, một thế giới thực sự là toàn bộ hiện thân trọn vẹn của nàng. Bây giờ thì anh lại phải cắt đứt chính ràng buộc này nữa.
- Anh nói đúng, chúng ta không bao giờ thích cái kiểu chia sẻ đó. - Nàng nói để tránh cho anh khỏi đau lòng vì đã làm nàng khổ tâm.
Khi họ lướt êm qua các cửa sông vùng Macao, ánh đèn của Hong Kong lấp lánh phía bên trái họ. Anh nhìn đăm đăm vào ánh đèn càng ngày càng gần hơn và các tòa nhà chọc trời đã hiện hình trong bóng tối. Nàng nói:
- Em sẽ xuống trước. Họ biết phải dừng ở đâu.
- Daphne...
Nàng đè ngón tay lên môi anh.
- Chúng ta đã nói và đã thực hiện tất cả, Hatcher ơi, - nàng thì thầm. - Lần này anh sẽ không trở lại nữa. Nhưng trong thâm tâm em biết rằng điều ấy đau đớn cho cả anh cũng như bọn em. Choi qui see yong qup haipon. Người Tàu đã nói đúng: “Muốn quên quá khứ, quặn đau tấc lòng”.
 
0

ĐÓA HOA QUÍ GIẾT NGƯỜI

 
Gió tháng tư lồng lộng thổi trên các vùng núi phía Bắc Thái Lan, xua đi những đám mây cuối cùng của mùa mưa và hiu hiu thổi qua những cánh đồng đầy hoa đỏ, hoa trắng, hoa tía. Những bông hoa lay động đung đưa như những bầy vũ nữ ba lê khi nắng chiều đang nhạt dần trên chúng, chúng bừng lên rực rỡ làm những vùng đồi núi ruộng đồng trông như một tấm thảm màu sắc sặc sỡ.
Giống như nhiều loài bướm chỉ sống có một ngày, những bông hoa này tàn héo rất nhanh, mỗi bông rụng đi để lại một đài hoa và bầu nhụy xanh lợt trông như củ hành cắm trên cái que. Những tháng trước tháng tư, những cây này đã cần mẫn hoạt động đêm để tạo ra các chất kiềm alkaloid, chúng được tích vào trong các bầu nhụy. Khi người ta cắt đài hoa, chất nhựa trắng như sữa này tiết ra và khô đi rất nhanh, sẫm lại.
Khi những cánh hoa rụng xuống, dân vùng núi đội những chiếc nón rơm vành rộng bắt đầu xuất hiện trên các sườn đồi dốc, nơi hoa mọc, và len lỏi vào các luống cắt các đài hoa xung quanh, lấy muỗng sắt hứng lấy nhựa đặc trước khi nó rắn lại.
Tướng Dao, tộc trưởng của bộ lạc trên núi Hsong đã theo dõi từ mùa xuân để chỉ đạo dân làng cắt đài hoa. Là tộc trưởng của nàng, ông có thói quen ngồi trên lưng con ngựa đen như một vị thần trên đỉnh đồi, đôi vai ông quàng chiếc dây da mang khẩu súng M-14 trông như cái súng cao su. Hai tay ông đặt trên báng súng và nòng súng, ông đang quan sát vụ thu hoạch trong khi hai tên cận vệ mang súng ngắn ngồi gần đấy. Hai tên cận vệ này quay bên nọ, bên kia chăm chú quan sát bầu trời và thung lũng bằng những ống nhòm mạnh xem có dấu hiệu gì của quân đội liên bang hoặc các trực thăng không. Trong khi đó thì ở bên dưới, trên các phía của ngọn đồi được gọi là Powder này, những công nhân nông nghiệp đang cắt đài hoa.
Dân làng đã bầu Dao làm tộc trưởng. Cũng giống như cha ông, ông dàn xếp các vụ bất hòa về đủ các loại, lắng nghe các vấn đề của dân làng và thay mặt cho bộ lạc Hsong giao dịch với xã hội bên ngoài. Bộ lạc Hsong là một trong các bộ lạc của phái Phui Thong Loang, những Thần linh của Những Chiếc Lá Vàng, một nhóm nhỏ sống ẩn náu mà sự sống biệt lập của họ đã làm cho họ duy trì được các phong tục và truyền thống đã có từ những thế kỉ xa xưa.
Dao là một người chắc nịch, cứng rắn như tất cả những người Hsong khác, do cuộc sống khắc khổ ở miền núi. Ông ba mươi bảy tuổi, nhưng trông có vẻ tới năm mươi lăm, mặc dầu còn bảnh trai, có bộ mặt vuông vắn như đồng đúc, cái miệng rộng và cái mũi tẹt. Ông thích bộ quân phục màu xanh lá cây sẫm hơn là bộ quần áo truyền thống, những người dưới quyền ông cũng thế. Mái tóc đen của ông được trùm một chiếc khăn đỏ. Lâu lâu ông lại cầm ống nhòm lên dõi nhìn những nữ công nhân mặc áo khoác sặc sỡ có lá sen, quần màu bó sát vào háng dài đến nửa ống chân, và giống như những người đẩy xe ngày xưa họ quấn những khăn to đỏ chói bằng vải có màu tươi dệt với những hạt bạc nổi.
Chất nhựa mà họ đang thu hoạch là nhựa thuốc phiện.
Chất alkaloid thiên nhiên ấy là morphine.
Những đóa hoa nhỏ xinh xắn có màu tím, trắng và đỏ là hoa Papaver somniferum, mọc đầy rẫy như cỏ dại ở Đông Nam Châu Á. Không phải là những đóa hoa vườn vô hại, cây thuốc phiện Somniferum tiềm tàng cả điều tốt nhất và xấu nhất trong con người, tượng trưng cho cả việc lành và việc dữ. Cả thiên đàng và địa ngục chứa trong cái hoa trắng không lớn hơn ngón tay cái của con người. Giống như tiếng hát thần thoại của nàng tiên cá, lời hứa hẹn thì thật quyến rũ nhưng sự thật là gây chết chóc, vì trong khi thuốc phiện có chất morphine để làm giảm đau thì nó cũng có chất heroin gây nghiện.
Dao không biết gì về con số thống kê những người dùng ma túy, không biết những kiện hàng của ông ta được đem đi đâu, ai mua chúng, ai thực sự dùng sản phẩm ông ta đã thu hoạch này. Ông ta không bao giờ nghe nói về một kỉ lục thể thao thể dục do việc dùng ma túy, do việc bơm morphine vào mạch máu chính gây nên. Ông ta không biết rằng vụ thu hoạch của ông ta có thể giết chết phân nửa số người nghiện ma túy thảm thương của thế giới hoặc làm cho những tên cướp trẻ tuổi (từ 13-19 tuổi) có thể chết vì đánh nhau trên đường phố để dành một phần tư gờ-ram bạch phiến được chiết ra từ chất nhựa của những bông hoa nhỏ bé này. Ông ta chưa bao giờ nhìn thấy chiếc kim tiêm dưới da. Đây là thứ bán ra tiền của làng trong nhiều năm và đối với Dao và cả bộ lạc Hsong thì không có gì là xấu khi bán nó.
Nhưng chính phủ đã nói đó là điều tai hại và đã bắt đầu một chương trình bắt buộc các nông dân phải trồng cà phê, nấm và bắp thay cho thuốc phiện. Đã xảy ra nhiều rắc rối trên những ngọn đồi này. Những bộ lạc Leums, Lius và những bộ lạc khác ở trên đồi đã bị quân đội tấn công và vụ thu hoạch của họ đã bị tịch thu và đốt trụi. Nhưng chính phủ chưa bao giờ với tới Dao. Bộ lạc của ông ta rộng lớn, kiểm soát một khu vực núi non hiểm trở, đi lại khó khăn. Ông ta là một thủ lĩnh cương quyết và độc lập, mà lại cũng là một đối thủ nguy hiểm. Dao chỉ kiểm soát 250 hécta cánh đồng trồng thuốc phiện chả bõ để khơi lên một cuộc chiến.
Nhưng tướng Dao vẫn cẩn thận đề phòng. Khi bầu trời đã chuyển sang màu đỏ và dòng sông lấp lánh ánh vàng. Dao cưỡi ngựa xuống một quán rượu nhỏ ở giữa đồng, bước vào. Nơi đây sực nức mùi cỏ mới cắt ngọt lịm. Mủ thuốc phiện được mang đến đó và gói lại thành những gói nặng một ki lô rưỡi được gọi là joi. Như vậy giữ được hương vị của nó mãi mãi nếu không đem tinh chế.
Những gói nhựa thuốc phiện trông giống như những cái bánh nâu sậm ướp lạnh được đóng vào các túi đeo sau yên ngựa. Một gói mười ki lô nhựa thuốc phiện và một gói khác chứa một ki lô cùng thứ nhựa ấy đang đặt trên bàn để gói. Dao lấy mũi dao nhọn xoáy vào một gói, chích ra một cục nhỏ dẻo như keo, viên cục nhựa thuốc phiện chảy giữa các ngón tay thành một hòn bi nhỏ. Ông ta đặt nó lên lưỡi, nhắm nghiền mắt lại, mút và xoay tròn nó trong miệng. Rồi ông mỉm cười. Tuyệt hảo.
Đêm hôm đó, những gói này được chất lên lưng lừa và trước bình minh, Dao cùng bốn người đáng tin cậy nhất của ông dắt những con lừa đi băng qua cánh rừng tiến về House of the Golden Lady (ngôi nhà của Kim phu nhân). Họ cưỡi lừa hai tiếng đồng hồ đi qua những bụi cây rậm, những lùm tre cứng cao như những cây thông, những cây gỗ tếch khổng lồ chằng chịt dây leo. Họ đi theo những con đường mòn mà chỉ những cặp mắt được huấn luyện thuần thục nhất mới phát hiện ra được, những con đường mòn đầy rắn độc, báo đen và hổ thường qua lại tìm mồi.
Họ dừng lại khi nghe tiếng gầm sâu thẳm, quen thuộc xuyên qua tầng bóng lá cao nhất trên đầu. Họ cột ngựa lại, và đi bộ dặm đường cuối cùng dường như bị quyến rũ bởi tiếng rống ì ầm mà cuối cùng trở thành tiếng gầm thét dữ dội. Sau cùng họ ra khỏi cánh rừng rậm, đến một cửa hang sương mù phủ kín. Sương mù cuồn cuộn dâng lên quanh hang, tràn về từ thác nước đang chảy ầm ầm có tên là Golden Lady, ở phía trên thung lũng. Chật vật trên những mỏm đá trơn trượt ở bờ sông cho đến khi cảm thấy đất rung động dưới chân họ, cuối cùng họ đã tìm được cửa vào hang mà họ gọi là Ngôi nhà của Kim phu nhân.
Những thủ lĩnh của bộ lạc Hsong dấu nhựa thuốc phiện của họ ở đây đã nhiều thế kỉ qua. Giờ đây nơi này an toàn hơn bao giờ hết, bởi vì đi bộ đến đây là điều tự sát mà máy bay lên thẳng của chính phủ cũng không hạ cánh ở đây được. Họ chất những gói thuốc phiện vào sâu trong hang, phủ giấy rơm lên và chúng được giữ như vậy cho đến khi đem bán.
Trời đã sang thu và hôm trước thủ lĩnh nhóm Chiu Chao đã cho người đem tin đến làng Hsong đề nghị một cuộc gặp gỡ. Dao đã gởi một chiếc giày rơm cho chủ anh ta cùng với một ki lô nhựa á phiện để biểu lộ sự tín nhiệm của người bán, và như thế họ có thể kiểm tra lại chất lượng hàng.
Phần lớn những bộ lạc của vùng cao nguyên này vẫn còn bán nhựa á phiện tươi, nhưng bộ lạc Hsong có xưởng tinh chế riêng, một xưởng nhỏ thô sơ nhưng có hiệu quả đặt trong một căn phòng không rộng hơn một phòng ngủ. Những người Chiu Chao thích tự chưng cất ra chất heroin của riêng họ, nhưng người Hsong thì luôn luôn tự sản xuất ra chất bột này. Đó là vấn đề tự hào của Dao và đồng thời lại rất kinh tế. Phải cần đến hai ngàn cây thuốc phiện mới làm ra được một ki lô nhựa á phiện. Một kí nhựa trong vùng cao nguyên này bán được bảy mươi dollar, một kí bạch phiến Trung Hoa (đã làm thành bột) bán được chín trăm dollar. Đối với Dao sự chênh lệch này đáng để nỗ lực. Nó có nghĩa là sẽ có nhiều súng ống cho đàn ông, nhiều heo, trâu và thậm chí cả một chiếc xe tải mới cho làng, những súc tơ lụa Thái cho đàn bà, và một radio có băng sóng ngắn cho chính Dao nữa. Dao không biết rằng nửa kí heroin ấy đáng giá nửa triệu dollar ở New York, sau đó sẽ tăng lên gấp sáu hay bảy lần làm cho giá bán ngoài đường phố là gần bốn triệu dollar.
Đêm đó bộ lạc Hsong quay một lò nấu nhỏ. Họ hòa mười kí nhựa á phiện với nước rồi đem nấu trong một cái nồi đồng cho đến khi nó trở thành một khối đặc màu thẫm giống như mật mía đặc. Tiếp đó họ rót nó vào một cái máng ép cổ lỗ bằng gỗ và ép ra. Cái còn lại là một ki lô morphine. Hòa chung với nước và acetic anhydride trong một cái máy chưng cất nhỏ rồi được sấy khô dưới những bóng đèn sáng chói và được ép lần nữa, nó trở thành một cục bột thuốc phiện trắng tinh khiết mà họ in lên đó nhãn: 999. Nhãn hiệu này của Hsong bảo đảm là cục bạch phiến Trung Hoa nặng một ki lô có 99,9 phần trăm heroin nguyên chất.
Ngay sau khi mặt trời mọc, một máy bay lên thẳng cất cánh từ Chang Mai bay về hướng làng Hsong, cách đó một trăm ba mươi cây số. Ngày hôm trước, Tollie Fong đã gởi chiếc Giày Rơm của hắn cho tướng Đao để sắp xếp cuộc gặp gỡ. Nghi thức buôn bán chỉ là một thủ tục, họ đã thực hiện nó ở những làng giống như thế này khắp trên miền Bắc nước Thái Lan trong mấy tháng qua. Những ngọn núi màu ngọc bích mờ đi rồi lại hiện ra lởm chởm hơn. Những con đường núi quanh co bò lên những đỉnh núi um tùm và đột nhiên mất hút ở những chỗ núi bị sụt lở hoặc đơn giản chỉ là bị các hàng cây nuốt chửng. Từ trên không mới dễ dàng thấy tại sao quân đội đã thất bại dù đã nỗ lực nhằm ngăn cản hay triệt phá việc trồng cây thuốc phiện ở đây.
Fong ngồi ở chỗ người lái phụ trong chiếc máy bay lên thẳng với ba người phụ tá ngồi ở phía sau - White Fan lo về lễ nghi và trong chuyến đi này làm thư kí và cố vấn tài chánh cho Fong, hai tay súng Billy Kot và Soon. Người đưa tin đã hoàn thành nhiệm vụ và trở về Bangkok.
White Fan là một nhà tiên tri già đã tám mươi tuổi mà còn hăng hái, mớ tóc trắng và những sợi râu dê bạc trắng còn sót lại, mặc chiếc áo xường xám truyền thống của Trung Quốc bằng lụa. Ông ta đã hiến cuộc đời mình để duy trì truyền thống và nghi lễ. Ông ta không thích bay, đặc biệt là trong chuyến bay hỗn tạp này, nhưng bộ mặt bí hiểm của ông ta không để lộ ra vẻ gì khó chịu cả. Ông ta ngồi đây, mắt nhắm lại và cái túi nhỏ đen đầy mánh khóe kẹp giữa hai chân. Soon, một tên đao phủ, ngủ gà ngủ gật cạnh ông ta, chẳng quan tâm gì đến chuyến bay này.
Kinh tế, cũng như giết chóc là công việc làm ăn của Tollie Fong. Đánh lộn từ đồi núi đến chợ búa, dù ở Singapore hay Marseilles, New York hay Grand Rapids đều là công việc của hắn. Cha hắn đã đưa hắn vào công việc buôn bán lần đầu tiên khi hắn còn ở tuổi thiếu niên. Cha hắn đã học đại học ở Mỹ và hiểu người Mỹ. Fong nhớ cái đêm ấy rất rõ.
Năm 1962. Trước ngày tết Trung Quốc, năm Nhâm Dần.
Bên ngoài cửa sổ có những người múa rồng trên đường phố. Pháo nổ giòn trong những máng xối và những vì sao trên thành phố Hong Kong bị mờ đi sau màn pháo thăng thiên chóa mắt. Chú bé Fong, chưa đầy mười bốn tuổi muốn đi ra ngoài chơi với bạn bè, nhưng cha cậu thì nhất định không cho. Y đã gọi những người lính của y đến họp và tên đao phủ của băng Bạch Thủ này đã đặt bàn tay của y lên trên đầu gối con y và nghiêng người về phía năm người lính nói:
- Tôi đã làm việc với San Vương nhiều giờ và điều quan trọng là các anh hiểu được những kế hoạch mới của chúng tôi. Trước tiên các anh phải hiểu người Mỹ. Họ rất đam mê lạc thú. Họ háo hức thử những của lạ. Họ thích kết bạn và họ chịu mất công để gây ấn tượng cho bạn bè họ. Họ có khuynh hướng làm những việc lớn. Họ sống bằng tiền gửi nhà băng và mục đích cuộc đời của họ là yên ổn và sung sướng. Bây giờ họ đã bị rối loạn trầm trọng vì cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Thanh niên đang phản đối và, - mắt ông ta sáng hẳn lên, - họ đã khám phá ra thuốc phiện, cần sa, peyote, chất hóa học này được gọi là acid. Đó mới chỉ là bước đầu. Ngài San Vương tin rằng những thanh niên này dễ bị những loại thuốc khác quyến rũ. Đến bây giờ, những khách hàng bột á phiện phần lớn là những kẻ ăn mày, những kẻ sống lang thang ngoài đường phố, những tên trộm cắp và bọn giết người. Có một vài cuộc buôn bán với những người rất giàu, nhưng trong số này có rất ít kẻ dùng thuốc phiện. Người đảo Sicilia kiểm soát việc buôn bán này.
Vì vậy chúng ta có ba kế hoạch.
Thứ nhất, đây là lúc mà ta phải đến gặp người Sicilia. Việc này không dễ gì thực hiện, nhưng chúng ta có thể cung cấp thuốc phiện cho họ và sử dụng người của họ để bán thuốc cho chúng ta.
- Chúng ta có thể tin họ không? - Một người lính hỏi.
- Không bao giờ! Phải luôn luôn coi chừng chúng. Khi có thời cơ chúng ta sê đánh và tiêu diệt chúng, nhưng việc đó cũng còn lâu. Ngay bây giờ, chúng ta phải tạo ra nhu cầu và giao dịch buôn bán, vì thế chúng ta cần người Sicilia.
Thứ hai, những người lính Mỹ ở Việt Nam và Thái Lan ở ngay cửa ngõ của chúng ta, và chiến tranh đang bành trướng. Sẽ có thêm nhiều lính đến. Cuộc chiến tranh này sẽ kéo dài như đã từng xảy ra với người Pháp. Chúng ta sẽ bán bột á phiện cho họ với giá cao hơn mười phần trăm.
- Với giá ấy à? - Một người lính ngạc nhiên nói.
- Cao hơn mười phần trăm, để tạo ra tình hình thiếu hàng, - Fong nói tiếp, và họ sẽ mang bệnh ghiền này về Mỹ và truyền nó cho các bạn của họ. Tất cả bọn họ sẽ già đi cùng với cái ma túy quỷ quái này. Họ sẽ là khách hàng của chúng ta. Họ sẽ quen với bạch phiến Trung Quốc nguyên chất và sẽ không thỏa mãn với cục phân nâu Thổ Nhĩ Kì hoặc Mexico mà người Sicilia đang bán.
Cuối cùng chúng ta phải khuyến khích dân miền núi trồng thêm cây thuốc phiện, vì nhu cầu sẽ lớn hơn là ta nghĩ rất nhiều. Tất cả mọi kinh doanh khác mà băng Bạch Thủ dính vào đều là thứ yếu sau việc này.
Đó là cái đêm mà cha Fong giao công tác cho năm đầu lĩnh mà họ tự xưng là Dragon’s Breath (Hơi Thở Của Rồng), để mở thị trường ở Sài Gòn và cung cấp thuốc phiện cho nó. Y nói:
- Chúng ta phải trù tính hoạt động này thật cẩn thận và phải chờ đợi bởi vì phải hai hay ba năm nữa chúng ta mới đẩy nó hoạt động mạnh, nhưng đó là một phương án hay và việc sẽ chạy.
Khi các đầu lĩnh đi khỏi, cha Fong quay lại bảo con mình:
- Con phải hiểu kinh tế của việc làm này, - y nói một cách dịu dàng nhưng quả quyết, - có hàng triệu, có lẽ hàng tỉ dollar đang bị đe dọa. Ngay bây giờ số mệnh của con là theo cha coi như là Cây Sào Đỏ của băng Bạch Thủ Chiu Chao ấy. Vụ này sẽ mở ra nhiều việc cho con. Con càng biết nhiều thì con càng trở nên quan trọng hơn. Ai mà biết được con có thể đi xa đến chừng nào...
Cây Sào Đỏ (Red Pole) đã chuẩn bị tốt cho Fong - con y. Cố vấn của Fong là Joe Lung, sau này là thành viên duy nhất của nhóm Hơi Thở Của Rồng còn sống sót trong cuộc chém giết tàn nhẫn của Hatcher trên dòng sông Mekong. Lung hướng dẫn cho Fong một chương trình huấn luyện khắt khe. Một năm với Ninja ở Tokyo, sáu tháng với SAVAK ở Iran, thêm sáu tháng nữa với những tên sát nhân người Sikhs ở Bombay. Rồi một năm học với sư môn Taichi và Karate trên đảo Okinawa.
Nhưng luôn luôn có những vấn đề về thương mại phải học và Fong đã học nó qua các chuyên viên bằng cách ở nội trú trong những văn phòng thương mại của Chiu Chao ở Hong Kong, Bangkok, Singapore và Seattle. Trước khi Fong đủ hai mươi tuổi, Fong đã ở New York học cách giao dịch ngoài phố và đã giết người ba lần, vì vai trò chính của Fong trong hệ thống cấp bực của băng Bạch Thủ vẫn là thay vị trí của cha, là một tay đao phủ giống như Cây Sào Đỏ.
Bây giờ là một San Vương mới của băng Bạch Thủ, Fong sẽ làm cho cha hãnh diện, vì Fong đã trở thành một chuyên gia kinh tế về thương mại. Bây giờ các món lời đã khổng lổ đến mức có thể mua chuộc cả cảnh sát, và cả xứ này có thể bị mua chuộc hết. Buôn lâu thuốc phiện đã trở thành nghề làm ăn có lời nhất trên thế giới và một phần năm số thuốc phiện bán ở Mỹ là đem từ vùng Tam Giác Vàng thuộc miền Bắc Thái Lan đến. Mặc dầu Fong đã có lời thề đẫm máu là giết cho được Hatcher - người đã giết cha hắn - nhưng việc kinh doanh thuốc phiện phải làm trước, bởi vì Fong đã bành trướng quyền lực bằng cách lập quan hệ thương mại với các bộ lạc sản xuất thuốc phiện nhiều nhất ở miền đồi núi vùng Tam Giác Vàng.
Mỗi năm Fong lại mở rộng thêm quyền hạn, tiến sâu hơn vào trong Tam Giác Vàng, chịu mọi hiểm nguy với những tướng cướp rừng đa nghi và tính khí thất thường. Mỗi lần chính phủ đốt trụi một cánh đồng hay ngăn chặn một bộ lạc vùng đồi núi trồng cà phê hoặc nấm thì Fong lại đi vào sâu hơn, tìm ra những bộ lạc mới thích trồng cây thuốc phiện đế thu được nhiều lời.
Mưu đồ lớn của Fong đã đạt kết quả một cách tốt đẹp. Hiện nay Fong đã kiểm soát luồng bạch phiến Thái cung cấp cho tất cả các gia đình Chiu Chao, và số lượng đó chiếm năm phần trăm tổng lượng bạch phiến chở từ Thái lan ra. Trong buổi họp kín, những người Chiu Chao có mặt đã công nhận Fong là San Vương, là thủ lĩnh của tất cả các gia đình này.
Fong cần một người nào đó thay thế mình để thi hành luật lệ giang hồ, một người có thể tin tưởng được. Fong quyết định rằng người đó sẽ là Billy Kot.
Sàng lọc trong đám những tên ám sát đã phục vụ băng Bạch Thủ, Kot là kẻ sáng sủa, lanh lợi, tàn nhẫn kinh khủng và trong mắt Fong, Kot là kẻ giết người có bản lĩnh nhất, sau hắn. Kot mới hai mươi sáu, nhưng đã tốt nghiệp đại học và bây giờ là lúc cần được nâng đỡ.
Dựa vào lưng ghế, Fong bắt đầu nói chuyện với Billy Kot, Kot chồm người về phía trước ghé tai gần miệng Fong.
- Anh cần phải học phần công việc làm ăn này vì anh sắp trở thành Cây Sào Đỏ.
Kot ngạc nhiên lùi lại vì cái tin hoàn toàn bất ngờ này.
Fong nói:
- Công việc này còn hơn cả công việc của Cây Sào Đỏ nữa. Anh không phải chỉ thi hành những luật lệ của Hội, mà anh còn phải điều khiển các cuộc thương lượng ở đây nữa.
- Tôi hiểu, - Billy Kot nói, cố gắng kiềm chế niềm phấn khởi về cái tin này, - Tôi hứa sẽ xứng đáng với lòng tin cậy của ông.
- Anh phải học hỏi thái độ cư xử của các thủ lĩnh vùng cao nguyên. Đối với chúng ta họ giống như những động mạch của tim. Phải làm cho họ tin cậy anh. Và nên nhớ họ rất khác nhau.
- Còn tướng Dao thì sao?
- Tướng Dao đã là thủ lãnh của bộ lạc Hsong trong mười bốn năm qua từ khi ông ta mới hai mươi hai tuổi, - Fong bắt đầu nói, - trong vòng ba trăm dặm lân cận, các bộ lạc đều sợ Hsong.
- Ông ta có phải là một võ tướng không?
- Ông ta không gây sự, nhưng cũng không chịu quỵ lụy ai. Ít nhất là đã mười năm nay, họ không gây chiến với bất kì ai.
- Vậy ông ta là một tay cứng cỏi đấy, - Billy nói.
- Rất cứng. Quân đội sợ ông ta. Trước đây hai năm, ông ta đã thải hồi trưởng làng do chính quyền bổ nhiệm, và Bangkok chưa bao giờ có ý thay thế người ấy. Ông ta không giống như một vài người khác, luôn luôn kêu khóc là bị lính liên bang đốt những cánh đồng để cố nài thêm một vài dollar cho mỗi joi thuốc.
- Ông ta có thân thiện không? - Kot hổi.
- Ông ta bày tỏ ý kiến bằng nụ cười, - Fong nhún vai trả lời, - nhưng ông ta thận trọng. Bí quyết là phải biết đối xử với ông ta: luôn luôn kính trọng và đừng bao giờ đe dọa ông ta. Một lời lăng mạ hoặc dọa dẫm, thậm chí một lời nói đùa, có thể bị hiểu lầm là một hành động gây chiến. Lính của ông ta sẽ đánh ngã chúng ta ngay tại trận. Ít nhất cũng là ông ta sẽ không giao dịch với chúng ta nữa. Vì thế phải cẩn thận.
- Lần này tôi sẽ chỉ lắng nghe.
- Không, hãy làm cái gì đầu anh nghĩ. Nếu anh có sơ xuất White Fan sẽ báo cho anh biết. Ông ta sẽ đứng hay ngồi bên cạnh, giữa chúng ta và Dao, phần nào trông về phía chúng ta. Nếu ông ta lắc đầu, thì thôi nói và để ông ta giải quyết vấn đề.
- Người Hsong sản xuất bao nhiêu nhựa?
- Dao không phải là nhà sản xuất lớn, nhưng thuốc phiện thì rất tinh khiết và ông ta làm từ đầu đến cuối kể cả việc chưng cất nữa. Mỗi năm ông ta đều mở rộng sản xuất. Tôi không biết sản lượng năm nay sẽ ra sao.
Họ đã thấy bên dưới một làng không lớn, có lẽ chừng một trăm lều gồm những kiểu nhà đơn giản nhưng trang nhã trên đỉnh núi bằng phẳng và xanh tươi. Ở xa hơn là Powder Mountain (Núi Bột) với những cánh đồng trồng thuốc phiện trơ trụi sau kì thu hoạch. Người phi công lái trực thăng bay vòng và hạ cánh bên một con đường đầy bụi dưới chân núi.
- Đây là ngôi làng chính, - Fong nói lúc họ bò ra khỏi máy bay - có ba hay bốn ngôi làng nhỏ hơn ở chung quanh. Còn đám lính người Hsong sống trong rừng rậm. Họ ở khắp mọi nơi, chớ có đánh giá thấp họ.
- Có bao nhiêu lính? - Billy Kot hỏi.
- Tôi không biết, - Fong trả lời. - Có lẽ ba trăm.
- Vũ khí?
- Đủ thứ: Súng tiểu liên, súng M-14, súng phóng lựu, nhiều loại súng nhỏ. Trang bị rất đầy đủ.
Một chiếc xe tải quân đội cũ nát đang đợi họ. Họ bò vào thùng sau xe, ngồi đối mặt nhau trong lúc chiếc xe chạy rầm rầm trên con đường xấu đi đến ngôi làng ở cao trên đáy thung lũng chừng một cây số.
- Ông ta có thể dùng một hay hai chiếc xe tải mới, - Fong vừa nói vừa gật đầu với White Fan. Ông già ghi nhận điều ấy trong đầu, không bao giờ ông ghi chép điều gì trên giấy.
Kot quan sát trong lúc chiếc xe tải leo lên con đường đầy bụi. Hắn thoáng thấy ánh mặt trời phản chiếu trên thép sau một lùm cây, nhìn thấy những cái bóng di động sau một cây khác. Hắn nói:
- Lính của Dao ở khắp mọi nơi.
- Hây. Khỉ thật. - Fong trả lời với cái gật đầu.
Khi họ lên tới đỉnh đồi, chiếc xe tải ngừng trước một căn lều nhỏ, một kiểu nhà trông như cái hộp có một cửa ra vào và một cửa sổ, đứng rách rời hẳn những căn nhà khác trong làng. Một người lính vũ trang đứng ở một bên cửa. Fong nói:
- Ông hãy quan sát xem sự việc tiến hành như thế nào. Những nghi thức này có từ thời chiến tranh nha phiến ở Trung Quốc, gần một trăm năm chục năm về trước.
Fong bố trí Soon đứng ở bên cửa đối diện với người lính và đi vào nhà cùng với Fan và Billy Kot.
Đó là một căn phòng nhỏ có bốn chiếc chiếu trải thành một hình vuông ở giữa phòng. Dao đứng trước một chiếc chiếu có hai người lính của ông ta đứng ở hai góc phòng phía sau. Đứng cạnh Dao là Fai Thaan, một người đàn ông có gương mặt đầy những nếp nhăn của thời gian và răng đã nhuốm màu nâu sậm vì ăn trầu. Fai Thaan là người nấu là lọc thuốc phiện chính của bộ lạc Hsong. Dưới chân ông ta là một gói những chiếc lá xanh phẳng phiu. Fong đi bình thường vào giữa phòng đến trên mặt Dao, ép hai lòng bàn tay vào nhau và nghiêng mình vái để tỏ lòng kính trọng đối với vị thủ lĩnh người Hsong, người làm ra chất bột thần kì. Dao vái đáp lễ, kế đó Fan đến trước ông già nấu thuốc và đặt cái túi đen của mình dưới chân. Kot đứng phía sau Fong.
- Tôi muốn giới thiệu với tướng quân trợ thủ của tôi, Billy Kot, - Fong nói, - anh ấy sẽ thay tôi giữ chức Cây Sào Đỏ của băng Bạch Thủ.
Vẻ lo ngại thoáng qua mặt Dao, ông ta hỏi.
- Có vẻ gì không tốt sao?
- Không, không, - Fong nhanh nhẹn trả lời. - Tỏi sắp trở thành San Vương của người Chiu Chao. Từ ngày hôm nay trở đi, Billy Kot sẽ là mắt, là tai, là tiếng nói của tôi. Anh ấy sẽ thay tôi nói chuyện và thương lượng tốt đẹp với tất cả các bộ lạc cung cấp cho chúng tôi thuốc phiện.
Dao nhìn Kot vài giây, quan sát những nét thân thiện trên mặt gã trẻ tuổi. Gã có cặp mắt giống chủ, cứng rắn và léo sáng với vẻ đe dọa khó hiểu.
- Anh đang học à? - Dao hỏi.
- Hai, Fong trả lời.
Tướng Dao đánh giá Kot một lần nữa rồi mỉm cười khẽ gật đầu.
- Ho - Dao trả lời, đập nắm tay mặt vào lòng bàn tay trái của mình, đó là dấu hiệu chấp nhận. Họ không bắt tay nhau, vì ở Thái Lan đụng tay vào một người khác được xem như là một sự lăng nhục. Dao ngồi xếp chân vòng tròn trên chiếu trước mặt Fong. Fong cũng ngồi như thế, tiếp theo là Fan, Cây Sao Đỏ mới và Fai Thaan. Chỉ sau khi họ đã ngồi xuống Dao mới nhận ra Fan.
- Ông có khỏe không ông bạn? - Dao hỏi.
Ông già gật đầu và hơi mỉm cười, mở túi lấy ra một bàn tính gảy. Ông đặt bàn tính trước mặt.
- Hai, hai, - Dao gật đầu vui vẻ nói. Rồi hai người vỗ tay vào nhau và cười khoáng đạt. Vậy bây giờ đã đến lúc mua bán. Dao gật đầu với Fai Thaan đang cẩn thận mở những chiếc lá gói ra. Viên gạch trắng mang nhãn hiệu 999 óng ánh trên chiếu trước mặt họ.
Fai Thaan cầm thỏi vuông trắng như tuyết bằng hai tay và đưa cho Fan. Fan nhận lấy, cầm nó bằng một tay để ước lượng, đầu tiên đặt sấp vào lòng bàn tay kế đó lật ngửa lên, ông gật đầu ngay lập tức ra ý rằng cân đúng. Ông đứng dậy ra cửa sổ, cầm thỏi gạch ra cho ánh sáng mặt trời quan sát trong vài phút, thổi nhẹ lên bề mặt nó. Ông lấy móng tay cào một chút đưa lên mũi thư thả ngửi. Ông đợi một hai phút để thấy rõ mùi, rồi lại cào một móng tay nữa đưa vào miệng nếm. Cuối cùng ông trở về chỗ ngồi, đặt thỏi gạch trước mặt tướng Dao.
Ông chìa ba ngón tay về phía Fong:
- Khuna-phaap di thi soot - chất lượng loại một.
- Luôn luôn là thượng hạng, - Fong nói, - năm nay ông làm được bao nhiêu?
- Chín ngàn ba mươi lăm joi - Dao trả lời, hãnh diện rõ ràng về số thu hoạch. Fong cũng sung sướng nữa. Gần một ngàn rưỡi ki lô nhựa á phiện, một trăm năm mươi ki lô bạch phiến.
- Như vậy nhiều hơn năm ngoái năm chục ki lô, - Fong nói.
- Một năm được mùa, - Tướng Dao trả lời.
Lần mua trước Fong đã trả chín trăm dollar một ki lô. Fong nhìn Fan đang gảy những viên tròn màu của bàn tính. Fan giơ lên hai ngón tay, rồi ba ngón, rồi một ngón, kế đó một nắm tay. Đó là mật mã chỉ có Fong và Fan hiểu thôi.
Mặc dù Kot không hiểu mật mã này, anh cũng nhẩm tính nhanh trong đầu. Không tồi, anh nghĩ. Chỉ có 135.000 dollar cho 150 cục bạch phiến nguyên chất.
Fong quay sang Kot hỏi hắn cho giá là bao nhiêu. Đó là một thử thách bất ngờ. Thực tế thì giá cả không quan trọng lắm. Xét đến món lời của Chiu Chao, họ có thể dễ dàng chịu trả cho Dao gấp bốn hay năm lần giá bình thường chả khó khăn gì. Nhưng buôn bán là buôn bán và một dollar là một dollar.
Kot cố gắng suy nghĩ như Cây Sao Đỏ. Hắn phải cân nhắc hai điều: thứ nhất là có nên tăng giá lên không, và thứ nhì nếu tăng thì tăng lên bao nhiêu để không làm hại đến cái chung. Tăng giá thêm lên năm mươi dollar một joi thì cũng không làm thiệt hại cho họ bao nhiêu. Nhưng điều đó có ý nghĩa đủ để gây ấn tượng cho thủ lĩnh vùng đồi núi này mà vẫn không tỏ ra quá rộng rãi.
- Thêm năm mươi dollar một joi, - Kot trả lời.
Kot hiểu qua cái nheo mắt nhẹ nhàng của Fong đó là một câu trả lời tốt. Fong quay lại tướng Dao.
- Tôi thì chỉ trả thêm hai mươi lăm dollar thôi, - Hắn mỉm cười nói thêm. - Cây Sao Đỏ mới này còn rộng rãi hơn tôi.
Tướng Dao rõ ràng vui lòng. Fan không biểu lộ gì hết. Các ngón tay ông ta đang còn bận gảy những viên tròn màu của bàn tính. Ông ta giơ các ngón tay ngoặc với nhau theo một kiểu khác. Cả kiện hàng đáng giá 142.500 dollar hay 2.850.000 baht.
- Hai triệu tám baht nghe thế nào? - Fong hỏj.
- Tôi rất vui mừng. - Dao nói, đập nắm tay này vào lòng bàn tay kia. Việc mua bán đã kết thúc.
Fong thò tay vào chiếc túi đen lấy ra nhiều gói giấy bạc tiền Thái Lan màu tía và chồng gọn gẽ trước mặt Dao. Khi Fong đã đặt đủ số tiền hơn hai triệu bạt, hắn vái một cái, nói:
- Tôi đã chồng đủ số tiền như đã thỏa thuận. Khi nào Kot có thể nhận hàng?
- Ba ngày sẽ đầy đủ, được không, bắt đầu từ sáng nay? - Dao hỏi.
- Tuyệt vời! - Fong cũng vỗ nắm tay vào lòng bàn tay. - Và nếu tướng quân vui lòng, tôi xin tặng bộ lạc Hsong hai xe tải mới để ăn mừng Cây Sào Đỏ mới.
Dao vừa ngạc nhiên vừa vui sướng. Thêm hai xe tải mới nữa, ngoài điều đã thương lượng. Dao nói:
- Ông rất rộng rãi ông bạn ạ. Bộ lạc Hsong sẽ rất sung sướng được làm việc với ông Kot.
- Mai, - Fong gật đầu nói và đứng dậy.
Họ rời khỏi lều và Soon đi theo họ khi họ trở lại chiếc xe vận tải.
Fong vui mừng về việc chọn Billy Kot và hắn vỗ vào cánh tay Cây Sào Đỏ mới, nói với vẻ yên tâm:
- Anh đã hành động rất đẹp ở đó. Tôi nghĩ rằng anh sẽ không gặp rắc rối chi cả.
- Mm goi, - Billy Kot nói và vái một cái.
- Một trăm năm mươi ki lô bạch phiến nguyên chất đổi lấy một trăm bốn mươi nghìn dollar và hai xe vận tải, - Fong nói, - tất cả điều đó đi đến cái gì, White Fan?
Fan đã tính được lợi nhuận, căn cứ trên giá cả thị trường buổi sáng ở Manhattan. Ông ta bật nhanh những ngón tay theo mật mã “Ba triệu bẩy trăm ngàn dollar”. Fong tươi cười nói:
- Công việc xong xuôi trong có một ngày.
Bất cứ nơi nào có người ở là có con buôn thuốc phiện sẵn sàng giăng lưới bắt mồi. Tại khách sạn Victosha ở Sofia hay khách sạn Pique ở Marseilles hay khách sạn Vườn Hoa ở Amsterdam, những người Syri, Thổ Nhĩ Kì và Lebanon gặp những tay cướp Trung Hoa, Sicilia và Mỹ để mua bán bạch phiến, cocaine và cần sa. Họ là những chủ nhân có thế lực trong việc buôn bán thuốc phiện.
Họ đã mở những tuyến đường thủy từ phương Đông đến Amsterdam, London, Rome, và từ đó chở đến những cảng chính ở Bắc Mỹ, nơi đây một ngàn ki lô bạch phiến bán được với giá hơn một tỉ dollar, rồi nó lại được phân chia đi bán lẻ trên các đường phố.
Đồng bọn của chúng là những người Sicilia vì trong những năm từ khi cuộc chiến tranh ở Việt Nam kết thúc, chúng đã thỏa thuận với bọn du đãng Mỹ và mở rộng việc bán thứ bạch phiến chết người của chúng đến những thành phố chính của Mỹ.
Những tên trùm thuốc phiện đã biến việc buôn lậu thành một nghệ thuật lạ lùng, một trò chơi ú tim chết chóc giữa những kẻ cứng đầu cứng cổ, những tên giao liên chuyên chở lậu bạch phiến và những nhân viên hải quan chống buôn thuốc phiện lậu. Thuốc phiện chở lậu được giấu trong đá quí, tượng rồng, trong đệm trong các hộp bao cao su, trong búp bê, sách vở, túi hồ sơ ngoại giao và trong những chuyến tàu biển chở cà phê, đậu nành và tre nứa. Thuốc phiện còn được hòa tan vào nước, rồi thấm vào những vali, những bức tranh, những tấm thảm và quần áo để mang theo người hoặc gửi tàu biển sang Mỹ. Những tay buôn lậu chôn thuốc phiện trong sa mạc đợi thương lượng giá cả, sau đó chuyển nó qua biên giới bằng cách cho lạc đà ăn thức ăn pha thuốc phiện, làm cho chúng nghiện và huấn luyện cho chúng biết đi theo những tuyến đường đặc biệt để được ăn nhiều thuốc phiện hơn.
Cứ mỗi chuyến thuốc bị đổ bể thì lại có một phương án mới. Cứ mỗi cân thuốc phiện bị tịch thu thì mười cân thuốc phiện đã đi lọt.
Ở Bangkok và Hong Kong, Tollie Fong với những băng Bạch Thủ của hắn đã phát triển những kĩ thuật buôn lậu ghê tởm và kinh khủng nhất. Giờ đây chúng phải đưa một số lượng thuốc phiện vào Mỹ. Chúng đã có gần ba tấn bạch phiến Trung Hoa nguyên chất loại 99,9 phần trăm giấu bí mật ở Bangkok sẵn sàng để chuyển vận sang Mỹ.
Lời tiên đoán của cha Tollie Fong hai mươi năm về trước cuối cùng đã thành sự thật. Những năm trước đây việc làm ăn của chúng đều tốt. Fong đã có một kế hoạch hoàn hảo. Vị San Vương già đã tán thành kế hoạch đó.
Tollie Fong có nhiệm vụ gây chiến tranh với kẻ thù bất cộng đái thiên của Chiu Chao là Mafia.
 
0

MỘT ĐỀ NGHỊ

 
Earp ra khỏi văn phòng của Sweets Wilkie và bước lên các bậc thang đi qua bức rèm kết bằng các chuỗi hạt thủy tinh để vào phòng ‘Hole in the Wall’ (Lỗ trong vách) của quán Longhorn. Honorable (Tướng công) ngồi trong chiếc ghế nệm của ngài, sự có mặt của Tướng công làm chiếc ghế có vẻ như một ngai vàng. Ông ta đang đọc sách như thường lệ, ánh sáng duy nhất của chiếc đàn có diềm chiếu ra từ một hốc tường rộng. Không có một người nào khác ở trong phòng, và những cái đèn trên cả hai bàn đánh bài poke và bàn bida đều đã tắt cả. Earp kéo một chiếc ghế đến ngồi cạnh Tướng công. Y nói:
- Hơi trễ đối với ngài, phải không?
- Tôi bận. - Tướng công nói, mắt vần không nhìn lên.
- Người của tôi ở Hong Kong mới gọi điện đến.
- Ừ hứ, - Tướng công nói, nhưng mắt vẫn không rời quyển sách.
- Một người đàn ông tên là Hatcher đang đến trên chuyến bay sáng. Hatcher là một tên giết người. Hắn làm cho Sloan.
- Có thể là một sự trùng hợp?
- Không phải là ngẫu nhiên đâu. Sloan nhập cuộc. Giờ đây Hatcher theo hắn. Không, hắn ta không đến đây để chơi đâu.
- Tên Hatcher này có nguy hiểm không?
- Hắn đã bỏ ra bao công sức để tìm hiểu phân nửa Hong Kong trong bốn mươi tám giờ qua. Thằng cha này là một bệnh dịch đang lan.
- Anh có ý kiến đề xuất nào không?
- Không phải tôi luôn luôn có ý kiến đấy ư?
Tướng công nhúng ngón tay vào rượu vang lật một trang sách và liếm ngón tay rồi nói:
- Anh bố trí dụ hắn đến đây. Hãy kiểm tra hắn chặt chẽ và giữ thái độ thân thiện.
- Điều đó hơi nguy hiểm, phải không? - Earp nói. - Đưa hắn vào thẳng phòng khách chứ?
- Nếu hắn nguy hiểm như anh nói và hắn đến đây để hạ sát Thai Horse thì hắn phải cừ lắm đấy. Sớm muộn gì hắn cũng đến đây thôi.
Tướng công nhìn lên và một cái gì đó dường như một nụ cười lướt qua trên môi ông ta:
- Như người Thái thường nói: “giết một con hổ lành dễ hơn là giết một con chó dại”.
 
