#8 —
30.11.2018 14:06
(đã sửa)
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2018 18:16:07 bởi Ct.Ly>
20. Ở TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI
Vào tháng giêng năm ngoái, bão tuyết bắt đầu đổ xuống vùng tôi ở, thời tiết đã phản bội tôi! Mệt mỏi, lạnh lẽo, đau đớn, không chốn nương thân, không nơi ăn uống, không thổ lộ được nỗi đau khổ của mình với ai cả, không ai trên đời đáng để tôi tin tưởng. Tình cảnh của tôi lúc ấy là như thế đó. Tất cả mọi cánh cửa ở London đều đóng lại trước mắt tôi, mặc dù tôi là người vô hình đi nữa.
Rồi sau đó, chợt nảy ra một ý kiến rất hay, tôi bèn lần đến cửa hàng Omnium, một cửa hàng lớn bán đủ thứ mặt hàng từ thực phẩm đến vật dụng gia đình. Lúc tôi đang đứng ở lối ra vào thì một chiếc xe chở hàng dừng lại bên ngoài. Một nhân viên ra mở cửa, tôi liền tìm cách lẻn vào.
Nhưng vì người mua kẻ bán đi lại tấp nập nên tôi phải lánh đến một gian hàng lớn bán giường nệm trên tầng hai. Tôi tìm được một chỗ ở giữa đống nệm bông và chui vào đó nghỉ ngơi. Tôi dự định chờ cơ hội để kiếm thực phẩm, chút ít tiền và áo quần để cải trang đến nhận gói vở ở nơi gửi rồi sau đó tìm chỗ trọ để thực hiện các ý đồ của mình.
Giờ đóng cửa đã tới. Khách hàng lục tục kéo ra về. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy những người bán hàng dọn dẹp một cách nhanh chóng những hàng hóa đã bày bán suốt ngày. Các hộp đựng hàng hóa, vải vóc, bánh kẹo, đã nhanh chóng được để vào chỗ của chúng một cách ngăn nắp. Cuối cùng những cái ghế ngồi được lật ngược để lên các quầy làm cho sàn nhà được trống trải. Rồi một số nhân viên vệ sinh đến quét dọn lau chùi. Cuối cùng cửa tiệm đóng và khóa lại. Không còn tiếng ồn ào nữa. Khi sự im lặng bao trùm khắp nơi, tôi mới bắt đầu đi lang thang một mình qua các quẩy hàng chằng chịt và các phòng trưng bày tranh.
Chỗ tôi đến đầu tiên là cửa hàng bán vớ dài và găng tay. Chung quanh tối om nên tôi phải đi lục tìm diêm quẹt. Thật khó khăn nhưng cuối cùng tôi cũng tìm được nó trong ngăn kéo đựng tiền của bàn viết. Rồi tôi phải tìm đèn sáp. Thắp nến lên, tôi xáo trộn khắp mọi nơi, ngăn kéo, hộp và thậm chí xé cả bọc để tìm những vật dụng cần thiết như giày, vớ, quần áo, áo khoác, khăn quàng, nón.. Tôi cảm thấy mình trơ lại thành con người và điều tôi nghĩ kế tiếp là thực phẩm.
Trên lầu là gian hàng bán thức ăn nhanh, tôi tìm thấy được món thịt nguội, còn cà phê thì có sẵn trong hộp, tôi đàng hoàng đốt bếp gas lên hâm nóng lại. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, tôi ăn uống ngon lành. Sau đó tôi đến gian hàng bán đồ hộp để lấy thêm một số chocolate, bánh kẹo cùng với mấy chai rượu vang trắng.
Gần đó là gian hàng bán đồ chơi. Tôi chợt nghĩ ra một ý kiến hay và tìm được một chiếc mũi giả. Cần thêm một chiếc kính mắt sậm màu. Nhưng ở đây không có gian hàng bán kính. Thật ra chiếc mũi cũng không vừa. Lại còn phải có tóc giả và mặt nạ nữa chứ.
Cuối cùng tôi leo lên ngủ trên đống nệm trải giường ấm áp và thoải mái. Tôi thiếp đi trong một cơn ác mộng hỗn độn về tất cả những điều kỳ dị đã xảy ra trong mấy ngày qua. Tôi thấy người chủ nhà xấu xí nhỏ nhắn la lối trong phòng tôi. Tôi thấy hai người con trai lạ lùng của bà chủ nhăn mặt hỏi về con mèo. Tôi trở lại cảm giác lạ lùng khi thấy cái khăn biến đi mất. Tôi đi vòng qua sườn đồi lộng gió và người thầy tu già hít mũi lầm thầm: “Thế rồi cát bụi lại trở về với cát bụi”.
Tôi mơ thấy cảnh người ta đưa đám và chôn cất cha tôi. Cái miệng huyệt của cha tôi mở ra, một giọng nói cất lên: “Cả mày nữa!”. Rồi bỗng nhiên tôi bị ai đó dẩy xuống huyệt. Tôi vùng vẫy la lối, nhưng họ vẫn tiếp tục. Người thầy tu già lẳng lặng hít mũi làm lễ. Tôi nhận ra rằng mình vô hình và không nghe tiếng nói, và những sức hỗn độn đè lên người tôi. Tôi vùng vẫy trong tuyệt vọng. Chiếc quan tài mở ra toang hoác hút lấy tôi. Những cái vá sỏi bay theo lấp tôi lại. Vì tôi vô hình nên chẳng ai để ý tới. Tôi oằn mình vùng vẫy và sực tỉnh giấc.
Ánh sáng ban mai nhợt nhạt của London đã ùa đến. Tôi ngồi dậy và quên mất nơi đây là một gian hàng... Và khi nhớ lại mọi chuyện, tôi nghe có tiếng người nói.
Rồi phía dưới các gian hàng đã sáng hơn, tấm màn cửa được kéo lên, tôi thấy hai người đàn ông đi tới. Tôi nhổm dậy nhìn quanh để tìm đường trốn. Tiếng động của tôi gây nên làm họ chú ý.
- Ai đó? - Một người la lên.
- Dừng lại! - Người kia thét lớn.
Tôi trong hình dạng một hình người không đầu lao vụt ra một góc và đâm bổ
vào một đứa bé trai chừng mười lăm tuổi. Tôi đẩy làm nó té nhào và chạy vượt qua, rồi ẩn mình trong một quầy hàng khác. Một lúc sau, tiếng chân rầm rập chạy qua và tôi nghe thấy tiếng la lên: “Tất cả giữ chặt lấy cửa!”. Tiếng hỏi han. Tiếng quát tháo khắp nơi.
Nằm trên sàn, tôi sợ mất vía. Thật kỳ quặc. Lẽ ra vào lúc đó tôi nên cởi bỏ hết quần áo thì tôi lại quyết định cứ để nguyên như vậy mà chạy trốn. Chỉ lát sau, qua khe hẹp của quầy hàng có tiếng kêu lên: “Nó đây rồi!”
Tôi bật đứng dậy chụp lấy một cái ghế ngồi trên quầy, quẳng nó vào tên ngốc vừa kêu lên, rồi quay mình phóng lên lầu.
Tên ngốc ấy né mình tránh cái ghế, kêu lên ngạc nhiên và tiếp tục đuổi sát theo tôi. Trên lầu chất đầy những bình, lọ có màu sắc rực rở. Gọi là gì nhỉ?
- Bình mỹ nghệ. - Kemp đoán.
- Đúng đấy, bình mỹ nghệ. Thế là vừa chạy đến đầu cầu thang, tôi quay lại, chộp lấy một chiếc bình và đập vỡ tan vào đỉnh đầu tên ngốc ấy khi hắn vừa lao lên. Cả đống bình lọ đổ nhào xuống. Tôi nghe thấy những tiếng la hét và tiếng chân chạy khắp bốn phía. Tôi phóng như điên về phía quầy ăn uống. Một gã đầu bếp mặc đồng phục trắng đuổi theo tôi. Tôi lẩn nhanh vào quầy bán đèn và đồ sắt, dùng một cái để đèn giáng vào gã nấu bếp làm hắn ngã lăn ra. Lúc này tôi mới nghĩ đến việc phải vội vàng cởi ngay bộ quần áo đang mặc trên người. Áo khoác, quần dài, giày... cởi ra thật dễ dàng, còn cái áo lót thì cứ bó chặt lấy người tôi như bám vào da vậy. Tôi nghe có tiếng nhiều người đang đi đến. Gã đầu bếp còn nằm bất tỉnh bên kia quầy. Tôi lao vọt ra như con thỏ bị đuổi chạy ra khỏi bụi rậm.
- Đằng nàyl Ông cảnh sát ơi! - Tôi nghe thấy ai đó la lên. Tôi vội chạy trở lại phòng chứa khung giường và cuối phòng có kê những chiếc tủ đứng để đựng quần áo. Tôi lao vào giữa khe tủ và ngã sóng soài, nhưng rồi cũng cởi được chiếc áo lót ra. Tôi trở lại là người vô hình, đứng thở gấp. Một lúc sau, tôi đứng lên thở hổn hển và sợ sệt nhìn viên cảnh sát và ba nhân viên của cửa hàng đi quanh góc. Họ chạy ào tới khi thấy chiếc áo lót, chiếc quần chẽn, cuộn theo cả chiếc quần dài có cả dây đeo.
- Hắn đã bỏ lại những thứ đồ vật đã ăn trộm ở đây! Nhất định hắn đang quanh quẩn ở đâu đây thôi! - Một gã trẻ tuổi nói.
Tuy vậy, họ vẫn không tìm ra tôi.
Tôi đứng xem họ lùng sục một lúc, rồi nguyền rủa số phận ăn mày đã để mất hết quần áo. Sau đó, tôi đi đến quầy giải khát, uống một ly sữa, rồi đến bên lò sưởi suy gẫm về tình cảnh mình hiện nay.
Một lát sau hai người phụ việc đi vào quầy và bắt đầu bàn tán sôi nổi về vụ trộm.
Ở đây đã được báo động cả rồi, lúc này thật khó mà mang ra khỏi cửa hàng bất cứ thứ gì. Khoảng mười một giờ trưa, tuyết tan ngay khi vừa rơi xuống, thời tiết trở nên đẹp và ấm hơn. Biết không thể trông mong được gì ở cửa hàng này nữa, tôi quyết định bỏ ra ngoài, mất hết mọi hy vọng thành công.
&&&
21. TRONG NGỎ HẺM DRURY
Người vô hình tiếp tục kể:
- Có lẽ bây giờ ông đã bắt đầu nhận ra đầy đủ những điều bất lợi trong cảnh ngộ của tôi, không chốn nương thân, không quần áo mặc. Mặc quần áo vào đồng nghĩa với việc từ bỏ lợi thế của mình, là tự biến mình trở thành một vật kỳ quái và dễ sợ. Tôi luôn bị những cơn đói dằn vặt, vì nếu ăn là tự đưa vào cơ thể những chất chưa được chuyển hóa và chúng sẽ trở thành những vật nhìn thấy được.
- Tôi chưa bao giờ nghĩ ra điều đó - Bác sĩ Kemp nói.
- Trước đó tôi cũng vậy. Và tuyết cũng báo trước cho tôi biết những mối nguy hiểm khác. Tôi không thể đi ra ngoài lúc tuyết rơi được, vì những bông tuyết bám lên người sẽ làm tôi lộ diện. Mưa cũng vậy, nó sẽ biến tôi thành một hình bóng bằng nước, một bề mặt bong bóng hình người lấp lánh. Và sương mù nữa, tôi sẽ trở thành một bong bóng mờ nhạt hơn trong sương mù, một bóng ma chập chờn hình người. Hơn nữa, khi đi ra ngoài trong không khí ở London, tôi sẽ bị bụi bẩn bám vào mắt cá chân và những nếp nhăn trên da. Tôi không rõ đi ra ngoài trong bao lâu như thế tôi sẽ trở thành hữu hình. Nhưng chắc là cũng không được lâu.
