<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.02.2019 20:07:49 bởi Ct.Ly>
TIẾU LÂM VIỆT NAM
Soạn giả : CỬ TẠ
NHÀ XUẤT BẢN KHAI TRÍ - 1968
MỞ ĐẦU
Đối với loài người, cười chẳng những là biểu hiện riêng biệt, mà còn là thang thuốc đại bổ:
Hỏi ai sướng nhất trên đời.
Bằng người ít khóc, nhiều cười hơn ai?
Sướng trên đời nhất hỏi ai?
Bằng người ít khóc hơn ai nhiều cười.
Cười là vậy. Tuy nhiên, không phải chỉ nhe răng là đủ. Cười có nhiều thứ khác nhau lắm.
Có thứ cười híp mắt lại (rire à gonfler les yeux) như thứ cười của những ông ba lăm khi trông thấy gái đẹp.
Có thứ cười khì (rire niais) như những tiếng cười của những con người kiểu thằng bờm khi được nắm xôi của phú ông.
Có thứ cười khỉ (rire bétement d'une chose) như thứ cười của đàn bà được chiếc áo ni lông hay cái đầu tóc mới về khoe, khiến chồng phải giấu mặt đi cười.
Có thứ cười khúc khích (rire sous cope) như thứ cười của các nhà văn, nhà báo khi viết được một bài hóm hỉnh. Vân vân...
Kể hàng trăm vạn thứ cười không kể xiết.
Nếu tính cả những thứ cười "thuốc độc" như thứ cười "một hai nghiêng nước nghiêng thành" hay "trông nham hiểm giết người không dao" thì có lẽ nhân loại phải dành một pho tự điển để chép riêng về cười.
Bởi cười là một vấn đề sống động, nên trước đây một nhà văn đã viết:
"Bất kỳ ở kinh độ, ở vĩ tuyến nào nếu cái thú cười bị tiêu diệt thì đó là thiệt hại lớn cho sinh thứ loài người."
"Vẫn biết rằng lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc có những ngày đau đớn, công cuộc sinh nhai có những ngày vất vả làm ta không thể nghĩ đến những sự vui cười mà không ngượng nghịu được. Nhưng tài liệu của lịch sử là một trạng thái nhất thời mà vui vẻ, là một nhu yếu thường xuyên của nhân thế. Người ta, ai là người không cười. Huống hồ người ta vẫn có thể cười một cách đứng đắn. Huống hồ, cười có thể là một động lực trong công tác hàng ngày của ta. Cần chống chọi với những khó khăn trong vũ trụ, trong xã hội, chúng ta cũng cần tìm trong cái cười một ít thú vị sống để cho có sức mà bước tới, thì ta cũng nên ước ao cho loài người, sau những bi kịch lịch sử hiện thời, sẽ mau mau được sống lại những ngày vui vầy với những trận cười dài, chính đáng, thật tình... Tức những cái cười để sửa lại phong tục và tranh đấu cho mức tiến của xã hội loài người..."
Có kẻ bảo dân tộc Việt Nam không biết cười, nhưng có lẽ họ chỉ nhìn vào cái cười của những kẻ đắc chí nhất thời "cáo đội oai hùm, ruồi nương đuôi ký", còn cả khối dân tộc thì khác.
Dân tộc Việt Nam trong quá trình sinh hoạt chẳng những đã có hàng hà sa số truyện cười, mà còn biết cười một cách hóm hỉnh không thẹn với người nước ngoài là khác, nhất là những cái cười tỉ như ở trong tập Tiếu lâm này, vì: Về hình thức, hành văn rất đại chúng, và thực tế không phải xếp đặt hoặc vay mượn bằng những sáo ngữ hay những giáo điều nô lệ trong sách vở xưa nay.
- Còn về nội dung, những miếng võ văn nghệ của quảng đại nhân dân, quai thẳng vào mặt những kẻ mà xã hội bất cứ ở thời đại nào cũng thấy cần phải lôi chúng ra trước những tòa án dư luận.
Những kẻ ấy là ai?
Tức những hạng hôn quân ám chúa, hạng tham quan ô lại, hạng cường hào ác bá, hạng gian phu dâm phụ, hạng lưu linh đãng tử, hạng tri thức tầm xàm, hạng chính khách xôi thịt, hạng học giả lăng nhăng, hạng giả nhân giả nghĩa, hạng dị đoan mê tín, hạng tu hành bậy bạ, hạng ỷ quyền ỷ thế, hạng cậy của cậy tiền, hạng làm phách làm tàng, hạng đi lừa đi bịp, và các hạng ba que, xỏ lá, trộm chợ, điếm đàng, .v..v...
Chả thế mà có người quan niệm là xem truyện Tiếu lâm cũng đủ tìm lại những tia hồi quang của lịch sử dân tộc nói riêng và loài người nói chung.
Có kẻ thường lớn tiếng cho những truyện cười ấy là những truyện thấp kém. Nhưng thật ra chỉ là lý luận của những kẻ sợ cười, sợ thực tế, và sợ bị lột mặt nạ.
Nếu những kẻ ấy mà là nhà văn nhà thơ, thì ta đố họ thay vì viết cả một pho tiểu thuyết tràng giang, hay một tập thơ dày cộm, hãy nghĩ đến một chuyện cười, ngắn thôi... Họ sẽ phản ứng như thế nào?
Huống hồ lại có những truyện rất sâu sắc, nếu không phải là sự sáng tạo chung của cả một khối đông quần chúng thì khó mà kết cấu một cách thần tình được. Thí dụ như các truyện: Sợ ma, Trời sinh thế, Hết hách, Ái tình cao thượng, Đồ phản chủ, Cả đời người, ... là những bằng chứng rất cụ thể.
Vả lại, bảo là thấp kém thì thử hỏi như đọc truyện "Phê đơn" trong tập này, đã mấy ai biết cái giá trị của nó, không phải chỉ để cười thôi, mà còn cho ta thấy ở một cái xã hội lố lăng, kẻ càng học cao chừng nào, càng ngu dốt chừng ấy, chức vụ càng cao chừng nào, càng láo khoét càng tệ hại chừng ấy, (Ban đầu, cái lầm của người đàn bà có thể tha thứ, vì con sam nó cũng có mu như con cua, cho đến anh chồng thì khó tha, vì mu cua đâu có chút nào giống mu rùa. Tệ hơn nữa là anh xã trưởng, với chức vụ cầm đầu một làng mà không thấy rõ con sam không giống con cá đuối, làm gì mà có chân có mu? Cả ba đấu láo, nhưng ít nhất mỗi người cũng có căn cứ vào một điểm tương tự nào của sự vật. Chứ như Quan Huyện, dĩ nhiên xuất thân là tay học giỏi, lại là thứ "dân chi phụ mẫu" mà dám lên mặt "phê minh chỉ thượng", dựng đứng ngay lên là: con bò cạp nước, một con vật hoàn toàn chẳng giống với con sam tí nào, thì thật vo cùng láo, cái láo tai hại vậy).
Chỉ bấy nhiêu, ta cũng đủ thấy rõ giá trị của Tiếu Lâm như thế nào.
Theo tục truyền, thì tác giả Tiếu Lâm người đời nhà Lê.
Chuyện rằng:
Thời ấy ở đất Bắc có ông đồ họ Tiếu tên Lâm, đã bực mình vì thi mãi không đỗ, lại buồn vì sự đời tráo trở, nên bày ra cả trăm thứ chuyện để bêu riếu thiên hạ, vớ chuyện ở đâu cũng đem vào, bất kể tục hay thanh, miễn cười được thì thôi.
Khi làm xong sách, cha con ông đồ làm thịt chó để ăn tiệc hoàn thành và kiểm điểm lại. Cha con ông vừa đọc, vừa cười, rồi vì cười quá thành vỡ bụng lăn kềnh ra mà chết...
Con cháu ông về sau lưu lạc bốn phương, rồi đến thời thuộc Pháp thì có ba ông chắc chút chụt chịt gì đó phải gánh lấy quả báo.
Cả ba đều được bầu cử làm Nghị viên, nhưng đều mắc tật ít nói và đặc biệt chẳng biết cười là gì. Thuốc thang chữa mãi không hết, nên lâu ngày biến thành chứng bệnh ngủ gục, cộng thêm với những nết quái lạ.
Ông thứ nhất thì cộc cằn, hay thượng cẳng tay hạ cẳng chân với vợ.
Ông thứ hai có bộ râu chổi cứng như rễ tre, nhưng rất mực sợ vợ.
Ông thứ ba hay đau lưng, đau thận nên bà vợ hàng ngày phải cho uống rượu tắc kè, bìm bịp, và cho ăn trứng vịt lộn để bổ.
Ba ông làm Nghị viên mãi, khi Pháp "ra đi" rồi, cũng vẫn thành những cụ nghị, lại kiêm cả "cách mạng gia" và "chánh trị gia" nữa, mặc dù trước sau vẫn tật nào nết ấy.
