<Bài viết được chỉnh sửa lúc 25.03.2020 13:27:39 bởi Thanh Vân>
Nhà xuất bản NAM CƯƠNG
Nguyễn Quỳnh
NHÀ XUẤT BẢN NAM CƯỜNG 1956
CHƯƠNG THỨ NHẤT
Trần Lập Thành
Tháng chín năm Bính Thìn (1916), một buổi chiều chợ Trại Cờ đã vắng người. Trên con đường từ huyện Đức Thắng (Bắc Giang) đến Đồn Ấp (thuộc tỉnh Thái Nguyên) lác đác còn dăm ba gánh gạo đang rảo bước đi.
Nắng thu đã nhạt. Heo may sào sạc trên ngọn cây để nhẹ rơi vài chiếc lá vàng. Hoàng hôn đổ xuống: cảnh vật chìm dần vào trong màu tím xẫm.
Ở Chợ Trại Cờ các nhà đã lục tục đóng cửa. Những cánh liếp buông xuống che hết cả ánh đèn, làm cho người đường tối om.
Vài tiếng chó sủa vang lên một hồi rồi lại im bặt. Một con chim vụt bay từ bụi cây lên không trung, lượn mấy vòng rồi buông vào cảnh tịch liêu của đồng ruộng vài tiếng kêu buồn rầu, ảo não.
Mọi người đang sửa soạn sắp đi ngủ, bỗng phía cuối phố vang lên mấy câu chửi rủa tục tằn, tiếp theo là những tiếng đập phá ầm ầm.
Người ta vội mở cửa, đổ xô cả ra người đường, túm năm tụm ba, xì xào bàn tán. Một chàng thanh niên ngơ ngác nhìn về phía có tiếng kêu, rồi gật gù nói:
- Không khéo lại vợ chồng bác ba Lập.
Có tiếng đáp lại:
- Phải đấy! Vợ chồng nó hay cãi nhau lắm cơ!
Tiếng đập phá ngớt, nhưng lại nghe thấy tiếng khóc của đàn bà.
- Đích thị rồi. Lại chuyện tiền đấy mà.
Có lẽ mọi người cũng nhận là đúng, nên không bàn tán nữa, lảng vảng ra về. Tiếng cửa quay rít, tiếng cánh liếp đổ xập xuống một vài câu nói khàn khàn ngái ngủ trao đổi trong bóng tối, cộc lốc, nửa như gắt gỏng, rồi im. Đêm lại tĩnh mịch.
Được một lúc, thì tiếng kêu thét lại vang lên, dồn dập và dữ dội vô cùng.
Dân phố lại vùng dậy, mở cửa, chạy ra người đường. Họ đổ xô cả ra phía nhà bác Ba Lập, chân người chạy thình thịch, tiếng gọi nhau ấm ới, tưởng chừng như ở nơi này vừa xảy ra một tai nạn rùng rợn, gớm ghê.
- Ới làng nước ơi! Ới trời ơi! Nó đánh chết tôi.
- Này kêu! này già mồm!
- Nó đánh chết tôi.. Ai cứu tôi!
Bác Lâm làm Trưởng phố, tay cầm chiếc tay thước rẽ làn sóng người hấp tấp đi, theo sau là hai bác phu tuần vác mã tấu. Hắn vừa tới ngã ba cây gạo, còn cách nhà bác ba Lập độ vài chục thước, thì bỗng lù lù ở phía trước năm người lính đồn đeo súng vừa đến.
Một tiếng thét làm hắn dừng bước lại:
- Ách cha la chi biu (Halte là: qui vive)
Trưởng Lâm thở hổn hến đáp:
- Bẩm! trưởng phố đây!
Một người đi đầu, vận bộ quân phục màu xám, trịnh trọng hỏi:
- Trưởng Lâm phỏng?
- Bẩm vâng ạ.
Ánh đèn pin loé lên rọi vào mặt Trưởng Lâm rồi tiếp sau mấy câu nói rất thân mật:
- Chào ông Trưởng, tôi là Đội Giá đây!
Lâm cũng tươi cười:
- Gớm thầy Đội! làm em bẩy vía chỉ còn ba.
Đội Giá khà khà cười:
- Tuần phòng phải thế chứ!
Đoạn vỗ vai Lâm hỏi:
- Huynh đi đâu mà tất tưởi thế?
Trưởng Lâm mân mê chiếc tay thước:
- Đến nhà ba Lập xem vợ chồng nó làm gì mà nhộn như vậy.
- Thì mặc kệ vợ chồng người ta, bác cũng hay vẽ sự lắm.
- Khốn nạn, giời rét như thế này, tội gì mà lóc cóc đi cho khổ thân, nhưng không đến sợ chúng nó quá tay thành ra án mạng thì nguy to.
- Nếu có án mạng thì lập biên bản trình, việc quái gì mà sợ.
Trưởng Lâm tủm tỉm cười:
- Gớm, quan bác làm như trò đùa ấy. Thôi xin chào bác, em lại một tí, rồi về kẻo khuya.
Đội Giá bắt tay bạn:
- Vâng mời bác đi.
Hai người chào nhau, vừa đi được mấy bước Đội Giá gọi giật lại:
- Này ông Trưởng!
Trưởng Lâm ngoái cổ lại hỏi:
- Cái gì! Thầy Đội?
Đội Giá vừa cười vừa nói:
- Hôm nào cho sơi cái khoản ấy nhé!
- Khoản gì?
- Khoản... cẩu ấy mà. Bác mà nấu thì phải biết.
Trưởng Lâm cũng phì cười:
- Được rồi, mời bác cứ lại chơi.
Đoạn hấp tấp đi về phía nhà ba Lập. Vừa đến nơi, hắn thấy người ta đứng xúm đen, xúm đỏ quanh cái cửa hàng nhỏ xíu, Hai cánh liếp nằm ngả nghiêng dưới đất, chiếc chõng tre hất đổ tung mâm bát còn vướng cả vào nan lẫn cả với bã chè.
Trưởng Lâm rẽ đám người bước vào thì được mục kích một cảnh tượng buồn cười nôn ruột: dưới ánh sáng đèn dầu tây tù mù, vợ Ba Lập nằm lăn ở dưới đất, sống áo sộc sà sộc sệch, tóc sõa che kín cả mặt, hai gót chân đập thình thịch xuống mặt đất như giã giò, mồm kêu la ầm ĩ, tay vẫn ôm đứa bé lúc bấy giờ đang nằm soài trên bụng mẹ mà bú. Còn anh chồng thì mặt như nhuộm phẩm hồng, đứng trên thềm, chỉ chỏ, miệng nói liến thoắng phân bua với mọi người:
- Các ông, các bà xem vợ con như thế này có nhục không? Tôi đã nhịn, nó lại làm già. Tôi đánh cho nó biết tay, để lần sau đừng có hỗn nữa.
Một câu nói trong đám đông đưa lên:
- Rượu vào phải biết!
Mọi người đều cười ầm lên, Trưởng Lâm bước lên thềm, chiếc tay thước giơ cao ngang mặt Ba Lập:
- Sự tình làm sao, nói ngay?
Ba Lập tái mặt, vội cúi gập người xuống, hai tay chắp vái:
- Lạy ông! Vợ con nó tệ quá, con chót dại.
Trưởng Lâm quắc mắt tống luôn chiếc tay thước vào ngực Ba Lập đánh “hự” một cái bằng trời giáng.
- Mày làm náo động hàng phố lúc đêm khuya, ông thì bỏ tù mày nghe chưa?
- Con lạy ông. Con chót dại.
Một cái đạp nửa trúng giữa bụng ba Lập làm hắn ngã ngồi xệp xuống.
- Chót dại này! Chót dại này!
Chị vợ dang bù lu bù loa thấy anh chồng bị đòn, nghe chừng cũng hả giận, ngồi phắt ngay dậy, vừa quấn tóc vừa mếu máo:
- Bẩm ông Trưởng, nó bắt nạt con, nó say rượu đánh con gần chết. Xin ông xét cho.
Trưởng Lâm cười gằn:
- Phải rồi! Tao biết vợ chồng mày rồi. Lên đây tao hỏi:
Chị ba vội bế lấy con, rụt rè bước lên thềm.
- Để đứa bé xuống.
Chị biết ngay là sẽ bị nếm vài chiếc tay thước, nên cứ ôm chặt lấy đứa bé, ngồi thụp xuống, khóc sướt mướt như cha chết. Chị tưởng rằng làm như thế, Trưởng Lâm sẽ thương hại tha cho, nhưng ngờ đâu một tiếng quát rùng rợn tiếp ngay đến:
- Buông nó ra, không ông đánh cả hai mẹ con.
Tay chị vừa rời đứa bé ra, thì chiếc tay thước đã vụt vào giữa sống lưng, làm cho chị lăn lộn kêu van ầm ĩ. Đứa bé run lập cập khóc thét lên như tiếng còi.
- Đã chừa đánh nhau chưa?
Chiếc tay thước vừa vung lên, chị giơ cả hai tay lên toan đỡ thì nó quay ngoắt lại, nện vào đúng mạng sườn. Chị ôm bụng vật vã:
- Con chừa rồi. Ông tha cho con.
Thị uy xong, Trưởng Lâm bây giờ mới gọi hai vợ chồng ba Lập lại gần hỏi:
- Vì đâu, chúng mày đánh nhau? Phải khai cho thực, để tao làm biên bản trình huyện.
Thấy nói đến làm biên bản, ba Lập run lập cập, lạy như tế sao:
- Con cắn cỏ lạy ông, con chết mất.
