Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đó Là Tình Yêu : [Tập truyện ngắn] / Võ Thu Hương.

8 trả lời, 23 lượt xem — Trang 1 / 1
Mảng mây vỡ ngoài cửa sổ
 
1.      Ngọc tranh thủ những ngày nghỉ phép về thăm quê. Tối qua, cô mơ thấy mình lạc ở khu phố... ngay bên căn nhà mình từng sinh ra lớn lên. Chỉ những cơn gió Lào quất rát mặt và những con đường tím rợp bằng lăng là vẫn như xưa khiến cô nhận ra lối về rất quen. Đang gà gật đọc tờ báo chờ máy bay cất cánh, Ngọc bất ngờ khi thấy Huy đứng sững trước mặt mình. Lúc ngồi trong phòng chờ máy bay, Ngọc thấp thoáng thấy bóng Huy, đúng cái bóng áo xanh carô đang đứng trước mặt Ngọc bây giờ, nhưng cô chẳng nhìn theo. Cô thậm chí dửng dưng không nghĩ tới chuyện có quen ai hao hao thế hay không. Không ngờ lại là Huy.
10 năm trước, trong một chiều cả gió, Ngọc đạp xe ngang qua đường Lê Lợi, buồn rười rượi khi nghĩ những câu thơ “Xin đừng chạm vào cây mùa lá rụng”. Lá lớn lá bé từ những vòm me, vòm sưa lảo đảo lao trước mắt Ngọc khiến trời Sài Gòn tháng Năm mà sao nghe lạnh lẽo. Bất thình lình trái tim vừa đổ vỡ của cô nhảy thậm thịch khi thấy bóng ai như Huy đi qua trước mặt. Có lẽ Huy vào tìm Ngọc, có lẽ Huy sẽ xin lỗi, sẽ ôm ghì lấy Ngọc mà vỗ về... Ngọc lao theo, í ói gọi. Người đàn ông ấy quay lại, hơn Huy chừng vài tuổi, chỉ cái lưng áo giống nhau kì lạ. Ngọc bật khóc khi dòng người vẫn mải miết đi qua tránh một cơn mưa đầu mùa đang ập đến. Những giọt mưa mát lạnh đầu mùa dội vào cô, mái tóc rối bù, ướt nhẹp. Nghĩ lại, Ngọc cảm giác lúc ấy mình giống ngợm nhiều hơn người.
Ngày chia tay, Ngọc chẳng biết có một lý do gì cụ thể. Trước đó, vài lần Ngọc đòi chia tay khi giận dỗi, đầu dây bên kia cách cả nghìn cây số, giọng Huy nghèn nghẹn: “Xin em, cho anh thêm một cơ hội”. Ngọc đắc thắng dù tất tật những lần ấy Huy chẳng làm gì sai, chỉ có Ngọc luôn hờn giận vô cớ. Hẹn nhau lên mạng chát chậm 5 phút, Ngọc giận. Huy lỡ miệng khen một cô bạn cùng lớp xinh, Ngọc giận... Sợi dây níu giữ tình yêu chưa đủ chín lại ở cách xa nên quá mỏng manh dễ đứt. Một lần Huy mỏi mệt không níu giữ, thế nên sợi dây đứt hẳn. Lúc ấy Ngọc cuống cuồng tìm Huy vì biết mình cần xin lỗi, cần níu kéo, vì biết mình sẽ như kẻ hụt chân ngã quỵ khi không còn nắm tay Huy. Đáp lại là sự lặng im của Huy. Huy trốn Ngọc như người mắc nợ. Một lần cuối gọi điện cho Ngọc, Huy báo anh sắp kết hôn. Nước mắt Ngọc ràn rụa, tự nhủ, Huy vẫn là người nổi tiếng học giỏi toán. Những phép tính cuộc đời có khi cũng cần biết tính toán, phân chia. Kết hôn khi chia tay nhau chưa đầy năm, dù khi bên nhau Ngọc luôn nghe Huy hứa sẽ trọn đời bên cô. Ai đó nói, lời nói của kẻ si tình và người say thật giống nhau. Sau cơn say mê lời nói ấy chẳng còn giá trị gì. Điều ấy khiến Ngọc thấy thêm chua chát.
- Em về Vinh à?
- Vâng, chuyến bay về Vinh. Chả lẽ đi nửa đường em gọi bác phi công ơi cho tôi ghé chơi Đà Nẵng?
- Em vẫn như ngày nào - Huy nhún vai, điệu nhún vai từ 10 năm trước vẫn thế. Ít ngờ nhất là cái nhún vai ấy khiến câu chuyện dễ cỏi mở hơn.
- Anh vẫn vào blog của em, có vẻ em rất hạnh phúc.
- Đúng đấy anh ạ.
Đáp lại là giọng khẳng định có phần kiêu hãnh của Ngọc (phải kiêu hãnh chứ, khi trước đây, trong mắt Huy có lẽ Ngọc chẳng khác tên lính bại trận là mấy), giọng Huy chùng xuống: “Anh thèm một mái ấm như thế”. Khác với nhiều bè bạn không thích đưa chuyện riêng tư lên blog, Ngọc lại thích xây cho mình một ngôi nhà trên thế giới ảo bằng những câu chuyện thật, tình cảm thật. Không ngờ mái nhà ảo ấy lại có tác dụng phụ là khiến người yêu cũ của mình thèm thuồng. Ngọc bỗng thấy hả hê, dù cảm giác ấy có phần ích kỉ và vô lý.
 
 
2.      Huy chịu ơn Thúy sâu lắm. Khi hai nhà vừa dạm ngõ cũng là lúc bệnh hở van tim hoành hành anh. Những khi cơn sốt kéo dài, cơ thể suy nhược, bệnh tật thì lúc ấy Thúy ở cạnh anh chăm sóc. Lúc ấy Ngọc ở cách xa gần 1700 km. Không hề biết Huy vật vã với những trận ốm, chỉ luôn giận dỗi vô cớ. Chính sự giận dỗi ấy đẩy hai người chia xa chứ không phải do người thứ ba. Thúy chỉ là người đến sau, đến đúng lúc.
Ngày Huy quyết định vay mượn tiền bạn bè để qua Singapore chữa bệnh, bố mẹ Thúy gọi Huy sang nói chuyện. Miếng đất gần 100 mét vuông sau vườn nhà bố mẹ cho Thúy làm của hồi môn về nhà chồng, nay đã dạm ngõ, trước sau gì cũng là của Huy và Thúy. Đang được giá, hai đứa cứ bán quách đi để có tiền trị bệnh. Sức khỏe, tính mạng con người là thứ quý giá nhất, tiền bạc chỉ là phù du. Nghe bố mẹ Thúy nói chắc như đinh đóng cột, Huy không dám nhận cũng không biết tính đường từ chối ra sao cho phải lẽ. Nói hôm trước thì hôm sau Thúy đã chồng trước mặt Huy 700 triệu đồng tiền miếng đất, không kịp để Huy bàn tính. Huy chỉ biết rưng rưng nước mắt, biết mình đã mắc nợ mối ân tình không dễ đong đếm.
Khi trái tim Huy được tái sinh, bắt đầu những nhịp đập mạnh mẽ, Huy lao vào làm việc như trâu cày, quyết tâm đủ tiền kiếm miếng đất giá trị gấp đôi, gấp ba miếng đất Thúy hy sinh ngày trước để cưới vợ. Thúy không đòi hỏi điều ấy nhưng tự lòng Huy cảm thấy mình còn cần bồi đắp nhiều hơn thế. Gánh nặng cuộc sống đè nặng trên vai nhưng chẳng hề gì khi lần đầu tiên, ở tuổi 30 Huy nghe trái tim mình đập khỏe mạnh.
Thiệp mời đám cưới đã phát ra. Thúy vui vẻ dọn từ căn nhà ba tầng mặt phố của bố mẹ dọn về ở chung căn nhà trọ chật chội với Huy. Lý do không hẳn vì Thúy vui vẻ theo chồng tương lai mà vì cô đã chán ngấy căn nhà có nhiều chỗ dột từ nóc ấy. Ra khỏi nhung lụa lại là sự giải thoát. Gia đình Thúy cấp tiến đến mức chẳng cự nự gì về điều này. Thậm chí bố mẹ Thúy từng công khai luôn mối quan hệ ngoài luồng với các con gái. Một lần cùng nhau vào phòng trà nghe nhạc, gặp bố đi cùng bồ vào đó, Thúy tỉnh bơ nói với Huy: “Cô này bố quen hồi trước Tết”. Đáp lại ánh mắt thắc mắc của Huy, Thúy chậc lưỡi: “Cơ mà đôi mình vào đây gặp bố và gà của bố, mẹ và phi
công trẻ của mẹ thì vui nhỉ”. “Anh chẳng thấy hay ho gì” - Huy chặc lưỡi. Thúy vờ như không để ý, mắt hoe hoe đỏ dù ca sĩ đang hát một bản nhạc sôi động của nhạc sĩ Y Vân.
Không hiền lành như Thúy, dù sinh ra được gọi là Hiền, cô em gái đáo để rủ ngay vài chiến hữu thân thiết tìm tới tận nhà gà nhí của bố. Gà của bố thua tuổi Thúy, hơn Hiền hai tuổi nhưng không dám lên mặt đàn chị khi thấy con gái người tình tóc sợi tím sợi vàng, lại thêm ba anh bạn hộ tống tay chân xăm trổ, mặt lạnh te như đít nồi nhôm. Thấy Hiền, một mực gà xin lỗi. Tối hôm ấy bố đi làm về say mèm, thẳng tay tát Hiền vì công bố bắt tép nuôi... gà, đang xơi ngon lành thì bị con gái đuổi chạy mất dạng.
Dọn về với nhau chính là những ngày cả Huy và Thúy nhận ra, họ chưa hiểu nhau, không bao giờ hiểu tận cùng nhau. Tưởng đã hiểu nhau tới tận cùng sau nhiều chia sẻ, thử thách nhưng cuộc đời luôn nhiều điều tréo ngoe. Ham muốn đàn ông của Huy chẳng hiểu sao không một chút xúc động khi đứng trước Thúy. Chạy chữa từ Tây y, Đông y đủ loại thuốc thang thì khi bên nhau Huy càng thêm chán nản về mình.
 
 
3.         “Có thể hậu quả từ thời gian dài kiêng khem, chữa trị bệnh hở van tim kéo dài. Thoát bệnh thì anh lao vào làm việc như trâu điên, mất hết tinh lực. Dạo trước, bên em anh luôn rừng rực lên ấy” - Huy đưa mắt nhìn Ngọc đầy ý nhị khi kể dứt câu chuyện buồn. Ngọc cười nhạt. Nụ cười hình như khiến Huy chột dạ.
- Sao vợ chồng anh không đi bác sĩ?
- Thúy một mực không đi. Thúy không thiết tha lắm với chuyện làm mẹ, càng không thiết tha làm vợ vì anh làm cô ấy cụt hứng nhiều lần quá rồi. Ngay sau đêm tân hôn, nhiều đêm Thúy đi bar thâu đêm không về. Một thời gian sau tụi anh cũng có con. Con gái đẹp lắm, giống anh lắm. Thúy khoán trắng con gái cho anh và bà giúp việc. Đến giờ thì tình yêu anh và Thúy chết hẳn. Lỗi không hoàn toàn ở anh.
Đúng là lỗi không hoàn toàn ở Huy. Thúy ngày càng trái tính. Cô công khai đi lại với một anh chàng học chung lớp tại chức, không giấu giếm vẻ viên mãn của người đàn bà thỏa mãn trong tình yêu. Cô cấm cảu khi trò chuyện với chồng nhưng mặc áo khoe hơn nửa đôi gò bồng đảo, vừa dắt xe ra khỏi nhà vừa líu lo ca hát. Cô thường tỏ thái độ tiếc nuối vì sinh con mà bụng to, ngực sệ, mất dáng chuẩn. Có lúc đi công tác về sớm, Huy mở cổng thì phát hiện ra biển số xe “bạn học” của Thúy. Đi men lên cầu thang, nghe tiếng thở hổn hển đầy khoái cảm của vợ, Huy đứng chết trân mười phút rồi quay đầu đi xuống khi nhìn thấy đã đến giờ đón con ở nhà trẻ. Quay đầu là bờ, với Huy trong tình huống ấy, quay đầu mà lòng toàn đổ vỡ.
Bé An tưởng đã là chỗ dựa vững chắc cho anh rồi nhưng vận mệnh nó ngắn quá, căn bệnh ung thư máu giết nó khi chỉ cách sinh nhật 3 tuổi đúng 3 ngày. Chắc kiếp trước anh sống mắc nợ nhiều nên giờ phải trả bằng những nỗi đau - Huy thoáng chốc rơi vào khoảng không tĩnh lặng. Tiếng cô tiếp viên ấm áp thông báo máy bay vừa bay qua vùng trời xấu.
- Chồng con em thế nào?
- Con trai em ba tuổi. Cháu ngoan. Chồng em chưa bao giờ hứa yêu em trọn đời nhưng là chỗ dựa vững chắc nhất, đáng tin nhất. Anh ấy giúp em hiểu đầy đủ về hạnh phúc..
- Cần làm đau nhau thế không em?
Giọng Huy dịu dàng, Ngọc nhìn lên đôi mắt Huy rưng rưng, chợt nhớ ngày xưa có lần tiễn Ngọc ra sân ga, Huy đã rưng rưng chạy theo đoàn tàu đang chuyển bánh. Hình ảnh ấy khiến Ngọc tin rằng tình cảm Huy dành cho mình quả là duy nhất, là có thể theo trọn đời như lời anh hứa. Bây giờ mọi lời nói, hình ảnh ấy đã là quá khứ mà sao Ngọc vẫn thấy xót xa. Nỗi xót xa không vì thương tiếc một mối tình vỡ từ 10 năm trước mà vì Huy của ngày xưa, người mà Ngọc chạy theo vô vọng, bây giờ sao thảm thương quá thể. Ngọc cảm giác mình có lỗi khi nhìn Huy.
- Ngày ấy, sao mình chia tay nhau?
- Anh không biết.
-     Người ta có thể làm đau người khác, làm thất vọng cho người khác không cần biết lý do nào ư?
Cuối cùng, điều Ngọc muốn biết rồi cũng biết. Đấy, lý do thế đấy. Biết để mà cười vào quá khứ từng không chịu ngủ yên cho tới ba năm sau đó. Chính Ngọc cũng không hiểu nổi, mối tình đầu của mình, vì sao khi tình cờ ngồi bên nhau lại có thể trò chuyện những câu không đầu không cuối như thế. Đã tưởng ngủ yên rồi sao vẫn hờn vẫn dỗi, vẫn xót xa thế. Ngọc thoáng chút tiếc nuối, nghĩ giá ngày ấy cả Huy cả Ngọc dành cho nhau một cơ hội, không chơi trò cút bắt mà ngồi bên nhau như những lần trước đó. Chắc hẳn chẳng ai phải đi riêng con đường nhiều buồn đau đến thế.
Máy bay bắt đầu hạ cánh xuyên qua những đám mây. Ngoài cửa kính, Ngọc thấy rõ những mảng mây bị xé vỡ. Huy đặt bàn tay lành lạnh lên tay Ngọc. Hơi ẩm ướt của bàn tay lan qua Ngọc. Bàn tay Huy vẫn thế, thường ra mồ hôi trộm khi xúc động mạnh, không giấu được cảm xúc. Chỉ bàn tay ấy đúng là bàn tay của ngày xưa nhất. Ngọc khẽ rút tay mình ra khi nghe cô tiếp viên báo máy bay chuẩn bị hạ cánh. Hành trình hai tiếng sao mà quá dài, quá nặng.
Ngọc bật máy điện thoại, nhận tin nhắn từ chồng: “Nếu em mệt, hãy uống ly chanh muối cho tỉnh người. Đừng lo âu cho bố con anh, “bọn anh” đã lớn”. Chồng vẫn luôn hài hước thế, không tỏ ra quá quan tâm nhưng luôn khiến Ngọc an tâm. Cô nhìn lại, Huy đứng lại cuối cùng chờ băng chuyền trả hành lý. Chỉ một chiếc va ly cuối cùng trên băng chuyền trôi qua trước sự thờ ơ của anh.
Có thể thời gian đã xóa mờ vết thương. Thì thôi để quá khứ ngủ yên luôn đi. Đừng khuấy lại, đừng nhớ lại, bởi có thể ai đó lại vụng về làm khuấy thêm một vết thương khác sâu hơn, chẳng biết bao giờ mới xóa nổi.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Bầy chim sẻ đã về
 