Trong một phiên họp, ba ông đều lên cơn ngủ nên cùng tìm vào góc phòng, nép sau cây cột, ngồi sát bên nhau để tránh các con mắt tò mò.
Lần lượt, ba ông ngáy kho kho cả, báo hại chú tùy phái sau cơn họp phải đánh thức dậy... Đang ngủ bị lay, ông thứ nhất tưởng đang ngủ ở nhà, bị vợ quấy rầy liền cáu sườn, giương thẳng cánh tay tán cái bốp làm trúng ngay mặt ông thứ hai. Ông thứ hai tưởng bị vợ đánh, và mỗi khi bị vậy chỉ ôm hôn là hòa nên choàng ngay ông thứ ba mà hôn lấy hôn để. Ông này lại nghĩ bị vợ trách cứ về tội bất lực, ép ăn trứng vịt lộn và uống rượu bìm bịp nên càu nhàu gắt gỏng:
- Ê, rượu sao nhểu cùng, trứng vịt gì già thế, sắp nở rồi. Lông cứng đâm tua tủa vào miệng người ta vậy, làm sao mà ngủ cà...
Song đây chỉ là một câu chuyện truyền ngôn, có tính chất "chọc cười" và "châm biếm", không có gì bảo đảm về phần lịch sử hết, làm gì có họ Tiếu tên Lâm?...
Theo thiển ý thì Tiếu Lâm chỉ có nghĩa là "Rừng cười" mà sách Tiếu lâm chỉ là một tập sách góp lại những chuyện cười của nhân dân, những chuyện cười có tác dụng như trên kia đã nói.
Kể ra có hàng ngàn, hàng vạn, nhưng ở đây với sức một người chỉ gom góp và chọn lọc được ít truyện mà thôi.
Mong các bạn đọc thông cảm và cầu chúc dân tộc ta, một dân tộc biết cười, giỏi cười, đã sáng tác ra vô số những cái cười sâu sắc, giá trị, hãy sáng tác thêm nữa và cho nhiều hơn nữa.
CỬ TẠ
1. CHẾT VÌ CƯỞI
Thuở xưa, có cặp vợ chồng ông nhà giàu, một hôm đi chơi mắc phải một trận mưa thật lớn.
Vì không đem theo dù, nón, nhân thấy vắng người liền cởi hết quần áo ra để trên đầu che cho khỏi ướt, và tự cho đó là vô cùng tiện lợi.
Khi về đến nhà, ông chồng thấy bà vợ thổn thễn, người trần như đứa trẻ mới sanh, mới cao hứng đưa tay bắt quàng lưng vợ và bắt chước như kiểu gà trống cục cục gà mái.
Giữa lúc hai vợ chồng đùa giỡn, một anh chàng ghé lại đụt mưa dưới mái nhà trông thấy phá lên cười, rồi vì cười quá mà chết ngay tại chỗ.
Hai vợ chồng nghe động vội mặc quần áo lại. Người chồng chạy ra xem có chuyện gì, thì ngay trước cửa, một xác người mới chết nhăn răng ra. Hoảng hồn, ông vội đi trình Lý trưởng. Lý trưởng đưa việc lên trên huyện. Quan huyện sai lính về bắt hai vợ chồng lên hỏi, và khép vào tội tử hình vì đã giết người.
Hai vợ chồng lại van, kêu oan. Quan huyện không nghe.
Hai vợ chồng kêu bẩm:
- Dạ thưa Quan lớn, hay có lẽ anh này đã chết vì cười quá?
Quan huyện nghe nói, nhướng mắt lên tò mò hỏi tại sao. Ông nhà giàu kể lại đầu đuôi việc mình bị gặp mưa, rồi diễn lại sự đùa giỡn với vợ ở trước mặt quan và nha lại.
Quan huyện và nha lại thấy lố lăng quá, ôm bụng cười, rồi cũng vì cười quá thành bị đứt ruột ra mà chết.
Hai vợ chồng nhà giàu nhờ thế thoát tội. Và thành ngữ "Chết cười" hay "Cười chết đi được" cũng do tích này mà phổ thông vậy.
2. LÀNG SỢ VỢ
Một làng nọ, tất cả đàn ông trong làng từ ông to, sang nhất trở xuống, không một người nào mà không sợ vợ, mà sợ cho đến nỗi đứng trước một người đàn bà nào, là tất cả đều run lên và nín thinh, chẳng ai nói đặng một câu nào.
Tới khi dân làng mở hội nghị, các ông mới đem chuyện này ra thảo luận và cho đó là một vấn đề tối quan trọng cần được giải quyết. Nhưng giải quyết làm sao? Các ông bàn đi bàn lại mãi chẳng ông nào nẩy ra được ý kiến gì. Sau đó, một ông già tuổi cao chức trọng nhất trong làng đưa ra một ý kiến là tế Trời thì hết.
Toàn thể đều hoan nghênh. Nhưng làm sao mà tế? Tế ở đâu? Sau chót, một ông nẩy ra sáng kiến là để đến sáng ngày 30 Tết thì tế, tế tại một cánh đồng ở đầu làng, vì chỉ có sáng hôm ấy, tất cả các bà đều vắng nhà đi chợ sắm Tết..
Ý kiến ấy lại cũng được tán thành và hoan hô nhiệt liệt.
Thế rồi đến ba mươi Tết, trong khi các bà đi chợ Tết, các ông mới ùn ùn tụ lại và cử hành tế lễ.
Cuộc tế lễ bắt đầu.
Ông cụ già tuổi cao chức trọng làm chủ tế, hai ba ông thứ nữa làm bồi bái. Còn bao nhiêu thì xúm quanh dự lễ.
Cuộc lễ diễn hành, khói nhang nghi ngút, trống kèn vang dậy. Ông chủ tế và ba ông bồi bái cùng mặc áo tế: Tất cả bốn ông đều quỳ xuống, làm lễ, đọc văn. Đang lúc ấy, bỗng đâu có hai người đàn bà ở làng khác đi chợ về qua. Thần hồn nát thần tính, các ông ngó thấy tưởng mấy bà trong làng, mới ùn ùn mạnh ai nấy chạy, đen cả cánh đồng như đàn chim vỡ tổ.
Khi chạy một quãng xa, các ông nhìn thấy hai người đàn bà đã khuất bóng mới hoàn hồn vía. Song lúc đó, các ông thấy ông chủ tế và ba ông bồi bái vẫn quỳ mà không chạy, nên bảo nhau:
- Chắc là mấy cha vô tế chính thức nên Trời Thần mới phụ hộ cho không còn sợ nữa.
Thế rồi các ông trở lại, nhưng đến nơi thì mấy ông bồi bái và ông chủ tế đã ... chết cóng từ lúc nào không hay, vì các ông này sợ quá nên không còn kịp đứng lên mà chạy được.
3. GIỐNG GIAN TỰU VỊ
Ngày xưa có anh nhà giàu nọ thường hay đi kiện cáo lung tung. Những việc anh làm đều trái phè, nhưng nhờ tiền của đút lót khắp nơi, trên từ các quan tỉnh huyện, dưới đến các viên chức nha lại, thành ra vụ nào anh ta cũng thắng.
Bữa nọ, vì có lẽ anh ta đã giác ngộ chăng, nên bảo với những người đối lập:
- Tôi đây sinh trưởng ở thôn dã, vì ít học, bấy lâu cứ tưởng cửa công là chỗ đèn trời soi xét và các quan chức là phụ mẫu dân thật, chớ có dè đâu chỉ toàn một lũ chằng trong sạch tí nào. Thường ngày mình tưởng họ là những người tự trời rơi xuống, nhưng khi vào việc mới hay là những tên trộm cướp ban ngày có áo mũ cân đai cùng kẻ hầu người hạ.
Anh ta than thở như thế rồi nhân một hôm gặp lễ tế trời, các quan tỉnh huyện, cùng các viên chức nha lại đều vào hành lễ, anh thấy viên điểm lễ đứng xướng:
- Bá quan tựu vị (các quan đều tới chỗ mình đứng).
Tức thì anh cũng xướng tiếp:
- Giống gian tựu vị.
Các quan kinh ngạc nhìn nhau, định sai lính bắt kẻ hỗn láo, nhưng khi nhìn lại thì thấy kẻ đó chính là kẻ đã đút lót cho mình quá nhiều nên đành nín thinh cho qua chuyện, và thế là hoà cả làng vậy.
Bởi thế nên đời mới có câu ca rằng:
Giống quan là giống gian tham.
Hạ cám thượng vàng bất kể thứ chi.
Tuồng vô nghĩa, lũ bất nghì.
Ai ơi nhớ lấy kẻo thì lầm to!...
4. CUA CẮP
Chị nọ có tánh ăn vụng chồng con, nên một hôm đi chợ mua cua, chị chọn lấy con to nhất giấu vào trong ngực để về sẽ lẻn vào trong bếp nướng ăn.