Trưởng Lâm nheo cặp mắt, gật gù:
- Mày chết! mặc kệ mày. Khai đi, khuya lắm rồi.
Chị Ba vừa lau mặt vừa sụt sùi:
- Thưa ông, mấy hôm nay hàng họ ế ẩm, ăn vào vốn...
Trưởng Lâm ngắt lời:
- Biết mà! Lại chuyện tiền.
- Thưa không. Dù có ăn lạm vào vốn, nhưng rồi còn mong gỡ hòa sau này, ai ngờ...
- Ngờ gì?
Chị Ba đưa mắt nhìn chồng, ngập ngừng một lát rồi tiếp:
- Ai ngờ, chồng con đã không biết thế, lại cứ khách khứa suốt ngày, thành ra đã lỗ vốn, lại lỗ vốn thêm.
- Khách nào?
Ba Lập vội nói chặn:
- Bẩm, có khách khứa nào đâu! Mấy hôm nay chú cháu ở nhà quê ra chơi.
Trưởng Lâm giang thẳng cánh, tát vào mặt ba Lập đánh “bốp” một cái:
- Im, ai hỏi mày!
Ba Lập loạng choạng suýt ngã. Chị vợ xoen xoét nói luôn:
- Nếu phải là họ hàng hang hốc thì khi nào con kêu ca. Chả biết nó là thằng cha căng chú kiết nào, mà cứ ở ăn vạ mấy hôm nay, hết rượu lại chè, hết chè lại bánh, con phải hầu hạ như bố già mà cũng không xong.
Trưởng Lâm hất đầu bảo hai tên phu tuần đứng gần đấy:
- Vào lôi nó ra dây.
Chị vợ le te chạy vào trước, chỉ tay vào chiếc giường tre kê sát vách:
- Đây, rượu say rồi nằm khoèo ra ngủ.
Một tên phu tuần nắm lấy cánh tay người khách lôi phăng dậy:
- Ra mau.
Không biết người khách ngủ thực hay ngủ giả mà tên phu tuần lay gọi mãi người ấy chỉ ấm ớ, nửa như tỉnh, nửa như say, thỉnh thoảng lại gãi sồn sột như cạo lông lợn.
Một tên khác tức mình đấm luôn mấy cái vào lưng hắn.
- Dậy mau.
Đoạn hai tên thò tay luồn vào sau lưng hắn, nâng dậy kéo tuột ra ngoài. Người khách rẫy rụa, cúi đầu ho sù sụ một hồi, rồi loạng choạng chân nam đá chân chiêu, bước đi. Gần tới cửa hàng người ấy ngã gục xuống cạnh chiếc bục gỗ, cái búi tó sổ tung ra, che kín cả hai vai.
Trưởng Lâm cười mỉa mai:
- Chà! con cháu Lưu Linh có khác.
Hắn tiến lại gần, cầm tóc người khách dật dật mấy cái:
- Thẻ đâu?
Mãi không thấy trả lời. Trưởng Lâm tống luôn chiếc tay thước vào ngực người khách:
- Này say! Này say!
Chị Ba cong cớn nói:
- Nó vờ đấy, lúc con bị đòn nó còn can khéo, mấy câu cơ mà.
Như lửa tưới thêm dầu, Trưởng Lâm thích luôn mấy cái nữa thật mạnh, làm người khách đau quá, ôm ngực kêu:
- Chết tôi mất.
Trưởng Lâm khì khì cười.
- Mày còn vờ mãi. Thẻ đâu?
Rồi không đợi trả lời, hắn hất đầu ra hiệu. Hai tên tuần nhanh nhẹn vật ngửa người khách ra lục soát khắp mình. Dân chúng hiếu kỳ sán lại quây tròn chung quanh để xem. Một tên vớ được mảnh giấy đá nát nhầu, đưa cho Trưởng Lâm. Dưới ánh đèn tù mù, Trưởng Lâm dán mắt vào tờ giấy đọc đi đọc lại mãi mà vẫn không ra chữ gì.
Nhưng đến cuối trang, Hắn bỗng thốt lên một tiếng kêu nghe rất sợ sệt, vì ba chữ “Trần Cao Vân” ký ở dưới. Hắn chỉ đống thịt nằm khoèo ở mặt đất, đang phì phò thở.
- Nó là thằng giặc.
Câu nói vừa buông ra, dân phố ngơ ngác nhìn nhau rồi lảng dần. Trong chớp mắt cửa hàng ba Lập đã vắng teo, chỉ còn mấy người ở lại. Trưởng Lâm bảo hai tên tuần:
- Giải hết cả lên huyện.
Chị Ba run như cầy sấy, lạy van:
- Thưa ông, con là đàn bà dốt nát, trăm sự nhờ ông.
Hắn quắc mắt nói:
- Chúng mày là đồng phạm.
Chị đặt đứa con xuống đất, vừa lạy vừa khóc:
- Thật quả chúng con vô tình, xin ông xét cho.
Hắn không đáp, rảo bước ra ngoài, thì vừa gặp Đội Giá dắt tụi lính đến. Trưởng Lâm cúi đầu chào rồi nói:
- May gặp thầy Đội. Nhờ thầy giải bọn này lên huyện.
Đội Giá ngạc nhiên hỏi:
- Họ có tội gì?
Trưởng Lâm ghé tai bạn thì thầm mấy câu. Đội Giá mím chặt môi, nghĩ ngợi một lát rồi tiếp:
- Trần Cao Vân đã chết rồi cơ mà.
- Thằng này chắc là đồng đảng của nó.
Đội Giá tiến lại gần, vén tóc xem mặt khách, rồi bỗng kêu lên một tiếng.
Trưởng Lâm sẽ hỏi:
- Thầy có quen nó không?
Đội Giá mặt hơi biến sắc, lắc đầu đáp:
- Tôi không gặp nó bao giờ.
- Sao thầy lại kêu to thế?
- Tôi trông mặt nó có vẻ học trò không thấy gì là gian ác, thì chưa chắc đã phải là giặc.
Trưởng Lâm bĩu môi:
- Học trò gì nó. Ác ra mặt.
Đội Giá làm ra vẻ thân mật, vỗ vai Trưởng Lâm nói:
- Đây về huyện Thắng xa có tới 7,8 cây số, mà đêm đã khuya lắm rồi. Tôi sợ rằng đồng đảng của tên này còn lẩn quất đâu đây tìm cách đánh tháo cũng chưa biết chừng. Vậy bác để tôi giải về Đồn Áp thì tiện hơn.
Trưởng Lâm nhăn nhó:
- Nhưng Đồn Áp thuộc về Thái Nguyên.
Như đã hiểu rõ tâm lý của bạn, Đội Giá thản nhiên tiếp:
- Bắt được tên này là công của bác, tôi đâu có dã tâm hớt cẳng bác. Dù có giải nó về Thái Nguyên thì lúc lập biên bản tôi cũng phải nói đến tên bác mà tôi chỉ là người áp tải phạm nhân để đề phòng mọi sự bất trắc mà thôi.
Trưởng Lâm vẫn còn lưỡng lự:
- Tôi sợ quan Huyện không bằng lòng.
Đội Giá mỉm cười:
- Đảng viên Quang Phục Hội rải rác khắp nơi nếu ta sơ ý để họ dò xét biết thì lập tức họ tìm cách cướp lại phạm nhân ngay. Đồn Áp cách đây độ vài ba cây số, bọn chúng tôi súng ống đầy đủ, có thể chống cự được một cuộc tấn công bất thần của địch. Phạm nhân đã ở trong tay mà để sống mất thì không những bác bị khiển trách mà chúng tôi cũng chịu một phần tội lỗi.
Trưởng Lâm nghe chừng đã xuôi, nhưng còn dùng dằng chưa muốn giao ngay. Đội Giá lại tiếp:
- Tôi sẽ làm giấy nhận là chính tay bác bắt được tên này, mà tôi có nhiệm vụ giải hắn về Đồn Ấp. Nếu có xảy ra sự gì, thì tôi chịu hết điều không hay, còn bác vẫn được công với Chính phủ.
Trưởng Lâm bằng lòng hai người làm giấy ký kết xong xuôi. Đội Giá truyền cho lính trói chặt người khách mang đi.
Trưởng Lâm cũng mang hai tên tuần trở về Trại Cờ.
Vừa được một quãng đường, Đội Giá sai cởi trói cho người ấy, rồi vỗ vai hỏi:
- Bác có họ hàng gì với Trần Cao Vân?
- Tôi là em.
- Tên bác là gì?
- Trần Lập Thành.
- Tôi trông bác giống Trần Cao Vân nên đã có ý ngờ là em. Đảng phái thế nào?
- Tan nát hết.
Đội Giá ghé vào tai Lập Thành thì thầm mấy câu.
Khi về tới đồn, Đội Giá lên trình với viên Trưởng đồn là Vélasque, đoạn sai giải Lập Thành vào Đề Lao tống giam.
