16
Vụ án Beroldy
Khoảng 20 năm trước khi câu chuyện này diễn ra, ngài Arnold Beroldy, người gốc Lyons, tới Paris cùng người vợ xinh đẹp và cô con gái nhỏ còn bé xíu. Ông Beroldy là cổ đông nhỏ trong một hãng chuyên buôn bán rượu, một người trung niên béo tốt, thích tận hưởng cuộc sống, hết lòng vì người vợ đẹp tuyệt trần của mình, nói chung, không có gì nổi bật. Hãng rượu mà ông Beroldy là thành viên là một hãng nhỏ, dù làm ăn khấm khá, nó cũng không mang lại nhiều thu nhập cho vị cổ đông nhỏ này. Gia đình Beroldy có một căn hộ nhỏ và ngay từ ban đầu đã sống rất giản dị.
Nhưng, dù ông Beroldy có thể không có gì nổi bật, xung quanh vợ ông lại đầy những lời đồn đoán về những câu chuyện yêu đương lãng mạn. Trẻ tuổi, ưa nhìn và lại được sinh ra với một phong thái duyên dáng đặc biệt, bà Beroldy ngay lập tức làm náo động cả vùng, đặc biệt là khi người ta bắt đầu thì thầm với nhau về điều bí ẩn thú vị xung quanh sự chào đời của bà. Người ta đồn rằng bà là con gái ngoài giá thú của một đại công tước người Nga, người khác lại khẳng định đó là một đại công tước người Áo, và cuộc hôn nhân đó hoàn toàn hợp pháp, dù không được môn đăng hộ đối. Nhưng tất cả những câu chuyện ấy đều thống nhất ở một điểm, rằng Jeanne Beroldy là tâm điểm của một điều bí ẩn kỳ thú.
Trong số bạn bè, người quen của gia đình nhà Beroldy, có một vị luật sư trẻ tuổi, Georges Conneau. Chẳng mấy chốc, nàng Jeanne kiều diễm đã hoàn toàn làm chủ trái tim anh chàng. Bà Beroldy ngầm khuyến khích chàng trai trẻ, nhưng luôn luôn cẩn trọng nhấn mạnh lòng chung thủy tuyệt đối của mình với ông chồng đã luống tuổi. Tuy nhiên, nhiều người ác ý chẳng ngần ngại mà tuyên bố trắng ra rằng chàng Conneau trẻ tuổi là tình nhân của bà Beroldy - và không phải là người tình duy nhất!
Khi nhà Beroldy ở Paris được khoảng ba tháng, một người khác xuất hiện. Đó là ông Hiram P. Trapp, một người Mỹ, cực kỳ giàu có. Khi được giới thiệu với phu nhân Beroldy kiều diễm và bí ẩn, ông ta đã lập tức bị bà mê hoặc. Ông ta công khai thể hiện sự say mê của mình, dù vẫn giữ phép lịch sự tuyệt đối với nàng.
Khoảng thời gian này, phu nhân Beroldy trở nên cởi mở chuyện trò về những bí mật của mình hơn. Với một vài người bạn, bà tâm sự rằng mình đang vô cùng lo lắng cho chồng. Bà giải thích rằng ông ta đang bị lôi cuốn vào một số những âm mưu chính trị, đồng thời, nhắc tới một số giấy tờ quan trọng được giao cho ông giữ, những giấy tờ này có liên quan tới một bí mật hệ trọng với cả châu Âu. Những tài liệu đó được giao cho ông nhằm đánh lạc hướng những người đang truy tìm chúng, nhưng bà Beroldy quá sức căng thẳng khi nhận ra một số thành viên quan trọng của Hội Cách mạng ở Paris.
Ngày 28 tháng 11, tai họa ập xuống. Người lau dọn bếp hàng ngày cho gia đình Beroldy kinh ngạc phát hiện ra cửa vào nhà mở toang. Nghe thấy tiếng rên rỉ yếu ớt phát ra từ phòng ngủ, bà ta đi vào. Một cảnh tượng kinh hoàng đập vào mắt. Bà Beroldy nằm trên sàn, tay chân bị trói, miệng rên khe khẽ, vừa xoay sở thoát được ra khỏi miếng giẻ bịt miệng. Trên giường là ông Beroldy nằm trong vũng máu với một con dao xuyên qua tim.
Câu chuyện bà Beroldy kể lại tương đối rõ ràng. Bất chợt tỉnh giấc, bà thấy rõ hai người đeo mặt nạ đang cúi xuống nhìn. Để chặn tiếng kêu của bà, chúng đã trói và nhét giẻ vào miệng bà. Sau đó, chúng yêu cầu ông Beroldy trao cho chúng điều bí mật quan trọng.
Nhưng thương nhân buôn rượu dũng cảm đã thẳng thừng từ chối làm theo yêu cầu của chúng. Quá tức giận, một trong hai tên đã không kiềm chế được và đâm thẳng vào tim ông. Chúng lấy chìa khóa của người quá cố, mở chiếc két trong góc phòng và mang đi một đống giấy tờ. Cả hai người đều rậm râu, đeo mặt nạ, nhưng bà Beroldy khẳng định chắc chắn chúng đều là người Nga.
Vụ việc đã khiến cả công chúng rúng động. Thời gian trôi đi, và người ta vẫn không lần ra hai tên râu rậm. Ngay khi sự quan tâm công chúng bắt đầu nguội đi thì vụ án có một bước tiến triển mới: Bà Beroldy bị bắt và buộc tội giết chồng.
Phiên tòa thu hút được rất nhiều sự quan tâm. Sự trẻ trung và nhan sắc của bị can, cùng với lai lịch bí ẩn của bà, đủ để khiến vụ án trở nên đình đám.
Người ta đã xác nhận được rằng cha mẹ của Jeanne Beroldy là một cặp vợ chồng tử tế, khiêm nhường, làm nghề buôn bán hoa quả, sống ở ngoại vi thành phố Lyons. Đại công tước người Nga, những mối tình trăng hoa ngoài lề, những âm mưu chính trị – tất cả những chuyện ấy đều được truy ngược lại về chính bà Beroldy! Toàn bộ câu chuyện cuộc đời bà ta bị vạch trần không thương tiếc. Động lực của vụ giết người liên quan đến ông Hiram P. Trapp. Ông Trapp cố hết sức, nhưng khi bị tra hỏi dồn dập và khôn khéo, ông ta đã bị buộc phải thú nhận mình yêu bà Beroldy, và rằng, nếu bà đang còn tự do, ông ta đã hỏi lấy bà làm vợ. Tính chất hão huyền mơ mộng trong mối quan hệ của họ lại càng củng cố cho lời cáo buộc của tòa. Do bản tính chính trực của ông Trapp, bà Beroldy bị cản trở, không thể đến được với ông này. Bà ta đã ấp ủ một kế hoạch ghê rợn để loại bỏ ông chồng già cỗi, tầm thường của mình và trở thành vợ của ông người Mỹ giàu có.
Từ đầu đến cuối, bà Beroldy đối mặt với những người buộc tội mình một cách điềm tĩnh và tự chủ. Câu chuyện của bà ta không bao giờ thay đổi. Bà ta tiếp tục khẳng định mạnh mẽ rằng mình sinh ra trong gia đình hoàng gia, và đã bị thế vào chỗ của con gái người bán hoa quả từ khi còn rất nhỏ. Mặc dù những lời khai ấy hoàn toàn vô căn cứ, rất nhiều người lại tuyệt đối tin rằng chúng có thật.
Tuy nhiên, bên nguyên không hề lay chuyển. Họ phản bác về những tên người Nga đeo mặt nạ, cho rằng đó là chuyện được dựng lên, và khẳng định rằng tội ác đã được chính bà Beroldy cùng anh chàng tình nhân, Georges Conneau, thực hiện. Tòa đã có lệnh bắt Georges Conneau, nhưng anh ta đã biến mất tăm. Bằng chứng cho thấy rằng dây trói bà Beroldy lỏng tới mức bà ta có thể dễ dàng tự thoát ra được.
Sau đó, khi việc xét xử sắp đi đến hồi kết, thì một lá thư đóng dấu Paris được gửi tới công tố viên. Người gửi thư là Georges Conneau. Lá thư không tiết lộ hiện hắn đang ở đâu, nhưng thú nhận toàn bộ tội ác. Anh ta thú nhận rằng quả thật anh ta đã thực hiện tội ác theo lời xúi giục của bà Beroldy. Họ đã cùng nhau lên kế hoạch tội ác. Tin rằng người chồng đã đối xử rất tệ với người tình, phát điên vì cuồng si, và tin rằng sự cuồng si ấy được đáp trả, anh ta đã lên kế hoạch vụ giết người và ra tay thực hiện tội ác hòng giải phóng cho người đàn bà mình yêu khỏi một mối ràng buộc cay nghiệt. Còn giờ đây, anh ta đã được biết về ông Hiram P. Trapp, và nhận thấy rằng người mình yêu đã phản bội mình! Không phải vì anh ta mà cô ta muốn được tự do, mà là để cưới được ông người Mỹ giàu có. Bà ta đã lợi dụng anh ta, và giờ, trong cơn ghen tuông điên cuồng, anh ta trở lại tố cáo bà ta, khẳng định rằng anh ta đã hành động hoàn toàn theo sự xúi giục của bà ta.