0

NGHI NGỜ

 
Hatcher trở mình khi chiếc phản lực 747 nghiêng cánh đột ngột và bay lướt qua Bangkok trên đường tiến về thành phố, người phục vụ chuyến bay thông báo rằng máy bay sắp đến phi trường Don Muang. Còn đang nửa tỉnh nửa mơ, Hatcher nhớ lại Bangkok là một thành phố có những đền chùa vàng và bạc, có những tháp hình chóp và lâu đài nguy nga, có những phụ nữ đẹp mảnh mai dễ vỡ như đồ sứ, quấn trong những tấm lụa rực rỡ.
Anh kéo tấm rèm nhìn xuống, cảnh đẹp như trong tranh. Ngay trong ánh sáng xam xám trước bình minh với mặt trời như chốn thiên thai lung linh ở chân trời, Bangkok giống như một viên ngọc lấp lánh trong lòng bàn tay Phật và dòng sông Chao Phraya là đường đời vô tận trải dài từ ngón tay út đến ngón tay cái. Hàng trăm lâu đài nguy nga và những tháp hình chóp bằng vàng vươn qua lớp sương mù ban mai như những đóa hoa tìm đón ánh mặt trời. Đây là những nơi thiêng liêng và những con kênh uốn dòng qua thành phố nói lên đặc điểm và tính cách của Bangkok. Nhiều thế kỉ trước đây Bangkok không có đường xá, phố phường của nó là bao nhiêu kênh rạch được gọi là Klongs chảy quanh co, hai bên bờ phủ đầy hoa và cây cỏ. Sự phát triển đã làm Bangkok thay đổi. Một số sông chính vẫn còn dùng cho thành phố, số còn lại đã được lấp đi trở thành đại lộ và đường cho xe chạy. Nhưng vẫn còn lại những lùm hoa và những đường phố nay được phân ranh giới bởi các loại hoa lan, hoa giấy, những cây cọ cũng như những cống rãnh và vỉa hè. Qua làn sương sớm, Hatcher chốc chốc lại thấy những con kênh đông nghẹt những chiếc thuyền hang yao thanh mảnh đuôi dài chất đầy trái cây tươi, hoa và hàng hóa do những người sống trên sông nước chèo đến những chợ nổi trên hai bên bờ sông chính.
Lúc máy bay bắt đầu hạ cánh, mặt trời đã ló ở chân trời, sương sớm bừng sáng lên vì ánh lửa bình minh, biến thành hơi nước, tan đi và một thành phố vàng lấp lánh hiện ra trong ánh hào quang tuyệt mỹ.
Đây là một mảnh đất xa lạ đối với người phương Tây đến nỗi họ tưởng như đang bay vào một hành tinh nào khác. Những khách du lịch khi nhìn thấy mảnh đất này, ngạc nhiên không ngớt kêu lên “ô”, “a”. Mọi vật phía dưới họ dường như sạch sẽ, màu mỡ và quyến rũ. Tuy nhiên họ cũng biết rằng bên cạnh cái vẻ đẹp ấy còn có nỗi đau khổ của sự nghèo nàn khủng khiếp, những đứa trẻ nhỏ vầy ngay những chất dơ dáy chúng thải ra và bị đem bán trên đường phố, bạch phiến là một phần của hối đoái, có sáu chục đến bảy chục vụ giết người hàng tháng, những tháp cao xây cất bằng thép lạnh và kính bóng loáng của người phương Tây đang dần dần làm hư đi vẻ đẹp thanh tú và cổ xưa của Bangkok, xe cộ đang làm ô nhiễm bầu không khí của thành phố. Hắn nghĩ, có lẽ, rồi đây người Thái sẽ chán ngấy những người ngoại quốc và tống cổ họ đi như tổ tiên của họ đã làm cách đây hai trăm năm về trước khi những người Pháp đến đây cố gắng thay thế lòng từ bi của Phật bằng lòng kiêu ngạo cứng cỏi của đạo Cơ Đốc.
Để sống được như người Pháp ở Bangkok, người phương Tây phải chấp nhận triết lí của nó mặc dầu họ không hiểu nó. Nơi đây Phật là vị thánh nhân từ. Những người Thái giàu có mua những búp lá bằng vàng rồi gắn chúng vào các đền chùa và các bức tượng. Những người nghèo thì gắn lên các bức tượng những mảnh sứ vỡ. Mọi người đều đến dâng lễ và đọc kinh cầu Phật, vì người Thái không nghĩ gì đến việc cầu xin một con cá to trên dây câu của họ, một vé số trúng độc đắc, một người đàn bà xinh đẹp qua đêm hay một người đàn ông đẹp để ôm ấp khi mặt trời lặn. Sự tế nhị không còn có những người phương Tây mà Chúa Trời của họ được nặn lên bởi những kẻ trung gian phách lối, vênh vang, tự xưng là người truyền giáo: đó là vị Chúa Trời hay giận dữ ít lòng trắc ẩn, ít tha thứ và không có tính hài hước. Đối với người Thái họ tin rằng nụ cười được sinh ra trong xứ họ. Đức Phật là vị Chúa Trời tốt bụng và bao dung, có thể chơi những trò ranh mãnh cười đùa và vui mãi, một vị Chúa Trời không đòi hỏi gì cả, không yêu cầu gì cả và mỉm cười với kẻ nào dâng lễ dưới chân người.
Có lẽ vì thế mà đối với người Thái tranh luận là một tội, to tiếng là điều sỉ nhục và tức giận là điều quá quắt. Người ta phải yêu thương một dân tộc mà triết lí sống của họ được tổng kết lại thành phản ứng của họ đối với tất cả mọi điều là: Mai pen rai - không sao đâu. Trong lúc Hatcher còn chưa hiểu những điều phức tạp của đạo Phật theo phái Đại Thừa thì một điều anh biết chắc là: những người Phật giáo tin ra cuộc sống tạm bợ của chúng ta trên thế gian này là không chắc chắn dù ở trong hoàn cảnh tốt nhất cũng là điều đáng xấu hổ, sự khao khát là điều tội lỗi và cuộc sống là một quá trình hỉ xả. Đó là một triết lí mà anh đã thử theo, nhưng có những phản ứng tâm lí đã ăn sâu vào người phương Tây đến nỗi đối với một người Pháp thì khó mà bỏ chúng được. Và trong khi Hatcher đã hiểu và cố thực hành triết lí của người Thái trong quá khứ thì lần này anh lại không làm được. Anh quá lo ngại và điều mà anh sợ nhất là cái anh sẽ biết được về Cody ở Bangkok. Máy bay càng đến gần phi trường sự lo lắng của anh càng tăng lên. Ngay cả việc chấp nhận dạng người bạn cũ xưa kia của anh cũng là một vấn đề lớn. Anh có còn nhận ra Cody nữa không? Đã gần hai chục năm rồi kể từ khi anh gặp Cody lần cuối. Và có thể bạn anh đã đổi tên.
Nhưng nỗi lo sợ lớn nhất của Hatcher lại liên quan đến chính bản thân Cody. Anh ta hiện đang làm gì ở đây, và tại sao anh ta lại giữ bí mật lai lịch của mình trong suốt từng ấy năm? Anh ta có phải là một cộng tác viên không? Một tay bán ma túy? Một tay buôn lậu thuốc phiện? Nếu anh ta buôn lậu    phiện thì anh ta có liên kết gì với Tollie Fong và cái băng Tam Kết Chiu Chao không? Hay là có một bí mật nào sâu xa hơn mà Hatcher không thể tưởng nổi?
Cody có thực sự chết không? Dù cho anh ta có thoát được ra khỏi chiếc máy bay rơi mười lăm năm về trước thì có lẽ Cody cũng đã chết trong trại giam hay chết vì nhiều lí do khác. Mười lăm năm quả là một thời gian dài.
Hatcher cũng nhớ lại rằng ở Thái Lan đã không có một sự kiện nào về vấn đề đó cả. Sự thật là một lò thử thách để xem cái gì là thật, cái gì là tưởng tượng, cái gì là đúng thực và cái gì là tâm linh. Tốt nhất là từ một sự kiện ở Bangkok phải rút ra được sự thật, nhận thức của cá nhân. Sự thật thường trái với cái vẻ bên ngoài của nó và sự vật không bao giờ giống như cái nó phô bày ra.
Tuy nhiên cố hết sức mình, Hatcher cũng không thể kết luận chắc chắn là tại sao Cody vẫn còn trốn tránh.
Cuối cùng có một câu hỏi hắc búa nhất: Nếu Cody có dính líu vào một âm mưu đen tối nào, thì Hatcher sẽ làm gì đây? Quên anh ta đi và quay về nhà ư? Dù thế nào cũng cố sắp xếp cho anh ta gặp cha chăng? Có lẽ lời khuyên nhủ của Cohen là tốt nhất - quay lưng lại không đếm xỉa gì đến mọi việc nữa và trở về.
Đó không phải là chọn lựa đứng vững được đối với Hatcher. Anh có bổn phận đối với Buffalo Bill Cody. Anh đã hứa và anh muốn giữ lời. Thật vậy, anh đã mắc cáu, anh phải chơi hết mình, bất chấp kết quả sẽ ra sao.
Anh đã qua được hải quan mà không xảy ra việc gì và tìm được một chiếc taxi. Chuyến đi vào thành phố là một điều kì thú, một cuộc đi chơi kì diệu qua những dải đất trồng trọt xanh tươi làm khách phải lóa mắt, những thanh âm, những quang cảnh có thể thôi miên bất cứ ai. Vẻ đẹp của thành phố luôn luôn quyến rũ Hatcher và giờ đây trở lại sau năm năm xa cách, anh lại ngạc nhiên vì những điều bí ẩn còn giữ kín và những lời hứa hẹn đang che đậy.
Bốn mươi cây số đường vào thành phố trôi qua nhanh, và những cánh đồng xanh tươi của vùng quê thình lình nhường chỗ cho thành phố ngay khi họ đi ngang qua lâu đài Chitralada nguy nga. Chiếc taxi chạy qua đường đua Royal Turf Club, qua những cánh đồng mà hàng ngày diễn ra những cuộc đấu diều vào lúc hoàng hôn, qua Phadung Klong, con kênh chính của thành phố. Sau hai giờ nữa, đại lộ sẽ đầy những xe ô tô, những xe máy kêu bịch bịch gọi là samlor, và những chiếc xe tuk-tuk ba bánh kì lạ có hai chỗ ngồi chạy luồn lách trong đám xe đông nghịt làm mọi người phát khùng, cái tên của chúng đủ mô tả được tiếng kêu của động cơ nhỏ trong xe. Nhưng trong ánh nắng sớm, thành phố cũng giống như một thế kỉ trước đây. Họ lái xe xuống đường Bamrung Muang hầu như vắng vẻ, nơi đây hoa lan, hoa hồng leo từng lớp trên những hàng rào, họ đi qua những khu đất có những cô gái trẻ trong bộ đồ thêu đang tập dượt những điệu vũ nghi lễ và chờn vờn với những cái bóng dài do ánh nắng ban mai in trên thảm cỏ mịn như nhung màu ngọc bích. Luồng gió mát ban mai thổi qua cửa sổ của xe taxi đưa lại tiếng chuông chùa văng vẳng từ những đền thờ Phật ở khắp mọi nơi, các góc chùa khảm tinh vi, các tháp hình xoáy ốc màu sắc và những mái vòm lát ngói vàng, những mái chìa được trang trí bằng những hình chạm cong màu vàng được gọi là chofas.
Một bà doanh thương người Thái trong bộ đồ phương Tây đậu chiếc xe Mercedes bên lề đường, đặt một vòng hoa lài vào một cái miếu nhỏ làm rất đẹp và chắp tay lại vái, có lẽ đang cầu thần linh ban cho một ngày thành công. Những cái miếu nhỏ có ở mọi nơi, giông như những cái nhà cho búp bê được sơn phết huy hoàng và đặt trên các cột trụ. Những miếu này luôn luôn được bày các lễ vật: những bình sơn thủ công đầy hoa hồng, những cây nhang đang cuộn khói, những vòng hoa lan, những lá sớ khẩn cầu thần linh, những dải lụa màu tươi sáng, và cả thức ăn nữa.
Khoảng nửa chục sư sãi trong bộ áo dài quấn sa rông bước ra từ một ngôi chùa gần đấy mang theo những cái bát bằng đồng để xin đồ bố thí, bắt đầu đi xin bữa ăn đầu tiên trong ngày. Cách đó hai khu phố, một người đàn bà nhà quê, đầu quấn khăn có gắn nữ trang sáng chói và đôi môi sẫm lại vì ăn trầu ngồi ngay giữa hè phố đang xỏ những vòng hoa lài. Ở một khu phố khác xa hơn, một anh bán hoa quả đang bận sắp xếp sạp hàng của mình, với những hàng dãy trông ngon mắt vào dưa, chuối, xoài và sầu riêng - một loại trái to có gai mà hầu hết người ngoại quốc không ưa. Họ đi qua cái đu cao ngất Phatpu nơi đây các nhà lực sĩ đã từng đu thành những vòng cung lớn để mua vui cho nhà vua, cho đến khi trò chơi này bị cấm vì quá nguy hiểm. Những đường phố có trồng hoa ở nơi đây nhường chỗ cho thành phố đông đúc. Những việc phi lí như vậy còn nữa: một cung điện đời Victoria với những tháp nhỏ hào nhoáng sang trọng nhưng bỏ hoang đứng ngay sau một rạp chiếu phim, một bức tượng Phật khổng lồ cao ba tầng lại đặt giữa hai tòa nhà làm việc bằng kính và bê tông, một đám trẻ con cầu bơ cầu bất chạy trên lề đường với điệu bộ duyên dáng như những vũ nữ ba lê đang đá một trái banh mây làm hoảng hốt một đàn én di trú từ xa bay đến, dường như đang tìm nơi đậu giữa những bức tượng và đền chùa. Và có những nét về tính khí bốc đồng của người Thái: một tiệm cắt tóc mang tên Darling (Yêu Dấu), một cửa hàng ăn có tên Puberty (Tuổi Dậy Thì), một khách sạn cho mướn phòng theo giờ có tên là Bungalow Home Fun (Vui Gia Đình Trong Nhà Gỗ Một Tầng).
Phố này chấm dứt thình lình ở đường Yawaraj, đánh dấu sự bắt đầu của khu Yawaraj hay là phố Tàu. Vì xe cộ đông nên những chú lính cảnh sát giao thông mặc đồ ka ki với nón sắt trắng bóng loáng bắt đầu xuất hiện và người lái xe tin vào còi xe hơn là tài khéo léo của mình để chạy qua những con đường nhỏ đông nghẹt người. Những con đường như hình phễu, trở nên hẹp lại và quạnh hiu đáng sợ quanh co qua những ngôi nhà cũ bằng cây xiêu vẹo chen chúc nhau. Chốc chốc lại thấy một nóc chùa Tàu thanh tao vượt lên cao hơn những dãy cửa hàng giông giống nhau bán các thức ăn hiếm, thuốc kích dục, thuốc bổ Quảng Đông và những dược thảo thần diệu. Đường phố trở nên hẹp lại, quanh co qua Nakorn Kasem, chợ tàu, quen gọi là chợ Kẻ Cắp (Thieves’ Market), một sự dùng từ sai vì từ lâu hầu hết các cửa hàng đều bán những thứ hàng tầm thường như bồn tiêu, bơm nước và những đồ điện. Miếng mồi hấp dẫn thực sự của Yawaraj là những cửa hàng đồ cổ đầy bụi được chiếu ánh sáng lờ mờ. Những chủ tiệm đang bận rộn những vật quí giá của mình ra phía ngoài để bày chúng ngay trên vỉa hè: đồ sứ, đồ gỗ téc nạm ốc xà cừ, những bình phong bằng gỗ hồng đào, những cây đèn bằng thau và đồng.
Người lái xe rẽ vào Đường Mới (New Road), và chạy thẳng xuống vài khu nhà cuối để đi đến dòng sông ở cuối đường Yawaraj và ngừng trước khách sạn Nhà Mương (Muang House), một khách sạn trung bình, mà Hatcher thích hơn là những khách sạn sang trọng ở Bangkok. Khách sạn được trang bị máy điều hòa không khí, vì thế muỗi không còn là vấn đề đáng sợ nữa. Chiếc taxi kế đó chạy qua chợ đặc sản để đến khu vực phía Đông.
Nhà hàng ăn ở phía ngoài ngay sau khách sạn, trên một sân hiên trồng đầy hoa bên dòng sông Chao Pharaya rộng đang cuồn cuộn chảy. Phía dưới là những con thuyền dài vội vã lướt qua làn sương sớm đi đến chợ nổi, còn ở đằng xa là những tháp hình chóp của nhiều ngôi chùa xuyên thủng bức màn sương xà thấp. Chưa tới bảy giờ sáng. Nhà hàng ăn vắng tanh, chỉ có mình Sloan đứng gần rào sắt nhâm nhi li cà phê và ngắm dòng sông. Ngọn gió nhẹ ban mai thổi phần phật tà áo vét bộ đồ lụa trắng hắn mặc. Với cái áo sơ mi màu xanh nhạt người ta có thể dễ nhầm hắn là một người bán hàng hoặc một ủy viên quản trị hãng buôn. Cuối cùng hắn ngồi xuống một cái bàn gần rào sắt, với cặp kính Ben Fraklin đeo trễ xuống giữa mũi, mở tờ báo Bangkok Post, một trong ba tờ báo tiếng Anh của xứ này, rồi lại cuộn nó theo chiều dài như những người đi xe điện ngầm ở New York thường làm.
Có một lí do khác làm cho Hatcher bồn chồn lo lắng khi đến Bangkok. Đó là Harry Sloan. Thủ đoạn là tên đêm của Harry.
Trước khi nhiệm vụ này chấm dứt, Hatcher lo sợ có thể anh phải đứng giữa Murph Cody và Harry Sloan.
Ta sẽ phải nói những gì cho hắn biết? - Hatcher tự hỏi. - Hắn có cần biết điều gì không?
- Sawat-dii. - Người bồi bàn chính nói và cúi chào. -Xin mời ông xơi điểm tâm?
Hatcher chỉ về phía Sloan và theo người thanh niên ăn mặc chải chuốt đến cái bàn đó. Sloan ngước nhìn lên qua phía trên cặp kính rồi nhìn xuống chiếc đồng hồ đeo tay. Hắn nói:
- Thật đúng giờ. Sự đúng giờ, dấu hiệu của con người đáng tin cậy.
Hatcher kêu nước cam tươi, cà phê và một cái bánh nướng xốp Anh. Khi người phục vụ rời khỏi bàn, Sloan bỏ kính ra, đặt cẩn thận xuống một góc bàn.
Thiếu một nụ cười trên mặt Sloan, mặc dù giọng nói của hắn vẫn nhàng như thường lệ.
- Anh đã từng ở thuộc địa lâu ngày.
- Anh định nói gì?
Sloan hạ cố mỉm cười:
- Chỉ cốt để anh hiểu thôi, tôi đã bị tấn công vì một thằng ngu của tôi ở Madrago. Tôi không muốn có một cuộc đấu súng trên đỉnh đồi Victoria, tụi cớm vênh váo lên, một trận đấu đôi chết tiệt giữa Cohen và Tollie Fong một cuộc đấu súng trên thượng nguồn sông làm một nửa bọn Ts’e K’am Men Ti ngã gục. Cái mà tôi đang nói là hoàn toàn đột ngột, những cái được ưu tiên đã thay đổi Madrago chính là điều quan trọng ngay lúc này.
- Anh nói lầm đấy, Harry, - giọng nói khàn khàn của Hatcher đáp lại cũng rất nhẹ hàng. - Tôi không vẽ một đường trên mặt đất và thách chúng bước lên. Chúng đang cố tìm cách giết tôi. Tôi có nhiệm vụ phải làm gì, đóng vai một người đã ở thế bị tấn công chăng?
- Không ai nghĩ rằng lại như thế.
- Vậy hãy để tôi làm việc của tôi.
- Anh biết là quan trọng như thế nào việc giữ cho cả đội im lặng, đặc biệt là lúc này. Có quá nhiều điều đang lâm nguy, ở đây, ở Trung Mỹ, ở Trung Đông. Đồ quỷ, ván bài đã lật ngửa hết rồi đấy.
Hatcher nhìn chằm chằm Sloan ngồi bên kia bàn. Anh giũ khăn ăn và để rơi nó lên lòng khi người bồi bàn mang cà phê vào. Anh nói:
- Anh biết cái nguy hiểm khi anh mang tôi đến đây, - Hatcher pha nhiều kem và đường vào cà phê của anh, - và cả hai chúng ta biết rằng tôi đã gặp khó khăn ngay từ cái phút mà con chó đẻ Varney hiện ra trước cửa nhà anh. Như anh luôn luôn nói, nếu một người đã biết thì mọi người đều biết. Tất nhiên là không tránh được việc thằng con hoang ấy ở trong danh sách ăn lương của Fong.
- Thằng con hoang đó, tôi biết. - Nụ cười trở lại, giọng nói dễ thương trở lại. - Anh hãy nhớ rằng trong tương lai những điều này có thể dàn xếp được.
- Không có thì giờ cho việc ấy. Chúng không bấm chuông ở cửa nhà Cohen để đề nghị một cuộc thương lượng nhỏ trước đâu... - Những lời nói của Sloan thình lình thấm vào, và Hatcher dừng lại một lát, ngó chằm chằm vào hắn. - Anh muốn nói gì, những điều đó có thể thương lượng được à? Anh không thể thương lượng bất cứ điều gì với bọn Chiu Chao đâu.
Sloan chồm người qua bàn, nói một cách chán nản:
- Tôi có thể lo việc đó.
- Bằng cách nào?
- Chúng ta buôn bán với những xứ này. Khi chúng ta cần làm áp lực với Fong, thì có những cách để làm việc ấy.
- Harry, không có ai làm áp lực được với Fong đâu.
Người phục vụ mang bữa điểm tâm đến. Sloan đã gọi trứng, thịt muối chiên, bánh mì nướng, trái cây. Những người khách khác bắt đầu vào nhà hàng ăn.
- Cái quỉ gì đã xảy ra ở vùng thượng nguồn? - Sloan hỏi trong lúc rắc muối tiêu vào trứng.
- Tôi đang tìm tin tức.
- Tôi hi vọng rằng cái mà anh đạt được bõ với chừng ấy xác chết.
- Anh bắt đầu lo đến việc đếm các xác chết từ bao giờ đây? - Hatcher nói một cách mỉa mai.
Sloan chồm người lên bàn, nói:
- Anh có tìm được cái gì hay không?
- Tôi tìm được một vài dấu chỉ dẫn.
- Ra thế đấy? Tất cả những gì tôi rút ra được qua bữa điểm tâm này: anh tìm được vài dấu chỉ dẫn.
- Chúng ta sẽ nói về điều ấy nếu chúng có kết quả.
Sloan ngả người ra và thở dài, hắn quay nhìn dòng sông, sắp xếp lại ý nghĩ của mình.
Hatcher nói một cách rất cụ thể:
- Harry, tôi đến đây để tìm Murph Cody và đó là việc tôi sẽ làm. Tôi sẽ làm việc ấy theo ý tôi, không có chuyện phải báo cáo cho anh tiến độ từng ba mươi giây một. Tôi biết tôi còn sống để ăn bữa sáng hôm nay và giờ thì tôi ở đây. Anh có quan tâm quái quỉ gì đến việc lao vào công việc ấy tôi phải đụng với Ts’e K’am hay Fong hay bất cứ người nào khác? Đó là chuyện của tôi. Tôi không làm việc cho đội đâu, tôi chỉ là một dân thường đang đi tìm một người bạn cũ.
- Tôi khâm phục cái tài đơn giản hóa quá mức của anh - Sloan nói và cười khúc khích. - Ờ, tôi có một vài tin tức không được tốt cho anh và nhiều tin tức còn tệ hơn nữa. Anh thích nghe tin nào trước?
Hatcher thở dài hỏi:
- Tại sao anh lại cười khi nói đến việc đó?
- Có thể là tôi cũng ương ngạnh như anh, - Sloan nói. - Cái tin xấu nhất là người ta đã tìm thấy những cái thẻ ghi tên tuổi của thằng cha Cody tại nơi máy bay rơi.
Hatcher gắt với Sloan làm cho lời thông tin chìm đi.
- Anh biết chuyện ấy khi nào?
- Tối hôm qua. Người ta tìm thấy chúng khi kiểm tra lại vào năm 76 địa điểm máy bay rơi. Nó không có trong báo cáo vì người ta đã tuyên bố anh ta chết rồi và hồ sơ chính thức cũng đã đóng lại khi tìm thấy chúng.
- Làm sao anh biết được?
- Anh biết Flitcraft chứ, hắn không bỏ qua một chứng cứ nào. Hắn thường xuyên hỏi tin ủy ban tù binh và Công ty bảo hiểm sau khi chúng ta nhận được báo cáo của Windy. Tài liệu về những thẻ đó được bỏ quên trong một gói giấy báo hiểm và không bao giờ được bổ sung vào hồ sơ chính thức cả. Chúng đã không được người ta lưu ý đến ngay lúc ấy.
Hatcher ngẫm nghĩ một lát. Thật ra thì đó là nguồn tin tốt cho anh. Nó giải quyết một vấn đề liên quan đến lí lịch của Cody trong trại tù binh. Anh nói:
- Điều đó có thể giải thích vì sao mà Việt Cộng đã không khai thác hắn.
- Tôi chưa hiểu ý anh, - Sloan nói.
- Ngay trước giờ phút này, sự việc thực sự làm tôi phát cáu, - Hatcher nói. - Nó không ra nghĩa lí gì cả. Nếu Việt Cộng tóm được đứa con của đại tướng tư lệnh trưởng thì họ có thế mạnh để giải quyết những thương lượng khó khăn, nhưng họ chưa bao giờ làm cả. Bây giờ thì chúng ta biết được là tại sao. Anh ấy đã giấu họ, Harry, do đó họ không biết anh ấy là ai.
Sloan nhướng đôi mày lên. Rõ ràng là hắn đã không nghĩ ra điều đó. Hắn nói:
- Anh thực sự có tài khai thác những điều có lợi cho anh.
- Tôi cũng đã biết chính xác cái trại lưu động gọi là Huie-kui. Trại đóng ở rìa dãy núi Trường Sơn thuộc phía Lào gần thành phố Muang. Đó là trại chuyển tiếp dành cho những lính ngụy.
- Hừ, cứt, - Sloan khịt mũi căm phẫn.
- Để tôi nói hết đã, - Hatcher nói nhỏ. - Cũng có tám đến mười tù binh Mỹ ở trại này, họ phải lao động thường xuyên. Tôi đã gặp một người, ông ta nghĩ rằng đã nhìn thấy Cody ở đó.
- Nghĩ à?
- Chúng ta đang nói chuyện mười, mười một năm về trước mà.
Sloan cà cà cườm tay vào cằm, hỏi:
- Cái gì đã xảy ra cho cái trại này sau chiến tranh?
Hatcher lắc đầu.
- Tôi không biết nhưng tôi biết rõ là anh ấy đã không trở về Hà Nội. Anh ấy đã chạy trốn.
Cái tôi của Sloan có thể đã quỵ. Hắn nhìn chằm chằm vào Hatcher qua cái bàn một lúc lâu rồi nói:
- Tất cả đều vẫn là có lẽ và có thể.
- Vâng.
- Như thế chúng ta vẫn không có gì chắc chắn ngoại trừ Wol Pot.
- Đúng vậy. - Hatcher nói.
- Thật là cứt, Hatcher. - Sloan nói. - Tôi sẽ nói với anh cái gì mà tôi không tin. Tôi không tin rằng có hai nghìn bốn trăm người Mỹ mất tích đang ở Hà Nội. Có thể một số đang đi lạc đường quanh vùng Lào hay Bắc Việt. Có lẽ một vài kẻ đã phản bội. Số còn lại có lẽ đã bị bắn, hay chết vì thiếu dinh dưỡng, vì bệnh tật. Đó là những kẻ không bị giết tại chỗ. Quỉ thần ơi, bao nhiêu con người tốt đã bị đem đi hủy hoại ở Việt Nam, Hatcher. Ngoài ra, trở lại cái thế giới thực tế, anh có thể bị trúng độc vì liều thuốc mua ở hiệu thuốc bên đường, bị một anh chàng say rượu nào đó, đụng xe trên xa lộ. Còn nhiều cách chết tồi hơn là chết để phục vụ tổ quốc.
- Tại sao anh không đề cập đến vấn đề đó ở Georgia khi anh lừa gạt tôi vào chuyến đi này?
- Tôi không bao giờ nói là Cody còn sống.
- Anh đã có ngụ ý cái đó đủ để đưa tôi đến đây.
- Này, tôi nói thẳng rằng thái độ của anh thật quái quỉ, còn khó chịu hơn là lúc ở Georgia thậm chí cả ở Hong Kong nữa.
- Chúng ta hãy nói thẳng ra chúng ta đã đưa ra một câu chuyện ngông cuồng để làm tiền đề.
- Cứt bò! Tôi biết anh. Tôi có thể nói rằng mũi anh đã bắt đầu hoạt động và anh đang lao vào một điều gì đó.
- Đúng như thế! - Hatcher gật đầu nói.
- Anh tin rằng Cody còn sống hả?
- Chúng ta nên nói là: Tôi tin điều đó hơn là lúc tôi còn ở Hong Kong.
- Tại sao?
- Chả có gì. Trực giác thôi.
- Nhưng anh chẳng có gì để dẫn chứng tại tòa án.
- Không.
- Ừ hứ. Được.
Hatcher đã giấu một số điều quan trọng của vấn đề rắc rối này: Wol Pot đã chạy trốn sang Bangkok, người Hà Lan đã nghĩ rằng kẻ có thể là Cody hiện giờ đang buôn thuốc phiện. Anh cũng không nói với Sloan về cô gái tên Pai và cũng chưa đề cập đến Thai Horse. Tại sao? Anh tự hỏi. Bởi vì anh không tin Sloan, đó là câu trả lời.
Sloan nói:
- Vấn đề là Murph Cody còn sống không? Nêu còn sống thì bây giờ hắn ta đang ở trong hoàn cảnh nào.
- Lúc ở Georgia, anh đã nói với tôi rằng nếu tôi tìm được Cody thì anh sẽ không còn đòi hỏi gì thêm nữa - Hatcher nói - Anh đã nói ông già chỉ muốn gặp mặt để từ giã con thôi. Đó là vấn đề duy nhất.
Sloan đốt một điếu thuốc xì gà, gạt tàn thuốc và nhìn ngọn gió nhẹ đưa làn khói thuốc đi xa. Hắn đăm đăm nhìn ra ngoài sông.
Cả hai người đang nghĩ về thuở xưa, thời gian họ trông cậy vào nhau, tin tưởng nhau, khi đó có một mối liên kết giữa họ với nhau không nói ra lời, không viết chữ mà nó cao hơn cả nhiệm vụ và mệnh lệnh và gần như một lợi dây liên lạc tinh thần giữa ý nghĩ và hành động. Nhà tù Los Boxes đã đánh vào mối liên hệ này và làm nó tan vỡ.
Giờ đây họ đang đi vòng vo quanh vấn đề, không người nào muốn phơi bày nó ra để trực tiếp đương đầu với vấn đề này. Sloan không muốn hứa hẹn ra miệng, không bao giờ hắn làm thế. Trong quá khứ, hắn luôn luôn giữ những lời nhơ nhuốc không để lộ ra.
- Tôi muốn anh phát hiện xem anh ta còn sống không, và nếu còn tại sao anh ta không xuất hiện. - Sloan nói chậm và rành mạch. - Và nếu anh ta đã dính líu vào một việc gì... ghê tởm... - Sloan để cho câu nói chìm đi.
- Ghê tởm ư? Ghê tởm ư? Thế chúng ta không đạt được một cái gì đẹp đẽ ở đây sao? - Hatcher ngắt lời.
- Chúng ta không bao giờ nói về loại việc như thế này trước đây. - Sloan nói và cặp mắt hắn dim lại. Cái cảm giác ngứa ngáy trong lòng Sloan trở nên chua chát. Hắn tự hỏi, cái gì đã xảy ra cho Hatcher?
Hatcher nói:
- Tại sao anh không phơi bày tất cả sự việc ra cho tôi biết?
Sloan vẫn không hứa hẹn gì. Hắn nhìn chằm chằm vào khoảng không rít từng hơi ngắn điếu xì gà.
- Anh nói với tôi là anh muốn tìm ra Cody, - Hatcher nói với giọng thực sự ngạc nhiên. Anh càu nhàu tiếp. -Tôi nói với anh rằng anh có nhiều cách lựa chọn như anh đã thường làm, nhưng tôi không muốn sự lựa chọn này. Tôi không đến đây đế giết bất cứ người nào. Tôi đến để tìm coi Murph Cody đã chết hay còn sống, chấm hết. Bây giờ anh lại quăng cho tôi nhiều nhiệm vụ mới.
- Không có nhiệm vụ nào cả.
- Tôi sẽ không thực hiện loại quyết định này - Hatcher nói nhỏ nhẹ.
- Vậy hãy bảo tôi, - Sloan nói một cách dứt khoát. -Tôi sẽ làm việc đó cho anh.
- Anh ấy là một anh hùng, Harry ạ.
- Được, thế kết luận của anh là quỉ quái gì? - Sloan nài nỉ. - Chính anh đã tự đánh giá Cody một phút trước đay mà. Hắn ta đã biệt tích mười lăm năm nay. Rồi có vẻ như hắn xuất hiện, sống ở Bangkok và không muốn cho ai biết đến, bây giờ thì Windy Porter chết và tên Wol Pot cao chạy xa bay. Giả dụ rằng hai gã Tàu đã khử Porter bây giờ đang đuổi theo dấu Won Pot. Giả dụ hắn và Cody liên kết với nhau làm một việc gì đó.
- Giả dụ, giả dụ, giả dụ. - Hatcher nói một cách giận dữ. - Quỉ tha ma bắt đi, thậm chí chúng ta còn chưa tin chắc rằng Cody còn sống. Wol Pot có thể đang lừa tất cả chúng ta một cú đểu giả đây.
- Này, tôi xin chịu. Được rồi, - Sloan đồng ý rồi nói bình thản như không, - nếu đúng như vậy, thì anh cũng cho tiêu luôn cái thằng con hoang ấy đi.
- Đối với anh, điều đó dễ dàng đến thế ư, Harry? - Hatcher hỏi. - Cho tiêu Cody, cho tiêu luôn gã người Thái.
Sloan thở dài. Hai vai hắn trùng xuống và bỗng nhiên dường như già đi đến mười tuổi. Hắn nói một cách yếu ớt:
- Chúng ta đã thực hiện những cuộc chiến tranh trong bóng tối quá nhiều năm nên bây giờ không thay đổi được.
- Thế nếu Murph trong sạch thì sao?
- Vậy thì hãy sắp xếp cho hắn gặp Buffalo Bill. Nghe đây, - hắn thở dài. - Anh làm cái anh phải làm, tôi làm cái tôi phải làm. Anh bắt đầu đi tìm những lời đáp cho nhiều câu hỏi, anh sẽ đi đến cái chết thôi, Hatcher. Điều đó là cơ bản và anh biết đấy. Anh không có thời giờ cho việc đó đâu. Tất cả những gì chúng ta có là những tiếng lách cách và âm phản xạ dội lại. Bất cứ lúc nào anh đều có hai cách chọn lựa: làm hoặc không làm. Nếu anh không biết lựa chọn để làm, nếu anh không quyết định, họ sẽ bắt buộc anh. Xưa nay, tôi có nói với anh điều gì khác thế không? Đã có câu hỏi nào trong đầu anh về việc đó không?
- Trước đây thì không. - Hatcher nói và không nhìn Sloan.
- Vậy có lẽ tôi đã chọn người không đúng.
- Có lẽ thế.
- Anh muốn rút lui?
Hatcher suy nghĩ về điều đó. Anh bối rối bởi những cảm xúc về Murph Cody. Một người nghĩ rằng anh ta là kẻ anh hùng, một người khác lại cho rằng anh ta là một thằng điên. Giờ đây nhiệm vụ lại có thêm những phức tạp mới. Không chỉ còn là vấn đề anh ta còn sống hay không mà là có nên để anh ta sống hay không. Hatcher biết rằng nếu anh gật đầu rút lui, Sloan sẽ đưa một người khác vào, một người làm việc không suy nghĩ, một tay giết người chỉ vì tiền. Hatcher tự nghĩ: “thế mi là gì, Hatcher, một tay giết người không vì tiền ư?”
Trong ý nghĩ của Hatcher, Sloan là kẻ đứng ra kêu gọi phán xét. Anh ghét việc ấy biết bao, nhưng Sloan lại đã làm việc ấy. Hắn đặt Hatcher ở giữa hai con đường. Đối với Hatcher thì chỉ có một cách độc nhất. Anh gật đầu chậm chạp nói:
- Tôi vẫn còn tham gia. Nếu anh ấy còn sống, tôi sẽ tìm ra anh ấy.
- Kế đó thì sao?
- Kế đó tôi sẽ làm như không biết đến việc đó.
Sloan nhìn đăm đăm Hatcher ngang qua bàn một lát, rồi nói:
- Khá tốt. - Hắn đẩy một cái bao bằng sợi chuồi qua bàn cho Hatcher.
- Cái gì đây? - Hatcher hỏi.
- Đó là mọi cái mà sứ quán có được về Windy Porter, nó giá trị đấy. Quyển nhật kí của hắn có ghi vài địa điểm có thể giúp anh.
- Về những báo cáo của cảnh sát thì sao?
Sloan lại cười khúc khích dường như hắn đang thích thú nhét các tin tức xấu cho Hatcher. Hắn uống hết cà phê và lau miệng bằng cái khăn ăn.
- Nào, lại một tin xấu nữa. Chúng ta gặp chút ít khó khăn với các tên cớm địa phương.
- Khó khăn gì?
- Chúng chơi hết sức để được việc. Chúng đã điểm cứng huyệt một cậu bé chạy việc cho tòa đại sứ có lỗ mũi dài, bảo cậu ta rằng chúng đang giữ mọi hồ sơ về Windy và sẽ không nói về chuyện ấy chừng nào chưa hoàn thành cuộc điều tra.
- Chắc chúng cũng không có nhiều tin về chuyện này đâu.
- Anh sẽ liên hệ với một thiếu tá tên Ngy. Tôi sẽ lo sắp xếp để đưa xác Windy về Mỹ. Nếu anh cần tôi, hãy gọi điện thoại cho Flitcraft, hắn luôn luôn có thể liên lạc được với tôi.
- Tên Ngy này có làm mất thời giờ của tôi không? - Hatcher hỏi.
Sloan đáp:
- Không phải ngẫu nhiên mà họ gọi hắn là Mongoose [1] đâu.



[1] Một loại động vật nhỏ ở Bắc Mỹ rất thông minh trong cách tiêu diệt rắn độc.
 


 
0

MONGOOSE

 
Khi Hatcher ra khỏi khách sạn Phương Đông, anh đã quan sát các xe taxi và xe hòm đậu trước khách sạn. Thói quen của anh là mướn ngay một chiếc xe ô tô con trong một tuần lễ để luôn luôn có xe dùng với giá rẻ. Anh cũng tìm một tay lái xe ranh ma chuyện đường phố, một tay láu lỉnh biết những chỗ tìm ra được những câu trả lời.
Những chiếc xe hòm Mercedes và Rolls-Royce xếp hàng dài trước tiên, tiếp theo là những kiểu xe thường hơn, Ply-mouths và Toyota. Những người lái xe đều mỉm cười mở sẵn cửa xe và ra ý mời anh lên xe. Tất cả bọn ho đều rất sạch sẽ, rất văn minh và đều mặc đồng phục. Anh nhìn qua hàng xe hòm và taxi đến một người Thái nhỏ con, gầy và dẻo dai đang đứng cạnh chiếc xe tuk-tuk ba bánh ở gần cuối dãy xe này. Người Thái nhỏ bé này hình như đang tập luyện. Anh ta thình lình lùi lại vung tay đấm lia lịa, đấu với một đối thủ tưởng tượng, kế chạy vài bước về phía trước đá mạnh một cú cao đến ngang vai và quay lại chạy về chỗ cũ. Anh ta nhìn Hatcher đang xem mình, mỉm cười.
Người bé nhỏ này chạy qua những chiếc xe đắt tiền đến gần Hatcher cúi đầu chào. Anh ta mặc quần jeans cắt ngắn và một chiếc áo thun trắng với hàng chữ xanh sẫm in ở ngực ‘Harvard Drinking Team’ (Đội nhậu Harvard). Anh ta nói:
- Sawai-dii. - Đó là một lời chào chung chung tiếng Thái, có nghĩa là “Xin chào hoặc tạm biệt” và cúi chào Hatcher lần nữa.
- Sawat-dii khrap, - Hatcher đáp. - Phom maa jaak Muang Saharat.
Người lái xe cao chừng 1,4m, khoảng 25 tuổi, mũi tẹt, mặt rộng. Lai giữa Thái và Tàu, Hatcher nghĩ. Giống như nhiều người đàn ông Thái, anh ta xâm hình ở vai. Hatcher nhận ra hình xâm là Kinnari, một nữ thần nửa người nửa chim, dấu hiệu của may mắn. Chàng lái xe kiêu hãnh nói:
- Tôi biết ông là người Mỹ, tôi nói được tiếng Anh .
- Sabai-dii. Tên anh là gì?
- Tsi Tei Nyk. Mọi người gọi tôi là Sy. - Anh ta phô ra hàm răng hư mọc không đều. - Tên ông là gì?
- Hatcher.
Sy chỉ vào mình rồi vào Hatcher nói:
- Sy, Hatcher.
- Anh nói đúng đấy.
- Tốt lắm.
- Phải, tốt lắm - Hatcher đồng ý. - Anh tập luyện nhiều lắm phải không?
Sy đấm nhứ vài cú để bày tỏ ý mình.
- Tôi là võ sĩ quyền Anh. - Sy hãnh diện nói và ưỡn ngực phô bày thái quá niềm kiêu hãnh của mình. - Tôi lái xe tuk-tuk cho đến khi đủ tiền là tôi bỏ. - Anh ta nhảy về phía sau, vung tay đấm mạnh một hồi, đá một cú mạnh rồi nhảy tại chỗ. - Tôi luyện tập mỗi sớm tinh mơ hai tiếng đồng hồ. Còn mỗi buổi chiều tôi tập luyện chiến thuật ba mươi phút.
- Anh có muốn làm việc với tôi khoảng một tuần lễ không?
- Một tuần? Làm gì?
- Phiên dịch cho tôi.
- Mọi người ở đây đều nói được tiếng Anh. Và ông lại nói được tiếng Thái mà. - Sy nói.
Hatcher gật đầu:
- Ừ, nhưng không phải chỉ nói Sabai-dii. Cậu dẫn tôi đi dạo, kể cho tôi nghe về người Thái, giúp tôi làm một số việc, không có gì khó khăn cả.
- A, không có gì khó khăn, - Sy nói và lập tức anh ta hiểu ngay anh ta được mướn để làm gì. - Mai pen rai.
- Đúng, mai pen rai, - Hatcher đồng ý, - vậy bao nhiêu?
- Mỗi ngày hay suốt cả thời gian?
- Tôi ngủ trễ. - Hatcher nói với một nụ cười.
Sy cười khúc khích và chậm rãi gật đầu:
- Tôi hiểu rồi, ngủ trễ, dậy muộn.
- Chỉ từng ấy thôi.
Sy hai tay chắp sau lưng, bước qua lại trước mặt Hatcher, trán nhăn lại:
- Tối mai tôi có một cuộc đấu, do đó tôi sẽ không làm việc cho ông lúc ấy được.
- Đồng ý.
- Tôi phải luyện các chiến thuật của tôi mỗi buổi trưa.
- Tôi hiểu. - Hatcher nói, - cậu đấu ở đâu?
- Mọi nơi. Ngày mai tại công viên Hoàng gia gần chùa Phat. - Anh ta nói một cách hãnh diện. - Nếu tôi đấu giỏi, một ngày nào đó tôi sẽ là một đội viên đội ngự lâm quân.
- Đó là điều cậu mong muốn hả, trở thành vệ sĩ của nhà vua?
- Vâng, đã mười hai năm nay hàng ngày tôi đều cầu xin Đức Phật cho tôi cái ân huệ đó. Tôi đeo bùa hai-huang và xâm mình để được dẫn dắt đến công việc đó.
Anh ta thọc tay vào trong áo sơ mi, rút ra một món đồ trang sức bằng đồng hình tròn đeo ở cuối sợi dây chuyền bạc, ở giữa có khắc hình phật ngồi. Người Thái rất tin vào thứ bùa mà họ gọi là hai-huang có nghĩa là “bỏ gánh lo đi” và nhiều người có những bùa cho từng việc. Có những sạp và cửa hàng chuyên làm bùa ở cạnh tất cả bốn trăm ngôi chùa ở Bangkok.
- Thật là một cái bùa hai-huang đẹp. - Hatcher nói. - Được, tôi chắc chúng ta có thể dành ra ba mươi phút mỗi ngày cho cậu luyện tập. Có thể tôi còn đi với cậu đến những nơi cậu đấu.
- Tôi sẽ kiếm được vé cho ông. - Người lái xe phấn khởi nói, dùng chân đá mạnh hai cái sang bên.
- Được, vậy bao nhiêu? - Hatcher hỏi lại một lần nữa. Sy dừng lại, chìa tay ra, các ngón tay xòe ra.
- ‘Fi’ dollar, dollar Mỹ ấy.
- Một giờ? - Hatcher hỏi.
- Cả ngày.
- Năm dollar một ngày? - Hatcher ngạc nhiên hỏi.
- Và nuôi ăn nữa.
- Được. Năm dollar một ngày và nuôi ăn luôn.
- Chai, - người Thái nhỏ bé nói.
- Anh xứng đáng được hơn thế.
- Hơn thế?
- Hai mươi dollar một ngày.
- Một ngày! - Sy nói, mắt mở rộng gấp đôi lúc thường. Hatcher gật đầu:
- Tôi là người giàu có.
Anh chàng Sy vui sướng nói:
- Tôi sẽ đi mướn một chiếc xe hơi.
- Anh biết lái xe không?
- Tất nhiên lái được.
- Được, tôi sẽ kiếm một chiếc, - Hatcher nói.
- Mua à?
- Tôi sẽ mướn xe thôi.
- Một chiếc jeep? - Sy nói đầy phấn khởi.
- Không, một chiếc nào tốt hơn cơ.
- Xe jeep chạy tốt.
“Khó hiểu quá đối với anh chàng ngốc này - Hatcher thì thầm - và rắc rối nữa”.
- Xe Merkedes? - Sy nói, xuống giọng một cách khó khăn ở âm c.
- Con xe Chevy thì sao?
- Chevy? À Chevrolet?
- Chai. - Hatcher đáp.
- Được. - Sy nhún vai trả lời.
- Tốt. Đây là việc chúng ta làm. Chúng ta sẽ đi đến đồn cảnh sát. Rồi chúng ta trở về khách sạn của tôi mướn một chiếc xe sau đó tôi sẽ nghiên cứu vài báo cáo khoảng một, hai tiếng đồng hồ. Trong lúc đó anh có thể luyện tập ở một công viên nhỏ gần ngay khách sạn. Kế đó anh và tôi chúng ta sẽ đi xem Bangkok.
 
Thiếu tá Tan Ngy đứng sau bàn viết, tay chắp sau lưng vẻ mặt như đeo mặt nạ, đang nhìn đăm đăm vào quyển sổ biên bản đặt trước mặt. Ông đang bực tức, bực tức vì thủ trưởng đã ra lệnh cho ông phải hợp tác với những người Mỹ, bực tức vì người Mỹ thậm chí đã yêu cầu can thiệp cả vào công việc của cảnh sát Bangkok. Và chắc đó là lí do người Mỹ này đến.
Tại sao người Mỹ luôn luôn cảm thấy rằng họ có thể can thiệp và tiếp quản công việc? Dù không có gì là quan trọng cả, hễ cứ nơi nào trên thế giới mà họ có mặt là họ đều trông mong có báo cáo, báo cáo đáng tin cậy, đem đến tận tay họ, giống như trường hợp này. Cái chết của tên sĩ quan tình báo Mỹ Porter là việc của cảnh sát địa phương, một vụ giết người trên đường phố Bangkok. Đó không phải là việc của quân đội Mỹ, của tình báo quân đội hay của tên Hatcher này. Đó là việc của ông. Ngy là trưởng ban hình sự của sở cảnh sát Bangkok, nói chung ông không có điều kiện gì chống đối người Mỹ nhưng ông không thích họ can thiệp vào công việc của ông.
Ngy là một sĩ quan cảnh sát xuất sắc, cứng rắn, có sức bật, cương quyết và trung thực, tất cả những đức tính ấy đã đem lại cho ông cái biệt hiệu là cầy Mongoose. Mongoose không cần những người Mỹ chõ mõm vào, ám chỉ rằng việc điều tra của ông là tồi tệ và chưa đầy đủ.
Cái tệ nhất của việc này là ông ta chẳng có gì để báo cáo cả. Cuộc điều tra của ông bị tắc. Các dấu vết đã mờ đi nhiều và Ngy biết rằng cứ mỗi giờ trôi qua thì những tên giết người lại chạy xa hơn khỏi tầm tay. Giờ đây tên Mỹ này tới giúp giải quyết vấn đề, như vậy đó. Ông đã quan hệ với người Mỹ trước đây. Kiêu ngạo, tự phụ, tự cao, tự đại, trịnh thượng, vậy mà ông sẽ phải gần như khúm núm với họ. Trí nhớ của ông trưởng ban hoàn toàn rõ ràng về việc đó. Người ta nói nên thân thiện, không phải chỉ nhã nhặn mà còn thân thiện!
Hôm nay sẽ không phải là một ngày dễ chịu đâu.
Ông nhìn đồng hồ đeo tay. Còn mười lăm phút nữa tên Mỹ này sẽ đến. Ồ, ông phải sẵn sàng chứ. Lạy Chúa, những người này sẽ không bao giờ trễ sao? Ông sẽ chào hỏi như thường lệ. Ông sẽ đối xử ra vẻ kẻ cả. Ông sẽ luôn luôn mỉm cười. Rồi ông tỏ ý đã giúp đỡ cảnh sát địa phương. Luôn luôn giúp đỡ.
Hai phút trước giờ hẹn, người trợ lí của Ngy gõ cửa và cung kính báo tin Hatcher đến. Ngy bước đến rất gần Trung sĩ cảnh sát rít lên:
- Nó là một sĩ quan Mỹ, chứ không phải là Tổng thống Mỹ.
- V..â â...n...g, thưa ông. - Người Trung sĩ lắp bắp nói, ngạc nhiên về cơn giận mãnh liệt nhưng kiềm chế được của thiếu tá.
Ngy bước về bàn mình, nói:
- Đưa hắn vào.
Hatcher bước vào cuộc gặp gỡ với cùng những nỗi lo lắng như Ngy. Anh không muốn khuấy lên bất cứ việc gì. Anh muốn người Mỹ đứng ngoài cuộc, nhưng anh muốn có những bản sao báo cáo của cảnh sát và hướng hành động của ho. Anh không tin rằng có thể thực hiện được việc ấy mà không làm cho Ngy ngờ vực. Nhưng anh chắc rằng Ngy sẽ không nói đến Wol Pot, Cody, Thai Horse hay bất kì khía cạnh nào khác của trường hợp này. Hatcher ngạc nhiên thấy văn phòng sao to thế.
Dẫu sao đây cũng là văn phòng của cảnh sát hình sự chớ đâu phải của thủ tướng. Đó là một phòng cao, âm thanh dội lại ồm ồm, sàn lát gạch vuông không một vết dơ, đồ gỗ bóng loáng, sạch bong. Mấy tờ báo rung mình hờ hững trên bàn, lay động dưới cánh quạt trần. Những tiếng động của xe cộ, tiếng chuông reo và tiếng người đi lại lao xao sau những cánh cửa chớp đóng.
Ông thiếu tá thấp, và gọn gàng, bận đồ làm việc bằng vải kaki giản dị và trang nhã, áo sơ mi màu xanh nhạt với chiếc cà vạt màu vàng. Râu tóc ông được cắt tỉa rất cẩn thận, móng tay được chăm sóc, đôi bốt da trâu đánh xi bóng loáng. Ông ta đóng kịch, không vui chẳng buồn, không ngạc nhiên chẳng chán chường, không thân thiện cũng chẳng chống đối.
Hatcher thầm nghĩ: Thật đúng là một vụ giết người ngay trên bàn chơi bài. Hatcher biết rất rõ về ông ta. Ông ta đã làm việc rất tốt để được thăng cấp, đã học tại học viện huấn luyện tình báo Mỹ Cục Điều Tra Liên Bang (American FBI training academy), đã làm việc sáu tháng với cảnh sát ở thành phố New York, có lần đã tham gia theo dõi hoạt động buôn ma túy từ Tam Giác Vàng vào Malaysia, toán theo dõi phần lớn là những nhân viên chống ma túy của Mỹ. Kỉ lục ngăn chặn tội phạm của ông làm cho hầu hết các vị chỉ huy cấp vụ, sở phải ghen tức.
Ngy là con người chính xác đến khó mà nói được. Mọi điều về ông ta đều chính xác. Cái cách ông ta ăn mặc. Phòng làm việc của ông. Bàn làm việc của ông! Mọi thứ ở trên ấy được sắp xếp theo những kiểu mẫu hình học hoàn hảo, thứ tự, bút, giấy thấm, điện thoại tất cả đều đặt trong những hình vuông nhỏ vừa vặn. Chính xác, chính xác và chính xác. Một người có cái tôi to lớn, một người dễ bị chạm tự ái. Hatcher sẽ phải rất cẩn thận trong việc đối xử với tay cớm này, người mà những thuộc hạ đằng sau lưng đều gọi ông là cầy Mongoose.
- Thưa thiếu tá, - Hatcher nói với giọng hết sức chân thành. - Tôi là Hatcher. Không thể thưa với ông là tôi quí trọng thời gian của ông biết bao.
Nụ cười của Ngy cố gắng để không tỏ ra giễu cợt. Ông sốt sắng nói:
- Rất hân hạnh, thưa đại tá. Tôi bối rối thấy một điều như thế lại có thể xảy ra ở nơi đây. Tôi hi vọng rằng Bangkok văn minh hơn.
Hatcher nghĩ thầm: A ha, ông ta gặp khó khăn trong việc này rồi. Anh nói:
- Về những điều đã xảy ra, ông có nghĩ rằng trộm cướp là một lí do không?
A ha, cá đang cắn câu, - Ngy thầm nghĩ, - gã này ma lanh đây. Nào, chẳng hại gì nếu cho gã biết một ít tin tức. Ngy đáp:
- Không, không có gì bị cướp bóc cả. Hình như hắn ta đánh nhau và bị giết vì đuối sức. Có những nhân chứng đã nhìn thấy toàn bộ sự việc.
Hatcher nghĩ, đây là một cớm tinh ranh. Nếu có những nhân chứng, ông ta sẽ chọn những người trong sạch, không cần thiết cho mình phải quan tâm. Điều đó sẽ làm mình chệch hướng đi một chút. Hatcher quyết định đến phiên mình hở ra cho ông ta một chút để bù lại.
 
- Điều đó nghe ra có vẻ thích hợp với Windy, đó là đặc điểm của hắn, Windy dầu sao vẫn là loại người luôn luôn sẵn sàng giúp kẻ gặp khó khăn.
Ngy gật đầu, vẫn mỉm cười nói:
- Tôi hiểu - Người cảnh sát Thái nghĩ bụng, dường như gã này đang định dẫn mình vào ngõ cụt, một vụ giết người tình cờ. Bộ gã không biết rằng Ngy biết Porter là một sĩ quan tình báo chăng? Các sĩ quan tình báo chẳng thể bị giết một cách ngẫu nhiên.
- Thật mỉa mai, phải không! - Hatcher tiếp tục nói. - Một sĩ quan tình báo lại bị giết như thế. Hắn... đáng... tôi không biết, một cái chết kì lạ… nhiều hơn.
Ngy nghĩ thầm: hay thật, việc đó làm sáng tỏ công việc của Porter. Gã này nêu vấn đề rồi lại trả lời luôn. Cái trò gì ở đây thế này?
- Này, chúng ta không loại trừ những nhận xét khác. - Ngy nói. - Đó mới chỉ là những biểu hiện bên ngoài, hình như hắn ta là một người làm phúc bất hạnh.
Ngy suy nghĩ: có phải Porter đến đây vì hắn biết một điều gì đó mà chúng ta không biết? Có lẽ Porter làm một công tác tình báo đáng ngờ và Hatcher đến đây để xem chúng ta biết được bao nhiêu. Ngy quyết định thả câu sâu hơn, ông hỏi:
- Hắn ta... ờ... có dính dấp với điều gì có thể liên quan đến trường hợp này không?
Hatcher lắc đầu. “Tốt, - Hatcher nghĩ, - ông ta không biết một tí nào cả. Ông ta thật sự đang câu đây”.
- Không, thật sự công tác của Windy chỉ hạn chế trong việc giữ an ninh cho sứ quán. Hắn không phải là nhân viên làm công tác bên ngoài. Windy đã gần về hưu. Việc của hắn được xem là một loại công tác dễ để chuẩn bị về hưu.
Nghi nghĩ: ta có tin được gã này không? Nếu điều gã nói là đúng thì trường hợp của Porter có thể là một cuộc đọ sức tình cờ và đã đưa đến cái chết. Điều đó sẽ làm giảm việc bắt bớ, có phần dễ chịu hơn cho các thượng cấp của ông. Ngy nói:
- Vậy thì tin chắc là chúng ta đang làm mọi việc trong quyền hạn của chúng ta để tìm ra những kẻ sát nhân. Chúng ta có đầy đủ hình dạng của hai người bọn chúng và của cả người đàn ông ở trong một chiếc thuyền khác nữa.
- Thuyền khác?
Ngy nghĩ bụng: rõ ràng là gã này không để nhiều thì giờ vào việc này. Mặc dù báo chí đã đăng tin rằng có một người đàn ông ở trong một chiếc thuyền khác. Ta sẽ cho gã thêm một vài thông tin vô thưởng vô phạt để xem gã phản ứng thế nào.
- Cái người mà dường như chúng định giết đã nhảy xuống sông khi mọi việc bắt đầu. Rất có thể đó là một loại đánh nhau do thù hận giữa những tay anh chị trên đường phố và thiếu tá Porter của ông đã tình cờ gặp. Cùng có một gái điếm dính dáng vào vụ này nhưng không có chứng cứ nào tỏ ra là viên thiếu tá này quen biết cô ta. Tôi bảo đảm với ông rằng chúng tôi không hề nghi ngờ họ có một quan hệ nào với nhau cả.
- Cám ơn Chúa về điều đó. Riêng việc này cùng đã đủ làm khổ vợ hắn rồi.
Ngy nghĩ rằng có lẽ mảnh giấy Ngy chép tay còn giữ được có thể giúp ích cho gã này. Ông với cặp bìa cứng và rút ra một tờ giấy xé ở sổ tay ra cỡ 13 x 18cm có ba vòng tròn đã mờ nhạt. Tờ giấy đã nhàu và phai màu, nét mực xanh hoen ố.
- Chúng tôi đã tìm thấy cái này, - Ngy đưa cho Hatcher tờ giấy - nhưng ngay cả những chuyên viên xem chữ viết của chúng tôi cũng không thể đọc được mật mã viết trên giấy.
Hatcher nhìn kĩ mảnh giấy, lật xem phía sau. Đó là một trang nhật kí của Porter vào ngày hắn ta chết. Hatcher đặt tờ giấy lên bàn Ngy, không muốn để lộ vẻ háo hức.
- Có lẽ đó là bản danh sách mua thực phẩm của hắn. - Hatcher nói và cười khúc khích.
- Có lẽ thế. - Nghi nói với một nụ cười gượng.
Hatcher nói:
- Có lẽ tôi sẽ đưa cái này cho một vài người bạn của hắn xem. Có thể tôi sẽ phát hiện ra điều gì giúp ích cho ông chăng.
Ngy lập tức lại nghi ngờ nữa. Nhưng ông ta thấy sự lo sợ của mình là không có cơ sở. Hatcher có vẻ không quan tâm đến trường hợp này mà chỉ cốt để báo cáo chính thức là gã đã xem xét vấn đề. Như vậy cho đến nay gã không có ý định gì can thiệp. Ngy quyết định nhượng bộ đôi điều cho vui vẻ cả. Ông mỉm cười nói:
- Tôi thấy không có vấn đề gì ở đây cả.
“Được, - Hatcher thầm nghĩ, - đã đến lúc chọc thủng trận tuyến đấy”. Anh nói:
- Tốt, vâng, tôi biết ông đang bận. Thực tế tôi đến đây chỉ cốt để thấy các di vật được đưa trở về an toàn. Để gia đình biết được cảnh sát vẫn đang theo dõi việc ấy. Ông biết việc ấy là thế nào, họ ở phía bên kia của địa cầu mà...
Ngy gật đầu một cách mạnh mẽ. Tại sao lại không để cho gã này được thoải mái - ông thầm nghĩ - rồi tống cổ gã đi cho rồi. Ngy nói:
- Có lẽ ông nên mang một bản sao biên bản điều tra về cho gia đình. Hãy cho họ biết rằng chúng tôi đang làm tất cả mọi điều có thể.
Hatcher khó có thể kiềm chế được nỗi vui mừng của mình. Vấn đề, mưu đồ, trận đấu, kết quả. Anh nói:
- Ý kiến ngài rất hay, thưa thiếu tá. Tôi tin rằng điều đó có ích lắm.
Không hại gì, Ngy nghĩ thầm sau khi Hatcher đi khỏi, dường như những người Mỹ đã tin tưởng vào cách giải quyết trường hợp này của Ngy.
 