Nổi nênh bến đục bến trong, cuối cùng thì cô gái bạc phận trong vở diễn “Mười hai bến nước” cũng chỉ còn là nấm mồ xanh được đứa con nuôi nhang khói trong vườn nhà. Kể ra nàng còn hơn Đạm Tiên trong “Kiều”, chỉ là nấm mồ vô chủ. Hiên sụt sùi khi tấm màn nhung khép lại, sụt sùi tới cả khi bốn diễn viên của vở kịch ra cúi chào khán giả đã vào trong cánh gà từ lâu, khách đã lục tục kéo về. Nàng kín đáo nhìn quanh, hình như có khối người đàn bà đa cảm như nàng, mắt hoe hoe đỏ tự bao giờ.
Bên Hiên, Quốc không khỏi tặc lưỡi: “Gớm chửa, có bốn mạng diễn viên mà tiền vé tới cả trăm ngàn mỗi người!”. Câu nói của Quốc khiến nàng chưng hửng, cảm thấy bị xúc phạm ghê gớm. Hiên nguýt dài: “Thế lần sau anh mua vé mà đi xem phim Đại chiến Xích Bích nhá, cả mấy ngàn người, chỉ bốn chục. Chọn hôm ế khách, giảm 50% ấy, chỉ hai chục ngàn đồng”. “Ừ, hôm nào mình đi” - Quốc cười hè hè, ôm vai người yêu, chẳng thèm để tâm thái độ dỗi dỗi vô lý của Hiên.
Nói là vô lý vì câu nói ấy nếu có xúc phạm tới ai thì cũng chẳng liên quan gì Hiên. Vô lý còn vì đã rất nhiều lần, Hiên kể về Quốc cho cô bạn thân nghe đều kèm thêm câu: “Tao cá với mày, không ai keo hơn lão ấy”. Hiên cũng thừa hiểu, kéo Quốc đi xem kịch, chẳng khác gì việc ngồi bên cạnh một người chỉ biết chổng mông vào nghệ thuật. Trong khi mọi người đều có thể sụt sùi thì gã lại so đo giá cả cái vé kịch “chỉ bốn người diễn”. Gu của Quốc may ra chỉ có thể là dăm bộ phim đánh nhau hoành tráng, hoặc cười nói chí chóe, múa võ quay lộn tùng phèo, càng đông như chợ tết càng vui, kiểu của hãng phim Kỳ Nhông Béo.
Biết còn nhiều hơn thế về tật xấu của Quốc, Hiên vẫn không dứt ra được. Dường như là một món nợ trả giá cho phần ngu muội trong con người Hiên vốn được đánh giá thông minh. Quốc giàu có? Nhằm nhò gì, giàu mà keo thì lâu lâu cũng chỉ bao người yêu được bữa cà phê, xem phim, xem kịch. Lâu lâu đi công tác, Quốc cũng nhớ mua cho Hiên một hai món quà. Lúc là cái vòng ngọc trai Phú Quốc đểu, dùng chưa qua tuần đã bong tróc lớp sơn bóng bẩy, lời những hạt nhựa trắng hếu. Lúc là chiếc nhẫn không biết làm bằng gì, hễ đeo vào tay lại bị ăn da, mẩn đỏ dị ứng. Tiền thuốc có khi bằng mấy lần tiền nhẫn. Riết rồi, nữ trang Quốc tặng, Hiên chẳng dám đeo, cất vô một cái hộp sơn mài Quốc mua “mấy trăm ngàn cơ đấy” từ Đà Lạt về. Lâu lâu lấy ra ngắm nhìn, có cầm thì nhẹ thật nhẹ kẻo lại bong tróc.
Một phần, Hiên ngại dứt ra khỏi mối quan hệ ấy vì sợ tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, khi tuổi ba mươi đã sầm sập bên lưng. Suy cho cùng, đó cũng là một sự tính toán, dù không đo đếm bằng vật chất như thói quen của Quốc.
Quốc kéo Hiên vào quán cà phê Lối Về quen thuộc nằm hun hút sâu trong con hẻm. Trong bóng tối lờ mờ của Lối Về, chưa ngồi ấm chỗ, chàng đã len nhanh tay vào sâu trong lớp áo ngực vân vê bầu vú. Hiên né tránh bằng cách ngả nhanh người ra dựa hẳn lưng vào ghế. Cảm xúc của vở kịch vẫn còn chưa dứt hẳn, lại ùa về từng lời thoại hẫng hụt trong nước mắt. Gã chưng hửng.
- Em, sắp tới lão già anh ký giấy bán nhà. Anh sắp giàu to.
Hiên ngạc nhiên:
 “Thầy đang ốm liệt giường cơ mà?”.
 “Liệt thì liệt chứ, đất đai đang được giá. Lừng khừng lúc này là lỗ thiệt cả lũ.”.
Hiên tặc lưỡi:
 “Thầy không muốn bán thì vội làm gì. Ông cũng sống không được bao lâu nữa”.
 “Em khờ quá. Đã nói là đất đai đang sốt giá mà. Chờ là chờ thế nào. Đến lúc ông già chết, đất xuống giá thì ai chịu cái khoản lỗ ấy cho?”.
 Rồi gã cười khùng khục.
 “Bố già cũng hâm bỏ mẹ. Bố không muốn bán nên ra điều kiện: Con phải ký giấy từ bố thì bố ký giấy bán và chia phần cho con đàng hoàng. Già rồi lẩn thẩn. Ông nghĩ anh không dám ký”.
Hiên nghe rõ cảm giác xát muối trong lòng khi nghe Quốc nói về ba anh - là thầy giáo cấp ba của Hiên như vậy. Cũng may ngồi giữa bóng đêm, nếu không, nhìn vẻ mặt hả hê của Quốc, ruột gan nàng có thể lộn mửa ra ngoài chứ không chỉ là có cảm giác xót rát. Bỗng chốc lòng Hiên dịu lại khi nghĩ tới những câu Kiều ngày xưa thầy dạy. Đám sinh viên, có đứa đã thuộc làu làu Kiều, hiểu tận từng chi tiết, chẳng hiểu sao mắt vẫn ngân ngấn nước.
* * *
Hiên biết thầy trăm lần không muốn bán, ngàn lần không muốn bán vì đã nhiều lần, ông kéo tay cô lại mà hỏi:
 “Con thấy đàn sẻ đã về chưa?”.
Những lúc ấy, Hiên lại vờ như chạy ra sân đứng ngó nghiêng, lại quay vào nắm bàn tay da bọc xương còn rất ít hơi ấm của ông cụ:
 “Chưa về thầy ơi!”.
 Đôi khi, trong những lúc ngó nghiêng ngoài sân, bốn phía chỉ toàn nhà hàng khách sạn, panô quảng cáo lòe loẹt bao vây, cây cối thấp lè tè vì hàng cây cổ thụ đã bị chặt đi để mở đường, Hiên thầm nghĩ: “Đàn sẻ làm sao mà về nổi”. Không chỉ riêng góc vườn này mà khắp dọc con phố trước nhà trước đây vốn rất nhiều chim sẻ. Ngày con phố được mở rộng, cây cối chặt nhiều đáng kể, nhà cửa mọc thêm đáng kể, đàn chim không còn về thường xuyên rồi vắng bóng hẳn.
Khi ngoài năm mươi, thầy từng bỏ nhà, bỏ trường đi theo tiếng gọi tình của một cô ca sĩ chừng hai mươi. Cô ca sĩ ấy, hát rất hay những bài hát phổ thơ của thầy. Hiên còn nhớ, cô ca sĩ ấy ở trọ cuối con hẻm nhà Hiên ở, mỗi lần thầy ghé qua đưa đón cô đi hát, cô ấy trắng bóc, xinh như một đóa hồng bạch, ngan ngát tỏa hương. Đã có lúc, Hiên chỉ ước mơ mình lớn lên làm ca sĩ, để ngan ngát tỏa hương như thế. Nhà trường làm kiểm điểm, thầy về nhà đóng cửa phòng được mấy hôm thì vác ba lô cùng cô ca sĩ ấy ra đi. Hôm hai người ra đi, ngang qua nhà Hiên, hình như cả hai cùng rạng rỡ. Chỉ vợ thầy đứng lại héo hắt bên Quốc lúc ấy nhìn theo đầy phiền muộn.
Từ đó, Hiên hay sang nhà thầy hỏi han cô, lâu lâu hỏi tin tức của thầy. Rồi yêu Quốc từ lúc nào. Hiên yêu khi hiểu và sẻ chia cùng nỗi đau có người cha bỏ nhà đi của Quốc. Mặt khác, Hiên có sự cảm thương chứ không trách gì hoàn cảnh của thầy. Dạo bé, ba cô cũng bỏ mẹ con cô đi biền biệt mười năm trời, có hẳn vài ba bà vợ bé, vợ nhỡ... rồi quay về cô vẫn không oán trách. Lâu lâu chỉ khóc òa tị nạnh khi bè bạn đi học có bố đưa, mẹ đón, khi mình đi lúi húi một mình, mẹ thì mải bươn chải ngoài chợ. Quốc khác Hiên thuở ấy khi anh đã biết dửng dưng chôn nỗi đau trong lòng. Lúc ấy, Quốc chưa keo kiệt, tính toán như bây giờ. Lúc ấy, nhà trống cột trống kèo, đâu có gì để keo kiệt, toan tính?
Mẹ Quốc mất tháng trước thì tháng sau, 49 ngày cô đi, như có linh tính, thầy về. Hôm ấy, Hiên qua dọn cỗ cúng 49 ngày, thấy có một đàn sẻ về quanh sân. Bước chân thầy chừng mỏi mệt, lùng chùng bên đàn sẻ vô tư ăn thức ăn vương vãi trong nắng sớm. “Hết, tôi đã hết thật rồi!”. Thầy gục đầu trên chiếc ba lô sờn cũ. Mái tóc bạc trắng quá nhanh so với ngày thầy ra đi, hơn mười năm trước. Chỉ Hiên ra dìu thầy vào. Bàn tay thầy mềm rũ như một đứa trẻ, chân lẫm chẫm bước vào nhà. Ở một góc sân, Quốc đứng sững, lặng im. Hai cha con Quốc giao tiếp với nhau bằng những thanh âm của sự im lặng kể từ đó.
* * *
- Phần của con bốn gian nhà, bố ký giấy ủy quyền đây rồi, con cứ bán. Chỉ còn một gian và mảnh sân, bố giữ lại. Bố chỉ muốn ở trong căn phòng này, có chết, cũng chết ở đây.
Sau giọng nói có phần dứt khoát của thầy là tiếng rít lọt qua kẽ răng của Quốc sít sịt:
 “Ối giời ơi, cái mảnh sân ấy là mặt tiền, gần trăm triệu một mét đấy cụ Khốt ạ. Ở phố, ông cứ trồng chuối, trồng cà, chẳng đáng đồng xu cắc bạc, người ta đi ngang tưởng ông điên đấy. Ông giữ làm gì, để đưa xuống mồ à?”.
Hiên tình cờ mở cửa vào lúc cãi vã, chỉ còn biết đứng chôn chân dưới mấy bụi chuối đang mùa cho quả trước sân. Những gốc chuối oằn mình cho trái lớn, buồng sai. Và cũng những gốc chuối ấy sẽ tàn sẽ lụi đi rất nhanh sau chỉ một mùa trái chín.
Không nghe tiếng thầy đáp lại, chỉ một chuỗi ho kéo dài. Hiên vội chạy vào nhà. Quốc nhăn nhăn mặt, thủng thẳng:
- Em đến đúng lúc quá, bố già cứ ho là đái cả ra quần. Bẩn thỉu.
Giọng anh dài ra như mấy bà bán cá hay cãi cọ ở chợ. Nói xong, Quốc quày quả bỏ ra ngoài. Thầy nhìn Hiên làm vệ sinh cho ông, nước mắt vắn dài:
 “Đời thầy khốn nạn thế, văn hay chữ tốt cho lắm, đi dạy cả thiên hạ, cuối cùng thành kẻ mất nết, bỏ vợ bỏ con, đến thằng con cũng không dạy nổi”.
Lặng đi một lúc, thầy nắm bàn tay Hiên trong bàn tay xương gầy của mình. Đôi mắt đã mờ đục, buồn tủi ánh lên chút ít ấm áp cuối mùa. Nén tiếng thở dài, thầy khe khẽ:
 “Con ra sân xem, đàn chim đã về chưa?”
Trước mảnh sân quen thuộc, Hiên thở dài. Cố lắm, cô mới nói được câu quen thuộc:
 “Thầy ơi, chưa về”.
 Không ngờ câu chuyện Hiên kể cho thầy lại ám ảnh ông đến vậy.
 “Thầy à, khi còn sống, hàng ngày cô vẫn đưa thóc ra vãi quanh sân cho lũ chim ăn. Cô bảo, thầy thích nhìn lũ chim đùa chơi trong sân, thầy sẽ quay về. Có hôm, chim về lích rích xao xác cả mảnh sân”.
Chẳng hiểu sao, khi cô mất, Hiên vẫn thường ra vãi thóc nhưng lũ chim thưa dần và thôi về hẳn. Ngày thầy về, 49 ngày cô mất, lũ chim sẻ về lần cuối. Đã có lần, thầy nói, khi đàn chim về thường xuyên, cô sẽ lại về. Đi gần trọn cuộc đời, thầy tin vào điều thần kỳ ấy. Dù hàng ngày trên bàn thờ cô vẫn thoảng hương khói thì thầy cũng không một lần ra mộ vợ. Bữa ăn hàng ngày thầy vẫn nấu những món ăn cô thích, dọn thêm bát đũa chỗ cô ngồi chứ nhất định không dọn mâm riêng cho cô trên bàn thờ. Hiên hiểu, thầy đang cố đi ngược quy luật.
Cũng có khi thầy nói, số thầy không phải chịu cảnh cô đơn. Quốc lúc ấy chen ngang: “Gớm, chết vợ này thì có vợ khác, lo gì cô đơn”. Lúc thầy ngủ, ở một góc gần đó, Quốc nói, không thèm giữ ý, anh nghi lão già chưa bán mảnh sân. Là vì ông già còn con vợ bé trong Nam, biết đâu có ngày nó chán nghề hát xướng, quay về với lão. Hiên sững sờ nhìn Quốc, lặng im ra về khi đã dém màn cẩn thận cho thầy và thắp nhang cho cô. Đã nhiều lần, Hiên thề với lòng mình không bước vào căn nhà này, không gặp Quốc để ngày càng bị dìm sâu xuống đáy thất vọng. Đã đến lúc hai người không thể là những người bạn chung đường. Thế rồi, nhìn thầy nằm sệp trên giường, không một chỗ dựa; nhìn ánh mắt trĩu nặng của cô trên bàn thờ, Hiên lại không đành lòng.
* * *
- Hiên, em qua đây! Ông cụ sáng giờ cứ nói sảng, bảo hẹn gặp mẹ lúc mười giờ sáng nay - Quốc giục sau tiếng chuông đổ dài.
Hiên bật dậy, nhìn chuông đồng hồ, đã tám giờ sáng. Đêm qua, mải xem một bộ phim tâm lý, cô quên giờ, dậy trễ.
Thầy mỉm cười khi thấy Hiên bước qua bậc cửa. Đôi môi khô gầy không thèm uống nước. Đôi tay ông không thể nhấc lên, dù là yếu ớt như hôm qua. Hiên cuống quýt nắn nhẹ đôi tay xương gầy ấy:
 “Thầy ơi, thầy...”
- Con xem đàn chim đã về chưa?
Giọng thầy mềm, nhỏ và ấm. Anh mắt thầy như van như nài. Hiên nặng trĩu bước chân ra sân. Phía ấy, chắc chỉ là nắng và nắng, mấy buồng chuối để mặc trái chín vàng không ai ăn. Nhưng kìa, chính Hiên cũng bất ngờ khi thấy dăm ba chú sẻ lạc, nhảy nhót dưới gốc chuối rỉa trái chín rụng.
- Thầy ơi, đàn chim đã về nhiều lắm... Giọng cô nhòa đi trong nước mắt - Thầy ơi...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Tiếng guita như gió
 
