Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hoa Mẫu Đơn Trắng _ Nhiều tác giả

2 trả lời, 9 lượt xem — Trang 1 / 1
Bông mẫu đơn màu trắng
 Nhiều tác giả
 Trần Hoài Dương tuyển chọn
 Quế Phương minh họa. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2013.
 (Tuyển truyện hay dành cho tuổi chớm yêu).
 
1. Truyện ngắn. 2. Văn học -- Sưu tầm. I. Trần Hoài Dưong. 1. Short stories. 2. Literature -- Collections.
 
Nhiều tác giả
Trần Hoài Dương tuyển chọn
 
 
 
Lời giới thiệu
 
Giữa thị trường sách báo vô cùng phong phú, đa dạng hiện nay, sách tốt, sách hay có nhiều mà sách chưa tốt, chưa hay cũng không hiếm. Cái thật cái giả lẫn lộn, bạn đọc, nhất là bạn đọc ở tuổi dậy thì, khó mà phân biệt để chọn ra được một cuốn sách hay, hữu ích giữa cả một rừng sách bạt ngàn.
Để giúp cho các em ở tuổi dậy thì có được những tác phẩm hay, mang tính giáo dục cao, đồng thời có chất văn học đích thực, Nhà xuất bản Trẻ chủ trương cho ra bộ sách “Tuyển truyện hay dành cho tuổi chớm yêu” do một số nhà văn có uy tín chọn lựa.
Với tiêu chí đó, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc 2 tập đầu tiên do cố nhà văn Trần Hoài Dương tuyển chọn. Hy vọng 2 cuốn sách này sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu đọc ngày càng nhiều và đòi hỏi chất lượng văn học ngày càng cao của bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc ở tuổi dậy thì.
 
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
 
&&&
 
 
 
Lời nhà xuất bản.
 
Kính thưa các nhà văn, các dịch giả có tác phẩm in trong bộ “Tuyển truyện hay dành cho tuổi chớm yêu” và “Truyện chọn lọc dành cho nhi đồng” của NXB Trẻ.
Năm 2007, nhà văn Trần Hoài Dương với tấm lòng yêu quý thiếu nhi - đã bàn bạc với NXB Trẻ về ý định tuyển chọn các tác phẩm văn học có giá trị đích thực để in trong hai bộ sách trên.
Bằng tài năng và tâm huyết, nhà văn Hoài Dương đã tập hợp các tác phẩm trong và ngoài nước mà theo ông sẽ trường tồn mãi với thời gian . Do việc tìm kiếm, sưu tầm rất mất thời gian và công sức, mãi tới năm 2009 hai bộ truyện đồ sộ mới làm xong. NXB Trẻ chưa kịp in thì năm 2011 nhà văn Trần Hoài Dương đột ngột qua đời. Nhà văn Trần Hoài Dương vốn là người quảng giao, biết rõ địa chỉ, số điện thoại của từng nhà văn, dịch giả nổi tiếng khắp cả nước, việc ông liên hệ và xin phép các nhà văn, các dịch giả cho phép sử dụng tác phẩm để in trong hai bộ sách nầy rất thuận lợi.
Sau hai năm phân vân về nghĩa vụ tác quyền của NXB Trẻ với các tác giả trong hai bộ văn tuyển này, vì chưa thể liên lạc được tất cả các tác giả. Nhưng hiện nay, các em thiếu nhi của chúng ta đang rất thiếu những tác phẩm hay dành cho lứa tuổi dậy thì và cho lứa tuổi nhi đồng. Mặt khác còn hai bộ sách đồ sộ mà cố nhà văn Trần Hoài Dương đã dày công tuyển chọn, Ban Giám đốc NXB Trẻ quyết định xuất bản hai bộ sách nầy với nguyên tắc: tôn trọng quyền tác giả của các nhà văn, các dịch giả. Chúng tôi xin phép các nhà văn (thân nhân các cố nhà văn) và các dịch giả (thân nhân các cố dịch giả) cho chúng tôi được sử dụng các tác phẩm được tuyển chọn và vui lòng báo cho chúng tôi biết địa chỉ để chúng tôi gởi sách biếu và nhuận bút cho quý vị.
Tất cả vì đàn em thân yêu, NXB Trẻ xin bày tỏ lòng tri ơn và chân thành cám ơn các nhà văn, các dịch giả có tác phẩm in trong hai bộ sách “Tuyển truyện hay dành cho tuổi chớm yêu” và “Truyện chọn lọc dành cho nhi đồng” này. Trong quá trình xuất bản, chúng tôi có sơ sót gì, rất mong quý vị niệm tình tha thứ.
Trân trọng
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
PHAN THỊ VÀNG ANH
 
Khi Người Ta Trẻ
 
1
Giỗ cô tôi vào khoảng tháng sáu âm lịch. Tôi không nhớ rõ ngày, chỉ biết trong cái tháng âm ấy, vào gần những ngày tang tóc ấy, bà tôi như một người khác, lờ đờ, uất ức, lẫn lộn...
Cô tự tử bằng thuốc ngủ. Không ai cứu được vì cô là sinh viên y và lại hay đọc tiểu thuyết, nên cô dùng thuốc với liều chết thật chắc chắn, ở một nơi không ai
 có thể can thiệp được. Còn lại mình bà sống trong căn nhà rộng, hằng ngày đốt nhang cho hai bàn thờ của ông và của cô.
Ba tôi bảo với mẹ: “Để con Hoàn về với bà”. Mẹ tôi không vui nhưng biết sao! Công việc hằng ngày của tôi là đi học, đi chợ, làm vài việc vặt. Bà tôi nấu ăn, nuôi gà, tưới phong lan và gắng giữ sao cho cả một ngày dài lúc nào hương cũng lập loè trên hai bàn thờ.
 
 
2
 
Cô là một người đầy mâu thuẫn, ngông nghênh mà lại sợ dư luận; ăn nói ác độc, kiêu căng mà lại rất tự ti, chơi rất nhiều mà học cũng rất nhiều. Cô nhiều bạn nhưng chỉ thích tiếp bạn ngoài quán cà phê; là một người không bao giờ làm được việc gì đến nơi đến chốn, trong ngăn kéo còn lại vô số những bản tự cam kết: Sẽ không... Nếu không... Trong tủ đầy những mảnh vải thêu cắt dở dang, những cuốn tiểu thuyết gập góc ở những trang gần cuối. Thích đấy rồi chán đấy, cô làm khối kẻ điên tiết...
 
3
 
Rồi cô cũng dừng chân lại. Người cô yêu (hơn là người yêu cô) cả tính tình lẫn dáng vẻ đều còn rất trẻ con. Tôi gọi Vỹ bằng thằng vì nó bằng tuổi tôi, nghĩa là thua cô hai tuổi. Sau lưng, cô cũng gọi nó là thằng - thằng Vỹ. Hẹn, nó không đến, cô chửi: “Đồ khốn nạn!”. Nó đến, cô lại ngỏn ngoẻn đi chơi, không hề dám giận. Mười một giờ đêm cô về, có bữa vui vẻ kể đủ chuyện, có bữa lặng lẽ lên giường ngủ thẳng. Bố tôi bảo: ‘‘Coi chừng!”. Bà tôi chỉ cười: “Nói thì nó làm ngược lại. Thôi kệ!”.
 
 
4
 
Kệ! Cô tôi vẫn đi đi về về cùng Vỹ dù rằng anh “công tử Bạc Liêu” này đã có một kẻ già nhân ngãi, non vợ chồng dưới Long Xuyên. Hằng tháng, từ Sài Gòn, anh chàng phóng như bay trên cái xe đẹp nhất trường về tỉnh, mặc kệ điểm danh thực tập, mặc kệ những buổi học giảng đường, mặc kệ cô tôi ở lại trơ vơ tráo váo. Dăm bữa sau anh chàng lên lại với tiền đầy túi không rõ từ đâu, với những bộ quần áo thật model. Cô hỏi: “Về làm gì?” “Hết tiền!”. “Có gặp Ngân không? Vui không?”. “Không, chán rồi! Nó cà chớn lắm!”. Cô tôi tự lừa mình mà vui được ít ngày, để rồi sau đó tự an ủi: “Nó còn nói thật là còn yêu!”. Khi Vỹ nhịn không được, liền kể cho cô nghe về một căn nhà ở dưới đó, trong một đường hẻm có bán cơm tấm thật ngon, Ngân và Vỹ nằm dài tán dóc. “Mệt lắm, chẳng muốn tí nào!”. Cái câu than thở này thật chẳng thích hợp tí nào với khuôn mặt rạng rỡ của Vỹ.
Mẹ tôi hỏi: “Sao em có thể chịu đựng được cảnh một gà hai mề thế hả Xuyên?”. Cô ngồi băm thịt như chém vào mặt thớt, cười nhạt: “Nó có phải chồng em đâu, chơi cho vui vậy thôi. Đi với ai cũng được, ngủ với ai cũng được, em không quan tâm!”. Mẹ tôi lí nhí: “Đừng có đùa, em! Rồi khó dứt ra lắm!”.
Khó dứt thật, cô tôi ngày ấy thật khó trở lại với những quán cà phê khiêm tốn, với những buổi đi chơi “chay” ít xu. Thế giới sách vở của cô thu lại bé tí, cô làm những bài thơ tình quanh quẩn chẳng ai thèm đăng, cô viết những trang nhật ký u uẩn chỉ ba nhân vật: cô, Vỹ, Ngân. Cô không dám đề nghị một sự chọn lựa thẳng thừng ở Vỹ, sợ rồi Vỹ sẽ thẳng thừng chọn Ngân khi bị dồn vào chân tường.
 