Sy và Hatcher trở về khách sạn, ở đây Hatcher đã mướn một chiếc xe Chevrolet mui kín hai cửa màu xanh đậm. Kế đó anh lên phòng, kêu một chai rượu Jack Daniel và một bình trà Thái. Anh cho máy điều hòa không khí chạy, vặn quạt trần, cởi áo sơ mi, rót một tách trà và pha thêm rượu whiskey vào, rồi ngồi xuống ghế mây dài đem tất cả các hồ sơ bày ra trên bàn cà phê.
Biên bản này ngắn, đơn giản chỉ cho anh biết rất ít. Những nhân chứng khai rằng một người đàn ông đã hẹn hò với một ả gái điếm tên là Sukhaii, hoạt động trên dòng sông Phadung Klong gần chợ Đường Mới. Họ đang ở trong khoang thuyền của ả thì một chiếc thuyền hang-yao tiến đến gần, hai người đàn ông chui ra và bắt đầu leo lên sàn chiếc thuyền kế với thuyền của Sukhaii. Người Mỹ tên là Porter hình như đến giúp cô gái điếm và đã bị một trong hai người đàn ông này đâm. Hắn ngã lăn xuống sông và thi thể hắn đã được nhiều người đi thuyền vớt lên nhanh chóng. Người đàn ông đi với Sukhaii nhảy tùm xuống sông trốn thoát khỏi nơi xảy ra đánh nhau này. Những kẻ giết người dùng chiếc hang-yao chạy trốn, sau này người ta đã tìm ra chủ nhân chiếc hang-yao, người này cũng đã bị đâm chết. Cuộc mổ xác khám nghiệm cho thấy có hai vết đâm, một ở phía dưới ngực phải, còn vết kia đâm đúng vào cổ bằng một con dao lưỡi mỏng xuyên sâu đến mười tám centimet và thấu tới tim.
Có thể là một sự trùng hợp, - Hatcher suy nghĩ, - những kẻ sát nhân đã đâm một nhát đâm chết người, mà đó là kiểu đâm của những người Chiu Chao.
Những sĩ quan lập biên bản cho rằng hai kẻ xâm nhập định ăn cướp của ả gái điếm và người khách mua tình, rồi Porter tình cờ đã can thiệp vào, những điều mô tả không được rõ ràng. Một trong hai kẻ sát nhân là người Tàu có vết sẹo dài trên mặt và chột mắt.
Cảnh sát không tìm ra chỗ ở của người mua tình đã nhảy xuống sông và bơi thoát. Sukhaii đã mô tả cho họ của cách chung chung về người khách mua tình này: cao khoảng 1,7 mét, nặng chừng 70 kí, mắt sâu, tóc đen, mặt dài. Không biết tên. Theo biên bản thì những kẻ sát nhân không nói gì với ả gái điếm cả.
Đó có phải là Wol Pot không? Nếu phải, thì tại sao Porter lại đánh lộn với hai người đàn ông rõ ràng là đang theo đuổi tay này. Có lẽ chỉ là vì tác phong hào hoa phong nhã. Có thể còn hơn thế, Porter biết rằng nếu họ mất Wol Pot họ cũng sẽ mất dấu Cody. Vì thế Porter cố gắng cứu thoát Wol Pot.
Hatcher mải mê nghiên cứu từng mảnh giấy nhỏ viết bất kì điều gì có ý nghĩa. Có rất nhiều địa điểm được nói đến trong nhật kí hình như Porter chỉ thực hiện việc theo dõi thôi chứ không điều tra gì hết về Wol Pot hoặc bất kì cái tên họ quỷ quái nào mà Wol Pot lấy.
Hatcher ghi thêm vào bản danh sách của mình tất cả những nơi đã được nói đến nhiều lần trong tập nhật kí, kể cả American Deli. Porter đã đến đó ba lần, một lần có ghi chú: “Ăn trưa trong lúc quan sát sự vật trên đường phố”. Porter cũng đã tham dự nhiều trận thi đấu thể thao, gồm có đua ngựa và đấu quyền Anh.
Hatcher cũng ghi thêm vào bản danh sách này: Tombstone và Longhorn, hai vị trí mà người lính Mỹ giải ngũ đã kể lại cho Daphne ở trận đánh bọn Ts’e K’am Men Ti. Làm xong, Hatcher đã có một danh sách từ mười lăm đến hai mươi địa điểm. Anh sẽ bắt đầu kiểm tra lại chúng một cách cẩn thận hơn, cố gắng lập ra một tiểu sử sơ lược của Wol Pot trong đầu mình.
Ngay khi Hatcher đi khỏi, Sloan rời khách sạn lấy chiếc xe hòm có điều hoà không khí đi đến sứ quán. Hắn kí những giấy tờ cần thiết và sắp đặt mọi việc để đưa thi hài của thiếu tá Porter về San Francisco trên chuyến tàu quân sự ngày mai. Tất cả công việc về Porter mất khoảng hai giờ. Hắn ăn trưa với Harvey Kendall, một nhà ngoại giao quen thuộc với những hoạt động của Bộ Ngoại Giao và Cục An Ninh quốc gia trong vùng này, và nói chuyện ngắn gọn với Kendall trong một giờ.
Sau đó hắn đi xe tuk-tuk đến Yawaraj. Xe đi vào Phố Tàu như đi vào đầu rộng của một cái phễu. Họ đi xuống một đường phố ngoằn ngoèo, qua một con đường nữa rồi mới đến một ngõ hẻm nghẹt thở với những cửa hàng xếp thành dãy rồi lại qua một ngõ hẻm nữa, vắng như chùa Bà Đanh và từ đây đi đến một ngõ cụt ăn ra sông.
Ông lão đưa Sloan qua cánh cửa trông tẻ ngắt, vừa già nua vừa yếu đau, giống như người mới thức gác cổng đêm trước. Mắt ông già đỏ như than hồng, mắt hóp và nhăn nheo như quả mận héo, gầy giơ xương.
Những vì kèo, xà gồ mạng nhện giăng đầy. Ngôi nhà cổ rên rỉ cót két vì tuổi tác. Ở bên dưới, Sloan có thể nhìn thấy cái bàn viết và đằng sau nó là những phòng nhỏ tiếp nối nhau. Loáng thoáng, Sloan có thể nghe thấy đôi tiếng ho nhỏ và ở cuối góc phòng một giọng nam cao mơ màng đang hát một bài ru con Irish êm ái. Ông già dẫn Sloan xuống một thang gỗ ọp ẹp để vào một động thuốc phiện, vào một đám khói đang cuồn cuộn bốc lên từng luồng xoáy tròn dưới cái quạt trần lớn treo ở đầu cái cần dài thanh mảnh mờ đi trong bóng tối. Mùi thuốc phiện thơm ngọt như cỏ mới cắt bốc lên thang làm miệng Hatcher khô đi vì thèm thuốc.
Sloan trả tiền cho hộp thuốc của mình rồi đi theo ông già có bộ mặt nhăn nheo đến một buồng nhỏ có hai chiếc giường hẹp. Sloan nằm xuống. Trong phòng nóng bức, hắn cởi cà vạt ra, phanh áo sơ mi đến tận thắt lưng. Hắn chóng mặt vì khói thuốc phiện buông xuống như sương mù buổi sáng trên sàn của gian phòng rộng lớn. Mắt hắn sáng rực lên vì hào hứng khi thấy ông già vê một viên thuốc phiện to có màu nâu đen giữa những ngón tay, nhồi vào nõ tẩu và đốt lên.
Trong lúc chờ đợi, Sloan thoáng nghĩ đến Hatcher, đến việc Hatcher bỏ đội. Thằng chết tiệt Hatcher, đồ chết tiệt, Sloan tự nghĩ. Mi không thể gạt bỏ tất cả những tay cự phách mà chúng ta có trong đội. Chúa ơi, hãy nhìn xem cái gì đã xảy ra cho chúng. Conlan chết ở Libya. Greenbaum bị chết thiêu trong cuộc chọi nhau ở Chile. Dick Mazetti kinh doanh về bảo hiểm ở Florida và uống quá nhiều rượu đến nỗi chết trong một chiếc ghế có bánh xe. Jack Burbank bị những kẻ khủng bố làm mù mắt trong vụ nổ tòa đại sứ ở Lebanon. Molly McGuire chân thọt, phần cuối đời đang làm ở Immigration Service (Sở Nhập Cư). Vì Chúa, đã bao nhiêu lần hắn cứu thằng ngốc Hatcher? Và cả thằng ngốc mình nữa? Tất cả bọn họ đều ẩn mình, Hatcher cũng thế. Có người nào trong họ kém anh hùng bởi vì họ không mặc đồng phục không? Ai có thể nói rằng họ không phải là những anh hùng?
Ông già kéo một hơi thuốc dài và đưa chiếc tẩu cho Sloan. Hắn rít một hơi sâu, cảm thấy khói thuốc nóng đốt cháy cổ họng và tràn đầy hai lá phổi. Hắn quên ngay Hatcher và đội. Hắn không còn nghĩ đến quá khứ và hầu như ngay tức khắc thấy phởn phơ, tâm trí hắn lao vào một thời gian và không gian khác; những nỗi lo âu phiền não biến mất. Hắn nhắm mắt lại và thấy những cánh đồng xanh lướt theo chiều gió. Hắn không nghe thấy tiếng người bước vào căn phòng nhỏ, cũng không nghe tiếng kêu cót két của cái giường bên cạnh.
- Ông có gặp Hatcher không? - Tiếng một người hỏi.
Sloan đáp và mắt vẫn nhắm tít.
- Có.
- Thế sao?
- Hắn đã tiến đến gần đích hơn. Tôi đã nói với ông là hắn có thể tìm ra thằng kia. Chỉ còn là vấn đề thời gian thôi.
- Hắn đã tìm ra Wol Pot chưa?
- Chưa.
- Hắn có biết Wol Pot thực sự là ai không?
- Hắn không nói.
- Còn Thai Horse?
Sloan đã mệt vì nói chuyện, mệt vì phải suy nghĩ về những câu hỏi và lựa câu trả lời. Hắn đã buồn ngủ nhíp cả mắt và lúc hắn bắt đầu ngủ hắn nói trong mơ.
- Không nói đến Thai Horse. Không nói đến Wol Pot. Không nói đến vòng đeo, đồ chơi hay chuỗi hột hay ánh trăng hay hoa hồng. Những con sơn ca ở quảng trường Berkeley. Những con bồ câu trên các bức tường và những dải ru băng vàng lấp lánh. Không nói đến bất cứ điều gì. Này, Hatcher đã tìm ra Cody. Tôi có thể nói là hắn nắm được tất cả mọi việc. Tôi biết hắn như biết chính tôi vậy. Hắn là người giỏi nhất ta có.
 
0

MỘT CUỘC HẸN Ở PARIS

 
Isamala Hadif mà cảnh sát quốc tế và cơ quan tình báo Mỹ CIA gán cho mật danh là Hyena (Tàn Bạo), có lẽ là tên khủng bố bị truy lùng nhiều nhất trên thế giới. CIA đã khẳng định hắn là kẻ chủ mưu làm nổ bom ở các phi trường thành phố Vienna và Rome làm chết 67 người, phần lớn là đàn bà và trẻ con, trong số đó có mười tám trẻ nhỏ Mỹ đi nghỉ hè, tất cả đều dưới mười sáu tuổi. Hắn cũng là kẻ tình nghi số một trong vụ làm nổ bom hộp đêm ở Berlin làm mười ba người chết, trong đó có chín người là phụ nữ và người ta tin rằng hắn đã giết vợ một đại sứ Mỹ ở Tunisia trong một cuộc ám sát hụt vị đại sứ đó. Những hành động khủng bố và ám sát của hắn đã được ghi thành hồ sơ trong bốn năm qua, tuy nhiên hắn vẫn chu du khắp thế giới tự do như một làn gió, một bậc thầy về ngụy trang và táo bạo.
Trong số những tay chuyên viên khủng bố, Hyena là kẻ người ta căm thù nhất. Hyena là một kẻ cuồng tín mưu trí và sẵn sàng hi sinh, hắn được huấn luyện ở Libya và sống ở Teheran. Hắn rời căn nhà của hắn một tuần trước đây và các nguồn tin tình báo đã phát hiện ra hắn, theo dõi hắn đến Cairo thì mất dấu hắn.
Nhưng có một người theo dõi khác đã không mất dấu hắn.
Hyena bị theo dõi một cách thầm lặng trên con đường vòng vèo kết thúc tại Paris, nơi đây hắn đang đóng vai đi chào hàng với một thông hành Thổ Nhĩ Kì giả, thẻ gửi tiền ngân hàng và các giấy tờ xác nhận hắn là người bán hàng cho một công ty thuốc lá ở Ankara. Hyena thông thạo nhiều thứ tiếng, kể cả tiếng Thổ Nhĩ Kì, hắn đã cạo râu cằm và nhuộm tóc xám, làm cho vẻ ngoài của hắn già thêm đến hai mươi tuổi. Đôi mắt kính đeo lồng ngoài con ngươi đã thay đổi màu mắt của hắn từ nâu sậm trở thành xanh. Sự nâng bề cao bên trong đôi giày bốt của hắn đã làm hắn cao thêm năm centimet so với mức bình thường là 1,78m. Hắn đang ở trong một khách sạn lớn và đắt tiền gần trung tâm thành phố, một ngoại lệ khác với thói thường của hắn.
Mục tiêu của hắn là đại tướng Karl Shustig, một thiên tài quân sự Mỹ và cũng là một chuyên gia về an ninh. Shustig chịu trách nhiệm chủ yếu về một vài biện pháp an ninh cao cấp hiện đại ở đây, những biện pháp đã phá vỡ kế hoạch của Hyena trong hai dịp trước đây. Nhưng Shustig mắc sai lầm đã vi phạm những nguyên tắc về an ninh của riêng mình. Là một người thích làm việc theo thói quen, ông ta hoạt động ngày nào cũng như ngày nào: xe đến đón ông đúng vào một giờ nhất định chở ông qua các đường phố thường ngày để đến cơ quan và lúc chở ông về cũng theo con đường đó. Một xe hơi đi trước và một xe hơi đi sau xe của ông ta, như thế cũng đủ an toàn lắm rồi. Shustig trở nên tự mãn sau bốn tháng ở Paris. Ông đã gạt bỏ khả năng một tên khủng bố tấn công vào ông.
Đối với Hyena ông ta là một mục tiêu ngon lành. Là bạn thân của Tổng thống Mỹ và là người được đồn là thành viên kế cận của các Tham mưu trưởng liên quân, ông cũng dễ ăn đòn lắm. Một quả bom có khả năng phá huỷ hoàn toàn một khu phố sẽ được đặt trong đường ống cống chính trên con đường đến cơ quan cửa Shustig. Hyena sẽ điểm hỏa cho bom nổ từ một nơi cách xa hai khu phố bằng máy điều khiển vô tuyến trong khi xe hơi của Shustig chạy chui qua đường hầm. Bom nổ sẽ phá huỷ hầu hết khu phố này và chắc chắn sẽ nghiến nát vụn chiếc xe của vị tướng này.
Hai ngày trước, Hyena đã quan sát đường ống cống, định vị trí và tìm trong các đám gạch và vôi vụn ở hai bên đường ống cống hẹp một nơi rất tốt để dấu quả bom. Ngay cả nếu có một cuộc kiểm soát vào phút chót những đường ống cống cũng không phát hiện được sự có mặt của chất nổ. Hyena hài lòng về sự chuẩn bị của mình. Hắn sẽ đặt quả bom tối nay và thực hiện vụ nổ vào sáng hôm sau. Một cuộn băng nhận trách nhiệm về vụ ám sát cũng đã được chuẩn bị xong và sẽ được gởi cho các đài phát thanh mười phút sau khi bom nổ. Hắn quay trở lại qua con đường hầm rộng với những tiếng động của ống cống Paris gầm rít vào tai. Sự căm thù thúc đẩy Hyena, việc giết người làm hắn thỏa mãn. Nếu hắn chết, hai đứa con trai hắn chẳng bao lâu sẽ kế nghiệp hắn. Con đường lên thiên đàng của hắn là một dòng sông máu người phương Tây.
Hắn không biết người đàn ông có râu đang bám sau hắn trong những đường ống tối om. Gã cũng tinh khôn và cẩn thận như Hyena, cái đuôi của hắn lại giỏi hơn hắn.
Vào lúc sớm hơn trong ngày đó chính người đàn ông có râu này đã vào sứ quán Tây Đức, mặc đồ công nhân, mang một thùng đồ nghề điện và dùng giấy ủy nhiệm giả chứng nhận là thợ điện. Tên lính gác cổng bảo gã mở thùng ra và gã đã nhấc ngăn kéo lên, cao vừa đủ để cho người lính nhìn xem được phía dưới. Người lính vẫy tay cho phép gã vào. Khi đã vào trong, người đàn ông có râu tỏ ra biết rõ từng tấc đất của tòa nhà. Gã đã nghiên cứu những họa đồ các tầng nhà này trong nhiều ngày. Gã đi thẳng ngay đến phòng để đồ dùng ở tầng hầm, tìm cái thang xếp bằng nhôm cất ở đó, mang đến phòng kho kế bên phòng tiếp tân trên tầng một. Gã bước vào phòng tiếp tân xem xét. Đó là một phòng to rộng trần nhà cao đến chín mét. Một cái đèn treo bằng thủy tinh khổng lồ với hàng trăm ngọn đèn nhỏ trông như những giọt nước mắt đu đưa trên dưới các đui đèn, toả một quả cầu sáng xuống toàn bộ gian phòng. Phòng đang đầy người chuẩn bị cho buổi tiếp tân tối nay. Trong cảnh lộn xộn này người đàn ông có râu đi vào chẳng có ai để ý. Gã nghiên cứu căn phòng vài phút, lưu ý đặc biết đến cái đèn treo nhiều ngọn, rồi bỏ đi.
Giờ đây khi Hyena trở lại thì người đàn ông có râu đang ngồi ở nhà hàng ăn trên tầng gác lửng của khách san quan sát. Gã đứng dậy, đi nhanh đến thang máy lên tầng bốn, rồi đi bộ lên thêm một tầng và đợi cho đến khi nghe tiếng cửa thang máy mở. Gã hơi hé cửa ra nhìn Hyena đi ngang qua, đợi cho đến khi Hyena móc chìa khóa ra mới lách qua cửa và đi về phía hắn.
Tên khủng bố giật mình quay lưng lại, rồi lấy lại bình tĩnh nhìn người đàn ông có râu đi khom lưng trông khoảng sáu mươi tuổi, râu xám và tóc bạc. Người đàn ông có râu mỉm cười và Hyena lạnh lùng gật đầu trước khi mở cửa. Người đàn ông có râu bước nhanh đến và chặt một cú độc vào gáy làm Hyena ngã quị ngay xuống. Hắn đã bất tỉnh trước khi đầu gối chạm sàn. Người đàn ông có râu nắm lấy cổ áo để hắn khỏi té, rồi đẩy hắn vào trong phòng và đóng cửa lại. Gã lẳng Hyena lên giường, đi găng tay vào rồi lột quần áo Hyena ra, bịt miệng hắn và lại trói hắn trần truồng vào một cái ghế. Gã đã treo bảng “Xin đừng quấy rầy” ở cửa, vặn ti vi lớn lên, kéo một chiếc ghế khác ngồi đối diện với Hyena. Có một sợi dây da buộc ở cổ tay Hyena đeo một chiếc chìa khóa. Người đàn ông có râu thò vào ống tay áo rút ra một dao găm nhỏ. Hắn cắt sợi dây da lấy chiếc chìa khóa.
Hắn tát vào mặt Hyena mấy cái, cặp mắt của tên Arab này run rẩy mở ra và khi đôi tròng mắt trông rõ được, Hyena kinh hãi nhìn người đàn ông có râu. Hắn cố nói nhưng vải bịt miệng chặt quá đến nỗi đứt cả mép. Người đàn ông có râu đưa một ngón tay lên môi nói rất khẽ: “Suỵt”.
Rồi thình lình hắn vươn người ra, một tay ghì lấy mặt Hyena. Cái ghì của hắn xiết chặt như kẹp bằng ê tô. Đầu Hyena không thể cử động được, những ngón tay của người đàn ông có râu hầu như căng ra từ lỗ tai này đến lỗ tai kia của Hyena. Tay kia của hắn hiện ra trước mặt Hyena với con dao găm nhỏ được mài sắc, sáng loáng. Lưỡi dao dài khoảng 18 đến 20 centimet. Hắn dí mũi dao nhọn vào ngay dưới mắt trái của Hyena, mũi dao nhọn chích ra một giọt máu. Mắt của Hyena run rẩy, người đàn ông có râu có thể đánh hơi thấy sự sợ hãi của hắn:
- Quả bom ở đâu? - Người đàn ông có râu nói nhỏ bằng tiếng Arab rất chuẩn. Gã buông mặt Hyena ra và dí chiếc chìa khóa vào mặt hắn, - cái va li đi với cái này đâu?
Hyena lắc đầu giận dữ. Người đàn ông có râu ghì mặt hắn lần nữa và giữ thật chặt.
- Tao hỏi một lần nữa, như thế mày sẽ mất con mắt này. Cuối cùng dù thế nào tao cũng tìm ra nó thôi. Không nên chịu đau đớn làm chi và đừng làm mất thời giờ của tao.
Hyena lại lắc đầu lần nữa.
Người đàn ông có râu cằm thọc mũi dao vào, ngoáy một vòng và khéo léo móc con mắt trái của Hyena ra. Tiếng thét của Hyena bị nghẹt lại vì cái bịt miệng. Người đàn ông có râu giơ một cái gương trước con mắt phải đau đớn, đờ đẫn của Hyena và tên sát nhân Arab này ghê sợ nhìn cái lỗ đang phun máu trên mặt mình.
Đầu Hyena choáng váng. Hắn cảm thấy đau quặn ở bao tử và thấy căn phòng đu đưa quanh trọng tâm. Người đàn ông có râu tháo vít ở đầu cán dao và lấy ra một hòn đá mài nhỏ tròn. Gã bắt đầu mài lại dao. Tiếng liếc dao trên đá ngân lên trong không gian như tiếng chuông.
Gã có định cắt họng mình không? - Hyena tự hỏi. - Trời ơi gã là ai? Tôi có lẽ chết mà không biết ai là người giết mình không?
Người đàn ông có râu nhìn chằm chằm vào hắn, vẫn cái cười nửa miệng trên môi, nói nhỏ nhẹ:
- Mày sẽ không bao giờ đẻ ra một tên giết người nữa.
Gã lách cả hai đầu gối của mình vào giữa hai đầu gối của Hyena và dùng hai chân làm dạng hai chân của Hyena ra. Gã đưa con dao mỏng vào gần đáy xương chậu của Hyena. Lưỡi dao sắc như dao cạo đặt lên dương vật của Hyena.
- Quả bom đâu? - Người đàn ông có râu nói nhỏ vào tai Hyena. Gã kéo nhẹ con dao cho cứa vào thịt. Con mắt còn tốt của Hyena đau đớn nhắm lại.
- Nhanh lên, - người đàn ông có râu nói khẽ, - tao không còn thì giờ và kiên nhẫn nữa. Hãy nói cho tao biết đi, rồi tao sẽ cắt họng mày và mày sẽ khó mà cảm thấy được gì, mày sẽ chết rất nhanh. Ngược lại, mày sẽ chết nhục nhã. Hyena sẽ lên thiên đàng như một hoạn quan.
Hyena chịu đựng. Mồ hôi vã ra đầm đìa trên mặt, trên ngực hắn như những dòng suối. Mắt hắn hoa lên vì đau đớn. Hắn có thể cảm thấy lưỡi dao đang cứa vào bộ phận đàn ông của hắn. Hắn giương con mắt còn lại nhìn về phía giường.
Người đàn ông có râu kéo tấm nệm ra. Một chiếc cặp đen nhỏ nằm giữa tấm nệm và giát lò xo. Gã dùng cái chìa khóa lấy từ tay Hyena trước đó mở cặp.
Quả bom trông rùng rợn và kinh khủng. Thuốc nổ dẻo rất nhiều, đủ để làm bay đi cả tháp Eiffel. Cặp còn chứa một bộ điều khiển vô tuyến và một đồng hồ định giờ nổ. Người đàn ông có râu quay lại nhìn Hyena mỉm cười.
- Tao là người giữ chữ tín. - Gã nói một cách trầm tĩnh. Gã nắm tóc Hyena, kéo đầu hắn ngửa ra phía sau. Trái cổ của Hyena nhảy lên nhảy xuống như cái phao câu cá trong cổ họng. Người đàn ông có râu cắt cổ họng Hyena sâu đến tận tĩnh mạch cảnh.
Gã đóng cặp lại, quăng nệm vào chỗ cũ, mở trói cho Hyena và để gã rơi một đống xuống sàn nhà. Hắn lấy quả bom ra khỏi cặp rất cẩn thận và để lại máy vô tuyến trong ấy. Kế đó gã đặt họa đồ các tầng nhà của tòa đại sứ Tây Đức lên giường rồi băng qua phòng ra cửa và nhìn lại xem xét kĩ gian phòng lớn. Không có một ai.
Gã treo bảng “Xin đừng quấy rầy” lên cửa và ra cầu thang xuống hai tầng để về phòng gã. Gã đã xếp hành lí trước và tiền phòng đang thanh toán trước theo tài khoản mù với địa chỉ ở Geneva. Gã đem theo chiếc vali nhỏ và thùng đựng đồ nghề màu đen rồi rời khỏi khách sạn. Gã đi thẳng đến phi trường gởi hành lí rồi vào phòng vệ sinh, mở thùng đồ nghề lấy ra bộ áo quần công nhân mặc vào. Kế đó gã gọi một chiếc taxi đi đến tòa đại sứ Tây Đức.
Hắn trình người lính bảo vệ giấy ủy nhiệm giả, chứng nhận hắn là thợ điện, mở hộp đồ nghề giở ngăn kéo ra để người bảo vệ có thể thấy những dụng cụ đồ nghề đựng trong ngăn dưới. Người lính vẫy tay cho gã đi. Gã vào bằng cửa bên, đi thẳng ngay đến phòng chứa đồ, lấy cái thang cao và đem nhanh đến phòng tiếp tân đang đầy người, đặt thang lên. Một người Đức có vẻ cứng rắn tiến đến gần người đàn ông có râu khi gã bắt đầu leo lên chiếc đèn treo nhiều ngọn cao chót vót. Người đàn ông có râu giơ ra một cái bóng đèn và chỉ về phía chiếc đèn treo nhiều ngọn, người Đức nhún vai và bỏ đi.
Hắn rút ngăn kéo của thùng đựng đồ nghề ra, thọc tay vào phía dưới lôi ra quả bom được dính vào đáy ngăn kéo này bằng những ống giác nhỏ và cẩn thận gắn nó vào cái ống đỡ mái vòm thủy tinh to lớn. Gã đặt giờ nổ là sáu giờ ba mươi phút tối.
Năm phút sau gã để lại thang vào chỗ cũ và đi ra. Gã đi bộ bốn khu phố, gọi một chiếc taxi và trở lại phi trường ở đây hắn lấy lại chiếc va li của hắn và thế thùng đồ nghề vào cái ngăn mướn có khóa đó. Gã đi vào một căn buồng nhỏ trong nhà vệ sinh và mở vali ra. Có một gương nhỏ soi sáng bằng pin và một bộ đồ hóa trang ở trong, gã lột bộ tóc giả và đồ hoá trang ra, cởi bộ đồ công nhân nhét vào một cái túi nâu chung với đồ hoá trang. Gã mặc sơ mi trắng, thắt cà vạt xanh và mặc một áo khoác thể thao bên ngoài rồi đóng va li lại. Khi gá rời căn phòng nhỏ, gã vất cái túi đựng đồ hóa trang vào một thùng rác.
Vị đại sứ Mỹ là một người cao, da nâu sẫm, mặc dù đã ngoài sáu mươi mà vẫn còn khang kiện, trông chỉ như người mới bốn mươi lăm tuổi thôi. Ông ta có khả năng thuyết phục. Tối hôm nay có một cuộc tiếp tân rất quan trọng, nhiệm vụ của ông là thuyết phục cho những đại diện của nhiều nước châu Âu thấy rằng chủ nghĩa khủng bố đã đạt đến mức độ như một bệnh dịch. Thực sự đã đến lúc phải tuyên chiến với bọn khủng bố, mặc dù ông biết rằng nhiều nước không bị bọn khủng bố tấn công và miễn cưỡng gánh chịu sự tức giận của bọn giết người Arab vì hành động công khai chống chúng.
Vào lúc 6 giờ 5 phút, khi ông đã chuẩn bị xong để đi đến buổi tiếp tân, ông nhận được một cú điện thoại khẩn cấp qua chiếc máy điện thoại đỏ của ông. Người ta nói với ông: có lí do để tin rằng một tên khủng bố người Liby cực kì nguy hiểm có mật danh là Hyena đang ở Paris. Đây là một tin mật, tình trạng an ninh đang bị đe dọa cực kì nguy hiểm và những sự đề phòng đặc biệt phải được thực hiện ngay lúc này. Cuộc nói chuyện điện thoại kéo dài mười phút: vị phụ tá thư kí bộ ngoại giao giải thích các chi tiết phiền hà cần phải làm ngay.
- Nghe đây, - vị đại sứ sốt ruột nói, - tôi sẽ đến dự trễ cuộc tiếp tân rất quan trọng này mất. Chúng ta không thể thảo luận về việc này ngay sáng sớm mai ư?
Ông thư kí bối rối xin lỗi và đặt máy xuống.
- Trời, những anh chàng chỉ điểm hiếu sự nhỏ nhen này ở Bộ làm tôi phát khùng, - ông than phiền với bà vợ, - bây giờ chúng ta bị trễ rồi.
- Chúng ta hãy cho xe chạy nhanh tối nay, Geoffrey, - ông nói với người lái xe khi họ lên chiếc xe hòm, - chúng ta đi trễ.
Chạy được một dãy phố thì một tai nạn đã làm họ trễ thêm mười phút. Vị đại sứ nhìn đồng hồ.
- Quỉ tha ma bắt! - Ông nói với vợ, - chúng ta trễ mất gần nửa giờ. Ma quỷ, ma quỷ, ma quỷ!
Những vị đại sứ Phần Lan, Pháp và Hà Lan đang đứng trong hàng quan khách thì quả bom nổ. Trong giây lát, tiếng nổ chát chúa, lửa và ánh sáng bùng lên, cái phòng đông chật người sáng rực và bị uy hiếp. Ngay sau tiếng nổ của bom là những tiếng kêu thét đau đớn và kinh hãi. Chiếc đèn treo nhiều ngọn tắt phụt và nổ tung, hàng trăm bóng đèn trang trí bằng thủy tinh biến thành hàng ngàn mảnh vụn lấp lánh. Những mảnh kính vỡ chết người bung ra vì sức nổ, xuyên, rạch vào đám người ở phía dưới. Giống như những mảnh bom lấp lánh, chúng xuyên vào người các vị quyền cao chức trọng. Các bà tái xanh trong những chiếc áo dài đắt tiền, mặt của họ thình lình bị xé rách vì những mảnh kính và kim khí vụn bắn ra, loạng choạng ngã vào nhau. Những vị đại sứ trong chiếc áo đuôi tôm ngã khuỵu xuống và bị những mũi tên giết người này đâm chết.
Và trong cái im lặng tạm thời kế sau mọi vụ nổ và đi trước những cơn hỗn loạn, chiếc đèn treo nhiều ngọn, đa hư hại vì vụ nổ, đung đưa yếu ớt, kế đó cây đỡ của chiếc đèn gãy một tiếng tách, và nó rơi xuống, vỡ, bắn tung tóe những mảnh kính vào đám người chết và bị thương.
- Tr... ời ơi! - Vị đại sứ Mỹ la lên lúc họ tách đường chính để chạy quẹo lối vô Tòa Đại sứ. Đằng trước họ, trong ánh sáng lóa mắt của đèn pha xe, những người ăn mặc quần áo dạ hội lộng lẫy mình đầy máu me đang mò mẫm, loạng choạng từ trong đại sảnh tiếp tân vỡ nát bước ra đường.
 
0

GÁI SÔNG NƯỚC

 
Sy ở trong một công viên nhỏ bên kia đường, đang tập dượt những thế võ của mình. Anh ta khỏe, có những thế đánh nhanh với bộ chân vững chắc. Hatcher tiến đến cửa xe, nhấn kèn và người lái xe đến ngay tức khắc.
- Tôi đang tìm một cô gái tên là Sukhaii - làm việc trên sông Phadung Klong gần đường mới, - Hatcher nói.
- Cô ta có phải là gái điếm không?
- Phải, - Hatcher trả lời, mô tả lại cô gái theo biên bản của cảnh sát, cao 1,58 mét, 16 tuổi, nặng 41 kilô. - Một công chúa thật sự, người ta nói vậy.
- Dĩ nhiên phải là một công chúa thực sự, - Sy nhún vai nói, - ai mà đi với một gái điếm xấu xí?
- Thật là khôn ngoan, - Hatcher nói.
- Có thể mất một ít thời gian để tìm ả, - Sy nói, - nhưng em gái của sông nước không ở yên một chỗ trên sông đâu.
- Trong lúc chúng ta làm việc ấy, - Hatcher nói, - tôi cũng đang đi tìm hai người này. - Anh cho Sy xem ảnh của Cody và Pai chụp ở Việt Nam mười lăm năm về trước.
- Đây là một bức ảnh cũ phải không? - Sy hỏi.
Hatcher gật đầu, lẩm bẩm:
- Đã mười lăm năm.
- Họ đã thay đổi nhiều, - Sy nói.
Hatcher gật đầu một lần nữa, nói:
- Tôi chắc vậy.
- Đây là người Mỹ và cô gái Thái? - Sy hỏi.
- Không. Người đàn ông là một phi công Mỹ còn cô gái là người Việt Nam.
- A! - Sy nói. Cậu ta nhìn đăm đăm bức ảnh ít nhất là một phút rồi gật đầu và trả lại cho Hatcher.
Trong khi xe chạy qua những con đường đông người, Hatcher suy nghĩ về kế hoạch của anh. Trước tiên, cố tìm cho ra cô gái, vì cô ta là người duy nhất đã nhìn thấy cả Wol Pot và những tên đã giết Porter. Kế đó anh sẽ bắt đầu kiểm tra lại những nơi Porter theo dõi để xem có nảy ra được điều gì không. Gần đầu bản liệt kê là khu được gọi là Tombstone và Longhorn Bar. Vấn đề Thai Horse thì dễ lầm lẫn lắm, vì nó dính dáng đến cả những chuyện đồn nhảm ngoài đường phố. Có thực sự có Thai Horse không? Và nếu có thì đó có phải là một băng không? Hay là một người? Wol Pot hay Cody? Hay một nhân vật mới nào đó? Hatcher không thể gán buộc nó ngay vào Cody, anh sẽ phải mò mẫm tìm hiểu thôi.
Đi đến sông Phadung chỉ mất có vài phút, ngã tư đường chỉ cách đây một vài khu phố, qua khỏi cái chợ đầy sản phẩm ngổn ngang giờ đây đã hầu như vắng vẻ và qua một cái cầu ngắn có nhịp cuốn trên con sông này Sy đã ba lần phải dừng xe và mất gần một tiếng đồng hồ để hỏi thăm những người dân sông nước về cô gái đó.
- Họ nói ả làm việc gần đường Rama Four, - cậu ta nói khi trở lại xe - chúng ta sẽ tìm được ả, mai pen rai.
Họ lái xe dọc theo bờ sông, giữa họ và dòng sông là những cây đa um tùm, những cây phong lan đang trổ bông và những nhà ổ chuột dựng trên những cây cột ở bờ sông. Cậu đi khoảng mười lăm phút nữa rồi trở lại nói:
- Ả đã đi đến sông Mahachai. Nhưng khó tìm được nơi ả ta ở trước tối nay. Chúng ta sẽ tìm ả ở gần đường Mahajai chạy ngang chợ Cướp ở Phố Tàu.
Lúc hoàng hôn buông xuống họ lái xe đến đường Mahajai, và một lần nữa Sy lại đi tìm kiếm ở bờ sông. Lần này cậu ta chỉ đi có vài phút rồi quay lại, tự hào nói.
- Chúng ta gặp may rồi. Đi nào!
Cậu ta dẫn Hatcher đi dọc theo bờ sông, qua nhiều chiếc thuyền.
- Ông nên cẩn thận, được chứ, pheuan? - Sy nói. - Đôi khi tay chủ điếm đánh cắp tiền của ông đó, hãy lưu ý, ông hiểu chứ? Tôi sẽ theo sát ông.
Cậu tay chỉ xuống dãy thuyền buồm và nhà thuyền được cột vào bờ sông và buộc vào nhau. Nhiều cô gái đang ngồi trước mũi thuyền, mỉm cười, định giá mời khách đang đi theo bờ sông. Hatcher đi theo Sy, họ lách qua đám đông, du khách thèm khát đã bắt đầu tụ tập trên bờ sông và đi qua nhiều chiếc thuyền cho đến khi cậu người Thái nhỏ ngăn một người đàn ông đang đi ngược dòng sông với một cần câu, hỏi:
- Sukhaii? Ông biết thuyền nào là của ả không?
Người đàn ông mỉm cười vui vẻ, gật đầu mạnh mẽ, và chỉ qua vai Sy một chiếc thuyền dài hầu như ở ngay dưới chân họ.
- Ôi! Chuyến đi của tôi! - Hatcher nói và bước tròng trành qua chiếc thuyền hang yao đầu tiên, ngang qua một người Thái lực lưỡng đang nhìn chằm chằm vào ngực anh lúc anh đi qua, nhưng không nhìn đến mặt anh. Anh vừa bò lên chiếc thuyền thứ hai thì một cô gái trẻ, không quá mười sáu tuổi từ trong khoang thuyền lợp rơm phía sau đi ra. Hơi hạ thấp đầu xuống ả ngước lên nhìn anh. Đôi mắt nâu của ả như sẫm lại một cách điệu nghệ.
- Sukhaii? - Hatcher hỏi.
- Ông biết tên tôi hả? - Ả ngạc nhiên nói.
Hatcher gật đầu, nói:
- Chai (vâng).
- Ông muốn làm sanuk hả? - Ả nói tiếng Anh bập bẹ. Ả kéo anh lại gần và rờ rẫm anh, miệng vẫn mỉm cười. Người ả ấm và êm dịu khi chạm vào, có gài một nhành hoa lài ở bên tai. Trong giây lát Hatcher đã nghĩ đến việc tình tự một lúc với ả. Anh nhẹ nhàng nắm lấy tay ả để ả khỏi chạy mất và giơ lên một tờ bạc năm mươi dollar Mỹ.
- Tôi không đến đây để vui chơi. - Anh nói bằng tiếng Thái.
Người con gái có vẻ sửng sốt và cố vùng ra khỏi tay anh.
- Nhìn đây, - anh nói, - năm mươi dollar Mỹ, tức là một ngàn bạt, hai tờ màu tím. Cô có muốn được cái này không?
Người con gái nhìn tờ năm mươi dollar, và Hatcher bỏ tay ả ra.
Người đàn ông Thái lực lưỡng trên một chiếc thuyền khác thỉnh thoảng nhìn họ qua sàn thuyền nhưng không nói gì cả.
- Tôi phải làm gì? - Ả cẩn thận hỏi.
- Có một người đàn ông đã ở đây cái đêm xảy ra vụ giết người trong chiếc thuyền bên cạnh, ông ta đã nhảy ra khỏi thuyền.
- Chai... (phải)
- Ông ta người thế nào?
Người con gái suy nghĩ một lát và giơ tay lên cao khoảng 1,7 mét trên sàn thuyền.
- Cao như thế này. Mắt rất nâu. Tóc đen. Mặt gầy. Nặng cỡ như ông.
- Lớn như tôi nhưng lùn hơn?
- Chai (phải).
- Có sẹo không, ờ có dấu vết gì ở trên mặt hay trên người không?
Cặp mày Sukhaii dựng lên.
- A, chai, chai... ông ta có con rồng, ở đây.
Ả đưa tay để lên ngực.
- Xâm hình một con rồng hả?
Ả gật đầu.
- Này, cái anh chàng đó rất vội vã, phải không?
Ả gật đầu một cách mạnh dạn:
- Ông ta sợ.
- Tôi chắc là thế. Này, cái tôi biết là ông ta không có thì giờ mặc quần áo trước khi nhảy xuống sông bơi đi. - Hatcher nói khẽ.
Ả nhìn anh nghi ngờ nhưng không trả lời. Hatcher lại nói:
- Có lẽ ông ta không mang theo được quần áo...
- Có, có mang quần áo...
- Mai (không), - Hatcher lắc đầu nói, - không có thì giờ.
- Tôi đã kể cho cảnh sát...
- Tôi không phải là cảnh sát. Tôi không quan tâm đến cái gì cô nói với cảnh sát. Và tôi cũng không nói gì với cảnh sát cả.
- Tôi đã kể cho cảnh sát tất cả mọi điều, - ả ta nói vẻ thách thức.
- Tôi nghĩ có lẽ ông ta còn để lại quần dài của ông ta.
Ả lắc đầu lia lịa:
- Mai, mai, không có bóp tiền.
- Tôi không nói gì về bóp tiền, - Hatcher nói nhẹ nhàng.
Cô gái trẻ bắt đầu sợ hãi. Ả nhìn qua Hatcher đến người đàn ông Thái ở chiếc thuyền bên kia.
- Cô hãy nhìn đây, tôi không phải là người của cảnh sát, tôi là người American, - Hatcher nói. - Tôi chỉ cần những giấy tờ căn cước trong bóp. Tôi không cần biết bất kì cái gì khác, cô có thể giữ tiền lại hay bất kì vật gì có giá trị. Tôi chỉ muốn có giấy tờ, hiểu không?
Mắt ả lại nhìn về phía sau anh một lần nữa. Anh quay lại. Người đàn ông Thái đứng gần mạn thuyền bên trái nhưng không bước lên thuyền. Gã ta quấn một pakoma màu tím, một loại sà rông của đàn ông, và mặc một áo sơ mi rộng vải trắng. Trên cánh tay phải của gã xâm một hình lớn: một đóa hoa phong lan to có một con rắn quấn xung quanh. Gã mỉm cười với Hatcher, rồi nhìn cô gái.
- Ông ta muốn gì? - Người đàn ông hỏi Sukhaii bằng tiếng Thái.
Hatcher xen vào:
- Tôi cho người đàn bà trẻ này năm mươi đô lã Mỹ để lấy tờ căn cước ở trong cái bóp đã để lại đây đêm hôm đó. Không hỏi thêm gì cả. Tôi sẽ quên đi là tôi đã đến đây. Đó là việc cá nhân. Tôi chỉ muốn lấy giấy tờ thôi.
Người đàn ông Thái bước lên thuyền và đến gần Hatcher. Gã thấp hơn anh chừng năm, bảy centimet nhưng cơ thể rắn chắc và gân guốc. Gã quan sát mặt Hatcher suốt một phút đồng hồ bằng cặp mắt màu bùn của gã. Phía sau gã, Sy bước lên một chiếc thuyền khác xua đuổi những đứa trẻ sông trên sông nước và các người bán hàng đang xúm vào xem và phản đối oai oái.
Người đàn ông xâm mình sụp mắt xuống và nói:
- Cái bóp của ông hả?
Hatcher lắc đầu:
- Mai.
- Cái bóp của bạn ông hả?
Hatcher không nói dối. Anh lắc đầu một lần nữa.
- Mai.
- Ơ - người Thái nói. Gã đi ngang qua Hatcher đến nói nhỏ với cô gái điếm trẻ. Ả nhìn chằm chằm vào gã một lúc rồi gật đầu.
- Bao nhiêu? - Gã hỏi.
Và ả nói khẽ:
- Mười ngàn bạt.
Năm trăm dollar, Hatcher nghĩ, và cô gái có lẽ được một hay hai trăm. Wol Pot đáng giá nhỉ.
Gã người Thái hỏi khẽ:
- Tại sao cô giữ nó không giao cho cảnh sát?
- Tôi nghĩ ông ta có thể trở lại. - Ả đã nói dối.
Gã kia nói:
- Vậy hãy giữ nó để tôi thương lượng với tên Tây này.
Gã không nói lời nào có vẻ xem thường người ngoại quốc này và hoàn toàn thoải mái dễ chịu, dường như gã ta và Hatcher là những người bạn thân thiết. Nếu ả gái điếm của gã ăn cắp chiếc ví làm gã khó chịu, gã cũng không tỏ ra ngoài mặt. Gã đưa Hatcher đi vào trong khoang thuyền, để cho những người khác trên sông không thể nhìn thấy họ. Một cách bối rối Sy tiến lại gần hơn.
Sukhaii đi tới cái rương, lấy ra một cái bóp bằng da rắn và đưa nó cho người đàn ông Thái. Gã mở bóp, rút ra một nắm tiền bạt màu tím và nhét ngay vào túi.
- Xin lỗi, - ả nói một cách tiếc rẻ. Gã nhún vai và nói bâng quơ “Mai pen rai”, rồi xua ả đi và xem tiếp từng ngăn cái bóp. Gã tìm thấy một cái bùa bằng vàng nhỏ trong một ngăn bóp. Nó theo ngay số bạc vào túi gã.
Gã quay lại nhìn Hatcher.
- Sáu mươi dollar Mỹ? - Gã nói. Nụ cười của gã rộng hơn một chút. Hatcher đã quên rằng ở Thái Lan giá đầu tiên không bao giờ là giá cuối cùng.
- Khit waa phaeng pai, năm mươi lăm. - Hatcher trả lời.
Gã Thái chỉ mong có thế. Anh đếm tiền.
Nụ cười của người Thái càng rộng hơn và gã nhún vai:
- Năm mươi bảy, nếu ông bằng lòng.
Gã nói với cái cười toe toét để lộ ra những cái răng gãy và trao chiếc bóp cho Hatcher xem xét. Hatcher lật nhanh xem giấy tờ chứa trong ấy.
- Tốt, - anh nói và trao cho người Thái năm mươi bảy dollar. - Khop kun. Sawait-dii.
Hatcher quay lại nói với cô gái:
- Nào còn một việc nữa, - anh móc ra một tờ bạc hai mươi dollar, - thêm hai mươi dollar Mỹ nữa nếu cô nói cho tôi biết người đàn ông cầm dao đã nói gì với cô.
- Y không nói gì cả! - Ả kêu lên rất nhanh.
Nhưng người đàn ông Thái để mắt vào tờ giấy hai mươi dollar. Gã nhìn tờ giấy bạc và nhìn qua khoang thuyền xuống dòng sông trong một vài giây, rồi bảo cô gái điếm.
- Hãy nói cho ông ấy biết.
- Nhưng họ nói...
- Hãy nói cho ông ấy đi.
Cô gái hầu như nghẹn thở vì sợ hãi.
- Họ nói họ sẽ rạch mặt tôi cho đến khi trông tôi như một bà già. - Ả nói một cách yếu ớt, mắt đăm đăm nhìn xuống sàn thuyền.
- Tại sao họ phải làm vậy?
- Nếu tôi nói cho cảnh sát biết bất kì điều gì về họ.
- Còn cái gì nữa?
- Họ hỏi tôi có biết một địa chỉ không?
- Địa chỉ của ai?
- Nó không có nghĩa gì cả. Đó là con ngựa trong một chuyện thần thoại.
- Thai Horse hả? - Hatcher hăm hở hỏi.
Cô gái gật đầu. Người đàn ông Thái từ từ đưa tay ra chụp lấy tờ hai mươi dollar trong tay của Hatcher. Bảy mươi bảy dollar gia nhập với phần còn lại của món đồ giành được. Kế đó người Thái với ra phía sau dây lưng của gã, móc ra một cái dùi cui bằng gỗ tếch dài ba tấc. Gã đứng trước Hatcher cách xa khoảng 1m2 đến 1m5, và đập đập dùi cui vào lòng bàn tay.
- Có thể đưa tôi nốt số tiền còn lại của ông hay chiếc đồng hồ vàng Rolex kia, hả? - Người Thái vẫn cười và nói.
Hatcher lùi lại khoảng ba tấc. Cơ thể của anh bắt đầu căng thẳng và mắt anh dim lại.
- Không có một xu nào nữa, - Hatcher thì thào giọng khàn khàn.
Nụ cười vẫn còn trên môi, nhưng mắt của người Thái có vẻ hơi điên lên. Gã đứng dang chân ra giơ cái dùi cui sang một bên.
- Tôi đánh ông, - tên Thái ma cô nói.
Tiếng nói chưa kịp ra khỏi miệng gã thì Sy đã nhảy lên thuyền ngay sau lưng gã. Tên Thái quay ngoắt lại đánh một cú mạnh vào Sy nhưng đánh trật, và trước khi gã kịp thế thủ, Sy đã cho gã xơi hai cú đá mạnh - một vào ngực, một vào cằm. Tên Thái ngã ngửa vào Hatcher nhưng thọc cái dùi cui vào bụng Hatcher. Mặc dù cú thọc trượt sang bên sườn Hatcher, nó đã làm anh mất thế, và tên Thái được rảnh tay tấn công Sy. Nhưng Sy đã đánh trúng tên người Thái ba đấm thẳng rất mạnh. Đầu tiên tên Thái choáng váng, nhưng những cú đấm chưa làm gã chịu thua. Gã vẫn xông đến. Gã ôm Sy ghì chặt và nhấc bổng Sy khỏi sàn thuyền. Gã chưa kịp liệng Sy xuống sông thì Hatcher đã vươn tay ra, bấm những ngón tay sắt vào vai tên Thái. Anh bấm sâu, tìm được sợi dây thần kinh anh muốn tìm và nghiến nó vào cái xương dẹt ở vai tên Thái.
Tên Thái bị tê liệt ngay. Tay gã hạ xuống, chiếc dùi vui rơi cạch trên sàn thuyền và Sy uốn người lùi lại một bước, đánh thẳng vào mặt gã một đòn phối hợp nặng gấp đôi: hấp, hấp, hấp...
Tên người Thái lảo đảo lùi về phía sau, ôm lấy cái mũi chảy máu và ngã tựa vào một phía của khoang thuyền. Cái lán nhỏ sụp xuống và gã ngã nhào xuống sàn ghe đầy những cọng tre, nằm điếng người một lúc. Hatcher ngồi chồm hỗm bên gã, nhặt cái dùi cui quăng xuống sông. Tên Thái lau máu trên bộ mặt còn sửng sốt của gã.
- Tôi là một võ sĩ quyền Anh, - Sy nói và đẩy Hatcher theo mình ra khỏi chiếc hang yao.
Hatcher nhìn tên Thái đang rũ rượi và mỉm cười châm biếm “Sawat-dii”.
Họ trở lại bờ sông, Sy khệnh khạng đi trước Hatcher, đẩy sang bên những người bán hàng và gái điếm lang thang. Khi họ đến xe hơi, Sy mở cửa cho Hatcher.
- Cậu thật sự giỏi ở đây đấy, pheuan! - Hatcher nói và leo lên chiếc xe hòm. Anh xem qua giấy tờ và hộ chiếu. Theo chi tiết trên ấy, Wol Pot cao 1,68 mét, nặng khoảng 70 kí và ở đường Raiwong trong khu phố Tàu. Tuy nhiên Hatcher đã có được một cái còn hơn là sự mô tả.
Anh đang nhìn chằm chằm vào cái ảnh trong tấm hộ chiếu của Wol Pot.
 
0

CỌP DỮ

 
Cọp ta nổi tiếng với cái tên Old Scar (Sẹo Già). Cọp nằm trong đám cỏ cao ở bờ đầm đang nhìn chú nai non vầy bùn cách đó khoảng năm chục mét. Cọp ta đã đuổi theo đám nai này suốt ba giờ, đôi lúc phải nằm im không động đây đến ba, bốn chục phút một lần, khi chúng đi qua một dòng nước đầy cát để ra khỏi hẻm núi xuống vùng đồng bằng. Rồi từ đó chúng qua một cánh rừng tre cao ba mét đến vũng nước này. Trước đây Sẹo Già là một con cọp oai hùng, nặng trên hai trăm kí, nhanh hơn bất cứ con cọp đực nào trong vòng hai trăm kilômét, bất khuất và mạnh đến nỗi có lần đã hạ cả một con trâu nặng trên ba trăm kí và kéo nó với bộ hàm cứng như sắt đi nửa kilômét đem về nuôi con. Kế đó lại đem giấu cái xác đã moi hết ruột trong một bụi cây cao trên mặt đất đến sáu mét. Đấy mới thực là một con cọp.
Bây giờ thì cọp đã già rồi và đi khập khiễng vì bệnh tê thấp. Những vết thương cũ do chiến đấu làm cọp đau đớn trong khi đi. Răng cọp vàng khè và một răng nanh đã gẫy. Một vết sẹo rất to loang lổ trên mặt cọp chạy từ giữa hai mắt xuống một bên miệng rồi kéo đến tận hàm, vết tích để lại của một con cọp trẻ hơn, hung hăng hơn có thể giết bất cứ một con cọp nào khác cùng lứa tuổi và hèn yếu. Nhưng Sẹo Già vẫn còn một chút sức lực, còn quá mạnh đối với chú nai con kia, và cọp tự thấy đã khôn ngoan chịu rút lui, để ra khỏi cuộc đấu chỉ với những vết sẹo mà thôi.
Sẹo Già thận trọng đặt từng bàn chân to lớn chân nọ sát ngay trước chân kia, bò từng phân một về hướng con nai không ngờ vực, cố không làm xào xạc những chiếc lá khô dưới thân cọp. Trong suốt hai mươi hai năm cua đời mình cọp đã săn như thế với sự rình mò, kiên nhẫn và nhanh nhẹn mà cọp đã học được khi quan sát mẹ cọp. Bây giờ cọp di động hoàn toàn theo bản năng. Ngoại trừ cái đó ra tất cả những mưu mẹo trí trá của cọp đều không giúp được gì cho cọp nữa.
Con nai thình lình ngẩng đầu lên và đánh hơi không khí. Không có gió, vì thế nó chưa bắt được mùi cọp, nhưng nó cảnh giác. Bầy nai tản ra lội xuống nước sâu đến khuỷu chân. Chúng biết tốt hơn là không nên lội xuống sâu hơn, vì cái đầm cũng là nơi ở của loài cá sấu. Nhưng nếu chúng bị tấn công thì con nai đực to, nặng trên hai trăm kí chịu trách nhiệm trông coi bầy.
Sẹo Già gồng mình lấy đà. Cặp chân hùng mạnh trước đây ghì sát vào bụng, cọp sẵn sàng nhảy, tai hóng về phía trước, đuôi dựng đứng. Nhưng cọp đã mất xúc giác nhạy bén và một chiếc lá thình lình kêu đánh cách một tiếng dưới chân cọp. Con nai con hoảng sợ bỏ chạy và cả bầy nai chạy tán loạn. Sẹo Già đuổi theo chú nai con lúc chạy về hướng này, lúc chạy hướng khác và thình lình lại quay trở về vũng nước. Sẹo Già quay ngoắt lại đuổi theo, tiến vào đúng ngay lúc nai đổi hướng chạy và ở trong tầm đá của nai. Nhưng vì cọp di chuyển nặng nề nên khi chú nai đá mạnh cả hai chân sau thì một guốc đá trúng vào mắt phải Sẹo Già làm con ngươi mắt vỡ tan ra như một viên bi nổ. Cọp gầm lên đau đớn, cố sức một cách vô ích, kiêu hãnh vả bàn chân to lớn của nó về phía con nai nhưng còn xa lắm mới tới được.
Con nai và cả bầy đã đi mất.
Sẹo Già ngã gục trong nước, rống lên vì các vết thương đau đớn ở chân, vai và hai con mắt mà nó vừa mới mất vì một con nai. Cọp nằm nghỉ, thở hổn hên trong vũng nước ấm cả tiếng đồng hồ, rồi lết đến bờ đầm bùn lầy và lăn lộn trên đất mềm, ướt át để chữa trị cho thân thể đang đau đớn.
Tình thế trở nên bi đát. Đây là cố gắng lần thứ hai mươi của cọp trong hai ngày qua và cũng là lần thất bại thứ hai mươi. Ngày hôm trước, một con vượn cao vô ý đã tiến vào trong tầm tấn công của cọp nhưng đã chạy thoát được và leo nhanh lên một cây cao an toàn. Đã có một thời Sẹo Già chỉ cần nhảy ba bước là đến được cây. Nhưng cọp đã thất bại một cách mệt nhọc và phải đi trốn những tiếng nguyền rủa rít lên của con khỉ. Sẹo Già rất đói.
Bầy nai không trở lại, cuối cùng cọp quyết định tìm đến một đầm nước khác. Cọp sắp bước vào lãnh địa của một con cọp đực trẻ khác, nhưng Sẹo Già không còn cách nào khác. Cọp đã quá mệt nhọc không thể đi xa hơn nữa. Lúc cọp thận trọng len mình qua các bụi cây, một mùi hăng gắt châm chọc lỗ mũi cọp. Đó là cái mùi làm dấy lên những thèm muốn xưa của cọp. Mùi của một cọp cái đang gọi đực. Kế đó nó nghe tiếng cọp cái đang gầm gừ, một tiếng gọi kì lạ, nài nỉ và có sức quyến rũ tức khắc, rồi tiếng cọp đực trả lời gần đâu đây. Sẹo Già hạ thấp thân mình trườn về phía trước, nhòm ngó qua lớp cỏ cao thấy cọp cái tiến đến gần cọp đực, bắt đầu cạ mũi vào cọp đực gợi tình, kế đó cọp cái nằm xuống và cọp đực dạng chân cưỡi lên. Sẹo Già nhìn xem, nhớ lại những ngày trẻ trung của nó khi những con cái ham muốn và tán tỉnh nó.
Sẹo Già tiếp tục tiến lên, đánh hơi thấy một mùi khác. Nai con. Nó có thể ngửi thấy mùi máu tươi của nai và biết rằng cọp đực đã bị cọp cái quyến rũ bỏ cả bữa ăn của mình. Sẹo Già bò về phía trước, theo mùi thịt nai mới bị giết cho đến khi tìm thấy con mồi giấu sâu trong một bụi tre mà ngay cả những con kền kền cũng không thể thấy được.
Sẹo Già nằm dài trên cái bụng đói của mình và cũng vì đói nó đành xơi con vật chết một cách cảnh giả như mọi con cọp khác. Nó bắt đầu từ phía sau, liếm hết máu rồi xé rách đít con nai bằng răng nanh, moi ruột bằng cửa và gặm sạch những cái xương bằng cái lưỡi ráp như tờ giấy nhám.
Sẹo Già có thể ăn mười tám kí thức ăn một ngày. Nó đã không ăn gì trong ba ngày, và nó có ý thức giữ không rên lên những tiếng rừ rừ khi ăn để con cọp đực kia khỏi quay lại. Nó có thể nghe thấy đôi cọp kia đang gầm rú lên vì ngây ngất khoái lạc và nó biết có thể tiếp tục ăn, vẫn còn an toàn. Nhưng kế đó nó nghe tiếng con cọp đực kia lăn xuống và thở khịt khịt, vẫn còn đói, con cọp già khổng lồ đành bò tránh vào lùm cỏ cao. Nó biết nó không thể sống sót nếu phải đấu với một con cọp trẻ. Trời đã tối sập, vì thế nó tìm được một hốc cây rỗng và ngủ đêm ở đó.
Giờ đây nó đã đi lang thang không mục tiêu trong hơn hai ngày tìm không ra thức ăn, và cơn đói của nó trở thành cơn giận dữ. Sẹo Già thấy mình đang ở một nơi quen thuộc mơ hồ. Nó bắt đầu nhận ra những dấu vết trên mặt đất và nhớ lại mọi điều của thời niên thiếu. Đây là nơi nó bắt đầu cuộc sống, nơi mẹ nó đã dạy nó tất cả những mưu mẹo trước khi nó đi tìm lãnh địa riêng của nó.
Nó đi xem xét mảnh đất, tìm vết chân những con cọp khác, nhưng chẳng có vết nào. Sẹo Già nhận thấy nơi này rất ít cỏ lại có những ngôi nhà được dựng lên quanh một phía hồ. Và nơi xưa kia là rừng tre thì nay lại mọc lên những luống rau. Cánh rừng bây giờ cách xa hồ chừng một trăm mét phủ toàn lau sậy.
Hai kẻ thù lớn nhất của loài cọp là sự tiến bộ và con người đã cướp đi nhiều đất đai của chúng. Nhưng Sẹo Già đã quá mệt nhọc không thể đi xa hơn nữa. Nó có thể nhìn thấy ở bên hồ, người ta đi lại. Nó bò sát bụng, rón rén bước xuống hồ, ngồi thu mình yên lặng ở đó, tắm mát, ngâm những vết thương của nó trong nước và uống nước mát.
Lúc trời chập choạng tối, nó thấy một đứa trẻ, một bé gái không quá ba tuổi, đang trần truồng chập chững đi xa khỏi tầm mắt của người mẹ. Em bé đi dạo dọc theo bờ nước, đạp lung tung làm nước tóe lên.
Sẹo Già nhìn theo cô bé với con mắt tốt duy nhất còn lại của nó. Cô bé giống như một con khỉ, có lẽ nhiều thịt hơn. Bé không có vẻ nhanh lắm và không có đuôi. Cọp co hai chân lên ngực nó, chuẩn bị sẵn sàng. Đôi tai vểnh về phía trước, môi trề ra để lộ hàm răng.
Đứa bé gái đang nhảy múa ngay trước mũi nó. Khi em bé đứng cách nó khoảng mét rưỡi, em nhìn thấy một con vật khổng lồ ngâm mình trong nước ngập đến vai, mắt vàng như lửa, những chiếc răng gãy lấp lánh. Trước khi em kịp thét lên, cọp đã lao đến tấn công, chỉ một bước nhảy dài, Sẹo Già đã ngậm em bé trong hàm răng của nó. Giống như nó đã làm với mọi con mồi khác, nó ấn đầu em bé ngửa ra sau giống như đầu một con nai rồi cắn mạnh vào cổ họng bóp chết em bé. Kế đó nó quay lại và lẩn vào rừng già an toàn với con mồi săn được. Nó yên trí rồi và bắt đầu liếm hết máu ở con mồi.
Nó thưởng thức loại thịt ngon hơn và mắt nó híp lại, nó bồn chồn, run rẩy, hơn nữa việc săn mồi này lại dễ dàng và thức ăn thì bổ béo. Ngày hôm sau nó lại lén lút ra hồ. Lần này nó bò đến gần làng hơn, gần đến mức thấy rõ một em bé khác đang nghịch đất ở bìa làng.
Trong tuần lễ kế tiếp Sẹo Già đã giết thêm hai đứa bé nữa, một vị sãi già khập khễnh và một người đàn bà đang giặt giũ bên hồ. Đó là lúc Mac Early được mời đến.
Đó là lúc đoàn thợ săn bắt đầu hoạt động. Và đó là lúc Hatcher bắt đầu tìm ra manh mối những điều bí ẩn của Murph Cody.
 