Lúc này thì bà Beroldy chứng tỏ mình là một con người phi thường đến thế nào. Không hề ngần ngại, bà ta từ bỏ luôn những lý lẽ biện hộ trước đó, và thừa nhận rằng mấy gã người Nga là do bà ta bịa ra. Kẻ giết người thực sự là Georges Conneau. Si mê đến phát điên, hắn đã ra tay giết người, thề rằng nếu bà ta nói ra, hắn sẽ trả thù tàn bạo. Quá kinh hãi trước những lời đe dọa đó, bà ta đã quyết định im lặng – và bà ta cũng sợ rằng nếu nói ra sự thật, rất có thể bà ta sẽ bị buộc tội là tòng phạm. Nhưng bà ta khăng khăng phủ nhận bất cứ mối liên hệ nào với việc giết chồng, rằng chính vì muốn trả thù bà ta mà hắn đã viết lá thư tố cáo này. Bà ta long trọng thề rằng mình không hề liên quan tới việc lên kế hoạch tội ác, rằng trong cái đêm không thể quên nổi đó, bà ta đã tỉnh dậy và thấy Georges Conneau đứng ngay bên cạnh, con dao vấy máu trong tay.
Vụ việc diễn ra chớp nhoáng. Câu chuyện của bà Beroldy vô cùng khó tin. Nhưng bà ta đã rất tài tình khi nhắm vào bồi thẩm đoàn. Những giọt nước mắt lăn dài trên má, bà nói tới con gái mình, tới danh dự của một người đàn bà – về ước muốn giữ được phẩm giá của mình vì đứa con thơ. Bà ta thừa nhận rằng, Georges Conneau đã từng là tình nhân của mình, có thể trong vụ này, bà có tội về mặt đạo đức – nhưng, thề trước Chúa, không có gì hơn thế! Bà ta biết mình đã phạm phải một sai lầm khủng khiếp khi không tố cáo Conneau trước pháp luật, nhưng, bà ta nức nở thổ lộ rằng, đó là điều mà không một người đàn bà nào có thể làm được. Bà ta đã yêu hắn! Làm sao bà ta có thể tự tay đưa đầu hắn vào máy chém được đây? Bà ta đã mắc nhiều tội lỗi, nhưng không phải cái tội mà người ta đang gán cho mình.
Dù sự thật có là gì, thì ngày hôm đó, phong thái và tài hùng biện của ba ta đã giành chiến thắng. Bà Beroldy, giữa một khung cảnh náo động khủng khiếp, đã được tuyên trắng án.
Mặc dù cảnh sát đã nỗ lực hết sức, họ vẫn không lần được ra dấu vết Georges Conneau. Về phần bà Beroldy, không ai nghe nói tới bà ta nữa. Bà ta đã đưa cô con gái rời khỏi Paris để bắt đầu một cuộc sống mới.
****
17
Tiếp tục điều tra
Tôi ghi chép lại đầy đủ thông tin về vụ Beroldy. Tất nhiên khi kể ra đây, tôi không thể nhớ tất cả các chi tiết. Tuy nhiên, tôi nhớ được vụ án tương đối chính xác. Hồi đó, nó đã thu hút được không ít sự chú ý, và được báo chí Anh tường thuật đầy đủ, vì thế, tôi không phải mất quá nhiều công sức để thu thập lại những tình tiết nổi bật.
Trong một thoáng, tôi vô cùng phấn khích, cảm thấy dường như mọi chuyện đều đã sáng tỏ. Tôi phải thừa nhận rằng mình rất bốc đồng, và Poirot thường than phiền vì thói quen hấp tấp rút ra kết luận đó của tôi, nhưng tôi nghĩ trong trường hợp này thì tôi có lý do chính đáng. Khám phá này đã khiến quan điểm của Poirot trở nên sáng tỏ tuyệt vời, tôi vô cùng ấn tượng.
“Poirot,” tôi nói. “Xin chúc mừng anh. Giờ thì tôi hiểu mọi việc rồi,”
Poirot châm một điếu thuốc lá nhỏ, động tác chính xác như thường lệ. Rồi anh ngẩng lên.
“Và vì giờ anh hiểu mọi việc rồi,
mon amibạn thân mến, chính xác thì anh hiểu thế nào?”
“Sao kia, rằng chính là bà Daubreuil – Beroldy – đã giết hại ông Renauld. Sự trùng khớp của hai vụ đã chứng minh chắc chắn điều đó.”
“Tức là anh cho rằng việc bà Beroldy đã được tha bổng là sai lầm? Rằng thực ra chính bà ta là tòng phạm giết chồng mình?”
Tôi mở to mắt. “Tất nhiên! Anh không nghĩ thế sao?”
Poirot đi về phía cuối phòng, bâng quơ chỉnh lại chiếc ghế, rồi trầm tư nói:
“Phải, đó là ý kiến của tôi. Nhưng không có gì là ‘đương nhiên’ về chuyện đó cả, anh bạn tôi ạ. Về cơ bản mà nói, bà Beroldy vô tội.”
“Trong vụ kia thì có thể. Không phải vụ này.”
Poirot lại ngồi xuống, nhìn tôi chăm chú, đăm chiêu tư lự hơn bao giờ hết.
“Vậy đó là ý kiến chắc chắn của anh phải không, Hastings, rằng bà Daubreuil đã giết hại ông Renauld?”
“Phải.”
“Vì sao?”
Anh quăng câu hỏi cho tôi bất ngờ đến nỗi tôi giật mình.
“Vì sao ư?” tôi lắp bắp. “Vì sao ư? Ồ, bởi vì…” tôi khựng lại.
Poirot gật đầu với tôi.
“Thấy chưa, anh vướng ngay phải khối chướng ngại to tướng. Vì sao bà Daubreuil – tôi dùng cái tên này cho dễ hiểu – lại giết hại ông Renauld? Chúng ta không thể tìm được bóng dáng động cơ nào. Bà ta không được hưởng lợi gì từ cái chết của ông ta; dù xét ở góc độ tình nhân hay kẻ tống tiền thì bà ta cũng chẳng được gì. Anh không thể buộc tội giết người khi không có động cơ. Vụ đầu tiên thì khác – chúng ta có một người giàu có đang đợi để thế chỗ chồng bà ta.”
“Tiền không phải là động lực duy nhất để giết người,” tôi phản đối.
“Đúng,” Poirot bình thản tán thành. “Có hai động lực khác. Một là
crime passionnelphạm tội vì tình ái. Và còn có một động lực thứ ba hiếm gặp, giết người vì một ý tưởng, trường hợp này thường là do kẻ giết người có vấn đề về rối loạn tâm lý. Những tên cuồng sát và cuồng giáo thuộc hạng này. Ở đây ta có thể loại bỏ động cơ này.”
“Thế còn động cơ
crime passionnelphạm tội vì tình ái thì sao? Anh có thể loại trừ nó không? Nếu bà Daubreuil là tình nhân của Renauld, nếu bà ta phát hiện ra tình cảm của ông ta đã nguội lạnh, hay nếu bà ta lên cơn ghen tuông, liệu bà ta có thể hạ sát ông ấy trong lúc phát điên không?”
Poirot lắc đầu.
“Nếu – tôi nói là nếu, anh lưu ý nhé – bà Daubreuil là tình nhân của Renauld, thì ông ta đã chẳng có thời gian mà chán bà ấy. Và dù sao đi nữa thì anh cũng đã nhìn sai về tính cách của bà ấy rồi. Bà ta là người có khả năng khơi lên những cảm xúc cực kỳ mãnh liệt, một diễn viên đại tài. Nhưng, nhìn nhận một cách khách quan, thì chính cuộc đời bà ấy đã phủ nhận những gì ta thấy từ bên ngoài. Nếu xét cho kỹ lưỡng, thì từ trước tới nay, bà ta là một người máu lạnh, tính toán chi li trong động cơ và hành động. Bà ta không định gắn đời mình với người tình trẻ, người mà bà ta đã câu kết để sát hại chồng. Anh chàng giàu có người Mỹ, mà rất có thể bà ta không hề mảy may quan tâm, mới là mục tiêu. Nếu bà ta đã thực hiện tội ác đó, thì bà ta luôn luôn có thể lặp lại điều đó để vụ lợi. Ở đây không có lợi lộc gì hết. Ngoài ra, anh lý giải thế nào về cái huyệt? Đó rõ ràng là sản phẩm của một người đàn ông.”
“Có thể bà ta có tòng phạm,” tôi gợi ý, không muốn từ bỏ điều mà mình tin tưởng.
“Tôi lại phản đối lần nữa. Anh đã nói tới sự tương đồng giữa hai vụ ám. Sự tương đồng đó nằm ở đâu, anh bạn?”
Tôi trân trối nhìn anh kinh ngạc.
“Tại sao chứ, Poirot, chính anh là người nhận xét chuyện đó mà! Chuyện về mấy gã đeo mặt nạ, ‘điều bí mật,’ các tài liệu!”
Poirot cười nhẹ.
“Xin anh, đừng có nổi nóng lên như thế. Tôi không phủ nhận gì cả. Sự tương đồng của hai câu chuyện rõ ràng có liên hệ hai vụ án với nhau. Nhưng giờ hãy ngẫm nghĩ cho kỹ về một điều rất kỳ lạ. Bà Daubreuil không phải là người kể cho chúng ta câu chuyện đó – nếu như thế thì đã thật đơn giản – mà lại là bà Renauld kể. Thế thì liệu bà ấy có câu kết với bà kia hay không?”
“Không thể tin nổi,” tôi chậm rãi nói. “Nếu đúng thế thì bà ta hẳn phải là diễn viên tài năng nhất thế giới từng chứng kiến.”