 
5 
 
Hồi ấy, tôi hay sang chơi với bà, phụ bà hái xoài, vú sữa, thông ống máng hay xách nước khi cúp điện... là những công việc không bao giờ cô làm. Cô ngồi ở cái bàn gần cửa sổ có cây hồng xiêm thò cành lá vào, vui thì ra chơi với hai bà cháu, buồn thì mở nhạc, ngồi viết nhật ký, thư từ, ai đụng đến cũng quạu quọ. Bà bảo tính cô thất thường như ông. Có điều ông không mê chơi, phù phiếm như cô. Bà bảo cô dễ tủi thân, buồn bã nhưng uất quá đến nỗi không khóc được, mặt chỉ lì ra, u ám. Tôi đã từng chứng kiến và hoảng hồn trước bộ mặt này khi cô đợi Vỹ trễ hẹn. Nó dữ tợn và tang tóc. Tôi kể lại, mẹ tôi bảo: “Mày chỉ khéo tưởng tượng!”.
 
 
 
6 
 
Bạn bè xa cô dần. Những anh học trò nghèo hiền lành. Những anh văn nghệ sĩ nửa mùa đang say sưa với cái nghèo tài tử chợt giật mình khi thấy cô đánh đổi tất cả để đến với Vỹ. Họ phân tích bằng cách này hay cách khác, xa hay gần, cho cô thấy rằng Vỹ chỉ là “thằng Vỹ” mà thôi. Một thằng Vỹ ít nói vì không biết gì để nói, một thằng nhà giàu ích kỷ, chơi bời và tàn bạo. Mặc kệ, cô gọi những cái ấy là đàn ông, là amateur. Cứ như vậy, giảng đường trở nên xa lạ đối với cô và Vỹ. Cúp học liên miên. Thi lại cũng liên miên. Trong ngăn tủ lại thêm rất nhiều những mẩu giấy kể từ mai phải học, phải... nếu không... 
 
 
7
 
... Rồi những tháng hè đến. Cậu Vỹ thì biến đâu mất. Cô tôi càng lầm lì, bỏ cà phê, ca nhạc... Hằng ngày cô vẫn ngồi bên cái bàn cạnh cây hồng xiêm, học bài và viết những trang giấy bé như bàn tay. Bà hỏi:
 “Con chưa nghỉ hè à?”
 “Thi lại!”.
 Đây là chuyện cơm bữa, bà tôi cũng chẳng nói gì, lại nhờ tôi làm giúp các việc vặt để cho cô nấu sử sôi kinh.
Sinh nhật cô, không mưa sụt sùi, không nắng chói chang nhưng cũng chẳng ma nào đến ngoài hai bạn gái cùng lớp khệ nệ mang đến một bó hoa với vài cục xà bông. Cô tôi cắm hoa vào cái ly cũ không cần sửa sang, rồi đặt vào một góc bàn. Ngày ấy, tôi mang quà của bố mẹ tôi sang và nấu cho cô nồi chè. Cô nằm trong màn không thức, không ngủ. Tôi hỏi: “Cô đi uống cà phê với cháu không?”.
Cô bật dậy ngay:
 “Đi, ở nhà mệt quá!”.
Tôi dẫn cô ra quán cà phê Phi Vân là nơi tôi hay uống. Cô ngơ ngáo nhìn đường mới, nhìn xe qua lại, không nói năng gì. Rồi cô hỏi:
 “Hoàn, cháu có bồ chưa?”
 “Bạn thôi cô!”.
 Tôi hạnh phúc và ngượng ngùng khi cô hỏi đến “người” của tôi. Cô hỏi:
 “Làm gì? Có tốt không?”
 “Học cùng với cháu. Hiền lắm, nông dân lắm, tốt lắm!”.
Cô cau mày:
 “Nông dân lắm là sao?”
 “Là thật lắm, cháu đùa sao cũng tin là thật!”.
 Cô cười một cái cười xanh xao, đôi mắt u ám chợt trở nên buồn và trong veo kỳ lạ. Tôi “lịch sự” hỏi lại:
“Tối chú Vỹ mới đến hả cô?” Cô sa sầm:
 “Không, chẳng ai đến cả. Cô bây giờ ít bạn lắm rồi!”.
 Ít bạn lắm rồi, có thế, vào cái ngày này tôi mới được ngồi với cô ở đây chứ!
 
 
8
 
Bà tôi nhớ lại, trước khi chết vài ngày, cô vui vẻ lại, đi uống cà phê, mua quà bánh, chở bà đi chơi lung tung: “Con thi xong hết rồi!”. Rồi như các tiểu thuyết vẫn có mà chẳng ai ngờ, cô xin đi Long Hải hai ngày. Để ít ngày sau, bà tôi nhận xác cô từ một khách sạn ở Vũng Tàu. Không một cái thư tạ lỗi như người ta hay làm, không trách móc ai, bên cạnh cũng không có ảnh của ai, chữ của ai. Chỉ có cô và vỉ thuốc trống rỗng.
 
Bà tôi mặc cho cô cái áo màu rêu cô hay mặc, cái quần thùng thình cô hay diện đi chơi, chải cho cô cái đầu bụi đời. Cô Út đã cho bà một đòn nặng. Cô đi không để lại lý do làm cho mọi người đâm áy náy, mọi người đều kiểm tra lại xem đã có chuyện gì để cô tôi - cái người hay hờn dỗi ấy - tủi thân không?
Đám tang cô không có “chú Vỹ”. Nghe đâu “chú” đi Quy Nhơn chưa về. Ở ngoài ấy, tôi chỉ mong sao sóng cuốn phăng nó đi!
 
 
9 
 
... Hai năm rồi, chẳng còn ai nhớ về cô rõ ràng nữa, ngoài bà. Nếu biết ra điều này hẳn cô đã chẳng tự tử làm gì cho mất công! Bố tôi kết luận: “Con điên! Điên như nó không chết trước cũng chết sau!”. Mẹ tôi bảo: “Chắc có gì với thằng Vỹ rồi!”. Có hay không, chẳng ai biết được. Nhật ký cô để lại không ghi cái gì cụ thể, chỉ thấy u ám. Mưa hay nắng cũng u ám, đi chơi cũng u ám, đi học cũng u ám. Cái gì cũng có vẻ như không lối thoát. Đến nỗi đọc xong, tôi có cảm giác: “Chết đi là vừa!”. Với cái đầu tò mò và ấm ớ, tôi thử làm một bản tổng kết và qui ra rằng cô đã đổi tất cả để rồi Vỹ ta cao chạy xa bay; rằng cô đã không chịu nổi cảm giác ở lại thêm một năm học để bị bạn cười thương hại. Mẹ tôi lại bảo: “Vớ vẩn, có đáng gì đâu”. Có đáng gì đâu?
Đáng lắm chứ. Tôi bám vào cánh cửa, ngoài vườn mưa như giông. Nếu mẹ tôi hiểu, ở cái tuổi này người ta điên đến mức nào, ngông cuồng đến mức nào và cần có bạn bè để an ủi biết bao nhiêu, người ta lại thích trả thù nữa chứ! Khi chết, hẳn cô đã tưởng tượng ra mọi người khóc lóc, Vỹ hoảng sợ, hối hận, ôm lấy quan tài như muốn xuống mồ theo... Than ôi, ngày đám tang cô, Vỹ ta tắm biển. Vui lắm và nắng lắm!
 