* * *
Sau việc vua Thành Thái chống Pháp thất bại bị đày đi Ô Cấp (Cap St Jacques = Vũng tàu) rồi lại bị đưa sang an trí tại đảo Réunion (thuộc Phi Châu) thì phong trào bài Pháp ở Đông Dương càng ngày càng sôi nổi, nhất là từ khi vua Duy Tân kế nghiệp vua cha (1907) và các đảng phái cách mạng được tự do thành lập dưới sự che chở của dân chúng, các đảng phái chính trị này tuy tổ chức dưới hình thức khác nhau, nhưng đại đồng tiểu dị, đều nhắm một mục đích giải phóng dân tộc, chống lại thực dân, đế quốc Tây Phương,
Mạnh mẽ nhất là đảng Việt Nam Quang Phục Hội tuy hoạt động ở ngoại quốc (1910) nhưng đã gây được ảnh hưởng giới sĩ phu Trung Việt và cái tôn chỉ rõ rệt với các nhà lãnh tụ Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền bắt đầu thấm nhuần vào đám bình dân. Từ khi đảng Văn Thân dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc Phan Đình Phùng bị đàn áp đến rã rời, cô lập, thì phong trào chính trị Việt Nam lại chuyển hướng, tuyệt đối không bạo động, dùng cách ôn hòa, tiềm tàng gây thế lực ở ngoại quốc cho đảng viên tuyên truyền trong dân chúng, đợi bao giờ, lượng đầy dủ mới hoạt động. Sau việc Kỳ ngoại hầu Cường Để xuất dương sang Nhật, thì phong trào Đông Du được mọi người hưởng ứng nhiệt liệt. Mặc dầu chính quyền Bảo Hộ hết sức ngăn cản, những phần tử quốc gia chân chính như Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Thượng Hiền, Lâm Đức Thụ..... cũng trốn thoát được sang tập trung ở Đông Kinh họp mặt với các chính khách Phù Tang. Năm 1910, Việt Nam Quang Phục Hội ra đời, nhưng cũng năm đó cũng bị một phen thất bại đau đớn khiến cho bao nhiêu hy vọng chứa chan sớm bị tiêu tan như mây khói. Vì thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức, và thêm vào đó tính khinh thường của ông Nguyễn Hải Thần tổng tư lệnh, Phục Quốc quân đóng Long Châu tấn công đồn Tà Lùng bị thất bại, nhiều yếu nhân đã trả nợ nước dưới mũi súng hay trên làn nước bạc. Ông Nguyễn Hảỉ Thần may chạy thoát được sang Quảng Đông, lực lượng Phục Quốc Quân rã rời tan tác như cánh hoa dào trước trận cuồng phong. Chính phủ thực dân Pháp hồi ấy đã nhận rõ tính cách quan trọng của cuộc hành quân này, và sợ rằng nếu để các phần tử ái quốc Việt Nam còn được tự do ở Hải ngoại thì sớm muộn nhiều cuộc bạo động quân sự khổng lồ hơn nữa sẽ tiếp diễn ở biên thùy Hoa Việt và có thể lan tràn đến nội địa. Vì vậy, một mặt Pháp cho người đi lùng bắt ráo riết các đảng viên Việt Nam phục quốc hội, một mặt Pháp giao thiệp với Chính phủ Nhật để bắt Kỳ Ngoại Hầu và các học sinh Việt Nam ở đất Phù Tang.
Hồi ấy Nhật Bản tuy hùng mạnh thật, nhưng cũng còn phải hàm ơn các nước Anh, Pháp, Mỹ trong cuộc chiến tranh với Nga Hoàng (1905) nên bắt buộc phải nhận lời yêu cầu của Pháp. Da dĩ, những chính khách Nhật, thực Iòng ủng hộ cách mệnh Việt Nam như Khuyển Dưỡng Nghi, Bá Nguyên Tùng, Đẩu Sơn.... thì đã rút lui khỏi sân khấu chính trị từ lâu rồi, thành ra đảng viên thân cô, thế cô, chỉ còn trông ở sự may rủi định đoạt vận mệnh. Cũng năm ấy, Nhật hoàng ra lệnh trục xuất nhà ái quốc Cường Để vì các học sinh Việt Nam sang Trung Hoa. Tàu đến bến Thượng Hải, Pháp cho người xuống bắt cụ Cường Để nhưng cụ thoát được nhờ ở tấm lòng nghĩa hiệp của viên chủ tàu, Kỳ Ngoại Hầu trốn về Quảng Đông, gặp cụ Phan Bội Châu, bàn cách kiến thiết lại đảng, và ấn định lập trường tranh đấu.
Nhân đã được đọc nhiều sách của nhà văn cách mệnh Lương Khải Siêu, họ Phan tìm vài quyển mà tư tưởng dễ thâm nhập nhất đem phiên dịch ra quốc âm rồi bí mật sai người mang về nước phân phát cho dân chúng. Cũng nhờ có cách tuyên truyền ấy mà nhiều thanh niên Việt Nam ái quốc rủ nhau xuất ngoại, với một nguyện vọng tha thiết là cố học thành tài để sau này đem cái sự học của mình phụng sự quốc gia. Những người vì điều kiện sinh hoạt bó buộc không đi được, thì hoặc quá bồng bột, hoặc thiếu kinh nghiệm, đã gây nhiều cuộc bạo động để rồi dắt nhau đi đến một sự thất bại đau đớn nặng nề. Năm 1911 Chu Đình Trạc khởi nghĩa ở Yên Bái, Hoàng Hoa Thám âm mưu đầu độc lính Pháp ở Hà Nội.
Năm 1912, Nguyễn Văn Tráng, một đảng viên của Việt Nam Phục Quốc Hội liệng bom kết liễu tính mạng viên tuần phủ Thái Bình là Nguyễn Duy Hàn. Tháng 10 năm 1914, các đảng phái cách mệnh liên minh với nhau hoạt động ở biên giới Hoa Việt. Chỉ trong vài ngày ba đạo quân đều bị tan tác dưới trận mưa đạn của đối phương. Trần Hữu Lực cầm đạo quân ở Lai Châu bị bắt đem về chém ở Bạch Mai. Hoàng Trọng Mậu chỉ huy nghĩa binh ở Yên Bái và Lê Đức Mân ở Lạng Sơn chạy thoát được, nhưng lại bị bắt và kết tội tử hình (1915).
Thế là chỉ trong khoảng không đầy 5 năm, bắt đầu từ khi Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập ở Đông Kinh (1910) chọ đến kỳ Âu chiến lần thứ nhất bùng nồ, nhiều phần tủ ưu tú của đảng đã trả xong món nợ máu đối với Tổ quốc, và tô điểm thêm vào những trang sử oanh liệt của Việt Nam một màu vàng son chói lọi. Sau những việc thất bại liên tiếp đó, các lãnh tụ của đảng ra lệnh đình chỉ mọi việc bạo động và chỉ chú trọng về phương diện tuyên truyền. Đến tháng 3 năm 1916, thì đảng đột nhiên thay đổi lập trường nhất quyết bạo động để gây ảnh hưởng nhưng lần này thì kết quả lại thảm hại hơn. Trong quá trình tranh đấu, sự hoạt động về quân sự của đảng có lẽ đã diễn đến màn chót, vì sau việc vua Duy Tân xuất bôn rồi bị cầm tù, bao nhiêu đảng viên còn lại đều mất phương tiện sinh hoạt và đành chịu bất lực trước sự thay đổi của cục diện đất nước. Nhân việc lăng tẩm của vua Dực Tôn (Tự Đức) bị viên Khâm sứ Trung Kỳ Mahé khai quật để tìm vàng, Phan Hữu Khánh, một thanh niên rất lanh lợi, vừa tốt nghiệp trường thương mại kỹ nghệ ở Huế, dâng vua Duy Tân một bức thư lời lẽ rất lâm ly thống thiết mô tả nổi khổ tâm của người dân sống dưới quyền thống trị của ngoại bang. Nhà vua vừa đọc thơ vừa khóc, rồi hẹn sẽ gặp Trần Cao Vân, Thái Phiên ngày 12 tháng 3 âm lịch (1916) ở Trường thi.
Đúng ngày ấy, vua Duy Tân giả vờ đi xem duyệt binh, rồi thừa cơ đến bờ sông bí mật hội họp với hai thủ lãnh của đảng.
Nhà vua nóng muốn khởi sự, nhưng Trần Cao Vân can rằng:
- Sự tổ chức chưa hoàn bị xin bệ hạ hãy để thư thả.
Thái Phiên quắc mắt tiếp:
- Nếu ta để chậm ngày nào là dân khổ ngày ấy. Sống chết cũng phải khởi nghĩa phen này.
Vua Duy Tân ứa nước mắt:
- Phụ hoàng vì thương con do bị trói buộc dưới vòng nô lệ, mà bỏ cả ngai vàng để quyết chiến với người Pháp. Rút cục, tấm thân muôn cỗ xe phải giải rầu nơi đất khách. Các ngươi đều nặng lòng ái quốc, nỡ nào khoanh tay nhìn Tổ quốc tan nát dưới gót giầy xâm lăng, chả đáng thẹn với tiền nhân lắm ru!
Trần Cao Vân cũng khóc:
- Thần rút kinh nghiệm những cuộc khởi nghĩa trước đây, nên chẳng dám bạo động sợ lại thất bại lần nữa thì xấu hổ với những nắm xương dưới mồ nghĩa sĩ. Bệ hạ thông minh chắc cũng thấu rõ nỗi khổ tâm của kẻ yếu đứng trước kẻ mạnh.
Vua Duy Tân lại tiếp:
- Sự tồn vong của dân tộc chỉ trông cậy ở các người, sao lại quá nhút nhát mà để lỡ mất cơ hội tốt đẹp? Trẫm đã không thiết gì đến vinh hoa phú quý muốn đem chút tàn lực để xoay sở lại thời cuộc, các ngươi cũng đừng quá nặng tình với gia đình, hãy vì quyền lợi của Tổ quốc mà hứng tay nhận lấy một phần trách nhiệm.