Dù sao đi nữa tôi cũng không thể ở lại London được. Vấn đề cấp bách nhất của tôi là kiếm quần áo. Nhưng phải làm gì để hóa trang bộ mặt thì quả là tôi còn lúng túng.
Tôi đi về hướng khu nhà ổ chuột ở đường Great Portland để tìm một chỗ có thể trú ngụ được. Sau đó, tôi nhìn thấy trong một cửa hàng tạp hóa bán đủ thứ báo chí, bánh kẹo, đồ chơi, giấy bút, hình nộm của đêm Giáng sinh và một dãy mặt nạ cùng những chiếc mũi giả. Tôi đã tìm ra cách giải quyết. Tôi đi quanh quẩn, nhưng không còn vô mục đích nữa. Đi vòng vèo để tránh lối đi đông người, tôi tiến đến những con đường phía sau khu Strand, vì tôi vẫn nhớ dù không biết chính xác là ở đâu. có vài cửa hàng bán trang phục sân khấu.
Trời lạnh, gió bấc thổi lạnh cắt da. Tôi rảo bước để bớt lạnh. Mỗi lần băng qua đường đều nguy hiểm, mỗi người khách đi đường đều phải cảnh giác coi chừng. Một
lần nọ, khi tôi sắp sửa vượt qua một người đang ở đầu đường Bedford, bỗng nhiên ông ta quay lại đụng vào tôi, làm tôi văng ra đường, suýt chút nữa bị bánh xe ngựa cán...
Cuối cùng rồi tôi cũng đến được nơi tôi muốn tìm, một cửa hàng nhỏ bụi bậm và bẩn thỉu ở gần hẻm Drury. Trong tủ kính bày đầy những dây kim tuyến, đồ trang sức giả, tóc giả, cờ domino và tranh ảnh sân khấu. Cửa tiệm cũ kỹ và tối tâm, trên đó có bốn tầng trông thật buồn bã. Nhìn kỹ qua cửa sổ không thấy có ai bên trong, tôi bước vào. Cửa mở làm cái chuông kêu leng keng. Kế hoạch của tôi bây giờ hoàn toàn rõ ràng. Tôi dự định bí mật lẻn vào nhà, lên lầu để tìm một dịp may. Chờ khi mọi vật im lặng, tôi sẽ lục lạo tìm ra tóc giả, mặt nạ, kính đeo mắt và y phục rồi hòa nhập với mọi người, có lẽ hình dạng của tôi lúc ấy khá kỳ lạ nhưng còn có thể chấp nhận được. Luôn tiện tôi sẽ cướp một ít tiền có sẵn trong nhà.
Sau ít phút tôi nghe thấy tiếng chân nặng nề bước qua phòng và một người đàn ông hiện ra, đi xuống cửa hàng. Đấy là một gã thấp, gầy, lưng hơi gù, trán bóng láng, tay dài lòng khòng mà chân lại ngắn và vòng kiềng. Rõ ràng là tôi đã làm gã phải dừng bữa ăn. Gã nhìn quanh và tỏ vẻ bất ngờ khi thấy căn phòng trống không, rồi bực bội lẩm bẩm: “Lại là cái lũ nhóc chết tiệt!”. Gã bước ra cửa nhìn ngược nhìn xuôi suốt dọc theo đường, rồi quay vào, lấy chân đá mạnh vào cửa cho khép lại.
Tôi bước theo gã. Nhưng gã vội dừng ngay lại khi vừa nghe thấy tôi di động. Tôi cũng đứng sững lại, giật mình vì thấy gã thính tai quá. Nhưng hắn tiếp tục đóng sầm cửa ra vào lại.
Đang lưỡng lự, bỗng nhiên tôi nghe tiếng bước chân gấp gáp trở lui và cánh cửa lại bật mở. Gã đứng nhìn quanh cửa tiệm như người còn chưa thỏa mãn. Gã lẩm bẩm một mình và xem xét thật kỹ phía sau quầy hàng và sau lưng những vật treo một cách nghi hoặc. Gã để cửa vào nhà mở nên tôi lẻn ngay vào phòng trong.
Đó là một căn phòng nhỏ kỳ quặc, đồ đạc đơn sơ, có nhiều mặt nạ lớn treo trong góc phòng. Trên bàn vẫn còn bữa điểm tâm dở dang của gã. Và thật là trớ trêu đôi với tôi, ông Kemp ạ, tôi phải đứng nhìn mà ngửi mùi cà phê, trong khi gã tiếp tục bữa ăn. Những động tác ăn uống trông thật ngon lành của gã sao mà khiêu khích đến như vậy. Căn phòng có ba cửa ăn thông nhau, một lên lầu, một xuống và một ra cửa tiệm, nhưng tất cả đều đóng kín. Tôi không thể ra khỏi phòng khi gã vẫn đang ở đây, ngay cả cử động cũng rất khó vì tai gã rất thính. Tôi bị một luồng khí lạnh thổi từ phía sau lưng và hai lần tôi phải cố kìm lại để khỏi bật ra tiếng hắt hơi.
Tôi cảm thấy rất mệt mỏi và bực bội trong lúc gã chưa ăn xong. Gã thu dọn tất cả đồ đạc bày trên bàn lên mâm và bưng vào nhà bếp. Vì mải bưng, nên hắn không quay lại đóng cửa được. Nhân dịp đó, tôi cũng theo hắn bước vào căn bếp bẩn thỉu đó, nhưng vì nền gạch ở đó làm tôi lạnh chân, nên tôi trở lên lầu và ngồi vào chiếc ghế bành trước lò sưởi của gã. Lửa trong lò sưởi đang tàn, không cần suy nghĩ, tôi bỏ thêm than vào lò. Tiếng động này làm gã trở lên ngay lập tức và đứng ngó trân trân vào lò sưởi. Sau đó gã xem xét thật kỹ khắp phòng, suýt chút nữa thì chạm cả vào người tôi. Nhưng dù có cẩn thận đến như vậy, thì hình như gã cũng tỏ vẻ chưa được hài lòng. Gã còn đứng lại dò xét cẩn thận lần cuối trước khi trở xuống dưới nhà.
Thời gian tôi ngồi đợi trên căn phòng nhỏ ấy dường như dài vô tận. Cuối cùng, gã cũng quay trở lên và mở cửa dẫn lên lầu trên. Tôi lập tức bám sát theo hắn. Ở bậc thang, gã bỗng dừng phắt lại đột ngột, làm suýt chút nữa tôi đâm sầm vào gã. Gã đứng nhìn xuống dưới xuyên suốt qua mặt tôi và lắng tai nghe ngóng.
- Nếu có ai ở trong nhà này thì... - Gã vừa nói vừa đưa bàn tay dài đầy lông lá lên chùi môi dưới. Cặp mắt gã đảo lên xuống từ trên đến dưới thang lầu. Rồi gã gầm lên một tiếng và tiếp tục bước lên.
Ngay khi bàn tay gã đã đặt trên nắm cửa rồi mà vẫn bất thần dừng lại với nét mặt biểu lộ vẻ giận dữ hoang mang. Gã bắt đầu nhận ra tiếng động nhẹ nhàng do bước chân tôi phát ra. Chắc hẳn gã có một thính giác nhạy bén như quỷ sứ, nên bỗng nhiên nổi cơn thịnh nộ.
- Có ai trong nhà này không? - Gã kêu lên, kèm theo một tiếng chửi thề cay độc.
Gã thọc hai bàn tay lông lá vào túi, nhưng bất lực không tìm ra thứ cần tìm, và gã đùng đùng chạy vụt qua tôi xuống thang lầu. Còn tôi vẫn bình tĩnh ngồi ở đầu cầu thang cho đến khi gã quay trở lại.
Bấy giờ hắn lại chạy lên mở cửa phòng lần nữa, và tôi chưa kịp bước vào thì hắn đã đóng ập cửa lại ngay trước mặt tôi.
Tôi quyết định tìm hiểu ngôi nhà nên kiên nhẫn chờ thời cơ để làm việc đó. Căn nhà quá cũ kỹ và ẩm thấp đến nỗi giấy dán tường trong căn phòng trên cũng tróc ra từng mảng do bị chuột tấn công. Một số tay nắm cửa đã cứng và tôi rất sợ khi phải mở chúng. Tôi đã xem xét kỹ nhiều phòng nhưng không còn đồ đạc gì có giá trị cả. Trong một căn phòng ở gần phòng của gã, tôi tìm thấy rất nhiều quần áo cũ và bắt đầu lục lọi những món này. Mải miết lục lọi, tôi quên mất đôi tai thính như quỷ của gã. Khi tôi nghe được tiếng chân rón rén và ngước lên thì đúng lúc gã đã lách vào tới sát đống quần áo lộn xộn, tay cầm lăm lăm một khẩu súng ngắn kiểu cổ. Tôi đứng im phăng phắc, còn gã thì há hốc miệng kinh ngạc, thốt lên:.
- Chắc là vong hồn bà ấy!
Gã lặng lẽ khép cửa lại và lập tức tôi nghe tiếng vặn ổ khóa. Rồi tiếng bước chân bỏ đi. Thế là tôi bị nhốt trong phòng. Tôi rất bối rối, nhưng một cơn giận ập đến. Tôi lục tung đống quần áo làm đổ ập cả một chồng ở ngăn trên xuống. Tiếng động này làm gã lập tức quay trở lại, hung hãn hơn nhiều. Lần này gã va phải tôi và hoảng hốt nhảy lùi lại.
- Chuột ư? - Gã nói nhỏ, ngón tay che miệng. Hiển nhiên hắn hơi sờ sợ.
Tôi lặng lẽ lách ra khỏi phòng. Nhưng gã ấy cũng chẳng vừa. Tay cầm lăm lăm khẩu súng ngắn, gã cầm chìa khóa đi khóa lần lượt hết phòng này đến phòng khác rồi bỏ chìa khóa vào túi. Khi nhận ra ý đồ của gã tôi phát khùng lên, không thể nào kìm giữ được nữa. Lúc đó, tôi đã biết gã chỉ có một mình trong nhà, vì vậy không cần gì làm ồn ào, tôi nghĩ vậy bèn giáng cho gã một quả đấm ngay đỉnh đầu.
- Đấm vào đỉnh đầu của gã ấy à! - Bác sĩ Kemp la lên.
- Đúng vậy, và gã bất tỉnh ngay. Tôi còn tìm được cái ghế đẩu để ở đầu cầu thang và nện sau lưng gã một cái làm gã ngã lăn xuống lầu như một bao giẻ rách.
Điều chủ yếu làm tôi suy nghĩ lúc ấy là làm sao phải ra khỏi được căn nhà đó trong tình trạng đã hóa trang không cho hắn thấy. Chính vì vậy không có cách làm nào khác hơn, tôi lấy một cái áo lót bịt miệng gã lại và trói chặt gã bằng tấm vải trải giường.
- Trói gã bằng vải trải giường!
- Đó là một ý kiến hay để làm cho gã ngốc ấy sợ hãi mà im lặng. Bác sĩ Kemp ạ, ông đừng nhìn tôi trừng trừng như nhìn một kẻ sát nhân vậy. Tôi buộc phải làm thế thôi vì gã có súng. Nếu nhìn thấy tôi gã có thể...
- Nhưng... đây là nhà riêng của người ta. - Bác sĩ Kemp nói. - Còn anh lại đang lẻn vào để ăn trộm.
- Ăn trộm? Tôi mà ăn trộm à! Nhầm rồi! Ông phải thấy rõ hoàn cảnh khốn khổ của tôi vào lúc đó chứ!
- Nhưng còn hoàn cảnh của ông ta thì sao? - Bác sĩ Kemp hỏi.