 
 
 
 
 
&&&&
 


 
 
 
 
 
Lời
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Lẵng quả thông 
 
K.PAUXTÔPXKI (NGA)
 
Mùa thu, nhà soạn nhạc Eđua Grig thường về ở trong những khu rừng gần thành phố Berghen.
Mọi khu rừng đều đẹp với bầu không khí phảng phất mùi nấm, với tiếng lá rì rào. Nhưng những khu rừng trên núi và gần biển mới thực là đẹp. Ở đó ta nghe rõ cả tiếng sóng vỗ bờ. Sương mù từ biển cả thường xuyên tràn vào và vì khí ẩm quá nhiều nên rêu mọc rậm rịt. Rêu từ trên cành cây xõa dài xuống mặt đất như những mớ tóc xanh.
Ngoài những thứ đó ra, trong những khu rừng trên núi còn trú ngụ một tiếng vang vui tính. Giống như một con khướu, nó chỉ làm độc một việc là rình mò để chộp lấy bất kỳ tiếng động nào để rồi liệng lại qua những vách đá.
Một hôm Grig bắt gặp trong rừng một em bé có đôi bím tóc nhỏ xíu, con ông gác rừng. Em bé đang nhặt những quả thông bỏ vào lẵng.
Trời đang thu. Nếu như ta có thể lấy hết đồng và vàng trên trái đất đánh thành muôn vàn lá cây rất mực tinh xảo thì những chiếc lá đó cũng chỉ có thể làm thành một phần rất nhỏ bộ quần áo mùa thu đang trải trên những ngọn núi kia mà thôi. Vả lại, những chiếc lá nhân tạo nọ sẽ rất thô kệch so với lá thật, nhất là những lá liễu hoàn diệp. Mọi người đều biết rằng chỉ cần một tiếng chim hót thôi cũng đã đủ làm chúng run rẩy.
-     Cháu tên là gì nào ? - Grig hỏi.
-     Cháu là Dani Pederxen. - Em bé lí nhí trả lời.
Em bé trả lời lí nhí không phải vì sợ, mà vì bối rối. Nó sợ sao được khi cặp mắt của Grig đang cười.
-     Rõ tiếc... - Grig nói - Bác chả có quà gì cho cháu cả. Trong túi bác chả có búp bê, chả có băng, đến cả những con thỏ nhung cũng không có nốt.
-     Cháu có con búp bê cũ của mẹ cháu, - em bé trả lời, - trước kia nó cũng biết nhắm mắt cơ bác ạ. Như thế này này.
Em bé từ từ nhắm mắt lại. Khi nó mở mắt ra, Grig nhận thấy con ngươi của nó có màu xanh nhạt và vòm lá rừng lấp lánh trong mắt nó như những đốm lửa nhỏ.
-     Nhưng bây giờ thì nó ngủ mở mắt, - em bé buồn rầu nói tiếp, - người già hay khó ngủ lắm. Ông cháu cũng vậy, cứ kêu rên cả đêm.
-     Dani này, bác nghĩ ra rồi, - Grig nói, - bác sẽ tặng cháu một món quà thú vị. Nhưng không phải ngay bây giờ, mà độ mười năm nữa.
Dani đập hai tay vào nhau:
- Ôi, thế thì lâu quá!
- Cháu hiểu không, bác còn phải làm ra nó đã chứ.
- Nhưng nó là cái gì kia, bác ?
- Sau này cháu sẽ biết.
-     Chả lẽ suốt đời bác, bác chỉ làm được có dăm sáu thứ đồ chơi thôi hay sao ? - Em bé nghiêm nghị hỏi.
Grig bối rối:
-     Không, không phải thế đâu. - Ông bác lại vẻ không quả quyết - Có thể bác sẽ làm xong vật ấy trong vài ngày. Nhưng những thứ đó người ta không cho trẻ con. Bác thường chỉ làm ra những món quà cho người lớn.
- Cháu sẽ không đánh vỡ đâu mà. - Dani năn nỉ và nắm tay áo ông kéo lại -Mà cháu cũng chẳng làm hỏng đâu. Đấy, rồi bác xem! Ông cháu có một chiếc thuyền thủy tinh bé tí tẹo. Cháu vẫn lau bụi cho nó đấy nhưng cháu có bao giờ làm sứt nó tí nào đâu.
“Con bé Dani này làm mình rối tinh lên rồi”. - Grig bực bội nghĩ thầm và rồi ông lặp lại những điều mà người lớn thường nói với trẻ con khi lâm vào thế bí.
-     Cháu hãy còn bé và có nhiều điều cháu không hiểu. Hãy học tập tính kiên nhẫn. Còn bây giờ cháu đưa cái lẵng đây cho bác. Cháu ì ạch mãi mới mang nổi nó kia kìa. Bác sẽ đưa cháu về nhà và chúng ta sẽ nói về một chuyện gì khác.
Dani thở dài và đưa cái lẵng cho Grig. Cái lẵng quả là khá nặng. Trong quả thông có nhiều nhựa, vì thế nó nặng hơn quả tùng bách.
Khi nhà người gác rừng hiện ra giữa đám cây, Grig bảo cô bé:
-     Thôi, Dani này, bây giờ cháu chạy về một mình nhé. Ở Na Uy có rất nhiều em bé gái trùng tên trùng họ với cháu. Bố cháu tên là gì nhỉ?
-     Hagrup ạ .- Dani trả lời và hỏi tiếp, vầng trán nhăn lại - Bác không vào chơi nhà cháu ư? Nhà cháu có chiếc khăn trải bàn thêu này, có con mèo hung này, lại có chiếc thuyền bằng thủy tinh nữa. Ông cháu sẽ cho phép bác cầm xem đấy.
-     Cảm ơn cháu. Bây giờ bác vội. Chào cháu, Dani ạ.
Grig vuốt tóc em bé rồi đi về phía bờ biển. Dani chau mày trông theo. Em xách cái lẵng nghiêng về một bên và những quả thông rơi xuống đất.
“Ta sẽ làm một bản nhạc, - Grig quyết định, - và trên trang bìa ta sẽ cho in:
“TặngDani Pederxen, con gái người gác rừng Hagrup Pederxen, khi cô mười tám tuổi”.
Ở Berghen không có gì thay đổi.
Tất cả những gì có thể làm cho âm thanh bị nuốt đi như thảm, rèm cửa bằng vải dày, giường, ghế, đệm, Grig đã loại ra khỏi nhà từ lâu. Chỉ còn lại chiếc đi văng cũ kỹ đủ chỗ cho một người khách ngồi là Grig vẫn chưa dám bỏ đi nốt.
Các bạn của nhà soạn nhạc nói rằng nhà của ông giống nơi ở của một tiều phu. Chỉ có mỗi chiếc dương cầm là vật trang sức cho ngôi nhà. Người giàu tưởng tượng có thể nghe thấy giữa những bức tường trắng ở đây nhiều điều kỳ diệu, từ tiếng gầm thét của Bắc Băng Dương - cái đại dương đang dồn sóng ra từ cõi mịt mù sương gió, nơi gió rú rít kể câu chuyện cổ xưa rùng rợn - cho đến bài hát của bé gái ru con búp bê vải.
Chiếc dương cầm có thể ca về tất cả: về tâm hồn con người đang vươn tới cái cao cả, và về tình yêu. Những phím đàn đen trắng lướt nhanh dưới những ngón tay chắc nịch của Grig, lúc buồn bã, lúc vui cười, lúc lại réo lên giông tố và căm thù rồi bất thần lặng hẳn đi.
Trong phút lặng lẽ ấy chỉ còn một dây đàn nhỏ bé là còn rung mãi như thể nàng Lọ Lem bị các chị mắng mỏ đang khóc.
Grig ngả người ra, lắng nghe cho đến khi cái âm thanh cuối cùng ấy tắt hẳn ở trong bếp, nơi chú dế mèn đã đến trú ngụ từ lâu.
Đến lúc ấy mới nghe rõ tiếng vòi nước nhỏ giọt, đếm từng giây, hệt như máy đo tiết điệu. Những giọt nước nhấn mạnh rằng thời gian không chờ đợi ai và cần phải hối hả làm cho xong những điều dự định.
Grig viết bản nhạc tặng Dani Pederxen trong hơn một tháng.
Mùa đông bắt đầu. Sương mù phủ kín thành phố. Những con tàu han rỉ từ nhiều nước kéo đến gà gật bên bến cảng lát gỗ, khe khẽ phì phò hơi nước.
Chẳng bao lâu tuyết bắt đầu rơi. Grig nhìn qua cửa sổ thấy những bông tuyết bay chênh chếch, cố bám lấy ngọn cây. Tất nhiên, không thể truyền đạt âm nhạc bằng lời, dù cho ngôn ngữ của chúng ta có phong phú đến thế nào chăng nữa.
Grig viết về cái đẹp vô cùng của thời con gái và của hạnh phúc.
Ông viết và thấy cô gái có đôi mắt xanh sáng ngời nghẹn ngào vì sung sướng, đang chạy đến với ông. Cô gái vòng tay ôm lấy cổ ông, áp bên má nóng bừng của cô vào cái má đầy râu bạc lâu ngày không cạo của ông. “Cảm ơn bác.” - Cô nói trong lúc chính cô cũng chưa biết cô cảm ơn ông vì lẽ gì.
“Cháu như mặt trời, - Grig nói với cô, - như làn gió êm dịu, như buổi sáng tươi mát. Một bông hoa trắng ngần đã bừng nở trong lòng cháu và làm tràn ngập tâm hồn cháu hương ngát mùa xuân. Ta rất hiểu cuộc đời. Cháu ạ, dù người ta có nói với cháu những gì đi nữa thì cháu hãy cứ tin rằng cuộc đời thật là kỳ diệu và tuyệt đẹp. Ta già rồi, nhưng ta đã hiến cả cuộc đời ta, sự nghiệp và tài năng của ta cho tuổi trẻ. Hiến tất cả mà không đòi hỏi trả lại. Vì thế có thể, ta còn hạnh phúc hơn cả cháu nữa kia, Dani ạ!
Cháu là đêm trắng với ánh sáng huyền ảo. Cháu là hạnh phúc, là ánh bình minh. Cháu cất tiếng là bao con tim rung động.
Cầu chúa ban phước lành cho mọi vật bao quanh cháu, cho tất cả những gì chạm tới người cháu và những gì cháu chạm tới, những gì làm cháu vui sướng và bắt cháu phải trầm ngâm suy nghĩ”.
Grig nghĩ vậy và gửi vào phím đàn những gì ông suy nghĩ. Ông ngờ rằng có ai đó nghe trộm ông. Ông còn đoán được ai đang nghe trộm nữa. Đó là đàn sơn tước trên cành, đám thủy thủ ngoài cảng quá chén đang lang thang, chị thợ giặt bên hàng xóm, chú dế mèn, những bông tuyết từ trên bầu trời trĩu nặng kia rơi xuống và nàng Lọ Lem trong bộ quần áo vá chằng vá đụp.
Mỗi người và vật nghe ông theo một cách.
Những con sơn tước xốn xang. Nhưng dù chúng có loay hoay thế nào mặc lòng, sự huyên náo của chúng cũng không thể át nổi tiếng đàn. Những tay thủy thủ quá chén ngồi xuống bậc thềm nhà ông, vừa nghe vừa nức nở. Chị thợ giặt đứng thẳng lên, lấy lòng bàn tay lau cặp mắt đỏ hoe và lắc đầu. Chú dế mèn chui ra khỏi kẽ nứt của chiếc lò sưởi lát gạch sứ va nhòm Grig qua một khe hở. Những bông tuyết rơi, ngập ngừng, lơ lửng giữa từng không, lắng nghe suối đàn từ trong nhà vọng ra. Còn Lọ Lem thì mỉm cười nhìn xuống sàn. Một đôi giày xinh xắn bằng pha lê nằm bên chân cô. Đôi giày run rẩy, va vào nhau, hòa nhịp với tiếng đàn ngân vang trong phòng nhà soạn nhạc.
Grig quý những thính giả ấy hơn các vị sang trọng và lịch sự vẫn thường tới dự những buổi hòa nhạc của ông.
Năm mười tám tuổi Dani học hết trung học.
Nhân dịp này cha nàng cho nàng về Crixtania chơi ít lâu với bà Magda, em gái ông. “Cho con bé (cha nàng vẫn coi nàng là con bé, mặc dầu Dani đã là một cô gái có thân hình cân đối với đôi bím tóc vàng nặng trĩu) biết cái thế giới này nó ra sao, người ta sống thế nào, và cho nó giải trí một chút”.
Ai biết được rồi đây tương lai sẽ dành cho Dani những gì? Có thể, một người chồng chân thật và yêu nàng nhưng lại đáng ngán và keo kiệt chăng ? Hay một việc làm ở quầy tạp hóa trong làng? Hoặc phục dịch tại một trong vô vàn hãng tàu biển ở Berghen?
Bà Magda làm thợ may trong một nhà hát. Chồng bà, ông Ninx cũng làm nghề tết râu tóc giả trong nhà hát ấy. Họ ở trong một phòng nhỏ ngay dưới mái nhà hát. Từ đấy trông thấy biển sặc sỡ những lá cờ hiệu hàng hải và tượng đài Ipxen[2 ].
Những con tàu suốt ngày cứ chõ vào các cửa sổ bỏ ngỏ mà la hét. Ông Ninx đã nghiên cứu những tiếng kêu la của chúng kỹ đến nỗi, theo ông nói, ông biết chắc chắn tàu nào đang kéo còi: “Nodernei” từ Copenhaghen, “Người ca sĩ xứ Ecotx” từ Glazgo hay “Gianda” từ Bordeaux đến.
Trong phòng bà Magda có rất nhiều vật dụng của nhà hát: gấm, lụa, tuyn, băng, đồ ren, mũ dạ thời xưa gắn lông đà điểu đen, khăn san của người Zigan, tóc giả bạc trắng, ủng cổ loe gắn cựa bằng đồng, các loại gươm, quạt và những đôi giày dát bạc đã sờn ở những nếp gấp. Tất cả những thứ đó phải được vá víu sửa chữa, lau chùi và là phẳng.
Trên tường treo những tranh nhỏ cắt ra từ sách báo: kỵ sỹ thời vua Louis XIV, mỹ nhân vận váy bông, hiệp sĩ, phụ nữ Nga trong bộ xaraphan, những tay thủy thủ và bọn hải tặc Viking1 trên đầu mang những vòng lá sồi.
Muốn lên phòng phải leo một cái thang dựng đứng, ở đấy thường phảng phất mùi sơn và mùi vecni bốc lên từ lớp vàng mạ.
 