Khi Ly vừa lớn lên đã ý thức được mình đẹp, vẻ đẹp rắn chắc, khỏe khoắn với nét duyên ngầm của con gái miền biển mà em được thừa hưởng từ mẹ. Ly ghét điều đó, dù đó là điều Ly không bao giờ có thể thay đổi. Em thèm có nét thật thà chất phác trên khuôn mặt của ba, em yêu cả nước da đen sạm vì nắng gió cao nguyên của ba... Nhưng bói cũng không ra có nét gì Ly được thừa hưởng từ ba.
Quán cà phê của mẹ nằm liêu xiêu giữa những gốc phi lao già. Thực chất là cái rạp ba dựng từ những gốc cây trong vườn và kê những bộ bàn ghế nho nhỏ. Quán lạ, nằm xa trung tâm, ở khu vực xung quanh toàn đồi cát hoang vu nhưng khách theo nhau đến từng đoàn. Không chỉ xe máy, khách còn có cả những chiếc ô tô bóng loáng mang biển số Sài Gòn ra. Ly tự giải thích điều này, vì mẹ đẹp và hát hay. Lớn hơn một chút, Ly hiểu vì giọng hát mẹ lạ, mẹ có duyên lạ và đôi mắt khéo đưa đẩy với khách hàng.
Khi mẹ hát, ba luôn là người đệm đàn. Tiếng guitar gỗ trầm buồn của ba hòa với giọng hát hoang vu của mẹ trong tiếng phi lao vi vút gió làm thành cặp bài trùng, có sức mê hoặc. Tàn đêm, khi mẹ còn tẩy trang và bôi những thứ kem dưỡng da lên mặt, lên người thì ba dọn dẹp bàn ghế, rửa hết đống ly chén. Ly đòi rửa nhưng ba luôn ngăn cản: “Thôi con, tay con gái ba đẹp vậy, chạm vô nước lạnh lâu ngày bị nhăn da đó. Cứ để ba làm loáng chút sẽ xong”. Ly đứng gần nhìn liền bị ba nhắc: “Vô đi con, ngoài này lạnh, coi chừng bệnh”. Những lúc ấy tốt hơn hết Ly đứng nem nép phía cửa, dòm ra. Thấy lòng se sắt khi cảm nhận rõ tiếng gió rít lên từ những tán phi lao sàn sạt quất vào nhau, gió chạy ràn rạt trên vai ba. Phía góc vườn quen thuộc, dáng ba cong cong như dấu hỏi đen nặng ngả vào đêm.
Nhiều khi, Ly không hiểu vì sao ba chấp nhận khổ cực âm thầm chi vậy. Ngày, ba vất vả với xưởng làm nước mắm khá lớn trong vùng. Công việc của ba không đến nỗi không nuôi nổi vợ con nhưng ba vẫn nai lưng ra làm đến tận nửa đêm. Mẹ hầu như không quan tâm đến sự nhọc nhằn ấy. Mẹ hát buổi tối, ngày rảnh rỗi đánh bài, thua nợ đầm đìa. Tối về lại hát day dứt với những phận đời đơn độc, như chưa hề biết đến những khoản nợ mình gây ra. Những khoản nợ ấy ba luôn là người theo sau giải quyết, không một lời phàn nàn.
Nhịn đến mức như ba, Ly nghĩ chỉ có một. Có lúc Ly chỉ mong người chồng mình sau này được như ba hoặc thậm chí, phân nửa ba cũng được. Nhưng mẹ khác Ly, mẹ không thích trò chuyện với ba. Hai người nói câu trước bình thường, câu sau mẹ đã cao giọng gây gổ. Nguyên nhân để mẹ gây gổ thường rất vô lý: Sao nhà này ngửi đâu cũng mùi nước mắm, sao trời ơi nực quá, sao bực mình quá... Những lúc ấy ba vẫn lặng im.
Sự im lặng chịu đựng của ba không níu mẹ lại được. Ngày bỏ đi, mẹ để lại ba bức thư. Ly không biết thư viết gì nhưng mắt ba vằn lên vẻ giận dữ. Khi ba nhìn Ly, ông vẫn giữ vẻ uất giận ấy, nước mắt lăn dài trên vầng má ba đen sạm. Ba cười như mếu: “Mẹ mày không chịu nổi mùi nước mắm, ưa mùi nước hoa Sài Gòn. Mà cái đời tao có hơn gì một chum nước mắm đâu” - Đó là lần đầu tiên ba nói từ “mày - tao” với Ly, sao khó nghe.
Ba tìm hết những gì còn sót lại của mẹ trong căn nhà chất thành một đống giữa sân, châm lửa đốt. Trong đêm, những ngọn lửa nhảy múa hình ma quái, rần rật, rần rật phả hơi nóng rát mặt. Trong ngọn lửa ấy, Ly nghe tiếng hát mẹ ngân nga đâu đó. Ly kịp giấu một tấm hình mẹ đang bế Ly trên tay, ba choàng cánh tay rắn chắc ôm cả hai mẹ con. Lúc ấy Ly ba tuổi, hai mẹ con cười tươi rói, ba cười mim mím miệng không giấu vẻ hạnh phúc. Ba không nói nhưng nhiều người nói với Ly: “Mẹ mày theo giai”. “Giai” là người đàn ông bụng bự, da trắng lốp, đi chếc xe hơi đen bóng biển số Sài Gòn, cuối tuần nào cũng đánh xe ra đây nghe mẹ hát.
Lúc ấy Ly bước vào tuổi 15. Ba chở Ly bằng chiếc Charly lùn xỉn, chạy trên con đường nhựa xuôi ra phố. Hai bên đường, những trảng cát trắng đến nhức mắt. “Mình đi lên phố tìm mẹ hả ba”. Ba ậm ừ gì đó. Ly không níu kéo: “Thôi, hay ba cho mẹ đi luôn, lúc nào mẹ hối lỗi mẹ về. Con thấy mẹ là người có lỗi, sao ba phải đi tìm? Ba kêu mẹ về, mẹ lại nợ nần chồng chất, ba phải còng lưng trả nợ, sao chịu nổi”. Lặng một lúc, Ly nói: “Con sắp lớn rồi ba, sau này ba cần gì con sẽ giúp ba, con sẽ nuôi ba”. Ba dừng xe lại trước trung tâm một trại trẻ mồ côi. Ly thắc mắc: “Sao tìm mẹ mà ghé đây ba? Hay ba con mình đi thăm ai?”. Ba nhìn Ly bằng đôi mắt nặng trĩu. Ông nhắm mắt. Giọt nước mắt hiếm hoi trĩu nặng rớt xuống. Ông quay đầu xe lao như ma đuổi chạy về nhà. Ly lặng im, thấy cuộc đời sao khó hiểu.
* * *
Mẹ đi rồi, ba bán luôn xưởng nước mắm cho một ông chủ khác, quyết định dọn vào Sài Gòn sinh sống. Ly cảm nhận đó là cách ba chạy trốn nỗi đau của mình bằng một nỗi đau khác. Xưởng nước mắm có từ đời ông nội, đến nay ngót nghét gần 40 năm. Khi bước chân đi, Ly thấy mắt ba đỏ hoe, những vết nhăn trên trán ba hệt như những vệt cát cong cong thành vệt trên bãi biển. Nước mắt Ly chạy vòng quanh. Ly nhớ những sáng sớm cùng ba ra bãi biển, xem những người làng háo hức bưng từng thúng cá tươi rói vào bờ khi được mùa hoặc tranh giành nhau chí chết cũng những thúng cá bé nhỏ ấy những ngày mất mùa. Ly nhớ ông lão cụt chân sáng nào cũng cà thọt đi xin vài ba nhúm cá cơm về ăn qua bữa. Những đứa trẻ tuổi lên 4, lên 5 đã theo mẹ khom lưng như con còng trên biển nhặt từng con cá rơi rớt về cho bữa cơm nhà nghèo. Nhớ cả những người đàn bà nặng đôi quang gánh, nón rách vành chưa bao giờ biết tới mùi nước hoa xịn, phấn son thơm như mẹ... Chia xa những cảnh bình thường ấy sao khó thế. Vào Sài Gòn, chắc chẳng bao giờ Ly gặp lại những yêu thương ấy.
Ba đổi sang nghề chạy xe ôm. Buổi tối về ba thường nằm dài trên chiếc võng, hát bài Lý con sáo buồn hiu. Thi thoảng, giữa những đoạn bài hát, ba ngưng lại thở dài đánh thượt. Ly nhìn thấy, chịu không nổi, quay ra ngoài sân, ánh trăng hắt những tàu lá dừa xuống run rẩy trên nền đất ẩm ướt vì vừa qua một cơn mưa đêm. Cảnh còn buồn hơn cả người.
Khách hàng thân nhất của ba là cô Mai. Cô có một phòng trà nhỏ nằm ven sông, ngày nào cũng thuê ba hai cữ đưa đi đón về. Ly quý cô Mai vì cô cười rất hiền. Cô mở phòng trà nhưng ăn mặc giản dị, thoa một chút son màu hồng nhạt, cuộn tròn tóc gọn gàng sau gáy. Khi đứng gần cô thoang thoảng mùi dễ chịu chứ không sực nức phấn son như mẹ Ly. Cô Mai lấy chồng hai năm thì góa chồng, chẳng gần gũi người đàn ông nào trong xóm ngoài ba.
- Ba, ba thấy cô Mai đẹp không?
- Ừa, đẹp. Mà đàn bà đẹp chỉ tội làm khổ đàn ông.
Ba triết lý một câu nghe... trớt quớt. Ly cụt hứng không nói gì nữa. Lại nghe tiếng thở dài thườn thượt của ba. Ly định kể cho ba nghe chuyện có một cậu bạn cùng lớp viết thư gửi Ly, mời đi ăn kem, nhưng thôi. Những câu chuyện không đầu không đuôi của Ly chẳng thể làm nhạt đi nỗi buồn trong ba. Có khi Ly nghĩ ích kỷ rằng, chắc ba còn thương mẹ, ba chẳng nghĩ tới ai ngoài mẹ, Ly muốn giữ cho mình người ba như thế. Nhưng nghĩ ngược lại, mẹ khinh ba, chê mùi nước mắm, mùi biển mặn bỏ đi mất hút, đâu thể xứng đáng với ba? Nó luôn mâu thuẫn bởi những suy nghĩ.
- Con nghĩ kỹ rồi, ba quên mẹ đi. Con biết sáu bảy năm nay, rất nhiều lần ba chạy xe ôm không phải vì đón khách mà vì muốn tìm thấy mẹ ở góc nào đó trong Sài Gòn này. Sài Gòn rộng lắm chứ có nhỏ như quê mình đâu ba. Mà chật chội như quê mình, ba còn không giữ được mẹ, huống gì...
Khi nói những điều ấy, mắt Ly cay xè, sống mũi nghèn nghẹn. Ba ngồi im như pho tượng, chỉ duy đôi mắt nhìn Ly khẽ nhíu lại, ươn ướt như hồ nước cạn cuối mùa khô.
- Con gái ba hai mươi hai rồi, đã thương ai chưa? - Ngày sinh nhật 22 tuổi, cũng là ngày Ly ra trường, xin được việc làm, bỗng dưng ba hỏi.
Ly ngúc ngoắc đầu. Ba nhìn dõi xa xăm: “Hồi xưa, mười tám tuổi mẹ con đã theo ba về nhà. Hai mươi tuổi đã có con gái bi bô tập nói”. Biết rằng để ba đuổi theo dòng hồi tưởng ấy, chắc sẽ tìm tới nỗi buồn nào đó, Ly đánh trống lảng: “Ba đàn con nghe nha ba, sinh nhật con mà”. Ba lặng im ngoảnh nhìn cây đàn bụi phủ mờ kê trên nóc tủ. Nhìn qua vẻ mặt háo hức của Ly, ba kéo cây đàn, phù phù thổi bụi, so lại dây và dạo những nốt nhạc nhẹ nhàng như gió lướt qua. Ly cất tiếng hát:
 “Trời còn làm mưa, mưa rơi mưa rơi, sợi tóc em buồn... ”
Khi điệu nhạc kết thúc, Ly thấy ba cười tươi. Bảy năm, từ hôm rời quê đến nay, Ly mới gặp lại nụ cười rạng rỡ ấy.
- Ba, con sẽ đi hát ở phòng trà của cô Mai, ba đệm đàn cho con nha?
Sau một khoảng không tưởng như cô đặc vì im lặng, ba bảo:
 “Nghề đó phù du lắm con. Con cứ làm cô giáo, đúng như nghề con học”.
“Con làm cô giáo, nhưng con sẽ tranh thủ những ngày cuối tuần đi hát phòng trà để được nghe ba đàn như xưa, để ba lại vui như xưa. Nha ba...”
Khuya hôm ấy, trong giấc ngủ chập chờn, Ly nhìn thấy ba ngồi bần thần rất lâu lật dở chiếc hộp Ly vẫn cất giữ những kỷ vật nho nhỏ của mình. Ba cầm tấm hình duy nhất Ly còn giữ lại được có đủ mặt ba, mẹ và Ly. Hình như khóe miệng ba khe khẽ cười rất hiền.
* * *
Khi tôi hỏi em, vì sao em hát hay, em đẹp mà em không nổi tiếng? Em đã kể lại câu chuyện dài ấy. Em bảo, em đi hát không cầu sự nổi tiếng, hát chỉ vì muốn được sẻ chia, được thấy nụ cười hàng ngày vẫn nở trên gương mặt khổ hạnh của ba em. Vì thế, em không muốn hát ở đâu khác ngoài phòng trà bé nhỏ ven sông này. Ai nói em ù lì, em chịu, chứ em không muốn dấn thân vào nghề ca sĩ. Như ba em nói, nghề đó phù du lắm. Với em, hát để đưa lại hạnh phúc cho ba, để sẻ chia với những người như anh, là đủ. Em nheo mắt trêu tôi.
Khó có thể đưa câu chuyện này vào một bài phỏng vấn cho số báo tiếp theo. Nhưng tôi không tiếc thời gian những buổi tối ngồi đợi em để sau những bài hát, được nghe nốt câu chuyện. Phải nhiều tối cuối tuần, câu chuyện mới kể hết, chỉ để giải đáp cho một câu hỏi. Câu hỏi đã có câu trả lời nhưng tiếng hát điệu đàn vẫn ngân vang. Trong tôi, những day dứt, những trở trăn, hờn dỗi trong giọng hát người con gái ấy và tiếng đàn của người cha dường như là tri kỷ, không thể không đi song song với nhau. Nhiều khách quen như tôi đến quán này cũng chỉ vì hai cha con em gái tóc chấm vai ấy.
Sau những buổi tối khách đã vãn, khi cô gái tranh thủ đọc sách, tôi vẫn thấy người đàn ông chơi đàn cùng bà chủ phòng trà xếp đàn lại, dọn dẹp bàn ghế, thu xếp bộ ấm chén, ly tách. Họ trò chuyện ít nhưng ấm cúng. Thi thoảng bà chủ quán lấy tay che miệng cười khi nghe điều gì đó thú vị, vẻ mặt bẽn lẽn như tuổi đôi mươi. Người đàn ông chơi đàn đưa mắt nhìn chị rất đỗi dịu dàng. Tôi thấy một niềm vui nho nhỏ vừa nhóm lên.
Có một điều mà tôi vốn được xếp vào hàng giàu trí tưởng tượng vẫn thấy bất ngờ, khi biết em là con riêng của mẹ. Ngày mẹ em ra đi, lá thư bà để lại có ghi rằng:
“Con Ly không phải con ông. Nó lớn lên chắc cũng chẳng chịu nổi mùi nước mắm khẳm thối. Ông hãy đưa nó vào trại mồ côi Hoa Hướng Dương bảo bố mẹ nó bỏ nó, nhờ xã hội nuôi dùm. Sau này nếu có điều kiện tôi sẽ quay lại nơi ấy tìm nó”.
 Sau này mẹ em có quay lại tìm thật. Cũng vì bà quay lại em mói biết sự thật này. Bà quyết định kể câu chuyện để kéo em về phía máu mủ ruột rà nhưng em nói:
 “Mẹ sai rồi, con luôn yêu mùi nước mắm, mùi mồ hôi của ba. Mẹ có thể bỏ ba đi nhưng con thì không bao giờ”.
Tối nay, khi đến nghe em hát, tôi đã chọn cho mình một nụ hồng. Nụ hồng đầu tiên mà tôi gửi một người con gái...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Chỉ hai lần khóc
 
Cậu, mình không thể yêu cậu!”. Khi Thùy nói điều ấy với Nam không hề do dự, Nam tưởng như trái tim lần đầu biết rung động của hắn bị ai đó nắm nghẹt lại. Nam không muốn hỏi: “Vì sao?” hay bất cứ câu gì tương tự. Hắn buồn rũ rượi đưa mắt nhìn xuống một bên chân tật nguyền của mình. Hắn thấy tội nghiệp nụ hồng lần đầu tiên hắn tặng một người với niềm hy vọng hão quá thể.
“Cậu nghĩ sao vậy? Làm sao tớ có thể yêu một người khiếm khuyết? Tớ cần một chỗ dựa. Chỗ dựa ấy thậm chí chả chắc chắn bằng cái thân tớ thì tớ nương vào làm gì?”. Như chưa đủ để Nam thất vọng, Thùy tàn nhẫn dội thêm những gáo nước buốt lạnh. Tháng ba, sinh nhật tuổi mười bảy năm ấy, lần đầu tiên trái tim Nam biết đập lỗi nhịp, bỗng lạnh như chưa bao giờ lạnh hơn. Nam lặng im, khó nhọc, xiêu vẹo kéo những bước chân trên vạt cỏ mềm mới nhú.
Nam tránh mặt Thùy, tránh cả những con đường có thể chạm mặt nhau. Dù Nam biết rõ, nếu gặp, Thùy vẫn sẽ cười toe toét khoe hàm răng khấp khểnh ngỗ ngược như không có chuyện gì xảy ra. Chơi với Thùy từ thời bé tí, ngày Nam còn cả đôi chân nguyên vẹn, cùng chạy nhảy, chơi lò cò, có khi Nam nghĩ, Nam hiểu Thùy cũng như hiểu chính mình vậy. Cơn sốt năm sáu tuổi cướp hết sức lực của một bên chân. Mẹ Nam khóc, mẹ Thùy khóc, Thùy và Nam không khóc. Thùy bảo, có gì đâu, mai mốt Nam muốn đi đâu, Thùy cõng theo Nam. Lúc nào Thùy cũng ở cạnh bên, Nam không phải sợ.
Nói thế nhưng Thùy không phải cõng Nam lần nào. Mẹ Thùy tặng Nam chiếc xe lăn rất vừa vặn, Thùy thường đẩy Nam đi học cùng mỗi khi đến lớp. Thi thoảng Thùy mượn được chiếc xe đạp của mẹ lại chở Nam ra triền đê sông Lam chơi. Cũng độ tháng ba như thế này, gốc hoa gạo ven sông bắt đầu kết nụ đơm bông, những nụ hoa đầu tiên nở bung năm cánh rực lửa khoe sắc...
Cái gốc hoa gạo ven sông găm vào ký ức. Mỗi khi buồn Thùy, buồn chuyện gì mà không giải tỏa được, Nam vẫn âm thầm tìm ra đây, như hôm nay.
Dạo này Thùy không đi học cùng Nam. Mẹ Nam chừng đoán được, bảo:
 “Lớn rồi, cứ bám theo nhau ngại lắm!”.
Nam cười buồn buồn, tự đẩy xe đi một mình. Không có Thùy, đoạn đường dài xa ngái. Nam chợt chột dạ, hay là Thùy giận. Mà không, tính Thùy đâu phải thế, thích gì, ghét gì, yêu gì là Thùy thể hiện ngay.
* * *
Thùy bất ngờ tìm Nam, bảo:
“Tớ có bạn trai rồi nhá”.
 “Ai?” - Nam giật mình.
 “Anh ấy làm quen mình trên mạng, anh là thầy giáo tận Sài Gòn”.
Nam bồn chồn:
 “Này, cậu phải cẩn thận”.
“Cẩn thận gì mà cẩn thận. Cậu đừng đa nghi” - Thùy vặn vẹo.
Bỗng Thùy đổi giọng mềm mỏng:
 “Nam dạy cho tớ đàn bản “Mối tình đầu” đi!”.
 Tránh ánh mắt dò hỏi của Nam, Thùy trở nên bẽn lẽn, má ửng ửng hồng:
 “Tớ muốn lần đầu tiên gặp mặt, anh ấy sẽ ấn tượng về tớ. Chủ nhật này anh ghé về đây!”.
Nam xót xót trong lòng vẫn gượng cười:
 “Ừ được”.
 Trước đây, lũ con gái trong lớp vẫn hay theo Nam học đàn, riêng Thùy chẳng thèm quan tâm, bảo:
 “Nam đàn Thùy nghe được rồi, cần chi học”.
Giờ chẳng đơn giản như thế nữa.
Thùy dần thay đổi từ khi có bạn trai. Cho đến khi, Nam thấy lạ lạ là hình như không phải mình đang né Thùy nữa mà là Thùy đang né mình, lúc nào không rõ. Lớp mười hai, thời gian ôn thi tốt nghiệp, ôn thi đại học đuổi nhau đi, quay mòng chóng vánh. Hôm vừa đi học về, Nam gặp mẹ tất tả chạy sang ngõ nhà Thùy, hình như nhà bên ấy có chuyện.
Mẹ kể:
‘‘Thùy dại lắm, nó mang bầu mà giấu kín, đi đâu cũng thắt lưng buộc bụng. Tới tháng thứ bảy mà nó buộc chặt, giấu kỹ tới mức không ai hay.’’
 Tay “thầy giáo” mà Thùy yêu thực chất là một sinh viên ra trường mãi chưa xin được việc, nhận được vài mối dạy kèm. Khi gặp chuyện mới đánh bài ngửa với Thùy rằng:
“Thân anh đây còn chưa lo xong, lo gì nổi thân em và con cái”.
 Nó quất ngựa truy phong, không ai buồn đi tìm vì chẳng biết tìm được không hay chỉ thêm xấu hổ. Thùy đẻ con trong toilet nhà trường, phần vì tức mình, phần vì sợ lộ, bỏ con trong thùng rác. Chẳng ai biết đứa bé chết lúc nào...
Mẹ thở dài thườn thượt. Ngưng một lúc, mẹ kể:
‘‘Đứa bé sinh non tháng thứ bảy, chắc chẳng có duyên nợ với đời. Con Thùy vẫn đáng thương hơn đáng trách, người ta đi đẻ có mẹ có con, có bác sĩ hộ lý đỡ giùm. Nó một thân một mình vượt cạn, nông nổi, tội nghiệp, còn may mà mạng lớn nên vẫn sống. Tội nghiệp mẹ nó, xỉu lên xỉu xuống khi bất ngờ nghe chuyện. Ai mà ngờ nó mang bầu, mấy hôm gặp, nói chuyện, mẹ nó còn bảo con Thùy dạo này ăn nhiều, ngủ nhiều, mập, xấu quá! Khổ thế, công an mà không về tận nhà điều tra thì mẹ nó vẫn không biết.’’
Nam nghe khó tin như chuyện của ai khác. Khi Nam qua nhà, gặp một Thùy khác hẳn. Mái tóc nhuộm màu hạt dẻ xơ xác như những sợi râu ngô khô cuối chiều. Mắt Thùy căng mọng. Thùy bảo lúc này đừng hỏi gì, đừng nói gì, Thùy chỉ lo mẹ chết thì Thùy cũng không thể nào sống nổi. Mẹ Thùy đau tim lâu năm, bây giờ chẳng biết ra sao bên phòng cấp cứu.
Nam hiểu đối với Thùy, mẹ quan trọng đến mức nào. Dạo bé, có lần Nam và Thùy đi chơi về, vừa vào đến nhà thì gặp cảnh bố Thùy đang nhấc cao đầu mẹ, kề con dao sát cổ cứa như người ta cắt tiết gà. Cũng may con dao cùn, máu rịn đỏ, mẹ Thùy sợ tới độ chỉ lắp bắp, nước mắt rịn dài từng dòng. Thùy gào khóc kêu cứu. Cha Thùy vào tù, để lại gánh nặng thêm cho một mẹ một con và vết thương to như vết sần trên những gốc cây cổ thụ trên cổ mẹ Thùy. Ngày công an bắt cha đi, Thùy lạnh lùng bảo: ‘‘Thế còn hơn.’’
 Mỗi mùa giá rét, vết thương trên cổ mẹ Thùy bầm tím, đau nhức, Thùy lại nghĩ tới cha ai oán.
Thùy bỗng thở hắt:
 “Theo cậu, mẹ tớ có chết không?”. Nam quát:
 “Nói bậy gì thế?”.
“Thật đấy, tối qua lúc tớ mê man đi còn nghe mẹ tớ bảo sống nhục thế này thì chết đi còn hơn. Người chết đi còn hơn phải là tớ chứ?”. Giọng Thùy ướt sũng. Nam chẳng biết chia sẻ gì, đưa tay vuốt mái tóc bơ phờ của Thùy:
“Cậu dựa vào vai tớ mà khóc, nhé!”.
Đó là lần đầu tiên Nam thấy Thùy khóc. Ngày bé, bao lần ngã đau Nam muốn khóc nhưng nhìn qua mắt Thùy vẫn ráo hoảnh, nên thôi.
* * *
Nam vào học đại học, Thùy bảo mai mốt Thùy sẽ lên tìm “thằng chả” trả thù. Nói xong Thùy cười lớn, chẳng biết đùa hay thật. Nam lên gần một năm thì Thùy lên. Lúc này Nam lo sợ thật, nghĩ biết đâu Thùy làm liều. Sau lần Thùy mang bầu, sinh con không ai biết, Nam chẳng còn dám tin rằng mình hiểu Thùy nữa. Nam giữ Thùy ở lại phòng trọ người bạn hàng xóm, dặn dò bạn canh cẩn mật. Được một buổi thì Thùy biết ý, cáu:
“Tớ không điên đâu, tớ lên đây để đi hát, kiếm tiền, tớ muốn làm ca sĩ”.
Thùy đi thử giọng xin hát ở phòng trà, chấp nhận giá cát - xê bèo bọt nhất, hát vào giờ khuya khoắt nhất, khi khách khứa đã ra về cả. Những ngày đầu, Nam đi theo, chờ đưa đón. Thi thoảng, lúc không bận bịu bài vở, Nam mang theo đàn đệm đàn cho Thùy. Tiếng ghi ta như lời thầm thì hoà theo giọng khàn trầm buồn của Thùy:
 “Em xin tuổi nào, còn tuổi nào cho em, mùa thu trong mắt em cay...”.
Nam phiêu diêu nhìn gương mặt trang điểm nhẹ của Thùy. Gương mặt đã có nét đàn bà từng trải nhưng vẫn đẹp như thiên thần, khóe mắt hình như ướt ướt. Nam chợt xốn xang nghe như trong bập bùng tiếng guitar là hình ảnh bập bùng hoa gạo vừa nhóm lửa thương yêu trên những cành khô ven sông quê.
Chỉ hát ba hôm, Thùy có khách là một anh chàng ngoại quốc chạy theo xin name - card. Thùy bẽn lẽn:
 “Tớ có làm gì đâu mà có name card, cậu bảo anh ấy có thích thì qua đây nghe tớ hát, thế là đủ chia sẻ nhau rồi”.
Nam ngạc nhiên, Thùy trở nên già dặn sau cú ngã ấy quá thể. Mỗi buổi Thùy hát, anh chàng ngoại quốc nán lại đến cuối giờ để tặng những bông hoa hồng. Thùy vẫn nhờ Nam luôn đứng bên cạnh để làm phiên dịch vì vốn liếng tiếng Anh của Thùy chẳng được mấy chữ ngoài xin chào, tạm biệt... Thùy háo hức nhờ Nam dạy thêm tiếng Anh, Thùy líu lo ca hát trong căn phòng trọ nhỉnh hơn mười mét vuông như chú chim sơn ca trong chiếc lồng cũ kĩ, chật chội, Thùy nâng niu những nụ hồng được tặng từ một khán giả quen thuộc. Nhìn những nụ hồng Thùy hôn hít sau mỗi buổi đi hát, Nam chợt chạnh lòng nhớ tới nụ hồng mười bảy ngày nào của mình.
Thùy quyết định xếp quần áo vào balô, chào Nam, qua chỗ ở mới. “Cậu đi đâu?”. Nam giật mình nghĩ Thùy có quen ai trong Sài Gòn ngoài mình và thằng cha đã làm Thùy phải bước qua một ngã rẽ khác? Thùy như đoán được, nheo nheo mắt:
“Bí mật. Tớ sẽ nói với cậu sau. Cậu yên tâm, tớ quên thằng giáo viên Sở Khanh kia rồi”.
Nam không chở Thùy đi hát từ đó, không đệm đàn cho Thùy hát từ đó. Cũng từ đó, trong số tiền chi tiêu tiết kiệm của túi tiền sinh viên, Nam bỏ ra phần lớn vào phòng trà ngồi nghe Thùy hát. Nam luôn là người khách cuối cùng ra về, ngồi trong góc khuất thiếu sáng của phòng trà, nhìn Thùy leo lên xe SH của anh chàng ngoại quốc, vù đi êm như ru. Nam chạnh lòng thương Thùy. Vốn tiếng Anh của Thùy thậm chí vẫn chẳng thể nói quá ba câu ngoài xin chào, xin lỗi, tạm biệt và dăm ba từ Nam vừa dạy. Phòng trà ca nhạc chẳng rộng nhưng hình như chưa bao giờ Thùy nhận ra Nam, dù Nam luôn đưa mắt nhìn theo chờ đợi.
Có đêm mưa, khách tan đã lâu Thùy vẫn một mình bé nhỏ mong manh bên khóm trúc. Thùy gọi điện năm phút một lần, nhìn đồng hồ liên tục, thở dài liên tục. Nam xót xa khập khiễng lại gần:
 “Cậu ở đâu, tớ đưa về?”.
Thùy mím môi, điệu bộ duy nhất Thùy vẫn giữ như hồi còn là một cô bé:
 “Thôi, mình chờ Jimmy. Cậu về trước đi, anh ấy hay ghen lắm”.
 Đọc được thoáng lo âu trong mắt Nam, Thùy cười tươi rói khoe:
“Tớ ở Phú Mỹ Hưng, nhà cao cửa rộng, cậu khỏi lo”.
Nam đứng lừng khừng chưa quá một phút thì Thùy lại đẩy:
 “Đi, đi, cậu đừng đứng đây, anh ấy hay ghen lắm”.
Nam trống rỗng ngồi xa xa. Chờ tới khi anh chàng ngoại quốc tới đón Thùy, Nam mới yên tâm ra bãi xe trở về. Thật lạ, chờ hơn một tiếng đồng hồ, Thùy vẫn chẳng nhận được nửa lời giải thích, xin lỗi. Cũng có khi như thế lại hợp lý vì những lời giải thích của chàng ngoại quốc sẽ thành thừa thãi với một người bất đồng ngôn ngữ như Thùy.
* * *
Người ta nói ăn ở với nhau cố cho được ba bảy hăm mốt ngày, nhưng ngày thứ hai mươi thì Thùy lầm lũi quay lại tìm Nam nơi xóm trọ với một bên má bầm tím. Nam nghiến răng, tay nắm chặt nắm đấm, nghĩ có thể tung mạnh một quả vào mặt kẻ làm Thùy ra nông nỗi thế. Thùy nắm tay Nam, gỡ nhẹ từng ngón buông lỏng ra, bảo:
 “Ích gì Nam, tại mình dại trai mà ra thế. Hắn đón con khác về, đuổi mình đi mà mình không đi, mới bị hắn vứt cả người lẫn túi ra khỏi cửa...”.
 Thùy nói với thái độ thản nhiên, mắt ráo hoảnh. Nam hình dung ra cảnh Thùy bé nhỏ bị thằng Jimmy to con vứt ra đường mà xa xót, con người chứ có phải con chó, con mèo hay nắm giẻ rách đâu.
Buổi tối, Thùy đau không đi hát, ngồi thu lu nơi góc nhà nhắn tin. Một lúc, Thùy đưa máy điện thoại, bảo: “Cậu dịch cho tớ cái”. Nam nhìn qua, thằng cha Jimmy thanh minh đó là một người bạn đồng nghiệp của hắn đến chơi và đã đi. Hắn đang ở nhà chờ Thùy về nấu cơm. Ăn xong sẽ cùng nhau vui vẻ... Nam chưng hửng, chẳng rõ hắn coi Thùy là gì. Dịch cho Thùy xong, Nam còn chưng hửng hơn khi thấy Thùy cười khì hồn nhiên xếp đồ quay lại. Thùy sung sướng:
 “Tớ biết mà, anh ấy chỉ yêu tớ, anh ấy gọi tớ là ho - nì (honey) cơ mà”.
- Cậu quay lại, cậu không nghĩ tới cảm giác bị vứt ra đường như thế nào à? - Nam bực dọc, lỡ lời.
Thùy đứng sững. Chừng vài giây, Thùy mím môi: “Cả cậu cũng không hiểu tớ?!”. Nam thấy day dứt khi bị trách ngược. Muốn nói gì đó để giữ Thùy lại nhưng biết không thể giữ con ngựa bất kham trong Thùy. Trước khi bước qua cửa, Thùy nắm tay Nam lắc lắc:
 “Cậu yên tâm, con bé Thùy khờ khạo cả tin ngày xưa chết rồi. Bây giờ, tớ không lừa người thì thôi, ai lừa nổi tớ. Mà tớ có còn gì nữa đâu để lừa lọc hả cậu?”.
 Với tính cách Thùy, dù có lừa người hay bị người lừa thì Nam tin vẫn chẳng bớt đau khổ là mấy.
Nam vẫn giữ thói quen đến phòng trà ca nhạc nghe Thùy hát. Có hôm Thùy không hát, Nam cuống quýt như bị nước sôi lửa bỏng gọi điện thoại. Bên dây đằng kia Thùy vô tư cười nói: “Cậu quên à? Hôm nay sinh nhật mình mà! Mình ở nhà với Jimmy”. Sinh nhật Thùy thì Nam nhớ chứ quên sao được, nhưng chẳng hiểu sao khi không thấy Thùy đi hát Nam vẫn cuống quýt đến vậy.
Câu trả lời tỉnh rụi của Thùy khiến Nam thấy bề bộn trong lòng.
Nam bắt đầu một buổi sáng cuối tuần bằng việc mở đài FM nghe ca nhạc. Đang nghe Cry on my shoulder của Super Stars thì Thùy lại xách ba lô nặng trĩu đến, vẻ mặt Thùy còn sầu thảm, nặng trĩu hơn lần trước. Thùy bối rối bảo: “Đồng nghiệp” hắn lại đến. Nhưng lần này khác, tớ biết chắc đó chẳng phải đồng nghiệp. Tớ chẳng bao giờ quay về đó, bất cứ lý do gì”. Lần này, Nam chẳng muốn hỏi gì thêm khi lòng quặn thắt thấy mắt Thùy sũng nước.
Thùy đánh trống lảng:
 “Tối qua, tớ mơ thấy cây gạo ngoài bến sông trổ hoa đỏ rực cậu ạ. Nếu đang ở nhà, tớ sẽ ra đứng dưới gốc cây gạo. Dựa lưng vào thân cây mà lầm bầm chửi rủa thằng Jimmy cho chán chê rồi mới quay về”.
Thùy cười gượng gạo.
If you want cry, cry on my shoulder”... Bỗng dưng, Thùy bật khóc. Có lẽ vì bài hát buồn, quá buồn... Lần thứ hai Nam thấy Thùy khóc.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Những gam màu ảo vọng.
 