“Ta-ta-ta!” Poirot sốt ruột kêu lên. “Anh lại để cho tình cảm lấn át tư duy logic rồi! Nếu một tên tội phạm cần phải là một diễn viên tài ba, thế thì suy luận kiểu gì bà ta cũng là thủ phạm. Nhưng điều đó có cần thiết không? Tôi không tin bà Renauld có câu kết với bà Daubreuil vì một vài lý do, tôi đã liệt kê một số lý do cho anh rồi. Những lý do còn lại thì đã quá rõ ràng. Do đó, ta có thể loại bỏ khả năng đó, chúng ta tiến lại rất gần sự thật, và như mọi khi, sự thật ấy rất kỳ lạ và thú vị.”
“Poirot,” tôi kêu lên, “anh còn biết thêm gì nữa?”
“
Mon amiBạn thân mến, anh phải tự mình suy luận đi chứ. Anh có ‘tối tiếp cận với sự thật.’ Hãy tập trung các tế bào chất xám lại. Hãy lập luận – không phải như Giraud – mà như Hercule Poirot!”
“Nhưng anh có chắc không?”
“Bạn tôi, tôi có thể ngốc nghếch theo nhiều cách. Nhưng cuối cùng thì tôi thấy rất rõ.”
“Anh biết mọi việc?”
“Tôi đã phát hiện ra điều mà ông Renauld muốn mời tôi đến để tìm hiểu.”
“Và anh biết ai là kẻ giết người?”
“Tôi biết một tên.”
“Ý anh là gì?”
“Ta hãy nói qua về mâu thuẫn nhé. Ở đây không phải có một, mà là hai vụ. Vụ đầu tiên thì tôi đã giải quyết được, còn vụ thứ hai, phải thú thật, tôi không dám chắc!”
“Nhưng, Poirot, tôi tưởng anh nói người trong nhà kho chết tự nhiên cơ mà?”
“Ta-ta-ta!” Poirot bật lên tiếng kêu tỏ ý sốt ruột yêu thích của mình. “Anh vẫn không hiểu. Có thể có tội ác mà không có kẻ giết người, nhưng hai vụ án thì lại nhất thiết phải có hai cái xác.”
Nhận xét của anh khiến tôi thấy mù mờ khó hiểu đến mức tôi bối rối nhìn anh. Nhưng có vẻ như anh thì hoàn toàn bình thường. Đột nhiên, anh đứng dậy và rảo bước về phía cửa sổ.
“Anh ta đây rồi!”
“Ai kia?”
“Jack Renauld. Tôi đã nhắn tin tới biệt thự để mời anh ta tới đây.”
Việc này làm tôi chuyển hướng suy nghĩ, và tôi hỏi Poirot anh có biết Jack Renauld đã ở Merlinville đêm hôm xảy ra án mạng không. Tôi đã hy vọng mình có thể khiến anh bạn sắc sảo của mình sửng sốt, nhưng, như mọi khi, anh đã biết cả rồi. Anh cũng đã dò hỏi ở nhà ga.
“Và chắc chắn anh không phải là người đầu tiên có ý tưởng đó đâu, Hastings. Chắc có lẽ Giraud cũng đã dò hỏi rồi.”
“Anh không nghĩ…” tôi nói, rồi dừng lại. “À, không, nếu như thế thì khủng khiếp quá!”
Poirot nhìn tôi ý dò hỏi, nhưng tôi không nói nữa. Tôi vừa chợt nghĩ ra rằng có bảy người phụ nữ liên quan trực tiếp và gián tiếp tới vụ án – bà Renauld, bà Daubreuil và cô con gái, vị khách bí ẩn, ba cô hầu gái. Ngoài ra, ngoại trừ lão Auguste, rất khó có khả năng ông này có liên quan, thì chỉ có một người đàn ông – Jack Renauld. Và một người đàn ông đã đào cái huyệt.
Tôi không có thời gian để đào sâu thêm cái ý tưởng kinh hoàng mới nảy ra trong óc vì Jack Renauld vừa được đưa vào phòng. Poirot chào đón anh ta một cách xã giao.
“Mời anh ngồi. Rất lấy làm tiếc là tôi phải làm phiền anh, nhưng có lẽ anh sẽ hiểu cho rằng, tôi thấy không được thoải mái lắm với không khí ở khu biệt thự. Ngài Giraud và tôi bất đồng quan điểm về mội việc, ông ấy cũng không được lịch thiệp với tôi cho lắm, và anh cũng sẽ hiểu cho rằng tôi không định để bất cứ phát kiến nhỏ bé nào của mình giúp ích cho ông ta hết.”
“Chính xác, ngài Poirot,” chàng trai trẻ đáp lời. “Cái ông Giraud đó đúng là một kẻ cục súc lỗ mãng, và tôi rất vui nếu được thấy ai đó đánh bại ông ta.”
“Thế thì tôi có thể mạn phép nhờ anh một việc được không?”
“Chắc chắn rồi.”
“Tôi muốn nhờ anh ra ga tàu và bắt chuyến tàu tiếp theo tới ga gần nhất của tuyến, Abbalac. Tới phòng giữ đồ hỏi họ xem có hai người nước ngoài nào gửi vali ở đó vào đêm xảy ra án mạng hay không. Đó là một ga nhỏ, và gần như chắc chắn là họ sẽ nhớ. Anh giúp tôi chứ?”
“Tất nhiên là được,” anh chàng trả lời, có vẻ bối rối, mặc dù sẵn sàng thực hiện việc đó.
“Xin anh hiểu cho, tôi và bạn tôi đây có việc ở nơi khác,” Poirot giải thích. “Mười lăm phút nữa sẽ có một chuyến tàu, và xin được đề nghị anh không quay về biệt thự nữa, vì tôi không muốn Giraud có chút đầu mối nào về việc anh làm.”
“Tốt thôi, tôi sẽ đi thẳng ra ga.”
Anh ta đứng dậy. Poirot lên tiếng ngăn lại: “Đợi một chút, anh Renauld, có một vấn đề nhỏ khiến tôi băn khoăn. Vì sao sáng nay anh lại không nói gì với ngài Hautet là đêm xảy ra án mạng anh đang ở Merlinville?”
Mặt Jack Renauld bầm lại. Cố gắng tự chủ, anh ta nói:
“Ông nhầm rồi. Tôi ở Cherbourg, đúng như tôi đã nói với ngài thẩm phán điều tra sáng nay.”
Poirot nhìn anh ta, mắt nheo lại như con mèo, cho tới khi chỉ còn hai tia sáng xanh chiếu ra ngoài.
“Thế thì tôi đã phạm phải một sai lầm kỳ lạ – vì nhân viên ga cũng nhầm như thế. Họ nói anh tới trên chuyến tàu lúc mười một giờ bốn mươi.”
Jack Renauld ngần ngừ một thoáng, rồi quyết định.
“Nếu đúng thế thì sao? Tôi cho là ông không định buộc tội tôi tham gia vào vụ giết cha mình chứ?”
Anh ta hỏi một cách ngạo mạn, đầu ngẩng cao.
“Tôi sẽ muốn có một lời giải thích về lý do đã đưa cậu về đây.”
“Chuyện đó đơn giản thôi, tôi tới gặp vị hôn thê của mình, tiểu thư Daubreuil. Tôi đang chuẩn bị đi xa một thời gian dài, không chắc khi nào trở về. Tôi muốn gặp cô ấy trước khi lên đường, để trấn an cô ấy về tấm lòng thủy chung kiên định của mình.”
“Và anh có gặp cô ấy không?” Mắt Poirot vẫn không rời khuôn mặt người thanh niên.
Có một khoảng ngừng đáng kể trước khi Renauld trả lời. Rồi anh ta nói:
“Có.”
“Còn sau đó?”
“Tôi phát hiện ra mình đã lỡ tàu? Tôi đi bộ tới St. Beauvais, thuê một chiếc xe đưa tôi trở lại Cherbourg.”
“St. Beauvais? Chỗ đó cách đây mười lăm cây số. Anh đi bộ xa đấy, anh Renauld.”
“Tôi… tôi cảm thấy muốn đi bộ.”
Poirot gật đầu ra dấu anh chấp nhận lời giải thích đó. Jack Renauld cầm mũ và gậy lên rồi rời đi. Trong nháy mắt, Poirot bật dậy.
“Nhanh lên, Hastings. Chúng ta sẽ đi theo anh ta.”
Giữ một khoảng cách kín đáo đằng sau đối tượng, chúng tôi theo anh ta qua những con phố của Merlinville. Nhưng khi Poirot nhìn thấy anh ta rẽ vào ga thì anh dừng lại.
“Ổn cả rồi. Anh ta đã cắn câu. Anh ta sẽ tới Abbalac và hỏi về chiếc vali lạ do những người nước ngoài bí ẩn để lại. Phải,
mon ami bạn thân mến, tất cả đều là do tôi sáng tác ra đấy.”
“Anh muốn anh ta tránh ra!” tôi thốt lên.
“Anh hiểu nhanh đấy, Hastings! Giờ, nếu anh không phiền thì chúng ta tới biệt thự Geneviève thôi.”
***
18
Giraud hành động
Tới biệt thự, Poirot dẫn đường tới nhà kho nơi phát hiện ra xác chết thứ hai. Tuy nhiên, anh không đi vào mà dừng lại cạnh băng ghế mà tôi đã từng nhắc tới, được đặt cách nhà kho mấy thước. Sau khi nhìn ngắm nó một lúc, anh bước từng bước từ đó tới hàng rào, đánh dấu ranh giới giữa biệt thự Geneviève và biệt thự Marguerite. Rồi anh bước trở lại, vừa bước vừa gật gù. Quay trở lại hàng rào, anh dùng tay vạch bụi cây ra.