&&&
 
Dani hay đi xem kịch. Đó là một việc thú vị. Nhưng sau những buổi xem kịch ấy, Dani thường thao thức mãi không ngủ được và đôi khi lại cứ nằm trên giường mà khóc.
Bà Magda lấy thế làm lo lắng và thường an ủi Dani. Bà nói rằng không nên mù quáng tin những gì diễn ra trên sân khấu. Nhưng ông Ninx thì vì thế lại gọi bà là “mụ nái sề” và nói rằng, ngược lại, nên tin mọi điều ở nhà hát. Nếu không thì người ta chẳng cần đến nhà hát nào nữa. Thế là Dani tin.
Tuy vậy bà Magda vẫn cứ nhất định đòi đi nghe hòa nhạc để đổi món.
Ông Ninx không phản đối ý kiến ấy. “Âm nhạc, - ông nói, - đó là gương mặt của thiên tài”.
Ông Ninx thích dùng những danh từ cao siêu và mơ hồ. Ông bảo Dani giống như hợp âm đầu tiên của một tự khúc. Còn bà Magda thì, theo lời ông, lại có một quyền lực siêu phàm đối với mọi người. Quyền lực đó là ở chỗ bà may trang phục sân khấu. Mà ai chẳng biết rằng con người cứ mỗi lần mặc bộ đồ mới là biến đổi hẳn. Thành thử vẫn một anh diễn viên hôm qua là tên giết người bỉ ổi, hôm nay đã trở thành chàng nhân tình say đắm, ngày mai là anh hề của nhà vua, còn ngày kia lại thành vị anh hùng dân tộc.
Trong những trường hợp đó bà Magda thường kêu lên:
- Dani! Cháu hãy bịt tai lại, đừng nghe những lời ba hoa gớm ghiếc của chú ấy làm gì! Chú ấy chả biết chú ấy nói gì đâu, lão triết gia kiết xác ấy.
Khi ấy là tháng sáu, trời ấm. Đang hồi những đêm trắng. Những buổi hòa nhạc tổ chức ngoài trời, tại công viên thành phố.
Dani đi nghe hòa nhạc cùng cô Magda và chú Ninx. Nàng muốn mặc chiếc áo dài trắng độc nhất của mình, nhưng chú Ninx bảo rằng người con gái đẹp phải biết ăn mặc sao cho nổi bật lên giữa môi trường chung quanh. Nói chung, bài diễn văn dài dòng của ông về chuyện đó có thể tóm tắt lại là trong những đêm trắng nhất thiết phải mặc đồ đen và ngược lại, lúc tối trời nên diện bộ áo trắng.
Không thể nào cãi lại ông Ninx, nên Dani mặc chiếc áo dài nhung đen, tuyết rất mịn. Bà Magda đã mượn trong kho phục trang cho nàng chiếc áo đó.
Khi Dani đã mặc xong, bà Magda phải chịu là ông Ninx có lý: không gì có thể tôn nước da mai mái nghiêm nghị trên gương mặt và đôi bím tóc dài lấp lánh vàng mười của nàng bằng thứ nhung huyền bí ấy.
-     Này Magda, mình trông mà xem, - chú Ninx nói khẽ, - con Dani đẹp như thể nó đi gặp người yêu trong buổi đầu tiên ấy.
-     Đúng vậy. - Bà Magda trả lời - Thế mà lần hẹn đầu tiên ông đến gặp tôi, tiếc rằng tôi lại chả được thấy ông là một anh chàng điển trai si tình. Ông chỉ là một anh chàng ba hoa.
Và bà Magda đặt một cái hôn lên mái tóc của chồng.
Buổi hòa nhạc bắt đầu sau khi khẩu đại bác ở ngoài cảng nổ phát súng chiều thường lệ. Phát súng báo hiệu mặt trời lặn.
Mặc dầu là buổi tối, cả nhạc trưởng lẫn nhạc công đều không bật những ngọn điện nhỏ trên giá nhạc. Tối hôm đó trời rất sáng nên những cây đèn lồng lấp lánh trong tán cây đoạn hẳn cũng chỉ để tạo cho buổi hòa nhạc một không khí hội hè mà thôi.
Lần đầu tiên Dani được nghe nhạc giao hưởng. Bản nhạc gây cho cô một ấn tượng lạ lùng. Những đoạn luyến láy và rền vang của dàn nhạc gợi lên trong trí cô muôn vàn cảnh lạ giống như giấc mơ.
 