Đám sinh viên tỏ vẻ ngạc nhiên khi vị giáo sư dẫn người mẫu mới tới. Không phải là người đàn bà ngoài 50 gầy nhô hốc xương cổ, không phải cụ già đen sạm, ngực lép tuổi thất thập, mẫu lần này là một cô gái tầm ngoài hai mươi, da trắng, mắt tròn, buồn rười rượi. Những người mẫu nuy ngồi cho đám sinh viên vẽ chẳng cần nhan sắc, dáng chuẩn. Chỉ cần chịu khó ngồi im suốt buổi. Lũ sinh viên nhao nhác một lúc, có ai đó nói:
 “Đẹp thế, vào đây làm gì không biết”.
Bỏ qua những tiếng xì xào, Huệ trút bỏ bộ quần áo. Khựng lại chừng ba phút sau bức rèm, cô thấy sự ngại ngần không biết từ đâu ùa lại. Định mặc áo quần trở lại nhưng khi nghe những âm thanh bên ngoài đã tắt hẳn, nhường sự im lặng tuyệt đối, cô bắt đầu lấy lại tinh thần. Huệ đẩy tấm rèm ra, khoác vội mảnh khăn voan đã cũ, bước nhanh như chạy lại ghế ngồi. Khi nàng buông tay cho chiếc khăn rơi xuống đấy, sự im lặng đến nghẹn thở, nghe rõ cả tiếng những nét vẽ chạy soàn soạt trên giấy. Một tiếng ngồi im làm mẫu, hai mươi ngàn. Mẫu nuy nhưng không ai trêu chọc, không ai có hành vi nào khiếm nhã, không ai nghĩ ngợ! gì vì ở đây chỉ có những bài học vẽ, sẽ không ai biết gì về cô dẫu chỉ là cái tên. Cô còn được học vẽ miễn phí... Khi vị giáo sư hài hước đảm bảo những điều ấy, Huệ gật đầu. Vượt qua cả những trở ngại phải khoả thân trước đông người. Huệ tự đẩy những suy nghĩ của mình về những chuyện đã qua để giết thời gian đang trôi thật chậm, thật nặng.
Những chuyện đã qua thực ra chẳng vui vẻ gì. Nhưng nghĩ xa hay nghĩ gần cũng chẳng thể có chuyện vui vẻ. Ba mẹ Huệ bỏ quê đi làm ăn xa, nhiều năm không về. Bà nội coi mấy chị em như một gánh nợ. Huệ vừa bước qua tuổi 18, bà đã gả tống gả tháo cho một người quen sơ sơ trên thành phố chỉ cốt bớt một miệng ăn. Nhà chồng Huệ giàu có. Chồng là giảng viên một trường đại học lớn trong thành phố. Bà nội hỉ hả tuyên bố khắp làng:
“Nhờ tao ăn ở có đức mà con bé đổi đời”.
 Thực chất, Huệ chỉ đổi từ cái khổ này qua cái khổ khác. Vào nhà giàu keo kiệt còn cực hơn trâu. Bố chồng bị tai biến, nằm một nơi. Em chồng mười tám tuổi, nằm ru rú trong nhà vì một căn bệnh kỳ quái, da tróc lở từng vạt, rỉ những mụn nước tanh tưởi. Mẹ chồng có con dâu mừng hơn vớ được vàng. Bà trút hết việc nhà, khoán luôn việc chăm chồng chăm con qua Huệ. Mẹ nhanh chóng hồi xuân, đăng ký tuần ba buổi nhảy đầm, ba buổi nhảy Aérobic. Bà thường dằn mặt Huệ bằng câu nói:
“Ở đời không ai nuôi không ai”.
 Có lúc ngập chìm trong công việc, Huệ cãi:
 “Con về đây làm vợ, làm con dâu, có phải làm ô sin đâu” thì ngay lập tức, cú giáng từ tay chồng cô đáp thẳng xuống mặt. Cú giáng ấy, theo chồng Huệ là: “Để dạy cho mày biết làm dâu hiền vợ thảo trong một gia đình lễ giáo”.
Trong nhà kho có rất nhiều tranh sơn dầu. Bố chồng cô vốn là một họa sĩ nổi tiếng. Một đời ông gắn với những gam màu, những toan vẽ, để rồi gục ngã bên giá vẽ khi phát hiện ra vợ có tới ba ông bồ. Gần 5 năm trước, thằng con quý tử - chồng Huệ trong một lần không xin được tiền mẹ đã nói ra sự thực khó tin ấy cho ông bố nghe. Anh còn làm chứng bằng cách chở bố tới tận nhà nghỉ Lam Hồng chỉ cách nhà vài con hẻm, nơi mẹ đã là khách quen nhiều năm nay. Ông cụ sau khi biết sự thực, trở về bên giá vẽ, vẽ như khổ sai cả ngày lẫn đêm và khuỵ ngã khi chưa qua nửa đời người. Những bức vẽ 5, 7 năm nay xếp xó, bụi phủ mờ. Huệ dọn dẹp nhà kho, nghe mùi ẩm mốc lẩn quẩn quanh những sắc màu. Những bức tranh, có bức còn dang dở như những gương mặt rệu rã u phiền, nằm úp vào nhau. Chồng đi dạy về, dắt xe ngang qua nhà kho, liếc xéo mắt, không quên vứt lại câu dè bỉu:
 “Đó không phải chỗ để cô nhìn ngắm. Cô thì biết cái gì? Lau dọn xong thì đi ra”.
* * *
Ông giáo sư đưa Huệ về làm mẫu nuy ở đây vốn là bạn thân của bố chồng cô. Thi thoảng ông vẫn ghé nhà, ngồi bên cạnh người bạn đang sống đời thực vật hàng giờ. Có khi ông kể chuyện này tới chuyện kia, tự cười một mình thích thú. Có khi ông đặt trước mắt bố Huệ bức tranh còn chưa khô, mùi sơn dầu hăng hăng rồi lặng im nhìn như thể cả hai đang cùng thưởng thức. Họa hoàn lắm bố chồng Huệ có nhếch môi nửa như cười, nửa như mếu. Cô gặp ông lần đầu trong đám cưới. Lần thứ hai đúng lúc Huệ vừa hứng trọn ba cái tát của chồng vì tội đi chợ lâu về, để cô em gái kêu đói bụng. Hai lần là hai bộ dạng hoàn toàn khác hẳn khiến ông giáo sư sững sờ mất vài giây mới nhận ra Huệ. Khi ngồi trò truyện với người bạn đang sống đời thực vật của mình, ông vẫn nhìn theo Huệ vật vờ như cái bóng. Lúc là đi đổ bô cho bố chồng, lau người cho bố chồng, bón từng miếng cháo loãng cho em chồng... Huệ làm tất cả công việc ấy không một chút biểu cảm.
- Cô có bàn tay đẹp quá, bàn tay này học piano hoặc học vẽ rất phù hợp - Ông giáo sư nhận xét. Huệ nhìn sang bố chồng, thấy hình như đầu ông có gục gặc nhẹ.
Thực tình lúc này Huệ chỉ muốn làm gì đó để có tiền, để có thể tự nuôi sống mình, bứt mình ra khỏi cái nhà này. Bất cứ nghề gì, dù là cầm cuốc cầm cày cũng được, chẳng mơ chi đến cầm đàn, cầm cọ vẽ.
Chưa kịp làm gì thì trận đòn mới lại giáng xuống Huệ chỉ vì cô mải ngồi trong kho xem tranh, quên giờ đón con. Khi cánh cửa nhà kho ken két mở ra, chồng cô rít lên từ sau lưng, Huệ mới giật mình nhận ra trời đã tối. Những cú tát tai nảy lửa khiến Huệ ngã xô vào những bức tranh. Những sắc màu cuồng điên nhảy múa.
 “Cô phải biết mình là ai chứ? Cái thứ dốt nát như cô, học còn chưa hết cấp hai, xem tranh làm gì? Đến con còn không biết đi đón, bày đặt xem tranh?” - giọng chồng cô dài ra.
Huệ khóc rấm rứt:
 -Tôi biết mình dốt nát, không xứng với anh. Xin anh cho tôi đưa con quay về quê”
- Cô nghĩ sao? Cô biết mình dốt nát mà dám đòi đưa con đi? Cô không có đồng xu cắc bạc nào, không có nghề ngỗng gì mà nghĩ chuyện đưa con đi? Cô tỉnh lại dùm, đừng mơ mộng nữa.
- Nhưng nó cũng là con tôi rứt ruột đẻ ra.
- Thật lắm trò, nói mãi mà cô không hiểu ư? Tương lai của nó rồi sẽ thế nào khi đi theo người mẹ dốt nát và vô tâm như cô. Kể cũng đáng mừng, con gà, con chó nó cũng đẻ con mà nó có biết đời con đâu, ít ra cô còn biết đời.
Chồng cô buông tiếng cười gằn sau những lời cay nghiệt. Huệ cảm thấy lòng đau quặn. Hoàn cảnh của Huệ, ít học đâu phải là một cái tội. Nhưng khi anh ta nói những lời ấy kể cũng có lý do. Anh có yêu Huệ đâu, có hiểu gì Huệ đâu, người như anh chắc mong đợi người vợ có học thức, có nhan sắc, có thể sẻ san không chỉ là những việc nhà mà còn sẻ chia nhiều điều quan tâm khác trong cuộc sống... Những thứ ấy Huệ không có cơ hội sẻ chia với anh.
Công việc người mẫu nuy đến với Huệ tình cờ như vậy. Ngày, cô theo ông giáo sư lên trường ngồi làm mẫu nuy. Tối, ông giáo sư nhường cho Huệ một căn phòng nhỏ trong nhà. Ông tranh thủ tuần vài buổi chỉ Huệ những bài họa căn bản.
* * *
Bây giờ, những buổi ngồi mẫu nuy không quá khó khăn lắm với Huệ. Cô thản nhiên cởi đồ, ngồi xuống trên chiếc bục gỗ, xõa tóc ra sau lưng chỉ mất vài giây. Cô không còn cảm giác nhột nhạt trên khuôn ngực trần và cảm giác dợn dợn chỗ kín khi ngồi trước hàng chục con người. Thi thoảng có cậu sinh viên nháy mắt tinh nghịch trêu chọc, Huệ khẽ nhếch miệng đáp lại, tựa như nói: “Lo học đi nhóc!”. Ông giáo sư bảo muốn quay lại đề tài nuy. Thuở hai mươi, ba mươi ông từng say mê đề tài này. Giờ gần sáu mươi, cuối chiều rồi càng say mê hơn nhiều bậc. Huệ cảm thấy mình dường như mắc nợ nếu không giúp ông thực hiện. Tự nhủ, mình có mất gì đâu. Khi ông giáo sư bảo Huệ nghiêng người bên bức rèm xanh, cảm giác chợn rợn chạy dọc sống lưng. Làm mẫu nuy trước một người khác hẳn trước nhiều người.
Sau những bức vẽ, ông giáo sư và Huệ thân nhau hơn. Ông bảo, bất ngờ khi một cô gái trình độ chưa hết lớp 9 lại có khả năng hội họa phát triển nhanh như Huệ. Ông giục Huệ học song song một lớp bổ túc văn hóa cùng việc học họa ở nhà. Quay lại với những bài toán, bài văn, những nét vẽ có khi làm Huệ ngại, nhưng nhớ tới những lời cay nghiệt, khinh miệt của chồng cũ, cô lại mím chặt môi buộc mình vào quyết tâm.
Điều lạ nhất từ trước tới giờ Huệ biết, có lẽ là công việc chính của ông giáo sư này. Kiêm luôn việc làm thư ký cho ông nên ông không giấu Huệ điều gì. Ông mở lớp học vẽ ở nhà, học trò ông là những quý ông quý bà thành đạt có đam mê hội họa. Đam mê đến đâu không rõ nhưng dám chi cả trăm triệu đồng chỉ để học những bài vẽ đơn giản. Sau những bài vẽ đơn giản khoảng ba, bốn tháng đến nửa năm, ông giáo sư sẽ vẽ chừng hai chục bức tranh sơn dầu đủ kính thưa các thể loại, đề tài. Những bức tranh ấy ông thường không ký phía dưới như thông lệ mà để chính những quý ông, quý bà lắm của ký tên vào. Sau khi triển lãm thành công tốt đẹp (mà triển lãm nào Huệ cũng nghe nói thành công tốt đẹp), khoảng trăm triệu nữa sẽ lọt vào túi ông giáo sư. Tổng cộng 200 triệu cho việc đào tạo ra mỗi học trò từ lò vẽ của ông.
Học trò mới tới sáng nay là chị Hằng, chủ một tiệm kim hoàn nổi tiếng. Ông giáo sư bảo Huệ thôi không làm mẫu nuy trên trường nữa. Cực khổ vậy đủ rồi. Những gì muốn học cũng học đủ rồi. Ông yêu cầu Huệ bắt tay vào vẽ tranh thô, ông chỉ làm nhiệm vụ tút tát lại. Những bức vẽ hoa lá, phong cảnh, chim chóc đơn giản, ông khoán luôn cho Huệ vẽ. Tính ra, Huệ gánh bớt gánh nặng đáng kể cho ông giáo sư khi không ai trong số học trò thành đạt của ông nhận ra bức nào là cô thư ký của giáo sư hay giáo sư vẽ. Miễn rằng có tranh triển lãm và treo tường nhà, tường công ty với cái tên của họ đề trang trọng trên đó, vậy là đủ.
Ngày Huệ đến xem triển lãm tranh của chị chủ kim hoàn, tình cờ gặp chồng cũ. Khi Huệ đang đứng trước bức tranh xây tổ, vẽ chim bố đang gắp từng cọng rơm vàng về xây tổ, chim mẹ đang xòe đôi cánh ôm ấp chim con yên bình thì nghe anh hỏi:Cô... à... em làm gì ở đây?”. Huệ cười: “Anh thấy đấy, tôi đang xem tranh. Ở đây đâu ai cấm tôi được quyền xem tranh, phải không?”. Anh nói như phân bua: “Triển lãm tranh của bạn anh, anh qua xem. Tranh đẹp quá nhỉ?”. Huệ không đáp, thoạt nghĩ, anh chưa từng chia sẻ những điều tương tự thế với Huệ. Anh nhìn dò xét: “Anh... thực sự tiếc khi nghĩ lại mọi chuyện”. “Chỉ tiếc thôi ư?”, “Anh xin lỗi”, “Ích gì? Chuyện cũ quan trọng gì nữa đâu. Tôi quên hết rồi”.
Anh đính một bông hoa đỏ báo hiệu đã có người mua lên bức tranh “xây tổ”. “Bức tranh giản dị nhưng ấm cúng và nhiều hàm ý. Anh sẽ treo trong phòng khách nhà mình. Không ngờ cô bạn mình lại lãng mạn và tài năng đến vậy”. Huệ nghe nhoi nhói trong lòng. Phía dưới bức tranh là tên chị chủ kim hoàn, không phải tên Huệ, dù khi vẽ bức tranh ấy, quả thực Huệ đã nghĩ về bé Nghé và không thể phủ nhận rằng ít nhiều có nghĩ đến anh. Dù anh chẳng thể nào là chú chim cần mẫn kia.
* * *
Chuông cửa reo. Ông giáo sư ra hiệu để tự mình ra mở cửa. Từ nhiều tháng nay Huệ có cảm giác thân tình với ông như cha và con gái. Cô nhìn lại bức tranh lần cuối trước khi đóng nó vào khung để chuyển đến nhà cho chồng cũ. Bất ngờ, không phải người chuyển tranh thuê mà nghe tiếng anh chào ông giáo sư.
“Tôi muốn anh xem một số bức tranh, có thể anh cũng thích như “xây tổ”. Vị giáo sư già hóm hỉnh. Anh theo ông lên phòng tranh trên gác, đi ngang qua Huệ, khẽ gật đầu cười chào ngài ngại.
Khi anh và ông giáo sư quay lại, Huệ chuẩn bị bỏ bức tranh vào hộp giấy bảo quản. Anh đưa tay ngăn:
 “Em, em có thể ký tên em, phía dưới bức tranh này được không?. Anh biết, anh không có quyền xin lỗi em, nhưng bé Nghé, nó có quyền tự hào về mẹ nó”.
Huệ ngạc nhiên nhìn ông giáo sư. Ông gật đầu, cô xóa đi tên chị chủ tiệm kim hoàn, ký lại tên mình. Cuối cùng, cũng có một bức tranh được trả về tên người vẽ.
Dáng anh ra khỏi con hẻm. Huệ khép cửa đi vào, buông một tiếng thở dài khe khẽ. Vị giáo sư cười đôn hậu:
“Còn ta, chẳng có quyền đưa ra một lời khuyên nên tha thứ hay không tha thứ với con trong trường hợp này. Nhưng hãy làm, hãy sống như con từng cháy hết mình trước giá vẽ. Hãy nghe theo trái tim”...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Ka Đô mây trắng,nắng xanh
 