“Nếu may mắn,” anh ngoái lại nói với tôi, “tiểu thư Marthe có thể đang ở trong vườn. Tôi muốn nói chuyện với cô ấy mà không phải chính thức sang thăm biệt thự Marguerite. À, tốt quá, cô ấy đây rồi. Suỵt, tiểu thư! Suỵt!
Un moment s’il vous plait. Một lát thôi, làm ơn.”
Tôi lại chỗ Poirot ngay đúng lúc Marthe Daubreuil, trông có vẻ hơi thảng thốt, chạy về phía hàng rào khi nghe tiếng gọi.
“Xin phép được nói với cô đôi lời, nếu cô không phiền.”
“Xin ngài cứ tự nhiên, ngài Poirot.”
Dù chấp nhận lời đề nghị, mắt cô vẫn lộ vẻ băn khoăn lo lắng.
“Tiểu thư, cô có nhớ hôm tôi tới nhà cô cùng thẩm phán điều tra, cô đã đuổi theo tôi trên đường không? Cô đã hỏi tôi xem có ai đang bị tình nghi hay không.”
“Và ông nói với tôi là hai người Chile.” Giọng cô gái nghe như hết hơi, tay trái cô đặt lên ngực.
“Cô hỏi tôi lại câu đó được không?”
“Ý ông là sao?”
“Thế này. Nếu cô hỏi lại tôi câu đó, tôi sẽ đưa ra một câu trả lời khác. Có người đang bị tình nghi, nhưng lại không phải là người Chile.”
“Ai?” Cô thều thào hỏi.
“Cậu Jack Renauld.”
“Cái gì?”
Đó là một tiếng kêu thảng thốt.
“Jack? Không thể thế được. Ai dám nghi ngờ anh ấy?”
“Giraud.”
“Giraud!” Mặt cô gái tái nhợt. “Tôi sợ cái ông đó. Ông ta thật thô lỗ. Ông ta sẽ… Ông ta sẽ…” Cô dừng lại. Nét mặt cô dần trở nên can đảm và quyết đoán hơn. Trong khoảnh khắc đó, tôi nhận thấy cô sẵn sàng đấu tranh. Poirot cũng quan sát cô rất chăm chú.
“Tất nhiên là cô biết rằng anh ấy đã có mặt ở đây khi đêm xảy ra án mạng?” anh hỏi.
“Vâng,” cô trả lời như cái máy. “Anh ấy có nói với tôi.”
“Thật không khôn ngoan chút nào khi cố giấu việc đó,” Poirot nói.
“Phải, phải,” cô vội vã đáp. “Nhưng chúng ta không thể phí thời giờ hối tiếc. Chúng ta phải tìm cách cứu anh ấy. Tất nhiên là anh ấy vô tội, nhưng điều đó cũng chẳng giúp được anh ấy với một gã như Giraud. Ông ta phải nghĩ tới danh dự của mình, phải bắt cho kỳ được một ai đó, và người đó sẽ là Jack.”
“Việc đó đúng là sẽ gây bất lợi cho anh ấy,” Poirot nói. “Cô nhận thức được chuyện đó sao?”
Cô gái nhìn thẳng vào Poirot.
“Tôi không phải là trẻ con, thưa ngài. Tôi có thể can đảm nhìn thẳng vào sự thật. Anh ấy vô tội, và chúng ta phải cứu lấy anh ấy.”
Cô nói bằng giọng gần như tuyệt vọng, rồi im lặng, cau mày tư lự.
“Tiểu thư,” Poirot nói, vẫn quan sát cô chăm chú, “còn điều gì cô chưa nói với chúng tôi không?”
Cô bối rối gật đầu:
“Có, có một chuyện, nhưng nó có vẻ kỳ quặc lắm, tôi không dám chắc liệu các ông có tin hay không.”
“Dù thế nào thì cũng xin cô hãy cứ nói cho chúng tôi.”
“Chuyện là thế này. Ông Giraud cho gọi tôi tới, tôi là người sau cùng ông ấy nghĩ đến, để nhận diện người đàn ông trong đó.” Cô hất đầu về phía nhà kho. “Tôi không nhận ra ông ta. Ít nhất thì ngay lúc đó tôi cũng không biết. Nhưng tôi đã suy nghĩ nhiều…”
“Thế nào?”
“Có vẻ lạ lùng, và tôi cũng không chắc chắn lắm. Nhưng tôi sẽ kể cho các ông. Buổi sáng hôm ông Renauld bị giết, tôi đang đi dạo trong khu vườn này thì nghe thấy tiếng cãi nhau của mấy người đàn ông. Tôi vạch bụi cây ra và nhìn qua. Một trong mấy người đó là ông Renauld, người kia là một gã lang thang, bộ dạng trông rất kinh khủng trong một bộ đồ rách rưới bẩn thỉu, ông ta hết than thở rồi lại đe dọa. Tôi hiểu rằng ông ta đang đòi tiền, nhưng đúng lúc ấy thì mẹ gọi tôi và tôi phải quay vào nhà. Chỉ thế thôi, có điều… tôi gần như chắc chắn là gã lang thang đó và người đàn ông bị chết trong kho là cùng một người.”
Poirot thảng thốt kêu lên:
“Nhưng vì sao lúc đó cô lại không nói gì?”
“Bởi vì ban đầu tôi chỉ thấy khuôn mặt đó có vẻ quen thuộc một cách mơ hồ. Người đó ăn mặc khác, và rõ ràng là người ở giới thượng lưu.”
Có tiếng gọi từ trong nhà.
“Mẹ tôi đấy,” Marthe thì thào. “Tôi phải đi đây.”
Và cô luồn ra khỏi lùm cây.
“Đi thôi,” Poirot nói, nắm lấy cánh tay tôi và quay trở về hướng ngôi biệt thự.
“Thực sự thì anh nghĩ gì vậy?” tôi tò mò hỏi. “Câu chuyện đó có thật không, hay cô gái ấy lại bịa ra để chuyển hướng mối nghi ngờ khỏi người yêu mình?”
“Đó là một câu chuyện lạ lùng,” Poirot nói, “nhưng tôi tin là nó hoàn toàn có thật. Vô tình, tiểu thư Marthe đã tiết lộ cho chúng ta sự thật về một vấn đề khác – Jack Renauld đã nói dối. Anh có nhận thấy anh ta ngần ngừ khi tôi hỏi đêm xảy ra án mạng anh ta có gặp Marthe Daubreuil không? Anh ta dừng lại rồi mới nói ‘có’. Tôi ngờ là anh ta nói dối. Tôi cần phải gặp tiểu thư Marthe trước khi anh ta cảnh báo với cô nàng. Mấy lời ngắn gọn đã cho tôi thông tin tôi cần. Khi tôi hỏi xem cô ta có biết Jack Renauld đã ở đây đêm đó không, cô ta trả lời là ‘Anh ấy có nói với tôi.’ Nào, Hastings, Jack Renauld đã làm gì ở đây trong cái đêm đầy ắp sự kiện đó, và nếu anh ta không gặp tiểu thư Marthe thì gặp ai?”
“Poirot, hẳn là…” tôi kêu lên kinh hãi, “anh không tin rằng anh chàng non choẹt đó lại giết cha mình chứ?!”
“
Mon ami Bạn thân mến.” Poirot nói. “Anh lại ủy mị quá mức rồi! Tôi đã từng chứng kiến những người mẹ giết chính đứa con nhỏ của mình để lấy tiền bảo hiểm! Sau việc ấy, người ta có thể tin bất cứ chuyện gì.”
“Thế còn động cơ?”
“Tất nhiên là tiền rồi. Hãy nhớ rằng Jack Renauld vẫn tưởng là anh ta sẽ được thừa hưởng một nửa gia sản của cha sau khi ông này chết.”
“Thế còn gã lang thang, hắn từ đâu ra?”
Poirot nhún vai.
“Giraud thì sẽ nói hắn là đồng phạm giúp cậu Renauld thực hiện tội ác, và sau đó thì bị thủ tiêu.”
“Nhưng còn sợi tóc quấn quanh con dao? Tóc của một người phụ nữ?”
“À!” Poirot cười toe toét. “Đó là phần tinh túy nhất trong trò đùa của Giraud đấy. Theo ông ta thì đó không phải là tóc phụ nữ. Hãy nhớ rằng thanh niên ngày nay để kiểu tóc chải ngược từ trán ra sau và dùng sáp thơm để giữ cho tóc xẹp xuống. Kết quả là sẽ có những sợi tương đối dài.”
“Và anh cũng tin như thế?”
“Không,” Poirot nói, mỉm cười bí hiểm. “Vì tôi biết rằng đó là tóc phụ nữ – và hơn nữa, tôi còn biết là tóc ai.”
“Bà Daubreuil,” tôi khẳng định chắc nịch.
“Có thể.” Poirot nói và nhìn tôi vẻ chế giễu. Nhưng tôi không cho phép mình khó chịu.
“Giờ chúng ta làm gì?” tôi hỏi khi chúng tôi đi vào hành lang biệt thự Geneviève.
“Tôi muốn lục soát đồ đạc của Jack Renauld. Đó là lý do tôi phải đẩy cậu ta đi chỗ khác trong vài giờ.”