Bỗng Dani giật mình, ngước mắt lên. Nàng có cảm giác như người đàn ông gầy gò mặc áo đuôi tôm đang giới thiệu chương trình biểu diễn vừa gọi đến tên nàng.
-     Chú gọi cháu đấy ư, chú? - Dani nhìn ông Ninx hỏi rồi lập tức cau mặt lại.
Người chú nhìn nàng không ra là kinh hãi mà cũng không ra là thán phục. Và bà Magda áp chiếc khăn vào miệng cũng nhìn Dani hệt như vậy.
- Có chuyện gì xảy ra vậy? - Dani hỏi.
Bà Magda nắm lấy tay nàng và nói khẽ:
- Nghe kìa!
Và Dani nghe thấy người mặc áo đuôi tôm nói:
-     Các vị thính giả mấy hàng ghế cuối cùng yêu cầu tôi nhắc lại. Vậy là dàn nhạc chúng tôi sẽ trình bày hiến quý vị một bản nhạc nổi tiếng của Eduar Grig để tặng Dani Pederxen, con gái ông gác rừng Hagrup Pederxen, nhân dịp cô tròn mười tám tuổi.
Dani hít một hơi dài đến nỗi nàng thấy tức ngực. Nàng muốn lấy hơi thở đó để giữ dòng nước mắt sắp trào ra, nhưng vô hiệu, Dani cúi xuống và giấu mặt trong đôi bàn tay.
Thoạt đầu nàng không nghe thấy gì hết. Một cơn giông đang cuồn cuộn trong lòng nàng. Cuối cùng nàng nghe thấy tiếng tù và mục đồng rúc lên trong buổi sớm tinh sương và dàn nhạc đàn dây khẽ giật mình, đạp lại bằng hàng trăm tiếng hát.
Điệu nhạc tăng dần, cất bổng lên rồi gào thét lướt trên ngọn cây, như một luồng gió rứt lá, thổi rạp cỏ xuống đất, quất vào mặt những tia nước mát rượi. Dani cảm thấy có một luồng không khí do âm nhạc dấy lên phả đến và nàng gắng bình tĩnh lại.
Phải, đó đúng là cánh rừng của nàng, quê hương nàng! Núi đồi của nàng, tiếng tù và, tiếng sóng biển quê nàng.
Những con tàu bằng thủy tinh làm nước sủi bọt. Gió reo cả trên những dây buồm. Từ lúc nào không biết, tiếng reo đó đã chuyển thành tiếng những quả chuông nhỏ trong rừng đổ hồi, tiếng đàn chim ríu rít nhào lộn trên không, tiếng trẻ con hú nhau, tiếng hát về người con gái: lúc bình minh người yêu ném một vốc cát vào cửa sổ phòng nàng. Dani đã nghe bài hát đó trên đồi núi ở quê nhà.
Vậy ra đó chính là bác ấy. Ông già tóc bạc đã giúp cô mang lẵng quả thông về nhà. Đó là Eđua Grig, người có phép thần và là nhạc sĩ vĩ đại! Thế mà nàng đã trách bác ấy không biết cách làm mau chóng.
Thì ra đó chính là món quà mà ông đã hứa cho nàng mười năm sau.
Dani khóc, không giấu giếm những giọt lệ biết ơn. Đến lúc ấy âm nhạc đã tràn ngập khoảng không giữa mặt đất và mây trời giăng mắc trên thành phố. Sóng nhạc du dương làm cho mây gợn lên lăn tăn và những vì sao lung linh lấp lánh.
 
Bản nhạc không phải là hát nữa. Nó kêu gọi. Kêu gọi đi theo nó đến một xứ sở, nơi không đau khổ nào có thể làm nhạt tình yêu, nơi không có ai giành giật hạnh phúc kẻ khác, nơi mặt trời sáng chói như vòng triều thiên trên đầu nàng tiên trong cổ tích.
Trong dòng âm thanh cuồn cuộn ấy bỗng nổi lên giọng nói quen thuộc: “Cháu là hạnh phúc, cháu là ánh bình minh”.
Bản nhạc ngừng bặt. Những tràng vỗ tay lúc đầu còn chầm chậm, sau mỗi lúc một mạnh thêm, vang lên như sấm dậy.
Dani đứng lên và đi nhanh về phía cổng công viên. Mọi người cùng quay đầu lại nhìn nàng. Có thể, có một số người trong đám thính giả đã thoáng nghĩ rằng nàng chính là Dani Pederxen mà Grig đã dành tặng tác phẩm bất tử của ông.
“Bác ấy mất rồi ư? - Dani nghĩ - Vì sao ?”. Giá mà lại
 
 
 
được gặp ông! Giá mà ông có mặt ở đây? Hẳn nàng sẽ chạy ào lại với ông, tim đập rộn ràng, nàng sẽ bá lấy cổ ông, áp bên má đẫm nước mắt vào má ông và chỉ nói một câu: “Cảm ơn bác”. - “Vì lẽ gì cơ chứ?” Hẳn ông sẽ hỏi như thế. “Cháu cũng chả biết nữa... - Hẳn nàng sẽ trả lời - Vì bác đã không quên cháu. Vì lòng hào hiệp của bác. Vì bác đã cho cháu biết cái tuyệt mỹ mà con người phải sống bằng cái tuyệt mỹ ấy”.
Dani đi trên đường phố vắng tanh. Nàng không biết rằng bà Magda đã phái ông Ninx đi theo nàng mà không để nàng trông thấy. Ông đi lảo đảo như người say rượu, miệng lẩm bẩm gì đó về sự thần kỳ xảy ra trong cuộc sống của họ.
Bóng đêm vẫn còn trải trên thành phố. Nhưng trong cửa sổ đã thấy lấp lánh ánh vàng yếu ớt của bình minh phương Bắc.
Dani đi ra bờ biển. Biển vẫn còn ngủ say, không một tiếng sóng vỗ.
Dani nắm chặt hai tay lại và rên lên vì một cảm giác tuy còn mơ hồ đối với nàng, nhưng đã chiếm lĩnh toàn cơ thể nàng - cảm giác về cái đẹp của cuộc đời.
- Cuộc đời ơi, hãy nghe đây! - Dani nói khẽ - Ta yêu Người!
Và nàng cười, mở to mắt nhìn những ngọn đèn trên tàu biển đang chậm rãi lắc lư nơi nước xám trong vắt.
Ông Ninx đứng ở đằng xa nghe thấy tiếng cười đó và quay về nhà. Giờ ông đã yên tâm về Dani. Giờ đây ông hiểu rằng cuộc đời cháu gái ông sẽ không qua đi vô ích.
 
 
1953  
KIM ÂN dịch 
 
 
Chú thích :
1. Nhà văn, nhà viết kịch người Na Uy (1818 - 1906).
2. Chỉ cướp biển, một bộ tộc người Xcandinav, hoành hành ở châu Âu thế kỷ XI-XII.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
ĐOÀN THẠCH BIỀN
 
Tôi thương mà em đâu có hay
 
Bữa ăn được chúng tôi dùng vội vã để còn về nhà trọ nghỉ trưa một giấc ngắn, trước khi đến trường vào lúc một giờ. Tôi sợ nhất những buổi trưa mất ngủ, rồi phải đến trường dạy liên tiếp bốn giờ. Nắng ở đây rất gắt, thêm những ngọn gió thổi hơi nóng từ những bãi cát quanh trường vào lớp học, khiến không khí ngột ngạt đến điên đầu. Những buổi dạy ấy tôi đã phải châm thuốc liên tiếp và nhờ khói thuốc cay xè tôi mới chống được cơn ngủ gục. Nhìn những chiếc miệng xinh xắn của nữ sinh cùng ngáp không che giấu trong khi tôi ê a bình giảng thơ khẩu khí của Lê Thánh Tôn, thú thật đã có lúc tôi muốn nộp đơn xin nghỉ dạy. Cũng may trời không nóng bức suốt niên học còn có những ngày mưa, những buổi sáng lạnh giá. Cũng may những chiếc miệng xinh xắn kia không phải chỉ biết ngáp, mà còn biết nở những nụ cười tuyệt đẹp và cũng may, trong chương trình, ngoài những bài thơ Vịnh Con Cóc, Cái Chổi còn có những bài ca dao, Chinh phụ ngâm...
-               Thôi về chứ, ngồi “thiền” à.
 