Cuối năm nay cô lấy chồng, xuất ngoại. Số sướng thế mà sao vẫn có chuyện gì đó phiền muộn là sao nhỉ?
- Chuyện phiền muộn chi vậy dì? Mà sao mấy lần coi bói, người ta nói con lấy chồng, có lấy đâu.
- Tui không biết, chỉ thấy bài hiện lên phiền muộn.
Bà thầy bói già mắt nhoen nhoét gỉ đưa tay xào bài điệu nghệ, vừa xỉa tiếp những con bài mới, vừa thủng thẳng phán tiếp: “Chắc cú đấy, cô không lấy chồng năm nay thì tui giải nghệ”. Thanh nghe nhịp tim mình đập mạnh thêm một chút. Phải chắc chắn lắm bà thầy mới nói vậy. Chứ như bà, bỏ nghề bói toán ra chân cụt tay què cũng chẳng biết xoay xở vào nghề gì ở cái tuổi xấp xỉ 60. Nghĩ vậy, Thanh cười ngạo mình dễ dãi tin người. Con gái ở phố huyện Ka-Đô này, lên được thành phố đã là đổi đời, may mắn lắm, mơ chi xa xôi chuyện xuất ngoại. Nhà Thanh có vài người họ hàng ở Úc thật nhưng từ sau vụ tranh giành đất đai với bố Thanh không xong đã không còn quay lại. Có quay lại đi nữa cũng có ai đưa Thanh qua Úc qua ác làm gì. Chắc bà cụ già rồi, không còn minh mẫn nên phán nhầm.
Chuyện xảy ra ngay sau đó không phải là phiền muộn mà nặng lòng hơn phiền muộn gấp mười lần. Nhà Thanh nằm lưng chừng con dốc dẫn lên núi. Nhìn xa xa chập chùng mây trắng và những hàng thông xanh cao vút. Những ánh nắng xuyên thẳng từ tán thông xuống dường như cũng lung linh xanh mát. Trước đây, khi chưa có tấm bảng Karaoke vẽ mấy cô gái õng ẹo cầm micro đứng hát - sản phẩm của bố cô, một họa sĩ tự phong phố núi - thì đó quả là một con đường đẹp mê hoặc. Mỗi lần đi học về, cong mông dắt xe lên con dốc mà Thanh thường mong con đường dài, dài hơn nữa. Chỉ để được đi trên con đường lá xanh và mây trắng. Tấm bảng to bằng cỡ sải tay của Thanh, đứng chình ình vô duyên bên đường. Nhưng nhờ có sự vô duyên của nó mà nhiều người để ý. Quán mới mở hơn một tháng mà luôn có người vào kẻ ra.
Quán mở được gần nửa năm thì bố cất nhắc cô tiếp viên tuổi ngoài hai mươi lên làm... con nuôi. Cô bé thua Thanh 5 tuổi. Nhà đã ba chị em gái, lại thêm cô em gái bất đắc dĩ khiến Thanh không chút hào hứng. Mẹ lườm nguýt nhưng không phản đối. Hình như chẳng kiếm cớ gì được để phản đối khi cô bé ấy là con của một người bạn thời tiểu học của bố. Hơn nữa, bố Thanh có một cách đối phó với những sự phản đối rất đơn giản: Ông tự tay làm một chiếc quan tài bằng gỗ, sơn son nổi bật. Bất cứ sự phản đối nào cũng được bố đáp lại bằng cách đặt quan tài ra trước mặt, hỏi:
 “Có muốn vào đây phản đối không?”.
Chiếc quan tài ấy đã lấy mất của bố bao mối quan hệ. Ngày ông bà mất, các anh, chị của bố từ nước ngoài về, đòi quyền thừa kế một phần mảnh đất vườn để có nơi còn quay về. Bố chẳng nói chẳng rằng, lôi chiếc quan tài từ nhà sau ra nhà trước, tay chỉ thẳng nắp quan tài đang mở toang hoác:
“Có ai muốn đòi đất thì vào đây ngồi nói chuyện. Ngày ông bà già bệnh liệt giường liệt chiếu, vợ chồng tôi lo hết, không ai giành phần. Giờ lại giành đất là sao?”.
Các bác sợ khiếp hồn, không ai dám quay lại. Ngày mẹ bỏ bố đi, vì không chịu nổi tính rượu chè, cục cằn của bố, ông tìm về được. Ông lại trỏ vào quan tài trong góc nhà, nói:
 ‘‘Lần đầu bà bỏ đi, tôi tìm về. Hoặc bà ở trong nhà, hoặc trong này. Lần sau nếu còn bỏ đi thì chỉ có duy nhất một lựa chọn: Ở trong này”.
Mặt mẹ xanh mét. Từ đó, không bao giờ Thanh thấy mẹ có sự phản đối.
Gần một năm thì không biết sao, “con nuôi” của bố bụng ngày càng to. Bố không nói gì, yêu cầu mẹ và Thanh phải chăm sóc tử tế cho mẹ con cô gái. Thanh thấy rõ sự uất ức của mẹ ngày càng tăng khi cái bầu ngày càng to. Cô gái thi thoảng nói bóng nói gió khoe: “Siêu âm 4 chiều, thằng cu có cái chim dài”. Rồi im bặt như vừa lỡ chạm vào phần tự ái của mẹ - người đàn bà một nách ba con vịt giời. Người làng đồn ầm lên là bố cũng có khả năng có con trai, cũng oai chứ không yếu. Bố vẫn lầm lì không nói. Năm ấy Thanh 25 tuổi.
Đứa bé vừa đẻ ra thì chết ngạt do nhau thai quấn hai vòng quanh cổ. Bác sĩ mới ra trường chưa có kinh nghiệm xử lý nên cứ hè nhau một, hai, ba lôi ra. Mẹ nó không biết bằng cách nào đó, ôm con nằm vào chiếc quan tài đỏ bố đóng. Sáng mai, khi mọi người phát hiện thì cả hai mẹ con đã lạnh ngắt. Cô gái đã tìm đến cái chết chỉ với một sợi dây thừng. Ngay sau cái chết của cô gái, công an kéo đến điều tra. Bất ngờ phát hiện ra thư tuyệt mệnh của cô gái gửi người tình. Cả làng vỡ lẽ hóa ra bố Thanh không lăng nhăng lít nhít, hóa ra lão ấy “đổ vỏ” chứ cái thằng mất dạy ăn ốc thì đã cao chạy xa bay đâu đó rồi. Mẹ nhìn bố ra chiều ngại ngùng vì đã từng không tin tưởng lòng tốt vô tư của chồng suốt gần một năm qua. Ngày bố mẹ cô gái vào đón xác con về quê, một chàng trai gần ba mươi tuổi xin đi theo đưa tiễn về tận quê. Ngồi trên xe, gã luôn miệng lảm nhảm “giá như, giá như”. Anh ta là khách quen của quán Karaoke ngày trước, cũng là bố của đứa trẻ - theo lời anh ta nói. Mẹ Thanh quyết định dẹp ngay tấm bảng Karaoke õng ẹo, giải tán đám nhân viên mắt xanh mỏ đỏ. Bán rẻ các thiết bị, đầu máy... rồi ngày đêm lên chùa tụng kinh gõ mõ. Bố vẫn thường hai tay ôm hai chai rượu lên trước cổng chùa gần nhà ngồi từ sáng đến tối. Lúc về không chai nào còn một giọt. Nhiều hôm nấu cơm tối xong, Thanh đợi bố mẹ từ chùa về mà cơm canh lạnh ngắt còn hơn cơm cúng.
Nhìn ra con đường trước nhà vẫn mây trắng nắng xanh, không còn tấm bảng, cũng không còn đẹp mà buồn hiu hắt. Thanh không còn cong mông đẩy xe mỗi buổi đi học về. Cô bắt đầu những tháng ngày đằng đẵng chờ phân công công việc. Thanh thấy ngại ngại mỗi khi nhìn ra con đường thông xanh vì cảm giác con đường sao xa ngái.
* * *
Bác Linh, anh trai bố từ Úc trở về, quên hết giận hờn về việc tranh chấp miếng đất. Chiếc quan tài màu sơn đỏ cũng đã không còn, những sự sợ hãi không còn. Bác về lần này xin bố mẹ cho bớt một đứa làm con nuôi, mai mốt cùng sang Úc. Bên ấy
hai vợ chồng già không con thấy cuộc sống nhạt vô cùng. Hai đứa em Thanh còn học cấp hai, cấp ba, dứt khoát không chịu đi. Thanh vừa ra trường, học xong cao đẳng còn khó xin việc. Đằng nào cũng là đi xin việc, chờ việc, qua đó có khi lại nhanh giàu giúp được bố mẹ. Mẹ ngưng gõ mõ, bà quyết định không lâu tới hai phút. Thanh cũng đã chán những cơn mơ thi thoảng lại hiện về chiếc quan tài gỗ, cô gái tóc dài và thằng nhóc vừa kịp quấn tã, chưa biết khóc. Gật đầu, Thanh chuẩn bị cho mình một chuyến đi xa. Mọi thủ tục giấy tờ rắc rối bác đã nhờ người lo, Thanh chỉ có mỗi việc là chờ đợi. Khi ngồi trên chiếc xe ngựa cũ xộc xệch, Thanh nhìn con đường dốc lên núi thêm một lần, lòng nao nao, tự hỏi mình đang làm đúng hay không. Cuối cùng, Thanh biện minh, số mình vậy, bà thầy bói già nói đúng một nửa.
Nơi bác ở như một làng người Việt thu nhỏ trên đất Úc. Thanh bất ngờ khi buổi chiều theo bác gái ra chợ, gặp cảnh toàn người Việt, ngồi chồm hổm bán từng mớ rau, con cá. Chẳng khác chợ ở quê là mấy. Có chăng, chợ nơi đây mua bán nhanh gọn, chợ chật chội hơn, đồ ăn không tươi ngon bằng mà thôi. Bác gái có một vườn rau trước nhà chuyên trồng các loại rau thơm cung cấp cho các hàng quán, khách hàng cũng chỉ toàn người Việt. Thấy Thanh tỏ vẻ ngạc nhiên, bác gái cười khùng khục, trọ trẹ giọng Nghệ:
 “Nói thật với mi, tau qua đây gần hai mươi năm, trừ khi mô ra sân bay còn gặp người nước ngoài, còn lại chỉ gặp người Việt. Hồi tê ở Sài Gòn, ra khu phố Tây còn gặp nhiều Tây hơn qua đây”.
Hàng xóm chỗ Thanh ở thuộc hàng khá giả nơi đây. “Anh Hòa, giàu nhứt xóm, một mình nuôi con, vợ bỏ. Mỗi tuần tau giúp việc cho nhà nớ có 4 buổi mà hấn trả 200 đô” - bác gái tóm tắt ngắn gọn. Thi thoảng đi đâu xa anh lại đưa bé Nhím qua gửi bác, thấy Thanh anh vẫn chào bằng giọng Hà Nội ấm mềm. Khi về, anh tất tả dọn nhà cửa, chăm từng thìa cơm cho con, lại quay ra nấu nướng. Mùi khét lẹt của trứng cháy, cá cháy thường xuyên bay qua chỗ Thanh. Dù sao cũng còn hơn bố Thanh, chưa từng biết đến việc nhà. Qua bác gái giới thiệu, Thanh trở thành gia sư dạy tiếng Việt cho cô con gái năm nay lên 5 mà mới chỉ bập bẹ được dăm ba câu. Cô bé tỏ ra thích trò chuyện, gần gũi với Thanh. Có hôm, đang học bài, cô bé thản nhiên nói:
 “Cô về ở với con đi, mẹ con đi lâu quá rồi không quay về nữa”.
Hòa lụi hụi kiểm tra lại ống nước gần đó nhìn lên, mắt buồn nẫu nuột khi gặp ánh mắt lúng túng của Thanh nhìn lại.
Thanh không hiểu nổi mình khi mỗi sáng cô lại muốn dậy thật sớm chỉ để ngồi nơi chiếc xích đu. Trước thềm nhà. Cuốn sách cô vẫn cầm trên tay chỉ là một cái cớ bởi một tuần cô chỉ đọc hết chừng 30 trang. Tâm trí Thanh để hết nơi nhà hàng xóm. Xuyên qua ô cửa, Thanh nhìn thấy Hòa đang cho bé Nhím ăn sáng. Con bé tíu tít nói gì đó, thi thoảng hai bố con cười híp mắt. Thanh thấy sự ấm cúng, vui vui len trong lòng mình. Hòa không mất nhiều thời gian để chinh phục Thanh. Người đàn ông trải qua một lần tình duyên gãy đổ có một sức hấp dẫn riêng. Huống chi, những nụ cười của cha con Hòa, những lo toan của Hòa, cả mùi đồ ăn thường xuyên khét lẹt khi anh quá lửa... tất cả dường như luôn khiến Thanh thấy xúc động trong lòng. Thanh biết mình yêu anh chẳng vì tài sản, chẳng vì anh đẹp, chẳng vì gì cụ thể. Chỉ vì thấy cần được gần gũi anh và bé Nhím. Sự cần ấy có khi trở thành khát khao. Nhưng Hòa không là người đon giản. Thanh luôn đọc được sự lo âu trong ánh mặt phiền muộn của anh nhìn mình.
 “Anh không tin mình có thể đưa lại hạnh phúc cho em khi chính anh cũng không biết mình có đủ dũng cảm để đi tiếp bước nữa không. Anh vẫn còn nghĩ về vợ cũ nhiều, dù cô ấy bỏ bố con anh đi. Như vậy sẽ thiệt thòi cho em, anh thương em...” - Hòa nói. Thanh thấy có gì đó bóp nghẹn nghẹn lồng ngực mình.
* * *
Khi yêu thường mù quáng. Hai chuyện tưởng chẳng có gì liên quan ấy thực ra lại cực kỳ liên quan. Khi Thanh nhận ra thì không còn biết mình sẽ quay đầu hay bước tiếp. Thanh hạnh phúc khi chọn cho mình người đàn ông đã có con riêng, cả khi người ấy thẳng thắn nói anh ta chưa quên được vợ cũ. Thanh hạnh phúc khi dọn về ở chung nhau đã hai, ba tháng anh vẫn chưa có đủ thời gian để tổ chức đám cưới. Thanh ngờ rằng có khi chính anh đã chán đám cưới. Anh nói, đằng nào cũng đã đăng ký kết hôn, đám cưới chỉ là hình thức. Cô chấp nhận cách giải thích ấy, dù khát khao một lần mặc váy cô dâu. Tất cả chỉ vì yêu.
Tối qua bé Nhím làm Thanh buồn đến mất ngủ. Trong lúc dọn dẹp phòng con bé, Thanh gặp chiếc áo hoa người lớn cũ kỹ. Chiếc áo có mùi hăng hăng, ngai ngái do mặc dở mà chưa giặt. Chẳng biết của ai mà con bé tha về để ngay bên gối nó. Khi Thanh định cho vào máy giặt thì con bé lao như một mũi tên bắn từ đâu đó ào ra. Nó giằng mạnh chiếc áo trên tay Thanh:
 “Áo của mẹ con, cô không có quyền chạm vào!”.
Nó vùi mặt vào chiếc áo, vai rung lên khóc tức tưởi. Chiếc áo ấy con bé giữ suốt hai năm nay từ ngày mẹ nó ra đi. Nó không cho ba nó hay Thanh giặt vì không muốn mất đi mùi - của - mẹ. Thi thoảng nhớ mẹ, con bé lại lén ba lôi ra để dưới gối hít hà, sáng mai lại gấp gọn gói kỹ trong bao để giữ mùi - của - mẹ.
Cuối cùng Hòa cũng thu xếp được một ngày vào cuối thu để làm đám cưới. Thanh đang xem lại lịch đặt vé máy bay để hai vợ chồng về quê ra mắt gia đình thì điện thoại đổ chuông. Đằng kia, sự im lặng kéo dài khi nghe tiếng Thanh. Thanh định đặt máy xuống thì giọng người đàn bà rành mạch:
 “Cô thực sự yêu Hòa à? Kể cả khi anh ấy vẫn thường quan hệ với vợ cũ? Chúng tôi vừa đi nghỉ mát ở biển về cuối tuần rồi. Chắc cô không tin vì chuẩn bị đám cưới phải không? Dễ thôi, chỉ cần hỏi anh Hòa là cô sẽ biết”.
 Cô lặng im, chưa biết nói sao thì người đàn bà tự xưng tên Thoa, nói tiếp:
 “Anh ấy vẫn thường xuyên hẹn hò, chúng tôi vẫn rất quyến luyến nhau. Tôi nghĩ cần nói điều này để cô có thể suy nghĩ lại”.
 “Nếu chị vẫn hẹn hò với anh ấy, vẫn yêu thương nhau, sao chị lại bỏ chồng bỏ con theo người đàn ông khác?”.
 “Ở đây đâu như cái xứ nhà quê như cô. Cô hỏi kỳ quá. Hơn nữa, cô bỏ tính nhà quê thích tọc mạch chuyện người khác đi, cô không có quyền hỏi tôi điều ấy”.
 Thanh thả phịch người xuống bộ bàn ghế đắt tiền. Lòng trống rỗng.
Thanh kể lại cho Hòa nghe cuộc đối thoại ngắn ngủi ấy. Thanh ước ao giá Hòa có thể chối quanh. Nhưng không, anh cười:
 “Đúng là em nhà quê thật, chuyện đó không quan trọng như em nghĩ”.
 “Vậy quan trọng là gì?”,
“Là anh vẫn lo toan công việc làm ăn, lo cho em và con một cuộc sống đủ đầy, không thua kém ai. Anh vẫn yêu con, yêu em. Hiện tại của anh là cuộc sống chúng ta. Cô ấy chỉ là quá khứ mà anh chưa thể dứt”.
 “Tình yêu có thể chia sẻ rành rẽ vậy sao anh?” - giọng Thanh như hụt hơi. Nhấp ngụm nước trà, anh nói tiếp,
‘‘Anh từng nói em sẽ thiệt thòi vì anh không thể quên được vợ cũ. Anh không thể dối Thanh, dối lòng mình khi điều đó là sự thực. Nhưng chỉ là gặp gỡ qua lại thôi, quay lại thì không bao giờ. Vì cô ấy từng bỏ bố con anh ra đi. Bây giờ cô ấy đang lục đục với chồng, anh là chồng cũ, không lẽ không chia sẻ. Em hãy cho anh thêm một thời gian nữa để có thể dứt khoát với vợ cũ.’’
Thanh sợ mình không đủ bản lĩnh để tiếp tục khi chính Hòa cũng không thoát ra khỏi mớ bòng bong mâu thuẫn giữa tình yêu và oán giận của mình.
Chuyến bay về Việt Nam Thanh đặt chỉ cho riêng mình. Cô nói với Hòa sẽ về trước giải quyết một số việc riêng tư, khi ổn sẽ báo Hòa về sau. Trở lại con đường dốc dẫn lên núi đầy mây trắng nắng xanh, lại thêm một lần, như ngày ra đi từ con đường này, Thanh tự hỏi không biết lựa chọn này liệu có chính xác? Nhịp chân ngựa gõ lốc cốc trên con đường bụi đỏ cao nguyên khiến Thanh thấy muộn phiền đã lặng lẽ ra đi nơi nào đó. Trước khi đi, Thanh có để lại bức thư nói với Hòa rằng:
 “Em nhà quê, em thuộc về Ka-Đô chứ không thuộc về nơi này. Nếu vợ cũ anh không thể hàn gắn với chồng mình, anh tha thứ, quay lại với chị ấy đi. Cả anh và con không ai có thể quên chị ấy...”.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Dã quỳ trong sân nhà
 