Người vô hình đứng bật dậy:
- Ông muốn nói gì vậy?
Vẻ mặt bác sĩ Kemp hơi nghiêm lại. Ông sắp sửa mở lời, nhưng tự kềm lại được và đột nhiên ông thay đổi thái độ:
- Rốt cuộc thì tôi cũng nghĩ rằng anh không làm gì khác được. Anh đang lâm vào thế bí. Nhưng còn...
- Tất nhiên là tôi đang lâm vào đường cùng. Gã lại làm tôi nổi điên thêm vì luôn tìm cách truy lùng tôi, làm cơn giận của tôi lên đến cực điểm với khẩu súng của gả. Đơn giản là tôi bị chọc giận. Ông không trách tôi chứ?
- Tôi không bao giờ trách ai cả. - Kemp trả lời. - Đó không phải là thói quen của tôi. Thế còn sau đó, anh làm gì?
- Tôi đang đói ngấu. Tôi xuống dưới nhà và tìm được một ổ bánh mì, một ít phó mát. Tôi còn được uống một ít rượu nữa. Ăn uống xong, tôi trở lên lầu. Gã vẫn còn nằm bất động. Đến căn phòng ngó ra đường chứa quần áo cũ, tôi lục soát rất kỹ. Bên ngoài, ánh sáng ban ngày rực rỡ ngược hẳn với bóng tối lờ mờ của ngôi nhà buồn tẻ...
Kế đến, tôi bắt đầu tìm kiếm một cách có hệ thống toàn bộ căn nhà và thu thập được đủ các vật dụng cần thiết.
Tôi tìm được một cái túi nhỏ đựng đồ dùng trang điểm và định dùng những thứ đó để hóa trang bộ mặt. Nhưng xét thấy quá rườm rà lỉnh kỉnh, vả lại khi muốn trở thành vô hình lại phải tốn thời gian để tẩy xóa. Cuối cùng, tôi dùng kính mát, tóc giả và mũi giả bằng giấy bồi để tạo nên một cái mặt nạ, tuy có vẻ hơi kỳ dị, nhưng khá tiện dụng và có thể chấp nhận được. Tôi không tìm thấy áo lót nhưng có thể mua sau này. Tôi không tìm được vớ nhưng đôi ủng của gã khá rộng nên dùng tạm cũng được. Trong ngăn bàn viết ở cửa tiệm, tôi tìm được ba đồng sovereign và khoảng ba mươi shilling và trong phòng nhỏ bên trong tôi tìm được tám bảng Anh bằng vàng. Được bao nhiêu đó tôi hy vọng sẽ hòa nhập được với thế giới bên ngoài.
&&&
Tôi thử ngắm mình trong tấm gương ở phòng ngủ để xem còn điều gì sơ sót nữa không, nhưng hình như vậy là tốt rồi. Lấy lại được lòng tin, tôi kéo các màn che cửa lại và xem xét lại mọi việc cẩn thận.
Tôi phải mất hết mấy phút để lấy lại can đảm để mở khóa cửa hiệu, bước ra hòa nhập với mọi người ở ngoài đường phố, bỏ mặc cho gã chủ tiệm tự tìm cách gỡ ra khỏi tấm vải trải giường. Trong năm phút sau đó, tôi dạo hàng chục lần quanh cửa hiệu, không ai tỏ vẻ chú ý đến bề ngoài của tôi cả, và hình như tôi đã khắc phục được điều khó khăn cuối cùng này.
- Anh không bận tâm gì về gã chủ tiệm nữa sao? - Kemp hỏi.
- Không hề bận tâm, vì tôi cho rằng gã có đủ sức khỏe và trí thông minh để tự giải thoát cho minh dù những nút cột khá chặt.
Nói đến đây, người vô hình lặng lẽ bước tới cửa sổ, nhìn ra ngoài.
- Rồi sau đó còn gì xảy ra nữa? - Bác sí Kemp cố ý hỏi tiếp.
- Tôi nghĩ những rắc rối của mình đã qua, tôi hoàn toàn không phải bận tâm về điều gì nữa, tôi làm bất cứ mọi việc do tôi chọn, còn hậu quả của chúng ra sao tôi không hề quan tâm Chỉ cần ném các mảnh vải che thân qua một bên là tôi biến mất. Không ai bắt được tôi. Tôi có thể lấy tiền nơi nào tôi thích. Do vậy, tôi tự quyết định khao mình bằng một bữa tiệc lớn. Tôi đến một nhà hàng gọi một bữa ăn trưa, nhưng chợt nhận ra là nếu ăn uống, tôi phải phô bày bộ mặt vô hình của mình ra. Tôi đành dừng lại và nói với người hầu bàn là tôi sẽ quay trở lại trong vòng mười phút nữa, rồi cay đắng bước ra, gần như tuyệt vọng vì đói khát. Ông có từng thất vọng như tôi trong những bữa ăn ngon như vậy chưa?
- Hoàn toàn chưa, nhưng tôi có thế tưởng tượng ra được. - Kemp đáp.
- Cuối cùng, tôi đến một nhà hàng khác và yêu cầu một phòng riêng lấy cớ vì tôi
tàn tật. Họ nhìn tôi một cách tò mò, nhưng đó không phải là chuyện của họ. Cuối cùng, tôi cũng được ăn trưa. Bữa ăn không đặc biệt lắm nhưng cũng đủ ngon miệng. Ăn xong tôi hút một điếu xì gà và cố gắng vạch kế hoạch hành động. Bên ngoài bão tuyết bắt đầu.
Càng suy nghĩ kỹ, tôi càng nhận ra sự vô dụng ngu ngốc của một người vô hình khi ở giữa một thành phố văn minh đông đúc với khí hậu lạnh lẽo dơ bẩn. Trước khi tiến hành thí nghiệm điên khùng này, tôi đã mơ đến cả ngàn lợi thế của một người vô hình. Bây giờ tôi đã thành công, chắc chắn là sự vô hình sẽ giúp tôi đoạt được mọi thứ như ý muốn, nhưng tôi lại không được hưởng những thứ ấy. Vậy thì tôi làm như vậy để đạt được cái gì chứ? Đâu phải tôi vô hình để tự mình phải băng bó chằng chịt từ đầu đến chân và chịu mọi khổ sở? Buổi chiều hôm đó, đối với tôi mọi việc dường như đều thất vọng.
Và tôi quyết định đi tới làng Iping để nghiên cứu cách biến đổi trở lại.
- Nhưng sao anh lại chọn làng Iping? - Kemp hỏi với hy vọng làm cho ông khách của mình tiếp tục câu chuyện.
- Nơi đó khá yên tĩnh, nên tôi đến đó để làm việc. Bây giờ tôi đã có đầy đủ ý tưởng. Tôi đã tìm ra được phương pháp để trở lại thành người hữu hình. Và đó là điều chủ yếu mà hiện nay tôi muốn làm.
- Và anh đến thẳng Iping à?
- Phải, tôi đến để nhận lại ba quyển vở ghi chép và quyển ngân phiếu, mua sắm thêm hành lý và một số hóa chất để thực hiện ý tưởng này của tôi. Tôi sẽ chỉ cho ông xem các công thức tính toán ngay khi tôi lấy lại được những quyển vở ghi chép. Ôi, không biết cái tên du thủ du thực ấy đâu rồi! Tôi phát điên lên mất nếu phải tiến hành lại từ đầu.
Người vô hình cất tiếng cười gằn.
Sau một lúc im lặng, bác sĩ Kemp lên tiếng nói:
- Báo chí ở đây viết rằng khi họ tìm ra anh, họ sẽ xử rất nặng đấy.
- Tôi bị xử tội à? Tên cảnh sát ngu ngốc ấy chết rồi sao?
- Không, - Kemp nói. - Hy vọng anh ta sẽ qua khỏi.
- Vậy là may mắn cho hắn đó. Rõ ràng là chúng đã làm tôi phát điên lên, bọn ngu
ngốc! Tại sao chúng không để tôi yên chứ? Cả cái thằng bán tạp hóa này nữa?
- Hy vọng không ai phải thiệt mạng cả. - Bác sĩ Kemp nói.
- Tôi cũng không biết được tên lang thang của tôi thế nào nữa. - Người vô hình nói, rồi cất tiếng cười buồn bã. - Tôi đã phải làm việc rất nhiều năm để đạt được những thành quả ấy, bỗng chốc bị một thằng ngốc vụng về chen vào phá hỏng! Công việc đang thuận lợi đột nhiên phải làm lại từ đầu! Tôi sẽ xé xác hắn ra nếu tìm được hắn.
&&&
22. KẾ HOẠCH THẤT BẠI
Bác sĩ Kemp liếc nhìn ra cửa sổ và nói:
- Vậy bây giờ chúng ta làm gì?
Ông vừa nói vừa tiến đến gần người khách của mình, cố ý che không cho hắn thấy ba người đang tiến bước trên đường đồi. Sao mà họ chậm trễ đến vậy!
- Anh dự tính ra sao khi mà khắp cảng Burdock này đều đã nghe nói về anh?
- Tôi đã định trốn ra khỏi đất nước này. Bây giờ là lúc thời tiết đã ấm áp và nhờ có khả năng vô hình, tôi nghĩ đi về phía nam là khôn ngoan hơn cả. Đặc biệt là khi bí mật của tôi đã bị tiết lộ và mọi người đều đang canh chừng một người đàn ông mang mặt nạ và trùm áo kín mít. Ở đây có đường tàu chạy sang Pháp. Tôi định liều mạng lẻn lên một con tàu vượt biển ra đi. Từ đó tôi sẽ đi xe lửa vào Tây Ban Nha hoặc đến tận Algeris. Điều này cũng không khó gì. Để làm những việc đó tôi dùng gã du thủ du thực ấy để giữ tiền và mang vác hành lý. Tôi phải đợi để lấy được mấy quyển vở và
đồ đạc mới quyết định được. Vậy mà rồi cái gã lang thang ấy lại cứ nhất thiết phải cướp đoạt của tôi! Hắn đã giấu những quyển vở của tôi, Kemp ạ. Phải chi mà tôi bắt được hắn nhỉ?
- Kế hoạch hay nhất là trước tiên phải lấy lại được mấy quyển vở.
- Nhưng hiện giờ hắn đang ở đâu? ông có biết không?
- Lão ta đang ở trong đồn cảnh sát. Theo yêu cầu của lão, người ta đã nhốt lão trong cái phòng vững chắc nhất ở đấy.
- Đồ hèn hạ! - Người vô hình thốt lên.
- Nhưng hắn cũng làm cho kế hoạch của anh bị chậm lại đôi chút đấy.
- Chúng ta phải giành lại bằng được những quyển vở ấy. Đó là điều cốt yếu đấy.
- Tất nhiên rồi! - Bác sĩ Kemp đáp, hơi mất bình tĩnh một chút, tự hỏi không biết hắn có nghe tiếng bước chân bên ngoài cửa sổ hay không? - Nhất định anh phải lấy lại những quyển vở. Điều đó sẽ không khó khăn lắm, nếu lão không biết là những quyển vở đó rất cần cho anh.
- Không đâu. - Người vô hình trả lời với vẻ nghĩ ngợi.
Bác sĩ Kemp cố nghĩ cách kéo dài câu chuyện, nhưng người vô hình lại tiếp tục:
- Bác sĩ Kemp ạ, việc tình cờ rơi vào nhà ông đã làm thay đổi tất cả kế hoạch của tôi. Vì ông là một người hiểu biết. Giả sử rằng tất cả mọi việc có thể xảy ra, dư luận có bàn tán về điều này, mấy quyển vở của tôi mất đi hay tôi có phải chịu đựng thêm những khó khăn gì đi nữa thì tôi vẫn còn nhiều khả năng rất to lớn.