0

NHỮNG KẺ CỘC CẰN

 
Trước hết, cái bóp của Wol Pot dường như cho biết rất ít chi tiết. Ngoài tấm hộ chiếu ra còn có một bằng lái xe với một địa chỉ trên đường Rajwang ở khu phố Tàu, hai vé cá ngựa, chắc chắn là vé thua, và một vé xem trận đấu quyền Anh đã qua. Theo giấy tờ của Wol Pot thì hắn là một nhà buôn.
Không có gì khác đáng chú ý trong cái bóp cả.
Trong bữa ăn sáng, Hatcher trải hai tấm ảnh ra trước mặt Sy, một của Wol Pot, một của Pai và Cody. Hatcher gõ ngón tay lên tấm ảnh của Wol Pot, tâm sự:
- Tôi cũng đang tìm cái gã này.
Sy xem xét kĩ những bức ảnh một lát.
- Tôi nghĩ về cô gái này từ hôm qua, - cậu ta nói, - cô ta đẹp nhất. Có lẽ tôi đã gặp cô ta nhưng... tôi cho rằng mình đã nghĩ về tất cả những người đàn bà đẹp.
- Cậu còn nhớ gặp ở đâu không? - Hatcher hỏi.
Sy lắc đầu, tay chỉ lên bức ảnh của Cody, hỏi:
- Ông này đi với cô ấy hả?
- Có thể đúng, có thể không. Tôi không biết. Anh lính Mỹ này là người tôi đang tìm.
- Được, - Sy nói, - chúng ta đi nơi nào trước?
Hatcher lấy ra bản liệt kê các địa điếm trong sổ nhật kí của Porter. Không may là nhật kí của Porter chỉ chứa những lời ghi về địa danh và thời gian nhưng không có địa chỉ cụ thể và không có chú thích. Anh có địa chỉ ghi trong hộ chiếu của Wol Pot, một địa chủ ở Yawaraj. Anh lấy ra mảnh giấy mà tên Cầy Mongoose đã cho anh, cái trang giấy nhòe nước lấy từ quyển nhật kí của Porter đề ngày cuối cùng của đời Porter và trải nó ra trên bàn. Đó là tất cả những việc mà anh phải làm, còn một tờ giấy ghi tên quán rượu gọi là Longhorn ở một nơi được gọi là Tombstone và một mảnh giấy khác ghi “Thai Horse?”. Anh cẩn thận vuốt lại tờ giấy bạc nhòe nước trên bàn và đọc nó kĩ càng một lần nữa, nhưng điều duy nhất có thể đọc được chỉ là phần bắt đầu: ...cố gắng, 4 giờ 15 phút trưa...
Sy nói:
- Địa chỉ trong hộ chiếu là khu phố Tàu. Đường Rajwang. Có lẽ chúng ta bắt đầu từ nơi đó?
- Ý kiến hay đấy! - Hatcher nói.
Nhưng thực tế không phải thế. Địa chỉ đó là địa chỉ giả, một nơi không có số nhà dọc theo con sông ở rìa khu phố Tàu. Cái nhà có số gần nhất với nó là một cao ốc xưa trong tình trạng hư nát báo trước một điều xấu. Những vách gỗ đã bạc phếch và tróc từng mảng vì mưa nắng, những cửa sổ được đóng bít ván lại, và dường như võng xuống ở giữa vì chịu đựng những tầng gác đã mệt mỏi đè xuống. Một di tích cố bỏ hoang bị ép giữa hai di tích cổ khác cũng bỏ hoang, Hatcher thử coi các cánh cửa của ba cửa hàng này, nhưng chúng đã bị đóng đinh chặt cứng. Những cao ốc bỏ hoang. Rõ ràng không có ai ở trong đó. Địa chỉ của Wol Pot là một bến tàu trống rỗng.
Wol Pot đã làm gì ở đó? Chắc chắn Porter đã theo dõi Wol Pot và ghi lại những nơi hắn đã đến. Hai nơi đầu tiên trên bản liệt kê là các cửa hàng ăn ở khu phố Tàu, nhưng chúng không chỉ biết điều gì. Hatcher cho rằng Wol Pot đã ăn ở đó. Những người quản lí của hai nhà hàng ăn đã xem xét ảnh Wol Pot một hồi lâu rồi nhún vai nhất trí với nhau:
- Có lẽ đúng.
- Nơi kế tiếp là gì? - Sy hỏi.
- Cậu biết nơi gọi là “Stagecoach Deli” (xe ngựa chở khách Deli) chứ?
- Biết, - Sy nói - rất gần đây.
- Tiếp theo chúng ta thử đến đó.
Họ lái xe qua Patpong ồn ào, tồi tàn với những loa phát thanh om sòm ở bên ngoài những quán rượu lòe loẹt có những bảng hiệu bằng đèn neon chói chang, sáng rực giữa buổi trưa, rồi họ quẹo ở một nơi gọi là “Jack’s American Star and the San Francisco Bar” (Ngôi sao Mỹ của Jack và quán rượu San Francisco), quảng cáo những vũ nữ khỏa thân trình diễn những “màn đặc biệt”.
Thình lình họ đi vào một đường phố khác hẳn với con đường đã qua, xa những ánh sáng chói chang của đèn neon, nhừng ống loa vang rền và những người bán hàng rong. Có thể đó là một đường phố trong bất kì một thành phố miền Tây nước Mỹ nào và ngay giữa ánh sáng ban ngày quanh nó có một bầu không khí mờ ảo. Những tia sáng mặt trời giống như những đèn sân khấu xuyên qua màn sương mù của buổi trưa tàn, dâng lên từ con sông gần đấy. Và nó im lặng một cách kì quái, giống như một thành phố ma.
- Dừng lại đây! - Hatcher ra lệnh lúc họ quẹo vào đường phố ấy. Anh ra khỏi xe, quan sát con đường ngoằn ngoèo kì lạ. Một cái bảng gỗ đóng trên cột tên phố thông thường, ghi: đường Clementine.
- Đây có phải là khu vực người ta gọi là Tombstone không? - Hatcher hỏi Sy.
- Ông đoán đúng.
Hatcher xuống đi bộ trong sương mù, qua cửa hàng Hitching có những đôi giày ống Tây phương lịch sự và những cái nón cao bồi được trưng bày trong cửa kính. Anh xem thực đơn dán ở cửa sổ quán ăn Yosemite Sam, và nhớ tới quê hương: ragu Bunswick, bột ớt, sườn heo và thịt heo thui. “Xe ngựa chở khách Deli” ở cách đó vài nhà phía dưới phố. Nó có những cánh cửa quay và một cửa sổ bắt chước kiểu Tiffany nhưng lại bày các đồ ăn miền Đông New York, bình dân hơn. Xa hơn một chút là phòng hòa nhạc Langtry. Những tấm ảnh trong những cửa sổ hai ô kính là ảnh những vũ nữ khỏa thân người Thái và Tàu, nhưng nó cũng rất phù hợp với những mẫu hình Tây phương đầy đường phố. Nó mở cửa từ 6 giờ chiều.
Anh đi bộ ở một bên phố rồi băng qua đường và quay trở lai trên hè đường bên kia, đi qua những điểm có vẻ ngồ ngộ. Một cửa hàng bán kem có tên là Pike’s Peak (Mũi Giáo), một cửa hiệu bán dăm bông và trứng có tên là Roundup (Họp Mặt), quảng cáo bánh rán Mỹ trong cửa kính. Một rạp hát kiêm chiếu phim, rạp Palace, đang chiếu các phim Mỹ.
Nơi đó chính là quán Longhorn, quán có nóc bằng, trông càng có vẻ thấp vì đứng ngay trước một tháp vòm hình củ hành cao vút.
Bảng hiệu Longhorn là hình một cuộn giấy khổng lồ, uốn lượn trên cổng vào từ bên này sang qua bên kia. Tượng một người Ấn bằng gỗ ăn mặc theo kiểu xưa đứng làm trụ cho các cánh cửa quay, các ghế gỗ dài thường đặt ở các bến xe bus kê ở hai bên cửa và một ban công nhô ra ngoài vỉa hè. Một người nào đó đã chịu khó làm cái khu nhỏ hiu quạnh này giống như quán Longhorn ở bên Mỹ.
Một người đàn ông da đen to lớn ngồi trên một ghế dài trước cửa kính xiên góc của quán rượu đang uống một hộp bia Nhật. Gã dựa vào cửa sổ quán rượu, mắt nhắm lại, để cho ánh nắng ban trưa chiếu một lỗ trên người gã. Chốc chốc gã lại tợp một ngụm bia.
Hatcher đi trở lại địa điểm “Xe ngựa chở khách Deli” và thăm dò đường phố ngắn ngủi này. Có tiếng nhạc văng vẳng và tiếng nói chuyện trong những ngôi nhà đóng kín của khu Tombstone, nhưng không phải là tiếng những người bán hàng rong và tiếng loa phát nhạc như ở Patpong cách đó một khu phố.
Những lời ghi chú trong mảnh giấy của Porter ghi, “Xe ngựa chở khách Deli, taxi, 10 giờ sáng, 1 giờ”, ngày kế tiếp ghi “Xe ngựa chở khách Deli, 12 giờ trưa, 45 phút” và ngày sau đó “Rạp Palace, 2 giờ rưỡi trưa, 35 phút”. Có phải điều đó có nghĩa là Wol Pot đã đi đến những nơi này bằng xe taxi và đã theo dõi những nơi này từ trên một chiếc xe taxi không? Porter có thể ăn tại “Xe ngựa chở khách Deli” trong 45 phút nhưng chỉ ở rạp Palace có 35 phút, không đủ thời giờ để xem một bộ phim.
Hai nơi này và điểm Longhorn lập thành một tam giác tuyệt đẹp. Anh rút ra tấm giấy nhòe nước mà Mongoose đã cho anh và nghiên cứu những chữ có thể đọc được ở phần đầu.
“... Cố thử, 4 giờ 15 trưa...” đó là tất cả những gì để anh có thể giải đoán.
Những chữ đầu câu có thể nói về Phòng hòa nhạc Langtry: “Langtry.. 4 giờ 15 trưa”. Nó phù hợp. Có thể Wol Pot đã quan sát quán Longhorn bốn ngày liền chăng, mỗi ngày trễ hơn ngày trước một ít? Hatcher nhớ lại điều mà anh lính giải ngũ ở thượng nguồn sông đã nói cho Daphne: “Hãy đến quán Longhorn ở khu Tombstone, nhiều người Mỹ sống ở Bangkok hay lảng vảng ở đó”. Một tấn kịch mỉa mai thình lình nảy ra trong trí Hatcher. Có lẽ Wol Pot đã mất dấu của Cody. Wol Pot đang tìm Cody còn Porter đang theo dõi Wol Pot. Hatcher bảo Sy:
- Tôi sẽ vào thăm quán Longhorn.
Trước khi Hatcher băng qua đường, thì một người đàn ông từ lề đường bước xuống đi về phía quán rượu. Gã mặc quần shorts đi săn màu nâu, cái áo rộng thùng thình đỏ đã bạc và mang đôi giày ba màu xanh trắng đỏ. Một khăn rằn đỏ giữ mái tóc đỏ hoe đầy gầu của gã, xõa xuống mắt.
Gã có một con chó buộc vào đầu một sợi dây da dài. Đó là một con chó to, xấu xí, không biết sủa, trông giống như một con chó lai giữa giống chó to Dane và giống chó spaniel thêm với một giống chó săn nào đó. Đôi mắt nó vàng khè trông như buồn ngủ, cái mõm dài ướt nhe dãi nhớt, cái đuôi dài trơ cả da cụp xuống đến gần cuối đuôi mới vểnh lên. Bộ lông nó màu nâu sẫm bóng mượt. Có một đốm trắng to dường như có người nào đã quét sơn lên vai nó. Không có cái gì đối xứng chung quanh cái đốm này, cái đốm phủ nửa mặt con chó và kế đó chạy dài xuống tận dưới ngực, nơi có những lốm đốm nâu. Con chó không đi, nó nhảy và nó không có vẻ sáng mắt khi gãi một chỗ ngứa.
Người đàn ông da đen mở một mắt ra, nhìn con chó và bắt đầu cười khúc khích một mình. Cái cười khúc khích bắt đầu từ một đôi vai to vạm vỡ lan xuống tới cái bụng béo phệ của gã. Gã mím miệng lại cố nín cười nhưng cuối cùng tiếng cười vẫn bật ra vang lên hô hố và kèm theo là một dòng rượu bia chảy xuống.
- Xin các ngài hãy nhìn con chó to, lười biếng, xấu xí câm như lừa, ẻo lả, có cái đuôi ngờ nghệch kia kìa.
- Xin lỗi, anh đang nói về con chó của tôi, con Otis? - Người đàn ông đi đôi giày xanh trắng đỏ nói với giọng cau có giận dữ.
- Tôi đang nói về cái con chó to, lười biếng, xấu xí, câm như lừa, ẻo lả, có cái đuôi ngờ nghệch ngay đằng kia kìa. Tên nó có lẽ là Otis hả?
- Anh muốn nói “có lẽ” là thế nào? Tên nó là Otis.
- Vậy thì đó là con vật tôi đang nói đến.
- Rõ ràng anh đang đái vào tôi, anh bạn ạ, tôi nói với anh, đó là con chó của tôi.
- Nếu ông đừng nói gì cả thì không ai biết được.
- Tôi rất hãnh diện về con chó mẹ kiếp này, anh bạn ạ.
- Vậy thì ông ngu xuẩn hơn nó rồi.
- Có lẽ anh muốn trộn tro vào bữa tối của anh hẳn. Hay anh muốn nhặt răng rơi dưới sàn nhà bỏ túi mang về.
- Ừa, có lẽ ông thì muốn tôi kéo lưỡi ông ra và cột nó lại với con quỉ của ông.
- Trời ơi, chắc hẳn là anh không gặp may rồi. Anh phải biết rằng đây là cái ngày, mẹ kiếp, may mắn nhất trong cái đời đê tiện, không giá trị của anh. Mẹ kiếp!
- Tôi cóc cần cái may nghiền nát ông ra trên đường phố và chứng tỏ ông chỉ là một vết nhơ lớn.
- Tôi hi vọng rằng anh đã làm lành với Chúa. Tôi hi vọng rằng anh đã hôn cái con đĩ già, mặt có đầy mụn cóc, mập ú, hôi thối của anh bởi vì anh sắp trở thành một khúc xúc xích rồi.
- Đồ cứt đái, không biết ông sống làm gì dai thế. Chắc một người nào đó đã đậu một chiếc xe tải chết tiệt có mười sáu bánh trong cái miệng đéo xấu xí của ông.
- Tôi sẽ đá cái ngu ngốc của anh cho về chầu trời. Tôi sẽ đá anh ra khỏi cái “thới kỉ” này.
- Nào, tại sao không làm đi, cái miệng nói như máy kia.
- Hãy hôn từ giã mảnh đất ngọt ngào này, cái thằng khốn kiếp kia.
- Chuyện đó không bao giờ có đâu, cái đồ cứt, lùn, bắp thịt cao su kia.
Sy nói riêng với Hatcher:
- Này, thế mà họ luôn luôn là bạn bè đấy. Tôi đưa khách du lịch Mỹ đến đây luôn, họ thường rất thân nhau.
- Thân nhau à! - Hatcher ngạc nhiên đáp.
- Thường là như thế.
Người đàn ông da trắng buộc con chó to vào một cây cột trước quán Longhorn và đứng theo thế quyền Anh cổ điển, để một nắm tay gần mặt, búng ngón tay vào cái mũi và cánh tay kia đấm ra với vẻ khiêu khích.
- Nên nghiêm chỉnh, Potter - người đàn ông da đen mỉm cười nói. - Tôi sẽ đánh anh văng ra vỉa hè, anh sẽ không còn thấy gì hết ngoại trừ cái sọ khốn khổ của anh.
- Nào đánh đi, Corkscrew, đánh đi. - Người đàn ông có tên Potter nói và nháy quanh.
Môt người đàn ông to con vai u như bò rừng bước ra khỏi quán Longhorn và đứng chống nạnh như kiểu đứng của người múa ba lê. Gã có mái tóc bạc trắng như tuyết và một bộ râu ghi đông ở mép cũng bạc trắng, đi giày ông mặc quần jeans cao bồi và đeo một bao súng đựng khẩu Python.357.
Hatcher nhìn quang cảnh này, sợ há hốc miệng. Cái ta gặp ở nơi đây là sự suy đốn do thời gian, anh nghĩ thầm.
Người đàn ông tóc bạc trắng bước vào giữa Potter và Corkscrew đặt nhẹ tay lên vai họ, hỏi:
- Cái quỷ quái gì xảy ra đấy?
Potter búng ngón tay đánh tách một cái nói:
- Hắn cười con chó của tôi.
Người đàn ông tóc bạc trắng nhìn con chó và cố giấu một tiếng cười.
- Ông có biết tên con chó này không? - Người đàn ông da đen hỏi, vẫn cố nín cười, - Otis, lạy Chúa. Cái tên nó đủ để làm một người lớn phải kêu thét lên.
Potter cố xông vào anh da đen và người đàn ông to con đẩy nhẹ y về phía sau, nói:
- Cứ từ từ, Benny. Vào đi, tôi sẽ mua rượu cho cả hai anh. Anh có thể buộc Otis vào cây cột đó.
Benny có vẻ lo sợ, hoang mang nói:
- Người ta sẽ đánh cắp nó mất.
Corkscrew bật cười to, nhưng người đàn ông tóc bạc cố tỏ vẻ ngoại giao bình tĩnh nói:
- Tôi không nghĩ thế. Tôi không nghĩ là có ai lại dám đánh cắp con chó của anh đâu.
- Trừ phi họ thật sự, thật sự đói, - Corkscrew nói qua tiếng cười nấc lên như khóc.
- Đồ chết tiệt, Corkscrew, đủ lắm rồi! - Benny gầm lên.
- A, đồ quỉ vật, - Corkscrew nói. - Tôi sẽ mua rượu chết tiệt.
Người đàn ông tóc bạc đẩy cả hai người vào quán. Con chó Otis nhìn họ đi, ngồi phịch xuống vỉa hè, thở khịt khịt rồi nằm xuống ngủ khì.
- Cái anh chàng to con kia là ai thế? - Hatcher nói, tay vân vê ria mép.
- Ông có râu mép hả? Đó là Earp, - Sy đáp.
- Earp à?
Sy gật đầu ngay một cách dứt khoát.
- Có phải Wyatt Earp không? - Hatcher hỏi hầu như châm biếm.
Sy ngạc nhiên hỏi:
- Ông biết gã ư?
- Không, tôi chỉ đoán thôi, - Hatcher thở ra.
- Thế thì rất tốt. - Sy trả lời, rõ rệt là cảm động.
- Tôi nghĩ là sẽ kiểm tra lại nơi ấy. - Hatcher nói và băng qua đường đến cửa quán Longhorn.
- Tôi đợi ngoài này, - Sy nói rồi bắt đầu dượt vài đường quyền trên vỉa hè.
- Cậu cứ tự nhiên.
Khi Hatcher bước vào trong, vụ va chạm đã xong, anh đợi vài giây cho mắt quen với bóng tối bên trong. Kế đó anh ghi nhận vào trong đầu những chi tiết của nơi này để khỏi quên. Nó có vẻ giống nơi ấy một cách lạ lùng, một căn phòng lớn với những chụp đèn xanh lá cây trên các bàn và mạt cưa trên sàn nhà, những quạt trần quay một cách lười biếng làm bốc lên mùi rượu và bánh mì nhồi thịt của quán, một quầy rượu cổ lỗ kéo dài suốt bề rộng căn phòng và rõ ràng là đem từ Mỹ qua. Ở một bên của phòng này có một căn phòng nhỏ hơn và cao trên sàn nhà vài bậc, đằng sau một bức rèm kết bằng các chuỗi hột.
Người đàn ông có tên là Wyatt Earp ngồi ở đầu quầy rượu đang nói chuyện với Corkscrew và Benny, hai người này dường như đã quên hẳn cuộc xô xát của họ.
Người bán rượu là một người đàn ông da đen cao, bảnh bao trong cái áo sơ mi thun đen, ngoài khoác áo ghi lê, mặc quần jeans xanh, đi giày ống cao bồi. Gã đội một cái nón cao bồi to đủ để tắm trong đó được, có dải băng gắn một lông chim két màu đỏ, vàng, và xanh lá cây. Còn một người nữa trong gian phòng chính, y có bộ tóc dài màu vàng hoe và ngồi cúi khom xuống quầy rượu.
Không ai để ý đến Hatcher khi anh đi đến quầy rượu, lúc này anh cảm thấy ớn lạnh đột ngột như có một cơn gió lạnh thổi qua sau ót và lông ở phía sau cánh tay anh dựng lên. Anh cảm thấy không thoải mái, dường như anh là khách không mời mà đến một câu lạc bộ riêng. Tại sao Wol Pot đã đến khu Tombstone này hết ngày này sang ngày nọ trong những khoảng thời gian ngắn? Thật sự có phải hắn quan sát quán Longhorn không? Hắn có đang theo dõi Cody không? Theo dõi Thai Horse không?
Câu trả lời cho điều bí ẩn của Murph Cody có phải ở nơi nào đó trong gian phòng kia không?
 
0

TOMBSTONE

 
Hatcher biêt rằng phải tiến hành rất thận trọng. Nếu Cody còn sống và ở tại Bangkok, rõ ràng là anh ta không muốn cho ai nhận ra mình vì thế thật hợp lí nếu cho rằng bất cứ người nào biết anh ta đều là những người bảo vệ tông tích của anh ta. Có người nào ở đây biết về cái trại ma Huie-kui không? Hay biết về Wol Pot, Cody, Thai Horse không? Anh hiểu cần phải cẩn thận về những điều anh nói ra và nói với ai.
- Ông uống gì nào? - Người bán rượu hỏi với một giọng trầm gần như giọng hát opera.
- Singha, - Hatcher đáp.
- Vại, chai hay hộp?
- Vại.
Người bán rượu rót đầy một vại bia Thái ướp lạnh trong lúc cặp mắt vẫn nhìn Hatcher nói: “Lần đầu ông uống ở quán này?”. Y đẩy vại bia trượt trên quầy. Hatcher chìa bàn tay ra cầm lấy và cảm thấy cái vại lạnh ướt thấm vào lòng bàn tay. Anh nói:
- Khawp khun.
- Hân hạnh được ông chiếu cố đến.
Gương mặt của người đàn ông da đen thì thân hữu nhưng cặp mắt long lanh có vẻ đáng ngờ.
- Ông trông không có vẻ một người du lịch bình thường mà chúng tôi thường gặp ở đây, - gã nói và vô tình đẩy một cái giẻ lau trên mặt quầy được đánh bóng loáng, - ông có vẻ đã sống một thời gian ở cái xứ này.
- Tình báo quân sự ở Cam Ranh mà, - Hatcher đáp.
- Lực lượng đặc biệt, - gã bán rượu nói. - Tôi không bao giờ biết chắc tôi đã nói cái quái gì rồi. Ông ở đâu đến?
Người đàn ông rũ người trên quầy rượu ngồi thẳng lại, chống hai tay lên quầy, nhìn chằm chằm vào Hatcher qua cặp mắt xám mơ màng - cặp mắt đang đỏ ngầu và thờ thẫn. Râu cạo nhẵn với bộ tóc dài vàng hoe cột về phía sau thành kiểu tóc đuôi ngựa của người lướt sóng, anh ta bận áo khoác đi săn bằng vải ka ki không cài nút, mảnh nách hình bán nguyệt hoen ố mồ hôi, không áo sơ mi, quần shorts đánh tennis trắng và một cái nón kiểu cổ lỗ hiệu Keds. Hatcher khônp thể đoán được tuổi anh ta, có thể khoảng ba lăm cũng có thể đến năm mươi. Người đàn ông này không nói gì cả. Y chỉ nhìn chằm chằm Hatcher một lúc, rồi quay lại li rượu còn phân nửa của y và nhìn vào đó.
- Tôi muốn tiếp tục đi, không bao giờ đậu ở đâu quá lâu - Đó là câu trả lời nhẹ nhàng của Hatcher.
- Cái gì đã đưa anh đến Bangkok?
- Nghỉ hè. Người lái xe của tôi nói rằng đây là nơi phải đến. Ai biết được tôi có thể bất ngờ gặp một người bạn cũ.
- Phải, ai biết được. - Gã bán rượu trả lời bâng quơ.
Hatcher vỗ nhẹ lên quầy rượu, cố làm cho câu chuyện sống động, và nói:
- Tôi đoán rằng quầy rượu này không phải từ một nơi nào đó gần Thái Lan dọn về đây.
- Ông không nhận ra quầy rượu của nước ông à? - Gã bán rượu nói và vuốt cái mũ cũ kĩ của gã một cách trìu mến. - Cái quầy này, cái gương và cái ảnh ông già John Ford ở trên kia (gã vừa nói, vừa hất hất ngón tay cái trên vai gã về phía cái đầu bò rừng một mắt) đã đến đây từ một trong những quán rượu ngon nhất ở Mỹ!
- Thật vậy sao? - Hatcher nói.
- Ông già Skoohanie là một tay chăn bò Texas - một tay Ireland may mắn. Một đêm ông ta đi lang thang vào lều của một tay đánh bài ở Abilene và từ bốn mươi dollar ông già ăn lên đến sáu nghìn. Cuối cùng ông ta được cả lều, những cái bàn, vốn liếng cái nhà, tất tật. Đó là bước đầu của Galway Roost. - Gã ngưng khá lâu để uống hết nửa li bia của gã.
- Điều đó không giải thích làm sao quán rượu lại đến nơi đây, - Hatcher nói.
- Cái tên Edgar Skoohanie ăn nói ngọt xớt... trong đơn vị của tôi trước đây ở Việt Nam luôn luôn khoe khoang về cái quán rượu này của gã. - Gã bán rượu tiếp tục nói. - Vì thế tôi đã nói với hắn nếu có khi nào hắn muốn bán nó thì cho tôi hay. Y như rằng một ngày kia tôi nhận được một cú điện thoại và tiếng ở đầu dây bên kia nói: “Đây là Edgar Skoohanie, ông còn nhớ tôi không?” Ai mà có thể quên được cái tên như Edgar Skoohanie, đúng vậy, tôi nói còn nhớ và ông ta cho biết công việc ở quán cũ Roost không trôi chảy, ông ta định biến nó thành một phòng hòa nhạc! Một phòng hòa nhạc cứt, trời ơi! Chúng tôi thay đổi nó năm lần bảy lượt và cuối cùng tôi có quán rượu này, với cái gương mà Edgar quăng vào đó cái ảnh của lão John Ford một mắt. Tiếp theo đó như ông biết đấy, tôi đang có việc đây. Mười hai ngàn tờ giấy bạc tím cho tất cả các cái ấy và bốn chục ngàn để chuyên chở đến đây.
Gã bán rượu không bao giờ nói bằng tiếng Mỹ, gã nói theo tiền baht, một baht khoảng năm xu Mỹ, giấy bạc tím là giấy bạc năm trăm baht, giấy bạc nâu mười baht, giấy bạc xanh lá cây hai mươi baht, giấy bạc đỏ một trăm baht. Gã ngừng lại lần nữa, lần này để rót cho Hatcher một vại bia khác, rồi nói:
- Còn cái gì nữa để làm ngoài việc mở quán rượu Longhorn này.
- Cá rằng có một câu chuyện hay liên quan với cái lỗ đạn ở cái gương kia, - Hatcher nói.
- Không có gì hay ho như ông nói đâu. - Gã bán rượu trả lời.
- Cứ nói đi tôi vẫn lắng nghe đây, - Hatcher càu nhàu.
Gã bán rượu trả lời với một tiếng cười lính tráng.
Hai cái răng vàng lấp lánh ở khóe miệng gã. Một hạt kim cương cao giá lấp lánh ở giữa một cái răng gã.
- Tôi hình như là người có thể đùa giỡn cả với những lỗi lầm của mình,- gã nói, chìa ra bàn tay to lớn có thể bóp bẹp một trái bóng rổ. - Tôi tên Sweets Wilkie. Tôi là chủ nơi này.
- Hatcher, - Hatcher đáp.
Khi Wilkie và Hatcher đang trò chuyện thì hai cô gái Thái từ một cửa phía sau đi vào. Đó là những cô gái trẻ đẹp với mái tóc đen dài chảy như suối xuống lưng họ, gần như đến tận eo. Họ mặc váy ngắn mini kiểu gái chăn bò mang giày ống cao bồi da rắn và áo khoác da ngựa vá giả, bộ ngực dậy thì của các cô làm áo khoác phanh ra. Không cô nào trước mười lăm tuổi. Các cô đánh vào hai bên hông Wilkie và cười khúc khích, quàng những cánh tay quanh gã và hôn vào hai bên má gã.
- Đây là Jasmine, tôi gọi tắt là Jazz, và đây Orchid, - Wilkie nói, rõ ràng là rất vui vì được chú ý, - chúng tôi đã cưới nhau khoảng một năm nay.
- Ông và Orchid? - Hatcher hỏi.
Wilkie lộ vẻ ngạc nhiên nói:
- Đồ quỷ, cả hai.
- Cả hai.
- Tôi đã cưới và li dị sáu lần từ khi tôi đến đây và tôi vẫn phải chi một baht về tiền cấp dưỡng cho vợ sau khi li hôn. Tôi nghĩ rằng lần này tôi sẽ chi tăng lên gấp đôi. Có lẽ tôi sẽ may mắn hơn một chút.
Cái cười toe toét của gã làm sáng lên quầy rượu tối sẫm. Gã vỗ vào những cái mông đầy đặn của hai cô gái và các cô đi khỏi quầy rượu.
- Chào mừng quý khách đến khu Tombstone này. - Người đàn ông tóc vàng hoe thình lình nói lầm bầm, gật gù như sắp ngủ gục và tiếp tục nhìn đăm đăm vào li rượu của gã.
Wilkie nói:
- Đây là Johnny Prophett, người được giải thưởng chính thức về thơ của khu Tombstone.
- Rất hân hạnh. - Hatcher nói.
Prophett nhìn Hatcher qua mũi, y mỉm cười mệt mỏi và chìa bàn tay lạnh lùng không có sức sống về phía Hatcher.
- Có bao nhiêu người Mỹ sống ở Bangkok? - Hatcher nói.
Prophett loạng choạng đứng dậy, nhảy lò cò hai, ba bước bằng chân phải. Y ứa nước mắt, nhún vai và gãi tay. Khi đó Hatcher mới nhận ra rằng Prophett gầy như que củi, gần như hốc hác. Prophett dang hai cánh tay ra hai bên như một người truyền giáo đang giảng đạo nói:
- Bốn, có thể năm trăm người. Mọi dạng và mọi cỡ. Kĩ sư, người bán hàng, kẻ vô công rồi nghề chơi quần vợt, kẻ cướp kho, tay cờ bạc, người tàn phế lê gót đi, kẻ yếu thế, kẻ vô lại, kẻ trốn ra nước ngoài, kẻ phản bội xã hội. Ông cứ đặt tên đi, chúng tôi là như thế đó.
Được, Hatcher nghĩ, như thế việc tìm Cody trong số năm triệu người nay thu hẹp lại chỉ trong số năm trăm người thôi.
Wilkie nói một cách bâng quơ:
- Chỉ là một bọn Mỹ được xếp đặt lại vị trí thôi. Đù mẹ nó, - Prophett chửi vu vơ. - Đã nghĩ là chết ở phía bên kia sông. Tên chèo đò chết tiệt đã không hiểu được cái gì đã xảy ra. Thậm chí đến một thi sĩ cũng khó mà có cảm giác gì về điều đó.
- Đúng vậy. - Wilkie đồng ý và Hatcher gật đầu, mặc dù cả hai đều không hiểu Prophett đang nói gì. Wilkie nháy mắt và nói như để giải thích:
- Johnny đang làm một quyển sách.
- Bombay và nước bổ, - Hatcher nói với Wilkie.
Wilkie lấy một cái li, bỏ vào một nắm đá cục, rồi rót đầy nước soda vào.
Lúc Prophett tiếp tục nói huyên thuyên thì một người đàn ông từ phía sau bức rèm kết bằng các chuỗi hạt đi vào, tay ông run rẩy như mắc chứng co gân. Ông có dáng điệu kì lạ, cao chừng mét tám, đi với một cây nạng nhỏ, vai lắc qua lắc lại. Ông mặc quần jeans và áo thun trắng cộc tay. Cái sọ người in ở vạt ngực áo, miệng sọ cắn một đóa hoa hồng và ở phía đuôi áo có in chữ Grateful Dead (Chết khoan khoái). Cánh tay mập, gân guốc và bàn tay mặc dù to lại có những ngón tay thon thả, có vẻ thanh tú. Tóc đen rậm uốn quăn quanh vai và xõa xuống trán. Cái kì lạ là có một nét thanh màu đỏ chạy dài từ trán ông qua sống mũi đến tận cằm, chia bộ mặt làm đôi, một bên bôi đen, một bên bôi trắng. Prophett giới thiệu:
- Đó là Wonderboy, ca sĩ tại chỗ của chúng tôi.
Wonderboy đi đến quầy rượu và chìa tay về phía Wilkie, nói:
- May mắn của tôi đi nghỉ mát rồi. Cho tôi cái hộp nhạc trưởng đại tài, - Wilkie trao cho gã một cây đàn guitar bốn dây, đánh bóng và mòn nhiều, một nhạc cụ rõ ràng là được chăm sóc một cách trìu mến. Người đàn ông trông kì lạ này đi đến bên cái máy hát Wurlitzer dùng chân đi giày ống kéo cái dây cắm và ngồi xuống gần đấy.
Gã nhắm mắt lại dựa đầu vào tường và bắt đầu ca: “Ôi, Jude đừng để nàng đi...”
Đó là một giọng ca hay. Trong trẻo, sâu lắng, có hơi rượu whiskey, trong các âm cao, và gã đã đưa vào bài hát lời than vãn não nùng đến nỗi người ta muốn tóm ngay Jude và làm lay chuyển ý nghĩ trong đầu gã.
Prophett nghiêng qua và thì thầm “Cách súng phun lửa một mét rưỡi khi nó nhặt khẩu súng cối... Thực chẳng ai muốn thấy cảnh đã xảy ra ấy”.
Buổi trưa qua đi, quán rượu bắt đầu đầy người. Wilkie bảo Benny Potter giúp đỡ vì quán rượu đông khách gấp đôi. Cặp mắt chảy nước, Prophett bắt đầu khom vai xuống và gãi các cánh tay một cách lơ đãng. Một người đàn ông vào quán Longhorn nhảy từng bước ngắn trông thật buồn cười, dường như gã vừa mới té từ lầu cao hai tầng rơi chân xuống trước. Gã có tấm thân và đôi tay của một cần cẩu hạng nặng, nhưng đôi chân lại gầy khẳng gầy khiu, gã nhảy thẳng ngay đến Earp và thì thầm điều gì đó với Earp. Earp đứng dậy đi vòng sau quầy rượu qua cánh cửa, vào phía sau nhà. Người đàn ông có bước đi buồn cười bước lên mấy bậc thang, chui qua cái màn kết bằng các chuỗi hột vào một phòng nhỏ xây thụt vào trong tường.
- Đó là Gallagher, - Prophett nói. - Gerald Gallagher từ thành phố Hobart, tiểu bang Indiana đến đây, làm chủ một hộp đêm có tên là Langtry ở phía bên kia đường. Gái khỏa thân. Không phải các bà, các cô đâu mà là các gái nhỏ. Gallagher không mướn đứa nào trên mười hai tuổi. Trong sổ của Gallagher, bất kì người đàn bà nào trên mười hai tuổi đều là đã mãn kinh, ở Mỹ thì hắn sẽ bị ném đá đến chết ở quảng trường công cộng.
- Làm sao mà hắn đi một cách buồn cười như vậy? - Hatcher hỏi.
- Xe jeep của hắn đụng phải mìn. Sàn xe tông hắn bắn ra ngoài, - Prophett nói - Chân hắn không bao giờ hồi lại được nữa.
- Tôi nghĩ rằng ông cũng đã ở Việt Nam. - Hatcher nói với Prophett.
Prophett nhìn trở lại li rượu của mình.
- Chết tiệt, tôi đã đi cùng với Gallagher vào cái hôm hắn bị mìn nổ. Tôi đã để lại một chân trong chiếc xe jeep ấy.
Prophett chìa chân mặt ra và gõ vào nó bằng khớp ngón tay. Nó vang lên một âm thanh của kim loại “ping” giống như gõ vào một ống nước rỗng.
Prophett, - Hatcher tự nhủ thầm. - Cái tên này nghe có vẻ quen.
Earp trở lại quầy rượu và đi lên qua bức rèm kết bằng các chuỗi hạt để vào phòng “Lỗ Trong Tường” Gá ngồi xuống cạnh ngài Tướng Công đang xem hai người chơi banh tám. Gã nói:
- Hatcher đang ở dưới nói chuyện với Johnny.
- A, vậy là anh đã theo lời chỉ dẫn của tôi.
- Sy không mách nước cho hắn đến đây, hắn tự ý đến đây.
- Như tôi đã đoán trước mà.
- Đừng có tự mãn. Tôi không quá tin rằng việc hợp tác với cái anh chàng này là một ý kiến hay đâu.
- Tôi đã biết là cuối cùng hắn sẽ đến đây không sớm thì muộn - Tướng công nói, hãnh diện vì cái trực giác của ông đã đánh giá đúng. Earp móc trong túi áo khoác ra một điếu xì gà dài và châm lửa, xoay chậm nó giữa các ngón tay cho cháy đều.
- Hắn ta đang khoe khắp đó đây một tấm ảnh của Wol Pot, một tấm của Cody nữa. Và hắn làm việc cho Sloan.
Tướng Công chắp các ngón tay lại thành hình cái đền và đặt miệng lên đỉnh của nó.
- Hắn nói với Wilkie là hắn đến đây nghỉ hè, nhưng Sy đã kết thân với hắn sau khi hắn ăn sáng với Sloan, - Earp nói tiếp. - Hắn không ngẫu nhiên mà đến đây đâu.
- Có lẽ do may mắn. Cả hai đứa đều ở đây, cả hai...
- Chúng ta hãy nghiêm túc đi. Hắn đang đi tìm, và tôi cho rằng hắn lại ở đây thì cần thanh toán cho nhanh, hắn ở quá gần.
- Đừng để cho sự tưởng tượng sai lầm của anh trở thành kết luận cuối cùng.
- Tôi đoán hắn đang theo dõi một cái gì đó.
- Một cuộc viếng thăm tốt đẹp! Có lẽ anh sẽ phát hiện ra một điều gì đó.
- Tôi bảo Thai Horse đem hắn đi.
- Giết hắn?
- Bộ ông không biết sao, đây là một người rất nguy hiểm. Tôi biết hắn qua tiếng tăm của hắn. Hắn là một tên ám sát được phái đến Việt Nam. Họ cử hắn đi với một bản danh sách. Khi hắn đã xóa số tên cuối cùng trong bản danh sách, hắn trở về và nhận một danh sách khác. Hắn không phải là một tên mật thám ngớ ngẩn nào đó từ San Francisco đến đâu.
- Có thêm nhiều lí do để phải thận trọng. Tôi cho anh ý kiên của tôi. Đến gần hắn. Thân thiện với hắn. Tìm hiểu xem hắn đang làm gì ở đây. Anh không thể đánh bật người ta đi một cách thiếu suy nghĩ, Earp ạ. Bất kể chúng ta gọi là cái gì, đây không phải là...
Earp liếc xuống quầy rượu. Hatcher và Prophett đang tán gẫu. Người đàn ông đang thì thầm dường như không để ý gì đến việc đang xảy ra sau bức bàn kết bằng một chuỗi hột.
- Tôi cũng muốn nhắc anh rằng Porter đã bị giết chết ở đây, - Tướng Công nói.
- Vậy thì sao?
- Như thế, nếu anh có quyết định làm điều gì ẩu thì cũng đừng làm việc ấy ở Bangkok. Hãy nhử hắn ra một nơi nào đó ở miền quê.
- Ý kiến tuyệt vời, - Earp nói dứt khoát. - Tôi chỉ mời hắn đi một buổi picnic là xong.
- Anh phải có thủ đoạn. Anh có vẻ như đang hoang mang. Anh vẫn còn lợi thế, Earp. Chúng ta biết hắn nhiều hơn là hắn biết chúng ta. Bây giờ, anh phải tìm hiểu xem tại sao hắn đến đây.
- Tôi không tin rằng ông có thể tra khảo điều gì đó ở hắn.
- Anh biết người ta thường nói là: dùng kẹo ngọt được việc hơn là dùng kem chua.
- Tên này di chuyển rất nhanh. Đấy là kiểu chơi của hắn.
- Nếu hắn làm cho Sloan thì anh giết hắn, Sloan sẽ có người khác đến.
- Không, nếu ta làm khéo.
Tướng Công ngả người ra sau và mỉm cười, vẫy tay nói:
- Đó là tất cả ý kiến của tôi, anh bạn thân mến. Bất kì điều gì anh làm, thì nên làm cho đích đáng. Như anh cho biết, đây là một ván bài nguy hiểm và hắn ta chơi rất giỏi món này.
- Chơi thật giỏi cũng không thắng được ván bài này đâu, dù hắn là một chuyên viên lão luyện.
Lúc Earp nói chuyện thì một người có vẻ võ sĩ mặc quần shorts đánh quần vợt, áo sơ mi thun, đứng dậy khỏi bàn đánh bài và tới ngồi đối diện với người đàn ông tóc bạc trắng, người này đẩy quyển sách sang một bên và uống một ngụm rượu trong khi người đàn ông tóc sẫm chồm về phía trước và thì thầm với ông ta. Ông già gật gù một cách nghiêm trang lúc nghe người kia nói, và chỉ vào sòng bạc ở bên kia bức màn.
Earp xoay người trên ghế của quầy rượu, ngó vào phòng chính, móc khẩu súng lục 0,357 có nòng đặc biệt và vô tình để vào góc quầy rượu. Hatcher quan sát diễn biến với nhiều lưu tâm hơn.
- Đó là Eddie Riker ở tiệm bán kem, nhớ không, đang nói chuyện với Tướng Công, - Prophett tiếp tục huyên thuyên với Hatcher, hất đầu về phía người đàn ông lớn tuổi hơn.
- Tướng Công là chủ ngân hàng chính thức của khu Tombstone. Mũi Prophett bắt đầu hoạt động, gã đánh hơi rồi gãi gãi vào bên sườn, cười to lên.
Trên kia, Tướng Công mở hộp sắt và lấy ra cái gì như là một tờ giấy nợ. Ông ta ghi vội lên giấy và đẩy nhẹ cho Eddie Riker, người này lại ghi vội mấy chữ, kế đó Tướng Công đếm tờ giấy bạc màu tím đặt lên bàn. Eddie Riker gật đầu cảm ơn và đi trở lại sòng bạc:
- Eddie Riker gặp một ngày xúi quẩy. Prophett nói.
Wilkie thong thả đi lên quầy rượu, hỏi bâng quơ:
- Chúng ta làm gì ở đây nào?
- Tôi sẽ uống một li bia. - Hatcher nói. - Tôi cũng không phản đối chơi vài ván bài.
Wilkie nhìn anh ta một lát rồi nói:
- Họ cũng lạ là hay phân biệt người chơi bài. Nhưng nếu ông la cà lâu lâu thì họ biết ông, họ sẽ mời ông thôi.
Wilkie đi trở lại quầy rượu và bắt đầu nói chuyện với một người khách.
- Chính Wilkie là người mở ra khu Tombstone này, - Prophett nói, và câu chuyện của gã tuôn ra như nước chảy - Wilkie và Earp. Wilkie là một giáo sư tiếng Anh ở học viện Tuskegee, có bằng Tiến sĩ danh dự của trường Đại học Tổng hợp Atlanta. Người ta đã làm gì hắn? Người ta gọi hắn đi quân dịch. Một thầy giáo, một con người, rồi người ta đã ném hắn sang Việt Nam và thầy giáo trẻ thành trung sĩ Wilkie, Wilkie suy nghĩ xem cái gì đang xảy ra và không bao giờ trở về quê hương nữa. Hắn mở quán Longhorn, rồi  Eddie Riker mở tiệm Pike’s Peak...
Mắt Wilkie nhìn thẳng vào Prophett. Y đang mỉm cười về công việc bán rượu của y, nhưng Hatcher có thế nói rằng y đang lắng nghe Prophett ba hoa về khu Tombstone này và quán Longhorn. Thình lình y quay lại, đi đến cuối quầy rượu và nói điều gì đó với Corkscrew. Người đàn ông da đen đứng dậy, không nhìn xuống quầy rượu và đi ra phía sau bức rèm kết thúc bằng các chuỗi hột.
- Corkscrew và Potter mở quán Yosemite Sam. Wonderboy mở quán Stagecoach. - Prophett tiếp tục lẩm bẩm nhìn chằm chằm xuống quầy rượu. - Max, anh ta không thể chịu được bất kì nơi nào tối tăm, chật hẹp, hắn đi về phía Nam để trồng trọt. Và Kilhanney, đù mẹ thằng khốn khổ Kilhanney, cái thằng chết tiệt Taisung...
Hatcher đang buồn ngủ vì câu chuyện ba hoa tầm phào đột nhiên giật mình tỉnh dậy. Anh cố không để lộ vẻ ngạc nhiên khi nghe Prophett nói đến cái tên này.
Chưa kịp nói tiếp thì Prophett bị cắt ngang. “Này!”. Từ phía cuối quầy rượu Wilkie gọi và Prophett ngạc nhiên nhìn lên. Wilkie bước nhanh đến chỗ họ, nói với vẻ nghiêm khắc “Thong thả, cậu bé, hãy giữ nó lại để mà viết thành sách”.
Hatcher nhìn chung quanh, hướng về Hole in the Wall (Lỗ Trong Tường). Lờ mờ sau tấm rèm kết bằng các chuỗi hột anh có thể nhân ra một người đàn bà trong số bảy người đánh bạc ở bàn.
Người đàn bà chơi bài đứng dậy, rời sòng bạc, đứng ngay sau bức màn một lúc đếm nắm tiền baht, rồi đi vào phòng chính. Bà ta đẹp, to xương, vai rộng, hầu như không có eo tí nào, mái tóc vàng hoe và bà đã bạc trắng làm người ta tưởng bà phải gần bốn mươi tuổi. Bà mặc áo cánh vải trắng rộng lùng thùng, váy lụa Thái màu lam và mang dép da.
Hatcher lại nhớ trong ảnh bà ta trông nhỏ bé hơn, mảnh khảnh hơn, một người đàn bà thấp hơn do cách chụp ảnh, và do cái túi vải bạt đeo trên vai bà. Sài Gòn vào khoảng thời gian cuối của cuộc chiến tranh, Melinda Prewett đã đoạt thưởng Pulitzer về những ảnh chụp bà ta trong cảnh tàn phá, nỗi sợ hãi, lòng căm thù và niềm đau đớn. Khi chiến tranh chấm dứt, bà ta đã bỏ việc làm có lợi với tờ tạp chí Life và biến mất. “Đời tôi không còn gì để nói nữa”, đó là câu nói lẩn tránh của bà.
Bà đi thẳng về phía anh, tay nhét nắm tiền baht vào trong túi váy và dừng lại bên Johnny Prophett. Bà ta quàng tay quanh cổ gã và thì thầm vào tai gã “chào”. Mặt gã sáng lên và gã đặt má vào mu bàn tay bà.
- Công việc làm ăn thế nào? - Gã hỏi.
- Toàn những chuyện lặt vặt, - bà nói nhỏ vào tai gã. - Đã đến giờ ông dùng thuốc.
- Đúng, - gã nói, giọng nói của gã bắt đầu mạnh hơn.
- Xin giới thiệu ông Hatcher, ông từ xa đến nghỉ hè.
- Thật tuyệt - Bà nói và nhìn chằm chằm vào Hatcher một lúc lâu, rồi mỉm cười, tiếp - Xin chào mừng ông đến Tombstone, ông Hatcher. Chúc ông ở chơi vui vẻ.
 
