Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Dì Mơ

14 trả lời, 35 lượt xem — Trang 1 / 1
Dì Mơ
 
Tủ sách NGƯỜI DÂN
ĐỖ THÚC VỊNH

Truyện dài


LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Đa số dân ta (dân tộc đông người, dân tộc ít người) sống tại làng, bản, sóc và làm ruộng, nương, rẫy. Họ là nông dân, là khối đa số thầm lặng. Và là một lực lượng cơ bản. Vậy mà chưa bao giờ vấn đề nông dân được nghiêm trang giải quyết.
Lý do dễ hiểu: những kẻ nắm quyền bính không như xưa - xuất thân đồng ruộng, quần nâu áo vải - thường là thị dân, tách rời hẳn khỏi khối đa số quần chúng đó.
Các đảng phái, đoàn thể tự nhận là cách mạng, chưa bao giờ tích cực vận động nên cũng chưa bao giờ được sự hậu thuẫn của nông dân. Do đó, dĩ nhiên chưa bao giờ là một thực lực. Ngoại trừ cộng sản. Họ lấy nông dân làm chủ lực. Và đã thành công !
Và mối ưu tư của thanh niên Đỗ Thúc Vịnh vào năm 1946 là : Phải có sự sát lại gần nhau giữa cái thiểu số thành thị và cái đa số nông thôn; phải có sự thông cảm giữa những người nhận lãnh công việc quang phục quê hương với khối đại đa số quần chúng; hay một cách văn hoa, phải nông thôn hoá thành thị và thành thị hoá nông thôn.
Với những bạn ham sách vở, Đỗ Thúc Vịnh không xa lạ. Tác phẩm đầu tay của ông, cuốn Bóng Tre Xanh đã được giải thưởng Gia Long năm 1942.
Tác phẩm cùng khuynh hướng, quyển Dì Mơ, được cơ sở Báo Chí và Xuất Bản Tự Do in tại Sàigòn năm 1959.
Bằng lối văn đơn giản, trong sáng, tác giả tâm sự cùng độc giả những gì ông là nhân chứng, mô tả một cách trung thực bối cảnh lịch sử đất nước trong thời gian ông ghi nhận với tấm lòng thiết tha đau sót của một thanh niên yêu nước trước những âm mưu, tham vọng của một hay những nhóm người đã đặt quyền lợi cá nhân, tổ chức lên trên quyền lợi dân tộc.
Thủ thỉ, nhẹ nhàng, nhưng tác giả dứt khoát hỏi:
Anh Hai mà phản bội ư ? Vậy những ai mới không phản bội ?
Giải phóng ? Giải phóng cho ai ? Giải phóng cái gì ? Thế nào là giải phóng ?
Nếu chưa biết mình muốn gì, đừng có nói giải phóng vội. Hãy tìm hiểu đã. Phải tìm mà hiểu nhau, phải tìm mà hiểu sự việc đã.
Nhưng ai sẽ được đây ? Kháng chiến được hả ? Nhưng kháng chiến là những ai ? Những kẻ dẫn về thủ đô trong chiến thắng sau này có phải là kẻ thực sự kháng chiến không ? Mà thắng để rồi sao nữa ? Để áp bức đói khổ ư ?
Đỗ Thúc Vịnh là một người quan sát, ghi nhận, phân tích và tâm sự. Tủ Sách Người Dân hân hạnh giới thiệu với độc giả những tâm sự ấy trong tác phẩm này (tác giả không hề nhận một chút tác quyền nào khi cho phép chúng tôi tái bản), những tâm sự, với thời gian, đã chứng tỏ không phải chỉ của lớp người trong giai đoạn lịch sử của thập niên 40 mà còn của cả chúng ta BÂY GIỜ.
Vì ngay bây giờ, câu hỏi của Văn, chàng thanh niên thành phố, vẫn còn nguyên ẩn số:
Chúng ta muốn gì ? Và làm gì bây giờ đây ?

* * *
Văn chỉ làng Thụy dựa lưng vào con đê, và ngoảnh nhìn ra đầm nước. Qua một sân rộng nền cao, còn có một nhà bia án ngữ mặt văn chỉ, có vòng thành và bậc xây lên xuống trông thật cổ kính và trang nghiêm. Bốn trụ nhà bia là bốn ngọn bút lông, còn chính nóc thì không hiểu sao không đắp nghiên mực mà lại đắp một bầu rượu với cuốn thư; có lẽ muốn biểu lộ phong thái khoáng đạt của kẻ sĩ nơi đây xem công danh là trò chơi và mơ tưởng nối gót Lão, Trang chăng? Cảnh trí quả là đẹp. Ý hẳn những tay văn học khoa hoạn cũng dụng tâm xây dựng khu văn chỉ để cho cả vùng huyện Thượng nhớ rằng đây là đất văn vật, phong thủy đã dành riêng cho dân làng Thụy có phần khoa bảng. Cả huyện Thượng này, làng nào có nổi một ông nghè, với các ông cử, tú, nhất, nhị, tam trường... như làng Thụy ? Có làng nào xây cất được văn chỉ với nhà bia như làng Thụy? Đình, thì làng nào mà chẳng có ! Chứ văn chỉ, ắt phải là nơi văn học, có khoa hoạn mới dám xây dựng để xuân thu, trên nền đất cao kia, các tay văn tự được vinh dự thành khẩn tế cáo Thánh Hiền. Miếng đất nhỏ nhoi ấy không thể có chỗ cho hào phú được.
Tòa nhà ba gian gồm hai lớp. Lớp trong thiết lập bàn thờ Khổng Phu Tử với thất thập nhị hiền. Lớp ngoài, thường ngày dùng làm lớp học cho trường làng; chỉ khi nào tế lễ mới tạm dẹp học trò nghỉ một buổi cho quan viên hành lể. Nếp đất cổ kính văn hiến của làng Thụy, tuy vào lúc hán học suy tàn, vẫn hình như không hề giảm mất chút nào vượng khí. Phần nào cái đó là ở như làng Thụy thức thời sớm biết canh tân. Hán học vừa suy thì đã xin ngay chính phủ ‘‘bảo hộ’’ bổ về cho một thày giáo ăn lương tại tỉnh. Ít nữa ra thì cả tổng, riêng làng Thụy mới có trường học mà thôi!
Cái làng nhỏ êm đềm dưới bóng tre xanh rờn ven sông Hồng kể ra thanh lịch thật. Chẳng thế mà thầy giáo bổ về dạy trường làng cũng phải cảm mến. Với số lương tuy ít ỏi song đủ sống phong lưu nơi thôn ổ, ông giáo cũng không buồn xin đổi đi đâu nữa hết; dĩ chí ông còn tự ý xin được lưu ở nguyên nhiệm sở này. Rồi từ ngụ cư, đến xin "vào làng ", ông giáo thành một dân làng thực thụ, đóng góp hẳn hoi. Cuộc đời thầy đồ tân học cũng êm ả, nhàn tản như thời nho học. Dân làng Thụy vốn khó tính, nên buổi ban đầu khi phải bỏ cái học thánh hiền để chuyển qua tây học đã không khỏi coi rẻ ông giáo trẻ tuổi; song vốn là dân hãnh diện vì nếp đất văn học, và mừng rằng đất lành chim đậu, nên cũng vui vẻ tiếp nhận người con mới.
Khi tới nhận lấy công việc rèn tập lũ trẻ làng, ông giáo còn trẻ lắm, ông chưa tới hai chục tuổi đầu, nên dân làng quen gọi là thầy giáo. Năm này qua năm khác, "thầy giáo " đã thành danh hiệu chính thức cả tổng Thụy đều biết. Từ khi bước chân tới trọ tại nhà một đàn anh trong làng cho đến lúc đã lấy con gái làng, yên vui lập gia đình, rồi xin vào làng, thầy giáo chẳng hề cho biết gốc tích từ đâu. Dân làng cũng mừng khỏi thấy nhà thầy một chốn đôi quê. Vả lại, nơi thôn ổ, tuy chỉ lắ một tiểu công chức vô danh, thầy giáo cũng là một nhân vật phong lưu nhàn tản, nhất là có văn học, nên đứng vào lớp đàn anh được biệt đãi, thì gốc tích thầy từ đâu dân làng cũng không cần biết.
Năm này qua năm khác, phong trào tân học càng phát triển. Thầy giáo dạy hết lớp con em này đến lớp con em khác. Có những trẻ kiếm được chút chữ nghĩa đọc viết thông thạo ; có những trẻ hàng năm lên trường phủ thi giựt được mảnh bằng sơ học ; có những trẻ được thầy rèn cặp đã khôn lớn và kế tục cha anh giữ chức vị trong làng ; và cũng còn có một vài người tiếp tục sự học ngoài tỉnh. Qua năm, tháng, người thư sinh bỡ ngỡ vào đời gõ đầu trẻ, nay tóc đã hoa râm ; mà trường làng Thụy thu gọn ở tiền đường văn chỉ vẫn chỉ có một mình thầy dạy dỗ từ lớp vỡ lòng đến lớp ba thi sơ học. Giọt nước nhỏ nhoi ấy cứ thấm dần, thấm mãi vào từng thế hệ của dân làng Thụy và cả tổng Thụy nữa.
Con em làng Thụy đi học thì cũng là vì cha anh cho đi học, sớm võ vẽ chút ít chữ nghĩa, may mà được mảnh bằng sơ học thì sau này ra làm việc dân, việc làng, còn giấy tờ khi lên quan cho xứng đáng ăn trên ngồi trước. May ra nữa, được chút phẩm hàm thì cũng lấy được hai chữ " văn giai" chứ không phải là " bá hộ " cục cằn thô lỗ.
Cho nên thầy giáo chăm chỉ dạy đàn trẻ biết đọc, biết viết, biết tính, cho chúng thi lấy mảnh bằng sơ học là mãn nguyện. Còn dùng cái học rồi để làm gì? Thì đâu phải việc của thầy? Thầy chẳng hề bận tâm. Tất cả chương trình giáo huấn ấy, một vài bài học thuộc lòng, một vài bài luân lý đơn giản, một vài điều yếu lược về sử ký, địa dư, cách trí... có lẽ ra khỏi trường là bọn trẻ sẽ để rơi mất hết. Việc của thầy giáo cũng không khác mấy thầy đồ dạy trẻ ê a  ‘‘nhân chi sơ, tính bản thiện...’’, khác chăng là ở chỗ các thầy đồ xưa bắt trẻ nhai nhải ê a như vẹt những câu về phép tu thân xử thế là mong cùng thời gian mà dần thấm được phần nào vào bộ não, cho chúng sau này có được đôi chút khí tiết nào chăng ? Chứ tây học có chương trình của nó, thầy giáo đâu làm khác được!
Nên chi bọn trẻ có để rơi mất mớ chữ nghĩa cũng tự nhiên như thầy đã quên chúng, để dùng thì giờ nhàn tản bên bàn tổ tôm họp với đàn anh trong làng, và vui cùng gia đình ngày một đầy đủ, ấm cúng. Tậu được mươi mẫu ruộng cho cấy rẽ, với số lương tháng tháng lên tỉnh lãnh về, đời sống thật êm ả! Cô giáo chẳng phải chân lấm tay bùn ; con cái thầy giáo cũng no ấm như ở các gia đình hào mục. Và cô Thọ, con gái lớn của thầy, cứ nhàn tản lớn lên trong sung túc, mặc ngày tháng trôi qua êm ả như làn nước phẳng lặng của ao tù dưới bóng tre xanh. Mảnh bằng sơ học quá ít ỏi ở nơi thôn ổ còn cho Thọ thêm một chút cao quý hão huyền. Số vốn học thức ấy thực sự cũng chỉ giúp cho Thọ ham đọc tiểu thuyết, hết truyện này đến truyện kia, đọc đi đọc lại cả bao nhiên lần, nhất là mùa đông giá lạnh, những ngày mưa dầm đóng cửa ngồi trong nhà chẳng biết cất nhắc làm gì cho hết thời giờ. Cuộc đời thực tế của Thọ quá giản dị, quá êm ả, lại cứ song song kéo dài với biết bao nhiêu cuộc đời tiểu thuyết, để mỗi ngày một in sâu vào tâm hồn cô gái nhàn tản quá thảnh thơi nên quá nhiều mơ ước.
Thầy giáo cứ bình tâm vui vẻ với nghề nghiệp, cô giáo cứ bình thản sống chuỗi ngày giản dị, gia đình, thầy giáo êm đềm sống thảnh thơi như lũy tre quanh nhà thở hút không khí đồng nội, hút lấy màu đất nơi làng nhỏ u tịch ven sông Hồng phì nhiêu này mà lớn. Nhưng Thọ đã không thể mãi mãi là cô gái nhỏ để sống vô tận cuộc đời bình thản như mặt nước tù hãm phẳng lặng ; Thọ ngày một khôn lớn theo với mái tóc ngày dần bạc của thầy giáo.
Cho đến cái năm dân ngoài tỉnh lo lắng nhộn nhạo vì bom đạn, thì ông giáo già cũng vội vã tắt đi như tắt theo cùng cả một lớp người đã hết thời hoặc tưởng chừng đã hết nhiệm vụ. Ông giáo không còn kịp thấy đất nước chuyển mình ; mà ông cũng
không được thấy hậu quả của công việc quá tầm thường ông hằng làm cả mấy chục năm qua, dù tự thâm tâm ông chẳng hề nghĩ đến và chẳng hề cần biết bọn trẻ học để làm gì !
Ông giáo già đã mất. Một ông giáo trường làng mà người ta đã quên cả hằng mấy chục năm giời, ngoại trừ người phát lương cho ông ở tỉnh, thì mất hay còn đâu có ngoài cái việc bôi bỏ một hàng tên trên bảng lương. Người ta thản nhiên gạc bỏ, cũng như khi vô tình viết lầm, tẩy xóa một chút là xong. Một ông giáo trường làng lại chết nhằm lúc nhộn nhạo Nhật áp đảo lớp người Pháp thống trị, thì cái chết thật càng tê tái; và việc học của bầy trẻ làng Thụy nhỏ bé kia còn có nghĩa lý gì. Ông giáo già mất đi, văn chỉ làng Thụy vắng tiếng trẻ học thì lớp tiền đường chỉ ngày rằm, mồng một mới mở cửa để quan viên khoa trường lễ thánh. Trường làng Thụy khởi cùng Tây học, sẽ suy tàn theo quyền thống trị của người Pháp chắc ? Dù sao thì trường học làng Thụy nơi tiền đường văn chỉ vẫn còn đầy đủ dãy bàn ghế lim nhẵn bóng, mà bỗng nhiên tẻ lạnh; và ngôi nhà bia từ bao nhiêu năm làm nơi cho bọn học trò nhỏ làm thành lũy công phá chống nhau, nay cũng chơ vơ im ả như tàn tích một ngôi thành cổ bỏ hoang.
Làng Thụy ngày một dìu hiu tiêu điều. Từ khi quân Nhật tới Hải Phòng, cảnh trên bến dưới thuyền của làng Thụy cứ giảm sút. Xưa nào ngô, đậu, từ các làng phía trong, qua cả con đường số một, cứ mùa tháng năm xong là kẽo kẹt gánh tới bến làng Thụy cân hàng cho các hãng chở ra Cảng. Chiến tranh thế giới tự đâu đâu làm cho ngô không bán ra ngoài được là bến làng Thụy tàn hoạt động; vì còn khách đâu tới cân ngô cân thóc cho suốt vùng đồng chiêm ven sông Hồng này ? Những dãy nhà làm kho, mươi quán ăn mọi khi ngày mùa đến là tới tấp phu phen ăn uống ánh đèn như sao sa, nay đã chỏng chơ tẻ ngắt.
Một không khí nặng nề u uất không biết từ đâu dần dần thấm qua lũy tre xanh rờn mà bàng bạc trên đồng ruộng xóm làng. Tuy đời sống vẫn im lìm buồn tẻ, vì súng nổ tận đâu kia, song dân làng Thụy thấy sưu thuế cứ dần thêm nặng chĩu trên vai, hết thuế đinh, thuế điền, lại cân thốc, cân đay... Mảnh ruộng đã không còn đủ nuôi sống họ. Những nét mặt hốc hác thiếu ăn, những thân hình gầy guộc xạm nắng trong manh áo rách, dân quê đã rút hết xương tủy đổ vào đất mầu, và chỉ còn biết đôi lúc thẫn thờ than thở bâng quơ: "Biết bao giờ mới lại thái bình mà làm ăn ? ". Thời "thái bình" họ ao ước, có chăng là ở trong mộng tưởng của họ qua những cuốn truyện phổ thông bình dị, hoặc qua những câu giáo đầu của gánh chèo khi hát diễn ở đình lễ thánh !

Làng Thụy đương thoi thóp như thể mạch đất làng đã hết vượng khí, thì một ngày cuối thu Giáp Thân (1944) trên bến sông bỗng nhiên nhộn nhịp. Cụ Hường cho tải về làng gởi ông anh biết bao nhiêu là đồ đạc quý. Cụ là em ruột cụ chánh bá cựu, nhờ làm phán sự đầu tòa tại tỉnh ‘‘mông ân nhà nước bảo h’’ ban cho hàm hồng lô, nên trong họ ngoài làng đều gọi là quan Hường. Hai thuyền đinh chở khẳm cặp bến làng Thụy. Phải hai hiệp phu cật sức mới dỡ và khiêng hết được về nhà là vừa kịp tối. Dân làng náo nức xem, trầm trồ khen ngợi. Toàn là đồ quý ! Nào chóe sứ cổ, nào đỉnh đồng hun, nào sập gụ chạm bát tiên, nào tủ gương bóng lộn... Dân làng Thụy quen với chõng tre, phản gỗ, quen với bát phố đũa mộc, nên chỉ biết bỡ ngỡ nhìn.
Rồi mấy ngày sau, cả hai cụ Hường đem con cái và chi trang ông phán Thành là con trai cụ chánh Bá, kéo nhau về thăm làng. Dần làng xôn xao, không hiểu có chuyện gì mà cụ Hường và ông phán Thành lại dọn bớt đồ đạc quý về quê như vậy. Làng Thụy đương yên tĩnh và hiu hắt sống dưới bóng tre xanh xơ xác, bỗng dưng cũng xao xuyến lây. Họ xầm xì hỏi nhau, rồi tự trả lời vu vơ, chỉ biết rằng nghe nói ngoài Hà nội không được yên, người ta đánh nhau, máy bay ném bom, sợ lắm...

Thế giới chiến tranh tận đâu đâu kia ! Phải chờ đến cái lúc chiến tranh đã tàn, mới thấy lũy tre dày đặc và ao nước tù hãm bắt đầu rung động.
Dần dần người ở tỉnh kéo về đông quá, phần nhiều là đàn bà trẻ con. Nào bạn bè cụ Hường, nào bạn bè và họ hàng đằng vợ ông phán Thành... Nhà cụ Chánh Bá cựu thật là đông, suốt ngày vui như hội. Thậm chí ông phán Thành còn tải về quê cả những thứ đến là lạ, nào gỗ lim phiến, nào sắt thanh, nào xi măng... Mấy năm gần đây, ông phán đã xin từ chức, và nghe đồn đi làm thầu với Nhật thì phải. Thực hư dân làng chẳng rõ, song bấy giờ thấy ông phán Thành về ở hẳn quê nhà, mà tiền tiêu cứ như nước. Cụ chánh Bá cựu nay chẳng còn làm việc vua việc quan nữa, song quyền thế của cụ Hường và của ông Phán là đủ. Thành thử ông Phán có tạm về ở ẩn nơi quê nhà cũng vẫn hống hách tự cảm thấy như vua con nơi đình trung miếu sở.
Chỉ ông Lý và hàng chức dịch là lo lắng. Nhất là từ hôm được cụ Chánh Bá cựu, chỗ quan thầy cũ, gọi vào thì thầm cho biết toàn là chỗ danh giá tai to mặt lớn ở tỉnh cả, phải liệu mà canh phòng tuần giờ cho cẩn mật rồi các ông các bà ấy chẳng chịu để thiệt cho anh em tuần tráng đâu, thì ông Lý đã phải cho họp ngay phó lý và trương tuần bàn định xin làng cắt thêm tuần phiên mỗi xóm để các ông bà ở tỉnh về được bình tâm đánh tổ tôm và ngủ cho ngon giấc.
Đời sống của làng Thụy thêm tấp nập; dân làng Thụy bỗng thấy cái gì cũng bán được cả, từ quả trứng đến mớ rau, trái bầu... nay đắt gấp ba gấp bốn. Thôi thì tội gì chẳng bán ! Bóp mồm bóp miệng bán được đồng tiền chẳng thích hơn ư ? Mỗi phiên chợ nay mổ tới hai con lợn cũng hết ; tôm, cá, cua, ốc... cái gì cũng bán chạy. Người dân quê moi mốc, vơ vét từ nơi chuôm ao tới đìa ruộng, chân giậu, có gì ăn được là đem ra bán, bán hết, để lấy chút sung sướng chắt chiu mươi lăm đồng bạc, và chờ ngày đổ hết ra nộp thuế cho yên lòng.

Trên con đê làng, chiều chiều những tà áo mầu, những cánh quần lụa trắng phất phới bay. Họ cười nói tự nhiên quá, mạnh bạo quá. Dân làng chố mắt, khẽ thì thầm:   ‘‘Sang quá nhỉ ! Ấy họ bà phán Thành, ấy người nhà cụ Hường đấy !...’’, và vô tình cứ ne né tụt xuống ven đê nhường lối cho các bà, các cô, các cậu tung tăng như thể chủ nhân của cái làng nhỏ yên tĩnh văn hiến này mà dân làng có bổn phận phải phục dịch vậy.

Hai lớp người sống cạnh nhau mà cách biệt như hai thế giới. Không một chút trao đổi ngoài việc mua bán thông thường. Người tản cư giầu có, cốt tránh bom đạn, vung tiền ra mua so với ở Hà nội thấy rẻ như bèo, nên thấy cuộc đời nhàn tản sung sướng quá. Âu cũng là một cuộc nghỉ mát ! Họ cảm thấy hãnh diện, tự xem ở trên tầng lớp dân quê nghèo hèn ngu dốt và cục mịch. Dân quê quen với đời sống thiếu thốn im lìm sau lũy tre, cũng thấy bọn người tản cư sang trọng quá. Thoạt đầu, nếp sống ầm ỹ, phóng phiếm, sung túc tới xa xỉ của dân tỉnh chạy bom đạn... chỉ làm họ ngạc nhiên và tò mò nhận xét. Ngày qua ngày, mãi rồi cuộc sống ấy cũng khiến họ khó chịu, cảm thấy tủi cực. Rồi một vài lời nói, một vài cử chỉ, một vài dáng diệu, dần dần khiến họ không thể thân thiện ; và mối căm hờn cái giầu sang kiêu hãnh của bọn người lấy của làm giẫy, đã nhem nhúm để âm ỷ bùng cháy lúc nào không hay...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
2

Con chép này, bác bán bao nhiêu ?
Dì Mơ giật mình, ngẩng lên. Một bà trạc ba mươi, môi thoa son đỏ chót, đương cúi nhìn con chép nằm trên mẹt, mang còn phập phồng thở. Dì Mơ lưỡng lự. Nào đã bán cho các bà ở tỉnh bao giờ ! Mà xưa nay dì có ra chợ bán cá đâu ? Mọi khi đánh được cá, dù nhiều dù ít, là xã Minh kho nấu để nhà ăn; có nhiều thì đem biếu u Trà nó, chứ bán làm gì! Nay nhân người ở tỉnh về nhiều cũng có, phần vì cân thóc đổ thuế cũng có, nên mới phải bán để lấy đồng ra đồng vào thêm cặp, chứ mươi sào ruộng sao cho đủ ăn!
Dì Mơ ngập ngừng:
- Tùy bà, bà cứ trả cho.
- Ô hay nhà bác này, bác bán bao nhiêu thì nói chứ ! Thôi trả cho một đồng đấy.
Con chép tươi ngon nằm ngang mẹt, giá xắt ra được tới năm khúc ấy.
- Bà trả thêm cho...
Bác xã Tèo ngồi bên cạnh, cũng chêm vào:
- Vâng, bà trả thêm cho. Bẩm, con cá tươi ngon lắm. Thôi, dì bán rẻ hầu bà phán đi. Ấy, bà phán trong cụ Chánh Bá nhà đấy mà... Bẩm bà, con cá này phi trong cụ, ai dám mua ? Thôi thì bà trà thêm cho ít nhiều.
Bác nói rồi, hềnh hệch cười, như đắc ý cho là mình khéo lắm.
Dì Mơ thẫn thờ, lơ đãng cầm tàu lá sen phe phẩy xua mấy con ruồi vo ve sán lại gần.
- Thôi, trả thêm năm hào là đồng rưỡi, đắt rồi đấy !
Dì Mơ uể oải khẽ lắc dầu. Bà phán Thành cau mặt:
- Gớm, đồng rưỡi còn chả bán. Đòi bao nhiêu nữa ? Chả bán, nhà bác đem về mà ăn !
Dì Mơ nghẹn ngào như tắc lấy cổ. Cái quá khứ đọa đầy, muốn quên mà quên sao được. Dì lặng lẽ cắp rổ cá mải miết đi về xuôi. Dì muốn đi nhanh, đi thật nhanh cho xa khuất cái chợ để không một ai nhìn thấy dì nữa. Bây giờ bà phán Thành có trả tới năm chục đồng, dì cũng chẳng bán... Cái gia sản ruộng sâu trầu nái của nhà cụ Chánh Bá, há chẳng đã chứa đựng bao nhiêu công lao mồ hôi nước mắt của dì trong những năm dì mang tiếng là mợ cả Thành, là nàng dâu ư? Để tới khi cậu cả Thành được cái danh ông phán Thành, thì mợ cả Thành cũng được ruồng bỏ ra khỏi cửa cụ Chánh Bá, mà chấm dứt cảnh ngộ con dâu là người ở, mà vợ là vú em! Nếu không nhờ mấy năm liều mình lưu lạc tha phương cầu thực, dành dụm được ít tiền, tậu được mươi sào ruộng, nếu không được người bạn gái cũ cho cu Minh làm con nuôi thì đời cô Mơ còn gì nữa? Lúc mới trở về dưới bóng tre xanh, Mơ còn lén lút sợ quyền thế cụ Chánh Bá, nhưng rồi ngày qua ngày, cuộc đời nghèo hèn ấy đâu còn vương lại chút âm thanh nào? Mẩu đời của cô Mơ cũng chỉ như viên gạch nhỏ ném xuống vũng ao tù khẽ gợn mặt nước trong khoảng khắc rồi chìm lỉm dưới làn nước xanh rờn và phẳng lặng. Nên chi cô Mơ cố trở về cần cù cùng dân làng Thụy, kéo dài cuộc đời vất vả, phải làm vì thấy như luật lệ cổ truyền là phải làm từ sớm chí tối, thì họ chỉ thêm thương mẩu đời bạc phúc. Rồi năm, tháng qua, cô Mơ luống tuổi đã thành Dì Mơ để cứ lặng lẽ cắm cúi trên mươi sào ruộng, chất phác và thuần chính như một sương phụ dưới bóng tre xanh rờn...
Quãng đời dĩ vãng thật khó mà tan hẳn trong tâm não người đàn bà. Bao nhiêu năm muốn sống mà phải nhẫn nhục với số mệnh, dưới áp bức đầy đọa nơi bùn lầy nước đọng, thật là vết thương khó lòng hàn gắn. Nên giờ đây, dì Mơ không muốn cho bọn họ nhờ có tiền của mà mua nốt cả công lao của con dì.
Dì Mơ mải miết về như người đi trốn không cần để ý đến những người làng nhìn theo thương hại.
Dì đặt rổ cá xuống hè đất, thẫn thờ ngồi bệt lên cần cối giã gạo vừa lúc xã Minh về.
- Dì không bán được cá ư ? Con nói để nhà ăn, dì cứ chả nghe.
- Thì cũng muốn bán cho có đồng ra đồng vào, dành dụm lo công việc hàng phe hàng giáp cho anh chứ!
Xã Minh chặc lưỡi:
- Phận dì con mình nghèo, tiền đâu mà vọng quan viên. Mới lại vọng mà chả có tiền, cũng chả ai coi vào mùi gì!
Dì Mơ đâu có để ý đến câu chuyện đương nói. Dì còn thẫn thờ vụt thấy trước mắt dáng điệu hợm hĩnh, nét mặt kiêu hãnh của bà phán Thành. Tâm hồn chất phác của dì không thể phân tách thấu triệt tình cảm ra sao, mà chỉ thấy bực tức. Trước mặt người đàn bà đã vì họ mà chồng dì - dù chẳng gọi là chồng nữa - đã khi dể phụ bạc dì, vì họ mà gia đình cụ Chánh đã phũ phàng bêu xấu làm hại cả một đời dì (1), mà nay cũng là người đàn bà ấy lại ngang nhiên kiêu hãnh trước mặt dì, thì làm sao khỏi

Chú thích :
(1)    Xem Bóng Tre Xanh, cùng một tác giả, Nguyễn-Đỗ tái bản (1957)

tủi hờn? thì làm sao khỏi tủi hờn ? Cái tức giận thù ghét phán Thành cùng cụ Chánh Bá, mọi uất ức xa xăm xưa ... hết thảy nay như chung đúc vào bà phán Thành, con người tân thời, đài các, giầu có, khinh người ấy. Rồi dì ghét lây cả cái bọn người nơi đô thị, nay vì bom đạn mới thèm về di trú nơi thôn quê cô tịch hủ lậu này. Tình ý căm hờn ấy bỗng buột ra trong câu nói bâng quơ:
- Ừ, bán làm gì cho bọn họ ăn! Bọn họ chỉ quen cậy của!
Xã Minh ngơ ngác không hiểu. Anh đâu thấy được những hình ảnh vừa dồn dập trong trí não dì Mơ, nên ngập ngừng hỏi lại:
- Dì bảo đừng bán cho ai ? Những người ở tỉnh ấy à ? Họ thì mới có tiền chớ; họ chẳng mua, ai mua ?
Dì Mơ chợt nhận thấy câu mình nói là bâng quơ, vội gượng cười:
- Tại ban nãy bà phán Thành trong cụ Chánh trả có đồng rưỡi nên tao không muốn bán.
Xã Minh nín thinh, cúi nhặt rổ cá đem ra bên vại nước đánh vảy.
Minh thương dì Mơ lắm, tuy dì chẳng hề kể lể chuyện của dì. Minh chỉ nhớ hồi còn bé được dì yêu lắm. Bẵng đi một dạo, không thấy dì đâu nữa. Khi dì Mơ về, thấy lại chơi với u Trà nó luôn. Một bữa u bảo:  ‘‘Minh ơi, tao cho mày làm con dì Mơ nhé? Dì yêu lắm cơ, tha hồ mà ăn quà’’. Nào Minh có biết thế nào là con nuôi đâu, nên thích ý vỗ tay cười vang. Thế rồi Minh theo dì Mơ về. Nhà dì cũng lợp lá, cũng chõng tre, mà còn nhỏ hơn nhà u Trà nó nữa. Nhưng Minh vẫn thích.
Cuộc đời bình thản của dân quê đầu tắt mặt tối như truyền kiếp sống chết với đồng ruộng, cứ lặng lẽ tiếp tục. Cu Minh theo thời gian cũng như trăm ngàn dân quê khác, đã học lấy cái nghề nuôi sống họ, dù cho vất vả, cực nhọc. Nếu không, còn làm cách nào hơn được ? Minh lớn lên, làm đủ công việc của người nông phu mẫn cán thì dì Mơ cũng luống tuổi. Nhưng cái gia đình heo hút ấy đã sống những ngày ấm cúng mà chính họ không hay.
Minh càng lớn, càng thường dì Mơ như thương u Trà nó, mà coi chừng còn quyến luyến hơn. Minh cũng thắc mắc muốn biết tại sao dì Mơ lại ở một mình với Minh như vậy. Hình ảnh thuở nhỏ hỗn độn, lờ mờ: cụ Chánh, cậu phán Thành, v.v... hết thảy đều mơ hồ không giúp Minh hiểu được chút nào. Vẫn biết chuyện dì Mơ thì làng Thụy ai chẳng biết; nhưng Minh không muốn tin, cứ yên trí chính dì Mơ hay u Trà nói mới đúng được. Minh đã hỏi u Trà, nhưng u nó chỉ cười: ‘‘Rồi lớn lên mày biết!’’.
U Trà nói đúng. Mỗi năm lớn lên, truyện dì Mơ, Minh lại rõ thêm một ít. Minh càng thêm thương dì, càng thấy ghét gia đình cụ Chánh Bá tệ. Khối ốc bình dị của Minh đã cho Minh quan niệm rằng người giầu chẳng có thương kẻ nghèo mà chỉ lấn hiếp, và những người ra tỉnh theo tây học, ông tham, ông phán, đều lố lăng bất nhân bạc nghĩa làm gì có nổi được cái nghĩa khí nho phong mà u Trà nó thường nhắc nhở một cách kính phục mến tiếc. Càng lớn, quan niệm ấy càng ăn sâu vào tâm não Minh, nên Minh càng khó chịu về thái độ kiêu kỳ khinh người của ông phán Thành đôi khi về quê thăm cụ Chánh Bá, và Minh lại càng bực tức về cái lối tự do hách dịch của bà phán. Minh thấy ghét họ quá, ghét vì họ đã phụ bạc dì Mơ, ghét vì họ ăn trên ngồi trốc hưởng mọi quyền lợi ở làng, mà nào cho làng xã nhờ vả được gì ? Hay động một chút là cụ Chánh đe sẽ bảo ông Phán làm tận chỗ ông Thống Sứ trị tội cho... Minh hậm hực, chỉ mong sao trời làm biến cố cho họ phải khổ sở mới thật là chí công. Minh tin ở phúc đức con người, và ao ước như vậy. Nhưng nhà cụ Chánh Bá cứ giầu thêm. Ruộng cụ cho cấy thuê, cứ chẻ hoe mỗi năm gạt đủ thùng cụ thu. Hết thảy như trời thật khéo chiều, và địa vị ấy tương chừng như bất di bất dịch. Cụ Chánh Bá vẫn cứ ung dung hách dịch. Cho đến cả cái năm xã Minh rẽ lúa về cho ông giáo, thấy nói
chuyện rằng xem báo các nước họ đánh nhau to lắm, rồi quan phủ về tận làng hiểu dụ dân, phát cả tranh một ông tướng già có cờ tam tài sáu lưng, bảo là quốc trưởng nước Đại Pháp, dạy đem dán ở nhà, Minh được một tấm thấy xanh đỏ cũng đem dán ở cánh cửa như tranh các ông tướng dán ở cổng vào ngày Tết. Nhưng đời sống ở làng Thụy tuy vẫn êm ả song đã khác. Khác vì thuế má cứ thấy bổ thêm, hết thuế đinh, thuế điền, lại còn phải cân thóc nạp cho chánh phủ. Dì Mơ và u Trà nó cũng phải làm thuê làm mướn. Dì Mơ và xã Minh, có hai người cùng làm được, lại có mấy sào ruộng nhà mà cũng chỉ loanh quanh vắt mũi bỏ mồm, áo quần rách rưới cũng chẳng xoay đâu ra mua được nữa. Sang đến năm Thân này thì quá lắm, làng trên tổng dưới đã dục dịch nhộn nhạo cướp trộm luôn.
Bẵng đi một giạo, lại ầm ầm đồn đại quân Nhật tới. Rồi có lệnh phá ruộng trồng đay. Thóc cứ cao, gạo càng kém. Người trên tỉnh kéo về tản cư tránh bom đạn thêm đông. Xã Minh biết rằng đó là thời loạn. Nhưng làng Thụy dưới bóng tre xanh mát vẫn êm tĩnh, và thật còn xa cảnh đốt nhà giết người như các cụ thường kể khi nhắc chuyện Tây sang hạ thành và giặc Cờ đen cướp bóc... Biết có  ‘‘thái bình’’  mãi như vậy không ? Và bao giờ mới ra khỏi vòng túng thiếu đói rách này ?
Xã Minh vừa làm cá, vừa miên man nghĩ. Những ý tưởng lộn xộn ấy đã nhiều lần đến với xã Minh, nhưng hắn thoảng vụt quên ngay để chúi đầu vào công việc hàng ngày. Dì con xã Minh tuy có đôi chút chữ nghĩa, đọc và viết thông chữ quốc ngữ, song có lúc nào bộ óc giản dị của dì Mơ hay của xã Minh bị giam cầm sau lũy tre, lại có thể tìm nghĩ xem ý nghĩa cuộc đời họ ra sao ? Đã biết bao thế hệ rồi ? Người dân quê Việt nhẫn nhục chịu để lo lắng cho đời sống thực tế. Họ chìm lẫn trong biết bao tập thể, nào tiểu gia đình, đại gia đình, nào phe, giáp, xóm,làng...; sống trong thiếu thốn, họ vẫn đình đám, đóng góp, rồi thuế má chồng chất. Nếp sống truyền tử lưu tôn ấy cứ xuôi dòng chảy mãi.

* * *
Xã Minh làm cá xong thì trời vừa tối. Càng về chiều, gió càng thấm lạnh. Tiếng kẽo kẹt nơi bụi tre xơ xác càng đổ mau và ngân dài. Đêm mùa lạnh ở thôn quê Bắc Việt bao giờ là chẳng não nuột cô liêu. Bức vách mỏng, nền đất nện không sao chắn nổi gió bấc giá buốt. Đêm lạnh ở đô thành, dưới ánh điện, dù ở những ổ chuột nơi ngõ hẻm nữa, cũng còn ấm cúng vì hơi nóng của bao con người bốc tỏa, vì còn nghe tiếng người, tiếng xe nhắc nhở rằng con người đang sống. Chứ thôn quê bao la quá, im lìm quá, nên lòng người càng cảm thấy heo hút, chơ vơ.
Xã Minh đổ trấu vùi xong niêu cá, thì dì Mơ cũng đã khêu sáng ngọn đèn dầu lạc. Gần một năm nay rồi, thật khó mà kiếm nổi một giuộc dầu hỏa ! Ánh sáng ngọn đèn không phá tan được bóng tối dày đặc. Dì Mơ cúi sát bên đống lửa cố vá chằng vá đụp chiếc áo nâu bạc thếch. Đôi mắt hiền từ đầy mệt nhọc dưới ánh sáng vàng khè đã không còn một chút sinh lực. Đau khổ và nghèo nàn đã sớm làm già khuôn mặt xinh tươi duyên dáng ấy. Dì mỏi mệt thõng tay, ngẩng lên :
- Minh à! Cứ thế này mãi rồi lấy gì mà ăn, mà mặc ? Nhà mình may không phải trồng sào đay nào đấy, chứ như vụ vừa rồi phải ra đình cân thì thật chết. Hôm ấy, mấy thằng Nhật nó đánh anh Tư Lù mà chẳng khiếp à ! Khốn nạn, đau thế chả biết đã khỏi chưa ?
Xã Minh ngừng đọc cuốn truyện Thạch Sanh rách nát, vùng nhổm dậy:
- Khỏi đâu mà khỏi! Nó đánh cật lực, tưởng anh ấy còn đay giấu đi không chịu cân cho đủ. Chúng sục cả vào nhà. Khổ, nhà anh Tư Lù thì còn gì nữa, rỗng như đít bụt ấy ! Đánh thừa sống thiếu chết, chắc gì còn sức mà làm vụ màu này... Mà lại còn sắp cân thóc nữa, chưa biết bổ bán ra sao. Tiếng là ruộng đồng làng ta hai mùa, nhưng giời làm khó khăn thế này, chiêm se mùa ỏng, được ít thùng thóc, bắt cân mãi rồi đến chết đói to.
- Thì chết đói rồi đấy thôi!
Một tiếng khóc thất thanh từ xóm bên, vượt tăm tối vọng lại. Dì Mơ nhớn nhác nghe. Xã Minh chau mày:
- Hẳn lại nhà xã Tèo. Thằng cu Nhớn ốm mấy ngày nay. Cơm còn chẳng có mà ăn, lấy đâu ra thuốc ! Cơ sự này thằng bé hỏng mất.
Tiếng khóc rền rĩ, mệt nhọc, văng vẳng trong đêm tối.
- Minh à ! Hay mày thử chạy sang xem. Tội nghiệp!
Xã Minh khoác vội chiếc áo đụp, nhanh nhẹn lách qua cánh liếp. Dân quê đi trong đêm tối bằng linh tính, bằng quen đường. Họ thuộc từng mô đất, từng khúc quẹo của mọi lối xóm nhỏ khúc khuỷu trong làng.
Xã Tèo giai ngồi bệt dưới đất, bên mấy gốc tre âm ỉ cháy dở; trên chiếu rách, cu Nhớn co dúm, cứng nhắc như con chó già ốm đói ; xã Tèo gái rền rĩ khóc con. Xã Minh vào, thêm dịp cho xã Tèo gái kể lể. Nào cháu nó sốt có mấy cơn mà đi đứt, tội nghiệp! Nào thằng bé sáng sủa thế, giời chứng sống ắt có phận nhờ. Xã Tèo giai lầm lũi, mệt nhọc ngắt lời vợ:
- Thôi, mẹ cu đưa nó đi cho xong. Khóc cũng chả lấy lại được nữa.
Xã Tèo gái vội túm vạt áo lau nước mắt, loay hoay cuốn chặt xác con trong manh chiếu rách, manh chiếu cuối cùng còn lại, để trơ lượt ổ rơm nằm đã dí. Đâu đấy rồi, bác đặt xác con vào trong chiếc thúng cũ, tay cầm mai, tay cắp thúng, âm thầm bước vào đêm tối. Không một giọt nước mắt; chẳng còn một tiếng khóc. Người mẹ quá bị giầy vò trong muôn vàn khổ đau khác, lo hiện tại và kinh hoảng ngày mai, nên cũng như mọi con vật mẹ khi bỏ con, đau khổ chỉ vụt thoáng qua, bâng khuâng rồi quên ngay được... Và như muôn ngàn người mẹ nghèo nàn nơi thôn quê Bắc Việt, đau khổ đấy, xã Tèo gái sẽ vẫn như cái máy hì hục nhấn mạnh thép mai, đào lấy cái huyệt nhỏ vùi xác con. Rét như cắt ruột. Đất ruộng cuối mùa hanh, khô màu, tơi tả tan dưới thép mai, như đời người nông dân Việt năm này qua năm khác bị đào lên trộn xuống, hoà lẫn mồ hôi, nước mắt, rồi cả xương thịt nữa, với đất, với phân màu... để làm nẩy bông lúa óng vàng, hạt gạo trắng, nuôi sống bao con người vô tâm khác, mà riêng họ thì chẳng hề no đủ.
Xã Tèo không ngoái mắt nhìn vợ đem xác con đi. Xã Minh ái ngại, bâng quơ nhìn xã Tèo gái cắp thúng biến vào đêm tối; nó chẳng biết nói gì đây ! Chán rồi, nó vụng về lại ngồi xuống bên đống lửa, vơ chiếc điếu cày rít một mồi thuốc. Sau rốt cũng đưa đẩy được một câu :
- Thôi anh Xã ạ. Số kiếp nó thế, chả nên nghĩ ngợi làm gì. Tôi nghe tiếng chị xã khóc, vội đâm quàng đâm quáng chạy sang.
Xã Tèo chép miệng :
- Số kiếp chúng tôi sao khổ thế. Chú tính, cả nhà còn được mỗi thùng ngô để dành xay độn ăn đập đất. Cháu nó ốm, bấm bụng bán đắt bán rẻ bốc lấy mươi chén thuốc của ông thầy khách. Ai ngờ cháu vẫn hỏng, mà trong nhà một hột nay chả còn. Biết lấy gì mà ăn mà làm cho tới vụ chiêm!
Một tiếng nấc khẽ nghẹn ngào trong cổ.
- Thằng cháu Nhớn bỏ, nghĩ tội nghiệp. Nhưng giá có sống thì nó cũng đến khổ.
Mắt xã Tèo bỗng vụt sáng, hắn hằn học dúi mạnh gốc tre đương cháy dở vào giữa đống lửa:
- Cùng quá, hồi chiều vào hỏi nhờ cụ Chánh Bá hai thùng ngô tưởng cũng liều đến mùa trả bao nhiêu thì trả, thế mà cũng không cho vay. Độc thật!
- Anh vẫn ra vào trong cụ ăn đỡ làm giúp xưa nay cơ mà?
- Thì vẫn ! Vay thì trả, có bao giờ lần khân đâu? Của đáng tội, có vụ tháng mười này vì thóc xấu quá nên thiếu lại một thùng về chỗ lãi, cũng tính rồi ra làm công trừ dần. Thế mà không cho vay nữa. Mẹ kiếp !
- Cụ ấy bảo khéo:  ‘‘Tiếng thế tôi cũng chẳng có. Năm nay các ông các bà ấy ở tỉnh chạy về cũng là chỗ quen thuộc, sang trọng, nên tôi phải lo chu tất, thành ra chả có đâu mà dư dật. Giá như mọi khi, chả tiếc anh đâu’’.
Xã Minh hậm hực, vội ngắt lời:
- Lạ gì ! không muốn cho vay thì nói thế, chứ ở tỉnh ai ăn gì đến ngô. Mới lại, một hai thùng họ thấm thía vào đâu. Thôi anh xã ạ, dì tôi cũng chả biết có còn đủ ăn tới mùa không; để tôi về xem, nếu có bớt được thì anh vay ăn đỡ ít bữa. Tôi xoay xỏa sau vậy.
Xã Tèo không đáp, lầm lũi nhìn ngọn lửa thoi thóp. Lúc này đây có lẽ xã Tèo gái đã cho thúng xác con xuống huyệt và đương lấp đất cho nó mồ yên mả đẹp.
Có tiếng mõ đổ hồi từ đầu xóm đưa lại. Xã Minh chậc lưỡi:
- Lại thúc!
Xã Tèo nhăn nhó:
- Đằng chú phải cân bao nhiêu ? Thật từ thưở cha sinh mẹ đẻ chả bao giờ tôi thấy thế này. Xưa kia mỗi năm một lần thuế đinh, thuế điền đã đủ chết bỏ cha; song sau vụ ngô, thu vén bán đi nộp thuế còn đỡ. Nay thuế gì mà thu tới hai ba lần, hết cân đay lại cân thóc!
Tiếng mõ dồn dập đổ lại gần.
Ba ngày nay rồi, tiếng mõ lẩn quất trong không gian. Từ xóm đồng qua xóm bãi, từ xóm thượng đến xóm hạ, tiếng mõ hết hồi này qua hồi khác khi gần kế bên, khi từ xa vẳng lại cứ đè nặng lên dân làng. Tiếng mõ đã thúc bách, mà ban ngày lát lát lại còn thêm những hồi trống ngũ liên trên điếm thôi thúc. Trống ngũ liên đổ hồi là báo động, phi cháy thì có cướp hoặc đê làng bị núng về mùa nước lụt. Song trống ngũ liên cũng còn để đốc thuế. Dân làng nháo nhác; thuế đinh thuế điền đã nộp từ tháng năm, tháng sáu ta rồi! Đây lại là một thuế mới: cân thóc nộp cho nhà nước!
Tiếng mõ  ‘‘cốc, cốc...’’ lan qua các ngõ xóm khúc khuỷu; tiếng trống đổ hồi như từng đợt sóng biểri ào ào xô đến... đã rung động lũy tre và gieo lo âu hãi hùng lên đồng ruộng. Phải ở thôn quê miền Bắc Việt mới cảm được hết thế nào là tiếng mõ. Có tiếng mõ từ tốn, ôn hòa, nhàn nhã mời dân làng ra họp về những dịp hội hè, đình đám; có tiếng mõ đĩnh đạc, rắn rỏi khi rao lệnh cho làng theo; mà cũng có tiếng mõ gay gắt thúc giục đầy de dọa khi đòi dân mau ra nộp thuế. Anh mõ làng thúc thuế thì không cần rao, cứ giong ruổi hết ngõ này qua ngõ khác, dùi mõ khua rộn trên mõ tre. Tiếng  ‘‘cốc, cốc...’’ như bàng bạc trong khí giời, lọt qua hàng rào thưa, suốt qua tấm vách mỏng, lọt vào tận căn nhà tối tăm, chẳng kể ngày đêm, không để cho người dân quê kia được nhãng chút nào rằng bổn phận là mau mau nạp thuế. Kể gì trưa, chiều, sớm, tối, mõ cứ rộn vang, gay gắt khó chịu, đến những người kiên gan nhất cũng phải nóng lòng, những người liều lĩnh nhất cũng phải lo lắng. Thiếu ăn, được. Rách rưới, được. Công nợ nghe rủa chửi, được. Bán vợ đợ con, được. Nhưng người dân Việt không thể không đóng thuế. Thiếu thuế là một tội ghê gớm, không một ai dám tưởng đến. Dân quê khổ sở vì thuế, điêu linh vì thuế, mà vẩn nhẫn nhục chịu nạp thuế. Nên khi tiếng mõ thúc thuế đã nổi lên là dân làng bắt đầu nháo nhác.
Tiếng báo động ấy từ ba ngày nay đã cuồn cuộn nổi lên như giông tố, và đến cái giây phút này cũng không buông tha cho xã Tèo. Cu Nhớn đã chết; thùng ngô cuối cùng đã bán. Song thuế thóc, xã Tèo vẫn chưa nạp được ! Nét mặt hốc hác thiếu ăn, thiếu ngủ như đã trút hết khí lực, xã Tèo rền rĩ:
- Còn gì nữa. Thôi thì cũng liều cho làng trăng trói. Cái nghèo là cái nhục.
Xã Minh rùng mình. Thân hình gầy guộc, xạm nắng trong manh áo rách tả tơi kia như xác ma sống lại, không biết còn phải là xã Tèo không nữa ?...
Một luồng gió bạo tàn vụt tràn ngập miền quê đất Bắc. Con vật nặng nề đần độn đã rùng mình. Còn hoang mang, song chỉ một tiếng gọi là đủ cho nó vùng dậy, điên cuồng tàn phá...

Xã Minh không đi tắt về nhà, mà lại vòng ra phía ngõ xóm. Hắn cũng chẳng biết tại sao nữa, âu cũng là thói quen khi chẳng có việc gì, đi mua đường la cà chơi vậy.
Hắn lủi thủi đi. Xã Tèo không còn lấy một hạt ngô, hạt thóc... Cu Nhớn đã chết có độc một manh chiếu rách... Thóc thuế chưa cân... Hắn lởn vởn nghĩ, mà cũng chẳng hiểu nghĩ làm gì. Từ hai bờ rào, chó thấy bóng người cứ giồ ra sủa tíu tít. Tới đầu ngõ, tiếng cười nói rộn vang vượt qua bức tường gạch cắm đầy mảnh chai, cao hơn đầu người một với. Tiếng người vui vẻ quá ! Ánh đèn sáng ngoài sân hừng đỏ lên cao, trông thật ấm áp. Hắn tò mò vòng ra phía trước, nhòm qua khe cổng.
Ngôi nhà ngói năm gian sáng choang dưới ánh đèn  ‘‘măng sông’’. Hai bàn tổ tôm có lẽ gần tan hội. Cụ Chánh Bá coi bộ được to, vuốt râu đắc ý ra mặt. Tiếng xướng, tiếng phỗng nghe đến ròn rã. Một lát, người nhà bưng lên hai mâm khói bay nghi ngút, đặt ở bàn lớn ngay gian giữa. Rồi tiếng bà phán Thành lanh lảnh ra tận ngõ : -‘‘Mời các cụ, các ông, các bà hết hội này nghỉ tay, xơi cháo gà đã. Rồi xin họp tiếp’’. Tiếng cụ Chánh bà the thé nói theo :
- Mời các Cụ thoang thoáng hết hội cho. Chín giờ rồi. Quê mùa cơm chiều từ sớm chắc cũng đói rồi còn gì. Cụ Hường nhỉ, mỗi lần ra chơi tỉnh, tám chín giờ tối mới ăn cơm, có bữa tôi bị đói mê tơi.
Dứt lời, cụ khanh khách cười. Tiếng mọi người nhao nhao trả lời. Cụ Hường bà nheo cặp mắt, nói nịnh chị dâu :
- Gớm, bác cứ lo ! Hai bác nhồi cho như nhồi vịt ấy, còn bụng nào mà đói.
Nhưng cụ vội xòe bài, hạ xuống chiếu :
- Kìa tam văn ! Tôi xin ù vét hội đây này. Trình làng : có thông tôm lèo ! Xuyên một tiếng tam văn... thế mà lên, may thật.
Như để tự thưởng cho ván bài vét hội, cụ hà hà cười:
- Chị phán này ! Ăn mãi gà vịt rồi. Mùa cá quả đấy, mai chị làm bữa cháo ám các cụ xơi nhé!
Tiếng cười nói lại nổi dậy, bàn tán xôn xao-  ‘‘Ấy, tại cụ đấy; tự nhiên đi đánh tam văn, còn quân nữa lật nọc, đánh lành chẳng đánh ! ”, - ‘‘Cuối nọc tam vạn, có phải tôi ù vét nọc rồi không !’’...
Mọi người uể oải, vuôn vai đứng lên quây quần bên bàn cháo. Tiếng thìa đũa khua động bát chén. Tiếng gọi, tiếng thưa...