Bỗng hắn đột ngột hỏi:
- Ông có cho ai biết sự hiện diện của tôi ở đây không?
Bác sĩ Kemp tỏ vẻ do dự, rồi trả lời:
- Tất nhiên là không rồi.
- Không một ai chứ? - Người vô hình hỏi gặng.
- Không!
- A! Bây giờ thì... - Người vô hình đứng dậy, tay chống nạnh và đi quanh phòng.
- Tôi đã sai lầm, Kemp ạ. Sai lầm trầm trọng vì làm việc này từ đầu đến cuối chỉ có một mình. Tôi đã bỏ phí rất nhiều sức lực, thời gian và rất nhiều cơ hội. Một mình đơn độc, và đạt được mỗi thứ một ít, chỉ có vậy mà thôi.
- Ông Kemp ạ, cái mà tôi cần là có một trợ thủ, một người giúp đỡ cho tôi, một nơi ẩn náu đầy đủ tiện nghi để sinh hoạt, ăn uống và nghỉ ngơi yên ổn. Được như vậy, thì tôi có thể làm được rất nhiều việc đấy.
Từ trước đến nay tôi đã mò mẫm như một người mù. Chính vì vậy, chúng ta phải xem xét lại toàn bộ sự vô hình đó có ý nghĩa gì, và những gì không có ý nghĩa với nó. Trong thực tế, hiện nay khả năng vô hình chỉ mới có lợi trong hai trường hợp là khi trốn chạy và khi tiếp cận. Giam cầm tôi thì dễ nhưng bắt được tôi mới khó. Vì vậy nó đặc biệt có ích khi muốn giết ai. Tôi có thể đi vòng quanh một người bất chấp hắn đang cầm trong tay thứ vũ khí gì, tôi chọn lấy điểm yếu mà đấm hắn tùy thích, lẩn tránh và tẩu thoát cũng tùy thích.
Bác sĩ Kemp đưa tay lên vuốt ria mép. Không biết có phải tiếng bước chân ở dưới lầu không nhỉ?
- Chúng ta cần phải giết người, ông Kemp ạ!
- Chúng ta phải giết người? - Kemp lặp lại. - Tôi đang nghe kế hoạch của anh đây, Griffin ạ. Nhưng về phần tôi, tôi không đồng ý. Tại sao lại phải giết người?
- Giết để trừng phạt. Tôi không có thói quen giết người, nhưng có ý muốn giết người. Điều chính yếu là cho mọi người biết trên đời này đang tồn tại một người vô hình. Và người vô hình ấy đang thiết lập một triều đại khủng bố ! Anh ta sẽ chọn một thành phố nào đó như thành phố Burdock của ông đây, và làm cho nó kinh hoàng để thống trị nó. Anh ta cần phải ban bố những luật lệ của mình. Chỉ cần những mảnh giấy nhỏ luồn qua khe cửa cũng đủ rồi. Và tất cả những ai cưỡng lệnh sẽ bị anh ta giết ngay, kể cả những kẻ bảo vệ chúng cũng vậy.
- Hừm! - Kemp hắng giọng, nhưng vẫn lắng nghe tiếng cửa chính dưới nhà mở ra rồi đóng lại.
Để khỏa lấp sự mất tập trung đó của mình, ông hỏi tiếp:
- Griffin ạ, theo tôi thì những kẻ liên minh với anh sẽ gặp nhiều khó khăn đấy.
- Sẽ không ai biết hắn là kẻ liên minh đâu. - Người vô hình háo hức nói, và sau đó hắn đột nhiên kêu lên:
- Kỳ lạ thật! Cái gì ở dưới nhà vậy?
- Chẳng có gì cả. - Bác sĩ Kemp trả lời, rồi bất ngờ ông nói to và nhanh. - Griffin ạ, tôi không đồng ý chuyện này đầu. Hãy hiểu cho tôi, tôi không đồng ý. Tại sao lại mơ tưởng chuyện chống lại đồng loại của mình? Anh tưởng làm như vậy là có được hạnh phúc hay sao? Đừng nên làm một con sói cô đơn. Hãy công bố công trình của anh đi. Hãy tin vào loài người, hay ít nhất cũng tin vào dân tộc mình. Hãy nghĩ đến những gì anh sẽ làm được với sự trợ giúp của hàng triệu đồng bào...
Người vô hình đưa tay ra dấu ngăn lại, rồi nói khẽ:
- Có tiếng bước chân đang lên lầu.
- Không có đâu! - Kemp đáp.
- Để tôi xem nào. - Người vô hình nói và bước ra phía cửa.
Saụ đó mọi việc xảy ra rất nhanh. Kemp lưỡng lự trong giây lát rồi lao theo cản hắn lại. Người vô hình giật mình và đứng sững lại.
- Đồ phản bội! - Hắn thét lên. Rồi đột nhiên chiếc áo ngủ mở phanh ra, rồi người vô hình ngồi sụp xuống bắt đầu cởi quần dài. Bác sĩ Kemp nhảy ba bước ra tới cửa, ngay tức khắc người vô hình cũng bật đứng dậy. Kemp mở tung cánh cửa ra.
Tiếng chân bước vội vàng và tiếng nói ở dưới cầu thang vọng lên. Bằng một động tác thật nhanh, Kemp đẩy ngược người vô hình trở lại, rồi ông nhảy sang một bên và đóng sầm cửa lại. Chìa khóa đã cấm sẵn bên ngoài. Chỉ chút nữa thôi là đã nhốt được Griffin trong phòng. Nhưng lại có một chuyện nhỏ xảy ra, ấy là chiếc chìa khóa lúc sáng được cắm vội vã vào ổ, do Kemp đóng mạnh cửa, đã bị văng vảng ra rơi xuống thảm trải sàn.
Mặt bác sĩ Kemp trắng bệch. Ông cố dùng hai tay ghì chặt nắm cửa, và đứng tỳ người vào đó. Ông trụ được trong một lát, rồi cánh cửa mở ra khoảng hơn một tấc, nhưng ông cố đè cho nó đóng lại lần nữa. Lần thứ hai nó lại mở bật lần nữa rộng ra, rồi chiếc áo ngủ tự nó lách qua khe hở. Cổ họng của bác sĩ Kemp bỗng bị những ngón tay vô hình siết chặt lại làm ông phải buông tay nắm cửa để tự vệ. Ông bị đẩy lùi lại, hụt chân và ngã giúi vào góc trên đầu cầu thang. Chiếc áo ngủ trống rỗng bay đến chụp lên ông.
Viên đồn trưởng cảnh sát ở Burdock, đại tá Adye, đang đứng ở giữa cầu thang. Ông trố mắt kinh ngạc khi Kemp xuất hiện đột ngột và bám theo sau là chiếc áo ngủ
trống rỗng múa máy trông rất kỳ dị. Ông thấy bác sĩ Kemp té nhào, hai chân đạp lia lịa, Bác sĩ Kemp lại xông tới, rồi lại té một lần nữa.
Sau đó, bỗng nhiên ông bị một cú đấm như trời giáng. Mà chẳng thấy gì cả! Và dường như có một vật nặng chồm lên ông, rồi ông bị lộn ngược lăn xuống cầu thang sau khi bị siết cổ và bị một đầu gối thúc mạnh vào người. Một bàn chân vô hình giẫm lên lưng ông rồi những bước chân ma quái chạy nhanh suốt dọc cầu thang. Ông lại nghe thấy tiếng hai viên cảnh sát ở dưới nhà thét lên và bỏ chạy, rồi tiếng cửa chính của ngôi nhà đóng sầm lại.
Viên đại tá lăn tròn và ngồi bật dậy, nhìn lên. Ông thấy bác sĩ Kemp đang lê bước xuống lầu, người lấm lem, đầu tóc rối bù và quần áo xộc xệch, một bên mặt còn trắng nhợt vì cú đấm, môi rỉ máu, hai tay vẫn ôm khư khư chiếc áo ngủ màu hồng cùng với một vài thứ đồ lót.
- Trời ơi! - Bác sĩ Kemp kêu lên, - Thế là xong! Hắn chạy thoát mất rồi!
&&&
23. CUỘC SĂN LÙNG NGƯỜI VÔ HÌNH VÀ VỤ ÁN MẠNG GlẾT ÔNG WICKSTEED
Phải mất một lúc khá lâu bác sĩ Kemp mới có thể kể rõ cho đại tá Adye hiểu được những việc vừa xảy ra ở đây.
- Hắn điên rồi, lại bất nhân nữa. - Bác si Kemp nói. - Hắn là một con thú điên dại, cực kỳ ích kỷ. Hắn chẳng nghĩ đến điều gì khác ngoài chuyện vụ lợi và sự yên thân cho riêng mình. Hồi sáng này tôi đã được nghe toàn bộ câu chuyện khủng khiếp về âm mưu trục lợi và tàn bạo của hắn! Hắn đã làm cho nhiều người bị thương tích. Hắn cũng chẳng từ cả việc trấn lột người cha ruột thịt của hắn. Hắn sẽ còn giết nhiều người nữa nếu chúng ta không kịp thời ngăn chặn. Hắn sẽ gây ra một nổi kinh hoàng. Không gì có thể làm cho hắn chùn tay được cả. Bây giờ hắn đã thoát ra ngoài trong một cơn giận dữ điên cuồng.
- Hắn sẽ phải bị bắt thôi. - Đại tá Adye nói. - Đó là điều chắc chắn.
- Nhưng bằng cách nào? - Bác sĩ Kemp kêu lên và trong đầu ông bất chợt nảy ra rất nhiều ý tưởng. - Ông phải bắt đầu hành động ngay. Phải huy động tất cả mọi lực lượng tham gia vào việc truy lùng này. Một khi đã trốn thoát, hắn sẽ đi bất cứ nơi nào hắn muốn, để đánh, để giết người một cách tùy thích. Hắn mơ tưởng đến một triều đại thống trị bằng khủng bố. Một triều đại khủng khiếp, ông Adye ạ! Ông phải cho canh gác trên các tàu thuyền nữa. Ông phải gửi điện tín đi khắp nơi nhờ họ giúp đỡ. Điều duy nhất có thể cầm chân hắn ở lại đây là việc hắn muốn đoạt lại mấy quyển vở ghi chép rất quý đối với hắn. Rồi tôi sẽ kể rõ chuyện này cho ông nghe sau. Ở đồn cảnh sát có giữ một gã lang thang, lão Thomas Marvel ấy!
- A, tôi biết rồi. - Đại tá Adye trả lời. - Cả những quyển vở nữa. Nhưng còn người vô hình thì sao?
Bác sĩ Kemp nói tiếp:
- Công việc cần thiết nhất là ông đừng để cho hắn được ăn hay ngủ gì cả, ngày cũng như đêm cả vùng phải trông chừng hắn. Tất cả thực phẩm phải được cất kỹ và canh phòng thật cẩn thận, để có đói hắn phải đột nhập vào nhà hoặc các cửa hàng
để kiếm ăn. Tất cả nhà cửa khắp nơi phải đóng kín để ngăn không cho hắn vào. Cầu trời cho chúng ta những đêm gió lạnh và mưa dầm! Hai mươi dặm quanh cảng Burdock, mọi người phải bắt tay vào việc săn lùng hắn và săn lùng liên tục. Ông Adye, hắn là một mối hiểm họa đây, nếu không bắt giữ và giam cầm được hắn thì thật là kinh khủng khi nghĩ đến những gì có thể xảy ra.
- Ta xuống ngay đi. - Đại tá Adye đáp. - Khẩn cấp lắm rồi. Ông nên cùng đi với tôi. Ta phải thành lập ngay một hội đồng chỉ huy cuộc truy lùng. Phải huy động cả những trưởng ga nữa. Kìa, sao ông không quẳng cái bọc ấy cho rồi!