Gọn gàng và khéo léo, Poirot lần lượt mở từng ngăn kéo, kiểm tra đồ đạc bên trong và trả lại đúng chỗ của chúng. Đó là một công việc thật nhàm chán và buồn tẻ. Poirot lục lọi hết lượt các loại cổ cồn, đồ ngủ và tất. Nghe tiếng ồn bên ngoài, tôi đi ra phía cửa sổ. Ngay lập tức, tôi hoạt bát trở lại.
“Poirot!” Tôi kêu lên. “Có một cái xe mới rẽ vào. Giraud đang ở trong xe, cùng với Jack Renauld và hai cảnh sát.”
“
Sacré tonnere! Trời đất quỷ thần ơi!” Poirot gầm gừ. “Đồ súc sinh Giraud, hắn không đợi được sao? Tôi sẽ không thể xếp lại tử tế đồ trong ngăn kéo cuối cùng được. Ta nhanh tay lên thôi.”
Rồi không cần câu nệ gì nữa, anh đổ ụp mọi thứ ra sàn, hầu hết là cà vạt và khăn tay. Đột nhiên, Poirot kêu lên đắc thắng và vồ lấy cái gì đó, một vật hình vuông, nhỏ, làm bằng bìa cứng, rõ ràng là một tấm ảnh. Nhét vội tấm ảnh vào túi, anh nhét bừa đồ trở lại ngăn kéo và nắm lấy cánh tay tôi, kéo tôi ra khỏi phòng, xuống cầu thang. Giraud đang đứng trong hành lang, ngắm nghía tù nhân của mình.
“Xin chào, ngài Giraud,” Poirot nói. “Chúng ta có gì thế này?”
Giraud gật đầu về phía Jack.
“Anh ta đang định bỏ trốn, nhưng tôi đã quá nhanh nhạy. Anh ta bị bắt vì tội giết hại cha mình, ông Paul Renauld.”
Poirot quay lại đối điện với chàng trai mặt xám ngoét đang đờ đẫn tựa lưng vào cửa.
“Anh có gì để nói về chuyện đó không,
jeune homme chàng trai trẻ?”
Jack Renauld nhìn anh lãnh đạm: “Không có gì,” anh ta đáp.
****
19
Tôi vận dụng chất xám
Tôi chết điếng người. Cho tới tận phút cuối, tôi vẫn không thể tin rằng Jack Renauld có tội. Tôi đã kỳ vọng anh ta sẽ khẳng định dứt khoát rằng mình vô tội khi Poirot thách thức anh ta. Nhưng giờ đây, nhìn anh ta đứng đó, trắng bệch và ủ rũ dựa vào tường, nghe thấy lời nhận tội nghiệt ngã bật ra khỏi miệng anh ta, tôi không còn nghi ngờ gì nữa.
Nhưng Poirot quay sang Giraud:
“Ông căn cứ vào đâu mà bắt anh ấy?”
“Ông nghĩ tôi sẽ nói cho ông sao?”
“Vì phép lịch sự, đúng là như thế.”
Giraud nhìn anh vẻ nghi ngờ. Ông ta đang băn khoăn giữa việc từ chối thẳng thừng và hể hả vì chiến thắng được địch thủ của mình.
“Tôi đoán rằng ông cho là tôi đã phạm sai lầm?” ông ta nhếch mép.
“Nếu như thế thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên gì,” Poirot đáp lại có phần cay độc.
Mặt Giraud bầm lên thêm chút nữa.
“Được rồi, vào đây nào. Tôi sẽ để ông tự đánh giá.”
Ông ta mở tung cánh cửa phòng khách và chúng tôi bước vào, để Jack Renauld lại cho hai người kia.
“Giờ thì, ngài Poirot,” Giraud đặt mũ lên bàn, nói bằng giọng hết sức miệt thị. “Tôi sẽ chiêu đãi ngài một bài giảng về công tác điều tra. Tôi sẽ cho ngài thấy những người hiện đại chúng tôi làm việc như thế nào.”
“Tốt!” Poirot nói, chỉnh lại tư thế để lắng nghe. “Tôi sẽ cho ông thấy khả năng lắng nghe của Lính Già đáng ngưỡng mộ đến đâu.” Anh ngả người ra sau và nhắm mắt lại, rồi lại mở ra một lát để giải thích: “Đừng sợ tôi ngủ gật. Tôi sẽ chăm chú hết sức có thể.”
“Tất nhiên rồi,” Giraud bắt đầu, “tôi đã sớm nhìn thấu toàn bộ màn kịch ngớ ngẩn của bọn người Chile. Đúng là có hai gã đàn ông trong câu chuyện đó – nhưng chúng không phải là những người ngoại quốc bí ẩn! Tất cả những điều đó đều được dựng lên.”
“Đến giờ thì vẫn rất xuất sắc, Giraud thân mến,” Poirot lẩm nhẩm. “Nhất là sau mấy mánh khóe khôn lanh với chiếc đồng hồ và đầu mẩu thuốc lá của chúng.”
Giraud trừng mắt, nhưng vẫn tiếp tục.
“Dựa trên cái huyệt đã đào mà nói, chắc chắn phải có một người đàn ông liên quan trong vụ này. Thực ra, không có người đàn ông nào được hưởng lợi nhờ vụ này, nhưng có một người tưởng rằng mình sẽ được hưởng lợi. Tôi có được nghe kể về cuộc cãi cọ của Jack Renauld với cha anh ta, cũng như những lời đe dọa của anh ta. Động cơ đã được xác lập. Còn giờ thì về phương thức. Jack Renauld đã có mặt ở Merlinville đêm hôm đó. Anh ta che giấu việc này - điều đó khiến cho mối nghi ngờ trở nên chắc chắn. Rồi chúng ta lại tìm thấy nạn nhân thứ hai – bị đâm bằng chính con dao đó. Ta đều biết rằng con dao đó đã bị đánh cắp. Đại úy Hastings đây có thể xác định được thời gian. Jack Renauld, sau khi trở về từ Cherbourg, là người duy nhất có khả năng lấy cắp nó. Tôi đã cân nhắc về tất cả những người còn lại trong nhà.”
Poirot cắt ngang.
“Ông nhầm rồi. Còn một người nữa có thể đã lấy trộm con dao.”
“Ông muốn nói tới ông Stonor? Ông ta đến qua cửa trước, trên chiếc ô tô đã đưa ông ta đi thẳng từ Calais về. A! Hãy tin tôi đi, tôi đã xem xét mọi việc. Jack Renauld đi tàu về đây. Từ lúc anh ta tới nơi cho tới khi anh ta có mặt ở nhà là một tiếng đồng hồ. Chắc chắn là anh ta đã nhìn thấy Đại úy Hastings và bạn mình rời nhà kho, nên đã lẻn vào và lấy con dao, đâm kẻ đồng phạm trong nhà kho…”
“Tên đó vốn đã chết rồi!”
Giraud nhún vai. “Có thể là anh ta không nhận ra chuyện đó. Anh ta cho là hắn đang ngủ. Chắc chắn bọn họ có địa điểm hẹn gặp. Dù thế nào đi nữa thì anh ta cũng biết rằng vụ án mạng thứ hai này sẽ làm rối tung vụ việc lên. Và đúng là như thế.”
“Nhưng nó không lừa được ngài Giraud,” Poirot lầm bầm.
“Ông lại giễu tôi! Nhưng tôi sẽ đưa ra cho ông một bằng chứng không thể chối cãi. Câu chuyện mà bà Renauld kể là bịa đặt – bịa đặt từ đầu tới cuối. Chúng ta tin rằng bà Renauld có yêu chồng mình – nhưng bà ta lại nói dối để bao che cho kẻ giết ông ta. Một người đàn bà sẽ dối trá vì ai? Đôi khi là vì chính bản thân, thường vì người đàn ông bà ta yêu, và luôn luôn vì con. Đây là điều cuối cùng, là bằng chứng không thể chối cãi. Ông chẳng thể nào phủ nhận được nó.”
Giraud ngừng lời, mặt đỏ bừng và đắc thắng. Poirot nghiêm nghị nhìn ông ta.
“Đó là lập luận của tôi,” Giraud nói. “Ông có ý kiến gì không?”
“Chỉ là có một chuyện ông đã không tính tới.”
“Là chuyện gì?”
“Jack Renauld có lẽ đã rất quen thuộc với kế hoạch xây dựng sân golf. Anh ta biết rằng cái xác sẽ bị phát hiện ngay lập tức khi họ bắt đầu đào hố cát.”
Giraud cười lớn. “Nhưng điều ông nói mới ngớ ngẩn làm sao! Anh ta muốn người ta tìm thấy cái xác! Xác chưa được tìm thấy thì ông bố chưa thể được xác định là đã chết, và anh ta chưa thể mó tay vào số tài sản thừa kế.”
Tôi thấy một ánh xanh lóe lên trong mắt Poirot khi anh đứng dậy.
“Thế thì chôn nó làm gì?” anh hỏi rất nhẹ nhàng. “Nghĩ cho kỹ, Giraud. Vì lợi thế của Jack Renauld là ở chỗ cái xác phải được tìm ra ngay, thế thì đào huyệt làm gì?”
Giraud không trả lời. Câu hỏi khiến ông ta bất ngờ. Ông ta nhún vai như thể ra dấu rằng chuyện đó không quan trọng.
Poirot đi về phía cửa. Tôi đi theo. “Còn một điều nữa mà ông không tính đến,” anh ngoái lại nói.