Tôi uống vội ngụm trà, lấy theo một cây tăm, rồi nhảy lên xe Vélo để người bạn chở về nhà trọ.
-               Chiều nay đi coi thi không?
-               Có, cho quá giang với.
-               Được rồi.
Khi xe đến gần con ngõ vào nhà trọ, tôi nói cho xuống, vì vào trong đó quay xe ra rất khó. Con ngõ dài hơn trăm thước này đầy cát. Tôi rảo bước cho nhanh để kiếm một giấc ngủ. Vừa đẩy cổng vào, tôi thấy một em nữ sinh đã đứng đợi tôi dưới hiên nhà. Tôi ghét nhất phải tiếp khách vào buổi trưa, nên khi em gật đầu chào thưa thầy, tôi giả lơ hỏi chuyện gì vậy?
-               Thưa thầy, cho em nộp bài thi sáng nay.
-                Trời đất, bài thi mà giờ này cô mới nộp, vậy còn thi cử làm gì.
-                Thưa thầy, buổi sáng em làm bài đến phần kết luận thì hết mực, em phải đợi bãi trường về nhà chép tiếp.
-                Sao cô không mượn bút của các bạn?
-                Dạ trong lớp chỉ có mình em viết mực tím, viết hai màu mực em sợ thầy không chấm bài.
-                Ai bảo cô viết mực tím làm gì cho rắc rối, mà thiếu phần kết luận có chết chóc gì đâu, sao không nộp bài ngay trong lớp.
-                Em sợ thầy cho ít điểm.
-                Cái gì cô cũng sợ, còn nộp bài trễ cô không sợ tôi không nhận sao?
-                Dạ...
Em cúi mặt xuống, tay cuộn tròn tờ giấy thi, rồi bật khóc... Tôi hốt hoảng nói:
-                Thôi chớ, nộp bài trễ rồi còn khóc nữa sao.
-                Tại thầy không nhận bài của em.
-                Đâu dễ dàng như cô nghĩ, xấp bài nộp cho tôi, giám thị đã ghi thiếu bài làm của cô rồi, tôi đâu nhận được nữa. Buổi sáng ai coi thi phòng cô ?
-                Dạ cô Trâm.
-                Bây giờ cô đem bài thi đến xin cô Trâm ký nhận vào phần giám thị, rồi tôi nhận.
-Em nói, chắc cô Trâm không chịu ký, đàn bà con gái với nhau khó thông cảm lắm, em nhờ thầy nói giúp em.
-                Trời đất, bây giờ cô bắt tôi đi năn nỉ người ta!
-               Nếu bài này không được chấm, em bỏ luôn kỳ thi, vì có thi tiếp, cuối năm em cũng bị thi lên lớp.
Cô bé vẫn khóc dai dẳng. Tôi chẳng biết em khóc thật hay giỡn nữa? Thật khó mà biết khi nào con gái khóc thật! Dù sao những giọt lệ của em cũng làm tôi xiêu lòng. Tôi rất dễ xiêu lòng vì những thứ vớ vẩn ấy, có lẽ trái tim tôi làm bằng bột mì. Tôi nói: “Thôi được.”. Cô bé đưa tờ giấy thi, nói cám ơn, rồi chào về. Tôi nói: “Cô về nhanh lên, không tôi bực mình phát khóc bây giờ”. Em bật cười thành tiếng, quay người bước vội ra cổng. Tôi gọi:
-               Này cô.
-               Dạ?
-               Cô lau nước mắt đi, kẻo ra đường người ta lại tưởng tôi vừa đánh cô.
Em lắc đầu đáp:
-               Mặc kệ, ai bảo thầy làm em khóc chi.
Thật chỉ có trời mới biết tại sao con gái cứ thích khoe với người khác rằng mình đã khóc.
Buổi chiều Trâm không coi thi, nên tan trường, tôi phải đem bài của cô bé đến nhà nàng xin chữ ký. Ngôi nhà nằm dưới tàn một cây keo lớn rợp bóng mát. Trâm mời tôi vào phòng khách, hỏi: “Anh đến có chuyện gì vậy?”. Sau khi nghe tôi trình bày câu chuyện, nàng nói:
-               Đối với nữ sinh anh dễ dãi như vậy tụi nó dám qua mặt lắm.
-                Tôi dễ dãi với mọi người, dù có bị thiệt thòi.
-                Trừ Trâm phải không? Trâm không ký vào bài thi đó.
-                Ồ, đừng bắt tôi năn nỉ chớ.
-                Không phải vậy, Trâm chỉ ghét con nhỏ đó, vì tại sao nó không đến nói với Trâm.
-                Cô bé nói đàn bà con gái khó thông cảm với nhau.
-                Con nhỏ thật khôn, nó đã biết có chuyện gì giữa chúng ta và nó muốn lợi dụng anh.
-                Trâm đừng nghĩ vậy, đấy chỉ là một cô bé.
-                Trâm không hiểu anh tin vào sự ngây thơ của nó hay chính anh ngây thơ. Không có nó chắc anh đâu thèm đến đây?
-                Đến chứ, nếu được Trâm mời ăn uống.
-                Anh vẫn xem mọi việc là chuyện đùa?
-                Còn Trâm vẫn xem mọi việc đều quan trọng?
-                Đấy có phải là điều anh ghét Trâm?
 
Tôi chẳng biết trả lời sao những câu hỏi của nàng. Ngày tôi mới đến trường trình diện, được ông hiệu trưởng dẫn vào giới thiệu với các bạn đồng nghiệp ở phòng giáo vụ, tôi đã gặp nàng ngồi một mình ở góc phòng với đôi mắt đen tròn và đầy những dấu hỏi. Nàng không nói một lời khi ông hiệu trưởng giới thiệu nàng với tôi, nhưng tôi đã nghĩ ngay nàng sẽ là một người bạn của mình ở chốn này, vì thường tôi chỉ cảm thấy mình bình an trước những dấu hỏi. Sau đó, dù thường xuyên chúng tôi gặp nhau nhưng vẫn ít trò chuyện, chỉ nhìn nhau cười chào, chúng tôi tin cũng đã hiểu nhau. Nàng có vẻ muốn sống cách biệt với mọi người ở ngay quê hương nàng, ở ngay ngôi trường nhỏ bé này và chính vẻ xa lạ đó trông nàng quyến rũ như một tảng băng ở giữa vùng nắng lửa.
Xứ này tuy nhỏ bé nhưng dư luận lại rộng lớn và ồn ào như sóng biển. Người ta đã đồn tôi và nàng là một đôi tình nhân. Một vài người bạn nói chúng tôi sắp “cộng chỉ số” với nhau và một vài học sinh đã viết tên chúng tôi lên bảng. Thật buồn cười. Lúc đầu tôi cũng sung sướng chút chút với mối tình bỗng dưng có được đó (giống như trúng số đề). Nhưng niềm vui chút chút đó đã qua mau. Tôi như thân cây khô héo, những cơn mưa tình ái cũng chẳng đem lại những cành lá xanh tươi.
Cơn bão tuổi trẻ trong tôi đã tắt, nhìn lại những nơi đã ở, đã đi qua, tôi chỉ thấy những dấu tích đổ vỡ, hư hỏng. Hãy bắt đầu lại đi, cố gắng bắt đầu lại đi. Một điệp khúc nhàm chán luôn luôn quay trong đầu như đĩa nhạc rè. Bắt đầu, bắt đầu nhưng bắt đầu như thế nào khi những ngọn gió còn sót lại trong tôi không đủ làm rung động chính mình. Miền đất này quá hiền hòa, người ở đây quá chân tình, đấy không phải là môi trường để tôi bắt đầu lại những cuộc tình với lừa đảo, gian dối. Đã có biển cả, đã có những cơn gió nồm hung dữ thay tôi khuấy động chốn này.
Những câu hỏi của Trâm, tôi chỉ biết đáp lại bằng sự im lặng, tan loãng vào bóng tối đang òa vỡ dưới chân mỗi người. “Sự im lặng của anh thật tàn nhẫn”. Trâm nói. Nhưng nàng không biết rằng lời nói của tôi - vào lúc này còn hung bạo và thô lỗ hơn nhiều. Hãy chịu đựng một chút đi người bạn gái. Rồi em sẽ quên, rồi em sẽ quên. Bóng tối vẫn hiền hòa hơn ánh sáng vì nó giúp chúng ta không nhìn rõ mặt nhau.
 