* * *
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.03.2020 21:52:22 bởi Thanh Vân>
Xã Minh thẫn thờ đẩy cánh liếp. Nghe dì Mơ hỏi, hắn mới như chợt tỉnh:
- Hỏng rồi, dì ạ. Tội nghiệp cả nhà còn một chiếc chiếu rách quấn cho nó là hết.
Dì Mơ dụi mắt, sịt mũi:
- Chôn ngay à ?
- Dì tính, nó bé, còn đêm tối chẳng chôn ngay để làm gì ? Phe giáp gì đâu!... Con chết, mà một hột thóc chả còn. Rõ khổ, đến chết đói tất.
Dì Mơ lại nhọc mệt cúi xuống manh áo đương vá dở dang:
- Biết bao giờ mới yên hàn ? Bom đạn chẳng thấy đâu, mà đã nhăn răng cả ra rồi đấy.
Minh không nói, óc còn bận vì tiếng gọi, tiếng cười bên mâm cháo gà nhà cụ Chánh Bá.
Có tiếng chân người dừng ở ngoài sân.
- Chú xã có nhà không ?
Xã Minh vội trả lời vọng ra:
- Tôi ra đây !
Hắn với cây tay thước dựng bên vách, càu nhàu:  ‘‘Gớm, rét quá ! Con đi canh, dì nhớ !’’
Xã Khước chờ hắn ở cổng. Minh và Khước là chỗ thân. Minh cau có:
- Rét mướt, lại đói kém thế này, làm gì chẳng nhộn. Nhưng làng ta, thì ngoài cụ Chánh Bá và vài nhà trên phố xưa nay cân ngô cân thóc, còn ai là có máu mặt nữa? Ôi chào ! Đâu có cướp đến thứ nhà chúng mình.
Xã Khước trầm ngâm :
- Chú nói cũng phải. Nhưng cũng phải tuần giờ, nhỡ có chuyện gì khốn lắm kia.
Xã Minh chợt như thấy vụt qua hình ảnh dì Mơ bị đày đọa, cảnh xã Tèo nhăn nhó bên mấy gốc tre cháy dở, và lại mâm cháo gà nghi ngút...
- Mẹ kiếp ! Họ ăn cho sướng, chơi cho sướng, thì kệ thây họ lo chứ!
Xã Khước ngạc nhiên, như trố mắt cố nhìn xã Minh qua đêm tối. Xưa nay xã Minh vui tính lắm, sao hôm nay đổ chứng phát bẳn như vậy ?
- Chà ! chú mày hôm nay cáu kỉnh tệ. Tại các ông các bà ấy ở tỉnh chạy về, nên làng mới phải cắt thêm tuần xóm thế này. Thôi, có tao loạn người ta mới phải nhờ đến mình. Rồi yên hàn, đâu chả về đấy!
Xã Minh càng hằn học :
- Thế sao lúc yên hàn người ta chả thèm nghĩ đến làng ? Mà bây giờ dân làng đói nhăn cả ra đấy, người ta có ai thương !
Xã Khước chậc lưỡi:
- Chuyện!
Tự nhiên một không khí nặng nề như trùm lấy hai người. Xã Khước chẳng hiểu chuyện gì, đành cứ lầm lũi đi.
Bảy tám tay tráng đinh đã quây quần bên đống lửa nhỏ. Thấy hai người tới, họ oang oang cười nỏi:
- Ấy, ông trưởng xóm ! Trưởng xóm gì mà bỏ đi đâu thế, động dụng thì làm sao ?
Xã Khước sán lại đống lửa, hơ tay cho đỡ cóng.
- Trưởng với triếc gì ! Làng cắt thêm tuần xóm cho chắc dạ đấy thôi. Này, tiện thể, dặn trước các chú nhé: Cứ tối đến lại đây rồi khuya ai về cứ về, song động dụng là phải chạy lại đằng tôi ngay... À, tớ vừa lại thăm xã Tèo. Thằng cu Nhớn nhà nó bỏ rồi. Chú xã Minh vừa về, thì tớ đến.
Tiếng cười bặt hẳn. Những nét mặt chất phác vụt đăm chiêu. Xã Khước đập mạnh tay vào miệng điếu cày cho tụt bã thuốc, dằn tiếng:
- Mà vét cả nhà cấm lấy được một hột lúa !
Xã Minh chưa dứt khỏi ý nghĩ lẫn vẫn trong đầu từ hồi làm cá bên vại nước, lại chồm lên:
- Đấy ! Úi chào, canh với chả canh ! Tôi như xã Tèo, đi ăn cướp cho rảnh chuyện!
- Chú chỉ được cái nói liều ! Ăn cướp ở đâu ? Chẳng sợ tù mọt gông ư ?
- Rét mướt tuần giờ thế này, mà mai lại oặt xác ra làm. Mới trong Tết, chửa giáp hạt đã đói kém, phỏng tháng ba ngày tám làm thế nào?... Các anh có thấy nhà cụ Chánh Bá tối nào cũng ì-ọp tổ tôm ăn uống không ?
- Cái chú này đến hay ! Người ta có người ta ăn, can gì đến anh em mình.
- Thế can gì đến anh em mình lo tuần giờ đêm hôm thế này !
Một người vội xen vào như muốn cho êm câu chuyện :
- Ấy, ông Lý có nói cụ Chánh Bá bảo rồi các ông các bà ấy chả để thiệt cho anh em đâu.
Có tiếng thở dài.
- Nhà tôi đến ngô ăn cũng hết, chửa biết vay đâu bây giờ. Có vào vay cụ Chánh, đến mùa lại chẻ hoe một thành hai đấy.
Mỗi người một câu, quanh quẩn vẫn chuyện còn ăn, hết ăn, cân đay, cân thóc... Đống gốc tàn dần. Người nằm, kẻ ngồi đã lim dim ngủ. Riêng xã Minh thao thức mãi. Đầu hắn luẩn quẩn nào bà phán Thành mua cá, nào xã Tèo khóc con, nào mõ thúc thuế, nào mâm cháo gà nghi ngút... Xã Minh bực tức, xã Minh thương hại, nhưng chẳng biết làm gì, muốn gì. Những hình ảnh ấy chập chờn kéo qua kéo lại như quân đèn cù. Rồi xã Minh cũng ngủ thiếp đi.
Xã Minh vươn vai ngồi dậy. Bên cạnh, xã Khước ngáy pho pho. Bọn họ đi hết cả rồi. Hắn với chiếc ấm sành nước vối để bên đống tro còn hơi ấm, tợp một ngụm, súc miệng ùng ục. Sớm mai, giá buốt tệ. Nhà có mấy sào ngô, cấy rẽ thêm được mẫu rưỡi lúa chiêm, làm đất xong cả, chỉ mấy công tra hạt nữa là rồi. Hắn nghĩ vậy mới thong thả oằn oại đứng dậy, ra bên vại nước cho hai tay vào vụt nước rửa mặt, thở phì phì, rồi thong thả trở về.
Tới nhà, dì Mơ đã thổi chín cơm; thấy xã Minh, dì hối hả :
- Ăn cơm đi, rồi chạy lại đằng bà giáo. Hôm nay giỗ hết ông giáo, trong ấy có cho ra bảo đấy.
Không phải ở chỗ dì Mơ cấy rẽ mẫu rưỡi ruộng của bà giáo mà phải lụy như vậy đâu. Chẳng gì ông giáo cũng đã vỡ lòng cho Minh, và dạy cho Minh đậu được cái bằng sơ học yếu lược. Sau lũy tre dù cho là tây học đi nữa, chỗ tình nghĩa thầy trò vẫn được giữ chút nào phong vị của tình sư đệ ngày xưa. Vậy nên ngày mùa, bà giáo có bận cũng không cần phải ra tận tuông rẽ lúa, bao giờ Minh cũng sòng phẳng chia đều và gánh về tận nhà cho bà chẳng có tơ hào tham lam. Từ ngày có mồ ma ông giáo, Minh vẫn thường lui tới cất nhắc công việc giúp đỡ là đằng khác.
Người trai nơi đồng ruộng với hai mươi tuổi đầu đương lúc lớn lên, chẳng phong lưu gì song không công nợ, lại hồn nhiên vui vẻ thì kể ra cũng là khá tốt số ở sau lũy tre rồi. Minh vui vẻ và hồn nhiên là phải. Vì từ tấm bé đâu nó có phải cực khổ ăn không đủ no ! Có bao giờ là dì Mơ không chiều quý chằm bặp nó? Còn công việc đồng áng, thì một khi đã sống và học trong nghề đó từ nhỏ, đâu phải là khó nhọc cực khổ nữa! Gương mặt sáng sủa với sức vóc khỏe mạnh, anh trai làng vui vẻ vô tư lự ấy thật đã dễ thương. Còn sinh thời, ông giáo ưa xã Minh cũng là phải; mà gia đình ông giáo mến xã Minh cũng là lẽ tự nhiên. Xã Minh biết thế nên cũng quý thầy học cũ của hắn; hễ có buồng chuối chín hay đánh được mẻ cá ngon là y cũng nhớ phần biếu thầy.
Cho nên thấy dì Mơ nhắc là nó nhanh nhẹn dọn cơm ăn. Nồi cơm ngô vàng khè đến ba phần bắp mới có một phần gạo, đĩa cà muối, mươi ngọn rau muống luộc trái mùa đỏ bẻm, nhưng hai dì con ăn ngon lành lắm, cho đến khi nồi cơm sạch nhẵn. Thóc cao gạo kém, bữa nào chả phải thổi ngon ngót đi một tí!
Xã Minh tần ngần bưng bát nước vối nóng.
- Chóng quá, dì nhỉ. Thế mà giỗ hết ông giáo rồi đấy. Tiếng là đằng ấy có năm mẫu ruộng, song mà có ai làm được ? Cho làm rẽ, năm mẫu ăn còn có hai mẫu rưởi, lại thuế má. Bây giờ giời làm khó khăn mà bày ra cũng thật khỗ.
- Ai chả biết thế; song ngày giỗ thì phải có bát cơm quả trứng; vả lại phải có mâm cơm tạ họ chứ không người ta nói cho. Chắc bà giáo cũng dối giả cho khỏi tủi người chết đấy thôi.
Xã Minh như nghĩ ngợi, chưa hết băn khoăn :
- Cô Thọ cô ấy đến mười bẩy, mười tám ấy, dì nhỉ ? Mà sao chỉ quanh quẩn trong nhà không chịu học làm học ăn ?
Dì Mơ bật cười:
- Cái thằng đến hay ! Thì cô ấy học may học vá chứ lại như dì con mình xém mày xém mặt ấy à ? Con nhà học trò ai người ta chịu nổi. Mới lại năm nay hết trở ông giáo, làm gì mà chẳng chóng đi ở riêng. Ồ, mà thằng này chi hỏi vẩn vơ ; mau lên còn sang xem có làm giúp gì không chứ ! Con nhớ đem mấy nải chuối gọi là của nhà để thắp hương cúng ông giáo cho phải đạo.
Xã Minh không nói, lẳng lặng xếp mấy nải chuối vào chiếc rổ. Tự nhiên hắn cứ thấy băn khoăn về cô Thọ; tự hắn cũng chẳng hiểu vì sao? Ai lại con gái mười bẩy mười tám tuổi đầu rồi, chỉ quanh quẩn ở trong nhà, hắn thấy thế nào ấy! Bảo là khó chịu, cũng chẳng phải. Mỗi lần gặp Thọ là y như hắn lại thắc mắc. Có cái gì ở nếp sống ấy thấy như xa lạ không quen với hắn, khiến hắn bực mình. Hắn không hề có ý gì ghét cô Thọ, nhất là mấy năm trước đây, mỗi khi mùa gặt đến, rẽ lúa là thế nào Minh cũng bắt cho Thọ cả hàng chục con muỗm để nướng ăn. Những con muỗm cánh xanh màu lá mạ, với cặp răng đỏ chót, nướng lên thơm ngon chứ đâu có hôi như châu chấu. Đôi nanh sắc nhọn của muỗm cắn lắm cái đau ra dáng, lắm khi làm Thọ phải nhăn nhó khiến Minh phát tức cười. Sao những cái năm xưa Minh thấy Thọ gần mình thế, như hai đứa trẻ cùng nô đùa thân thiết. Chứ mấy năm nay, Thọ lớn lên, đã là cô Thọ, và tự nhiên cứ thấy xa dần. Hai nếp sống như của hai loại người khác nhau. Minh đã thành xã Minh, như biết bao trai làng khác, hòa đời sống với đất ruộng, với rặng tre. Thọ vẫn là cô gái làng Thụy, song là một cô gái cách biệt quá, sống nhàn tản trong xa lạ. Thọ không phải là những cô gái quen với chiếc vồ đập đất, quen với cái gầu dây hay néo mạ ; Thọ cũng không phải là cô gái làng với đôi quang thúng trên vai từ chợ này qua chợ khác. Cứ vậy, từ ba bốn năm nay, mỗi mùa gặt đến là Minh lại thấy Thọ xa lạ thêm, và nó thấy như bất mãn một cái gì vậy.
Ấy thế, song người trai hồn nhiên đâu có bận tâm lâu được. Nó quên khuấy ngay, và cũng lại nhớ ngay. Chợt có việc gì tới đằng bà giáo hay có việc gì nói đến cô Thọ là y như nó lại vẩn vơ thắc mắc. Nhưng gặp chúng bạn hay mắc công chuyện gì, thì tưởng như đã không biết có cô Thọ là ai hết nữa...
Xã Minh vội vã băng qua mặt đê, khỏi ngõ xóm là tới nhà bà giáo. Xã Minh đến còn sớm. Bà giáo chít tấm khăn ngang, ngồi têm trầu trên phản nơi đầu hè, thấy Minh chào, vội hỏi ngay:
- Đã cơm nước rồi cơ à? Hôm nay ở đây hộ cô nhé. Khổ, có làm gì đâu. Giỗ hết thầy nên cô làm một vài mâm cơm cúng. Neo người chẳng có ai, nên nhắn anh tới đỡ.
Thấy Minh đặt rổ chuối trên thềm, bà giáo nhăn mặt:
- Dì con anh chỉ khéo bày vẽ. Chạy lại là quí rồi!
Nhìn vào trong nhà, thấy nơi bàn thờ gian giữa, Thọ đương lúi húi xếp dọn, bà gọi với:
- Thọ ơi! Anh xã Minh đem cho mấy nải chuối tịnh đây này. Đem bày lên mâm quả, con ạ.
Và quay lại Minh, bảo :
- Hãy còn sớm, mà tôi đã cho dặn trên hàng thịt rồi, lát nữa anh lên lấy hộ về làm cũng kịp chán. Bây giờ thì anh xem lại mâm ngũ quả giúp tôi; con Thọ tiếng thế là con gái chẳng ăn thua gì đâu, chứ em Sơn nhà tôi thì mới lên mười tuổi đầu còn dại lắm. Thật đến khổ.
Xã Minh xem việc nhà bà giáo như việc nhà mình chẳng chút nề hà, nên nhanh nhẹn đem rổ chuối vào. Thọ đương loay hoay với mâm ngũ quả thật. Mấy quả bưởi, chục cam sành còn xếp trên mặt bàn thờ. Minh cười:
- Cô không quen đâu, để tôi bày giúp.
Trong ánh sáng ban mai, Minh chợt nhận thấy nét mặt Thọ xanh và đượm buồn. Tiếng Thọ nhỏ và thân mật:
- Anh Minh sang hộ mẹ tôi đấy à ? Vâng, anh bày giúp cho mâm ngũ quả ; tôi loay hoay mãi mà làm sao nó vẫn chỏng chơ thế nào ấy.
Minh ngạc nhiên. Ờ mà mọi khi nó vẫn cảm thấy Thọ cách biệt mình nhiều, như thể là lạ làm sao ấy ; thế mà lúc này chợt khác hẳn. Nó bần thần, chẳng biết nói sao. Nó cũng chẳng dám nói cái điều nó hằng nghĩ từ ít lâu nay. Nó đành chăm chú đem chuối xếp lên mâm rồi bầy bưởi với cam xen vào cho ngay ngắn mâm ngũ quả. Thọ vẫn đứng đấy. Minh có cảm giác là Thọ nhìn hắn, song hắn không dám ngẩng lên, chỉ khẽ hỏi:
- Cô cứ để tôi. Xong, tôi sẽ bao quét sạch sẽ. Cô có bận gì khác cứ đi làm đi.
- Cũng đã sắp sẵn cả rồi. Gạo nếp ngâm từ đêm, tôi dậy sớm đã vo sạch và xóc muối; chờ anh xong, bắc chõ hộ là thổi. Anh tính, có khách khứa gì đông đâu. Tiềm tiệm hai, ba mâm thôi mà... À, mà đêm qua ở đâu khóc thế, hả anh Minh ?
Tiếng Thọ trầm trầm, Minh nghe quen quá, quen như tiếng cô Thọ mấy năm trước đây vẫn hỏi -  ‘‘Có bắt muỗm cho tôi không đấy ? Được mấy con hả anh Minh !’’
-- Tiếng khóc to lắm, song ít thôi. Hình như có ai mới chết ấy, phải không anh ?
Xã Minh như vụt tỉnh :
- Vâng, anh xã Tèo mới bỏ thăng cu Nhớn.
- Tội nghiệp nhỉ. Nó làm sao thế ?
Nói vậy, chứ nào Thọ có biết xã Tèo là ai đâu ! Nhưng tự nhiên Thọ cũng cảm thấy như lây cái đau khổ của một người cùng làng. Mối thiện cảm ấy, Thọ cũng mới có gần đây thôi. Trước đây sao Thọ tự thấy như mình lạc lõng sống ở xóm làng Thụy; Thọ không thể nào sống cuộc đời của người dân đồng ruộng. Quanh quẩn ngày hai bữa ăn, ruộng nhà cho cấy rẽ, thày giáo tháng tháng lĩnh lương dư chi dụng, Thọ nhàn tản và êm ả sống, như rò cây mọc nơi góc nhà mau Iớn mà trắng muốt đâu có thở hút dạn dĩ nắng gió ở ngoài trời. Thọ xa nếp sống của dân làng Thụy, Thọ thấy bỡ ngỡ trong cái xã hội nhỏ bé ấy quá. Cả cho đến Minh xưa kia quen thuộc là thế cũng cứ dần dần xa lạ đi thôi. Thọ cứ mường tượng trông chờ một cuộc đời thế nào kia, khác với nếp sống tẻ ngắt này. Những cuốn tiểu thuyết Thọ đọc đi đọc lại càng làm cho Thọ nghĩ rằng rồi đây Thọ sẽ sống trong cái xã hội như thế. Thọ giữ mãi ấn tượng ấy và tin như vậy cho đến gần đây khi người Hà Nội tản cư về làng Thụy, bỗng nhiên Thọ cảm thấy đảo ngược cả ? Bọn người tản cư tung tăng trên đê làng với những tà áo màu, với cánh quần lụa trắng, với bao vẻ giàu sang... bắt Thọ lại nghĩ tới những cuốn tiểu thuyết hằng đọc. Thọ đã gặp những người ở tỉnh; và Thọ cũng thấy xa lạ với họ, xa lạ hơn là với những người dân cục mịch. Thọ chợt cảm thấy mình nhỏ bé quá, tầm thường quá. Cái địa vị một cô gái ăn trắng mặc trơn đậu được mảnh bằng sơ học yếu lược, trước đây cho Thọ giá trị của một công nương nơi đồng ruộng... thì nay vụt tan bay. Lớp người đô thị tản cư về làng Thụy đã đảo lộn phần nào nhận xét của dân làng mà vô tình ném Thọ vào chỗ nhỏ bé lãng quên. Thọ thầm cảm hết nỗi bẽ bàng âm thầm ấy. Cuộc đời tiểu thuyết của mình, Thọ những tương bắt đầu, thì đã sớm vội chấm dứt ngay mất; và Thọ có cảm giác ghen tức cái bọn người đô thị tản cư kia quá! Thọ chơi vơi sống, không còn mối giây nào cho Thọ bấu víu; để Thọ khỏi ngỡ ngàng nép mình sống dưới bóng tre xanh rờn của làng Thụy này được.
Trong ánh sáng ban mai, lúc này nhìn Minh, Thọ mới chợt nhận ra gương mặt sáng sủa và vóc dáng lực lưỡng người con trai mới lớn...
Thấy Minh không đáp, Thọ nhắc lại:
- Tội nghiệp cho anh xã Tèo nhỉ? Chắc phải thương con lắm!
Nào Minh có đọc nổi được ý nghĩ của Thọ, nên thật thà trả lời:
- Tội nghiệp thì kể cũng tội nghiệp. Nhưng giá có sống cũng chẳng có gì mà nuôi nó. Chết lại hóa may !
Bàn thờ đã bày biện xong. Minh hì hục xếp gạch nơi hè bếp, bắc nồi chõ đồ xồi, và chiếc xanh lớn luộc thịt. Bếp hừng cháy. Ngọn lửa ấm làm mặt Minh đỏ bừng. Nó nhanh nhẹn cời củi cho cháy đều, vừa ngó chừng xanh thịt cho chín tới, vừa chốc chốc lo đánh chõ xôi cho lên hơi đều. Công việc thổi xôi, luộc thịt, trai làng ai là chẳng thạo ?
Thọ nấu cỗ trong bếp. Không biết sao, chốc chốc Minh lại cứ thầm muốn ngó vào. Từ lúc nãy, Minh đã tự trách mình: ‘‘Nào cô Thọ có xạ lạ đâu, mà trước đây cứ hậm hực ?’’ Chẳng lẽ đi gợi chuyện ra hỏi làm lành ? Thọ tuy mải hi hoay xào nấu, mà không hiểu sao Minh đôi lần bắt gặp ngó ra nhìn mình. Mỗi lần như vậy, má Thọ hơi ửng hồng, không biết có phải vì lửa trong bếp? Và Thọ lại tươi cười vội hỏi:
- Sắp được chưa, hả anh Minh ?
Phải đồ những hai chõ xôi. Ở nhà quê vẫn thế, nào phần ăn, nào phần biếu. Nhiều ít phải đó dĩa xôi, thiếu không được. Xôi đã chín, Minh không bắc chõ ra khỏi bếp để khỏi mất công trét lại nồi đáy. Nhìn quanh quẩn không có ai, đành ngượng ngập gọi bâng quơ:
- Nào có ai đấy không ? Hộ tôi một tí dỡ xôi.
Tiếng Thọ khẽ cười:
- Còn có ai nữa mà gọi. Sao anh không bảo tôi ? Bộ thằng Sơn thế ai dám cho vào bếp ?
- Cô đang mắc nấu cỗ cơ mà !
- Rang sườn và nấu măng rồi. Còn có xanh chuối nấu, cứ để cho dừ không sao.
Minh vừa bỏ vung vừa nhẹ nhàng gỡ tầu lá chuối, thì Thọ đã tới.
- Cô cầm hộ cái rá này, kê gần miệng chõ, để tôi dỡ xôi ra. Xong còn đồ luôn chõ nữa.
Minh xúc vội xôi ra rá; hơi trong chõ bốc lên ngùn ngụt, như tắm vào mặt hai người. Minh thấy lòng nhộn nhịp quá, không dám nhìn lên, biết rằng cách đó có gang tay, Thọ đương nhìn mình. Tiếng nước sôi trong nồi đáy làm bật chiếc đũa úp kêu cạch cạch, phập phồng như trống ngực dồn dập đổ hồi. Không biết vì nóng hay vì rá xôi nặng chĩu, Minh nghe rõ hơi thở của Thọ cũng dồn dập như trống ngực của mình... chiếc xúc cuối cùng vừa đổ xong, Minh vội vã đón lấy rá xôi mà nói:
- Cô đưa tôi đỡ. Chắc nặng lắm, cô có mỏi tay không ?
Trong hơi khói bốc mờ, lại vội vàng, nên tay Minh chụp lên bàn tay Thọ. Cả hai đành yên như thế mà đặt rá xôi lên mép phản, sợ rút tay ra thì xôi đổ mất. Minh luống cuống đỏ bừng mặt, và tưởng chừng như Thọ cũng vậy.
Minh đổ nốt rá gạo nếp vào chõ, đậy lá và úp vung lại cẩn thận, mà trống ngực chưa hết dồn dập. ‘‘Không biết cô Thọ có giận mình không?’’ , Minh thắc mắc mãi. Ai bảo hấp tấp chụp phải tay cô ấy ? Minh trách thầm mình và đồng thời lại ngây ngất vì cảm giác lạ lùng chưa bao giờ có. Bàn tay nhỏ nhắn mềm mại, đỡ rá xôi nóng mà sao vẫn mát dượi... Minh tần ngần. Nào có ai nhìn thấy đâu ? Trong bếp có mình Thọ nấu cỗ. Bà giáo chốc chốc mới chạy xuống coi chừng nấu nướng. Vậy mà Minh vẫn thấy ngượng điếng cả người.
Xôi đã chín hết và đơm ra đĩa, thịt đã thái xong xuôi, mà Minh vẫn chưa hết thẫn thờ ngây ngất. Bàn tay mát dượi như vẫn còn nằm in trong lòng bàn tay Minh. Lòng Minh vẫn thắc mắc vẩn vơ thầm trách mình mãi.
Cơm cúng đã dọn xong, Minh tần ngần ngồi nơi thềm bếp. Nhà trên, tiếng ông thống Linh ê a cúng, và tiếng bà giáo cùng tiếng Thọ khóc hòa theo làm Minh thêm rối ruột. Thật hắn chẳng còn biết vì sao mà như vậy. Việc nhà bà giáo là việc của bà giáo. Giỗ hết thì phải khóc mấy tiếng, cổ tục vẫn vậy, nào có gì lạ! Vậy mà vì đâu Minh cứ vẩn vơ nao nao trong dạ, bồn chồn đến bực mình? Nó bực bội đứng dậy, toan đi về; nhưng cậu Sơn đâu không thấy, chẳng lẽ cứ bỏ đi.
Tiếng khóc vừa dứt là Thọ xuống, mắt còn đỏ hoe.
- Anh Minh hạ giúp tôi hai mâm để các ông các bà uống rượu đi!
Tiếng là giỗ hết, song đói kém, cực chẳng đã không đừng được nên bà giáo cũng chỉ mời những chỗ rất thân, và những nơi không thể lơ là - Cụ Chánh Bá cũng có đến. Chẳng gì trước đây ông giáo cũng có dạy ông phán Thành đến một năm ; và còn mồ ma ông giáo cũng thỉnh thoảng họp tổ tôm trong nhà cụ. Cụ Chánh Bá chẳng để ý đến xã Minh, song xã Minh nhớ lắm. Hắn nhớ đến thái độ của ông phán Thành, đến rổ cá chiều qua dì Mơ đem về. Hắn nhớ đến mâm cháo gà nghi ngút, đến xã Tèo gái cuốn chặt thằng cu Nhớn vào manh chiếu rồi tay cầm mai, tay cắp thúng, lẩn vào đêm tối. Mới đêm qua đây thôi, lâu la gì đâu!...
Tiếng mời, tiếng nói... Minh thấy ngao ngán quá, nên ngồi thừ ở hè bếp, lơ đãng cầm que gạt mấy cục than chưa tắt hẳn. Có liếng chân bước nhẹ sau lưng. Minh quay lại. Thọ đặt hai liễn cơm trên chiếc mâm nhỏ:
- Anh Minh hộ tôi nốt hai liễn cơm lên nhà nhé. Thế là xong.
Thọ thở ra, ngồi ghé trên mép phản. Minh ái ngại:
- Được, cô để đấy tôi đem lên... Thôi, chẳng nên buồn nữa, cô ạ. Thế là đầy đủ, ông nhà chẳng có điều nào phải ân hận.
Nó đoán chừng vậy, nào biết Thọ nghĩ gì đâu ? Không thấy Thọ nói gì, Minh đứng dậy bưng hai liễn cơm lên nhà trên. Trở xuống, vừa dựng mâm ở chân tường, ngửng lên, Minh đã bắt gặp đôi mắt Thọ. Đôi mắt đen láy, không biết sao cứ làm cho Minh phải xốn xang trong lòng. Nét mặt Thọ bơ phờ, có lẽ đêm qua phải thức khuya để sửa soạn, mấy sợi tóc mai dài nhỏ mướt dán lên thái dương lấm tấm mồ hôi, và xòa xuống đôi má ứng hồng phơ phất ít lông tơ... Minh thẫn thờ nhìn, và tự nhiên luýnh quýnh.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2020 10:41:34 bởi Thanh Vân>
Dù sao thì cuộc ‘‘cách mạng’’ cũng đã xáo trộn nếp sống của dân làng. Cách mạng thật ! Vì nếu cái việc uất ức của con người có phát khởi và bị lợi dụng chăng nữa, thì ít ra nỗi uất ức cũng hả được đôi phần. Những đổ vỡ đâu có đáng kể, vì thiết thực ra, người dân còn có gì để mà mất ? Nhưng dù sao thì họ cũng ngạc nhiên; ngạc nhiên vì không biết sẽ tới đâu, và vì nếp sống hằng ngày bỗng lỏng lẻo. Con thuyền đương ở trong sông ngòi, đem đẩy ra biển cả để mất tay lái, biết hướng về đâu ?
Người dân nơi thôn ồ ngạc nhiên, rồi ngỡ ngàng ; ngỡ ngàng trước lớp thanh thiếu niên vụt thay đổi. Cô gái quê mộc mạc, mà hốm hỉnh chua ngoa đanh đá, xưa nay chỉ biết cần cù, tháo vát tận tụy hi sinh, phố mặc cho chồng con về việc làng việc xóm... thì bỗng dưng tự đâu lớp con gái của ngày tháng tám này lại nảy sinh ra được những cô thôn nữ lao đầu vào một nếp sinh hoạt hoàn toàn khác lạ. Đã hẳn là chưa phải đa số; song đối với đa số thụ động thì cái thiểu số cuồng động ầm ĩ ấy choán hết cả. Người dân quê đã chịu đựng nhiều, nên sẵn sàng chịu đựng nữa. Chịu đựng cái cũ, cũng như chịu đựng cái mới. Chịu đựng những áp bức đe dọa cũ; mà cũng sẵn sàng chịu đựng những áp bức đe dọa mới.
Cuộc biểu tình tuần hành tại tỉnh lỵ Hà Đông đã kết thúc. Đoàn đại biểu các đoàn thể  ‘‘Cứu quốc’’ của làng Thụy cũng lên đường trở về. Con đường đá mặt đê chạy ven sông Hồng, Thọ thấy nó dài như vô tận! Thọ đâu có quen đi bộ hằng mấy chục cây số như vậy ? Đôi dép cao su cọ mãi vào chân làm phồng đau và mỏi rời; Thọ thấm mệt. Buổi đi nô nức, nay trở về Thọ chợt thấy quá ư trống rỗng... Mồ hôi thấm qua áo, những sợi tóc mai dài dán chặt trên đôi má bắt đầu xạm nắng, Thọ thẫn thờ bước, bước, bước mãi... Không thể cố gượng cười nói như bữa qua nữa. Mỗi bước, chân lại đau nhói; Thọ cắn răng cố chịu. Thì Thọ há đã chẳng lớn tiếng hô hào, hăng hái quyết tham gia cuộc biểu tình hoan hô  ‘‘Cách mạng thành công’’ , quyết tẩy sạch phong kiến tư bản ư ?... Bỗng Thọ ngã chúi về phía trước. Nàng vừa vấp phải mô đá, lạng người đi, may níu vội được người đi trước. Tiếng cười vang lên.
- Hoan hô ! Hai đồng chí đẹp đôi lắm. Xung phong kết hôn đời sống mới đi!
Thọ vừa níu được cánh tay Minh; má Thọ ứng hồng. Mà cũng không thấy Minh trả lời câu bông đùa ấy. Minh có nghĩ gì về Thọ không? ít ra thì câu bông đùa cũng nói hộ cho Thọ điều mà Thọ vẫn ủ ấp không thể nói ra được.
Từ ngày cách mạng tháng tám vọng tới lũy tre làng Thụy, Thọ đã từ bỏ lối sống bình thản quá phẳng lặng sau ngưỡng cửa, mà bước đại vào đời sống ồn ào. Cũng chẳng biết tại sao nữa ? Cái bực tức lớp người tản cư chạy bom đạn hồi nọ tha thướt huênh hoang áo màu quần trắng vung tiền tiêu phí ư? - Có lẽ. Người ta thúc đẩy Thọ, khiến Thọ lây cái cuồng nhiệt từ đâu tới, rồi tưởng như mình đã giác ngộ, đã tự giải phóng rồi ư ? - Có lẽ. Thấy họ khen, thấy các anh cán bộ thôi thúc, Thọ cảm thấy sao hăng hái thế. Thọ mơ hồ thích thú, tưởng chừng cuộc đời khoái hoạt trở lại và cuốn tiểu thuyết đời mình đã bắt đầu.
Thọ hô hào mươi lăm phụ nữ học tập, hô khẩu hiệu, tập hát, đàn đúm hội nghị...Ít ra thì cũng tự do, buông thả. Rồi được các đồng chí cán bộ phủ, cán bộ tỉnh đi về xây dựng. Thọ vui vẻ, ham mê nhất nhất xung phong. Bây giờ không phải là lớp những áo quần tha thướt màu sắc kia nữa, Thọ phải bước lên, giẫm lên trên. Nhưng phần nào, Thọ còn thấy kích thích vì nét mặt rắn rỏi của Minh chăm chú theo dõi mình. Cặp mắt sắc ấy, miệng cười tươi ấy, không hiểu sao cứ ám ảnh đầu óc Thọ. Minh, bây giờ là đồng chí Minh, chứ không còn là xã Minh nữa. Nhưng vẫn là Minh, con dì Mơ. Đành rằng dì Mơ cũng là con ông phó lý, đành rằng xã Minh cũng là cháu ngoại ông đồ... nhưng cái đó đã xa quá, xa quá rồi, và dù sao thì Minh vẫn chỉ là một nông dân chân lấm tay bùn... và Thọ cảm thấy ngại ngùng. Thọ có cảm tình với Minh từ cái buổi ban mai xếp mâm ngũ quả kia rồi ; và ở vào cái tuổi lớn lên giữa không khí ‘‘sinh hoạt cách mạng’’ đảo ngược mọi nề nếp, còn sợ gì trói buộc ? Vậy mà không hiểu sao, Thọ vẫn ngại ngùng. Thọ vẫn là cô gái miền thôn dã. Cái táo bạo nhất thời để a dua chưa thể giết chết hẳn bản chất người con gái quê làng Thụy. Cái chút tây học vỡ lòng vẫn chưa chìm ngập dưới bóng tre âm u. Nên Thọ vẫn ngượng ngùng, chơi vơi e ấp...
 
Mặt đê lởm chởm đá. Từ hồi chiến tranh, chính phủ bảo hộ có tu bổ gì cái mặt đê này đâu! Con đê lượn khúc theo dòng nước đục ngầu của sông Hồng, lúc thì bỏ cách cả xóm làng, vườn tược, lúc thì sát gần chỉ cách có khoảng bãi hẹp trồng ít luống ngô, khoai. Con đường quá quen thuộc với người dân làng Thụy, dù cho có dài biết mấy đi nữa thì họ cũng chẳng hề nghĩ tới. Họ đi là đi đôi chân giẵm trên các ngõ mòn năm này qua năm khác đâu còn biết ngại. Đối với bộ óc bình dị thì cứ đi là sẽ tới nơi. Nhưng Thọ không thế. Sinh trưởng ở sau lũy tre thật, song cô Thọ đã sống bao năm êm ả, mưa chẳng đến mặt, nắng chẳng đến mày, thì con đường quả đã quá dài. Nhất là sau giờ háo hức, sau cả buổi tuần hành qua các đường tỉnh lỵ, chân Thọ không còn muốn cất lên nữa; Thọ lầm lũi, như trong cơn mơ ngủ, cố bước theo đoàn người không ngớt chuyện vang. Đột nhiên có tiếng hỏi khẽ bên tai:
- Đồng chí có mỏi lắm không ? Cố lên một thôi nữa là về tới.
Thọ choàng tỉnh, gặp cặp mắt ái ngại của Minh, nên gượng cười:
- Vâng; vì đôi quai dép chật nên đau chân quá!
Nói vậy, chứ giá có bỏ đôi dép ra, có lẽ Thọ không đi nổi một quãng. Những mảnh đá dăm rải rác kia sẽ cứa nát gan bàn chân chưa quen thuộc ấy.
Đoàn người lặng lẽ trôi xuôi, cuốn Thọ theo mau. Về đến đầu tổng thì trời tối mịt. Vào buổi tháng chín, qua bãi gió từ sông thổi mát dượi. Qua quãng trống không có vườn tược, Thọ cảm thấy lành lạnh. Không ai bảo ai mà bước chân rộn rịp bỗng thấy nhanh hơn. Thọ cố theo, lồng ngực như bị đè nặng vì hơi thở rồn rập, hai bắp chân mỏi như dần, bàn chân tê buốt, Thọ rũ người, muốn tụt lại sau mà không dám. Chốc chốc vấp phải bíu cỏ, mô đất, lại lạng cả người; bất giác Thọ khẽ thở dài. Cũng chẳng biết tại sao mà thở dài nữa... Một bàn tay rắn chắc khẽ nắm lấy cánh tay Thọ như muốn đỡ. Thọ thừa đoán được là ai. Như mất hồn, Thọ vịn vào vai bóng người đó và thất thểu bước theo...
Cho tới khi ngừng lại, tiếng Minh khẽ ngập ngừng bên tai:
- Tới đằng nhà rồi. Về khuya như vậy, bà mắng chết!
Thọ giật mình, thấy đã đứng trước cổng nhà.
- Mắng! chịu vậy , biết làm sao ? Biểu tình tận tỉnh, đi mất mặt từ sáng hôm qua bây giờ mới về, thì thế nào mẹ em chẳng giận.
Trong đêm tối, Minh không rõ nét mặt Thọ, nhưng có lẽ không khác tâm tư mình. Nghe Thọ xưng em tự nhiên quá, Minh thấy bối rối. Cái tuổi hai mươi của người trai chất phác nơi đồng ruộng thật rộng mở như cánh đồng bao la, nên hồn nhiên quá đi thôi! Minh thấy lo âu, lo âu cho Thọ như cho chính bản thân. Thọ vẫn đứng yên bên Minh, chưa lên tiếng gọi cổng.
- Hay Thọ về đằng nhà; mai sớm dì tôi đưa Thọ về, chắc bà chẳng nỡ mắng đâu.
Thọ thấy tiếng Minh run run như bàn tay Minh đang nắm lấy tay mình.
Tiếng chẫu chuộc dưới ao đều đều gióng nhịp. Ngõ xóm hẹp, về khuya tối như hũ nút.
Thọ khẽ thở ra :
- Chết ! Ai lại thế. Thôi, từ giờ em chẳng đi biểu tình nữa đâu.
Dứt lời, Thọ đấm cổng, lên tiếng gọi.
- Thọ!
Minh khẽ nói, song nghẹn lời.
Có tiếng thưa, cổng kẹt mở. Tiếng Sơn hỏi:
- Chị Thọ đấy à ? Sao về khuya thế! Chị về một mình ư ?
- Biểu tình đến tận một giờ trưa mới xong. Đi bộ một hơi từ tỉnh về, vội bằng chết; nếu không, sáng mới tới nhà ấy. Tất cả đoàn đại biểu làng ta cùng về, vừa giải tán ở dốc ngõ nhà đây này.
Bóng Thọ khuất sau cánh cổng. Minh thẫn thờ trổ ngược ngõ xóm.

*  *  *
Minh khẽ nhắc tấm liếp cửa, nhè nhẹ bước vào nhà. Con Mực quen hơi chủ, chạy lại vẫy đuôi và đánh hơi phì phì. Dì Mơ đã ngủ. Tối như bưng. Minh quen lắm rồi, nó chẳng cần đèn đóm; còn có xó nào trong nhà này là nó không thuộc ? Không phải là sợ dì nó mắng nó đi về khuya đâu, mà là sợ dì thức giấc. Nó thương và quí dì Mơ lắm.
Ban nãy đã ghé cầu ao rửa mặt mũi chân tay rồi, chỉ còn việc đặt mình xuống tấm phản là sẽ ngủ ngay như mọi khi. Nhưng lạ! chẳng hiểu sao mà nó cứ trằn trọc không tài nào nhắm mắt được, cứ thao thức, thắc mắc mãi... Giờ đây, có lẽ Thọ đang bị bà giáo mắng nhiếc. Nghĩ cho cùng, cũng phải. Ai lại con gái mà đi biền biệt hai ngày giời! Nhưng Minh vội xua đuổi ngay ý nghĩ ấy. Đồng chí cán bộ phủ đã giải thích phải giải phóng, phải phá bỏ cùm xích của nếp sống lạc hậu đi cơ mà ! Minh chặc lưỡi. Nghĩ quanh quẩn vậy thôi, chứ mắng hay không mắng, giải phóng hay phong kiến, Minh cũng chỉ thoáng nghĩ qua; Minh có thao thức cũng là vì nét mặt bầu bĩnh ửng hồng với đôi mắt đen láy kia cứ nhìn Minh, làm cho Minh bồn chồn cả lòng cả dạ. Trong đêm tối mà khuôn mặt ấy, và cho đến cả những hàng lông tơ mịn màng phơ phất trên gò má cũng cứ rõ mồn một trước mắt Minh. Cả cái cảm giác khi bàn tay nhỏ nhắn kia mềm mại và mát dượi nằm yên trong tay Minh ; cái bàn tay ấy vịn vào vai Minh suốt chặng đường dài, đôi lúc như tì mạnh chĩu nặng, Minh phải cố nín thở không dám bước mạnh, chỉ sợ bàn tay ấy buột rơi mất. Cũng bàn tay ấy, ngày nào trong đám hơi chõ xôi nóng, tay Minh chụp phải, đã làm Minh ngây ngất nhớ tới mấy ngày... Khuôn mặt, đôi mắt, gò má ửng hồng phơ phất lông tơ, bàn tay mát dượi... Óc Minh miên man, khiến Minh thao thức mường tượng, cho tới khi Minh mơ hồ chợp ngủ quên đi.
Cả tuần nay Minh không gặp Thọ trong các buổi họp tại trụ sở ‘‘Ủy Ban Nhân Dân”, xưa kia là đình làng. Mà cũng không thấy Thọ hoạt động trong mọi công tác. Xóm làng vắng bóng Thọ. Không đâu mà Minh cứ cảm thấy bồn chồn, nóng lòng quá đỗi; nhiều lúc muốn lại thẳng nhà bà giáo, song hễ gần tới ngõ xóm bà giáo là y như lại tần ngần ngược đường trở lại, hoặc rẽ ngang sang xóm khác. Trước đây vẫn chạy đi chạy lại luôn nào có sao ? Bây giờ thì ngại ngùng ! Không biết Thọ có giận gì nó không ? Thọ có thắc mắc như nó không ? Bà giáo chắc đã rõ chuyện. Chuyện gì? - Nào đã có chuyện gì ? Song chúng bạn thường bông đùa chế riễu, nhỡ ra đến tai bà giáo ?
Đã đến tai bà giáo thật. Cũng lại đến cả tai dì Mơ nữa.

Kể ra đến tai bà giáo thì đã sao ? Miễn là Thọ cũng mến Minh như Minh mến Thọ. Cái đó tưởng chẳng còn nghi ngờ gì nữa! Hai đứa có lấy nhau, thật cũng chẳng khó. Ủy Ban Nhân Dân xã đã chẳng được chỉ thị từ phủ bộ ra lệnh cố gắng phát động và khuyến khích gây đời sống mới để phá vỡ tàn tích phong kiến hủ bại ư ? Chỉ việc đưa ra Ủy Ban Xã tuyên bố là xong. Ai cản nổi? Phải xung phong dứt khoát nếp sống cũ đi chứ!... Chẳng biết Thọ nghĩ thế nào? Chứ Minh, thì cứ nghĩ đến u Trà và nhất là nghĩ đến dì Mơ là Minh lại thấy nao nao cả lòng, mà vội xua đuổi ngay ý tưởng táo tợn ấy đi.
Muốn sao đi nữa, Minh vẫn là thăng cu Minh mà u Trà cho dì Mơ nhận làm con. Cu Minh đã lớn lên trong tình thương mộc mạc, trong không khí hy sinh cần cù và chân thật mà dì Mơ đã đem trút tất cả vào nó ngay từ buổi tấm bé. Những ý kiến mới mẻ mà các đồng chí phủ bộ hăm hở đề nghị, thúc giục xung phong, Minh vẫn chưa thể nghe xuôi tai. À, ví thử nó là con dì Mơ đẻ ra, mà dì Mơ vẫn là con dâu cụ Chánh Bá, thì có lẽ khác đấy ! Chứ đây, cái gia đình nhỏ bé bao năm heo hút sống một mẹ một con, cởi mở trong tình yêu chân thành đầy tin cậy... thì việc gì mà Minh thù ghét ? Dì Mơ bao giờ cũng thương Minh; làm sao nó có thể nỡ làm cho dì phải buồn khổ ? Minh có lấy Thọ thì ít ra cũng phải xem dì Mơ có thuận không đã chứ?

Cái tin Minh và Thọ phải lòng nhau làm bà giáo đau khổ biết mấy. Bà biết xã Minh lắm. Kể thì hắn ta hiền lành, chịu thương chịu khó, ngoan thật, nhưng... Ở làng Thụy này, từ việc to đến viện nhỏ nào bà có lạ gì ? Thông gia với dì Mơ ư ? Không thể được. Dì Mơ phúc hậu, dì Mơ tử tế; nhưng muốn thế nào thì dì Mơ cũng vẫn là mợ cả Thành mà cụ Chánh Bá đã cho ra, dù rằng dì Mơ chẳng có tội tình gì, dù là hiển nhiên nhà cụ Chánh Bá phụ bạc. Và muốn thế nào thì xã Minh cũng vẫn là con nuôi dì Mơ, vẫn chỉ là một anh tráng đinh. Còn Thọ, chẳng gì nó cũng là con ông giáo, nó chưa hề phải chân lấm tay bùn... Không, bà không thể chịu thế. Thà là con Thọ đổ đốn theo không xã Minh ; thà là chúng nó cách mạng lấy nhau lối đời sống mới hay gì đi nữa, thì bà mặc xác!

Ngay từ cái ngày cách mạng lây về đến làng Thụy mà Thọ bắt chước đua đòi học tập và tấp tểnh hoạt động, bà giáo đã nhiều lần khẽ bảo con gái. Ngọt có, xẵng có, nhưng nào có được. Mỗi lần bà đem điều hơn lẽ thiệt ra bảo là y như Thọ thuyết lại bằng những lời, những tiếng bà nghe trái cả tai. Thọ có nể sợ bà nữa đâu ? Bà giáo mơ hồ có cảm giác là bất lực, khác nào món đồ dùng cũ kỹ bị bỏ xó vậy. Nhưng đến cái chuyện Minh và Thọ phải lòng nhau, thì người mẹ tuyệt vọng cố đem hết sức làm con đê ngăn làn nước lụt đang cuồn cuộn dâng. Nhất là sau cái ngày Thọ cùng đoàn thể lên tận tỉnh biểu tinh, bỏ cả một đêm không ngủ nhà thì thật quá lắm, bà không muốn nhìn mặt con nữa. Tại sao lại thế được nhỉ ? Mặt trơ mày trẽn, biểu tình hò hét chưa đủ dơ đời ư ? Vắng nhà một đêm... À, cái đó người ta cười cho mục xương. Bà giáo xấu hổ lắm. Mấy ngày chết cay chết đắng, bà không thèm hỏi Thọ lấy một lời. Nhưng giận thì giận, bà lo lắng cho con gái mình, và tìm hết cách để giữ riệt Thọ ở trong nhà.
Thọ cũng biết vậy; và ở lì nhà không ra khỏi ngõ. Không hẳn vì Thọ sợ mẹ. Mà Thọ cũng không quên được Minh. Chỉ là vì Thọ đã mất cái hăng hái buổi đầu. Hơi men hoạt động chính trị dễ bốc mà cũng dễ sớm tan ở lòng người con gái tưởng đời mình là một cuốn tiểu thuyết. Hội họp, biểu tình, hoan hô... nay đã nhạt, mà cũng chẳng thấy đem lại chút thú vị của hơi men buổi ban đầu. Những ấm ức bực tức của cô gái phong lưu êm ả dưới bóng tre xanh khi cảm thấy tầm thường thua kém bọn người tản cư hào nháng, trước đây thúc đẩy Thọ làm cách mạng, thì nay cũng chẳng còn đối tượng nữa ! Bọn người ở tỉnh tản cư về làng đã đi hết từ lâu rồi. Cách mạng nào có đem lại cho Thọ được cái gì, ngoài mối tình của Minh ? Cho nên Thọ lầm lũi rút lui khỏi mọi công tác cách mạng, vì tình của Minh thì đâu cần tới cách mạng nữa? Thọ chờ đợi, như nhiều cô gái trong tiểu thuyết chờ đợi. Thế thôi!
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2020 13:14:14 bởi Thanh Vân>
Minh khẽ trở mình. Suốt người đau như dần, nó có cảm giác như khô cháy cả cổ. Đã mấy tháng nay? Bao nhiêu ngày rồi ? Minh không sao nhớ nổi. Nhật đảo chính; Tây trắng bị thua; rồi Nhật đầu hàng. Những người ở Hà nội khi trước chạy về làng tránh bom đạn đã lục tục kéo đi hết. Rồi làng Thụy trở lại hiu quạnh, nhà cụ Chánh Bá cũng chẳng còn ồn ào. Bỗng từ đâu có những người lạ mặt về làng. Xã Khước, xã Tèo tự nhiên thấy hăng hái, cùng nhiều dân đinh trai tráng hội họp, hô hào đả đảo phong kiến, cường hào. Đủ mặt đàn anh trong làng bị họ đả đảo, nhất là lão Chánh Bá. Phải, như xã Tèo thì ai bảo đả đảo lão Chánh Bá mà hắn chẳng nghe ! Hắn tức có lý lắm chứ. Con ốm chết, một hạt lúa ăn cầm chừng để làm mùa mà vay bóc vụ lấy ít thùng lão cũng nhất định không cho. Minh cũng thấy nô nức, hăng hái lây, như đứa trẻ bị nhốt, nay được thả lỏng tha hồ vùng vẫy. May cho vợ chồng thằng cha phán Thành đến nhanh, vừa thấy tin Nhật đầu hàng là tếch thẳng lên tỉnh, nên cũng chẳng ai làm gì, chứ không thì phải biết! Thôi thì cứ thấy vợ chồng lão chánh Bá sun lại, chả dám thò mặt đi đâu và im thin thít là Minh đủ thú quá rồi. Minh khoái chí, cười khanh khách... Chợt Minh thoang thoáng nghe như có tiếng gọi, và lay vào người. Minh khẽ mở mắt... Mang máng tiếng ai như tiếng dì Mơ :
- Minh ơi! Minh ơi! Con mê sảng đấy à? Khổ quá, sốt như nung như nấu thế này...
Minh mở choàng to mắt, Tôm cồm vùng dậy. Quái, sao đầu nhức như búa bổ và nặng chịch ! Minh lao đao nằm xuống. Nó nhăn mặt, cố mím môi, định thần nghe lại. Nó cảm thấy rõ ràng đôi môi khô ráp như vỏ cây trời hanh!
- Con sốt lắm hả dì ? Dì cho con ngụm nước.
Minh đỡ bát nước vối nóng, ừng ực uống một hơi. Làn nước ngăm ngăm đắng làm dịu bớt cảm giác khô cháy nơi cổ họng. Đột nhiên Minh thấy mệt và trống trải quá. Nó trở mình, cố thở mạnh; tiếng thở trở thành tiếng rên rỉ. Có lẽ vì làm việc quá sức, lại thiếu ngủ, nên nhờ sốt li bì mấy ngày mà nó tỉnh táo hơn. Tâm hồn Minh lắng xuống, và nó nhớ lại...