Thấy nhà vua nói thiết tha quá, Vân cũng cảm động, đành phải nhận lời, và hứa sẽ nhờ Phan Hữu Khánh bấy giờ đã làm tài xế cho nhà vua làm liên lạc viên giữa Hoàng Gia và đảng cách mệnh.
Trần Cao Vân về đến nhà, bàn bạc với em là Trần Lập Thành về việc ấn định kế hoạch khởi sự. Thành năm ấy vừa đúng 26 tuổi, rất thông minh lanh lợi, tính nết lại thâm trầm, người trông ra vẻ nho nhã phong lưu nhưng côn quyền rất giỏi. Trong thời gian hoạt động cách mệnh, Thành chỉ đội tên anh, không mấy khi hợp mặt với các đảng viên, nên ít người biết đến. Chàng thông thạo cả Hán học và Pháp học, giá như ai tham bả vinh hoa, cam tâm luồn cúi thì cũng “quan trường năm bảy chuyến, quan ngoài ba bốn phen” nhưng chàng thanh niên đó vì xót giống thương nòi muốn đập tan xiềng xích nô lệ để giải phóng dân tộc.
Được anh tin cậy, giao phó cho việc cổ động lấy đảng viên cùng là thiết lập hệ thống liên lạc suốt từ Bắc vào Nam, Trần Lập Thành nghiễm nhiên đóng một vai trò can hệ trong cuộc phục hưng đất nước. Nhân được nhà vua ủy thác cho trọng trách, Trần Cao Vân bí mật triệu tập các đại biểu của các tỉnh miền Trung Việt đến họp tại một khu chùa cách Phú Xuân (Huế) chừng 5 cây số.
Buổi tối hôm ấy, khi mọi người đã đến đông đủ, Thái Phiên sai giải chiếu ở trên Tam Bảo rồi mời các đồng chí vào thảo luận kế hoạch khởi sự. Chung quanh chùa đều đặt trạm canh gác, có nghĩa quân đeo súng tuần phòng. Dưới ánh lửa chập chờn của hơn ba chục ngọn nến những hình người ngồi xếp vòng tròn chung quanh chiếc lư hương cao hơn thước tây đang nhả từng làn khói thơm cuồn cuộn tung bay. Thái Phiên bày bốn cái ấn kinh lược của nhà vua mới đúc, lên bệ gạch rồi cất tiếng sang sảng nói:
- Hoàng đế giao cho chúng ta trách nhiệm giải phóng dân tộc khỏi xiềng xích nô lệ. Trong lúc này, vận mệnh của Tổ quốc như ngọn đèn trước gió, có thể vì một lầm lỡ về quân sự, mà toàn dân sẽ mất hết hy vọng độc lập.
Trước khi hành động, chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng các kế hoạch tấn công đồn binh, cốt sao cho mau lẹ và đỡ rỏ nhiều máu mới được. Ai có ý kiến gì hay, xin tự do phát biểu.
Có người hỏi:
- Bốn cái ấn kia dùng làm gì?
- Theo ý muốn của Hoàng đế thì mấy tỉnh Trung Việt đã chịu ảnh hưởng nhiều nhất của đảng, sẽ chia làm bốn khu: đặt dưới quyền kiểm soát của bốn vị kinh lược. Bốn khu là:
1) Bình Trị (tức Quảng Bình, Quảng Trị do Phan Phú Tiên chỉ huy.
2) Nam Ngãi (Quảng Nam, Quảng Ngãi) thì tôi đảm nhiệm.
3) Bình Phú (Bình Định, Phú Yên) thuộc quyền của Lê Ngưng.
4) Khánh Thuận (Khánh Hoà, Bình Thuận) thì giao cho Phan Thanh Tài.
- Xin ấn định rõ ràng của mỗi vị kinh lược.
Thái Phiên nghĩ một lát, rồi tiếp:
- Các vị kinh lược có toàn quyền điều khiển hành chính và quân sự trong phạm vi khu vực của mình. Đồng thời, phải luôn luôn liên lạc với nhau để trao đổi quan niệm về cách dùng binh và thâu nhận đảng viên mới. Bốn vị này được trực tiếp với Hoàng đế, và được quyền sử dụng những biện pháp thích hợp với nhu cầu quân sự, rồi sẽ tâu sau.
Lê Ngưng tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Như thế thì sự hành động sẽ mất tính cách thống nhất.
- Trong lúc này, ta phải tùy theo sự biến chuyển của thời cuộc mà quyết đoán công việc không thể nhắm mắt theo mãi con đường đã vạch sẵn. Cốt sao gây được cảm tình trong dân chúng và điều động họ được dễ dàng trong cuộc chiến tranh toàn diện với đối phương.
Có tiếng người hỏi:
- Thế nào là chiến tranh toàn diện?
- Ta đánh địch không những về mặt quân sự mà còn về mặt kinh tế và văn hóa nữa.
- Xin giải thích cho rõ ràng.
- Địch dùng chính sách “dĩ chiến dưỡng chiến”, lấy thóc gạo của ta để nuôi quân lính, đồng thời tải hàng hóa ở nước sang, bán cho dân ta. Như vậy, hèn chi nền kinh tế của ta chả bị lũng đoạn? Ta đối phó lại bằng một phương pháp rất giản dị: tuyên truyền cho dân chúng tẩy chay hàng hóa của họ và không bán thóc gạo cho họ nữa. Muốn đạt được kết quả mau chóng, Trung Ương đảng bộ kíp sai người đặt những bài vè nói về việc này, rồi dạy truyền khẩu cho bọn xẩm ở các bến đò quán chợ, để cho toàn dân biết mà thi hành.
Phan Phú Tiên mỉm cười nói:
- Như thế dễ bị lộ tẩy.
- Không sao, miễn sao lọt vào tai dân chúng là được.
Sau một hồi thảo luận sôi nổi nữa, các đại biểu bỏ phiếu ấn định kế hoạch khởi sự. Chương trình hành động đại khái gồm mấy khoản sau đây:
1) Phát động phong trào tổng tấn công khắp các tỉnh. Chi bộ Phú Xuân (Huế) sẽ nổ súng báo hiệu. Các đơn vị nghĩa quân đóng ở Đèo Hải Vân sẽ đốt lửa thông tin cho hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi biết.
2) Dân quân sẽ phối hợp với lực lượng quân chính quy đóng rải rác ở Kinh Đô đánh chiếm các đồn binh.
3) Chiếm cửa bể Đà Nẵng để lấy đường ăn thông ra biển.
4) Nếu thất bại, thì các đạo quân sẽ thối lui vào rừng để đợi lệnh mới của Trung ương đảng bộ.
5) Ngày khởi nghĩa nhất định là mồng một tháng tư âm lịch. (tháng 5, 1916)
Thoả thuận rồi, mọi người đứng dậy ra về. Đi đường Thành khẽ hỏi Vân:
- Anh có chắc đại sự sẽ thành công?
- Ai đã dám chắc? Muôn việc đều ở giời.
- Anh nên tin ở mình hơn là ở giời!
Vân vỗ vai em:
- Có giời mà cũng có.... ta nữa. Nếu lòng giời không tựa thì bao nhiêu công lao cũng chỉ là công.... cốc.
Thành thở dài:
- Lực lượng của ta đối với địch thế nào?
- Kém hẳn.
- Đã biết thế, sao còn lao mình vào cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm?
Vân tức giận:
- Mày sợ à?
- Em không sợ, nhưng em không chịu chết một cách vô ích.
- Chết vì nước mà mày bảo là chết vô ích à?
Công việc ở đời thành hay bại không đáng kể lắm. Trên con đường giải phóng dân tộc, tao muốn cắm thêm một cái mốc nữa, để cho thế hệ mai sau trông thấy mà làm gương.
Thành cúi đầu không nói.
Thấm thoát đến ngày 30 tháng 3 âm lịch. Ở Quảng Ngãi vì sự phản bội của một đảng viên, câu chuyện bị vỡ lở. Lập tức các binh lính Việt Nam bị tước khí giới và bị tống giam. Quân Pháp tuần hành khắp phố bắt giữ những người khả nghi. Lê Ngưng bị bắt cùng với một số đảng viên nữa, rồi bị lên án tử hình. Ở Đà Nẵng, Phan Thanh Tài cũng chung một số phận. Ở Huế viên Khâm sứ Charles ra lệnh giới nghiêm. Thái Phiên đem vua đi trốn vào chùa Thiên Mụ, rồi bị bắt. Trần Cao Vân chạy về làng Hà Trung ở được ít lâu, sau cũng bị cầm tù.
Ngày 17 tháng 5 năm 1916, hai vị thủ lãnh Trần Cao Vân và Thái Phiên bị chém ở chợ An Hoà, còn vua Duy Tân thì bị đày đi an trí ở đảo Réunion thuộc Châu Phi. Các đảng viên bị truy nã ráo riết, người bị bắt, người tự tử chết nhiều vô kể. Riêng có Trần Lập Thành chạy thoát được cải trang là một hành khất, rồi luồn rừng di ra Bắc, định vượt qua biên giới sang Tàu.
Khi chàng đến Trại Cơ, thì gặp Ba Lập là một liên lạc của đảng, ở lại chơi mấy hôm thì không may xảy ra việc hai vợ chồng chủ nhân ấu đả nhau, khiến cho chàng bị lộ hình tích và bị bắt giải về Đồn Áp.