Họ cùng đi xuống dưới nhà. Đại tá Adye ra lệnh cho một viên cảnh sát mang xe ngựa đến để đưa họ ra nhà ga chính, rồi tiếp tục hỏi bác sĩ Kemp:
- Bây giờ chúng ta còn phải làm những việc gì nữa đây, ông Kemp?
- Chó! - Kemp nói. - Chúng ta cần có chó. Tuy chúng không nhìn thấy hắn nhưng có thể đánh hơi ra hắn được.
- Hay lắm! Chúng ta sẽ huy động chó săn. Những nhân viên nhà tù biết một người Ở Halstead có một bầy chó săn. Còn gì nữa không?
- Còn điều này nữa, - bác sĩ Kemp nói. - Sau khi hắn ăn, thức ăn ở dạ dày vẫn lộ ra cho đến khi bị tiêu hóa hết. Do vậy, hắn phải luôn lẩn trốn sau bữa ăn. Ta phải luôn luôn cho người canh chừng và lùng sục các nơi có bụi rậm, hay các góc đường vắng vẻ. Phải cất giấu thật cẩn thận vũ khí và tất cả những thứ có thể dùng làm vũ khí. Hắn không thể mang một thứ gì quá lâu, do vậy ông phải giấu hết mọi thứ gì hắn có thể nhặt để làm vũ khí tấn công người.
- Đúng lắm. Bất cứ giá nào ta cũng phải bắt được hắn.
- Còn trên đường thì... - Bác sĩ Kemp nói với giọng hơi ngập ngừng.
- Sao hả? - Đại tá Adye sốt ruột hỏi..
- ...Rắc mảnh vụn thủy tinh! Kể ra làm như vậy cũng tàn nhẫn thật. Nhưng phải nghĩ đến những chuyện mà hắn có thể gây ra cho mọi người.
Adye cắn răng hít mạnh một hơi.
- Tàn bạo quá. Tôi không nghĩ mình có thể làm. Nhưng tôi cũng chuẩn bị sẵn thủy tinh vụn. Nếu hắn có bị giết thì cũng đáng đời hắn lắm...
- Hắn điên mất rồi. - Bác sĩ Kemp nói. - Tôi dám chắc là ngay sau khi bình tĩnh lại, hắn sẽ bắt tay vào việc thiết lập triều đại khủng bố của mình. Hắn đã tự tách mình ra khỏi đồng loại rồi. Cơ hội duy nhất của chúng ta là ra tay trước.
&&&
Dường như người vô hình lao ra khỏi nhà bác sĩ Kemp trong một trạng thái nóng giận điên cuồng mù quáng. Một đứa bé đang chơi gần cổng nhà bác sĩ bị hắn nhấc bổng lên và quăng mạnh xuống lề đường làm một chân bị gãy. Rồi từ lúc đó trở đi, không ai còn thấy hắn động tĩnh gì nữa. Không ai biết hắn đi đâu và làm gì. Người ta chỉ có thể tưởng tượng được rằng hắn đã chạy điên cuồng dưới ánh nắng tháng sáu nóng bỏng qua ngọn đồi trống trải, rồi đến một thung lũng phía sau thành phố Burdock, ẩn mình dưới những bụi cây rậm rạp ở Hintondean. Điên cuồng và tuyệt vọng vì không chịu đựng nổi số phận. Hắn sẽ chắp nối lại những mưu đồ chống lại đồng loại của hắn. Chắc chắn hắn nổi giận điên cuồng vì sự phản bội của bác sĩ Kemp, mặc dù người ta có thể hiểu được động cơ dẫn đến sự lừa dối đó.
Trong suốt thời gian ấy, số người được huy động không ngừng gia tăng và được rải ra khắp vùng để truy lùng hắn. Mới lúc sáng, hắn còn là một huyền thoại, một nỗi kinh hoàng, thì buổi chiều, chủ yếu là do lời kêu gọi của bác sĩ Kemp, hắn đã trở thành một kẻ thù hữu hình cần phải bắt sống, làm thương vong hay hạ gục. Người dân ở thành phố cảng Burdock tự tổ chức canh phòng một cách nhanh chóng. Từ sau hai giờ chiều, tất cả những chuyến xe lửa chở hành khách xuất phát từ đây đến Southampton, Manchester, Brighton và Horsham đều khóa chặt cửa; còn những chuyến xe lửa chở hàng hóa thì hầu như hoãn lại cả. Trong một vùng rộng lớn chu vi khoảng hai mươi dặm bao quanh cảng Burdock, từng nhóm ba bốn người mang súng, dùi cui và chó lùng sục mọi ngả đường và các cánh đồng.
Những cảnh sát viên cưởi ngựa đi dọc theo các đường mòn trong vùng, dừng lại ở từng nhà báo cho mọi người nên khóa kín cửa và ở trong nhà cho đến khi nào được trang bị vũ khí. Tất cả các trường học đều được giải tán lúc ba giờ chiều và từng nhóm trẻ em sợ hãi vội vã ra về. Lời kêu gọi của bác sĩ Kemp, có chữ ký xác nhận của đại tá
Adye, được gửi đi khắp mọi nơi trong vùng vào khoảng bốn giờ chiều.
Trước lúc trời tối, một nỗi sợ hãi rùng rợn lan khắp vùng. Rồi câu chuyện được truyền miệng nhau một cách mau chóng và chính xác, người ta xì xào bàn tán về vụ án mạng giết ông Wicksteed.
Ông Wicksteed khoảng bốn mươi lăm hay bốn mươi sáu tuổi, là quản gia của ngài thị trưởng Burdock. Ông vốn là một người hiền lành, ít nói. Người ta tìm thấy xác ông ở cạnh một hầm mộ gần nhà của thị trưởng Burdock. Chính ông là người cuối cùng trên thế gian này đã chọc giận một kẻ thù hung hãn như người vô hình. Hắn đã dùng một cây sắt bẻ từ hàng rào gãy. Hắn chận người đàn ông hiền lành này trên đường về nhà ăn cơm trưa, tấn công làm cho ông bị gãy tay, hạ gục ông và nghiền nát đầu ông như đập vỡ một lọ mứt.
Dĩ nhiên là hắn phải lấy cây sắt từ hàng rào và cầm sẵn trước khi gặp nạn nhân của hắn. Thật mà khó phỏng đoán được tại sao lại có cuộc đụng độ này. Người ta chỉ có thể căn cứ vào hai chi tiết sau đây. Một là hầm mộ không nằm trên đường đi về nhà của ông Wicksteed, mà cách xa đường đi đến gần hai trăm bộ. Hai là theo sự xác nhận của một em gái nhỏ đi học buổi chiều kể lại rằng em đã thấy người bị giết chạy khập khễnh một cách rất kỳ lạ đuổi theo một vật nào đó ngang cánh đồng về phía hầm mộ. Bé gái đó là người cuối cùng thấy ông ta còn sống vì cuộc chiến đấu khuất sau lùm cây và lõm xuống đất nên cô bé không nhìn thấy.
Chúng ta có thể hình dung sự việc diễn ra như sau: Griffin sau khi lẩn trốn đã rút một cây cọc sắt ở hàng rào để làm vũ khí, nhưng không hề có ý định dùng nó để giết người. Vừa đúng lúc ông Wicksteed đi qua và nhìn thấy cây cọc sắt treo lơ lửng trên không. Vì cảng Burdock ở cách xa hơn mười dặm nên có lẽ ông Wicksteed chưa hề được nghe nói gì về người vô hình cả. Thế là do sự tò mò, ông Wicksteed đã đuổi theo cây cọc sắt di chuyển một cách vô lý kia và cuối cùng dùng cây gậy chông của mình để đập vào nó.
Vô tình ông Wicksteed đã dồn kẻ chạy trốn vào đường cùng, một bên là hầm mộ và một bên là những bụi tầm ma đầy gai. Griffin là một người rất dễ nổi nóng, do vậy chúng ta dễ dàng hình dung ra phần cuối của cuộc đụng độ này.
Đó chỉ đơn thuần là những giả thuyết mà thôi. Nhưng sự thật không thể chối cãi được là ngoài thi thể ông Wicksteed bị hành hạ đến chết, người ta còn tìm thấy cây cọc sắt bê bết máu được quăng vào giữa bụi cây tầm ma. Việc Griffin vứt cây cọc sắt đi chứng tỏ rằng mặc dù hắn là một kẻ ích kỷ và hung ác nhất, nhưng cảnh tượng nạn nhân chết thê thảm đã làm hắn phải ăn năn hối hận đôi chút. Hắn sợ không dám dùng lại cây cọc sắt đó nữa.
Sau khi giết chết ông Wicksteed, hình như người vô hình đã rời bỏ vùng này tiến về phía đồi trọc. Có hai người đàn ông kể lại rằng họ nghe thấy một giọng nói vào lúc mặt trời lặn ở gần Fern Bottom. Giọng nói ấy lúc thì rên rĩ, lúc thì cười sằng sặc một cách thê lương, lúc thì khóc nức nở, chốc chốc lại gào thét lên thật ghê sợ. Những thứ tiếng đó cứ lập đi lập lại mãi ngang qua giữa cánh đồng rồi dần dần biến mất vào vùng đồi xa xa.
Chiều hôm đó, chắc có lẽ người vô hình đã biết được ít nhiều rằng bác sĩ Kemp đã biết cách lợi dụng những điều hắn đã tâm sự với ông ta. Chắc hẳn hắn đã thấy mọi nhà đều đóng cửa và cố thủ bên trong. Chắc hắn đã lảng vảng đến các quán trọ, nhà ga xe lửa và đã đọc được những lời kêu gọi chống lại hắn. Và khi đêm tối đến, trên các cánh đồng xuất hiện rải rác đó đây từng nhóm ba hay bốn người săn lùng và tiếng chó sủa ầm ĩ. Những nhóm người săn lùng này được hướng dẫn rõ ràng và cụ thể phải xử trí ra sao khi chạm trán kẻ địch cũng như cách thức trợ giúp cho nhau như thể nào. Hắn đã tránh được tất cả họ. Chúng ta có thể hiểu được rằng sự tuyệt vọng của hắn đã lên đến cực độ, vì chính hắn đã cung cấp cho người ta những thông tin dùng chống lại hắn. Suốt hai mươi bốn giờ qua, kể từ lúc gặp ông Wicksteed, hắn luôn luôn là kẻ bị săn đuổi. Nhưng dù sao hắn cũng đã tìm được nơi ăn chốn ngủ, bởi vì sáng hôm sau hắn đã hồi phục được sức khỏe, sự hoạt bát, nhanh nhẹn, giận dữ và hung bạo, chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến đấu cuối cùng của hắn chống lại cả thế giới.