Từ mấy tháng nay, kể từ cái gọi là cách mạng tháng tám, Minh mê man hoạt động, Minh vội vã cuống cuồng hoạt động, thúc đẩy người khác hoạt động, tuy rằng chính Minh cũng chẳng hiểu gì cả, và chính Minh cũng bị những ai ai từ phủ bộ về thôi thúc. Đôi khi Minh phân vân, song rồi cũng đến tặc lưỡi nhắc lại như vẹt:  ‘‘Chà ! Tập thể chỉ huy, cá nhân phụ trách’’.
Minh biền biệt đi cả ngày, thì dì Mơ càng thêm bận. Mọi công việc đồng áng nay dì phải chăm lo gần hết. Xưa nay dì vẫn thương Minh lắm, có bao giờ dám nặng lời với đứa con nuôi đâu ? Vì Minh là lẽ sống của dì. Dì vất vả làm lụng để nuôi Minh; Minh vui là dì vui, Minh buồn là dì lo buồn. Cái tình mẫu tử của người đàn bà cô độc thèm khát làm mẹ, nhất là một người mẹ an phận dưới bóng tre xanh, thì có cần gì đến lý trí? Đời một người dân Việt hiền lành chất phác là gì ? Nếu không phải chỉ là một gạch nối của thế hệ trước với thế hệ sau ? Tiếp tục đời cha ông để truyền lại đời con cháu ? Đôi khi Minh chợt nhớ ra, cũng ái ngại, song chống chế ngay :
- Dì ạ ! Dì chịu khó vụ này, để con lo việc làng, việc nước, kẻo bọn cường hào họ hàng lão Chánh Bá lại đè đầu cưỡi cổ dân ta mãi.
Dì Mơ thì không nghĩ chi hết. Người đàn bà thuần túy sau rặng tre xanh có bao giờ không đầu tắt mặt tối đâu ? Minh biền biệt đi cả ngày cả đêm thì dì cũng thấy cảnh nhà vắng vẻ và cảm thấy hiu quạnh phần nào; Nhưng từ lâu rồi, dì đã quá quen với nỗi hiu quạnh của đời mình. Vả lại đầu tắt mặt tối còn có lúc nào để than vãn và tìm hiểu cảnh vất vả của mình ? Cho nên Minh càng không hay biết gì cả.
Giờ đây, Minh mới có dịp kiểm điểm lại những việc đã qua. Nó tỉnh táo hơn thật. Dì Mơ ngồi bên mép phản, đăm chiêu nhìn nó, rồi sẽ hỏi:
- Minh ơi, có thấy đói không ? Dì nấu cháo gạo mùa cho con đây này. Cố ăn nhé?
Nước cháo đặc sánh, với vị muối mằn mặn sao mà ngon thế ! Minh có cảm giác là làn nước âm ấm béo ngậy, từ từ thấm vào da thịt; và Minh cảm thấy tinh thần sảng khoái hơn.
Nhìn kỹ dì Mơ, nó ngạc nhiên. Đã lâu lắm mới lại có dịp nhìn kỹ khuôn mặt của người mẹ nuôi âm thầm chịu đựng cuộc đời trước mọi biến chuyển dù lớn, dù nhỏ. Từ biến chuyển cho chính bản thân tới những biến chuyển của cái xã hội nhỏ bé dưới bóng tre xanh, và cả những biến chuyển to lớn của đất nước mình, người đàn bà Việt nơi thôn dã này chỉ biết có bền bỉ chịu đựng. Những nét răn trên khuôn mặt hốc hác làm Minh mủi lòng. Trong giây phút, Minh thấy bâng khuâng, và mang mang cảm thấy trống trải quá...
Có tiếng chó sủa. Dì Mơ ngoái cổ nhìn ra, lẩm bẩm :
- Cái đĩ Bèo !
Tiếng nói quen thuộc vọng vào:
- U cháu bảo sang xin bác nắm lá kinh giới về nấu nước xông giải cảm.
Dì Mơ chép miệng : ‘‘ - Con bé ngoan tệ !’’. Dì nhìn đĩ Bèo chắc nịch, nước da bánh mật, đôi môi cắn chỉ, mà thấy yêu. Giá đĩ Bèo là con dâu dì ?... Dì vẫn nghĩ thế, và vẫn định bụng hỏi cho xã Minh. Chắc hẳn là ông bà Hương thuận rồi. Chỉ có Minh là cứ lửng lờ. Nhiều lần dì đã nói ý; dì còn bảo thẳng :
-  ‘‘Con bé ngoan tệ. Anh mà ưng, hỏi làm gì mà bác Hương chả cho. Có phải là nhà đỡ vắng vẻ không ?’’
Minh chỉ cười. Nào có nghĩ tới việc nhà vắng vẻ là thế nào ? Người trai làng hồn nhiên, dù mùa màng có cực nhọc, dù sưu thuế nặng nề, họ vẫn có cái sảng khoái vô tư lự, đố nhau chém mía dưới ánh trăng trên bờ đê, hoặc bông đùa bên đống lửa những đêm giá buốt phải tuần giờ. Cho nên trước đây xã Minh đã không nghĩ như dì Mơ nghĩ. Vả lại nó hằng bâng khuâng như muốn một điều gì mà chưa biết rõ, còn trông chờ một thứ gì mà chưa thể cảm thấy rõ rệt. Không hẳn là bất mãn với cuộc đời giản dị trong tình thương của cảnh một mẹ một con; nó chờ đợi và khắc khoải chút gì mới lạ cho cuộc đời đương sống.
Cho đến cái ngày giỗ hết ông giáo, nó nhớ mãi đôi mắt đen láy của Thọ, rồi đôi tay mát dượi, rồi tiếng chân Thọ thất thểu trên mặt đê...nó nhớ hết. Có điều là nó chưa dám nói với dì Mơ thôi. Nó chắc ý thế nào rồi dì Mơ cũng sẽ biết, và dì muốn thế nào, ắt sẽ hỏi nó. Còn dì Mơ thì dì chỉ thở dài mỗi khi tin Minh và Thọ phải lòng nhau lọt đến tai dì. Dì tìm u Trà nó để bàn chuyện, U Trà nó chỉ gắt: - ‘‘Chị cứ nuông nó lắm cơ! Lớn thì lớn, đánh tuốt xương nó ra. Chẳng cách mạng, chẳng sống mới, sống cũ gì hết ! Ai nuôi nó bây lớn ? Liệu cái mã cô Thọ có làm có ăn được không ? Cái thứ tây, tầu ấy mà làm gì ? So thế nào được với sĩ khí nho phong cơ chứ !’’ Thế là dì lại chỉ còn biết chép miệng thở dài.
Lúc này đây, dì cũng chỉ biết chép miệng than thở như muốn cho Minh nghĩ lại:
- Con bé ngoan tệ ! Mà đặng đột chịu thương chịu khó.
Minh không biết nói sao, cố lảng sang chuyện khác :
- Mấy hôm con sốt, có ai hỏi con không hở dì?
- Có mấy người nói là từ trên phủ bộ về, song thấy anh sốt li bì, họ lại đi.
Dì chép miệng, tiếp theo :
- Mà thôi cũng phải. Cũng còn phải lo làm ăn nữa chứ. Hội hè mãi như thế rồi biết ra sao?
Dì ngó ra sân, đăm chiêu nhìn bóng đĩ Bèo lom khom đương ngắt lá ở bụi kinh giới!
Bóng người gái quê bình dị, phẳng lặng như mặt nước ao tù dưới rặng tre xanh rờn êm ả, hiện ngay trước mắt mà sao thấy xa vời biết mấy.
Minh đã đi lại được, chỉ cần kiêng ít ngày nữa cho cẩn thận. Và bây giờ Minh lại sực nhớ đến công việc làm ăn. Thế là đã hai vụ rồi, vụ lúa mùa tháng mười, và vụ bắp tháng năm, Minh chẳng hề có biết đồng áng ra sao. Đành là Minh cũng có vội vã cày, bừa mấy sào ruộng nhà, nhưng đâu có thì giờ làm thêm ruộng rẽ, nên cứ phó mặc mọi công việc đồng áng vào dì Mơ. Xưa nay thì dì Mơ vẫn hằng làm như vậy, năm này qua năm khác, và có lẽ còn làm, làm mãi... cho tới khi nào tan biến vào mảnh đất quanh năm rút mầu mỡ làm nẩy hạt đâm bông nuôi lớp dân nghèo cực này. Có điều nay dì Mơ đã luống tuổi nên cảm thấy công việc nặng nhọc hơn, hầu như không còn làm xuể nữa, nếu không nhờ được đĩ Bèo đôi khi tới giúp. Biến chuyển của đất nước không vọng tới tâm hồn những con người sống cho đồng ruộng, mà cái xã hội nhỏ bé dưới bóng tre xanh đương bị xáo trộn cũng hầu như thể bỏ quên những bàn tay cần cù quá ư bình thản ấy.

Chẳng biết vụ tháng năm này có đủ ăn tiêu không ? Cứ thấy nói cách mạng thành công, mà cuộc đời cần cù, sống vật lộn của người dân chỉ thấy khó khăn hơn. Những ngày đông rét mướt đã qua trong căn nhà thường vắng bóng Minh mải lo hội họp; ngọn đèn dầu heo hút chỉ rọi có bóng dì Mơ cặm cụi vá chằng vá đụp mấy chiếc áo nâu bạc phếch. Rồi lại qua cả một mùa xuân ướt át trông chờ vào vụ ngô. Dì Mơ ra công thu vén, và cảm thấy như không còn đủ hơi sức nữa.

Chuỗi ngày sôi nổi với những xáo trộn ầm ĩ buổi đầu nay nghe chừng như dần lắng xuống. Dân làng Thụy vẫn hiền lành yên tĩnh sống. Tuy lão Chánh Bá phải len lén như con ốc sên cuốn tròn thu hình trong vỏ, song cũng chẳng ai nghĩ đến chuyện hạch sách gì. Có khác chăng là những cán bộ từ phủ gởi về công tác thấy cứ đi đi về về luôn, và Ủy Ban Xã đã hai ba lần thay đổi. Lại thêm nhiều chỉ thị đưa về làng, nào tích cực tăng gia sinh sản, rồi tuần lễ vàng, lại phản đối quân Pháp gây chiến trong Nam Bộ, hoan hô thỏa ước ngày sáu tháng ba, cải tổ Ủy Ban Nhân Dân, Ủy Ban Hành Chánh, Ủy Ban Kháng Chiến... Minh thấy hết thảy cứ dồn dập.
Rồi mãi thì dân làng Thụy cũng tự nhiên cảm thấy không khí dần dần khác lạ. Xưa kia khổ cực, ấm ức, không biết trông chờ gì? Nay cũng chửa thấy bớt khổ cực đâu mà lại thấy hoang mang, nghi ngại không còn biết ra sao. Một cái gì khác lạ và sẽ còn khác lạ như bao trùm lên đồng ruộng xóm làng.
Minh cũng mường tượng như vậy, mà không thể nào hiểu rõ được.
Một vài trai tráng trong làng đã dập dìu đi buôn, ngược dòng sông Hồng lên tận Việt Trì, Tuyên Quang. Có những lời xì xào lén lút! Có những người làng đi mà không thấy trở về. Minh vẫn mơ hồ; song đã có những lúc Minh chợt nghĩ lại cũng không hiểu Minh muốn gì ? Và làm thế để làm gì nữa ? Bây giờ chả còn ai ức hiếp hắn, đe dọa dì con hắn. Thật tình trừ cái truyện cổ xưa về dì Mơ ra không kể, mối bực tức đối với lão Chánh Bá nay cũng đã nguôi, thành thử Minh cũng không còn biết đòi hỏi gì bây giờ đây?
Và Minh chợt nghĩ rằng thôi cứ yên trí mà làm ăn như trước mà lại thú!
Nhưng không được nữa rồi. Ủy Ban hành chánh kháng chiến xã cải tổ, và Minh bị cử làm Ủy Viên Liên Lạc. Thật sự mà nói, gọi là Ủy Viên liên lạc chứ Minh cũng chẳng biết làm gì. Thôi thì cứ loanh quanh vậy, đôi khi chạy lên xã trên, chạy xuống xã dưới, gặp các đồng chí ủy viên khác nói dăm ba câu chuyện bâng quơ, hỏi thăm có tin gì mới lạ ở thủ đô... Để rồi ngày qua ngày, Minh lại cứ chờ. Chờ một cái gì mới lạ, chờ những biến chuyển mà Minh mơ hồ mường tượng sẽ còn nhiều, nhiều nữa.


* * *




Thế rồi qua vụ mùa tháng mười, phủ bộ có chỉ thị về là tình hình gay go trở lại do thực dân Pháp kiếm chuyện gây hấn, nên nhân dân cần vận dụng toàn lực chống lại, và triệt để đề phòng Việt gian. Các ủy ban xã phải xét hỏi chứng minh thư cho ráo riết, và tổ chức  liên lạc cho nhanh chống, ủy viên quân sự Khước vội vã triệu tập thanh niên, võ trang bằng giáo mác, và cắt đặt canh gác tại hai trạm trên đường đê. ủy viên liên lạc Minh cũng tíu tít bận chạy đi chạy lại. Song nói cho cùng, đều vẫn mơ hồ vì chẳng có tin tức gì. Có gặp anh ủy viên liên lạc xã thì cũng như Minh, chỉ hay rằng thực dân Pháp ngoan cố, và chính phủ cách mạng quyết đập tan, nên toàn dân càng phải tích cực chuẩn bị chiến tranh, và phòng ngừa Việt gian. Nào ai có thể tưởng tượng được Việt gian như thế nào ? Chỉ biết là ghê gớm lắm, như một thứ quái vật dò la để phá hoại; hễ có bóng Việt gian tới chỗ nào là chỗ đó tan nát ngay, tưởng chừng như  ‘‘giặc phạm nhan’’  thời xửa thời xưa các cụ vẫn kể, cho tới khi bị đức thánh Trần giết đi còn hóa làm ruồi làm muỗi hại người ta mãi mãi.

Trong không khí hoang mang nghi ngại ấy, đột nhiên lại thấy người Hà Nội lục tục về làng. Nhưng lần này thì không hẳn là những người hồi trước nữa. Mặt quen cũ có, mà còn có nhiều người mới. Họ giản dị hơn trước nhiều, song dân làng thấy họ vẫn phong lưu chán, tuy không nhởn nhơ kiêu hãnh vung tiền như hồi năm nào ; họ dè dặt và lo âu hơn. Tuy nhiên vẫn không có gì khác lạ, tuần này rồi tuần khác vẫn trôi qua trong êm tịnh...
Cho đến cái đêm mười chín tháng chạp (1) cả làng Thụy sửng sốt vì tiếng nổ dữ dội. Họ chạy vội lên mặt đê, hướng về phía Hà Nội thấy sáng rực cả một góc chân trời. Ai nấy nhớn nhác, không còn lòng dạ nào mà nằm ngủ được nữa. Tiếng nổ liên tiếp, màu đỏ của ánh lửa ửng lên trời như đẫm máu. Thôi, thế là chiến tranh thật sự rồi! Trời vần vụ những mây. Về khuya, tiếng nổ có bớt phần nào, song có lẽ lửa vẫn bừng bừng cháy. Vành trăng đỏ kệch như nhuộm máu, hình vòng cung in trên nền trời đục ; gần đấy, một ngôi sao lớn, đỏ rực không kém, như hệt một viên đạn lửa mà vùng cung trăng vừa mới bắn ra lơ lửng giữa trời. Cái màu đỏ như lửa và máu sao mà lạ thế ! Đích thị là triệu chứng đại loạn rồi. Dân làng túm năm tụm ba trên mặt đê bàn tán xôn xao. Gần về sáng, đã có người từ miệt Hà nội chạy về xuôi qua làng Thụy. Ai nấy túm lấy hỏi. Quả thật đã tác chiến tại thủ đô ! Tự vệ thành và dân quân du kích đương tấn công; chủ lực quân thì rút khỏi ra ngoài để bao vây và yểm trợ.
Mấy Ủy viên liên lạc xã chỉ còn biết tất tưởi chạy từ xã trên xuống xã dưới, và từ xã dưới lên xã trên... và họ đành ngơ ngác nhìn nhau xem từ phủ bộ có lệnh gì về không, chứ biến cố thì rõ ràng là thủ đô đương tác chiến rồi! Ủy viên quân sự cũng lo âu ra

Chú thích:
(1)    19 tháng 12-1946, dêm thủ-đô Hà-nội tác chiến.

mặt. Nhớ lại chi thị của phủ bộ là đề phòng Việt gian, song từ lúc tiếng súng nổ vọng về, ai nấy nóng lòng chờ, mong gặp được người nào từ miền trên về xuôi qua mặt đê để túm lại hỏi tin tức, thì còn nghĩ gì đến chuyện khám xét ?
Càng gần sáng, dòng người từ ngược kéo về xuôi càng nhiều. Đã có những mảnh bè trôi giạt vào làng Thụy và vương lại. Nét hãi hùng và lo âu còn in trên mặt họ. Ngày mai vô định như đe dọa những con người bồng bế nhau tản cư trong vội vã và túng thiếu.
Cái đêm lịch sử ấy đã làm cho cả làng Thụy nhỏ bé, xưa nay êm ả sống, phải thức sáng đêm trong hoang mang hãi hùng...
Thọ lúi húi giặt quần áo ở cầu ao. Thọ cũng thao thức suốt cái đêm vang rền tiếng nổ từ phương Bắc vọng về, và chẳng hiểu sao cứ nao nao sợ khi nghe tiếng dân làng xao xác trên bờ đê. Con chim nhỏ bé như linh cảm được giông tố đã nổi lên, mà hãi hùng vì yếu ớt. Sớm mai, nước ao lạnh buốt. Lòng Thọ cũng tẻ lạnh và u tịch như làn nước im lìm chết dưới rặng tre xanh. Thọ chỉ còn biết chờ đợi. Chờ đợi những biến chuyển bất ngờ của số mệnh. Người dân quê Việt đâu có nghĩ đến tạo ra cuộc đời cho họ? Thời thế và số mạng cứ việc mà xô đẩy, họ kiên nhẫn sẵn sàng chịu đựng.
Có tiếng người dừng bên hàng rào tre hóp thưa thớt. Thọ giật mình vì tiếng Minh gọi vọng qua:
- Cô Thọ ơi! Có người quen ở thủ đô chạy về hỏi thăm đằng nhà đây này!
Thọ chạy vội ra mở cổng, và bỡ ngỡ chào người khách lạ.
Minh cười, nói như giao hẹn:
- Sớm tinh sương, tôi vừa từ nhà lên trạm gác thì gặp ông đây vào trình giấy, và hỏi thăm đằng nhà. Thấy sớm quá, nên chờ tới bây giờ tôi mới đưa lại. Thôi, cô vào bẩm bà; tôi về nhé!
Thọ nào có biết họ hàng ra sao, nên ngượng ngập, và e ngại. Thấy Minh quay đi, Thọ cuống quít gọi lại:
- Anh vào chơi đã. Thế nào mẹ tôi chẳng hỏi; đi, anh Minh.
Vào chơi, gặp bà giáo? Mấy tháng rồi, Minh đâu có dám đến! Minh ngập ngừng, nhưng đôi mắt đen láy của Thọ với bao nhiêu lo ngại, như cầu khẩn. Tự nhiên không biết sao Minh lẳng lặng theo chân người khách lạ cùng Thọ vào nhà.
Bà giáo vẫn niềm nở với Minh như không hề biết tới những tin đồn đại về Thọ và Minh từ khi có cái ngày cách mạng. Bà còn tươi cười trách khéo Minh làm sao có tới nửa năm nay bán xới mất mặt không năng lui tới cho thân mật như hồi nào. Có lẽ vì lâu nay giữ được Thọ ở nhà không cho ‘‘tham gia hoạt động cách mạng’’ triệt để như trước, nên bà đã yên trí. Hay vì có người lạ ? Rồi bà lại nói qua chuyện khác, hỏi thăm tin tức thủ đô, và thân mật kể họ hàng người khách mới tới cho chị em Thọ biết.
Ông giáo vẫn có người họ à Hà nội. Còn sinh thời, mỗi khi lên tỉnh lỵ Hà đông lãnh lương, ông giáo đều có ghé thăm. Bà giáo thường nghe nói đến, song cũng chẳng có dịp nào được gặp. Dù sao thì tao loạn được gặp nhau là quí rồi, nhất là khi người họ đây lại là một thanh niên trạc độ hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi. Kể họ ra thì Thọ phải gọi bằng anh. Ý bà giáo cũng mừng thầm, vào buổi nhộn nhạo này như thế nhà cũng đỡ vắng vẻ. Bà mừng hơn nữa là từ nay có thể nhờ người cháu họ này rèn cặp cho Sơn, con trai bà. Chỉ có Thọ là cảm thấy phiền phức. Là con gái lớn trong nhà, Thọ phải trông nom cơm nước, và còn phải giữ gìn ý tứ.
Sống ở thôn quê, thì trong nhà rau cháo với nhau thế nào cũng xong; và đời sống hầu như ngày nào cũng bình thản trôi đều như nhau. Nay có thêm một người, nhất là lại từ nơi tỉnh thành khác lạ, thì dù cho thân tình đi nữa, lẽ tất nhiên nếp sống trong nhà không thể không xáo trộn hết cả dòng đời buồn lẻ.
Nhưng Văn, người trai trẻ mới đến, chỉ ít ngày sau đã hòa mình được vào nếp sống giản dị của dân làng, và bà giáo thêm cảm mến, ngỏ ý  lưu lại không muốn để cho đi.

*  * *
Chiến tranh ở miền đất Việt Nam này cũng kỳ lạ. Nó chỉ thực sự khởi đầu khi đâu đó đều loan tin hòa bình đã trở lại trên thế giới. Đành là một vài khu phố vẫn cầm cự chiến đấu song, thực tế ra, thủ đô Hà nội đã thất thủ. Người ta chỉ còn nói đến việc phong tỏa Hà nội để chuẩn bị tổng phản công, mà người ta không còn nói đến làm chủ tình thế ở Hà nội nữa.
Lệnh vẫn tới tấp về; nào tăng cường canh phòng Việt gian, nào hô hào chuẩn bị trường kỳ kháng chiến. Song làng Thụy còn có thể làm gì được hơn ? Vả lại sau những ngày nhộn nhịp vì những người tản cư từ thủ đô kéo qua đê làng chảy về xuôi, để rớt lại đôi ba người tạm trú trong xóm, nếp sống của làng Thụy dần tạm trở lại bình thường. Cái làng nhỏ bé cách thủ đô không ngoài bốn chục cây số ngàn về phía Nam, mà sao thấy như chiến sự còn xa lắm ? Sốt ruột chăng chỉ có một vài nét mặt mới lạ tản cư khỏi thủ đô khi từng loạt súng đã bùng nổ. Họ đem theo biết bao nhiêu niềm u ẩn. Nhưng rồi họ cũng ngày lại ngày lặng lẽ đợi chờ và đành chịu kiên nhẫn sống như dân làng. Thật là giản dị ! Một mai kháng chiến thành công, rồi ai lại về nhà nấy như hồi nào tản cư trước đây. Ít ra thì ủy ban kháng chiến xã nghĩ vậy.
Nhưng tỉnh bộ họ không nghĩ thế. Đã có mật lệnh về phải lưu ý đến bọn tản cư, không thể để họ lặng lẽ sống ở bên lề đời sống của dân làng. Hai Ủy viên Khước và Minh phải kiểm tra lại từng nhà. Âu đó cũng là một dịp để Minh lui tới nhà bà giáo, Minh nóng lòng muốn đến, không những vì Thọ, mà cũng cần phải biết rõ cái người cháu mới tản cư từ thành về. Minh không dám đi một mình; nó phải rủ Khước cùng đi.
Một hai lần Minh còn ngượng ngập, song may gặp Văn vui vẻ giúp cho Minh đưa từ câu chuyện này qua chuyện khác. Và chỉ ít lần gặp gỡ là Minh đã cảm mến người thanh niên hiền hậu hòa nhã, thật khác với những con người tỉnh thành chạy giặc về làng trước đây.
Văn cũng hiểu rõ công tác của Minh, nên chàng không cần đợi Minh hay Khước kiếm cách nói khéo để che đậy việc kiểm soát những người tản cư, mà làm ra vẻ tự nhiên nói hết ý định của mình. Sau một đêm ở thủ đô, bị đứt liên lạc, chàng tạm về đây trú chân ít lâu, chờ liên lạc với các cơ quan trên khu rồi sẽ lại lãnh công tác mới. Bây giờ thì Văn sẵn sàng tình nguyện giúp đỡ việc dậy học cho con em ở địa phương nhà.
Thế là mấy ngày sau gian tiền đường văn chỉ làng Thụy lại có tiếng trẻ học. Xưa nay đất làng là đất văn học khoa hoạn, thì dù cho là thời buổi cách mạng cũng vẫn phải rèn cặp để hiển đạt trong chính quyền cách mạng chứ ? Ủy ban kháng chiến xã, trụ sở của phụ nữ... đều dọn hết qua bên đình và hai bên nhà giảng vũ, để nhường chỗ cho lớp học.
Văn thích thú trong công việc này lắm thì phải. Ngoài buổi học, người trai tuấn tú, điềm đạm và nhanh nhẹn ấy còn soạn cả một vài kịch ngắn dạy trẻ tập dượt với nhau. Mới ít ngày mà lũ trẻ trong làng đã mến Văn, nghe theo răm rắp. Còn Minh thì tự nhiên cũng thấy gần Văn hơn, quên cả công tác là kiểm soát mọi hoạt động của Văn. Hai tâm hồn trai trẻ và thẳng thắn nên chẳng hẹn mà sớm thông cảm với nhau. Kể cũng dễ hiểu. Minh thì nhận thấy ở người thanh niên học thức này một cái gì mới lạ có sức thu hút Minh, và tưởng chừng như sẽ đem lại những điều nó hằng mơ ước muốn hiểu mà cho tới nay vẫn không làm sao biết được là muốn gì. Văn như thể một ánh lửa sáng trong đêm tối mờ mịt vậy. Ngược lại, Văn tìm thấy ở Minh một cảm tình hồn nhiên chân thật, một sức mạnh mới mẻ như lắng xuống gần với những gì là trong sạch và bền bỉ đầy sinh lực, một niềm an ủi không ngờ. Minh hướng về Văn với tấm lòng mến chuộng đầy cảm phục. Văn lại gần Minh với tấm lòng cởi mở như đón lấy luồng sinh khí mới cho vững lòng tin tưởng.

Một tháng sau họ đã trở thành đôi bạn thân. Bây giờ thì Minh không ngại ngùng nữa, mà lui tới nhà bà giáo luôn. Hắn đâu có quên được Thọ? Song vẫn là chỉ để thấy cặp mắt đen láy, và đành rụt rè chờ đợi; chờ đợi một biến đổi mà chẳng biết có bao giờ đến hay không. Nhưng việc Minh ra vào đằng bà giáo không phải hoàn toàn chỉ vì Thọ. Hắn còn muốn luôn luôn gặp được Văn nữa; cũng như Văn nhiều khi qua bên dì Mơ, lắm bận ngủ lại cùng Minh để chuyện trò không nghĩ đến về đằng bà giáo. Dì Mơ chỉ cười:
- Gớm! Làm gì mà hai anh em lắm chuyện thế ?
Có nhiều chuyện thật. Minh đã nghe Văn kể cho biết những biến chuyển của đất nước từ mấy năm gần đây, cả những ngày Văn bôn ba tranh đấu trong Nam Bộ, cho đến những giờ phút trước khi thủ đô tác chiến. Minh đã chăm chú nghe, đã gặng hỏi nhiều điều, và lần lần đã cảm thấy trút bỏ được phần nào lớp vỏ cứng nhắc mà lột xác.
Tuy nhiên có điều Minh băn khoăn là hễ hỏi kỹ về Văn thì Văn chỉ cười mà trở qua chuyện khác. Có nhắc nhở lắm thì Văn chỉ bảo:
- Chuyện anh thì có gì ! Vả lại hơi đâu mà chú hỏi. Chúng ta hãy nói chuyện hiện tại đã.
Đôi khi dì Mơ cũng phải phì cười vì nhiều lời nói ngộ nghĩnh và tính tình vui vẻ của Văn. Văn cũng quen mồm gọi dì Mơ là dì, mà coi Minh như em trai vậy. Và cũng không thấy nói Văn đi lãnh công tác mới nữa.
Người ta đã chán nói tới chuyện thủ đô tác chiến. Cuộc chiến đấu của tự vệ thành có lẽ đã chấm dứt. Cũng không thấy nói chuẩn bị phản công, mà chỉ lo trường kỳ kháng chiến. Tin tức vẫn không có chi mới lạ, ít ra nữa là cho dân làng Thụy. Kể từ cái đêm mặt trăng vòng cung đỏ như máu, có cả hai tháng rồi! Nếp sống của dân làng Thụy vẫn đều hòa, nếu không có những bộ mặt ưu tư của những người tản cư. Cho đến cả những người lạ mặt qua đê làng chảy về xuôi cũng hầu như ngừng hẳn không có nữa.
Êm ả và buồn tẻ ấy như có vương vấn chút lo âu, ngột ngạt. Không khí bao giờ là chẳng nặng nề trước cơn giông tố ?
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Từ phủ bộ có chỉ thị về làng Thụy phải đắp ụ trên đê giữa làng, gần ngay văn chỉ. Hai xã trên dưới cùng tổng phải cắt dân công góp sức. Công tác khẩn cấp hẹn nội trong tuần lễ phải xong. Dân làng nhộn nhịp đốn tre cắm nọc, chuyển đất, lớp này qua lớp khác làm việc thâu đêm. Con đường cái quan số một dọc theo xe lửa đã đào hầm chữ chi từng chặng, còn đi làm sao được! Chỉ có mặt đê trải đá này, vì còn lo mùa nước lớn, ai dám đào ? Nên rất có thể là quân Pháp sẽ do theo đó mà liên lạc thủ đô với Nam Định. Nghĩa là địch không sợ bị bao vây, địch còn muốn mở rộng mặt trận tiến thêm về phía Nam. Và như vậy làng Thụy sẽ là chiến trường mất! Rặng tre xao xác đã rung động. Những nhà khá giả đã vội vã chôn giấu ít nhiều đồ đồng, đồ sứ quí giá. Tay nải, quang gánh đã sẵn sàng chờ lệnh để tản cư...
Nhưng ụ đã đắp xong, địch vẫn không thấy tới. Mối hãi hùng cũng lặng lẽ tan ngay. Vả lại còn mươi ngày nữa đã Tết rồi, làm gì mà chẳng quên!
Cái Tết đầu tiên của miền Bắc sau khi tác chiến, nhưng là cái Tết thứ hai kể từ ngày khói lửa lan tràn từ miền Nam nước Việt. Chỉ còn ít ngày nữa là qua năm Đinh Hợi. Nói gì thì nói chứ kể ra làng Thụy còn thái bình. Nên không ai bảo ai, dân làng đã sửa soạn ăn Tết. Có tiếng lợn kêu eng éc từ sớm, có những xấp lá dong xanh mướt đã tước cuộng, bó lấy cột nhà cho thẳng thắn ; và trong xóm, khói đã phơ phất tỏa từ các mái tranh lẻ tẻ, đem lại không khí ấm cúng cho vài ngày cuối năm còn giá lạnh và lo âu.
Hai mươi tám tết. Văn vẫn mải miết giảng bài cho bầy trẻ. Tết hay không Tết, với một thanh niên lang bạt tản cư như Văn thì còn có gì mà phải nghĩ đến nữa ? Chàng cố giảng bữa nay, rồi mai bọn trẻ nhỏ có tạm nghỉ Tết cũng không sao.
Trời hừng nắng nên quang đãng. Có tiếng máy bay. Thì thỉnh thoảng vẫn có tiếng máy bay; chúng bay cao tít, mà nào có chuyện gì đâu ? Nên cũng chẳng mấy ai để ý đến.
Nhưng lạ, bữa nay tiếng máy bay nghe có như mạnh và nhanh hơn? Và không là tiếng ù ù đều đặn nổi lên rồi dần dần tan biến nữa. Tiếng kêu gần rồi xa, rồi lại gần, mỗi lần thêm to hơn. Văn ngừng giảng bài,lắng tai nghe. Rõ ràng là máy bay lượn vòng thúng trên đầu, song cao lắm... Văn vội vàng bảo bầy trẻ mau mau chui vào nấp dưới mấy bệ gạch bàn thờ. Một tiếng kêu như xé lụa vụt xuống làng, tiếp theo là một tràng đạn liên thanh, Rồi lại tiếng kêu nhức óc ấy với những tiếng nổ đều như pháo. Có tới mười phút. Mười phút mà Văn thấy lâu quá đỗi, có lẽ từ ngày tác chiến chưa bao giờ chàng thấy thời gian trôi quá chậm như vậy, vì mối lo âu đè nặng lên người trai từng trải này. Không phải là Văn sợ riêng cho bản thân, mà chàng lo cho bầy trẻ run cầm cập nằm nép dưới gầm bệ gạch.
Tiếng máy bay đã tắt. Dân làng nhốn nháo. Những nét mặt kinh hoàng tái nhợt, ngơ ngác nhìn nhau. Máy bay địch tới bắn phá ụ đất. May vào buổi trưa, trên đê làng vắng vẻ, nên không có ai bị nạn ; chỉ có một con trâu của lão Chánh Bá thả ăn cỏ ở chân đê bị trúng đạn nằm chết ngay đơ.
Văn xua bầy trẻ đi khỏi, là chạy vội về nhà. Bà giáo và Thọ còn run lẩy bẩy. Trong bếp, nồi bánh đã xếp xong, nhưng lửa chưa nhóm. Còn ai dám nghĩ tới nhóm bếp nữa ? Bà giáo nói chưa ra tiếng:
- Có ai làm sao không, hả cậu ? Làm thế nào bây giờ ?
Bà ngồi bệt xuống đầu hè, dơm dớm nước mắt:
- Khổ quá. Có lẽ mai sớm vào quá trong đồng chiêm, tối hãy về nhà vậy.
Văn cũng không còn biết nói sao. Nào chàng biết làm gì hơn người đàn bà yếu hèn này được ? Nhưng may cho tới tối, máy bay địch không trở lại nữa...
Bếp vẫn cháy đều. Nước trong nồi bánh sôi ùng ục. Những tảng củi gốc lần lần biến thành súc than hồng, gieo khắp căn nhà hơi lửa ấm. Văn ngồi lơ đãng nhìn ngọn lửa, chốc chốc dúm nắm trấu ném vào lòng bếp, nghe nổ lép bép... Góc đối diện, Thọ thẫn thờ soạn gấp quần áo để xếp vào tay nải.
Có tiếng Minh gọi cổng. Văn lẳng lặng đứng dậy. Một lát sau hai người đã bó gối nhìn ngọn lửa nhấp nhô reo cùng tiếng nước sôi trong nồi. Thọ cũng đã xong việc. Trong không khí êm tịnh mà ấm cúng ấy, mỗi người một tâm tư. Họ cùng đăm chiêu nhìn ngọn lửa. Minh khẽ hỏi:
- Thế nào, anh Văn ? Chúng nó bắn ụ làng ta, chắc sao chúng cũng sửa soạn tấn công đấy.
Thọ ngước nhìn, thấy Văn vẫn trầm ngâm làm thinh, nàng khẽ nhắc như sợ tiếng mình vang trong đêm tối:
- Làm thế nào, anh Văn ? Nếu quân Pháp kéo về phá ụ, liệu dân mình có đánh nổi không ?
Đôi mắt đen láy của Thọ trong giây phút ngơ ngác như mường tượng trước bao cảnh đốt phá, giết chóc. Thọ nhìn sang phía Minh; Minh chỉ nhìn Văn như chờ đợi ở khuôn mặt sáng sủa kia một sức mạnh nhiệm mầu; chỉ một lời nói của Văn sẽ có thể làm hoảng hốt hoặc yên lòng hai tâm hồn chất phác chưa hề trải qua cơn khói lửa. Văn không ngửng nhìn những nét mặt non nớt hoang mang kia, song có lẽ tự thâm tâm chàng đã dự đoán được. Biết nói sao đây ? Chàng không có gan nói dối để tạo cho họ chút tin tưởng mong manh mà sớm muộn thực tế sẽ làm tan nát. Chàng cũng không có thể nói rõ sự thật đương giày xé tâm hồn chàng. Làm thế nào nói cho họ hiểu được rằng con người, cũng như dân tộc, chỉ có thể trưởng thành trong đau khổ? Chàng tin tưởng mãnh liệt ở tương lai, song chàng dám đo trước khổ cực. Nhưng không thể và chưa thể cho những tâm hôn chất phác kia thông cảm được. Văn chậm rải trả lời:
- Chúng sẽ qua làng ta... tất nhiên là sẽ cướp bóc đốt phá nếu gặp kháng cự. Nhưng chúng ở lại đây làm gì? Thì hãy tạm tản cư lùi vào trong đồng chiêm xem sao đã.
Máu thanh niên bồng bột như vụt nổi dậy, Minh hùng hổ :
 - Thế nghĩa là chúng ta bỏ chạy, mặc cho địch tiến, không kháng cự ?
Văn mỉm cười chua chát:
- Với chú nên anh nói thật, đừng có nói lại với ai kẻo bị kết tội là phản động đấy... Chú bảo ta phải kháng cự ? Ủy ban kháng chiến làng ta có bao nhiêu tay súng? Chú không thấy hồi trưa súng địch bắn như thế nào ư ? Không , tôi nói thế không phải là sợ địch mà bảo rằng chúng sẽ được mãi đâu. Không, rồi quân Pháp sẽ thua; nhưng còn lâu, và còn phải khổ nhiều...
Tiếng máy bay rít như xé trời... Tiếng liên thanh từng tràng nổ như pháo tết ; chỉ một phát đạn mà con trâu kềnh còn chết ngay đơ... Minh ngao ngán chưa biết nói sao, thì tiếng Thọ yếu ớt còn làm não lòng hơn nữa :
- Làm thế nào bây giờ, hả các anh ?
Văn nhắc lại:
- Thì hãy tạm tản cư lùi vào trong đồng chiêm xem sao đã.
Minh và Thọ im lặng. Phải, còn làm thế nào hơn được nữa?... Họ lại đăm chiêu nhìn ngọn lửa nhấp nhô ; và như cái máy, chế thêm nước vào nồi bánh cho tiếng nước sôi ùng ục réo đều. Họ lo lắng quá nghĩ về hiện tại, để rồi miên man dần quên hết, chẳng còn bận lòng vì thực tại nữa. Cô tịch và lo lắng dễ làm cho người ta mơ hồ tưởng nghĩ tới đâu đâu...
Ngày mai ? Chưa biết ngày mai sẽ tới đâu... Văn chỉ thương hại cho hai người trẻ tuổi đáng mến kia, như đã thương cho cả thế hệ mình, lao đầu vào một cuộc phiêu lưu hào hùng, trong phản bội và đầy dẫy mưu đồ lợi dụng. Văn há đã chẳng bước vào cuộc phiêu lưu này từ ngày có tiếng súng đêm mùng chín tháng ba của người Nhật ?
Văn đã quên hết, quên cả cái làng nhỏ ven sông Hồng mà chẳng biết vì sao chàng đã tạm náu tới hai tháng nay. Đời người trai trẻ trong buổi đại loạn chỉ còn là chuỗi biến chuyển bất ngờ thôi ư ? Không, không hẳn thế. Văn đã nán ở lại, vì Văn cảm mến những người trai trẻ đầy nhiệt tinh kia như cây hoa dại thơm ngát; vì Văn chợt cảm thấy trong cuộc du hành từ Nam ra Bắc trên khắp ngả đường của đồng ruộng đất nước, cả một lớp người đương vươn dậy mà Văn cũng như các bạn chàng tự nhận là trí thức đã không hề biết đến. Văn đã xấu hổ vì lầm tưởng rằng một dúm người đã là tất cả, và hiểu tất cả. Thôn xóm làng Thụy cũng như những rạch nước chằng chịt nơi đồng ruộng bao la Nam Bộ đã làm Văn nghĩ khác...

Tiếng nước ùng ục sôi đều... Văn thấy lại tiếng gõ cửa đêm nào ở thủ phủ miền Tiền Giang. Cái thời Văn mê man làm việc, lao đầu vào cuộc phiêu lưu với nhiều bạn trai trẻ khác. Sàigòn đã bị quân Anh tái chiếm, giao lại cho Pháp từ ngày tháng chín. Cuộc phong tỏa Sàigòn vẫn nói là chặt chẽ, nên nhiều cơ quan đặt ở Tiền Giang vẫn yên trí hoạt động. Có ngày nào là Văn ngừng làm việc trước nửa đêm ? Cho nên khi Văn trở về căn nhà hẻo lánh trên con đường về Sàigòn là chỉ còn kịp để ngả lưng đánh một giấc đến sáng. Cả ngôi nhà rộng lớn chỉ có mình Văn và người gác già. Văn nhớ đương lúc mơ màng chợt nghe có tiếng cạch cạch nơi cửa. Người bõ già thân tín vẫn cẩn thận, khi Văn đã vào buồng nghỉ, là để tấm ghế bố trước cửa buồng Văn mà nằm ngủ. Tiếng ‘‘cạch, cạch’’ lát lát lại nổi. Văn bực mình lẩm bẩm :  ‘‘Ông già này đến lạ ! Để tấm ghế bố sát cửa buồng làm chi, hễ trở mình là động vào cửa !’’. Nhưng im, rồi tiếng  ‘‘cạch, cạch’’ lại dồn dập. Văn vùng trở dậy, có tiếng gọi khẽ:
- ‘‘Ông ! ông trở dậy! và chớ có bật đèn!’’
Văn khẽ mở cửa. Người bõ già thì thầm:
- Tụi Nhật nó gác cả ngoài mặt lộ, phía trước nhà. Ông phải trốn đi, mau lên. Có lẽ chúng định tìm bắt ông đấy.
Văn lặng lẽ thu xếp vội vàng ít quần áo vào một chiếc cặp da, lẻn ra phía vườn sau. Sau nhà là con sông bao quanh châu thành về phía đông. Băng được sông là khỏi châu thành. Văn men bờ sông ngược lên. Kế bên là lò gạch, có chiếc tam bản neo ở gốc cây. Văn lặng lẽ trèo lên ghe, cởi dây vừa xong, thì có ánh đèn dầu rọi xuống. Trên nhà sàn có tiếng hỏi:
- Ai lấy ghe đấy ?
Văn lật đật giựt vội cây đèn tắt phụt đi, trả lời :
- Chớ nói lớn. Quân Nhật ở mặt lộ kia. Cho tụi tôi qua bên kia bờ.
Một lát sau, chiếc tam bản đã nhẹ nhàng lướt trên mặt nước. Được quãng sông nơi đầu châu thành khuất và vắng. Nhìn về xuôi, không đầy năm trăm thước, có tiếng nổ và một chiếc tam bản chơi vơi giữa dòng đã chìm lỉm trong khoảnh khắc. Văn nhìn về phía châu thành : Ánh điện yếu ớt vàng khè, và tiếng súng lẻ tẻ nổ... Thuyền cặp bờ, Văn lật đật lên thì vừa mờ sáng. Nước triều vừa rút, nên bờ đất dưới hàng dừa còn lầy lội. Văn cắm cúi đi như người mê ngủ. Tại sao như vậy được nhỉ? Địch bị bao vây trong Sàigòn, làm sao xuống đây mau chóng như vậy được ? Tới phút chót, nếu không có người bõ già, làm sao Văn thoát hiểm?... Sáng rõ, tới con lộ về phía quận lỵ, dân chúng tụ tập đông đảo hướng về châu thành. Quân Anh, Pháp được Nhật mở đường, đã theo đường nước lẻn tới lúc đêm khuya nên không ai hay biết chi hết. Sáng dậy thì các ngả đường từ châu thành ra ngoài đã bị bít hết. Hết thảy hoang mang chưa rõ biến chuyển ra sao.
Văn thất thểu theo đường lộ tới nơi liên lạc chàng đặt trước đây để lấy tin tức. Một số bạn hoạt động còn mắc kẹt trong châu thành. Và thế là Văn bắt đầu những ngày sống lưu động, bắt đầu với biết bao nghi ngờ và bất bình, nhưng hăng hái và tin tưởng chưa mất...
Văn đã qua nhiều thị trấn và xê dịch mãi. Tiêu thổ kháng chiến từ thị trấn này qua thị trấn kia ; rồi đồng Tháp Mười với những kinh nước phèn trong veo và chát xít, rồi Hậu Giang... Bao nhiêu ngả đường của đất nước miền Thủy Chân Lạp xưa, Văn đều đặt chân tới. Hay nói cho đúng ra, đã cả mấy tháng nay bọn Văn sống trôi nổi trên mặt nước với chiếc thuyền làm căn nhà lưu động...
Rồi cũng một buổi chiều. Mặt trời vừa lặn, là bóng tối đổ mau. Ở miền Nam, vào mùa nắng, hoàng hôn đâu có mấy chốc? Bọn Văn mải miết chèo, đẩy chiếc cà - dom nặng nề lướt trên dòng nước xám đục của cánh đồng vùng Cà Mau. Khúc ca của bầy giặc muỗi chỗi dậy là trời đã tối hẳn. Cái tối ở nơi đồng ruộng bao la chỉ là cái tối của thứ ánh sáng đục mờ, bàng bạc như hơi sương. Tới mỏm đất cùng này của đất nước, là vì bọn Văn đã dấn bước trong hăng hái cùng với cả thế hệ đương phiêu lưu định vận mạng cho dân tộc. Ngừng lại một đêm giữa chốn đồng không, hay ghé vào được một xóm nhà, thì cũng vậy thôi! Nên thấy có kinh nước chạy ngang, là bọn họ rẽ vào nghỉ đỡ. Ưa may là con kinh cụt, một trong muôn vàn kinh cụt của cánh đồng trùng trùng điệp điệp mới khai phá, chưa thành thuộc hẳn, đất còn phèn, mà nước còn mặn.
Nước triều đã lơn. Đất với nước chỉ còn ngăn cách bằng con bờ kinh nhỏ bé. Sau lùm cây, Văn thấy lờ mờ có bóng mái nhà. Nơi đây, tìm được một mái nhà không phải là chuyện dễ dàng. Nào có cần gì đâu, song ít ra thì cũng đở cô quạnh cho mấy con người nhỏ bé chìm đắm trong cảnh bao la khi đất trời không phân biệt. Thuyền neo chắc; các bạn đồng hành đã chui vào nớp, chỉ còn mình Văn thức giấc canh chừng.
Văn thao thức... Tiền Giang đã thất thủ. Tây đô cũng không còn. Biết bao tâm hồn trai trẻ bị ném vào lò lửa hy sinh, nay trôi giạt khắp các ngả đường... Văn bâng khuâng không biết mai đây còn đi mãi tới đâu ? Bọn Văn mới qua quận lỵ Cà Mau mấy ngày trước đây, và đã chứng kiến thêm một cuộc tiêu thổ. Nghĩa là còn phải đi sâu vào vùng đồng lầy này nhiều, nhiều nữa... Đem tối và u tịch của đồng ruộng bao la khiến Văn chợt cảm thấy lòng mình mang mang đầy u hoài. Cùng con thuyền neo bên dòng nước, tâm hồn Văn cũng chơ vơ ngừng lại giữa dòng thời gian. Có những tan rã bất thần và vô lý; có những bạn đã bỏ mình trên bao ngả đường vô danh... Giờ đây, Văn mới thấm thía, và cảm thấy lạc lõng làm sao!
Bỗng thân thuyền giao động, làm gợn mặt nước mặn thành những vệt sáng dài. Có tiếng chân nhảy lên bờ đất, và tiếng Tân trầm trầm:
- Văn canh chừng nhé ! Tôi lên bờ coi có chi lạ ? Kỳ quá, làm sao mà mình thấy bực rọc hoài, không ngủ được.
Bóng Tân vừa nhô lên bờ, đã lẩn biến vào trong bóng ô rô ven rạch. Trôi nổi mấy tháng đủ cho người trai trẻ nơi đô thị thừa quen thuộc với những con đường hẻm mấp mô, và nhẹn bước trong ánh sáng mờ đục của đêm sao.
Một lát sau, có tiếng chân người dậm dịch. Nằm dưới thuyền nghe rõ mồn một. Văn nhổm dậy.
Bóng Tân và bóng một người to lớn đứng trên bờ.
- Anh em quen cả đây mà ! Lên bờ ngủ đi, ở dưới đó muỗi cắn chết!
Tiếng Tân lại tiếp:
- Anh Hai à ! Cứ cột ghe bỏ đây có được không?
- Được chớ. Trong sở đất mà ! Ở đây thái bình, có chi đâu mà ngại. Mời tất cả lên nhà cho vui; xin mời !
Con đường mòn, vào giữa mùa khô, như một vệt trắng dài giữa mầu đất xám đen. Hết con đường là thấy căn nhà có ánh lửa sáng.
Dưới ánh đèn dầu lửa, bảy tám thanh niên xúm quanh chiếc bàn lớn và đương cười nói tưng bừng. Người đi với Tân hồi nãy, có tầm vốc cao lớn, dáng điệu cục mịch, với gương mặt thật chất phác của người đồng ruộng! Bảy tám người kia có phong thái lớp thanh niên mà Văn mường tượng đã gặp nơi đâu rồi.
Tân cười phá lên khi bước vào :
- Đúng không ! Toàn là người quen cả !
Thấy Văn còn bỡ ngỡ. Tần đập vào vai, chỉ mấy thanh niên đã ngừng đũa quay ra:
- Quên hồi gặp nhau ở kinh Mười Hai rồi ư ?
Đều là bạn sinh viên cũ, đã từng gặp nhau trên biết mấy ngả đường. Tân khẽ dỉ tai Văn. Người to lớn là anh Hai, quản lý sở đất này của một công ty mễ cốc Pháp. Dĩ nhiên, bây giờ anh vẫn thâu góp lúa, không phải để trả Pháp mà là để nạp cho kháng chiến. Bọn thanh niên sinh viên kia thì sau khi thất thủ Tiền Giang cũng như bọn Văn đã trôi giạt, tới đây vì trong bọn họ có em trai anh Hai. Anh chàng này, cục mịch và vui vẻ như ông anh, tiếng oang oang như lệnh vỡ:
- Vẫn gặp nhau, kể là tài thật. Thế nào trại chủ ? Chư anh hùng đã tụ tập, mai sớm phải thưởng xuân ra sao chớ ?
Anh Hai ha hả cười:
- Con heo giết thịt bữa nay, các chú ăn đây để kết toán năm cũ, còn phân nữa để ngày mai vui xuân chứ sao ! Có các chú thiệt là vui. Nếu không, Tết năm nay chỉ có hai vợ chồng tôi với thằng nhỏ thì thiệt là ngán. Chiến tranh này đâu có về mừng tuổi ông già, bà già vợ tôi được ? Ở Cầu Kè kia lận.
Giố từ đồng nội không ngớt thổi vào, làm lay động ngọn đèn thêm bốc khói. Trên chiếc mâm để giữa bàn, một đống thịt heo luộc thái nhỏ, mấy chén nước chấm, chai rượu đế ngâm hồi... Những con người quen sống nơi đô thị trong phong lưu phiền toái, bỗng cảm được cái thú mới lạ của lối sống hồn nhiên xô bồ. Họ đã đùa mà bầu anh Hai làm trại chủ. Nhưng bọn họ đâu có được làm chúng anh hùng thảo khấu ? Mà chốn đồng lầy Cà Mau lững lờ như mảng bè neo trên làn nước mặn cũng chưa hẳn là chốn thủy bạc hoang dại.
Từ mấy tháng nay, bọn Văn đâu để ý tới ngày giờ ? Cứ sống trôi nổi và quay cuồng trong cơn lốc như cỏ cây cố gắng vươn lên cho khỏi ngộp dưới làn nước dâng cao. Tối nay không ngừng nơi đầy thì đâu có biết bữa nay là ngày cuối năm ? Thật chẳng hẹn mà được hưởng phong vị một đêm trừ tịch.
Tiếng cười, tiếng nói không ngớt, mà chai rượu đế hăng hăng với đống thịt cũng chẳng vơi được bao nhiêu. Văn cảm thấy vị béo ngậy của miếng thịt như quyện nơi cổ họng, khó nuốt trôi. Và Văn thấy xa quá... Xa quá, những cây nêu lay động trong gió bấc giá lạnh ; và xa quá, bông đào mảnh mai lẫn trong khối trầm thơm ngát. Men rượu ngấm, Văn thêm thấm thía, và tưởng chừng như các bạn cũng dấu sau nụ cười biết bao u hoài. Chiến tranh xô đẩy họ từ những phương trời cách biệt của xứ sở đến tập họp nơi cô quạnh này. Giờ đây, trong cái không khí chan chứa ước vọng của giây phút giả tạo mà vụt cảm thấy thiêng liêng, có biết bao nhiêu quê hương đã chỗi dậy. Một cặp bánh chưng, một ổ bánh ú, một khoanh bánh tét... bỗng lởn vởn trong óc của mấy chàng trai có lẽ xưa nay hằng coi rẻ cái Tết ở gia đình và chẳng hề có cần biết đến giao thừa hay trừ tịch.
Văn tỉnh dậy; hé nớp nhìn ra ngoài, trời đã sáng rõ. Nước lớn, chiếc cà dom nổi cao hơn bờ kinh. Văn thấy rõ ngôi nhà lầu cất bằng cây, trơ lần gỗ bạc phếch dưới ánh mặt trời ban mai. Văn gọi đồng bọn trở dậy. Đêm qua, ai nấy đều say ? Hay vì thao thức quá? Nên không hẹn mà đều dậy trễ. Tỉnh dậy, họ cũng chẳng biết tại sao đã không ngủ lại trên nhà anh Hai mà kéo nhau trở xuống thuyền.
Mặt trời chói lòa rọi lên cánh đồng lầy lội, lác đác những gốc rạ tàn lụi. Mùi tanh nồng của nước mặn pha lẫn mùi hăng hăng của cây cỏ ải mục, vương vấn trong làn gió mát ban mai, làm Văn khỏe khoắn và tỉnh táo.
Có tiếng anh Hai từ xa vang lên :
- Thế nào, chư anh hùng dậy chưa ? Năm mới, hãy vui một buổi đã, rồi muốn sao thì sao !
Tân phá lên cười, như đôi bạn thiết thưở nào :
- Trại chủ đã truyền, xin tuân lệnh.
Anh Hai đã tới bờ kinh. Ánh sáng rọi nghiêng vào khuôn mặt đen xạm, hồn nhiên và trung hậu.
- Năm mới, tới mừng anh em sớm thành công ! Còn ngày hôm nay, xin mời nghỉ lại ăn Tết với tụi tôi cho vui đã.
Văn cười trả lời:
- Ngoài Bắc, như thế là sớm nay anh đã xuất hành, mà thế là bọn tôi sẽ xông đất nhà anh đấy ! Song chúc anh năm nay chớ có phải sống lưu động như chúng tôi trên chiếc cà dom này.
Mấy bạn trẻ đã kéo đến. Tiếng cười nói vang rân. Tuổi trẻ lúc nào là không yêu đời? Nhất là được người nhắc cho biết là Tết và cho hương Tết ở nơi heo hút này.
Chị Hai đang lúi húi trong bếp, cắt khoai và đánh bột. Thấy mọi người, chị hớn hở:
- Các chú giúp tôi cho lẹ! Mần một bữa bánh khoai ăn Tết chơi cho khoái. Chú Ba, đánh bột giúp chị đây nè !
Cả bọn áp tới... Làn nước bột khoai mì nhuộm nghệ sánh đặc và óng vàng quện lấy chiếc đũa cả quấy tròn trong chậu. Những củ khoai lang cạo sạch vỏ ngâm trong bồn nước trắng nõn, chị Hai thoăn thoắt thái thành sợi. Chảo mỡ sôi trên bếp, nổ lép bép, rộn ràng như lòng người ngày xuân. Họ đã quên hết; quên hết mọi lo âu, quên cả ngày mai. Chỉ còn những sợi khoai quện lấy nước bột để kết thành từng bánh chín vàng trong chảo mỡ sôi...
Có lẽ vui nhất không phải là bọn trẻ tạm thời vô gia cư này, mà phải là gia đình anh Hai. Anh lui tới lăng xăng, nói cười oang oang. Nhỏ Hùng, đứa con duy nhất của anh, trạc sáu bẩy tuổi cũng cứ mầng quớ lên thôi. Cái gia đình nhỏ bé, xưa nay heo hút giữa cánh đồng bát ngát, ẩm ướt, với muỗi, với đỉa, với cá lóc, với giọt nước ngọt nhiều tháng quý hơn gạo thịt... được đông vui như vậy, làm sao khỏi mầng cho được ?
Miếng bánh khoai cuối cùng đã hết thì không khí Tết cũng tàn. Bọn thanh niên bắt đầu sôi nổi thảo luận về ngày mai. Họ có dịp kiểm điểm lại quãng đường vừa vượt qua, thành vô tình vỡ lẽ nhiều sự kiện tưởng là phi lý mà trước đây họ không ngờ. Đã có những lừa dối lợi dụng, và phản bội thế hệ họ, song họ chưa ngã lòng. Văn được biết rằng, trong ít ngày nữa, bọn sáu người kia quyết dùng ghe bàu vượt biển ngược lên miền đông. Họ cả quyết, vì trong bọn họ em anh Hai tốt nghiệp trường hàng hải trước những ngày biến chính, đã thông thuộc nghề đi biển.
Sớm hôm sau, tiễn bọn Văn nhổ neo đẩy chiếc cà dom trở lại dòng nước vẩn đục phù sa, anh Hai không giấu nổi cảm động :
- Nếu vùng này mà không yên nữa, tôi sẽ về Cầu Kè, nơi quê vợ tôi. Có dịp nào qua đó, các chú nhớ ghé chơi.
Năm tháng sau, bọn Văn đổi chiếc cà dom lấy chiếc tam bản nhẹ nhàng để lật đật ngược đường lên trở về.
Qua Cầu Kè, chợt nhớ lời người bạn một đêm, họ kín đáo dọ hỏi. Hồi tháng hai năm đó, gia đình anh Hai có trở về Cầu Kè ở nhờ nơi ông bà già vợ. Tây đã nhiều lần bắt bớ anh để tra hỏi về số lúa thâu hoạch dưới đó. Rồi một đêm, có bọn người vận toàn đồ đen về bắt anh Hai dẫn đi, kết tội anh là phản bội, bỏ ruộng theo Tây, và nhất là Tết năm đó đã dụ dỗ thanh niên phản động dời bỏ hàng ngũ. Chị Hai khóc lóc, van xin thế nào cũng không được. Tội nghiệp cho nhỏ Hùng cứ lăn ra níu lấy ba nó, nên bọn chúng tức giận xô thằng nhỏ té làm sao không rõ, mà thằng nhỏ bị gãy tay thành tật. Còn anh Hai không thấy trở lại; nghe nói anh đã bị thủ tiêu.
Bọn Văn không ghé thăm chị Hai nữa, mà vội vã ngược thuyền đi luôn. Không ai nói một lời, mà tưởng chừng như còn thấy rõ bóng anh Hai cao lớn với nét mặt chất phác hiền hậu của con người vô tâm nơi đồng ruộng, đương hớn hở dang tay đón bọn thanh niên không quen biết để cùng vui với gia đình mình một ngày Tết ấm cúng.
Tân lầm lũi đẩy mạnh mái chèo, như nói một mình :
- Giá Tết vừa rồi, bọn mình không ghé nhà anh Hai.
Văn thở ra:
- Anh Hai mà phản bội ư? Vậy những ai mới không phản bội?
Dòng nước đục ngầu đổ mau như giận hờn. Đột nhiên nước sông nơi đó phảng phất vương lên một mùi tanh nồng như mùi máu tươi mới đổ...