0

THÂU LƯỢM TIN

 
Việc Prophett nói đến Wol Pot rõ ràng là một sự lỡ lời, nhưng làm sao nó ăn khớp thế chứ? Rõ ràng Prophett đã biết Wol Pot. Điều này đối với Hatcher chỉ có thể có một nghĩa duy nhất: Prophett đã sống trong trại tù binh và biết những người ở đó.
Nhiều câu hỏi làm Hatcher băn khoăn. Prophett có biết hiện giờ Taisung/Wol Pot ở đâu không? Có người lính nào khác biết Wol Pot không? Có người nào trong số đó biết Cody không? Còn Thai Horse là ai hoặc là gì? Hatcher tắm hoa sen lạnh như nước đá để cho tỉnh chầu bia uống buổi trưa. Anh nghĩ đến Ron Pelletier. Họ đã làm việc chung trong đội nhiều lần. Sloan đã nói với anh là Pelletier đang công tác về di trú ở Chuang Mai, vùng đồi núi cách Bangkok 430 dặm về phía Bắc. Pelletier đã ở Thái Lan hai năm. Có thể ông ta biết được điều gì, giúp tìm ra manh mối về bí ẩn của Murph Cody. Pelletier là bạn cũ và là người anh có thể tin được. Anh gọi điện số ban đêm của sở di trú và để lại một vài chữ cho Pelletier, anh biết rằng đây chỉ là một cú thử và chưa chắc đã thành công.
Anh nằm trên sàn nhà, trần trụi dưới cây quạt trần, nhìn những cái bóng quay cuồng bên trên, trong khi những hình ảnh cứ lần lượt hiện ra trong óc anh: bộ mặt bôi màu của Wonderboy lúc gã ngồi hát trong góc phòng, Johnny Prophett cụt một chân đi loạng choạng quanh quầy rượu, Gallagher bước vội qua phòng, lão Tướng Công ngồi trong góc phòng nhúng ngón tay vào rượu vang để giở những trang sách trong lúc Earp cầm khẩu súng quan sát mọi người.
Ý nghĩ của anh vẫn hướng về Prophett và anh mở cái cửa sổ nhìn vào kí ức tìm hình ảnh của một nhà văn cố nhớ xem anh đã nghe thấy ở đâu cái tên ấy. Thật sự anh chỉ biết ông ta là một nhà văn đã bị mất đi một chân trong một tai nạn xe jeep.
Rồi đột nhiên anh ngồi dậy.
Paget!
Đó không phải chỉ là một cái tên đã quen thuộc, mà là một gương mặt. Nhưng gương mặt này không hợp với cái tên Johnny Prophett. Tên của ông ta là James Paget. Anh đã thấy tên và ảnh của Paget trên báo nhiều lần trong thời gian chiến tranh.
Tại sao ông ta lại đổi tên là Prophett? Và nếu ông ta đã đổi tên những người lính khác có đổi tên của họ không? Và tại sao? Hatcher quyết định thử một cú nữa: lúc ấy là 9 giờ tối, vậy ở Washington là 9 giờ sáng. Flitcraft giờ này phải có mặt ở sở. Anh liền điện thoại và gọi ban huấn luyện an ninh.
- Tôi có vài cái tên muốn anh kiểm tra giúp. - Hatcher nói với người đầu mối liên lạc ở Washington. - Tôi không có nhiều tin tức khác nữa, nhưng để xem anh thực sự giỏi đến mức nào. Một cái tên trong số đó là một dân thường: James Paget, một nhà báo...
Anh đọc lại tên những người lính khác mà anh còn nhớ: Mac Early, người đã bị lũ dơi tấn công trong đường hầm và hiện giờ đang sống ở một nông trại bởi vì gã không thể chịu đựng được những nơi tù túng, Potter, người đã cùng với Corkscrew chống lại một đại đội quân lính Việt Nam và họ đã mất người em của Corkscrew ở đó, Eddie Riker, thằng phi công khôn ngoan quỉ quái nhất miền Nam, Gerald Gallagher có dáng đi hấp tấp và Wyatt Earp.
- Tôi cũng có hai biệt danh nữa, những cái tên cần thử nhưng chưa chắc thành công. - Hatcher nói và đọc cho Flitcraft hái cái tên Wonderboy và Corkscrew.
- Tôi sẽ gọi là ông. - Flitcraft nói, không tỏ vẻ phiền lòng vì những thông tin ít ỏi mà Hatcher cung cấp cho về những người này.
Hatcher gọi một đĩa salad và tách cà phê đem vào phòng. Lúc anh đang ăn thì chuông điện thoại vang lên. Anh nhấc điện thoại lên, nghĩ bụng có lẽ là Flitcraft gọi.
- A lô?
- Hatcher đó à?
- Phải, có việc gì đó?
- Pelletier....
Người đàn ông to con ngồi khom người ở góc quầy rượu rõ ràng phải ngoài sáu lăm tuổi, có đôi vai lực lưỡng và bộ ngực nở nang của một vận động viên bóng đá chuyên nghiệp. Tay áo bên phải của ông được nhét vào túi áo vét tông. Bàn tay còn lại của ông rất to, cườm tay phải cỡ một dây neo. Thời gian và nhiệm vụ đã tàn phá và để lại nhiều vết sẹo trên gương mặt ông. Râu ông đã lốm đốm bạc được cắt tỉa gọn ghẽ, mái tóc đen hói nhẵn ở hai bên thái dương và trở thành bạc trắng chung quanh rìa. Cặp mắt nâu sẫm sau cặp kính gọng vàng màu nhạt điềm nhiên nhìn chòng chọc. Một con người trông khốn khổ và nguy hiểm, ông ít khi cười, cũng không để ý đến những câu chuyện tầm phào, khi nào muốn nói điều gì thì ông nói với một cái giọng đều đều tẻ nhạt.
Hatcher đã làm việc với Pelletier nhiều lần, ở nhiều nơi trong nhiều năm và biết rõ ông là một bạn đồng minh kín đáo và trung thành, một kẻ địch tàn nhẫn. Trước khi gia nhập đội, Pelletier là một lính thủy đánh bộ chuyên nghiệp và có lần đã mang hai người bị thương cùng một lúc đi suốt một dặm đường rừng ở miền Nam Châu Á. Những nhân vật quan trọng.
Pelletier nhìn lên lúc Hatcher vào quán rượu, cái có thể coi là một nụ cười đã thoáng qua môi ông. Ông chìa bàn tay to lớn ra nói:
- Thằng nhóc độc đáo, vui mừng gặp lại cậu.
- Tôi cũng vậy. - Giọng nói mất tiếng của Hatcher đáp lại một cách chân thành.
- Sung sướng thấy cậu còn sống. Nghe đủ mọi tin đồn. - Pelletier nói mắt nhìn soi mói qua cặp kính.
- Như thế nào? - Hatcher hỏi.
- Họ nói cậu đã chết rồi - Pelletier nói - Nghe tin đó thật là tồi tệ.
- Còn gì nữa?
- Sloan đã gạt bỏ cậu. Cậu đã bị giam ở nhà tù Los Boxes một thời gian. Rồi hắn đã chạy chọt cho cậu ra tù.
- Điều đó khá đúng. - Hatcher gật đầu.
- Cái thằng chó đẻ ấy. Cậu không còn làm việc với hắn nữa à?
- Thực tế là không. Tôi đang làm một nhà báo có đôi chút tự do, đang để tâm đến một người bạn cũ.
- Người nào đó, tôi biết chăng?
- Tôi không nghĩ là anh biết. - Hatcher trả lời, và nhân vật quan trọng này lập tức không nói đến vấn đề ấy nữa. Những năm trong đội đã dạy cả hai không hỏi nhiều về bất kì một việc gì mà bản thân họ không liên quan đến.
- Anh có vẻ khá dày dạn, Ron. Cái gì đã xảy ra với cánh tay kia? - Hatcher hỏi.
- Bệnh hoại thư. Nó nghiến nát mất cánh tay mình ở chiến trường. Không thể tìm đâu ra bác sĩ phẫu thuật.
- Ở đâu.
- Afgo... Còn về cậu? - Ông ta hất đầu, nhìn về phía cổ họng Hatcher.
- Họ không cho phép nói chuyện trong tù. Tôi đã đằng hắng không đúng lúc.
- Ôi, Chúa Giêsu.
- Dù anh đã nghe gì về nơi ấy, nó cũng tả được hết nỗi khủng khiếp đâu.
Pelletier nốc cạn li rượu và đưa li không cho cô phục vụ.
- Có tình cờ gặp nhiều thằng bạn cũ không, Hatcher? - ông nói.
- Có.
Họ ngồi yên lặng trong lúc cô gái mang rượu đến.
- Vẫn bận rộn ở đây hở? - Pelletier hỏi cho có chuyện.
Hatcher nhún vai:
- Vẫn quanh quẩn ở một nơi gọi là Longhorn.
- Biết, ở dưới Tombstone, - Pelletier nói.
- Anh nghĩ thế nào về nơi ấy?
Pelletier nhún vai:
- Ở đó có thức ăn Mỹ ngon. Lũ Mỹ bỏ xứ mà đi đang làm ra tiền.
- Biết người nào trong bọn chúng không?
Pelletier lắc đầu:
- Tôi đã không xuống đó vài tháng nay rồi. Nơi gọi là quán Yosemite Sam’s có sườn ngon lắm.
- Họ đang bắt anh làm gì? - Hatcher hỏi.
- Sloan cho tôi một việc làm về nhập cư. Còn sáu tháng nữa là tôi được ba mươi năm. Xong thời gian phục vụ, tôi giữ ý định về hưu.
- Tôi nghĩ rằng Sloan có những cái quan trọng của hắn.
- Nghĩ rằng. Công việc cứt gà, kiểm soát bọn người địa phương tìm cách di cư.
- Còn gì nữa? - Hatcher hỏi bâng quơ.
Pelletier do dự khá lâu đủ để uống hết nửa li rượu và chùi miệng bằng mu bàn tay. Rồi ông nhìn chằm chằm Hatcher mấy giây đồng hồ, suy nghĩ kĩ câu hỏi và cười khúc khích nói:
- Vẫn để ý đến những bộ lạc miền đồi núi, xem ai là nhân vật quan trọng hơn 999.
- Anh nói cái gì?
- Anh bạn cũ Tollie Fong của cậu thực là lắm chuyện rắc rối. Vẫn còn nhớ chứ?
Hatcher gật đầu, hỏi:
- Còn nhớ Joe Lung không?
- Cái thằng chọc tiết heo ấy hả.
- Nó định khử tôi ở Hong Kong mấy đêm trước đây. Nó không còn chọc tiết heo nữa.
Pelletier mỉm cười:
- May mà còn sống.
- Tôi tin chắc Fong quyết giữ lời thề Chiu Chao của hắn, chống lại tôi.
- Có lẽ ngay lúc này thì chúng còn quá bận. Tụi Chiu Chao đã mua vét rất nhiều thuốc phiện trong vụ thu hoạch năm nay.
- Bao nhiêu?
Pelletier nhún vai:
- Bộ kinh tế cho rằng Fong có hai, ba tấn phiện trắng đã giấu kĩ.
- Ở Bangkok hả?
Pelletier gật đầu, uống hết li rượu và gọi một li nữa rồi nói:
- Chúng gặp khó khăn trong việc vận chuyển thuốc phiện Feds đang tìm cách vận chuyển lớn bằng tàu biển.
- Khi nào?
- Bất kì ngày nào. Có liên quan gì đến cậu không?
- Tôi không chắc, - Hatcher trả lời. - Anh có nghe nói gì về một đơn vị có tên là Thai Horse không?
Pelletier nhướng cặp lông mày lên:
- Cũng nghe cái đó, hả? Cậu không bỏ qua một mưu ma chước quỉ nào.
- Anh muốn nói gì?
- Những lời đồn đại ngoài phố. Jerry Cramer ở DEA nói rằng tin tức đang đồn đại quanh một bọn gọi là Thai Horse, chúng đang nện những người liên lạc của Fong. Chỉ có thế thôi, tiếng đồn mà.
- Biết điều gì về chúng không, có chi tiết nào không? - Hatcher hỏi.
Pelletier lắc đầu:
- Một lũ đồi bại, đó là điều tôi nghe được. Chúng đã đánh gục ba tên liên lạc của Fong. Nhưng tôi biết, khoảng hai tháng trước bọn này đã mua trẻ sơ sinh ngoài phố, giết đi rồi nhét bạch phiến vào bụng để vận chuyển lậu.
- Trời ơi!
- Chúng bị vất bỏ ở biên giới Malaysia. Người lái xe bỏ trốn.
- Bọn này còn tồi tệ hơn đám người Chiu Chao.
- Tôi cho là như vậy. Fong còn tệ hơn, - ông nhún vai, - cho đến bây giờ họ cho rằng Fong có cả trăm bí quyết. Đó chỉ là hạt cát trong biển cả thôi.
Đầu Hatcher làm nhanh mấy con tính số học, rồi nói:
- Đáng giá bốn triệu dollar bạch phiến khi nó chưa ra đến đường phố.
Lần này nụ cười của Pelletier mở rộng ra:
- Còn giả vờ hả? Cậu khử cha cái thằng đó đi, Hatcher, họ sẽ cho cậu một khu kinh doanh buôn bán ở Chicago.
- Tôi đang đi tìm một người bạn, chớ không tìm chuyện rắc rối.
- Cậu đã thay đổi rồi. - Pelletier nói. - Thời gian sẽ làm tất cả những việc ấy cho chúng ta. Nếu cậu cần bất kì sự giúp đỡ nào... - Pelletier nói và thả lửng lời ướm giữa chừng.
- Cám ơn. - Hatcher nói. - Nếu tôi gặp chuyện rắc rối, thì tôi trông mong trước hết là vào sự giúp đỡ của anh.
- Ừ - Pelletier nói không tỏ ra xúc động chút nào, - tôi cũng vậy.
Một giờ sau đó, Hatcher rời quán rượu, anh không hay biết có người đang theo dõi anh trong bóng tối của một cửa hàng đóng cửa phía bên kia đường. Đôi mắt lấp lánh theo dõi anh vẫy taxi. Xe anh vừa đi khỏi thì một người Tàu cao lớn bước ra khỏi bóng tối, lên một xe hơi đợi sẵn gần đó. Chiếc xe này theo Hatcher suốt quãng đường trở về khách sạn.
 
0

LỜI MỜI

 
Sáng hôm sau, tờ báo Bangkok Nation cho Hatcher biết ngoài những cuộc đua ngựa hàng ngày tại trường đua Phat, chỉ còn trận đấu quyền Anh của Sy là sự kiện thể thao duy nhất trong ngày.
Câu chuyện quan trọng đăng trên trang nhất là vụ đánh bom tòa đại sứ Tây Đức ở Paris. Bảy người, trong đó có vợ chồng đại sứ Phần Lan và Thụy Điển đã chết. Đại sứ Mỹ đến dự trễ nên tránh được vụ nổ.
Trong bài tường thuật, những viên chức Pháp nói rằng thi thể tên khủng bố bỉ ổi, nổi tiếng với cái tên Hyena đã tìm thấy sau vụ nổ trong cùng ngày hôm đó ở một phòng của khách sạn, mà người ta cho là đã được dùng để tổ chức vụ tấn công này. Họ đoán là Hyena đã bị giết trong một cuộc tranh cãi nội bộ với một trong những người của hắn.
Hatcher quăng tờ báo sang một bên và xem xét kĩ tấm ảnh Wol Pot trong vài phút, ghi nhớ cặp mắt, hình dạng khuôn mặt, lỗ tai, dáng mũi và cặp môi của gã. Anh cố gắng hình dung xem Wol Pot trông như thế nào nếu gã cạo đầu đi hoặc để râu và ria. Những điểm chủ yếu là: cặp mắt của Wol Pot man rợ và tàn nhẫn, hai tai rộng đứng xa ra khỏi đầu, mũi dài và hẹp, không giống với hầu hết những người Đông Dương, mà những đường nét của họ có vẻ bè và thô hơn.
Trong kí ức của mình, Hatcher tách ra một khoảng từ trán đến cằm Wol Pot, tập trung vào phần này của bộ mặt.
Hatcher đã dùng gần hết buổi sáng để kiểm tra lại cái chợ Sanam Luang đông người và ồn ào, đưa ảnh Wol Pot cho những người chủ sạp và những người ở thuyền coi, hi vọng có kẻ nào đó nhận ra con người tự ghi trong căn cước là một kẻ chào hàng. Chẳng được việc gì. Anh lại đến nơi làm căn cước hi vọng người ta sẽ nhận ra Wol Pot. Chắc chắn là gã phải xin căn cước mới. Nhưng một lần nữa anh lại húc đầu vào tường. Những cái đầu đều lắc không biết và im lặng. Rất có thể là gã Wol Pot lẩn trốn này đã mua một căn cước giả, điều này không phải khó làm ở Bangkok.
Kiểm tra những vị trí còn lại trong quyến sổ của Porter thấy không có gì quan trọng, Hatcher nghĩ Wol Pot thích thể thao vậy để tìm gã nên đến những nơi ấy, mặc dù việc tìm ra một người bé nhỏ trong đám đông người dự những cuộc đua ngựa hay những trận đấu quyền Anh là điều rất khó. Lần đi xem đua ngựa không được gì cả, chỉ thấy những đám người đánh cá điên rồ, vì điều duy nhất người Thái có vẻ thích hơn thể thao là đánh bạc.
Anh trở về quán Longhorn vào lúc quá trưa và cho Sy nghỉ nốt thời gian còn lại trong ngày để chuẩn bị cho trận đấu quyền Anh tối đó, hứa rằng anh sẽ sử dụng tấm vé xem đấu mà Sy đã cho anh. Số người ở đấy ít hơn ở trường đua ngựa, và những tấm vé trong bóp của Wol Pot xem những trận đấu trước chứng tỏ là gã thích môn thể thao này.
Wilkie dường như vui mừng gặp lại anh. Trên phòng “Hole in the Wall” các khách hàng quen đang bàn cãi sôi nổi. Cuộc đánh bài đã ngừng và nhiều người đang ngồi chung quanh bàn, chuyện trò hào hứng. Earp đang ngồi dựa lưng vào ghế, ngắm cái nòng khẩu súng cỡ 0.30 khảm vàng và cái báng gỗ tếch chạm trổ bằng tay. Một thứ vũ khí ghê gớm và đẹp.
- Cậu là một người thích đánh cuộc, Hatcher. - Wilkie kêu lên khi anh vào quán Longhorn. - Tốt hơn là lên đây chơi cho vui.
- Cái gì đang xảy ra thế? - Hatcher hỏi và đi vào phòng trong cùng.
- Những con cọp! - Prophett nói với giọng có chút sợ hãi.
- Những con cọp hả? - Hatcher ngạc nhiên nói.
- Một con cọp thôi, nói cho chính xác, - Earp nói và lau báng cây súng với một mảnh da dê, - một con cọp độc chạy khập khiễng xuống bán đảo, giết chết hai đứa bé một ông già. Max Early tổ chức một cuộc săn.
Earp dường như có vẻ thân thiện hơn ngày hôm trước và rõ ràng và hào hứng khi nghĩ đến cuộc đi săn.
- Có phần đột ngột, phải không? - Hatcher nói.
- Đây là loại thú ăn thịt người - Potter nói - Nó sẽ không ngồi yên chờ chúng ta chuẩn bị đâu.
- Sáng mai nó sẽ xuống dù chúng ta có ở đó hay không, - Earp nói, - và chúng ta sẽ đến. Đây là một con thú dữ.
- Mọi người đều chung vào hai tờ bạc tím, kẻ nào giết được cọp sẽ gom hết.-Wonderboy nói.
Họ giống như những đứa nhỏ đặt kế hoạch cho một ngày nghỉ.
- Wilkie sẽ giữ cọc tiền cuộc. Hắn phải ở đây trông nom cửa hiệu của hắn. - Corkscrew nói.
- Còn những người khác thì sao? - Hatcher hỏi.
- Chúng tôi sẽ nghỉ một ngày. - Gallagher hồ hởi nói.
- Chúng ta sẽ bay chuyến bay sáng sớm đi Surat Thani - Earp nói. - Máy bay cất cánh lúc năm giờ sáng. Bay hết một tiếng đồng hồ. Max sẽ đón chúng ta ở sân bay, đi xe hơi đến đây mất một giờ nữa. Chúng ta sẽ theo vết con thú hoang này từ lúc tám giờ. May mắn ra thì chúng ta sẽ trở về vào chuyến bay bảy giờ tối mai. Tôi tin rằng ngày nghỉ của các anh sẽ rất vui. Thích không?
- Đây là lời mời chính thức đấy chứ? - Hatcher hỏi.
- Tại sao không? - Eddie Riker nói - Càng nhiều người cá càng tốt.
- Còn vũ khí thì sao? - Hatcher hỏi.
- Max sẽ lo liệu cho ông, - Corkscrew hoa tay nói.
Max Early là khách hàng duy nhất ở đây mà Hatcher chưa gặp. Cuộc săn cọp là một cơ hội tốt để gần gũi những người này hơn, nhất là Prophett. Cho đến nay, cái tia sáng duy nhất chỉ dẫn cho Hatcher là câu nói của Prophett về Wol Pot.
- Pai-tio, sanuk vĩ đại - Corkscrew cười toe toét nói. - Người Thái có xu hướng chia mọi việc trong cuộc đời ra làm hai loại: mai-tio, là loại việc nghiêm túc như là lao động, và pai-tio, đó là sanuk, cuộc vui chơi.
- Cậu sẽ thích nó, Hatcher, - Potter nói - Phải cho cậu một cái gì đó để kể lại với thiên hạ khi cậu về chứ.
- Tại sao không, có lẽ tôi sẽ gặp may và trả giá xứng đáng cho chuyến đi chơi này. - Hatcher nói.
- Tuyệt! Giờ đây chúng ta có bao nhiêu người nào? - Wonderboy hỏi.
- Có cậu, Melinda, Johnny, Earp, Corkscrew, Gallagher, Potter, Eddie Riker, Hatcher và tất nhiên có Max - tức là có chín người đang ở đây. - Tướng Công nói. Ngài đang giữ trong tay một bản danh sách.
- Ông có phải là trọng tài chính thức của cái câu lạc bộ nhỏ này. - Tướng Công nói với Hatcher. - Tôi sẽ thu của ông một tờ bạc tím để mua vé may bay và ghi số tiền dư của ông vào sổ.
Hatcher trao cho ông ta một tờ bạc tím và nói:
- Hợp lí đấy.
Eddie Riker hăm hở xoa tay vào nhau và nói.
- Tổng số tiền cá độ không đến nỗi tệ. Năm ngàn baht.
- Đưa cho Wilkie thêm hai tờ nữa đề đánh cá và ông được gia nhập chính thức, - Earp nói. Hãy có mặt ở phi trường vào lúc bốn giờ bốn mươi lăm, nếu đến chậm ông không có chỗ ngồi. Đây là một cuộc săn thú mà ông không muốn bỏ lỡ đâu.
Và đúng là một cuộc săn kì lạ thật - Earp ngẫm nghĩ. - Chúng ta đang theo dõi hắn trong lúc hắn cũng theo dõi chúng ta. Bất đắc dĩ, gã phải thừa nhận rằng Tướng Công có lí. Họ phải tách được Hatcher riêng ra và tìm hiểu xem mục tiêu của hắn thật sự là cái gì. Và bây giờ Max đã cung cấp một giải pháp tuyệt vời cho vấn đề này. Vì nếu Hatcher mà nguy hiểm đúng như Earp nghi ngờ thì còn cách nào tốt hơn cho hắn hơn là chết trong khi săn đuổi một con cọp giết người.
 
0

TRẬN ĐẤU GAY GO

 
Hatcher đến một võ đài nhỏ lúc hơn bảy giờ một tí. Đó là khu trung tâm thành phố ở đằng sau một trong những ngôi chùa đẹp. Cuộc đấu chính thức bắt đầu lúc mười giờ, còn Sy là một võ sĩ đấu trận mở đầu, đươc xếp đấu vào khoảng tám giờ.
Đây không phải là một trận đấu quan trọng, nó giống như một trận đấu ở tỉnh nhỏ nước Mỹ, một nơi thử sức cho những võ sĩ Thái trẻ tuổi đang tìm một vị trí trong những trận đấu quan trọng được tổ chức bốn lần một tuần tại sân vận động Lumpini hay Rajadamnern.
Tiếng ồn ào, sự nóng bức và sự lộn xộn chào đón Hatcher khi anh bước vào vũ đài nhỏ chung quanh là những cửa sổ bán vé cá và những người Thái đánh cá thuê chuyên nghiệp. Cuộc đánh cá thật điên cuồng. Trời vẫn còn sáng và nóng, đám người Thái say mê đánh bạc thì ồn ào, điên cuồng đến toát mồi hôi, la hét ỏm tỏi và đưa tay khỏi đầu vẫy những tờ baht của họ tìm số đánh cá.
Thêm vào sự lộn xộn chung là tiếng nhạc đệm cho những cuộc đấu, một sự pha trộn truyền thống nhưng không hòa hợp của những kèn, đàn banjo, những dãy cồng hòa nhịp và nhiều loại trống khác nhau. Ấn tượng chung là nghe du dương như những âm thanh của một trận mèo cắn lộn nhau ấy.
Từ khi có hai người Thái được giải vô địch hạng ruồi thế giới vài năm trước đây, cả hai trường phái truyền thống Muay Thai và phương Tây đều được đề cao. Những người hâm mộ đứng quanh một cái vườn rộng ở sau võ đài, giống như bãi cỏ ở một đường đua ngựa, nhìn những võ sĩ khởi động và chọn lựa. Những võ sĩ Thái phái Muay hầu như đánh chậm giống như những người múa ballet, trong lúc những võ sĩ trường phái Mỹ nhẩy nhót trên sân cỏ giống như những võ sĩ Mỹ khởi động. Nhưng nếu những võ sĩ phái Muay đánh quyền như múa có vẻ hơi cầu kì và không có vẻ gì là chính xác, họ lại là những võ sĩ hung bạo hơn. Trước kia đã có lần những võ sĩ Thái này bọc tay bằng vải gai, trên ấy rắc những vụn kiếng và đấu cho đến khi một người gục hẳn mới thôi. Bây giờ họ mang găng hạng nhẹ - không được phép rắc vụn kiếng nữa - và đấu năm hiệp, mỗi hiệp ba phút. Người trọng tài cũng có thể ngưng trận đấu trong trường hợp có người bị thương.
Ai cũng biết là trong làng võ thuật một võ sĩ Thái giỏi là một đấu thủ hung bạo mà hầu như không thể bắt anh ta ngừng lại được.
Sy mặc áo khoác xanh sẫm có một con trăn xanh đỏ cuộn tròn ở lưng áo, cái miệng trắng của nó há ra đe dọa. Cậu ta cởi áo ra đưa cho huấn luyện viên, một người to như cái thùng, trông cứng rắn, có cái mũi tẹt và đôi mày rậm. Dưới cái áo khoác, Sy mặc quần ngắn võ sĩ bằng lụa đó có in tên mình ở mép quần bằng chữ Phạn màu xanh. Cậu ta cũng quấn một dải băng quanh đầu và bắp tay trái, đó là bộ đồ truyền thống của các võ sĩ quyền Anh Thái. Dải băng quanh đầu màu nâu và trắng với một đuôi ngựa cứng đơ được gài chổng ra đằng sau có tua lụa xanh rủ xuống đung đưa. Cái dây da quấn quanh bắp tay trái của cậu buộc một cái bùa may mắn. Cậu đi chân không.
Sy hoạt động một cách uyển chuyển lạ thường, mắt nhìn đăm đăm như thôi miên, đứng trên một chân rồi đổi sang chân khác, quay chầm chậm về phía sau theo điệu nhạc chơi nhanh gấp đôi nhịp bình thường. Đang quay tròn thình lình cậu tung ra nhiều cú đá ác liệt, vung cánh tay lên xuất chiêu liên hồi, sau đó quay tiếp và kết thúc bằng một thế hãm lại. Hatcher có ấn tượng sâu sắc về Sy.
Anh đi trở lại khu đánh cá độ, lách qua đám đông đang la ó, múa may, để mắt tìm Wol Pot, mặc dù anh hiểu rằng cơ may tìm được gã trong một đám đông như thế ít hơn là cơ may Sy thắng trận đấu. Hatcher đã cá một giấy bạc tím vào người lái xe của anh là cậu ta sẽ thắng, cá hai ăn năm. Nếu cậu người Thái nhỏ nhắn này thắng, Hatcher sẽ được 750 baht, tứclà khoảng ba mươi bảy dollar mà anh đã dự định cho Sy coi là tiền thưởng.
Trong vài cuộc đọ sức đầu tiên, Hatcher chen qua đám đông, bâu quanh các cửa bán vé cá độ và các người đánh cá độ thuê, theo dõi hành lang đầy tiếng la ó trong những cuộc thi đấu như thế này, ít để ý đến diễn tiến trên võ đài.
Không có Wol Pot.
Vào lúc sáu giờ rưỡi, Sy được dẫn vào trong võ đài ngoài trời. Phía ven thành phố, ánh chớp vạch ngang qua bầu trời hoàng hôn, tiếp theo sau là tiếng sấm rền rĩ ở xa, nhưng chẳng ai để ý đến cơn giông đang đe dọa. Trọng tài, như trong cuộc đấu quyền Anh phương Tây, giới thiệu Sy và đối thủ của cậu ta, một võ sĩ lớn, vạm vỡ hơn có tên là Ta Tan.
Không cắn, không vật, không dùng võ judo, không khạc nhổ, không húc đầu hoặc đá vào đối thủ khi đối thủ đã bị hạ, trọng tài răn trước bằng tiếng Thái và cho biết sẽ đấu năm hiệp, mỗi hiệp ba phút, và cuộc đâu sẽ dừng lại nếu một võ sĩ bị thương. Có nhiều tiếng la ó và huýt sáo vang dội khi nghe lời thông báo chót. Nghi thức cuộc đấu bắt đầu. Nhạc ngừng lại và người xem im lặng. Sy cúi đầu xuống, chắp hai bàn tay lại và chào theo truyền thống để cám ơn huấn luyện viên và cầu Phật, khấn với thượng đế rằng cậu tin tưởng cậu có tinh thần chính đáng để thắng trận đấu. Phật Gautama có nói về bốn chân lí cao cả, thứ nhất cuộc sống là sự đau khổ, thứ nhì sự đau khổ là do lòng ham muốn gây ra, cuối cùng là tám điều răn chính đáng để diệt được sự đau khổ - hiểu đúng, suy nghĩ đúng, nói đúng, quản lí xác thịt đúng, sống đúng, nỗ lực đúng đắn, quan tâm đúng đắn và tập trung đúng đắn. Sy tụng lại những điều lệ này với Phật, hứa sẽ tuân theo những lời răn và sống một cuộc đời chính đáng.
Sau lễ cầu kinh, nhạc bắt đầu tấu nhẹ nhàng làm nền cho hai võ sĩ xoắn lấy nhau trên võ đài, phô diễn những thế võ của họ, Sy có vẻ là một võ sĩ cổ điển hơn Tan, kiểu đánh của Tan kém hoa mĩ hơn. Anh ta có vẻ đánh võ mồm nhiều hơn, không nhanh nhẹn bằng đối thủ nhỏ con hơn anh ta.
Hiệp nhất trôi qua, không có gì xảy ra, chỉ là những cú đấm qua, đấm lại trông hoa cả mắt nhưng phần lớn đánh vào không khí vì cả hai võ sĩ đều tránh được đòn và đang nghiên cứu lối đánh của đối thủ.
Trong hiệp nhì, từ góc của mình Tan lao ra đánh trước, tiến lên một bước đứng trên một chân rồi tung chân kia đá nhanh và mạnh vào Sy, Sy tránh được dễ dàng những đòn đầu tiên, nhảy xa khỏi anh ta, quay lại và dừng chân gạt những cú đá của Tan, kế đó Tan đổi thế xoay chân nhanh, né nghiêng sang bên và đá một cú mạnh vào háng Sy. Trúng nhưng ở cao. Cậu Thái nhỏ con kêu thét lên, gập người lại và lùi ra xa, nhưng Tan rượt theo, đấm liền những cú trái và phải, Sy cố né đầu tránh những cú đấm cho đến khi bị Tan giáng cho một cú mạnh vào thái dương.
Sy xoay người tung chân phải lên đá mạnh vào sườn Tan. Tay võ sĩ to con chịu đòn một cách nhẹ nhàng, tấn công lại Sy và đấm liên tiếp trái phải, tiếng găng đập vào má và quai hàm Sy vang lên bốp chát. Khán giá đâ cảm thấy hơi thở của thần chết, đứng dậy la thét cho đo ván đi.
Tan mặc dù chậm hơn và không lanh lẹ như Sy nhưng lợi về tầm vóc và sức nặng. Gã lao vào, đá, đấm trong lúc đối thủ nhỏ con lo đỡ đòn, nhảy tránh, cố né những cú đánh tới tấp mà không sao tránh hết được. Đòn đánh như mưa xuống đầu Sy và những cú đá trúng đích vào bụng, vào đùi. Sy hết né qua bên này, lại sang bên kia trong khi Tan dường như đã làm chủ trận đấu. Tiếng chuông kết thúc một hiệp đã giúp Sy tránh bị những đòn nặng hơn nữa.
Cậu ta ngồi vào góc của mình, thỉnh thoảng liếc nhìn Hatcher và mỉm cười. Một dòng máu rỉ ra ở cánh mũi. Mồ hôi chảy nhề nhại trên tâm thân nhỏ nhắn rắn rỏi của cậu.
Sy dẻo dai hơn là khán giá nghĩ. Hiệp thứ ba bắt đầu cũng giống như hiệp nhì. Tan tấn công trước, đá rồi đấm và chuyển thế, xoay chân tung một cú đá mạnh y như một võ sĩ Tây phương, đổi hướng đánh từ phải sang trái. Nhưng Sy đã nhận ra kiểu đánh của đối thủ và cũng nhanh chóng chuyển thế. Bây giờ cậu ta thình lình bắt đầu trổ ngón của mình. Cậu hụp đầu né những miếng đánh tổng hợp của Tan và vung tay chặt mạnh từ trên xuống, cú chặt sượt qua hàm Tan, quật gã mất thăng bằng. Sy nhảy lùi lại đá song phi vào bụng Tan, thu chân về rồi lại bồi thêm hai cú đá mạnh nữa. Tan loạng choạng lùi lại, sửng sốt vì sự hung bạo đột ngột của tay đối thủ nhỏ con này, Sy chớp thời cơ ngay. Cậu tiến nhanh một chân lên rồi thình lình đổi chân và tung một cú đá “veo” trúng sống mũi Tan. Máu tuôn ra ròng ròng. Tan lùi lại lắc đầu và quay về thế thủ.
Giờ đây chính Sy trở thành kẻ tấn công. Cậu đá nhử hai cú rồi thình lình đổi chân tung người lên cho thân mình song song với mặt đất đá một cú tàn nhẫn vào háng Tan. Gã võ sĩ to con rống lên vì đau đớn lảo đảo rồi gục xuống trên một đầu gối. Trọng tài đếm đến sáu thì gã rống lên như một con bò rừng từ thế quỳ lao ngay vào tấn công Sy.
Sy đang đợi ngón đòn phản công này. Cậu xoay người đá rất mạnh vào cổ Tan rồi đấm liên hồi phải, trái, thẳng, vào mặt Tan. Cái mũi đẫm máu lại chảy máu thêm. Cậu lại đá tiếp, lần này cái đá chính xác chết người. Đòn này đánh ngật đầu Tan ra sau. Gã loạng choạng lùi lại, rõ ràng là rất lúng túng. Một mắt bắt đầu sưng húp. Gã tấn công tay võ sĩ nhỏ con một cách tuyệt vọng, vươn tay ra ôm và ghì chặt hai bên hông Sy rồi húc đầu vào trán Sy. Khán giả phản ứng, la ó, tình cảm của họ chuyển nhanh sang phía kẻ vừa mới bị thua. Trọng tài tiến nhanh vào tách hai võ sĩ ra, đến khuyên nhủ Tan, khi gã đã nhảy lùi xa khỏi Sy. Cái mũi cậu võ sĩ nhỏ con đang chảy máu do cú húc đầu vừa rồi. Cậu vuốt máu đi, vẫy tay ra hiệu cho trọng tài ra ngoài và bắt đầu lao vào đối thủ. Tiếng chuông chấm dứt hiệp đấu.
Huấn luyện viên của Sy đang thì thầm vào tai cậu, cậu lắng tai nghe và gật gật đầu. Hatcher tiếp tục nhìn chăm chú từng khán giả giữa các hiệp đấu hi vọng gặp may. Mặc dù có thế cá chắc là Wol Pot không có ở đó. Xét cho cùng thì đây chưa phải là trận đấu chính.
Hiệp bốn, Tan đổi chiến thuật. Gã di chuyển chính xác hơn, giống một võ sĩ Tây phương, thăm dò Sy, tìm chồ hở của Sy. Sy di chuyển khôn khéo, nhảy quanh đối thủ chậm chạp.
Thình lình, Tan tung chân đá thẳng vào háng của Sy một đòn ác liệt. Cậu võ sĩ Thái nhỏ con gập người lại vì đau và ngã vào dây võ đài.
Khán giả không rõ là la ó ai.
Tan nhảy vào như một con cọp, đấm ba cú nhừ tử vào mắt Sy. Sy quỵ một đầu gối xuống, đầu lắc lư, máu bắn vào ngực hòa lẫn với mồ hôi. Cậu nhìn chằm chằm vào Tan và Hatcher nhận thấy ánh căm thù trong đôi mắt cậu ta. Đây là cái nhìn của một kẻ sát nhân. Sy lấy găng tay quệt máu trên mặt và lắc đầu khi trọng tài nghiêng xuống nói gì với cậu.
Bây giờ cậu ta đã đứng dậy và được hỗ trợ bởi những tiếng hoan hô của khán giả.
Tan lại tấn công, nhảy một bước quyết định vào trong vòng phòng thủ của Sy. Nhưng lúc ấy cậu Thái nhỏ con làm một điều sửng sốt. Cậu lộn một vòng, đứng xuống đằng sau Tan, và khi gã to con này quay lại đối diện với cậu, thì cậu nhảy ba bước ngắn, tung mình lên cao phóng ra hai cú đá thẳng vào mặt của Tan rồi lại rơi xuống trên hai chân.
Trong lúc Tan đang bị đòn loạng choạng, Sy lại nhảy bổ vào đá nhử một cú rồi giáng những quả đấm trái phải thẳng vào cằm Tan.
Cả bốn cú đều đánh trúng Tan. Tan loạng choạng lùi lại và Sy đổi thế tiến vào, tung mình lên cao đá song phi rồi lại rơi người xuống trên hai chân. Hatcher đứng thẳng người lên, cùng với các khán giả la thét.
Sửng sốt, đau đớn, choáng váng bởi sự tấn công hung tợn, Tan tung ra một chưởng tuyệt vọng nhưng nguy hiểm chết người. Đòn rít lên vèo qua, chỉ cách hàm Sy có mấy li mét. Sy móc hai cú đấm trái nhanh và dập một cú phải mạnh vào góc quai hàm Tan, ngay dưới lỗ tai. Hấp!
Tan lảo đảo ngã đập mặt vào dây võ đài, bật trở lại và ngồi phịch xuống. Gã nhìn quanh võ đài bằng cặp mắt đờ đẫn.
Trọng tài bắt đầu đếm. Đếm đến sáu thì Tan dướn người lên. Đếm đến tám gã đứng hẳn lên được và đếm đến chín thì gã đã đứng vững.
Trọng tài bước lùi ra phía sau.
Sy lao tới như một viên đạn. Cậu ta nhảy dích dắc ngang qua võ đài trong lúc Tan cố nhắm vào cậu ta. Gã đã không bao giờ nhìn thấy được hai cú đòn cuối cùng.
Cú thứ nhất là ngón đá vào phía bụng trên làm Tan co gập người lại.
Cú thứ nhì là cú đấm tay mặt dồn cả sức nặng trên năm mươi kí của Sy vào nó. Đầu của Tan kêu bịch một tiếng như cái bao cát để tập đấm. Gã ngã xuống thảm, vập đầu xuống và giập mặt về phía trước ngất đi. Thánh thần cũng không thể vực gã tỉnh dậy được nữa.
 
Sy đang nhảy vờn quanh võ đài, đưa hai tay lên khỏi đầu, một hình ảnh vui thật sự. Huấn luyện viên của cậu nhảy vào trong võ đài, nhấc bổng cậu ta lên ghì chặt lấy và mang cậu trên tay nhảy múa quanh võ đài.
Khán giả điên lên, quăng những tờ chương trình, nón, bùa hộ mạng và chai vào võ đài.
Hatcher bắt đầu cười lớn, anh vỗ tay hoan hô. Đó là một trận đấu quỷ quái thật, anh tự nhủ.
Hatcher vẫy trên đầu những tờ vé cá độ trúng, gào lên hết mức gọi Sy “Bảy trăm năm mươi baht, bảy trăm năm mươi baht”, trong lúc huấn luyện viên của Sy đang nhảy cà tưng quanh võ đài với cậu. Lúc ấy, Sy không còn gì phải lo lắng nữa. Phật đã tin cậu. Cậu đã hạ được tên võ sĩ to con. Và khán giả đã hoan nghênh cậu.
Trong lúc phấn khởi, Hatcher không để ý đến ông già người Tàu đang nhìn anh. Ông già cao nhưng lưng đã còng, có mái tóc muối tiêu và một hàm râu bạc. Ông mặc bộ xường xám bằng lụa. Khi Hatcher rời vũ trường thì ông già theo anh.
Hatcher đi trở lại ngang qua sàn vũ trường và bước qua một trong năm cửa bán vé ra ngoài. Anh cảm thấy những hạt mưa mát lạnh đầu tiên rơi lộp độp. Những tiêng sấm cách nhau vài giây. Hatcher đứng vào hàng người ra.
Anh đã để ý những cái tai người đó trước tiên. Chúng to và mọc lên ở cách xa đầu hắn. Kế đó là mũi. Nhìn nghiêng mũi người này dài và thon, gần giống với mũi diều hâu.
Người đàn ông đứng cách anh hai hàng ngang và hơi lệch về phía sau, có dáng người tầm thước, cao cỡ 1,7 mét, nặng cỡ sáu bảy chục kí. Đầu cạo láng bóng, nhưng quỷ ơi, ai mà có thể cạo cái đầu như hắn. Hatcher nghĩ. Ngoài ra, Hatcher thực tế chỉ chú ý đến vùng giữa cái trán và môi trên của gã đàn ông. Anh vạch kí ức, nhớ lại tất cả những chi tiết trong bức ảnh của Wol Pot. Cái mũi và đôi tai rất khớp với bức ảnh.
Bây giờ về cặp mắt. Chắc chắn nó sẽ cho Hatcher biết, những con mắt này ăn tiền đấy. Nhưng người đàn ông mập và chắc này đeo kiếng râm và đang đứng nghiêng nên Hatcher không thể thấy rõ cặp mắt của gã.
Trời đã bắt đầu mưa nặng hạt. Sấm chớp loằng ngoằng trên bầu trời. Người đàn ông bắt gặp anh đang nhìn mình. Hatcher quay đi, theo dõi ông ta qua cái vẻ bên ngoài. Người đàn ông bỗng nhìn chằm chằm vào Hatcher nhưng không bỏ kính ra.
Ông già còng người Tàu vẫn la cà dưới mái hiên của trường đấu tránh mưa, theo dõi Hatcher.
Hatcher đến cửa bán vé, người thủ quỹ trả tiền trúng cá cho anh. Anh đi trở lại qua đám đông bao quanh cửa bán vé, đến đứng gần mặt sau trường đấu, vừa đi vừa theo dõi người đàn ông có cặp tai to ngay sau khi anh nhận tiền trúng cá.
Hatcher nhìn thẳng vào hắn cho đến khi anh chắc rằng người đàn ông đã thấy anh, rồi chậm rãi rút vào bóng tối của vũ trường. Trời bắt đầu mưa to hơn. Người đàn ông đó mặc quần dài đen áo sơ mi trắng đang so vai lại chống mưa và ngả người về phía trước ngó theo Hatcher.
Hắn bỏ kính xuống và liếc nhanh về phía bóng tối.
Hatcher thấy rõ đôi mắt hắn. Cặp mắt lạnh lùng, bất động, tàn nhẫn. Cặp tai to. Mũi khoằm. Chính là Wol Pot rồi.
Một lằn chớp chạy ngoằn ngoèo qua bầu trời và đánh vào một nơi nào gần đấy, tiếp theo sau là mưa xối xả.
Hatcher bước ra khỏi bóng tối và bắt đầu rẽ đám đông tiến về phía Wol Pot, hắn quay đi và tiến ra cửa. Hatcher chạy nhanh, lách qua đám đông đang xếp hàng đánh cá cho trận đấu tới.
Anh đuổi theo hắn, quá ngạc nhiên vì tìm ra được hắn đến nỗi không đề ý gì đến lão già còng đang theo dõi anh. Màn mưa vần tuôn xối xả mờ mịt. Trong đám đông nhốn nháo trú mưa, lão già Tàu mất dấu Hatcher, lão chạy ra ngoài mưa, điên cuồng tìm anh trong đám đông. Lão chạy lao đến cửa chính, ra khỏi cửa bước vào đường Thi Phatt. Những nhóm người vội vã tìm chỗ tránh mưa. Những bảng hiệu đèn huỳnh quang rực lên trong màn đêm buông xuống sớm. Lão già Tàu tuyệt vọng quay lại và vội vã đi theo con hẻm nhỏ chạy bên cạnh trường đấu. Hatcher để mắt dõi theo Wol Pot, anh len lỏi giữa đám đông đang tản ra lúc anh đuổi theo. Người đàn ông lùn, khỏe thình lình quay lại và lao qua cửa phụ của bức tường đá bao quanh sân võ để ra một con hẻm nhỏ cạnh đường Thi Phatt. Gã nép vào vách tường đá lúc cơn giông mạnh lên và ánh chớp rạch bầu trời tối đen.
Hắn nghe tiếng cửa mở đằng sau và bắt đầu chạy. Hắn chạy về phía đường Thi Phatt, Hatcher đuổi theo sau cách chừng chục mét. Anh quyết định thử lừa hắn. Anh hét lớn cho át tiếng mưa.
- Dừng lại, Wol Pot. Tôi không muốn phải bắn ông.
Mánh này thế mà có hiệu quả. Wol Pot chạy chậm lại, rồi dừng hẳn, nép vào vách tường, ẩn vào bụi hoa lài và những chùm hoa phong lan đang rủ xuống tường. Hắn từ từ giơ hai tay lên ngang vai, sợ cái gì đó đằng sau hắn. Thằng Tây này là ai? Hắn tự hỏi, nhưng không dám quay lại. Wol Pot là một tên nhát gan. Nếu hắn bị giết, hắn không muốn nhìn thấy cái chết đến.
Hatcher đến sau gã, đụng ngón tay giữa vào lưng của Wol Pot và thì thầm vào tai gã “Pằng”, hắn quay lại, nhận ra bị lừa và định bỏ chạy, nhưng Hatcher đã thộp lấy cổ họng gã và đẩy gã dán vào tường, giữa những chùm hoa lài ẩm ướt. Nước giỏ mạnh xuống Hatcher, anh có thể cảm thấy nước đang ngấm vào giày anh. Và cũng đột xuất như khi mới bắt đầu, mưa bỗng tạnh hẳn. Sức nóng của vỉa hè hun đốt nước mưa biến thành hơi nước bốc lên chung quanh họ.
- Tôi đã đi nửa vòng thế giới để đến nói chuyện với anh, - Hatcher thì thầm. - Bây giờ anh trả lời tôi vài câu hỏi.
- Tôi không nói được tiếng Anh! - Wol Pot lắp bắp nói bằng tiếng Thái.
- Chúng ta sẽ nói bằng tiếng Thái. - Hatcher càu nhàu bằng tiếng Thái.
- Ông cần gì... ì... ì?
- Tôi muốn Murph Cody.
Lão già Tàu quay xuống con hẻm kế bên trường đấu và đi qua làn hơi nước cuồn cuộn do trận mưa giôưg ngắn dữ dội gây nên. Trong ánh sáng đỏ của những bản hiệu đèn huỳnh quang gần đây hơi nước bốc lên mờ ảo trông như lửa địa ngục. Lão già Tàu nhìn xuyên qua làn hơi nước. Lão nghe có tiếng nói ở nơi nào đó phía trước. Lão cho tay vào trong áo rút ra một khẩu súng hãm thanh 0,38.
- Cody? - Wol Pot nói lắp bắp bằng tiếng Anh - Ông là ai?
- Một người bạn của Windy Porter, người đàn ông đã bị giết trong khi cố cứu anh đang ẩn trên thuyền.
- Tôi không biết. - Wol Pot bắt đầu nói, nhưng Hatcher đã móc giấy chứng minh của hắn trong túi ra và đưa ra trước mắt hắn.
- Đừng có nói dối tôi, đồ khốn kiếp, anh ở đó với một đứa con gái.
Cặp mắt rắn của Wol Pot  liếc qua, sợ hãi. Gã bắt đầu rúm người lại, thụt sâu vào giữa bụi hoa ướt át. Ánh sáng đèn huỳnh quang từ đường phố gần đấy chiếu đỏ vào mặt gã.
- Tại sao ông cần Cody? - Gã rên rỉ.
- Anh muốn bán hắn cho Porter để lấy hộ chiếu, không đúng thế sao?
Mắt của Wol Pot sáng lên, gã hỏi đầy hi vọng:
- Có phải ông là người của tòa đại sứ không?
- Anh chỉ nên để tôi hỏi thôi.
- Tôi không biết Porter đã theo dõi tôi cho đến tận lúc tôi thấy ảnh hắn trên báo.- Wol Pot rên rỉ.
- Tôi giải quyết vấn đề giúp anh. - Giọng nói rè rè của Hatcher rít lên. - Anh cho tôi biết Cody và tôi sẽ không tố cáo những tội ác của anh.
Hắn lắc đầu, và nước chảy nhỏ giọt xuống cái đầu hói, vào cả mắt hắn.
- Cody ở đâu? - Hatcher hỏi.
- Tôi không biết.
- Đừng dối tao, thằng nhãi này, tao sẽ...
- Tôi không biết, tôi thề với ông. Hắn đã biến mất. Nhưng tại sao ông muốn gặp hắn đến thế?
- Hắn là một người bạn của tao.
- Hắn là đồ cặn bã!
- Mày là quỷ sứ nên mới nói như thế.
- Cody buôn lậu bạch phiến. Hắn là một tên cướp, một kẻ giết người. Và tệ hơn nữa, hắn là một tên giết trẻ nít.
- Mày nói cái quái quỷ gì thế?
- Hắn ta giết trẻ nít và nhét bạch phiến Trung Quốc vào thân thể chúng. Vì thế hắn tự xưng là Thai Horse.
- Cody là Thai Horse hả?
- Vâng, đó là cái tên mà hắn tự xưng.
Tin đó làm cho Hatcher rùng mình. Anh lùi lại, nhìn chằm chằm vào Wol Pot một lúc.
Đó là điều mà Wol Pot chưa bao giờ nói ra.
Hatcher chưa kịp nghe thấy tiếng súng hãm thanh thì viên đạn đã bắn trúng ngực Wol Pot. Chỉ nghe tiếng “pụp” rồi tiếng người đàn ông lùn, khỏe làu bàu; gã rướn người lên như là đứng trên các ngón chân, rồi lại tựa vào bức tường. Hai phát súng nữa bắn liên tiếp pụp, pụp.
Hatcher quay lại và quì xuống đúng lúc nhìn thấy lão Tàu già khom người sau làn hơi nước chĩa súng vào anh. Lão nhìn Hatcher chằm chằm, hai tay giơ khẩu súng ra đằng trước. Hatcher nhảy sang trái, rồi chuyển nhanh qua phải. Nhưng lão già còng không đuổi theo những động tác của anh. Lão bất ngờ hạ khẩu súng xuống và từ từ đi trở lại đường Thi Phatt, sương mù đượm ánh đỏ của đèn huỳnh quang cuồn cuộn xoáy quanh cái dáng lưng còng của lão cho đến khi lão biến mất trong đường phố đông người.
Wol Pot thở hổn hển một cách đáng thương và dựa vào tường tuột từ từ ngồi xuống. Hắn há hốc miệng hớp không khí. Một vết đỏ bắt đầu loang ra chung quanh ba lỗ trên vạt trước áo sơ mi. Mắt hắn nhắm lại, đầu ngoẹo sang một bên và ngã nằm nghiêng xuồng.
Hatcher đè mạnh đầu ngón tay vào cổ họng hắn bắt mạch, đồng thời nhìn hai đầu hẻm. Hắn đã chết. Hơi nước từ vỉa hè nóng ẩm bốc lên chung quanh. Tiếng sầm rền rĩ ở mạn bên kia thành phố khi cơn giông tiếp tục đi về phía bờ biển.
Hatcher quyết định đi khỏi nơi đó. Anh quay lại và theo lão già đi vào đường Thi Phatt. Hatcher vẫy một chiếc taxi trở về khách sạn. Những chiếc xe tuk-tuk chạy vụt qua lại, các dòng xe cộ lưu thông trên đường trong lúc chiếc xe taxi chạy chầm chậm qua thành phố tiến về phía bờ sông. Điều đó hợp với ý Hatcher. Anh cần có thời gian để kiểm điểm lại mười lăm phút vừa qua.
Rõ ràng là lão già Tàu theo dõi Wol Pot.
Hoặc là theo dõi anh.
Anh nghĩ về lão già Tàu ẩn trong màn hơi nước, cuồn cuộn của con đường nhỏ đang chĩa khẩu súng vào anh, sẵn sàng giết anh rồi có điều gì đó đã làm lão đổi ý. Điều gì đã xảy ra? Lão già là ai và tại sao lão ta lại giết Wol Pot? Không phải cái thằng vô lại này không đáng bị giết, và không phải là không có nhiều kẻ muốn làm việc này.
Nhưng điều làm cho anh quan tâm nhất là Wol Pot đã nói Murph Cody và Thai Horse chỉ là một và Cody là tay buôn lậu thuốc phiện. Cody có làm việc cho Tollie Fong và những người Chiu Chao không? Những người khách thường đến quán Longhorn có biết Murph Cody không? Những câu hỏi vẫn ong ong trong đầu khi anh về đến khách sạn.
- Tôi có tin tức cho ông, thưa ông! - Flitcraft nói giọng ôn tồn.
- Nói cho nghe đi, trung sĩ, - Hatcher nói.
- Điều không hay là tôi không tìm thấy những bí danh Wonderboy và Corkscrew. Wilkie là một trung sĩ quân đội, có mề đay đầy ngực. Không có địa chỉ từ khi giải ngũ. Earp là đại tá đã sang Việt Nam bốn lần, về hưu năm 1976. Hiện giờ không biết ở đâu.
- Ừ hứ. Còn những người khác thì sao?
- Đó là điều đáng quan tâm đấy.
- Ông nói “đáng quan tâm” là thế nào? - Hatcher hỏi.
- Eddie Riker, Gallagher, Potter và Early tất cả đều nằm trong danh sách những người đã mất tích trong lúc làm nhiệm vụ và được cho rằng đã chết.
- Tất cả bốn người ấy à?
- Vâng, thưa ông. Tất cả bọn họ đều mất tích năm 1972. Đây, còn một điều nữa: Nhà báo Paget? Ông ta biến mất cùng một ngày và đại thể ở cùng một nơi như Gallagher.
- Còn gì nữa không?
- Còn một điều nữa. Cả Gallagher và Eddie Riker đều ló chuyện rắc rối khi họ biến mất.
- Rắc rối thế nào?
- Eddie Riker đánh một sĩ quan bạn và Gallagher mắc tội đánh cắp một vụ lớn. Gã ấy quản lí một câu lạc bộ phục vụ ở thành phố S và đã cuỗm rượu, thuốc lá bán ra ngoài chợ đen.
- Flitcraft, ông đáng được thưởng mề đay.
- Cám ơn ông, thưa ông. Tôi còn đang kiểm tra về Wonderboy và Corkscrew.
- Thôi bỏ đi. Tôi chỉ cần thế thôi.
- Có thể tôi sẽ tìm ra một điều gì đó về họ.
- Không cần. - Hatcher nói nhỏ.
- Cảm ơn ông.
Hatcher nằm xuống sàn khoanh tay lên ngực. Tim anh đập mạnh. Thình lình những mảnh của trò chơi tháo ráp bắt đầu khớp vào đúng vị trí. Một hình ảnh bắt đầu hình thành trong đầu của Hatcher, nhưng hai vấn đề chính vẫn còn dằn vặt anh.
Làm thế nào mà Murph Cody và Thai Horse lại ăn khớp với vụ việc nan giải này như thế? Anh vẫn không biết chắc rằng Cody đã chết hay còn sống.
Có lẽ lời giải đáp cho hai vấn đề này sẽ có sau chuyến bay đến Surat Thani.
 
0

FONG

 
Daphne Chien sống trong một căn hộ trên lầu của tòa nhà cao tầng ở dưới chân đồi Victoria. Cái phòng khách hai gian nhìn ra bến cảng về phía Kowloon. Trước ban công là một cánh rừng phủ dây leo và dương xỉ.
Nàng thường việc trễ ở cơ quan cách đấy hai khu nhà, trên tầng lầu chót của một trong những nhà băng cao chót vót đầy cửa kính và ra về vào khoảng 7 giờ chiều. Ngày hôm đó nàng còn về trễ hơn nữa. Mặt trời đã lặn sau dãy núi phía tây và đèn đường đã bật sáng, nàng mới xuống thang máy ra đường, ở đó chiếc xe hơi của nàng đã đợi sẵn. Nàng mặc quần áo đi làm như thường lệ, một bộ đồ ghép hai mảnh trước ngực bằng hàng xám của đàn ông, áo sơ mi xanh sẫm hở cổ và quấn một khăn quàng đỏ quanh cổ.
Nàng vừa bước lên chiếc xe Limo thì một chiếc xe Ford đỗ cách đó nửa khu nhà theo dõi ngay. Chiếc xe này được trang bị một máy điện thoại tế bào. Trước khi chiếc Limo rời lề đường, người đàn ông theo dõi Daphne đã quay số điện thoại gọi về nhà nàng. Chuông điện thoại ở nhà nàng reo lên hai lần rồi ngừng, một hồi chuông nữa reo lên trước khi chiếc máy trả lời chặn nó lại. Một lúc sau, điện thoại reo lên, lần này chỉ có một hồi.
Tollie Fong đứng trong bóng tối của căn hộ. Gã mỉm cười. Nàng đang trên đường về nhà. Gã trở lại trong phòng ngủ và xem xét. Có bốn sợi dây lụa dài cột vào mỗi góc giường. Gã rút từ trong tay áo ra một con dao găm nhỏ đặt lên trên cái tủ đựng quần áo gần một cặp vớ dài. Gã đặt chiếc máy ghi âm trên bàn ngủ cạnh giường.
Rồi Tollie Fong đi xuống, đứng nấp sau cánh cửa trước của căn hộ và đợi.
Khi Daphne vào nhà, Fong lẻn nhanh tới sát nàng, nàng còn đang tìm công tắc điện thì hai bàn tay gân guốc của gã đã xiết chặt lấy cổ nàng, những ngón tay của gã ấn sâu xuống sờ thấy cái gân cổ, rồi gã cảm thấy nàng cứng đờ người rũ xuống. Gã giữ nàng lại không để nàng ngã xuống sàn nhà, nâng nàng lên và bế nàng lên thẳng lầu về phòng ngủ. Gã đặt nàng lên giường, giang tay chân nàng ra và cột chặt lấy các dây lụa, gã mở máy ghi âm, lượm con dao găm và đợi nàng tỉnh lại.
 