“Là gì?”
“Mẩu ống chì.” Poirot đáp và ra khỏi phòng.
Jack Renauld vẫn đứng trong hành lang, mặt mũi đờ dại, tái nhợt, nhưng khi chúng tôi ra khỏi phòng khách, anh ta ngước lên nhìn sắc lẹm. Cùng lúc đó, có tiếng bước chân trên cầu thang, bà Renauld đang đi xuống. Khi nhìn thấy con trai đứng giữa hai viên cảnh sát, bà đứng sững lại.
“Jack,” bà choáng váng, “Jack, chuyện gì thế này?”
Anh nhìn lên mẹ, mặt đanh lại: “Họ bắt con, mẹ ạ.”
“Cái gì?”
Bà kêu thét lên, và trước khi có người kịp chạy tới đỡ, bà loạng quạng rồi đổ ập xuống. Chúng tôi chạy lại đỡ bà dậy. Một lát sau, Poirot đứng lên.
“Bà ấy bị va đầu khá mạnh vào cạnh cầu thang. Tôi đồ rằng bà ấy cũng bị chấn động ít nhiều. Nếu Giraud muốn lấy lời khai của bà ấy thì ông ta sẽ phải đợi thôi. Bà ấy có thể sẽ bất tỉnh trong ít nhất một tuần.”
Denise và Françoise đã chạy tới chỗ bà chủ của mình. Để bà Renauld lại cho họ chăm sóc, Poirot ra khỏi nhà. Anh vừa đi vừa cúi đầu, nhíu mày suy nghĩ. Lúc đầu, tôi giữ im lặng, nhung cuối cùng, tôi đánh bạo hỏi anh:
“Thế thì anh có tin là trái nguợc với vẻ bề ngoài, Jack Renauld có thể không có tội không?’“
Poirot không trả lời ngay, nhưng sau hồi lâu, anh nghiêm nghị đáp:
“Tôi không biết, Hastings ạ. Chỉ có một khả năng có thể như vậy. Tất nhiên, Giraud sai bét cả rồi – sai từ đầu tới cuối. Nếu Jack Renauld có tội thì cũng không phải là từ những suy luận của ông ta. Và bản cáo trạng nặng nề nhất chống lại anh ta thì chỉ có tôi biết thôi.”
“Đó là cái gì?” tôi hỏi.
“Nếu anh vận dụng mấy tế bào chất xám của mình và nhìn toàn bộ vụ này rõ ràng như tôi đây, anh cũng sẽ tiếp nhận được điều đó, anh bạn tôi ạ.”
Đây chính là cái mà tôi gọi là một trong những câu trả lời khó chịu của Poirot. Anh tiếp tục, không đợi cho tôi lên tiếng:
“Ta đi đường này ra biển đi. Chúng ta sẽ ngồi trên mô đất kia, nhìn ra biển và xem xét lại vụ án. Anh sẽ biết tất cả những gì tôi biết, nhưng tôi muốn anh tìm được tới sự thật bằng chính nỗ lực của mình – không phải nhờ sự dẫn dắt của tôi.”
Chúng tôi yên vị trên một gò đất lún phún cỏ như gợi ý của Poirot, nhìn ra biển.
“Suy nghĩ đi, bạn tôi,” Poirot nói bằng giọng khích lệ. “Hãy tổ chức lại các ý tưởng của mình. Hãy có phương pháp. Có trật tự. Đó là bí quyết thành công đấy.”
Tôi cố gắng nghe theo lời anh, nghĩ lại một lượt toàn bộ những chi tiết của vụ án. Rồi đột nhiên, tôi giật mình vì một ý tưởng sáng choang bỗng nảy ra trong óc. Run rẩy, tôi dựng lên giả thuyết của mình.
“Tôi thấy là anh đã nghĩ ra điều gì đó,
mon ami bạn thân mến! Ta xúc tiến thôi.”
Tôi ngồi thẳng dậy, châm tẩu thuốc.
“Poirot,” tôi nói, “tôi thấy hình như chúng ta đang chểnh mảng đến kỳ lạ. Tôi nói là chúng ta – dù tôi dám chắc chủ yếu là về phần tôi. Nhưng anh sẽ phải chịu phạt vì khăng kháng giữ bí mật. Vì thế nên tôi nói là chúng ta đã lơ đễnh khác thường. Có một người mà chúng ta quên mất.”
“Và đó là ai?” Poirot hỏi, mắt lấp lánh.
“Georges Conneau!”
****
20
Lời khai đáng kinh ngạc
Ngay lập tức Poirot nồng nhiệt ôm lấy đầu tôi.
“
Enfin!Rốt cuộc! Anh đã tới đích rồi đấy! Và hoàn toàn là do tự anh. Thật xuất sắc! Tiếp tục suy luận đi. Anh đúng rồi đấy. Chắc chắn là chúng ta đã sai lầm khi quên mất Georges Conneau.”
Được ông bạn nhỏ bé tán dương, tôi phấn khích tới nỗi gần như không thể tiếp tục được. Nhưng cuối cùng, tôi cũng có thể tập trung suy nghĩ và tiếp tục.
“Georges Conneau biến mất từ 20 năm trước, nhưng chẳng có lý do gì để tin rằng hắn đã chết.”
“
Aucunemen tKhông hề,” Poirot đồng tình. “Tiếp tục đi.”
“Vì thế, chúng ta sẽ giả định là hắn còn sống.”
“Chính xác.”
“Hoặc hắn vẫn còn sống cho tới gần đây.”
“
De mieux en mieux!Càng lúc càng tốt hơn đấy!”
“Chúng ta sẽ giả định,” tôi tiếp tục, càng lúc càng hăng hái, “rằng hắn đã chìm ngập trong những ngày đen tối. Hắn ta đã trở thành một tên tội phạm, một gã du thủ du thực – anh gọi thế nào cũng được. Hắn ta tình cờ tới Merlinville. Ở đó, hắn tìm thấy người phụ nữ hắn chưa bao giờ hết yêu.”
“Ầy ầy! Ủy mị quá!” Poirot cảnh báo.
“Càng yêu thì càng hận,” tôi nhớ láng máng có câu nói như vậy. “Tóm lại thì hắn tìm được bà ta ở đó, đang sống dưới một cái tên giả. Nhưng giờ đây bà ta đã có tình nhân mới, một người Anh, ông Renauld. Những ký ức tội lỗi cũ trỗi dậy, Georges Conneau gây sự với Renauld. Hắn ta rình đợi khi ông này tới thăm tình nhân và đâm vào lưng ông ta. Rồi, hoảng loạn vì những gì vừa làm, hắn bắt đầu đào cái huyệt. Tôi đoán có thể là bà Daubreuil ra ngoài tìm tình nhân. Giữa hai người đó xảy ra một cảnh tượng kinh hoàng. Hắn lôi bà ta vào kho, rồi đột nhiên gục ngã vì một cơn động kinh. Giờ, đặt giả thiết là Jack Renauld xuất hiện. Bà Daubreuil kể lại cho anh ta mọi chuyện, vạch ra cho anh ta thấy những hậu quả vô cùng tai hại với con gái bà ta nếu vụ việc tai tiếng trong quá khứ bị đào bới lên. Kẻ giết cha anh ta đã chết – giờ họ hãy cố hết sức để bưng bít vụ này đi. Jack Renauld chấp thuận – vào nhà, nói chuyện riêng với mẹ, thuyết phục được bà này nghe theo ý mình. Jack Renauld trình bày lại với mẹ câu chuyện mà bà Daubreuil đã kể với mình, bà Renauld đồng ý để bị trói và bịt miệng. Thế đấy, Poirot, anh nghĩ thế nào?” Tôi ngả ra sau, phấn khởi tự hào vì đã dựng lại thành công vụ án.
Poirot nhìn tôi tư lự.
“Tôi nghĩ là anh nên viết kịch bản phim,
mon ami bạn thân mến.” Cuối cùng, anh nhận xét.
“Ý anh là…”
“Câu chuyện anh vừa kể lại cho tôi đó, nó sẽ là một bộ phim hay – nhưng nó chẳng giống với cuộc sống đời thường chút nào.”
“Tôi thừa nhận là mình chưa đi vào tất cả các chi tiết, nhưng…”
“Còn hơn thế nữa kia – anh đã bỏ qua các tình tiết một cách tài tình. Thế còn về cách ăn mặc của hai người đó thì sao? Ý anh là sau khi đâm nạn nhân, Conneau lấy quần áo của nạn nhân và mặc vào, rồi cắm con dao lại chỗ cũ?”
“Tôi không thấy điều đó có gì quan trọng,” tôi phản đối, có phần cáu kỉnh. “Có thể hắn đã đe dọa bà Daubreuil để lấy được quần áo và tiền bạc từ trước đó.”
“Đe dọa ấy ư? Anh nghiêm túc với giả thiết đó đấy chứ?”
“Chắc chắn rồi. Hắn có thể đã đe dọa sẽ tiết lộ danh tính của bà ấy với nhà Renauld, điều đó có thể sẽ đặt dấu chấm hết cho mọi hy vọng kết hôn của con gái bà ta.”
“Anh sai rồi, Hastings. Hắn không thể tống tiền bà ấy được, vì bà ấy ở thế thượng phong. Nên nhớ rằng Georges Conneau vẫn còn đang bị truy nã vì tội giết người. Chỉ cần bà ta nói một câu là hắn có nguy cơ bị xử tử ngay.”
Tôi buộc phải miễn cưỡng thừa nhận sự thật này.