* * *
Văn thẫn thờ nhắc lại, như nói một mình trong giấc mơ:
- Anh Hai mà phản bội ư? Vậy những ai mới không phản bội? Thế nào là phản bội?
Tiếng Văn buông rơi chậm chạp trong im lặng làm cho cả ba người choàng tỉnh dậy. Nào đâu có Tân ? Nào đâu những người bạn ? Rạch nước, đầm lầy, nào dừa, nào ô rô... đã vụt tan biến trong bếp lửa. Chỉ thấy Thọ và Minh ngơ ngác nhìn. Văn gượng cười khi thấy Minh gặng hỏi:
- Anh Hai nào thế ? Sao lại phản bội, hả anh ?
Biết nói gì đây cho hai tâm hồn trong trắng đương vươn lên cao vì lý tưởng mơ hồ mà họ chưa mường tượng được. Người dân Việt đương cố gắng bước lên, song đâu là người dìu dắt họ ? Đâu là lớp người dìu dắt họ ? Hay vẫn chỉ hai nhốm người gọi là  ‘‘đạt’’ dưới thời bị trị, và  ‘‘ bất đắc chí’’ dưới thời bị trị, đương lần lượt thay nhau, để gieo căm thù hằn học vào những tâm hồn trong trắng này ? Để rồi phản bội lẫn nhau, và phản bội cả dân tộc ? Rồi ở cái làng nhỏ này đây, những ai sẽ bị kết tội là phản động, là phản bội ? Văn rùng mình, tưởng chừng như cái mùi hăng hăng tanh nồng ở dòng sông Câu Kè kia đã phảng phất vương lên vũng nước ao tù dươi bóng tre xanh...
Văn nhìn Minh thương hại:
- Tôi nhớ lại hồi còn trong Nam Bộ, trong buổi tác chiến. Đã có những người chết oan; và sợ rằng còn nhiều, nhiều nữa.
Văn dằn giọng xuống :
- Không phải là chết oan vì đạn lạc, vì địch khủng bố đâu ! Mà chết oan chì vì người ta thích giết, và dụng tâm cố giết.
Thấy Minh vẫn ngơ ngác không hiểu, Văn cố cười để giấu tiếng thở dài:
- Chú là Ủy viên liên lạc xã. Thế từ trưa đã có liên lạc với phủ bộ chưa ? Có tin gì mới không, để còn toan tính chứ ?
- Đã báo cáo rồi. Và được lệnh phải tăng cường đề phòng Việt gian. Đồng chí Ủy viên phủ nhắc đi nhắc lại phải lưu y đến những người tản cư về xã, vì địch đã cho người của chúng trà trộn vào. Nhưng em nghĩ ở xã nhà cũng chẳng có bao lăm người, và lần này cũng đều là chỗ bà con quen biết với dân làng ta cả.
Thọ vẫn chưa hết băn khoăn vì việc máy bay bắn phá hồi trưa, nên ngắt lời Minh:
- Nhưng có nói gì đến việc phòng thủ không ? Liệu địch có phá được vòng vây mà tràn về làng ta không?
Minh lắc đầu. Ba người lại lặng thinh.
Ánh lửa chiếu lên khuôn mặt bầu bĩnh của Thọ. Đôi mắt đen láy như đầy lo âu, sợ sệt. Thọ không còn biết chờ đợi gì? Cuốn tiểu thuyết của đời Thọ, hồi nào Thọ tưởng mới bắt đầu thì nay Thọ tưởng chừng như đã chấm dứt; và chỉ còn mối lo âu của người thôn nữ bừng tỉnh giữa thời tao loạn.
Có tiếng gọi ngoài ngõ :
- Chú Minh có trong nhà không? Lên trụ sở họp nhé!
Minh uể oải đứng dậy. Thọ ái ngại nhìn theo :
- Mai sớm có về anh tạt qua nhé. Em gởi cặp bánh biếu dì. Anh Văn cố thức chờ vớt bánh hộ em mấy !
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2020 17:38:51 bởi Thanh Vân>
Có tới hai tháng, kể từ buổi trưa địch bắn phá ụ đất trên đê làm chết con trâu nái của lão Chánh Bá cựu. Sau những ngày nhớn nhác, dân làng Thụy lại lầm lũi sống, và quen lần với tiếng máy bay, với tiếng đạn nổ. Thỉnh thoảng máy bay địch vẫn lảng vảng song chúng không bắn nhiều nữa, và dân làng đã quen tìm chổ núp cho nhanh.
Lớp học, Văn vẫn tiếp tục, song không còn ở tiền đường văn chỉ, mà đem vào nhà thờ họ ở xóm đồng, tiện bề cho trẻ ẩn nấp. Lớp học cũng tẻ dần, vì ai nấy đều cảm thấy giông tố vẫn đè nặng trên đầu. Những niềm hân hoan tin tưởng xem cách mạng như một phép mầu cởi mở, xây dựng, đã chìm biến lần và để chỗ cho kinh hoàng, hoài nghi. Ai nấy chỉ còn một ý nghĩ: ‘‘Nếu địch qua làng ? Bao giờ thì chúng đi qua ? Chạy đi đâu ?’’, và bàn tán ngày này qua ngày khác. Phủ bộ cũng có lệnh tản cư lên an toàn khu. Một vài gia đình có máu mặt đã đi thật. Những người dư dật hồi nọ chạy về làng Thụy nay cũng đã tản cư quá vào vùng đồng chiêm, gần Đồng Quan. Làng Thụy cứ lần lần tẻ lạnh như người bệnh kiệt sức, thoi thóp nằm chờ số mệnh.
Văn cảm thấy như vậy. Hồi này Văn ít đi lại, suốt ngày ở lì trong nhà bà giáo, nếu không thì lại qua bên dì Mơ. Làm màu đã xong, ngô đã tra đủ nên ít việc, dì Mơ cũng chỉ quanh quẩn trong nhà. Mỗi lần Văn qua là dì mừng lắm, hỏi Văn đủ chuyện. Dì đem cả chuyện Minh ra than thở, nhất là tao loạn này chỉ mong cho Minh lấy vợ rồi muốn sao thì sao, dì cũng được yên trí. Tư tưởng trường tồn ở người đàn bà Việt thật là bền bỉ; giặc giã không thể làm cho quên, nghèo đói không thể làm cho sao nhãng. Phải gây dựng gia đình cho được ! Nếu không thì dì Mơ làm gì còn có lẽ sống ? Nếu không, dì còn chịu khổ cực làm chi? Đời dì sẽ hết ý nghĩa. Cho nên dì đã nói hết, nói hết... để Văn biết, và nhờ Văn khuyên bảo Minh. Ngày nào mà Minh ưng chịu và dì lo xong cho Minh lấy vợ, nhất là lấy được đĩ Bèo, thì dù cho địch bắn phá mà nói dại dì có làm sao đi nữa, dì cũng vui lòng. Mà lo thì dễ lắm, nhất là vào lúc giời đất loạn ly này, làm gì mà chẳng giản tiện dễ dàng!
Văn không biết nói sao, và cũng chửa biết nên khuyên Minh như thế nào ? Văn hiểu những thắc mắc và ao ước mơ hồ của người dân Việt đương muốn vươn lên cao, Văn hiểu Minh, và cũng biết Minh tin tưởng ở lời khuyên của mình. Nhưng thật sự ra Minh đã thông cảm được hết mọi ưu tư hoài bão của Văn đâu ? Còn xa nhau quá. Phải một thời gian gần gũi nữa mới có thể dắt tay nhau mà tiến lên được. Cho nên mỗi lần dì Mơ nhắc nhở đến chuyện lo vợ cho Minh, là Văn lại cố an ủi dì, và nói lảng sang những lo âu của thực tại, để lưu ý người đàn bà nơi đồng ruộng này đã nhiều khi quên hẳn thực tại, có lẽ vì đã không ý niệm được những biến chuyển sâu xa của xã hội mà ảnh hưởng bên ngoài đương thúc đẩy diễn tiến thêm mau lẹ. Tòa nhà đương rạn vỡ, mà ác hại thay, người ở bên trong vẫn không hay !...
Làng Thụy cứ thoi thóp sống trong chờ đợi, cứ lo, cứ vội vã ẩn nấp khi máy bay sà tới, và cứ làm, cứ sống.
Mùa mưa phùn đã lần lần kéo tấm màn ẩm ướt lê thê lên đồng bằng Bắc Việt. Lạ cho cái năm Đinh Hợi, sao mưa xuân năm đó lại dai dẳng đến thế. Trời xám đục như li bì, mưa cứ lặng lẽ rơi ngày này qua ngày khác có tới nửa tháng rồi; mưa rơi đều như bột rắc trắng xóa trong không gian. Ngõ xóm lầy lội, nhơ nhớp, mà mưa vẫn cứ rơi, rơi mãi.
  Văn không thể làm gì được nữa. Lớp học đã tan rã. Cán bộ phủ lui tới về làng nhắc Văn cảm thấy sự có mặt của mình ở chốn thôn xóm hẻo lánh này là thừa, và từ chỗ thừa đã trở nên khó chịu cho những con mắt thiếu thiện cảm ấy. Văn chợt nhớ lại câu hỏi của Minh:
- Anh Văn à, anh có định công tác gì không ?
Dù Văn có muốn hòa mình vào xóm làng, canh tác ruộng đất cho bà giáo để biến thành một anh Minh khác, thì cũng không thể được nữa rồi!
Văn đã trót là một thanh niên trí thức ở thành thị; dù chàng có muốn, người ta cũng không cho chàng lột xác hòa mình vào đám người chất phác này được. Văn không nghi ngờ gì ở Minh hết; chàng hiểu rõ lắm. Người ta đã hỏi Minh, đã bảo Minh hỏi Văn như vậy. Cho nên chàng cười, và đã thân mật trả lời:
- Anh chẳng nói với chú là thủ đô tác chiến nên vội vã tản cư, chờ liên lạc được với khu là sẽ nhận công tác ư ?
Văn ngừng lại, nhìn Minh; Minh đỏ mặt. Văn vỗ vai Minh, nhẹ nhàng nói tiếp:
- Thế rồi thấy đằng bà giáo đơn chiếc quá, lại được gặp dì và chú càng thêm mến, nên quên phứt đi. Mới lại cơ quan ở Việt Bắc tưởng anh vướng lại ở thủ đô mà cũng chẳng nghĩ gì đến nửa. Nhưng... tại sao chú lại hỏi anh thế ?
Minh luống cuống chưa kịp trả lời, Văn đã tiếp :
- Ý hẳn các ông cán bộ phủ thấy tôi nhàn tản ở đây nên hỏi chứ gì ? À, chú cứ trả lời là tôi nghỉ dưỡng sức ít ngày rồi lại lên Tuyên Quang lãnh công tác.
Minh vội hỏi:
- Anh tính đi thật đấy à ? Bữa nào anh đi ?
- Tôi chưa định hẳn; nhưng sớm muộn rồi cũng phải đi chứ !
Minh xịu mặt, buồn thiu...
Nét ngay thật của Minh làm Văn thương hại.
Nhưng giờ đây nhớ lại, Văn cũng thấy cần phải tự đặt cho chính mình câu hỏi:
- Anh có định công tác gì không ?
Dĩ nhiên Văn không thể kéo dài mãi cái lối sống tản cư này được ? Nhưng công tác... thì những ngày ở Nam Bộ với sáu tháng ở thủ đô trước đêm lịch sử đã cho Văn một nhỡn quang khác...
Văn bó gối ngồi trên tấm ngựa ngoài hè có cả hàng giờ để chờ đêm xuống. Màn mưa bụi vẩn lê thê buông trên xóm làng đồng ruộng. Cực khổ cho con người biết mấy, nhưng đất màu ẩm ướt sẽ cho ngô lúa được nẩy mầm tốt tươi. Văn cảm thấy lòng mình lắng xuống và chín chắn thêm được phần nào. Chàng giật mình vì tiếng cười khanh khách sau lưng:
- Anh Văn nghĩ gì mà thần lần ra thế ?
Thọ để đĩa củ dong khối nghi ngút lên tấm ngựa.
- Mưa phùn ướt át chẳng còn đi đâu được. Mẹ em bảo luộc ít củ dong, anh xơi cho nóng.
Văn cười, cái cười gượng gạo vô nghĩa lý, khi không còn biết nói gì ?
Thọ đứng tựa vào cánh cửa, nhìn ra sân. Ánh sáng ẩm ướt từ bên ngoài hắt vào làm nổi bật đôi mắt đen láy như đầy u ẩn. Văn chợt nhớ đến Minh, và nhớ lời dì Mơ ân cần. Văn tưởng chừng như hàng rào tre xanh đương rung chuyển, mà làn nước tù hãm muốn giao động.
Văn nhìn đĩa củ dong :
- Tưởng nên để dành, lúc nào có chạy giặc đem theo luộc ăn cũng đỡ.
Thọ quay phắt ngay lại:
- Ừ nhỉ ! Liệu có yên được không, hả anh ? Mấy hôm nay mưa thế này không có máy bay đỡ phải trú ẩn; nhưng nào biết là được bao lâu ?
- Chắc gì mưa ? Lúc chúng nó hành quân, cần đi là đi chứ mưa mà làm gì ? Có cái cứ nên cẩn thận mà thôi. Nói dại, nếu quân Pháp phá ụ qua làng ta, thì ở nhà định thế nào, cô Thọ ?
- Nào em biết! Thì cũng liều chứ sao ?
Thì cũng liều, nghĩa là chẳng biết làm thế nào cả ? Cứ kiên nhẫn mặc số mệnh ! Văn thở dài. Chính Văn cũng chưa biết sẽ làm thế nào ? Văn đột nhiên hỏi:
- Cô có nghĩ đến chuyện ra ngoài tỉnh không ?
Thọ mở to mắt, sửng sốt nhìn Văn. Câu hỏi đột ngột quá, Thọ không ngờ, nên bối rối:
- Ra tỉnh ? Ra Hà Nội ấy à ? Tại sao anh lại hỏi vậy ? Mà ra thế nào được cơ chứ! Pháp nó chiếm mất rồi còn đâu ?
Văn cười:
- Tôi hỏi thật đấy. Nghĩa là khi nào thuận tiện, thái bình về sau này... Nếu không, ở nhà cô làm gì được ? Cô có quen làm ruộng đâu ?
Văn ngừng lại, nhìn Thọ. Thọ vẫn nhìn ra ngoài sân, có lẽ chẳng biết nghĩ ra sao về ý kiến của Văn.
- Hay cô muốn mãi mãi ở đây. Thế cô có nghĩ đến chuyện học công việc đồng áng không ? Kể cũng chẳng khó; ấy, thỉnh thoảng qua bên dì Mơ tôi bắt chước học mà xay lúa, giã gạo, giần, sàng được cả ?
Văn ranh mãnh lơ đãng nói tiếp:
- Kể Minh cũng hay; thật dễ chịu. Chỉ khổ một cái là cứ lang thang thế này, chẳng biết rồi chú ấy muốn cái gì nữa ?
Thọ không đáp. Đôi lúc Thọ mơ hồ cố nghĩ đến những ngày mai, nhưng nào biết làm gì hơn được ? Ngay đến nỗi lòng u ẩn cũng đành âm thầm chờ, chờ mãi... Nhưng tại sao Văn lại hỏi như vậy ? Văn có ý gì ? Thọ hơi đỏ mặt. May mà bóng tối đã xuống hẳn, ai có thấy ? Thọ chưa biết nói sao, thì ngoài ngõ xóm nghe có tiếng ồn ào. Bà giáo hớt hải gọi:
- Cậu Văn ơi! Cậu Văn !
Văn vội vã chạy ra cổng.
- Không biết có chuyện gì mà thấy nhộn nhạo cả lên thôi ! Cậu chạy ra xem đi.
Con đường đất thịt trơn như đổ mỡ, Văn không nhớ trượt chân đến mấy lần mới tới được bờ đê. Trời tối, nên chỉ thấy lố nhố những người. Từ mặt đê cao, nhìn về hướng Hà Nội thấy ánh đèn sáng rực. Mà lạ, sao lại gần quá. Ánh đèn pha rọi cả lên trời! Mọi người bàn tán, nỗi hãi hùng lo âu tràn ngập. Văn chợt nhận ra tiếng Minh gần đấy; chàng lẳng lặng lại gần, ghé vào tai Minh:
- Chú là Ủy viên liên lạc, phải chạy lên xã trên lấy tin tức chứ !
Minh quay lại thấy Văn :
- Tôi quên mất nhỉ.
Nói rồi, Minh chạy vụt đi. Dân làng kéo lên mặt đê mỗi lúc một đông. Ai nấy nhớn nhác, mà cứ nhớn nhác vậy thôi, chưa biết phải làm gì và nên làm gì. Thấy Minh trở về, mọi người xô lại hỏi. Minh thở hồng hộc:
- Quân Pháp chúng nó kéo tới làng Chẩy rồi. Chúng đóng ở đấy, rọi đèn pha ra tứ phía nên sáng rực trời như vậy.
Văn ngắt lời:
- Thế sao không thấy phủ bộ cho tin tức gì cả ?
- Chúng nó theo mặt đê, từ Vĩnh Tuy kéo về xuôi, đi băng băng, tầu bò đi trước phá ụ, mạnh ai nấy chạy. Phủ bộ ở đường số một có hay biết gì đâu ? May mà tới Chẩy tối quá chúng đóng lại, chứ sớm một chút là xã mình chạy cũng chẳng kịp. Tôi lên xã trên vừa gặp Ủy viên liên lạc xã Chẩy mới hớt hải chạy xuống cho biết. Anh ta đương thăm ngô ngoài đồng, nghe thấy ầm ầm, nhìn lên mặt đê thì xe địch tới nơi rồi; thế là bán sống bán chết chạy về xuôi.
Mọi người nhao nhao. Chủ tịch xã, Ủy viên quân sự xã đều có mặt. Thấy mọi người lúng túng, Văn xen vào :
- Bây giờ tối chúng không dám tiến đâu, song mai sớm thế nào chúng cũng qua làng ta. Ta hãy tạm lánh vào trong đồng chiêm nghe ngóng, rồi chờ lệnh phủ bộ đã.
Kể cũng không còn cách gì hơn. Đành là cắt người coi ở đầu làng, và luôn luôn liên lạc với xã trên để báo tin cho kịp thời. Đó là việc của Minh.
Văn về tới nhà thì mấy mẹ con bà giáo vẫn ngóng chờ tin tức ở cổng. Văn hối thúc sửa soạn vào miền đồng chiêm cho kịp. Còn biết đem gì theo, và để gì lại? Thấy bà giáo và Thọ lúng túng xếp dọn, Văn thương hại. Lúc này đây, nào mình gì gia đình bà giáo, có lẽ cả ngàn, cả triệu gia đình khác cũng đương lúng túng.
Văn giục:
- Thôi, cô Thọ đi nấu cơm, nắm lại, mai sớm đem theo đi ăn; để tôi thu xếp với bà cho chóng.
Văn nhặt nhạnh gói ghém làm mấy tay nải. Vừa xong, đã nửa đêm. Văn nhìn bà giáo, ái ngại:
- Bây giờ thì bà và các em nằm nghỉ lưng một chút. Con qua dì Mơ xem sao, kẻo chú Minh còn lo liên lạc lấy tin cho cả làng. Con về là đi ngay mới kịp.
Dì Mơ cũng đương lúi húi thu dọn. Nhưng khổ, có gì để đem theo, ngoại trừ mấy bộ quần áo vá ? Gia sản của người dân quê Việt đâu có thể đem theo được, nếu không phải là đôi bàn tay cần cù ?... Văn giúp dì Mơ chẹn cửa ngõ cho chắc chắn, để dì kịp thổi nổi cơm và rang ít muối vừng.
Vừa xong thì Minh xô cửa vào. Minh ngồi thừ trên chõng tre, lo lắng nhìn Văn :
- Làm thế nào, hả anh ?
- Thì đã bảo là hãy tạm lánh vào khu đồng chiêm xem sao đã. Dì đã sửa soạn xong cả rồi. Tôi nghĩ dì vào trong bà giáo cùng chạy, cho có người nọ người kia. Tôi ở lại khi nào địch tới làng, rút lui vào trong đồng cũng vừa. Còn chú... sớm tinh sương vào trong bà giáo, tôi chờ chú nhé. Chứ bên này ở xóm bãi chạy qua mặt đê cao, chúng nó bắn chết. Thôi, chú lên trạm canh, có gì lạ thổi còi cho dân làng biết mà chạy cho kịp.
Dì Mơ đã khóac tay vải lên vai, sụt sịt:
- Này Minh, cầm gói cơm nắm có sẵn vừng trong đó rồi. Nhớ nghe anh Văn dặn đấy. Sáng mai vào trong bà giáo đi cùng anh Văn.
Cánh liếp khép chặt; Minh lấy dây thừng buộc lại cẩn thận, rồi ba người rảo bước qua ngõ xóm, băng qua con đê cao tới nóc nhà.
Hai mẹ con bà giáo và dì Mơ đi vào miền trong. Họ hẹn gặp nhau ở chùa làng. Thọ nhất định đòi ở lại trông nhà, nói khi nào xe quân Pháp đến sẽ cùng chạy với Minh và Văn cũng kịp.
Đêm lạnh buốt, tối đen như mực. Cuối tháng giêng, mưa xuân mà còn giá lạnh biết mấy. Tiếng gọi nhau, tiếng xào xạc, bóng người nhấp nhô. Kinh khủng lẫn buồn rầu phủ kín lên dãy làng nhỏ yếu đuối ở ven sông Hồng.
Minh về tới cổng thì tiếng động cơ nổi dậy. Ba người vừa ra khỏi hàng rào tre cuối cùng, thì xe quần địch tới đầu làng, ụ đất đắp trên đê làm chúng phải ngừng lại. Những loạt súng bắn ụ rền vang, xen lẫn liên thanh và súng trường. Mấy chiếc phi cơ chiến đấu đen sì lượn vòng thúng, là sát gần ngọn cây, kêu xé trời nhức óc. Bọn người tản cư ban đêm đã tới các làng miền trong, còn những người nán lại đi sau chưa đủ thời giờ dời xa, đành nằm nép xuống luống cày, dưới các hàng ngô mới lên cao độ nửa thước.
Văn chỉ kịp giật vội tay Thọ và tay Minh cho ngã chúi xuống nằm rạp cạnh mình là máy bay xẹt ngang đầu đồng thời với một loạt liên thanh. Ba người nín thở, tự thấy tính mệnh treo bằng sợi tóc. Chưa kịp ngẩng lên, lại một chiếc khác vụt qua. Tay Thọ vẫn nằm gọn thon lỏn trong bàn tay Văn và run bần bật.
Văn khẽ nắm chặt như an ủi và khuyến khích bình tĩnh. Tiếng Thọ rên rỉ :
- Anh Văn ơi, nguy quá... Anh Minh có đấy không ?
Tiếng Minh như nghẹn trong cổ :
- Có ! Hay là chúng ta chạy mau cho xa hơn chút nữa.
Văn vội giữ chặt cánh tay Minh như muốn đè xuống đất:
- Không được. Yên trí mà nằm im. Chạy, chúng bắn chết.
Tiếng máy bay qua đầu; gió nơi cánh quạt máy bay thổi ngả rạp hàng ngô xòa cả vào mặt ba người. Đầu Thọ gục vào cánh tay Văn ; Văn thấy rõ hơi thở qua tay áo.
Không hiểu sao, một ý nghĩ quái ác vụt qua đầu chàng:
- Chú có nghĩ đến chuyện dân quân kháng chiến xung phong giết giặc không?
Thấy Minh không đáp, Văn thản nhiên nói tiếp :
- Vậy mà những ngày đầu ở miền Nam, người thanh niên đã vác tầm vông vạt nhọn xung phong giúp người ta cướp chính quyền, và chiến đấu đấy. Tôi hỏi chú là để muốn biết xem người ta bảo chúng mình chiến đấu như thế nào đấy thôi!
Văn ngừng lại, day qua phía Thọ. Mặt Thọ tái mét.
- Không nên sợ quá, cô Thọ ạ ! Chú Minh, chú tưởng cứ máy bay và súng bắn ụ như thế kia là Pháp thắng được à ? Không, chúng không thể được đâu ! Càng thế chúng chỉ càng mau thua mà thôi. Có điều là rồi ai sẽ được đây ?
Nói xong, Văn mới thấy là mình vô lý. Làm sao mà Minh hiểu nổi ý nghĩ của mình được ?
Ụ phá xong, đoàn xe địch tiến về hướng Nam, để lại một toán đóng án ngữ ở trạm canh giữa làng. Chỉ còn tiếng  ‘‘tắc bộp’’ nổ rời rạc như trống cầm canh.
Khỏi cơn kinh hoàng, người dân quê biết chưa thể trở về nhà, đành dắt díu băng qua cánh đồng bát ngát, tiến về miền lầy lội của đồng chiêm. Mưa rơi, rơi đều, phủ kín thôn quê trong làn nước mờ mờ. Mây đục vẩn, lừ lừ trôi đợt này qua đợt khác, đem giá lạnh và ẩm ướt phủ lên cảnh vật âm thầm buồn chết. Đồng quê xưa u tịch, nay nhiễm đầy thê lương và khủng khiếp. Làn nước mỏng, trắng mờ, đem cả một màu tang chế lên chuỗi làng nhỏ ven sông Hồng.
Văn lầm lũi đi, cố tránh những cây ngô non mơn mởn. Thọ và Minh cũng im lặng đi bên cạnh. Giờ đây có lẽ hai người đã cảm thấy đồng ruộng này không đủ đảm bảo nuôi họ nữa; giờ đây có lẽ hai người mới bất đầu biết thế nào là chiến tranh, một cuộc chiến tranh không tên tuổi.
Tới chùa làng Xuyên đã gần ngọ. Cả bà giáo lẫn dì Mơ đỏ mắt chờ. Mấy nắm cơm gối hồi đêm đã lạnh ngắt, không còn ai muốn nuốt trôi. Đột nhiên, Văn như thể cây trụ chính cho hai gia đình bấu víu ; ai nấy chỉ còn chờ Văn nói sao thì làm vậy.
Nhờ đến sớm, dì Mơ xin được mớ rơm rối, trải trên nền đất nện, đủ cho hai tấm chiếu. Gia đình bà giáo và gia đình dì Mơ thu gọn trên hai chiếc chiếu ấy. Mấy chiếc tay nải nâu chất gọn một gốc.
Minh thần mặt ngồi sát bên Văn. Có lẽ Minh nghĩ lung lắm, mà đầu óc hẳn vẫn trống rỗng; Thọ ngồi dưới chân mẹ, đăm chiêu nhìn trong không trung. Văn nghỉ một lát rồi đứng dậy.
- Bây giờ thì hãy ngủ đã ; qua đêm nay xem sao rồi sẽ liệu. Đi từ đêm chắc các bà và các em đều mệt.
Dứt lời, Văn kéo Minh ra trước sân chùa. Trên hè, bọn người tản cư chen chúc nằm ngồi. Đông, đông lắm. Bao thân hình co ro trong bộ quần áo nâu cũ kỹ. Những nét mặt sạm nắng, hốc hác và hãi hùng. Họ ngồi chờ...Trong hoang mang hoảng hốt ra đi, họ phó mặc cho trời.
Người ta bảo họ đi, đi xa nữa.
Mưa vẫn rơi đều. Họ mệt nhọc và lo âu. Xa xa tiếng nổ thưa thớt, tiếng động cơ xe còn vẳng đưa lại. Sau làn nước, làng ẩn hiện trong lùm cây xanh rì có những ngọn cau dướn mình in lên trên nền trời xám. Xa nữa, phía chân trời, vài đám khói đen bốc cao điểm mươi lưỡi lửa đỏ hồng. Họ buồn rầu và lo âu thay cho nơi chôn rau cắt rốn. Nào biết có thoát khỏi bị tàn phá không? Những gian nhà chật hẹp đủ che mưa nắng, những mảnh vườn nhỏ bé... hết thảy là quý báu vô ngần. Đó mới là lẽ sống của họ, vì chỉ những thứ đó mới đem lại cơm áo và ấm áp cho bản thân.
Nay họ đành ngồi chờ.  Về không dám về, đi không dám đi. Dù người ta khuyên bảo họ dời bỏ quê hương để đi, đi lên  ‘‘chiến khu’’ , ‘‘an toàn khu’’, mà sinh cơ lập nghiệp, vừa trường kỳ kháng chiến vừa tránh cảnh tàn phá, lại xây dựng thêm cơ sở mới. Nhưng tâm hồn mộc mạc, bình dị và thực tế của họ không thể khứng chịu các dự định viển vông, và cũng không thể mường tượng nổi cái tương lai trong hứa hẹn bâng quơ như thế. Cho nên mặc dầu mọi lời biện thuyết, mặc mọi sự đe dọa, ít người bỏ chốn quê hương nghèo nàn để giấn mình vào một cuộc phiêu lưu mới. Phần đông vẫn lặng lẽ cố bám lấy mảnh đất bao năm quen biết, và liều chờ cơn bão táp.
Thì nay cơn giông tố đã nổi dậy. Nhưng nghĩ tới ra đi, họ lại rùng mình. Đi ! đi tới một nơi chưa hề được biết bao giờ, họ e ngại lắm. Sau rặng tre xanh, túp nhà tranh chật hẹp thật, nhưng đủ che mưa nắng, và không phải là không ấm áp. Miếng đất năm này qua năm khác đào lên trộn xuống, họ thừa hiểu nó ra sao. Những ngõ nhỏ lầy lội, những bụi tre nghiêng ngả, những ao nước phẳng lặng... hết thẩy đầy thân tín và hiền lành. Hồn họ quyến luyến mảnh đất hằng nuôi sống họ như làn khói vương vấn không muốn dời khỏi mái tranh những buổi mưa dầm ướt át.
Ra đi là bỏ hết cả. Bỏ cả, vì còn gì mà đem theo? Của cải họ là những vật thật vô giá trị. Nó là túp nhà, là những đồ dùng cục mịch, là những hàng cây non nẩy mầm trên luống đất đẫm mồ hôi khó nhọc. Ra đi, còn đem theo được gì ngoài đôi bàn tay trắng ? Người ta hứa hẹn có đất cát, ruộng nương. Nhưng mảnh đất mới lạ, nào biết nó ra làm sao ? Liệu có nuôi nổi mình không ? Mà lấy gì lập lại cuộc đời ? Phải lo từng cái bát, từng đôi đũa dù chỉ là đôi đũa tre đi nũa!
Bây giờ nói đến đi, họ rùng mình. Từ đêm, mới cách quê hương có mươi, mười lăm cây số mà dắt díu bồng bế nhau đã thấy biết bao nhiêu khó nhọc. Tới ghé nghỉ ở cái làng còn gần gần quê quán mà đã bị nhìn bằng con mắt xa lạ, nghi ngờ. Đời sống eo hẹp của dân quê, những lo sợ các lời đồn đại, đủ làm cho không tìm đâu ra sự giúp đỡ cho kẻ tản cư. Người ta nhìn kẻ mới tới bằng con mắt nghi ngại nhiều hơn là con mắt thương hại, nữa là nói chi đến chốn xa xôi hàng trăm, hàng ngàn cây số.
Họ chán chường và lo âu ngồi chờ...
Xa xa một vài tiếng nổ lẻ tẻ vang tới. Cái làng nhỏ yêu dấu, mập mờ như thoi thóp cố gọi họ về. Họ sợ sệt, lo ngại, đau xót, rồi đành chờ. Thật ra, nào biết chờ đến bao giờ ? Họ co ro cạnh nhau, cau có gắt gỏng cùng nhau, và nhẫn nhục trước thời gian cùng định mệnh.
Một ngày đã qua. Trời sập tối. Mưa vẫn lặng lẽ tỏa mù như làn sương dầy đặc. Nền trời xám không có một ngôi sao. Đằng xa, ánh ‘‘đèn pha’’ vẫn ửng hồng một góc trời. Ai nấy chen chúc sắp sửa ngả mình trên lớp rơm rối trải thay chiếu nằm. Bên ngoài trời tối như mực, gió lạnh vẫn thổi đều, xô đẩy những lớp mây nặng nề ướt át.
Văn nhổm dậy. Đĩa đèn dầu trên tam bảo chỉ đủ cho gian chùa khỏi tối om. Văn khẽ lay Minh :
 - Minh ơi! Sửa soạn chứ.
Minh choàng dậy, dụi mắt. Văn hạ thấp giọng:
- Tôi định trở về nhà xem sao. Chú có muốn đi không ?
Và như không cần chờ Minh trả lời, chàng tiếp:
- Về, rồi gần sáng lại qua đây. Không sợ gì hết đâu. Nhưng phải lẳng lặng đừng cho ai biết.
Giọng Thọ run run như nói trong hơi thở :
- Sao anh liều thế ?
Văn quay lại. Thọ đã ngồi ở sau lưng lúc nào, chăm chú nhìn hai người.
- Em nằm, nhưng có ngủ được đâu! Các anh định về làng đấy à? Chúng nó còn canh ngay trạm giữa làng trên mặt đê cơ mà ?
Văn khẽ suỵt:
- Em nói khẽ chứ, đừng để ai biết. Tôi và chú Minh lẻn về lúc đêm tối này bọn chúng biết thế nào được ? Xong lại đi ngay, chẳng có gì đáng sợ đâu.
Dứt lời, Văn khẽ kéo Minh lẩn ra khỏi chùa. Thọ hoảng hốt không kịp giữ lại, mà có lẽ cũng không đủ can đảm giơ tay níu lại. Trong thứ ánh sáng lờ mờ chập chờn của ngọn đèn dầu ta, Thọ chợt cảm thấy cô độc quá. Mẹ đấy, em đấy... Mà sao Thọ vẫn thấy trống trải quá đỗi.  ‘‘Giá cứ liều đi theo hai anh ấy !’’ . Thọ rùng mình, nhắm mắt lại. Rõ ràng hai bóng người vùn vụt mải miết chạy... Rõ ràng Văn giật Thọ ngã chúi xuống cạnh Văn và Minh, rồi tiếng máy bay, tiếng đạn réo qua đầu... Làm sao nói được hết cái cảm giác lạ lùng lúc đó ? Một cảm giác đê mê vừa sợ hãi, vừa sung sướng. Ôi ! giá một viên đạn của địch trúng vào Thọ đi... Thọ hoàn toàn mãn nguyện. Thọ nghẹn ngào nấc lên vì sung sướng...
Thọ mở choàng mắt. Vẫn ánh đèn dầu chập chờn. Mọi người đã ngủ yên. Thọ cố giỏng tai nghe ngóng : không động tĩnh. Thọ cố mở to mắt nhìn ra ngoài: đêm tối mò mịt. Mai đây ra sao ? Thọ sẽ làm gì ? Nói dại, nếu cả hai anh Văn, Minh bị địch bắt được ? Thọ hốt hoảng lắc đầu như xua đuổi cái hình ảnh hai người quằn quại trên vũng máu. Thọ ôm lấy đầu ; mồ hôi đã xâm xấp ướt trên vầng trán lúc nào không hay.
Không biết là mấy giờ khuya rồi, Thọ không dám nằm xuống nữa, đành bó gối chong mắt chờ...
* * *
Ra khỏi chùa, Minh nắm chặt tay Văn rảo bước đi. Hắn thuộc làu con đường, vì hắn đã chẳng thường gánh ngô thuê cho những bàn cân để giao tại bến sông làng Thụy ? Trời tối như mực. Mưa vẫn phất phất rơi. Minh chợt hỏi, giọng đầy ái ngại:
- Anh có quen đi tối không ? Lại giẫm đất nữa !
Văn phì cười:
- Quen lắm rồi. Có cái là quen với đồng lầy và ngõ đất miền Nam thôi. Đêm không có tối thế này mà cũng chẳng làm quái gì ra cái lối mưa phất phất giá buốt như ở đây.
Đường đất thịt gồ ghề, trơn như đổ mỡ. Họ băng qua cánh đồng. Dưới gót chân bước vội vàng, những tảng đất màu tan vỡ, những cây ngô mới lớn rạp mình gẫy gục. Tiếng cây ngô non giập gẫy làm Văn rùng mình. Hàng luống ngô non biết bao khó nhọc mới có được mà suốt buổi mai đã bị giầy xéo dưới bước chân hoảng hốt, lại còn bị chà đạp nữa. Có biết bao nhiêu mầm sống tốt tươi đã héo lụi ? Những phá hoại... để đem lại hạnh phúc cho đám dân quê hiền lành, yên tĩnh ?
Đến hàng rào tre ven làng, Văn đứng lại, kéo Minh lùi lại sau, mà bảo:
- Không được nói gì hết, chú cứ đi theo sát tôi và nhẹ bước nhé.
Cẩn thận vậy thôi. Làng mạc im phăng phắc. Hai người qua rào vào làng.
Xóm đồng liền với cảnh ruộng bát ngát, nên chỉ qua hàng rào tre là hai người đã biến vào ngõ xóm tối đen dưới bóng tre kẽo kẹt. Tối trời nhìn không rõ, song Minh và Văn đã thuộc lòng từng khúc quanh, từ dốc nhỏ, cho đến chuôm ao, nên vẫn lặng lẽ thoăn thoắt bước nhanh. Xa xa, qua ngọn cây, từ nơi trạm canh làng Thụy, ánh đèn pha rọi sáng một vùng mặt đê.
Văn kéo Minh đi quanh quất qua các xóm, chán rồi mới vượt rào vào trong nhà. Nhà bà giáo không suy suyển. Văn cảm thấy như vậy vì đồ đạc đâu yên đấy, Văn không hề vấp vướng.
Văn khẽ bảo Minh :
- Có lẽ chúng chưa đủ thì giờ lục phá các xóm. Nếu chúng còn đóng lại đây lâu thì khó mà còn. Lát nữa về qua, chúng mình nhặt nhạnh đem thêm đi. Bây giờ thì chú cẩn thận; chúng ta sẽ băng qua mặt đê sang xóm bãi, xem đằng nhà nữa chứ ! Phải chạy thật nhanh và cúi rạp xuống đấy. Trên đê nhìn rõ lắm.
Minh lưỡng lự:
- Nhà dì em còn có gì ? Thôi, nếu nguy hiểm chẳng qua nữa.
Văn gắt:
- Phải qua chứ ! Xem địch chúng phá phách thế nào. Cho quen đi!
Nói rồi, Văn nắm tay Minh, kéo ra ngõ.
Tới gần chân đê, Văn lom khom chỉ cho Minh phía trạm canh giữa làng, ngay mặt đê. Đèn pha sáng rực hướng ra quanh đồn. Một vài bóng cao lớn thấp thoáng dưới ánh sáng. Minh ngần ngại:
- Hay thôi, anh Văn ạ!
Văn nín thinh, kéo Minh đi về xuôi, tới quãng đê quai vòng thúng, từ trạm canh nhìn xuống bị khuất bụi tre cao, Văn chăm chú nhận xét địa thế, rồi nắm tay Minh, khẽ bảo:
- Cúi người xuống, chạy theo tôi thật nhanh nhé.
Minh như cái máy, làm y theo Văn. Hai người vụt chay qua ngang mặt đê; tới bên kia là các ngõ xóm khuất khúc tối om dưới các hàng tre ngang dọc xào xạc dưới gió lạnh. Họ men theo bờ sông, ngược lên phía văn chỉ. Tới khi Văn ngừng lại, nấp dưới bụi chuối, thì Minh chợt thấy chỉ cách trạm canh quân Pháp đóng khoảng vài ba trăm thước. Minh trố mắt nhìn, trống ngực Minh dồn dập. Nhỡ bọn chúng bắt gặp? Minh lo ngại, kéo Văn lùi lại...
Nhà dì Mơ cũng chưa bị lục soát; dây thừng buộc cửa liếp vẫn y nguyên, nên Minh không buồn vào nữa.
Quá trên đê, mấy ngọn đèn pha vẫn sáng rực.
Văn dắt tay Minh thoát ra khỏi hàng rào tre êm ả như không. Những tảng đất màu lại tan vỡ dưới chân. Văn đột nhiên cười, cái cười bực tức làm Minh cuống quít:
- Chết, sao anh cười to thế, địch nghe thấy thì nguy ?
Văn dằn giọng:
- Địch nào ? Tụi Pháp ư ? Chúng nó dám thò ra khỏi chỗ đồn trú trong đêm tối thế này ? Vả lại chúng mình đã xa làng rồi, chúng nghe thấy thế nào được!
- Nhưng anh cười gì mà tợn thế ?
- À, tôi cười vì thấy chú còn ngớ ngẩn quá ! Đấy chú xem, tha hồ cho Pháp đóng quân, tha hồ cho chúng có máy bay, súng ống... chúng mình vẫn đi lại. Ngày thì cứ tạm cho là của chúng đi! Còn đêm thì ai làm chủ đây ? Chúng đòi thắng làm sao được?
Minh ngập ngừng:
- Thế là Pháp sẽ thua ; kháng chiến nhất định thành công ! Chúng ta sẽ thắng.
Văn giận dữ ngắt lời:
- Dĩ nhiên là Pháp thua. Nhưng ai thành công? Ai thắng? Chú thắng hay tôi thắng? Hay chúng mình cùng thua? Không, chưa biết được đâu, chú Minh ạ.
- Chú Minh này, giá thử giặc Pháp đi rồi, trong làng sẽ làm gì đây?
Minh ngạc nhiên:
- Thì ai đâu lại về đấy làm ăn chớ sao ? Anh hỏi lạ quá, em chẳng còn biết ra làm sao nữa.
Văn phì cười:
- Nhưng mùa ngô này thế là bị hỏng rồi đấy nhá ! Thôi, chúng mình hãy về chùa đã cho mọi người khỏi biết.
Minh ngẩn ngơ lầm lũi theo Văn, cắm cổ đi mà không ai nói thêm một lời.
Tới chùa, đã mờ sáng. Thọ vẫn ngồi bó gối, chờ...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2020 20:56:10 bởi Thanh Vân>
Rồi một hôm, hai hôm...Qua cánh đồng bát ngát, hướng về phía con đê dài, họ nhìn rải rác một vài đám khói bốc lên lẫn một vài ngọn lửa đỏ vụt dâng cao. Họ chua xót nhìn theo tưởng chừng như những thứ gì thân mến quí báu nhất có lẽ đã thành tro tàn. Và họ lại càng nhất quyết cố bám lấy mảnh đất này, không thể bỏ đi được. Một vài người liều gan đã lén trở về làng thăm thú, và đem tin lại cho dân làng tản cư đau khổ kia càng thêm đau khổ. Địch đã sục sạo xóm làng. Đồ đạc của dân quê thì còn có gì cho chúng lấy ? Nên chúng đã đập phá chơi cho thỏa cái thèm đập phá... Mươi lăm nóc nhà cháy dụi làm cho mấy người già cả liều ở lại bị chết uổng ; hàng chục lợn gà bị chúng giết để ăn phí phạm và giết để giết cho sướng tay ; một vài rặng chuối chúng chém ngang thân cho ngả rạp... Người dân buồn rầu và đau khổ chờ ngày lầm lũi trở về để dọn dẹp và gây dựng lại.
Xe địch thỉnh thoảng vẫn chạy qua trên mặt đê, nhưng coi chừng chúng không sục sạo vào trong xóm làng lắm nữa. Mới lại còn có gì nữa đâu? Trạm canh, nay chúng cũng đã bỏ, rút đi hết. Một ít người táo bạo trở về, liền ẩn nấp trong nhà mỗi khi thấy tiếng máy nổ. Rồi chẳng bao lâu, dân làng lục tục kéo về theo, trừ số ít dư tiền của, quá sợ hãi, đã liều chạy lên miền Bắc xa xôi hiểm trở cho được ‘‘an toàn’’.
Đời sống của làng Thụy vì chiến cuộc mà thành ra cheo leo buồn tẻ. Mỗi khi nghe tiếng động cơ là ai nấy hấp tấp tìm chỗ ẩn nấp, nhất là có một bữa ca nô của địch làm cho cả làng mất vía. Địch đã liên lạc từ thủ đô về Nam Định bằng đường bộ trên mặt đê hữu ngạn sông Hồng rồi, chúng bèn mở thêm liên lạc bằng đường thủy. Ca nô của chúng cứ vài ngày lại thấy chạy qua ở dưới sông. Một bữa không rõ vì sao mấy anh du kích quân từ phủ bộ về trấn đóng ở làng dưới, thấy ca nô của chúng lại nổ súng. Đạn có tới hay không, nào ai biết ? Chỉ thấy địch bắn cả tràng liên thanh lên bờ làm cho bên xóm bãi chạy trối chết. Cứ thế, lâu lâu lại một loạt liên thanh từ ca nô dưới sông bắn lên, hoặc từ xe ‘‘dip ” trên đê sả ra tứ phía. Còn ai dám yên tâm ra đồng làm việc nữa ?
Ngô mới mọc được ba, bốn tấc thì biến cố; không ai vun bón, cỏ mọc lấn, mùi dại lên ngập đầu. Bãi dâu xưa xanh rờn, những lá non luôn luôn thay đổi, thì nay đã xám bạc vì già sau bao nhiêu lứa bỏ uổng không hái.
Ngày qua ngày dân lành hãi hùng sống cực khổ, dưới đe dọa của quân thù, ngại ngùng vì du kích và bộ đội, và kinh hoàng vì viễn tượng đói rét.
Vai trò Ủy viên liên lạc của Minh cũng lu mờ hầu như chẳng ai để ý tới nữa. Cho đến cả chủ tịch xã, và các ủy viên khác cũng vậy. Làng Thụy lặng lẽ âm thầm sống, chẳng còn biết đến đóng góp, chẳng hiểu còn có luật lệ hay không, nhưng ai nấy cứ yên phận bình thản sống và trông chờ.
Dì Mơ chỉ còn biết loanh quanh trong nhà; có ít lúa, ít ngô, đổ ra ăn dần. Còn đi đâu được mà làm thuê, làm mướn thêm cặp ? Vả lại ai mượn người làm gì ? Minh cũng ở nhà luôn, ít còn biền biệt đi cả ngày nữa. Quanh ra quanh vào, đôi khi dì lại nhắc :
- Thời buổi này, nào biết tao sống chết lúc nào ? Thì loạn ly cũng mặc, phải lo vợ lo con cho mày chứ.
Có lúc dì bực mình phát gắt:
- Tùy mày đấy. Không bằng lòng con Bèo thì thôi. Ưng ai thì nói đi... Hay cô Thọ nhé ? Nếu mày nhất định thì nhờ anh Văn nói thử với bà giáo xem. Phải duyên phải số thì xong chứ gì ?
Dì sốt ruột lắm rồi. Biết bao giờ yên hàn ? Thôi thì buộc chân Minh lại cho xong. Từ cái hôm chạy loạn vào chùa làng Xuyên, gần Thọ dì cũng thấy yêu. Chỉ ngại là chẳng biết con nhà học trò,  rồi thì ăn làm ra sao ? Dì lại chép miệng, tự an ủi: ‘‘Hay là cái số nó thế!’’
Thấy dì Mơ dục mãi Minh cũng băn khoăn. Lấy đĩ Bèo ư ? Đã hẳn là giản dị lắm, lo lúc nào xong ngay lúc ấy. Nhưng Minh vẫn không làm sao quên được Thọ. Minh vẫn nhớ đôi mắt đen láy mỗi khi bắt gặp là Minh lại bối rối; lại đôi má ửng hồng phơ phất mấy hàng lông tơ; lại bàn tay mát dượi... Minh tự nhủ : - ‘‘ Tại sao lại không thể bảo Thọ tập lấy công việc đồng áng được. Lấy Minh rồi, công việc đến tay sẽ quen đi chứ!’’ ... Chắc hẳn là Thọ cũng bằng lòng ; nhưng Minh chỉ ngại bà giáo... ‘‘Nhờ anh Văn nói thử với bà giáo xem’’; Ừ, dì nói phải. Nghĩ vậy mà Minh lưỡng lự mãi, chưa biết nói sao cho tiện. Mà lâu nay Văn cũng hình như ru rú ở lì trong nhà, có mấy khi qua bên dì Mơ đâu ! Chả lẽ Minh lại sang bà giáo, tìm Văn để nhờ việc ấy!
Cho đến một bữa vào cuối tháng ba, gà vừa mới lên chuồng, Văn vội vàng tới, và kéo Minh vào trong nhà. Văn vừa chào dì Mơ xong, đã dặn vội:
- Thôi, chú đừng đốt đèn nữa, vừa phí dầu, vừa không tiện. Có điều này cần bàn với chú. À, chú hãy đóng cổng lại đã.
Dì con Minh ngẩn ngơ không hiểu Văn có điều gì mà cẩn thận như vậy. Cho nên Minh ra đóng cổng thì dì Mơ cũng cứ thắp ngọn đèn cho đỡ tối.
Văn ngồi trên chõng tre, tần ngần khẽ nói:
- Tôi sang đây tối thế này cho ít người để ý. Sang để dặn chú khi nào trên tỉnh bộ hay phủ bộ có giấy tờ gì về tôi, thì lén cho tôi biết ngay nhé.
Minh ngẩn ngơ gặng hỏi:
- Có chuyện gì mà anh phải dặn như vậy ?
- Không. Chú chẳng hỏi tôi rằng có định công tác gì không ư? Không lẽ cứ tân cư ăn không ngồi rồi mãi như vậy. Tôi định đi ngay từ hồi tản cư về đây, song cứ nấn ná vì dì, vì chú... và cũng vì cô Thọ nữa. Bây giờ thì cũng mới sửa soạn thôi, chờ cho bà giáo khỏi đau đã.
Dì Mơ ngạc nhiên :
- Bà giáo ốm hồi nào ? Tôi có thấy ai nói gì đâu ?
- Dạ, cô giáo cháu từ hôm chạy loạn vào làng Xuyên về rồi cứ khặc khừ ốm. Hồi này chẳng đi đâu nên cũng chẳng ai biết. Cháu cũng sốt ruột quá, chẳng lẽ thấy nhà neo người, lại loạn ly mà bỏ đi ngay cũng tội.
Minh băn khoăn không hiểu Văn định nói gì ? Tại sao lại bảo là nấn ná vì dì Mơ, vì Minh, lại cũng vì cả cô Thọ nữa ? Mà cái anh chàng đến gan dạ ! Minh còn nhớ như in cái đêm địch còn đóng mà anh dám rủ Minh lẻn về làng. Minh vừa phục, vừa mến. Sao mà anh Văn khác với những người tản cư như họ hàng vợ chồng phán Thành thế!
Minh ngơ ngẩn hỏi lại:
- Anh định đi đâu ? Lên Tuyên hay lên Thái ?
- Cũng chưa định hẳn, chú Minh ạ. Để còn xem, không chừng mà tôi vào khu tư, miệt Thanh Nghệ ấy mà !
Minh không biết làm thế nào gợi chuyện để hỏi được điều mà Minh muốn biết; cũng còn muốn hỏi cả về Thọ nữa ! Minh cứ ngường ngượng không dám. Văn như đoán được thắc mắc ấy, nên cười mà bảo:
- Có gì đâu mà chú phải băn khoăn ? Chẳng là cái đêm tác chiến ở thủ đô, rồi sau đó vội vã ra được, tôi chợt nghĩ đến ông giáo đã mất nên ghé thăm gia đình xem sao, định bụng tiện dịp nghỉ ngơi ít ngày rồi hãy đi. Bất ngờ thấy cảnh nhà bà giáo heo hút, lại có nhiều chuyện thắc mắc nên nấn ná mãi. Rồi lại gặp dì, gặp chú, thấy mến, mà việc đi cũng chẳng vội gì...
Dì Mơ thấy hai người rủ rỉ với nhau, thì cười:
- Ờ thôi, cậu Văn hãy ở chơi đấy với em. Minh à, muốn hỏi gì anh Văn thì hỏi đi. Dì sang thăm bà giáo một chút xem đau ốm ra sao.
Minh chợt nghĩ ra, nên vội vã đứng dậy:
- Vâng, phải đấy. Dì nói với bà giáo là anh Văn ở đây có câu chuyện bàn với con, có lẽ khuya mới về. Hay dì ở chơi bên ấy cho đỡ buồn. Lát nữa đưa anh Văn về, con đón dì.
Minh ghé vội vào tai Văn :
- Anh ngồi đây nhé, có nhiều chuyện muốn nói với anh.
Dì Mơ đi khỏi, Minh hạ cánh cổng tre, rồi mới vào nhà. Hắn sửng sốt vì nét mặt đăm chiêu của Văn, nên lẳng lặng ngồi xuống chõng, nhìn Văn như chờ đợi. Văn uể oải hỏi như cho có chuyện :
- Dì đi rồi ư ?
- Vâng, dì em đi rồi. Cổng cũng đóng cẩn thận. Anh bảo có việc gì định bàn với em thế ?
- Cái việc tôi định lên khu để công tác... Thắc mắc là vì cứ nghĩ đến dì, nghĩ đến chú, và nghĩ đến Thọ.
Văn ngừng lại, ngẩng lên chăm chú nhìn Minh :
- Chú yên trí là cứ thế này mãi hả ? Nếu quân Pháp lại kéo về đóng ở đây... thì chú định thế nào ?
- Đành tạm chạy vào vùng đồng chiêm như hồi nọ.
Văn bật cười:
- Rồi chúng còn chiếm cả đường , số một, vào cả vùng đồng chiêm nữa thì sao? Rồi ở đây chúng lại lập làng nữa!
Minh không hề nghĩ đến như thế bao giờ. Vả lại Minh cũng chẳng biết rồi quân đội, súng ống đâu mà đánh. Minh lúng túng:
- Ờ nhỉ... Thôi thì đành liều. Đằng nào cũng phải làm phải ăn.
- Tây mà nó để yên cho chú làm ăn, người ta sẽ bảo chú là theo tây, là Việt gian... thì sao ?
Minh chưng hửng. Nó không còn nghĩ đến việc mượn Văn ướm hỏi bà giáo về chuyện Thọ nữa. Nó chợt thấy Văn hỏi là phải. Ừ, làm sao lại không nghĩ ra ? À, có lẽ vì thế mà Văn đi chắc. Nó đâm lo.
Văn nhìn Minh, thương hại:
- Nghĩ xa xôi vậy thôi. Chú Minh này, có lần dì nói chuyện với tôi về việc cô Thọ. Chú nghĩ thế nào ?
Minh định bụng hỏi Văn, thì nay Văn lại đem ra nói trước, thành thử khó nói quá. Nó chưa hết hoang mang vì điều Văn mới hỏi đây, thì Văn lại đem ngay việc Thọ ra mà hỏi. Thật là quái ác ! Minh đắn đo mãi, rồi ngập ngừng hỏi lại:
- Dì em nói với anh thế nào ?
- Nói việc chú với cô Thọ, song bà giáo không thuận.
- Không, em muốn hỏi là dì em nghĩ thế nào cơ ?
- Dì không nói. Còn tôi thì tôi muốn hỏi lại chú đã nghĩ chín chưa ?
- Em cũng chẳng nghĩ gì cả. Bà giáo không thuận, mà dì em thì lo cô Thọ là con nhà học trò biết làm ăn ra sao...
Văn cười:
- Thế chú tưởng là con nhà học trò thì không làm được công tác đồng áng hẳn ? Thế sao chú làm ruộng mà trước đây lại đi học được. Có cái gì là phân biệt nhất định đâu? Tập là được hết; chẳng qua là cứ nệ ra thôi.
Văn đứng dậy nói tiếp :
- Thôi hãy biết thế. Để khi nào đi, tôi sẽ nói hết cũng kịp chán... À, mà chú nhớ có giấy tờ gì hỏi về tôi, hãy giấu đi, rồi cho tôi biết ngay nhé.
Dì Mơ đương ngồi nói chuyện với Thọ thì Văn và Minh về. Thọ đầy vẻ lo âu. Dì Mơ khẽ gọi Văn bảo cho biết là dì ngại cho bà giáo lắm. Dì thì thầm :
- Phải kiếm lấy một vài chén thuốc, cậu ạ. Tôi sờ chân tay bà giáo thấy khô ráp, xấu lắm. Cậu thử bàn với cô Thọ xem. Có gì cũng phải vào tận trong Khổ Liễu mới cân thuốc được. Có một ông thầy khách thì hồi nọ dọn dẹp chạy vào mãi trong Vân Đình kia rồi!
Bàn với Thọ, thì Thọ còn biết gì nữa. Được một vài chum ngô, một vài chum thóc dù đổ ra bán cũng khó lắm. Văn còn được ít tiền, nên nhờ Minh mai sớm đi giúp. Đưa dì con Minh ra cổng, Văn dặn với:
- Mai chú Minh chịu khó đi hộ. Tôi cũng biết bốc thuốc cách bức thế này có ăn thua gì đâu ! Nhưng thôi, cho chị em Thọ khỏi ân hận.
Hai thang thuốc, Minh mất một ngày mới lấy về được, song bà giáo cũng không muốn uống. Có lẽ bà cảm thấy rằng chửa chắc đã ích gì. Con người ta nhiều lúc bỗng nhiên như linh cảm được sự sống chết của mình ! Bà giáo cho Thọ mời Văn đến, rồi đuổi khéo Thọ, sai đi hái lá nấu nước để xông. Bà đem chuyện Thọ ra kể hết cho Văn, rồi ngừng lại nhìn Văn:
- Nói ra cũng tội nghiệp chúng nó. Tôi ngăn cấm con Thọ ở nhà, rồi chẳng có chuyện gì nữa. Từ hồi tản cư về đây, cậu cũng thấy đó. Kể cũng khó nghĩ. Giời lại làm tao loạn thế này, tôi thật đến khổ, chẳng còn biết thế nào cho phải. Nếu tôi có mệnh hệ nào, cậu nghĩ đến chú mà lo cho em nó được nhờ.
Như một ngọn đèn cạn dầu, bấc cứ lụt dần, bà giáo mỗi ngày một sút đi. Cho đến một buổi chiều, Văn vừa qua bên dì Mơ về, chợt nghe tiếng Thọ thất thanh gọi. Văn chạy vội lên. Thọ ngồi ở chân giường, ôm mặt khóc. Văn vén màn nhìn : một thân hình gầy gò, co dúm. Bà giáo đã ngừng thở. Gian phòng tối, lại càng tối tăm, lạnh lẽo. Văn bâng khuâng, lòng ngao ngán.
Người chết thật xấu số. Hồi này, xe quân địch ngày nào cũng một hai lần qua lại trên đê làng. Ai dám thò mặt ra ? Đem chôn cất cho tử tế, nhỡ xe quân địch đi qua, thấy có người lố nhố dưới ruộng, chúng cho một loạt liên thanh thì khốn.
Chết nhằm lúc chiến tranh cũng thật đáng thương. Thà rằng bị chết vì quân thù, vì hòn đạn lạc cũng đành đi một nhẽ ! Chứ đây chỉ là cái chết già, cái chết bình thường. Lúc bình thì, đã con cháu họ hàng làng xóm tấp nập, đã ầm ĩ hàng phe hàng giáp cúng tế, chôn cất linh đình.
Cái làng nhỏ bé đương lo âu vì nạn binh lửa, đương sợ hãi các biến cố xẩy ra không biết lúc nào, thì cái chết của một người già yếu, cũng im lìm như ngọn đèn hết dầu lụt bấc, không có lấy một tiếng vang!
Minh và dì Mơ hấp tấp tới. Dì Mơ và Thọ vội thay áo cho người chết. Văn châm ngọn đèn dầu, thắp mấy nén hương cắm vào bát gạo để tại đầu giường. Mấy người im lặng cắm cúi làm, nào bó, nào liệm. Dù là loạn ly chăng nữa, ‘‘nghĩa tử là nghĩa tận’’, có lẽ ai cũng thầm nhớ lại câu đố mà có công lo liệu.
Lúc này kiếm cho ra một cỗ áo quan không phải là chuyện dễ dàng. Có mấy hàng thợ mộc trong làng đều nghỉ; họ sợ quân địch đốt phá, số ít cỗ quan đóng sẵn họ đã đem ngâm giấu dưới ao. Đêm mưa lạnh, còn ai đi mò lên ? Minh vất vả cả đêm hôm ấy mới tìm được ở làng dưới một cỗ áo còn lại chưa kịp dìm nước.
Nếu ví thứ kiếm không ra, thì biết sao? Minh chưa về, là Văn còn băn khoăn; Văn thở dài, nghĩ tới việc bó chiếu. Thật ra nó có nghĩa lý gì đâu ! Nhưng đối với bộ óc bình dị ở thôn quê chỉ một tiếng bó chiếu cũng tủi cho người chết, và để ân hận cho người sống.
Minh mua được cổ áo quan về, ai nấy thở ra như trút được bao nhiêu lo âu phiền não.
Minh còn gọi Khước tới giúp. Việc liệm, việc nhập quan, hết thảy đều giản tiện. Biết làm sao hơn được ?
Hai chị em Thọ thút thít khóc, và nhất nhất chỉ còn trông chờ ở như Văn.
Rồi cũng đến xong.
Và một buổi sớm mờ mờ đất, sương chưa tan hẳn để một màu lam còn vương vấn trên cảnh vật, gió lành lạnh từng cơn từ ngoài sông đưa tới, đem đến cả một lạnh lẽo cho đám tang quá thê lương. Chiếc áo quan mộc do bốn người trai trẻ khiêng bằng đòn ống, cũng có đủ bát cơm quả trứng, đôi đũa bông với nắm hương ngát. Một người đốt bó đóm đi trước dẫn đường. Đám tang âm thầm không kèn, không trống ; cũng không có cả một tiếng khóc cho ra tiếng khóc. Ai nấy vội vàng rảo cẳng, chỉ e sáng rõ nếu quân địch qua làng, từ trên đê chúng thấy nhấp nhô sả súng bắn vào thì tội. Hết mấy xóm nhà, họ lẩn vào những hàng ngô đã lớn ngang vai.
Sương đọng trên lá xanh, sương vương trên tơ nhện, sương nhẹ thấm ướt qua lần áo...Văn thấy nỗi buồn dần tràn ngập cả tâm hồn. Nào phải là lần đầu đưa người chết ra chỗ ở cuối cùng ? Nhưng Văn cũng mủi lòng nhìn bó đóm còn bốc khói dưới gốc ngô, và chỗ huyệt đào nơi làn đất xốp. Mấy người trai làng hì hục làm, chắc hẳn không một ai nghĩ đến người chết. Họ nhanh nhẹn cho vội chiếc quan tài xuống huyệt, rồi vội vàng lấp đất cho xong. Mà nghĩ tới để làm gì ? Họ làm vì tình quen thuộc mà thôi. Chiến tranh xóa nhòe hết, khiến cái chết của một người cũng im lìm như ngôi sao sa vậy.
Nhát mai cuối cùng nện nấm đất cho chặt đã xong. Thọ ngồi xệp trước nấm mồ mới đắp, thút thít khóc như một đứa trẻ. Thọ thương mẹ, thương em mà cũng thương cả cho chính mình. Minh tần ngần nhìn Thọ, nhìn Văn.
Sáng rõ. Mấy người trai hộ đám đã khuất vào trong xóm, dì Mơ mới dắt Thọ đứng dậy. Hai người mắt cùng đỏ hoe. Trên bờ ruộng gập ghềnh, họ thất thểu trở về.
Giờ phút này, không hiểu sao đột nhiên dì thấy thương cho Thọ quá. Dì nhớ lại ngày nào u dì mất đi, dì còn là chị cả Thành...Dì lấy vạt áo lau nước mắt, nghẹn ngào bảo Thọ :
- Người đã mất, khóc cũng chẳng lấy lại được. Thôi cô ạ, thương bà thì cũng đành để bụng, để còn lo công việc chứ biết làm sao bây giờ ?
Nếp nhà ba gian từ hồi ông giáo mất đi đã vắng vẻ, đến nay lại càng hiu quạnh. Ngay gian giữa, kế bên bàn thờ ông giáo là bàn thờ bà giáo mới được thiết lập. Tấm lụa trắng tết mũi treo nơi bài vị làm  ‘‘hồn bạch’’ tự nhiên đầy linh động vì ngọn đèn dầu nhấp nhô mờ tỏ, khiến Thọ rùng mình. Thọ rưng rưng nước mắt, nhìn dì Mơ như van lơn và khẽ mời:
- Dì ở bên này chơi ít ngày...Nhà vắng, con sợ lắm.
Giọng Thọ ngập ngừng, nghe não cả ruột. Vô tình Thọ xưng con với dì, làm cho dì xốn xang xúc động. Dì chưa biết nói sao, thì Văn đã thêm vào :
- Vâng, dì ở chơi bên này với các em, kẻo tội nghiệp. Hồi này chú Minh cũng ở nhà luôn, dì khỏi lo đằng nhà.
Đâu phải ngại về việc nhà, dì có lưỡng lự cũng chỉ là vì lo miệng tiếng thiên hạ mà thôi. Dì với ông bà giáo đâu có họ hàng qua cát ? Nhất là chuyện có từ cả một năm nay về Thọ và Minh. Người ta xấu miệng, biết đâu chẳng bảo là hai dì con tham mấy mẫu ruộng của bà giáo mà cố vun vào. Văn như đoán được mối băn khoăn ấy, nên khẩn khoản :
- Dì đừng ngại gì cả. Mới lại cháu cũng có ở nhà lâu được đâu? Còn phải lo công việc làm ăn nữa chớ. Dì chẳng giúp cho em Thọ, thì còn biết nhờ ai nữa đây ?
Dì Mơ không đừng được, đành phải ở lại. Dì thấy Thọ cũng đặng đột với mọi công việc trong nhà trong cửa. Và dì lại lo cho Thọ rồi đây cuộc đời sẽ ra sao ? Sống vào đúng thời buổi loạn ly cách mạng ầm ĩ, chờ cho xong ba năm công việc thì quả thật cũng đáng lo ngại cho một người con gái côi cút. Nhỡ quân Pháp lại tràn tới, biết chạy đi đâu ? Lấy gì mà đi ? Nên một buổi tối, thừa khi Thọ mệt quá đã ngủ, dì mới đem bàn với Văn hết những lo âu thắc mắc của dì.
Văn biết nói gì hơn ? Nhưng Văn chưa tiện đem ra nói với Thọ ; vì dù sao đi nữa, Văn tiếng thế cũng chỉ là một người anh họ. Văn đành hoãn ngày đi, nấn ná chờ dịp.
* * *
Quân Pháp càng ngày càng thưa qua lại, nên đời sống của làng Thụy được yên ổn hơn. Nhưng càng trở lại bình thường thì Văn càng thấy lạc lõng, và cảm thấy có những con mắt của bọn cán bộ phủ đi về dòm ngó. Cho nên Văn thản nhiên khi thấy Minh hớt hải cầm tờ báo Cứu Quốc nhem bẩn, chạy tới chỉ cho Văn xem nơi góc trang cuối có ghi danh sách những người mà cơ quan trung ương ở Việt Bắc yêu cầu các Ủy Ban kháng chiến địa phương giúp phương tiện đưa lên khu lãnh công tác. Văn thấy rõ ràng tên mình ghi nơi đó. Thọ cũng có đấy, nên lo lắng nhìn Văn như dò hỏi.
Văn gấp tờ báo đưa trả lại Minh, và lạnh lùng bảo :
- Chú có thân với chủ tịch xã không ?
- Có, em biết hắn lắm chứ ! Hắn còn ơn dì em là đằng khác. Trước đây ở làng ai còn lạ gì xã Tèo ? Cái năm đói kém, con hắn chết, một hột gạo ăn hắn cũng chẳng còn, em phải nói với dì bớt chỗ ngô giống cho hắn vay ăn đấy. Nhưng anh hỏi làm gì?
- À, muốn nhờ chú xin với Ủy ban xã cho anh cái chứng minh thư, và giấy giới thiệu để lên Việt Bắc liên lạc với cơ quan trung ương.
- Anh nhất định đi thật à ?
- Đằng nào rồi chẳng đi ? Nhất là bây giờ cơ quan trung ương lại ra lệnh như thế ; không đi, người ta đâu có để cho yên!
Minh tần ngần:
- Ờ nhỉ! Mà việc xin chứng minh thư cho anh, cũng phải nghĩ lại đã. Chủ tịch Tèo chả nói làm gì, nhưng thằng cha bí thư thì khó chịụ lạ. Lão Tùng ấy mà, cô Thọ có nhớ không ? Trước kia hồi còn Tây nó đã làm thư ký trong Hội đồng ; sau này hồi Nhật đảo chính, nó đi đâu chẳng biết. Đến hồi tháng tám, nó về nói huênh hoang là nó đi làm cách mạng. Nghe chừng trên phủ bộ tin nó, động một tí có việc gì trong làng là nó báo cáo ngay. Thằng bí thư Tùng này nó khó chịu với em lắm, vì thấy trái tai là em đả luôn.
 