1.                Những người thợ hồ không giấu được vẻ ngạc nhiên khi cô bảo đập căn phòng ở giữa của căn nhà hình chữ U. Cấu trúc căn nhà vốn rất hài hoà với khoảng sân vườn đầy nắng, gió và những khóm hoa khoe sắc, bỗng thành hai căn nhỏ như những phòng trọ nghèo nàn, cửa sổ bên này nhìn về cửa sổ bên kia.
- Anh cố gắng đừng làm tổn hại những khóm hoa, đặc biệt bụi hoa này!
Anh thợ hồ tuổi ngoài bốn mươi, da đen như dế trũi nhìn theo hướng tay cô chỉ. Những đóa dã quỳ nở muộn, khoe sắc vàng có phần ấm áp, có phần ngượng ngùng. Quê anh ở Đơn Dương, vùng quê nơi đâu anh cũng thấy dã quỳ mọc hoang, chứ
chưa thấy mọc trong một sân nhà trau chuốt như ở đây. Anh phì cười:
“Dã quỳ mọc nơi này không hợp cô Trúc nhỉ?”.
 Cô thở dài:
 “Ngay cả tôi cũng chẳng hợp nơi này”.
Rồi khoác túi xách màu tím nhạt lên vai, cô chầm chậm đẩy chiếc chaly tuổi có khi hơn cả tuổi cô, bước đi. Cô đi được hai tiếng, Hoàng về. Anh thợ nói vắn tắt cách sửa, cách xây. Hoàng ừ hử gật đầu nửa như không muốn nghe mà đành phải nghe. Rốt cùng, Hoàng nói, cứ làm theo ý Trúc. Anh thợ chưng hửng, hơn ba năm đi làm, anh chưa gặp nhà nào kỳ lạ như nhà này. Làm thợ hồ, không biết cái duyên nghề dun rủi thế nào, toàn xui anh tới sửa những căn nhà đổ vỡ. Riết rồi, anh ngại xây nhà cho mình, ngoài ba lăm vẫn độc thân.
 
Căn nhà sửa xong sau hơn hai tuần. Thời gian ấy Trúc ở trọ, Hoàng vẫn giữ thói quen ở cơ quan cả đêm lẫn ngày nên không mấy bận tâm việc sửa nhà. Dịp cuối năm nào cũng thế, thời gian ngơi ra để suy nghĩ điều gì ngoài công việc là một thứ xa xỉ phẩm. Trúc dọn đồ vào nhà được hai ngày thì Hoàng mới chân thấp chân cao về nhà. Không đồ đoàn mang theo, Hoàng đóng cửa khe khẽ như ý thức được đã về khuya, rất khuya. Điện bên nhà ấy tắt, không một tiếng động. Trúc hơi xót lòng khi chớm nghĩ, mùi vôi vữa mới, tường mới, phòng cũ áo mới, chăn gối chưa ai giặt giũ lại, không biết Hoàng có ngủ nổi không. Hoàng vốn kỹ tính kia mà?
Thế mà Hoàng vẫn ngủ ngon lành. Sáng mai gần tám giờ, khi Trúc dắt xe đi làm, Hoàng mới mở cửa, vẻ mặt vẫn còn ngái ngủ. Trúc gượng cười đáp lại nụ cười vô tư lự của Hoàng (ngày xưa Trúc từng chết mệt nụ cười này). Bây giờ hai người chỉ là hàng xóm, chung nhau một khoảng sân nhà có những khóm hoa mà cả hai từng lựa chọn, yêu thích suốt gần bốn năm chung sống.
 
 
2.                “Mùa đông này khói thuốc, mùa đông này gió bấc, trắng ô cửa mùa đông mưa...”
 
Hoa đến khi Trúc đang nghe nhạc. Cô đốt một điếu thuốc để trên bàn, loại thuốc Hoàng vẫn hay dùng. Chỉ để khói thuốc bay la lả theo giọng hát phiêu, day dứt của Bằng Kiều, nghe nhạc như thế hay hơn gấp chục lần, không hẳn vì nhớ nhung gì để phải làm một hành động sến đến thế. Hoa bực dọc gắt:
 “Mày đâu rồi, Trúc?”.
 “Tao đây”.
“Tao không đùa, mày tỉnh lại đi. Mày nhìn lại mày xem là người hay là ma đấy? Mày thế này tao không chịu nổi. Mày chủ động cắt đứt quan hệ này co mà?”.
 Trúc thở dài. Có quan trọng gì đâu chuyện chủ động. Không ai bước chân vào hôn nhân mà khi đổ vỡ lại sung sướng, hả hê khi mình là người nói lời chia tay. Ai cũng mong những ngày êm đềm hạnh phúc chứ. Không giữ được, chính Trúc cũng có một phần lỗi.
“Mày quên hắn đi, đàn ông gì phụ bạc. Con chung không có nổi mà đi có con riêng” - Hoa chưa hết bực bội. Nhận ra sự lỡ lời, Hoa nắm tay Trúc lắc mạnh: “Nào phải tại mày, chỉ tại hai đứa bây có duyên không có nợ...”.
Lời Hoa nói y như bà thầy bói bên chân cầu Ông Lãnh cách đây một năm. Khi ấy đi xem về, Trúc đã nép bên vầng ngực ấm cúng của Hoàng, kể lại lời thầy, Hoàng đã vuốt ve Trúc như vuốt con mèo cưng bảo:
 “Bói ra ma, quét nhà ra rác. Sao em rảnh quá mà đi xem? Hạnh phúc là trong tay mình, do mình tạo dựng cả thôi”.
Trúc đã gật gù, yên tâm tin Hoàng hơn tin thầy bói. Thế mà hạnh phúc Trúc đang vun xới bỗng vuột qua tầm tay.
Tháng trước, khi Hoa đi tác nghiệp ở bệnh viện phụ sản, tình cờ gặp Hoàng đang dẫn một phụ nữ trẻ đi khám thai. Cái thai gần sinh. Tưởng nhìn lầm, không tin vào mắt mình, Hoa phải trễ hẹn cuộc phỏng vấn, lén đi theo hai người từng bước chân. Cho tới khi chắc chắn đó là Hoàng, Hoa không khỏi phân vân, chỉ có thể quyết định dùng máy ảnh zoom lại, chụp về làm bằng chứng.
Trúc sụp đổ hoàn toàn khi Hoàng thừa nhận đứa bé trong bụng cô gái ấy là con anh.
“Anh đã lừa tôi, anh bảo hai người cắt đứt rồi, quên nhau rồi kia mà”.
 “Không, chỉ vì anh say nên không làm chủ được mình. Anh chỉ gặp cô ấy duy nhất một lần sau mười năm kỉ niệm ra trường. Cô ấy sắp sinh anh mới biết chuyện, anh không thể không có trách nhiệm đối với đứa bé. Cô ấy cũng chỉ xin anh chia sẻ thời gian này, chứ không dám đòi hỏi gì hơn”.
Trúc rên rỉ, yếu đuối:
“Ngụy biện! Ai phản bội mà chẳng cho mình lý do để khỏi mang tiếng? Tôi họa có ngu mới tin anh. Anh đi đi, mười năm tình cũ không rủ cũng đến. Ừ thì đến rồi đấy!”. Hoàng quay đi, biết không thể thanh minh gì lúc này. Trúc mỉa mai nghĩ tủi thân mình, cố gắng là người phụ nữ hoàn hảo cho lắm, cơm ngon canh ngọt, công việc tốt đẹp, đọc kỹ hàng tá cuốn sách chiều chồng, đã nghĩ mình tin chồng, hiểu chồng lắm... thế mà chồng có con riêng lúc nào cũng không biết.
Tiếng bé Cún nhà đối diện cười khanh khách. Giá như ngay sau đám cưới, lần dính bầu ấy, Trúc đừng tiếc học bổng du học toàn phần qua Anh. Trúc đừng ra đi mà ở lại; Trúc không chối bỏ đứa bé đang thành hình trong mình... Mọi chuyện giờ có khi khác. Trúc thở dài. Chẳng ai thay đổi được những điều “giá như” trong cuộc đời.
Trời đã chớm đông. Lúc Hoàng đi, những đóa dã quỳ đã úa. Những ngày sửa nhà dù đám thợ không đụng tới bụi hoa, những bụi xi măng bám vào cũng đủ khiến loài hoa đỏng đảnh sinh bệnh, tàn úa. Bụi dã quỳ ấy, cách đây bốn năm, trong tuần trăng mật ở Đà Lạt, Hoàng đã chiều Trúc, bứng nguyên cả gốc cả đất về trồng trong sân nhà.
Mỗi mùa hoa nở, hai người lại cảm nhận một mùa đông ngọt ngào đang về. Thế mà mùa đông này về buồn quá!
 
3.  Ngày Trúc còn nằm ngửa, mẹ Trúc, một chị thợ may tha phương dừng chân bên cổng chợ làm ăn đã bỏ cô trước cổng chùa Lúa. Cô bé không lành lặn, gương mặt đẹp như thiên thần nhưng một chân đã bị liệt sau một trận sốt tưởng chết đi sống lại. Cô bé không cha hay có cha cũng chẳng ai quan tâm vì chưa ai thấy có hình bóng của người đàn ông trong cuộc đời mẹ con cô. Chỉ hơn nửa năm dừng chân ở làng này, mẹ sinh cô. Sáu tháng sau đó, mẹ bỏ đi, đặt cô trong một chiếc nôi rộng đầy ắp vải vóc và áo quần đẹp mà mẹ đã may từ nhiều đêm chan hoà nước mắt.
Một phật tử hay lên chùa xin Trúc về, Trúc gọi bà ngoại. Cả cuộc đời bà hiếm muộn. Bà coi Trúc như báu vật, hàng ngày nặn những con tò he bằng đất nung bán cho khách qua đường, nuôi cháu. Bà không cho Trúc đụng đến đất sét, không truyền nghề cho Trúc. Khi con bé mân mê những con tò he còn ẩm ướt, mới được sinh ra từ tay bà, bà xoè bàn tay gồ ghề, sần sùi, bảo:
 “Cháu xem, một đời bà gắn bó với bọn nớ. Bà không muốn bàn tay đẹp của cháu ra nông nỗi này”.
 Trúc bật cười mỗi khi nghe bà gọi tò he là “bọn nớ”, hai bàn tay trắng nhỏ của Trúc xoa xoa bàn tay có những vết chai lâu ngày, to như những cục u kỳ dị tên tay bà. Đó là những vết thời gian đắp bồi chai sạn để nuôi Trúc lớn. Ngày Trúc vào đại học, lần đầu tiên xa nhà, xa bà, cũng là ngày bà chân thấp chân cao trên con đường làng ráng kiếm thêm vài đồng cho cháu đi học. Bỗng dưng bà xỉu giữa trưa nắng. Bỏ dở lễ khai giảng, khi Trúc quay về đến nhà thì cơ thể bà đã trở lạnh. Bà chín mươi rồi, ai cũng bảo nên lấy làm vui. Chỉ Trúc khóc vì cô độc giữa đời, giữa bầy tò he bà phơi ngoài sân còn chưa kịp khô, nhạt nhoà nắng, nhạt nhoà nước mắt.
Cuộc sống lắm lận đận khiến Trúc coi những cơ hội cuộc đời dành cho mình là duy nhất. Hoàng là tình yêu lớn duy nhất. Học bổng, cơ hội nghề nghiệp cũng là duy nhất. Những tính toán thiệt hơn để những điều duy nhất trọn vẹn có khi phải trả giá quá đắt như lúc này. Nghĩ tới Hoàng, nghe tiếng trẻ con cười, khóc thì không giấu nổi những cơn sóng quặn đau trong mình.
Cũng may Trúc còn có Hoa cạnh bên những lúc thèm khóc vùi như thế này. Đã có lần, Trúc nói:
 “Băm đi băm lại tới mãi, bà lấy chồng đi cho tôi bót lo”.
Hoa cười xòa. Nụ cười tuổi ba mươi hai trong như thể ngoài hai mươi nhưng không dấu được chân chim quanh khóe mắt. Hoa bảo mai mốt nhơ đâu đó một ít “giống” về kiếm đứa con thôi, yêu hoài, thất vọng hoài chán lắm. Chỉ có tình mẹ yêu con mới là vô bờ bến”. Nghĩ xuôi nghĩ ngược câu nói vô tư ấy, Trúc càng thêm đắng lòng. Thật lạ, chẳng có một người mẹ trong ký ức, chỉ có qua vài câu chuyện vụn bà ngoại và người quen kể lại nhưng Trúc chẳng bao giờ trách mẹ. Đôi khi cô còn mường tượng cảnh bất ngờ tìm ra người mẹ đằng đẵng của mình. Nói thế nhưng cả Trúc, cả Hoa đều không đủ dũng cảm để sinh con ra trong một gia đình khuyết.
Nghĩ vẩn vơ, Trúc bỗng giật mình nghe tiếng gõ cửa. Hoa nhào ra mở. Chợt nghe giọng Hoa nặng nhẹ:
 “Ông qua đây làm gì? Ông về đi”.
Tiếng Hoàng lí nhí gì đó. Trúc đi ra, bất ngờ trước những đóa dã quỳ vàng rộn rã. Hoàng phân bua:
 “Anh chỉ muốn đưa về, có thể em muốn trồng lại vì bụi hoa cũ bị xi ăn, úa hết rồi. Anh xin lỗi.”.
 Trúc cười mặn chát. Lần đầu tiên Hoàng nói lời xin lỗi chứ không phải là “em thông cảm” như mọi khi. Nhiều khi Trúc nghĩ có khó gì đâu một lời xin lỗi mà dày vò nhau đến thế. Hoàng chậm rãi đi về căn nhà trống đối diện. Tiếng ca sĩ BK cất lên chầm chậm, trầm chùng bên cửa sổ nhà ấy:
Mùa đông, này khói thuốc. Mùa đông, này gió bấc...”.
 Bài hát tối qua Trúc đã mê mải nghe.
Trúc trở vào nhà, kéo tủ sắp xếp những bộ áo quần sơ sinh cô từng mua mà chưa có dịp dùng. Có lẽ sẽ gửi Hoàng đưa vào bệnh viện. Hoa nhìn theo, đoán được ý bạn, lầm rầm:
 “Quân tử rởm!”.
Trúc thanh minh yếu ớt:
 “Tao chỉ muốn làm sao cho nhẹ lòng thôi mà”.
Hoa kéo Trúc qua, ngâm nga câu thơ chẳng nhớ nổi của ông nào:
Em về điểm phấn tô son lại
Ngạo với nhân gian một tiếng cười”
 rồi cọ quẹt ít phấn nền, phấn phủ, phấn hồng và chút môi hồng cho Trúc. Xong xuôi, cô đẩy Trúc ra bên ô cửa sổ: “Mày xem, nắng lên, hết lạnh rồi, cuối đông rồi. Đi dạo phố nhé!”.
Những đóa dã quỳ cuối mùa đu đưa làm duyên trong nắng. Buổi sáng trong veo như chưa hề trong thế...
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Đi vay hạnh phúc
 
Hạnh quay đầu nhìn lại những dải cát trắng xuôi về phía làng. Những người đàn bà bước thấp bước cao, vai nặng oằn đôi quang gánh từ dưới biển đi lên... Dấu chân nối nhau vẽ thành đường cong cong đứt đoạn trên cát. Có tiếng ai đó chào, Hạnh cười đáp lại trước khi vội vã bắt một chiếc xe lam chở ra bến để kịp quay về thành phố. Chuyến quay về thành phố này nặng trĩu. Có khi Hạnh thấy mình như con lắc ở giữa, đầu này là quê, đầu kia là thành phố. Không thể có sự so sánh nơi nào quan trọng hơn khi một đầu là mẹ, là nơi sinh ra, một đầu là anh, là nơi đang kiếm sống, bươn bả với những ngày tháng thực tại. Lần đầu tiên Hạnh quay về phố với tâm trạng khó khăn như vậy vì biết giờ này Long đã lên máy bay, rời khỏi Sài Gòn.
- Cưới xong, mình đón mẹ lên thành phố ở luôn. Nói thực với em, anh thấy ngột ngạt khi về vùng biển này.
 