Khi đến cổng chùa, con cua bất thình lình sổ càng nên nhè ngang vú chị mà cắp. Đau quá, chị ta nằm lăn ra khóc lóc, kêu la.
Vừa lúc ấy, một nhà sư đi hái mơ lông về thấy thế liền ghé miệng lại để gỡ con cua ra. Chẳng may miệng nhà sư vừa ghé liền bị con cua giơ càng kia ra cắp luôn vào môi. Thế là cả hai chỉ con một cách nằm trước cửa chùa mà mếu máo xuýt xoa.
Người chồng chị nọ ở nhà chờ mãi không thấy vợ đi chợ về, mới sai con đi đón. Thằng nhỏ vừa đến cổng chùa, đã vội chạy ù về gọi bố.
- Bố ơi bố, mẹ con đang mắc cho ông sư bú ở cổng chùa bố ạ.
Người chồng lấy làm ngạc nhiên, vội vàng chạy ra xem sự thể thế nào. Nhưng khi gỡ được, thì chị vợ nọ vú cũng sưng vù, mà sư ông thì miệng cũng vếu lên to tướng.
Chị nọ mắc cỡ đi về. Còn sư ông thì vừa lấy tay xoa miệng, vừa lẩm bẩm:
- Mô Phật!...
Từ nay xin cạch đến già.
Mặc ai cua cắp chớ tra miệng vào.
5. GIÁ GẶP TAY TAO
Tại xóm kia, có anh chàng khét tiếng sợ vợ.
Một hôm người vợ đi khỏi, để lại cái quần phơi ngoài sân. Trời mưa xuống, cái quần bị ướt. Anh ta thấy thế cứ để mặc, vì tính anh rất sợ cầm quần đàn bà. Cái đó không lấy gì làm lạ, vì theo quan niệm anh thì quần đàn bà là một thứ đồ dơ anh phải cữ không bao giờ đụng đến, vì lỡ ra óc thanh niên bị ngu tối thì bỏ đời.
Khi người vợ về, thấy chồng ở nhà cả ngày mà cái quần phơi cũng không chịu cất để cho mưa ướt, tức quá nổi tam bành lục tặc la hét om sòm, rồi nắm đầu anh ta xuống đánh cho một trận.
Thấy tình cảnh diễn ra như vậy, một anh khác ở nhà liền vách nghĩ tức quá, song mắc dỡ nấu cơm không qua can được, mới vỗ ngực ra vẻ ta đây:
- Mẹ kiếp, giá gặp tay tao thì phải biết.
Vợ anh đang làm ở ngoài sân, nghe nói liền sấn sổ chạy vào, hai mắt trợn trừng và la hét.
- Giá gặp tay tao thì tao định làm gi, làm gì?
Anh ta quýnh lên, song cũng lanh trí trả lời ngay:
- Giá gặp tay tao thì, thì... tao đã cất ngay từ lúc trời còn chưa mưa!!!
6. PHẢI LÀM THEO
Một chàng nọ đi ở rể. Khi đi, mẹ chàng căn dặn:
- Con đi làm rể phải ráng sức siêng năng, hể cha vợ con làm gì con cũng phải làm theo, chớ có làm biếng nghe con.
Chàng ta đi ở nhà cha vợ.
Một hôm cha vợ đem cuốc ra sau vườn cuốc đất. Đinh ninh nhớ lời mẹ dặn, chàng ta hăm hở chạy ra giựt lấy cuốc:
- Ba để con làm cho.
Người cha vợ đưa cuốc cho chàng ta rồi chạy đi bứng cây. Chàng ta lại bỏ cuốc, lật đật chạy lại:
- Ba để con làm cho.
Người cha bực mình không nói gì, bỏ đi hái rau. Anh chàng lại chạy theo:
- Ba để con làm cho.
Người cha nổi giận đi về, chẳng may đi ngay bụi tre, cái khăn bịt đầu để vướng lên cành rào. Anh chàng rể thấy thế liền cởi khăn của anh máng lên cành tre rồi về.
Đỏ mặt tía tai, ông cha vợ trở vào nhà quát mắng bà mẹ vợ:
- Đồ ngu, kén rể cái gì mà quý hóa như vậy?
Rồi anh ta chạy lại giơ thẳng cánh chân đạp cho bà mẹ vợ một cái. Bị trúng chỗ nhược, bà chết ngay tại trận.
Án mạng xảy ra, việc này phải đưa lên quận.
Quan quận cho bắt anh vào hỏi:
- Đồ bất hiếu, sao mày lại đánh chết mẹ vợ?
Anh ta kể lại đầu đuôi, và thuật lại lời mẹ dặn.
Quan quận nghe xong không biết xử trí làm sao, mà hễ hỏi đến thì nó trả lời:
- Dạ quan lớn, khi con đi làm rể, mẹ con ở nhà dặn: "Hễ cha vợ làm gì thì con phải làm nấy".
7. THÈM QUÁ
Có một con chó, lúc ở trên trần bị người ta làm thịt, khi xuống âm phủ, oan hồn của nó đi kiện với Diêm Vương.
Đức Diêm Vương nghe quỷ sứ vào bẩm, truyền cho phép vào và hỏi:
- Nhà ngươi có chuyện chi oan ức ở trên trần, cứ khai cho minh bạch.
Con chó tâu:
- Dạ tâu Đức vua, bọn người chúng nó ở trên dương thế làm thịt con.
Diêm Vương phán:
- Nó làm thịt, được cứ khai rõ đầu đuôi đi, trước hết bọn chúng nó làm sao?
- Dạ bẩm, trước hết bọn chúng nó trói con lại, thọc huyết con, đập đầu con, tưới nước sôi lên mình con, rồi xúm lại cạo lông con.
- Sao nữa? Nói mau lên! Diêm Vuơng phán.
- Dạ thưa Đứa Vua, cạo sạch xong chúng nó lấy lửa rơm thui vàng, đoạn chặt ra từng mảnh, từng khúc bỏ vào rổ. Rồi bắc chảo lên, bắc nồi lên, đổ mỡ vào, cho sả, cho riềng, cho nước dừa khô với hành, tương, nước mắm... cái thì đánh tiết canh, cái thì làm dồi, cài thì khìa, cái thì xào lăn, cái thì nấu dựa mận...
Nghe đến đó, Diêm Vương vừa nuốt nước miếng, vừa xua tay:
- Thôi, thôi! Nhà ngươi đừng nói nữa. Nghe thèm quá.
8. CHỒNG NÀO VỢ NẤY
Ở nhà quê có cặp vợ chồng tính thích ăn vụng. Một hôm người vợ đi làm ngoài ruộng về, thấy trên bếp có nồi xôi đậu vừa chín tới. Đang đói lòng, chị ta bèn bốc ngang một nắm để ăn.
Người chồng lúc đó chưa về. Chị ta sợ chồng bắt gặp, mới đứng ở xó cửa mà nhai.
Nào ngờ chưa ăn hết thì chồng về tới. Anh chồng cũng đang lúc đói bụng lại gặp ngay nồi xôi. Anh ta muốn ăn quá mà lại sợ vợ biết. Thế rồi hai mắt anh ta láo liên như quan sát hồi lâu, rồi bốc lấy một nắm đem vào xó cửa để ăn lén.
Ai dè anh ta vừa đẩy cánh cửa ra thì bắt gặp ngay vợ đang câm xôi nhai. Anh hốt hoảng kêu lên:
- Ơ kìa, má nó đấy à?
Trông thấy vợ cầm xôi, anh ta nhanh trí nói tiếp luôn:
- Tao tưởng má mày ăn hết rồi, nên đem thêm vào cho một nắm nữa đây nè.
9. TRA CÁN
Lão thầy pháp nọ đi làm tuần cho một đám kia. Khi viết sớ, lão hỏi tên chị chủ nhà, chị cho biết tên là Nguyễn Thị Tròn.
Vì sớ phải viết bằng chữ Nho, mà chữ Nho không có chữ tròn. Còn chữ Nôm thì lão không biết viết làm sao. Quốc ngữ cũng mù tịt.
Bí lối, lão mới vẽ một cái vòng tròn để lúc đọc cho nhớ.
Một anh hàng xóm qua chơi thấy vậy thừa lúc lão ngoảnh mặt đi, mới cầm bút xổ vào cái vòng tròn một cái.
Vì thế tối đến, lúc vào tuần sớ, lão cứ Nguyễn Thị Gáo mà đọc đi đọc lại. Chị chủ nhà nghe vậy tức quá mới bảo lão ta ngừng lại hỏi:
- Tôi tên là Nguyễn Thị Tròn, tại sao trong sớ thầy lại đọc là Nguyễn Thị Gáo?
Lão ta lúc đó mới mắc cỡ, té ngửa người ra và trả lời:
- Tên chị là Tròn, tôi đã nhớ, đã khuyên tròn một cái, không biết đứa mắc dịch nào nó lại tra cán vào thế này.