Thấy Minh nói một hơi có vẻ bực tức lắm, Văn phì cười vội ngắt lời:
- Thế thì liệu có xin được giấy cho tôi không ? Chẳng có, cứ đi liều !
- Chết ! Liều thế nào được ? Xã nào cũng xét hỏi chứng minh thư ngặt lắm. Em liên lạc lên phủ cũng còn bị hỏi giấy luôn.
Minh suy nghĩ một chút:
- Được, anh khỏi lo. Em nhờ anh Khước, ủy viên quân sự làm giúp.
Thấy Minh vội vã định chạy đi, Văn giữ lại :
- Còn một tuần nữa thì bốn mươi chín ngày bà giáo. Vậy chú cũng nói rõ là xin giấy, tôi sửa soạn tám hôm nửa sẽ đi.
Minh đi khỏi, Văn lẳng lặng xếp ít đồ dùng đêm thủ đô tác chiến chàng đã đem theo. Nào còn có gì ? Một hai bộ quần áo, cái lược, cái khăn mặt... Xếp lại không đủ căng chiếc cặp da đã sờn góc. Không một mảnh giấy, không một mẩu bút chì; Văn để lại hết. Văn lưỡng lự mãi, sau chót chàng đã quả quyết đem xuống bếp và lần lần đốt kỳ hết cả mấy tập giấy ghi đặc chứ.
Thọ buồn lắm. Nàng đi ra, đi vào, tần ngần nhìn Văn xếp dọn, như có điều muốn nói lại thôi. Văn cảm thấy vậy, song thản nhiên làm như không biết. Thấy Văn đem cả mấy tập giấy xuống bếp đốt đi, Thọ vội hỏi:
- Tại sao anh lại đốt ? Mà anh viết những gì nhiều thế ?
Đột nhiên giọng Văn trầm hẳn như nghẹn ngào ; từ ngày tản cư về đây, chưa bao giờ Thọ nghe thấy như vậy.
- À, những điều tôi đã thấy, và những điều tôi chợt nghĩ đến, từ cái ngày dời Nam bộ về tới Hà nội cho đến gần đây... Bây giờ đi...
Văn nhếch mép cười, đầy uất ức:
-... thì lại nghĩ ra rằng thời buổi này đem theo mớ chữ nghĩa là nguy hiểm.
- Hoài của ! Sao anh không bảo em sớm ? Cất ở đây, rồi khi nào bình thì anh lại về lấy có được không ?
- Để ! Lại thêm một cái tội nữa cho cô à ?
Thọ cười, tưởng Văn đùa.
- Tôi nói thật đấy. Còn mớ chữ nghĩa tây học và trưởng giả này là tất phải có bộ óc phản động. Người ta sẽ bảo cô thế. Mà chứa chấp, tất nhiên là chưa giác ngộ.
Dứt lời, tập giấy cũng đã cháy gần hết. Văn lầm lũi bỏ lên nhà trên.
Cho đến chiều tối, Thọ thấy Văn như thắc mắc điều gì. Thọ không tiện hỏi, đành vẩn vơ thu dọn như không hay biết gì hết.
Tối đã lâu, Văn vẫn tựa cột, ngồi ờ đầu hè. Trong nhà, nơi bàn thờ bà giáo vẫn để đĩa đèn dầu, bấc khêu nhỏ như hạt đậu xanh. Không biết Thọ ở trong buồng với Sơn còn thức hay đã ngủ; Văn khẽ gọi:
- Cô Thọ còn thức hay ngủ rồi đấy ?
Tiếng Thọ khẽ trả lời:
- Em đã ngủ đâu, mới quạt cho Sơn nó ngủ đấy thôi!
Và tiếng chân Thọ nhẹ nhàng trong đêm vắng lặng. Văn chờ Thọ ngồi yên, mới chậm rải nói:
- Cô Thọ ạ ! Tôi có câu chuyện, kể nói với cô bây giờ khí sớm, nhưng không nói, cũng chẳng còn lúc nào nói được nữa.
Thọ vẫn ngồi im trên bực cửa, hai tay bó gối.
- Có lần tôi đã hỏi cô có nghĩ đến chuyện học công việc đồng áng không ? Đó là tôi hỏi thật. Vì cô không thể sống mãi như thế này được, nhất là bây giờ ông bà đều mất cả. Cô tưởng rằng có mấy mẫu ruộng, cứ việc cho cấy thuê, rồi yên trí tần tiện sống ư ? Không, không giản dị như thế nữa đâu. Nếu không học lấy công việc đồng áng, không sống như mọi người dân làng, cô sẽ sống biệt lập lẻ loi, và ai người ta chịu để cho cô sống như vậy ? Ấy là nói xa xôi, chứ còn nhỡn tiền đây, nào đã hết loạn ly! Biết chừng lúc nào quân Pháp nó lại càn quét, đốt phá ? Chị em cô chạy đi đâu ? Lấy gì mà sống ? Cô đừng giận, tôi nói không phải, vào cái lúc loạn lạc thì người con gái lại càng khó nữa.
Văn ngừng bặt, chưa biết làm sao nói cho được cái điều muốn nói. Nhưng Văn sửng sốt, vì Thọ khẽ hỏi lại:
- Em còn nhớ, có lần anh hỏi em có nghĩ đến chuyện ra ngoài tỉnh không ? Tại sao anh lại hỏi em thế ? Và bây giờ thì... theo anh, em có nên đi biệt ra thủ đô không ?
Bóng tối không cho Văn thấy nét mặt Thọ, nhưng giọng Thọ đượm vẻ liều lĩnh. Văn chưa trả lời, Thọ nói luôn:
- Ngày mà anh hỏi thế, em bỡ ngỡ. Nhưng rồi nghĩ về lời anh nói, em thấy có lẽ hay. Từ nhỏ em có làm ruộng đâu ? Mà có lẽ sống ở trong làng, em thấy lạc lõng thế nào ấy. Sống mà không hợp với mình, thì chỉ bằng đi còn hơn.
Văn đâu có ngờ một câu nói của mình có dụng ý khác lại khiến Thọ nghĩ ngợi nhiều đến thế.
- Hỏi vậy là nghĩ đến cái buổi thái bình cơ ! Chứ bây giờ quân Pháp chiếm đóng, ra làm sao được ? Và cô quen ai ở thủ đô ? Còn sinh sống nữa chứ.
Thọ đáp gọn thon lỏn :
- Thì cũng liều chứ sao ? Chẳng hơn nghe anh nói vừa rồi thì ở lại đây cũng dễ mà yên thân ư ? Vả lại, còn có gì cho em thiết nữa mà sợ.
Văn ngạc nhiên:
- Cô nói lạ ! Việc gì mà phải liều lĩnh như vậy ? Tôi muốn nói chuyện với cô, chính là vì muốn lo cho cô, nhất là tôi lại sắp đi xa.
Đột nhiên Thọ nhích lại gần, nới như cướp lời Văn :
- Vì biết là anh sắp đi, nên em lại càng quyết. Em không thể sống ở đây được nữa. Làm sao ấy ! Cứ ro ró sau mấy hàng rào tre, không ai hiểu cho mình, lại còn dòm ngó như kiếm chuyện. Trước em tưởng giá anh cứ ở lại đây... Nhưng, không được nữa rồi! Thì em chẳng đi, còn sống làm gì ở cái chốn ao tù này nữa ?
Thọ ngồi lại hẳn bên Văn :
- Thật đấy ! Hoặc anh ở lại đây cho tới khi yên hàn, em sẽ theo ra Hà Nội. Vạn nhất có phải chạy, thì cùng chạy. Em nói vậy, chắc anh hiểu cho em rồi.
Thọ ôm mặt, nức nỡ khóc :
- Khổ quá... em khổ quá ! Anh đừng nói gì nữa, em biết hết rồi. Thế nào mẹ em đã chẳng nói với anh. Thế nào dì Mơ cũng đã chẳng nói với anh. Bây giờ thì không được nữa rồi. Mẹ em đã mất... Với lại, cũng không thể được nửa ! Em có thích cách mạng gì đâu ! Mà nào em có hiểu họ làm cách mạng ra sao đâu? Nhưng em thấy không thể chịu được nửa, không thể sống mãi như thế này được nữa ! Thôi thì cứ đi, muốn ra sao cũng mặc.
Văn luống cuống:
 - Chết! cô cứ nói liều. Còn em Sơn nữa chứ !
- Cả đến Sơn nữa ! Làm sao lại cứ muốn cho nó sống như em thế này ? Hoặc là nó sống hẳn như anh Minh đi!
Thọ nấc lên, gục đầu vào vai Văn :
- Hay là em gửi Sơn cho anh Minh. Anh cho em đi theo với! Em chán cái làng Thụy này rồi; em chán tất, tất cả !
Văn lặng thinh. Chàng không ngờ câu chuyện lại xoay ra thế, và đành ngồi yên cho Thọ khóc.
Văn hối hận. Tại sao lại tản cư về làng Thụy này rồi nấn ná mãi không đi ? Văn đã có phần nào trách nhiệm, vì đem lại cho Minh và Thọ hé thấy một chân trời mới lạ. Nếu Văn không đôi khi gây cảm tình, nếu Văn không phát biểu ý kiến cho họ thấy phần nào thắc mắc ưu tư, thì biết đâu Thọ và Minh sẽ mãi mãi chẳng là một người dân quê như các người dân quê đã sống dưới bóng tre xanh ? Hé mở một chút chân trời cho họ, rồi bỏ mặc họ ư? Không, không phải hoàn toàn lỗi ở Văn. Còn cả cái cuộc xáo trộn gọi là cách mạng tháng tám này cũng có trách nhiệm của nó chứ ! Còn cả cái thế kỷ đè nén tăm tối có ai nghĩ đến họ đâu, thì cũng còn có trách nhiệm của lớp người tự nhận là trí thức nữa chứ! Ngay đến bản thân Văn lúc này nữa ? Văn đã biết là mình hướng về đâu chưa ?
Văn bối rối. Bây giờ thì còn đem chuyện Minh ra nói làm chi nữa!
Đêm vắng lặng. Trời tháng tư, song về khuya đã mát dịu, không oi bức lắm. Cả hai người như thấy còn chứa chất nhiều u ẩn, vì nào ai nói hết được cái điều mình muốn nói ?
Văn ngập ngừng:
- Thế nghĩa là cô không bằng lòng Minh nữa !
- Bây giờ em chỉ quí anh Minh vì anh ấy tốt. Nhưng định lấy anh ấy như hồi nào, thì quả thật là không. Em không thể sống ở đây được nữa. Em thấy u uất lắm !
Văn chưng hửng; Văn không ngờ Thọ lại bạo dạn nói phứt ngay như thế. Và đột nhiên Văn thấy ngài ngại. Văn chỉ là một người xa lạ, từ nhỏ đến giờ có bao giờ gặp nhau đâu ! Đầu Thọ còn gục nặng trên vai Văn; Văn rùng mình. Thọ đã không còn coi Văn là một người anh họ nữa rồi.
Văn thở dài:
- Thọ ơi! Anh hiểu rõ nỗi khổ tâm của Thọ. Không phải chỉ mình Thọ khổ thế đâu. Thế hệ chúng ta còn nhiều người cũng sống u uất như Thọ. Có lẽ bây giờ Thọ chưa hiểu là anh định nói gì, nhưng rồi Thọ sẽ hiểu... Bây giờ anh dấu Thọ làm gì nữa? Sáng ngày kia anh sẽ đi sớm, không chờ sau tuần tứ cửu của bà đâu. Ban chiều anh nói với Minh như vậy là cốt cho bọn cán bộ phủ hay những kẻ muốn dò la anh không nghi ngờ vội; anh cần đi sớm cho khỏi trắc trở. Em phải giữ kín cho anh đấy. Còn em đi theo anh ư ? Không được ! Sẽ mang tai tiếng chết.
Thọ cười chua chát:
- Tai tiếng ư ? Thì cả năm nay em chẳng chịu tai tiếng rồi sao? Mới lại thời buổi cách mạng này, thế nào là tai tiếng ?
- Không được. Cách mạng có gì là xấu đâu ? Còn người ta lạm dụng cách mạng lại là chuyện khác. Không nên nghĩ như vậy, em Thọ ạ. Anh chỉ khuyên em mấy điều. Còn tang bà, hãy giữ bổn phận của em đã. À, đừng có nói cách mạng !... Còn thời thế biến chuyển, khi xét cần phải đi, tùy em, miễn là đắn đo cho kỹ. Biết đâu, rồi một ngày kia em và Minh chẳng gặp lại nhau. Sao em dám chắc là Minh không thay đổi, và Minh cứ mãi mãi là Minh ngày năm ngoái ? Sau hết, nếu có đi, anh nói thật tình và em nhớ để bụng thôi, là chớ có lên Việt Bắc, vô ích ! Muốn tìm một cái gì để xây dựng, không phải là ở đấy đâu... Thôi, khuya rồi, em đi nghỉ. Biết đâu Thọ và anh sẽ lại chẳng còn gặp nhau ở một nơi khác ? Và lúc đó anh mong sẽ lại được gặp cả cô em và cả chú Minh thì hay biết mấy.
Thọ đứng dậy, khẽ nói như thất vọng:
- Anh vẫn chưa hiểu được hết nỗi khổ tâm của em. Nhưng thôi, biết sao ! Chỉ xin cầu trời khấn phật cho anh được bình an.
Tiếng cửa buồng Thọ đã đóng. Văn thao thức ngồi mãi ở đầu hè cho tới khi gà bắt đầu gáy sáng.

Hôm sau, Văn qua thăm dì Mơ và mời dì vào tuần tứ cửu bà giáo sang chỉ bảo cho Thọ làm lễ. Loạn ly thì loạn ly chứ, còn có thể làm được gì cho người sống khỏi tủi, khỏi ân hận thì nghĩ cũng nên cố mà làm.
Dì Mơ cũng đã biết Văn sửa soạn sau ngày ấy sẽ đi, nên băn khoăn quá. Chẳng biết cái việc dì bàn với Văn, Văn đã giúp dì chưa ? Hơn nữa, Văn đi dì cũng nhớ, nên dì bùi ngùi bảo :
- Việc của cậu, quê mùa chúng tôi làm sao mà biết được. Nhưng tôi nghĩ hãy thư thả, chờ xem binh tình thế nào. Chậm, thì đã chậm cả nữa năm nay rồi có sao ?
Văn cười:
- Đằng nào thì sớm muộn cháu cũng phải đi, nán lại có hơn gì ? Chỉ thương hại cho em Thọ không biết rồi đây làm ăn ra sao.
Văn không gượng cười được nữa. Dì Mơ cũng tần ngần chờ Văn nói nốt. Những nguy hiểm, tan vỡ của loạn ly, thì dì cũng chỉ mường tượng vậy thôi. Bất quá cũng đến đốt cháy một vài xóm nhà, bắn chết mươi lăm con trâu, con bò... Chứ dễ mà chết hết cả bàn dân thiên hạ ư ? Cho nên việc nào đáng lo, cứ lo cho xong. Dì phải lo việc cho Minh đã, rồi có chết cũng yên trí. Tao loạn mãi cũng phải có lúc bình thì, dì nghĩ vậy; nên lo thì lo, dì vẫn chịu đựng được. Liệu Văn có giúp nổi dì không ? Thọ và Minh có lấy nhau thì cũng được; mà Thọ không bằng lòng nữa cũng chẳng sao! Dì sẽ hỏi đĩ Bèo ; miễn là dứt khoát, con dì chẳng thế lững lờ mãi thế này được.
Văn ái ngại:
- Cháu chưa có dịp nói; vì nghĩ đi nghĩ lại, bà giáo mất chưa được bốn mươi chín ngày, nói thật không tiện. Nhưng xem ý ra thì bây giờ em Thọ nó cũng khác tính; chẳng biết sau này thế nào. Thôi thì dì cứ thương em, trông nom cho; chẳng là con dâu thì là con nuôi, kẻo tội nghiệp.
Dì đã hiểu.
- Thì tôi chẳng nói với cậu rồi ư ? Bề nào cho nó xong hẳn một bề đi. Còn giúp đỡ cho cô Thọ thì đã đành rồi. Thế nào tối nay tôi cũng qua đằng nhà xem cô ấy định lễ lạt ra sao.
Văn đi khỏi, dì Mơ còn suy đi tính lại mãi xem về tuần tứ cửu bà giáo nên bảo Thọ cúng lễ thế nào cho tiện. Bày vẽ ra nhiều cũng chẳng lấy đâu ra cổ mà rồi người ta còn nói cho. Lúc này cái gì cũng đòi phải cách mạng theo đời sống mới... Nhưng không lẽ tự nhiên nhất đán bỏ hết, dì thấy thế nào ấy!
Dì lại lan man nghĩ đến việc nhà. Ừ, mà Văn nói phải. Chẳng là con dâu thì là con nuôi đã sao? Dì trạnh nghĩ đến cái ngày dì bị nhà cụ Chánh Bá ruồng rẫy phải bỏ đi tứ cố cô thân... Dì dơm dơm nước mắt; dì thấy thương cho Thọ quá. Bây giờ thì mối khổ tâm có thể giải quyết được rồi. Dì sẽ bảo thẳng cho Minh biết là dì hỏi đĩ Bèo cho Minh, rồi giao mọi công việc nhà cho vợ chồng nó. Dì sẽ trông nom dùm cho Thọ. Người thôn phụ trung hậu bao giờ cũng nhìn sự vật giản tiện, và giải quyết êm thấm được hết.
Cho nên buổi trưa lúc Minh về ăn cơm, dì chẳng còn e dè đem nói tất cả cho Minh biết.
Rồi dì bảo:
- Thôi, con có thương dì thì con nghĩ một lần nữa cho kỹ đi. Nào dì có ghét bỏ con Thọ đâu ? Dì cũng thương nó lắm chứ. Nhưng anh Văn bảo đấy, nó cũng không nhất quyết lấy con. Kể thế cũng phải, con ạ. Thôi mình con nhà nông làm ăn, cũng không nên chòi mòi làm gì.
Thấy Minh lầm lì không nói, dì an ủi:
- Mà con cũng đừng giận dì, cũng đừng giận cô Thọ. Người ta ở đời ai là chẳng có số. Không phải duyên phải kiếp thì cố gắng gượng cũng chẳng hay. Như dì đấy thôi!
Đâu Minh có giận dì Mơ; mà Minh cũng chẳng giận Thọ. Minh còn mải nghĩ về việc Văn đi; Minh buồn lắm. Trong thời gian ngắn ngủi chung sống, Văn đã đem lại cho Minh một ánh sáng mới. Minh chưa biết hẳn như thế nào, song Minh thầm cảm rằng có điều gì Văn chưa nói, và một khi Văn nói ra có lẽ Minh sẽ như người ngủ mê bừng tỉnh. Bây giờ Văn đi, Minh còn khắc khoải, còn như muốn một thứ gì, như bất mãn về đời sống hắn đương kéo dài dưới bóng tre xanh... Nhưng ao ước gì ? muốn gì? Minh chưa làm sao mà hiểu được rõ ràng.
Thấy dì Mơ buồn, Minh vội vã trả lời:
- Chết, con đâu dám giận. Dì bảo phải. Có điều con đang lo nghĩ là cứ loạn lạc mãi thế này thì khổ. Mà trong làng bây giờ lục đục làm sao ấy ! Có lẽ con cũng xin ra khỏi Ủy ban cho xong. Làm việc gì mà người này nghi ngờ người nọ... Mà rồi nhiều cái trái tai lắm.
- Thôi, dì con mình hãy biết thế. Tối nay vào trong bà giáo xem đến tuần tứ cửu, cô Thọ có tính làm gì không ? Và hỏi thăm cậu Văn đi đâu cho biết.
Chiều đến, dọn dẹp xong, hai dì con Minh sang ngay nhà bà giáo cho sớm.
Gọi là bàn cho có chuyện, chứ dì Mơ tính lễ lạt thế nào thì chị em Thọ nghe theo như vậy. Thôi thì thanh bạch, bát cơm quả trứng, làm mâm cơm cúng dối dá qua loa, và nhờ nhà chùa tụng cho bà giáo phiến kinh để được mát mẻ.
Dì Mơ về rồi, Minh còn ở lại vì Văn thầm bảo trước.
Sơn đã ngủ. Chỉ còn ba người, Văn bảo :
- Thôi ta tắt đèn đi. Ra hè ngồi nói chuyện cho mát, mà người nào có đi ngoài giậu cũng không thấy.
Mỗi người một tâm sự, cùng cảm thấy cần phải cởi mở với nhau, mà chưa biết nói sao cho tiện.
Văn hỏi trước:
- Thế nào, chú Minh? Liệu có xin được cho anh cái chứng minh thư không?
Minh vội vã lấy ở túi ra đưa cho Văn:
- Anh không hỏi em quên mất. May quá, em lấy được chứng minh thư và cả giấy giới thiệu cho anh đây. Thằng cha bí thư Tùng nó lên phủ bộ vắng.
Văn cầm lấy mảnh giấy gấp tư Minh vừa đưa cho, lặng lẽ bỏ túi. Tối, nào có nhìn thấy gì đâu. Minh hỏi:
- Anh có cần xem lại không ?
- Chẳng cần đâu ! Anh nói thật, dù chú không lấy được chứng minh thư cũng chẳng sao. Vì đằng nào, mai sớm anh cũng đi rồi.
- Ấy! Anh bảo sau tuần tứ cửu bà nhà, bảy tám hôm nữa mới đi cơ mà.
Văn bật cười:
- Đúng thế! Nhưng việc cần đi, thì mai đi chứ sao ?
Văn hạ thấp giọng :
- Chúng mình nói khẽ chứ. Anh nhất định rồi, chú Minh ạ. Anh nói với chú như thế để xin giấy họ khỏi nghi. Mới lại cần đi trước cho khỏi bị phiền nhiễu. Mai kia, chứ cứ lẳng lặng làm bộ ngạc nhiên như thể không hiểu vì sao anh đi vội vàng như vậy mà không cho dì và chú hay.
Minh và Thọ vẫn ngồi im. Văn nhích lại gần, hạ thấp giọng nữa.
- Bây giờ thì anh chẳng giấu gì cô Thọ và chú nữa. Mai sớm anh đi, nên anh muốn nói hết; nói hết những ý nghĩ chân thành của anh.
Có lẽ chắc các em đã nhiều lần thắc mắc muốn biết tại sao anh lại tản cư về đây hàng mấy tháng nay ? Chính anh cũng chẳng biết tại sao nữa. Anh nói thật đấy. Ngay cái đêm thủ đô tác chiến, anh đã tính ở lại, song không thể được, vì chắc chắn sẽ uổng mạng vô ích. Nhưng tản cư đi đâu ? Anh có giấy công tác đem theo đây...Thú thật, đời nào anh vào khu tư như công tác họ giao cho anh ! Mà cũng chẳng bao giờ anh lên Việt Bắc đâu!
Anh nói rõ hơn để các em hiểu. Bây giờ thì anh dám nói, vì anh biết đời nào hai em nỡ hại anh ! Và anh cũng nói để các em thấy rộng hơn; mong rằng những nỗi khổ tâm của anh sẽ giúp ích cho các em sau này.
Anh không thể lãnh công tác tại khu, thì đi đâu? Anh sực nhớ đến bên nhà, vì hồi xưa ông còn, mỗi khi lên tỉnh lãnh lương đều có ghé chơi với các bác nên anh biết. Cũng định bụng ẩn náu mươi lăm bữa, xem tình hình rồi sẽ liệu. Nhưng tin tức chiến cuộc làm anh khó suy tính; lại ưa may gặp các em thấy đáng mến. Anh vẫn muốn tìm hiểu nếp sống ở thôn quê nên thấy ngay là một dịp tốt. Chắc các em cũng thấy anh không khó chịu lắm như các ông các bà khác ở tỉnh chạy về chứ gì? Anh thường nghĩ: tại sao cùng là dân Việt mà tỉnh với quê lại cách biệt nhau thế ? lại khinh thị để có thể thù ghét nhau thế ? Nếu không chịu tìm hiểu nhau, thì có ngày đến chém giết nhau mất, còn nói gì đến độc lập, đến tự do, đến hạnh phúc.
Văn ngừng lại giây lát, như suy nghĩ:
- Anh chưa nói tại sao anh nhất định không ra khu lãnh công tác nhỉ ? Có phải là tại anh sợ gian khổ trường kỳ kháng chiến không ? Có phải là anh phản động, định cấu kết với địch không ? Mấy tháng nay, chắc các em không nỡ nghi cho anh như thế. Anh nhất định không ra khu chỉ vì anh đã thấy quá rõ, anh không còn tin tưởng nữa, hay nói cho đúng hơn, anh tìm con đường khác để tin tưởng.
Làm sao mà hai em có thể hiểu được điều anh vừa nói đây, nếu anh còn giấu các em? Giấu làm gì nữa, vì mai sớm anh đi; chắc hẳn chẳng đời nào các em lại đi báo cho ủy ban biết mà bắt giữ anh lại. Trước đây, thầy em Thọ đôi khi qua thăm nhà anh, anh còn nhỏ, nên lắm lúc vui chuyện thầy em có kể chuyện dưới quê. Anh nghe thì nhớ vậy. Thật ra thầy em với bác giai chỉ là chỗ quen biết, song xứ thân tình thì cứ nhận là anh em đấy thôi. Tại sao anh lại nói rông rài như vậy nhỉ ?... Cứ nghe thầy em kể chuyện ở dưới làng, dần dần anh cũng thấy thích thôn quê; thế rồi những vụ nghỉ, nhất là nghỉ hè, anh đi chơi đây đó, anh có dịp thấy rằng đồng bào chúng ta cực khổ lắm, và nếu không có gì biến chuyển sẽ chỉ ngày cực khổ thêm mà thôi. Còn những người như anh ở tỉnh, may mắn được ăn học, thì hầu hết cũng cứ an phận lo học hành, lo kiếm chỗ làm cho được lương cao tiền nhiều ; thật tình nào có biết rõ đồng bào ở thôn quê sống ra làm sao đâu ? Mà có lẽ ở đồng ruộng cũng cho dân tỉnh thành chúng anh là tây tầu nhố nhăng chỉ biết lấy của làm giẫy. Anh vẫn suy nghĩ phải làm thế nào cho tỉnh với quê bớt cách biệt nhau, làm thế nào để những người dân chân lấm tay bùn với lớp người có chút học hành khỏi như người hai nước... thì mới có thể cùng khá mà ra khỏi chỗ bế tắc.
Thế rồi anh bị chính phủ bảo hộ trưng dụng và đưa tuốt vào Sàigòn. Đâu có phải là lần đầu anh biết miền Nam bộ? Trước đây anh đã có dịp vào miền Nam gần một năm trời và lặn lội khắp miền Tiền Giang. Âu đó cũng là cái may trong cái không may vậy ! Vì nếu không bị trưng dụng đưa vào miền Nam làm việc thì bửa nay đâu anh có ngồi đây nói chuyện với các em? Nếu không bị trưng dụng và đầy vào miền Nam, thì có lẽ lúc này anh cũng hăng hái mơ hồ lên khu để giải phóng...
Đột nhiên Văn cười, tiếng cười khẽ mà chua chát như đầy hoài nghi, hờn giận :
- Giải phóng! Giải phóng cho ai? Giải phóng cái gì? Thế nào là giải phóng ?
Và nắm chặt lấy tay Minh, dằn từng tiếng:
- Nếu chưa biết mình muốn gì, đừng có nói giải phóng vội. Hãy tìm hiểu đã. Phải tìm mà hiểu nhau, phải tìm hiểu sự việc đã.
Văn ngừng lại một chút, và trở lại bình tĩnh:
- Anh quên mất câu chuyện chính nhỉ. Mấy tháng sau, Nhật đảo chánh Pháp; rồi Nhật đầu hàng ; rồi quân Anh Pháp trở lại Sàigòn; rồi súng nổ ở Sàigòn và lan tràn toàn vùng Nam bộ. Có người thanh niên nào là không rung động vì đất nước chuyển mình để vươn tới ? Nhưng thôi, nhắc làm gì? Anh chỉ có thể nói với các em rằng anh đã chiến đấu, anh đã lang thang khắp nẻo để được thấy thế nào là hy sinh, thế nào là phản bội! Để được hiểu thêm một chút...
Anh trở ra Bắc để còn kịp nhìn thấy rõ hơn nữa cuộc chiến tranh của dân tộc, và nhìn thấy những con người không tưởng cố ý chuyển hướng dân tộc vào một cuộc phiêu lưu... Anh đã thấy tận mắt trong đêm mười chín tháng chạp vừa qua bao nhiêu là thanh niên tự vệ thành như bầy thiêu thân lăn vào lửa đỏ. Anh mến phục họ và cũng thương hại cho họ...
Anh biết nói gì hơn nữa với các em đây ? Không, anh không hề nghĩ rằng chúng ta tránh được đau khổ đâu ! Chiến tranh còn dài ; quê hương chúng ta còn đau khổ thì làm sao chúng ta cứ mong được an vui ? Anh đã chẳng nói với Minh rằng súng đạn, máy bay kia cũng vô ích. Quân Pháp sẽ thua. Nhưng ai sẽ được đây ? Kháng chiến được hả ? Nhưng kháng chiến là những ai ? Những kẻ dẫn về thủ đô trong chiến thắng sau này có phải là kẻ thực sự kháng chiến không ? Mà. thắng, để rồi sao nữa? Để áp bức, đói khổ ư ? Không, không... Anh chưa nhìn thấy gì hết cả, hai em ạ. Anh chỉ còn biết một điều là dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn trường tồn. Nhưng ai hướng dẫn đây ? Và hướng dẫn về đâu ? Có lẽ bây giờ các em chưa hiểu được lời anh nói... Thôi, các em hãy nhìn dì đấy. Cứ kiên gan bền bỉ chịu khổ cố sức bám lấy mảnh đất này. Giặc có tới, lánh đi. Giặc đi, lại trở về. Kẻ nào giữ được bản chất của mình, thì sẽ thắng đấy, hai em ạ.
Văn nói như người trong cơn mê; Thọ và Minh im lặng nghe, không còn biết hỏi lại thế nào. Văn ngừng nói đã lâu, mà cả Thọ lẫn Minh không nhúc nhích. Văn khẽ thở ra, như trút một gánh nặng:
- Mai đây, anh đi sớm. Anh sẽ trốn ra thủ đô. À, các em đừng vội giận là anh theo giặc. Đời nào anh lại theo Pháp được. Nhưng anh còn muốn sống, để tìm hiểu, rồi mới nói chuyện giải phóng. Mà sống ở đây cũng như ở khu, thì người ta không để cho sống nữa rồi. Kể thật cũng mai mỉa. Anh về đây, anh được thấy dì; anh mến và phục lắm. Vì vậy mà anh liều về Hà Nội đấy ; anh sẽ cố sống như dì, các em đừng lo... Thôi, khuya rồi, đi ngủ đi; mai anh còn đi sớm cho ít ai thấy anh đi. Chú Minh ngủ lại đây với anh nhé!