&&&
24. CUỘC BAO VÂY NHÀ BÁC Sĩ KEMP
Bác sĩ Kemp đọc một lá thư kỳ lạ viết bằng bút chì trên một tờ giấy bẩn thỉu. Bức thư viết:
“Các người xông xáo và thông minh một cách đáng ngạc nhiên thật, mặc dù ta không thể hiểu nổi các người chịu đựng như vậy để được cái gì. Các người đang chống lại ta. Suốt cả ngày các người đã săn đuổi ta, các người âm mưu cướp đoạt của ta cả một giấc ngủ đêm. Nhưng ta đã được ăn chứ không phải các người, ta đã được ngủ chứ không phải các người, và cuộc chơi chỉ mới bắt đầu. Đúng, cuộc chơi chỉ mới bắt đầu. Không có cách gì khác ngoài việc mở ra một triều đại khủng bố. Ta tuyên bố ngày đầu tiên của triều đại khủng bố bắt đầu. Từ nay trở đi, cảng Burdock không còn nằm dưới quyền kiểm soát của nữ hoàng nữa. Hãy báo cho viên đại tá cảnh sát và lũ người còn lại biết rằng, từ nay trở đi, thành phố này thuộc quyền thống trị của ta - Người khủng bố! Ngày hôm nay là ngày thứ nhất, năm thứ nhất của một thời đại mới - Thời đại Người vô hình, mà ta là người Vô hình đầu tiên. Lúc đầu, cách cai trị của ta sẽ rất độ lượng. Ngay ngày thứ nhất sẽ chỉ có một bản án tử hình để làm gương cho kẻ khác. Kẻ chịu án tử hình là một gã đàn ông tên là Kemp. Hắn sẽ phải chết ngay ngày hôm nay. Dù cho hắn có đóng cửa ẩn nấp, trốn tránh nơi nào, dù cho hắn có vệ binh chung quanh hoặc mặc giáp trụ đi nữa, nhưng cái chết vô hình vẫn giáng vào đầu hắn. Cứ để cho hắn tha hồ mà đề phòng, điều đó chỉ càng gây thêm ấn tượng cần thiết cho thần dân của ta. Cuộc xử tử sẽ bắt đầu vào đúng giữa trưa. Bức thư sẽ được gửi khi người phát thư ra đi. Trò chơi sẽ bắt đầu. Sự chết chóc bắt đầu. Hỡi thần dân của ta, muốn bảo toàn được sinh mạng, các người nhất thiết không được giúp hắn. Ngày hôm nay Kemp sẽ phải chết!”.
Kemp đọc lá thư lần thứ hai, rồi nói:
- Đây không phải là chuyện đùa đâu. Đúng là giọng điệu của hắn! Hắn sẽ làm như vậy thật đấy.
Ông lật tờ giấy gấp đôi lên và nhìn thấy trên mặt ghi địa chỉ có đóng dấu bưu điện ở Hintondean. Ông chậm chạp đứng lên, bỏ dở bữa ăn trưa và đi vào phòng làm việc. Ông nhận được bức thư này vào lúc một giờ chiều.
Ông rung chuông gọi cô hầu gái và bảo cô ta đi quanh nhà kiểm tra lại các cửa sổ và các cửa chớp đã được đóng chặt chưa. Ông cũng đóng chặt cửa sổ phòng làm việc của mình. Từ một ngăn kéo có khóa trong phòng ngủ, ông lấy ra một khẩu súng lục, xem xét cẩn thận rồi nhét vào túi áo ngắn. Ông viết mấy bức thư ngắn, trong đó có một bức gửi cho đại tá Adye, giao chúng cho người hầu gái chuyển đi và dặn dò cẩn thận cũng như chỉ rõ cho cô đường đi ra khỏi nhà. Ông còn nói thêm để cô yên tâm :
- Không có gì nguy hiểm cho cô đâu.
Bác sĩ Kemp im lặng một lúc sau khi làm việc này rồi quay trở lại với bữa ăn đã nguội lạnh. Vừa ăn vừa suy nghĩ, cuối cùng ông vỗ mạnh xuống bàn :
- Chúng ta nhất định sẽ bắt được hắn! Mình là một con mồi. Hắn nhất định sẽ mắc phải.
Ông lên phòng của mình, cẩn thận đóng tất cả mọi cánh cửa sau lưng.
- Đây là một cuộc chơi, cuộc chơi kỳ lạ.
Nhưng tất cả mọi thế mạnh thuộc về phía tôi, cho dù anh vô hình đi nữa, Griffin ạ.
Bác sĩ Kemp đứng cạnh cửa sổ, chăm chú nhìn ra sườn đồi nóng bỏng.
- Hắn cần ăn mỗi ngày. Hôm qua hắn có ngủ không nhỉ? Cầu cho trời trở lạnh, thời tiết ẩm ướt thay cho cái nóng này. Có thể hiện giờ hắn cũng đang theo dõi mình.
Ông liền bước tới đóng cửa sổ lại, một cái gì đó đập mạnh trên khung cửa sổ làm ông giật mình. “Thần kinh mình căng thẳng mất rồi”, Kemp tự nhủ. Nhưng sau đó ít phút, ông lại bước đến bên cửa sổ “Chắc đó chỉ là một con chim”. Ngay khi đó, nghe tiếng chuông reo ở cửa trước, ông bèn chạy vội xuống dưới nhà. Ông thận trọng rút then cài nhưng vẫn móc chiếc xích lên và nép mình sang bên nhìn ra. Đó là đại tá Adye.
- Người giúp việc của ông đã bị tấn công, bác sĩ Kemp ạ.
- Cái gì? - Kemp kêu lớn.
- Những giấy tờ của ông đã bị lấy sạch. Hắn đang lảng vảng ở quanh đây thôi. Cho tôi vào nhà với.
Kemp thả sợi dây xích và hé cửa đủ để cho Adye lọt vào. Ông ta đứng giữa phòng khách, nhìn Kemp cài chặt cửa lại.
- Giấy tờ đã bị giật ra khỏi tay cô ta. Cô ta sợ hãi đến phát điên lên và đã được đưa về đồn cảnh sát dưới ấy rồi. Hắn đang ở rất gần đây. Giấy tờ gì vậy hả?
Kemp tức giận gào lên:
- Tôi là một thằng ngu! Đáng lẽ tôi phải biết thời gian đi từ Hintondean đến đây không quá một giờ, vậy là xong rồi!
- Có chuyện gì vậy? - Adye hỏi.
- Lên đây! - Kemp nói và dẫn Adye lên phòng làm việc và đưa cho ông xem bức thư của người vô hình.
Adye đọc thư và khẽ huýt sáo, rồi hỏi:
- Và ông..?
- Tôi giống như một thằng ngốc định giăng một cái bẫy, nhưng lại để người hầu gái mang dự kiến đó đi... lọt vào tay hắn.
- Hắn ta sẽ đoán ra ý định của ông mất. - Adye nói.
- Không đâu.
Trên lầu có tiếng kính cửa sổ bị đập vở. Đại tá Adye thoáng nhìn thấy khẩu súng lục ló ra phân nửa trong túi Kemp. Một tiếng động thứ hai vang lên khi họ vẫn còn đang ở cầu thang. Khi lên đến phòng làm việc, họ thấy hai trong ba cánh cửa sổ đã bị vỡ tan. Những mảnh thủy tinh tung tóe đầy phòng và một viên đá to nằm lăn lóc trên bàn viết. Kemp bực tức chửi lầu bầu, và ngay lúc đó cánh cửa số thứ ba cũng bị đập vỡ vang lên tiếng như tiếng súng nổ.
- Chuyện gì đây? - Adye hỏi.
- Hắn đang bắt đầu đấy. - Kemp đáp.
- Có đường nào leo lên đây không?
- Không có đường cho cả con mèo nữa.
- Bên ngoài không có cửa chớp sao?
- Ở trên này không có, nhưng ở dưới kia đều có cửa chớp cả.
Những cục đá cứ tiếp tục bay vào cửa sổ, và rồi nghe như có tiếng ai đó đang đập vào những cửa sổ gài chặt bên dưới nhà.
- Đúng là điên loạn rồi! Hắn định đập vỡ hết mọi cửa chớp đã được đóng kín. Hắn chỉ làm vỡ được cửa kính bên ngoài, và các mảnh kính sẽ cứa đứt chân hắn.
Lại có tiếng một cửa sổ khác bị phá vang lên. Hai người đàn ông đứng ở đầu cầu thang bối rối không biết phải làm gì. Đại tá Adye nói:
- Ông còn khẩu súng nào khác không? Tôi sẽ đi về đồn và dẫn chó săn đến, phải bắt hắn dừng lại thôi.
Bác sĩ Kemp đưa tay vào túi, rồi ngập ngừng đưa cho đại tá khẩu súng của mình.
- Ông cứ yên tâm ở đây, tôi sẽ mang chó săn đến ngay thôi, ở đây ông sẽ được an toàn.
Kemp cảm thấy hối hận vì đã đưa vũ khí bảo vệ cuối cùng của mình cho đại tá Adye. Nhưng cũng đành phải vậy thôi vì hy vọng ông ta sẽ đến cứu viện kịp thời.
- Bây giờ mở cửa cho tôi. - Adye nói.
Khi đứng đợi trong phòng khách, họ nghe tiếng cửa sổ phòng ngủ vỡ. Với vẻ nhợt nhạt hơn bình thường, bác sĩ Kemp nhẹ nhàng hé cửa cho đại tá Adye lách ra ngoài rồi cài then lại ngay.
- Ông phải bước thẳng ra! - Kemp nói.
Đại tá Adye dừng lại một chút trên ngưỡng cửa, lưng dựa vào cánh cửa đã khép lại sau lưng. Rồi ông đi thẳng xuống bậc thềm, băng ngang thảm cỏ và đến cổng. Một làn gió nhẹ lướt qua trên cỏ. Có cái gì đó chuyển động đến gần ông ta và một giọng nói vang lên:
- Dừng lại một chút xem nào!
Đại tá Adye đứng chết lặng, tay nắm chặt khẩu súng, tất cả dây thần kinh của ông đều căng ra.
- Anh nói sao hả? - Adye nói với giọng sửng sốt.
- Tôi buộc ông phải quay trở vào nhà ngay lập tức. - Giọng nói cũng tỏ ra căng thẳng và quyết liệt.
- Không thể được! - Adye nói giọng hơi khàn đi và nghĩ đến việc bắn vào hướng phát ra tiếng nói.
- Ông định làm gì vậy? - Giọng nói cất lên và cả hai người đều di chuyển rất nhanh, một ánh sáng lấp lánh lóe lên từ miệng túi của Adye.
Adye ngừng lại và suy nghĩ, rồi chậm rãi trả lời:
- Tôi đi đâu là chuyện của riêng tôi.
Ông chưa nói hết câu thì đã bị một cánh tay vòng qua cổ và bị một đầu gối thúc vào lưng làm đầu ông bị giật ngược ra sau. Ông vụng về rút súng ra bắn điên cuồng, nhưng ngay sau đó ông bị đấm vào miệng và bị tước mất súng. Ông vùng vẫy dữ dội và té xuống.
- Khốn kiếp! - Adye chửi đổng.
Có tiếng cười lớn đáp lại.
- Tôi có thể giết ông ngay bây giờ, nếu như tôi không tiếc vì mất một viên đạn.
Adye nhìn thấy cây súng lục lơ lửng trong không khí, cách khoảng sáu bộ và đang chĩa thẳng về phía ông.
- Sao? - Adye nói và ngồi dậy.
- Đứng lên! - Giọng nói ra lệnh.
Adye làm theo.
- Đứng yên đó! Đừng có giở trò nhé. Nên nhớ rằng tôi có thể nhìn thấy rõ mặt ông, còn ông thì không thể nhìn thấy tôi được. Hãy quay trở vào nhà ngay.
- Ông ta sẽ không cho tôi vào đâu.
- Thật đáng tiếc khi ông không phải là người tôi muốn giết.
Adye lại liếm môi lần nữa. Ông liếc qua nòng súng rồi nhìn mặt biển phía xa xanh ngắt và lấp lánh dưới ánh mặt trời, nhìn những dải đồi xanh mượt mà, nhìn vách đá trắng trải dọc theo bờ biển dài đến thị trấn, nhìn thành phố nhấp nhô nhà cửa và đột nhiên ông cảm thấy cuộc sống ngọt ngào đẹp đẽ biết bao. Mắt ông quay trở lại nhìn thứ đồ vật bằng kim loại nhỏ bé kia đang treo lơ lửng trong không khí, ngay trước mặt, chỉ cách mình trong gang tấc. Ông buồn rầu hỏi:
- Tôi phải làm gì đây?
- Phải làm gì à? - Người vô hình hỏi lại. - Nếu để cho ông đi, ông sẽ kêu người đến giúp. Vậy việc duy nhất mà ông phải làm là quay trở vào nhà.