0

NHỮNG KẺ ĐI SĂN

 
Sẹo Già đang chợp mắt ngủ trưa trong một đầm lầy dưới gốc một cây đa thì nghe thấy tiếng những chiếc xe vận tải đến. Trước đó nó đã nghe thấy những con voi gầm gừ, khịt mũi và phun bùn vào nhau, nhưng nó không để ý đến. Giờ đây khi có những chiếc xe vận tải đến đem theo nhiều tiếng nói, nó ngồi dựng ngay dậy, cau mặt, hếch mũi lên đánh hơi gió, nhưng gió thổi về phía sau nó nên nó không thể đánh hơi thấy nhóm người có lẽ còn cách xa đây tới hai trăm mét.
Sẹo Già biết rằng nó sắp phải đương đầu với những kẻ thù nguy hiểm. Lần này không phải là một con cọp đực trẻ. Đây là cả một đội quân. Cặp mắt vàng xanh của nó lóe lên dữ tợn và răng nó ghì vào mép gầm gừ, nó đi lững thừng và oai vệ qua những thân cây, xa khỏi những chiếc xe vận tải và đoàn người, tiến về phía rừng tre và cỏ ống cao ở phía tây bờ hồ cách đó chừng một dặm. Ở đó những sọc vằn vàng và đen dữ tợn của nó sẽ hòa lẫn với cỏ khô mọc cao.
Nó không hấp tấp. Vai và chân nó bị đau. Bệnh viêm khớp sáng nay lại tệ hơn thường lệ và nó đói. Nó đã quá già và quen chịu đựng, nên lo sợ bất cứ cái gì.
Những dấu chân cọp còn mới dẫn đến hồ. Quat, người Thái dẫn đường, phát hiện ra chúng khoảng một giờ trước đây. Anh đặt bàn tay vào một vết chân. Dấu chân lớn hơn bàn tay chừng vài phân.
- Con mèo đi kiếm mồi đó. - Early nói với đám người đi săn - Tôi đã cử một người xuống làng rồi. Dân làng sẽ ở trong nhà cho đến khi việc này xong.
- Anh nghĩ điều gì vậy? - Earp hỏi.
- Gió đang đổi hướng, - Early nói, hít hít không khí như một con thú. - Nếu nó ở cuối gió thì nó có thể sẽ săn đuổi thực sự đây.
Mắt Max Early nhìn đăm đăm dưới vành cong của chiếc mũ đi săn bằng vải kaki. Ông cao gần mét tám, có mái tóc nâu dày và hàm râu rậm. Cái áo bằng vải kaki bó sát tấm thân vạm vỡ rắn chắc của ông. Ông có đôi chân to khoẻ mang quần shorts chơi quần vợt. Thân thể ông rám nắng và hàm râu bạc phếch vì ánh mặt trời nhiệt đới hun đốt.
Ông ngồi xổm vẽ xuống đất một bản đồ sơ lược. Cả nhóm tụ tập chung quanh ông uống bia, hút thuốc và qua vai ông nhìn những nét vẽ nguệch ngoạc trên cát. Ông trình bày rõ khu vực này cho những người đi săn biết.
Trên đầu bản đồ là nơi cắm trại của họ, ở phía dưới và bên trái bản đồ, tức là ở hướng nam và tây của trại là cái hồ và ngôi làng. Giữa trại và hồ là cánh rừng rậm dài hai dặm trải dài về phía đông và tây khoảng một dặm. Về phía dưới bản đồ và phía tây của hồ là một bình nguyên rộng có lẽ tới nửa dặm vuông.
- Đó là nơi nguy hiểm - Early giải thích. Ở rìa của nó là một rừng tre có bề rộng chừng năm mươi đến bảy mươi nhăm mét, chạy ngoằn ngoèo từ hồ đến những cánh đồng. Tre cao từ bốn đến sáu mét và rất rậm rạp. Giữa rừng tre và rừng rậm nhiệt đới có một dải đất toàn cỏ trâu ngắn kế đến một dải đất dài đến hai trăm mét mọc toàn cỏ voi cao mà theo lời Early thì phải cao từ hai đến ba mét. Vùng mọc cỏ trâu ngắn, cỏ voi và tre là những nơi ẩn náu thuận tiện cho hổ, báo. Xa khỏi làng về phía tây của dải rừng thưa là những cánh đồng trồng trọt.
- Chúng ta đang xem xét khoảng chừng bốn dặm vuông các rừng cây nhỏ và cây lớn. - Early nói. - Các ông nên nhớ, nó có thể leo cây, lẩn vào sau một gốc cây, nằm im không động đậy hàng giờ trong đám cỏ cao...
- Nó có thích tấn công người không? - Wonderboy bối rối ngắt lời.
- Nó đã ăn ba người rồi, tầm vóc sẽ không ngăn cản nó được đâu.
- Nó lớn bao nhiêu? - Gallagher hỏi.
- Phải gần hai trăm rưởi kí theo hình dáng và kích thước vết chân nó để lại. - Early trả lời. - Ngoài ra nó bị chột mắt phải và có thể bị đau khớp chút ít, vì thế nó rất hung dữ, thêm vào đấy nó thường đái vung ra trên đường nó chạy.
- Tuyệt! - Eddie Riker lẩm bẩm, cởi áo sơ mi ra.
Gã có tấm thân lực lưỡng, đầy lông với nhiều vết sẹo ngang dọc trên bụng và hai bên sườn phía dưới. Gã đeo kính râm hiệu Ray-Ban. Gã hỏi:
- Còn cái quỉ gì nữa không?
- Con cọp dữ nặng hai tạ rưỡi. - Earp cười lớn nói. - Nó sẽ lôi chân anh đi đấy, Eddie Riker, cuộc đi chơi ngoài trời này có thể biến thành một đám tang đó.
Early giải thích kế hoạch tấn công như sau: cứ hai người cưỡi một con voi. Có ba con voi cả thảy. Họ sẽ đi cách nhau khoảng một trăm mét. Những người mà Early gọi là “những cậu bé ồn ào” sẽ đi giữa những ông voi, la hét lên, gõ xoong chảo, làm cho cọp già hoảng sợ phải chạy ra. Hi vọng rằng Sẹo Già sẽ chạy về phía bọn người có nhiệm vụ săn, và lọt vào trong khu vực họ được phép bắn tức là khu vực họ nhìn thấy rõ mục tiêu mà không có người nào ở trong tầm đạn. Những người cưỡi voi sẽ chỉ bắn trong trường hợp khẩn cấp thôi.
- Khi các ông đến vùng phía nam hãy tản ra cách nhau khoảng ba trăm mét nhưng phải đủ gần để nhìn thấy nhau. - Early khuyên họ. - Khi chúng tôi bắt đầu lái xe về hướng nam để đến làng, hãy tiến về phía chúng tôi. Đi vào trong rừng tre nhưng chỉ ở vùng cỏ trâu thấp thôi. Đừng đi vào vùng cỏ voi, các ông sẽ bị lạc trong cánh rừng cỏ rậm này và các ông sẽ biến thành bữa trưa cho cọp đấy. Hoặc giả một người trong bọn tôi có thể tình cờ bắn phải các ông. Khi bắn trúng cọp, hãy đi tìm xác nó. Nó sẽ di chuyển xa đấy nên phải đi tìm cho ra đống thịt này.
- Những con voi không đuổi cọp chạy à? - Eddie Riker hỏi.
- Voi không làm cho cọp sợ đâu. - Early nói. - Trong rừng hoang chúng nhân nhượng nhau. Nhưng một lần tôi đã thấy một con cọp nhảy lên lưng một con voi to, cao bạ mét rưỡi và xé đi nửa cái tai voi.
- Có cái gì làm cho con cọp sợ không? - Corkscrew hỏi.
Early nghĩ một lát rồi nói rất nghiêm nghị:
- Tôi chưa nghĩ ra là cái gì làm cho nó sợ. Con cọp này già rồi. Nó chột mắt, đói và đã vồ vài người, do đó nó trở thành cọp ăn thịt người. Nhưng nó ranh mãnh lắm. Các ông chớ có lầm, nó còn quỉ quyệt hơn cả một con rắn hổ hoang có chửa đấy.
- Nói một cách khác, không thể đoán trước được tình hình sẽ xảy ra.
- Đúng thế!
Họ rút thăm xem ai sẽ cỡi voi và ai sẽ đi săn trên mặt đất. Melinda và Johnny Prophett cùng với nài voi cưỡi một con, Earp và Early cỡi con thứ hai, Gallagher và Eddie Riker cỡi con thứ ba. Potter, Wonderboy, Corkscrew và Hatcher đi bộ. Lúc họ lên xe, Earp hất đầu cười nửa miệng với Hatcher, nói:
- Chúc anh may mắn, chiến sĩ.
- Cũng xin chúc anh như thế.
Chiếc xe cũ kĩ chạy rầm rầm qua phong cảnh miền Nam Thái Lan xanh tươi và mầu mỡ. Những cánh đồng xanh bát ngát hoa nở dọc hai bên đường và những cây ăn trái điểm xuyến cho cảnh đồng quê luôn thay đổi.
Có một cảm giác nỗ lực và làm việc khẩn trương ở nơi đây, có lẽ là do những con vật sức lực đang cày ruộng. Những con voi nhà ở đây phổ biến như trâu nước. Cũng có nhiều chỗ để cho cọp ẩn náu.
Hatcher kiểm tra lại khẩu 375 H&H mà Early đã cho anh mượn và nói:
- Nó nổ chậm như rùa, nhưng có thể hạ ngay một con voi ở cách xa hai trăm mét.
Xe họ chạy hai dặm băng qua những vùng không có đường xá. Dưới ánh mặt trời buổi sáng làng quê trông hoang vắng. Những cánh cửa các hàng quán và những túp lều rơm đều đóng kín. Wonderboy ngồi dựa vào thành xe, ghì chặt khẩu súng dài của gã như sợ nó bay đi mất. Mồ hôi vạch những nét sọc đen trắng kì quái trên mặt gã. Hatcher có thể thấy làn da chằng chịt sẹo bỏng ở dưới lớp sáp. Anh hầu như ngửi thấy được cái vẻ sợ hãi của Wonderboy. Anh nói:
- Đừng có lo, cậu bé. Tôi sẽ để mắt trông chừng cho cậu.
- Đồng ý. - Anh chàng nhạc sĩ lầm bầm.
Bốn người tỏa ra dọc theo phía sau bãi cỏ rộng phía tây của hồ, nhưng giữ cự li để có thể nhìn thấy nhau. Corkscrew và Potter ở một đầu bãi, Wonderboy và Hatcher đầu kia. Họ đã ở ngoài trời và nắng nóng như hun đốt họ.
Đằng trước Hatcher là một bụi tre to, rậm, cao khoảng bốn năm mét. Qua những thân cây chen chúc Hatcher khó có thể nhìn thấy được vùng cỏ ngắn, cao đến thắt lưng ở đằng sau bụi tre. Âm thanh duy nhất là tiếng vo ve của ruồi và côn trùng. Không có một con chim líu lo và gió chỉ như một tiếng thở dài, thỉnh thoảng mới lay động nhẹ ngọn cỏ thôi. Hatcher mang kính râm vào và thận trọng đi dọc theo bờ tre, cứ vài bước lại dừng để lắng nghe và quan sát. Khi đến gần cánh đồng anh nghe tiếng “những cậu bé ồn ào” đang bắt đầu tấu khúc nhạc của họ. Còn phải đi xa, thỉnh thoảng một con voi rống lên hòa giọng vào bản hợp ca này.
Hatcher nhìn Wonderboy ở bên trái, một dáng người nhỏ bé đang đi thận trọng song song với cánh rừng tre.
Những tiếng động trở nên lớn hơn khi anh tiến đến gần bụi tre. Anh quay lại nhìn Wonderboy. Anh chàng đang đứng trước những bụi tre cao vút, nhìn chúng với sự ngạc nhiên rõ rệt. Hắn không để ý đến cuộc săn, Hatcher nghĩ, và tự nhiên anh bắt đầu đi về phía Wonderboy.
Sẹo Già đói, theo thường lệ nó đi thong thả qua rừng cây đến vùng cỏ voi. Còn cách xa bụi tre nó đã bắt được hơi người. Nó đang ở giữa nó và cái hồ. Nó lủi vào trong đám cỏ lau cao. Rồi có những tiếng động. Những tiếng động phía sau nó càng rõ hơn. Nó có thể cảm thấy những bước chân voi nặng nề đang đến gần qua sự rung chuyến của mặt đất.
Nếu nó rời bãi cỏ lau này, nó sẽ rơi vào nơi trống trải, có nghĩa là nó phải chạy qua những cánh đồng lúa. Đuôi Sẹo Già ngoắt qua ngoắt lại một cách giận dữ. Nó rít lên, quay vào và luồn lách qua những bụi cỏ để tiến về phía hồ, dán bụng xuống mặt đất cho khỏi bị lộ hình tích. Nó tìm được một cây khô và trườn ra sau gốc cây, giương con mắt độc nhất của nó nhìn qua đám cành cây trụi lá, đợi chờ. Đây là lãnh địa của nó. Nó đi ra khỏi lãnh địa dò xét chung quanh. Nó không còn có chỗ nào khác để đi.
Wonderboy đứng ở rìa rừng tre cao, ngạc nhiên thấy sao mà tre mọc cao và thẳng đến thế. Tim cậu đập nhanh đến nỗi cậu có thế nghe thấy tiếng đập trong tai. Cậu nhớ Max đã bảo họ phải rất thận trọng khi vào rừng tre và bãi cỏ cao. Tre nứa mọc san sát vào nhau vì thế cậu khó có thể nhìn qua kẽ hở giữa những thân cây. Cậu đi vào cánh rừng một cách sợ hãi, len lỏi vạch lau, rẽ lá mà đi. Cậu bắt đầu hát nho nhỏ. Rồi hát to hơn, nhưng rất trầm bài ca tự cương ra ‘Suite: Judy Blue Eyes’ (Mắt xanh của Judy):
- Da da da da do... dat dat de da da do...
Tiếng hát trấn an cậu ta. Cậu quyết định đi xuyên qua cánh rừng tre đến bìa đồng cỏ ngắn và đợi. Cậu chỉ có thể nhìn xa được một hai mét phía trước cậu. Wonderboy đã nghĩ là cậu chết mất vì quá liều lĩnh, tuy nhiên cậu vẫn còn đây, đang thử thách sức chịu đựng của mình, đuổi theo một con cọp nặng trên hai trăm kí, giận dữ, chột mắt, ăn thịt người, mà có thể nhảy xổ ra không biết từ đâu và bất cứ lúc nào. Ý nghĩa thể thao của cuộc săn bắn đối với cậu dường như đột nhiên trở thành một điều ngu xuẩn. Cậu nghĩ, có lẽ phát hiện ra con cọp từ trên lưng voi và giết nó thì dễ hơn nhiều.
Hatcher cũng thế, đang di chuyển một cách cẩn thận qua rừng tre. “Những cậu bé ồn ào” và lũ voi bây giờ đã gần hơn nhiều. Có những tiếng động hỗn tạp. Hatcher đang nghĩ về Wonderboy, tự hỏi xem anh chàng có đang nghĩ cái gì khôn ngoan hay không. Sợ hãi như cậu thì có thế bị lầm lỡ trong đám cỏ lắm. Nó có thể đánh lừa cậu ta. Cậu có thể bước lên trên và đạp vào đuôi cọp trước khi nhìn thấy nó. Hatcher đi qua các bụi tre tiến vào bãi cỏ trâu ngắn. Năm chục mét về phía bên kia là đám cỏ cao, đang lay động nhè nhẹ theo làn gió thoảng.
Hatcher đi dọc theo bìa rừng tre tiến về phía Wonderboy, cỏ cao đến thắt lưng sột soạt lướt qua anh và từng đàn côn trùng bay rào theo bước chân anh. Anh đi, ngừng lại và lắng nghe, rồi lại tiếp tục đi.
Anh bắt đầu thấy căng thẳng. “Những cậu bé ồn ào” và lũ voi đang tiến đến phía bên kia đám cỏ cao.
Qua những cành cây khô, Sẹo Già đã nhìn thấy một con voi hiện ra mờ mờ trên những cây sậy cao và nghe thấy tiếng dùi đập vào xoong chảo, tiếng la hét, mặc dù nó không thể nhìn thấy cả bọn họ. Con cọp già đang khát. Nó đói nữa, nó đã mất cả kiên nhẫn.
Một con voi to bắt đầu đi vào đám cỏ cao. Đôi tai thính của Sẹo Già đã nghe thấy những tiếng động khác ngoài tiếng gõ xoong chảo và la ó. Nó rời gốc cây khô, trườn dán bụng xuống đất, bò không một tiếng động qua đám cỏ về phía hồ.
Từ trên lưng voi cao, Max Early quan sát bãi cỏ voi cao, rộng mênh mang, cỏ cao tới ba mét trải dài gần nửa dặm từ hồ đến những cánh đồng trồng sắn. Xa hơn là bãi cỏ ngắn và tre cao. Quat đang quan sát mặt đất bên dưới anh ta, tìm vết chân của con cọp hung bạo. Anh đã phát hiện ra những dấu chân dần vào bãi cỏ ngắn và anh chỉ về phía hồ nói khẽ:
- Anta rai, seua, thaleh saap.
Early giải thích:
- Anh ta nói nó đang đi về phía hồ và nguy hiểm đấy. Tôi đang hi vọng nó vượt qua vùng cỏ này, ra nơi trống trải để ta rượt đuổi theo.
Early thổi một tiếng còi sắc, gọn. Tiếng còi xé bầu không khí vang lên lảnh lót át cả tiếng huyên náo mà “các cậu bé ồn ào” gây ra. Mọi vật ngừng cả lại. Những con voi đi cách nhau khoảng ba trăm mét dừng lại, bắt đầu dùng vòi bứt cỏ ăn. Không một ai động đậy. Không có một tiếng động. Kế đó Early nghĩ rằng ông đã nghe thấy một tiếng gì đó. Ông ngả người về phía trước, đôi tai nhọn vểnh lên rồi nói hơi to:
- Cái quái gì thế?
- Ông thấy cái gì hả? - Earp hỏi.
- Tôi nghe thấy một cái gì đó. Hãy nghe xem.
Họ lắng tai nghe, Earp nghiêng đầu qua một bên.
- Có phải người nào đó đang hát không? - Early hỏi.
- Đang hát hả?
- Tôi thề với trời là tôi nghe thấy một người nào đó đang hát. Hình như tiếng hát vọng ra từ sau các bụi tre kia.
- Chắc là của Wonderboy. - Earp nói.
- Hắn điên à?
- Hắn sợ. Hú lên, bảo hắn câm họng đi.
- Ơ hơ. Nếu hắn trả lời to, hắn sẽ tự bộc lộ rõ vị trí của hắn.
- Con cọp này sẽ không đuổi theo hắn đâu.
- Chúng ta không biết con cọp này đang nghĩ gì.
- Có điều gì không hay lắm hả? - Eddie Riker gọi to lên.
Early đưa bàn tay lên, đặt những ngón tay vào môi.
Ông ta chỉ vào Eddie Riker rồi khoát tay qua đám cỏ và lau sậy thấp hướng về dải rừng tre. Ông ta khiến con voi đi thẳng về phía trước, mắt ông nhìn qua cặp kính hướng về phía tiếng động ông đã nghe thây. Ông nói nhỏ với Earp:
- Hãy sẵn sàng. Chúng ta có thể có cơ hội trong tầm tay đấy.
Hatcher đi nhanh xuống bìa rừng tre về phía Wonderboy khi nghe thấy tiếng còi. Những người làm nhiệm vụ khua động ngưng đập nồi xoong của họ. Anh dừng lại và đợi một lát. Có một sự im lặng chết chóc.
Rồi anh lại nghe thấy tiếng hát. Wonderboy ở gần hơn là anh tưởng. Cậu ta đang ở một nơi nào đó trong rừng tre, một nơi nguy hiểm. Hatcher đi nhanh gấp đôi, di chuyển tới gần vòng ngoài của rừng tre cho đến khi anh có thể nghe thấy khúc hát êm dịu của Wonderboy ở gần đâu đấy. Anh tiến vào khu rừng, đi một cách hết sức êm ái về phía tiếng hát. Những cành tre cao, cứng, kêu lạt sạt khi anh rẽ cành lá để tiến về phía Wonderboy.
Sẹo Già cũng hoảng hốt vì tiếng còi. Rồi tiếng còi tắt và sự tĩnh mịch làm nó bối rối. Nó dừng lại lắng nghe, có tiếng những con voi đang bứt cỏ. Nó nghe thấy những âm thanh đằng trước nó: “‘Do do do do da. . . dat dat do da da do..,
Và nó nghe thấy có người đi qua bãi cỏ phía sau nó. Nó chờ đợi, bắp thịt của nó săn lại. Những con voi lại bắt đầu đi, nó cũng tăng tốc độ.
Sẹo Già ranh ma lắm. Nó quyết định băng qua rừng tre ra ngoài đồng trống đằng xa và phóng nhanh qua đó. Bản năng của nó bảo nó phải đi hết sức lặng lẽ cho tới khi ra đến ngoài đồng trống. Hiện giờ chung quanh đang có những hoạt động. Kẻ thù đang tiến gần nó.
Nó lại bò về phía trước, ra khỏi đám cỏ voi cao, bò vào bãi cỏ ngắn. Bây giờ thật sự nó bò sát, đặt chân nọ trước chân kia một cách rón rén, thận trọng, bò chậm chạp về phía rừng tre, rời xa những kẻ đang tiến đến ở phía sau, rời xa khỏi những con voi. Con mắt độc nhất của nó long lên sòng sọc kiểm soát con đường trong lúc nó bò về hướng có âm thanh kì lạ. Early dừng voi lại một lần nữa, nhìn chăm chú đám cỏ bằng chiếc ống nhòm. Ông bỗng ngừng lại, chiếu ống nhòm vào một điểm.
- Có cái gì hả? - Earp thì thầm.
- Không chắc...
Early nhìn cỏ cao lung lay trước gió. Rồi ông thấy một vệt ngắn di chuyển ngược chiều gió, thật khó mà nhận ra, giống như một gợn sóng trong đại dương. Sự chuyển động ngưng lại. Rồi nó di động nữa. Được chừng hơn một mét, lại ngừng.
- Chúa ơi, - Early thở mạnh. - Nó kìa.
- Ở đâu? - Earp hỏi.
- Kìa, nó đang di chuyển trong đám cỏ ngắn về phía rừng tre. Khi nó đến gần rừng tre, nếu nó thấy ai ở đó có lẽ nó sẽ tấn công.
Early trao ống nhòm cho Earp và điều khiển con voi đi tới nơi đang có chuyển động. Con vật to lớn ì ạch bước về phía trước trong khi Earp nhìn một cách hồi hộp qua ống nhòm.
- Tôi không thấy nó. - Earp nói.
- Ngay đằng trước chúng ta, cách khoảng một trăm mét. Hãy nhìn chỗ cỏ trâu ấy. - Early nói.
Kế đó Earp nhìn thấy cái gợn sóng, một cử động nhẹ nhàng trườn qua đám cỏ sậy ngắn, rồi nó dừng lại. Earp nói:
- Chúa ơi, ông nói đúng đây.
- Còn thằng Wonderboy chết dầm đâu rồi? - Early hỏi.
Con voi đi nhanh về phía rừng thưa, Earp hỏi:
- Chúng ta không thể bắt đầu làm rùm beng lên để xua đuổi nó ra à?
- Không, không làm thế. - Early cáu kỉnh nói, con cọp này điên. Nó đang hăng tiết. Bây giờ chúng ta làm nó hoảng lên, có lẽ nó sẽ tấn công chỉ hoàn toàn do hoảng sợ.
Early cất tiếng gọi rõ ràng và rành mạch:
- Wonderboy, đừng hát nữa. Hãy quay lại ra khỏi rừng tre, đi thật chậm. Đừng có trả lời tôi, hãy làm ngay lập tức!
- Cứt! - Hatcher nói khi nghe thấy lời cảnh cáo của Early. Nhưng anh không dừng lại. Anh không có thời gian để dừng lại. Anh cứ tiếp tục đi về phía trước.
Sẹo Già cũng nghe thấy tiếng người la ó, nó dừng lại. Rồi nó thấy có một chuyển động cách nó vài mét. Răng nanh nó cắn vào môi, mũi hếch lên bắt gió. Tiếng động tắt. Nó lại tiến về phía trước. Qua con mắt độc nhất, nó nhìn thấy một vật động đậy trong đám tre đang đi xa khỏi nó và nó đuổi theo. Đằng sau nó lũ voi đang bước đến. Mặt đất rung lên khi chúng đi qua đám cỏ cao. Sẹo Già trườn nhanh hơn, bò về phía những bụi cỏ cao, cứng và cánh đồng trống ở phía bên kia.
Bỗng nó nhìn thấy một sinh vật có hai chân, một động vật trông kì lạ có cái mặt nửa đen nửa trắng. Thật đe dọa. Sẹo Già có thể cảm thấy nỗi sợ hãi của nó. Động vật này đi khuất vào đám tre giữa Sẹo Già và cánh đồng trống. Nó cầm một cây gậy. Vuốt của Sẹo Già vươn ra, bắp thịt vai của cọp uốn lượn như sóng chuẩn bị tấn công.
Nó bò ra khỏi đám cỏ và nhảy vào trong rừng tre.
- Chúa ơi, con cọp ở trong rừng tre rồi. - Early nói và vẫn tiếp tục theo dõi sự chuyển động qua ống nhòm.
- Wonderboy chết dẫm ở đâu rồi? - Earp nói.
- Hắn cũng ở trong ấy, tôi có thể thấy dạng nó di chuyển. Con cọp đang đi theo cậu ta.
- Ồ, Chúa ơi! - Earp nói.
- Mẹ kiếp, - Early vừa nói vừa điều chỉnh tầm nhìn của ống nhòm, - Hatcher cũng ở trong đó à?
- Có quỉ mà biết được?
Riker và Gallagher đổi hướng, đi về phía họ, và con voi mà Melinda và Prophett đang cưỡi cũng tiến về đó, đến cánh rừng tre.
Hatcher bắt đầu chạy về phía Wonderboy, cậu ta đã thôi hát. Anh chạy lao qua rặng tre, tiếng cành tre đập vào nhau lách cách đằng sau anh khi anh vượt qua làm gãy những cành cây, vấp chân vào gốc cây. Anh giữ nòng súng dài hếch lên để tránh rủi ro bắn phải Wonderboy.
Sẹo Già cũng trườn nhanh hơn, bò qua những bụi tre, cố gắng di chuyển mà không để lộ vị trí của nó. Nó có thể nhìn thấy sinh vật kì lạ ở trước nó. Đi thụt lùi, nhìn chung quanh một cách bối rối. Sinh vật có bộ mặt đen trắng ở cách nó hai chục mét. Sẹo Già đã quen săn mồi trong rừng tre. Nó có thể nhìn thấy sinh vật này, nhưng sinh vật thì không thể thấy Sẹo Già. Sinh vật kì lạ này trượt chân, mất thăng bằng, quay đi chỗ khác, loạng choạng cố giữ cho khỏi ngã.
Cọp tấn công.
Hatcher thấy Wonderboy loạng choạng và té. Anh nghe thấy những thân tre gãy răng rắc trước khi nhìn thấy con cọp. Anh chạy về phía Wonderboy, cậu ta đang lúng túng, cố tìm cách ngồi dậy.
- Nằm xuống, - Hatcher la lên bằng cái giọng khàn khàn của mình. - Nó đang tấn công đấy.
- Ồ, Chúa ơi, đừng! - Wonderboy thét lên.
Hatcher không để mất một giây, ném ngay khẩu súng vào con cọp độc và nhảy đè lên người Wonderboy, chụp lấy khẩu súng của cậu ta và lăn người về một bên. Gần đâu đây anh nghe tiếng voi gầm, cảm thấy mặt đất rung chuyển khi con vật to lớn chạy lồng về phía họ. Nhưng anh không thể để cho việc đó làm anh phân tán. Anh đang ở trong cái thế của mình, con cọp to đang ở xa ba mét, nhảy lao vào, cái miệng há to để lộ những răng nanh nhều dớt dãi, con mắt độc nhất của nó lóe lên hung bạo.
Anh có đủ thời giờ để bắn một phát. Anh nâng súng lên và bắn thẳng vào mặt cọp.
Sẹo Già cảm thấy sức nóng của phát nổ, lóe lên vì ánh chớp và chỉ một phần nghìn giây sau cảm thấy viên đạn nổ ngay trên con mắt độc long của nó, làm rạn nứt sọ, xoáy vào đầu nó, làm vỡ óc nó và làm bể xương sọ phía sau. Chân trước của nó khuỵu xuống, nó ngã bổ nhào, lăn long lóc đè gãy hết dãy tre này trước dãy tre khác. Chúng rơi tới tấp xuống đầu Hatcher và Wonderboy. Con cọp dữ nằm cách đó mét rưỡi, cái miệng khổng lồ của nó còn há ra. Một tiếng gầm thét ai oán phát ra từ cổ họng nó, nó giãy giụa và bắt đầu nằm im.
Hatcher có thể cảm thấy Wonderboy nằm bên anh đang run rẩy. Anh quỳ lên, nhìn chàng nhạc sĩ dường như đang cố đào một lỗ chui xuống đất.
- Xong rồi, cậu ơi, - Hatcher nói nhỏ. - Tốt rồi.
- Không, không. - Wonderboy la lên, chân tay cậu rúm lại.
Một trận mưa những cành tre lại đổ xuống quanh Hatcher, và anh nghe thấy tiếng một con voi rống ngay trên đầu anh. Anh quay lại, nhìn thẳng vào hai nòng súng, nòng súng của Earp và của Early. Không ai động đây. Không ai thở nữa. Hầu như anh có thể cảm thấy ngón tay của Early từ từ siết vào cò súng.
- Chúa ơi, hắn sắp bắn tôi! - Hatcher nghĩ và đồng thời nhảy né sang bên, hụp đầu xuống và nghe thấy tiếng súng nổ.
Đằng sau anh, con cọp lại gầm lên, anh quay lại nhìn thấy nửa thân nó chồm lên, nó nhận thêm một viên đạn vào vai. Nó rống lên nữa và lăn ra chết.
- Tôi đã nói với ông là đừng có bắn ngay vào đầu, - Early nói.
 
0

THAI HORSE (NGỰA THÁI)

 
Căn nhà nhỏ của Early ở cuối con đường đất cứng hẹp. Con đường luồn qua những tầng cây xanh đậm ẩn mình trong trong bóng râm âm u. Những con vẹt đuôi dài sặc sỡ và những con vẹt đuôi ngắn giật mình vì chiếc xe tải đi qua đã nguyền rủa những người trên xe bằng những tiếng kêu quéc quéc, rít lên giận dữ lúc họ đi săn trở về. Ngôi nhà lợp rơm có cửa vòm rộng hình vòng cung trông ra ba hướng. Hương thơm từ những cánh đồng gần đó lan tỏa khắp không gian.
Con cọp đã được buộc hai chân treo ngược lên một cây nhỏ. Nhiều phụ nữ trong làng đã bị cọp đe dọa tụ tập lại ở nhà Early nhảy múa hội hè để mừng chiến công của Hatcher. Một ông già người Á Đông cúi lom khom xem một nồi to ra gu nấu theo kiểu Thái trên bếp lửa ngoài trời. Hatcher đã im lìm một cách lạnh lùng từ khi cuộc săn kết thúc. Anh ngồi một mình trên cánh cửa vòm nhìn những người địa phương làm lễ mừng sự kết liễu mạng con thú hung tợn. Nhiều phụ nữ đóng vai thợ săn trong một điệu vũ ứng tác và một phụ nữ khác đóng vai Sẹo Già. Lithe, với khuôn mặt sơn vàng nhảy trên cả bốn tay chân, chạy lung tung trong khi những thợ săn chạy đuổi theo.
Tức giận trong những giây phút căng thẳng sau cuộc giêt cọp, Hatcher rút khóa nòng ra khỏi khẩu súng 375 H&H và quăng nó lại cho Early, giận dữ nói:
- Lần sau có cho ai mượn súng, ông nên biết chắc rằng súng bắn được.
Early xoay khóa nòng trong tay quan sát nó một cách cẩn thận trước khi nhìn trở lại Hatcher.
- Cái cò súng chết tiệt này gãy rồi. - Y nói với vẻ ngạc nhiên thật sự, nghĩ rằng đó là một sự cố.
- Thật vậy sao? - Hatcher càu nhàu một cách châm biếm.
- Chứ còn gì nữa? - Early cáu kỉnh nói. - Sáng nay nó hoạt động tốt, chính tôi đã bắn thử mà.
- Wonderboy và tôi, cả hai suýt chết vì cây súng đó.
- Tôi xin lỗi, đồng ý chứ? Ông nghĩ là tôi muốn ông bắn trật con cọp ư? - Early nói, - quỉ thần ơi, lố bịch thật, làm sao mà tôi có thể biết ông sẽ bắn chết nó?
Earp cũng nói:
- Ông bị bệnh hoang tưởng rồi, Hatcher.
- Ờ, - Eddie Riker nói - nếu chúng tôi muốn giết ông thì ông đã chết rồi.
Phản ứng với nhiều giận dữ hơn là thói thường của mình, Hatcher đã ngậm miệng lại và giờ đây anh ngồi một mình với mối suy nghĩ sâu lắng. Anh không nhìn thấy Wonderboy từ bên hông nhà bước đến gần anh.
- Ông Hatcher! - Cậu nói. - Đúng là Hatcher phải không?
Chàng nhạc sĩ sửa lại cái mặt có những vết sọc bằng thuốc màu mới, đứng dựa vào tường nhà, tay đút túi.
- Đúng đấy! - Người đàn ông có giọng khàn khàn càu nhàu.
- Ông đã cứu sống tôi, - Wonderboy nói, - và tôi, ờ... tôi không biết cảm ơn ông như thế nào đây. Nhưng tôi muốn ông biết rằng không có ai lại gắng sức cứu ông đâu.
- Cậu cũng có thể làm như vậy đối với tôi. - Hatcher nói.
- Không, không - Wonderboy vừa nói vừa lắc đầu, - tôi nghẹt thở, ông ạ. Không phải chỉ là vì tôi sợ thôi, mà là tôi đã không bóp cò nổi.
- Điều đó đã có khi nào xảy ra chưa?
Wonderboy nhìn con cọp chết từ sau mặt nạ của cậu, và mấy giây sau cậu gật đầu.
- Vậy hãy quên nó đi, - Hatcher nói, - cậu có thể sống hết đời mà không phải đụng đến một khẩu súng nào nữa.
- Không phải cái đó.
- Vậy cái gì thế?
Wonderboy rút tay ra khỏi túi. Cậu khoanh tay trước ngực, ghì chặt như thể cậu bị lạnh.
- Còn sống.
- Còn sống. - Hatcher lặp lại dứt khoát.
- Ma quỉ, nếu đó không phải là một cuộc chiến tranh thì lại là chuyện khác.
- Cậu sẽ không phải dự vào một cuộc chiến tranh nào nữa, Wonderboy.
- Dầu thế nào đi nữa, - cậu nói, - tôi không biết ông sẽ cám ơn như thế nào kẻ đã cứu sống ông. Người Nhật có cách nói trong trường hợp này nhưng tôi không nhớ.
- Ongaeshi. - Hatcher nói.
- Vâng, đúng đấy. Nó có nghĩa là, ông biết đó, giống như một món nợ to.
- Nó có nghĩa là một điều ơn nghĩa phải báo đền. - Hatcher nói.
- Vâng, ongaeshi, ông Hatcher.
Hatcher bước đến gần Wonderboy, đứng dựa vào tường cạnh cậu ta.
- Cậu có muốn được thử thách không? - Cái giọng khàn khàn của anh hỏi
- Tôi không hiểu.
- Ai là Thai Horse, Wonderboy?
Wonderboy nhìn những người quen ở phía bên kia sân. Cậu hỏi nhưng mắt vẫn nhìn những người đang nhảy múa.
- Thai Horse là cái gì?
- Ongaeshi, Wonderboy.
- Đừng nói thế.
- Chúng ta hãy thử một câu hỏi khác. Murph Cody còn sống không?
- Ai?
- Murph Cody.
- Ông cần gì ở người ấy? - Wonderboy hỏi. - Ông nói tên hắn là gì?
- Cody, - Hatcher nhẹ nhàng nói.
- Vâng, Cody.
- Tôi có một tin nhắn gã.
- Một tin nhắn hả?
- Đó là muốn những gì có liên quan đến hắn.
Wonderboy thong thả gật đầu rời Hatcher đi về phía nhóm người còn lại và nói mà không nhìn, anh:
- Được, nếu tôi tình cờ gặp người nào có cái tên đó, tôi sẽ nói là ông đang tìm hắn.
Wonderboy bỏ đi. Những người nhảy múa đã kết thúc vở bi kịch có nhạc của họ và đang xun xoe với đám khách. Earp đang chuyện trò với một vũ nữ đóng vai con cọp thì Wonderboy đến ghé vào tai ông ta nói gì khe khẽ. Earp nhìn Hatcher, rồi nắm tay người vũ nữ da vàng, dẫn nàng qua sân đến chỗ Hatcher, nói:
- Đây là Namtaan. Bà ta muốn gặp người đi săn da trắng vĩ đại. Namtaan, đây là Hatcher.
- Hân hạnh gặp bà. - Hatcher nói.
- Hân hạnh, - Nàng nói. - Vậy ra ông là người đã giết con cọp.
- Tất cả chúng tôi đều góp sức vào việc đó.
- Nhưng có phải mọi người đều góp sức cứu sống Wonderboy đâu? Ông quá khiêm nhường đấy, ông Hatcher ạ. - Nàng nhìn thẳng vào anh với cặp mắt sắc sảo.
- Đó không phải là khiêm nhường, - Hatcher nhìn Earp nói. - Mỗi người ở đây phụ thuộc vào những người khác. Đó là điều mà tôi không có được trong chiến tranh. Công việc của tôi rất cô đơn.
- Thế thì thật là buồn. - Nàng nói. - Earp nói rằng ông hỏi ông ta về một chuyện truyền thuyết Thái. Ờ? Chuyện truyền thuyết về Ngựa Thái.
- Ông ta chỉ nói đúng có một phần thôi. Tôi không nói về chuyện Ngựa Thái xưa, tôi nói về chuyện Ngựa Thái hiện nay.
- Chuyện Ngựa Thái hiện nay hả?
- Tôi đang tìm một người tự xưng là Thai Horse, - Hatcher đáp và nhìn thẳng vào cặp mắt nâu sẫm của nàng
- Tôi không hiểu, - Nàng nói.
- Tôi nghĩ là ông Earp hiểu, - Hatcher nói.
- Tôi không hiểu là ông đang nói gì, - Earp nói.
- Tại sao chúng ta không bỏ ngay cái trò chơi khăm nhau ấy đi. - Hatcher nói toạc móng heo. - Người ta nói với tôi rằng có một người tên là Murph Cody tự xưng là Thai Horse.
- Cody đã bị chết trong chiến tranh rồi, - Earp nói rất tự nhiên.
- Có thể không chết đâu, - Hatcher đáp.
- Nhưng tại sao hắn lại làm vậy? Tự xưng là Thai Horse à?
- Bởi vì hắn mua và bán thuốc phiện. Hắn giết những người khác và cướp bạch phiến của họ. Hắn mua trẻ con, giết chúng rồi giấu ma túy vào trong cơ thể chúng.
Namtaan nhìn Hatcher một lát rồi đột ngột quay đi và vào nhà, Earp theo sau nàng, dừng lại ở cửa bảo Hatcher:
- Vào đi chứ! Nàng không cắn đâu.
Bên trong căn nhà nhỏ này tối và mát. Cửa kính và cửa chớp đều đóng lại để tránh ánh nắng ban trưa, và một cái máy điều hòa không khí đang kêu rì rì ở đâu đó. Ánh sáng mặt trời chiếu xiên qua khe cửa chớp gieo những vệt chói chang trên sàn nhà bằng ván cây. Nàng ngồi xuống một chiếc ghế dài cũ kĩ, nói:
- Hãy ngồi xuống.
Earp cúi xuống một cái bàn nhâm nhi li nước. Hatcher ngồi ở đầu kia chiếc ghế dài.
- Cái gã Cody này là ai? - Nàng hỏi.
- Tại sao bà lại quá quan tâm như vậy?
- Xin ông hãy cộng tác với tôi trong vài phút. - Nàng nói gần như nài xin.
Lúc Hatcher và Namtaan nói chuyện, những người lính khác bắt đầu đi vào phòng. Prophett và Melinda ngồi im lặng trong một góc, Prophett nằm ườn trên ghế, lấy ngón bàn chân còn lại của hắn vạch những dấu nhỏ vô nghĩa trên sàn nhà. Eddie Riker tựa vào cửa uống bia còn Gallagher ngồi trên tay ghế, khoanh tay trước ngực.
Hatcher cố vờ không biết đến họ, nói rành mạch với Namtaan:
- Murph Cody là người tôi đến Thái Lan tìm. Tôi chỉ quan tâm đến Thai Horse khi nó dính líu đến Cody.
- Tại sao ông lại đi tìm gã?
- Đó là việc cá nhân.
- Ông có biết gã không?
- Chúng tôi là bạn với nhau từ trước đây rất lâu.
- Có phải vì thế mà ông tìm gã không?
Hatcher suy nghĩ về câu hỏi này một lát, rồi nói:
- Đó là một phần.
Earp hỏi chen vào:
- Ai nói ông Cody tự xưng là Thai Horse?
Khi mắt Hatcher đã quen với căn phòng tối anh nhận ra còn có một người nữa ở đây. Ông già Tàu đã tham gia nấu bếp hồi nãy cũng đã vào phòng. Lão ta là một cái bóng mờ nhạt, một ông già lưng còng ngồi trong góc phòng tối nhất. Anh trả lời:
- Một người tên là Wol Pot, trước kia ở trại tù binh Huie-kui.
- Và làm sao mà hắn lại biết Cody?
- Tôi nghĩ Cody là một trong những tù nhân ở đó.
- Tôi đã nói với ông là, - Earp nhắc lại, - Cody đã bị chết trong một vụ máy bay rơi năm 1972.
- Làm sao ông biết được điều đó? - Hatcher hỏi.
- Tôi đã đọc nó ở đâu đó. - Earp cáu kỉnh đáp.
- Một sự hiểu lầm bình thường, - Hatcher nói.
- Một sự hiểu lầm à? - Namtaan nói.
- Một sự dối trá.
- Tại sao ông lại nói thế? - Nàng hỏi.
- Bởi vì Wol Pot muốn có lợi thì phải lôi Cody ra. Hắn muốn có thị thực để sang Mỹ nên phải dùng Cody làm món hàng trao đổi.
- Và tại sao Cody lại quan trọng đến thế.
- Cha anh ta là đại tướng trong thời gian có cuộc chiến tranh này.
- Có lẽ người cung cấp tin này đang dở trò láu cá.
- Có lẽ.
- Nhưng ông lại không nghĩ là như thế phải không?
- Không.
- Ông trả lời nhanh quá, ông Hatcher, tôi hi vọng rằng ông không cho là tôi đang tra hỏi ông, - Nàng mỉm cười nói.
- Bà đang tra hỏi tôi à? - Anh hỏi.
Earp thình lình chêm vào:
- Tất cả đều là nói láo.
- Tôi không nghĩ thế, - Hatcher nói. - Tôi nghĩ rằng Murph Cody còn sống.
- Chỉ vì cái thằng cha trơn như mỡ ấy đã nói với anh như thế hả?
- Điều đó cũng có cái đúng.
- Tôi không tin một lời nào về chuyện này, - Earp nói. - Hắn là người của Sloan.
- Tôi không phải là cái gì của Sloan cả. Ông ta muốn tôi làm một việc... - Hatcher nói.
- Chúa ơi, hắn thừa nhận rồi! - Earp nói.
Hatcher cố làm ra vẻ không để ý, hỏi:
- Ông có điều gì chống lại Sloan à?
- Chúng tôi nghĩ là Sloan mướn ông để lôi Cody ra và giết gã, - Earp nói. - Ông có phủ nhận điều đó không?
Hatcher bị chặn họng. Điều mà Earp nói là sự thật.
- Không, tôi không phủ nhận điều đó. - Hatcher nói. Câu trả lời chân thật của anh rõ ràng làm mọi người trong phòng ngạc nhiên. - Nhưng, tôi đã không chấp nhận làm việc này theo những điều kiện ấy.
- Thế điều kiện của ông là gì? - Earp hỏi với một nụ cười nhạo.
- Là nếu như tôi tìm ra được Cody, gã còn sống, tôi sẽ chỉ trao cho gã một tin nhắn, thế thôi.
Earp quay đi với vẻ khinh bỉ và lắc đầu.
- Chúa ơi!
- Hãy nghe tôi, ông Earp. Vụ này đã bắt đầu trở thành một sự lừa lọc. Tìm Murph Cody và trao một tin nhắn, thoạt đầu chỉ có thế thôi. Đến Bangkok, Sloan đã ấn định nhiệm vụ khác cho tôi.
Earp quay lại nhìn vào mặt anh:
- Như thế nào?
- Hắn muốn tôi làm việc phán xử. Nếu Cody dính líu vào một việc gì gây ảnh hưởng xấu, hắn ngụ ý bảo tôi hãy thủ tiêu Cody. Sloan không bao giờ nói thẳng điều gì. Hắn là chúa hay nói bóng gió. Nhân đây cần phải nói, tôi cũng có quyền căm thù Sloan như bất cứ người nào khác. Hắn đã hại tôi và tôi đã bị giam ba năm ở một nơi đèo heo hút gió ở Trung Mỹ gọi là nhà tù Los Boxes.
- Và ông vẫn nhận việc này à?
- Đúng thế. Tôi nghĩ rằng nếu có một người nào đó có thể tìm ra Cody thì tôi cũng có thể tìm ra.
- Và ông đã chấp nhận những điều kiện ấy, phải thế không?
- Tôi phải lựa chọn: nhận việc này và cố gắng tìm cho ra Cody hoặc bỏ đi để Sloan đưa vào một thằng vô lại tàn nhẫn nào đó vào thay.
- Cái đó có quan trọng gì đối với ông? Xưa kia ông đã giết người cho hắn để ăn lương mà.
- Cũng giống như ông đã làm trong Ban tình báo quân sự, đúng không? - Hatcher nói một cách giận dữ. - Trước đây tôi cũng là một người lính như ông. Tôi đã làm cái gì mà người ta ra lệnh cho tôi.
Nhận xét này làm Earp câm họng một lát. Gã nhìn đi chỗ khác.
- Ông biết rằng tôi chẳng ngu dại gì, - Hatcher nói tiếp quơ tay chỉ quanh phòng - Nếu tôi muốn giết Cody, chắc chắn là, mẹ kiếp, tôi không thể thực hiện được khi mà một mình tôi phải chọi với mười địch thủ.
- Hình như ông tin chắc rằng Cody và tên buôn lậu ma túy đã giết trẻ con chỉ là một?
- Tôi không tin chắc những điều tôi đã nói về Thai Horse là đúng, - Hatcher nói - Nhưng tôi thật sự tin là Wol Pot hay là Taisung như các ông gọi, biết Cody còn sống.
- Còn điều gì khác nữa không?
- Tất cả những điều còn lại đều là phỏng đoán. Cái mà tôi gọi là phương trình.
- Phương trình? - Gallagher nói.
- Giống như một phương trình toán, chỉ có khác là ta dùng các thông tin thay vì các con số.
Anh nhìn quanh phòng, nhìn vào những người đã từng là lính.
- Chẳng hạn, tôi biết Wol Pot khai là Murph Cody còn sống ở Bangkok. Và tôi cho rằng Wol Pot có khả năng nói đúng.
- Tại sao? - Early hỏi.
- Một vế khác của phương trình này. Wol Pot đã phải đưa Cody ra để mong được một tấm hộ chiếu cho mình. Hắn muốn đi gấp, và cơ may duy nhất của hắn là đưa Cody ra. Không có Cody, hắn không thể xoay được hộ chiếu.
- Còn điều gì nữa không? - Eddie Riker nghi ngờ hỏi.
- Ừa, còn một điều nữa. Tôi cũng biết rằng tên thật của Johnny Prophett là Paget và biết rằng Paget, Gallagher, Potter, Eddie Riker và Max Early tất cả đều đã được báo cáo là mất tích trong lúc làm nhiệm vụ vào cùng một lúc và ở cùng một vùng tại Việt Nam. Tôi không chắc, nhưng có lẽ cả Wonderboy và Corkscrew cũng ở trong danh sách đó. Vậy cái phương trình này đã cho tôi biết rằng có lẽ tất cả những người này đều đã bị Việt Cộng bắt và nhốt trong trại tù có Wol Pot. Và vì Wol Pot biết Cody, tôi nghĩ rằng Cody cũng đã có ở đó.
Eddie Riker khịt mũi nói:
- Ông to gan thật.
- Còn gì thêm nữa trong cái phương trình đó không? - Corkscrew hỏi.
- Còn một điều nữa. Wol Pot cũng nói rằng Cody là một kẻ giết người, một tên buôn lậu ma túy đã tự xưng là Thai Horse. Tôi cũng nghe từ một nguồn tin chính nói rằng: Có tin đồn Thai Horse chính là một tay buôn thuốc phiện.
- Và cái phương trình này nói gì với ông về con người đó? - Eddie Riker hỏi.
- Có lẽ tôi nên làm cho ông rõ, ông Hatcher, - Namtaan vỗ ngực nói. - Tôi là người được gọi là Thai Horse.
Hatcher kinh ngạc thật sự, kinh ngạc quá đỗi đến nỗi Namtaan phải bật cười, đó là cái cười đầu tiên từ khi họ vào nhà.
- Tôi không định làm ông bàng hoàng đâu, - Nàng nói.
Hatcher nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, bắt đầu cười:
- Tôi không tin một chút nào cả.
- Tuy nhiên đó là sự thật, - Nàng nói.
Johnny Prophett nói:
- Chính tôi đã đặt cho bà ta cái tên đó, Hatcher.
- Ừa, mọi người đều biết việc ấy. - Gallagher chêm vào.
- Tôi không biết điều đó, - Hatcher nói với giọng khàn khàn.
- Ông chả biết cái quái gì cả, chàng lính ơi, nhưng chắc chắn ông đã đưa ra điều suy đoán, - Earp nói.
Hatcher nhìn chằm chằm vào Pai. Sự nhận ra nàng đến dần dần. Đầu tiên anh nghĩ nàng là người anh đã gặp trước đây, một người nào đó trong quá khứ. Anh muốn nhìn thấy mặt nàng không có hóa trang, chắc sẽ khác hẳn.
- Được, tôi sẽ thử một lần nữa, - Hatcher nói và nhìn Namtaan: - Tôi đoán tên bà ta là Pai.
- Tên tôi là Namtaan.
- Đúng. Nhưng xưa kia là Pai. Mười lăm năm về trước ở Việt Nam. Bà là người tình của Cody.
- Đó là một cách nói tế nhị đấy.
- Tôi có một tấm ảnh bà chụp năm 1972. Rõ ràng là lúc ấy bà rất tận tụy với anh ta, và tôi chắc rằng hiện giờ bà vẫn thế.
- Tại sao ông lại đi tìm Cody, ông Hatcher? - Nàng sốt sắng hỏi.
- Như tôi đã nói, tôi đem một tin nhắn đến cho anh ấy.
- Ông đã đi cả quãng đường xa như vậy chỉ để đưa một tin nhắn à? - Nàng nói với vẻ không tin.
- Đúng vậy.
- Và Cody là bạn của ông? - Namtaan hỏi.
- Đã lâu lắm rồi. Nhưng những tình bạn xưa khó mà chết lắm.
Anh ngừng lại và nàng tiếp tục nhìn sâu vào mắt anh.
- Và nếu Cody là kẻ giết trẻ sơ sinh, thì ông sẽ làm gì lúc ấy? - Nàng hỏi.
Đó là câu hỏi đã dày vò Hatcher từ khi anh nói chuyện lần cuối với Sloan, một quyết định mà anh muốn tránh. Giờ đây anh phải quyết định nó.
- Tôi không đến đây để phán xét Murph Cody, - Hatcher nói. - Tôi thú nhận là cái ý nghĩ tôi có thể phái giết Cody đã dày vò đầu óc tôi nhiều trong mấy ngày gần đây. Nhưng bất kể Cody đã làm gì, tôi nhất quyết từ chối không làm quan tòa, thẩm phán và kẻ hành hình. Tôi đã chán ngấy cái chuyện chém giết rồi. Một kẻ khác có thể làm cái công việc nhơ nhuốc ấy thay cho tôi từ nay trở đi. Tôi đến đây chỉ để nhắn một tin, chấm hết, và đó là mục đích chuyến đi của tôi.
Trong cảnh ảm đạm của gian phòng tối, những người lính đều im lặng. Không có gì phải nghi ngờ về những lời nói chân thành của Hatcher.
Cuối cùng Namtan hỏi:
- Thế ai nhắn tin đó?
- Đó là chuyện giữa Cody và tôi.
- Có nhiều cách để chúng ta có thể tìm ra, - Earp nói.
- Nhưng không phải từ tôi, - Hatcher càu nhàu.
Eddie Riker cười khúc khích về lời lưu ý này, nói:
- Đồ chó đẻ, tôi đang bắt đầu tin vào điều hắn nói đây.
Namtaan hỏi:
- Ông thấy có trách nhiệm đối với Cody phải không?
- Tin nhắn có tính chất rất cá nhân. Tôi sẽ trao tận tay cho Cody nếu không thì thôi.
Thình lình anh quay về phía lão già ngồi trong góc phòng, nheo mắt lại và nhìn chăm chú vào lão qua bóng tối. Lần chót mà Hatcher nhìn thấy lão là lúc lão bỏ chạy vào một con đường hẹp ở Bangkok sau khi giết Wol Pot. Hatcher nghĩ bụng “lão già này đã giết Wol Pot và đã chĩa súng vào mình, định bắn rồi lại đổi ý bỏ đi. Từ đó đến nay mình vẫn tự hỏi tại sao lão lại không bắn”.
- Và ông đã quyết định cái gì? - Johnny Prophett hỏi.
- À, nào, - Hatcher nói nhỏ, nhìn vào lão già trong góc phòng tối, - không có ai trong các ông lại đi mướn một người lạ để làm cái việc ghê gớm của các ông. Dầu vì lí do gì mà các ông phải giết Wol Pot (tôi có thể còn suy nghĩ về những lí do này) thì một người trong số các ông phải thực hiện vố này. Giao việc này cho một lão già, đó không phải là kiểu làm của các ông.
- Nhận xét rất tinh khôn. - Earp nói.
- Vậy thì câu trả lời là lão ta không phải là một ông già. Lão ta chính là một người trong số các ông.
Anh quay lại lão già, nói nhỏ nhẹ:
- Đúng không, Polo?
Người Tàu lưng còng nhìn chăm chăm vào Hatcher xuyên qua gian phòng. Rồi lão ta bắt đầu cười to. Lão đứng dậy, thẳng người lên, cao hơn trước đến gần chục phân. Lão ta ì ạch đi qua phòng đến chỗ Hatcher.
- Nào, tôi chắc tôi đã già như quỉ rồi. Tôi đã không được nghe đến cái biệt danh đó kể từ khi rời học viện đến giờ. Hatcher ạ! - Murph Cody nói.
Hatcher đột nhiên cảm thấy hào hứng lạ thường. Cho đến lúc này anh vẫn không tin rằng Cody thật sự còn sống. Giờ đây, nhìn người bạn cũ anh cảm thấy hân hoan và vui mừng.
Namtaam mở những cánh cửa chớp ra, ánh sáng mặt trời tràn vào phòng, soi đến cả những góc tối tăm nhất.
- Chúa ôi, Polo, tôi sung sướng thấy cậu còn sống, - Hatcher nói.
- Tôi không nghĩ là cậu cứng cựa đến thế, - Cody nói.
- Tôi đã không nhận ra được cậu với mái tóc trắng. - Hatcher mỉm cười nói nhẹ nhàng, cố phá tan sự căng thẳng.
- Một phần của màn kịch đấy. - Cody nói. - Vợ tôi rất giỏi tô son điểm phấn và hóa trang. Tóc thật của tôi chỉ có một tí còn giữ được màu.
- Chân cậu làm sao đấy?
- Bị gãy khi tôi nhảy ra khỏi máy bay. Còn nhà tù của cậu thế nào?
- Tôi đã ăn no báng súng.
- Những câu chuyện đơn giản trở thành kì lạ biết bao sau một thời gian, - Cody nói, - Với thời gian, câu chuyện dài một tiếng đồng hồ rút lại chỉ thành một câu.
Anh ta có vẻ cao hơn, Hatcher nghĩ, và gầy hơn. Bất kể là Murph Cody đã gặp những hoàn cảnh tồi tệ như thế nào, những năm tháng đó đã để lại những hậu quả nặng nề, dù rằng bộ râu bạc và những nếp nhăn tuổi tác do hoá trang có che giấu đi một phần sự thật.
- Này, - Hatcher nói, - Nếu cậu thấy có thể tin vào tôi, thì tôi muốn có vài phút nói chuyện riêng với cậu.
Cody suy nghĩ một lát rồi quay lại phía những người lính nói:
- Được. Xin để cho chúng tôi ngồi riêng với nhau một lát. Namtaan, em ở lại đây.
Những người lính theo nhau ra khỏi phòng.
- Tôi đã nghĩ rất nhiều về cậu trong nhiều năm, - Cody nói, - dựa vào ngưỡng cửa sổ nhìn ra những cánh đồng rồi cười vui vẻ - Chúng ta đã cùng nhau sống những ngày tốt đẹp, phải không?
- Đúng là như thế, - Hatcher nói.
- Cậu còn nhớ cái đêm giao thừa không? Chúng ta đã đi New York, cả hai chúng ta cuối cùng đã ngủ cùng giường với cô gái đó, tên cô ta là gì nhỉ?
Hatcher suy nghĩ một lát mới nhớ ra:
- Linda.
- Ừa, Linda.
- Một con người rất tình cảm, Linda.
- Có phải nàng như vậy không. - Cody nói, và quay lại nhìn thẳng vào mặt Hatcher - Cậu biết không, mình có một lỗi lớn với cậu từ lâu mà chưa xin lỗi.
- Cậu chẳng có lỗi gì với mình cả, Polo.
- Tôi đã ăn cơm tối ở Sài Gòn với ba tôi khoảng một tháng trước khi tôi bị hạ. Lần cuối gặp ba tôi, ông nói rằng cậu làm việc chìm cho ông ở miền Nam đã được vài năm. Tôi cảm thấy sung sướng tự hào và nhớ lại những gì tôi đã nói cái đêm ở San Diego. Tôi nghĩ rằng tôi đã ăn nói thiếu suy nghĩ lúc đó. Thật là không đúng, tôi xin lỗi.
- Cám ơn. Điều đó rất có ý nghĩa đối với tôi.
- Cậu là thằng chó đẻ bền bỉ lắm, cậu biết chứ.
- Người ta đã bảo tôi như thế.
- Vậy tin nhắn gì thế, Hatcher? - Cody nghiêm nghị hỏi.
- Tin của cha cậu nhắn.
Cody ngạc nhiên:
- Cha tôi biết tôi còn sống à?
- Đó là điều mà tôi được cử đến đây để xác minh.
- Hãy quên nó đi, - Cody nói. - Hãy để cho kẻ tưởng là đã chết, được chết luôn.
- Không có cách nào lờ việc này đi một cách êm thấm cả. - Hatcher nói. - Cha cậu đang chết dần vì bệnh ung thư.
Cody xúc động mạnh. Anh nhìn vào không gian, răng cắn vào môi dưới, cau mày lại.
- Ôi, Chúa tôi, - Anh ta nói, và đột nhiên vai anh ta xệ xuống, nửa thân người nhũn ra, quờ quạng dựa vào cánh cửa chớp cửa sổ. Những vết sẹo trên mặt anh ta như khắc sâu hơn. Cody thừ người ra đến một phút, hỏi:
- Bao lâu rồi?
- Có lẽ sáu tháng rồi, không biết ông cụ có thật sự may mắn không.
- Trời ơi!... - Cody nghẹn ngào kêu lên. Anh ta cúi đầu mặc cho những giọt nước mắt lăn trên má. Pai đứng cạnh, khoác tay ôm lấy eo Cody.
- Cậu biết không, tôi không bao giờ nghĩ là còn gặp lại cha tôi nữa, tôi cho đó là điều tất nhiên. Tôi không bao giờ nghĩ về... nghĩ rằng một ngày nào đó...
- Ông không quan tâm đến cái gì cậu đã làm hoặc đang làm, - Hatcher nói giọng khàn khàn, - Ông chỉ muốn biết chắc là cậu còn sống và muốn gặp lại cậu một lần chót trước khi chết.
- Trời ơi! - Cody nói. Anh ta lau mặt, và những nếp nhăn tuổi tác do Pai vẽ trên mặt tróc ra trên tay để lại những hằn sâu thực sự về tuổi tác và những năm tháng gian khổ. Cody nhìn ra cửa sổ rất lâu. Cả Pai lẫn Hatcher đều không nói một lời.
Cuối cùng Cody nói:
- Lạ thật, phải không, biết bao điều mà cậu nghĩ là quan trọng thình lình trở nên... vô nghĩa. Suốt cả đời tôi, tôi đã phải phục tùng. Làm con của Buffalo Bill không dễ dàng đâu. Tôi không thể chịu thua bất cứ việc gì... - Anh ta ngừng một lát, rồi lắc đầu nó. - Không, điều đó không hay, tôi không cho phép tôi đầu hàng bất cứ việc gì. Điều này đã ăn sâu vào trong óc tôi. Tôi muốn nói là trong đầu tôi, cá nhân tôi luôn luôn là trên hết ngay từ khi tôi còn là một cậu bé. Không phải là ba tôi đã nói với tôi tất cả mọi điều. Ông không thúc ép tôi, ông không cần phải làm việc đó nhưng ông luôn luôn ở đó, giống như... như một người khổng lồ ở trong rừng mà cậu sợ hãi khi cậu còn là một đứa trẻ. Khi tôi quyết định vào trường Hải quân Annapolis thay vì vào Đội Xung Kích, điều này gần như giết chết ông. Cứt thật, ông đã giận điên lên. Ở đây, tôi chỉ thử làm một việc theo ý mình, nhưng, Chúa ơi, đó lại là một sự lăng mạ ghê gớm đối với ông. Ông đã ra lệnh cho tôi vào Đội Xung Kích miền Tây và khi tôi từ chối, ông đã tìm cách rút giấy triệu tập tôi đến trường Hải quân Annapolis. Nhưng đã muộn mất rồi.
Hatcher nhớ lại cái đêm Cody đã đập phá căn phòng của mình trong cơn say rượu điên cuồng vì anh ta cô đơn trong ngày lễ Giáng Sinh.
- Mẹ kiếp! - Hatcher thì thầm. - Đó là hai mươi nhăm năm về trước.
- Hai mươi hay năm mươi nữa thì có khác gì nhau, ba tôi không bao giờ quên được. Và ông cũng không bao giờ cho phép tôi quên việc ấy. Quyết định vào Hải quân của tôi đã làm vẩn đục tình thân thiết của cha con tôi từ ngày đó. Giờ đây có lẽ vẫn còn như vậy.
 