Trâm đã hiểu, nàng nói thế, rồi cầm bút ký vào bài thi. Tôi cũng hiểu nàng đã chẳng hiểu gì, nên chỉ biết nói cảm ơn và chúng tôi cùng đứng dậy đi ra khoảng vườn nhỏ trước nhà. Đi ngang cây chùm ruột, tôi không ngăn được đưa tay hái những trái chín vàng mọng. Nàng nói tôi hái cho cô bé à. Tôi cười bỏ một trái vào miệng nhai, chất chua làm tôi nhăn mặt. Tôi nói: “Tôi rất giống trái chùm ruột vì chỉ làm người khác nhăn mặt”. Nàng nói: “Nhưng trái chua rất quyến rũ đàn bà”. Tôi nói: “Như thế thật phiền”, rồi quăng những trái chùm ruột còn lại vào một con rãnh nhỏ bên đường.
Kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt đã qua, tôi phải thức khuya cố chấm bài cho xong, còn lo đi in giai phẩm mùa xuân cho trường. Đây là hoạt động làm tôi thích thú nhất, vì nhờ đó tôi được sống lại chút đam mê tuổi trẻ của mình. Những ngày cùng các bạn hữu ở miền Trung quây quần bên chiếc máy đánh chữ gõ lóc cóc những bài thơ, những bản văn, những dòng chữ mang dự tính mãnh liệt sẽ thay đổi xã hội, thay đổi cá nhân và thay đổi cả những sinh hoạt văn nghệ lúc bấy giờ.
Mang bóng dáng của một nhóm Dada chết yểu, chúng tôi đã làm việc ngày đêm như dã tràng xe cát muốn lấp đầy biển sâu. Những câu thơ kia, bản văn kia, dự tính kia đà tan biến và những người bạn cũng đã mất hút. Trong tôi chỉ còn lại đốm lửa đam mê bập bùng soi sáng khuôn mặt tuổi trẻ của mình. Thật buồn thảm nếu ngọn lửa kia rụi tắt, thật hân hoan nếu ngọn lửa lại được dịp bùng lên.
Tuổi trẻ, tuổi trẻ. Tiếng kêu thảng thốt mất hút trong dòng thời gian nín lặng, nhưng âm ba của tiếng kêu cũng khiến người ta không ngớt réo gọi. Để được gì? Phải chăng chỉ để được biết tuổi trẻ đã qua và người ta không thể cứ tiếp tục sống như thời tuổi trẻ ?
Đọc những bản văn của các em học sinh gởi đến, gạt bỏ những ý tưởng sao chép, trên những dòng chữ thành thật, tôi đã hiểu các em muốn gì và dễ gần gũi với các em hơn. Chính nhờ một bản văn mà tôi biết Tạo, cậu học sinh vẫn lầm lì ít nói trong lớp, nhưng tình yêu của em thật nồng nàn mãnh liệt. Tình yêu đó sẽ cuốn trôi cô bé viết mực tím trong lớp nếu không có sự ngăn cản của học đường, xã hội. Tôi đã gọi Tạo đến giúp tôi trong việc sắp xếp bài vở cho tờ báo và trong hoạt động này em mất hẳn dáng vẻ lừ đừ. Em thức suốt đêm đánh máy những bản thảo để kịp đi kiểm duyệt, em đánh máy liên tiếp đến nỗi tôi không còn sức đọc bài cho em đánh và bên ngọn nến lập lòe, em phải vừa đọc vừa đánh máy một mình. Đã đến hai giờ sáng. Tôi nói: “Thôi nghỉ đi ngày mai tôi còn phải đi dạy, tiếng máy lọc cọc làm tôi không ngủ được”. Em cười nói: “Thầy khó ngủ vậy hèn chi thầy ốm như con dông”.
Nhà chỉ có một chiếc phản nhỏ, Tạo phải trải chiếu ngủ dưới nền xi măng. Ngọn nến đã được thổi tắt, em vẫn chưa chịu vào mùng còn ngồi nấn ná châm thuốc hút. Trong đêm tối, đốm lửa ở môi em rực lên soi rõ một khoảng mặt đang suy nghĩ mông lung: “Thầy ngủ chưa, em muốn tâm sự với thầy một chút. Thầy đừng nói em vô lễ khi em nghĩ thầy không nên dạy học. Không phải em chê thầy bất tài, nhưng thầy nói thật và sống thật nhiều quá. Thầy thiếu khả năng lôi cuốn học sinh tin theo những giáo điều, thầy thật quyến rũ học sinh không tin theo những gì mà mọi người buộc học sinh phải tin. Tại sao thầy cố ý đảo lộn mọi giá trị? Thầy đã nói về tình yêu bất diệt, về hạnh phúc ngọt ngào, nhưng sao thầy còn giúp người nghe hiểu tình yêu chỉ là bọt nước và hạnh phúc kia cũng ẩn mang nhiều nỗi đắng cay. Thầy phá vỡ nhiều ảo tưởng của tuổi trẻ, thầy tin rằng tuổi trẻ không cần bánh vẽ hay sao? Thầy giúp em nâng niu đóa hoa tình ái với cô bé đó, nhưng đồng thời với sự giúp đỡ của thầy em đã tìm ra con sâu nằm giữa đóa hoa. Như vậy, làm sao em có thể sống được, khi hiểu biết quá nhiều sự thật và một đầu óc sáng suốt đã làm em hoảng sợ”.
Giọng em trầm ấm nghe thật êm tai, tuy thèm thuốc hút tôi phải ráng đợi em nói xong mới nhờ lấy giúp một điếu thuốc ở trên bàn. Tôi im lặng hút đến nửa điếu. Tiếng em thúc giục: “Thầy không nói gì sao, thầy phải nói cho em biết rõ đường đi chứ, thầy đã dẫn em đến một ngã ba đường”.
Nào ông thầy giáo, hãy đem giọng đạo đức mà người ta đã huấn luyện cho ông để khuyên nhủ cậu bé đôi lời. Ông đã thấy sự sai lầm của ông chưa? Ông chỉ nên tiếp xúc, giảng dạy học sinh trên cương vị giáo chức, ai bảo ông đem con người thật của ông ra. Ai bảo ông quăng đi những mặt nạ, ông định lên sân khấu với bộ mặt thật trơ trẽn của ông sao. Nào, hãy nói vài lời đi ông giáo. Nói xin lỗi cậu bé, cậu nói đúng và tôi hứa sẽ bỏ nghề dạy học khi có dịp; trong lúc chờ đợi, tôi sẽ cố gắng giảng dạy như mọi ông giáo khác. Những gì tôi đã nói với cậu chỉ là trò đùa. Xiếc chỉ hay khi tạo cho khán giả cảm giác hoảng sợ, cậu đã hoảng sợ, vậy trò đùa của tôi đã thành công. Hãy cho tôi một tràng pháo tay rồi quên đi, cậu bé. Đúng rồi, phải nói hay như vậy đó ông giáo. Đừng nghĩ ngợi nữa, chờ đợi lâu, cậu bé nổi khùng lên bây giờ, nào hãy lên tiếng.
Tôi nói: “Điếu thuốc ngon quá, em đưa giùm tôi một điếu nữa”.
Buổi sáng đến trường, tôi nhận được điện tín từ Sài Gòn đánh ra: “Cần bổ túc hồ sơ lên ngạch gấp”. Tôi vào văn phòng xin phép ông Hiệu trưởng, rồi vội về nhà trọ thu xếp hành lý để còn kịp bắt chuyến xe Nha Trang - Sài Gòn chạy ngang đây vào lúc 9 giờ. Không có thì giờ tìm gặp Tạo, tôi viết vài dòng để trên bàn. Buổi tối khi em đến, em sẽ biết tôi đi đâu và tiếp tục công việc làm báo dưới sự hướng dẫn của thầy Khôi. Tôi cũng viết cho em biết, ánh sáng có làm em chói mắt, nhưng rồi sẽ quen đi. Hãy can đảm bước ra khỏi bóng tối. Tôi chỉ có quyền hướng dẫn em đến ngã ba đường và nhiệm vụ của tôi đến đó là chấm dứt. Hãy thể hiện tuổi trẻ của em bằng sự lựa chọn một hướng đi. Tự Do và Định Mệnh chờ đợi em ở hướng đi đó. Hãy tiếp tục yêu cô bé viết mực tím. Đừng sợ con sâu ở giữa đóa hoa. Dám hay không dám bắt sâu quăng đi, đấy là lúc trái tim đắc thắng hay thất bại.
Phải mất gần một tuần tôi mới làm xong những giấy tờ hành chánh rắc rối. Còn nhiều công việc phải làm ở trường, nên tôi không thể nán lại Sài Gòn thêm vài ngày, dự buổi khai mạc phòng triển lãm tranh của một người bạn và nhất là cùng người em đi xem một phim có Terence Stamp đóng, sắp được chiếu.
Mưa đã rơi trên quận lỵ bé nhỏ. Người tôi lạnh run vì dầm mưa trên quãng đường dài từ bến xe về nhà trọ. Những cơn mưa cuối năm ở đây rất nặng hạt và cùng lúc giá rét đã đến ẩn mình ở những bờ tường ẩm ướt. Có lẽ trời đã mưa liên tiếp hai ba ngày, nên nước ở lòng đường đã dâng ngập vỉa hè và suốt dãy phố các hàng quán đều đóng cửa.
Căn phòng tôi ở đầy mùi ẩm mốc, chắc Tạo không đến đây làm việc từ ngày tôi đi. Người ta nói khu vực này có ma, chắc em sợ phải thức khuya làm việc một mình. Tắm xong, tôi ủ mình trong chiếc chăn dạ còn giữ được từ ngày đi lính. Tôi cho băng vào chiếc  cassette chạy pin. Phải có chút âm nhạc để chống lại giá rét, nếu không, tôi sẽ bị cảm mất. Đã đến giờ ăn tối, bụng đói, tôi đi tìm xem còn gói mì Hai Con Tôm nào không. Thật xui, thùng mì trống rỗng; sẵn có gói bánh ngọt mới đem về để cùng Tạo ăn khi làm việc khuya, tôi mở ra ăn một mình. Nhà cũng chẳng còn trà, tôi pha lại bã trà khô uống từ lần trước vì lười biếng chưa đổ đi, mùi trà mốc hơi khó chịu, dù sao cũng còn hơn uống nước không.
“Imagine there’s no heaven, it’s easy if you try. No hell below us. Above us only sky...”
 