* * *
Văn mở mắt, choàng dậy vì thấy dưới bếp có ánh lửa. Văn rón rén bước lại gần. Thọ đương loay hoay đun bếp. Nghe có tiếng chân người, Thọ giật bắn người quay lại:
- Gớm ! Anh làm em hết hồn. Anh dậy sớm thế.
- Chưa sớm bằng cô. Cô đun nấu gì đấy ?
- Em thao thức không làm sao mà ngủ được, cứ nghĩ đến anh đi mà vừa buồn, vừa lo. Chợt nhớ rằng có lẽ anh đi xa, nên dậy thổi nồi cơm nếp đậu, lát nữa anh gói đem theo...
Thọ không nói hết đã nấc lên, cố nén tiếng khóc:
 - Anh đi ra Hà nội. Còn em , em sẽ đi đâu ? Và bao giờ mới đi được!
Văn nhìn Thọ tấm tức mà thương hại. Chàng biết nói sao ? Có bao giờ ai dám an ủi cái điều người ta muốn tránh không dám nói đến ?
- Em hiểu những thắc mắc của anh. Chắc anh còn có nhiều điều chưa nói hết. Phải, làm sao mà anh có thể ở đây mãi được. Thôi, em chỉ còn biết chúc anh đạt được ý muốn ; và em mong rằng một ngày khác sẽ còn được gặp anh...
Văn tần ngần. Ánh lửa dưới bếp nhấp nhô làm rung động thêm đôi vai của cô gái gục đầu trên gối. Văn lắc đầu, khẽ đặt tay lên vai Thọ, nhẹ nhàng bảo :
- Em đừng nên khóc. Chợt chú Minh thấy càng thêm thắc mắc và khó nghĩ cho anh. Còn loạn ly thế này, anh còn như con chim chưa biết bay đi phương nào, em thắc mắc làm gì ? Chúc em ở lại được may mắn và làng ta bình yên qua cơn sóng gió. Một ngày kia, anh sẽ trở lại thăm em. Mong rằng khi đó em đã hoàn toàn sung sướng.
Nước trong nồi cơm đã sôi. Thọ vội chắt nước, quấn rơm đốt. Văn vội vã ra ngoài sân rửa mặt, cố tránh cuộc nói chuyện tay đôi như vậy.
Gà vừa gáy thì Minh cũng vừa trở dậy. Thọ đã gói chặt cơm nếp trong tàu lá chuối non hơ trên lửa cho héo khỏi ròn.
Ra gần tới cổng, ba người cùng nghẹn ngào. Văn dừng lại, vỗ vai Minh, bảo:
- Chú thưa với dì: tôi gửi lời chào dì nhé. Đừng tiễn làm gì, sẽ phiền cho tôi và cho cả chú nữa. Tôi chỉ còn biết khuyên chú cố gắng cẩn thận, vì cuộc chiến đấu thật trường kỳ đấy. Dù cho Pháp có thua và rút lui hết đi nữa, cũng chưa phải là xong đâu. Thế nào tôi cũng sẽ còn gặp chú. Cô Thọ ở lại nhé. Đừng có buồn quá làm gì. Sống ở làng thì phải hòa mình vào nếp sống của dân làng đi. Anh khuyên cô nên mời dì sang đây với cô cho vui... À, có ai hỏi, cứ nói là anh có giấy trên khu về gọi nên vội vã đi luôn nhé. Thôi, bây giờ thì xin chào tất cả.
Cánh cổng vừa khép, thì Văn cũng thấy như lòng mình khép lại. Chàng rảo bước băng qua ngõ xóm ra cánh đồng; chàng tránh đi trên đê làng để mọi người khỏi để ý. Cánh đồng vào cuối tháng năm chỉ còn trơ những gốc rạ với những gốc ngô đã chặt, nên thật tiêu điều và tàn tạ. Lòng Văn cũng mang mang u hoài như để lạc mất hết mọi mến thương.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2020 22:16:43 bởi Thanh Vân>
Ngày hôm Văn đi, dì Mơ đã qua bên Thọ, trông coi giúp ít lâu và cho nhà đỡ vắng vẻ. Thọ như người vơ vẩn mất hồn. Mùa màng đã xong, nên Thọ cũng chẳng còn bận phơi phóng gì nửa ! Khổ, còn có gì ? Ruộng ông giáo để lại, cho cấy rẽ năm mẫu ăn hai mẫu rưỡi, vừa ngô vừa lúa chiêm vào vụ tháng năm này. Song đầu năm quân Pháp phá ụ, rồi xe chúng qua lại trên con đê làng hàng hai, ba tháng, thành thử đồng ruộng chỉ được chăm bón vội vàng như ăn trộm thì làm sao mùa màng tốt cho được. Thọ bắt đầu thấy lo lắng về đời sống. Phải lo cho gia đình, dù chỉ có hai chị em, phải lo cho nhà cửa, và còn biết bao nhiêu thứ lo cho được yên ổn dưới bóng tre xanh. Dì Mơ qua ở chơi với chị em Thọ, thì nhà đỡ vắng vẻ, nhưng cũng chỉ đỡ vậy thôi, chứ việc nhà Thọ thì đâu dì có biết, mà dù biết nữa dì đâu có quyết định?
Nên Văn đi, Thọ cảm thấy cả một trống rỗng và vắng vẻ. Những u ẩn trong lòng, nào Thọ có nói được hết với Văn ? Và cũng chỉ gần cái ngày Văn ra đi Thọ mới nói ra được phần nào.
Cuộc đời tiểu thuyết Thọ đã thấy xa lắc xa lơ ! Cái ngây ngất buổi ban đầu khi Minh đắm đuối nhìn mình, những xúc động trào lòng khi mê mải bước theo Minh trên con đê từ tỉnh lỵ về làng buổi biểu tình ngày nào... hết thảy đã xa quá, xa quá rồi. Những luồng đạn bắn xé trời, những xóm nhà cháy dở, rồi bà giáo qua đời trong cảnh kinh hoàng thê lương của thôn xóm... hết thảy đã làm tan vỡ mộng đẹp. Nên chi Văn vụt hiện ra như một ngọn lửa ấm, một ánh sáng mới hấp dẫn Thọ, cho Thọ bấu víu trong cơn hoang mang hầu khỏi bị chim đắm trong vô định và vô vọng.
Nay Văn đã ra đi. Hy vọng gặp lại Văn thật mong manh biết mấy ! Bây giờ làm gì ? Chờ đợi gì ? Thọ như kẻ chơi vơi nơi biển cả ; chỉ một đợt sóng nữa là đủ vùi dập. Bóng dáng của Minh thật thà chất phác đã quá mờ, không làm sao đủ kéo Thọ lại cuộc đời quá bình thường dưới bóng tre xanh, nơi đó, người, vật và cây cỏ cứ âm thầm sống chết như mùa màng hết năm này tới năm nọ.
Thọ đương qua một cơn bệnh nặng, mà nào ai biết ? Nào ai có thể biết cho Thọ?
Dì Mơ chỉ yên trí là Thọ thương nhớ bà giáo, và Thọ lo sợ cho chị em mình vì nhà vắng vẻ lại gặp buổi loạn ly ; cho nên dì nghĩ rằng ở đấy ít ngày cho Thọ đỡ sợ hãi, rồi dần dần sẽ quen đi.
Minh thì không lui tới nữa. Có phần nào là Minh muốn giữ ý tứ khỏi để Thọ mang tiếng ; và phần nào Minh đã thắc mắc về những lời nói của Văn. Văn nói nhiều, nhiều lắm, Minh không nhớ hết, và có lẽ không hiểu hết. Nhưng giọng nói rành rẽ, say sưa của Văn còn như văng vẳng ; càng nghĩ, Minh dần dần càng như gần Văn hơn. Nhìn lại cuộc đời hàng ngày trong lo sợ và thiếu thốn, nhìn lại những bạn như chủ tịch Tèo, như ủy viên quân sự Khước, nhìn lại nét hãnh diện và xảo trá của bí thư Tùng, nhìn lại dân làng cắm cúi trên miếng đất... Minh chợt thấy mình không còn là xã Minh, không còn là đồng chí Minh hăng hái tham gia cách mạng, hô hào biểu tình nữa.
Minh càng thắc mắc tại sao Văn đã kháng chiến trong Nam bộ, lại thôi không ra khu kháng chiến ở Việt Bắc nữa ? Tại sao Văn chống Pháp, rồi nay lại trốn vào Hà Nội ? Con người lanh lẹ đáng mến thế, có thể là Việt gian được không ? Vả lại Văn ở đây có tới năm sáu tháng trời, làm gì đâu mà bảo là Việt gian?
Rồi Minh lại thầm hỏi bao giờ kháng chiến thành công? Thành công rồi ra sao ? Hiện nay nói gì thì nói, chứ quân Pháp có qua làng nữa đâu, mà ủy ban có biết làm gì hơn ban hương hội ngày trước ? Văn đã gieo lại một chút nghi ngờ trong lòng Minh. Và tự nhiên Minh không nghĩ đến Thọ nữa, mà còn thấy rằng những thắc mắc trước đây lo xem có lấy được Thọ hay không nay đã biến thành câu chuyện quá xa xăm.
Dì Mơ cứ vô tình cần cù làm lụng, nào có biết đến những băn khoăn của hai người đương lột xác để mỗi ngày xa nhau thêm một chút. Dì như cây cỏ hút màu đất của làng Thụy để lớn, để sống năm này qua năm khác, rồi chờ tuổi già chết đi, đem xương thịt tan biến hoàn trả lại cho đồng ruộng đất màu đã hút. Cách mạng hay loạn ly có làm gì cho dì đau khổ nữa thì cũng chỉ như bão táp rung chuyển cây kia làm cho tơi tả, hoặc quá nữa đổ gãy là cùng, chứ cây nọ làm sao mà dời đi được ?
Mấy dì con cứ âm thầm bền bỉ sống. Song những nỗi hân hoan cởi mđ, những câu hỏi tò mò tìm hiểu đầy thiện cảm của Văn, nay không tìm đâu thấy nữa. Dì Mơ sống trông chờ thái bình. Thọ sống mơ màng ngày vượt khỏi rặng tre xanh đi tìm cuộc đời mới. Minh sống trong hoang mang mơ hồ chờ đợi một biến đổi, tìm lấy hướng đi mà Văn chưa kịp vạch rõ.
Ở nơi thôn xóm, tắt lửa tối đèn thường gặp nhau, thì thêm một người hay bớt một người cũng đủ cho dân làng xì xào nói tới ngay. Văn bất thần đi, dù cho Thọ và Minh nói là có giấy gọi, và nhật báo có đăng lệnh lên khu nhận công tác thì người ta cũng không dễ tiếp nhận ngay như thế.
Những lời dị nghị làm cho Thọ thêm buồn, và cho Minh thêm lo nghĩ bực tức. Cán bộ phủ đi về xã luôn. Và một bữa, kể ra Văn đi đã tới nữa tháng, Minh đương ngồi cạp lại máy chiếc rổ rá thì có lệnh gọi ra trụ sở công tác gấp. Kể ra hồi này Minh cũng không liên lạc luôn luôn với toàn bộ ủy ban xã; thường ngày Minh chỉ cắm cúi lo công việc làm như thuở xưa.
Minh lật đật tới trụ sở thấy đã tập họp đông đúc. Có cả ba ủy viên từ phủ bộ về họp. Minh cảm ngay thấy một không khí nặng nề, mà linh tính như báo cho Minh biết là sẽ không hay cho bản thân. Minh vừa ngồi xuống, thì ủy viên phủ bộ đã lạnh lùng đặt ngay vấn đề.
Bí Thư Tùng tố cáo ủy viên liên lạc Minh về ba tội: kém tinh thần phục vụ nên lừng khừng trong công tác, liên lạc với giai cấp phản động vì hai dì con Minh đã  ‘‘tương quan mật thiết’’ với gia đình bà giáo, đã chứa chấp và giúp đỡ một tên khả nghi là Văn. Cho nên phủ bộ cử ba ủy viên về điều tra và xét xử. Minh bỡ ngỡ không hiểu sao những việc Minh làm giản dị và ngay thẳng như vậy lại có thể bị xem là tội. Có lẽ phần nào nhớ những bỡ ngỡ của Minh như từ cung trăng rớt xuống, và nhất là nhờ được chủ tịch Tèo và ủy viên quân sự Khước bênh vực, nên sau buổi hội nghị Minh chỉ bị hạ công tác. Nói là hạ công tác, thật sự Minh nào còn thiết làm gì từ lâu nay ? Có điều là ít bữa sau, ủy ban hành chánh và kháng chiến xã đã cải tổ và Minh không còn nhiệm vụ gì nữa.
Thâm tâm Minh thật mừng đã không còn phải nghĩ đến công tác cho ủy ban. Minh có thể yên trí làm ăn cầy cấy. Dì Mơ cũng mừng ; thôi thì hai dì con cứ an phận. Dì có tuổi, cảm thấy sức đã kém trước, nay thấy Minh chăm lo đồng áng thì dì đở vất vả, và mừng thầm như vậy tất sao cũng lo xong vợ cho Minh.
Bẵng đi một dạo, cán bộ phủ không thấy lui tới thường như trước ; thẳng hoặc một vài anh bộ đội qua lại cũng chỉ nói là canh chừng ca nô địch trên sông Hồng. Trên đê, năm thi mười họa xe địch mới qua lại, song dân làng đã quá quen nên mặc ý lặng lẽ sau rặng tre xanh, việc ai nấy làm, không chọc giận chúng thì thôi. Làng Thụy những tưởng lại êm đềm sống như thưở nào.
Thật đến lạ lùng ! Chiến tranh cứ tiếp diễn, hai kẻ địch cứ chung sống trên lưng dân quê đất Việt; mà người dân quê cũng cứ bền bỉ chịu đựng trong nghèo khó và vất vả, đổ mãi mồ hôi lên luống cầy, vãi thêm xương máu lên đất nước.
Mùa tháng năm, rồi tháng mười, rồi lại mùa tháng năm... Đã hai năm qua từ đêm thủ đô tác chiến, dân quê sống ven những con đường địch qua lại đã bền bỉ chịu đựng để âm thầm tồn tại trong buổi tranh tối tranh sáng.
Rồi một ngày cuối Đông năm Bính Tuất sắp sang năm Đinh Hợi (1947) [1], thôn

Chú thích :
[1] thay vì: ‘‘Rồi một ngày đông năm Tí (1948), thôn xóm...’’ ( Đính chính của tác giả)

xóm làng Thụy đương xo ro trong gió hanh rét mướt, cây cối bạc phếch cằn cỗi như hết cả sinh lực, và dân làng mệt mỏi sống cầm chừng như cây cỏ gắng gượng cố lấy chút mầu trong đất kiệt chờ ngày ấm áp, thì bỗng đâu từ làng Trang làng Yết phía dưới vọng lên những tiếng kêu hãi hùng lẫn với hàng tràng liên thanh vang rội. Mọi người nhớn nhác chạy ra ngõ xóm nhìn về xuôi. Tiếng nổ càng mau, càng lớn, rồi ánh lửa bốc cháy đỏ rực. Người làng dưới tuôn chạy lên, đầy hãi hùng, lo âu trong bất lực.
Quân Pháp đốt phá, vì xe chúng qua làng, bộ đội gài mìn trên mặt đê làm nổ tung một chiếc díp của chúng. Bộ đội lẩn đi đâu từ bao giờ, nào ai biết ? Nhưng dân làng ở đây, vẫn sống chết ở đây, thì bây giờ chịu làm mồi cho quân Pháp đổ hết giận hờn lên đầu.
Lửa bốc cao thêm và lan rộng. Những lưỡi lửa đỏ hồng trong khói đen vươn lên khỏi bóng tre nghiêng ngả, vẫn dồn đuổi người dân tới tấp từ xuôi chạy trốn lên ngược. Chưa ai biết làm thế nào, cứ nhớn nhác, và đành ngơ ngẩn đứng trông.
Nhưng tiếng động cơ xe đã chuyển lại gần. Ai nấy như ngủ mê sực tỉnh, vội vã từ hai bên đê tỏa ra chạy về phía đồng, và về phía bãi ven sông. Con đê chạy dài phân đôi làng Thụy, lúc này ai dám băng qua ? Thôi thì sống chết có giời; họ hàng đành chịu; mẹ con, vợ chồng... đành chịu. Người ở phía xóm đồng chạy một đàng, kẻ ở xóm bãi chạy một nẻo. Như luồng gió lốc từ từ cuốn lên, những lằn đạn từ mặt đê bắn rải ra hai bên. Tiếng cây ngả gục, tiếng đạn réo, tiếng động cơ rền nổ... Mùi khói lửa theo gió thổi từ xuôi lên ngược đã phảng phất lợm khét trong khí giời.
Minh dìu dì Mơ nằm nép tận bờ sông dưới hàng dâu chưa kịp chặt gốc. Kể đã xa bờ đê đến cây số ngàn mà dì Mơ còn run lẩy bẩy. Minh bàng hoàng, không thấy một chút sợ hãi, nhưng tự nhiên xốn xang bực tức. Tại sao mình lại bất lực như vậy ? Nếu không may một viên đạn lạc tới thì cũng đến chết như con trâu, con chó vậy thôi ! Mà tại sao không đánh, lại chọc chúng, để chúng tàn phá làm gì? Có phải như vậy mới gây căm thù không ? Minh không thể hiểu được.
‘‘ ... Nhưng ai thành công ? Ai thắng ? Chú thắng hay tôi thắng ? Hay chúng mình cùng thua ?...’’
Minh chợt mang máng nhớ đêm nào Văn bảo Minh như vậy; Minh không nhớ rõ thật đúng lời Văn nói, nhưng ý Văn là vậy…‘‘Pháp sẽ thua. Nhưng ai thành công ? Ai thắng ?...’’ Đột nhiên Minh như bắt đầu hiểu Văn một chút. Chết uổng như con trâu, con chó vậy ư ? Chọc cho địch đốt phá những túp nhà tranh là cả cơ nghiệp của mình mới gọi là kháng chiến ư ? Minh băn khoăn và xốn xang bực tức quá đi mất thôi. Minh thấy thắc mắc làm sao ấy!
Dì Mơ chợt kéo vai Minh, dơm dơm nước mắt bảo:
- Này Minh, không biết chị em cô Thọ có chạy được không ? Nhỡ Tây nó bắt được thì chết!
Nào Minh còn nghĩ đến Thọ ! Thấy dì Mơ nhắc, Minh chợt nhớ ra. Nhưng nhớ ra để làm gì ? Ngay chính bản thân còn lo chưa nổi, giúp ai được ? Minh đành tặc lưỡi:
- Thôi thì còn có số. Lát nữa êm rồi vào trong ấy xem ra sao, chứ bây giờ đành chịu !
Tiếng động cơ xa dần và tắt hẳn. Dân làng ngơ ngác từ chỗ trú ẩn lóp ngóp kéo ra để gặp lại nhau mà mừng, và kiểm điểm thiệt hại. Cũng may chúng không đốt phá; những băng đạn chỉ làm gẫy cây cối, vỡ tường, thủng mái, ngã mấy con trâu, bò, ở ven đê chưa kịp dắt đi xa.
Dì Mơ hớt hải tới thì Thọ cũng vừa ở vệ ao lên nhà. Dì thương cho Thọ quá, dì chưa biết nói gì đã nghẹn ngào rớt nước mắt. Thọ cũng khóc. Đêm hôm đó dì Mơ ngủ lại không về nhà.
Cơn kinh hoàng chưa dứt thì mấy ngày sau quân Pháp lại kéo về. Chúng chiếm đóng điếm canh ngay ở mặt đê giữa làng, rồi chia thành toán vào trong xóm duồng bắt được một số dân làng nấp không kín. Chúng dẫn lên đê, sai đem bao cói, xúc đất tải về chất chung quanh điếm canh. Chúng lại đem cả giây thép gai, đóng cọc căng kín bốn phía, đủ để một lối vào. Thế là chúng lập đồn canh ở lại. Thật tình, một ngày, hai ngày chúng chỉ có bắt ít gà vịt ăn thịt mà thôi chứ không phiền hà đến ai cả. Rồi chúng cất lẻn bất chợt vào trong các xóm. Cuộc tiếp xúc bất thần và gượng gạo cũng không thấy khó khăn, nhưng dân làng cố lẩn tránh, âm thầm lén lút sống không dám dàn mặt, tuy chúng chưa bắn giết ai.
Nhưng mấy bữa sau, vừa lúc chạng vạng tối, trong cái im lìm như nín thở của thôn xóm, bỗng có tiếng kêu thất thanh, rồi tiếng chân nhộn nhịp. Tiếng kêu như xé trời, cô độc và tuyệt vọng, như con lợn bị bắt trói đem đi mổ thịt còn cố giẫy giụa đến cùng. Tiếng kêu khàn dần rồi im bặt trong tăm tối của bóng đêm.
Dì Mơ ngơ ngác; Minh vội tắt phụt ngọn đèn. Hai dì con dỏng tai nghe ngóng. Minh khẽ nói:
- Để con bò ra ngoài giậu nghe xem động dụng thế nào ?
Dì Mơ vội níu lại, nhưng không kịp. Minh đã như con rắn lách người ra khỏi liếp. Minh vừa kịp lẩn vào sau bụi chuối ngay cổng vào thì một bóng đen men theo giậu đã bò vào sân. Có tiếng quen gọi khẽ.
- Chú Minh ! Chú Minh có trong nhà không ?
Minh nghe rõ tiếng Khước, bèn rón rén tới và khẽ thưa. Ngọn đèn khêu lại bằng hạt đậu ; nét mặt Khước hốc hác càng nổi rõ gò má với đôi mắt sâu hoắm thâm quầng. Khước hổn hển, thì thào:
- Nguy quá, thế này làng ta khó mà yên được với chúng ! Lúc nãy tưởng đã nhá nhem ắt bọn chúng không mò đi đâu nữa, nên ai nấy có cần đi lại chút ít thì đi cho xong việc. Thế rồi, không may cho cái Bèo lơ ngơ ra cầu ao rửa chân tay, thế nào gặp ngay mấy thằng. Cháu vừa ở trong nhà bước ra sân thấy rõ ràng trước mắt. Chúng bấm đèn  ‘‘bin’’  sáng lòa rọi vào mặt, thấy con gái là chúng áp tới ôm xốc lấy đem về đòn. Khổ cho cái Bèo kêu khản cả tiếng, nhưng ai mà dám ra cứu ? Vợ chồng bác Hương đứng sau giậu, cũng đành nhìn chúng bắt mất con. Bác gái chạy sang bên nhà khóc lóc hỏi cháu làm thế nào cứu nó?
Khương nhăn mặt, lắc đầu chán nản :
- Dì tính, cháu còn biết làm thế nào nữa ! Có ra chúng bắn cho một phát cũng đành bỏ chứ cứu với cấp gì !... Hai vợ chồng bác Hương đương khóc ở nhà đấy ; hàng xóm láng giềng thật tội nghiệp. Nghe mà não cả lòng, cả ruột; cháu vội lẻn sang đây nói để dì hay.
Dì Mơ và Minh lặng thinh nghe Khước nói mà tưởng chừng như còn thấy trước mắt đĩ Bèo giãy giụa kêu khóc, và tiếng kêu còn phảng phất trong không. Dì sụt sịt, lẩm bẩm :
- Con bé ngoan thế ! Thật là khổ. Còn biết làm thế nào bây giờ ! Sao mà số con bé vất vả thế !
Từ xưa Minh biết dì Mơ vẫn định hỏi Bèo cho Minh, vì Minh mê mải nghĩ đến Thọ nên việc ấy đành còn xếp lại. Nay cơ sự xảy ra như vậy, tự nhiên Minh thấy bâng khuâng thương hại cho Bèo quá. Bèo bị bắt đem vào đồn; thế là hết đời Bèo rồi còn gì nữa ! Bèo còn mặt mũi nào sống ở thôn xóm làng Thụy được ? Ai dám lấy Bèo ? Cuộc đời nhỏ bé ấy chỉ một đêm đủ tan vỡ hết. Minh nhìn Khước:
- Cứ thế này, rồi chúng còn bắt người, còn lấy của... Biết làm ăn ra sao đây ?
Từ lâu nay dì Mơ đã không nói chuyện với Minh về việc hỏi Bèo, bây giờ thì dì lại càng nín thinh. Dì vẫn biết là thương hại cho Bèo lắm; đâu phải là lỗi ở như Bèo ? Nhưng dì không thể nào lại hỏi Bèo cho Minh được nữa!
Cuộc đời con gái ở đồng ruộng nó mong manh quá, nghèo hèn quá ! Lúc loạn lạc này, giây phút bỡn cợt giải buồn, hoặc giây phút thể xác đòi hỏi của bọn người đem mạng mình đùa với tử thần, rồi vin vào đấy mà xem hết thẩy là trò đùa ? Ôi, những tâm hồn cuồng loạn ấy đâu có biết rằng cuồng loạn của chúng lùa theo bao nhiêu con người khác vào sa đọa ?
Dì Mơ lại trạnh nghĩ đến Thọ, nên đêm khuya vội cất lẻn vào thăm. Cổng đóng chặt, dì không dám gọi; dì lách qua hàng giậu vào trong sân, thấy buồng Thọ có ánh sáng. Dì gõ cửa khẽ gọi. Đèn vụt tắt; dì vội vã nói qua khe cửa :
- Cô Thọ ơi, tôi đây mà !
Cửa kẹt mở, tiếng Thọ còn run rẩy:
- Dì làm con hết hôn. Có việc gì mà dì phải sang khuya thế ?
Đèn đã sáng lại, hai người mặt còn thất sắc, một già một trẻ nhìn nhau, thương hại đầy trong khóe mắt. Dì Mơ vừa ngồi ghé xuống giường đã thở dài não nuột:
- Khổ quá ! Chuyến này thì thật chết! Hồi chập tối, việc bên xóm bãi... Cô biết chưa ?
- Có, con nghe rõ cả tiếng kêu. Khổ cho chị Bèo.
Đôi mắt đen láy của Thọ vội khép lại như vừa lo lắng cho chính thân mình, vừa ngượng ngập xấu hổ. Hai người lại nín thinh. Biết làm gì giúp nhau trong cảnh bất lực? Dì Mơ lưỡng lự, rồi ngập ngừng:
- Cô ở đây vắng vẻ quá. Nói dại đổ sông đổ biển, nhỡ ra thì làm thế nào ?
Thọ rùng mình, ôm mặt:
- Cô đừng giận nhé. Ấy vì sốt lòng sốt ruột mà tôi phải sang ngay bàn với cô đấy. À, mà sao cô thức khuya thế ?
Thọ giật mình như sực tỉnh, khẽ nói:
- Con khổ quá, dì ạ. Con vẫn lo. Nhất là lúc nãy thấy hàng xóm xì xào về việc chị Bèo, nên con càng nhất định. Con thấy ủy ban xã có nhiều người chẳng hiểu sao lại cố ý thù ghét con, thì dù ở cũng khó yên. Bây giờ địch lại đóng đồn... Thôi thì dù có không may chết giấm chết giúi ở đâu kia không ai biết, còn hơn là nhỡ ra bị nhục nhã thì tủi cực lắm dì ạ.
Dì Mơ sửng sốt nhìn Thọ như không ngờ cô gái trước mặt mình lại cả gan liều lĩnh thế ! Tuổi già đã làm dì nguội hết hăng hái bồng bột của thời xưa. Dì quên khuấy đã có thời dì cũng từng liều lĩnh vượt rặng tre xanh. Mấy lại, nghĩ cho cùng, không liều cũng chẳng được, dì tự bảo thầm vậy. Nhưng đi đâu ? Dì lo lắng hỏi:
- Cô nhất định đi ư ? Thật tôi cũng chẳng biết thế nào mà khuyên cô được ! Nhưng cô định đi đâu ? Hay là nán lại ít ngày xem ra sao ?
Giọng Thọ thêm cả quyết:
- Đằng nào thì cũng một lần; nán lại, nhỡ ra thật hối không lại. Con đương thu dọn định mai sớm đi ngay, song còn lưỡng lự không biết làm thế nào nói với dì, thì may quá dì lại sang.
- Nhưng cô định đi đâu mới được chứ ?
Mắt Thọ vụt sáng quắc. Hăng hái và liều lĩnh đã dồn hết trên khuôn mặt của cô gái bị ném vào giữa cuộc đời đầy bất trắc.
- Con trốn ra Hà Nội. Nếu tìm thấy anh Văn thì càng may ; bằng không, con làm thuê, làm mướn, hoặc quang gánh buôn bán nuôi em Sơn con vậy.
Dì Mơ nín thinh. Dì lo cho Thọ. Liệu có đi thoát vào Hà Nội không ? Một người con gái đương thì như Thọ tránh sao khỏi cặp mắt thèm thuồng của bọn ăn thịt người không tanh kia ? Làm ăn, buôn thúng bán bưng, cái đó dì chẳng ngại cho Thọ, vì dì đã từng liều như thế rồi. Nhưng dì liều là ở cái thuở bình thì kia ! Chứ nay? Dì hoảng hốt lắc đầu như xua đuổi bao nhiêu hình ảnh kinh hoàng:
- Không ! Không thể được.
Thọ cố gượng cười, tiếng cười nghẹn ngào đầy nước mắt:
- Dì tính không liều thì làm thế nào ? Ngồi đây mà chịu chết như chị Bèo ư ? Con đã nói với dì là thà chết giấm chết giúi ở đâu kia, chứ con không chịu tủi nhục ở đây được.
Thọ ngừng lại, cầm lấy hai tay dì Mơ, mà nước mắt tự nhiên cứ tuôn ra. Thọ khóc nức nở. Cũng chẳng hiểu tại sao mà khóc nhiều như vậy ? Thọ có biết bao nhiêu là điều u uất trong lòng, nếu không được khóc thì Thọ chết mất. Một lát sau như đã hả, Thọ lau mặt, nhích lại gần dì Mơ.
- Dì sang chơi thật may quá. Mai sớm nhất định con sẽ đi. Quần áo, con đã xếp xong cả rồi. Thôi thì mọi việc ở nhà con nhờ dì tất cả. Nhờ trời phật, bình thì chúng con cùng trở về được nơi quê cha đất tổ là phúc đức. Bằng không, thì dì cứ trông nom cho, sau này muốn ra sao thì ra.
Thọ đứng dậy.
- Để con lấy giấy bút viết lại nhờ dì trông nom cho khỏi có điều nói ra nói vào.
Dì Mơ luống cuống không còn biết nói làm sao. Dì ấp úng :
- Cô chỉ nói dại. Như thế thật khó nghĩ cho tôi quá. Người ta nói chết.
- Thôi thì dì thương con là hết. Còn mẹ con, dì với anh Minh vẫn trông coi đấy. Về số ruộng cho bác Tư Lù làm rẽ thì con viết giấy đây dì cứ thu lúa rồi lo mọi công việc ở nhà giúp con.
Dì Mơ ngần ngại:
- Hay cô để cậu Sơn ở nhà, tôi sang đây trông nom giúp cho.
- Thôi dì ạ. Con cho em Sơn đi theo. Đã liều thì liều một thể. Con cũng muốn cho em Sơn nó học hành thành người.
Thọ cắm cúi bên ngọn đèn dầu. Tờ giấy trắng trải trên mặt giường. Thọ viết đi viết lại, xé bỏ hai ba lần mới xong. Dì Mơ gấp bỏ vào ruột tượng, bảo Thọ :
- Nói có ngọn đèn, còn bà giáo thế nào thì bây giờ cũng vậy. Thóc lúa của cô tôi sẽ phơi phóng gạt đủ ; rồi ví thử có thuế má công việc đằng nhà tôi sẽ lo. Còn thì cứ xin để đấy. Rồi cũng phải yên hàn, chứ cứ loạn mãi thế này ư ?
Đã khuya lắm. Dì Mơ và Thọ mới đi nằm. Chợp mắt được một lát gà đã gáy sáng. Thọ choàng dậy, đánh thức Sơn sửa soạn. Dì Mơ đã thổi chín và gói cho hai chị em -
- Cô nhất định đi ư ?
- Vâng. Dì tính chẳng nhất định cũng chẳng được.
- Cô tính đi lối nào ?
- Lần trước, anh Văn có nói là anh sẽ theo lối Đồng Quan, qua Chẩy, Trừ rồi vào lối Quang, Tó. Tất cả từ hồi năm nọ bán bớt ngô thóc, con gom góp được hơn hai trăm bạc Đông vẫn giấu kỹ. Thôi thì nhờ trời, có phúc có phần chứ biết lo sao cho hết.
Mới mờ sáng. Trời đông lạnh buốt. Ngõ xóm trắng khô. Thọ dơm dớm nước mắt dặn dì Mơ:
- Thôi con đi, trăm sự nhờ dì trông nom nhà của ruộng nương cho. Ủy ban xã có hỏi, dì cứ nói là con vào Đồng Quan buôn bán và chạy giặc. Ít bữa địch rút đi, yên hàn con lại về ngay. Dì cho con gởi lời chào anh Minh ; bao giờ thái bình về, chắc hẳn dì có cháu ẫm rồi đấy...
Dì Mơ đóng cổng, chép miệng thở dài, trở vào nhà mà còn bâng khuâng như sống trong giấc mơ hãi hùng đầy những chia lìa chết chóc!
Hai chị em Thọ lủi thủi đi về phía đồng, thấp thỏm lo có người trông thấy. Qua những hàng giậu thưa, những lùm cây quen thuộc, mà có biết bao nhiêu con mắt nghi ngờ, và những con mắt hằn thù vô cớ; Thọ hãi hùng mong trốn thoát cho nhanh. Gió bấc khô lạnh giần giật thổi ngang qua cánh đồng sau vụ gặt chưa làm màu. Giữa các thửa ruộng lởm chởm gốc rạ, con đường bờ ruộng khô trắng gập ghềnh, ngoằn ngoèo, sao mà dài thế? Thọ hấp tấp đi như chạy mà mãi mới vượt hết đồng làng. Nổi sợ hãi của kẻ đi trốn mới phần nào dịu bớt. Qua một làng, hai làng...Thọ mải miết đi, chốc chốc khẽ hỏi em :
- Em có mỏi chân không ? Chịu khó vào tới Phượng Dực hãy nghỉ em ạ.
Chân Thọ bắt đầu thấy mỏi. Nhưng Thọ không thể ngừng lại được. Thọ cảm thấy chơ vơ quá. Minh đâu có ở đây để đỡ bước cho Thọ như buổi nào trên bờ đê khi biểu tình ở tỉnh về. Minh ở lại nơi xóm làng dưới bóng tre xanh rờn, bên vũng nước tù kia, làm sao mà Thọ còn có thể gặp lại được ? Còn Văn, liệu Văn có thoát nổi vào thủ đô chưa ? Giờ đến lượt Thọ, có thoát khỏi những con mắt cú vọ và những con mắt tàn bạo đầy thèm khát chăng ? Nhưng Thọ không thể lùi lại được. Dù Thọ có muốn ngừng, thì vòng bánh xe rộng lớn kia sẽ nghiến tan nát ngay trong khoảng khắc.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 29.03.2020 13:47:02 bởi Ct.Ly>
Đĩ Bèo vật mình trên tấm phản gỗ, muốn khóc, khóc mãi, mà không sao khóc được. Nó khóc nhiều quá rồi, không lấy đâu ra nước mắt nửa. Cô vẫn còn đau vì không biết trong lúc hăng tiết nó đã kêu gào tới mực nào. Hết vật mình bên nọ lại qua bên kia, nó cảm thấy mỏi lưng như dần, và người đau ê ẩm, khiến cho nó ngây ngất li bì khó chịu. Nó bàng hoàng không còn biết là tỉnh hay mê ? Cơn ác mộng đã, qua mà vẫn ám ảnh đè nặng lên đầu. Nó nhớ lại rõ ràng như trước mắt...
Mới chập tối, nghe êm ả cả, chó cũng không thấy cắn, mà bên hàng xóm còn nghe rõ tiếng bác Khước gái giục con lấy cơm nguội ra ăn, nó mới yên trí ra cầu ao ngay trước ngõ để rửa chân tay, tới bụi tre sắp sửa xuống bực cầu ao, thì vụt ánh đèn  ‘‘bin’’  sáng chói rọi ngay giữa mặt. Nó không còn nhìn thấy gì nữa, chỉ nghe thấy tiếng cười sằng sặc làm cho nó bủn rủn cả chân tay. Nó chưa lập hoàn hồn thì thấy đã bị hai cánh tay lực lưỡng ôm lấy và bế xốc lên. Không biết làm sao mà lúc ấy nó hăng thế ? Nó liều chết kêu gào và vùng vẫy đã tuột được xuống đất rồi. Nhưng có ai cứu nó đâu ? Chưa đứng vứng đã lại thấy hai cánh tay lực lưỡng ôm ngang lấy ngực nó, rồi hai cánh tay nữa giữ chặt lấy bắp chân. Thế là nó họ nhấc bổng lên, khiêng đi như khiêng lợn vậy. Nó mệt nhoài, chỉ còn biết cố sức kêu gào, song cổ nó đã khản. Làng xóm vẫn im lìm. Rồi ánh đèn lóe mắt ; nó ngơ ngác nhìn. Năm sáu người lố nhố cười nói ầm ĩ. Nó không còn biết gì nữa...Chỉ mang máng thấy năm sáu bàn tay túm lấy nó ; tai nó mơ hồ nghe thấy tiếng cười sằng sặc, mặt nó phảng phất cảm thấy hơi thở nóng ran pha lẫn mùi rượu đến lợm giọng buồn nôn...Và nó tức ngực quá, tức ngực đến không thở được. Nó thiếp đi. Không biết là bao lâu nữa ? Tinh dậy, lưng nó đau tưởng chừng như gẫy, người nó mỏi nhừ. Nó khẽ mở mắt hé nhìn. Lại thấy tiếng cười ghê rợn ! Rồi có ai đổ vào miệng nó thứ nước ngọt mà hôi, nó vừa khát, vừa mệt nên cứ ừng ực nuốt. Rồi lại những bàn tay rắn như sắt, lại hơi thở nồng nực trên mặt nó, và cả tòa nhà như đè chặt lên người, nó mệt tưởng đến đứt hơi, nó hoảng hốt rú lên, cố vùng vẫy để chạy trốn...
Nhưng nó đã lại ngã quỵ xuống. Nó trâng trâng mở mắt nhìn. Không có một người nào quanh nó hết. vẫn chiếc phản gỗ trong căn nhà quen thuộc của thầy u nó. Nó mới mang máng nhớ ra, chẳng biết là hai hay ba ngày nữa, người ta đã thả cho nó về, đã đẩy nó ra khỏi hàng dây thép gai; và nó lầm lũi cố lê về nhà, nhiều lúc tưởng chừng như ngã chúi xuống bên đê không còn đủ sức mà đi nữa. Nó chỉ còn biết khóc, khóc mãi đến bỗng rát cả hai mi mắt, đến khô đắng cả cổ...Tại sao lại thế được nhỉ ? Chúng đã làm gì nó? Nó khổ quá...
Cánh cửa gỗ kẹt kêu. Nó cứ quỳ gục dưới đất và ngơ ngác nhìn. Ai như u nó. Nhưng người nó sao lại đau đến thế được ? Đau như bị xé ra ấy thôi! Nó lịm đi...
Bây giờ thì Bèo không còn thiết gì nữa. Bèo đã khỏe lại và lần lần nhớ ra hết. Nó xấu hổ quá, không dám thò ra khỏi nhà. Nó xấu hổ quá, như thể cả làng xóm đều biết hết chuyện nó rồi. Thầy u nó cũng vậy, nhất là u nó lúc nào mắt cũng đỏ hoe. Đời nào nó còn dám vác mặt sang dì Mơ nữa ?... Nó ngấm ngầm đau khổ. Sao mà cái số nó khốn nạn thế ! Nào nó có làm gì nên tội đâu ? Còn có ai bị khổ như nó nữa không ? Nào nó biết được !
Bèo thừa lúc buổi chiều vắng, liều mình lẻn ra ngoài bãi. Bây giờ thì dù cho có gặp bọn tây nó cũng chẳng cần. Còn có gì để mà sợ. Ngoài bãi vắng tanh, dân làng bỏ đi đâu mất cả. Gió từ sông thổi hắt lên buốt căm căm, mà Bèo vẫn thấy mặt nóng bừng như say rượu. Ngô đã cấy xong; hom dâu cũng đã chặt; bãi sông lơ thơ ít hàng thầu dầu tía trông như chết dở. Nước sông cũng rút ra xa. Bèo cứ đi, đi mãi. Hết bãi cát khô, đến làn cát ướt cứng dưới chân, rồi làn nước đục ngầu. Bèo như người điên, cứ đi thẳng về phía trước mặt. Gió sông vẫn thổi giần giật bên tai. Làn nước ấm đụng vào da thịt, Bèo thấy dễ chịu quá. Nó mê man bước tới...
- Bèo, mầy điên đấy hả ? Việc gì mà tự tử ? Có về nhà ngay không ?
Bèo chưa biết thế nào, còn ngây người đứng, thì Khước lại kéo thẳng một mạch về tận nhà.
Việc Bèo bị bắt vào đồn; việc Bèo ra sông tự tử, ai cũng biết. Nhưng cũng biết vậy thôi, và thật tình thương Bèo có thương, nhưng gặp Bèo ai cũng ngường ngượng thế nào ấy ! Chẳng gì Bèo cũng đã bị bắt giữ ở trong đồn suốt hai đêm !
Làng thì còn ai nữa ? Sau vụ Bèo bị bắt hiếp trong đồn thì bao nhiêu con gái đã vào làng trong ẩn hết. Chỉ còn các bà già ra mặt giữ nhà ; và đàn ông lẩn lút coi chừng mà thôi.
Bèo càng buồn, càng tủi nhục... Rồi một bữa dân làng không thấy đĩ Bèo đâu nữa. Cũng không ai nỡ hỏi ông bà Hương làm gì. Chỉ người này đồn đại người kia, biết là đĩ Bèo bỏ nhà đi biệt tích rồi.
Dì Mơ vẫn ở yên trong nhà Thọ. Việc của Bèo, dì nghe người ta nói rõ hết. Dì chỉ còn biết lẩm bẩm:
- Thằng Minh thế mà đến cao số!
Dì còn bụng dạ nào mà lo vợ con cho Minh bây giờ được đây. Bọn lính canh ở đồn vẫn thường sục sạo các ngõ xóm; đành là ai nấy nín thinh ở trong nhà, yên lúc nào hay lúc ấy mà thôi. Vài ba ngày dì mới gặp Minh một lần, mà trông Minh cứ phờ phạc như người mất hồn. Có lần dì đã phải bảo Minh :
- Con làm sao thế ? Phải cẩn thận, nhỡ mà ốm thì khổ. Loạn lạc mà ốm thì đành nằm chịu chết mà thôi.
Minh chỉ thẫn thờ đáp:
- Không, con có sao đâu. Có cái là quân địch cứ đóng đồn làng ta mãi thế này thì rồi làm thế nào đây ? Mùa màng xong từ bao giờ mà chửa có ai dám ra làm đất cho vụ màu tháng năm cả.
Thế là hai dì con lại thừ người ngồi nhìn nhau.
Nhưng quân địch đóng đồn thì đóng ; chúng có vác súng kéo nhau sục sạo trong làng thì cũng vậy thôi. Chỉ ít lâu sau lại thấy cán bộ phủ lén lút về ; rồi bí thư Tùng lại ra mặt dò xét người này người nọ. Nhưng chẳng bao giờ cán bộ phủ hay bí thư Tùng chịu ngủ đêm ở làng hay về ban ngày cả. Minh cũng mặc. Độ nữa tháng sau gặp Khước, thì Khước khẽ kéo Minh về nhà. Khước nay già hẳn, mặt thất sắc. Hắn bảo Minh :
- Này chú Minh ! Tôi lo quá. Tối hôm qua vừa họp ủy ban, có cả đồng chí cán bộ phủ về họp. Thật quả hồi này anh em trong ủy ban xã mình lo trốn giặc bằng chết, còn ai thiết làm gì !
- Mới lại làm gì được cơ chứ ? Đánh nhau với quân địch hả ? Thì có gì mà đánh với đấm ! Bảo là đề phòng Việt gian ? thì dân làng có ai theo chúng đâu ?
Khước chặc lưỡi, nhăn nhó:
- Thì vẫn ! Nhưng chẳng biết bí thư Tùng báo cáo ra sao mà ủy viên phủ phê bình là ủy ban xã ta lừng khừng, không cương quyết kháng chiến giết địch.
Minh mơ màng như nghĩ tận đâu đâu:
- Kháng chiến giết địch à!
- Ừ, đồng chí còn bảo phải tích cực theo dõi dân làng, đề phòng Việt gian.
Minh không nói gì hết nữa.
Mấy hôm sau, khuya rồi Minh đã nằm trong ổ rơm thì Khước đến. Trong nhà tối như mực, Khước khẽ lần tới nằm cạnh Minh, run cầm cập. Minh ái ngại:
- Khổ ! Anh đi đâu về mà rét thế ?
Tiếng Khước thở dài trong đêm tối:
- Lại vừa họp. Phủ bộ về họp và quyết định cải tổ ủy ban kháng chiến xã nhà. Bí thư Tùng quyết liệt lắm, tố cáo chủ tịch Tèo bất lực. Ủy ban đã thu hẹp; anh Tèo hết nhiệm vụ rồi. Tôi cũng muốn thôi, song chả dám nói, nên họ lại cứ làm ủy viên quân sự như cũ.
Khước ngừng bặt. Hai người lại im lặng. Bên ngoài gió lạnh lại điểm mưa phùn. Đã lâu, Minh còn thấy Khước trở mình như trằn trọc; rồi tiếng Khước khẽ hỏi:
- Chú Minh còn thức hay ngủ ?
- Thức!
- Có chuyện này khó nói quá.
- Chuyện gì hả anh ?
- Không biết tại sao bí thư Tùng lại đưa ra thảo luận vấn đề theo dõi dân làng, rồi hắn yêu cầu điều tra về dì và chú.
Minh hoảng hốt nhỏm dậy :
- Anh nói sao ? Bí thư Tùng đòi điều tra về dì và tôi hả ?
Khước níu lấy tay Minh kéo xuống :
- Khẽ chứ, kẻo chợt có ai đi ngoài ngõ nghe thấy. Thì hãy nằm xuống, người ta nói cho có đầu đuôi đã nào !
Minh lại lẳng lặng nằm xuống bên Khước.
- Ấy là bí thư Tùng nó đặt vấn đề và yêu cầu như thế. Anh Tèo có bênh chú, thì bị mắng át đi, bảo là anh ấy tình cảm cá nhân. Mới lại đã mất chức chủ tịch rồi, nói còn ăn thua gì!
- Quái nhỉ! Làm sao mà cái thằng bí thư Tùng nó thù gì tôi mà cứ khó chịu mãi với tôi như thế.
- Nào biết ! Nó đòi điều tra, bảo rằng cô Thọ thuộc thành phần tư sản trưởng giả mà dì và chú lại có liên lạc mật thiết. Nó lại nêu ra hai thắc mắc. Tại sao chú xin chứng minh thư cho Văn? Tại sao dì trông nom nhà cửa cho cô Thọ trốn đi ? Và yêu cầu cho biết đi đâu?
Minh thấy nóng bừng mặt; nó nuốt nước miếng mà thấy nghẹn cả cổ. Minh tức lắm. Khước như đoán được, khẽ bảo :
- Chú, nên tôi bảo thật. Phải liệu mà giữ gìn. Đừng có kiếm bí thư Tùng để gây sự; chẳng được gì đâu mà nguy cho chú, lại nguy cả cho tôi nữa mà thôi.
Chợt Khước như nhớ ra việc gì, quay lại phía Minh :
- À này, hình như bí thư Tùng trước đây vẫn có ý hỏi cô Thọ thì phải. Tôi nhớ ra rồi. Chẳng thế mà cái ngày cách mạng thành công, còn hoạt động vui vẻ, mỗi lần anh em cứ chế chú và gán với Thọ là y như thấy nó cười gượng có vẻ khó chịu. Ờ... đúng đấy !
Minh không hỏi nữa.
Hai người trằn trọc mãi rồi cũng ngủ quên đi.

Sớm hôm sau, Khước về rồi, Minh vội lẻn vào trong xóm đồng nói câu chuyện đêm qua cho dì Mơ nghe. Nó ngạc nhiên thấy dì Mơ lạnh lùng bảo:
- Mặc xác chúng ! Tao trông nom cho chị em cô Thọ đây chẳng qua cũng là chỗ tình nghĩa cũ; có giấy có tờ của cô Thọ để lại chứ dễ tao tham lam lấy lợi à ? Nghi thì nghi, làm gì thì làm.
Minh chẳng còn biết tính thế nào cho hơn nữa ; tối đó đành tìm Khước và nhờ Khước có tin gì báo riêng cho biết. Có đến mười ngày qua cũng chẳng có chuyện gì khác. Lính tây vẫn đóng đồn ở làng; thấy yên tĩnh, chúng còn vác súng lội xuống bờ đầm bắn le, bắn sít. Nhưng làng vẫn vắng tanh ; bọn trai tráng như Minh, như Khước, vẫn phải lẩn tránh. Đêm đến lính rút vào đồn, thì các ủy viên, nào phủ bộ, nào du kích lại sục sạo như cua. Minh càng thấy lo buồn, chán nản. Có lần bực mình quá, nó bảo Khước:
- Thời buổi gì mà khổ sở thế này ! Thật là ngày thì sống với quỷ mà đêm thì sống với ma. Rồi đến chết hết mất thôi.
Lắm tối rét quá nằm không ngủ được, nó bâng khuâng nhớ đến Thọ, nhớ đến Văn, lại vẩn vơ thương cả cho đĩ Bèo, và lo cho dì Mơ nữa. Nó lo cho dì Mơ thật, nhỡ ra mà dì cứ nói liều lĩnh thì khốn chứ không chơi. Dì chẳng già thì cũng lấy làm già, ngoài bốn mươi tuổi đầu rồi còn gì ? Thật dì con nó hiền lành chăm lo làm ăn mà họ cũng chẳng để cho yên thì ức thật. Nó thường tự bảo : ‘‘Hừ, cái anh Văn anh ấy nói mà hay. Ai thắng đây ? Hèn gì mà anh ấy không lên khu !’’. Nhưng Minh lại thắc mắc không biết Văn vào Hà Nội có thoát không ? Mà Văn định làm gì ? Nếu vào thủ đô mà không theo Pháp thì tất Văn phải có dụng ý làm gì chứ? Lại đến cả Thọ nữa cũng đi! Dì bảo là Thọ vào Hà Nội. Minh rùng mình. Nhỡ Thọ cũng bị chúng bắt như Bèo ?... Minh quanh quẩn nghĩ mãi, tưởng đến nát óc, rồi đành cứ sống lén lút như vậy, ngày như đêm, đêm như ngày, trong do dự, trong lo âu, trong hoang mang, không một hy vọng, và cứ chờ đợi, tuy chẳng biết chờ đợi gì.
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Giữa đồng, nơi làng Thụy giáp làng Châu có xây một cái quán chung quanh tròng nhiều cây gạo đã hai ba đời nay rồi. Đồng làng rộng rãi, những buổi trưa hè tháng tư, tháng năm, nắng như đốt mà về nhà ăn được miếng cơm rồi trở ra đồng gặt nốt thì hết ngày. Vậy nên dân làng đã xây quán trên một nấm đất rộng, lại trồng cây, để bạn gặt có chỗ tạm nghỉ trưa tránh nắng, ăn lót lòng, uống bát nước, kịp lúc xế bóng lại làm tới tối cho khỏi mất công mất việc. Nhưng nếu buổi ban ngày  ‘‘Quán đồng’’ tiện lợi như vậy, thì đêm đến không ai dám qua lại? Những cây gạo cao ngất trời đầy tổ quạ, lại giữa chốn đồng không mông quạnh là đủ khiến rợn người rồi. Đối với bộ óc bình dị,  ‘‘thần cây đa, ma cây gạo’’ đã được coi là lẽ đương nhiên, thì ‘‘quán đồng’’ hẳn phải là nơi trú ẩn của những hồn ma khi đêm tối. Đứng trên đê làng nhìn ra đồng, xa tít, quán ngói ba gian chỉ còn nhỏ xíu như cái miếu nhỏ thường thấy ở gốc đa hay gốc đề ; nhất là nhiều đêm lại chập chờn có ánh lửa ma chơi thì ai mà chẳng khiếp? Các ông già bà cả còn kể lại thiếu gì chuyện ma quái về quán này, nên chẳng ai bảo ai, cứ gần buổi chạng vạng là cấm có ai dám bén mảng vào trong quán nữa.  ‘‘Quán đồng’’ lại còn là chỗ đồng mấy làng, làng Thụy, làng Bi, làng Châu tiếp giáp nhau, nên thật là cô quạnh. Trên những con đường khúc khuỷu đi tứ phía, trông thấy nhau mà xa lắc xa lơ, nên đồng làng lại là con đường qua lại của những quân cướp, nhất là hai làng Bi làng Châu vẫn có tiếng là đất dữ nhiều tay chơi.  ‘‘Quán đồng’’ trở thành chỗ trạm nghỉ chân của họ mỗi khi mượn đường đi đánh các vùng ven sông. Họ không phiền hà làng Thụy vì tình lân cận, họ chỉ mượn đường; song nếu không may cho ai gặp họ trên đường ra quân, thì lệ luật của những vị  ‘‘quan ban đêm’’ này không cho phép dung thứ. Nên chỉ  ‘‘quán đồng’’ làng Thụy cứ đêm tối như thể là một nơi cấm địa.
* * *
Từ cái ngày cách mạng tháng tám, và nhất là từ cái ngày quân Pháp qua đê làng nổ súng bắn ụ, thì quán đồng làng Thụy hết còn khủng khiếp nữa. Sau ngày cách mạng có ai nói đến cướp? Và cái đêm chạy súng đạn của quân Pháp, dân các làng ven sông Hồng túa chạy vào khu đồng chiêm đã la liệt nghỉ ở quán đồng trong lúc ban đêm mưa rét. Những ngày ấy qua rồi thì quán đồng làng Thụy trở lại cô quạnh như trước, nhất là vào mùa rét mưa phùn gió bấc còn ai mò đến đó làm gì ? Quán cứ chơ vơ đứng đó, vắng vẻ điêu tàn như làng Thụy vậy.
Tới mùa đông năm Tí, từ khi quân Pháp về đóng đồn ở làng, thì thỉnh thoảng đêm đêm quán đồng lại chập chờn có ánh lửa. Thời buổi loạn ly, thiếu gì cô hồn ma chơi ? Nghĩ vậy nên chẳng ai buồn để ý.
Dì Mơ cũng như mọi người dân làng Thụy đâu có để ý đến. Nên vào một đêm tháng chạp năm Sửu, trời sương muối rét buốt thon thót, dì đã giật mình khi thấy bị đưa đến đấy.
Kể cũng chưa khuya, dì đương cắm cúi vá chiếc áo bông cũ, chợt thấy hai người lù lù vào nhà. Họ không hề gọi cổng, cứ xé rào lùi lũi vào tận trong sân từ lúc nào. Có ai xa lạ đâu? Dì nhận ra ngay thằng Lựu, thằng Di hiện nay là dân quân du kích. Chúng yêu cầu dì đi theo chúng vì có lệnh của ủy ban đòi.
-   ‘‘Đòi thì đòi ! Thử xem chúng làm gì nào ? Cũng liều là hết!’’
Dì nghĩ vậy, và dì đứng lên đi theo chẳng cần đôi hồi. Cũng tưởng chúng dẫn đến một nhà nào trong xóm như ủy ban vẫn họp; nhưng không, chúng dẫn dì đi tuốt ra cánh đồng. Dì toan hỏi, song lại nín thinh. Và chúng dẫn dì ra tận quán đồng. Dì ngạc nhiên hết sức, và rùng mình. Bọn chúng làm gì nơi đây ? Không lẽ để tra tấn hay giam giữ dì ?
Trong quán lố nhố người ngồi trên bệ gạch. Ngọn đèn dầu khêu to đủ sáng. Dì nhận thấy ngoài những mặt quen trong Ủy ban xã, còn mấy người lạ mặt. Hình như họ đã bàn định, thảo luận từ lâu, chỉ còn chờ dì đến.
Viên chủ tịch hất hàm hỏi dì. Giọng hắn đanh thép, tàn nhẫn. Hỏi hết điều này đến điều khác. Dì không nhớ rõ, cứ nghĩ sao trả lời vậy. Lời khai thật thà chất phác của dì làm cho hắn thêm cáu kỉnh. Tới lúc thấy bí thư Tùng gay gắt kết tội, căn vặn hỏi dì xem Văn làm gì? Văn đi đâu? Tại sao chị em Thọ bỏ làng đi biệt tích? Dì mưu mô với bọn này để đưa tin cho địch tận Hà Nội như thế nào ? Dì tức quá, nói lại đáo để. Dì giấu bặt việc Văn ra Hà Nội, nhất thiết nói là lên khu lãnh công tác; dì giấu bặt việc chị em Thọ đi đâu, nhất thiết nói là vào Đồng Quan trốn giặc; nào dì quen ai mà bảo là đưa tin cho địch?
Bí thư Tùng lại hạch tội dì đã liên quan mật thiết với gia đình bà giáo là thành phần địa chủ trưởng giả, và buộc tội dì chịu trách nhiệm về việc đĩ Bèo. Tại sao trước đây dì đã lo hỏi Bèo cho con dì, rồi dì lại mua chuộc Thọ? Để cho Bèo phải đi biệt tích?
Dì đã cãi, cãi rất nhiều; dì chẳng nể nang gì hết; dì kể lể cái khổ của dì bị nhà ông Chánh Bá trước đây đối xử thế nào, dì còn hỏi bí thư Tùng đã lui tới thù phụng ông Chánh Bá thì sao? Dì cứ cãi, cứ nói. Máu liều lĩnh của người đàn bà tới lúc cùng không còn đếm xỉa gì nữa hết.
Dì nói, rồi dì sửng sốt không biết tại sao đã nói được như thế; và dì mệt nhọc ngồi sệp xuống đất khi thấy ủy ban nhất thiết hẹn cho dì trong năm ngày phải vào Đồng Quan tìm cho được chị em Thọ về mà trao trả tài sản; nếu không, ủy ban sẽ tịch thu hết và buộc dì vào tội âm mưu giúp người trốn vào vùng địch.
Bọn họ đã rút đi, song cắt hai dân quân du kích giữ dì tại quán đồng, và ra lệnh chỉ gần sáng mới thả cho về.
Dì ngồi bó gối trong đêm tối ở góc quán. Quán không có cửa nên gió từ đồng nội hun hút thổi vào. Càng khuya, sương muối càng buốt, thấm ướt cả áo ngoài làm dì rét run cầm cập. Dì chán ngán cho số kiếp dì. Nào bị gia đình ông Chánh Bá đầy ải, hắt hủi; rồi thắt lưng buộc bụng chịu cực chịu nhục nuôi cu Minh; mới được một hai năm xã Minh khôn Iớn đỡ được phần nào thì loạn ly với cách mạng, rồi lại giặc giã đốt phá chém giết. Nào dì có làm chi nên tội cho cam ? Mà cũng bị buộc vào tội này, tội nọ. Đời dì sao mà khổ thế? Thái bình cũng bị hà hiếp đầy ải; cách mạng thành công cũng chúi đầu chúi mũi mà làm, để rồi cũng bị đe loi; loạn ly thì thân dì như trứng để đầu đẳng. Dì nhìn chung quanh, quán tối đen như mực, cánh đồng cũng tối đen. Chẳng biết hai tên dân quân du kích có ở đấy canh dì hay không nữa? Ví thử chúng không có đấy thì dì cũng chẳng bỏ về trong đêm tối làm chi! Gió vẫn giần giật thổi. Sao mà cô quạnh đến thế! Dì chìm đắm trong bóng tối; mà đời dì cũng thăm thẳm trong đêm dài như vậy. Dì mê man như vô tri giác, gục bên tường ngôi quán chơ vơ, chẳng nghĩ gì đến sáng, mà cũng chẳng còn chờ gì ở ngày mai nữa...
Đến khi tiếng quạ chen nhau, xào xạc trên cành gạo, dì mới ngẩng đầu nhìn ra ngoài thì trời đã tờ mờ. Sương trắng xóa như khói lê thê kéo trên khắp cánh đồng, khiến không nhìn thấy chút gì ở xa được hết. Du kích cũng đi mất từ hồi nào không hay. Những giọt sương đọng trên cỏ rạc ven đường đồng, chân giẫm lên buốt thon thót. Đầu óc dì trống rỗng mà nặng nề. Như người hôn mê, dì cắm cúi trở về xóm làng; bằng linh tính dì băng qua ngả này, rẽ qua ngả nọ mà tới nhà lúc nào không hay. Đâu phải nhà của dì? Chỉ là nhà của chị em Thọ, dì coi giứp! Trong năm ngày nữa phải tìm Thọ về cho được, như lệnh của ủy ban xã.
Tim chị em Thọ về? Nói lạ! Dì cãi làm gì? Tìm ở đâu? Nghĩa là năm ngày nữa, muốn kết tội thế nào cũng mặc. Dù cho biết mười mươi chỗ Thọ ẩn náu, dì cũng không lòng nào gọi Thọ về làng; huống hồ là tuyệt vô âm tín của Thọ.
Ngọn đèn khi đêm dì vội đi, vẫn còn để cháy ở trên phản. Dầu gần cạn hết, nên bấc đã tàn đỏ. Gian nhà vắng lạnh; có người hay không, cũng vẫn vắng lạnh như hồi hôm. Dì Mơ rửa mặt qua loa, mà thấy tỉnh táo phần nào. Dì nhóm bếp đun ấm nước vối. Ngọn lửa nóng bập bùng cháy làm dịu lòng dì, và bắt dì suy nghĩ. Không khí ấm cúng của gian bếp không cho phép dì liều lĩnh nữa ; dì đâm ra băn khoăn, nghĩ bụng chờ để bàn với Minh.
Ấm nước vối mới reo chưa kịp sôi, thì Minh đã sang. Minh vào thẳng bếp, ngồi xuống cạnh dì, mờ bọc xôi gói trong mo cau lột mỏng trắng nõn.
- Đêm qua thấy anh Khước nói, con sợ quá. Cũng đành phải chờ đến sáng xem sao. Dì mới về hay về đã lâu ? Thôi dì hãy xơi cơm nếp con thổi sẵn đây rồi. Thủng thẳng sẽ bàn tính vậy.
- Anh Khước bảo sao ?
- Đêm qua khuya lắm, đến một, hai giờ sáng ấy, anh Khước có lẻn về đằng nhà nói cho con biết là ủy ban họp ở quán đồng, theo lệnh cán bộ phủ về triệu tập, để xử vụ dì thông đồng với những kẻ phản bội. Chúng họp từ lúc chạng vạng, và mãi sau mới cho dân quân du kích đi bắt đì. Bọn chúng cũng thảo luận chán về việc bắt dì và con; vì địch còn đóng đồn ở làng, có bắt chỉ thêm động mà cũng không ích gì. Mục đích chúng là tịch thu hết số thóc của cô Thọ dì mới thâu hoạch, nên đề nghị của bí thư Tùng không được thông qua. Khi dì bị dẫn ra quán đồng, anh Khước có đấy, song ngồi lẩn ở phía sau, dì không trông thấy. Họp xong là anh ấy lẻn về mách cho con biết ngay đấy. Nghĩ khổ thân cho anh Khước, thầm thì xong là lại lủi đi ngay, bảo rằng anh lo địch bắt gặp anh cũng có, mà lo bị ủy ban, nghĩa là bí thư Tùng, nghi ngờ cũng có.
Dì Mơ thần mặt, rồi lặng lẽ rót nước vối vừa sôi ra bát, vừa thổi vừa uống. Nước nóng làm ấm bụng, và dì bình tĩnh hơn.
- À, anh Khước còn nói ủy ban hạn cho dì năm ngày là phải tìm cho được chị em cô Thọ. Bây giờ làm thế nào ?
Dì Mơ đặt bát nước lên thành bếp, nhìn Minh, rồi bảo :
- Thì dì cũng chờ con sang để bàn tính.
Minh gãi đầu, cau có :
- Dì tính, cô Thọ cô ấy bảo với dì con mình là cô ấy trốn vào thủ đô. Chẳng biết có chót lọt không, mà từ ngày ấy đến nay cả năm rồi, còn tìm làm sao ?
Minh suy nghĩ một lát, rồi như vụt nhớ ra :
- Mới lại dì con mình vào Đồng Quan hay Trừ, Chẩy mà tìm ra được cô Thọ nữa, đã chắc gì cô ấy chịu về ?
Dì Mơ bần thần, thở dài như nói một mình :
- Dù có gặp cô Thọ, đời nào tao dấu cô ấy! Phải tội chết. Về để cho bọn chúng bắt bớ ấy à ? Ai mà bất nhân đi làm cái chuyện ấy cơ chứ ! Thôi thì mặc giời, họ làm gì thì làm. Dì con mình chẳng ăn cướp ăn trộm của ai, chẳng ăn không ăn hỏng của ai, thì việc gì mà sợ ? Dì già rồi, dì khổ chán rồi! Dì chả dám làm khổ ai đâu, còn để phúc lại cho con chứ. Thôi thì Minh liệu lấy mà trốn vào Vân Đình hay qua bên kia sông làm thuê làm mướn mà ăn. Dì thi phúc thi phận với trời đấy, Minh ạ.
Nghe dì Mơ chậm rải nói, bao nhiêu đau khổ uất ức hằng chịu đựng như tiết hết ra những lời nói hiền lành nhẫn nhục, Minh thấy nôn nao bực rọc, thương cho dì, mà lại tức giận quá. Đầu óc Minh rối như canh hẹ. Tức bực thật, nhưng tức bực ai ? tức bực cái gì ? Minh chẳng còn hiểu ra làm sao nữa ? Cách mạng để làm gì ? Minh chẳng thấy ai được sướng cả. Nói làm gì đến lão Chánh Bá với phán Thành nữa, nhưng hết thẩy cả làng nào có ai mở mày mở mặt hơn gì trước đâu ? Hay vẫn lo méo mặt và sợ đủ thứ ? Minh miên man thương cho dì Mơ, thì lại nghĩ đến Văn. Tự nhiên Minh dần dần thấy cái lời Văn nói trước đây sao mà u ẩn thế, thì nay Minh như đã cảm thông được. Minh buồn rầu lẩm bẩm:
- Giá mà có anh Văn ở đây, đi theo anh ấy phứt.
Dì Mơ nhìn Minh bằng cặp mắt hiền từ, đầy thương hại. Dì lo cho đứa con nuôi mà quên hẳn mối bận tâm dì chưa giải quyết cách nào hơn là liều gan chịu đựng. Dì đứng lên, bảo Minh:
- Thôi, đâu bỏ mặc đấy. Con cứ sửa soạn quần áo gối ghém; chợt có tin gì đi luôn cho xong.