Hạnh đã nhìn kỹ Long sau khi anh nói câu nói khó nghe ấy. Nơi Hạnh sinh ra, lớn lên, lại là nơi Long cảm thấy ngột ngạt. Sự ngột ngạt ấy thể hiện rõ trong đôi mắt có vẻ chán chường xen lẫn xa xót của Long. Chiều hôm qua, anh theo Hạnh ra biển, nơi người ta vừa dựng lên một pho tượng đất sét. Long đứng như trời trồng nhìn bức tượng được mặc quần áo, đồ liệm giống như người thật để thầy cúng làm lễ chiêu hồn, rồi người ta khiêng đặt vào quan tài. Lễ cúng chiêu hồn diễn ra rất dài. Thầy cúng ngồi đọc hết mấy cuốn sách cúng trong khói hương nghi ngút trước gió biển, sóng biển ầm ào. Lời cúng gọi hồn nhập tượng rù rì, mộng mị xen lẫn tiếng khóc than quặn ruột. Một cỗ thuyền mô hình, với những mâm lễ được thả xuống biển cúng linh hồn cùng các vị thần ngự ngoài biển khơi. Mấy lần Hạnh kéo tay Long quay về nhưng anh vẫn đứng cho đến khi pho tượng được đưa về phía nghĩa địa, con thuyền cúng lễ trôi ra xa, chỉ còn một chấm nhỏ tí ti rồi mất hút.
 
Lần đầu Long thấy cảnh người ta gọi hồn người, người nhảy múa cúng kiếng, người khóc hờ, người ngồi ven biển dõi đôi mắt nhìn xa xăm... Hạnh đã quen với cảnh ấy từ bé, chỉ thấy buồn se sắt khi nghĩ lại có một người đi biển không về. Long
bảo:
“Sao khắc nghiệt quá vậy em?”.
 Khi ngang qua nghĩa địa, Hạnh chỉ cho Long xem những khu mộ gió. Hạnh bảo:
“Phải chấp nhận cả thôi anh à. Nào có ai muốn vậy đâu. Cúng chiêu hồn xong, người ta tin rằng linh hồn người chết mất xác đã trở về nhập vào hình nhân để an nghỉ, phù hộ cho những người thân còn sống. Ngày giỗ, người thân ra mộ thắp hương, lễ thanh minh cũng đi tảo mộ như những ngôi mộ khác. Đó cũng là cách giúp những người ở lại an lòng hơn”.
Sau buổi chiều đó, Long im lặng. Hai ngày sau anh nói Hạnh quyết định sẽ đón mẹ về phố ở, sẽ không lần nào quay lại nơi này.
“Chỉ thế thôi mà hai người chia tay ư?”.
 “Ừ, thế thôi. Tiệc cưới đã đặt rồi, áo cưới đã may rồi... nhưng mọi chuyện kết thúc. Trong chuyện này, kể ra cũng chẳng có ai có lỗi, chỉ là không chia sẻ với nhau, không chấp nhận nhau nên dừng lại”.
Điếu thuốc trên tay anh tàn vơi nửa dù chưa hút, anh nheo mắt nhìn Hạnh, vẻ thực sự khó hiểu. Hạnh thấy có con sóng mặn mòi vùng quê quặn qua mình. Hạnh đã không nhắc chuyện này năm năm rồi. Năm năm đủ để Long tu nghiệp thành công và có lẽ đã cưới một cô vợ trẻ hơn Hạnh 10 tuổi bên đất Thái Lan. Có lần, Long vô tình bảo, có một điểm Hạnh giống vợ chưa cưới của Long: cùng là con gái miền biển. Giống mà không giống khi quê vợ chưa cưới của Long là một vùng biển du lịch, biển xanh cát vàng lãng mạn, khách khắp thế giới kéo nhau đến tấp nập. Hạnh nhoi nhói nghĩ, nơi ấy hẳn không có những ngôi mộ gió. Hạnh khép lòng mình lại luôn từ đó. Hạnh thay đổi mật khẩu tài khoản YM! của mình. Một cái mật khẩu dài thoòng cô gõ những phím bất kỳ trên bàn phím để không tài nào nhớ ra mà vào lại. Chỉ cốt để không bao giờ gặp lại Long trên mạng.
Sau Long, anh là người Hạnh có thể ngồi trò chuyện hàng buổi. Anh ngoài 40 tuổi, hơn Hạnh 10 tuổi. Một người phụ nữ ngoài ba mươi, người đàn ông ngoại tứ tuần, đúng ra sẽ khó có cơ hội ngồi bên nhau trong một khung cảnh lung linh ánh nến ven bờ sông để có thể trò chuyện phiếm với nhau những câu chuyện không đầu không cuối. Nhưng anh và Hạnh vẫn gặp nhau trung bình tuần 3 lần ở ven bờ sông này. Đơn giản vì họ chung nhau một môi trường, anh là tay trống dày dặn kinh nghiệm, Hạnh là MC được trả cat-xê cao nhất trong nhà hàng tiệc cưới 5 sao này.
- Sao em không thi tuyển vào đài truyền hình? Cỡ em, làm MC đám cưới phí lắm! - Một lần, anh thắc mắc.
- Vậy sao anh không tìm đến những sân khấu lớn, tay trống cừ khôi như anh, em biết chắc là hàng hiếm!
Hạnh vu vơ đáp lại. Cô muốn tránh nói ra cái sự thực vô lý của mình. Vô lý đến mức có khi Hạnh cũng không chịu nổi. Cô không hiểu vì sao mình mê ánh đèn tiệc cưới, những nụ cười rạng rỡ trong tiệc cưới đến vậy, sau lần đám cưới hụt với Long. Lẽ thường, trong hoàn cảnh như Hạnh, những đám cưới sẽ nhắc nhớ tới chuyện dang dở, sẽ nhắc rằng tuổi đã băm qua băm lại nhiều lần. Sẽ chẳng ai muốn góp mình vào niềm vui, hạnh phúc vay mượn. Thế mà Hạnh lại vui. Cô thấy rõ niềm hân hoan khi cô tô má hồng, kẻ mắt nâu, mặc chiếc đầm trắng tinh đến với những sân khấu tiệc cưới. Dưới ánh đèn màu, trong hơi rượu vang chúc phúc được rót ra, tiếng cười nói, tiếng pháo tay khiến cô thấy lòng mình rạo rực.
Anh né tránh câu trả lời bằng cách bông đùa:
 “Mình thật biết cách nịnh nhau!”.
Đối diện với Hạnh, anh đăm chiêu dụi thuốc vào gạt tàn. Điếu thuốc anh đốt lên, hình như chỉ hút vài hơi để giữ lửa. Những khi khó nói điều gì đó anh thường có thói quen đốt thuốc. Để có một khoảng không gian bảng lảng khói nhìn vào. Quá khứ của anh đã vài lần dở dang cũng vì những khoảng lặng khó nói. Đã từng có hai người phụ nữ anh yêu thương lặng lẽ rời xa anh. Một người không chịu nổi khói thuốc, một người không chia sẻ được những khoảng lặng ấy. Người đầu tiên vừa chớm yêu nên không day dứt nhiều. Người đàn bà thứ hai, là mẹ của con trai anh bây giờ để lại cho anh nhiều xáo trộn và một cậu con trai 6 tuổi. Vì một người đàn ông biết tâm tình hàng tiếng mỗi đêm khuya qua điện thoại, cô sẵn sàng bỏ cả chồng lẫn con. Khi cô đi, anh lặng im, cô gào lên:
 “Nói gì đi, anh nói gì đi, anh làm tôi phát điên”.
Anh đáp lại:
 “Thi thoảng về thăm con, thằng bé vẫn cần mẹ”.
“Lúc ấy, nếu anh nói gì đó, ví dụ như bảo chị ấy ở lại, chắc chị sẽ ở lại” - Hạnh tiếc nuối.
“Chắc gì?”.
 “Sao không chắc, em cũng là phụ nữ, em biết. Sợ nhất là khi chồng mình, người yêu mình im lặng”. Hạnh rùng mình vì một cơn gió lạnh thổi thông thốc từ phía sông lên. Mà biết làm sao, có khi anh không nói gì trong hoàn cảnh ấy lại tốt hơn, tính anh vốn ít nói, cha mẹ sinh ra đã thế, đi gần nửa đời người vẫn thế. Chỉ một câu nói có thể giữ cô ở lại nhưng khi cô bỏ anh đi vì lý do không chịu nổi sự im lặng thì sau trước gì cô cũng sẽ ra đi. Anh chỉ thấy buồn cười, chính những người phụ nữ ấy từng đến với mình vì sự im lặng rồi bỏ đi cũng vì sự im lặng ấy. Khi yêu, sự im lặng đồng nghĩa chín chắn, khiêm tốn, nhường nhịn. Khi hết yêu, đó lại là sự coi thường, nhạt, khó chịu...
Rồi anh bỗng biết sợ những khoảng lặng khi chỉ còn hai bố con trong căn nhà rộng. Tiệc cưới luôn là nơi người người nói nhiều, nhà nhà nói nhiều. Mỗi tuần ba buổi chơi trống cho những tiệc cưới giúp anh giết đi những khoảng lặng đời mình.
Bất chợt, anh hỏi:
 “Em đừng khép lòng mình nữa, được không?”.
 “Đã là duyên phận thì mở hay khép cũng khác gì nhau đâu anh. Phải duyên phải số thì vồ lấy nhau thôi. Số em dang dở, ai xem tay em cũng nói vậy, chứ nào phải tại em không mở lòng”.
Tối qua, sau cánh gà sân khấu, anh thấy Hạnh đưa tay quệt ngang mặt như quệt nước mắt sau khi nghe mẹ cô dâu chia sẻ thật thà, bà một thân một mình nuôi con, bây giờ thấy đám cưới con rồi, chết cũng toại nguyện! Cả phòng tiệc cười vang, chỉ Hạnh rơi nước mắt khi nghĩ đến mẹ. Có khi mẹ Hạnh cũng chung suy nghĩ ấy. Khi phát hiện ra anh nhìn mình, Hạnh lúng túng:
 “Bà cụ làm em nhớ mẹ, mẹ em cũng chừng tuổi cụ”.
 Anh biết, chắc Hạnh còn nhiều trăn trở hơn thế. Lúc ra về, chạm mặt nhau ở chỗ gửi xe, anh bảo:
 “Tối nay đừng khóc nhè vì nhớ mẹ nhé”, Hạnh nhoẻn cười, mắt vẫn buồn buồn. Anh lo âu âm thầm chạy xe theo cho đến khi Hạnh về đến cổng nhà. Đứng từ xa, khi nhìn thấy ánh đèn vàng ấm áp trong căn nhà nhỏ bật lên, anh mới an tâm quay về nhà. Chẳng hiểu sao, nỗi buồn của Hạnh luôn song song cùng sự lo âu của anh.
* * *
Hạnh ốm mê man mấy ngày nay. Khi tỉnh lại, cô cuống cuồng quay lại nhà hàng tiệc cưới. Gần một tuần không đến nhà hàng, lòng bứt rứt không yên.
 
Anh chàng đánh trống mới chừng ba mươi tuổi, cười khoe hàm răng trắng bóng thay thế chỗ anh từ bao giờ. Đôi khi, tiếng trống rộn rã khua khiến Hạnh giật mình quay lại, thấy cảm giác chống chếnh khi không còn thấy anh góc đó. Anh chàng đánh trống bắt gặp ánh nhìn của Hạnh, nheo mắt nhìn. Kiểu đá lông nheo của mươi, mười lăm năm trước Hạnh vẫn có vài anh chàng trêu ghẹo. Cuối buổi, khi Hạnh đưa mắt nhìn lại chỗ anh đánh trống ngồi, anh chàng vui tính nói:
 “Tôi biết Hạnh nhìn về phía này vì tìm ai đó, chứ không phải tôi”.
 Hạnh hình như có nhếch môi đáp lại gượng gạo trước khi ra bãi lấy xe.
Ngày thứ chín nghe những nhịp trống lạ. Tiếng trống không phải ngẫu hứng như những nhịp sóng mà có phần chát chúa của anh đánh trống mới khiến Hạnh thấy lạ lẫm với chính mình. Cô không còn niềm vui háo hức khi đến nhà hàng tiệc cưới. Hạnh giật mình thấy sao khó hiểu, chẳng lẽ chỉ vì thay đổi tiếng trống? Nhất định không phải do Hạnh nhớ anh. Ở ngoài ba mươi, người ta khó hình dung ra cái cảm giác nhớ nhung, chờ đợi như tuổi hai mươi vẫn thường trực bên mình. Hạnh đã vài lần định điện tới anh nhưng rồi thôi. Chẳng biết điện sẽ nói chuyện gì? Chẳng lẽ hỏi vài câu vu vơ xã giao, kiểu như bố con anh khỏe không, bây giờ anh làm đâu? Giữa anh và Hạnh không có thói quen xã giao ấy. Mà qua điện thoại thì không thể nào cùng ngồi im lặng hàng giờ nhìn khói thuốc, nhìn sông trôi, đợi những điều tình cờ đến để sẻ chia.
Đến ngày thứ mười, Hạnh dường như không chịu nổi sự chần chừ của mình. Khi cô nhìn thấy anh chàng đánh trống mới nán lại ngồi bên bờ sông sau buổi tiệc cưới tàn, cô thấy có chút hẫng hụt, mất mát chạy qua mình. Đó là chỗ Hạnh và anh vẫn hay ngồi nhìn lục bình trôi ngang. Hạnh như nghe giọng anh ấm cúng: “Em thấy những đám lục bình kia không, anh thích nhìn lục bình vì rễ chúng rất ngắn, nổi nênh trên dòng sông nhưng chúng vẫn lặng lẽ đơm bông tô đẹp cho dòng sông. Có khi mình phải học thân lục bình, không trách phận than thân, cứ tươi tắn, dịu dàng dù dòng đời ít màu mỡ, em nhỉ?”. Cô bấm điện thoại...
“A lô”...
“Anh đây”,
“Mấy hôm nay lục bình nở tím bờ sông, anh có quay lại cùng em uống cà phê đen ngắm lục bình tím không?”.
 Đằng kia, sự im lặng nghẹt thở. Bỗng một bàn tay đặt lên vai Hạnh. Cô ngạc nhiên quay lại và ôm chầm khi nhận ra anh. Trên tay anh, chiếc điện thoại vẫn còn ánh sáng dịu báo hiệu cuộc gọi đến. Hạnh lặng đi trong hạnh phúc khi anh nói:
 “Em từng hỏi vì sao anh không đến với những sân khấu lớn phải không? Vì ở đây có em”.
 “Vậy vì sao anh bỏ đi?”.
 “Bỗng anh lo ngại, anh không muốn ở lại bên em vì không muốn làm em, một ngày đó lại thất vọng về sự im lặng của anh. Hàng đêm, anh vẫn theo em về cho tới nhà, nhưng bây giờ, mình có thể dọn về chung một căn nhà, để anh khỏi phải lén lút vậy nữa, được không em? Anh yêu em”.
Có một hạnh phúc thật gần, kề bên. Không phải hạnh phúc từ những đèn màu, từ hơi rượu sâm banh mà Hạnh vẫn vay mượn từ trước đến nay. Hạnh phúc từ hơi thở anh, thật ấm.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Những buổi tôi lạc loài
 
Khi Thụy bước lên chuyến xe cuối cùng của ngày, những cơn nắng lạnh yếu ớt xế chiều và anh ở lại. Thụy đã khóc nức nở khi biết còn rất lâu, mình mới trở về với không gian mật ngọt trong trẻo ấy. Lúc ấy, Thụy vừa lập gia đình được hai năm bốn tháng mười lăm ngày. Tối qua, khi chở Thụy lên đèo Phù Dung, vào quán cà phê Khúc Ban chiều của chị gái Lâm, Lâm bảo, sau này xa nhau, khi nào nhớ vợ quá, anh sẽ ghé quán này gọi cà phê đen không đường uống và sinh tố cà rốt - thức uống Thụy cực yêu thích để đỡ cảm giác trống vắng. Lúc ấy, Thụy năn nỉ Lâm, em sẽ nhờ bệnh viện xác nhận một bệnh X, Y, Z gì đấy, hoặc xác nhận dính bầu chẳng hạn, để ở lại với anh, anh gật đầu đi. Lúc ấy Thụy òa khóc, Lâm rơm rớm nước mắt, nắm chặt bờ vai đang rung lên của Thụy, lắc đầu. Cả hai trôi trong khúc ca buồn của chị chủ quán khuyết tật: “Nắng có hồng bằng đôi môi em...”.
 