Âm nhạc thật tuyệt vời. Bánh ngọt thật tuyệt vời. Trà mốc thật tuyệt vời và tôi cũng tuyệt vời luôn trong buổi tối tuyệt vời này.
Có tiếng gõ cửa cộc cộc. Khách khứa đến lúc này làm tôi nổi điên. Chẳng thèm ngồi dậy, tôi nằm lì trên phản kéo chăn đắp đến mắt. Nếu bạn bè đến, tôi sẽ nói đang đau, để họ về. Mặc cho tôi chưa trả lời, cánh cửa cũng hé mở và tôi thấy thấp thoáng một mái tóc xõa. Ma chăng? Tôi sắp bật tiếng kêu thì đã nghe tiếng la “Á”. Tôi vội nhổm dậy hỏi: “Chuyện gì vậy?”. Cánh cửa mở ra, cô bé rắc rối đi vào: “Thầy làm em hết hồn, thầy nằm đắp chăn như xác chết”. Cô nhỏ thật láu, đã làm tôi đứng tim rồi còn bắt bẻ này nọ.
-               Sao thầy không lên tiếng, thầy đau hả ?
-               Ứ, ừ, mà cô bé đến đây có chuyện gì vậy?
-               Thầy không mời em ăn bánh?
-                Đó, cô lấy hết gói bánh rồi về đi. Đêm tối, em ở đây, người ta sẽ nói lôi thôi.
Em mở gói lấy một chiếc bánh ngọt ngồi ăn tỉnh bơ, rồi hỏi:
-                Thầy sợ dư luận?
-                Không, tôi lo cho cô.
-                Cám ơn lòng tốt của thầy, nhưng ngày mai em không còn ở đây nữa.
-                Sao? Em bỏ học à?
Cô bé nói cho tôi biết, ba em đổi đi làm việc ở Cam Ranh và ngày mai em sẽ theo ba ra ngoài đó. Em đã đợi tôi cả tuần nay nhờ ký học bạ để xin chuyển trường. Vừa nghe cô bạn nhà ở gần bến xe nói tôi đã về, nên ăn cơm xong, em vội đến đây. Tôi tần ngần giở tấm bìa đỏ, đọc lời phê của các giáo viên khác. Nhìn vị thứ của em, tôi ngạc nhiên hỏi:
-                Em đứng nhì à, giỏi quá. Vậy mà tôi cứ tưởng...
-                Tưởng em đứng chót phải không. Em chỉ dốt môn của thầy thôi, vì có nhiều chữ “xưa” quá; với lại tại thầy cho điểm “kẹo” quá, chứ không em đã đứng nhất.
Tôi phì cười nói:
-                Tại cô bé chê môn của tôi không chịu học bài, làm sao tôi cho điểm cao được.
-                Em ghét nhất môn thầy ở mấy cái định nghĩa. Cung Bắc Hãn là gì này? Đòi nau là gì này? Rủ thác là gì này? Mỗi lần bị thầy gọi lên trả bài, bắt định nghĩa
chữ này nọ là em giận muốn chết. Tại sao thầy cứ thích định nghĩa vậy?
-                Tại tôi muốn mọi việc đều rõ ràng, nhưng mà giận vừa thôi chứ cô bé; ngày mai đi rồi, mặt mày nhăn nhó trông chẳng giống ai. Bây giờ cô muốn tôi phê gì đây?
-                Tùy thầy chứ, cái đó là nghề của thầy mà.
Tôi phê ở môn Việt Văn chữ trung bình, còn ở phần lời phê của giáo viên hướng dẫn, tôi ghi: Chăm, ngoan, giỏi... Tôi định viết thêm nữa, nhưng cô bé kéo tay tôi.
-                Chừng ấy nhiều quá rồi mà thầy còn muốn phê gì nữa vậy?
-                Thông minh.
-                Thông minh? Thầy nghĩ rằng em thông minh?
-                Phải. Nếu không thông minh em đã để tôi viết thêm chữ “Thông minh” rồi.
Ký học bạ xong, tôi trao tấm bìa đỏ cho em. Em nói đến trường mới, tôi có khuyên em điều gì không. Tôi nói: “Em đừng viết mực tím nữa, vì màu tím ấy dễ làm rắc rối mấy ông thầy và mấy người bạn của em”. Em hỏi tại sao vậy? Tôi nói: “Thì em cứ tưởng tượng trong khi mọi người viết mực xanh, riêng em viết mực tím, em không cảm thấy gì sao ?”
Em cúi đầu, giọng thầm thì:
-                Em cảm thấy lạc lõng.
-                Ê, đừng khóc ẩu nghe cô bé, tôi đang đau đầu đây.
Cô biết không, chính màu mực ấy đã làm rắc rối cho một người bạn cùng lớp với cô.
-               Tạo phải không? Chính vì Tạo mà ba em bắt em phải rời ngay trường này, trong khi mấy đứa em của em vẫn còn học ở đây đến hết niên khóa. Với Tạo, em không cần biết, em chỉ thắc mắc màu mực tím có gây rắc rối cho thầy không?
-               Í, a. Cho tôi hả? Cũng rắc rối chút ít, vì màu mực tím quá nhạt mà mắt tôi lại hơi kém nên những bài làm của em tôi chấm quá khó khăn.
-               Chỉ có vậy?
-               Phải, chỉ rắc rối có vậy. Bây giờ hãy cầm gói bánh và tôi sẽ lấy đèn pin đưa em về một đoạn không lại ngã xuống con ngõ. Nào, nhanh lên.
Tôi khoác vội áo mưa đưa em ra cổng. Con ngõ nước ngập đến mắc cá chân lạnh buốt. Trời vẫn mưa nặng hạt. Ngoài đường chẳng có bóng dáng ai. Tôi hỏi: “Em có cần tôi đưa về đến nhà không?”. Em chỉ ngọn đèn hình chữ thập màu đỏ của một tiệm thuốc tây, nói nhà ở gần đó. Tôi nói: “Vậy thôi em về”. Em ngẩng mặt nhìn tôi.
-               Thầy không chúc gì cho em sao ?
-               Tôi chẳng biết chúc gì, tôi không quen nói những lời đó, nhưng chắc em cũng hiểu những gì tôi muốn nói với em.
-               Em không hiểu những điều ấy.
-     Ô, vậy cô bé chẳng thông minh tí nào.
-     Thì em đâu có nhận mình thông minh. Còn thầy, thầy có hiểu những điều em muốn nói với thầy?
-     Em đã nói đâu mà tôi hiểu.
-     Vậy thầy cũng chẳng thông minh tí nào. Em muốn nói tại sao thầy...
Em ngừng nói, đưa tay vuốt những sợi tóc che trước mắt rồi bật khóc tấm tức. Em vẫn thường khóc dễ dàng như vậy. Khóc như mưa nắng bất chợt ở đây. Bạn bè cùng lớp thường chê em “nước mắt cá sấu”, nhưng tôi vẫn nghĩ những giọt nước mắt của em thấp thoáng bóng hạnh phúc. Khóc được, không phải là một niềm vui sao. Càng lớn người ta càng khó khóc và như thế mọi việc đều trở nên khó khăn và buồn thảm.
Tôi muốn hỏi em “tại sao thầy...” cái gì, hả cô bé ? Tại sao thầy hiền? Tại sao thầy dữ? Tại sao thầy ốm nhách? Tại sao thầy kiêu ngạo? Tại sao thầy lừng khừng? Tại sao thầy thích uống sữa đậu nành? Tại sao lại phải hỏi “tại sao thầy...” hả cô bé? Tôi muốn hỏi để em trả lời rõ ràng, nhưng khi thấy đôi vai nhỏ bé của em run lên theo tiếng nấc, tự dưng tôi chẳng thốt nên lời. Chẳng bao giờ tôi thốt nên lời trước một người đang khóc.
Thôi chứ ông giáo. Nào, hãy đem giọng đạo đức chuyên nghiệp ra khuyên nhủ cô bé vài lời. Hãy cố giúp cô bé nở nụ cười trước khi đi. Giây phút mặc niệm đã qua, không lẽ im lặng mãi, hay ông giáo định khóc theo?
Hẳn nhiên tôi chẳng dễ gì khóc được, nhưng tôi không thể ngăn những giọt mưa làm mắt tôi ướt đẫm và khi cô bé ngước mặt lên, nhìn vào mắt tôi, em run rẩy nói: “Thầy, em xin thầy đừng khóc”. Cô bé bỏ chạy sau lời nói. Tôi muốn nói, cô bé hiểu lầm rồi. Tôi muốn nói chỉ tại những giọt mưa. Tôi muốn nói... Nhưng có thật tôi không khóc không?
 
Hè 1974
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0