10. ĂN MẤT RỒI
Một anh chàng nọ cưới phải một cô vợ đã có máu sư tử Hà đông, lại còn đi cưới thêm một cô vợ nhỏ về, làm cho nội bộ gia đình cứ hục hặc, lủng củng. Người vợ lớn đánh ghen mãi mà người chồng vẫn tật nào nết ấy.
Tức quá, cứ tối lại, chị ta đem vợ nhỏ nhốt vào trong buồng, rồi ngả ghế bố nằm chắn giữ ngay cửa, không cho anh chồng bén mảng tới người vợ nhỏ.
Anh chàng nghĩ mãi không biết làm sao được. Một đêm, anh để vợ lớn ngủ say, rồi thừa cơ chui qua gầm ghế bố lẻn vào thì thầm với vợ nhỏ.
Vợ lớn thấy động, tức tốc dậy đốt đèn soi. Thấy thế anh chàng này chui ngay xuống gầm giường vợ nhỏ. Chị vợ lớn soi đèn bắt gặp hỏi:
- Ai ngồi đây?
- Tao chớ ai?
- Tao ngồi làm gì đây?
Anh chồng túng kế quá trả lời:
- Ngồi ỉa chứ ngồi làm gì nữa?
- Ỉa thì cứt đâu?
- Thì ăn mất rồi chớ còn đâu nữa mà hỏi?
11. HÂN HẠNH
Vùng quê nọ có một anh chàng ngu thậm là ngu, đi đâu vợ cũng phải căn dặn đủ điều. Bởi thế người làng mới đặt tên cho anh ta là Ngốc, rồi quen miệng gọi là Ngốc và quên hẳn cái tên thật của anh.
Một hôm anh ta lên thành phố thăm người bà con, chị vợ dặn anh ta nhớ đi đến nơi về đến chốn, ra đến nơi hễ người ta có hỏi: "Bác ra chơi đó ư?", thì trả lời "Dạ, tôi là Ngốc đây ạ". Và có hỏi: "Bác ra đây có một mình sao?", thì trả lời "Dạ có một mình thôi ạ". Và nếu có bảo: "Bác ở chơi dăm ba bữa hẳn về", thì trả lời "Tôi đi đến đây chỉ ước được như vậy, nay được như thế thì còn gì hân hạnh bằng".
Ngốc ta lủi thủi ra đi, nhẩm mãi những câu vợ dặn cho thuộc lòng, sợ lỡ quên thì anh em bà con ở tỉnh người ta cười là nhà quê dốt nát.
Khi lên tỉnh, anh ta thấy một đám đông, liền quên hết lời vợ dặn, anh ta lẻn vào xem. Té ra là một vụ chém lộn, kẻ bị thương nằm sóng sượt dưới đất, còn hung thủ đã cao chạy xa bay, mất biệt hẳn tung tích.
Nhà chức trách phái lính cảnh sát đến làm biên bản và mở cuộc điều tra. Mọi người sợ vạ lây ai nấy đều dang ra, chỉ riêng chàng Ngốc ta là lại sát để xem. Lính cảnh sát liền hỏi:
- Anh biết ai chém người này không?
Ngốc ta sực nhớ lời vợ dặn nên anh trả lời ngay:
- Dạ chính tôi, Ngốc đây ạ.
Lính cảnh sát hỏi thêm:
- Có một mình anh hay ai nữa?
- Dạ, chỉ một mình tôi thôi ạ.
Ông cò đứng bên nghe vậy liền sai lính trói lại điệu về bót.
Ngốc ta tưởng cũng cần trả lời cho hết câu vợ dặn, nên lại đáp ngay rằng:
- Tôi đi đến đây chỉ ước được như vậy, nay được như thế thì còn gì hân hạnh bằng.
12. MỒ HÔI MỰC
Ông hương chức nọ tính thích ăn đậu đen luộc, song mắc phải chứng la sợ vợ như sợ cọp.
Một hôm bà vợ đi khỏi. Ông ta ở nhà lấy đậu bỏ vào nồi luộc để ăn. Nhưng đậu vừa chín, ông ta chưa kịp ăn, bà vợ đã về. Sợ để vợ biết thì nguy, lúc đó, ông ta lại phải sắp sửa đi họp việc làng để tế thần. Ông ta nghĩ ngay ra một kế rất thần diệu là trút ngay đậu vào mão tế, rồi đội lộn lên đầu để vợ khỏi trông thấy.
Khi vô tế thần, nước đậu cứ rỏ xuống mặt ông ròng ròng.
Có ông hương chức khác thấy thế hỏi tại sao, ông ta đáp:
- Ấy, tôi thường có chứng đổ mồ hôi mực, nên hễ khi nào phải cử động nhiều thì nó chảy vậy đó.
13. CHỮ ĐIỀN
Một ông thầy đồ nọ đi dạy học ở nhà kia.
Bữa nọ chủ nhà sai con bưng lên một dĩa bánh cam. Thầy ăn xong, nhưng nghĩ còn thèm thèm trong bụng... Thấy dĩa dính nhiều mật, thầy tiếc. Song chẳng lẽ trước mặt bao nhiêu học trò mà giở cái ngón "sách chụt" thì còn gì mặt mũi.
Thầy nghĩ mãi bỗng nẩy ra một kế. Thế rồi, thầy bèn tựa vào tráp, tay ngúc ngoắt roi mây, đùi run nẩy lên, tưởng như đổ giường, sập ván ngay. Thật là một phút "xướng kỳ" không thể tưởng.
Xong, thầy dõng dạc truyền: "Ta ra cho tụi bây một chữ này, thằng nào không nói ra được thì ta sẽ đánh đòn".
Nghe nói, lũ học trò tên nào tên nấy đều sợ, mặt xanh như tàu lá.
Thầy ung dung, thản nhiên liếm ngang chiếc dĩa rồi nói:
- Ê, chữ này chữ gì?
Học trò ngơ ngác nhìn nhau, buồn cười nhưng không dám động mép.
Thầy được thể quát:
- Chữ Nhất mà không biết. Tụi bây sao dốt quá vậy?
Được thế vững, trông trong dĩa còn nhiều mật, thầy lại liếm dọc cái dĩa hỏi:
- Thế chữ này là chữ gì?
Học trò lại ngơ ngác, thầy lại được thể thét:
- Đồ ăn cám. Chữ này là chữ Thập mà không thằng nào biết.
Thầy nhìn dĩa vẫn con nhiều mật, tiếc quá, nên thục mạng liếm một cái vòng tròn mà rằng:
- Còn chữ này nữa là chữ gì? Nếu không thằng nào nói được, tao đánh nát xương ra.
Cả trường lúc đó lại im phăng phắc nữa. Thừa thế thầy bèn vút veo véo roi mây xuống giường quát:
- Đấy là chữ ĐIỀN mà không thằng nào biết cả, chữ thánh dạy để đâu?
Dĩa đường lúc đó mới sạch trơn, thầy bỏ xuống và ra vẻ tức giận vô cùng.
14. NGHE SAO LÀM VẬY
Có một ông thầy thuốc bắc mỗi lần đi coi mạch lại dẫn theo một anh học trò.
Một hôm đi coi mạch cho người bệnh. Coi xong, thầy ta nói:
- Tôi đã dặn đừng ăn đồ chua, sao ăn vào để cơn bệnh nó tăng lên thế này?
Bệnh nhân thú thiệt với thầy là mình đã trót lỡ ăn đồ chua, nhờ thầy cố tìm phương chạy cho.
Khi trở về, anh học trò hỏi:
- Thưa thầy, tại sao thầy coi mạch giỏi thế, coi mạch mà đoán biết cả ăn đồ chua thì thật là Hoa Đà, Biển Thước sống lại cũng không bằng.
Thầy lang trả lời:
- Cái đó có chi lạ đâu, bởi tôi nhìn lên giường thấy bên người bệnh còn miếng vỏ chanh. Do đó, tôi biết con bệnh đã ăn. Tuy thế mình nói nó mới ăn đồ chua thì nó mới phục mình và cái nghề mình mới kiếm ăn được chớ.
Học được kế đó, khi anh học trò thôi học ra hành nghề. Một bữa nọ đi coi mạch cho người bệnh, anh ta đoán:
- Chứng bệnh này do ăn thịt gà mà ra.
Người bệnh không chịu, anh ta cứ nhất định là có. Câu chuyện cứ cãi đi cãi lại, rốt cuộc chủ nhà nổi nóng đuổi thầy đi.
Bị một trận mắc cỡ nên thân làm mất cả tiếng tăm. Anh ta tức quá, không biết tại vì lý do gì mới đến hỏi thầy học.
Thầy học hỏi:
- Vậy thế nào mà anh lại đoán nó mới ăn thịt gà, để đến nỗi xảy ra chuyện không hay thế?
Anh ta thưa:
- Cái đó cũng do kinh nghiệm thầy dạy cho. Trước khi vào nhà, coi đã để mắt quan sát kỹ rồi sau mới xem mạch. Sở dĩ con đoán ra nó ăn thịt gà là vì con thấy trên ván nhà nó có cây chổi lông gà còn mới nguyên.