Nguyễn Quỳnh
ĐỘI CẤN KHỞI NGHĨA
Anh hùng dân tộcNHÀ XUẤT BẢN NAM CƯỜNG 1956
CHƯƠNG THỨ NHẤT
Trần Lập Thành
Tháng chín năm Bính Thìn (1916), một buổi chiều chợ Trại Cờ đã vắng người. Trên con đường từ huyện Đức Thắng (Bắc Giang) đến Đồn Ấp (thuộc tỉnh Thái Nguyên) lác đác còn dăm ba gánh gạo đang rảo bước đi.
Nắng thu đã nhạt. Heo may sào sạc trên ngọn cây để nhẹ rơi vài chiếc lá vàng. Hoàng hôn đổ xuống: cảnh vật chìm dần vào trong màu tím xẫm.
Ở Chợ Trại Cờ các nhà đã lục tục đóng cửa. Những cánh liếp buông xuống che hết cả ánh đèn, làm cho người đường tối om.
Vài tiếng chó sủa vang lên một hồi rồi lại im bặt. Một con chim vụt bay từ bụi cây lên không trung, lượn mấy vòng rồi buông vào cảnh tịch liêu của đồng ruộng vài tiếng kêu buồn rầu, ảo não.
Mọi người đang sửa soạn sắp đi ngủ, bỗng phía cuối phố vang lên mấy câu chửi rủa tục tằn, tiếp theo là những tiếng đập phá ầm ầm.
Người ta vội mở cửa, đổ xô cả ra người đường, túm năm tụm ba, xì xào bàn tán. Một chàng thanh niên ngơ ngác nhìn về phía có tiếng kêu, rồi gật gù nói:
- Không khéo lại vợ chồng bác ba Lập.
Có tiếng đáp lại:
- Phải đấy! Vợ chồng nó hay cãi nhau lắm cơ!
Tiếng đập phá ngớt, nhưng lại nghe thấy tiếng khóc của đàn bà.
- Đích thị rồi. Lại chuyện tiền đấy mà.
Có lẽ mọi người cũng nhận là đúng, nên không bàn tán nữa, lảng vảng ra về. Tiếng cửa quay rít, tiếng cánh liếp đổ xập xuống một vài câu nói khàn khàn ngái ngủ trao đổi trong bóng tối, cộc lốc, nửa như gắt gỏng, rồi im. Đêm lại tĩnh mịch.
Được một lúc, thì tiếng kêu thét lại vang lên, dồn dập và dữ dội vô cùng.
Dân phố lại vùng dậy, mở cửa, chạy ra người đường. Họ đổ xô cả ra phía nhà bác Ba Lập, chân người chạy thình thịch, tiếng gọi nhau ấm ới, tưởng chừng như ở nơi này vừa xảy ra một tai nạn rùng rợn, gớm ghê.
- Ới làng nước ơi! Ới trời ơi! Nó đánh chết tôi.
- Này kêu! này già mồm!
- Nó đánh chết tôi.. Ai cứu tôi!
Bác Lâm làm Trưởng phố, tay cầm chiếc tay thước rẽ làn sóng người hấp tấp đi, theo sau là hai bác phu tuần vác mã tấu. Hắn vừa tới ngã ba cây gạo, còn cách nhà bác ba Lập độ vài chục thước, thì bỗng lù lù ở phía trước năm người lính đồn đeo súng vừa đến.
Một tiếng thét làm hắn dừng bước lại:
- Ách cha la chi biu (Halte là: qui vive)
Trưởng Lâm thở hổn hến đáp:
- Bẩm! trưởng phố đây!
Một người đi đầu, vận bộ quân phục màu xám, trịnh trọng hỏi:
- Trưởng Lâm phỏng?
- Bẩm vâng ạ.
Ánh đèn pin loé lên rọi vào mặt Trưởng Lâm rồi tiếp sau mấy câu nói rất thân mật:
- Chào ông Trưởng, tôi là Đội Giá đây!
Lâm cũng tươi cười:
- Gớm thầy Đội! làm em bẩy vía chỉ còn ba.
Đội Giá khà khà cười:
- Tuần phòng phải thế chứ!
Đoạn vỗ vai Lâm hỏi:
- Huynh đi đâu mà tất tưởi thế?
Trưởng Lâm mân mê chiếc tay thước:
- Đến nhà ba Lập xem vợ chồng nó làm gì mà nhộn như vậy.
- Thì mặc kệ vợ chồng người ta, bác cũng hay vẽ sự lắm.
- Khốn nạn, giời rét như thế này, tội gì mà lóc cóc đi cho khổ thân, nhưng không đến sợ chúng nó quá tay thành ra án mạng thì nguy to.
- Nếu có án mạng thì lập biên bản trình, việc quái gì mà sợ.
Trưởng Lâm tủm tỉm cười:
- Gớm, quan bác làm như trò đùa ấy. Thôi xin chào bác, em lại một tí, rồi về kẻo khuya.
Đội Giá bắt tay bạn:
- Vâng mời bác đi.
Hai người chào nhau, vừa đi được mấy bước Đội Giá gọi giật lại:
- Này ông Trưởng!
Trưởng Lâm ngoái cổ lại hỏi:
- Cái gì! Thầy Đội?
Đội Giá vừa cười vừa nói:
- Hôm nào cho sơi cái khoản ấy nhé!
- Khoản gì?
- Khoản... cẩu ấy mà. Bác mà nấu thì phải biết.
Trưởng Lâm cũng phì cười:
- Được rồi, mời bác cứ lại chơi.
Đoạn hấp tấp đi về phía nhà ba Lập. Vừa đến nơi, hắn thấy người ta đứng xúm đen, xúm đỏ quanh cái cửa hàng nhỏ xíu, Hai cánh liếp nằm ngả nghiêng dưới đất, chiếc chõng tre hất đổ tung mâm bát còn vướng cả vào nan lẫn cả với bã chè.
Trưởng Lâm rẽ đám người bước vào thì được mục kích một cảnh tượng buồn cười nôn ruột: dưới ánh sáng đèn dầu tây tù mù, vợ Ba Lập nằm lăn ở dưới đất, sống áo sộc sà sộc sệch, tóc sõa che kín cả mặt, hai gót chân đập thình thịch xuống mặt đất như giã giò, mồm kêu la ầm ĩ, tay vẫn ôm đứa bé lúc bấy giờ đang nằm soài trên bụng mẹ mà bú. Còn anh chồng thì mặt như nhuộm phẩm hồng, đứng trên thềm, chỉ chỏ, miệng nói liến thoắng phân bua với mọi người:
- Các ông, các bà xem vợ con như thế này có nhục không? Tôi đã nhịn, nó lại làm già. Tôi đánh cho nó biết tay, để lần sau đừng có hỗn nữa.
Một câu nói trong đám đông đưa lên:
- Rượu vào phải biết!
Mọi người đều cười ầm lên, Trưởng Lâm bước lên thềm, chiếc tay thước giơ cao ngang mặt Ba Lập:
- Sự tình làm sao, nói ngay?
Ba Lập tái mặt, vội cúi gập người xuống, hai tay chắp vái:
- Lạy ông! Vợ con nó tệ quá, con chót dại.
Trưởng Lâm quắc mắt tống luôn chiếc tay thước vào ngực Ba Lập đánh “hự” một cái bằng trời giáng.
- Mày làm náo động hàng phố lúc đêm khuya, ông thì bỏ tù mày nghe chưa?
- Con lạy ông. Con chót dại.
Một cái đạp nửa trúng giữa bụng ba Lập làm hắn ngã ngồi xệp xuống.
- Chót dại này! Chót dại này!
Chị vợ dang bù lu bù loa thấy anh chồng bị đòn, nghe chừng cũng hả giận, ngồi phắt ngay dậy, vừa quấn tóc vừa mếu máo:
- Bẩm ông Trưởng, nó bắt nạt con, nó say rượu đánh con gần chết. Xin ông xét cho.
Trưởng Lâm cười gằn:
- Phải rồi! Tao biết vợ chồng mày rồi. Lên đây tao hỏi:
Chị ba vội bế lấy con, rụt rè bước lên thềm.
- Để đứa bé xuống.
Chị biết ngay là sẽ bị nếm vài chiếc tay thước, nên cứ ôm chặt lấy đứa bé, ngồi thụp xuống, khóc sướt mướt như cha chết. Chị tưởng rằng làm như thế, Trưởng Lâm sẽ thương hại tha cho, nhưng ngờ đâu một tiếng quát rùng rợn tiếp ngay đến:
- Buông nó ra, không ông đánh cả hai mẹ con.
Tay chị vừa rời đứa bé ra, thì chiếc tay thước đã vụt vào giữa sống lưng, làm cho chị lăn lộn kêu van ầm ĩ. Đứa bé run lập cập khóc thét lên như tiếng còi.
- Đã chừa đánh nhau chưa?
Chiếc tay thước vừa vung lên, chị giơ cả hai tay lên toan đỡ thì nó quay ngoắt lại, nện vào đúng mạng sườn. Chị ôm bụng vật vã:
- Con chừa rồi. Ông tha cho con.
Thị uy xong, Trưởng Lâm bây giờ mới gọi hai vợ chồng ba Lập lại gần hỏi:
- Vì đâu, chúng mày đánh nhau? Phải khai cho thực, để tao làm biên bản trình huyện.
Thấy nói đến làm biên bản, ba Lập run lập cập, lạy như tế sao:
- Con cắn cỏ lạy ông, con chết mất.