- Điều đó bây giờ không còn quan trọng nữa. - Hatcher nói.
- Đối với tôi thì vẫn còn. - Cody nói với giọng mơ màng, tiếp tục nhìn ra cửa sổ, lắc đầu, vịn vào Pai.
- Này, Polo, tôi không thể nói cho Sloan biết một điều gì cả, và tôi cũng không biết những động cơ quỉ quái của Porter là gì. - Hatcher nói. - Cha cậu không lưu ý một tí nào đến những việc đã xảy ra và việc gì cậu đang làm. Ông đang chờ chết, vì Chúa, ông muốn gặp cậu để vĩnh biệt. Việc của tôi là bố trí cuộc gặp gỡ cho an toàn ở một nơi nào đó, để cha con cậu có thể gặp nhau một lần chót.
- Mỉa mai thay, - Cody nói. - Theo lời Prophett thì hai chiến sĩ ở hai bên sông nhìn nhau, không có cách nào để nói lời vĩnh biệt!
- Ý thơ trừu tượng của gã tôi không hiểu nổi, - Hatcher búng tay đánh tách một cái có vẻ hơi bực dọc.
- Cậu không hiểu à? - Cody nói. - Đối với mọi người thì tất cả chúng tôi đều đã chết. Trong cách nói của Prophett tất cả chúng tôi đều đã sang sông. Chúng tôi không thể trở về nhà vì không có nhà để về. Một vài người trong chúng tôi không thể về nhà dù họ muốn về. Cậu biết về Eddie Riker và Gallagher không?
- Tôi biết cả hai đều bị rắc rối vào lúc họ biến mất. Tôi cho rằng Prophett không thể trở về được vì hắn đã nghiền ma túy không sao chữa chạy được, chỉ nhìn vào mặt hắn là biết ngay thôi. Wonderboy... cậu ta đã biết sống theo hoàn cảnh của cậu ta. Còn cậu, Corkscrew, Potter, Max Early...
- Tất cả đã trốn tránh cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Quỉ thần ơi, cha tôi và ông đô đốc đã xếp đặt lễ kết hôn của chúng tôi như một cặp vua chúa cử hành lễ cưới vì sự phồn vinh của Vương quốc. Thật là giống như sống trong tình trạng bị trói buộc chân tay, vì vợ tôi và tôi rõ ràng chỉ là dân thường thôi. Ở điểm này, ông già đã quá lạm quyền. Vì thế tôi đã tự nguyện gia nhập vào nhóm bay Ngựa Đen.
Pai thanh thản ngắt lời Cody.
- Cuối cùng tất cả đều trút lên đầu Cody. Anh ấy đã tự nguyện tham gia vào nhóm bay Ngựa Đen, vì thế không ai có thể nói là anh ấy tìm công việc dễ để làm. Những sự mất mát giống như những con rắn trong đầu anh ấy mà tôi có thể nhìn thấy hàng ngày.
- Đó hoàn toàn không phải là tôi, - Cody nói với một chút cay đắng. - Đó là một công tác, một công tác khốn kiếp. Cậu ra đi để làm cái gì cậu phải làm, bất chấp cái giá mình phải trả. Nhưng rồi cậu bắt đầu tự hỏi, quỉ thần ơi, cái công tác này đúng hay sai? Có lẽ cậu không hiểu điều đó đâu, Hatcher.
- Hiểu nhiều hơn là cậu tưởng. - Hatcher nói.
- Cái mỉa mai cuối cùng là tôi đã trở thành một trong những kẻ thất bại. Sáng hôm đó tôi nhận được một bức thư gửi cho John Rossiter, tay xạ thủ của tôi. Nhưng tôi đã quên giao lại cho hắn. Tôi không bao giờ mang theo thẻ căn cước, cứt, tôi biết rằng nếu tôi bị rơi và họ biết tôi là ai, cha tôi là ai, thì ta sẽ thua thiệt nhiều. Vậy nên tất cả những gì mà tôi có là bức thư đó. Rossiter đã bị lửa đốt cháy và cánh rừng rậm cháy rực ở đằng sau tôi. Tôi thấy một chiếc trực thăng bay đến và tôi nghĩ, ôi, Chúa ơi, tôi sắp thoát khỏi nơi đây. Kế đó, thình lình nó bay vòng lại và... chuồn mất. Rồi những viên đạn bắt đầu bắn rào rào xung quanh tôi, đợt bắn chấm dứt. Tôi vội quăng cái thẻ số đi. Điều tiếp theo tôi biết là tôi đã giơ tay lên và trong khi họ soát người tôi để tìm vũ khí họ đã phát hiện ra bức thư đó, thế là đột nhiên tôi trở thành John Rossiter.
Eddie Riker là người đầu tiên nhận ra tôi. Nhưng anh ta lặng thinh, tất cả bọn họ đều quyết định làm thinh.
Không biết chắc rằng Cody còn sống hay đã chết, Pai đã đi tìm kiếm anh ta. Nàng chỉ biết đi về hướng Tây Bắc và cứ hướng Tây Bắc mà đi. Ở Việt Nam nàng là người Việt Nam. Ở Cambodia nàng là người Cambodia. Ở Lào nàng trở thành người Lào. Đến bất cứ nơi nào nàng đều mỉm cười, nói chuyện và lắng nghe.
Nàng làm việc để có lương ăn rồi lại tiếp tục đi. Nàng lội qua những cánh đồng lúa, lẩn tránh bọn Khmer đỏ, ngủ trên cây để tránh thú dữ và suýt chết hai lần vì bệnh sốt.
Nàng cứ đi mãi rồi cũng tìm thấy những vết tích của trại giam, những cái hầm đào trong đất, những mảnh cửa trại giam bằng nứa đã bị hư hỏng vì dây leo mọc, vì các động vật phá hủy. Nàng tiếp tục đi, vừa được động viên lại vừa nản lòng, cùng một lúc.
Rồi một hôm nàng nghe thấy những tiếng nói, những lời bốp chát không thể lầm được của lính Mỹ.
- Ôi, Cody! - Nàng thì thầm qua làn nước mắt. - Cuối cùng em đã tìm được anh.
- Ôi Cody, cuối cùng em đã tim được anh. - Cody nhắc lại những lời nói của nàng. - Chúa ơi, anh không thể nào nói cho em biết lúc ấy anh có cảm giác ra sao.
Anh ta ngưng lại, nghẹn ngào rồi nói:
- Chúng tôi còn sống, hầu hết tất cả chúng tôi còn sống. Jaimie Solomon bị bệnh ung thư gặm nhấm. Nó đã trở về Mỹ. Joe Binder chết trong trạm trước khi Pai tìm ra chúng tôi.
- Jaimie Solomon à? - Hatcher nói và nhớ tới mẩu giấy ghi để lại trên bức tường kỉ niệm.
Pai nhìn xuống chân Hatcher nói:
- Tôi đã quyến rũ Wol Pot, tôi đi xuống vùng hạ lưu sông mua về cho hắn rượu, thuốc lá, kế đó tôi mang về cho hắn bạch phiến Trung Quốc.
- Đó là ý của tôi, - Cody nói. - Một khi hắn đã nghiền thì hắn sẽ làm bất cứ điều gì để đã cơn nghiền.
Pai nói:
- Trước hết cho hắn ngửi đã, kế đó là chích vào người.
- Và thế là chúng tôi đã nắm được thằng chó đẻ thông thuộc đường đi nước bước ấy, - Cody nói.
Earp xuất hiện ở ngưỡng cửa và đang cầm li bia, nói:
- Mọi việc đều tốt đẹp chớ?
- Mời vào đi - Cody trả lời.
Earp đi vào gian phòng nhỏ và dựa vào vách tường. Hatcher nói với Cody:
- Jaimie để lại cho anh một mẩu thư nhỏ.
- Một mẩu thư nhỏ à? Ở đâu?
- Ở trên bức tường của đài kỉ niệm Việt Nam ở Washington. Ông ta nhờ anh chuyển lời cám ơn tới Thai Horse. Bây giờ tôi mới hiểu ông ta muốn nói gì. Ông ta nói về Thai Horse người đã đưa những chiến binh bại trận về đất Thái.
- Đúng thế. Chính Pai đã dẫn chúng tôi về Bangkok, - Cody nói. - Vì thế mà Jaimie gọi nàng là Thai Horse. Chúng tôi có lẽ đã giết Wol Pot nếu có dịp, nhưng hắn quá tinh ranh, hắn đã đánh cắp một chiếc thuyền ra đi, cắt đứt quan hệ với chúng tôi.
- Và cậu đã đóng đô ở đây ngay tại Bangkok à? - Hatcher hỏi Cody.
- Đúng thế. Trong những năm tôi là tù binh, nhiều việc đã xảy ra, những việc không bao giờ có thể được giải thích một cách thỏa đáng. - Cody ngừng lại thở ra, rồi nói tiếp. - Cuối cùng khi chúng tôi đã trốn sang Thái Lan vào cuối năm 1976, tôi mới biết rằng người ta đã chính thức báo tử cho tôi. Tiền tử tuất đã được trả, vợ tôi đã đi lấy chồng khác. Những đứa con tôi đã có một người cha mới. Còn tôi? Tôi đã có Pai và có dịp để làm lại tất cả. Có gì nữa để mà trở về, Hatcher? Tôi quyết định chịu làm người đã chết. Khi chúng tôi ra đi lần đầu tiên, tôi thường mơ tưởng lén trở về để được nhìn thấy những đứa con tôi. Chúng nó mới một và hai tuổi khi tôi ra đi thì nay trong đầu tôi chúng vẫn mới một và hai tuổi. Mặc dù hiện giờ chúng đã học trung học.
Thôi, nói quá nhiều những chuyện mơ mộng viển vông rồi, quỉ thần ơi, thậm chí đến hộ chiếu tôi cũng không có nữa.
- Còn những người khác thế nào? - Hatcher hổi.
- Ừ, chúng tôi có Gallagher, y đang phải xem xét đến việc ở tù từ năm đến mười năm vì tội đánh cắp lớn, còn Eddie Riker sẽ phải ra tòa án quân sự vì tội đánh sĩ quan. Cậu biết vấn đề của Johnny Prophett rồi. Hắn và Melinda ở lại đây vì thuốc phiện ở đây không đắt và dễ kiếm. Trong khi đó thì Wilkie và Earp bắt đầu mở quán Longhorn. Còn khu Tombstone chỉ là sự mở rộng của nó thôi.
- Những người còn lại thì sao? Corkscrew, Potter, Mac Early?
Earp nói:
- Trong khi chúng tôi lẩn tránh, Early gọi điện thoại về nhà ở Utah. Điện thoại đã bị cắt, nhà đã bán, vợ và hai con anh ta đã bỏ đi lâu rồi. Vậy anh ta còn về với ma nào nữa? Còn Corkscrew tên ma cô trước đây ở Detroit. Bangkok là thiên đàng nếu so sánh với nơi ấy. Ngoài ra, về mặt gia đình hắn chỉ có mỗi một thằng em thì đã bị chết trên rặng núi ấy. Còn Potter? Cậu ta lựa chọn gì..., một nông trại hỗn tạp ở Arkansas và một người vợ đã phục vụ mọi người ở tiểu bang đó trong khi cậu ta đi vắng ư? Điều mỉa mai là tất cả chúng tôi đều bị dính vào chuyện tù tội trong những năm đó. Corkscrew và Early không thể tiết lộ những điều đã xảy ra cho bọn họ mà không gây nguy hại cho Cody, Eddie Riker và Gallagher, vì thế tất cả bọn họ đều chấp nhận là đã chết.
Cody lưu ý thêm:
- Đó là những chàng trai ở bên kia bờ sông như Prophett đã nói.
- Vậy việc gì đã xảy ra? Taisung đã trở lại hoạt động như thế nào?
- Chúng tôi đã bị lừa. Kilhanney, Kilhanney... Đó là lúc mọi điều rắc rối bắt đầu.
Pai nói:
- Taisung nỗ lực mua chuộc chúng tôi, Hatcher ạ! Hắn muốn biến chúng tôi thành món hàng của hắn.
- Hăm dọa để tống tiền hả? - Hatcher hỏi.
- Một việc tồi tệ nhất, - Cody nói. - Hắn dọa sẽ đưa tôi, Gallagher, Eddie Riker và Kilhanney ra ánh sáng nếu chúng tôi không chịu làm cho hắn. Hắn đang làm việc cho Fong, đi tuyển người chuyên chở thuốc phiện. Và Kilhanney là người dễ bị đánh đổ nhất.
- Kilhanney là ai? - Hatcher hỏi.
Cody đáp:
- Thật sự là một bi kịch. Kilhanney là một thầy tu Thiên Chúa Giáo... Người ta nói thế nào nhỉ... đã bị mất ơn Chúa. Ở một nơi nào đó giữa Sài Gòn và Bangkok, ông ta đã bỏ đạo của mình. Ông đang làm lễ cho vài lính Mỹ thì vị trí đó bị tấn công. Trong trại lính này ông ta đã mất hẳn cái lòng tin mong manh mà ông đã buông lơi. Khi chúng tôi đến đây, ông đã say mê vợ một nhà hoạt động chính trị của Thái. Cậu nghĩ rằng chúng mình bị siết cứng rồi hả? Ông ta mới thật sự bị siết cứng. Ông ta không thể nhìn mặt mọi người được và tội lỗi dày vò ông ta. Dĩ nhiên là như thế, ông ta là người dễ bị đánh bại nhất và là người đầu tiên Taisung ve vãn.
- Điều gì đã xảy ra cho ông ta?
- Người ta chỉ yêu cầu Kilhanney đi máy bay xuống Hat Yai và dùng xe tải chở đám phụ nữ địu con đến biên giới Malaysia. Ông ta không biết là những đứa trẻ con họ địu đều đã chết và được nhồi đầy thuốc phiện vào bụng. Khi lính biên phòng phát hiện ra điều đó thì Kilhanney hoảng sợ và chạy về đây với Max. Hai ngày sau đó ông ta đi xe bus đến bãi biển Phu Khat, bơi ra khơi và không trở lại nữa. Khoảng một tuần sau xác ông bập bềnh dạt vào bờ.
- Đó là lúc chúng tôi làm sống lại Thai Horse, - Earp nói.
- Chúng tôi đã giao dịch thỏa thuận buôn lậu hai mươi ki lô bạch phiến đem đi Amsterdam, và khi người liên lạc giao món hàng này, tôi đã giết hắn và đổ hai mươi ki lô ấy xuống sông Chao Phraya. Rồi tôi gửi điện về cho Tollie Fong và Wol Pot nói rằng Thai Horse đã lấy mất. Tôi không thể nào làm việc ấy với tư cách là Murph Cody. Tôi cũng không thể làm việc ấy với tư cách một người Mỹ. Vậy thì... tôi phải trở thành một người Thái, Pai phải trở thành một người Thái. Tôi đã cưới một người Thái, đã giết người với cương vị một người Thái, đối với mọi người, tôi là một người Thái. Murph Cody không còn nữa.
- Và chúng tôi phao tin đồn trên đường phố qua Sy rằng Thai Horse là hoạt động của Taisung. - Earp nói.
- Làm một công đôi việc, - Cody nói. - Fong mất mắt và quy tội vào Taisung. Chúng tôi có cái lợi là Taisung không bao giờ nói cho Fong biết chúng tôi là ai.
- Toàn bộ công việc đều được trao đổi qua điện thoại - Earp nói - Cái thằng cha nhỏ con gớm ghiếc đó không bao giờ chường mặt ra.
- Hắn đang theo dõi các ông mà, - Hatcher nói. - Cho đến ngày mà Windy Porter bị giết. Các ông có đứng đằng sau vụ đó không?
Cody lắc đầu nói:
- Tollie Fong.
Im lặng bao trùm căn phòng một lúc lâu. Cody duờng như không muốn nói nữa. Hatcher phá tan sự im lặng.
- Tôi có thể đoán điều gì đã xảy ra sau đó. Fong nghĩ rằng Wol Pot đã phản bội gã, vì thế thằng con hoang ấy buộc phải đi khỏi xứ này. Đó là lúc nó huýt còi đánh động về chuyện Murph.
- Và Sloan đà phái cậu đến tìm tôi, - Cody nói.
- Này, hãy quên Sloan đi, - Hatcher nói. - Hắn đứng ngoài việc này. Hắn đã mang xác Porter về Mỹ rồi.
- Đoán sai rồi, ông lính ơi, - Earp nói. - Sloan hiện đang ở Bangkok. Tại một nơi gọi là House of Dreams ở khu Phố Tàu.
- Thật là đồ đểu, - Hatcher nói.
- Hắn là trùm thuốc phiện, - Cody nói. - House of Dreams là kho chứa thuốc phiện. Chúng tôi đã theo dõi hắn từ khi có sự tiếp súc của Wol Pot. Đôi khi hắn đến đó nhiều ngày liền.
- Sloan!
- Ông muốn xem nơi đó không? - Earp nói. - Đó là một chiếc thuyền mành Tàu được dùng để vận chuyển sản phẩm vào thành phố.
Một thuyền mành Tàu, Hatcher suy nghĩ, nhớ lại địa chỉ trong hộ chiếu của Wol Pot, mà tìm đến chỉ thấy là một bến tàu trống không. Và nghề nghiệp của hắn: buôn bán sản phẩm.
- Tôi cảm kích lòng trung thành của anh. - Cody nó.
- Nhưng Sloan là một tên nghiện ma túy không hơn kém gì Johnny Prophett.
- Và ông hãy đoán xem ai là chủ chiếc thuyền mành ấy? - Earp nói.
- Tollie Fong, - Hatcher nói.
- Đúng.
- Vậy ông nghĩ là Fong đang tống tiền Sloan à? - Hatcher nói.
- Có ý nghĩa đấy. Chúng tôi đã nhìn thấy hắn đến đó sáu lần. Và chúng tôi đã nhìn thấy hắn từ đó đi ra. Chúng tôi có một mạng lưới tình báo nhỏ khá tốt, Hatcher ạ. Ông nghĩ là đã may mắn đi vào quán Longhorn và tình cờ bắt gặp những người lính này. Nhưng điều may mắn duy nhất trong việc này là ông đã mướn Sy. Cậu ta có nhiệm vụ theo dõi ông đấy.
- Khỏi nói tôi cũng nhận ra cậu ta là một người của các ông.
- Cậu ta kiếm được nhiều tiền nhờ việc dẫn khách du lịch đến quán Longhorn, Cody nói. - Cậu ta cũng là một trong những tay lái xe giỏi nhất ở Bangkok. Cậu ta thường giúp đỡ mọi người.
- Vậy các ông biết tôi ở đâu từng giây từng phút, - Hatcher nói.
- Buông câu để giật cá mà,- Earp nói. - Tình cờ gặp được Wol Pot thực sự là một thành công đấy.
- Vậy ra anh vẫn theo sát tôi hả? - Hatcher nói với Cody.
Cody gật đầu.
- Chúng tôi không biết chắc rằng anh có biết Wol Pot ở đâu hay không. Anh có lẽ đã gặp hắn rồi.
- Tại sao anh lại không giết tôi nữa? - Hatcher hỏi. - Anh đã nghĩ đến điều đó mà.
Cody gật đầu một lần nữa:
- Anh có lí. Tôi không thể nào làm nổi ấy được. Chúng tôi đã quyết định là Max tổ chức buổi đi săn cọp để đưa anh vào rừng và có thể khử anh nếu cần.
- Thế nếu như các ông khẳng định rằng tôi đến đây để giết Murph thì sao! - Hatcher hỏi.
- Thì tất cả chúng tôi sẽ cho ông ăn đạn. - Earp nói một cách dứt khoát.
Hatcher có vẻ băn khoăn, nói:
- Có điều gì không ổn ở đây. Tollie Fong không bao giờ gặp rắc rối trong việc tuyển lựa tay chân trước đây. Tại sao đột nhiên hắn lại đi tin vào một người như Wol Pot chớ?
- Hắn đang vận chuyển nhiều ma túy từ vùng đồi núi đến Bangkok rồi từ đó chuyển đi Mỹ , - Earp nói. - Hắn có ít nhất một ngàn ki lô thuốc phiện tinh khiết 99% hiện giờ được giấu ở ngay Bangkok. Hắn cần phải vận chuyển đi... chuyển nhiều và chuyển nhanh.
- Và chúng tôi biết số thuốc phiện đó được để ở đâu, - Cody nói.
Hatcher chậm chạp lắc đầu:
- Nếu các ông đang nghĩ cái điều mà tôi đoán là các ông đang nghĩ thì hãy quên nó đi. Đó không phải là vấn đề của các ông.
- Nhưng Fong lại nghĩ đến. - Riker nói.
- Hãy quên Tollie Fong đi. - Hatcher nghiêm nghị nói. - Các nhóm Tam Kết sẽ săn đuổi các ông cho đến khi họ giết hết các ông. Hãy dừng lại ngay bây giờ. Hãy để cho Thai Horse biến mất. Fong sẽ không làm việc các ông nữa đâu.
- Thật sự anh cũng chả tin điều đó, - Cody nói.
- Này, anh nói rằng hắn để hết tâm trí vào việc làm ăn lớn. Hắn sẽ không có thời giờ để tìm anh hoặc Thai Horse. Nhưng nếu anh giết hắn, sự việc sẽ không bao giờ chấm dứt được. Tôi đã giết cha Fong từ năm 1976 mà đến nay hắn vẫn còn theo đuổi tôi.
- Tôi hứa là chúng tôi sẽ chộp và khử hắn đi một lần cho xong, - Earp nói, - giải quyết được cả vấn đề của ông và của chúng tôi.
Hatcher lắc đầu:
- Hãy nghe tôi, khi tôi nói tôi có bỏ việc chém giết là tôi đã có ý định rồi. Tôi tiếp tục đi chuyến này vì tôi nghĩ rằng tôi đang làm một việc nhân đạo. Thế mà hầu như mỗi ngày tôi đã phải đấu tranh để khỏi bị giết. Thật là quỉ quái, đừng chém giết thêm nữa. Tôi sẽ rời khỏi Bangkok càng sớm càng tốt.
Anh quay đi và bước ra khỏi nhà. Pai hỏi:
- Anh nghĩ Hatcher nói đúng ư, Cody? Anh cho là Tollie Fong sẽ quên việc này ư?
Earp nói:
- Chắc thế.
Melinda đang ngồi trên ngưỡng cửa thì Hatcher bước ra. Cô ta ngẩng nhìn lên và lần đầu tiên mỉm cười với anh.
- Bây giờ ông hiểu chưa?
- Hiểu gần hết, - Hatcher nói. - Tôi chỉ còn vài điều nhỏ chưa rõ.
- Như cái gì?
- Như cô và Prophett.
- Tôi muốn ông hiểu về Johnny và tôi, có lẽ điều đó sẽ làm rõ cái gì đã ràng buộc chúng tôi với nhau. Không phải là việc sợ bị phát giác đâu.
- Tôi biết đó không phải là sự sợ hãi. Tôi là người hiểu nhanh.
Hatcher nhìn cô ta và nghĩ về tất cả những tình cảm nồng thắm bên trong vẻ đẹp của cô ta. Cô có khả năng đoán được, những nét từng trải quan trọng trên bộ mặt những nạn nhân chiến tranh, những binh lính, kẻ thù, những người ngoài cuộc vô tội mà hình như luôn luôn gặp điều tồi tệ nhất; cô nắm bắt được sự sợ hãi, sự thất vọng, sự cực kì xấu hổ của thanh niên và nỗi tuyệt vọng, niềm kinh sợ, sự đau lòng của những cụ già đứng trước cái chết bẩn thỉu. Và hầu như cô đọc được cả ý nghĩ trong đầu anh, Melinda nói tiếp:
- Johnny đã có một địa vị nào đây. Anh ấy không sợ mất cái gì. Và mơ ước... Chúa ơi, anh ấy có mơ không. Nhưng anh ấy không về chuẩn bị để sang Việt Nam. Việc đó làm anh ấy choáng váng và anh ấy giống như, tôi không biết nữa, một đứa bé trong phòng vệ sinh cần có người nào đó để vịn và giữ nó. Anh ấy thật sự cần tôi. Ban đêm, anh ấy ôm ấp tôi, ghì xiết lấy tôi, nói với tôi là anh ấy yêu tôi biết bao. Tôi bị lôi cuốn vì những vần thơ của anh ấy. Và tôi cũng đoán được những chỗ yếu của anh ấy. Mặt khác anh ấy say mê xứ sở của người da đỏ. Và cũng say mê chích choác ma túy như vậy, khi anh ấy không trở về lần sau cùng ấy, tôi đã đợi và đợi mãi. Tôi biết rằng anh ấy không chết.
- Rồi làm thế nào mà cô tìm ra được anh ấy.
- Nhờ Pai. Một hôm bà ta gọi điện thoại cho tôi. Tôi không biết bà ta và bà ta rất bí mật. “Hãy đến Bangkok”, bà ta chỉ nói có thế. Nhưng tôi biết lí do rồi. Và đi ngay chuyến bay liền đó.
- Một mũi kim nhọn có thể sẽ giết chết anh ấy, cô biết chứ. - Hatcher thì thào nói.
- Lẽ dĩ nhiên. - Cô ta nói. - Tôi luôn luôn biết rằng tôi sẽ sống lâu hơn anh ấy. Mỗi lần anh ấy chích tôi đều nghĩ rằng đó là lần cuối trong đời anh ấy. Anh ấy đến với tôi, choàng tay ôm lấy tôi và tôi có thể cảm thấy sự yếu đuối và thất bại trong cơ thể anh ấy. Đó là lúc tôi chỉ cầu nguyện để có anh ấy được thêm một ngày nữa, trước khi mũi kim chích đem anh đi luôn. Tôi không thể hình dung được cái gì sắp xảy ra. Sự cô đơn vì không còn anh ấy nữa. Fong sẽ giết Murph, Hatcher ạ, giống như nó đã định giết Wol Pot. Vì vậy chúng tôi phải diệt Tollie Fong trước.
- Tôi không còn dính líu gì với việc ấy cả. Hãy làm điều gì mà cô muốn. Tôi đã làm xong phận sự của tôi và tôi sắp về nước - Hatcher nói - Hãy để mặc Tollie Fong. Cô chọc nó, nó sẽ giống như con bò rừng tức giận. Cứ để mặc hắn và mọi việc đều sẽ ổn. Hãy tin tôi, tôi biết con người đó mà.
- Còn về Sloan thì sao?
- Tôi phải gặp hắn một lần nữa... Giữa chúng tôi có những điều cần phải kết thúc.
- Và ông sẽ nói gì với hắn về Murph Cody?
Hatcher ngắm người đàn ông cao có cặp mắt buồn, đã từng là bạn chơi quyền Anh của mình đang nhìn Wonderboy qua chiếc sân, Wonderboy đang chơi đàn guitar và hát êm ái cho những vũ nữ người Thái múa, anh lại nhìn Pai, người đã đổi cả tuổi trẻ, quốc tịch, thậm chí cả linh hồn mình cho người nàng yêu.
- Tôi sẽ kể cho hắn nghe sự thật, - Hatcher nói. - Tôi sẽ nói với hắn là Murph Cody đã chết.
 
0

CUỐN BĂNG GHI ÂM

 
Khi Hatcher về đến khách sạn thì mặt trời đã sắp lặn. Hatcher mệt lử và chán nản nên đầu tiên không để ý đến cái máy ghi âm nằm trên bàn cạnh giường. Anh cởi bỏ quần áo dơ bẩn ra, đi tắm hoa sen rồi trở ra với cái khăn bông quấn chung quanh thắt lưng và đi nằm, suy nghĩ về Murph Cody và đám lính - một nhóm người đủ loại được gắn bó với nhau bởi tình thương và nhu cầu bảo vệ lẫn nhau. Rồi đột nhiên anh nhớ đến hòn đảo Ginia và bạn bè của anh, những người không đòi hỏi điều gì của nhau ngoài lòng tin và tình bạn. Cũng như những người lính ở quán Longhorn này. Anh thừa nhận rằng Ginia đã mang lại cho đời anh nhiều hạnh phúc và tình cảm hơn mọi điều anh đã có kể từ khi ở Annapolis.
Anh lại nghĩ về những người lính. Họ sắp hạ Tollie Fong, anh tin chắc là như thế, và họ liều lĩnh để làm bằng được việc ấy. Rồi anh nghĩ về Fong, về vụ ám sát Campon, về vụ bom nổ ở Paris, về cái chết của Hyena. Cảnh sát cho là hắn bị người của hắn giết chết, nhưng Hatcher đã biết tính của Hyena - hắn luôn luôn làm việc một mình. Từng mảnh sự việc bắt đầu ráp nối lại trong đầu anh.
Kế đó anh để ý đến cái máy ghi âm nhỏ bằng bàn tay. Anh nhìn nó tự hỏi không biết nó từ đâu đến rồi giở tay ra nhặt nó lên.
Nằm ngửa ra, anh bật nhẹ nút chạy băng. Một giọng nói cất lên làm anh lạnh buốt. “Hatcher, tao có phải nói với mày đây là ai không, hay mày đã nhận ra tiếng nói của tao rồi? Có lẽ để giúp mày một chút, tao khơi lại kí ức của mày. Singapore có nói lên cái gì không? Hatcher, chắc là có, đó là nơi mày đã giết cha tao. Còn những dòng sông, nơi mày đã giết những người lính trung thành nhất của cha tao. Và ngôi nhà của Cohen người Mỹ gốc Do Thái vẫn tự xưng là Cohen Tàu, nơi mày còn giết chết thêm nhiều người của tao nữa. Tao có cần phải xưng tên ra cho mày không? Không, tao nghĩ là không cần.
Tao chắc rằng mày biết tao đã hứa với thủ lãnh của tao là để sang một bên lời thề Chiu Chao nhưng tao nguyền là chống lại mày. Tao sẽ thực hiện đúng lời nguyền ấy, vì mày đã làm mất danh dự gia đình tao, làm chúng tao đổ máu.
Lời hứa của tao có tính đến cả Cohen, nhưng không bao gồm tất cả những người bạn của mày, Hatcher ạ!
Hãy lắng nghe một chút, đây là một giọng nói khác để mày nhận xét”.
Im lặng trên băng kéo dài ba mươi đến bốn mươi giây. Kế đó Hatcher nghe thấy trong băng có tiếng người từ ngoài đi vào phòng. Rồi một giọng phụ nữ nói lúng húng khi cánh cửa mở ra.
Kế đó nàng kêu thét lên.
Đó là tiếng thét vì sửng sốt và sợ hãi, tiếp theo hầu như tức thì là tiếng kêu của một người nào đó bị một đòn nặng... Một tiếng rên rỉ? Khó mà nhận ra là cái gì. Một lát sau có tiếng thở nặng nề, tiếng bước chân trên các bậc thang, rồi giọng Fong lại cất lên.
- Thêm một vài phút nữa, Hatcher. Tao phải dùng một chút sức mạnh để khuất phục bạn mày. - Cái máy ngưng phát một lát, kế đó là một tiếng la thất thanh, một giọng phụ nữ tức giận và căm hờn: “Đồ vô lại, đồ chó má tàn bạo. buông tao ra...”
Daphne.
Anh ngồi bật dậy trên giường. Tim anh đập dồn dập. Anh không thể tin vào cái gì anh đang nghe thấy, anh không còn muốn nghe nó nữa. Anh tắt máy và cầm nó trong bàn tay run rẩy. Trước khi cuộn băng quay tiếp anh biết rằng Daphne đã chết. Anh biết điều ấy bởi vì Fong sẽ không để lại cuộn băng này cho anh nghe, nếu nàng còn sống. Anh không thể tưởng tượng được cuộn băng sẽ còn mửa ra nhừng lời kinh khủng đến thế nào, tuy nhiên anh ngập ngừng rồi lại bấm cho nó chạy.
Chiếc quạt máy quay trên đầu cứ nhấn mạnh từng nhịp. Bên ngoài, mặt trời đã lặn xuống những tháp nhọn và vòm mái tròn của những đền chùa trong thành phố. Bóng tối lặng lẽ lan dần vào phòng, trùm lên các góc phòng, các đồ vật, trong khi Hatcher vẫn còn ngồi im với chiếc máy ghi âm ghê sợ trong tay. Cuối cùng anh lại cho máy quay và lắng nghe tiếng nàng kêu thét vì giận dữ và bị xúc phạm trắng trợn, lắng nghe cuộc vật lộn, những đồ vật đổ bể, và sau cùng một tiếng đập mạnh rồi một tiếng rên rỉ và một hơi thở ra.
Rồi lại tiếng nói của Fong gần như hết hơi:
- Nó là một con cọp cái, Hatcher. Móng tay nó sắc như lưỡi kéo. Tao lại phải đẩy nó ra xa, nhưng chỉ được vài phút. Nó lại xán đến.
Có một tiếng cười nhẹ khoái trá tục tĩu: “Tao tin rằng tao đã đập vỡ quai hàm nó rồi, Hatcher”.
Có tiếng động hối hả, tiếng động của sự hành động trong phòng và lại giọng nói của Fong cất lên, lần này ở xa máy ghi âm hơn: “Tao đang trói nó vào giường của nó, Hatcher. Trói tay nó lên đầu…, đó! Bây giờ đến chân. Hừ, cô nàng đã bị trói ở trên giường như một minh tinh, dang tay chân ra cho tao đó, Hatcher”.
Daphne rên rỉ. Giọng nàng yếu ớt đáng thương, lúc đầu ngượng ngập bối rối, rồi rên to hơn, có những lời xỉ vả nữa, kế đó là tiếng áo quần bị xé rách một cách dữ dội, táo bạo và tiếp theo là tiếng cười giòn giã lạc giọng đi của Fong.
- Buông tao ra, đồ con heo. Mày là đồ vô lại.
Kế đó, nàng thét lên, lần này là một tiếng thét đau đớn, tiếp theo là tiếng thổn thức sâu trong cổ họng nàng.
- Cái này để cho Hatcher - Giọng Fong rít lên - Mày hiểu chứ, đồ chó cái.
Tiếng thét của nàng bị xé rách màng loa nhỏ, làm nó biến dạng đi: “ Hatcher.,.!”
- Tao sắp phải bịt miệng nó, Hatcher. Mày sẽ phải phó mặc nó cho tao từ giờ trở đi. Tao sẽ kể cho mày nghe tất cả mọi điều đang xảy ra. Tao hứa với mày tao sẽ không để sót một chi tiết nào...
Hatcher tắt máy đi một lần nữa. Những giọt mồ hôi lấp lánh thình lình đọng trên trán anh và từ từ chảy xuống một bên mặt khi anh quay nhìn chằm chằm vào chiếc máy nhỏ. Răng anh cắn chặt đến nỗi đau cả quai hàm.
Anh tự ép mình vặn lại máy để nghe Fong tả từng chi tiết mỗi hành động ghê tởm, tàn bạo, làm đau đớn, để nghe giọng Daphne ngày càng yếu đi, đáng thương hơn, sợ hãi hơn trước mỗi động tác hung ác, và anh chết lặng đi vì sự ác dâm của Fong, vì sự thiếu hẳn tính người và lòng trắc ẩn ở gã, về sự giận dữ ghê gớm đã làm Fong trở nên tàn bạo, hãm hiếp nàng.
Cuối cùng anh gục đầu xuống giường, đấm tay xuống nệm và cơn giận của anh trào ra thành những tiếng kêu bị nghẹn lại.
Tiếng nói của Fong tiếp tục, giọng độc ác bắt chước y hệt tiếng nói của Hatcher: “Em có cảm thấy nó không, em thân yêu. Em có cảm thấy mũi dao nhọn dí vào cổ họng em không, hả?” Chỉ có tiếng rên rỉ đau đớn của Daphne đáp lại.
- Mày biết cách đâm, Hatcher. Đặt mũi dao vào chỗ hõm của cổ họng hướng về phía trái tim...
- Chúa ơi, không! - Hatcher thét lên qua hàm răng cắn chặt.
- Rồi thọc xuống...
Tiếng la quằn quại của nàng bị nghẹn lại vì hắn đã dùng một cái gì đó bịt miệng lại.
- Mạnh và thẳng...
Hatcher nghe tiếng kêu yếu ớt của nàng.
- Thẳng vào trong tim. Hấp!
Tiếng hớp vội không khí của nàng. Rồi tiếng ồng ộc của máu và không khí trong cổ họng nàng phì ra. Im lặng.
- Xong rồi, Hatcher. - Tiếng nói của Fong thì thầm trong máy. - Bạn mày chết rồi. Và nhiều đứa bạn khác nữa của mày sẽ chết, thằng ngoại quốc chó má kia. Còn lâu mới hết.
Hatcher ngồi lặng hơn một tiếng đồng hồ, nhìn vào bóng tối ngày một sẫm hơn, nắm chặt chiếc máy ghi âm trong tay, cơn tức giận dào dạt trong ngực anh như những đợt sóng biển, những kí ức về Daphne trỗi dậy trong lòng anh. Anh tự hỏi: giá anh đoán được sự việc này sẽ xảy ra? Liệu anh có thể chặn nó lại không? Có lúc anh đã nghĩ rằng có thể đó chỉ là một trò đùa tàn nhẫn, một màn kịch tai ác chỉ diễn cho anh thôi.
Cuối cùng anh gọi điện thoại cho Cohen. Phải mất ba lần mới gọi được, anh nghe thấy cái giọng Boston quen thuộc
- Cohen Tàu hả?
- Chào bạn.
- Tôi gọi cho anh về chuyện cô Daphne...
- Tôi có thể nói gì với anh. Tôi có cảm giác là chính thằng chó đẻ đó. Lẽ ra tôi có thể bảo vệ cô ta...
- Thật vậy hả?
- Làm sao anh phát hiện ra?
Miệng Hatcher khô đi một lát. Anh uống một ngụm nước rồi nói:
- Hắn để lại một cuộn băng... tả rõ mọi.. mọi…
- Chúa ơi. Hãy nghe đây, Hatcher. Tôi đã nói chuyện với tay cựu thủ lãnh rồi. Tôi đã nói với hắn Fong là điều sỉ nhục và hổ thẹn cho nhóm Chiu Chao, nó là một tên sát hại phụ nữ, hãm hiếp đàn bà, cứt, anh có lẽ không tin điều tôi nói. Tôi đã nói với nó nếu bất kì, bất kì một thành viên nào của nhóm Chiu Chao đặt chân đến Hong Kong thì kẻ đó sẽ chết. Thằng Fong đã làm nhục tất cả bọn chúng, Hatcher, cả lũ chết tiệt đó...
- Cohen Tàu này?
- Ừ, gì thế?
- Tôi không thể nói được gì nữa bây giờ, Cohen Tàu ạ. Anh đồng ý chứ?
- Vâng, tôi đồng ý. Tôi cũng không thể nói thêm gì được nữa. Anh nên giữ mình, Hatcher. Nó là một con quỉ đấy.
- Tôi biết điều đó, tạm biệt.
- Nghe đây, bạn, tôi sẽ đến đó, đem theo vài thủ hạ giỏi nhất của tôi. Có thể sáng sẽ đến đó và...
- Này, Cohen Tàu?
- Gì đấy?
- Ở nhà đi. Gặp lại sau, đồng ý chứ?
Hatcher nhẹ nhàng gác máy điện thoại. Hatcher khó mà thừa nhận một sự thật là, đã nhiều năm qua anh giết người không vì thù hận, không vì ác ý, anh bị bó buộc và lôi kéo tới mức mà gây ra cái chết đối với anh cũng dễ dàng như đi vào cửa hàng tạp hóa hay đi bỏ phiếu. Nếu cuộc hành trình bắt đầu từ nhà tù Los Boxes và kết thúc ở cuộc săn cọp trên đất Thái Lan không đem lại kết quả gì cho Hatcher thì nó đã bắt anh phải suy nghĩ về những chỗ đen tối trong tâm hồn anh, những chỗ mà anh đã phớt đi không để ý tiến trong nhiều năm qua. Anh đã học được từ Melinda và nhừng người lính về tình bạn bè, lòng tin cậy và tình yêu; từ Cirillo và Ginia, từ Daphne và Cohen Tàu về ý nghĩa của tình bạn.
Và anh đã biết được ý nghĩa thực sự của lòng căm thù từ Tollie Fong.
Hatcher biết rằng anh không bao giờ có thể soi sáng vào một vài chỗ đen tối đã trở thành một phần của bản chất mình. Anh có thế gạt bỏ lòng căm thù đang cuồn cuộn trong tâm can anh như một con rắn độc, nếu anh biết rằng sự xúc phạm Daphne của Fong không có liên quan gì với bọn Chiu Chao, với Cohen Tàu với Harry Sloan hay với Cody, việc đó chỉ là giữa anh và Tollie Fong thôi. Hatcher đã gây ra việc ấy và Fong đã trả đũa với lòng căm thù của hắn. Nhưng Hatcher biết rằng Fong sẽ tiếp tục trả thù cho hả, đánh vào mọi người gần gũi với Hatcher cho đến khi mà lời thề Chiu Chao của hắn được thỏa mãn.
Cody và Earp có lí. Ngay cả những người lính cùng đều cảm thấy nọc độc chết người của Fong. Phải chấm dứt điều này ngay và vĩnh viễn, Hatcher biết rằng anh không thể chôn đi quá khứ mà không thanh lọc nó trước. Hatcher biết giờ đây anh đến Bangkok là vì anh coi trọng tính mạng của Cody. Thật là mỉa mai, anh đã cố gắng làm việc một điều gì đó tử tế, còn Sloan - kẻ đã tạo ra con quái vật trong người anh - lại gọi nó về để sử dụng nữa.
Có thể chưa chấm dứt được việc giết chóc. Hoặc là Hatcher hoặc là Fong phải chết thì mối hận thù máu mới chấm dứt được.
 
Hatcher đang đứng trên bậc thềm. Gương mặt anh trông như vẽ bằng thuốc màu đang nhăn nheo khô lại, Wonderboy nói:
- Này bạn, có chuyện gì thế. Không thể rời chúng tôi được à?
Hatcher không nhếch mép. Anh bước đến, đặt chiếc máy ghi âm lên góc bàn đánh bạc và ấn nút cho chạy. Những người lính lắng nghe rồi tiến lại gần máy khi giọng nói Fong thuật lại những hành động độc ác của hắn.
- Ôi, Chúa ơi. - Melinda thở ra, bụm lấy miệng, lưng tựa vào bàn.
Khi nghe hết, họ tụ họp quanh Hatcher nhìn chằm chằm vào cái máy. Không cần phải giải thích gì cả, cuộn băng đã nói cả rồi. Prophett nói:
- Người đàn bà đó rất thân thiết với ông phải không?
Hatcher đáp:
- Điều đó có làm cho sự việc khác đi không?
Tất cả bọn họ chậm rãi lắc đầu. Hatcher khẽ nói:
- Tôi đã sai lầm. Sáng nay tôi đã nói Fong quá bận rộn không thể quây rầy các ông phải không? Tôi sai. Nó sẽ giết và tiếp tục giết cho đến khi giết được tôi.
- Thế thì sao? - Earp nói.
- Vậy thì sự lựa chọn duy nhất là bắt hắn phải manh động. Tôi sẽ theo dõi hắn, buộc hắn tấn công tôi trong tình trạng bị động và tôi sẽ giết hắn.
- Chỉ có thế thôi à?
- Đúng vậy.
- Sáng nay ông nói rằng ông sẽ không giết người nữa cơ mà? - Melinda nói.
- Tôi đã lầm.
- Ông sẽ hành động một mình sao? - Potter nói.
- Tôi đã có kế hoạch rồi.
- Vậy ra đó là lí do để ông hành động đơn độc phải không? Earp hỏi.
- Đây là trận quyết đấu của tôi.
- Không đúng, bạn ạ. - Prophett nói. - Đó cũng là trận quyết đấu của chúng tôi nữa. Ông không có độc quyền căm thù. Ông vì người yêu, chúng tôi vì Kilhanney.
- Các ông không thể liều lĩnh - Hatcher nói. - Các ông sẽ bị bắt, các ông sẽ làm tiêu tan hết những gì các ông đã xây dựng được ở dây. Tất cả sẽ lộ hết.
- Này, tôi chẳng có gì phải che giấu cả. - Earp nói.
- Tôi cũng thế. - Corkscrew nói.
- Thế thì tôi chăng. - Potter chen vào.
- Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta làm được việc này, chúng ta sẽ phá vỡ được toàn bộ kế hoạch đưa ma túy vào Hoa Kì của Fong - Eddie Riker nói.
- Ông định nói gì vậy? - Hatcher hỏi.
- Tôi đã nói với ông từ trước, hắn đang chuẩn bị đi một nước cờ chính đối với Hoa Kì. - Earp nói. - Hắn có giấu hai tấn ma túy trên chiếc thuyền đó. Tôi nhớ là hình như ông có nói với tôi ông là người đã làm kiệt sức băng Dragon’s Breath vào những năm 72, 73 trước đây, cố gắng để làm giảm lượng bạch phiến đem vào Sài Gòn. Có gì khác nhau giữa lúc ấy và bây giờ không?
Hatcher với cặp mắt màu đá, nhìn chằm chằm vào Earp. Điều Earp nói là đúng. Khi người ta muốn sự việc thay đổi thì chẳng thay đổi được gì cả.
- Ông nói đúng. - Hatcher cáu kỉnh nói. - Không có gì được thay đổi cả.
- Chúng ta thả thuyền chứ? - Eddie Riker nói với một nụ cười.
- Ông đi tìm một cuộc quyết đấu hả? - Hatcher nói.
- Mẹ kiếp! - Corkscrew trả lời thay.
Hatcher bước về phía sau quầy rượu, tự vặn cho mình nửa lon bia. Anh thong thả uống từng ngụm, dùng ngón tay cái chùi môi trên. Những bản năng cũ đang dẫy lên trong người Hatcher. Sẽ chẳng có gì thích thú trong việc giết Tollie Fong. Hắn chỉ là một miệng núi lửa đang chờ đợi bùng nổ. Thôi, đã đến lúc Hatcher không thể đợi thêm được nữa. Fong không phải là một tay thường đâu. Nhưng làm việc này tốt sẽ giải quyết được mọi vấn đề cho anh. Giống như ngày xưa, Sloan thường nói: “Hãy làm đi và làm cho đúng!”
Hatcher nói:
- Một vụ như thế này, chỉ có hai cách: Hoặc là ta đến nó hoăc là ta dụ nó đến với ta. Dù là cách nào, chúng ta cũng phải hiểu rõ nó. Nó không đi một mình, và nếu tôi tính đúng thì chỉ có năm người trong số chúng ta tham gia được vào việc này. Chúng ta phải tìm cho được chỗ giấu hàng, suy nghĩ xem làm thế nào đến được đó... và gặp nó.
Earp mỉm cười:
- Tôi đã nói với ông rồi, bạn ạ, chúng tôi luôn luôn biết nó ở đâu. Một người trong số chúng tôi luôn luôn theo dõi nó. Ngay lúc này nó đang ở trên chiếc thuyền đó. Và ông có thể giết cả hai con chó ấy chỉ bằng một phát súng.
- Thế là thế nào? - Hatcher hỏi.
- Bởi vì Sloan cũng đang ở đó, trong “House of Dreams” ấy.
 