Soạn giả : CỬ TẠ
NHÀ XUẤT BẢN KHAI TRÍ - 1968
MỞ ĐẦU
Đối với loài người, cười chẳng những là biểu hiện riêng biệt, mà còn là thang thuốc đại bổ:
Hỏi ai sướng nhất trên đời.
Bằng người ít khóc, nhiều cười hơn ai?
Sướng trên đời nhất hỏi ai?
Bằng người ít khóc hơn ai nhiều cười.
Cười là vậy. Tuy nhiên, không phải chỉ nhe răng là đủ. Cười có nhiều thứ khác nhau lắm.
Có thứ cười híp mắt lại (rire à gonfler les yeux) như thứ cười của những ông ba lăm khi trông thấy gái đẹp.
Có thứ cười khì (rire niais) như những tiếng cười của những con người kiểu thằng bờm khi được nắm xôi của phú ông.
Có thứ cười khỉ (rire bétement d'une chose) như thứ cười của đàn bà được chiếc áo ni lông hay cái đầu tóc mới về khoe, khiến chồng phải giấu mặt đi cười.
Có thứ cười khúc khích (rire sous cope) như thứ cười của các nhà văn, nhà báo khi viết được một bài hóm hỉnh. Vân vân...
Kể hàng trăm vạn thứ cười không kể xiết.
Nếu tính cả những thứ cười "thuốc độc" như thứ cười "một hai nghiêng nước nghiêng thành" hay "trông nham hiểm giết người không dao" thì có lẽ nhân loại phải dành một pho tự điển để chép riêng về cười.
Bởi cười là một vấn đề sống động, nên trước đây một nhà văn đã viết:
"Bất kỳ ở kinh độ, ở vĩ tuyến nào nếu cái thú cười bị tiêu diệt thì đó là thiệt hại lớn cho sinh thứ loài người."
"Vẫn biết rằng lịch sử nhân loại, lịch sử dân tộc có những ngày đau đớn, công cuộc sinh nhai có những ngày vất vả làm ta không thể nghĩ đến những sự vui cười mà không ngượng nghịu được. Nhưng tài liệu của lịch sử là một trạng thái nhất thời mà vui vẻ, là một nhu yếu thường xuyên của nhân thế. Người ta, ai là người không cười. Huống hồ người ta vẫn có thể cười một cách đứng đắn. Huống hồ, cười có thể là một động lực trong công tác hàng ngày của ta. Cần chống chọi với những khó khăn trong vũ trụ, trong xã hội, chúng ta cũng cần tìm trong cái cười một ít thú vị sống để cho có sức mà bước tới, thì ta cũng nên ước ao cho loài người, sau những bi kịch lịch sử hiện thời, sẽ mau mau được sống lại những ngày vui vầy với những trận cười dài, chính đáng, thật tình... Tức những cái cười để sửa lại phong tục và tranh đấu cho mức tiến của xã hội loài người..."
Có kẻ bảo dân tộc Việt Nam không biết cười, nhưng có lẽ họ chỉ nhìn vào cái cười của những kẻ đắc chí nhất thời "cáo đội oai hùm, ruồi nương đuôi ký", còn cả khối dân tộc thì khác.
Dân tộc Việt Nam trong quá trình sinh hoạt chẳng những đã có hàng hà sa số truyện cười, mà còn biết cười một cách hóm hỉnh không thẹn với người nước ngoài là khác, nhất là những cái cười tỉ như ở trong tập Tiếu lâm này, vì: Về hình thức, hành văn rất đại chúng, và thực tế không phải xếp đặt hoặc vay mượn bằng những sáo ngữ hay những giáo điều nô lệ trong sách vở xưa nay.
- Còn về nội dung, những miếng võ văn nghệ của quảng đại nhân dân, quai thẳng vào mặt những kẻ mà xã hội bất cứ ở thời đại nào cũng thấy cần phải lôi chúng ra trước những tòa án dư luận.
Những kẻ ấy là ai?
Tức những hạng hôn quân ám chúa, hạng tham quan ô lại, hạng cường hào ác bá, hạng gian phu dâm phụ, hạng lưu linh đãng tử, hạng tri thức tầm xàm, hạng chính khách xôi thịt, hạng học giả lăng nhăng, hạng giả nhân giả nghĩa, hạng dị đoan mê tín, hạng tu hành bậy bạ, hạng ỷ quyền ỷ thế, hạng cậy của cậy tiền, hạng làm phách làm tàng, hạng đi lừa đi bịp, và các hạng ba que, xỏ lá, trộm chợ, điếm đàng, .v..v...
Chả thế mà có người quan niệm là xem truyện Tiếu lâm cũng đủ tìm lại những tia hồi quang của lịch sử dân tộc nói riêng và loài người nói chung.
Có kẻ thường lớn tiếng cho những truyện cười ấy là những truyện thấp kém. Nhưng thật ra chỉ là lý luận của những kẻ sợ cười, sợ thực tế, và sợ bị lột mặt nạ.
Nếu những kẻ ấy mà là nhà văn nhà thơ, thì ta đố họ thay vì viết cả một pho tiểu thuyết tràng giang, hay một tập thơ dày cộm, hãy nghĩ đến một chuyện cười, ngắn thôi... Họ sẽ phản ứng như thế nào?
Huống hồ lại có những truyện rất sâu sắc, nếu không phải là sự sáng tạo chung của cả một khối đông quần chúng thì khó mà kết cấu một cách thần tình được. Thí dụ như các truyện: Sợ ma, Trời sinh thế, Hết hách, Ái tình cao thượng, Đồ phản chủ, Cả đời người, ... là những bằng chứng rất cụ thể.
Vả lại, bảo là thấp kém thì thử hỏi như đọc truyện "Phê đơn" trong tập này, đã mấy ai biết cái giá trị của nó, không phải chỉ để cười thôi, mà còn cho ta thấy ở một cái xã hội lố lăng, kẻ càng học cao chừng nào, càng ngu dốt chừng ấy, chức vụ càng cao chừng nào, càng láo khoét càng tệ hại chừng ấy, (Ban đầu, cái lầm của người đàn bà có thể tha thứ, vì con sam nó cũng có mu như con cua, cho đến anh chồng thì khó tha, vì mu cua đâu có chút nào giống mu rùa. Tệ hơn nữa là anh xã trưởng, với chức vụ cầm đầu một làng mà không thấy rõ con sam không giống con cá đuối, làm gì mà có chân có mu? Cả ba đấu láo, nhưng ít nhất mỗi người cũng có căn cứ vào một điểm tương tự nào của sự vật. Chứ như Quan Huyện, dĩ nhiên xuất thân là tay học giỏi, lại là thứ "dân chi phụ mẫu" mà dám lên mặt "phê minh chỉ thượng", dựng đứng ngay lên là: con bò cạp nước, một con vật hoàn toàn chẳng giống với con sam tí nào, thì thật vo cùng láo, cái láo tai hại vậy).
Chỉ bấy nhiêu, ta cũng đủ thấy rõ giá trị của Tiếu Lâm như thế nào.
Theo tục truyền, thì tác giả Tiếu Lâm người đời nhà Lê.
Chuyện rằng:
Thời ấy ở đất Bắc có ông đồ họ Tiếu tên Lâm, đã bực mình vì thi mãi không đỗ, lại buồn vì sự đời tráo trở, nên bày ra cả trăm thứ chuyện để bêu riếu thiên hạ, vớ chuyện ở đâu cũng đem vào, bất kể tục hay thanh, miễn cười được thì thôi.
Khi làm xong sách, cha con ông đồ làm thịt chó để ăn tiệc hoàn thành và kiểm điểm lại. Cha con ông vừa đọc, vừa cười, rồi vì cười quá thành vỡ bụng lăn kềnh ra mà chết...
Con cháu ông về sau lưu lạc bốn phương, rồi đến thời thuộc Pháp thì có ba ông chắc chút chụt chịt gì đó phải gánh lấy quả báo.
Cả ba đều được bầu cử làm Nghị viên, nhưng đều mắc tật ít nói và đặc biệt chẳng biết cười là gì. Thuốc thang chữa mãi không hết, nên lâu ngày biến thành chứng bệnh ngủ gục, cộng thêm với những nết quái lạ.
Ông thứ nhất thì cộc cằn, hay thượng cẳng tay hạ cẳng chân với vợ.
Ông thứ hai có bộ râu chổi cứng như rễ tre, nhưng rất mực sợ vợ.
Ông thứ ba hay đau lưng, đau thận nên bà vợ hàng ngày phải cho uống rượu tắc kè, bìm bịp, và cho ăn trứng vịt lộn để bổ.
Ba ông làm Nghị viên mãi, khi Pháp "ra đi" rồi, cũng vẫn thành những cụ nghị, lại kiêm cả "cách mạng gia" và "chánh trị gia" nữa, mặc dù trước sau vẫn tật nào nết ấy.