“Giả thiết của anh,” tôi chua chát nhận xét, “chắc chắn là đúng tới mọi chi tiết chứ?”
“Giả thiết của tôi là sự thật,” Poirot trầm ngâm nói. “Và sự thật thì chắc chắn phải đúng. Trong giả thiết của anh, anh đã phạm phải một sai lầm cơ bản. Anh để cho trí tưởng tượng dẫn dắt anh đi chệch đường với những cuộc hẹn hò lúc nửa đêm và những cảnh tượng yêu đương say đắm. Nhưng trong điều tra tội phạm, chúng ta phải đứng cao hơn những chuyện tầm thường. Tôi trình bày với anh phương pháp suy luận của tôi nhé?”
“Ôi, vâng, mời anh!”
Poirot ngồi thẳng dậy và bắt đầu, vẫy vẫy ngón tay trỏ để nhấn mạnh vấn đề mình đang nói:
“Tôi sẽ bắt đầu giống như anh, từ dữ kiện cơ bản về Georges Conneau. Câu chuyện mà bà Beroldy kể trước tòa về ‘những tên người Nga’ đã được thừa nhận là một câu chuyện bịa. Nếu bà ta không phạm tội đồng lõa trong vụ đó, thì chuyện đó hoàn toàn là do một mình bà ta dựng lên, đúng như bà ta khai. Mặt khác, nếu bà ta không vô tội, thì rất có thể đó là tác phẩm do bà ta hoặc Georges Conneau nghĩ ra.
“Giờ, trong vụ chúng ta đang điều tra này, chúng ta gặp câu chuyện giống hệt. Như tôi đã giải thích cho anh, dựa trên những sự việc xảy ra thì rất ít khả năng bà Daubreuil là người khơi gợi ra chuyện đó. Vì thế, chúng ta quay về giả thuyết rằng ban đầu câu chuyện đó là do Georges sáng tác ra. Tốt rồi. Do đó, Georges lên kế hoạch phạm tội, với sự đồng lõa của bà Renauld. Bà ta giờ đang ở tâm điểm chú ý và sau lưng bà ta là một nhân vật bí ẩn mà chúng ta chưa biết đến.
“Giờ chúng ta hãy xem lại thật cẩn thận vụ Renauld từ đầu, đặt mỗi vấn đề quan trọng vào đúng trình tự thời gian của nó. Anh có sổ tay và bút chì đó không? Tốt. Nào, điểm đầu tiên cần phải ghi lại là gì?”
“Lá thư gửi cho anh?”
“Đó là điều đầu tiên mà qua đó chúng ta biết đến vụ này, nhưng đó không phải là đoạn mở đầu hợp lý cho vụ này. Điểm quan trọng đầu tiên, theo tôi, là sự thay đổi xuất hiện ở ông Renauld không lâu sau khi tới Merlinville, điều này đã được một số nhân chứng xác nhận. Chúng ta cũng phải cân nhắc tới tình bạn giữa ông ta và bà Daubreuil, cùng số tiền khổng lồ được gửi vào tài khoản bà ta. Từ đó, ta có thể lần trực tiếp về ngày 23 tháng Năm.”
Poirot ngừng lại, hắng giọng và ra hiệu cho tôi viết:
“Ngày 23 tháng Năm. Ông Renauld cãi nhau với con trai mình về mong muốn được kết hôn với Marthe Daubreuil của anh này. Anh con trai rời đi Paris.
“Ngày 24 tháng Năm. Ông Renauld đổi ý, để lại toàn bộ quyền kiểm soát tài sản cho vợ mình.
“Ngày 7 tháng Sáu. Cãi nhau với một gã lang thang trong vườn, nhân chứng là Marthe Daubreuil.
“Bức thư gửi cho Hercule Poirot, yêu cầu trợ giúp.
Bức điện gửi cho Jack Renauld, lệnh cho anh ta tới Buenos Aires bằng tàu Anzora.
Người tài xế, Masters, được cho đi nghỉ.
Chuyến viếng thăm của một phụ nữ đêm hôm đó. Khi đang tiễn người này ra, ông ta đã nói: ‘Phải phải – nhưng vì Chúa hãy đi ngay đi’…”
Poirot ngừng lại.
“Đấy, Hastings, hãy nghiền ngẫm thật kỹ càng từng dữ kiện đó, tách rời và trong mối quan hệ với toàn thể sự việc, rồi xem liệu anh có thấy được tia sáng mới mẻ nào ở vụ này không.”
Tôi cố gắng tập trung toàn tâm toàn ý để làm như anh nói. Sau một hồi, tôi nói, không được chắc chắn lắm:
“Theo như điểm đầu tiên, câu hỏi đặt ra có thể là chúng ta nên áp dụng giả thuyết tống tiền hay giả thuyết ông ta quá cuồng si người đàn bà này.”
“Chắc chắn là tống tiền. Anh đã được nghe những điều Stonor nói về tính cách và thói quen của ông ta rồi đấy.”
“Bà Renauld không xác nhận quan điểm của ông ta,” tôi cãi lại.
“Chúng ta đã thấy rằng lời khai nhận của bà Renauld không hề đáng tin cậy chút nào. Ở điểm này, chúng ta phải tin Stonor.”
“Dù thế, nếu Renauld có ngoại tình với một người phụ nữ tên là Bella đi nữa, chẳng có gì khẳng định chắc chắn là ông ta không loằng ngoằng cả với bà Daubreuil.”
“Không hề có, tôi công nhận, Hastings. Nhưng có đúng ông ta ngoại tình với bà Daubreuil không?”
“Lá thư, Poirot. Anh quên mất lá thư.”
“Không, tôi không quên. Nhưng điều gì khiến anh nghĩ là lá thư đó viết cho ông Renauld?”
“Sao kia, nó được tìm thấy trong túi ông ấy, và… và…”
“Và chỉ có thế thôi!” Poirot cắt ngang. “Lá thư không hề đề cập tới bất cứ tên người nhận nào. Chúng ta giả định là nó được viết cho người chết bởi vì nó ở trong túi áo khoác của ông ta. Thế này,
mon ami bạn thân mến, tôi cảm thấy có điều gì bất thường ở chiếc áo khoác ấy. Tôi đã đo nó và nhận thấy rằng ông ta mặc chiếc áo quá dài. Nhận xét đó đáng ra phải khiến anh suy nghĩ chứ!”
“Tôi tưởng anh chỉ nói cho có thôi,” tôi thú thực.
“A, ý nghĩ lạ làm sao! Lúc sau, anh thấy tôi đo áo khoác của Jack Renauld mà. Thì ra, Jack Renauld lại mặc áo khoác rất ngắn. Hãy đặt hai dữ kiện này cạnh một dữ kiện thứ ba, đó là việc Jack Renauld vội vàng lao ra khỏi nhà để khởi hành tới Paris, và nói cho tôi biết anh có kết luận gì?”
“Tôi hiểu rồi,” tôi chậm rãi nói, khi bắt đầu ngấm ý nghĩa những nhận xét của Poirot. “Lá thư đó được viết cho Jack Renauld – không phải cho cha anh ta. Anh ta cầm nhầm áo khoác trong lúc vội vàng và bối rối.”
Poirot gật đầu.
“
Précisément! Chính xác! Chúng ta có thể trở lại điểm đó sau. Bây giờ, ta hãy cứ bằng lòng với việc chấp nhận rằng lá thư không liên quan gì tới ông Renauld, và chuyển sang sự kiện tiếp theo theo trình tự thời gian.”
“‘Ngày 23 tháng Năm’,” tôi đọc: ‘“Ông Renauld cãi nhau với con trai mình về mong muốn được kết hôn với Marthe Daubreuil của anh này. Anh con trai rời đi Paris.’ Tôi không thấy gì đáng chú ý lắm ở đây, và việc ông Renauld đổi ý vào ngày hôm sau cũng có vẻ đơn giản. Nó là hệ quả trực tiếp của trận cãi vã.”
“Chúng ta nhất trí với nhau,
mon ami bạn thân mến – ít nhất là về nguyên nhân. Nhưng động cơ thực sự ẩn dưới cách hành động này của ông Renauld là gì?”
Tôi mở to mắt ngạc nhiên: “Tất nhiên là vì tức giận với con trai rồi.”
“Thế mà ông ta lại viết cho con trai những lá thư rất tình cảm gửi đến Paris?”
“Đấy là Jack Renauld nói thế, nhưng anh ta có đưa những lá thư ấy ra được đâu.”
“Được rồi, ta hãy bỏ đó đã.”
“Giờ thì tới ngày xảy ra thảm kịch. Anh đã đặt các sự kiện của sáng hôm đó theo một trình tự nhất định. Lý do là gì?”
“Tôi đã xác định chắc chắn là lá thư viết cho tôi được gửi cùng lúc với bức điện. Masters đã được thông báo là anh ta được nghỉ phép ngay sau đó. Theo tôi, trận cãi vã với gã lang thang đã diễn ra trước những sự kiện này.”
“Tôi không cho là anh có thể khẳng định chắc chắn điều đó trừ khi hỏi lại bà Daubreuil.”
“Không cần. Tôi chắc chắn. Và nếu anh không thấy được điều đó, thì anh chẳng thấy gì cả, Hastings ạ!”
Tôi nhìn anh một lúc.