0

GIỜ TẤN CÔNG

 
Hatcher nhận ra khu vực này. Anh đã đến đó một lần trước đây. Bây giờ ở cuối phố cạnh hai tòa nhà lầu cũ kĩ đổ nát có một chiếc thuyền to đang buộc ở đó, tấm ván cầu được bắc nối với bến tàu. Những người Thái lên xuống cầu và đang to tiếng với những người ở trên boong tàu. Phía mạn thuyền nhìn ra sông nhiều chiếc thuyền nhỏ hơn - loại đuôi dài, loại hình rắn - túm tụm quanh mạn thuyền lớn để các con buôn trên sông bốc hàng xuống thuyền của họ.
- Tôi đã đến đây một lần hồi trước với Sy. - Hatcher nói. - Chiếc thuyền kia ở đúng vị trí mà Wol Pot đã ghi là địa chỉ của hắn.
- Đó là mặt ngoài của hắn. - Earp nói. - Hắn chạy hàng cho Fong, mang sản phẩm tươi từ Chon Buri xuống duyên hải. Chúng bán ngay tại thuyền cho những lái buôn địa phương.
- Cái gì làm cho ông nghĩ rằng nó giấu thuốc phiện trên chiếc thuyền ấy?
Earp đáp:
- Bởi vì tên liên lạc đã nhận gói hàng ở đó. Sy đang theo dõi nó.
Corkscrew nói:
- Thằng chó đẻ muốn ở gần chừng nào hay chừng ấy cái gia tài của nó.
Hatcher hỏi:
- Và “House of Dreams” cũng ở đó nữa sao?
Earp gật đầu:
- Phải, trên chiếc thuyền đầy của cải của Fong.
- Ông chắc rằng cả Sloan và Fong đều ở trong đó hả?
- Họ đã ở đó từ nửa giờ trước đây.
Năm người trong bọn họ lên một chiếc xe hàng: Earp, Corkscrew, Potter, Eddie Riker và Hatcher. Hatcher mang chiếc đai lưng bay và một cuộn dây trên vai.
Có tiếng kim loại đụng vào nhau leng keng lúc đoàn người chuẩn bị vũ khí.
Từ trong bóng tối Sy hiện ra và nhảy lên cửa hông xe. Khi nhìn thấy Hatcher, cậu có vẻ ngượng ngùng và mắc cỡ cúi đầu xuống.
- Cậu không việc gì phải thế. - Hatcher nói.
- Tôi xin lỗi, Hatcher. - Cậu ta nói mà không ngẩng mặt lên.
- Mai pen rai. - Hatcher cười lớn trả lời - Tôi không biết môn nào cậu giỏi hơn: do thám hay đấu võ.
Cậu Thái nhỏ có vẻ yên tâm, hồ hởi nói:
- Tôi đã lên thuyền. Họ tưởng tôi xem hàng để mua. Những người Tàu đều ở dưới đó cả.
Potter tay chỉ vào đám người mặc đồ đen trên sàn thuyền hỏi:
- Còn đám con người kia là thế nào?
- Họ là người Thái. - Sy nói. - Họ đang hỏi mua thực phẩm.
- Những người buôn bán à? - Earp hỏi và Sy gật đầu đáp:
- Họ sẽ đi ngay thôi. Chợ thuyền tan lúc 9 giờ tối.
- Tốt, lúc ấy tối rồi. - Corkscrew nói.
- Để tôi trình bày cho các ông rõ. - Sy nói. - Cho tôi giấy và bút bi.
Cậu ta do thám giỏi. Giả làm người mua hàng, cậu ta đã nghiên cứu kĩ chiếc thuyền. Bản đồ của cậu ta rất tỉ mỉ. Vị trí cửa xuống hầm thuyền, cầu thang ở khoang thuyền, ca bin. Chiếc thuyền mành thật khổng lồ. Nơi để hàng chính chiếm cả chiều ngang và chạy suốt phân nửa chiều dài thuyền, một cái hầm hoác miệng ra chứa đầy rau cải, gạo, dưa hấu và bất kể thứ sản phẩm nào khác mà những người đi tiền trạm của Fong phải bán. Bên cạnh nơi chứa hàng là một phòng rộng, một nơi thoải mái tiện nghi có gối dài đặt trên sàn và một cái bàn treo thấp, nơi Fong và các tay chân của nó có thể ngồi thoải mái, nhâm nhi rượu scotch và điều khiển việc buôn bán sản phẩm.
Đối diện với căn phòng này, ở cuối mặt trước của nơi chứa hàng quý là cái cửa gỗ dẫn vào những buồng vuông được gọi là House of Dreams. Nép về phía trước là ba cái buồng nhỏ.Chỉ có một cầu thang ở phía đuôi thuyền, cuối nơi chứa hàng.
Có một cửa hầm mở ra phía sông gần sát mặt nước qua đó sản phẩm được bốc dỡ sang các thuyền đợi trên sông. Trên sàn thuyền, một cửa hầm có lưới mắt cáo cho thấy rõ nơi chứa hàng chính.
Đây là một chiếc thuyền hai buồm với một ca bin cho thuyền trưởng ở đàng đuôi.
- Phía này là những thùng khí đốt, - Sy nói và tay chỉ về mạn thuyền. - Bên trên cái buồng tiện nghi nối với bến tàu.
- Làm sao cậu biết được? - Hatcher hỏi.
- Họ mới nạp nhiên liệu từ cầu tàu.
- Cậu không bỏ sót một điều gì. - Hatcher nói.
- Chiến sĩ giỏi không thể bỏ qua bất cứ điều gì. - Cậu hãnh diện trả lời.
- Có bao nhiều người Tàu? - Hatcher hỏi.
- Fong, Kot, ba người khác nữa. Họ đang ngồi trong buồng uống rượu. Tôi không nhìn thấy Sloan. Có hai tay súng ở mỗi bên thang của kho chứa hàng, hai người nữa trên sàn chính.
- Mười một người của chúng chọi với bốn chúng ta, - Hatcher thở dài. Các ông nên tin rằng càng về sau ta càng có lợi thế.
- Ông muốn nói gì cơ, bốn à. Tôi tính chúng ta có sáu người cơ mà nếu kể cả Sy. - Eddie Riker nói.
- Sy đứng ngoài. - Earp nói. - Đây không phải là cuộc đấu của cậu ta. Nhưng cậu ta có thể giúp chúng ta tháo lui. Còn anh cũng không thể lao vào nữa, Eddie Riker. Anh không thể để chúng ta bị hắt. Anh phải ngồi giữ cho xe nổ máy sẵn.
Hatcher nói:
- Khi đã bắt đầu, là phải khẩn trương. Diệt Fong và tất cả bọn tay chân của nó, đốt thuyền vào chuồn ngay. Đừng suy nghĩ gì cả, chỉ có hành động thôi. Và còn một điều nữa... để Sloan cho tôi. Chúng ta chưa kết thúc ngay đươc việc này đâu. Sy hãy tìm cho chúng tôi một chiếc thuyền rắn chạy thật nhanh. Còn Eddie Riker hãy giữ cho máy xe nổ. Dù thế nào đi chăng nữa, vụ này cũng không được kéo dài.
Sáng sớm hôm đó, Sloan đã trốn những cơn ác mộng của hắn trong House of Dreams. Bước sâu vào bóng tối hắn xuống cái địa ngục riêng của hắn, đi theo một lão già và mùi thuốc phiện đến một trong những căn buồng vuông. Hắn quan sát một cách ham mê thèm thuồng lão già vê mồi thuốc nhựa đặc nhét vào tẩu rồi hắn cầm lấy tẩu rít làn khói thật sâu và thả hồn vào thế giới mơ mộng của hắn. Nằm trên cái giường nhỏ, nhìn đăm đăm vào màn đêm, tâm trí hắn đã xua đi những ý nghĩ về Cody, về Hatcher và Tollie Fong trong khi khói thuốc tác động làm hắn phiêu diêu. Gã bắt đầu ngân nga trong họng một bài ca bâng quơ, rồi huýt sáo nhẹ lúc nhìn làn khói thiêng liêng quyện tròn vào bóng tối bao trùm hắn. Chung quanh gã, từ những căn phòng vuông khác, gã thấy những làn khói xám ngoằn ngoèo bay lên, giống như hàng chục con rắn hổ mang đang nhảy múa theo tiếng sáo.
- Sloan hả? - Giọng nói quen thuộc nhưng dường như ở xa hàng dặm.
Sloan thở dài. Tollie Fong nói:
- Ông hút nhiều quá đấy, ông không lo đến công việc như chúng ta đã thoả thuận trước.
Sloan ngước lên và tập trung nhìn vào Tollie Fong đang đứng phía trên ông ta. Có ba người Trung Quốc khác đứng sau Fong. Một người trong số đó là Cây Sào Đỏ mới - Kot.
- Ông đã phá đi một giấc mơ tuyệt đẹp - Sloan khẽ nói và lại nhìn lên những làn khói.
- Chúng ta cần nói chuyện.
- Sẽ nói sau.
- Ông đã thất hứa với tôi.
- Sau sẽ hay. Tôi đang bận. - Sloan nói như mê.
- Đồ rác rưởi thối tha. - Fong gầm gừ và đấm thẳng một cú mạnh vào mồm Sloan. Sloan ngã ngửa, té ra khỏi cái giường con, môi bể, chảy máu ròng ròng. Hắn ngồi dậy, thình lình mắt nảy lửa. Hãy kiềm chế, bộ óc mờ khói thuốc phiện nghĩ. Đừng để mất sự kiềm chế Sloan. Hắn nói qua đôi môi đau rát:
- Thật là ngu ngốc lại đi xử sự như vậy.
- Ông đã hứa với tôi như thế nào? - Fong rít lên.
Sloan đứng dậy. Chỉ có cặp mắt của hắn là phản ánh nỗi tức giận:
- Tốt hơn là ông nên hòa hợp, Fong, trừ phi ông đã nắm được cả quân đội Mỹ, bởi vì đó là...
Kot đập một cú mạnh vào gáy làm Sloan quị xuống đầu gối tức thì. Hắn đau đớn quay nhìn tên giết người mặt sứa gan lim.
- Đây là người đã thực hiện cho mày các công việc giết người của mày, - Fong nói một cách khinh bỉ. - Tên nó là Kot.
Sloan trườn lên chiếc giường con lau miệng, im lặng nhìn vết máu ở mu bàn tay. Tác dụng của thuốc phiện bắt đầu tan, bị xua mau đi bởi lòng tức giận và sự đau đớn. Sloan khẽ nói với Kot:
- Tao nhường mày trận này. Mày giỏi lắm.
Tên giết người gật gật đầu nhưng không nói gì hết.
- Mày thật sự còn chưa biết nó giỏi như thế nào đâu. - Fong nói.
Sloan mỉm cười với kẻ liên minh mà nay đã trở thành kẻ thù của hắn, nhẫn nhục nói:
- Anh làm tôi sợ đến chết.
- Mày đã hứa với tao, Sloan.
- Và cho đến nay tôi vẫn giữ đúng mục tiêu của cuộc thương lượng, - Sloan nói.
- Không đúng! Mày đã nói là mày giao Hatcher cho tao.
- Tôi đã nói là tôi sẽ bắt hắn điều tra xem Cody có phải là Thai Horse không. Nếu anh không đủ sức để nắm được hắn thì đó là vấn đề của anh.
- Mày đã nói rằng nó sẽ giết chết Cody cho chúng tao.
Sloan lắc đầu nói:
- Không bao giờ tôi nói như vậy.
- Mày đã nói rằng nó sẽ giết Cody, - Fong nhấn mạnh.
- Tôi đã nói là hắn sẽ tìm xem Cody còn sống hay không, - Sloan nói dứt khoát nhưng không lên giọng.
- Sloan, chúng ta đã thương lượng là mày đưa Hatcher đến đây để hắn đi tìm Cody, nếu Cody đúng là Thai Horse thì hắn sẽ giết nó.
- Vậy thì tôi đã hiểu lầm việc đó, - Sloan nói. Nụ cười vẫn thoáng trên đôi môi sưng vù của hắn.
- Mày đã sai lầm quá nhiều. Tên Hatcher của mày đã giết người số một của tao ở Hong Kong, đã phá tan Ts’e K’am Men Ti. Nó đã giết chết Batal và Billy Death - những người tao đã huấn luyện cho mày, và bây giờ thằng đó biến mất tăm như chim trời cá nước.
Đôi con ngươi trong mắt Fong long lên cặm giận, miệng gã mím chặt. Nhưng gã vẫn bình tĩnh, giọng thì thầm đe dọa.
- Chúng tao đã hoàn thành phần việc của chúng tao trong cuộc thương lượng này: Kot đã giết tên khủng bố, lo xong việc đặt bom, đã giết chết tên Nam Mỹ.
Sloan nhìn lên tên cướp Tàu, nụ cười thường lệ vẫn nở trên môi, giọng nói nhẹ nhàng trầm xuống với nụ cười nhạo báng:
- Anh là thằng ngốc!
Fong giận dữ rút khẩu súng lục ra, dí nòng súng cách sống mũi Sloan hai phân:
- Thằng ngoại quốc, đừng có nói với tao như thế.
Sloan cười khúc khích. Hắn chúi đầu về phía trước cho đến khi nòng súng chạm vào trán hắn.
- Nào, bắn đi, - hắn nói - Bắn đi, đồ vô lại.
Hắn nhìn lướt qua khẩu súng, lướt qua cánh tay của Fong vào thẳng mắt gã và nói giọng sắc như dao:
- Mày cần tao, mày đang ngồi trên đống thuốc nổ. Chỉ còn là vấn đề thời gian để DEA tìm ra số hàng mày giấu. Họ đã biết rằng mày có món hàng đó. Họ sẽ bóp chết mày như một con sâu. Không có tao, mày sẽ chỉ là một tên chệt, ngu xuẩn lênh đênh trên sông nước.
Thét lên như một con vật, Fong nện khẩu súng xuống sọ Sloan, con người to xác này rú lên, ngã sấp xuống.
Fong thét vào tai hắn:
- Mày là một thằng chỉ huy không xài được!
Bên mạn trái của chiếc thuyền Hatcher đang gắng leo lên, anh cảm nhận được bề mặt của vỏ thuyền, tìm những khe hở ở ngoài bằng gỗ tếch. Ngón tay anh bám được vào một kẽ nứt để kéo người lên, rồi lại tìm một kẽ hở khác, tiếp một kẽ hở nữa, cứ thế bám vào cái mạn thuyền cũ kĩ mà leo lên từng phân một, từ kẽ nứt này đến kẽ nứt khác, từ khe hở này đến khe hở khác, giống như những ngày leo chơi xưa kia.
Khác với những người lính, Hatcher biết rất rõ những người Chiu Chao nên chẳng dám đàng hoàng bưóc lên thuyền chở hàng. Bất cứ tên giết người nào của Fong cũng đều nhớ mặt anh và anh biết điều đó. Đấy là phương pháp hoạt động của chúng. Giống như FBI (Cục Điều Tra Liên Bang).
Earp, trái lại, đi vẩn vơ trên sàn thuyền, đội cái nón cao bồi mặc áo da đi săn màu nâu, cột lỏng ngang lưng một dây thắt lưng vải. Ông đốt một điếu xì gà, nhìn qua cửa hầm thuyền mắt cáo xuống kho chứa hàng phía dưới. Ông nhìn thấy Kot và hai tên tay sai đang ngồi trong cái phòng vuông uống rượu. Không thấy tăm hơi Fong đâu.
Hatcher bền bỉ bám vào mạn thuyền, tay anh lướt nhẹ thành thạo qua cái vỏ thuyền nhẵn lì bằng gỗ tếch. Anh sờ được một chỗ hõm, những ngón tay cứng bám vào kẽ hở cho đến khi bốn đầu ngón tay đều cắm sâu vào kẽ hở. Anh chầm chậm kéo người lên, thả một tay ra, và bám vào kẽ hở khác. Trên sàn thuyền, Earp gõ vào những trái dưa hấu, bóc những lá cải ra ngửi, cố gắng làm ra vẻ sành sỏi.
- Được không? - Một người Thái bán hàng hỏi.
- Không tệ lắm. - Earp trả lời. - Bao nhiêu tất cả đó? - Ông quơ tay chỉ quanh sàn thuyền.
- Tất cả chỗ đó hả? - Người Thái ngạc nhiên đáp.
- Ừ. Ông có gì dưới đó, còn hàng nữa không?
- Còn nữa, cũng thứ ấy.
- Tôi muốn được xem qua.
Người Thái bán hàng hăm hở làm vừa lòng Earp, dẫn ông ta về phía cửa hầm thuyền, đi tới những tầng sàn phía dưới. Hai tay súng người Tàu dựa vào lan can, thản nhiên nhìn họ.
Sy nhảy sang chiếc thuyền đuôi rắn đậu dọc đó và bắt đầu chuyện trò với một người Thái dỡ hàng. Corkscrew với khẩu súng kẹp dưới nách trèo qua mạn thuyền và đi vào kho chứa hàng. Ông thấy Earp đang xuống cầu thang.
Hatcher tiếp tục nhích lên từng phân trên mạn thuyền manh, ở đằng sau bọn gác, một tay anh đã nắm được lan can thuyền, rồi cả hai tay, và chăm chú nhìn qua mạn thuyền. Anh tìm Potter trong đám người trên sàn thuyền nhưng không thấy, rồi anh thấy một lào già Tàu lưng còng bước đến gần một tên gác, nói:
- Cho xin tí lửa?
- Không hút thuốc.
Trời ơi, chính là Potter, Hatcher thấy Potter đang đến trước, một tên gác khác, tên này móc chiếc bật lửa Bic ra đưa cho gã. Potter luồn tay dưới áo nắm lấy chuôn dao găm, ông từ từ rút dao ra, chờ đúng lúc Hatcher lao qua lan can thuyền kéo đầu một tên gác về phía sau và rạch cổ họng nó, thì ông thọc con dao tấn công rất bén lút sâu vào sườn tên gác thứ hai thấu đến tim nó.
Cả hai chết không kịp kêu.
Hatcher chạy đến cột buồm chính buộc nhanh một sợi dây vào cột, buộc đầu dây kia vào vòng đai thắt lưng của mình. Potter tiếp tục xuống thang đi về phía kho chứa hàng.
Trong hầm thuyền Earp hăm hở đi tới căn buồng vuông, nơi mà Kot và hai người đồng sự của hắn đang ngồi. Không thấy Tollie Fong đâu cả. Earp nói oang oang:
- Tôi là Holliday, ở Valdosta, tiểu bang Georgia, Hoa Kì. Tôi thích mua hết chỗ hàng còn lại này.
- Tất cả hả? - Kot ngạc nhiên hỏi.
- Đúng thế. Cho phép tôi đưa ông xem danh thiếp.
Earp nhìn thẳng vào mắt Kot, nhanh như chớp luồn tay vào dưới áo khoác, móc và khẩu súng 0,44 vung ra dí vào cách tim Kot một tấc rưỡi và bắn. Khẩu súng gầm lên, viên đạn xé ngực Kot và nổ tung trong tim nó. Nó nảy lên khỏi sàn đến tấc rưỡi và ngã ngửa vào cửa hầm thuyền đang mở, nằm ngửa như chim đại bàng xòe cánh và trượt đi một tí rồi dừng lại. Earp vượt qua cái bàn và chạy thêm một đoạn rồi tháo quả bom ông đeo ở thắt lưng, dùng điếu xì gà đốt dây cháy chậm và quăng nó qua vai về phía buồng tàu.
Hatcher đã nhảy lên thuyền, chụm chân lại nhảy xuống nắp hầm tàu tầng dưới làm bằng mắt cáo mỏng. Nó rách toang và anh lọt xuống. Sàn tàu dưới trải rộng trước mắt anh. Khẩu súng Aug bán không có tiếng kêu trong tay anh hạ ngay hai tên cướp người Tàu trong góc phòng khi Hatcher vừa chạm chân xuống sàn.
Phòng chính của chiếc thuyền mành hỗn độn.
Quả bom của Earp nhảy lên sàn lộp bộp rồi nổ tung. Những mảnh tường và cửa tan trong làn hơi nóng trắng. Một trận mưa những mảnh gỗ vụn, bụi rơi rào rào trong phòng. Ngọn lửa bắt vào vách ngăn của thuyền.
Fong núp ở một trong ba phòng nhỏ ở phần trước thuyền kề với những phòng vuông để hút thuốc phiện. Sloan ngồi trên sàn dựa vào vách. Fong cúi xuống sát mặt Sloan, nói khẽ:
- Tao sẽ khoái trá giết mày, Sloan.
Sloan cười. Đó không phải là tiếng cười to, nhưng là tiếng cười chân thành. Sloan nói:
- Mày ngu thì mới làm việc đó.
- Tao sẽ giết mày dần dần! - Fong nói, giọng của gã cao lên vì tức giận.
- Khói thuốc của mày đã làm việc đó từ lâu rồi. - Sloan vẫy tay nói. Hắn đứng lên, nhìn xuống sàn cố gắng tìm hướng, cố gắng bước đi, chuếnh choáng vì thuốc phiện và chấn thương não. Fong nói:
- Tao sẽ đợi đến khi mày sụp đổ. Lúc đó mày sẽ đau đớn nhât. Tao sẽ giết mày và tất cả những thằng ngoại quốc mà thằng con hoang Mỹ Hatcher quen biết. Tao sẽ giết chết cái bọn đã giúp nó thoát hiểm. Rồi nó sẽ rơi vào tay tao.
- Tao sẽ không nghĩ đến chuyến đó nếu tao là mày. - Sloan nói.
Một lát sau, quả bom của Earp nổ.
Fong ngã quị xuống đầu gối lúc chiếc thuyền rung lên vì bom nổ. Gã quay người về phía có tiếng súng, Sloan đạp mạnh chân vào lưng gã, đẩy gã ngã lăn ra ngoài căn buồng. Tên cướp quay lại bắn một phát vào Sloan. Viên đạn xuyên vào sườn.
- Ôi chao, đồ khốn kiếp. - Sloan la lên và ôm chặt lấy bụng tựa người vào vách.
Những cái đầu nặng khói thuốc phiện trong House of Dreams bị lôi ra khỏi giấc mơ vì tiếng bom nổ và những tràng súng tiếp theo, chạy ùa ra khỏi những căn buồng vuông và lao về kho chứa hàng. La thét, xô đẩy nhau, nói lắp bắp, té nhào trong hành lang nhỏ hẹp, họ làm nghẽn cả lối đi, đôi mắt ngây dại của họ đột nhiên linh hoạt lên vì sợ hãi. Cánh cửa vào House of Dreams bật tung, Earp, Potter và Corkscrew đang lia đạn súng ngắn và súng trường vào trong thuyền. Một viên đạn trúng vào chân Corkscrew nhưng ông vẫn tiếp tục bắn. Những vị khách của House of Dreams  vấp phải đạn, lửa, khói và sự chết chóc.
Trước cơn ác mộng điên cuồng, Fong quên đi Sloan, chạy lao vào giữa đám người hỗn độn, rẽ lấy đường đi qua đám người đang cuông cuồng bằng khẩu súng của mình để tới cửa ra. Khi nhìn lên, gã thấy kẻ thù đáng chết nhất đang ở đầu kia của hành lang. Hatcher cặp mắt sáng rực lên cương quyết, đang đợi gã ở lối ra để đến cửa hầm chính.
Quên nỗi nguy hiểm của mình vào lúc ấy, Fong bắt đầu bắn vào Hatcher. Hatcher cúi xuống tránh đạn nhưng không lùi. Anh lao vào đám đông người Tàu đang la thét, chạy dích dắc tiến về phía Fong, khẩu Aug của anh đập cả vào tường trong khi Fong lẩn vào đám người tháo chạy rồi quẹo vào một buồng vuông dùng để hút thuốc phiện.
Một trái bom thứ hai nổ, phá tan một chỗ chứa hàng khác. Tiếng nổ làm cho Hatcher, Fong và những tay hút thuốc phiện hoảng sợ nằm rạp xuống. Nhiều ngọn lửa phụt ra bên mạn thuyền, rồi từ giữa đống rau vụn nát, một luồng bột trắng phun ra. Món hàng bạch phiến Trung Quốc quí giá của Tollie Fong phun ra như mưa từ nơi cất giấu trong khi ngọn lửa cháy rực lên ở mạn thuyền. Hatcher té dựa vào tường, cảnh hỗn loạn càng tăng thêm. Fong nhẩy vào trong một căn buồng vuông của House of Dreams và nấp ở đó, chờ Hatcher ra.
Hatcher bắt đầu đi xuống hành lang, men sát, sẵn sàng tay súng. Đàng sau anh, Potter lục trong phòng thấy lòi ra hai thùng xăng loại 900 lít. Potter nhấc khẩu AK-47 lên. Những viên đạn 9 li xuyên thủng những thùng xăng, làm thùng nứt vỡ, bật tung nắp. Xăng tóe ra trong kho, bắt lửa do hai quả bom gây ra.
Lửa lan nhanh như chớp theo dòng xăng, lửa đốt nóng làm nổ tung những thùng xăng. Hai quả cầu lửa vàng cuồn cuộn bốc lên dữ dội nung đỏ tầng dưới thuyền và lan rộng qua vỏ thuyền. Xăng cháy lan vào thuốc phiện, đốt nó thành than đen. Chiếc thuyền mành biến thành một cảnh rùng rợn màu da cam.
Hatcher nhảy xuống sàn và lấy tay che đầu. Ngọn lửa phừng phừng trên đầu anh và bắt sang lối đi.
Một quả cầu lửa do xăng cháy bay tạt vào Fong. Mặt hắn bị lửa đốt bỏng rát. Áo quần hắn cháy bùng bùng. Rồi thùng xăng thứ hai phụt ra nổ tung mạn thuyền, Fong đang la thét bị đẩy bật tung theo hình vòng cung như một tên lửa sáng rực bay qua lỗ thuyền rơi tùm xuống sông.
Những người lính chạy vội lên thang để ra khỏi đám cháy, hò hét bỏ lại đàng sau những tên cướp chết hoặc đang hấp hối của Fong. Earp và Potter kéo Corkscrew bị thương chạy nhanh tới ván cầu cùng với những người Thái buôn hàng đang hoảng sợ trong cảnh náo động trên bến tàu. Một chiếc xe chữa chạy rú còi len qua đám đông chạy đến. Sau nó một xe cánh sát xuất hiện rồi lại một chiếc nữa. Eddie Riker thấy những xe ấy đến lập tức gài số cho xe chạy đậu gần chỗ các bạn mình, Earp đẩy Corkscrew vào cửa hông xe rồi nhẩy vào theo, kế đó là Potter nhảy lên và sập mạnh cửa xe lại.
- Cho xe chạy đi, - Earp nói.
Eddie Riker lái xe rời xa chiếc thuyền đang cháy đỏ, lao ra khỏi khu phố Tàu.
- Công việc ra sao? - Eddie Riker hỏi.
- Chúng tôi đã hoàn thành việc đó, - Earp nói.
- Ba phút, 25 giây, - Potter nói.
Earp xem xét vết thương của Corkscrew và hỏi:
- Cái chân thế nào?
- Chắc là bị gãy, - Corkscrew rên lên.
Ở phía trong hành lang đang cháy, Hatcher bò nhanh về phía mũi thuyền. Lửa cháy phừng phừng quanh anh, lửa táp vào áo quần anh. Anh đá bật hết cửa phòng này đến cửa phòng khác và tìm thấy Sloan đang nép người dựa vào vách, ôm chặt lấy vùng sườn đẫm máu. Ngọn lửa gầm thét trên đầu như một lò lửa. Sức nóng ngấu nghiến hết dưỡng khí. Hatcher nhảy vào nắm lấy cổ áo Sloan, kéo hắn sát vào chân, lôi sang cửa hầm bên cạnh đang mở còn chưa bị cháy.
- Không thể làm gì được nữa! - Sloan rên lên,
- Đồ cứt bò! - Hatcher trả lời.
- Hatcher, đến đây - Sy la lên, cậu ta vẫn còn ở trên chiếc thuyền rắn và đang vịn lấy mạn thuyền mành. Hatcher kéo Sloan vượt qua lửa, đẩy hắn ra khỏi của hầm thuyền mành xuống chiếc thuyền rắn và nhảy sang theo.
- Hãy đi khỏi nơi quái quỉ này. - Anh nói. Đẩy chiếc thuyền nhẹ, chèo ra khỏi nơi hãi hùng này.
 
0

SỰ VIỆC KẾT THÚC

 
Sy chèo chậm lại cho chiếc thuyền rắn cập vào bến tàu Hatcher giúp Sloan leo lên. Vết thương ở sườn hắn vẫn chảy máu, mặc dù Hatcher đã xé vạt áo Sloan để băng tạm lại.
- Có lúc sẽ gặp lại cậu, Sy, - Hatcher nói khi anh vào Sloan xoay xở leo lên bến tàu. Cách bến tàu ba khu nhà là nơi hỗn loạn tột độ. Chiếc thuyền đang cháy tỏa ánh vàng trên dòng sông, những xe chữa cháy, xe cảnh sát và những người đến xem đứng đặc trên cầu tàu.
- Việc chạy chớ, ông? - Sy hỏi.
- Tốt, cậu hãy chèo thuyền ngược dòng một đoạn rồi đánh đắm thuyền đi. Và hãy tránh đừng đến quán Longhorn đôi ba ngày.
- Ông là tay cừ đấy, Hatch, - Cậu người Thái nói.
- Và cậu cũng là một tay thiện chiến, - Hatcher trả lời.
Anh nâng Sloan lên, giúp hắn rời khỏi bến tàu băng qua đường lớn vào ngõ hẻm. Nơi đấy vắng vẻ và yên lặng, tiếng la thét từ đám cháy đã chìm đi ở phía sau. Cuối cùng Sloan ngã dựa vào tường, chuồi xuống đất, ôm chặt lấy bên sườn bị đạn. Hatcher quì xuống bên cạnh kéo tay hắn ra, xem vết thương rồi nói:
- Bị ong đốt thôi. Anh sẽ khỏi mà.
Sloan rên rỉ, ép sát áo khoác của hắn lên trên vết thương.
- Viên đạn này đang giết chết tôi.
- Lẽ ra tôi phải giết anh. Anh là mối đe dọa. Anh đã nói dối tôi, chơi xỏ tôi, đưa tôi ra làm bia đỡ đạn. Kẻ đáng chết chính là anh chứ không phải Cody.
Nụ cười quen thuộc lại vờ vẫn nở trên môi Sloan:
- Không thông cảm ư, anh bạn.
- Tôi thà thông cảm với quỉ còn hơn.
- Quỉ thần ơi, cậu không thể giết tôi, - Sloan nói một cách mệt nhọc. - Tôi là người nhà mà.
- Ồ, tôi có thể giết chết anh, Sloan. Nhưng tôi sẽ không làm thế và điều đó chả phải là vì anh là người nhà đâu.
- Tôi làm điều gì tôi phải làm, cậu làm điều gì cậu phải làm. - Sloan nói. - Tôi không phải giải thích diều đó cho cậu.
- Chỉ có một cách duy nhất để nói đến vấn đề này thôi. - Hatcher nói.
- Ở mọi nơi trên thế giới, tôi đều gặp cùng một khó khăn này.
- Không, Sloan. Tôi là một kẻ sống sót. Công việc của anh là thủ đoạn chính trị.
- Dù anh gọi nó là gì đi nữa, anh hãy làm nó và quên nó đi.
- Không, anh làm nó và quên nó đi. Còn tôi thì bị suy nghĩ về nó.
- A, cứt bò! Anh là một người lính. Anh đã làm cái gì mà những người lính làm.
- Anh đã thường nói với tôi điều đó nhiều năm rồi. Tôi đã không làm cái mà những người lính làm, tôi đã làm cái mà anh bảo tôi làm.
- Nhưng quái quỉ thế nào mà anh lại đến đây? - Sloan hỏi.
- Tôi nghĩ là tôi đang làm một điều gì đó đúng đắn để làm thay đổi một chút, một ý thức trách nhiệm đối với một người bạn cũ. Tôi đang nói về Cody chứ không phải về anh.
Sloan nói “A!” Và khoát tay để tỏ ý không chấp nhận lời nhận định ấy. Có một vài phút im lặng ngượng ngập, rồi Sloan nói:
- Anh là người tốt nhất, tốt nhất trong những người tôi có. Một chiến sĩ trong bóng tối thật tuyệt vời.
- Điều trở ngại là anh đã hết cả quân, có phải thế không Sloan. Lừa đảo người cùng phe quá nhiều, nói dối quá nhiều, và một buổi sáng nọ thức giấc, không còn một tên nào ở lại với anh nữa. Họ hoặc đã chết, đã tàn phế hoặc đã bỏ đi. Vì thế anh mới quan hệ với Fong.
Sloan nghiêng người qua, ôm chặt lấy sườn rên rỉ và cơn đau đang thấm sâu vào cơ thể. Hắn nói:
- Hãy nói cho tôi biết một điều thôi, Cody còn sống không?
- Không, anh ta chết rồi. - Hatcher thì thầm. - Anh ta đã chết lâu rồi.
Sloan nói:
- Tôi thật là đồ chết tiệt. Toàn bộ việc làm ầm ĩ này chẳng để làm gì cả.
- Không phải là chẳng để làm gì. Đó là một sự trả nợ.
- Trả nợ hả? Cho ai?
- Ông đã trả cho Tollie Fong.
- Anh điên rồi, tôi nợ nần gì Tollie Fong. Có phải vì tôi đã hút một ít tẩu thuốc phiện của nó không?
- Không. Mà bởi vì nó đã thay thế chúng tôi khi anh hết quân, anh đã có một đội quân mới để thực hiện các mệnh lệnh, đó là Fong và những tên sát nhân Chiu Chao của nó. Nó đã khử Campon giúp anh ở Atlanta, vì Campon không chịu lệ thuộc và quá thối nát. Mặt khác, Cosomil được bình yên vô sự.
- Và hắn không có nửa tài sản của Madrango để trong ngân hàng Thụy Sĩ, - Sloan nói them.
- Và Cosomil sẽ là một nhân vật ngoan ngoãn nhận những mệnh lệnh của Nhà Trắng, - Hatcher nói.
Phía sau họ, cách xa chừng hai chục mét, Tollie Fong bơi ra khỏi bóng tối và bíu lấy cái thang ở trên cầu tàu. Cánh tay của gã bị phỏng và mặt bị cào nát. Gã bắt đầu leo lên thang và nghe thấy có tiếng nói. Gã cẩn thận liếc nhìn bờ cầu tàu. Hatcher và Sloan đang ở cách đó hai chục mét.
Hatcher đang nói:
- Tôi biết anh quá rõ. Tôi đã làm những việc như thế cho anh quá nhiều lần rồi. Ở Paris anh sung sức nhất. Anh đã cho để ba vị đại sứ đã gây cho chúng ta nhiều rắc rối về những căn cứ của chúng ta ở Châu Âu, anh đã giao việc ấy cho Hyena làm rồi lại khử luôn hắn. Anh luôn luôn có nhiều thủ đoạn. Luôn luôn trông nom bảo vệ hai ba căn cứ một lúc.
- Ồ, đó là nhiệm vụ, phải không?
- Đó là một cách giải thích.
- Anh muốn gọi nó là gì thì gọi. Nhưng kẻ thù không bao giờ ngủ anh bạn ạ, đừng quên điều đó. Anh muốn trở thành người đa sầu đa cảm. Hừ, cứ việc, nhưng để tôi nói cho anh nghe, nếu tôi có thể khử một cục cứt như thằng Hadif và có phải bẻ quẹo nguyên tắc đi một tí thì anh hãy tin là tôi sẽ làm điều đó. Đó là công việc của tôi. Đúng vậy, tôi đã liên kết với Fong. Nó cũng ở phe của chúng ta.
- Nó có lẽ đã ở phe anh, Sloan. Nhưng chắc chắn nó không ở phe tôi, mẹ kiếp!
- Tôi đã kiểm soát được nó.
Fong ghì cứng vào chiếc thang và cười chế nhạo khi nghe thấy lời giải thích tin tưởng của Sloan.
- Nó đã hãm hiếp và giết chết Daphne một cách lạnh lùng chỉ để trả thù tôi, Hatcher nói giọng khàn khàn. - Nó muốn nắm lấy đầu anh. Nó đang huấn luyện những tay chống khủng bố ở vùng thượng nguồn sông.
- Nó huấn luyện chúng cho tôi, - Sloan nói toạc móng heo.
Hatcher lắc đầu:
- Còn cái giá phải trả sẽ là gì, Sloan? Anh sẽ lo cho nó có thể buôn lậu một ngàn kí bạch phiến loại 999 qua mặt hải quan chứ gì?
- Quỉ thần ơi, nếu không phải là nó thì sẽ là một kẻ khác thôi. Điều đó có lợi cho nền kinh tế mà.
- Mười lăm năm trước anh đã cử tôi lên mạn thượng nguồn để khử những tay Chiu Chao buôn lậu ma túy. Giờ đây anh lại nằm cùng giường với chúng.
- Nước chảy dưới cầu, bạn ạ. - Sloan nó. - Cậu đã có Paris, New York, Chicago, thằng bạn của cậu ở công ty bảo hiểm. Tôi đã có Thái Lan. Có khác cái chết tiệt gì đâu?
Hatcher đứng dậy:
- Đã nhiều năm tôi tưởng rằng anh đã biến tôi thành một quan tòa, một bồi thẩm và một kẻ hành pháp. Cuối cùng thì tôi đã bị đẩy vào Los Boxes, lúc đó tôi không còn có gì khác để nghĩ nữa. Giờ đây, tôi biết tôi không bao giờ là quan tòa và bồi thẩm viên cả, đó là công tác của anh. Tuy nhiên, người ta sẽ phán xét anh. Tôi đã đoạt tuyệt với tất cả các điều đó rồi.
- Giờ đây cậu đi đâu?
- Về nước.
- Còn tôi thì sao?
- Hãy nói với Buffalo Bill rằng con ông ta đã chết một cách danh dự trên chiến trường. Ông ta có thế yên tâm mà nhắm mắt. Tạm biệt Sloan.
Hatcher quay đi và rời bước.
Sloan vội gọi theo:
- Đợi tí, đồ khốn kiếp!
Nhưng Hatcher đã biến vào đám khói đen đang cuồn cuộn.
Sloan dựa vào tường, vết đau ở sườn nung nấu sâu thêm, nhưng hắn không để tâm đến vì hắn đang mải dựng một câu chuyện để kể cho thiếu tá người Thái có biệt danh Mongoose nghe khi ông ta đến đây.
Hắn không nghe thấy Tollie Fong đã lết một cách đau đớn lên khỏi dòng sông phía sau hắn và bò ngang qua cầu tàu. Fong hầu như ở ngay trên đầu hắn. Khi hắn vừa nhận thấy và quay lại... thì đúng lúc hắn nhìn thấy mũi con dao găm giết người lặng lẽ hạ xuống và cảm thấy cái mũi nhọn ghê rợn đâm thủng cổ họng mình.
 
0

CÂU CÁ

 
Hatcher nằm ngửa nhìn lên mui thuyền. Chiếc thuyền tròng trành êm ái trong ngọn gió chiều nhẹ, thỉnh thoảng lại đụng vào cầu tàu. Anh cảm thấy an toàn nơi đây. Thật là thú vị được trở về nhà. Sau mười hai giờ ngủ, những bộ phận trong người anh bắt đầu hoạt động lại. Anh nhìn một mảnh ánh sáng mặt trời di động chậm chạp qua mui thuyền và biến mất khi mặt trời lặn. Màn đêm mang về những con chim đêm, chúng bắt đầu gọi nhau. Anh nghe tiếng xe hơi chạy chậm vào bãi đậu, bánh xe cán bể những vỏ sò và kế đó là tiếng những bước chân quen thuộc. Anh cảm thấy chiếc thuyền tròng trành êm ái. Mắt anh nhắm lại, và giây lát sau anh cảm thấy nàng đang ngồi bên giường.
- Em đến trễ, - anh nói mà không mở mắt ra.
- Em đi ngang quán Crab Trap, mua vài món tôm và sò hầm cho chúng ta, - nàng nói. - Em nghĩ rằng không có ai trong chúng ta lại muốn nấu nướng tối nay.
Anh ngồi dậy, nhẹ nhàng kéo nàng xuống bên mình, nàng vùi mặt vào cổ anh. Anh nói:
- Anh đang nghĩ sao chúng ta lại không mở máy cho thuyền chạy ra bãi đá ngầm và ăn ngoài đó, thậm chí có thể bơi dưới ánh trăng nữa.
- Biển sắp lạnh đấy, - Nàng nói.
- Đúng thế, anh cá là ngoài đó sẽ lạnh tới 24°C. - Có một sự khác nhau trong sự chuyển hóa của họ. Nàng luôn luôn lạnh còn anh luôn luôn ấm. Cái đối với anh là ấm lại làm cánh tay nàng nổi da gà. Trong cái nóng mùa hè, máy lạnh làm nàng điên lên, thì lại làm anh dễ chịu. Nhưng anh đã biết cách dung hòa, một điều khác với bản tính của anh khi anh chưa gặp nàng. Quạt trần là sự lướt sóng nhanh trong tiếng gầm của biển khơi là điều làm cho cả hai dễ chịu.
Nàng nằm bên anh, vuốt ve đôi cánh tay và chiếc bụng rắn chắc của anh, quàng một chân lên chân anh ép sát người vào anh, ghì tấm thật lực lưỡng của anh sát vào nàng. Nàng hỏi:
- Anh có sao không? - Đó là điều đầu tiên nàng hỏi anh kể từ lúc anh trở về đêm trước.
- Mệt. - Anh trả lời. - Hai tuần lễ gay go nặng nề.
- Chuyến đi có thành công không?
- Có.
Nàng không hỏi vì sao anh đã đi hay cái gì xảy ra trong chuyến đi, nàng sung sướng rằng anh đã trở về cũng nhanh như khi anh ra đi.
Lúc anh nằm đó, nàng để ý thấy lông tay anh cháy sém, móng tay nứt nẻ và vỡ nát. Nhưng nàng dẹp lòng tò mò sang một bên. Nàng biết rằng cuối cùng anh sẽ kể cho nàng nghe điều bí mật mà anh muôn cho nàng biết. Phần còn lại là những điều bí mật mà nàng phải chấp nhận.
- Anh gặp đôi ba lần rủi trong chuyến đi này. - Đột nhiên anh nói làm nàng ngạc nhiên.
- Rủi trong trường hợp nào đó?
- Người Trung Quốc có câu tục ngữ: “Giết chết quá khứ để lại vết sẹo trong tâm hồn”. Chuyến đi này để lại nhiều vết sẹo trong tâm hồn anh.
- Anh có định nói về chuyện đó không?
- Không, anh nghĩ tốt hơn là nên quên nó đi, nhưng anh muốn em biết là có những chương trong cuộc đời anh cần phải xếp lại và giờ đây chúng đã được xếp lại. Chẳng có lợi ích gi khi nhìn lại hoặc nói về chúng.
- Ồ, em không biết. Chúng ta học được nhiều điều từ quá khứ.
- Không có gì anh muốn học từ quá khứ của anh cả.
Nàng lơ đãng vuốt ve đám lông bị cháy loang lổ trên tay anh trong lúc anh nói. Anh thở dài nói thêm:
- Anh đã đưa nhiều quỉ dữ xuống mồ.
- Đó có phải là lí do để anh đi không?
Anh do dự một lát rồi đáp:
- Đó là một phần thôi. Anh cảm thấy có nghĩa vụ đối với một người bạn cũ.
- Tất cả những điều này có dính dáng gì với người đàn ông đã đến đây không?
- Hắn là một phần của việc này. Hắn là vật xúc tác. Rất khó giải thích. Nhưng anh sung sướng vì anh đã đi, anh phải giải quyết nhiều điều mà lâu nay anh đã làm như không biết.
- Điều gì thế?
- Cái mặt đen tối trong bản chất của anh.
- Đúng. Chắc chắn là có.
- Em không bao giờ nhìn thấy cái khía cạnh đó của anh.
- Em chỉ thấy cái gì mà người ta để cho em thấy thôi, Ginia.
- Có phải đấy là lời xưng tội không?
- Không. Giờ đây anh mong muốn quên nó đi.
- Vậy em sẽ quên nó. - Nàng nói. - Em chỉ biết rằng em đã nhớ anh. Em nhớ anh hàng ngày. Em thường đi thuyền ra đây ngồi và tự hỏi anh đang ở đâu, lúc ấy anh làm gì và không biết anh có khỏe không. Em có cái cảm giác ghê sợ là anh sẽ không trở lại nữa.
Giỏi thật, anh nghĩ, bản năng của nàng khá thật. Anh nói:
- Anh cũng nghĩ rất nhiều về em.
- Trong hai tuần lễ đó em thấy em đã biết về anh sao mà ít thế. Em không biết chút gì về anh trước khi anh đến đảo này. Anh có thể có vợ rồi, em chỉ biết có vậy.
Anh cười to:
- Không, không có vợ. Không có con. Không có những sự ngạc nhiên đáng sợ như thế đâu.
- Em đã không biết rằng anh học ở trường Annapolis ra mặc dù em phỏng đoán như vậy vì thấy anh quá giỏi về tàu thuyền.
- Em biết điều ấy từ đâu ra thế?
- Từ Jim Cirillo. Một hôm em đang rửa thuyền thì ông ta đi ngang qua. Ông ta thực sự yêu thương anh, anh biết đây, em nghĩ rằng chưa bao giờ em hình dung ra chuyện đó trước đây. Anh giống như là con của ông ta. Ông ta lo lắng cho anh.
- Và cho em?
Nàng mỉm cười, nép chặt vào anh hơn:
- Không đâu, khi anh đang ở đây.
- Anh nghĩ rằng, giờ đây anh sẽ không đi đâu nữa trong một thời gian dài.
- Thật là một tin mừng.
- Thật ư?
- Em đã quá quen ở bên anh rồi, Hatcher. Nó đã khép kín lối sống của em.
- Khép kín hả?
- Vâng, nhưng không phải theo nghĩa xấu đâu. Em nghĩ đặt vấn đề như thế là sai lầm. Em đã trở thành... lệ thuộc vào anh một số việc, trước khi gặp anh em hoàn toàn độc lập. Điều này, có thể, ờ, không thoải mái.
Anh chống khuỷu tay ngồi dậy, nhìn vào nàng.
Anh sáng ở cầu tàu phản chiếu qua mặt nước đến nhảy múa trên trần cabin. Nàng đưa mắt nhìn đi chỗ khác và lăn tròn, đu đưa cặp chân đụng vào sàn tàu. Nàng nói:
- Sao em lại không sửa soạn cơm chiều cho xong đi nhỉ! Anh phải đói lắm rồi chứ.
Anh vươn tay ra ôm lưng nàng kéo vào lòng, nói:
- Không ăn đâu.
- Xem này, đây là cái gì em muốn nói...
- Hãy nghe anh đây. Anh đang bị em quyến rũ như chưa bao giờ anh bị người đàn bà nào khác quyến rũ. Không phải chỉ là tình dục, mà là tất cả. Đó là cái hòn đảo này mà em là một phần của nó. Đó là cái điều mà em suy nghĩ, tính độc lập của em, tính hài hước của em. Điều bí ẩn của em.
- Bí ẩn gì?
- Cả hai chúng ta đều có những thời kì đen tối trong quá khứ, mỗi người đều có.
- Và anh nghĩ điều đó là tốt ư?
- Anh nghĩ điều đó lý thú. Có đôi điều không cần phải chia xẻ.
- Phải, em nghĩ những điều của anh có lẽ lí thú hơn là của em rất nhiều.
- Điều anh đã làm trong chuyến đi này, giống như việc rửa sạch sân thượng, quăng đi những vật thực sự chẳng còn dùng gi được nữa. Những bạn hữu mà anh đã chia tay nhất định vẫn luôn luôn là bạn. Đúng là chỉ có khoảng cách giữa bọn anh đã thay đổi. Anh sống ở đây chứ không ở đó.
Anh cúi xuống hôn nhẹ lên miệng nàng. Đôi môi nàng mềm mại mới đầu là khuất phục rồi sau là đòi hỏi. Tay nàng ôm chặt lấy cổ anh, ghì mặt anh sát vào mặt nàng. Rồi thình lình nàng buông anh ra và ngồi dậy. Nàng nói:
- Ra bãi đá ngầm là ý kiến tuyệt diệu. Vả lại ở đây mấy anh bạn câu cá của anh có thể tạt vào.
- Anh sẽ treo ở ngoài bảng “Xin đừng quấy rầy”
Nàng đứng dậy vuốt áo quần cho phẳng phiu và nói:
- Không. Mặc quần áo đi và mở máy tàu nào.
- Xong ngay, em yêu. Anh thì thầm và xỏ chân vào chiếc quần dài xám, mặc chiếc áo thun, đi đôi giày bata rồi lên trên boong. Ngọn gió Đông Nam từ biển thổi vào, mang theo nó khả năng mưa. Bầu trời tối sầm, không trăng và đầy mây. Anh nói:
- Có vẻ mưa mất.
- Tốt. Em thích ân ái trong mưa.
- Có thể ngoài đó biển động đấy.
- Anh định lùi hả? - Nàng hỏi.
- Ồ, không đâu, chỉ là quan sát thôi.
Trong bóng đêm cách bãi đậu xe chừng ba chục mét, một bóng đen lẩn lút theo dõi chiếc tàu đã nhìn thấy Hatcher và cô gái này lên boong, nghe thấy tiếng cười của họ và trông thấy họ hôn nhau. Trong bóng đêm, Tollie Fong liếc mắt nhìn đểu giả. Tuyệt vời, hắn nghĩ, hai tên ngoại quốc này bằng giá cha ta.
Hatcher đút chìa khóa vào ổ máy, mở xăng và quay máy. Hai máy to ở đuôi thuyền hoạt động, gầm lên gắt gỏng trong một hai phút rồi nổ đều đều. Ginia bước lên cầu tàu tháo dây cột, quấn dây vào giữa khuỷu tay và bàn tay rồi quăng lên boong. Sau đó nàng lại đi xuống cuối thuyền cũng làm như thế, rồi quăng cuộn dây vào gần đuôi thuyền.
Hatcher là một địch thủ ghê gớm nhưng lần này Fong chủ động chơi một cú bất ngờ. Hắn lẩn trong bóng tối tiến thẳng đến gần Hatcher. Hắn có thể đoán là Hatcher không có vũ khí. Và hình như cũng không có vũ khí giấu trong buồng lái.
Ở đây an toàn và yên ổn, họ đã nghĩ như vậy. Họ chỉ còn tập trung vào nhau.
Điều đó sẽ làm cho mọi việc nhẹ nhàng và dễ dàng hơn, Fong nghĩ.
Hatcher đang bận điều chỉnh radar và máy đo sâu hồi âm, radio và những nút điều khiển khác. Anh thực hiện việc kiểm tra các máy móc, tốc độ quay mỗi phút và nhiên liệu như thường lệ. Anh nói:
- Còn một chai bia cho thuyền trưởng thì sao?
- À, à. - Nàng nói và biến vào ca bin trong một phút.
Khi nàng hiện ra ở cửa hầm tàu mỗi tay cầm một chai bia anh cảm thấy tàu hơi nghiêng về phía trái. Nhưng anh chưa kịp quay lại thì thấy đôi mắt nàng mở to, miệng há hốc ra, và nghe thấy tiếng nói rít lên.
- Hatcher!
Anh quay nhanh lại. Fong đang đứng ở mũi thuyền cách đó ba mét, khẩu súng lục chĩa thẳng vào đầu Hatcher. Sự lo ngại chạy lướt qua người anh trong giây lát, nhưng một tia chớp lập tức xua nó đi khi anh nghĩ đến Ginia. Anh đứng dịch sang trái che cho nàng.
- Gì thế... - Nàng bắt đầu nói và Hatcher vội thì thầm “suỵt”.
- Vẫn luôn luôn tỏ ra anh hùng hả? - Fong gầm lên, cặp mắt vàng của hắn hau háu chờ đợi. - Mày tưởng rằng đứng trước nó sẽ che chở được cho nó ư? Một hành động phù phiếm xiết bao. Tao sẽ giết nó trước, Hatcher, rồi lột da mày sống.
- Chúa ơi! - Ginia thì thầm sau lưng Hatcher.
Mảng da dúm dó, nhăn nheo trông ghê sợ ở một bên mặt Fong, kết quả của một vết bỏng còn để lại vết sẹo suốt đời. Fong nhắm một bên mắt. Tóc ở một bên đầu hắn đã bị cháy sém sâu vào da đến hai phân. Một bàn tay còn băng bó. Fong đã tránh không dùng thuốc giảm đau để luôn luôn tỉnh táo trong khi theo dõi Hatcher qua nửa vòng trái đất. Giờ đây lòng căm thù lẫn với sự đau đớn trào ra làm mắt hắn đỏ ngầu, làm méo mó những gì còn lại trên bộ mặt bị hủy hoại của hắn.
- Thích đáng xiết bao, - Fong nói nhẹ nhàng nhưng run lên vì tức giận. - Đầu tiên là thuyền của tao, rồi đến thuyền của mày.
Hatcher vẫn không đáp. Anh đang kiên cường đứng chắn phía trước Ginia. Anh biết nàng đang đứng ở chỗ nào, biết rằng anh có thể ngã về phía sau để đẩy bật nàng vào ca bin. Nhưng sau đó thì sao? Anh không có vũ khí. Vũ khí gần nhất là con dao để trong bếp. Vũ khí của anh thì đã cất kĩ trong hầm tàu.
Ý nghĩ lóe lên trong đầu Hatcher là anh sắp chết và anh chấp nhận điều ấy như là một thực tế. Nhưng anh cũng biết Fong sẽ giết Ginia. Và có lẽ giết trước.
Fong đứng mũi tàu, khẩu súng tự động của hắn nhằm vào đầu Hatcher.
- Bị bất ngờ hả? - Fong nói.
Hatcher vẫn không đáp. Trong tầm nhìn bao quát anh có thể thấy Fong đang bước lại gần cuộn dây trên boong. Nhưng cần ga thì ở ngoài tầm tay, không thể nhảy xổ vào giật để hất cho Fong mất thăng bằng đẩy Ginia ra ngoài.
Lưỡi dao găm sáng lấp lánh hiện ra ở ông tay áo Fong. Những ngón tay hắn xiết chặt đuôi dao. Hắn đang cầm con dao đưa lên, hơi xoay đi cho lưỡi dao oan nghiệt lấp lánh dưới ánh sáng từ cầu tàu hắt lên.
- Để cho mày đấy, - Fong nói. - Tao cũng đã dùng nó để giết Sloan. Ngay sau khi mày để nó ở lại một mình.
Hatcher vẫn không trả lời.
- Sao thế, Hatcher, mày không thể nói gì được nữa hả?
- Mày cũng sẽ chết, mày biết đấy, - cuối cùng anh nói.
- Đừng hòng như vậy. Tao sẽ trở lại Hong Kong trước cả lúc họ tìm ra mày. - Fong tiến lại một bước nữa. Bắp thịt Hatcher căng lên. Anh đứng doãng hai chân ra một tí thủ thế.
- Tại sao ít nhất mày lại không van xin cho người yêu được sống? - Fong cười chế nhạo. - Tại sao mày không quì xuống cầu xin đi.
Hắn tiến lên một bước nữa. Chân hắn đang ở trong vòng dây chão trên boong.
- Mày thực sự thích như vậy phải không? - Hatcher khẽ nói.
Fong mỉm cười, liếc cặp mắt đáng sợ đang bừng bừng lên vì khoái trá. Hắn rít lên:
- Ừ, tao thích như vậy lắm!
- Hãy bỏ việc đó đi, - Hatcher quát lên. Anh xô người về phía sau, đẩy Ginia té xuống thang vào cabin, né sang trái rồi nhanh như cắt nhảy về bên phải. Mắt Fong trố lên. Hắn nổ súng tức thì. Viên đạn bay vèo sướt qua tai Hatcher xuyên vào góc tấm kính chắn gió đúng lúc tay Hatcher tìm thấy ga. Một phát đạn thứ hai bắn ra. Nhưng không phải từ súng của Fong, nó được bắn từ một chỗ tối trên cầu tàu, trúng ngay ngực Fong. Chiếc áo sơ mi của hắn rách bung và máu trong tim phun ra. Hắn thét lên vì đau đớn.
Hatcher lao lên, chộp lấy cuộn dây chão, giật mạnh cho nó cuộn chặt lấy mắt cá chân Fong. Tên Tàu bật ngửa ra sau bay ra khỏi thuyền rơi tùm xuống nước. Hatcher cột đầu dây kia vào một móc ở lan can thuyền. Anh quay lại và bò xuống ca bin.
Ginia đang ngồi xệp trên sàn mắt mở to vì choáng váng. Hatcher nắm lấy tay kéo nàng lên và ôm lấy nàng nói:
- Tốt, xong cả rồi!
- Tôi có giúp anh chị tránh được chuyện rắc rối vĩnh viễn không? - Cirillo vừa nói vừa bước ra khỏi bóng tối. Ông còn kẹp súng dưới cánh tay. Ginia dựa hẳn vào cánh tay Hatcher. Anh thở dài hỏi:
- Chú từ đâu đến đây vậy?
- Gặp già Bob Hill. Ông già thấy cái anh chàng Á Đông này theo dõi cậu tối qua, vì thế tôi quyết định chặn tay hắn lại. Anh chàng này khá bảnh. Hắn đến Jacksonville trên chuyến bay trước cậu, mướn một chiếc xe hơi đợi sẵn và khi cậu đến là theo cậu đến đây ngay. Cậu thiếu thận trọng ghê gớm trong lúc đã nhiều tuổi đấy - Cirillo nói.
- Cháu tưởng nó đã chết, - Hatcher nói ngắn gọn.
- Bây giờ nó mới thực chết, - Cirillo trả lời, nhìn xuống xác Fong đang nổi úp xấp dưới nước. - Có phải đây là một trong những tên độc ác không?
- Tên độc ác nhất đây!
- Vậy chúng ta phải giải thích thế nào về vụ này cho mọi người đây? - Cirillo hỏi.
Hatcher kéo dây vào cho đến khi cái xác không hồn của Fong cách đuôi thuyền khoảng ba tấc và cột nó vào cái móc ở lan can thuyền, rồi đáp.
- Chúng ta không cần làm điều đó.
- Tôi không hiểu.
- Hãy tin cháu sẽ làm tốt việc này, chú Jim. Cái thằng này thậm chí không đáng được hưởng hai thước đất nữa. Cháu sẽ chạy ra bãi đá ngầm và cho cá ăn nó.
Cirillo nhìn người bạn trẻ của ông lâu, có lẽ đến cả phút. Ong thọc tay vào túi móc ra một chùm chìa khóa xe và giơ lên, nói:
- Nó trù tính chuồn nhanh, để chùm chìa khóa này ở trong xe. Giấy tờ mướn xe thì để trong ngăn để găng tay. Tiền thuê đã được trả trước bằng phiếu tín dụng. Tôi nghĩ có lẽ tôi lái chiếc xe này bỏ ở sân bay Jax và để chùm chìa khóa này ngay trên bàn.
- Cám ơn chú Jimmy. Tin cháu đi, chú đã làm ơn rất nhiều cho mọi người khi ghim một viên đạn vào người nó.
Cirillo nhìn xuống cái xác đẫm nước nổi úp xấp dưới nước đàng sau chiếc tàu lớn. Ông bật que diêm đốt điếu thuốc lá rồi quăng que diêm xuống nước.
- Hãy gọi điện cho tôi khi cậu trở về nhé.
- Cháu sẽ gọi điện. - Hatcher nói. Anh bước vào buồng lái, từ từ đẩy cần ga về phía trước.
Hatcher quàng tay ôm quanh người Ginia, kéo nàng sát vào mình: “Em không sao chớ?”
- Em... nghĩ... là vậy.
- Tốt.
- Em nghĩ có lẽ chúng ta cần nói về chuyện này.
Anh mỉm cười nói: “Anh nghĩ là em nói đúng”, và ghì chặt nàng hơn. Anh đẩy cần ga về phía trước và chiếc thuyền lớn lao nhanh trong tiếng nổ ròn rã lướt trên mặt nước kéo theo món hàng ghê sợ đằng sau, lướt qua bến tàu giờ đây đã vắng ngắt, lướt qua đốm đèn thân thiết của ngọn hải đăng, tiến ra biển khơi về phía bãi đá ngầm.
 
 
 
HẾT
 
0
NGỰA THÁI (THAI HORSE) - William Diehl
 
Đã mang vào thư viện
Cảm ơn hoi_Is đã góp sức cho thư viện
 
Chúc vui
 
 




0
«« « 1 2 » »»