Trong một phiên họp, ba ông đều lên cơn ngủ nên cùng tìm vào góc phòng, nép sau cây cột, ngồi sát bên nhau để tránh các con mắt tò mò.
Lần lượt, ba ông ngáy kho kho cả, báo hại chú tùy phái sau cơn họp phải đánh thức dậy... Đang ngủ bị lay, ông thứ nhất tưởng đang ngủ ở nhà, bị vợ quấy rầy liền cáu sườn, giương thẳng cánh tay tán cái bốp làm trúng ngay mặt ông thứ hai. Ông thứ hai tưởng bị vợ đánh, và mỗi khi bị vậy chỉ ôm hôn là hòa nên choàng ngay ông thứ ba mà hôn lấy hôn để. Ông này lại nghĩ bị vợ trách cứ về tội bất lực, ép ăn trứng vịt lộn và uống rượu bìm bịp nên càu nhàu gắt gỏng:
- Ê, rượu sao nhểu cùng, trứng vịt gì già thế, sắp nở rồi. Lông cứng đâm tua tủa vào miệng người ta vậy, làm sao mà ngủ cà...
Song đây chỉ là một câu chuyện truyền ngôn, có tính chất "chọc cười" và "châm biếm", không có gì bảo đảm về phần lịch sử hết, làm gì có họ Tiếu tên Lâm?...
Theo thiển ý thì Tiếu Lâm chỉ có nghĩa là "Rừng cười" mà sách Tiếu lâm chỉ là một tập sách góp lại những chuyện cười của nhân dân, những chuyện cười có tác dụng như trên kia đã nói.
Kể ra có hàng ngàn, hàng vạn, nhưng ở đây với sức một người chỉ gom góp và chọn lọc được ít truyện mà thôi.
Mong các bạn đọc thông cảm và cầu chúc dân tộc ta, một dân tộc biết cười, giỏi cười, đã sáng tác ra vô số những cái cười sâu sắc, giá trị, hãy sáng tác thêm nữa và cho nhiều hơn nữa.
CỬ TẠ
1. CHẾT VÌ CƯỞI
Thuở xưa, có cặp vợ chồng ông nhà giàu, một hôm đi chơi mắc phải một trận mưa thật lớn.
Vì không đem theo dù, nón, nhân thấy vắng người liền cởi hết quần áo ra để trên đầu che cho khỏi ướt, và tự cho đó là vô cùng tiện lợi.
Khi về đến nhà, ông chồng thấy bà vợ thổn thễn, người trần như đứa trẻ mới sanh, mới cao hứng đưa tay bắt quàng lưng vợ và bắt chước như kiểu gà trống cục cục gà mái.
Giữa lúc hai vợ chồng đùa giỡn, một anh chàng ghé lại đụt mưa dưới mái nhà trông thấy phá lên cười, rồi vì cười quá mà chết ngay tại chỗ.
Hai vợ chồng nghe động vội mặc quần áo lại. Người chồng chạy ra xem có chuyện gì, thì ngay trước cửa, một xác người mới chết nhăn răng ra. Hoảng hồn, ông vội đi trình Lý trưởng. Lý trưởng đưa việc lên trên huyện. Quan huyện sai lính về bắt hai vợ chồng lên hỏi, và khép vào tội tử hình vì đã giết người.
Hai vợ chồng lại van, kêu oan. Quan huyện không nghe.
Hai vợ chồng kêu bẩm:
- Dạ thưa Quan lớn, hay có lẽ anh này đã chết vì cười quá?
Quan huyện nghe nói, nhướng mắt lên tò mò hỏi tại sao. Ông nhà giàu kể lại đầu đuôi việc mình bị gặp mưa, rồi diễn lại sự đùa giỡn với vợ ở trước mặt quan và nha lại.
Quan huyện và nha lại thấy lố lăng quá, ôm bụng cười, rồi cũng vì cười quá thành bị đứt ruột ra mà chết.
Hai vợ chồng nhà giàu nhờ thế thoát tội. Và thành ngữ "Chết cười" hay "Cười chết đi được" cũng do tích này mà phổ thông vậy.
2. LÀNG SỢ VỢ
Một làng nọ, tất cả đàn ông trong làng từ ông to, sang nhất trở xuống, không một người nào mà không sợ vợ, mà sợ cho đến nỗi đứng trước một người đàn bà nào, là tất cả đều run lên và nín thinh, chẳng ai nói đặng một câu nào.
Tới khi dân làng mở hội nghị, các ông mới đem chuyện này ra thảo luận và cho đó là một vấn đề tối quan trọng cần được giải quyết. Nhưng giải quyết làm sao? Các ông bàn đi bàn lại mãi chẳng ông nào nẩy ra được ý kiến gì. Sau đó, một ông già tuổi cao chức trọng nhất trong làng đưa ra một ý kiến là tế Trời thì hết.
Toàn thể đều hoan nghênh. Nhưng làm sao mà tế? Tế ở đâu? Sau chót, một ông nẩy ra sáng kiến là để đến sáng ngày 30 Tết thì tế, tế tại một cánh đồng ở đầu làng, vì chỉ có sáng hôm ấy, tất cả các bà đều vắng nhà đi chợ sắm Tết..
Ý kiến ấy lại cũng được tán thành và hoan hô nhiệt liệt.
Thế rồi đến ba mươi Tết, trong khi các bà đi chợ Tết, các ông mới ùn ùn tụ lại và cử hành tế lễ.
Cuộc tế lễ bắt đầu.
Ông cụ già tuổi cao chức trọng làm chủ tế, hai ba ông thứ nữa làm bồi bái. Còn bao nhiêu thì xúm quanh dự lễ.
Cuộc lễ diễn hành, khói nhang nghi ngút, trống kèn vang dậy. Ông chủ tế và ba ông bồi bái cùng mặc áo tế: Tất cả bốn ông đều quỳ xuống, làm lễ, đọc văn. Đang lúc ấy, bỗng đâu có hai người đàn bà ở làng khác đi chợ về qua. Thần hồn nát thần tính, các ông ngó thấy tưởng mấy bà trong làng, mới ùn ùn mạnh ai nấy chạy, đen cả cánh đồng như đàn chim vỡ tổ.
Khi chạy một quãng xa, các ông nhìn thấy hai người đàn bà đã khuất bóng mới hoàn hồn vía. Song lúc đó, các ông thấy ông chủ tế và ba ông bồi bái vẫn quỳ mà không chạy, nên bảo nhau:
- Chắc là mấy cha vô tế chính thức nên Trời Thần mới phụ hộ cho không còn sợ nữa.
Thế rồi các ông trở lại, nhưng đến nơi thì mấy ông bồi bái và ông chủ tế đã ... chết cóng từ lúc nào không hay, vì các ông này sợ quá nên không còn kịp đứng lên mà chạy được.
3. GIỐNG GIAN TỰU VỊ
Ngày xưa có anh nhà giàu nọ thường hay đi kiện cáo lung tung. Những việc anh làm đều trái phè, nhưng nhờ tiền của đút lót khắp nơi, trên từ các quan tỉnh huyện, dưới đến các viên chức nha lại, thành ra vụ nào anh ta cũng thắng.
Bữa nọ, vì có lẽ anh ta đã giác ngộ chăng, nên bảo với những người đối lập:
- Tôi đây sinh trưởng ở thôn dã, vì ít học, bấy lâu cứ tưởng cửa công là chỗ đèn trời soi xét và các quan chức là phụ mẫu dân thật, chớ có dè đâu chỉ toàn một lũ chằng trong sạch tí nào. Thường ngày mình tưởng họ là những người tự trời rơi xuống, nhưng khi vào việc mới hay là những tên trộm cướp ban ngày có áo mũ cân đai cùng kẻ hầu người hạ.
Anh ta than thở như thế rồi nhân một hôm gặp lễ tế trời, các quan tỉnh huyện, cùng các viên chức nha lại đều vào hành lễ, anh thấy viên điểm lễ đứng xướng:
- Bá quan tựu vị (các quan đều tới chỗ mình đứng).
Tức thì anh cũng xướng tiếp:
- Giống gian tựu vị.
Các quan kinh ngạc nhìn nhau, định sai lính bắt kẻ hỗn láo, nhưng khi nhìn lại thì thấy kẻ đó chính là kẻ đã đút lót cho mình quá nhiều nên đành nín thinh cho qua chuyện, và thế là hoà cả làng vậy.
Bởi thế nên đời mới có câu ca rằng:
Giống quan là giống gian tham.
Hạ cám thượng vàng bất kể thứ chi.
Tuồng vô nghĩa, lũ bất nghì.
Ai ơi nhớ lấy kẻo thì lầm to!...
4. CUA CẮP
Chị nọ có tánh ăn vụng chồng con, nên một hôm đi chợ mua cua, chị chọn lấy con to nhất giấu vào trong ngực để về sẽ lẻn vào trong bếp nướng ăn.
Khi đến cổng chùa, con cua bất thình lình sổ càng nên nhè ngang vú chị mà cắp. Đau quá, chị ta nằm lăn ra khóc lóc, kêu la.