Trưởng Lâm nheo cặp mắt, gật gù:
- Mày chết! mặc kệ mày. Khai đi, khuya lắm rồi.
Chị Ba vừa lau mặt vừa sụt sùi:
- Thưa ông, mấy hôm nay hàng họ ế ẩm, ăn vào vốn...
Trưởng Lâm ngắt lời:
- Biết mà! Lại chuyện tiền.
- Thưa không. Dù có ăn lạm vào vốn, nhưng rồi còn mong gỡ hòa sau này, ai ngờ...
- Ngờ gì?
Chị Ba đưa mắt nhìn chồng, ngập ngừng một lát rồi tiếp:
- Ai ngờ, chồng con đã không biết thế, lại cứ khách khứa suốt ngày, thành ra đã lỗ vốn, lại lỗ vốn thêm.
- Khách nào?
Ba Lập vội nói chặn:
- Bẩm, có khách khứa nào đâu! Mấy hôm nay chú cháu ở nhà quê ra chơi.
Trưởng Lâm giang thẳng cánh, tát vào mặt ba Lập đánh “bốp” một cái:
- Im, ai hỏi mày!
Ba Lập loạng choạng suýt ngã. Chị vợ xoen xoét nói luôn:
- Nếu phải là họ hàng hang hốc thì khi nào con kêu ca. Chả biết nó là thằng cha căng chú kiết nào, mà cứ ở ăn vạ mấy hôm nay, hết rượu lại chè, hết chè lại bánh, con phải hầu hạ như bố già mà cũng không xong.
Trưởng Lâm hất đầu bảo hai tên phu tuần đứng gần đấy:
- Vào lôi nó ra dây.
Chị vợ le te chạy vào trước, chỉ tay vào chiếc giường tre kê sát vách:
- Đây, rượu say rồi nằm khoèo ra ngủ.
Một tên phu tuần nắm lấy cánh tay người khách lôi phăng dậy:
- Ra mau.
Không biết người khách ngủ thực hay ngủ giả mà tên phu tuần lay gọi mãi người ấy chỉ ấm ớ, nửa như tỉnh, nửa như say, thỉnh thoảng lại gãi sồn sột như cạo lông lợn.
Một tên khác tức mình đấm luôn mấy cái vào lưng hắn.
- Dậy mau.
Đoạn hai tên thò tay luồn vào sau lưng hắn, nâng dậy kéo tuột ra ngoài. Người khách rẫy rụa, cúi đầu ho sù sụ một hồi, rồi loạng choạng chân nam đá chân chiêu, bước đi. Gần tới cửa hàng người ấy ngã gục xuống cạnh chiếc bục gỗ, cái búi tó sổ tung ra, che kín cả hai vai.
Trưởng Lâm cười mỉa mai:
- Chà! con cháu Lưu Linh có khác.
Hắn tiến lại gần, cầm tóc người khách dật dật mấy cái:
- Thẻ đâu?
Mãi không thấy trả lời. Trưởng Lâm tống luôn chiếc tay thước vào ngực người khách:
- Này say! Này say!
Chị Ba cong cớn nói:
- Nó vờ đấy, lúc con bị đòn nó còn can khéo, mấy câu cơ mà.
Như lửa tưới thêm dầu, Trưởng Lâm thích luôn mấy cái nữa thật mạnh, làm người khách đau quá, ôm ngực kêu:
- Chết tôi mất.
Trưởng Lâm khì khì cười.
- Mày còn vờ mãi. Thẻ đâu?
Rồi không đợi trả lời, hắn hất đầu ra hiệu. Hai tên tuần nhanh nhẹn vật ngửa người khách ra lục soát khắp mình. Dân chúng hiếu kỳ sán lại quây tròn chung quanh để xem. Một tên vớ được mảnh giấy đá nát nhầu, đưa cho Trưởng Lâm. Dưới ánh đèn tù mù, Trưởng Lâm dán mắt vào tờ giấy đọc đi đọc lại mãi mà vẫn không ra chữ gì.
Nhưng đến cuối trang, Hắn bỗng thốt lên một tiếng kêu nghe rất sợ sệt, vì ba chữ “Trần Cao Vân” ký ở dưới. Hắn chỉ đống thịt nằm khoèo ở mặt đất, đang phì phò thở.
- Nó là thằng giặc.
Câu nói vừa buông ra, dân phố ngơ ngác nhìn nhau rồi lảng dần. Trong chớp mắt cửa hàng ba Lập đã vắng teo, chỉ còn mấy người ở lại. Trưởng Lâm bảo hai tên tuần:
- Giải hết cả lên huyện.
Chị Ba run như cầy sấy, lạy van:
- Thưa ông, con là đàn bà dốt nát, trăm sự nhờ ông.
Hắn quắc mắt nói:
- Chúng mày là đồng phạm.
Chị đặt đứa con xuống đất, vừa lạy vừa khóc:
- Thật quả chúng con vô tình, xin ông xét cho.
Hắn không đáp, rảo bước ra ngoài, thì vừa gặp Đội Giá dắt tụi lính đến. Trưởng Lâm cúi đầu chào rồi nói:
- May gặp thầy Đội. Nhờ thầy giải bọn này lên huyện.
Đội Giá ngạc nhiên hỏi:
- Họ có tội gì?
Trưởng Lâm ghé tai bạn thì thầm mấy câu. Đội Giá mím chặt môi, nghĩ ngợi một lát rồi tiếp:
- Trần Cao Vân đã chết rồi cơ mà.
- Thằng này chắc là đồng đảng của nó.
Đội Giá tiến lại gần, vén tóc xem mặt khách, rồi bỗng kêu lên một tiếng.
Trưởng Lâm sẽ hỏi:
- Thầy có quen nó không?
Đội Giá mặt hơi biến sắc, lắc đầu đáp:
- Tôi không gặp nó bao giờ.
- Sao thầy lại kêu to thế?
- Tôi trông mặt nó có vẻ học trò không thấy gì là gian ác, thì chưa chắc đã phải là giặc.
Trưởng Lâm bĩu môi:
- Học trò gì nó. Ác ra mặt.
Đội Giá làm ra vẻ thân mật, vỗ vai Trưởng Lâm nói:
- Đây về huyện Thắng xa có tới 7,8 cây số, mà đêm đã khuya lắm rồi. Tôi sợ rằng đồng đảng của tên này còn lẩn quất đâu đây tìm cách đánh tháo cũng chưa biết chừng. Vậy bác để tôi giải về Đồn Áp thì tiện hơn.
Trưởng Lâm nhăn nhó:
- Nhưng Đồn Áp thuộc về Thái Nguyên.
Như đã hiểu rõ tâm lý của bạn, Đội Giá thản nhiên tiếp:
- Bắt được tên này là công của bác, tôi đâu có dã tâm hớt cẳng bác. Dù có giải nó về Thái Nguyên thì lúc lập biên bản tôi cũng phải nói đến tên bác mà tôi chỉ là người áp tải phạm nhân để đề phòng mọi sự bất trắc mà thôi.
Trưởng Lâm vẫn còn lưỡng lự:
- Tôi sợ quan Huyện không bằng lòng.
Đội Giá mỉm cười:
- Đảng viên Quang Phục Hội rải rác khắp nơi nếu ta sơ ý để họ dò xét biết thì lập tức họ tìm cách cướp lại phạm nhân ngay. Đồn Áp cách đây độ vài ba cây số, bọn chúng tôi súng ống đầy đủ, có thể chống cự được một cuộc tấn công bất thần của địch. Phạm nhân đã ở trong tay mà để sống mất thì không những bác bị khiển trách mà chúng tôi cũng chịu một phần tội lỗi.
Trưởng Lâm nghe chừng đã xuôi, nhưng còn dùng dằng chưa muốn giao ngay. Đội Giá lại tiếp:
- Tôi sẽ làm giấy nhận là chính tay bác bắt được tên này, mà tôi có nhiệm vụ giải hắn về Đồn Ấp. Nếu có xảy ra sự gì, thì tôi chịu hết điều không hay, còn bác vẫn được công với Chính phủ.
Trưởng Lâm bằng lòng hai người làm giấy ký kết xong xuôi. Đội Giá truyền cho lính trói chặt người khách mang đi.
Trưởng Lâm cũng mang hai tên tuần trở về Trại Cờ.
Vừa được một quãng đường, Đội Giá sai cởi trói cho người ấy, rồi vỗ vai hỏi:
- Bác có họ hàng gì với Trần Cao Vân?
- Tôi là em.
- Tên bác là gì?
- Trần Lập Thành.
- Tôi trông bác giống Trần Cao Vân nên đã có ý ngờ là em. Đảng phái thế nào?
- Tan nát hết.
Đội Giá ghé vào tai Lập Thành thì thầm mấy câu.
Khi về tới đồn, Đội Giá lên trình với viên Trưởng đồn là Vélasque, đoạn sai giải Lập Thành vào Đề Lao tống giam.