“Dĩ nhiên! Tôi là thằng ngốc mà. Nếu gã lang thang là Georges Conneau, thì chính sau cuộc nói chuyện riêng căng thẳng với hắn ta, ông ấy cảm nhận được mối nguy hiểm. Ông ta đẩy người tài xế đi xa, vì nghi ngờ người này đang làm việc cho gã kia, đánh điện cho con trai và mời anh tới.”
Một nụ cười yếu ớt lướt qua trên môi Poirot.
“Anh không thấy lạ là cách diễn đạt của ông ta trong thư giống hệt như của bà Renauld khi kể lại câu chuyện sao? Nếu việc nhắc tới Santiago chỉ là do đang trong lúc bối rối, thì tại sao Renauld nói tới nơi đó, và – hơn nữa – cử con trai tới đó làm gì?”
“Công nhận là chuyện đó thật khó hiểu, nhưng có lẽ chúng ta nên tìm lời giải thích sau. Giờ thì tới buổi tối, và chuyến viếng thăm của vị khách nữ bí ẩn. Thú thực là chuyện đó khiến tôi khá hoang mang, trừ khi quả thật người đó là bà Daubreuil, như lời quả quyết của Françoise.”
Poirot lắc đầu.
“Bạn tôi ơi, bạn tôi ơi, sự sắc sảo của bạn đi đâu cả rồi? Hãy nhớ tới mẩu ngân phiếu, và việc cái tên Bella Duveen có gì đó hơi quen thuộc với Stonor, và tôi nghĩ chúng ta có thể đương nhiên cho rằng Bella Duveen là tên đầy đủ của người vẫn thư từ qua lại với Jack, và rằng đó chính là người tới biệt thự Geneviève đêm hôm đó. Cô gái đó định tới gặp Jack, hay ý định của cô ta vốn là tiếp cận với cha anh ta, chuyện này chúng ta chưa thể chắc chắn được, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể giả định rằng chuyện xảy ra như thế. Cô ta đưa yêu sách của mình cho Jack, có thể là trưng ra những lá thư anh ta đã viết cho mình, và ông bố tìm cách mua chuộc cô ta bằng cách viết một tấm ngân phiếu. Cô ta đã tức điên lên và xé tan tấm ngân phiếu này. Lời lẽ trong lá thư của cô ta thể hiện một tình yêu chân thành, và rất có thể cô ta đã cảm thấy vô cùng tức giận. Cuối cùng, ông ta đuổi cô ta đi và câu nói của ông ta lúc này có ý nghĩa đặc biệt.”
‘“Phải, phải. Nhưng vì Chúa, hãy đi ngay đi,’” tôi nhắc lại. “Với tôi thì có lẽ họ có vẻ khá là nặng lời, chỉ có thế thôi.”
“Thế là đủ. Ông ta đã rất sốt ruột muốn cô gái ra về. Vì sao? Không phải vì cuộc nói chuyện không được dễ chịu. Không, mà là bởi vì thời gian đang trôi qua, và vì lý do nào đó, lúc ấy, thời gian rất quý báu.”
“Sao lại như vậy?” Tôi hoang mang hỏi.
“Đó là câu chúng ta cần tự hỏi. Sao lại như vậy? Nhưng sau đó, ta lại có sự cố chiếc đồng hồ đeo tay – nó cho ta biết thời gian đóng vai trò rất quan trọng trong tội ác này. Giờ đây, chúng ta đang tiếp cận nhanh tới màn bi kịch thực sự. Bella Duveen ra về lúc mười giờ rưỡi, dựa vào bằng chứng là chiếc đồng hồ đeo tay, ta biết rằng tội ác được thực hiện, hay dàn dựng, trước mười hai giờ. Chúng ta đã xem xét tất cả những sự kiện xảy ra trước vụ án mạng, chỉ còn một vấn đề chưa được đặt vào đúng chỗ. Theo chứng cớ của bác sĩ thì khi được tìm thấy, gã lang thang đã chết ít nhất được bốn mươi tám tiếng đồng hồ – khoảng thời gian này có thể dao động đến hai mươi bốn tiếng đồng hồ nữa. Giờ, không có thêm dữ kiện nào ngoài những dữ kiện chúng ta đã thảo luận, tôi sẽ xếp cái chết đó vào sáng ngày 7 tháng Sáu.”
Tôi ngẩn người ra nhìn anh.
“Nhưng như thế nào? Vì sao? Làm sao anh biết được?”
“Bởi vì chỉ như thế thì mới có thể lý giải chuỗi các sự kiện một cách logic được.
Mon ami Bạn thân mến, tôi đã dẫn dắt anh qua từng bước rồi. Giờ thì anh đã thấy điều gì đơn giản đến mức rõ ràng chưa?”
“Poirot thân mến của tôi, tôi chẳng thấy gì sáng tỏ ở đây cả. Lúc trước tôi đã nghĩ mình bắt đầu thấy được con đường, nhưng giờ thì lại rối mù tuyệt vọng rồi. Vì Chúa, hãy cứ nói tiếp đi, và cho tôi biết ai là người đã giết ông Renauld.”
“Điều đó thì tôi lại chưa dám chắc.”
“Nhưng anh đã nói là nó sáng tỏ rõ ràng rồi mà!”
“Chúng ta đang hiểu lầm nhau rồi, bạn tôi. Hãy nhớ rằng chúng ta đang điều tra hai vụ phạm tội – mà như tôi đã chỉ rõ, chúng ta phải có hai cái xác. Nào, nào,
ne vous impatientez pas đừng sốt ruột! Tôi sẽ giải thích tất cả. Để bắt đầu, ta hãy tiếp cận theo hướng tâm lý học. Ta thấy có ba thời điểm ông Renauld thể hiện sự thay đổi rõ rệt về quan điểm và hành động – do đó, có ba mốc cần xét về mặt tâm lý. Mốc đầu tiên xảy ra ngay sau khi tới Merlinville, mốc thứ hai sau khi cãi nhau với con trai, mốc thứ ba là vào buổi sáng ngày 7 tháng Sáu. Giờ, xét đến ba lý do. Ta có thể gán Mốc Một cho việc gặp lại bà Daubreuil. Mốc Hai cũng liên quan gián tiếp đến bà này, vì nó liên quan tới việc kết hôn của con trai ông Renauld với con gái bà ta. Nhưng lý do của Mốc Ba thì chúng ta chưa biết. Ta sẽ phải suy luận để tìm ra nó. Nào,
mon amibạn thân mến, tôi hỏi anh một câu nhé: ai là người mà chúng ta cho rằng đã lập kế hoạch cho tội ác này?”
“Georges Conneau,” tôi trả lời ngần ngại, e dè đưa mắt nhìn Poirot.
“Chính xác. Giờ, Giraud đã đặt ra một tiên đề rằng, người phụ nữ sẽ nói dối để cứu chính mình, cứu người đàn ông mà họ yêu, và đứa con của họ. Vì chúng ta hài lòng với giả thiết là Georges Conneau là người xúi giục bà Renauld nói dối, và bởi vì Georges Conneau không phải là Jack Renauld, nên có thể loại bỏ trường hợp thứ ba. Và, vẫn với giả thiết Georges Conneau có tội, ta loại bỏ cả trường hợp thứ nhất. Như vậy, chỉ còn lại trường hợp thứ hai – bà Renauld nói dối vì người đàn ông mà bà ta yêu – hay nói cách khác, để bảo vệ cho Georges Conneau. Anh đồng ý chứ?”
“Đúng,” tôi công nhận. “Nghe có vẻ logic lắm.”
“Vậy là bà Renauld yêu Georges Conneau. Vậy thì Georges Conneau là ai?”
“Là gã lang thang.”
“Ta có bằng chứng nào chứng tỏ bà Renauld yêu gã lang thang không?”
“Không, nhưng…”
“Thế thì tốt rồi. Đừng có bám vào những giả thuyết không được các dữ kiện thực tế hỗ trợ. Thay vào đó, hãy tự hỏi xem thực ra bà Renauld yêu ai.”
Tôi bối rối lắc đầu.
“Anh biết rất rõ mà. Ai là người mà bà Renauld yêu sâu đậm tới mức khi nhìn thấy xác người đó, bà ấy đã ngã xuống bất tỉnh?”
Tôi ngẩn người, thở gấp: “Chồng bà ấy?”
Poirot gật đầu: “Chồng bà ấy – hay Georges Conneau, anh muốn gọi thế nào cũng được.”
Tôi cố trấn tĩnh: “Nhưng không thể thế được.”
“‘Không thể’ như thế nào kia? Chẳng phải chúng ta vừa đồng ý là bà Daubreuil ở vị thế tống tiền Georges Conneau sao?”
“Phải, nhưng…”
“Và bà ta đã không thành công lắm phải không nào?”
“Cái đó có thể đúng, nhưng…”
“Và chẳng phải sự thật là chúng ta không biết gì về tuổi trẻ và thời ấu thơ của ông Renauld sao? Ông ta đột ngột xuất hiện với tư cách một người Canada gốc Pháp cách đây chính xác 22 năm phải không?”
“Đúng là như vậy,” tôi nói năng chắc chắn hơn, “nhưng tôi thấy có vẻ như anh đang bỏ qua mất một điểm cực kỳ quan trọng.”
“Là gì vậy?”
“Ôi chao, chúng ta đã công nhận là Georges lên kế hoạch thực hiện tội ác. Lập luận đó dẫn chúng ta tới một kết luận rằng ông ta tự lên kế hoạch cho vụ ám sát chính mình!”
“
Eh bien Rồi,
mon ami bạn thân mến,” Poirot thản nhiên đáp, “đúng là ông ta đã làm như vậy!”