Vừa lúc ấy, một nhà sư đi hái mơ lông về thấy thế liền ghé miệng lại để gỡ con cua ra. Chẳng may miệng nhà sư vừa ghé liền bị con cua giơ càng kia ra cắp luôn vào môi. Thế là cả hai chỉ con một cách nằm trước cửa chùa mà mếu máo xuýt xoa.
Người chồng chị nọ ở nhà chờ mãi không thấy vợ đi chợ về, mới sai con đi đón. Thằng nhỏ vừa đến cổng chùa, đã vội chạy ù về gọi bố.
- Bố ơi bố, mẹ con đang mắc cho ông sư bú ở cổng chùa bố ạ.
Người chồng lấy làm ngạc nhiên, vội vàng chạy ra xem sự thể thế nào. Nhưng khi gỡ được, thì chị vợ nọ vú cũng sưng vù, mà sư ông thì miệng cũng vếu lên to tướng.
Chị nọ mắc cỡ đi về. Còn sư ông thì vừa lấy tay xoa miệng, vừa lẩm bẩm:
- Mô Phật!...
Từ nay xin cạch đến già.
Mặc ai cua cắp chớ tra miệng vào.
5. GIÁ GẶP TAY TAO
Tại xóm kia, có anh chàng khét tiếng sợ vợ.
Một hôm người vợ đi khỏi, để lại cái quần phơi ngoài sân. Trời mưa xuống, cái quần bị ướt. Anh ta thấy thế cứ để mặc, vì tính anh rất sợ cầm quần đàn bà. Cái đó không lấy gì làm lạ, vì theo quan niệm anh thì quần đàn bà là một thứ đồ dơ anh phải cữ không bao giờ đụng đến, vì lỡ ra óc thanh niên bị ngu tối thì bỏ đời.
Khi người vợ về, thấy chồng ở nhà cả ngày mà cái quần phơi cũng không chịu cất để cho mưa ướt, tức quá nổi tam bành lục tặc la hét om sòm, rồi nắm đầu anh ta xuống đánh cho một trận.
Thấy tình cảnh diễn ra như vậy, một anh khác ở nhà liền vách nghĩ tức quá, song mắc dỡ nấu cơm không qua can được, mới vỗ ngực ra vẻ ta đây:
- Mẹ kiếp, giá gặp tay tao thì phải biết.
Vợ anh đang làm ở ngoài sân, nghe nói liền sấn sổ chạy vào, hai mắt trợn trừng và la hét.
- Giá gặp tay tao thì tao định làm gi, làm gì?
Anh ta quýnh lên, song cũng lanh trí trả lời ngay:
- Giá gặp tay tao thì, thì... tao đã cất ngay từ lúc trời còn chưa mưa!!!
6. PHẢI LÀM THEO
Một chàng nọ đi ở rể. Khi đi, mẹ chàng căn dặn:
- Con đi làm rể phải ráng sức siêng năng, hể cha vợ con làm gì con cũng phải làm theo, chớ có làm biếng nghe con.
Chàng ta đi ở nhà cha vợ.
Một hôm cha vợ đem cuốc ra sau vườn cuốc đất. Đinh ninh nhớ lời mẹ dặn, chàng ta hăm hở chạy ra giựt lấy cuốc:
- Ba để con làm cho.
Người cha vợ đưa cuốc cho chàng ta rồi chạy đi bứng cây. Chàng ta lại bỏ cuốc, lật đật chạy lại:
- Ba để con làm cho.
Người cha bực mình không nói gì, bỏ đi hái rau. Anh chàng lại chạy theo:
- Ba để con làm cho.
Người cha nổi giận đi về, chẳng may đi ngay bụi tre, cái khăn bịt đầu để vướng lên cành rào. Anh chàng rể thấy thế liền cởi khăn của anh máng lên cành tre rồi về.
Đỏ mặt tía tai, ông cha vợ trở vào nhà quát mắng bà mẹ vợ:
- Đồ ngu, kén rể cái gì mà quý hóa như vậy?
Rồi anh ta chạy lại giơ thẳng cánh chân đạp cho bà mẹ vợ một cái. Bị trúng chỗ nhược, bà chết ngay tại trận.
Án mạng xảy ra, việc này phải đưa lên quận.
Quan quận cho bắt anh vào hỏi:
- Đồ bất hiếu, sao mày lại đánh chết mẹ vợ?
Anh ta kể lại đầu đuôi, và thuật lại lời mẹ dặn.
Quan quận nghe xong không biết xử trí làm sao, mà hễ hỏi đến thì nó trả lời:
- Dạ quan lớn, khi con đi làm rể, mẹ con ở nhà dặn: "Hễ cha vợ làm gì thì con phải làm nấy".
7. THÈM QUÁ
Có một con chó, lúc ở trên trần bị người ta làm thịt, khi xuống âm phủ, oan hồn của nó đi kiện với Diêm Vương.
Đức Diêm Vương nghe quỷ sứ vào bẩm, truyền cho phép vào và hỏi:
- Nhà ngươi có chuyện chi oan ức ở trên trần, cứ khai cho minh bạch.
Con chó tâu:
- Dạ tâu Đức vua, bọn người chúng nó ở trên dương thế làm thịt con.
Diêm Vương phán:
- Nó làm thịt, được cứ khai rõ đầu đuôi đi, trước hết bọn chúng nó làm sao?
- Dạ bẩm, trước hết bọn chúng nó trói con lại, thọc huyết con, đập đầu con, tưới nước sôi lên mình con, rồi xúm lại cạo lông con.
- Sao nữa? Nói mau lên! Diêm Vuơng phán.
- Dạ thưa Đứa Vua, cạo sạch xong chúng nó lấy lửa rơm thui vàng, đoạn chặt ra từng mảnh, từng khúc bỏ vào rổ. Rồi bắc chảo lên, bắc nồi lên, đổ mỡ vào, cho sả, cho riềng, cho nước dừa khô với hành, tương, nước mắm... cái thì đánh tiết canh, cái thì làm dồi, cài thì khìa, cái thì xào lăn, cái thì nấu dựa mận...
Nghe đến đó, Diêm Vương vừa nuốt nước miếng, vừa xua tay:
- Thôi, thôi! Nhà ngươi đừng nói nữa. Nghe thèm quá.
8. CHỒNG NÀO VỢ NẤY
Ở nhà quê có cặp vợ chồng tính thích ăn vụng. Một hôm người vợ đi làm ngoài ruộng về, thấy trên bếp có nồi xôi đậu vừa chín tới. Đang đói lòng, chị ta bèn bốc ngang một nắm để ăn.
Người chồng lúc đó chưa về. Chị ta sợ chồng bắt gặp, mới đứng ở xó cửa mà nhai.
Nào ngờ chưa ăn hết thì chồng về tới. Anh chồng cũng đang lúc đói bụng lại gặp ngay nồi xôi. Anh ta muốn ăn quá mà lại sợ vợ biết. Thế rồi hai mắt anh ta láo liên như quan sát hồi lâu, rồi bốc lấy một nắm đem vào xó cửa để ăn lén.
Ai dè anh ta vừa đẩy cánh cửa ra thì bắt gặp ngay vợ đang câm xôi nhai. Anh hốt hoảng kêu lên:
- Ơ kìa, má nó đấy à?
Trông thấy vợ cầm xôi, anh ta nhanh trí nói tiếp luôn:
- Tao tưởng má mày ăn hết rồi, nên đem thêm vào cho một nắm nữa đây nè.
9. TRA CÁN
Lão thầy pháp nọ đi làm tuần cho một đám kia. Khi viết sớ, lão hỏi tên chị chủ nhà, chị cho biết tên là Nguyễn Thị Tròn.
Vì sớ phải viết bằng chữ Nho, mà chữ Nho không có chữ tròn. Còn chữ Nôm thì lão không biết viết làm sao. Quốc ngữ cũng mù tịt.
Bí lối, lão mới vẽ một cái vòng tròn để lúc đọc cho nhớ.
Một anh hàng xóm qua chơi thấy vậy thừa lúc lão ngoảnh mặt đi, mới cầm bút xổ vào cái vòng tròn một cái.
Vì thế tối đến, lúc vào tuần sớ, lão cứ Nguyễn Thị Gáo mà đọc đi đọc lại. Chị chủ nhà nghe vậy tức quá mới bảo lão ta ngừng lại hỏi:
- Tôi tên là Nguyễn Thị Tròn, tại sao trong sớ thầy lại đọc là Nguyễn Thị Gáo?
Lão ta lúc đó mới mắc cỡ, té ngửa người ra và trả lời:
- Tên chị là Tròn, tôi đã nhớ, đã khuyên tròn một cái, không biết đứa mắc dịch nào nó lại tra cán vào thế này.