- Tôi sẽ thử. Nhưng nếu ông ấy cho tôi vào, ông hứa sẽ không xông vào chứ'?
- Tôi không muốn tranh cãi với ông. Giọng nói bảo.
Kemp vội vã lên lầu sau khi để Adye ra ngoài và bây giờ ông khom ngưòi ẩn mình giữa những tấm kính vỡ, cẩn thận nhìn qua khung cửa sổ của phòng làm việc. Ông thấy Adye nói chuyện với người vô hình. “Tại sao ông ta không bắn nhỉ?” Kemp tự nhủ. Rồi ông thấy khẩu súng di chuyển làm ánh sáng mặt trời chiếu vào mắt ông. Ông nheo mắt và cố tìm hiểu xem ánh sáng đó phát ra từ đâu. “Lạ quá! Sao Adye lại nộp súng cho hắn nhỉ?”
Trong khi đó cuộc nói chuyện giữa đại tá Adye và người vô hình vẫn tiếp tục. Adye cố gắng thuyết phục:
- Anh hãy hứa đừng xông vào nhà. Đừng để cuộc chơi đi quá xa. Hãy dành cho người ta một lối thoát chứ.
- Hãy quay vào nhà. Tôi đã nói rõ là tôi không có hứa hẹn gì cả.
Đại tá Adye đột nhiên quyết định. Ông quay về phía ngôi nhà chậm rãi bước tới, hai tay chắp sau lưng. Bác sĩ Kemp hồi hộp theo dõi ông. Khẩu súng lục thấp thoáng khi ẩn khi hiện bám theo sau Adye. Sau đó, mọi việc diễn biến một cách chớp nhoáng. Đại tá Adye giật lùi lại, xoay người chộp lấy khẩu súng, nhưng bị trượt, hai tay ông giơ lên và ngã sấp xuống, để lại một luồng khói xanh trong không khí. Tuy bác sĩ Kemp không nghe tiếng súng nổ, nhưng ông thấy rõ đại tá Adye quằn quại, chống tay ngồi dậy rồi lại ngã vật xuống rồi nằm bất động.
Trong một lúc, bác sĩ Kemp vẫn đứng nhìn chằm chằm vào thân hình bất động của Adye. Buổi trưa hè oi bức và yên tĩnh, dường như cả không gian chỉ bị khuấy động bởi một đôi bướm vàng bay đuổi nhau qua những bụi cây giữa, Adye nằm im lìm trên bãi cỏ gần cổng. Bác sĩ Kemp nhìn cảnh vật xung quanh nhà thật cẩn thận để tìm bóng dáng khẩu súng lục, nhưng nó đã biến mất. Đôi mắt ông quay lại nhìn Adye. Cuộc chơi đã thật sự được mở màn một cách chẳng được hay ho gì lắm.
Rồi có tiếng chuông reo, tiếng đập phá dồn dập ở cửa trước, nhưng theo lệnh của Kemp, những người giúp việc đều ở trong phòng khóa cửa lại. Rồi tiếp theo là sự im lặng. Kemp ngồi im lặng, nhìn ra ngoài lần lượt qua khung cửa sổ vỡ.
Ông bước tới cầu thang, lắng nghe đầy lo lắng, tự hỏi không biết kẻ thù hiện đang làm gì. Ông tự trang bị cho mình một thanh cời than và đi kiểm tra toàn bộ các cửa. Mọi việc vẫn an toàn và im lặng. Ông trở lại phòng làm việc. Adye vẫn nằm bất động bên cạnh con đường trải sỏi. Từ lan can, ông nhìn thấy người hầu gái và hai viên cảnh sát đang từ ngoài đường bước vào. Cảnh vật im lìm chết lặng. Ba người dường như tiến đến rất chậm.
Có tiếng đổ vỡ bên dưới. Ông ngập ngừng và đi xuống lầu lần nữa. Bỗng nhiên, ông ta nghe tiếng đổ vỡ và tiếng đập phá các thanh sắt chốt cửa sổ. Kemp vội vặn chìa khóa và mở cửa nhà bếp. Đúng lúc ấy, cánh cửa sổ bị gãy vỡ nát và bay vào trong. Kemp đứng im sợ hãi. Khung cửa sổ bị phá bằng rìu chỉ còn một thanh ngang chưa gãy và vài mảnh kính vỡ bám vào khung. Bây giờ chiếc rìu lại tiếp tục đập phá. Rồi bỗng nhiên nó nhảy sang bên và biến mất. Kemp thấy khẩu súng lục đang nằm trên đường đi bên ngoài bỗng bật lên không. Ông vội ngồi thụp xuống vừa lúc viên đạn bay sượt qua, làm một mẩu gỗ trên cánh cửa sát đầu ông bị bật toác ra. Kemp đóng mạnh cánh cửa và khóa lại. Ông nghe tiếng Griffin phá lên cười ha hả. Rồi tiếng rìu đập phá và những mảnh vỡ tiếp tục văng ra. Kemp trở vào hành lang, cố suy nghĩ: “Chỉ một lát nữa thôi người vô hình sẽ đột nhập được vào trong bếp. Cánh cửa này không thể ngăn cản hắn lại lâu đâu, và rồi...”
Một tiếng chuông vang lên ở cửa trước. Chắc là cảnh sát đến. Kemp chạy vào đại sảnh, móc đầy xích lên rồi mới rút then ra. Đợi người hầu gái lên tiếng, ông mới bỏ xích cửa xuống cho ba người lách vào nhà, rồi đóng ập ngay cửa lại. Ông nói với họ:
- Người vô hình có súng với hai viên đạn còn lại. Hắn đã giết Adye, hay ít ra cũng đã bắn ông ta. Các anh có thấy ông ta trên bãi cỏ không? Ông ấy đang nằm đó.
- Ai? - Một viên cảnh sát hỏi.
- Đại tá Adye. - Kemp trả lời.
- Chúng tôi đi vòng ngả sau nên không gặp. - Người hầu gái đáp.
- Tiếng gì đổ vỡ vậy nhỉ? - Một viên cảnh sát hỏi.
- Có lẽ hắn đang ở trong nhà bếp hoặc sẽ vào đây. Hắn tìm đâu được một cái rìu...
Bất ngờ căn nhà rung chuyển bởi những cú nện rìu của người vô hình bổ xuống cửa vào bếp. Cô hầu gái nhìn đăm đăm về phía nhà bếp, và hoảng sợ chạy vào phòng ăn ẩn nấp. Kemp cố giải thích mọi việc qua những câu đứt đoạn. Họ nghe tiếng cửa bếp sụp xuống,
- Đi đường này! - Kemp thét lên và đẩy hai viên cảnh sát sang lối vào phòng ăn. Ông giúi vào tay một viên cảnh sát thanh cời than đang cầm trong tay và lấy một thanh khác ở phòng ăn đưa cho người kia.
Rồi bất ngờ ông nhảy lùi lại.
- Coi chừng! - Một viên cảnh sát thét lên, chùng người xuống đỡ cái rìu bằng thanh cời than. Tiếng súng nổ và viên đạn tạo nên một lỗ toác hoác trên bức tranh. Người cảnh sát thứ hai dùng thanh cời than giáng trúng khẩu súng làm nó rơi xuống sàn nhà.
Ngay từ tiếng va chạm đầu tiên, cô gái hầu phòng đã chạy tới mở tung cửa sổ với ý định trèo qua để chạy trốn.
Chiếc rìu chạy trở vào hành lang và họ có thể nghe thấy tiếng thở của người vô hình. Hắn nói:
- Hai người tránh ra ngay. Tôi chỉ muốn trừng trị Kemp mà thôi!
- Còn chúng tôi thì lại muốn anh. - Một viên cảnh sát nói, tiến nhanh lên một bước và dùng thanh cời than quất vào chỗ vừa phát ra tiếng nói.
Có lẽ người vô hình lùi lại và trốn vào chỗ giá cắm dù. Trong khi viên cảnh sát còn đang lúng túng thì người vô hình phản công lại bằng một nhát rìu lên đầu làm cho cái nón của anh ta bị co rúm như tờ giấy và anh ta ngã lộn nhào xuống chân cầu thang. Nhưng viên cảnh sát thứ hai đã dùng thanh cời than đánh vào phía sau cán rìu trúng phải vật gì đó, làm vang lên một tiếng kêu khô khốc. Một tiếng kêu thét lên đau đớn và chiếc rìu rơi xuống sàn nhà. Viên cảnh sát bồi tiếp vào chỗ trống nhưng không trúng gì cả. Anh ta đạp lên chiếc rìu, rồi quất thêm một cú nữa rồi dừng lại, đứng im lắng nghe những tiếng động nhỏ nhất. Anh ta nghe tiếng cửa phòng ăn mở ra rồi tiếng chân chạy nhanh vào trong phòng. Đồng đội của anh ta lật người ngồi dậy, máu chảy ròng ròng ở khoảng giữa mắt và tai.
- Hắn đâu mất rồi? - Viên cảnh sát bị thương hỏi.
- Không biết. Có lẽ hắn đã chuồn mất, nhưng tôi đã đánh trúng hắn. Còn bác sĩ Kemp... ông đâu rồi.
Nhận thấy sự vắng mặt của bác sĩ Kemp, anh ta cất tiếng gọi lớn:
- Bác sĩ Kemp!
Yên lặng. Anh ta gọi tiếp:
- Bác sĩ Kemp!
Vẫn không có tiếng trả lời. Anh ta nói với bạn đồng đội:
- Bác sĩ Kemp thật là anh dũng.
Viên cảnh sát nghĩ tốt nhất là đi vào phòng ăn xem sao. Cửa sổ phòng ăn vẫn mở toang nhưng không hề có cô hầu gái cũng như bác sĩ Kemp ở đó.
&&&&
25. CUỘC SĂN ĐẢO NGƯỢC
Ông Heelas, người hàng xóm gần nhất của bác sĩ Kemp đang ngủ trưa trong căn nhà nghỉ mát của ông ta. Khi cuộc phong tỏa nhà bác sĩ Kemp bắt đầu, tiếng đập phá cửa sổ nhà bác sĩ làm ông ta tỉnh dậy. Ông nhìn thấy cửa kính, cửa sổ nhà hàng xóm đã bị đập vỡ tan tành. Bỗng cánh cửa chớp của phòng ăn bật mở tung ra và cô hầu gái giãy giụa trong khung cửa. Lát sau có một người xuất hiện phía sau, giúp cô thoát ra ngoài. Người đó chính là bác sĩ Kemp. Người hầu gái đã chạy lao ra phía trước rồi biến mất giữa các bụi cây. Ông lại thấy bác sĩ Kemp trèo lên bệ cửa sổ nhảy xuống, chạy dọc theo con đường mòn khuất sau những bụi cây. Sau đó bác sĩ lại xuất hiện và chạy hối hả xuống dốc về phía nhà ông Heelas.
Lúc bấy giờ ông Heelas mới kêu lên:
- Trời ơi! Đúng người vô hình là một kẻ tàn bạo thật rồi.
Ông Heelas nghĩ như vậy và vội chạy vào nhà, ông cuống cuồng giục người nhà:
- Đóng các cửa chính, cửa sổ. Đóng lại tất cả. Người vô hình đang đến.
Tức thì các cửa nhà đều được đóng lại. Chính bản thân ông cũng chạy đi đóng chặt cánh cửa sổ sát mặt đất. Một lúc sau, bác sĩ Kemp đã vượt qua hàng rào ngoài vườn và chạy qua sân quần vợt tiến về phía ngôi nhà.
- Ông không thể vào đây được đâu. - Heelas nói và lấy tay gài then cửa lại. - Tôi rất lấy làm tiếc nếu hắn đuổi kịp ông, nhưng không thể để ông vào nhà được.