Ít nhất là trong lúc này, Thụy muốn vứt quách những bằng khen, huy chương và cả suất học bổng qua Nga mà Thụy từng cố gắng. Giá chỉ làm công việc ca hát trong quán cà phê nhà như chị Mai để được gần chồng gần con. Là chị gái Lâm nhưng chị Mai xem em dâu như người bạn thân. Thụy có thể rỉ rả tâm sự với chị bất cứ chuyện gì. Chị Mai 5 năm trước là giáo viên xinh nhất trường nội trú. Một buổi sáng đi làm, khi thả dốc xuống đèo thì xe chị đâm vào mấy gốc thông già. Khuôn mặt tàn dị và chân què, chân cụt là kết quả sau vụ tai nạn ấy. Trước đây, phòng trà này chỉ là quán cà phê vườn, một tay anh chồng lo. Từ khi gặp tai nạn, chị ôm đàn ngồi hát trong quán. Chị thả nỗi quặn đau vào những khúc hát. Khách đến ngày càng đông, để xem “người đàn bà ngồi trong bóng tối” cất những lời ca như khúc hát chim trời trên đất cao nguyên về đêm lạnh và ẩm ướt. Chị hát không thật hay, giọng có khi khàn đục nhưng cao vút mê hoặc. Không ít người là khách du lịch, có khi nghiễm nhiên coi việc đến quán cà phê nghe chị hát là một hành trình trong chuyến du lịch vùng đất này.
Thụy về chào mẹ trước khi lên đường. Bố đang ngồi xem một trận bóng nào đó. Mẹ vừa quét nhà xong, lại tất tả trồng mấy luống rau trước vườn. Câu chuyện giữa hai mẹ con thi thoảng gián đoạn có khi chỉ vì một con sâu mẹ bắt gặp, hoặc có khi vì một cái gai đâm vào xước tay khiến mẹ suýt xoa. Ôi, mẹ Thụy, mấy chục năm quét nhà, vườn tược cơm nước. Cần mẫn đến nỗi có khi Thụy có cảm giác phát ngán phải gào lên:
 “Mẹ vứt hết đi, bố đâu thích người đàn bà chăm chỉ như vậy, mẹ làm chi cho cực thân”.
 Quả thực, bố Thụy nuôi vợ bé ở Sài Gòn, người đàn bà ấy không biết nấu nướng, không biết làm vườn nhưng biết mặc váy ngắn, trẻ trung và quyến rũ bố. Hình như khi Thụy gào lên, mẹ có giật mình. Bố tím mặt. Thụy thì hả hê, mà không rõ hả hê về điều gì. Mẹ hoảng hốt khi gặp sâu nhưng lại bình tâm đến lạ khi bố nghiễm nhiên nuôi bồ nhí. Có khi hai chị em Thụy kéo nhau xuống Sài Gòn dằn mặt nhân tình của bố, Mẹ xót xa sụt sùi. Thụy không bao giờ hiểu nổi. Cả khi lấy chồng, có con vẫn không hiểu nổi, dù khi ấy mẹ luôn nói:
 “Khi lớn, con sẽ hiểu”.
* * *
Thời gian đầu nơi xứ lạ nỗi trống trải luôn chực bủa vây lấy Thụy. Sau giờ học, mặc bạn bè đi chơi, Thụy thường về thẳng phòng mở cuốn album ảnh của chồng và con trai vừa xem vừa khóc. Hai mươi tám tuổi, lần đầu tiên Thụy mới thấm thía sự chia ly. Giọng hát hoang hoải của Khánh Ly ngân nga một ca khúc về tình yêu và nỗi nhớ khiến Thụy càng nhớ hơn những đêm cùng anh ngồi nhìn cà phê rơi và nghe chị Mai hát. Giọng hát cũng hoang hoải vậy nhưng nghe ấm áp chứ không quạnh quẽ như bây giờ.
Tối thứ bảy, Thụy bó gối nhìn những hàng dương lóng lánh nhuốm đèn đường. Cái màu vàng vọt ấy khiến nỗi nhớ Lâm và cu Bin chạy ào về. Chỉ qua đây ba tuần, Thụy sụt gần bốn ký. Người gầy gò hết xương cổ hốc hác. Những lúc nhớ quá, lại mở skype nói chuyện với anh. Cu Bin chưa biết nói, chỉ có thể lúc khóc lúc cười khi nghe tiếng mẹ đầy hờn tủi. Cuộc thoại chỉ kết thúc khi Thụy đã sụt sùi và cu Bin gào lên:
 “Bế em, bế em...”- lúc nào bức xúc quá cu cậu mới nói một, hai từ như thế. Để rồi sau đó, nước mắt chị nước mắt em thi nhau chảy ra. Trước khi đóng cửa sổ skype, Thụy vẫn kịp hình dung ra con trai sẽ vừa nấc lên từng hồi vừa nhắm mắt ngủ mệt mỏi khi không có mẹ. Những giấc ngủ trẻ thơ không trọn vẹn vì sự xa cách. Giọng Lâm dỗ dành, động viên:
 “Mẹ Thụy nín đi, hai bố con ở nhà ngoan lắm, ăn ngủ đúng giờ. Bin khỏe, không ốm vặt đâu, đã biết nghe lời bố rồi đấy. Mẹ ráng học giỏi rồi về với hai bố con nhé!”. Không biết khi ấy, tại đường truyền internet yếu hay sao, giọng anh chưa bao giờ nghèn nghẹn như thế.
Thi thoảng gặp chị Mai trên mạng, chị kể, cuối tuần Lâm vẫn thường ghé quán một mình gọi ly cà phê và ly sinh tố cà rốt ít đường. Lúc cậu ấy về, có khi cậu ấy nhắm mắt uống ực một hơi nước cà rốt. Thụy bật cười nghĩ tới hình ảnh Lâm lúc ấy bởi anh chẳng bao giờ thích thứ nước uống ngang ngang, nhạt nhẽo ấy cả. Ban đầu, nghe chị kể Thụy cảm giác ấm áp khi Lâm luôn nghĩ đến mình trong những đêm cuối tuần lãng mạn. Về sau, Thụy đắng đót trong lòng khi chị Mai nói:
 “Nói thật, tao xót không chịu nổi, khi nó cứ ngồi bất thần nhìn vào khoảng không trước mặt”.
Có lần, chị Mai nói:
“Hôm nay cu Lâm không đi một mình mày ạ!”.
 Thụy chột dạ. Một lúc, chị bảo, có lẽ chỉ đơn thuần là đồng nghiệp, tao thấy điệu bộ không có gì khả nghi. Khỏi phải nói máu nóng bốc lên đầu Thụy nhanh cỡ nào. Đợi đến lúc người ta biểu lộ thái độ ra cho người ngoài thấy thì tiêu đời Thụy còn gì?. Thảo nào dạo này Thụy và Lâm ít lên mạng gặp nhau, chắc anh bận bịu quan tâm đồng nghiệp. Đúng là đàn ông chỉ là một giuộc phản bội, chóng quên và xác thịt - Thụy chua chát nghĩ theo một triết lý chụp mũ lượm được đâu đó. Lúc nghĩ ra điều ấy, Thụy như ngồi trên lửa, chẳng còn nhớ ra rằng chính mình đề nghị Lâm ít gặp nhau trên mạng, vì chính Thụy không thể chịu được cảm giác vợ một nơi, chồng và con một nẻo. Thụy cũng không thể chịu được tiếng “bế em, bế em” xé lòng của cu Bin khi chúc em ngủ ngoan.
 
Lại tối cuối tuần khác, chị Mai gọi giật ngược Thụy trên mạng:
 “Mày phải nói chuyện với thằng Lâm ngay. Con bé ấy hôm nay cũng đến. Tao đã hỏi nhưng nó bảo chỉ là nhân viên mới, sếp yêu cầu kèm cặp. Chuyện này mày nên thẳng thắn”.
 “Thế anh ấy có gọi sinh tố cà rốt không?” - Thụy hỏi chẳng ăn nhập gì.
 “Không. Con bé ấy thích cam sữa”.
Chị Mai chắc chắn và bỗng thấy như lỡ lời, chị vuốt ve vết thương bắt đầu cứa vào Thụy:
 “Mà em ạ, chị thấy chúng nó vẫn chưa có gì đáng nghi”.
 “Em nhớ phải dè chừng nhé. Đàn bà mình xa chồng còn gìn giữ, thủy chung; đàn ông xa vợ thì e là khó lắm” - Chị dặn dò khi kết thúc cuộc trò chuyện.
 
Thêm một lý do để sức khỏe Thụy tụt dốc không phanh. Buổi sáng, chỉ thoáng nghĩ tới bài vở trong ngày Thụy đã thấy đầu ong ong, chân tay rệu rã. Đi khám bác sĩ, ông lắc đầu ngán ngẩm:
 “Cô quả thực không biết mình có thai? Tim thai đập rành rành thế này cơ mà?”. Rồi ông dặn phải hết sức giữ gìn vì cái thai không được khỏe. Về đến ký túc xá, Thụy vẫn không khỏi ngạc nhiên. Thật khó tin, trong hồ sơ sức khỏe của Thụy khám trước đó chưa bao lâu, không có dấu hiệu gì về chuyện này. Trễ kinh gần hai tháng, Thụy cứ nghĩ do thay đổi không gian, điều kiện sống đột ngột. Điều này đã nhiều lần Thụy gặp phải.
Chưa kịp làm theo lời bác sĩ thì đêm ấy, trong giấc mộng mị, Thụy thấy mình đi trên một con thuyền bị bão giập giữa biển khơi. Mà Thụy thì dễ say sóng, say tàu xe; mật xanh mật vàng thi nhau trôi ra. Ruột gan như bị ai nắm lấy nhào lộn. Thụy rơi từ trên giường ký túc xá xuống. Rơi bịch như trái mít còi. Người đau nhói, quặn thắt, mê man. Sau cơn mê man quặn thắt tưởng có thể nhấn chìm Thụy xuống cái vực thăm thẳm nào đó, Thụy vẫn còn hồ như nhận thấy đáy quần nhầy nhụa máu. Khi tỉnh lại, chỉ thấy vị bác sĩ già nhìn Thụy với đôi mắt nhân hậu, hiền lành. Thụy vùi mình nấc lên từng hồi, không còn đủ sức để khóc. Mối nhân duyên giữa hai mẹ con ngắn đến mức không ngờ. Khổ thân đứa bé, đến không ai hay, đi không ai biết, chỉ có mỗi ông bác sĩ già chia sẻ và tiễn biệt...
 
Hẹn Lâm lên mạng, Thụy không thể chia sẻ tai nạn ấy với chồng. Thà anh đừng biết gì có lẽ đỡ đớn đau hơn. Thụy cũng muốn chôn chặt để đừng ai khuấy động tới. Nỗi đau bằng bảy lần sinh đẻ, để lại một hố sâu trống hoác có lẽ chẳng bao giờ lành lặn. Mặc nhiên, Thụy đổ lỗi cho mình vô tâm và giọt nước thất vọng về Lâm làm tràn ly nên mới xảy ra cơ sự ấy. Anh vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra khi Thụy bóng gió nói về cô đồng nghiệp. Thụy chỉ có thể cười chua chát trong sự quạnh quẽ xứ người. Không thể căn vặn gì thêm khi suốt ngày chỉ hoa mắt chóng mặt.
 
Trong ký túc xá, Hùng là bạn học trên Thụy hai năm. Anh lại học chung trường đại học với một người Thụy biết nên nghiễm nhiên ngay lập tức trở thành bè bạn. Khi Hùng đề nghị, cứ cuối tuần, anh sẽ rủ Thụy cùng đi dạo bộ để ngắm cảnh nước Nga. Về mấy vùng ngoại ô để tìm đến những cánh đồng đẹp như trong “Bình minh mưa”, dạo bên những mặt hồ xanh thẳm. Chỉ nghe thế, Thụy đã ngầm gật đầu. Dù gì, Thụy đã chán ngấy những tối cuối tuần chìm trong nước mắt vì nhớ chồng con. Những chiều cuối tuần cô đơn ấy đã rút nhanh chóng sức lực Thụy có, đẩy Thụy đến mức suy nhược không giữ nổi thiên chức của mình. Trong khi ấy, chồng Thụy lại biết cách lấp đầy khoảng trống trước mặt bằng một cô đồng nghiệp và đã quên món sinh tố cà rốt vợ thích.
 
Thời gian cứ thế trôi đi thật nặng nề. Mùa thu trong trẻo và ngắn ngủi vèo qua và tuyết bắt đầu rơi. Tuyết rơi lạnh quá! Chưa bao giờ Thụy thấy trống trải và cô đơn đến thế. Trời tối rất nhanh, mỗi buổi chiều chạng vạng, đi bộ trong mưa tuyết từ bến tàu điện ngầm về khu ký túc xá, nhìn thấy những ánh đèn hắt ra từ các căn hộ chung cư, Thụy chỉ thấy thèm điên cuồng được siết ôm chồng con trong tay để thấm sự ấm cúng gia đình. Nghĩ vậy, Thụy lại cảm nhận sự mặn mòi chát đắng theo những cơn gió lạnh táp vào da thịt khi nghĩ tới lời Hùng nói:
 “Xa nhà thế này có khi là sự hy sinh, bởi có thể khi ta quay về, mái ấm gia đình đã mất, bạn bè thân yêu cũng mất. Rốt cùng, hành trang chỉ còn một sự phản bội”.
Hùng kể Thụy nghe về vùng Kinh Bắc quê anh, vùng đất nổi tiếng trong nhiều áng thi ca Thụy vẫn biết. Lòng vòng rồi lại vòng quanh, câu chuyện đi vào hồi chua chát:
 “Lần anh về, con gái lên năm thì ông bà nội nuôi, mắt lúc nào cũng ngơ ngác buồn. Mẹ nó buôn bán rồi theo giai lên Hà Nội, mua nhà mua cửa ở hẳn với nhau. Em biết không, thằng ấy là bạn thân của tôi. Khi đi, tôi gửi gắm nó quan tâm vợ con giùm khi khó khăn”. Tiếng khậc, khậc khô khốc bật ra đắng chát từ cổ Hùng. Thụy hiểu anh, chia sẻ với anh bắt đầu từ một nỗi đau chung của sự phản bội.
 
Chẳng biết từ bao giờ Thụy đã thôi không còn khóc vì nhớ nhà như hồi đầu mới sang Nga nữa. Những ý nghĩ về chồng, con cũng thưa dần. Thế rồi một đêm định mệnh không quá bất ngờ xảy đến. Tối đó, cô bạn cùng phòng dẫn ông xã mới từ Việt Nam qua về ngủ, năn nỉ Thụy nhường chỗ cho họ bởi chưa kịp sắp xếp chỗ ở cho chồng. Hùng đã dắt Thụy về phòng, thỏa thuận:
 “Anh sẽ trải chiếu ngủ dưới nền nhà, em cứ ngủ trên giường”.
Anh nhẹ nhàng, dịu dàng trước sự thỏa hiệp chen lẫn chút phân vân của Thụy. Để trấn an, anh ngồi ôm cây guitar hát “Đôi bờ”, bài hát Nga mà Thụy say đắm. Chẳng biết bằng cách nào, khi bài hát kết thúc, Thụy đã lịm đi trong vòng tay anh, đắm mình trong hơi thở đàn ông khát cháy của anh mà không một tí tẹo nào nghĩ tới bất cứ ai trong lúc ấy.
 
Lúc đầu còn dằn vặt, sau dần thành quen hơi. Không hiểu từ bao giờ, Hùng đã thay thế hẳn vị trí của Lâm trong trái tim Thụy. Thụy chẳng còn quan tâm tới Lâm có gọi ly sinh tố cà rốt nữa hay không, có đi với cô gái nào không. Sợ chị Mai phát hiện, Thụy né tránh khi chị ới ời gọi Thụy trên mạng. Chỉ tới khi chị nhắn offline:
 “Chị biết chắc chắn em đang gặp chuyện gì đó. Nếu không, em sẽ không thể chịu nổi khi tuần này sang tuần khác không gặp chồng, gặp con. Em gặp Lâm đi, trong khi cậu ấy đang cố gắng liên lạc với em. Đừng vì chút ghen tuông vô cớ hay những mật ngọt viển vông mà đánh mất giá trị thực mình có, em à!”.
Thụy giật mình, thở dài. Chị Mai nói bóng gió nhưng đủ để Thụy có cảm giác một vết cứa sắc ngọt giữa mùa đông đang đi vào gan ruột.
“Vứt quách cái quá khứ dở dang đi em ạ. Mình sẽ có những đứa con xuất phát từ tình yêu thương của cả anh và em. Gia đình mình sẽ luôn yêu thương, không bao giờ rời xa nhau” - Hùng nắm tay Thụy hy vọng. Nhắc tới những đứa con, Thụy nhói lòng khi nghĩ tới cu Bin. Nó sinh ra trong tình yêu đấy chứ, nó nào có tội tình gì. Có chăng chỉ vì có người mẹ không xứng đáng làm vợ, làm mẹ.
* * *
Vẫn điệu đan những ngón tay vào nhau, trước mắt tôi, chị như bối rối, như mệt mỏi, nao núng. Chị cố kìm một tiếng thở dài đang dâng nhanh, dằn vặt: Em có tin rằng chị từng giật mình nhiều đêm, tỉnh dậy thấy đầm đìa nước mắt vì biết rằng mình đã sai, mà không thể sửa sai. Bằng chứng là nhiều năm sau đó, chị và Hùng đã sống với nhau đầy dằn vặt như một cái nghiệt. Trong khi đó, ở quê Lâm vẫn nuôi cu Bin một mình, vẫn nhắn những dòng thư yêu thương, mong đợi chị quay về. Chị không dám cầu mong một sự tha thứ. Em có hiểu đau đớn như thế nào khi người ta biết quay đầu là bờ, đi nữa chỉ càng sâu, càng lún mà không thể, không dám quay về không? Có lúc chị đổ hết tội lỗi lên đầu Hùng. Chị chẳng bao giờ dám nghĩ mình hư hỏng. Chị ích kỷ tới mức bất cứ lúc nào cũng tìm ra người để đổ tội. Chị yêu như điên em ạ. Yêu như có thể chết được. Để rồi cuối cuộc tình như say như đổ như đốt ấy lại sẵn sàng nhảy ngay qua một cuộc tình khác. Rồi lại viển vông thêu dệt rằng đấy mới đích thực là tình yêu trong đời. Bây giờ, chị nhận ra hóa ra mình chỉ yêu mình thôi.
 
Thời buổi làm ăn khó khăn, Nga không còn là miền đất hứa đối với những người Việt sang kiếm sống, Hùng đã chán cảnh bươn chải mãi cũng chẳng giàu. Không chỉ thế, do công việc nên liên tục phải dắt díu nhau chuyển chỗ ở, luôn trong tâm trạng thấp thỏm không an toàn khi người Việt gặp tai nạn nơi xứ người ngày càng nhiều. Mệt mỏi với cuộc sống thiếu ổn định, và cũng đến lúc chán nghe chị dằn vặt bản thân mình. Anh ra đi, cũng dịu dàng, nhẹ nhàng như khi anh đến... Nghe đâu anh quay lại với vợ con ở Việt Nam. Đáng đời chị, phải không em?
Em biết không, lúc bé, mẹ mình nói chị giống ba, từ khóe môi, khóe mắt, tính cách... Khi ba phản bội mẹ, chị đã xúi rằng:
 “Con mèo, con gà nó có cần bố, cần chồng đâu, nó vẫn lớn, nó vẫn có mẹ có con. Mẹ bỏ chồng đi, ông ấy không xứng đáng là bố chúng con”.
Mẹ đã tát chị đau lắm. Cái tát đầu tiên, cái tát duy nhất mấy chục năm trong đời, tới bây giờ chị mới thấm thía. Người đàn bà, có khi phải biết quên mình đi, để yêu thương dành cho con, em à...
 
Ngày cưới tôi cũng là ngày chị về hẳn Việt Nam. Người đàn bà ngông trong chị đã sợ những ngày lang bạt, dằn vặt và cô độc trên mảnh đất Bạch dương tuyết lạnh ấy. Chị chỉ thèm một chút nắng trời, khí trời ở quê, nhìn những luống rau mẹ chăm và quét nhà thay mẹ - công việc ấy lúc còn ở nhà chị chán ngấy. Tối qua, khi ngồi bên khung cửa sổ ngòn ngọt màu trăng khuya, chị kể tôi nghe nốt câu chuyện xa xứ của chị. Gần như chỉ một mình chị độc thoại. Là em gái, tôi chẳng thể trách, cũng chẳng biết nói thế nào để sẻ chia.
Ngày mai, chắc chắn chị sẽ đối diện với anh Lâm và cu Bin khi chiều nay, anh hứa sẽ đưa đến tặng tôi ổ bánh cưới thật to, thật đẹp...




Đăng nhập để trả lời
0