* * *
Dì Mơ cứ liều ở nhà tính chờ cho mấy ngày qua; dì cũng chẳng buồn làm gì hết, thu dọn mọi đồ đạc nhà bà giáo, xếp đặt cẩn thận, rồi ủy ban muốn thu cứ việc đến mà thu.
Trong khi dì và Minh trông chờ từng ngày thì bỗng nhiên thấy quân trên đồn kéo về đông hơn nữa. Rồi một buổi trưa nghe tiếng trống ở đình gióng lên. Ai nấy ngơ ngác chưa hiểu đầu đuôi ra sao thì lính tây đã chia đi khắp xóm gọi dân làng ra tụ tập tại đình. Minh đương ngồi ăn cơm với dì Mơ phải vội vã lẻn ra ao nấp xuống nước, dưới đám bèo. Bọn lính còn sục vào nhiều nhà xem có người nào là thúc giục bắt ra hết đình làng. Không có thanh niên thì ông già bà cả vậy.
Dì Mơ, cũng như mọi người, ngồi sệp nơi sân đình để nghe hô hào và hiểu dụ. Dì giật mình khi thấy trong mấy người đứng trên thềm đình có cả phán Thành. Lính đã chia nhau gác các nơi góc sân và ở thềm đình. Đâu đó rồi phán Thành đứng ra trước tươi cười ra vẻ thân mật chào và hỏi thăm dân làng. Hắn nói nhiều, thật gãy gọn trơn tru. Nào tiếc cho dân làng Thụy hiền lànhg đương sống bình yên sung sướng, nền nếp thế, bỗng đâu cái bọn cách mạng thừa dịp cướp quyền; mà nào chúng có làm gì ích quốc lợi dân đâu? Nay nhờ có quân đội liên hiệp giúp cho xây dựng lại, nên dân làng cần hợp tác để lập lại nền nếp xưa. Dân làng im lặng ngoan ngoãn ngồi nghe. Những nét mặt sạm nắng, hốc hác vì nghèo đói kham khổ, vì lẩn trốn sợ hãi... còn biết gì mà hỏi ?
Phán Thành lại nói, lại hô hào các bô lão ra gánh vác việc làng việc xóm, đã có quân đội đây bảo vệ, không việc gì mà sợ. Chán không thấy ai nói gì, phán Thành chỉ mấy người ngồi sẵn nơi hàng đầu để mời đứng ra lập lại ban hội đồng. Dì Mơ nhìn ra ngay là mấy người tay chân cũ của ông Chánh Bá, và thấy ai nấy vẩn lặng lẽ, chỉ còn biết nhao nhao trả lời là thuận khi phán Thành hỏi lại có bằng lòng không?
Mọi người giải tán ra về, thì linh tính như báo cho dì Mơ biết là sẽ có chuyện xẩy ra cho mình, nên ra khỏi sân đình, dì ngoái cổ nhìn lại, chợt thấy lão thủ quỹ cựu đương đứng nói chuyện với Phán Thành mà tay còn trỏ về phía dì. Dì rùng mình, cắm đầu rảo bước lẩn vào đám đông dân làng. Đã khuất sau bờ giậu rồi, mà dì còn cắm cúi đi thật nhanh.
Về tới nhà, trống ngực dì chưa hết. Tại sao phán Thành dám trở về làng Thụy? Tại sao lão thủ quỹ lại trỏ dì cho hắn? Tất bọn họ đã có điều nghi ngờ ? Tự nhiên dì thấy sợ. Linh tính như khắc khoải báo trước có điều không hay cho mẹ con dì. Minh nấp sau nhà, thấy dì về, vội vã lấm lét đóng cổng, và nhận thấy nét mặt hoảng hốt của dì, thì khẽ hỏi ngay:
- Có việc gì thế, hả dì ?
Dì không đáp, đi vội vào trong nhà. Minh không dám hỏi nữa, chỉ lo lắng nhìn. Trên vừng trán đã rõ những vết nhăn kia, có biết bao nhiêu là lo âu hãi hùng. Tự nhiên, dì cảm thấy sợ phán Thành hơn cả bọn người ‘‘cách mạng’’ hẹn cho dì năm ngày là phải tìm cho ra chị em Thọ mà trao trả ruộng nương nhà cửa. Đằng nào cũng có thể đầy ải, giết chóc được dì; nhưng cứ nghĩ đến phán Thành hay bọn đầy tớ phán Thành nay bắt bớ, mai đầy đọa thì dì thấy nhục quá. Mà đối với những tâm hồn ngay thẳng thì nhiều khi sợ nhục hơn sợ chết. Dì bàng hoàng bảo Minh :
- Ông phán Thành lại về.
- Lão phán Thành về làng !
Minh sửng sốt nhắc lại. Nó vụt tưởng tượng ngay ra những cảnh đen tối giống như ngày nào. Lão phán Thành, vợ chồng lão Chánh Bá cựu... nó lắc đầu như cố xua đuổi các hình ảnh đáng ghét ấy.
- Hắn về làm gì? Vợ chồng lão Chánh Bá thì ngay khi thủ đô chưa tác chiến phán Thành khôn ngoan về đón tuốt ra Hà Nội còn đâu ! Hồi đó dân làng cũng chẳng để ý gì đến. Chắc bây giờ hắn về định báo thù hẳn?
- Nào biết! Chỉ thấy ông ấy nói ra vẻ nhân nghĩa lắm, lại đưa người này người nọ ra lập lại ban hương hội.
Minh cau mày:
- Để rồi đòi lại số ruộng của nhà hắn, và đòi lại số thóc cấy thuế chứ gì ?
- Mặc ! Có điều tao thấy sờ sợ thế nào ấy. Vì khi ra về, không hiểu sao lão thủ quỹ lại chỉ trỏ tao và nói gì với ông ta ấy.
Dì tặc lưỡi, chán nản :
- Nào tao có làm gì đâu mà hằn với thù ? Thôi thì cẩn tắc vô ưu, con hãy ẩn đi. Đêm đến đi mà ngủ nhờ chỗ khác, đừng ở nhà nữa!
Minh không nói gì thêm, vơ vẩn ngồi nhìn ra sân. Ừ mà phải, lánh mặt đi cũng phải. Nhưng đi đâu ? Minh càng nghĩ càng bực. Nhà của dì con mình đấy ? Ruộng đất đấy, dù cho là chỉ có một vài sào đi nữa! Vậy mà sao cứ phải lén lút lẩn tránh thế này ? Ai cũng có thể đàn áp, hành hạ, bắt bớ được. Bây giờ lại còn lo bọn họ trả thù. Cứ nghĩ đến cảnh làng Thụy trở lại như xưa, vẫn nhà lão Chánh Bá ăn thủ chỉ, lại tuần đinh, tuần xóm, lại thuế má nheo nhóc... là Minh thấy sôi lên sùng sục. Không, chết thì thôi, Minh chẳng chịu sống lại như vậy nữa đâu !
Tính ra thế là đã bốn ngày rồi; dì Mơ cứ lì ở nhà chẳng chịu đi tìm kiếm chị em Thọ về, như ủy ban đã hạn ngày. Minh vừa nóng ruột, vừa lo. Ấy phán Thành và bọn lính thì nói thế, chứ đêm đến cán bộ phủ, rồi ủy ban, rồi dân quân du kích, ngay cả dân làng nữa vẫn đi lại mà nào lính có làm gì được. Minh không dám ở nhà, mà cũng không dám vào trong nhà bà giáo với dì Mơ. Minh đã thầm hẹn Khước có chuyện gì thì cho Minh hay để lo liệu. Minh đành qua nhà anh Tư Lù ngồi chơi, cố giấu mối lo đương xâu xé trong lòng để chờ đợi biến cố. Thử xem đêm nay, ‘‘ủy ban hành kháng’’  bắt dì Mơ rồi xét xử ra sao đã. Tư Lù đâu biết chuyện gì, cứ đem việc phán Thành về làng lập lại ban hương hội ra bàn bạc mãi với Minh. Minh ầm ừ cho qua chuyện, mà trong bụng tính từng giờ, từng phút, và lắng tai chờ nghe xem có thấy Khước tới gọi không.
Vào tháng chạp, trời vừa tối vừa lạnh. Từ hồi lính về làng đóng đồn, thì chó cũng chẳng còn được mấy con, nên khuya đến lại càng im ả.
Tư Lù và Minh bó gối ngồi trên ổ rơm mà nói chuyện thầm với nhau; thắp đèn làm gì cho thêm tốn ? Bên ngoài, nghe như lại lất phất mưa, vì nước rỏ giọt từ tầu chuối này qua tầu khác. Tư Lù vừa ngáp vừa nói:
 - Ở quách đây ngủ với tôi cho ấm! về đằng chú thì cũng đến ngủ chứ làm gì?
Minh chưa kịp đáp, bỗng nghe tiếng súng nổ. Một tiếng, rồi một tràng tiếp theo. Có tiếng quát tháo lẫn với một vài giọng chó sủa. Tư Lù tỉnh hẳn ngủ, nắm lấy tay Minh, run rẩy:
- Biến ! Có biến, chú ạ.
Có tiếng chân người chạy ngoài ngõ xóm. Hai người vùng dậy. Minh khẽ bấm Tư Lù:
- Chúng mình phải tìm chỗ lẩn đi. Nhỡ họ sục vào nhà thì sao?
Tư Lù nắm tay Minh kéo ra ngoài. Minh bước theo. Trời tối như mực, Minh không còn thấy gì nữa hết, cho tới khi bị Tư Lù đẩy mạnh ngã chúi xuống mới biết là ngã vào đống rơm. Giời vẫn lất phất mưa buốt. Rơm cũng ướt. Tiếng Tư Lù thì thào:
- Chỗ này thì kín. Đống rơm vừa khuất vừa dễ nấp. Hễ thấy động chúng ta cứ việc rút ra phía sau là đi tuốt ra bãi sông rồi.
Nhưng vùng xóm Tư Lù thấy yên, không có gì khác. Nhìn lên bờ đê, xa thấy ánh đèn bin và thấp thoáng có người đi. Rồi đâu đó lại im lìm trong đêm tối.
Yên rồi, và đã khuya lắm, hai người mới dám trở vào nhà và chợp mắt được một chút. Vừa sáng, còn tinh sương, Minh vừa tính qua nhà Khước, đã nghe thấy tiếng người ngoài ngõ gọi:
- Anh Tư ơi! Có nhà không ?
Tiếng gọi dõng dạc và quen quen. Minh hoảng hốt vội lẩn ra sau nhà, đứng nép lắng tai nghe.
Anh Tư Lù vừa cất tiếng thưa, thì lão thủ quỹ đã bước vào sân. Minh vội lẻn ra nấp sau đụn rơm. Tiếng lão thủ quỹ oang oang, có vẻ đắc sách:
- Thế nào, anh Tư đêm qua ngủ nhà, có đi đâu không ?
Tiếng Tư Lù ngẩn ngơ đáp :
- Kìa ông thủ quỹ! đêm qua rét thế, mà trời đất này còn dám đi đâu. Cháu nằm chúi ở nhà đánh một giấc cho yên. Mà sao thấy có súng nổ, cháu sợ quá. Không biết có việc gì thế?
Tiếng lão thủ quỹ cười gằn.
- Ấy, chúng nó cứ giở khôn giở dại làm khổ cho làng mình. Có gì đâu, hôm qua chẳng quân đội vào xóm trong bao vây bắt mấy thằng giặc, chúng nó họp ở nhà thờ họ Vũ. Chúng quen như vẫn họp, tướng tối đến là quân đội không đi đâu nữa mà!
- Thế có bắt được ai không, hả ông?
- Có. À, mà này, lâu lắm chẳng gặp bà con làng xóm nửa. Anh xã Minh hồi này cũng đi đâu ấy nhỉ ? Anh có gặp không ?
Minh giật mình khi nghe thấy lão thủ quỹ hỏi đến. Minh xưa nay vẫn ghét hắn, vì hắn ra vào nhà ông Chánh Bá cựu. Cũng may là Tư Lừ ngập ngừng trả lời:
- Thằng Minh con nhà dì Mơ ấy à ? Lâu lắm rồi, từ cái hồi cách mạng cách miếc, nào nó có đi lại đằng nhà cháu đâu. Hình như nó đi theo cô Thọ con nhà bà giáo từ mấy tháng nay rồi thì phải.
- Không có đâu! Xã Minh vẫn ở nhà đấy chứ!
- Ông tìm nó để cho làm rẽ chắc. Hay ông để cho nhà cháu làm nốt cũng thế.
Tiếng lão thủ quỹ cười như chế nhạo:
- Anh này thật thà như đếm! Cũng vì thế mà tôi thương anh mới nói với quan Phán đấy. Nếu không thì đêm qua cũng bắt luôn cả anh rồi.
Tư Lù sứng sốt:
- Chết ! Nhà cháu có dám làm gì đâu ! Từ cái hồi Nhật nó đánh, cháu còn sợ. Nay lại bắt nữa thì nhà cháu chết mất.
- Tôi biết mà. Bên xóm bãi, hôm qua mới bắt có mình thằng chủ tịch Tèo; còn bên xóm đồng... Thôi, tôi còn có việc, nếu anh thấy xã Minh thì bảo hắn lại đằng tôi, có việc này hay cho hắn lắm đấy !
Minh lén nhòm, thấy Tư Lù khúm núm chào và lão thủ quỹ hất hàm trả lời mà phát ghét. Nó chờ lão thủ quỹ đi xa lắm rồi mới dám từ chỗ núp chui ra.
Tư Lù vừa thổi con cúi lấy lửa, vừa nhăn nhó. Lửa đã bén, Tư Lù mới thở dài bảo Minh :
- Đêm qua có động là lính đồn vây bắt ủy ban, lại bắt thêm dân làng nữa. Tội nghiệp cho anh xã Tèo, bị bắt rồi.
Minh ngắt lời:
- Phúc đức mà anh không nói là có tôi ở đây. Tôi núp nghe được hết. Chắc bên xóm đồng bị bắt nhiều.
- Ừ thì tôi cũng nói trí trá thế, chứ lạ gì lão thủ quỹ. Hắn có thương tôi chẳng qua cũng vì cấy rẽ ruộng cho hắn ta bao giờ tôi cũng chịu phần thiệt. Mới lại từ cái hồi nhộn nhạo tôi cũng không có tham gia như các chú. Còn chú Khước nữa, khéo rồi cũng bị bắt mà thôi.
Tư Lù như chợt nhớ ra:
- Này mà hắn nhắn chú lại gặp hắn đấy!
- Tôi chẳng dại. Xưa nay tôi vẫn ghét hắn, làm gì mà hắn chẳng biết.
- Nhưng biết đâu ông phán Thành chẳng nghĩ lại mà muốn lo lắng cho chú!
Minh xì một tiếng:
- Ôi chào ! Nào tôi có họ hàng gì ? Đến dì tôi mà nhà họ còn đối xứ thế nữa là!
- Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng thế thì chú cũng phải liệu thế nào chứ?
Minh lặng thinh. Kể khó nghĩ thật. Đi đâu ? Chắc gì các vùng quanh đây đã yên? Thấy nói con đường số một họ cũng đương phá ụ và lấp những quãng đường xẻ. Chán rồi, Minh ngập ngừng bảo Tư Lù:
- Tôi còn sốt ruột về dì tôi nữa. Nhưng bây giờ mà qua bên xóm đồng nhỡ họ còn ruồng bắt cũng khổ. Thôi, đành chờ nghe binh tình ra sao.
- Phải. Tôi tính chúng nó không bắt tôi, để tôi giúp cho. Bây giờ chú cứ ở đây đi, nếu động dụng lẻn ra phía sau, theo bụi chuối núp nơi đụn rơm rồi rút ra bãi sông. Được cái giậu nhà tôi kín, ở ngoài nhìn vào không rõ đâu. Tôi qua xóm đồng xem dì có cần dặn chú điều gì không là được rồi.
Minh dơm dớm nước mắt:
- Anh hỏi xem hồi đêm bên xóm đồng có ai bị bắt ? Và hỏi dì tôi xem có nhắn gì không nhé !
Nói vậy nhưng Minh chợt nhớ ra đêm qua là vừa đúng năm ngày. Ủy ban đã bắt dì Mơ chưa ? Lúc ủy ban bị vây bắt, có dì Mớ ở đấy không ? Minh lo lắng nhìn Tư Lù như cầu khẩn:
- Xem nếu đi được, anh hỏi rồi cho tôi biết nhé ! Thật là ơn anh đấy.
- Chuyện! Chú nói đến hay. Ơn với huệ gì! Được ngày nào hay ngày ấy, chửa biết chừng chết cả lúc nào. Nghĩ cái đời thằng dân cũng cực!
Tư Lù ra ngõ còn hạ cổng rào tre xuống đâu đó rồi mới đi. Minh lo lắng nhìn dõi theo, rồi ngồi thần lần nơi bếp. Vợ con Tư Lù đã lên ở trên nhà ông bà ngoại chúng, nên nhà vắng tanh. Minh bần thần nghĩ quanh quẩn, quên cả đói. Gói quần áo đem theo sẵn đây rồi; nhưng kể ra đi thì cũng ngại, vì một đồng một chữ không có. Được ít ngô, ít thóc, dễ mà đem theo được ư? Lúc này đâu phải là lúc đổ ra bán được!
Thắc mắc thì cứ thắc mắc vậy thôi, Minh chỉ còn biết ngồi chờ. Tư Lù đi không lâu lắm đã trở về.
* * *
Làng Thụy nhộn nhạo vì chuyện đêm qua. Lính đồn không biết được người nào mách va chỉ đường, đã chờ cho ủy ban hành kháng xã họp được một lát mới lẻn tới vây bắt. Thoạt đầu bắn một phát súng thị uy bắt ngồi yên, song vì nhộn nhạo có người tháo chạy mới bắn theo mấy tràng liên thanh như vậy. Họ bắt mấy người; còn nhờ đêm tối những cán bộ phủ, bí thư Tùng, chủ tịch, đều chạy được cả. Trong số bị bắt có Khước. Còn dì Mơ thì vừa mới bị dân quân du kích bắt tới ủy ban độ nửa giờ; dì đương phải khai về số thóc lúa của nhà Thọ thì lính đồn ập vào. Họ thấy dì bị ủy ban tra hỏi nên không bắt giữ mà thả cho về.
Tư Lù vội vã kể hết cho Minh nghe như vậy, và biết rõ ràng là vì dì Mơ nói cho nghe. Dì Mơ còn nhắn bảo Minh cứ thu xếp sẵn, tối nay dì sẽ sang bàn lại.
Minh thẫn thờ, chán chường khẽ nói như thầm bảo chính mình:
- Đói rồi; đi nấu cơm ăn vậy. Anh cho tôi ăn một bữa nhé ?




Đăng nhập để trả lời
0
Minh đã ngồi yên trên chiếc xe chở khách. Từ Văn Điển về Hà Nội đâu có xa gì? Nên Minh càng thấy băn khoăn thấp thỏm. Minh đã thoát khỏi những bàn tay vô hình vấy máu từ bao ngày chờ dịp chụp bắt Minh. Bóng tre xanh êm ả kia, thật là hiền lành mà sao ngày nay lại ảm đạm, man rợ đầy kinh hoàng đến thế ? Minh không sao hiểu được ! Ao chuôm, ruộng vườn, từ thửa mạ đến luống ngô, từ bụi chuối um tùm đến cây cau cao vóng... hết thảy Minh quen lắm; Minh sinh trưởng, cần cù đổ mồ hôi ở đấy, vui đùa ở đấy, cho đến cả lòng rộn ràng yêu thương cũng ở đấy. Nay phải đành lòng lẻn bỏ trốn đi, vội vã đi cho mau, cho thật xa, như mong thoát khỏi một cạm bẫy đầy hằn thù, chết chóc, nên Minh bâng khuâng ngao ngán quá.
Minh lẻn đi từ hồi ba giờ sáng để có thể thoát được những tầm mắt dò xét của cán bộ quen mặt, và lẩn được những con mắt tàn bạo của bọn lính đồn. Minh mải miết băng các cánh đồng ruộng và lánh xa hết thảy mọi bờ tre xanh rải rác trên cánh đồng
chạy giữa sông Hồng và sông Đáy. Mặt trời lên cao thì Minh tới Văn Điển. Hiếm mà được ngày nắng ấm vào cuối năm như vậy. Bây giờ thì Minh không lo lính đồn, không lo cán bộ và dân quân du kích; Minh đã tới vùng mà Minh thấy nói là vùng tề của ông Bảo Đại. Nhưng Minh lại bắt đầu thấp thỏm, vì vẫn thấy những người lính đủ súng ống, vẫn nhìn thấy những chòi canh với túi cát, với dây thép gai. Minh bỡ ngỡ vì người qua lại buôn bán đông đảo, và cảm thấy mình lạc lõng quá.
Mua giấy về Hà Nội, Minh ngồi thu gọn ở góc xe hàng, hiền lành nhìn mọi người, và miên man nhớ lại mấy ngày qua. Những ngày phải sống chui rúc khổ sở không lúc nào dám ngủ yên. Hai dì con bàn định với nhau mãi, và thế là Minh nhất quyết trốn vào Hà Nội. Không hiểu dì Mơ đã làm thế nào mà có được bốn chục bạc mới cho Minh đi đường. Dì khóc mà bảo Minh cứ yên tâm đi; miễn là Minh sống thì dì có mệnh hệ nào đi nữa dì cũng đành lòng. Minh cũng khóc, khóc nhiều. Minh không hiểu sao lúc ấy Minh sinh ra mụ mị bần thần đến thế, chỉ còn biết nghe, và Minh đã đi. Bây giờ nghĩ lại, tự nhiên vẩn vơ Minh lại băn khoăn tại sao không nói dì cùng đi ? tại sao để dì ở lại giữa biết bao nhiêu bất trắc ? Hay là quay trở về ?...
Tiếng còi của người  ‘‘ét’’  làm Minh vụt thấy đã quá chậm. Tiếng động cơ xe nổ, bánh lăn trên con đường xấu, lắc từ bên này qua bên kia, bắt Minh phải lo hiện tại. Xe vừa nhao về một bên, chợt Minh nhìn thấy như có ai quen quen ở bên đường trong tốp người đương hì hục đào đất đắp ụ xây" bốt" mới.
Minh giật mình nhận ra Tèo và Khước; hai người lem luốc đất bùn, mặt hốc hác, đương chuyển đất dưới con mắt gườm gườm đe dọa của mấy người lính lăm lăm súng nơi tay. Minh vụt hiểu. Tèo và Khước đã là tù binh. Trước đây dân quân phá lộ, đắp ụ, ủy ban xã làng Thụy đã chẳng huy động bao nhiêu dân công vào phá đường số một ư ? Thì bây giờ người dân tù binh lại lấp đường, xây ‘‘bốt =poste’’ gác!
Cái chiến tranh quái đản của người Việt chiến đấu với chính mình!
Nhưng làm sao mà Minh hiểu được ? Minh không dám nhìn hai bóng người quen thuộc kia đương cong lưng dưới bao nhiêu đe dọa, mà chiếc xe vô tình bỏ lại xa dần. Lòng Minh se lại. Còn có gì để mến thương nữa đây ?
Minh như người máy, theo hành khách xuống xe. Bây giờ biết làm gì ? Cứ đánh liều đi; và từ miền ngoại ô, Minh đã đi thẳng tới phố Huế lúc nào không hay. Chợ Hôm nhộn nhịp những người, những hàng, hàng bày la liệt cả vỉa hè, hàng treo lủng lẳng dưới hiên nhà... Đã cuối năm rồi, còn mấy đã Tết mà sang năm Canh Dần. Cũng không hiểu sao Minh cứ đi, mà không ai hỏi giấy tờ ? Và bây giờ thì Minh đã bị cuốn vào dòng người vô danh đương vật lộn tranh sống.
Minh thấy đói, nhưng còn lưỡng lự. Ít đồng bạc còn lại trong túi ném ra đây lúc nào sẽ mất hút ngay lúc ấy chứ vội gì! Minh thẫn thờ đi dọc theo bờ hè, quành ra đường bên, nhìn hết hàng này đến hàng khác. Có tiếng gọi:
- Kìa anh Minh ? Dì đâu hả anh ?
Minh giật bắn người. Ai nhận được ra Minh ở đây? Minh nhìn quanh quất, thì ngay trước mặt không đầy mấy bước đã thấy Thọ đứng lên, tíu tít vẫy:
- Anh ở Nam lên bao giờ ? Sao không lại chơi đằng em thế?
Đột nhiên Minh mừng quá, quên hết lo âu, vội hỏi:
- Cô đi chợ đấy hả !
- Không, em bán hàng đấy chứ!
Thọ chỉ đôi quang gánh trước mặt. Thọ cười:
- Cũng gần hết. Thôi, mời anh về chơi đằng nhà đi.
- Cô chưa bán hết hàng. Hay là... lát nữa tôi quay lại ? Tôi đi quanh quẩn xem chợ cho vui mắt một chút chẳng sao.
Thọ chỉ cười, và lanh lẹ nhắc đòn gánh lên vai, chào mấy bạn hàng ngồi bên, rồi bảo Minh :
- Chẳng còn bao nhiêu ! Thôi về anh ạ; cũng gần trưa rồi, còn làm cơm nữa chứ !
Thọ kéo tay Minh đi thẳng về phía Hòa Mã rồi rẽ sang đường Lò Đúc. Tới quãng vắng, Thọ khẽ bảo Minh:
- May ở chợ đông người ; nhỡ họ thấy anh bỡ ngỡ, rõ là ở hậu phương ra, mà hỏi giấy thì sao ?
Dứt lời, Thọ mỉm cười nhìn Minh:
- Mà bộ anh thế kia, chắc gì đã xin được giấy ?
Minh ngượng ngập, vừa lo vừa tự cảm thấy ngờ nghệch thật.
- Cô bảo, chết hụt mấy lần rồi, còn gì nữa !
Chợt Minh thấy khó nghĩ. Không biết Thọ lấy chồng chưa ? Về nhà Thọ có tiện không ? Mà bây giờ biết đi đâu ? Minh ngập ngừng khẽ nói:
- Cô ở gần đây ? Nhưng để hỏi thăm cô và cậu Sơn cho mừng được yên sở cứ... rồi để cô đi chợ. Ai lại làm mất buổi hàng của cô.
Thọ biến sắc. Thọ cảm thấy như thể Minh nghi ngờ mình điều gì. Hay Minh vào đây có công tác nên không muốn gặp mình? Nàng nghẹn ngào nhìn Minh. Không, vẫn nét mặt sáng sủa chất phác ấy, chỉ gầy và đen đi phần nào chứ đâu mất vẻ hồn nhiên cũ? Nàng nói như phân trần:
- Gặp anh thật là mừng, dù có nghỉ cả buổi chợ cũng không sao huống hồ là bán gần hết hàng !
Ngước cặp mắt đen láy, Thọ chua chát nói như trách móc:
- Em mừng quá nên quên đi. Hay là anh có việc bận không tiện lại chơi đằng nhà?
Minh hoảng hốt. Không biết sao đôi mắt to đen láy như ranh mãnh ấy lại làm Minh bồi hồi như thưở nào; Minh càng luống cuống vì lời nói hờn giận của người xưa, nên không còn giấu giếm gì nữa.
- Chết ! Tôi vừa trốn được ra đến đây. Hiện chưa biết đi đâu? Mà cũng chưa biết làm gì ? Nhưng tôi... tôi...
Minh chợt ngừng bặt. Thọ vụt hiểu.
- Chỉ có hai chị em em thôi. Có ai đâu mà anh ngại ?
Minh thở ra cười ròn rã:
- Từ đêm đến giờ nào đã ăn gì đâu! Cô cho tôi một bữa nhá?
Hai người cùng cười và rảo bước.
Thọ mướn được một căn nhà trong ngõ hẻm cuối đường Lò Đúc. Xóm cũng đông đúc, phần lớn là bán hàng rong, và làm công cho mấy cửa hàng trên phố. Thọ đặt quang gánh, vừa mở khóa, vừa bảo Minh:
- Anh vào chơi. Thôi thì có chỗ chui ra chui vào là được.
Tiếng là một căn, song giữa nhà có vách gỗ chia làm đôi.
Trong cùng có sân nhỏ, và che tấm tôn làm bếp. Thọ chỉ vại nước ở sân, tươi cười nói:
- Anh vào rửa mặt. Anh cứ nhanh nhẹn như hồi nào còn mẹ em anh vẫn tới giúp ấy, có gì đâu mà sợ phiền hà?
Minh rửa mặt; làn nước lạnh làm dịu lại mọi nỗi bâng khuâng. Kể khó nghĩ... Tao loạn, gặp được nhau thật quý ; nhưng rồi đây Minh đi đâu ? Không lẽ ở lại đây ?
Minh quay ra đã thấy Thọ bày đĩa bánh cuốn với chén nước mắm ở khay đặt trên tấm phản gỗ ; nàng mời Minh :
- Bây giờ em mới đi thổi cơm. Anh xơi tạm ít bánh, rồi ngồi nghỉ. Em Sơn cũng sắp về học rồi.
Minh chưa kịp nói sao, Thọ nhanh nhẹn cười thân mật:
- Anh cứ bảo bán hết hàng hãy về ! May còn để anh ăn tạm đỡ đói. Nào, anh xơi thử xem bánh em tráng có khéo không ?
- Vâng, ăn thì ăn. Song tôi muốn hỏi thăm từ ngày ấy...
Thọ gạt đi:
- Rồi lát nữa hãy hay. Để em đi thổi cơm đã.
Dứt lời, Thọ thoăn thoắt đem quang gánh vào góc nhà, xếp hết bát chén, đĩa, đũa... ở thúng đem ra sân sau ngồi rửa.
Miếng bánh mịn ướt trôi qua cuống họng làm Minh cảm thấy yên ấm, êm dịu. Chàng miên man nghĩ và tưởng tượng xem chị em Thọ sống ấm cúng như thế nào, và ngao ngán chưa biết sẽ làm gì trước ngày mai vô định.
Thọ đem chén nước lại, và nhấc chiếc khay hết bánh đi. Minh sứng sốt:
-  Cô để tôi đem vào.
- Anh cứ để tự nhiên; loạn ly này mà còn khách sáo ư ?
Tiếng gạo vo trong giá tre, tiếng nước giội ào ào... Minh nghe sao mà hiền lành và thân mật thế! Bất giác Minh thở dài. Minh có đòi hỏi gì khác hơn là được yên ổn làm ăn, miễn là người ta đừng có bốc lột, áp bức và đầy ải quá mà thôi! Vậy mà không được ! Người ta đã bắt Minh tuần giờ, canh gác ; người ta bắt Minh nạp hết thuế này thuế nọ, chẳng còn đủ để mà ăn, thì bảo chịu đựng sao cho nổi ? Những đã tưởng được thay đổi, ai ngờ vẫn đe loi, áp bức, vẫn nghèo cực đói khổ, lại thêm những tai bay vạ gió. Minh cảm thấy mình yếu hèn quá, bơ vơ quá ! Và Minh thầm ao ước giá có phép lạ gì cho thoát được cảnh cực nhục này...
Minh thần mặt, vẩn vơ suy nghĩ chẳng biết đã bao lâu, thì Sơn bước vào. Thấy Minh, Sơn mừng reo lên :
- Anh Minh, anh lên bao giờ thế ?
Mới cách có một năm, mà Sơn lớn phổng hẳn lên, và rắn rỏi rõ ra một thiếu niên học sinh.
- Cũng vừa mới lên; may gặp cô Thọ ngoài chợ nên mới biết nhà! May quá.
Sơn vừa để cặp sách vào chiếc bàn mộc kê ở góc nhà, đã tíu tít hỏi. Thọ gắt em :
- Hãy cởi áo, đi ăn cơm đã nào!
Và Thọ hạ giọng:
- Anh Minh vừa ở dưới quê trốn thoát lên đây. Làm gì mà hỏi oang oang lên thế, nhỡ ai để y thì làm thế nào ? Em trống miệng lắm!
Sơn im bặt, vội vã thay áo, rửa mặt, và cùng chị sắp cơm lên phản. Thọ cẩn thận khép chặt cửa, mới quay vào mời:
- Chúng ta đi ăn cơm thôi! Anh Minh đi tự khuya tất đói rồi.
      Mâm cơm thanh đạm, song đối với Minh là quá sang trọng, nếu nghĩ đến những lúc phải ẩn nấp có thức gì ăn thức nấy. Minh kể hết, kể hết những biến có ở quê nhà, như thể nói ra được chừng nào là hả được bao nhiêu u uất chừng ấy. Thọ cứ chống đũa nghe, và dơm dớm nước mắt. Nhiều lúc Minh phải ngừng lại, nhắc:
- Kìa, cô không ăn đi. Làm thế nào được ? Vận hạn chung, chứ riêng gì ai ?
Sơn cũng thẫn thờ. Minh như chợt nghĩ ra, vội hỏi:
- Cậu Sơn chóng lớn quá ! Dễ mười ba, mười bốn rồi đấy nhỉ?
Và Minh hỏi thăm về chị em Thọ.
Ngày ấy cũng may cho Thọ vào đến Đồng Quan rồi ngược đường Từ Châu lên, nhập được một bọn cũng hồi cư vào Hà Nội. Quân Pháp hành quân hôm trước nên bữa sau thoát khỏi đi chót lọt. Tới Ngã Tư Sở nhờ một bà cùng đi đường có người nhận cho mà được giấy phép tạm thời vào Hà Nội nên mới tìm gặp được Văn. Vừa nghe nói đến Văn, Minh mừng quá, vội vã hỏi dồn :
- Cô gặp được anh Văn hả ? Bây giờ anh ấy đâu? May quá nhỉ! Lát nữa cậu Sơn đưa tôi lại nhé ?
Minh ngừng ngay lại, nói chữa, như biết lỡ lời, vì Thọ đã kể hết đâu?
- Tôi nói là chiều hôm nay khi nào đi học về đã. Nhưng làm sao cô biết được chỗ anh Văn ở mà tìm?
- Thì hôm anh ấy đi có dặn em mà lại. Em đã ghi cả tên phố và số nhà. Thật phúc đức mà chỗ nhà anh Văn chỉ bị phá phách, mất cửa ngõ và đồ đạc chứ không bị cháy hay đổ. Nếu cháy thì anh Văn cũng chẳng còn ở đó mà tìm. Năm ngoái còn nhiều nhà ở khu này chưa được sửa chửa, anh Văn bảo là mười phần gây dựng lại sáu bảy rồi đấy.
* * *
Văn đã thu xếp xin giấy tờ cho chị em Thọ. Nhà Văn là một ngôi nhà nhỏ có gác ở đường Chợ Đuổi. Những ngày đầu về Hà Nội còn vắng vẻ, heo hút quá, nhiều khi đã muốn bỏ lên khu trên đông hơn, song vì sợ Thọ ra không tìm được nên Văn đành nán ở. Khi Thọ đến thì khu này cũng đã khá đông đúc vui vẻ rồi.
Minh chăm chú nghe, rồi chợt hỏi:
- Đằng anh Văn có ai không hả cô ?
- Không, anh ở một mình trên gác. Dưới nhà anh cho thuê.
Nói xong, đột nhiên má Thọ ửng đỏ, nhưng Minh đâu có nhận thấy.
- Anh có bảo chúng em ở đấy. Rồi anh bắt Sơn đi học. Năm nay em nó học đệ lục rồi!
Minh ngơ ngẩn nghe. Minh đâu biết đệ thất, đệ lục là gì? Thọ làm như không, kể tiếp :
- Anh Văn dạy học tư, nên việc học của Sơn anh lo cho chu tất.
- Thế sao cô không ở bên ấy nữa !
Thọ cười. Tại sao ? Thọ khó nói quá.
- Thì anh tính, cũng phải lo làm ăn sinh sống chứ cứ ngồi ăn báo anh Văn ư ?
Chợt Thọ như nhớ ra là Minh hiện thời chưa biết ở đâu, nên nói chữa:
- Em nói đùa vậy thôi, chứ thư thả sẽ nói cho anh rõ.
Thọ dọn dẹp mâm bát, bảo Minh :
- Anh đi từ khuya chắc mệt. Thôi, anh nằm nghỉ, em thu xếp hàng bán ngày mai. Chiều nay Sơn đi học về rồi cùng sang chơi bên anh Văn.
Sơn đã đi học chiều. Minh thẫn thờ nhìn ra ngõ hẹp. Ánh nắng vàng chiếu xiên lên bức tường hồi cao trước mặt. Minh buồn rầu trạnh nhớ đến xóm làng, và thương cho dì Mơ. Lúc này đây chắc dì khổ lắm, khổ vì lo lắng cho Minh. Tự nhiên không biết sao nước mắt cứ trào ra, Minh buồn tủi quá. Nghe tiếng Minh sịt mũi. Thọ ngó lên, khẽ gọi:
- Anh Minh ơi, xuống em nhờ một tí!
Minh vội lau mắt, đi vào sân trong. Thọ ngồi xay bột trên chiếc ghế gỗ dài. Trông mắt Minh còn đỏ hoe, Thọ tần ngần thương hại, an ủi:
- Việc gì mà anh buồn. Lúc mới ra đây, em cũng thế. Khóc mãi, rồi nghĩ lại thì khóc nào ích gì đâu ?
Minh nín thinh nhìn nước bột gạo trắng xóa rỉ theo đường rãnh quanh cối đá, chảy xuống chậu hứng dưới đất ; dòng nước sánh đặc như sữa cứ theo tay Thọ quay đều mà chảy luôn không ngừng. Minh chép miệng :
- Cô phải vất vả nhỉ?
- Quen đi, mà vui nữa anh ạ. Dù sao thì cũng phải tranh đấu mà sống, và mong cho em Sơn thành người chứ !
- Cô nói đúng, chắc gì cô về làng Thụy nữa?
Thọ ngước mắt nhìn Minh như cố tìm hiểu ý Minh, và chậm rải trả lời:
- Ai bảo anh thế ? Em có thích sống ở Hà Nội đâu!
- À, mà khi nãy ăn cơm cô chưa nói hết chuyện. Thôi để tôi xay đỡ cô đã.
- Vâng, mới lại em còn phải phi sẵn hành mỡ và pha nước chấm, mai kịp đi bán sớm; lát nữa còn đưa anh sang chơi bên anh Văn.
Minh vừa ngồi vào chỗ Thọ đứng lên, đã hỏi:
- Ai dậy cô làm bánh cuốn thế ?
Thọ cười:
- Chuyện ! Bụng đói thì chân phải bò, chứ ai dậy! Nói đùa anh vậy thôi, chứ kể ra cũng chỉ là ngẫu nhiên cả.
Thọ không cười nữa, đôi mắt vụt trở nên đăm chiêu, giọng nói êm nhẹ như xa xăm:
- Em đã nói là anh Văn bảo ở đấy. Anh Văn chu tất lắm, lo cho chúng em đầy đủ mọi thứ. Ở đấy có đến hai tháng, em ở nhà lo cơm nước; em Sơn đi học. Còn anh Văn, anh vừa dậy học, vừa viết báo, mà cứ thấy anh đi luôn nhiều khi không ăn cơm nhà. Em cũng nghĩ mãi; suy đi tính lại em có nói với anh Văn là em tính buôn bán để sinh sống. Anh cười mà báo : ‘‘- Bộ cô tưởng tôi không kiếm đủ tiền ăn cho ba anh em mình hả ? Cô cứ yên trí đừng ngại gì tiền nong.’’ Nhưng em không nghe, em nói mãi rằng ở thế cũng bất tiện, nếu có thương em thì anh cứ cấp vốn cho, và đi lại trông nom em Sơn học hành thành người. Vì vậy mà anh kiếm thuê cho em căn nhà ở đây thật yên ổn, và đưa tiền em làm vốn buôn bán.
Minh ngạc nhiên nhìn Thọ. Trên vừng trán cao ấy như thấy rõ cái liều lĩnh thưở nào.
- Từ xưa cô ở nhà có buôn bán gì? Cô gan thật!
- Cũng là bất đắc dĩ, anh ạ. Chả là mỗi khi qua bên chợ Hôm mua thức ăn, em có hỏi mấy cô bán hàng sau khi đã mua quen, rồi cứ về chợ Mơ buôn lại. Thật ra cũng chỉ thêm cặp, hàng tháng anh Văn vẫn giúp thêm. Lâu dần ở đây thấy bà Tư bên cạnh tráng bánh cuốn mà phong lưu em cố hỏi. Bà ấy tốt lắm, nên chẳng giấu nghề mà bày cách cho làm, Mới lại mỗi người bán một khu cũng chẳng thiệt hại gì. Em đổi sang tráng bánh cuốn từ ba tháng nay thì tiềm tiệm đủ, mà anh Văn nhất định tháng tháng giúp thêm. Kể cũng ngại ngùng, nhưng anh ấy bảo : ‘‘- Cô đến khó tính! Tôi để tiền làm gì ?’’ Em có nói là anh không lo việc nhà cửa của anh ấy ư ? Thì anh cứ cười ngất mà bảo : ‘‘- Đất nước như thế này mà cô bảo tôi lấy vợ hả ?’’ . Em vẩn đành cầm, và giữ đấy.
Thọ ngừng lại; nàng vừa thái xong bát hành hoa. Minh vẫn chăm chú nghe, và đều tay xay cối bột. Chỗ gạo ngâm vớt ra rá đã đổ dần vào cối tới hết.
Thọ không thấy Minh nói gì, lại tiếp :
- Thật tình ra, em không muốn ở đằng nhà anh Văn có phải là sợ tốn kém cho anh ấy hay sợ tai tiếng gì đâu ? Mà vì em cảm thấy rằng anh Văn còn lo lắng nhiều việc, cần hoạt động nhiều, không nên làm rộn anh ấy.
Thọ đứng lên, rửa tay sạch sẽ, rồi mới trở lại quấy chậu bột, cầm chiếc đũa cả vớt lên, trông làn bột chảy xuống mà nói:
- Gần xong rồi. Anh nghỉ tay em làm nốt.
Minh thẫn thờ đứng lên nhìn Thọ làm, không biết nói gì nữa. Thọ cũng vậy, như bận với bao ý nghĩ rồn rập trong óc mà cắm cúi làm như không biết có Minh đứng đấy. Giây lâu, Minh thở dài, nới:
- Như thế cô cũng tạm yên. Lát nữa đây, gặp anh Văn chưa biết tôi sẽ nói được gì với anh ấy ? Thật là khổ ! Sểnh nhà ra thất nghiệp; muốn kiếm cho ra chỗ làm thuê làm mướn độ nhật cũng phải quen mới có chứ. Chẳng biết anh Văn có giúp được không ?
Thọ ngẩng lên nhìn tận mặt Minh, thản nhiên đáp :
- Thế nào anh Văn chẳng hết sức giúp. Còn nếu không tiện tạm ở đằng anh Văn, thì về đây chứ sao ?
Minh nín lặng, chưa biết nói thế nào, thì Thọ đã chua chát cười:
- Em nói thật đấy ! Loạn ly thế này không cưu mang đùm bọc nhau được ư ? Còn tai tiếng... ở đây, em sẽ nói anh là anh ruột ở dưới Nam tìm được lên, ai biết ? Mới lại, tai tiếng, thì đã tai tiếng ở tận làng kia rồi, phải không anh ? Miễn là không làm điều gì xấu thì thôi!
Minh không nói gì nữa. Bao nhiêu hình ảnh cũ hồi nào quên hết nay vụt trở lại. Thọ không còn là cô Thọ ung dung nhàn tản sống nữa; nhưng ngược lại, Minh thấy ngần ngại quá... Đồng ruộng bao la kia mới là quê hương Minh ; ở đây, Minh tự cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, và bất lực.
Ánh nắng đã nhạt; trời ngả về chiều. Tiếng xe và tiếng người ngoài đường vẫn vang tới ngõ hẻm thành một tiếng động ồn ào hỗn tạp lạ với tai Minh. Minh nóng ruột chờ Sơn về. Có lẽ gặp Văn, Minh sẽ định lại được hướng đi cho đời mình chăng ? Bây giờ chắc hẳn Văn không còn sợ sệt giấu giếm gì Minh nữa.
Sơn về thì Thọ đã xong việc. Thọ hối hả giục:
- Nào chúng ta lại anh Văn đi, rồi về hãy ăn cơm.
Như sợ Minh không hiểu, Thọ giảng giải:
- Chả là thường thường dậy học về, anh ấy nghỉ ngơi chốc lát rồi lại đi ngay. Nếu ăn cơm xong mới sang sợ không gặp đâu.
Trời nhá nhem. Đèn ngoài đường đã bật sáng. Minh ngơ ngác vì quen với đường đất, quen với bóng tối và vắng vẻ kia. Sơn đi bên cạnh, vui vẻ bảo Minh :
- Lại thăm anh Văn, rồi anh về bên này ở với em cho vui. Em còn hỏi anh nhiều chuyện dưới làng.
Minh bật cười:
- Chú còn phải học nữa chứ. Có chuyện gì đã kể hết từ sáng còn đâu!
Văn còn ở nhà thật. Văn đương nằm trên ghế ngựa, mặc nguyên quần áo vì mới đi về, thấy ba người vừa lên khỏi cầu thang thì vùng nhỏm ngay dậy.
- Tôi biết mà ! thế nào rồi chú cũng phải ra đây ! Nhưng còn dì?
Văn đương cười nói, bỗng vụt trở lại trầm lặng.
- Chắc hẳn dì không chịu đi. Dì vẫn bình an đấy chứ ?
Ba người đã ngồi xuống ghế. Văn vẫn đứng nhìn Minh từ đầu đến chân:
- Chú tới đây hồi nào thế ?
- Em đến từ hồi gần trưa. May mà được gặp cô Thọ bán hàng...
Văn cười:
- Ý hẳn mấy người đã tha hồ hỏi chuyện nhau rồi ! Bây giờ thì thế này... Lại tất cả đằng cô Thọ ăn cơm cho vui, rồi chú Minh về ngủ đây với tôi. Đêm nay phải hỏi chuyện chú nhiều lắm ; nhất là mai chủ nhật tôi nghỉ, lại càng thư thả.
Rồi không để cho ai kịp trả lời, Văn nói tiếp:
- Nào đi luôn thôi! Cô Thọ chẳng mời tôi cũng cứ ăn !
Văn đẩy mấy người ra cầu thang, rồi tắt đèn, khép cửa, theo sau.
Ra tới đường. Văn rỉ tai Sơn, rồi đi lên nắm cánh tay Minh bảo:
- Chú ra vừa hay quá. Có nhiều việc cần đến chú.
Rồi quay sang phía Thọ :
- Cô gan thật nhé ! Minh ra từ trưa mà chẳng qua bảo cho tôi biết mấy.
Văn nói cười luôn miệng, hết hỏi Minh lại hỏi Thọ những chuyện không đâu, nên tới nhà Thọ lúc nào không hay.
Thọ vừa mở cửa, bật đèn, thì Văn bảo:
- Chắc sợ tôi đi vắng nên kéo sang ngay, chưa kịp thổi cơm chứ gì ? Càng hay, cùng làm cho vui.
Thọ không hiểu sao Văn lại vui thế, trái với ngày thường vẫn trầm ngâm. Ba người kéo xuống sân, xúm vào vo gạo, nhặt rau tíu tít. Chợt Thọ hỏi:
- Quái, thằng Sơn đâu ấy nhỉ ?
- À, anh quên cái này mới bảo Sơn đi lấy.
Minh bỡ ngỡ, ngượng ngập nhìn Văn và Thọ nhanh nhẹn làm cơm. Văn vẫn chưa hề hỏi Minh câu nào về việc làng Thụy cả, mà nói qua chuyện này chuyện khác ở Hà Nội, về việc Sơn học hành, về việc Thọ buôn bán. Văn vui lắm, hay hình như là vui lắm. Thọ không còn lạ gì tính Văn nữa. Lúc trầm ngâm, hay lúc quá vui vẻ lại chính là những lúc Văn có điều gì bận tâm nhất. Còn Minh, Minh chỉ biết nghe.
Ánh đèn điện ở khu Nam yếu ớt nên đỏ hoe, song Minh thấy sáng lắm. Ánh sáng làm cho con người ta dễ vui hơn, và đỡ sợ hãi nữa.
Cơm vừa dọn lên phản thì Sơn cũng về tới. Ba người đã ngồi vào mâm, Thọ giục :
- Sơn ơi, rửa mặt mau ra ăn cơm chứ, các anh chờ.
Rồi nàng cười, má ửng hồng không biết là vì vừa ở bếp nóng ra hay là vì mừng rỡ;
- Anh Văn ác lắm cơ, không bảo sớm, nên chẳng có gì ăn. Các anh sơi tạm một bữa.
Sơn đã bưng một đĩa ra, Vặn cười :
- Tôi đã nhờ Sơn tiếp tế đây rồi, cô khỏi lo.
Thọ nhìn đĩa thịt quay Sơn đặt vào mâm, khẽ lắc đầu :
- Anh Văn này thật lạ. Việc gì anh cũng suy tính sắp đặt cả.
Văn mỉm cười:
- Đời con người ta há chẳng là một bài toán ư? Việc gì là không có sắp đặt ? Mình không tự sắp đặt thì cũng bị kẻ khác sắp cho, thế chẳng là khổ hơn ư ?
Văn ngừng một chút, bảo Minh:
- Bây giờ chú mới ra Hà Nội còn bở ngở; chỉ ít hôm sẽ quen ngay. Tôi vẫn nhớ mãi ngày nào trước khi trốn về đây, ba anh em mình ngồi ở đầu hè nói chuyện gần thâu đêm. Nhưng thôi hãy ăn cơm đã, mọi việc tính sau.
Minh lại kể những việc xảy ra ở vùng Thụy từ ngày Văn đi; càng nói, lòng Minh càng se lại, tưởng chừng như vừa mới qua một hai bữa đây thôi. Minh còn mơ màng tưởng thấy rặng tre xanh xơ xác, những đêm tăm tối mưa rét, và dì Mơ đương cắm cúi trên cánh đồng. Dì còn được yên thân đổ mồ hôi mong lấy nổi hột gạo ăn không ? Rồi lại bóng Khước với Tèo còng lưng chuyển đất đắp ‘‘bốt gác’’ ở ven đường... vừa mới sáng hôm nay! Minh không thể còn hiểu nổi được cuộc đời mình ra sao nữa.
Văn và Minh trở lại căn gác đường Chợ Đuổi cũng đã mười giờ đêm. Minh thấy mệt mỏi, nhưng đầy lòng thắc mắc, không sao chờ đợi được, nên thấy Văn thay xong quần áo là hỏi ngay:
- Anh Văn ơi, vì không thể yên thân ở làng em phải liều chạy ra đây. Nhưng bây giờ thật khó nghĩ. Biết bao giờ mới yên mà trở về quê? Anh có cách gì kiếm công ăn việc làm cho em sống qua ngày không?
Văn chăm chú nhìn Minh. Nét mặt sáng sủa, quá chất phác kia tuy mới ngoài hai mươi tuổi nhưng đượm màu khói lửa nên không còn hồn nhiên như thuở nào. Chàng thương hại, ôn tồn bảo:
- Hãy cứ yên trí ở đây, tôi xin giấy tờ xong đã rồi liệu. Nghĩ đến sẽ làm gì đây ? hơn là lo không có cơm ăn. Đấy, cô Thọ còn kiếm đủ hai chị em ăn, nữa là sức chú!
Nói vậy, mà tự thâm tâm có lẽ Văn còn thấy bâng khuâng lo lắng hơn cả Minh nữa.