10. ĂN MẤT RỒI
Một anh chàng nọ cưới phải một cô vợ đã có máu sư tử Hà đông, lại còn đi cưới thêm một cô vợ nhỏ về, làm cho nội bộ gia đình cứ hục hặc, lủng củng. Người vợ lớn đánh ghen mãi mà người chồng vẫn tật nào nết ấy.
Tức quá, cứ tối lại, chị ta đem vợ nhỏ nhốt vào trong buồng, rồi ngả ghế bố nằm chắn giữ ngay cửa, không cho anh chồng bén mảng tới người vợ nhỏ.
Anh chàng nghĩ mãi không biết làm sao được. Một đêm, anh để vợ lớn ngủ say, rồi thừa cơ chui qua gầm ghế bố lẻn vào thì thầm với vợ nhỏ.
Vợ lớn thấy động, tức tốc dậy đốt đèn soi. Thấy thế anh chàng này chui ngay xuống gầm giường vợ nhỏ. Chị vợ lớn soi đèn bắt gặp hỏi:
- Ai ngồi đây?
- Tao chớ ai?
- Tao ngồi làm gì đây?
Anh chồng túng kế quá trả lời:
- Ngồi ỉa chứ ngồi làm gì nữa?
- Ỉa thì cứt đâu?
- Thì ăn mất rồi chớ còn đâu nữa mà hỏi?
11. HÂN HẠNH
Vùng quê nọ có một anh chàng ngu thậm là ngu, đi đâu vợ cũng phải căn dặn đủ điều. Bởi thế người làng mới đặt tên cho anh ta là Ngốc, rồi quen miệng gọi là Ngốc và quên hẳn cái tên thật của anh.
Một hôm anh ta lên thành phố thăm người bà con, chị vợ dặn anh ta nhớ đi đến nơi về đến chốn, ra đến nơi hễ người ta có hỏi: "Bác ra chơi đó ư?", thì trả lời "Dạ, tôi là Ngốc đây ạ". Và có hỏi: "Bác ra đây có một mình sao?", thì trả lời "Dạ có một mình thôi ạ". Và nếu có bảo: "Bác ở chơi dăm ba bữa hẳn về", thì trả lời "Tôi đi đến đây chỉ ước được như vậy, nay được như thế thì còn gì hân hạnh bằng".
Ngốc ta lủi thủi ra đi, nhẩm mãi những câu vợ dặn cho thuộc lòng, sợ lỡ quên thì anh em bà con ở tỉnh người ta cười là nhà quê dốt nát.
Khi lên tỉnh, anh ta thấy một đám đông, liền quên hết lời vợ dặn, anh ta lẻn vào xem. Té ra là một vụ chém lộn, kẻ bị thương nằm sóng sượt dưới đất, còn hung thủ đã cao chạy xa bay, mất biệt hẳn tung tích.
Nhà chức trách phái lính cảnh sát đến làm biên bản và mở cuộc điều tra. Mọi người sợ vạ lây ai nấy đều dang ra, chỉ riêng chàng Ngốc ta là lại sát để xem. Lính cảnh sát liền hỏi:
- Anh biết ai chém người này không?
Ngốc ta sực nhớ lời vợ dặn nên anh trả lời ngay:
- Dạ chính tôi, Ngốc đây ạ.
Lính cảnh sát hỏi thêm:
- Có một mình anh hay ai nữa?
- Dạ, chỉ một mình tôi thôi ạ.
Ông cò đứng bên nghe vậy liền sai lính trói lại điệu về bót.
Ngốc ta tưởng cũng cần trả lời cho hết câu vợ dặn, nên lại đáp ngay rằng:
- Tôi đi đến đây chỉ ước được như vậy, nay được như thế thì còn gì hân hạnh bằng.
12. MỒ HÔI MỰC
Ông hương chức nọ tính thích ăn đậu đen luộc, song mắc phải chứng la sợ vợ như sợ cọp.
Một hôm bà vợ đi khỏi. Ông ta ở nhà lấy đậu bỏ vào nồi luộc để ăn. Nhưng đậu vừa chín, ông ta chưa kịp ăn, bà vợ đã về. Sợ để vợ biết thì nguy, lúc đó, ông ta lại phải sắp sửa đi họp việc làng để tế thần. Ông ta nghĩ ngay ra một kế rất thần diệu là trút ngay đậu vào mão tế, rồi đội lộn lên đầu để vợ khỏi trông thấy.
Khi vô tế thần, nước đậu cứ rỏ xuống mặt ông ròng ròng.
Có ông hương chức khác thấy thế hỏi tại sao, ông ta đáp:
- Ấy, tôi thường có chứng đổ mồ hôi mực, nên hễ khi nào phải cử động nhiều thì nó chảy vậy đó.
13. CHỮ ĐIỀN
Một ông thầy đồ nọ đi dạy học ở nhà kia.
Bữa nọ chủ nhà sai con bưng lên một dĩa bánh cam. Thầy ăn xong, nhưng nghĩ còn thèm thèm trong bụng... Thấy dĩa dính nhiều mật, thầy tiếc. Song chẳng lẽ trước mặt bao nhiêu học trò mà giở cái ngón "sách chụt" thì còn gì mặt mũi.
Thầy nghĩ mãi bỗng nẩy ra một kế. Thế rồi, thầy bèn tựa vào tráp, tay ngúc ngoắt roi mây, đùi run nẩy lên, tưởng như đổ giường, sập ván ngay. Thật là một phút "xướng kỳ" không thể tưởng.
Xong, thầy dõng dạc truyền: "Ta ra cho tụi bây một chữ này, thằng nào không nói ra được thì ta sẽ đánh đòn".
Nghe nói, lũ học trò tên nào tên nấy đều sợ, mặt xanh như tàu lá.
Thầy ung dung, thản nhiên liếm ngang chiếc dĩa rồi nói:
- Ê, chữ này chữ gì?
Học trò ngơ ngác nhìn nhau, buồn cười nhưng không dám động mép.
Thầy được thể quát:
- Chữ Nhất mà không biết. Tụi bây sao dốt quá vậy?
Được thế vững, trông trong dĩa còn nhiều mật, thầy lại liếm dọc cái dĩa hỏi:
- Thế chữ này là chữ gì?
Học trò lại ngơ ngác, thầy lại được thể thét:
- Đồ ăn cám. Chữ này là chữ Thập mà không thằng nào biết.
Thầy nhìn dĩa vẫn con nhiều mật, tiếc quá, nên thục mạng liếm một cái vòng tròn mà rằng:
- Còn chữ này nữa là chữ gì? Nếu không thằng nào nói được, tao đánh nát xương ra.
Cả trường lúc đó lại im phăng phắc nữa. Thừa thế thầy bèn vút veo véo roi mây xuống giường quát:
- Đấy là chữ ĐIỀN mà không thằng nào biết cả, chữ thánh dạy để đâu?
Dĩa đường lúc đó mới sạch trơn, thầy bỏ xuống và ra vẻ tức giận vô cùng.
14. NGHE SAO LÀM VẬY
Có một ông thầy thuốc bắc mỗi lần đi coi mạch lại dẫn theo một anh học trò.
Một hôm đi coi mạch cho người bệnh. Coi xong, thầy ta nói:
- Tôi đã dặn đừng ăn đồ chua, sao ăn vào để cơn bệnh nó tăng lên thế này?
Bệnh nhân thú thiệt với thầy là mình đã trót lỡ ăn đồ chua, nhờ thầy cố tìm phương chạy cho.
Khi trở về, anh học trò hỏi:
- Thưa thầy, tại sao thầy coi mạch giỏi thế, coi mạch mà đoán biết cả ăn đồ chua thì thật là Hoa Đà, Biển Thước sống lại cũng không bằng.
Thầy lang trả lời:
- Cái đó có chi lạ đâu, bởi tôi nhìn lên giường thấy bên người bệnh còn miếng vỏ chanh. Do đó, tôi biết con bệnh đã ăn. Tuy thế mình nói nó mới ăn đồ chua thì nó mới phục mình và cái nghề mình mới kiếm ăn được chớ.
Học được kế đó, khi anh học trò thôi học ra hành nghề. Một bữa nọ đi coi mạch cho người bệnh, anh ta đoán:
- Chứng bệnh này do ăn thịt gà mà ra.
Người bệnh không chịu, anh ta cứ nhất định là có. Câu chuyện cứ cãi đi cãi lại, rốt cuộc chủ nhà nổi nóng đuổi thầy đi.
Bị một trận mắc cỡ nên thân làm mất cả tiếng tăm. Anh ta tức quá, không biết tại vì lý do gì mới đến hỏi thầy học.
Thầy học hỏi:
- Vậy thế nào mà anh lại đoán nó mới ăn thịt gà, để đến nỗi xảy ra chuyện không hay thế?
Anh ta thưa:
- Cái đó cũng do kinh nghiệm thầy dạy cho. Trước khi vào nhà, coi đã để mắt quan sát kỹ rồi sau mới xem mạch. Sở dĩ con đoán ra nó ăn thịt gà là vì con thấy trên ván nhà nó có cây chổi lông gà còn mới nguyên.