* * *
Sau việc vua Thành Thái chống Pháp thất bại bị đày đi Ô Cấp (Cap St Jacques = Vũng tàu) rồi lại bị đưa sang an trí tại đảo Réunion (thuộc Phi Châu) thì phong trào bài Pháp ở Đông Dương càng ngày càng sôi nổi, nhất là từ khi vua Duy Tân kế nghiệp vua cha (1907) và các đảng phái cách mạng được tự do thành lập dưới sự che chở của dân chúng, các đảng phái chính trị này tuy tổ chức dưới hình thức khác nhau, nhưng đại đồng tiểu dị, đều nhắm một mục đích giải phóng dân tộc, chống lại thực dân, đế quốc Tây Phương,
Mạnh mẽ nhất là đảng Việt Nam Quang Phục Hội tuy hoạt động ở ngoại quốc (1910) nhưng đã gây được ảnh hưởng giới sĩ phu Trung Việt và cái tôn chỉ rõ rệt với các nhà lãnh tụ Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền bắt đầu thấm nhuần vào đám bình dân. Từ khi đảng Văn Thân dưới quyền lãnh đạo của nhà ái quốc Phan Đình Phùng bị đàn áp đến rã rời, cô lập, thì phong trào chính trị Việt Nam lại chuyển hướng, tuyệt đối không bạo động, dùng cách ôn hòa, tiềm tàng gây thế lực ở ngoại quốc cho đảng viên tuyên truyền trong dân chúng, đợi bao giờ, lượng đầy dủ mới hoạt động. Sau việc Kỳ ngoại hầu Cường Để xuất dương sang Nhật, thì phong trào Đông Du được mọi người hưởng ứng nhiệt liệt. Mặc dầu chính quyền Bảo Hộ hết sức ngăn cản, những phần tử quốc gia chân chính như Lương Ngọc Quyến, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Thượng Hiền, Lâm Đức Thụ..... cũng trốn thoát được sang tập trung ở Đông Kinh họp mặt với các chính khách Phù Tang. Năm 1910, Việt Nam Quang Phục Hội ra đời, nhưng cũng năm đó cũng bị một phen thất bại đau đớn khiến cho bao nhiêu hy vọng chứa chan sớm bị tiêu tan như mây khói. Vì thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức, và thêm vào đó tính khinh thường của ông Nguyễn Hải Thần tổng tư lệnh, Phục Quốc quân đóng Long Châu tấn công đồn Tà Lùng bị thất bại, nhiều yếu nhân đã trả nợ nước dưới mũi súng hay trên làn nước bạc. Ông Nguyễn Hảỉ Thần may chạy thoát được sang Quảng Đông, lực lượng Phục Quốc Quân rã rời tan tác như cánh hoa dào trước trận cuồng phong. Chính phủ thực dân Pháp hồi ấy đã nhận rõ tính cách quan trọng của cuộc hành quân này, và sợ rằng nếu để các phần tử ái quốc Việt Nam còn được tự do ở Hải ngoại thì sớm muộn nhiều cuộc bạo động quân sự khổng lồ hơn nữa sẽ tiếp diễn ở biên thùy Hoa Việt và có thể lan tràn đến nội địa. Vì vậy, một mặt Pháp cho người đi lùng bắt ráo riết các đảng viên Việt Nam phục quốc hội, một mặt Pháp giao thiệp với Chính phủ Nhật để bắt Kỳ Ngoại Hầu và các học sinh Việt Nam ở đất Phù Tang.
Hồi ấy Nhật Bản tuy hùng mạnh thật, nhưng cũng còn phải hàm ơn các nước Anh, Pháp, Mỹ trong cuộc chiến tranh với Nga Hoàng (1905) nên bắt buộc phải nhận lời yêu cầu của Pháp. Da dĩ, những chính khách Nhật, thực Iòng ủng hộ cách mệnh Việt Nam như Khuyển Dưỡng Nghi, Bá Nguyên Tùng, Đẩu Sơn.... thì đã rút lui khỏi sân khấu chính trị từ lâu rồi, thành ra đảng viên thân cô, thế cô, chỉ còn trông ở sự may rủi định đoạt vận mệnh. Cũng năm ấy, Nhật hoàng ra lệnh trục xuất nhà ái quốc Cường Để vì các học sinh Việt Nam sang Trung Hoa. Tàu đến bến Thượng Hải, Pháp cho người xuống bắt cụ Cường Để nhưng cụ thoát được nhờ ở tấm lòng nghĩa hiệp của viên chủ tàu, Kỳ Ngoại Hầu trốn về Quảng Đông, gặp cụ Phan Bội Châu, bàn cách kiến thiết lại đảng, và ấn định lập trường tranh đấu.
Nhân đã được đọc nhiều sách của nhà văn cách mệnh Lương Khải Siêu, họ Phan tìm vài quyển mà tư tưởng dễ thâm nhập nhất đem phiên dịch ra quốc âm rồi bí mật sai người mang về nước phân phát cho dân chúng. Cũng nhờ có cách tuyên truyền ấy mà nhiều thanh niên Việt Nam ái quốc rủ nhau xuất ngoại, với một nguyện vọng tha thiết là cố học thành tài để sau này đem cái sự học của mình phụng sự quốc gia. Những người vì điều kiện sinh hoạt bó buộc không đi được, thì hoặc quá bồng bột, hoặc thiếu kinh nghiệm, đã gây nhiều cuộc bạo động để rồi dắt nhau đi đến một sự thất bại đau đớn nặng nề. Năm 1911 Chu Đình Trạc khởi nghĩa ở Yên Bái, Hoàng Hoa Thám âm mưu đầu độc lính Pháp ở Hà Nội.
Năm 1912, Nguyễn Văn Tráng, một đảng viên của Việt Nam Phục Quốc Hội liệng bom kết liễu tính mạng viên tuần phủ Thái Bình là Nguyễn Duy Hàn. Tháng 10 năm 1914, các đảng phái cách mệnh liên minh với nhau hoạt động ở biên giới Hoa Việt. Chỉ trong vài ngày ba đạo quân đều bị tan tác dưới trận mưa đạn của đối phương. Trần Hữu Lực cầm đạo quân ở Lai Châu bị bắt đem về chém ở Bạch Mai. Hoàng Trọng Mậu chỉ huy nghĩa binh ở Yên Bái và Lê Đức Mân ở Lạng Sơn chạy thoát được, nhưng lại bị bắt và kết tội tử hình (1915).
Thế là chỉ trong khoảng không đầy 5 năm, bắt đầu từ khi Việt Nam Quang Phục Hội được thành lập ở Đông Kinh (1910) chọ đến kỳ Âu chiến lần thứ nhất bùng nồ, nhiều phần tủ ưu tú của đảng đã trả xong món nợ máu đối với Tổ quốc, và tô điểm thêm vào những trang sử oanh liệt của Việt Nam một màu vàng son chói lọi. Sau những việc thất bại liên tiếp đó, các lãnh tụ của đảng ra lệnh đình chỉ mọi việc bạo động và chỉ chú trọng về phương diện tuyên truyền. Đến tháng 3 năm 1916, thì đảng đột nhiên thay đổi lập trường nhất quyết bạo động để gây ảnh hưởng nhưng lần này thì kết quả lại thảm hại hơn. Trong quá trình tranh đấu, sự hoạt động về quân sự của đảng có lẽ đã diễn đến màn chót, vì sau việc vua Duy Tân xuất bôn rồi bị cầm tù, bao nhiêu đảng viên còn lại đều mất phương tiện sinh hoạt và đành chịu bất lực trước sự thay đổi của cục diện đất nước. Nhân việc lăng tẩm của vua Dực Tôn (Tự Đức) bị viên Khâm sứ Trung Kỳ Mahé khai quật để tìm vàng, Phan Hữu Khánh, một thanh niên rất lanh lợi, vừa tốt nghiệp trường thương mại kỹ nghệ ở Huế, dâng vua Duy Tân một bức thư lời lẽ rất lâm ly thống thiết mô tả nổi khổ tâm của người dân sống dưới quyền thống trị của ngoại bang. Nhà vua vừa đọc thơ vừa khóc, rồi hẹn sẽ gặp Trần Cao Vân, Thái Phiên ngày 12 tháng 3 âm lịch (1916) ở Trường thi.
Đúng ngày ấy, vua Duy Tân giả vờ đi xem duyệt binh, rồi thừa cơ đến bờ sông bí mật hội họp với hai thủ lãnh của đảng.
Nhà vua nóng muốn khởi sự, nhưng Trần Cao Vân can rằng:
- Sự tổ chức chưa hoàn bị xin bệ hạ hãy để thư thả.
Thái Phiên quắc mắt tiếp:
- Nếu ta để chậm ngày nào là dân khổ ngày ấy. Sống chết cũng phải khởi nghĩa phen này.
Vua Duy Tân ứa nước mắt:
- Phụ hoàng vì thương con do bị trói buộc dưới vòng nô lệ, mà bỏ cả ngai vàng để quyết chiến với người Pháp. Rút cục, tấm thân muôn cỗ xe phải giải rầu nơi đất khách. Các ngươi đều nặng lòng ái quốc, nỡ nào khoanh tay nhìn Tổ quốc tan nát dưới gót giầy xâm lăng, chả đáng thẹn với tiền nhân lắm ru!
Trần Cao Vân cũng khóc:
- Thần rút kinh nghiệm những cuộc khởi nghĩa trước đây, nên chẳng dám bạo động sợ lại thất bại lần nữa thì xấu hổ với những nắm xương dưới mồ nghĩa sĩ. Bệ hạ thông minh chắc cũng thấu rõ nỗi khổ tâm của kẻ yếu đứng trước kẻ mạnh.
Vua Duy Tân lại tiếp:
- Sự tồn vong của dân tộc chỉ trông cậy ở các người, sao lại quá nhút nhát mà để lỡ mất cơ hội tốt đẹp? Trẫm đã không thiết gì đến vinh hoa phú quý muốn đem chút tàn lực để xoay sở lại thời cuộc, các ngươi cũng đừng quá nặng tình với gia đình, hãy vì quyền lợi của Tổ quốc mà hứng tay nhận lấy một phần trách nhiệm.