Kemp xuất hiện ở ngoài khung cửa kính với vẻ mặt đầy kinh hãi. Ông lấy tay đập liên hồi vào cánh cửa, nhưng vô hiệu, đành phải chạy vòng qua cổng phụ ra phía đường đồi. Theo bản năng tự nhiên, ông chạy theo hướng xuống dốc. Lúc này đấy chính ông cũng phải chạy giống như Thomas Marvel đã chạy mà ông thấy cách đây mấy hôm. Ông chạy khá tốt vì vẫn thường xuyên tập luyện. Mặc dù mặt ông trắng nhợt và ướt đẫm mồ hôi, nhưng ông vẫn tỉnh táo đến cùng. Ông chạy sải bước, né tránh những hòn đá cuội và các mảnh thủy tinh vụn để dành cho đôi chân trần của người vô hình.
Lần đầu tiên trong đời, Kemp nhận thấy con đường đồi dẫn đến thành phố ở phía xa kia sao mà heo hút và hoang vắng đến lạ lùng. Tất cả những ngôi nhà ven đường đều đóng cửa kín mít theo đúng chỉ dẫn của chính ông. Nhưng ít nhất họ cũng nên để chỗ để đề phòng những trường hợp như thế này chứ! Một chuyến xe trạm vừa dừng lại ở chân đồi. Qua khỏi đó là đồn cảnh sát. Phải chăng ông đã nghe được tiếng bước chân đuổi theo? Gắng sức lên! Ở dưới phố người ta đang nhìn ông và một vài người cũng đang chạy. Lúc này chiếc xe trạm đã gần bên và trong quán Jolly Cricketers người ta đang đóng cửa ầm ĩ. Bác sĩ Kemp chạy lướt qua cửa quán đến đầu đường, ở đây có nhiều người hơn. Người đánh xe và người phụ việc của anh ta đứng bên những con ngựa đã tháo cương đang chằm chằm nhìn ông. Xa hơn nữa là những người thợ đào đất đang đứng chỗ bãi bồi tỏ vẻ ngạc nhiên.
Kemp chạy hơi chậm đi và kêu lên với mấy người thợ đào đất đang ra hiệu và ông nhảy qua hố đào đất tạo thành một chướng ngại giữa ông và kẻ săn đuổi.
- Người vô hình!
Ông định chạy vào đồn cảnh sát, nhưng lại thôi và quay sang con đường bên cạnh, sau đó chạy theo một ngõ nhỏ dẫn trở lại trục lộ chính. Vài đứa trẻ đang chơi ở đây, thét lên và chạy tán loạn khi thấy ông xuất hiện. Khi băng trở lại đường phố chính, ông nhận ra một đám đông đang chạy ồn ào. Ông liếc nhìn về hướng đồi. Cách chiếc xe trạm khoảng chừng mười bộ, một người thợ đào đất to lớn vung mạnh cái vá chạy ra, cố bám sát gót là người điều khiển xe trạm tay đang nắm chặt. Những người khác theo hai người này vừa chạy vừa la hét. Từ phía dưới phố, nhiều người cũng đang chạy đến. Kemp nhìn thấy rõ một người đàn ông cầm gậy từ trong cửa hàng nhảy ra.
- Giãn ra mau! - Người nào đó la lên.
Bác sĩ Kemp chợt nhận ra tình thế cuộc đuổi bắt đã xoay chuyển. Ông đứng lại nhìn quanh, thở hổn hển, rồi nói:
- Hắn đến gần rồi! Làm thành một hàng ngang mau.
- A! - Tiếng người vô hình kêu to.
Bác sĩ Kemp bị đánh mạnh vào dưới tai bước loạng choạng mấy buớc và cố quay mặt lại với kẻ thù vô hình. Vừa vững bước ông liền đấm mạnh để trả miếng vào không khí. Tiếp đến, ông lại bị đấm vào dưới quai hàm và té nhào xuống đất. Ngay lập tức, ông bị một đầu gối đè lên mạng sườn và một đôi bàn tay hăm hở bóp chặt cổ họng ông, nhưng một bên tay bóp yếu hơn tay kia. Ông giơ tay lên nắm chặt hai cổ tay ấy và nghe một tiếng thét đau đớn của kẻ tấn công. Cái vá của người thợ đào đất quay tít phía trên ông đập mạnh vào vật gì đó làm nó ngã lăn ra một cách mơ hồ. Ông cảm thấy một giọt sền sệt nong nóng rơi xuống mặt mình, cổ họng ông bỗng được nới lỏng ra, Kemp cố hết sức lách mình ra chộp lấy một bả vai, lộn người đứng dậy. Ông siết chặt hai khuỷu tay vô hình gần mặt đất.
- Tôi đã giữ được hắn rồi! Bác sĩ Kemp thét lên. - Giúp tôi với, giúp tôi đè hắn xuống! Hắn té rồi! Nắm chân hắn!
Ngay lập tức mọi người nhào đến đấm đá loạn xạ. Không có tiếng la nào nữa sau tiếng thét của Kemp, chỉ nghe tiếng chân, tiếng đấm và tiếng thở nặng nhọc.
Bằng một cố gắng phi thường, người vô hình hất được hai đối thủ văng ra và quỳ gối lên. Nhưng Kemp vẫn bám chặt hắn như chó săn bám vào con hươu, và hàng chục cánh tay siết chặt, giăng xé kẻ vô hình. Người điều khiển xe trạm đột nhiên tóm được cổ và vai hắn vật ngửa ra. Đám đông nhào lại đấm đá. Rồi bỗng vang lên một tiếng kêu man dại:
- Xin tha chết cho tôi! Xin tha chết!
Tiếng kêu đó nhanh chóng tắt đi thành một tiếng nghẹt.
- Hãy lui ra! Hắn bị thương nặng rồi! Lùi lại ngay! - Bác sĩ Kemp kêu lên.
Phải mất một lúc lâu mới dẹp được một khoảng trống. Bác sĩ Kemp quỳ xuống nắm lấy đôi tay vô hình trên mặt đất. Bên cạnh ông, một viên cảnh sát ghì lấy hai cổ chân vô hình
- Đừng buông hắn ra! - Người thợ đào đất cầm vá la lên. - Hắn giả bộ đấy.
- Hắn không giả bộ đâu. - Kemp nói, rồi buông một tay đưa lên sờ vào phía mặt Griffin - Lạy chúa! Miệng hắn ướt đẫm cả.
Dân chúng từ trong nhà túa ra. Cửa quán Jolly Cricketers mở rộng. Kemp cúi xuống, tay như rà trên khoảng không.
- Hắn không còn thở nữa. Tôi không còn nghe tiếng tim đập...
Một bà già đứng nhìn qua tay của anh thợ đào đất to lớn, bỗng thét lên the thé:
- Nhìn kìa!
Nhìn theo ngón tay bà chỉ, mọi người thấy lờ mờ, trong suốt như làm bằng thủy tinh nào là mạch máu, gân cốt, dây thần kinh và đường nét của bàn tay, một bàn tay bị giập và úp sấp. Và cứ vậy dần dần, từ chân tay đến toàn thân tiếp tục biến đổi một cách kỳ lạ. Đầu tiên là những dây thần kinh, xương cốt, mạch máu, rồi tiếp đến da thịt cứ hiện dần lên mỗi lúc một rõ.
Cuối cùng, khi đám đông giãn ra để bác sĩ Kemp đứng thẳng dậy, người ta nhìn thấy trên mặt đất là một thân hình trần truồng và thảm thương, một thân hình thâm tím, đầy thương tích của một người đàn ông trạc ba mươi tuổi. Râu và tóc của người ấy đều trắng, nhưng không phải bạc như người già, mà là màu trắng của người bạch tạng. Đôi tay người ấy co quắp lại, mắt mở trừng trừng biểu lộ vẻ tức giận, nhưng đã mất hết thần sắc.
- Đậy mặt hắn lại! - Một người kêu lên.
Người ta mang từ trong quán Jolly Cricketers ra một tấm khăn trải giường, phủ kín người hắn rồi khiêng vào quán.
&&&&
26. ĐOẠN KẾT
Câu chuyện kể về cuộc thí nghiệm ma quỷ lạ lùng của người vô hình đến đây đã kết thúc. Nếu bạn muốn biết rõ hơn về con người ấy, bạn phải đến một ngôi quán nhỏ ở gần cảng Stowe mà nói chuyện với ông chủ quán. Trên tấm bảng hiệu của cái quán ấy chỉ vẽ có cái nón và đôi ủng với bảng hiệu là quán “Người vô hình”. Chủ quán là một người đàn ông mập lùn, có cái mũi lõ thật to, tóc cứng và da mặt lấm chấm đỏ.
Bạn cứ ăn uống một cách hào phóng thì lão ta sẵn sàng kể cho bạn nghe toàn bộ câu chuyện xảy ra với lão vào cái ngày ấy và kể chuyện các luật sư đã làm cách nào để lão không được hưởng kho tiền vàng đồ sộ mà người ta đã tìm thấy. Lão còn kể rằng có một người thanh lịch đã trả cho lão một đồng guinea mỗi đêm để lão kể lại toàn bộ câu chuyện này ở phòng hòa nhạc Hoàng gia.
Và nếu bạn muốn cắt dòng hồi tưởng dông dài của lão một cách dột ngột, bạn chỉ cần hỏi lão về ba quyển vở ghi chép trong câu chuyện ấy. Lão thừa nhận là có ba
quyển vở ấy thật, người ta đồn là lão giữ lại nhưng lão vẫn một mực thanh minh và thề rằng mình không có giữ.
- Chính người vô hình đã lấy lại và đem giấu chúng khi tôi bỏ chạy khỏi cảng Stowe rồi. Chỉ tại bác sĩ Kemp làm mọi người cứ nghĩ rằng tôi đang giữ ba quyển vở ấy.
Và sau đó, lão chìm đắm vào trong một trạng thái suy tư, ủ dột, nhìn bạn bằng ánh mắt e dè, bối rối, rồi lảng sang chuyện khác và tìm cách rời khỏi quầy rượu.
Lão ta là một người độc thân và đã thề rằng suốt đời không lấy vợ.
Cứ mỗi sáng chủ nhật, trong suốt cả năm, khi lão tách mình khỏi thế giới bên ngoài, và mỗi đêm sau mười giờ, lão khóa hết mọi cánh cửa lại và xem xét thật kỹ dưới cả gầm bàn và xó tủ. Khi đã yên tâm, lão mới mở một ngăn kéo bí mật trong tủ dựng tiền, lấy ra một chiếc hộp. Trong đó đựng ba quyển vở bìa da nâu sờn bẩn vì đã có lần bị chôn giấu. Lão chủ quán đặt ba quyển vở ấy trên bàn, rồi chậm rãi ngồi vào ghế bành, nhồi thuốc vào cái tẩu bằng đất sét. Rồi lão kéo một quyển vở đến gần mình, mở ra từng trang và nghiên cứu từ sau ra trước. Lão ta nhíu mày, bậm môi vì chẳng hiểu gì những ký hiệu bí mật của người vô hình để lại cả. Lão tựa người vào ghế bành lơ mơ nhìn qua làn khói thuốc về một chốn vô hình.
Lão mơ màng trong một giấc mộng kỳ diệu không bao giờ tắt trong suốt cuộc đời lão.
Và dù bác sĩ Kemp không ngừng hỏi lão và cả đại tá Adye cũng đã thường xuyên điều tra, thẩm vấn lão, nhưng không một người nào trên đời này có thể biết những quyển vở đó ở đâu ngoại trừ chính bản thân lão.
Trong những quyển vở đó chứa đựng các bí mật không thể hiểu được của sự vô hình và còn các bí mật kỳ dị khác nữa.
Và sẽ không có người nào khác biết về chúng cho đến khi lão ta nhắm mắt lìa trần.
★
★
★
★
★
0