Đăng nhập để trả lời
0
Trời nóng quá, nhất là nhà cửa cứ san sát, một vài gốc cây ở vỉa hè đâu có che nổi nắng, nóng ? Hơi từ đường nhựa, từ các mái ngói, từ các mặt tường vẫn âm ỉ tiết ra trong không khí tuy mặt trời đã lặn từ lâu.
Quen với đồng ruộng bao la khoáng đãng, quen với những lối xóm dâm mát dưới bóng tre xanh dờn, nên Minh cảm thấy Hà Nội sao mà chật chội, bức bối thế ! Thấm thoát bao nhiêu tháng rồi ? Minh đã qua ngày Tết, đã để hết cả mùa xuân mà bặt vô âm tín từ nơi xóm làng. Nghe lời Văn khuyên bảo, Minh cố gắng học việc, nên bây giờ Minh đã được xem là một thợ phụ nơi xưởng máy có công xá hẳn hoi. Văn còn khuyến khích Minh buổi tối cố gắng học thêm. Ban đầu, Minh khổ lắm, vì cái lề lối làm việc ở tỉnh thành đầy phiền toái, buồn tẻ và gò bó. Hồi ở làng Thụy, kể làm ruộng khó nhọc thật, chẳng nề gì mưa nắng, sớm tối, nhưng Minh vẫn thấy ung dung thư thái lắm. Xóm làng Thụy, và cho đến cả tổng Thụy nữa, Minh chỉ thấy như thể một căn nhà rộng lớn, Minh phởn phơ, thân mật tung tăng sống. Ngày nay, Minh tưởng chừng thiếu mất một phần nào trong lối sống hàng ngày, và tự cảm như bản thân đã phải thui chột đi rồi.
Văn nhiều lần an ủi Minh, và chăm lo đến Minh từng phút. Có lần Minh rớt nước mắt bảo Văn :
- Anh thương em nhiều quá. Anh đừng bận tâm làm gì ! Em quen dần, anh ạ. Chỉ sợ là em ngu dốt quá không học nổi một nghề, để thêm lo cho anh. Thôi, hay để xem đâu cần phu phen em làm tạm, đủ sống qua ngày là được.
Văn nhất định không nghe, bắt Minh tới xưởng máy Văn quen biết để học, và giữ Minh ở với mình. Ngày hai buổi, Minh qua bên Thọ ăn cơm, vì Văn thất thường đâu có giờ giấc ở nhà ?
Bao nhiêu tháng qua, Minh nhẩm lại. Chóng quá ! Kể ra bây giờ với số lương thợ phụ, Minh đủ nuôi miệng rồi ! Minh cũng không phải cô độc, vì có Văn, có Thọ và Sơn đấy ! Nhưng vẫn bâng khuâng làm sao ! Dì Mơ ở quê nhà, giờ đây sống chết ? Ruộng vườn nhà cửa có bị đốt phá nhiều nữa chăng ?... Và rồi đời Minh sẽ tới đâu ? Đột nhiên, Minh thấy kinh hoàng nghĩ đến vô định của ngày mai. Trước đây, Minh chỉ bâng khuâng mơ hồ về tương lai, nhưng nay Minh đã cảm thấy rõ ràng trống rỗng. Văn càng chỉ dẫn giúp Minh học hỏi, Minh càng thức cảm cuộc đời mờ tối của người dân như Minh. Nhật báo hàng ngày đã buộc Minh phải theo dõi các tin tức, biến chuyển; và như giọt nước thấm dần, khiến cho Minh không còn tin tưởng vào đâu, mà nhất nhất mỗi cái mỗi hoài nghi... Không phải riêng gì Minh ! Cả đến Thọ cũng như mắc chung cái bệnh hoài nghi ấy. Hai người hàng ngày gặp nhau, nên càng thân mến, và vô tình đã trở thành đôi bạn thiết.
Minh tắm xong thấy khoan khoái dễ chịu. Dễ chịu nữa, vì chiều nay là chiều thứ bảy, mai Minh không phải làm. Minh ngồi gần cửa sổ của căn gác hẹp, nhìn xuống đường. Bóng người đi lại dưới ánh đèn đỏ kệch trông đến là u uất. Tiếng động của xe chạy, và tiếng ồn ào của con đường Huế đông đảo từ xa vọng lại càng cho Minh cảm giác là đời sống nơi đô thị quá ô trọc. Minh ngồi thừ người, miên man nghĩ vẩn vơ, đèn không buồn bật sáng. Tiếng giầy Văn đi lên, Minh cũng không nghe. Đến khi Văn hỏi:
- Minh ơi! Ngủ rồi ư ?
Minh mới giật mình, vội trả lời:
- Không, em ngồi chơi đây.
Văn bật cười:
- Sao để tối mò như vậy ?
- Em quên mất. Mới lại ở nhà quê, ngồi tối quen đi.
Ánh đèn bật sáng, Văn nhìn nét mặt Minh còn thần lần, thì vụt hiểu. Văn ái ngại:
- Minh lại nhớ quê rồi. Anh đã nói, Minh chẳng nghe.
- Cũng không hẳn là nhớ đâu, anh ạ. Nhưng, anh đã ăn cơm chưa?
- Ăn rồi. Và tối nay không có việc gì, được ở nhà nghỉ, tha hồ nói chuyện.
Văn vừa cười, vừa nói, thay quần áo, rồi Văn nhắc ghế lại bên cửa sổ, và bảo Minh:
- Thế mà chú có lý! Tắt đèn ngồi nói chuyện lại thú.
Ánh đèn bên kia đường chiếu lên qua cửa sổ thành một khoảng sáng yếu ớt trong căn phòng tối, Văn nhìn Minh đầy ái ngại. Nhưng vệt sáng yếu ớt chiếu qua mặt Văn, nào Minh thấy được, Văn cảm thấy phải nói, nói hết những ý nghĩ của mình; không thể dẫn Minh đến ngã ba đường rồi bỏ mặc.
- Ngồi nói chuyện thế này, lại nhớ hồi nào còn ở làng Thụy. Hồi đó chắc chú thắc mắc về tôi lắm phải không ?
- Vâng, có thế. Nhưng anh đi rồi thì em bắt đầu hiểu được phần nào.
- Nhưng bây giờ chắc chú lại thấy tôi khó hiểu ... Tôi tưởng có thể nói nốt những điều tôi muốn nói với chú.
Ánh sáng phớt qua nét mặt nghiêng nghiêng làm nổi rõ nét ưu tư trên khuôn mặt hơi khắc khổ của Văn.
- Tôi biết là chú đang buồn. Buồn vì nhớ đến dưới quê, và nhất là nhớ đến dì... Nhưng cũng buồn vì hoang mang không biết rồi đây sẽ làm gì ? Và sẽ ra sao ? Bây giờ dù cho yên hàn ngay, chú trở về dưới quê, tôi dám chắc chú cũng vẫn sẽ hoang mang. Kể ra phần nào cũng là lỗi tại tôi... Chú còn nhớ cái đêm ba chúng mình ngồi ở đầu hè nói chuyện trước khi tôi trốn về thủ đô? Tôi đã nói hết thắc mắc của tôi khi đó. Thì bây giờ phần nào chú đã lây cái thắc mắc ấy rồi. Và nếu nghĩ lại cái ngày cách mạng nào đó, cũng như bây giờ hàng ngày chú đọc báo, tất chú đã nhiều lần phải hoài nghi hờn giận như tôi hồi nào, mà nghĩ: ‘‘Giải phóng ! Giải phóng cho ai ? Giải phóng cái gì ? Thế nào là giải phóng ?’’ Nghĩa là chú đương tìm hiểu.
Văn ngừng lại, chăm chú nhìn Minh, và sung sướng thấy Minh như đồng ý.
- Vì vậy tôi đã mừng mà thấy Minh ra đây. Không phải là tôi muốn tăng cường số người hoài nghi hoang mang, để mong có nhiều người lây cái bệnh mình đương mắc! Vì hoài nghi, không tin tưởng một cái gì hết, rồi cho đó là một thích thú thì thật là đáng tội. Nhưng chúng ta được phép hoài nghi để đi tìm một con đường chứ! Có phải những người như bọn cán bộ phủ, bí thư Tùng, sẽ đem lại sung sướng cho dân quê không? Có phải những bọn người hống hách thụ hưởng, quá ư xa hoa mà chú thấy trước mắt đây mới giải phóng nổi chúng ta không ?
Văn cười, tiếng cười mỉa mai, chua chát.
- Không, chú ạ. Bọn chúng sống với dân quê thật đấy, nhưng cũng chỉ như lũ người vùi đầu vào lợi lộc luôn luôn mong thụ hưởng kia, làm sao hiểu biết nổi người dân chúng ta muốn gì đâu? Có bảo nói cho chúng ta hiểu được cái điều chúng ta muốn hiểu đâu ?
Có lẽ bây giờ chú chưa hiểu tôi, cũng như hồi hai, ba năm trước đây chú đã chưa hiểu tôi. Nhưng không sao, tưởng cần phải nói, rồi chú sẽ hiểu dần. Tôi nghĩ là còn lâu, chú ạ ! Chiến tranh còn lâu ! Ai kháng chiến đây? Những người ở hậu phương hả? Không, không có đâu ! Kháng chiến là những người đương bền bỉ chịu đựng, đương âm thầm bền bỉ xây dựng kia. Chính phải là những người như chú, như anh em mình! Họ mơ hồ hết! Không biết gì đến người dân, mà cứ đòi xây dựng cho nhân dân ư ? Sống trong xa hoa sa đọa kia mà đòi gần và hiểu được dân ư? Nói lạ! Mà những kẻ xuẩn ngốc đòi diệt hết một lớp người này rồi nặn một lớp người khác, lại có thể thành công nổi ư ? Không, rồi một lúc kia cơn mê ngủ sẽ phải tàn.
Tôi nghĩ chú cứ bền chí học lấy nghề mà sinh sống đã. Để rồi còn trở về làng Thụy, còn trở về đồng ruộng, chứ sống mãi ở đây làm gì ? Chỉ có những người như chú sau này về đồng ruộng thì lúc đó sẽ nói đến chuyện giải phóng thật sự đấy. Lúc ấy chú sẽ không còn thấy hai cái thế giới cách biệt đầy hằn thù, nghi ngờ, như cái năm tản cư hồi nọ.
Văn vùng đứng lên, đi đi lại lại.
- Cho nên tôi nghĩ và tôi đã nói là tôi phục dì Mơ lắm. Phải bền bỉ chịu đựng đã. Chúng ta còn đau khổ; chiến tranh còn lâu!
Văn như vụt tỉnh, vùng cười lớn:
- Chú nghe tôi nói, chắc chỉ bực mình thêm. Nhưng rồi chúng ta sẽ hiểu nhau, không sao đâu. À, bây giờ con đường Hà Nội đi Nam xe ô tô hàng đã chạy tới Guột rồi đây. Chắc nay mai thế nào cũng có tin ở quê nhà. Khi nào tạm thời đi về được, sẽ biết tin của dì. Để mai, tôi đi hỏi lại. Bây giờ khuya rồi, chú đi ngủ đi, tôi chấm bài một lát.
Rồi như không cần biết Minh có hiểu hết những điều mình nói hay không, Văn bật đèn sáng, ngồi vào bàn viết kê ở góc buồng. Văn ngoái cổ lại, nhìn Minh và cười thân mật:
- Chúng ta muốn gì ? Và làm gì bây giờ đây ? Rồi anh em mình còn bàn bạc lại. Thôi, chú ngủ trước nhé.
Minh yên lặng nhìn Văn cắm cúi dưới ánh đèn, trên xấp bài, không cần biết nóng nực oi ả.
Sáng hôm sau, Văn đi là Minh cũng đi. Minh sang ngõ Lò Đúc. Thọ đã đi bán hàng, Minh ở chơi với Sơn cho đỡ buồn, vì Minh đã chán lê gót trên các vỉa hè Hà Nội. Khi người ta không đủ đồng tiền mà cứ ngắm mãi mọi thứ hàng, và nhìn mãi những con người sung túc thản nhiên thụ hưởng đến mực trâng tráo, thì không thể còn là một cái thú được nữa. Minh dần dần được biết nhiều con người bực bội như Minh, phải vất vả tranh đấu mưu sinh, và cố gắng tìm học, tìm hiểu, và trông chờ một sự gì mới lạ. Cho nên những ngày nghỉ Minh muốn luôn luôn gần Sơn; Minh muốn biết đời sống nơi trường học, và thích thú được nghe Sơn nói đến nghịch ngợm, và những hy vọng mong muốn của lớp thanh niên đang vươn lên trong cảnh khó khăn thiếu thốn.
Cơm trưa xong, Minh không về căn gác quen thuộc, vì dư biết Văn cũng chẳng có về. Minh tự nhiên xem như thể công việc của mình, ngồi vào ghế xay bột thế cho Thọ thu dọn và sửa soạn phiên chợ ngày mai. Sơn đã lại nhà bạn hồi nào ; chỉ còn hai người lúi húi làm việc. Tay Minh xoay tròn tai cối đều đều như máy, mắt Minh nhìn những hạt gạo lần lần trũng xuống và rơi vào lỗ cối, nhưng óc Minh miên man nghĩ tận đâu đâu. Minh lại bắt nghĩ đến những lời Văn nói hồi hôm. Quả thật có nhiều điều Minh chưa hiểu rõ ý Văn, nhưng không biết sao cứ nghe Văn nói, tự nhiên Minh cảm thấy vơi được bao nhiêu thắc mắc, và tưởng chừng như lần lần đã có được một định kiến. Minh không thấy thèm muốn hay thích thú nếp sống vật lộn và giả tạo ở thành thị; nhưng ngó lại đằng sau, Minh cũng tự thấy cuộc đời quá ư bình thản và tăm tối của dân quê dưới bóng tre xanh là u uất quá, không thể nào mà Minh khứng chịu được nữa. Làn nước bột sánh và trắng như sữa tự rãnh cối chảy xuống chậu không ngừng ; Minh đắm đuối nhìn như thấy cả một làn sinh khí mới dâng lên...
Tiếng Thọ làm Minh chợt tinh:
- Anh Minh, anh nghĩ gì thế ?
Minh nhắc lại cho Thọ nghe những điều Văn đã nói mà Minh nhớ được. Thọ chậm rải đáp :
- Anh Văn vẫn ham dạy học lắm ! Anh bảo là phải trông ở lớp người mới này ; phải tranh thủ lấy họ mà xây dựng; dạy học có phải là cứ lấy một mớ sách nhồi nhét cho họ là xong đâu ! Kể cũng lạ, nếu anh Văn muốn, làm gì mà anh chẳng có được một địa vị sang trọng giầu có.
- Thế bây giờ cô nghĩ thế nào ?
- Nghĩ gì ? Em chẳng nghĩ gì hết. Cứ cố buôn bán trông cho em Sơn ăn học thành người, rồi được trở về dưới quê. Em không muốn làm rộn anh Văn là vì vậy; anh ấy còn nhiều việc phải làm hơn mình chứ!
- Tôi thì khác. Tôi còn thắc mắc không hiểu sao anh Văn lại cố bắt tôi học nghề thợ máy này, lại khuyên tôi tối tối học thêm, mà bảo tôi rồi sẽ trở về đồng ruộng chớ sống mãi ở tỉnh thành làm gì?
- Anh nghĩ thế nào ? Anh không muốn về dưới quê làm ruộng nữa à ? Em thì trái lại, yên hàn là em trở về, thấy cần phải trở về là khác.
- Về chứ ! Có điều là trở về quê làm ruộng thì chưa biết cần gì mà phải học nghề? Cần sinh sống tạm bợ thì làm công việc qua quít đủ ăn không được ư ?
Có tiếng cười ròn rã, và tiếng Văn vui vẻ :
- Bao giờ chẳng là sống tạm bợ ? Nhưng tạm bợ hay không thì cũng phải học lấy cách sống, để sống cho ra sống chứ ?
Thọ và Minh cùng quay lại. Văn đã đứng tựa cửa lối xuống sân, mỉm cười nhìn hai người.
- Kìa, anh đến hồi nào thế!
- Hai cô chú coi nhà, người ta lên vào đứng nghe có cả giờ đồng hồ mà không hay biết! Ngày xưa thì anh đọc sách, em quay tơ; còn bây giờ thì người ta xay bột và người ta thái hành, mà cũng quên cả trông nhà!
Dứt lời, Văn lại khanh khách cười, làm Thọ và Minh cùng đỏ mặt. Minh cãi chữa thẹn :
- Em đương thảo luận về cách sống đấy chứ !
- Nói đùa cho vui đấy ! Tôi vừa tới, thấy cửa ngỏ, khẽ lẻn vào trêu hai người, chỉ nghe lỏm được lời chú nói.
Thọ chưa hết đỏ mặt, cười gượng:
- Mặc ! Đã cất lẻn vào, phải phạt anh xay bột thế cho anh Minh!
- Ối chao ! Phạt gì chứ phạt thế không lo ! Cô tưởng tôi không làm được ư ? Chú Minh, chú đứng lên, nghỉ tay xem tôi xay đây này.
Văn vừa nói vừa khẽ đẩy Minh ra khỏi chiếc ghế dài, rồi nhanh nhẹn ngồi xuống. Minh nhìn Văn làm, buột miệng khen :
- Anh Văn xay nhẹn nhỉ!
- Cũng phải học mãi đấy chứ, chú ạ ! Cái hồi tản cư về dưới làng, chú chẳng thấy tôi qua bên nhà học dì mà cũng biết đâm xay giần sàng đấy ư?
Văn ngừng lại, nghiêm chỉnh nhìn Minh, và nói tiếp :
- Dù cho sống tạm bợ qua ngày, bất kỳ lúc nào ta cũng cần phải học để biết. Tôi không còn lạ nếp sống của anh em dưới quê nữa. Chú thì chú lại cần biết nếp sống của anh em thợ thuyền ở tỉnh ; chú còn cần học thêm, để biết rộng thêm chút nữa.
Văn nói xong lại cắm cúi đều tay xay bột, những hạt gạo ngâm rời rạc từ từ lọt xuống hốc cối và biến thành làn bột trắng tinh đặc sánh, chảy không ngừng.
- Cũng chỉ vì không biết, nên không hiểu nhau mà đâm ra nghi ngờ khinh thị, rồi phân biệt, thù hiềm. Tại sao cứ dồn một lớp người vào thành thị rồi cắt đứt nếp sống với nếp sống của toàn dân ? Tại sao không giúp cho sự hiểu biết, thông cảm với nhau về sự phân công, và san bớt những cách biệt về nếp sống ? Tôi nghĩ vậy mà tôi khuyên chú học nghề, mà tôi còn khuyên chú học thêm buổi tối. Nghĩ vậy mà tôi khuyên chú một ngày kia phải trở về dưới quê. Cả cô Thọ nữa ! Rồi tôi, rồi em Sơn, và lớp người như Sơn lớn lên sẽ khác. Những kẻ như vợ chồng ông Phán Thành, như các ông các bà hách dịch coi người bằng nữa con mắt, các công nương công tử đàng điếm, kệch cỡm, nhớn nhơ ngoài kia sẽ phải đổi khác ! Họ tưởng sống mãi như vậy được hả ? Họ tưởng họ trở lại lối sống ích kỷ như hồi trước chiến tranh được hả ?
Văn ngừng nói, và cười lanh lảnh ; tiếng cười chua chát ngạo mạn.
- Thế nào cô Thọ ! Bây giờ cô còn thấy sống ở quê nhà là buồn chán nữa không ?
Thọ cười:
- Vẫn thấy buồn chán lắm, anh ạ ! Nhưng đến khi em trở về, và nhiều người khác trở về, tất nhiên sẽ thay đổi chứ ! Vì sẽ làm cho phải đổi khác đi cơ mà!
Cối bột cũng vừa hết. Văn đứng lên phủi quần áo, quay sang phía Minh, bảo:
- Tại chú đấy ! Làm tôi quên mất một tin này, định bụng về sớm cho chú hay.
Minh trố mắt nhìn.
- Chú lên đây được đến một năm rồi đấy nhỉ ? Tối hôm qua chẳng nói với chú là xe hàng đi Nam đã tới Guột được rồi ư ? Sáng nay tôi thăm dò nhờ người đưa tin về cho dì. Từ đường số một, băng đồng về làng ta chỉ bốn, năm cây số chứ mấy ?
Mắt Minh sáng lên :
- Liệu có nhắn được không hả anh ?
- Có. Được anh học trò thân tín quê ở Đại Hoàng ; Guột giẽ qua tay mặt ấy mà... Nhà hắn mới có người đi về. Chuyến sau sẽ nhắn được ; chỉ trong vòng tuần lễ nữa thôi.
Minh ngẫm nghĩ một chút, rồi quả quyết:
- Hay để em về.
- Chưa được đâu. Tuy rằng có  ‘‘lính bốt’’, và đã lập ban hội tề, nhưng yên là yên bề mặt!
Văn cau mặt, bực tức:
- Vì nào có giải quyết được gì đâu mà bảo yên ? Chú mà về chắc gì họ để cho yên thân ? Chú tin ở ai ? ơ bọn bí thư Tùng à ? Ổ bọn lính" bốt" à ? Hãy để tôi thu xếp, nhắn tin đã.
Minh tiu nghỉu nét mặt. Văn thương hại, khẽ vỗ vai:
- Về làm gì vội! Chưa đến lượt anh em chúng ta đâu !
 




Đăng nhập để trả lời
0
Chiều hôm nay, tuy không phải là chủ nhật, song Văn cũng nghỉ. Có hai giờ Sử chàng đã nhờ bạn tạm dạy hộ, vì chàng đương băn khoăn về một việc mà tự thấy cần phải giải quyết gấp.
Người học trò thân tín đã đem tin lại, và Văn trù tính trong tuần tới sẽ đón dì Mơ ra chơi ít ngày. Văn còn giấu Minh và Thọ, nên khi Minh hỏi là đã quá một tuần nay sao chưa thấy tin tức, Văn nói thác ra là người nhận đi còn bận việc nên hoãn lại. Văn băn khoăn vì nghĩ đến Minh và Thọ. Bây giờ hẳn chẳng ai nỡ nhắc đến trường hợp đáng thương của đĩ Bèo; mà dì Mơ chắc cũng không còn ngại ngùng rằng Thọ sậm sượt chẳng biết làm ăn! Minh và Thọ lại có vẻ thân thiết với nhau hơn xưa là đằng khác. Nhưng Văn vẫn thắc mắc... Minh thì chẳng nói làm gì; chỉ có Thọ... Thọ thật khó hiểu. Liệu Thọ đã nghĩ ra và xem Văn là một người anh như thuở nào không ? Văn lại hối hận. Thì việc gì Văn đi nói cho Thọ biết rằng hai người đâu có anh em họ hàng qua cát? Cứ để yên, ít ra Thọ vẫn lầm tưởng có mối liên lạc gia đình mà dễ giải quyết không ? Bây giờ thì không thể không giải quyết. Thọ lớn rồi; con gái hai mươi tuổi đầu ở nơi đô thị, không bà con thân thích, thật đáng nên lo ngại. Nói thế nào cho Thọ khỏi tủi vì lầm tưởng là Văn coi rẻ Thọ ?... Mà trong tình thế này, liệu đã nên khuyên Minh lập gia đình chưa ?
Văn suy đi tính lại. Nếu cần giải quyết, thì dì Mơ sắp ra đây thật là vừa đúng dịp. Văn thấy không nên lưỡng lự trì hoãn nữa; Văn quyết định phải gặp riêng Thọ.
Văn tới, cũng như mọi ngày, Thọ đương lúi húi xay bột sửa soạn hàng để bán ngày mai. Thọ không giấu nổi vẻ ngạc nhiên khi Văn đẩy cửa bước vào :
- Kìa anh ! Hôm nay anh nghỉ dạy học ư ?
Văn cười, cố làm ra vẻ tự nhiên :
- Cô cho là lạ hả ? Đôi khi cũng phải nghỉ, thay đổi giờ giấc một chút, chứ sống hoài như cái máy thì buồn chết! Nào, cô để tôi xay đỡ cho một lát.
Thọ vẫn ngẩn ngơ mở to mắt nhìn Văn như cố tìm hiểu. Văn ái ngại:
- Nào có gì đâu mà cô phải ngạc nhiên thế ! Đi thái hành đi; tôi thử ‘‘công tác lao động ” xem nào.
Dứt lời, Văn thẳng thắn cười và lại gần bên ghế. Thọ ngoan ngoãn đứng lên nhường chổ. Văn thản nhiên cắm cúi một tay cầm gáo nước giội từng chút vào lòng cối, một tay đều đều xay. Thọ ngồi nhặt hành, lát lát lại nhìn Văn như thầm hiểu sẽ có điều gì quan trọng mà Văn còn đắn đo chưa nói. Thọ còn lạ gì tính Văn ! Con người thật vui vẻ mà thật trầm ngâm, vừa thận trọng vừa liều lĩnh, luôn luôn đắm đuối như tìm tòi một điều gì... Thọ tưởng chừng như không bao giờ hiểu nổi. Người thanh niên khôi ngô, đôi khi quá khắc khổ mà vẫn dễ mến, trước kia Thọ cảm thấy như bị thu hút mà tha thiết yêu bao nhiêu thì gần đây lòng Thọ đã chuyển thành mến phục tôn kính bấy nhiêu. Thọ nóng lòng, muốn hỏi mà không dám.
Văn đăm đăm nhìn giòng bột chảy, tay vẩn đều đều đổ nước vào lòng cối.
- Kìa anh ! Anh đổ nhiều nước quá, bột loãng mất thì khó tráng bánh.
Văn như chợt tỉnh, ngước mắt nhìn Thọ, khẽ đáp:
- Anh đãng trí quá...Cũng vì mải nghĩ đến việc của cô đấy.
Thọ đã thầm đoán, nên má bỗng ửng hồng ; đôi mắt to đen láy chớp mau sau hàng mi dài làm Văn sực nhớ lại cái ngày xa xăm thuở nào dưới bóng tre xanh làng Thụy.
Giọng Thọ run run như lòng Thọ đang xốn xang:
- Em còn có việc gì nữa ? Nhờ anh bây giờ yên trí làm ăn trông cho em Sơn, chờ lúc thái bình về quê ở.
Văn nhẹ nhàng nói như dọ hỏi:
- Cô nói sao mà giản dị thế! Em Sơn học hành, lớn lên... rồi hai chị em lại về, bình thản sống như hồi nào còn bà, có phải không ? Trời ơi, cô em tôi vẫn tưởng tượng đời như cuốn tiểu thuyết ấy!
Thọ cũng biết thế; nhưng Thọ biết nói gì hơn? Thọ đành nín thinh và khắc khoải nhìn Văn.
- Nếu em Sơn không muốn về sống ở dưới quê nữa thì sao ? Cô cứ ở một mình trông coi nhà cửa, ruộng nương ư?
Văn ngừng lại, và bắt chợt một nét buồn thoáng trên mặt Thọ.
- Với lại chiến tranh còn, còn lâu nữa ! Chúng ta còn sống tạm bợ lắm. Ngày mai, nào ai biết ?
Đột nhiên, giọng Văn nghẹn ngào:
- Có cái gì là vững chắc đâu ? Ăn xổi đ thì và chỉ mưu cầu hưởng thụ cho thoả, thì làm được cái gì vũng chắc? Hà Nội chúng ta đương sống đây chẳng có khác gì mảnh bè nổi lênh đênh... Vì vậy mà anh cứ nghĩ đến việc của cô đấy !
Giọng Văn trầm hẳn, đầy vẻ thân mật:
- Cô nên hiểu lòng anh, đừng vội giận. Xã hội nước ta rồi đây phải đổi khác. Dù muốn dù không, thế nào cũng phải biến chuyển. Có biến chuyển là có tiến. Những người như cô, như Minh, sẽ là những người cần thiết để chuyển hướng đấy. Cho nên cần phải sống, bền bỉ chịu đựng để tồn tại, để làm lớp người tiền phong cho một xã hội mới. Biến chuyển của thời đại đã nuôi dạy chúng ta đấy, Thọ ạ. Nhưng thôi, hãy tạm xếp việc ấy đã, mà nói ngay đến việc thiết thực trước mắt.
Văn đăm đăm nhìn Thọ, rồi đột ngột hỏi:
- Anh nghĩ rằng nếu bây giờ Thọ lập gia đình thì hay!
Mặt Thọ bừng đỏ, và Thọ ấp úng:
- Tại sao anh lại hỏi thế ?
- Anh nổi thật đấy. Biến chuyển là cần thiết ; nhưng biến chuyển không phải là thay đổi về định hướng. Mà biến chuyển cũng không phải là cắt đứt hết căn bản.
Văn chợt ngừng lại, nhìn Thọ mà cười:
- Khổ quá ! cứ nói chuyện là y như anh quen mồm lý luận. Anh muốn nói là tình thế này, phải dựa nhau mà sống mới tồn tại được. Cho nên anh nghĩ rằng em phải lập gia đình đi để sống, vì chúng ta cần phải sống.
Thọ thản nhiên hỏi:
- Vâng ; nhưng em nghèo hèn thế này, ai người ta lấy ? Anh chỉ khéo lo.
- Thời buổi này, biết ai nghèo hèn hơn ai ?
Văn cười, khẽ hỏi thêm:
- Khi xưa cô và Minh chưa tiện lấy nhau; nhưng bây giờ tôi tưởng là nên.
Không thấy Thọ nói gì, Văn nói tiếp :
- Em Sơn tất cũng mừng. Anh chưa nói gì với Minh cả, vì muốn hỏi ý em đã.
Thọ thở ra, đôi mắt chớp mau. Văn băn khoăn không hiểu Thọ nghĩ sao.
- Anh nghĩ mãi, và cho rằng cứ bàn thẳng vơi Thọ là hơn.
Thọ vụt nhìn Văn với đôi mắt trong sáng như đặt hết cả tin tưởng:
- Vâng, anh bảo gì em chẳng xin theo. Nhưng nếu anh Minh còn nghĩ như xưa, thì cũng còn phải nghĩ đến dì Mơ nữa chứ!
Văn sung sương, vội trả lời:
- Miễn là em nghe anh đã. Anh sẽ lo liệu cho em được như ý muốn.
Văn vội vã cố xay cho xong cối bột, rồi đứng lên đi ngay.
Bữa cơm chiều hôm đó, thỉnh thoảng Thọ lén nhìn Minh; nhưng Minh vẫn không có gì là hay biết. Minh chỉ thắc mắc không biết ngày nào mới có tin của dì Mơ từ làng Thụy nhắn lên.
Có tới cả tuần, Thọ không thấy Văn đến; hỏi Minh thì Minh chỉ biết rằng khuya Văn mới về ngủ, và hình như Văn là bận lắm. Thọ cũng dần dần quên những thắc mắc sau buổi Văn hỏi ý Thọ; và mấy người lại êm ả sống chuỗi ngày đều đặn.
Một tuần lễ qua nhanh chóng. Chiều thứ bảy, Minh sung sương từ Hàng Đậu nhảy lên xe điện trở về nhà. Mai là chủ nhật. Cái thích của Minh không phải là được nghỉ, mà thích là sẽ được sống trọn một ngày với chị em Thọ. Đứng ở cuối toa, Minh vui vẻ nhìn đèn hai bên phố bật sáng. Qua Hàng Giấy, Hàng Ngang, Hàng Đào... Minh thấy ngốt ngát vì người nhộn nhịp tung tăng dạo phố. Rồi hồ Gươm xanh mờ trong lúc nhá nhem dưới nền trời xanh ngắt buổi chiều hè; lại con đường Đồng Khánh rộng rãi thẳng tắp... Tiếng xe, tiếng người... những nhịp vang động ấy Minh đã quen tai, và không làm cho Minh khó chịu nữa. Lòng Minh sao hôm nay rộn ràng vui đến thế, Minh cũng không hiểu vì đâu? Lòng người con trai vẫn có những lúc rộn vui vô cớ như thế! Từ ngã tư Chợ Đuổi về nhà , Minh thủng thẳng vừa đi vừa ngắm nhìn một vài cửa hàng quen thuộc, những cửa hàng nhỏ bé, hàng hóa thưa thớt dưới bóng điện yếu ớt vàng khè đục bẩn. Những phố nhỏ bé hẻo lánh ở khu Nam này đâu có giống những con đường nhộn nhịp đầy ánh sáng mà Minh vừa qua! Nhưng Minh thấy mến con đường ít ánh sáng và tầm thường ấy với dân phố cũng cần cù im lìm sống như Văn, như Minh, ở bên lề mọi xa hoa vương đượm màu sa đọa.
Minh lẩn thẩn lại nghĩ tới bản thân, nghĩ tới Thọ, và chợt nhận thấy rằng Thọ thay đổi khác trước, như chính ngay Minh cũng đã lột xác. Chàng phì cười nhớ lại hình ảnh Minh hung hăng hô hào giải phóng và tin tưởng dễ dàng rằng cách mạng đã thành công ! Những hình ảnh xa xăm trong quá khứ, nay Minh thấy khờ khạo vụng về và vô nghĩa như quân đèn cù. Minh lại liên tưởng đến những cuộc biểu tình, những cuộc đại lễ mà trong mấy tháng nay Minh đã đứng xa nhìn ngó. Sao mà cái thật khùng khạo lại khéo giống cái gian ngoan lường gạt bịp bợm ?
Minh nhanh nhẹn bước lên cầu thang, và lẩm bẩm khi thấy ánh đèn sáng trong gian gác:
- Anh Văn về sớm nhỉ! Hôm nay đâu có giờ nghỉ ?
Minh vừa ló đầu lên khỏi thang gác, chưa kịp hỏi Văn, đã thấy tiếng Văn cười vang:
- Chẳng còn thấp thỏm đòi về nữa nhé ? Ý hẳn hôm nay chú mải ngắm phố phường nên mới chậm chân thế.
Minh còn ngơ ngác, thì Văn đã tiếp:
- Thôi, đi tắm mau lên ! Rồi có muốn về thăm quê không ?
Minh cuống quít:
- Anh nói thật hay đùa ?
Văn chỉ lắc đầu, mà giục:
- Đi tắm mau lên ! Rồi hay.
Một lát sau, hai người đã sang bên nhà Thọ. Thọ chỉ cười mà nhắc lại mỗi khi hai người đột ngột cùng sang ăn cơm như thế:
- Anh Văn đến lạ! Cấm bao giờ bảo trước, thành thử chẳng có gì ăn.
Minh nóng nảy hỏi:
- Anh nói thật hay nói đùa?
- À, cái đó còn tùy cô Thọ. Lát nữa sẽ hay.
Thọ không hiểu chuyện gì, đỏ ửng mặt. Văn nhác thấy, vội chữa:
- Cô đừng lạ ; tôi mới bảo Minh có muốn về thăm quê thì sửa soạn mai đi sớm.
Văn đã thu xếp xong xuôi. Tin Văn đưa về làng Thụy, dì Mơ đã trả lời; dì không thể đi được; nhưng ở Hà Nội có thể về thăm, nên Văn đã nhờ người ở Đại Hoàng mai sớm lại đón Minh... Văn đăm đăm nhìn Thọ :
- Nên sang bàn với cô đây... Cô nghĩ thế nào ?
Minh mừng quá, vội vã hỏi theo :
- Cô có cần nhắn dì tôi điều gì không ? Hay cần lấy gì thì tôi sẽ về lấy.
Thọ lo lắng nhìn Minh :
- Nhưng, về rồi anh có ra nữa không ?
Điều đó Minh chưa nghĩ tới, nên băn khoăn nhìn Văn như thầm hỏi. Văn thản nhiên đáp :
- Ấy thế mới phải sang đây bàn với cô.
Nói vậy mà Văn vẫn đăm đăm nhìn Thọ, chờ Thọ trả lời. Văn muốn biết, biết thật rõ cho yên lòng.
- Em nghĩ có lẽ anh Minh nên cẩn thận, đừng hấp tấp. Đã yên đâu ? Anh không xem báo vẫn còn thấy những cuộc hành quân đấy ư ? Và những vụ ám sát, bạo động...
Thọ nói mà nhìn Văn như dọ hỏi.
Văn đã quyết định. Mai sớm, Minh sẽ theo về tới Guột. Người Đại Hoàng thông thuộc đường lối sẽ cùng đi với Minh về tận làng Thụy, và quá trưa là Minh lại vào Đại Hoàng gần đường số một ngủ nhờ nhà người đó; hôm sau đón xe Hà Nội về là ngược ngay. Thấy Minh ngần ngừ, Văn lạnh lùng bảo :
- Chú phải nghe tôi. Chú thuộc đường từ Guột về nhà chứ gì? Nhưng bây giờ khác. Làm sao chú có thể biết những đồn  ‘‘bốt’’, những nơi dân quân du kích ẩn núp mà tránh ? Còn ngủ lại ở đêm làng Thụy, thì cái đó tùy chú, nếu chú không muốn ra đây nữa.
Minh chưa biết nói sao, thì chợt bắt gặp đôi mắt Thọ, vẫn đôi mắt to đen lầy như thưở nào. Minh thấy xốn xang trong lòng, bùi ngùi nói như thanh minh:
- Thế nào em cũng còn ra đây. Dù em có quyết về quê ở nữa thì em cũng phải ra hỏi lại anh đã chứ! Mới lại, còn...
Minh đỏ mặt, ngừng bặt.
Không ai nói theo, như đều thầm hiểu. Cũng không phải là lúc đùa cợt nữa. Mai sớm, Mình trá về làng Thụy. Bốn mươi cây số khỏi Hà Nội đâu có xa xôi, nhưng thiếu gì bất trắc. Tự nhiên không khí trở thành nghiêm trọng, nặng nề ; mỗi người như mang riêng một mối ưu tư, mà không muốn nói ra. Minh trở về làng Thụy, rồi sẽ ra, nhưng rất có thể lại sẽ về hẳn với đồng ruộng... Thiếu Minh, Văn và Thọ chợt thấy bâng khuâng. Mà xa Thọ, xa Văn, Minh chợt cảm thấy lẻ loi bỡ ngỡ.
Thọ khẽ nói như sợ tiếng mình vang xa :
- Em gửi lời thăm dì. Và anh thử mời dì lên chơi ít ngày.
Minh khẽ gật mà không đáp. Mấy người lại lặng thinh nhìn nhau như theo đuổi những ý nghĩ riêng.
Khi đứng lên ra về, Văn uể oải nói:
- Còn lâu, chiến tranh còn lâu ! Chúng ta vẫn còn lênh đênh trên mảng bè... chú đừng quên như vậy.
 




Đăng nhập để trả lời
0
‘‘... Mọi vật ư, tôi bất cần rằng những thứ gì sẽ còn lại. Điều đáng giá, ấy là một hệ thống nào đó để sắp đặt mọi vật. Văn minh là một tài sản vô hình bởi vì nó không dựa vào mọi vật mà là trên những mối giây vô hình nối liền mọi vật cái nọ vào cái kia; chỉ như thế và không thể khácđược... " (I)

Nắng gay gắt. Vẫn những ánh nắng cháy da sém thịt, rọi thẳng xuống làn nước đục ngầu của cánh đồng; lúa mới cấy phơ phất trước làn gió nhẹ làm vương trong không khí mùi hăng hăng của đất màu đương tan rã. Mươi bóng người lẻ tẻ, mươi bóng cây lẻ loi... Cảnh quê im lìm dưới ánh nắng trưa hè, như đầy mệt nhọc, nặng nề. Minh bước những bước chân nặng trịch trên bờ ruộng nhỏ hẹp gồ ghề mà Minh vẫn hằng bước. Thể xác đã mệt nhoài sau một buổi làm việc, nhưng trí não Minh còn bải hoải hơn nữa ; Minh uể oải đi như người mất hồn. Những hàng tre xơ xác tan hoang, mươi ngôi nhà cháy dở bỏ xiêu vẹo, ủ rũ như không muốn cất mình lên... Hết thảy như vương vấn những gì tàn tạ sụp đổ.
Minh ném phịch cây cuốc xuống nền đất bên chiếc giại tre xô lệch, rồi úp nón lên đầu cần chầy máy. Ánh sáng chan hòa ngoài sân làm mờ mắt khiến Minh chưa nhìn rõ trong căn nhà lá lúp xúp, nên chưa nhận ra một người ngồi trên chõng tươi cười thân mật hỏi:
- Chú về trễ vậy ? Tôi chờ mãi!
- A, anh Văn ! Về bao giờ thế ?
- Cũng mới tới một lát đấy thôi.
Nhưng vui mừng vụt thoáng qua, hai người lại nín thinh như biết rằng có điều khó nói mà chưa biết nói ra sao.
Minh ghé ngồi xuống chõng, rít mồi thuốc lào, lơ đãng nhìn đám khói trắng. Hai người cùng chờ đợi nhau, vì cùng biết rằng phải quyết định những điều quan hệ đến cuộc đời của cả hai.
- Tin ấy có thật không, hả anh ?
- Thật! Đã chính thức loan báo, và trù liệu di cư.
- Anh tính sao ?
- Đối với tôi chỉ là chuyện dĩ nhiên, về chào dì và thăm chú, xem chú có điều gì muốn hỏi, rồi tôi vào Nam ngay. Sớm chừng nào hay chừng ấy.
Thấy Minh thần lần mặt buồn xo, Văn gượng cười:
- Chứ ngồi chết ở Hà Nội à ? Tôi chẳng thường nói với chú là chiến tranh còn dài, và ai kháng chiến ? Một lớp người về thủ đô, một lớp người bỏ thủ đô ; chiến tranh bây giờ mới thật sự bắt đầu đấy. Bữa trước tôi đã cho anh học trò thân tín đưa thư về để chú rõ mọi chuyện. Vậy chú đã nghĩ kỹ chưa ?
- Em cũng chưa định hẳn, vì còn dì em.
Tiếng dì Mơ hối hả từ chái bếp:
- Hai anh em đi ăn cơm đã ! Cơm xong rồi đấy !
Văn và Minh nhanh nhẹn đứng dậy. Trên nền đất, dì Mơ đương đánh nồi cơm ngô, bên trã canh cua chỏng chơ. Dì cười:
- Lâu lâu mới gặp cậu Văn. Ăn đã, rồi hãy bàn chuyện.
Bữa cơm đạm bạc hàng bao nhiêu năm nay. Với Văn và Minh, mới có một phần đời người; chứ với dì Mơ, thì già nửa đời rồi, cực khổ đâu còn có nghĩa gì nữa ? Lần nào Văn về chơi là dì con Minh cũng vui lắm ; nhưng lần này ai cũng cảm thấy ngơ ngẩn, nặng nề. Minh không nói, vì buồn và lo. Trong những thời gian chung sống, Văn đã đem lại cho Minh nhiều ánh sáng mới, khiến Minh cảm thấy được an ủi và còn đủ hăng hái để kiên nhẫn đợi chờ. Nay Văn đi... Đời sống khó khăn hàng ngày kéo dài thêm chuỗi đau thương tang tóc từ mấy năm qua sau lũy tre, vụt trở lại ám ảnh Minh như một giấc mơ hãi hùng.
Dì Mơ chợt hỏi:
- Thế cậu định bao giờ đi ?
- Cháu thu xếp xong là đi ngay.
Văn nhìn dì Mơ như dò hỏi ý tứ.
- Thư cậu viết về cho em, làm tôi nghĩ mãi. Cậu đã hỏi ý cô Thọ chưa ?
- Dì khỏi bận tâm, về việc này cháu đã nói với Thọ có cả hơn năm nay rồi. Trước đây, vì chú Minh cứ nhất định về dưới quê, mà Thọ thì chưa muốn về, thành thử cứ dây dưa vậy thôi. Bây giờ Hà Nội đương lo di cư vào Nam, dù cho Thọ có muốn ở lại Hà Nội cũng khó bề sinh sống, mà cũng khó yên thân nữa. Họ chưa tiếp thu, nên cháu nghĩ nếu thu xếp cho hai người được thì hay hơn.
Nhưng dì Mơ đã ngắt lời Văn, lo lắng hỏi:
- Không, chuyện Thọ với Minh thì tôi mừng lắm rồi ; tôi muốn hỏi cậu về việc di cư cơ !
Văn trầm ngâm nhìn Minh. Minh thẫn thờ nói:
- Em rối cả ruột chẳng biết thế nào là hơn, đã đành là khổ rồi! Thì xưa nay có lúc nào mẹ con em được sung sướng đâu ? Nhưng liệu có được yên mà chịu khổ không ?
Văn quả quyết dằn từng tiếng:
- Tôi không hề có do dự. Xưa nay chú thấy tôi hoài nghi mọi việc, thì ngược lại bây giờ tôi nhất định lắm. Tôi đã hỏi chú là ai kháng chiến ? Và bây giờ đây, chiến tranh thật sự mới bắt đầu. Ít ra là tôi tin như vậy... Thọ và Sơn quyết định xong xuôi hết. Sơn theo tôi vào Nam ngay. Còn Thọ, Thọ trả lời: ‘‘- Sơn theo anh là phải và em mừng lắm. Còn em thì tùy anh Minh !’’. Đi hay ở đều có cái nghĩa lý và cái ích lợi của nó, miễn là ta có được một tin tưởng vững vàng.
Dì Mơ dơm dớm nước mắt, sụt sịt khóc :
- Tôi già rồi, đi sẽ chỉ là gánh nặng cho người khác. Tôi nhất định ở lại; đã sống nhờ ruộng đất này thì cũng quyết chờ chết trên ruộng đất này. Tôi cố sống để trông nom ruộng nương, để giữ lấy lề thói. Vái giời cho mau yên hàn để gặp lại cậu.
Văn thân mật bảo Minh :
- Ở lại mà có được một tin tưởng vững vàng cũng là một việc hay. Chúng ta tranh đấu có phải chỉ vì một chủ quyền nào thôi đâu, mà chính là phải tranh đấu cho con người chúng ta. Cứ gì tranh đấu bằng súng đạn; còn chiến đấu bằng ý tưởng, bằng thụ động, bằng nuôi ý chí cho thế hệ sắp tới, để khơi được ngọn lửa thiêng mãi mãi ở trong lòng... Vì vậy, để tùy chú ; đi hay ở, cô chú mãi mãi vẫn là những người em thân mến của tôi và tôi tin rằng mãi mãi không bao giờ cô chú nghe theo gây căm thù như người ta hô hào. Tôi chỉ mong cô chú bền vững tin tưởng, giữ lấy bản sắc và khéo giúp chung quanh mình mở rộng con mắt, tranh đấu để tiến tới, không trở lại tình trạng đen tối ngày xưa, cũng như sẽ lấy thân yêu hiểu biết mà xây dựng.
Minh nắm chặt cánh tay Văn, nghẹn ngào trả lời:
- Em không thể đi được vì còn dì em. Chúng em sẽ cố chờ anh; và nếu đến lúc cần, cũng sẽ quyết đi tìm được anh.
Văn uể oải đứng lên, chậm chạp đi ra cửa. Bỗng Văn quay lại, cười vui vẻ:
- Chút nữa quên ! Chú phải lên đưa cô Thọ về chứ? Bây giờ đương hỗn độn, nên đi ngay kẻo chậm.
Dì Mơ như sực tỉnh, hối hả thêm :
- Cậu nói phải. Minh ơi, con theo anh lên đón em Thọ ; mai các con về sớm nhé   
Minh thay vội áo quần, và cầm theo cuốn giấy. Văn hỏi:
- Xong rồi chứ ? Mà chú đem theo gì đấy ?
- Cái ảnh của bà Giáo, cho Sơn đem theo vào Nam. Ít ra cũng phải có chút gì cho nó nhớ !
Dì Mơ chép miệng:
- Chúc cậu đi được bình an. Còn thì trăm sự nhờ giời cho sớm thái bình gặp lại nhau.
Văn chào dì Mơ, nắm tay Minh bước ra ngõ.
Dì Mơ ngẩn người nhìn bóng hai người nhanh nhẹn khuất sau rặng tre đầu lối xóm. Dì bùi ngùi quay vào, và thở dài nhắc chiếc áo nâu bạc màu rách vai hồi nãy Minh vội vã thay, còn vắt ở thành giại tre xiêu vẹo.
 
Chú thích :
(l) ‘‘...Les choses, je m'en fous qui subsisteront. Ce qui vaut c'est certain arrangement des choses. La civilisation est un bien invisible puisqu'elle porte non sur les choses mais sur les invisibles liens qui les nouent l'une à I'autre, ainsi et non autrement...’’
       (Extrait d'une lettre d'Antoine de'Saint Exupéry au général X.
        Le Figaro littéraire, et Echo No 25 - Septembre 1948)

Saigon 1958




Đăng nhập để trả lời
0