Thấy nhà vua nói thiết tha quá, Vân cũng cảm động, đành phải nhận lời, và hứa sẽ nhờ Phan Hữu Khánh bấy giờ đã làm tài xế cho nhà vua làm liên lạc viên giữa Hoàng Gia và đảng cách mệnh.
Trần Cao Vân về đến nhà, bàn bạc với em là Trần Lập Thành về việc ấn định kế hoạch khởi sự. Thành năm ấy vừa đúng 26 tuổi, rất thông minh lanh lợi, tính nết lại thâm trầm, người trông ra vẻ nho nhã phong lưu nhưng côn quyền rất giỏi. Trong thời gian hoạt động cách mệnh, Thành chỉ đội tên anh, không mấy khi hợp mặt với các đảng viên, nên ít người biết đến. Chàng thông thạo cả Hán học và Pháp học, giá như ai tham bả vinh hoa, cam tâm luồn cúi thì cũng “quan trường năm bảy chuyến, quan ngoài ba bốn phen” nhưng chàng thanh niên đó vì xót giống thương nòi muốn đập tan xiềng xích nô lệ để giải phóng dân tộc.
Được anh tin cậy, giao phó cho việc cổ động lấy đảng viên cùng là thiết lập hệ thống liên lạc suốt từ Bắc vào Nam, Trần Lập Thành nghiễm nhiên đóng một vai trò can hệ trong cuộc phục hưng đất nước. Nhân được nhà vua ủy thác cho trọng trách, Trần Cao Vân bí mật triệu tập các đại biểu của các tỉnh miền Trung Việt đến họp tại một khu chùa cách Phú Xuân (Huế) chừng 5 cây số.
Buổi tối hôm ấy, khi mọi người đã đến đông đủ, Thái Phiên sai giải chiếu ở trên Tam Bảo rồi mời các đồng chí vào thảo luận kế hoạch khởi sự. Chung quanh chùa đều đặt trạm canh gác, có nghĩa quân đeo súng tuần phòng. Dưới ánh lửa chập chờn của hơn ba chục ngọn nến những hình người ngồi xếp vòng tròn chung quanh chiếc lư hương cao hơn thước tây đang nhả từng làn khói thơm cuồn cuộn tung bay. Thái Phiên bày bốn cái ấn kinh lược của nhà vua mới đúc, lên bệ gạch rồi cất tiếng sang sảng nói:
- Hoàng đế giao cho chúng ta trách nhiệm giải phóng dân tộc khỏi xiềng xích nô lệ. Trong lúc này, vận mệnh của Tổ quốc như ngọn đèn trước gió, có thể vì một lầm lỡ về quân sự, mà toàn dân sẽ mất hết hy vọng độc lập.
Trước khi hành động, chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng các kế hoạch tấn công đồn binh, cốt sao cho mau lẹ và đỡ rỏ nhiều máu mới được. Ai có ý kiến gì hay, xin tự do phát biểu.
Có người hỏi:
- Bốn cái ấn kia dùng làm gì?
- Theo ý muốn của Hoàng đế thì mấy tỉnh Trung Việt đã chịu ảnh hưởng nhiều nhất của đảng, sẽ chia làm bốn khu: đặt dưới quyền kiểm soát của bốn vị kinh lược. Bốn khu là:
1) Bình Trị (tức Quảng Bình, Quảng Trị do Phan Phú Tiên chỉ huy.
2) Nam Ngãi (Quảng Nam, Quảng Ngãi) thì tôi đảm nhiệm.
3) Bình Phú (Bình Định, Phú Yên) thuộc quyền của Lê Ngưng.
4) Khánh Thuận (Khánh Hoà, Bình Thuận) thì giao cho Phan Thanh Tài.
- Xin ấn định rõ ràng của mỗi vị kinh lược.
Thái Phiên nghĩ một lát, rồi tiếp:
- Các vị kinh lược có toàn quyền điều khiển hành chính và quân sự trong phạm vi khu vực của mình. Đồng thời, phải luôn luôn liên lạc với nhau để trao đổi quan niệm về cách dùng binh và thâu nhận đảng viên mới. Bốn vị này được trực tiếp với Hoàng đế, và được quyền sử dụng những biện pháp thích hợp với nhu cầu quân sự, rồi sẽ tâu sau.
Lê Ngưng tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Như thế thì sự hành động sẽ mất tính cách thống nhất.
- Trong lúc này, ta phải tùy theo sự biến chuyển của thời cuộc mà quyết đoán công việc không thể nhắm mắt theo mãi con đường đã vạch sẵn. Cốt sao gây được cảm tình trong dân chúng và điều động họ được dễ dàng trong cuộc chiến tranh toàn diện với đối phương.
Có tiếng người hỏi:
- Thế nào là chiến tranh toàn diện?
- Ta đánh địch không những về mặt quân sự mà còn về mặt kinh tế và văn hóa nữa.
- Xin giải thích cho rõ ràng.
- Địch dùng chính sách “dĩ chiến dưỡng chiến”, lấy thóc gạo của ta để nuôi quân lính, đồng thời tải hàng hóa ở nước sang, bán cho dân ta. Như vậy, hèn chi nền kinh tế của ta chả bị lũng đoạn? Ta đối phó lại bằng một phương pháp rất giản dị: tuyên truyền cho dân chúng tẩy chay hàng hóa của họ và không bán thóc gạo cho họ nữa. Muốn đạt được kết quả mau chóng, Trung Ương đảng bộ kíp sai người đặt những bài vè nói về việc này, rồi dạy truyền khẩu cho bọn xẩm ở các bến đò quán chợ, để cho toàn dân biết mà thi hành.
Phan Phú Tiên mỉm cười nói:
- Như thế dễ bị lộ tẩy.
- Không sao, miễn sao lọt vào tai dân chúng là được.
Sau một hồi thảo luận sôi nổi nữa, các đại biểu bỏ phiếu ấn định kế hoạch khởi sự. Chương trình hành động đại khái gồm mấy khoản sau đây:
1) Phát động phong trào tổng tấn công khắp các tỉnh. Chi bộ Phú Xuân (Huế) sẽ nổ súng báo hiệu. Các đơn vị nghĩa quân đóng ở Đèo Hải Vân sẽ đốt lửa thông tin cho hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi biết.
2) Dân quân sẽ phối hợp với lực lượng quân chính quy đóng rải rác ở Kinh Đô đánh chiếm các đồn binh.
3) Chiếm cửa bể Đà Nẵng để lấy đường ăn thông ra biển.
4) Nếu thất bại, thì các đạo quân sẽ thối lui vào rừng để đợi lệnh mới của Trung ương đảng bộ.
5) Ngày khởi nghĩa nhất định là mồng một tháng tư âm lịch. (tháng 5, 1916)
Thoả thuận rồi, mọi người đứng dậy ra về. Đi đường Thành khẽ hỏi Vân:
- Anh có chắc đại sự sẽ thành công?
- Ai đã dám chắc? Muôn việc đều ở giời.
- Anh nên tin ở mình hơn là ở giời!
Vân vỗ vai em:
- Có giời mà cũng có.... ta nữa. Nếu lòng giời không tựa thì bao nhiêu công lao cũng chỉ là công.... cốc.
Thành thở dài:
- Lực lượng của ta đối với địch thế nào?
- Kém hẳn.
- Đã biết thế, sao còn lao mình vào cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm?
Vân tức giận:
- Mày sợ à?
- Em không sợ, nhưng em không chịu chết một cách vô ích.
- Chết vì nước mà mày bảo là chết vô ích à?
Công việc ở đời thành hay bại không đáng kể lắm. Trên con đường giải phóng dân tộc, tao muốn cắm thêm một cái mốc nữa, để cho thế hệ mai sau trông thấy mà làm gương.
Thành cúi đầu không nói.
Thấm thoát đến ngày 30 tháng 3 âm lịch. Ở Quảng Ngãi vì sự phản bội của một đảng viên, câu chuyện bị vỡ lở. Lập tức các binh lính Việt Nam bị tước khí giới và bị tống giam. Quân Pháp tuần hành khắp phố bắt giữ những người khả nghi. Lê Ngưng bị bắt cùng với một số đảng viên nữa, rồi bị lên án tử hình. Ở Đà Nẵng, Phan Thanh Tài cũng chung một số phận. Ở Huế viên Khâm sứ Charles ra lệnh giới nghiêm. Thái Phiên đem vua đi trốn vào chùa Thiên Mụ, rồi bị bắt. Trần Cao Vân chạy về làng Hà Trung ở được ít lâu, sau cũng bị cầm tù.
Ngày 17 tháng 5 năm 1916, hai vị thủ lãnh Trần Cao Vân và Thái Phiên bị chém ở chợ An Hoà, còn vua Duy Tân thì bị đày đi an trí ở đảo Réunion thuộc Châu Phi. Các đảng viên bị truy nã ráo riết, người bị bắt, người tự tử chết nhiều vô kể. Riêng có Trần Lập Thành chạy thoát được cải trang là một hành khất, rồi luồn rừng di ra Bắc, định vượt qua biên giới sang Tàu.
Khi chàng đến Trại Cơ, thì gặp Ba Lập là một liên lạc của đảng, ở lại chơi mấy hôm thì không may xảy ra việc hai vợ chồng chủ nhân ấu đả nhau, khiến cho chàng bị lộ hình tích và bị bắt giải về Đồn Áp.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai