Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ 🔒

21 trả lời, 163 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.02.2018 11:11:42 bởi casau>
 
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ
Nhiều tác giả
 
Lời giới thiệu
“Triều đình riêng một...”
 
“Triều đình riêng một góc trời
Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà...”

Nguyễn Du
(Đoạn Trường Tân Thanh)
    
-1-
“Chính Thống, Ngụy Triều”
Luận về Tây Sơn và Nguyễn Huệ, sử gia Trần Trọng Kim đã khách quan phân tích lịch sử về anh hùng:
“... anh em Nguyễn Nhạc là người dân mặc áo vải, dấy binh ở Ấp Tây Sơn, chống nhau với Chúa Nguyễn đã lập nghiệp ở đất Quy Nhơn. Tuy rằng đối với họ Nguyễn là cừu địch, nhưng mà đối với nước Nam, thì chẳng qua cũng là một người anh hùng lập thân trong lúc biến loạn đó mà thôi!
Còn như Nguyễn Huệ là Vua Thế Tổ nhà Nguyễn Tây Sơn, thì trước giúp anh bốn lần vào đánh đất Gia Định đều được toàn thắng, phá hai vạn quân hùm beo của Xiêm La, chỉ còn được mấy trăm lủi thủi chạy về nước; sau lại ra Bắc Hà, dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại mối cương thường cho rõ ràng. Ấy là đã có sức mạnh mà lại biết làm việc nghĩa vậy.
Sau vua Chiêu Thống và Bà Hoàng thái hậu đi sang kêu cứu bên Tàu, vua nhà Thanh nhân lấy dịp ấy, mượn tiếng cứu nhà Lê, để lấy nước Nam...
Vậy nước đã mất, thì phải lấy nước lại, ông Nguyễn Huệ mới lên ngôi Hoàng đế, truyền hịch đi các nơi, đường đường chính chính, đem quân ra đánh một trận, phá 20 vạn quân Tàu, tướng nhà Thanh là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cả ấn tín mà chạy, làm cho vua tôi nước Tàu khiếp sợ, tướng sĩ nhà Thanh thất đảm. Tưởng từ xưa đến nay nước ta chưa có vổ công nào lẫm liệt như vậy! Vả đánh đuổi người Tàu đi, lấy lại nước mà làm vua thì có điều gì mà trái đạo?”

(Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược. Quyển II, trang 128-129)
Cho nên với Tây Sơn, Nguyễn Huệ, Quang Trung không còn là chuyện “Chính Thống” hay “Ngụy Triều” mà chỉ còn những bức tranh khách quan của Lịch sử. “Kẻ bố y” [1] cũng là đại tướng, khách vườn trầu cũng vẫn đế vương, người anh hùng xông pha Nam Bắc cũng là một nghệ sĩ chân truyền... chẳng còn gì để phân biệt ngụy triều, chính thống!
 
-2-
“Áo vải, cờ đào” [2]
“Kẻ bố y”, không bao giờ quên mình là “dân áo vải”, nên trong bài chiếu “đăng quang” Quang Trung vẫn không quên bản thân với giấc mơ Phạm Lãi, dù cho luôn phải múa gươm lên ngựa... để sau đó chỉ mấy ngày tiến quân ra Bắc tận diệt quân Thanh:
“Trẫm là kẻ áo vải đất Tây Sơn, không có một tấc đất, vốn không có chí làm vua. Chỉ vì lòng người chán ghét loạn lạc, mong có vị minh chúa để cứu đời, yên dân. Cho nên tập họp nghĩa quân, xông pha chông gai, phá núi mở rừng, giúp đỡ Hoàng đại huynh rong ruổi binh mã, gây dựng nước ở cõi Tây, dẹp Tiêm La, Cao Miên ở phía Nam, rồi hạ thành Phú Xuân, lấy Thăng Long. Bản ý chỉ muốn quét trừ loạn lạc, cứu dân trong chốn nước lửa, rồi trả nước cho họ Lê, trả đất cho Đại huynh, ung dung áo gấm hài thêu, ngắm cảnh yên vui ở hai cõi đất mà thôi...”
(Thơ văn Ngô Thì Nhậm, quyển 2, trang 108, Mai Quốc Liên dịch, trích từ “Sông Côn Mùa Lũ” của Nguyễn Mộng Giác, quyển 4, trang 1822)
Từ “Kẻ bố y”, người “dân áo vải” lên ngôi Hoàng đế, phất ngọn cờ đào đánh tan 20 vạn quân Thanh vào Tết Nguyên Đán, Kỷ Dậu (1789).
“Bảy vạn quân thủy bộ đã tụ họp đông đủ ba mặt dưới đàn Nam Giao. Từ trên chóp Ba Tầng nhìn xuống, trước hết là hằng hà sa số những chấm đen di động liên tục, như một đàn kiến xếp trật tự theo từng vạt vuông vức. Cờ Đào nhuộm hồng khoảng cách sát chân đồi, và mỗi khi mặt trời chui ra khỏi những đám mây lại lơ lửng, thì nắng sáng chiếu lên các lưỡi gươm giáo, biến vùng đất bằng phẳng dưới đó thành một vùng dát bạc lấp lánh.
Trên Đàn Nam Giao, màu cờ sắc áo sặc sỡ... Lá Cờ Đào thật lớn phất phới trên Kỳ Đài, ngay đỉnh đồi, biến mọi vật trên đàn trở nên hồng hào, hớn hở...”

(Nguyễn Mộng Giác - Sông Côn Mùa Lũ, quyển 4, trang 1857)
Nhìn vào trận đánh, với oai phong lẫm liệt của Quang Trung và khí thế anh hùng của các đạo quân tốc chiến tốc thắng của Việt Nam:
“Vua Quang Trung cỡi voi đi sau đốc chiến, quân An Nam vào đến cửa đồn, bỏ ván xuống đất, rút dao ra, xông vào chém, quân đi sau cũng kéo ùa vào đánh. Quân Tầu địch không nổi, xôn xao tán loạn, xéo lẫn nhau mà chạy. Quân Nam thừa thế đánh tràn đi, lấy được các đồn, giết quân Thanh thây nằm ngổn ngang khắp đồng, máu chảy như thác nước. Quân các đạo khác cũng đều được toàn thắng.
Quan nhà Thanh là Đề đốc Hứa Thế Hanh, Tiên Phong Trương Sĩ Long, Tả Dực Thượng Duy Thăng đều tử trận cả; quan phủ Điền Châu là Sầm Nghi Đống đóng ở Đống Đa, bị quân An Nam vây đánh cũng thắt cổ mà chết!
Tôn Sĩ Nghị nửa đêm được tin báo, hoảng hốt không kịp thắng yên ngựa và mặc áo giáp, đem mấy tên lính kỵ chạy qua sông sang Bắc. Quân các trại nghe tin như thế, xôn xao tan rã chạy trốn, tranh nhau sang cầu, một lát cầu đổ, sa cả xuống sông chết đuối, sông Nhị Hà đầy những thây người chết!”

(Trần Trọng Kim - Việt Nam Sử lược, quyển II, trang 133-134)
Quang Trung tiến quân vào Thăng Long. Khói thuốc súng còn tỏa nghi ngút khắp trời. Đó là chiều Mồng Năm Tháng Giêng năm Kỷ Dậu. Chiến thắng sớm hơn một ngày dự liệu của Quang Trung. Dân Thăng Long đổ ra kinh thành để đón mừng Đại Đế, nhưng cả đoàn tượng binh đi qua mà không ai nhìn được ra vua.
“Vì chiếc chiến bào màu đỏ của Vua, cùng chiếc khăn vàng thúc quân của đại đế đã đen sạm màu thuốc súng!”
(Đại Nam)
Đó là chiến thắng oanh liệt Đống Đa, đỉnh cao võ công của Quang Trung trên hành trình chiến thắng từ Quy Nhơn - Rạch Gầm - Xoài Mút - Phú Xuân để tiến đến Thăng Long đưa uy danh của Nguyễn Huệ lên hàng Đại Đế!
 
-3-
“Giấc Mơ Phượng Hoàng”
Giấc mơ của Quang Trung theo lời chỉ dạy của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp là vận dụng mọi khả năng để trở về nguồn, nơi xuất thân của dòng họ trước đây. Do đấy mà Phượng Hoàng Trung Đô được xây dựng giữa cảnh núi Hồng, sông Lam, chuẩn bị cho Triều đại một tương lai “Ba Thục” khi cần đối phó với bất cứ cuộc tiến quân nào từ Bắc hoặc từ Nam.
Nhưng tiền duyên lịch sử như không hỗ trợ cho hoài bảo anh hùng, nên chỉ Ba Năm Bảy Tháng sau đỉnh chiến thắng tuyệt vời, Quang Trung đã vĩnh viễn rời bỏ cuộc đời, để lại Giấc Mơ Phượng Hoàng cho một triều đình trên đường gãy cánh. Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16-9-1792) trước khi băng hà vào giờ Dạ Tý, Quang Trung đã di chúc cho Trần Quang Diệu những lời tuyệt vọng của một ý thức lãnh đạo, quán triệt được tình hình trong thế nước qua phân lúc bấy giờ còn trong vòng nội chiến. Đó là sự kiện cần tổ chức tang lễ cấp bách, để dời đô ngay về Nghệ An, nơi Phượng Hoàng Trung Đô đang hình thành mà từ lâu nay chưa hoàn tất được!
“Chôn cất cho mau, nội trong một tháng, rồi dời kinh về Phượng Hoàng Trung Đô, nếu không, quân Gia Định kéo tới, các ngươi sẽ không có đất mà chôn đâu!”
(Liệt Truyện, Thực lục)

Lời tiên tri ấy đã trở thành sự thật vào năm Nhâm Tuất (1802).
Trong bao nhiêu chuyển vần của lịch sử dân tộc qua các cảnh “ngũ liệt, tam phân”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng khuyên Nguyễn Hoàng vào tận Hoành Sơn; từng nhắn Trịnh Kiểm nên bảo trọng nhà Hậu Lê; cũng từng đặc biệt dặn dò họ Mạc hãy lên Cao Bằng mà “ẩn triều” cho được một vài đời nữa. La Sơn Phu Tử cũng ân cần với Quang Trung Nguyễn Huệ sau bao lần Hoàng đế chiếu cố đến người ẩn sĩ đất Hồng Sơn:
“Hãy trở về với nguồn cội của núi Hồng, may ra thoát được bao điều oan trái của cảnh nồi da xáo thịt ngay trong tộc họ Tây Sơn; nhờ nước Lam giang rửa sạch bao nhiêu ẩn duyên cùng lịch sử, để cùng núi sông lưu lại một hành trình oanh liệt giữa hai chốn Bắc - Nam”.
Tuy nhiên “Trung Đô” đã được Thái Ất Thần Kinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm đi trước, vượt qua mọi thử thách của biến động Bắc Nam, làm cho Phượng Hoàng gãy cánh ngay tại khung trời của hai châu Ô - Lý, không còn tiềm năng để trở lại Trung Đô!
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.

(Sấm Ký)
Đó là nghiệp chướng của hai chữ “Tiểu”, trên chữ “Quang” (Quang Trung) và dưới chữ “Cảnh” (Cảnh Thịnh) đã quy kết vận số của một triều đại từ thời oanh liệt đến thời suy vong: Nhâm Thân 1788, Nhâm Tuất 1802, hoàn tất một giai đoạn bi hùng nhất của lịch sử Việt Nam suốt thời kỳ nội chiến.

Miền Đông Bắc Mỹ Châu
Tiết Quý Thu, Quý Mùi 2003
Ban Biên Tập Dòng Việt.
--------------
[1] Quang Trung luôn tự xưng là “Kẻ bố y”.
[2] Ngọc Hân trong “Ai Tư Vãn” nói về Nguyễn Huệ là dân “áo vải cờ đào...”
📎 vqtnh
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.02.2018 09:10:15 bởi casau>
Phần thứ nhất
“...  Áo vải, cờ đào...”


“Mà nay áo vải, cờ đào,
Giúp dân dựng nước, xiết bao công trình!
Cũng dường ấy mà nhân dường ấy.
Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công?...”

Ngọc Hân công chúa - (Ai Tư Vãn)
 
Họ Hồ tại Nghệ An
Võ Tư Nhượng


Không hiểu vì lý do nào thân sinh Đại đế Quang Trung đã lấy họ mẹ, họ Nguyễn, lúc định cư tại Bình Định. Tổ tiên của ngài vốn họ Hồ, sinh quán tại phủ Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Hưng Nguyên vốn là vùng “tranh đất giành dân” Trịnh Nguyễn.
Vị đứng đầu ngành họ Hồ tại Bình Định lúc di cư theo quân Nguyễn vào Nam vẫn giữ họ Hồ. Đó là vị mà Đại đế Quang Trung gọi bằng ông: Cụ Hồ Phúc.
Nhưng gốc chính họ Hồ của ngài lại ở huyện Quỳnh Lưu, một huyện cạnh bờ biển ở phía Bắc Hưng Nguyên độ năm mươi cây số.
Theo các vị lão thành thì họ Hồ này vốn có gốc ở Tàu, có lẽ đã di dân vào Việt Nam theo đường biển: Quỳnh Lưu là một cửa bể giàu, nổi danh vì nước mắm và mắm tôm. Nhà cách mạng Cao Bá Quát lúc phê bình hội thơ của triều Nguyễn đã có câu:
Chán thay cái mũi vô duyên,
Câu thơ Thi Xã con thuyền Nghệ An.

Nghệ An đây chỉ Quỳnh Lưu lúc các lái buôn ngược dòng sông Hồng Hà lên Nam Định, Hà Nội bán hàng.
Họ Hồ tại Nghệ An là một dòng họ danh tiếng. Chính dòng họ này đã cho dân tộc Việt Nam những nhân vật lừng lẫy.
Trước tiên là Trạng nguyên Hồ Tôn Thốc. Ngài là vị Trạng nguyên đầu tiên vào đời Trần. Ngài nổi danh - cố nhiên - vì ngài chiếm Đệ nhất giáp, Đệ nhất danh, tên được viết vào đầu rồng (Bảng nhãn viết vào thân rồng, Thám hoa viết vào đuôi rồng), một địa vị khiến các công chúa thi nhau thả tú cầu.
Thi sĩ Xuân Diệu nhớ tới hình ảnh quan trạng:
Gió bay hương cúc vàng quanh dậu,
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên

Hay hình ảnh đẹp như vẽ:
Bạch mã bên thành nhớ trạng nguyên
Khuyết danh
Chắc chắn Trạng nguyên Hồ Tôn Thốc được cưỡi bạch mã, thưởng hoa dưới những cặp mắt trìu mến của các công chúa.
Ngài còn nổi danh trong lịch sử vì chuyến đi sứ sang Tàu. Dã sử chép lúc ngài đi qua một bến đò khá rộng, ngài thấy trước khi lên đò ngang ai cũng vào một cái miếu nhỏ cạnh bến đốt vàng mã, khấn vái. Ngài thấy miếu đề thờ Hạng Vũ rất thiêng, ai sang sông không đốt vàng mã, khấn vái thì lập tức gió to, sóng lớn và đò bị lật. Biết chuyện, ngài nổi giận. Không ngờ một tay cái thế anh hùng như Hạng Vũ, với cây phương thiên họa kích, cưỡi ngựa Ô Truy, người đẹp Ngu Cơ trong trướng, một chân đạp đổ nhà Tần mà lúc chết lại có thái độ nhỏ nhen như vậy. Ngài lập tức đề vào bài vị Hạng Võ:
“Quân bất quân hề, thần bất thần
Như hà miếu mạo tại Giang Tân
Giang Đông tích nhật do hiềm tiểu
Hà tất thiên tiêu bách vạn câu”

Trạng nguyên Hồ Tôn Thốc
Phỏng dịch:
Vua chẳng phải vua, thần chẳng phải thần
Cớ sao có miếu tại Giang Tân
Giang Đông một giải xưa chê nhỏ
Nay tiếc tro tàn mấy vạn câu

Võ Tư Nhượng
Và ngài thét: “Ta không đốt vàng, ta không khấn nhà ngươi, ta cứ sang sông, xem ngươi làm gì được ta”.
Ngài xông thẳng xuống thuyền, thưởng thật hậu cho ông lái, và ngài sang sông không một gợn sóng, trước sự kinh hoàng của người trên bến. Từ đấy miếu Hạng Vũ hết thiêng.
Có lẽ tay anh hùng bạt tụy đất Giang Đông hổ thẹn trước chính khí cao ngất của ngài.
Người thứ hai nổi danh của dòng họ Hồ Đại Đế Quang Trung là Hồ Quý Ly. Sử sách các triều cũ khép tội ông cướp ngôi và gọi ông “giặc Hồ”. Theo tôi nghĩ ngài là một nhà cách mạng. Cuối đời Trần các vua bắt đầu hèn yếu, việc nước bê trễ nên Hồ Quý Ly đã đứng lên đạp đổ ngôi nhà Trần mục nát lập nên nước “Đại Ngu”.
Tuy làm vua một thời gian ngắn nhưng những quan niệm của ông về một quốc gia tân tiến đã làm rạng rỡ nòi giống Việt Nam. Trong thời kỳ ông làm vua, phần lớn các cường quốc văn minh ngày nay hoặc chưa có, hoặc đang ở tình độ bộ lạc. Nước Pháp chỉ thành một quốc gia sơ sài, sau khi vua Henri IV lên ngôi nghĩa là thế kỷ 14.
Nhà Hồ lên ngôi lúc Trần mạt vào năm cuối thế kỷ 14, năm 1400.
Vừa mới lên ngôi, vua Hồ Quý Ly đã có những cải cách thật táo bạo. Vua chế bạc giấy với những hình ảnh đặc biệt cho mỗi loại để người dân không biết chữ cũng dùng được đúng giá trị. Ông hô hào dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ chính. Tiếc vì những sáng kiến của ông đi quá xa sự hiểu biết đương thời nên bị giới trí thức chống đối. Chống đối vì một phần không hiểu, một phần vì ích kỷ.
Người họ Hồ thứ ba làm rạng rỡ dân tộc là một cân quắc anh thư: Thi sĩ Hồ Xuân Hương.
Nói về Hồ Xuân Hương, giáo sư G. Cordier một giáo sư văn chương người Pháp, giỏi chữ Hán hơn các bậc đại khoa thời xưa, nói tiếng Việt chính xác hơn một người Việt có học thức cao phê bình: Bà Hồ Xuân Hương chiếm một vị trí đặc biệt trong văn đàn Việt Nam và văn đàn thế giới. Trong lịch sử thi ca của nhân loại không có hai người như bà. Ngôn ngữ của bà vừa chính xác vừa tả chân không ai bì kịp. Đã có ai tả được một cảnh núi non vắng lặng như bà:
Đường đi xiêu vẹo quán cheo leo,
Những lời phê bình này, giáo sư nói lại với một vị đại khoa (Tiến sĩ) vừa là một Y sĩ Đông Dương (Médecin Indochinois) trong lúc đàm đạo về văn chương Việt Nam. Ông cũng nói về cụ Nguyễn Du nhưng câu chuyện này tôi không kể lại trong bài này.
Theo tôi trong thi ca Việt Nam có ba nhà thơ rất giỏi dùng âm vận để tả nội cảnh (Harmonie Imitative) đó là Đặng Trần Côn, Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương.
Theo giáo sư Cordier, thi hào Hồ Xuân Hương đã mở một môn phái chưa có trong văn chương Việt Nam: Môn phái tả thực.
Theo tôi bà Hồ Xuân Hương lại còn là một thi sĩ có tư tưởng cách mạng. Bà mạnh dạn đòi nam nữ bình quyền đầu tiên tại Đông Phương. Dưới nền luân lý cổ truyền người đàn bà Việt Nam bị bó buộc đủ điều: con gái không được học cao, không được dự thi cử, ít được ra đường, thật là:
Gác kín, buồng sâu khóa ước mơ.
(Khuyết danh)
Trong lúc đó các bậc mày râu có đủ quyền lợi: năm thê bảy thiếp, uống rượu ngâm thơ, vác lều chõng đi thi cho đến già mà vẫn được hầu hạ. Thậm chí đàn bà ăn nói phải mực thước, không được cười to nơi đông người, còn các bậc nam nhi trí thức?
Dài lưng, tốn vải, ăn no lại nằm.
Bà Hồ Xuân Hương đã vùng dậy. Không muốn cho con gái học lên cao, bà làm thơ để chứng tỏ thơ của bà còn hay hơn của nhiều đấng nam nhi. Muốn đàn bà sống như một cái bóng? Bà làm thơ với ngôn ngữ thật táo bạo mà không ai bắt bẻ gì được, trái lại còn phải tán thưởng thơ bà bằng những trận rung đùi, vỗ tay đen đét.
Phê bình võ công của Sầm Nghi Đống, bà dám hạ bút:
Thân này ví thử làm trai được.
Thì sự anh hùng có bấy nhiêu?

Đây là một cuộc cách mạng về ý thức khác bà Đoàn thị Điểm trong Chinh Phu ngâm, bà Huyện Thanh Quan qua những vần thơ đường luật.
Người nổi danh thứ tư của họ Hồ này là cụ Hồ Ngọc Lãm. Trong lịch sử cận đại có một sự nhầm lẫn vô cùng quan trọng. Đó là tên “Hồ Chí Minh” tên này là bí danh của cụ Hồ Ngọc Lãm. Cụ cũng người Quỳnh Lưu thuộc dòng họ Hồ với Đại đế Quang Trung lúc cụ theo phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục sang Tàu cùng cụ Phan Bội Châu (cùng quê) cụ theo học trường Võ bị Hoàng Phố. Sau cụ làm đến cấp bậc đại tá trong quân đội Trung Hoa Quốc gia. Lúc gần xảy ra thế chiến II, các đoàn thể cách mạng trong và ngoài nước (cả Cộng sản) tôn cụ lên làm minh chủ một tổ chức thống nhất:
“Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội”
Cụ lấy tên Hồ Chí Minh. Không may cụ bị bạo bệnh (lại bạo bệnh) chết. Tất cả mọi người đang thương tiếc con chim đầu đàn gãy cánh thì Lý Thụy (Cộng sản) chiếm ngay tên hiệu Hồ Chí Minh của cụ. Tất cả các đoàn thể đều biết chuyện gian lận ấy nhưng ai cũng nghĩ “Miễn cách mạng thành công là được, không nên vạch áo cho người xem lưng”. Còn Lý Thụy thì bẻm mép: “Tôi lấy tên này để dễ giao thiệp với chính quyền Tưởng Giới Thạch”. Và ai cũng chặc lưỡi: cũng được. Lúc đó chưa ai hiểu ra cái nguy hiểm Cộng sản.
Đoạn này Bác sĩ Trần Trọng Thức (cùng quê) viết rất rõ trong quyển hồi ký “42 năm hải ngoại” xuất bản tại Sài gòn vào khoảng 1970. Tiện đây tôi xin giới thiệu một vài nét về Bác sĩ Trần Trọng Thức. Tên thật của cụ là Nguyễn văn Lực, lúc cụ xuất dương theo cụ Phan Bội Châu, cụ mới lập gia đình và có một người con trai tám tháng đầu lòng. Đúng là:
Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt
Chinh Phụ ngâm - Đặng Trần Côn
Dịch:
Phép quan là trọng miền tây xá nào
Đoàn thị Điểm
Tướng quân phụng mệnh đâu cần biệt ly
Võ tư Nhượng
Sinh viên Nguyễn văn Lực tốt nghiệp Võ bị Hoàng Phố, rồi tốt nghiệp Lục Quân Học Hiệu Nhật Bản. Bị Nhật đuổi cùng đám Đông Du, cụ trở lại Tàu học trường Đại học Sư Phạm, đi dạy học nuôi đồng chí. Xảy ra Thế giới Chiến tranh thứ I, cụ theo lệnh cụ Phan Bội Châu sang Đức vận động chống Pháp. Cụ tốt ngbiệp Bác sĩ tại Đức (sinh viên đầu tiên tốt nghiệp tại Đức) cụ kể lại lúc cụ học tại Đức, Nguyễn Ái Quốc (Lý Thụy) đi cùng một người Nga đến xin gặp cụ, cụ từ chối. Lúc trở về Tàu cụ làm việc với chính phủ Nam Kinh. Lúc bị Trung cộng bắt làm tù binh cụ được làm quân y. Sau Cộng sản Tàu cho trở về Việt Nam, cụ theo ngả Hồng Kông. Lấy tư cách đồng hương chúng tôi tới thăm cụ tại Nha Trang (1962) người con trai độc nhất của cụ đã trở thành một nhà thầu khoán giàu có.
Tôi kể qua, nếu quý vị muốn biết rõ thêm, xin liên lạc với “Thư viện Quốc Gia Hoa Kỳ”, hiện có năm quyển nói trên.
Sở dĩ tôi biết rõ vì thân phụ tôi là học trò của cụ Sơn Phòng Sứ (tôi quên tên) tức thân sinh B.S Trần Trọng Thức, Hồ Tùng Mậu, Hồ Hán Sơn mà ông Cửu Giang viết trong hồi ký “Những bí ẩn dưới triều Ngô Đình Diệm” cũng thuộc họ Hồ này
Nói tổng quát, họ Hồ của Đại đế Quang Trung đã cho dân tộc Việt Nam những vĩ nhân không kém các vĩ nhân khác của thế giới:
Hồ Tôn Thốc
Hồ Quý Ly
Hồ Xuân Hương
Hồ Ngọc Lãm
Cố nhiên Đại đế Quang Trung chiếm công đầu.

Tây Sơn Xuân Canh Ngọ (1990) Tr.70-76
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 18.02.2018 12:52:50 bởi casau>
Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ
Tạ Chí Đại Trường

Từ khi học giả Trần Trọng Kim nâng dòng Tây Sơn lên thành một triều đại Việt Nam và cũng nhân dịp ý thức dân chủ cách mệnh tăng tiến tràn lan thì người ta cũng biết đến Tây Sơn càng ngày càng nhiều qua những bài khảo sát, hoặc chỉ lý trong khuôn khổ tìm tòi tài liệu, hoặc mở rộng trong những giải thích tổng quát.
Nhưng không kể những bài có dụng ý chính trị, hiện đại hóa lịch sử nhiều hơn là có tính chất sử học, chúng ta phải nhận rằng những khảo sát về Tây Sơn vấp phải thiếu sót tài liệu lớn lao nhiều hơn là ở những phe phái đồng thời. Chỉ vì Tây Sơn là một “triều ngụy”. Con cháu họ bị truy nã, tận diệt, sách vở viết về họ, dưới triều họ ngự trị bị thiêu hủy ngay sau khi phe phái chính thống thắng họ cả hàng vài mươi năm. Chưa cho là đủ, người ta phân chia lại ruộng đất nơi thang-mộc-ấp của Tây Sơn để xóa ảnh hưởng tận gốc [1]: cuộc cải cách rụộng đất ở Bình Định năm 1839 mang tính chất chính trị đặc biệt và suy từ đó ai không nghĩ rằng các quan ta xưa lại không là những nhà mác xít trước khi biết đến chủ nghĩa Mác?
Sự sai lầm của ông Văn Tân về xứ Bình Định nghèo khó mà ông Nguyễn Phương đã chỉ vạch [2], bắt nguồn từ sự yếu kém về ý thức khảo sát khoa học - dùng lý thuyết làm khuôn mẫu cho một trường hợp riêng rẽ thay vì dùng sự kiện cụ thể để kiểm chứng, tài bồi lý thuyết - nhưng sai lầm đó và những cái khác tương tự cũng do bởi tài liệu quá ít khiến cho việc suy diễn phải nhờ cậy quá nhiều vào những hệ thống tổng quát có sẵn. Nhưng thực ra không dễ gì xóa bỏ được triều Tây Sơn như là một hiện diện trong lịch sử nên các sử quan dòng chính thống vẫn phải nói về họ và đặc biệt ta có riêng một quyển 30 của Đại Nam Liệt truyện sơ tập biên chép về họ - tuy thật là quá ít ỏi so với vai trò của họ.
Những tài liệu dã sử may mắn còn đến bây giờ thì lại gặp phải bao nhiêu ngăn cách với người tìm tòi. Ông Nguyễn Trần Huân có liệt kê một mớ đã chụp thành vi-ti phim:
Tây Sơn ngoại sử,
Tây Sơn thủy mạc ký,
Tây Sơn liệt truyện...
[3]
thật quá ngoài tầm tay người trong nước. Cho nên, việc tìm hiểu Tây Sơn trong tương quan với Trịnh, Lê, nhất là Nguyễn, có phần dễ dàng hơn việc tìm hiểu nguồn gốc họ, đời sống riêng tư của họ. Vả lại đã thành thói quen là chỉ có việc của họ nhà vua - chính thống - là được ghi chép kỹ lưỡng, còn trong dân gian - ngay cả những người có chức phận - ai sinh năm nào, ai chết năm nào, liên hệ thân tộc như thế nào... có mấy tài liệu ghi rõ? Do đó, ở ta, việc lập một phổ hệ chính xác trong thời gian thật là vạn nan. Không phải những chi tiết này đã không can hệ đến sự thành bại của các giả thuyết lịch sử chỉ muốn nhìn vào con người xã hội, hay những lý thuyết tổng quát. Hãy xem một minh chứng rõ ràng, mới nhất ở quan điểm phân chia “thế hệ văn học” của Linh mục Thanh Lãng: vì thiếu những chi tiết về năm sinh, tháng đẻ của các văn sĩ - điều kiện để tập họp một nhóm người trong một thế hệ - Linh mục mất dữ kiện chính để làm việc nên để lối phân chia thế hệ văn học trở thành một lối phân chia thời đại trá hình.
Ngược về 200 năm trước với Tây Sơn, chúng ta cũng chỉ tìm được những mảnh nhỏ tài liệu. Tuy nhiên nếu nhìn nhận rằng lịch sử là quá khứ nhìn qua tài liệu và tiến triển về hiểu biết quá khứ thường thường đi với sự khám phá tài liệu mới và khả năng giải thích tài liệu, ta có thể dừng lại bất cứ lúc nào để tìm hiểu. Tây Sơn, nhìn riêng trong sự tiếp nối gia đình của họ, cũng như trong tâm tính các nhân vật, sẽ được chúng tôi trình bày sau đây, trong giới hạn phương pháp đã nên trên.
* Phụ hệ Tây Sơn.
Có một điều chắc chắn là tổ tiên Tây Sơn gốc ở Nghệ An. Đại Nam Nhất Thống Chí tuy là sách về sau nhưng dựa vào một phương pháp khảo sát xác đáng là thu nhặt tài liệu ở các gia phả địa phương nên khá có giá trị, đã cho biết rằng Nghệ An có những chi nhánh họ Hồ, đỗ đại khoa, làm quan lớn [4]. Chiến tranh 1945-54 còn may mắn giữ được Hồ tôn thế phả để kể thêm được một Hồ Xuân Hương trong dòng dõi danh gia ấy [5].
Trong quá khứ, họ Hồ xứ này đã dựng một triều đại ngắn ngủi nhưng cũng đầy tính chất cách mệnh, không biết có ảnh hưởng gì tới đám hậu sinh của thế kỷ 18 không?
Tổ tiên Hồ Quý Ly là “Hồ Hưng Dật, người Triết Giang, đời Hậu Hán, đến làm quan ở Diễn Châu, sau ở lại làng Bào Đột châu ấy, đời nào cũng làm chủ trại. Cháu 12 đời là Hồ Triêm dời đến làng Đại Lại, trấn Thanh Hóa, làm con nuôi Lê Huấn mới đổi ra họ Lê, bốn đời sau đến Quý Ly... [6]”
Số đời đếm có thể lộn, vì cứ cho 3 đời là một thế kỷ thì 16 đời kể từ Quý Ly (thế kỷ 14) ngược lên hơn 500 năm không đến đời Hậu Hán (thế kỷ 3). Lối truyền dõi theo phụ hệ khiến ta biết được nguồn gốc Trung Hoa của họ Hồ. Nhưng ta cũng có thể đoán được sự đóng góp bản xứ quan trọng ở dòng này [7]. Một chi tiết ở trên cũng đáng cho ta lưu ý: một người trong dòng dõi “đời nào cũng làm chủ trại” mà chịu bỏ họ làm con nuôi họ Lê thì đủ biết họ Lê cũng là một vọng tộc ở Thanh Hóa. Có phải đó là một dòng quan Lang Mường tương tự như của viên phụ đạo làng Khả Lam, Lê Lợi, đấy không?
Chỉ biết Quý Ly, dưới bóng họ Lê, chen được vào trong một triều Trần đầy nghi kỵ kẻ cướp ngôi đến nỗi chỉ lấy người trong họ. Ông lấy con gái Nghệ Tông và có hai người cô và chị gả cho Minh Tông, một người sinh ra Duệ Tông, cha của Phế đế Nghiễn. May mắn hơn, một đối chiếu cho ta biết năm sinh của Hồ Quý Ly.
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (q. 12, 92), mục tháng 9, Ất Dậu (1405) ghi Quý Ly cho phụ lão các lộ 70 tuổi trở lên được một tước, bà lão được một tiền, còn phụ lão kinh thành thì ban tước thêm rượu nữa. Ngô Thời Sỹ (sđd, 280) nói rõ hơn rằng Thất tuần khánh đó là nhân lễ thết tuần của Hồ Quý Ly mà có. Như vậy, ta biết Quý Ly sinh khoảng 1336. Năm ông chết có lẽ sau năm 1407 không lâu, tuy không phải năm này, vì Cương Mục cực lực phản đối thuyết Quý Ly bị giết trên đường về Kim Lăng (q. 12, 21 ab).
Mối liên lạc giữa Tây Sơn và nhà Hồ có lẽ không trực tiếp vì sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí chỉ ghi rằng “(Nhạc)... dòng dõi Hồ Quý Ly”. Nhưng liên lạc thân tộc với các dòng họ Hồ khác ở vùng Nghệ An còn được ghi rõ hơn nhờ các gia phả lưu truyền trong vùng nhất là bản Hồ Tôn Thế Phả, do đó ông Văn Tân đã đặt mối liên lạc giữa Tây Sơn và Hồ Xuân Hương. Chứng dẫn của Giáo sư Phạm văn Diêu có vẽ phổ hệ họ Hồ vùng Nghệ An như sau: 
Chép đúng thì như vậy, nhưng có lẽ tên Hồ Phi Gia dưới chữ Quỳnh Đôi phải được thế bằng tên Hồ Sĩ Anh như trang 757 tạp chí đã dẫn, khỏi trùng hợp với một tên Hồ Phi Gia vào hàng cháu.
Ở đây, ta xét riêng về nhóm họ Hồ ở Nhân Sơn. Ông Văn Tân thấy Hồ Tôn thế phả chỉ chép chi họ Hồ Nhân Sơn đến đời Phi Khanh, Phi Phúc rồi bặt luôn, bèn phối hợp với các tài liệu sử sách mà cho rằng các người trong chi này đã bị bắt khi quân Nguyễn tràn vào vùng Bắc Bố Chính, Nghệ An vào năm 1655. Sách Hoàng Lê, Liệt truyện, q. 30, Cương Mục đều ghi tổ quán Tây Sơn ở huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Phương Đình Dư Địa Chỉ [8] cho biết tên huyện Hưng Nguyên được đặt từ triều Lê vì Thiên Nam Dư hạ tập ghi phủ Anh đô gồm hai huyện Nam Đường và Hưng Nguyên, phủ Diễn Châu gồm hai huyện Đông Thành và Quỳnh Lưu. Tên phủ Diễn Châu đặt từ đời Đường, bây giờ còn lại vẫn là phủ ở phía nam huyện Quỳnh Lưu và bắc huyện Hưng Nguyên, tất cả đều ở bờ bắc sông Cả. Làng Nhân Sơn nằm ở phía nam huyện lỵ Quỳnh Lưu nghĩa là không ở trong phạm vi huyện Hưng Nguyên chút nào thì không hiểu sao lại được nối kết chi họ Hồ ở đấy với huyện Hưng Nguyên được?
Thực ra, mối liên lạc Hồ Nhân Sơn với Nguyễn Tây Sơn được đặt ra chính vì tên Hồ Phi Phúc hiện diện trên các tài liệu với giá trị minh chứng khác nhau. Cũng có thể một cánh quân Nguyễn năm 1655 đã tràn đến Quỳnh Lưu, cũng có thể họ Hồ ở Nhân Sơn đã dời vào huyện Hưng Nguyên trước đó.
Sau khi xác nhận sự liên lạc này, vấn đề nữa được đặt ra là mối liên lạc giữa Hồ Phi Phúc và anh em Tây Sơn. Có thực Phúc là cha Nhạc không? Ông Văn Tân cũng như ông Phạm văn Diêu cho rằng phải. Chúng tôi thoáng thấy trong một tập văn học sử Việt Nam xuất bản ở miền Bắc (tác giả là Văn Tân) được Đại học Văn Khoa Sài gòn cho quay ronéo phổ biến trong khi chờ đợi tác phẩm khác tốt hơn, cũng cho Phúc là cha Nhạc. Chúng tôi nghĩ rằng không phải và nhận thấy lầm lạc chính từ sự khẳng định của Liệt truyện (q.30, 12) là: “cha (Nhạc) là Phúc”. Cái bẫy này giăng mắc được một số đông người, trong đó có ông Trần Trọng Kim và gần nhất, ông Nguyễn Phương.
Sự mơ hồ về niên đại trong lịch sử ta, như đã nêu rõ ở trên, khiến chúng ta quên mất sự sử dụng niên đại ngay khi có nó nữa. Ở đây, chúng ta có năm 1655 làm gốc. Chúng ta tìm lấy một năm xác đáng nữa. Ở Nguyễn Huệ, Huệ chết năm 1792, được ghi là thọ 40 tuổi [9]. Quen với tuổi ta, ta biết ông chết lúc 39 tuổi và như vậy, sinh khoảng 1753. Hồ Phi Phúc đã có mặt ở Nghệ An năm 1655, cho dù được Phi Khanh ẵm ngửa vào Nam, nếu đúng là cha Nhạc, phải sinh Huệ vào lúc gần trăm tuổi. Chỉ có ai làm thầy tướng số, vin vào sự nghiệp lẫy lừng Tây Sơn mới tin trường hợp “lão bạng sinh châu” này mà thôi.
Huống chi hai tài liệu, Hồ tôn thế phả, Hoàng Lê, đều ghi nhận Hồ Phi Phúc ở Nghệ An không phải với tư cách một đứa bé mà là một người lớn đã có danh vọng. Đứa bé Phúc đi vào Nam, tuyệt dòng họ Hồ Nhân sơn, làm sao còn lưu tiếng ở Nghệ An để hơn 100 năm sau, Ngô Thì Chí ghi được một cách nể vì: (Nhạc)... “cùng ngành với Hồ Phi Phúc”? Toán họ Hồ vào nam không phải sinh ngay ra Nhạc, mà phải “qua hai đời” (Hoàng Lê); chứng cớ này phù hợp với lời của Liệt truyện: “Tổ 4 đời, khoảng Lê Thịnh Đức, bị quân ta bắt”. Con số đời có khác nhau không phải sai lạc vì một đằng tính theo khoảng cách, một đằng tính theo mốc vị trí.
Như vậy, hoặc là Liệt truyện sai lầm, hoặc là họ Hồ (Nguyễn) Tây Sơn có hai người tên là Phúc. Chúng ta lại không chấp nhận điều sau. Tin tưởng linh hồn trong tục lệ thờ cúng tổ tiên cùng với thứ bậc khắc khe của tổ chức xã hội theo Khổng giáo không cho phép trong một nhà có hai ông Phúc con cháu cha ông lộn xộn. Có thể rằng khi bị bắt ở Hưng Nguyên (hay Nhân Sơn), Hồ Phi Phúc đã lớn, đã có danh vọng, nên được ghi vào sổ bộ của toán quân Nguyễn chiến thắng. Đám di dân bất đắc dĩ vào nam, ở trên núi đồi An Khê, trở thành vô danh tiểu tốt, một sớm một chiều bỗng nhiên sản sinh được những tên phản loạn, khuynh đảo cả triều đinh, khiến đám quan lại kiêu căng giật mình dò lại sổ bộ thấy có tên Phúc có liên quan tới Biện Nhạc bèn gán đại làm cha với dụng ý làm liên tục dòng dõi dân lưu đày - tướng cướp - ngụy triều.
Còn về phía ngoại Tây Sơn, đám người, có họ Nguyễn đã khiến họ Hồ phải chuyển họ? Không có dấu vết nào rõ rệt, nhưng hình ảnh Huệ “tóc quăn” dáng người dữ tợn (xem sau), có là bằng cớ cho một dòng máu Thượng hay không?
Vậy thì khoảng 100 năm sau khi vào Nam; họ Hồ Nhân Sơn có thể đã “được an sáp tại làng Tây Sơn thuộc huyện Phù Ly; qua hai đời thì sinh ra Nhạc và hai người em là Bình và Lữ. (Hoàng Lê)
Phù Ly nay đã mất địa vị huyện mà chỉ còn là một địa điểm nhỏ trên quốc lộ số 1, còn làng Tây Sơn được mở rộng thành hai địa điểm Cửu An và An Khê vẫn còn chứng tỏ vị trí chiến lược quan trọng trong hai cuộc chiến 1945-1954, 1960. Trước 1945, các nơi này thuộc tính Kontum, sau 1954 được sáp nhập vào tỉnh Bình Định của một quận mới lập: quận An Túc.
Bình, hay Nguyễn Quang Bình là tên Nguyễn Huệ đổi nhân có việc cống sứ nhà Thanh [10]. Câu văn Hoàng Lê trên không nêu rõ thứ tự anh em, cho ta hiểu đại khái Nhạc là anh cả, Bình giữa và Lữ là em út. Cương mục (q. 44, 222) cũng ghi “kỳ đệ Văn Huệ, Văn Lữ...” trong khi Liệt truyện cho biết cha Nhạc bỏ đất Tây Sơn xuống Kiên Thành, sinh ra ba anh em lấy mẫu tính gọi theo thứ tự Nguyễn văn Nhạc, Nguyễn văn Lữ, Nguyễn văn Huệ. Thứ bậc lộn xộn, chúng ta phải nhìn vào cách thế ghi chép lài liệu để phân định.
Giữa hai người chức tước, tài năng Huệ đều trội hơn Lữ. Năm 1778, sau khi thắng Nguyễn Ánh ở Đồng Nai, kéo về Quy Nhơn, Nhạc xưng làm Hoàng đế, phong Lữ làm Tiết chế, Huệ làm Long nhương Tướng quân. Từ hải cho biết chức Tướng quân với các thứ bậc của nó được xuất hiện hầu hết qua các triều đại Trung Hoa. Qua Việt Nam, các Thái thú thời Bắc thuộc được giữ chức tướng quân rất nhiều, đặc biệt, Đào Khản thời Lục triều làm Thái thú Giang Hạ, Đàn Hòa Chi, Thứ sử Giao Châu, còn có thêm tước Long nhương Tướng quân. [11] Đời Nguyễn Ánh có Bảo giá Đại Tướng quân Lý Tài, cũng như Khai quốc Bình Tây Đại Tướng quân Tôn Thất Hội. Trong khi đó Từ hải ghi một cách sơ sài cho Tiết chế là “chỉ huy quản hạt” trích ví dụ trong Đường thư, truyện Quách Anh Ngại. Lữ bị mất tiếng ngay sau chuyến đánh Gia Định 1777. Trong khi đó Huệ hoạt động liên tục đến nỗi thương nhân Chapman năm 1778 lên Đồ Bàn yết kiến Nhạc chỉ thấy Lữ mà vấng bóng Huệ [12]. Huệ được quân Bắc gọi là Đức Lệnh, uy hiếp các giáo sĩ Tây phương theo Nguyễn Ánh khiến họ phải gọi là “le cruel Long nhương”. Địa vị uy thế đó, khiến người ghi chép khi nhắc tới Tây Sơn, sau Nhạc là người cầm đầu, tất phải kể đến Huệ rồi mới tới Lữ. Đó là trường hợp của Hoàng Lê, Cương mục. Còn Liệt truyện, trong một quyển nói riêng về Ngụy Tây, kể tông tích dòng dõi họ, bị giới hạn trong vấn đề, phải lưu ý đến sự sắp đặt tự nhiên, nhất là ở những lúc mà sự kiện không dồn dập, thúc bách người ghi chép. Lời bình thường “Nguyễn văn Nhạc, Nguyễn văn Lữ, Nguyễn văn Huệ” là thứ bậc đúng của anh em Tây Sơn vậy.
Không phải chỉ có ba người. Nhạc còn một người em gái đã cùng đi điếu Quang Trung, nhưng đến Quảng Ngải thì bị quân Quang Toản chận lại [13]. Người này, không biết thứ mấy, nhưng là chị của Lữ, Huệ.
Một bức thư của giáo sĩ Labartette, viết từ Quảng Bình ngày 12-5-1787 [14] cho biết luôn thứ bậc của ba người con trai: “Chủ tướng của họ là ba anh em: người anh lớn là ông Vua (...) Nhạc nay đã lấy tước vị là Thoi Due (Par Excellence), người thứ hai gọi là Duc ong bai (ông hoàng thứ bảy), người thứ ba gọi là Duc ong am (ông hoàng thứ tám)”.
Chữ “ainé” chỉ Nhạc ở đây phải được hiểu qua tiếng Việt là gì? Vấn đề được đặt ra để giải quyết số người trong gia đình Tây Sơn. Chữ “cả” dùng cho con đầu lòng, người cầm đầu, còn thấy sử dụng ở triều đình Nam Hà đương thời: Hoàng tử Cảnh là “ông hoàng cả”, LM Pigneau là “Ông cả” “Cha cả”, một thầy dòng làm do thám cho Nguyễn Ánh, gọi tên “Thầy cả Minh”. Ở dân gian, người ta cho rằng người con thứ nhất trong gia đình không được gọi là “thằng cả” như ngoài Bắc vì dân chúng kính trọng Hoàng tử Cảnh nên dành thứ bực ấy cho ông. Tuy nhiên, gốc gác việc kiêng cữ này có vẻ cũng không được chắc chắn lắm. Bằng chứng là chữ “kiểng” được gọi tránh chữ “Cảnh” là kỵ húy không phải tên Hoàng tử Cảnh mà viên tướng Nguyễn Hữu Cảnh khai phá Thủy chân lạp thế kỷ trước. Chữ “Thái” được đọc là “Thới” (Thới bình, Thới lai) không phải bởi kiêng Vua Thành Thái mà bởi kiêng tên một nhân vật nào trước đời Tây Sơn nữa vì trong bức thư dẫn trên, Thái Đức đã được viết là Thới Đức. Trở lại vấn đề chữ “cả”, tục lệ tránh né địa vị lớn nhất tràn khắp dân chúng Nam Hà, có vẻ mang dấu vết địa phương thần quyền sâu đậm: thứ bậc “cả” để trống vì không phải chỗ của người thường tục. Dù sao, tục lệ cũng lan sâu đến nỗi ta có thể nói rằng chữ “ainé” của giáo sĩ Labaitette dùng tuy không có kèm thêm giải thích thứ bậc như ông đã làm sau đó, nhưng cũng có thể cho ta biết, Nhạc phải được gọi là “anh Hai”. Thứ bậc 7, 8 (Đức ông bảy, Đức ông tám) của Lữ, Huệ rõ là được kêu theo thói quen đương thời. Vậy có thể là gia đình Tây Sơn gồm bảy người mà bốn người còn sống: Nhạc (có thể là con trưởng), một người con gái không rõ thứ bậc, Lữ người em trai thứ 6 và Huệ, người em út, thứ 7. Nay ta điểm qua từng người một.
Nguyễn văn Nhạc.
Nhạc sinh năm nào không rõ, chắc là lớn tuổi hơn Lữ, Huệ đến gần 15 tuổi, căn cứ vào sự cách biệt thứ bậc và dấu hiệu con cái: năm 1778, lúc Huệ được 25 tuổi, Chapman lên Thị Nại đã gặp được một vị phò mã của chúa Tây Sơn, có thể là Trương văn Đa, người rượt đuổi quân Đồng Nai đến tận Nam Vang (1783), Nhạc xưng đế vào tháng Tư năm Đinh Mùi (17-5 /14-6-1787 [15] và chết năm Quý Sửu (1793) [16] khi toán quân cứu viện của Phú Xuân tiến vào xua quân Đồng Nai lui về Diên khánh. Người ta thuật chuyện rằng khi quân cứu viện đến trước Hoàng đế thành thì thấy cửa đóng. Họ đe dọa thì Nhạc nhắm không đủ sức giữ bèn mời họ vào. Tiếp theo là những cử chỉ nhường nhịn giả dối. Vài tháng sau ông mất đi, “vì buồn rầu và xấu hổ” [17]. Thư của một giáo sĩ khác cho biết: “Thới Đức chết tháng 12/1793” [18]. Giám mục De Gortyne cai quản địa phận Tây bắc kỳ xác định rõ hơn: “Ông Nhạc nổi danh (...) chết ngày 13 tháng 12 năm vừa qua. Các chủ tướng của đạo quân (cứu viện) đó đã bức bách đến nỗi ông ta chết vì buồn rầu. Người ta còn đồn ông bị đầu độc”. [19]
Như vậy Nhạc chết ngày 13-12-1793. Nhưng sự thật con người hùng chí của Nhạc đã chết từ giữa năm 1787 khi ông lên mặt thành Đồ Bàn khóc kêu gọi tình một thịt để Huệ giải vây. So với một năm trước dắt vài trăm quân kỵ đi trên đường trường, xứ lạ, từ Quy Nhơn thẳng ra Thăng Long gọi Huệ về, hành động này của Nhạc quả là tuyệt vọng.
Còn buổi đầu, ta không thể tìm được một người chủ tướng gan dạ, cơ trí hơn. Người ta biết ông đi buôn trầu với dân miền Thượng, theo vòng trao đổi kinh tế núi - đồng qua các nguồn. Điều khiển được trong tay đám Thiên Địa hội “khi đánh giặc uống rượu say, ở trần, đeo giấy bạc, xung trận liều mình...” [20] cùng với đám dân “vong mạng”, “vô loại” như bọn cướp. Nhưng Huy, Tứ Linh ở nguồn An Tượng, phải là một người có uy tín, chứng tỏ gan dạ bằng hành động. Muốn biết quyền uy của Nhạc hãy so sánh với Nguyễn Ánh để Đỗ Thành Nhân “lộng quyền thiêu sống người, giết cả đàn bà có mang” ở Gia Định. Bọn cướp dưới quyền của tên Biện lại Vân Đồn tuyên bố rằng họ không phải là “những tên trộm cướp, họ gây chiến để tuân mệnh trời và tuân mệnh đức Thượng sư” [21]. Được gọi là “những tên trộm cướp nhân đức”, công lao ấy phải do tay Nhạc vì lúc khởi nghĩa, Huệ mới có 18 tuổi đầu. Công cướp thành Càn Dương, với lời đồn đại chính chủ tướng Tây Sơn ngồi trong cũi, chứng tỏ được cơ mưu trí trá, lòng gao dạ mà Nhạc có thể chứng minh được với thủ hạ.
Ông cũng biết sử dụng quyền uy điều hòa với thủ đoạn chính trị: trong chuyến Tây Sơn ra Quảng Nam, LM Jumilla được chủ tướng họ đóng quân ở nhà thờ Tiên Đảo ghé thăm, xin thuốc men, cho giảng đạo công khai, xây nhà thờ, cho 13 người lính gác bảo vệ. Ân xong, tới uy: họ đòi LM. tới dinh nói rõ nguyên cớ nổi dậy và mục đích của họ là thay đổi chính quyền đương thời, chính quyền mà LM. tuy nói “không muốn can dự vào chính trị” nhưng cũng phải nhận xét rằng “giờ phán xét của Thượng đế đã điểm đối với chúa Nguyễn và bầy tôi”.
Mộng chinh phục của Nguyễn Nhạc cũng lớn lắm, theo lời ông tiết lộ với thương nhân Chapman: ông muốn chiếm Cao Miên, đến tận Xiêm và các tỉnh Nam Hà phía bắc còn trong tay quân Trịnh. Để thực hiện mộng ước ấy ông đề nghị Chapman làm trung gian mời cố vấn Anh phụ giúp, thuê các tàu Anh chở binh lính. Đổi lại, ông có thể nhượng đất cho Anh lập thương điếm, cho Anh tự do buôn bán.
Đại khái bấy nhiêu đó cũng cho ta thấy khí dũng cùng chí hướng của Nhạc. Ta không còn được dấu vết về tác người, nét mặt của Nhạc. Nhưng về phương diện con người riêng tư ta cũng thấy chút đặc tính của chung anh em Tây Sơn. Nhạc bị vây khốn trong thành, hết kêu khóc ở đền thờ cha mẹ lại kêu khóc với đứa em thù nghịch đang ở ngoài đắp núi đất đặt đại bác bắn đổ vào. Đứa em này, đánh giặc thù thì tận diệt cho không còn một tên địch trốn thoát, nhưng nghe anh khóc lại chịu rứt quân. Bài hịch chửi Nhạc do Lại bộ Hồ Đồng, tôi chúa Nguyễn bị bắt trong trận Đồng Tuyên (5-1783) làm giúp, nhưng rõ là không phải do giọng nho sĩ, mà là giọng của dân đồng ruộng, rẫy bái, ngược chợ xuôi sông. Chính là lời của Huệ gọi Nhạc “sài lang, chó heo”, “làm nhơ uế cả một triều, khinh xuất, can không nghe”. Không trách đám người vào khuôn ra phép ngạc nhiên thấy hai ông tướng gặp nhau ở thành Thăng Long “anh em trò chuyện, kẻ hỏi người đáp, cực kỳ ôn tồn y như anh em các nhà thường dân”.
Con Nhạc, theo ta biết, có Nguyễn Bảo hay Nguyễn Quang Thiệu là lớn, được Quang Toản phong làm Hiếu công, ăn lộc huyện Phù Ly sau 1793. Tháng 11 năm Mậu Ngọ (1798), Bảo được sự khuyến khích của Nguyễn văn Thành, Đặng Trần Thường, tung quân chiếm Quy Nhơn, đuổi Phạm văn Hưng chạy lên xứ Mọi, cạo trọc đầu, ăn mặc rách rưới để trốn tránh. Nhưng Quang Toản đã kịp thời đích thân kéo quân vào, hạ thành, xử Bảo theo lối “tam ban triều điển”.
Nhạc còn hai người con lẩn tránh sau khi triều đại sụp đổ: Nguyễn văn Đức, Nguyễn văn Lương. Con Đức là Văn Đâu cùng với cha, chú bị bắt năm 1831, đem về chém ngang lưng, tuyệt dòng Tây Sơn [22]. Hai người con gái của Nhạc được biết qua hai người con rể: một là Trương văn Đa xuất hiện có lẽ ỡ Quy Nhơn năm 1778, tham gia chiến trận ở Gia Định năm 1783, một nửa là Vũ văn Nhậm, nạn nhân của cuộc tranh giành giữa Nhạc, Huệ.
Nguyễn văn Lữ.
Đây là con người tầm thường nhất trong bọn. Cầm quân đầu tiên chiếm Gia Định vào mùa xuân 1776, Lữ chưa so tài với quân Đông Sơn, trang bị vũ khí thô sơ, đã vội vơ vét thóc lúa định chở về Quy Nhơn. Năm sau vào Gia Định, cũng như năm 1785 đánh Thuận Hóa kèm với Huệ để học nghề cầm quân, Lữ vẫn không tiến bộ mấy, để đến nỗi sợ gió rung cây, thấy quân địch, bỏ Gia Định chạy về Quy Nhơn chết ở đây không biết lúc nào, chấm dứt cuộc đời đáng thương, lạc loài, bất đắc dĩ giữa đám anh em vượt chúng, quấy đảo thời thế.
Thực ra, đó cũng là kết quả đặc tính của con người Nguyễn Lữ. Bản chất mềm yếu, dễ dao động - dẫn đến bề ngoài đa nghi - thắc mắc, lo âu là nguyên nhân dẫn đến tôn giáo ta được biết ở Gia Định, Đông Định vương Nguyễn Lữ còn kiêm thêm chức giáo chủ đạo Mani [23].
Mani giáo là đạo gì? Hẳn không phải là manichetsme của Ba Tư vì chúng ta không gặp dấu vết ở đất Việt. Ý nghĩa tôn giáo trong cây “cờ đào” của Tây Sơn rút từ tư tưởng Nội đạo, không có liên quan gì đến một danh từ lạ lùng như vậy. Địa điểm Manille mà âm gần cận có được nghe đến với các tàu buôn, với sự hiện diện của các giáo sĩ Tây Ban Nha. Nhưng đây là đất của Thiên Chúa giáo.
Có lẽ sự kiện liên quan tới hệ phái Hồi giáo Bani (Islam-bani: con của đạo), về phương diện ngữ học, hai chữ Bani và Mani có thể là đồng tộc vì âm B có thể chuyển qua âm M [24]. Về phương diện nhân chủng và lịch sử, khối đông đảo Chàm ở Bình Thuận có Nữ chúa Thị Hỏa rồi Vương Triều Tá là đồng minh với Tây Sơn, đám người đó có một phần thuộc vào hệ phái Chàm Bani. Vậy có lẽ Nguyễn Lữ đã thiên về Hồi giáo vì với bản chất dao động như đã nói trên ông có thể là một tín đồ nhiệt thành, về con cái Lữ, không nghe nói đến.
Nguyễn văn Huệ.
“Đức ông tám” này là người đặc biệt nhất trong bọn. Cũng vì xuất sắc mà người ta biết đến ông nhiều hơn những người khác. Sứ thần nhà Nguyễn ghét cay ghét đắng nhà Ngụy Tây mà phải khen ông lúc còn sống, lúc chết ghi rõ ràng là “thọ 40 tuổi”. Do đó ta biết ông sinh năm 1753, ngày ông chết là 16-9 1792.
Về ngày sinh, năm nay ban tổ chức điện Tây Sơn có thể làm lễ sinh nhật ông nhằm ngày mồng 5 tháng 5 âm lịch (12-6-1967). Đây là buổi giỗ đầu tiên mà nhờ ảnh hưởng chiến tranh lại trở nên long trọng khác thường. Nhưng có phải Nguyễn Huệ đẻ ngày 5 tháng 5 Quý Dậu không? Một người dân địa phương cho chúng tôi biết sinh nhật tổ chức năm nay là do lời khuyên bảo của một chánh khách ở Sài gòn. Riêng chúng tôi nghĩ rằng ngày lễ hằng năm 5-5 tổ chức từ trước có lẽ do triều đình Huế chủ trương để bố cáo một ngày chiến thắng của Tiên khảo họ trên đất địch ngày Đoan Ngọ, năm Tân Dậu (15-6-1801) lúc 8 giờ sáng, Nguyễn Ánh ghé thuyền ngự vào kinh thành Phú Xuân mà vua tôi Tây Sơn vừa bỏ chạy để lại. Nhưng khi kẻ thắng ăn mừng; thì người bại trận luôn dịp kỷ niệm ngày tủi nhục: các phe phái nghịch nhau cùng gặp nhau chỗ cần thiết lễ tiết, tin tưởng khiến tồn tại hàng trăm năm có hơn một sự kiện nghịch thường là một đền kỷ niệm được duy trì trên một vùng đất người ta cố tình truy nã, tận diệt dòng giống, ảnh hưởng dấu vết của bọn loạn thần, tặc tử đó. Công trình hủy diệt đối phương của phe thắng đã đến mức thành công gần như hoàn toàn vì dân chúng địa phương không còn nhớ gì nữa cả về những kẻ họ thờ cúng ngoài những hình ảnh sai lạc, huyễn hoặc chập chờn như ngôi miếu nhỏ đổ nát giữa đám tàu chuối, bụi cỏ phất phơ trên thôn Phú Lạc.
Vậy điều chắc chắn còn giữ lại là năm sinh của ông mà thôi. Vả lại, những bước chiến thắng liên tục của ông cũng làm bận rộn trí nhớ rất nhiều về năm tháng: tru diệt gần tuyệt tộc họ Nguyễn mùa thu 1777, thử sức với tàu chiến Tây phương (4-1782) đánh tan 20.000 quân Xiêm ở Rạch Gầm (18-1-1785), tiêu diệt quân Trịnh ở Thuận Hóa (14-6-1786), rồi Thăng Long (1788). Và chót hết là trận Đống Đa ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789).
Về mặt mũi của viên tướng này, bức hình truyền thần của nhà Thanh còn lưu truyền lại không đủ chứng tỏ vì đó chỉ là vua giả Phạm văn Trị, người vây bắt Linh mục dòng Făn-xi-cô đi làm sứ thần bất đắc dĩ Nguyễn Ánh cầu viện Manilla (12-7-1783). Một tập dã sử về Tây Sơn (25) ghi một chi tiết lý thú ẩn sau thói quen thần thánh hóa nhân vật: “Tóc Huệ quăn, mặt đầy mụn, có một con mắt nhỏ, nhưng mà cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu...”
Tóc quăn, mặt mụn, một mắt nhỏ là dấu vết thân xác. Nhưng câu chuyện tròng mắt có ánh sáng phát ra, ban đêm soi sáng cả chỗ ngồi là cảm tưởng của người nhìn, khiếp sợ trước uy vũ của “Thượng công”. Sử quan nhà Nguyễn cũng phải thừa nhận: “Nguyễn văn Huệ là em Nhạc, tiếng nói như chuông, mắt sáng như điện, giảo, kiệt, thiện chiến, ai cũng phải sợ... [26]”. Một cung nhân ở Thanh Hóa trong dịp Ngô văn Sở chận núi Tam Điệp đã nói với Lê thái hậu:
“Nguyễn Huệ là bậc anh hùng lão thứ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam thật là thần xuất quỷ nhập, không ai có thể dò biết.
Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào dám trông thẳng vào mặt. Nghe lịnh của y ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn sấm sét... [27]”.

Tuy nhiên tướng sĩ dưới quyền cũng có lần vui cười với câu nói cợt nhả bất ngờ: “Vì dẹp loạn mà ra rồi lấy vợ mà về, trẻ con nó cười thì sao? Tuy vậy, ta chỉ quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng thử một chuyến xem có tốt không”.
Người con gái Bắc Hà 16 tuổi đó đã nắm được nhược điểm của bậc anh hùng, nên đã dùng thế lực riêng của mình mà sai khiến Nguyễn Huệ, ảnh hưởng vào triều chính nhà Lê. Một người vợ khác mất vào cuối tháng 3/1791 [28] khiến ông phải điên cuồng lên, làm khiếp sợ các giáo sĩ Tây phương.
Bản chất đam mê, nồng nhiệt bên trong đó đem đổ vào đời công nơi triều chính, chốn sa trường, biến thành một sức quyến rũ, lôi cuốn mọi người, ở vào thế đối địch mà Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Đình Giản đều nhận “Bắc Bình vương là tay anh hùng”, bốn lần đánh Gia Định, lúc ra trận đều đi trước, sĩ tốt hiệu lệnh nghiêm minh, thuộc hạ ai nấy đều dốc lòng vâng lệnh”. Khi triều thần Bắc Hà họp nhau lại để bàn về việc cử người đòi đất Nghệ An, Phan Lê Phiên loại Nguyễn Đình Giản, Phạm Đình Dư, viện lẽ “Bắc Bình vương là người rất quyệt hay dùng trí thuật lao lung người khác, trong lúc bàn luận, khi xuống lại nâng lên, người ta không biết đàng nào mà dò”. Trách vì khi quân Trần Quang Diệu đánh Vạn Tượng mà cả Gia Định có tàu Tây sau lưng vẫn phải nhốn nháo [29].
Về phía hậu quân của Nguyễn Huệ, ta biết có hai người được phong chức Hoàng hậu. Ngọc Hân công chúa, con Lê Hiển Tông, sinh năm 1771, được truy tặng Nhu ý Trang thuận Trinh nhất Vũ hoàng hậu. Các con của bà, sau này bị bắt lúc thành Phú Xuân thất thủ (1801), được L Barizy nhận diện, không tiếc lời khen về vẻ mặt ưa nhìn và thái độ cứng cỏi của họ. Bà Phạm thị, mẹ Cảnh Thịnh, lại được truy tặng là Nhân cung Đoan tĩnh Trình thụ Nhu thuần, Vũ hoàng Chính hậu (30). Thêm một chữ “chính” địa vị bà này đã trội hơn Ngọc Hân. Trong đời sống riêng tư, Quang Trung đối với bà cũng rất nặng tình. Bà mang trọng bệnh, ông mời đến các giáo sĩ, và khi bà chết ông “điên cuồng lên” làm cho bọn này lo sợ. Hãy nghe viên thầy thuốc bất đắc dĩ thuật lại: “Ngày 7-3-1791, tôi được dẫn vào tình diện bạo chúa... một trong những người vợ ông coi là chính thất lâm bệnh nặng... chết ngày 29-3 và chôn ngày 25-6 sau đó [31]”. Con bà tất nhiên được kế vị Quang Trung.
Đó là Nguyễn Quang Toản, tên riêng là Trát, lên ngôi lúc 10 tuổi [32]. Như vậy Toản sinh năm 1783 đúng như xác nhận của giáo sĩ Longer [33]. Ta lại cũng thấy Le Labousse gọi Toản là ông “Hoàng Trot” [34] có lẽ là giọng đọc Nam, Ngãi của chữ “Hoàng Trát”. Ông bị Gia Long cho xử lăng trì năm 1802, lúc mới có 19 tuổi.
Quanh Phạm hoàng hậu này, ta thấy có một số người họ Phạm, có thể là anh em cật ruột họ hàng với Bà. Những người này cũng xứng đáng lắm trong công trình xây dựng nhà Tây Sơn: Hộ giá Phạm Ngạn chết ở cầu Tham Lương (khoảng tháng 5-1782), Phạm văn Trị vây bắt hai sứ thần bất đắc dĩ của Nguyễn Ánh (12-7-1783), làm giả vương đi sứ Trung Hoa (1790), Thái úy Phạm văn Tham kiệt lực chống Nguyễn Ánh, túng thế đầu hàng ở Ba Thắt rồi bị giết (1789), Thái úy Phạm văn Hưng giúp tham ở Sài gòn, cầm quân cứu Quy Nhơn (12-1793) và mất tiếng sau vụ Nguyễn Bảo nổi loạn (1799).
Phạm hoàng hậu có anh cùng cha khác mẹ là Thái sư Bùi Đắc Tuyên, phụ chính Quang Toản, bị đảo chính và phải chịu dìm nước chết, kéo theo con là Bùi Đắc Thận. Anh em ruột của Tuyên là Hình bộ Thượng thư Bùi văn Nhật. Không biết nữ tướng Bùi thị Xuân bà con thế nào với Tuyên, nhưng rõ là có mối thân tộc mật thiết giữa hai người vì cuộc đảo chính gây ra sự chống đối sau đó giữa Vũ văn Dũng và Trần Quang Diệu. Thứ bực Bùi thị Xuân có lẽ ngang hàng với Tuyên vì các giáo sĩ gọi Trần Quang Diệu là “oncle maternel du roi”, theo đó, Diệu là dượng của Cảnh Thịnh.
Ta biết Phạm hoàng hậu được phong làm Chánh cung lúc 30 tuổi có ba trai, hai gái [35]. Ngoài Quang Toản là đích tử ra, có thể hai người sau là Quang Bàn và Quang Chiêu. Một trong hai người con gái chắc đã được gã cho Phò mã Nguyễn văn Trị bị bắt khi chống giữ tiền đồn cho Phú Xuân (1801).
Nhưng trường hợp Nguyễn Quang Thùy thật đáng lưu ý. Kể về tuổi lác, Thùy lớn hơn Toản, đã tham dự sứ bộ chúc thọ bát tuần vua Thanh khiến Thanh đế tưởng là con trưởng Huệ mới phong làm Thế tử sau mới biết rằng lầm [36]. Tất nhiên ông không phải là con Phạm hoàng hậu cũng như của Ngọc Hân công chúa. Ngoài chứng cớ ám thị ở Liệt truyện, ta còn được nghe giáo sĩ Le Labousse nói rõ sự khác biệt giữa hai dòng con của Quang Trung như sau: “Ông để lại hai người con... người được chỉ định nối nghiệp là người đích tử duy nhất, nhưng còn có một người khác lớn tuổi hơn đang cai trị xứ Bắc kỳ là con của một người hầu” [37]. Rõ ràng không phải như ông Trần Trọng Kim đã ghép Thùy làm em Toản và anh Quang Thiệu (?) [38].
Sự việc đáng lưu ý là Nguyễn Huệ là con nhà dân giả chớ không phải con vua cháu chúa gì mà lấy hầu để sẵn trong khi chờ kén vợ chính thức, nên có con dòng lẽ trước con dòng chính. Quang Thùy hẳn là con của người vợ Huệ lấy trước nhất. Nhưng mẹ Thùy là ai?
Sử nhà Nguyễn có ghi là sau khi rút ở Thăng Long về (9-1786), Nhạc, Huệ hục hặc nhau, Nhạc đắc chí (có lẽ phẫn chí thì đúng hơn) buông thả, dâm loạn, giết Nguyễn Thung, hiếp vợ Huệ [39]. Trong tờ hịch đánh Quy Nhơn, có câu buộc tội Nhạc “làm nhơ uế cả một triều” chắc là ám chỉ đến việc này. Giống như Nguyễn Hữu Chỉnh chỉ mang con lớn, Nguyễn Hữu Du, và người thiếp; Nguyễn Huệ đi đánh Thuận Hóa có lẽ chỉ đem theo Quang Thùy, Phạm thị và Quang Toản còn ẵm ngửa mà thôi, còn mẹ Quang Thùy ở lại Quy Nhơn. Vì lẽ đó khi biến cố không lường trước được xảy ra thì Phạm thị lên ngối chánh cung và Quang Toản trở thành đích tử. Điều này cũng giải thích được mối phân ly giữa Quang Toản ở Phú Xuân và Quang Thùy ở Bắc Hà khi Quang Trung mất đi.
Sự chia rẽ bất thần giữa Nhạc, Huệ hồi năm 1787 khiến các tướng tá có liên hệ với một phe phái phải trở nên lúng túng hơn để có khi dẫn đến những kết quả thảm thương. May mắn hơn Vũ văn Nhậm, Nguyễn Duệ ở Nghệ An trốn được về Quy Nhơn. Trong khi đó ở Đồng Nai cách trở, Nguyễn Đăng Vân, con nuôi của Huệ, không còn thấy cách nào khác hơn là vượt bể trốn sang Vọng Các (mùa thu 1787) để khoảng vừa một năm sau trở về đánh Phạm văn Tham, bị bắt, mắng chửi mà chết.
Còn Nguyễn Quang Hiển, người “gõ cửa thành” cầu hòa với Hòa Khôn là con ai? Không lẽ con của Nhạc? Con Lữ chăng? Ta không thể bàn xa hơn được.
Hầu hết con cháu, tướng tá Nguyễn Huệ đều chết chung trong một cuộc xử trả thù mà hình ảnh cương quyết, dáng điệu điềm tĩnh của Bùi thị Xuân còn làm cho giáo sĩ De La Bissachère thán phục. Từ 1830 dòng dõi Tây Sơn tuyệt diệt hay ít ra trong cuộc lẩn trốn vạ tru di, họ đã không còn dám lưu giữ chút vết tích nào khiến cho đến nay lời khen một thuở oanh liệt không còn ai đứng ra ứng thinh, nhận tiếng.

Tập San Sử Địa. - số 9-10
Xuân Mậu Thân (1968). - Trang 112-133
--------------
[1] Nguyễn Thiệu Lâu. Cuộc cải cách điền địa năm 1839 ở Bình Định, Phổ thông, Hội Ái hữu Cựu Sinh viên trường Luật, tháng 6-7, 1952, 106-122. Tính chất chính trị nặng nề của cuộc cải cách giải thích được sự lựa chọn địa phương và giải đáp cho vấn đề ông Nguyễn Thiệu Lâu nêu ra là không có một phản ứng nào được ghi nhận từ phía địa chủ bị truất hữu. Áp lực chính trị làm tê liệt dân chúng địa phương đến nỗi gây ra tâm lý ghi nhận trong câu vè:
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay co,
Bình Định hay lo,
Thừa Thiên ních hết.

[2] Một số quy chiếu trong bài không thể liệt kê ra được. Viết lịch sử bằng “tuồng bụng” một phần có thể khiến người thận trọng chê trách, nhưng người viết cũng đã cố gắng tối đa để mong có dịp khác hơn sửa đổi lại.
[3] Annuaire 1964- 65, Ecole des Hautes Etudes, IVè section: Sciences historiques et philologiques, p. 358.
[4] Nghệ An tỉnh, Bộ QGGD xuất bản, 1965.
[5] Tài liệu miền bắc của ông Văn Tân, chúng tôi chỉ có thể dùng qua ông Phạm văn Diêu, Thân thế và văn tài Hồ Xuân Hương, Văn hóa nguyệt san, tháng 7, 8 năm 1962).
[6] Ngô Thời Sỹ. - Việt sử Tiêu án, Văn hóa Á châu, tr. 275.
[7] “Nếu tất cả những quận công và hoàng tử Pháp đều là con cháu vua St. Louis như gia phả chứng tỏ, thì họ cũng là con cháu của nhiều gia đình thị dân và nông dân. Ngược lại, phổ hệ của một gia đình thị dân xưa cũng cho thấy có những quý tộc liên quan đến tất cả những gia đình quận công, ông hoàng và cả đến gia đình nhà Vua nữa”. (L’Histoire et ses Méthodes, Encyclopédie de la Pléiade, 1961, tr. 727) Cũng lưu ý thêm rằng có khi giai cấp là dấu hiệu của sự phân biệt chủng tộc, như rõ ràng ở trường hợp của Ấn Độ.
[8] Ngô Mạnh Nghinh dịch, Tự do xuất bản, tr. 136, 138.
[9] Liệt Truyện, q. 30, 47b. - Thực lục Chính biên Đệ nhất kỷ q. 6, 7b, 8a.
[10] Liệt Truyện, q. 30. 37b.
[11] An Nam Chí lược, Đại học Huế, 1960, tr. 154, 157.
[12] Ký sự của Chapman, H. Berland dịch ra Pháp văn trong Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises (BSEI), tome XXII, 1948, 15-78.
[13] Thực Lục q. 6, 13b.
[14] Revue Indochinoise, t. XIV, Juil. Déc. 1910, 44. Chữ in xiên là chữ Việt không dấu trong bức thư.
[15] CM q. 47, 5a. Lt q. 30, 15a.
[16] Liệt Truyện, q. 30,16a, 54a.
[17] Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême Orient, 1912/7, trang 33, thư của giáo sĩ La voué ở Tân Triệu gởi cho các ông Boiret, Descourvières ở Paris đề ngày 13-5-1795
[18] Bđd 36, thư của giáo sĩ Le Gire, Kẻ hương, Quảng Bình, gởi cho các ông Boiret, Chaumont, Blandin (Paris), đề ngày 12-1- 1796.
[19] Bđd, 32, thư đề ngày 22-4-1794.
[20] Thực lục tiền biên, q. 11, 18ab. Phù biên tạp lục, q. I, 49b, 50a.
[21] Thư của LM. Diego de Jumilla viết ở Tiên Đảo ngày 15 tháng 2 năm 1774 trong BSEI, t. XV, 1940, 74.
[22] Liệt Truyện, q 30, 55b.
[23] Trong số Bách khoa Thời đại 259, mới xuất bản, ông Nguyễn Ngu Í có cho biết tên đạo là Ba ni. Như vậy luận cứ của chúng tôi có thể chứng minh được ngay không cần phải qua những trung gian. Về phần thứ bực của anh em Tây Sơn thì theo những điều vừa nói, nguồn tin của dân chúng rõ là sai lạc. Ngày sinh của Nguyễn Huệ cũng vậy.
[24] Lê Ngọc Trụ, Chánh tả tự vị, - Trường thi, 1960 , tr. 29
[25] Tây Sơn thuật lược, Tạ Quang Phát dịch, bản viết tay.
[26] Liệt Truyện, q. 30, 17b. Chúng tôi gạch xiên.
[27] Hoàng Lê... sđd tr.252.
[28] Thư ông Giard gởi cho ông Boiret, Macao 25-11-1792, trong A. Launay, Documents historiques sur la Mission de Cochitichine, q. III, tr. 244.
[29] Thư Le Labousse 16-6-1792, sđd, tr. 223.
Thư Le Labousse cho Letondal 17-6-1792, sđd, tr. 97.
[30] Sơn tùng Hoàng Thúc Trâm, Quốc văn thời Tây Sơn, Vĩnh Bảo, 1950, tr. 82.
[31] Labariette gởi cho Letondal, 6-10-1797, thư ông Girard kể trên A. Launay, sđd, tr. 244.
[32] Liệt Truyện, q. 30, tr. 45b.
Thư gởi Giám đốc Nhà dòng Phái đoàn Truyền giáo, 3-6- 1799, sđd, tr. 247.
[33] Thư từ Collège Đồng Nai 24-4-1800, A. Launay, sđd, tr. 260.
[34] Liệt Truyện q. 30, tr. 43b.
[35] Liệt Truyện q. 30, tr. 44b.
[36] BEFEO, 1912-7, 30, chú [1], thư Le Labousse gởi cho Trường dòng Paris 1793. Chúng tôi gạch xiên.
[37] Việt Nam Sử Lược, in lần 7, tr. 406.
[38] Liệt Truyện, q. 30, tr. 13b.
📎 02|01
0
Di tích và truyền thuyết về nhà Tây Sơn
Quách Tấn
 
 
L.T.S.- Tuy rất khó tìm sự xác thực trong các truyền thuyết, nhưng các truyền thuyết nhiều khi có thể giúp ích cho các nhà khảo cứu tìm ra sự thực. Thi sĩ Quách Tấn đã ghi chép thật cẩn trọng những truyền thuyết Tây Sơn truyền trong dân gian ở đất Tây Sơn, nơi ông sinh trưởng, hy vọng có thể giúp ích cho các nhà khảo sử.

Những truyền thuyết dưới đây là tôi nghe nội tổ và song thân cùng các vị phụ lão ở Bình Khê kể lại.
Gia đình tôi ở ấp Tây Sơn hạ (Bình Khê hiện thời) đã chín đời. Trong nhà trước đây có hai bộ sử chép tay về nhà Tây Sơn (Tây Sơn dã sử), một của người Bình Định viết, một ở Bắc đưa vào. Thời Pháp thuộc cụ Hoàng Yến làm Tri huyện Bình Đệ mượn xem rồi tịch thu mất (tịch thu vì là đồ quốc cấm). Cho nên những gì tôi viết ra đây là viết thuộc lòng, nghe sao viết vậy mà thôi.
Đành chẳng công đâu may khỏi tội,
Bao nhiêu chữ đó bấy nhiêu tâm.

(Sào Nam)
Tây Sơn là một dãy núi phía Tây tỉnh Bình Định thuộc hệ thống Trường Sơn. Nằm trọn trong phần đất ba quận Vĩnh Thạnh, Cam Túc, Bình Khê hiện tại, Tây Sơn làm ranh giới cho tỉnh Bình Định ở phía Đông và Pleiku, Kontum ở phía Tây.
Dãy núi An Lão và Kim Sơn cũng thuộc hệ thống Trường Sơn, cũng nằm phía Tây tỉnh Bình Định (ở phía Bắc) và cũng dính liền với dãy Tây Sơn (ở phía Nam) nhưng không mang danh Tây Sơn.
Bởi vì cổ nhân lấy tỉnh lỵ làm điểm đứng ngắm.
Tỉnh lỵ Bình Định trước kia là thành Đồ Bàn ở Nam An, Bắc Thuận (An Nhơn), thời gần đây là thành Bình Định ở An Ngãi, Liêm Trực (An Nhơn), và hiện nay là Quy Nhơn. Đứng trong ba nơi này mà trông thì dãy Tây Sơn nằm hẳn về chính Tây, còn hai dãy Kim Sơn và An Lão nằm về Tây bắc. Tên Tây Sơn đã có từ lâu.
Vì núi mệnh danh là Tây Sơn, nên các vùng sơn cước, bình nguyên ở chung quanh cũng gọi là vùng Tây Sơn. Trước kia gọi là ấp Tây Sơn.
Ấp Tây Sơn gồm có ba phần:
- Tây Sơn Thượng gồm toàn cõi An Khê thuộc quận An Túc hiện nay, lấy đèo An Khê làm ranh giới.
- Tây Sơn Trung gồm phần đất đai thuộc quận Vĩnh Thanh hiện nay, tức từ đèo An Khê đến địa đầu Hữu giang, Tả giang.
- Tây Sơn Hạ gồm đất đai từ Hữu giang, Tả giang đến An Chính, tức là phần đất quận Bình Khê hiện nay.
Ấp Tây Sơn xưa kia thuộc huyện Tuy Viễn (đất Đồ Bàn sau khi trở thành đất Việt Nam thì chia làm ba huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn). Tên ấp bị bỏ từ đời Gia Long.

I- Các ngọn núi có liên hệ mật thiết với nhà Tây Sơn
Ở Bắc ngạn sông Côn có hòn Trung Sơn, nằm trong địa phận thôn Phú Lạc (chánh quán của Tây Sơn tam kiệt).
Ở Nam ngạn sông Côn có những núi:
- Núi Hoàng Đế, núi Hiển Hách ở quận An đèo An Khê.
- Núi Ông Bình, núi ông Nhạc ở phía Đông đèo An Khê.
- Núi Tầm Phúc, núi Lãnh Lương, hòn Hoành Sơn, hòn Ấn, hòn Kiếm nằm dọc theo Quốc lộ 19, từ núi Ông Nhạc xuống đến thôn Trinh Tường, xã Bình Tường, quận Bình Khê.
Từ Tiên Thuận trở xuống, dọc theo con sông Côn, đến Hữu Giang, Phú Lạc núi vẫn nối liền nhau, quanh co khúc khuỷu. Nổi danh nhất là hòn Trung Sơn.
Hòn Trung Sơn thuộc thôn Phú Lạc, quê hương của tam kiệt nhà Tây Sơn và anh hùng Mai Xuân Thưởng.
Núi không lấy làm cao (422 thước) nhưng trông rất khôi hùng.
Trông gần thì mập mạp hung hăng như con bò đực sung sức, lúc nào cũng sẵn sàng để chiến đấu. Nên người địa phương thường gọi là hòn Sung.
Lưng núi có nhiều chỗ nổi từng vồng từng ụ, như bị đánh sưng. Nên nhiều người gọi là hòn Sưng thay vì hòn Sung.
Núi còn có tên nữa là Độc Xỉ sơn và Độc Nhũ sơn, vì ở xa, nếu đứng xiên một phía mà trông thì giống một chiếc răng nanh dựng ngược, còn đứng trước mặt mà ngó thì tương tợ một nấm vú-vung [1]. Do đó núi lại có tên nữa là Bút Sơn.
Hòn Sưng là tổ sơn trong vùng hữu ngạn. Mặt hướng về Đông nam và lấy dãy Sơn Triều Sơn ở cầu Gành, thuộc An Nhơn làm Tiền án [2], và long mạch chạy xuống hướng Đông đến hòn Mạ Thiên Sơn tục gọi là hòn Mò O giữa An Nhơn và Phù Cát thì hồi cố [3]. Phía trước mặt và hai bên tả hữu, gò đống nổi dậy, cuồn cuộn nhấp nhô như sóng biển. Và những ngọn núi chung quanh đều xây mặt về triều củng, như các vị đại thần đứng chầu một đấng anh quân. Còn gò đống kia là quân lính dàn hầu.
Đến viếng Hòn Sung, một du khách có để lại mấy câu rằng:
Hòn Sung tuy thấp mà cao,
Trời cho làm chốn anh hào lập thân.
Kìa ai áo vải cứu dân,
Kìa ai ba thước gươm thần chống Tây.
Chuyện đời rủi rủi may may,
Hòn Sung cây trải đá xây bao sờn.

Trên đỉnh hòn Sung có một vùng đá hình chữ nhật, bằng phẳng, bên cạnh có hai tảng đá vuông vức chồng lên nhau. Người ta bảo đó là “Mả mẹ chàng Lía”.
Truyền rằng mẹ chàng Lía lâm chung tại hòn Chớp Vàng thôn Phú Phong. Lía muốn đưa hài cốt đến táng nơi hòn Sung cách đến 5 cây số về hướng Bắc, bèn lên đỉnh núi, đầu đội quan tài mẹ, một tay vịn, một tay nắm chiếc mâm đồng ngắm phía hòn Sung mà vút mạnh. Chiếc mâm vụt bay, Lía liền nhảy theo đứng trên mâm, rồi lấy thế nhảy vọt đến hòn Sung. An táng mẹ xong, Lía rinh đá khối xây mộ, và chồng hai tảng đá bên mồ để ngồi khóc mẹ. [4]
Do đó người địa phương còn gọi hòn Sung là hòn “Mả Mẹ Chàng Lía”. Sau lưng và phía Tả phía Hữu của hòn Sung, có nhiều ngọn núi không cao nhưng hiểm trở. Như hòn Hành Sơn tục gọi là Dốc Dài nối liền hòn Sung và hòn Vĩnh Đỗ tức hòn Dồ ở Hữu giang. Nhưng đặc sắc hơn hết là hòn Đá Dàn, tên chữ là Dương Thạch Sơn. [5]
Hòn Đá Dàn ở phía Bắc hòn Sung, cạnh hòn Sống.
Trên núi, đá chồng chất, lớp dựng lên, lớp giăng ra. Do đó núi mệnh danh là Đá Dàn (dàn bày ra). Dưới chân và trên triền núi, cây cối rậm rạp. Nhưng trên đỉnh lại chỉ có bụi còi. Đỉnh núi bằng phẳng và chạy dài một con đường quan lộ. Có lối đi từ chân núi lên đỉnh rồi chạy qua hòn Sống, ra đèo Bồ Bồ... theo đường tắt ra vùng Kim Sơn. Chính nghĩa quân Cần Vương đã dùng con đường này để liên lạc với các mật khu trong hai vùng Bắc Nam.
Trong dãy núi phía sau lưng hòn Sung, có ngọn suối gọi là Suối Đá vì khô quanh năm và trong lòng ngổn ngang đá là đá, thiên hình vạn trạng, chơm chởm, chập chồng. Đi vào trong sâu, có nhiều hang hố ẩn nấp được kín đáo, và muốn vào suối phải qua nhiều lớp gò nổng. Thật có thể “một người chống được cả trăm”. Nơi đó là một trong những mật khu của nghĩa quân Cần Vương, do em ruột Mai anh hùng là Mai Xuân Quang trấn giữ.
Những núi non của dãy Tây Sơn ở phía hữu ngạn sông Côn đại khái là thế. Còn bên tả ngạn, thì núi non cũng trùng trùng điệp điệp. Cùng theo một chiều, lớp chạy lên trên An Khê; lớp chạy thẳng vào biên giới Phú Yên; lớp chạy xiên xiên xuống hướng Đông nam, từ Định Quang xuống Thượng Giang, Tả Giang, Trinh Tường, Phú Phong; thành từng dãy dài, chằng chịt, liên miên... chằng chịt.
Đèo An Khê mở lối giao thông giữa Bình Định và vùng Tây Nguyên.
Tên An Khê mới thông dụng từ thời Pháp thuộc. Trước kia gọi là đèo Vĩnh Viễn. [6]
Đèo An Khê cao đến 740 thước và dài trên 10 cây số, chạy từ Đông lên Tây. Đường đi rất hiểm trở. Ngày xưa khi quốc lộ số 19 chưa mở, hành khách phải chịu lắm nỗi gay go. Dọc đèo có nhiều nơi dốc ngược, đá mọc lởm chởm. Có khúc phải giăng hai chân mà leo mới khỏi té. Nơi này tục gọi là dốc Chàng Hảng. Dưới dốc Chàng Hảng về phía Đông có một cái nghẹo, nơi nghẹo có một cây khế rất sai. Hành khách lên đèo mệt mỏi, thường dừng chân nơi gốc khế để nghỉ ngơi và giải khát. Nghẹo ấy tục gọi là nghẹo Cây Khế. Cách nghẹo Cây Khế chừng một khoảng có hai cây cổ thụ sống trên vài trăm năm, thân cao tàn cả, một cây Ké, một cây Cầy. Đó cũng là hai trạm nghỉ chân rất được hành khách lưu luyến. Trên đỉnh đèo có đồn Thượng An do người Pháp cất.
Thời chiến tranh Việt Pháp (1945-54), nơi đồn này đã xảy ra nhiều trận kịch chiến. Và trước ngày ký Hiệp định Genève, quân Pháp ở trong đồn đã bị nghĩa quân tiêu diệt gần hết. Tiếp đó đồn An Khê ở phía Tây đèo, cũng bị bao vây. Thực dân pháp và các nhà tư bản Việt Nam ở thị trấn An Khê phải tản cư bằng máy bay.
Trước đây gần 200 năm, đèo An Khê là con đường lên xuống của binh mã nhà Tây Sơn.
Hùng khí vẫn còn ngùn ngụt.
Chung quanh đèo, núi non chồng chất.
Ở vùng An Khê (tức quận An Túc hiện giờ) có núi Hiển Hách tục gọi là Hảnh Hót và Đại Nam Nhất Thống Chí chép là Hinh Hốt là một danh sơn có nhiều danh mộc, và chung quanh có nhiều ngọn núi quy triều. Núi vùng An Khê liên tiếp với vùng Cao Nguyên.
Phía Đông đèo An Khê, thuộc Tây Sơn Trung, núi cũng cao chớm chở như vùng Tây Sơn Thượng, tức vùng An Túc. Ngọn núi có danh nhất là hòn Ông Bình.
Hòn Ông Bình nằm phía Tây thôn Thượng Giang. Tuy cao chỉ có 793 thước, song trông rất kỳ vỹ, và có vẻ bí hiểm. Cây cối sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không có đường lưu thông. Nhưng sự thật thì có nhiều đường lối ra vào. Nơi triền phía Bắc, có đường đèo đi từ Đồng Hào ở ngả Đông, lên Trạm Gò, Cửu An ở ngã Tây. Đèo này gọi là đèo Vạn Tuế tuy ngắn song dốc và đá mọc lởm chởm, nên rất khó đi. Ở triền phía Nam có con đường mòn chạy theo hướng Đông nam để đến đèo An Khê. Đó là con đường lịch sử (sẽ nói rõ ở đoạn sau).
Đối trĩ cùng hòn Ông Bình xiên xiên về hướng Đông nam có hòn Ông Nhạc cao và rậm không kém hòn Ông Bình. Khí thế cũng rất hùng hiểm.
Từ hòn Ông Nhạc, núi chạy, lớp thì vào thẳng trong Nam, lớp thì chạy xiên xiên xuống hướng Đông nam. Danh sơn đều nằm trong dãy Đông nam. Trước hết là hòn Tâm Phúc, tục gọi là hòn Bà Phù.
Hòn Tâm Phúc không cao, hình giống như chiếc nón lá úp sấp. Núi có nhiều cây cổ thụ và nhiều thú rừng, nhất là heo. Đây là một hòn núi cấm, không ai được vào đốn củi, săn thú. Nhưng không cấm cũng ít ai dám vào, vì truyền rằng núi rất linh thiêng. Bà Thiên Y A Na thường tới lui, hào quang sáng chói. Thường ngày lúc mặt trời gần lặn, người ở gần núi thường nghe tiếng ụt heo inh ỏi. Người ta bảo rằng đó là tiếng của những kẻ bộ hạ ở nuôi heo cho bà Thiên Y.
Vì núi có bà Thiên Y tới lui nên mới mệnh danh là hòn Bà Phù, tức là hòn núi của bà có Phù Phép.
Gần hòn Bà Phù có hòn Màn Lăng. Hai núi đối trĩ nhau. Thầy địa gọi hòn Màn Lăng là hòn Nhật, hòn Bà Phù là hòn Nguyệt.
Giữa hòn Màn Lăng và hòn Bà Phù có một thung lũng bằng phẳng và kín đáo, tục gọi là Hóc Yến.
Qua khỏi Hóc Yến đến núi Đồng Phong tục gọi là hòn Lãnh Lương.
Đi xuống nữa thì đến Hòn Hoành Sơn, tục gọi là Núi Ngang [7]
Những ngọn núi thường dẫn liên hệ mật thiết với nhau chẳng những về phương diện địa lý vì cùng một sơn mạch, mà còn liên hệ về mặt lịch sử, lịch sử nhà Tây Sơn.
Nhà Tây Sơn trước khi khởi nghiệp đã dùng dãy núi Tây Sơn làm căn cứ quân sự. Và đạo quân tiên phong gồm hầu hết người Thượng.
Truyền rằng: Tất cả các bộ lạc ở vùng Tây Sơn đều theo tam kiệt. Chỉ có người Thượng Xà Đàng ở vùng An Khê không phục. Để cho họ tin rằng mình là người của Trời sai xuống trị thiên hạ. Nguyễn Nhạc dùng giỏ bội gánh nước.
Họ Nguyễn lấy một đôi giỏ bội mới, dùng giấy bổi quét dầu trong phất ở phía trong lòng giỏ. Rồi mỗi buổi sớm gánh đôi giỏ xuống khe múc nước về. Người Thượng đứng xa trông thấy nước không chảy ra các lỗ giỏ, đều cho Nguyễn Nhạc là kỳ nhân. Nhưng viên chúa đảng cho rằng có phù phép, chớ không phải chơn mạng đế vương.
Nhân trên núi Hiển Hách có bầy ngựa rừng, hễ trông thấy bóng người liền chạy trốn. Người chúa đảng bảo Nguyễn Nhạc nếu gọi được bầy ngựa ấy chạy đến thì mới thật là người Trời. Nguyễn Nhạc về mua một con ngựa cái tơ thật tốt, dạy dỗ thật khôn hễ nghe tiếng hú thì chạy đến. Đoạn đem thả ngựa vào núi cho theo bầy ngựa rừng. Ngựa rừng xúm lại “ve vãn” và luôn luôn kèm bên chân. Nguyễn Nhạc cất tiếng hú, ngựa cái chạy đến. Bầy ngựa rừng cũng chạy theo, nhưng vừa thấy bóng người thì quày trở lui, song chạy một đoạn xa xa, ngoảnh lại trông, thấy ngựa cái vẫn đứng với người một cách thân mật, thì dừng lại đứng ngó. Nguyễn Nhạc lấy cỏ bỏ cho ngựa cái ăn, rồi bỏ ra về. Bầy ngựa rừng liền kéo đến ăn cỏ. Hôm sau Nguyễn Nhạc lại đến hú và lấy cỏ cho ngựa ăn. Bầy ngựa rừng thấy người không có ý làm hại giống nòi, lần lần làm quen... Nguyễn Nhạc bèn đến tìm chúa Xà Đàng, hẹn ngày và nơi gọi ngựa.
Đến kỳ hẹn, Nguyễn Nhạc cùng chúa Xà Đàng và một ít bộ hạ đến núi Hiển Hách. Nguyễn Nhạc đứng giữa hai tảng đá dựng cao lút đầu người và bảo chúa Xà Đàng cùng bộ hạ núp phía sau, im hơi lặng tiếng. Đoạn cất tiếng hú. Nghe tiếng chủ hú, ngựa cái từ trong rừng sâu chạy ra. Bầy ngựa rừng chạy theo sau. Nguyễn Nhạc lấy cỏ cho ăn. Đã quen người, quen lệ, bầy ngựa rừng không chút sợ hãi. Nguyễn Nhạc vuốt ve ngựa cái rồi từ từ đến gần bầy ngựa, vuốt mỏ vuốt lưng, hết con này đến con khác. Vì thấy ngựa cái đứng yên để vuốt ve, bầy ngựa rừng cũng vững tâm ăn cỏ...
Người Thượng Xà Đàng thấy Nguyễn Nhạc “gọi” được bầy ngựa rừng, thì tin rằng là “Người Trời”, nên thần phục và chịu theo đánh giặc.
Những người Thượng cũng như người Kinh, tuyển mộ được bao nhiêu đều đem về hòn Ông Bình và Ông Nhạc để tập luyện. Dinh trại đều cất trong hai núi này. Nguyễn Nhạc trấn thủ một núi, Nguyễn Huệ trấn thủ một núi. Vì vậy nên hai ngọn núi này mang tên hai chỉ huy: Ông Nhạc, Ông Bình. Bình là tên chữ Nguyễn Huệ (Nguyễn Quang Bình). Đối với Nguyễn Huệ, người địa phương ít hay gọi tên Húy. Lúc nhỏ thì thường gọi là “Chú Ba Thơm” (hoa Huệ có hương), lớn lên lại thường gọi tên Chữ “Ông Bình”. Tên Nguyễn Quang Bình tuy đã đặt từ trước, nhưng mãi sau khi lên ngôi cửu ngũ lấy niên hiệu Quang Trung, đánh đuổi quân Mãn Thanh rồi mới thấy xuất hiện trong sử sách. Sau khi vua Quang Trung thăng hà, miếu hiệu Thái Tổ Vũ Hoàng Đế, thì hòn Ông Bình được tôn xưng là hòn Thái Tổ. Còn hòn Ông Nhạc thì người sau đọc trại là Ông Nhược.
Nhà Tây Sơn cử binh đánh nhà Nguyễn năm Tân Mão (1771). Trước khi cử sự, binh đóng ở hòn Ông Nhạc đều dồn qua hòn Ông Bình. Rồi đại binh kéo đến đèo An Khê làm lễ tế cờ khởi nghĩa.
Lễ tế cờ cử hành gần nơi cây Cầy và cây Ké. Cho nên tục có câu “Cây Ké phất cờ, cây Cầy khỉ cổ” [8]
Truyền rằng: Đại binh kéo đến đèo An Khê khi xuống vừa khỏi Nghẹo Cây Khế, thì một con rắn thân lớn bằng cột nhà, sắc đen nhánh như hạt huyền, thời nhân gọi là Ô Long, từ trên Cây Ké bò xuống, nằm chận ngang đường đi. Binh mã sợ không dám đến. Nguyễn Nhạc liền xuống ngựa, tuốt gươm đến chém, lấy máu đề cờ. Nhớ chuyện Hán Cao Tổ chém rắn khởi nghĩa, tướng sĩ tin là điềm lành nên nức lòng phấn chí.
Tế cờ xong liền tiến binh.
Binh đến núi Bà Phù thì trời tối. Nguyễn Nhạc bèn dừng lại nghỉ. Đêm đến mở yến tiệc thết đãi tướng sĩ tại thung lũng dưới chân Bà Phù. Sáng hôm sau mới tiếp tục tiến phát.
Nhân việc đồn binh được yên ổn, và yến ẩm vui vầy, Nguyễn Nhạc mới đặt tên hòn Bà Phù là hòn Tâm Phúc, và người đương thời gọi thung lũng là Hóc Yến.
Trước khi xuất binh, Nguyễn Nhạc đã sai Nguyễn Lữ đi vận tải lương thực đến chân núi Đồng Phong. Khi binh xuống đến Đồng Phong thì lương thực cũng vừa tải đến. Nguyễn Nhạc cho đóng binh lại để phát lương và nghỉ ngơi để chuẩn bị tinh thần chiến đấu. Tướng sĩ được lãnh lương thực tại Đồng Phong nên gọi nđi Đồng Phong là hòn Lãnh Lương.
Từ hòn Ông Nhạc đến hòn Lãnh Lương, núi chạy dọc, xiên xiên xuống hướng Đông nam. Nhưng đến địa đầu thôn Trinh Tường, núi lại quay ngang ra hướng Bắc, thành hòn Hoành Sơn, tức là Núi Ngang, nằm theo hướng Tây Nam Đông Bắc.
Núi Ông Bình ngó ngay xuống Hoành Sơn và làm hậu tẩm cho Hoành Sơn vậy. Hòn Hoành Sơn không cao (361 thước), nhưng dài và rộng. Phía Tây và phía Nam, dòng suối Đồng Tre và chi lưu ôm sát bên chân. Đường Quốc lộ 19 chạy dài ở phía Bắc. Trước mặt, đồng Trinh Tường tiếp đồng Phú Phong, và bên chân một con đường hương lộ chạy từ Bắc vào Nam, hợp cùng Quốc lộ 19 và 2 nhánh suối Đồng Tre, thành một chữ Nhật làm ranh giới cho núi. Mộ của Nguyễn Phi Phúc, thân sinh của Tây Sơn tam kiệt, nằm trong hòn núi này (Hoành Sơn).
Truyền rằng:
Niên hiệu Cảnh Hưng triều Lê (1740-1786), trong khoảng Định Vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) trị vì miền Nam, có một thầy địa lý Trung Hoa, tục gọi là thầy địa Tàu, thường ngày cứ đi đi lại lại trong vùng Tây Sơn. Nguyễn Nhạc theo rình xem. Một hôm thấy thầy địa đến Hoành Sơn, dùng hai cây trúc cành lá xanh tốt và giống in nhau, đem cắm nơi triền phía Đông, một cây ngoài Bắc, một cây trong Nam, rồi bỏ mà đi thẳng. Biết rằng vùng Tây Sơn là một đại địa, và thầy địa Tàu không tìm ra huyệt tinh nên tìm cách để thử huyệt khí, Nguyễn Nhạc bèn lưu ý đến nơi trồng hai cây trúc và ngày ngày đến thăm chừng. Cách mấy hôm sau, cây trúc phía Bắc sống và tươi tốt như lúc mới trồng. Đó là chứng ứng cho biết rằng long huyệt nằm ở đó. Nguyễn Nhạc hết sức mừng, bèn nhổ cây khô đem cắm vào chỗ cây sống, và đem cây sống đến cắm chỗ cây khô.
Mười hôm sau, tính đúng 100 ngày từ khi trồng trúc, thầy địa Tàu đến. Thấy hai cây trúc đều chết cả hai, thầy địa bỏ đi không thèm trở lại nữa. Bởi thầy cho rằng đó chỉ là “giả cuộc” mà thôi. Nguyễn Nhạc bèn về bốc mộ ông thân sinh đem táng nơi chân trúc phía Bắc. Lại có người bảo rằng:
Thầy địa lý Tàu vốn quen thân với Nguyễn Nhạc. Lúc đến vùng Tây Sơn “tìm long điểm huyệt”, thường tá túc nơi nhà họ Nguyễn, và chính Nguyễn Nhạc là người dẫn lộ cho thầy Tàu. Đi khắp cả vùng Tây Sơn, thầy địa chỉ chú ý đến hòn Hoành Sơn. Thầy đi qua đi lại không biết mấy lần, hết đặt địa bàn ở chỗ này thì đem đặt ở chỗ khác, ngắm nghía, tính toán có vẻ đắc ý lắm. Đoạn thầy bỏ đi đâu mất biệt. Hơn một năm sau thầy trở lại và cũng ghé nghỉ ngơi nhà Nguyễn Nhạc. Lần này ngoài chiếc địa bàn, thầy có mang theo một chiếc trắp nhỏ, bọc trong một chiếc khăn điều.
Đoán biết rằng thầy Tàu đã tìm được “huyệt mả đại phát” nơi Hoành Sơn nên về Tàu hốt cốt tiền nhân đem qua chôn, Nguyễn Nhạc bèn tìm cách đánh đổi. Nhưng làm sao đánh đổi được, vì thầy Tàu không khi nào rời chiếc trắp ra, thậm chí cả những lúc “đi sông đi bãi”? Nguyễn Nhạc đóng một chiếc trắp giống hệt chiếc trắp của thầy địa, và hốt cốt ông thân sinh đựng vào, rồi đem giấu sẵn nơi chân Hoành Sơn...
Đến ngày đã chọn, thầy Tàu lén mang chiếc trắp cùng địa bàn đi lên Hoành Sơn. Vừa đến chân núi thì một con cọp tàu cau to lớn ở trong bụi, gầm lên một tiếng nhảy ra vồ. Thầy Tàu hết hồn, quăng trắp và địa bàn mà chạy. Hồi lâu không thấy cọp đuổi theo, liền quay trở lại chỗ cũ. Thấy chiếc trắp và địa bàn còn nằm lăn lóc đó, thầy mừng như chết đi sống lại, vội trực chỉ lên nơi long huyệt đã tìm ra.
Chôn cất xong yên thầy hớn hở trở về Trung Quốc, không ngờ rằng chiếc trắp thầy chôn vốn đựng di hài Nguyễn Phi Phúc, và con cọp kia chỉ có lớp ngoài mà thôi.
Hai thuyết không biết thuyết nào đúng.
Hai bên chỉ khác nhau ở chi tiết. Cả hai đều đúng một điểm chính là mộ Nguyễn Phi Phúc chôn ở Hoành Sơn.
Song không ai biết đích xác ở chỗ nào. Chỉ nghe truyền rằng mộ gối đầu lên dãy núi phía Tây nam [9] và lấy hòn Hương Sơn ở Kiên Thạnh (Bình Khê) làm nội án, hòn Mò O (An Nhơn) làm ngoại án. Hai hòn này nằm xiên xiên hướng Đông bắc hòn Hoành Sơn.
Vì có mộ của Nguyễn Phi Phúc, nên hòn Hoành Sơn được tôn xưng là Thiếu Tổ.
Sát chân núi Ngang phía Đông, khoảng giữa, nổi lên một trảng đất lum lum. Trong khoảng này dáng núi lại hơi cong cong. Đứng phía trước trông vào thì giống một ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay dựa vào núi, và mặt ghế là trảng đất. Trên trảng nằm song song hai nấm mộ bằng đá, hình chữ nhật. Vua Gia Long ngờ rằng đó là phần mộ của ông bà Nguyễn Phi Phúc, song thân ba vua Tây Sơn, nên truyền quan địa phương khai quật. Nhưng hài cốt không thấy đâu cả, mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng đương cháy.
Ai cũng biết bốn chum dầu ấy do nhà Tây Sơn chôn, song không ai đoán ra mục đích. Và tất cả mọi người đều biết di hài của ông bà Nguyễn Phi Phúc táng tại Hoành Sơn, nhưng cũng không có người nào biết được nơi chôn. Vua quan nhà Nguyễn ra công tìm kiếm, nhưng dấu tích vẫn mờ mịt khói mây.
Nơi trảng đất dưới chân Hoành Sơn, hiện nay vẫn còn ít nhiều di tích. Những khách phương xa đến viếng cảnh, không biết rõ câu chuyện, đều lầm tưởng là mộ Nguyễn Phi Phúc bị đào [10].
Có người bảo rằng ngọc cốt của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cũng táng trong vùng Hoành Sơn. Đó là bằng theo chuyện “bạch mã hiện hình” mà ức đoán. Nguyên vua Thái Đức có một con chiến mã rất tốt: thân vóc cao lớn như ngựa Bắc Thảo, lông trắng như tuyết, đuôi và kỳ mao mịn như tơ. Nhà vua yêu quý rất mực. Sau khi nhà vua băng hà, con bạch mã sổ chuồng chạy mất, quan quân tìm kiếm không ra. Cách ít lâu, chiều chiều người trong vùng Hoành Sơn thường trông thấy bóng ngựa trắng, khi thì đi thơ thẩn dưới chân núi, khi thì lên trên đỉnh đứng hí não nùng.
Mọi người đều tin rằng đó là con bạch mã, hoặc là hồn thiêng con bạch mã của vua Thái Đức. Vì tôn trọng nhà vua, người trong ấp Tây Sơn không một ai nuôi ngựa trắng.
Nhưng sau khi hai nấm mộ giả nơi trảng đất dưới chân núi bị nhà Nguyễn phá hủy, thì bóng ngựa vắng biệt trong một thời gian khá lâu. Mãi đến khi nhà anh hùng Mai Xuân Thưởng dấy nghĩa Cần Vương (1885-1887) thì bạch mã xuất hiện trở lại. Người địa phương cho là “ngựa thần” nên hết lòng kính sợ.
Vì sao thấy “ngựa trắng hiện hình” lại đoán rằng lăng mộ vua Thái Đức táng nơi Núi Ngang?
Là vì ngựa vốn là giống vật rất khôn và có nghĩa. Nhiều con, chủ chết, bỏ ăn bỏ uống ra mả nằm chết theo. Lắm con không chết theo, nhưng thỉnh thoảng tìm đến thăm mả chủ, và cất tiếng hí thê lương. Nếu ngọc cốt của nhà vua không an táng nơi Hoành Sơn thì sao con ngựa - hay hồn ngựa - của nhà vua lại tìm đến?
Đó là ức đoán, chớ từ xưa đến nay không ai biết rõ nơi chôn cất vua Thái Đức, mặc dù vẫn truyền rằng di thể được long trọng đưa về cố hương. Còn về việc người Bình Khê, nhất là người Phú Lạc, Trinh Tường không nuôi ngựa trắng thì trước kia hoàn toàn do lòng tôn trọng vua Tây Sơn, sau này một phần lớn do lòng mê tín: sợ thần Bạch Mã.
Nghe đồn rằng: Thời Pháp thuộc, tại Đồng Vụ (thuộc Trinh Tường) có người mua được một con ngựa bạch toàn sắc, đem về nuôi không được bao lâu thì tự nhiên ngã đùng ra chết. Người ta tin là bị thần Bạch Mã vật. Do đó lòng kiêng cử nuôi ngựa trắng của người địa phương gia tăng.
Đó là những chuyện ngày xưa. Từ ngày đất nước nổi binh đao, không biết ngựa trắng có còn xuất hiện nơi Hoành Sơn và người vùng Hoành Sơn có còn sợ thần Bạch Mã?
Dù có hay không có, những huyền thoại kể trên thêm vào những di tích lịch sử, làm tăng phẩm giá cho Hoành Sơn.
Năm Tân Sửu (1961), nhân dân Bình Khê lại dời trung cốt Mai anh hùng đến an táng. Lăng tẩm trang nghiêm hùng tráng làm tăng khí sắc của sông núi bội phần.
Khách du quan đến Bình Định, tưởng không nên quên Núi Ngang vậy. Các thầy địa lý Việt Nam cũng như Trung Hoa đều công nhận đất Hoành Sơn là đại địa, vì có nào bút nào nghiên, nào ấn nào kiếm, nào cổ nào chung, ở bên tả bên hữu. Trước mặt trên ba nổng gò, đá mọc giăng hàng giống như những toán quân đứng chầu chực. Và xa xa có hổ phục long bàn.
Không phải ngoa ngôn:
Bút đó là hòn Trung Sơn ở bên Phú Lạc, xa trông phảng phất như ngòi bút chép mây.
Nghiên đó là hòn Hội Sơn tục gọi là hòn Dũng, trong địa phận Trinh Tường về phía Nam, đứng đối trí cùng hòn Trung Sơn ở phía Bắc.
Cũng như hòn Hoành Sơn và hòn Trung Sơn, hòn Hội Sơn không cao lắm (491m) nhưng trông đồ sộ, uy nghiêm. Trên núi có một vũng nước vừa rộng vừa sâu, quanh năm không bao giờ cạn. Người địa phương lên vỡ đất làm ruộng, đất tốt không kém dưới đồng bằng. Vì núi có vũng nước nên đám bình dân, gọi núi là Hòn Vũng thay vì Hòn Dũng.
Còn đám hàn mặc thì coi vũng nước là nghiên mực của trời, nên đặt cho núi một tên nữa là Nghiên Sơn tức Hòn Nghiên vậy.
Lên chơi Hòn Nghiên, Định Phong có mấy câu cảm hứng:
Trên non có nước,
Gắng bước mà lên.
Nước non còn nợ chớ quên,
Lòng trong với nước gan bền cùng non.
Trời Tây mây kéo hoàng hôn,
Biển Đông thấp thoáng sóng dồn bình minh.
Nghiên son mài ráng lung linh,
Bút tuôn hàng nhạn chép tình nước non...

Hòn Nghiên và hòn Bút nằm bên hữu bên tả hòn Hoành Sơn, trông thật cân đối. Khách thơ ví hòn Hoành Sơn như bức bình phong còn hai hòn Bút Nghiên là hai trụ ba biểu đứng hai bên, hơi lấn ra phía trước một ít. Sát bên chân hòn Hoành Sơn lại có hai hòn núi nhỏ đứng song song, giống hệt bộ chuông trống nho nhỏ để trước chiếc án thờ. Đó là Hòn Một và Hòn Giải, cổ nhân gọi Hòn Một là Chung Sơn tức hòn chuông, hòn Giải là Cổ Sơn tức hòn Trống.
Cổ nhân đặt tên không phải dựa vào vị trí, nhưng dựa trên hình dạng.
Hòn Một trông phảng phất quả chuông đồng.
Còn hòn Giải thì đứng phía Bắc trông vào thì dáng tròn tròn như cái trống. Nhưng đứng phía Đông mà ngó lại thấy hơi vuông vuông như một chiếc ấn. Vì vậy hòn Giải còn có tên nữa là Ấn Sơn tức hòn Ấn. Đặt cho hòn Giải tên Ấn Sơn chẳng phải vì hình dáng mà còn vì ở phía Đông, nơi vùng Gò Sặt (Trinh Tường) có một hòn núi thấp và dài gọi là hòn Kiếm Sơn tức hòn Kiếm. Có Kiếm thì phải có Ấn mới đủ đôi.
Truyền rằng:
Sau khi chiếm được long huyệt ở Hoành Sơn thì ba anh em Nguyễn Nhạc cùng phát tướng. Gương mặt trông sáng rỡ, và việc học hành - võ công như văn - tiến bộ lạ thường. Thầy học là Cụ Giáo Hiến - một người miền Ngoài, giỏi văn lẫn võ, lại rành khoa tướng số - trước kia vốn đã có biệt nhãn cùng ba anh em họ Nguyễn, nay thấy thần sắc, biết vận trời đã đến, bèn đem mấy câu sấm “Tây khởi nghĩa, Bắc thu công” ra khuyên Nguyễn Nhạc về lo mưu đồ đại sự. Vâng lời thầy, ba anh em trở về Kiến Thành lo chiêu mộ hào kiệt.
Vùng đất Tây Sơn xưa kia núi rừng rậm rạp, chuyện thần linh quỷ dữ lan tràn khắp đó đây. Để quy tụ lòng dân, Nguyễn Nhạc bèn lợi dụng óc mê tín của quần chúng.
Hòn Trung Sơn ở Phú Lạc tuy ở gần thôn xóm, nhưng ít ai dám lên vì sợ “mả mẹ chàng Lía”, và nhất là sợ cọp. Thỉnh thoảng, Nguyễn Nhạc cho người tâm phúc lên núi, nửa đêm nổi trống nổi chiêng. Người chung quanh vùng kẻ cho rằng hồn chàng Lía về cúng mẹ, người lại bảo đó là quỷ thần mở hội vui. Kẻ bàn người tán, không mấy lúc tiếng bay tận ngàn xa, một thành mười, mười thành trăm... Hòn Trung Sơn từ xưa đã có tiếng càng thêm nổi tiếng.
Một hôm, nhà Nguyễn Nhạc có kỵ. Khách khứa đông đúc. Cỗ bàn vừa ăn xong thì trời đã khuya. Những người ở xa, đều phải nghỉ lại, còn người quanh xóm thì lục tục ra về. Bỗng trên Trung Sơn, tiếng trống chiêng vang dội, và trong bóng cây trên đỉnh, ánh lửa lập lòe. Ai nấy đều kinh dị, Nguyễn Nhạc rủ người lên xem thử “quỷ thần làm trò gì”. Phần đông đều e ngại. Chỉ bốn năm tay lực sĩ xin đi theo.
Nai nịt gọn gàng, chân vũ hài, tay trường kiếm, đoàn người lần bước lên đỉnh Trung Sơn. Khi gần đến đỉnh, trong ánh lửa mập mờ hiện ra một ông lão râu ba chòm bạc phếu, đầu đội mũ cánh chuồn, mình khoác áo đại bào, chân đi hia... bộ dạng giống hệt một ông lão văn trong các vở tuồng hát Bội. Ai nấy ớn lạnh vì sợ, và không ai bảo ai, mọi người đều dừng lại một lượt. Ông lão cất tiếng bảo:
- Trong anh em có ai là Nguyễn Nhạc chăng? Nếu có thì hãy lại gần đây nghe lịnh. Còn các người khác hãy đứng yên.
Nguyễn Nhạc run sợ bước ra, đến quỳ trước mặt ông lão. Ông lão phất tay áo, lấy ra một tờ chiếu rồi đọc lớn:
- Ngọc Hoàng sắc mạng Nguyễn Nhạc vi Quốc Vương.
Đoạn trao tờ chiếu cho Nguyễn Nhạc rồi quay bước đi vào trong bóng tối. Từ ấy tiếng đồn khắp nơi, và ngôi Quốc vương của Nguyễn Nhạc nằm vững trong tâm trí quần chúng. Trong đám sĩ phu, trừ cụ giáo Hiến, không mấy ai biết đó là kế của Nguyễn Nhạc.
Chưa lấy làm đủ, Nguyễn Nhạc còn tìm một thanh bảo kiếm và đúc một quả ấn vàng, rồi đem giấu trong vùng núi Trinh Tường.
Một hôm cùng bộ hạ ở An Khê về, đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ chạy nước đại. Nhưng không chạy trẽ ra hướng Bắc để qua sông về Kiến Thành, lại chạy vào hướng Đông nam. Đến chân núi phía trong Gò Sặt, cương ngựa bị đứt. Nguyễn Nhạc té nhào, trặc chân không đứng dậy nổi. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới đỡ. Khi đứng dậy để lên ngựa trở về. Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên lấy thì là một thanh kiếm xưa lưỡi sắc như nước. Ai nấy đều mừng là “của trời ban”.
Về nhà Nguyễn Nhạc nói cùng hai em và thuộc hạ:
- Ngọc Hoàng đã sắc phong ta làm Quốc vương, lẽ tất nhiên phải ban ấn kiếm. Nay kiếm đã có rồi, ta phải đi tìm ấn.
Đoạn tổ chức ngay lễ cầu đảo tại chân núi Hoành Sơn. Cầu đảo ba đêm ngày. Đêm làm lễ, ngày cho người đi tìm khắp nơi. Đã hai ngày liền, hàng trăm người chia nhau đi khắp các núi khe quanh Hoành Sơn, mà không có kết quả. Đêm thứ ba, lúc nửa đêm chiêng trống hành lễ vừa dứt, thì một vòi lửa như một lằn pháo thăng thiên bay xẹt từ Hòn Một đến Hòn Giải thì rơi xuống. Tiếp đó có một tiếng nổ nhỏ như tiếng pháo tre, rồi một tiếng nổ lớn có phần dữ dội làm chấn động cả vùng. Ai nấy đều thất kinh. Sáng sớm Nguyễn Nhạc đem người đến Hòn Giải xem, thì thấy sườn núi phía Nam có một vùng như bị sét đánh lở và nám đen. Trèo lên xem thì một quả ấn vàng nằm trong kẽ đá tại nơi bị lở. Ai nấy đều tin là “ấn trời ban”.
Việc được kiếm được ấn thêm vào việc Ngọc Hoàng ban sắc phong vương, làm cho thiên hạ tin một trăm phần trăm rằng “Nguyễn Nhạc quả có chơn mạng”...
Nhân việc được kiếm được ấn mà núi mệnh danh là Kiếm Sơn và Ấn Sơn, tức hòn Kiếm, hòn Ấn.
Cũng trong vùng Gò Sặt, phía trên hòn Kiếm, có hòn Ông Đốc, hình thù giống một con hổ phục, đầu ngó lên Hoành Sơn. Núi không cao. Và tuy trông giống hình cọp, song ngó bộ hiền lành như con cọp tu lâu đời. Nơi triền phía Bắc hiện có một ngôi chùa thờ Phật. Cảnh nhơn tạo thật là hợp với vẻ thiên nhiên.
Đó là điểm “hổ cứ” đã nói ở trên kia.
Còn “long bàn” là hai nhánh của con sông Côn, một từ phía Tây chảy xuống, một từ phía Tây nam chảy ra, hợp nhau tại địa đầu thôn Phú Phong, trông như hai cánh tay ôm choàng lấy cuộc đất của Hoành Sơn vậy.
Tại quận An Túc, phía trong Tú Thủy chừng 12 cây số có làng Cổ Yêm. Tuy là một làng thượng du nhưng đất đai bằng phẳng. Một cánh đồng phì nhiêu, rộng có đến năm, sáu trăm mẫu, giăng lam trải lục tận chân trời xanh. Giữa đồng đột khởi một ngọn núi, không lớn lắm và cao chỉ độ 300 thước, nhưng trông hùng dũng hiên ngang.
Đứng xa nhìn đồng nhìn núi thật giống chiếc bánh ú lột trần để trên mâm to lót lá chuối mà trời là lọng che.
Cảnh trí cực đẹp!
Đồng ấy gọi là đồng Cô Hầu.
Núi ấy gọi là núi Hoàng Đế.
Sao lại mệnh danh như thế?
Truyền rằng:
Cổ Yêm xưa kia là một cánh rừng mênh mông, ở giữa vun cao vì ngọn núi. Tên rừng gọi là Mộ Điểu vì ban đêm chim về nghỉ, từng bầy từng lớp, tiếng kêu vang dậy cả ngàn xa. Người Thượng Bà Nà chiếm cứ là địa sở từ ngàn xưa, người ngoài không dám phạm.
Vị tù trưởng Bà Nà sống khoảng hạ bán thế kỷ thứ 18, có người con gái gả cho Nguyễn Nhạc làm thiếp, tục gọi là Cô Hầu.
Sau khi dụ được các sắc tộc người Thượng theo mình, Nguyễn Nhạc dùng rừng Mộ Điểu làm căn cứ quân sự. Dinh trại đóng trên núi. Để lấy lương thực nuôi quân, cho phá rừng làm ruộng. Công việc khai khẩn, tiếp đến công việc canh tác và thu hoạch đều do một mình Cô Hầu đảm đương.
Khi Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế ở Đồ Bàn, Cô Hầu vẫn ở nhà khai thác đồng lúa. Do đó đồng mệnh danh là đồng Cô Hầu. Và ngọn núi coi như là nơi phát tích nhà Tây Sơn nên được tôn xưng là núi Hoàng Đế.
Khi mới khởi sự, binh lính của nhà Tây Sơn phần đông đều là người Thượng.
Những người Thượng mộ được ở vùng An Khê (An Túc hiện thời) trước hết đều dồn về căn cứ Mộ Điểu tập luyện trong ít lâu rồi mới đưa xuống núi Ông Bình, Ông Nhạc ở dưới đèo An Khê để khép vào hàng ngũ và huấn luyện thêm.
Truyền rằng:
Một hôm Nguyễn Huệ vâng lệnh anh chỉ huy một đạo tân binh từ Mộ Điểu xuống An Bình. Gần đến chân phía Tây đèo An Khê thì đạo binh vùng thối lui: một cặp rắn mun cực kỳ to lớn nằm chận giữa đường, cổ cất cao như hai cột nhà cháy và miệng hả to như hai chậu máu tươi. Mọi người đều kinh hồn và cho là một điềm xấu. Nguyễn Huệ liền xuống ngựa, chắp tay khấn:
- Nếu anh em chúng tôi có thể dựng được nghiệp lớn thì xin Xà Thần tránh đường cho quân đi. Bằng mạng số chúng tôi không ra gì thì xin chỉ cắn chết tôi mà tha cho quân lính được sống về cùng vợ cùng con.
Vừa khấn xong thì cặp rắn quay đầu xuống, song song đi trước dẫn đường cho đạo binh. Tới thôn Thượng An thì dừng lại. Một con vào bụi rậm ngậm ra một thanh long đao, cán đen như mun, lưỡi bén như nước. Rồi cả hai ngậm ngang thanh long đao, song song bò đến dâng cho Nguyễn Huệ. Đoạn biến mất.
Thanh đao Nguyễn Huệ dùng đánh giặc là thanh đao của thần rắn dâng. Để tỏ lòng tri ân. Nguyễn Huệ lập miếu thờ thần rắn tại nơi dâng đao. Miếu ấy hiện nay vẫn còn và tục gọi là Miếu Xà.
Nhưng miếu hiện thời không phải miếu ngày trước. Vì miếu xưa đã lâu đời bị sập đổ. Trong một khoảng thời gian khá lâu dấu tích đã bị mất hẳn. Nhưng rồi cọp thường ra ngồi rình nơi sân miếu, hành khách qua lại bị hao khá nhiều. Để tránh hổ hoạn, người địa phương bèn lập lại miếu thờ, hầu mong thần rắn phù hộ.
Lại có người bảo rằng:
- Miếu Xà là nơi thờ con rắn mà Nguyễn Nhạc đã chém lấy máu để cờ khi cử lễ xuất binh đánh Chúa Nguyễn.
Con rắn Nguyễn Nhạc chém đó cũng loại rắn mun.
Chuyện Nguyễn Nhạc chém rắn lấy máu đề cờ thường nghe các phụ lão ở miệt dưới đèo An Khê kể.
Chuyện rắn mun dâng long đao cho Nguyễn Huệ thường nghe các phụ lão ở vùng phía Tây đèo An Khê và những người buôn Thượng kể.
Một bên thì lấy cây Cấy cây Ké ở đèo An Khê, là nơi Nguyễn Nhạc tế cờ trước khi xuất binh, và câu “Cây Ké phất cờ, cây Cấy khỉ cổ” của địa phương làm bằng.
Một bên thì chỉ “Miếu Xà” làm chứng.
Chuyện tuy không có sách vở chép đề, song có bằng chứng rõ ràng. Như vậy tin cũng khó mà không tin cũng khó.
Những chuyện huyền thoại đều xây dựng trên sự thật.
Chuyện “chém rắn đề cờ”, chuyện “rắn thần dâng đao”, một là những chuyện có thật, nhưng “có ít xít ra nhiều”; hai là những con rắn thần kia do nhà Tây Sơn “đẻ ra”. Những câu chuyện “Ngọc Hoàng ban sắc”, “Ngọc Hoàng ban ấn kiếm” đã kể ở các mục trước, có thể chứng minh cho thuyết “rắn do người đẻ”.
Mà những bậc đại tài như Tây Sơn tam kiệt thì chỉ hai bàn tay trắng còn gây được sự nghiệp nghìn thu, huống hồ chỉ “đẻ” ra những linh vật.
Và trong khoảng nước non từ Đồng Cô Hầu, Núi Hoàng Đế đến đèo An Khê còn nhiều chuyện hư hư thực thực về nhà Tây Sơn.
Còn non còn nước còn người,
Còn duyên bút mực còn lời nước non.


Tập san Sử Địa số 9-10
Xuân Mậu Thân (1968). - Trang 17-32 và 170-176
-------------
[1] Theo truyền thuyết thì Độc là một mình. Nhưng “Đại Nam Nhất Thống Chí” chép chữ Độc là con bò nghé.
[2] , [3] Sẽ nói rõ ở đoạn sau.
[4] Sự tích chàng Lía sẽ nói rõ ở mục Cổ Tích.
[5] Trong Đại Nam Nhất Thống Chí lại chép chữ Dương là khí Dương.
[6] Hiện ở phía Tây đèo có một ấp lấy tên Vĩnh Viễn.
[7] Trùng tên Hoành Sơn ở Hà Tĩnh
[8] Cây Cầy hiện còn. Cây Ké đã bị chánh quyền địa phương thời Ngô Đình Diệm đốn lấy gỗ cất trụ sở.
Ở các nước văn minh, Đông cùng như Tây, các di tích lịch sử đều được bảo tồn, coi là quốc bảo. Nếu hai cây lịch sử đèo An Khê được sanh ở một nước văn minh thì chắc được vun quén chăm coi, trừ sức tàn phá của thời gian, búa rìu không bao giờ nỡ phạm đến.
Những di tích đời Tây Sơn ở hạt Bình Khê hầu hết đều bị Nhà Nguyễn hủy hoại. Hai cây Ké cây Cầy, vì ít người để ý, nên mới còn sống sót. Nay chỉ còn có một cây. Nếu cứ để mặc cho gió mưa thì không biết có chịu đựng nổi với “phong trào nguyên tử” không.
[9] Mộ thì gối đầu ở dãy Tây nam, còn núi thì gối đầu nơi hòn Ông Bình.
[10] Xem thêm mục “Dãy Tây Sơn” ở trước.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 23.02.2018 05:04:26 bởi casau>
Đời Tây Sơn qua dân ca sấm ký
Thái văn Kiểm

Danh từ Tây Sơn phát xuất từ những ngọn núi cao phía Tây tỉnh Bình Định, giáp với tỉnh Pleiku (Gia Lai) gồm phần lớn bộ lạc Jarai, phần ít người Chàm mà ngôn ngữ có liên hệ với ngôn ngữ Mường-Việt. Sở dĩ có danh từ Tây Sơn là vì trước kia, cũng vào thời đại nhiễu nhương ấy, tức là thời kỳ Lê mạt Nguyễn Sơ, đã xuất hiện danh từ Đông Sơn (ngọn núi miền Đông), vốn là đảng hiệp sĩ do Đỗ Thành Nhân (7-1781) sáng lập ở vùng Ba Giồng (Định Tường), phò chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần, rồi phò chúa Nguyễn Ánh, thắng trận Bến Nghé năm 1778, hùng cứ Thập Bát Phù Viên, tức là 18 tiae. Têm Blàu: folium illud conciiroare adedendu.
Ngày xưa còn truyền lại một lời than van của cô gái nhà quê:
Mẹ ơi! Ông Chánh đòi hầu,
Ông Phó đòi vợ, nhận cau trầu nơi mô?

Trầu vốn là món hàng đầu tay của anh em Nguyễn Nhạc xuất thân buôn trầu nguồn, lên xứ mọi mua trầu về bán lại cho dân miền xuôi. Sau đó Nhạc được cân nhắc lên làm Biện Lại, một chức tuần cai ở phủ huyện, chuyên coi việc tuần phòng và thu thuế. Vì đã làm Tuần Biện, nên người đương thời gọi là Biện Nhạc. Theo Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm viết trong Quốc Văn Đời Tây Sơn thì lúc khởi nghĩa năm Tân Mão 1771 ở thượng đạo ấp Tây Sơn, Nguyễn Nhạc có một tên phó tướng tên là Tứ Linh, quân lính của tướng này được gọi là quân Tứ Linh. Nhưng theo tôi thì lá cờ của vườn trầu Hốc Môn, Bà Điểm bây giờ. Nhưng vườn trầu này danh tiếng đệ nhất miền Nam, lá trầu có thứ xanh, có thứ vàng, thuở xưa tổ tiên ta gọi là Blầu, Blù, về sau biến đổi thanh âm thành Tlầu, Tlù, rồi lần hồi đổi ra thành Trầu, Trù. Nhưng người Trung hoa chính thống, vốn không dùng trầu cau như người Nam Á - Australo-Asiatiques - Đã phiên âm na-ná hai chữ Blầu, Blù thành Phù Lưu, mà họ đọc là Pù Lu, rồi sau cùng rút lại còn chữ Phù là trầu, phù viên là vườn trầu, về danh từ Blàu, trong quyển tự vị Việt-Bồ-La Dictionnarium Annamiticum Lusitanum et Latium của Alexandre de Rhodes, Roma 1651, nơi trang 41, cột B, có ghi như sau: Blàu: bétel: quoddam folium indicumin modum haederae quod continuo in fignum benevolen. Tây Sơn thêu, hoặc viết hai chữ “Tứ Linh” bằng chữ Nho.
Đến năm Mậu Tuất (1778) thì Nguyễn Nhạc lên ngôi, xưng Đế, mở kỷ nguyên Thái Đức. Suốt tám năm ấy, Nhạc cử binh đánh cựu Nguyễn, chống binh Trịnh, phải động viên rất nhiều trong dân gian. Thành ra trong dân gian mới phát xuất những ca dao nỉ non than khóc:
Tiếng ai than khóc nỉ non?
Là vợ chú lính trèo hòn Cù Mông!

Đến tháng 7 năm Bính Ngọ (1786) thì công chúa Ngọc Hân, con gái thứ 21 của vua Lê Hiến Tông (1740-1786) bấy giờ mới được 16 tuổi, vâng lệnh vua cha kết duyên với Nguyễn Huệ (Đức lệnh hay là Đức ông). Cuộc cưới gã này vì không có chuẩn bị trước, lại thêm Nam-Bắc đôi đàng, xa xôi nghìn dặm cho nên nhân sĩ Nguyễn Thời Thấu mới cảm đề thời sự mà làm một bài thơ, trong đó có mấy câu như sau:
Ngựa thồ thay mối xích thằng,
Ông Tơ, Bà Nguyệt dẫu dằng, chẳng ra!
Một ngày một vắng quê nhà.
Sáng từng từng nhớ, tối tà tà trông...

Trước đó bốn năm, vào tháng 10 năm Nhâm Dần, (1782) Nguyễn Hữu Chỉnh đang làm Hữu Tham Quân ở Nghệ An thì ở kinh đô Thăng Long có việc quân Tam Phủ nổi loạn. Chỉnh sợ vạ lây, phải đem cả gia đình vào Quy Nhơn, đầu quân anh em nhà Tây Sơn. Năm Bính Ngọ 1786, Đức Lệnh Nguyễn Huệ cùng Chỉnh đem quân ra Bắc Hà, diệt Trịnh phò Lê, rồi bỏ Chỉnh ở lại Bắc vì e ngại kinh luân, thao lược và mưu mô của Chỉnh. Sau đó, Chỉnh về lưu trấn ở Nghệ An, được vua Lê Chiêu Thống (1787-1789) vời về kinh hộ vệ và phong tước Bằng Quận Công, tung hoành như con chim Bằng, cho nên người đời lúc bây giờ cung gọi Chỉnh là con sáo.
Chỉnh tự đặt mình vào chức vụ của Trịnh, lập trại quân Vũ Thanh, lập thế tử cho con là Nguyễn Hữu Dụ, rồi sai sứ bộ Trần Công Sán vượt sông Gianh vào đòi đất Nghệ An, vốn là quê hương của dòng dõi Tây Sơn, họ Hồ (cha là Hồ Phi Phúc, mẹ Nguyễn thị Đông lúc vào ẩn tránh ở Quy Nhơn mới đổi ra họ mẹ). Trước cảnh thay lòng đổi dạ của Nguyễn Hữu Chỉnh, đối với Bắc Bình vương Nguyễn Huệ, người Bắc Hà đương thời đặt câu ca để chế giễu:
Ai đem con sáo sang sông?
Nên chi con sáo sổ lồng sáo bay!

Nay tính lại thì triều đại Tây Sơn, kể từ khi dấy nghiệp (1789) cho tới khi diệt vong (1802), được chia ra hai đời vua: Nhạc - Huệ - Lữ và Quang Toản (Cảnh Thịnh), cộng được 14 năm, sau khi phải đương đầu với nhiều địch thủ hùng mạnh như cựu Nguyễn, vua Lê, chúa Trịnh và quân Mãn Thanh, cho nên trong dân gian lúc ấy có truyền tụng hai câu:
Đầu cha lấy làm chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi!
Cha nhỏ đầu, con nhỏ chân,
Đến năm Nhâm Tuất thì chân chẳng còn!

Nếu chúng ta chiết tự những chữ chính yếu trong hai câu này thì chúng ta sẽ thấy: chữ Quang trong hiệu của cha là Quang Trung cho chữ tiểu là nhỏ ở trên đầu; còn chữ Cảnh trong hiệu của con là Cảnh Thịnh cũng có chữ tiểu là nhỏ ở dưới chân. Tính từ năm Kỷ Dậu (1789) là năm Lê mất, vua Quang Trung mới thật sự trị vì, đến năm Nhâm Tuất (1802) là năm nhà Tây Sơn bị diệt thì vừa đúng 14 năm.
Những ca dao trên kia đọc lên như là sấm ký, sấm ngữ, thường thường xuất hiện trước khi xảy ra sự việc, như là lời tiên tri của thần linh, để cho dân gian kiểm điểm mỗi khi ứng nghiệm. Và bây giờ chúng ta đương nhiên bước vào lãnh vực sấm ký có liên hệ tới nhà Tây Sơn.
Trong sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1494-1595), câu sấm đầu tiên có nói tới nhà Tây Sơn là:
Hà thời biện lại vi vương?
Thử thời Bắc tận Nam trường xuất bôn.

Thời nào mà có biện lại, tuần biện, thừa biện làm nên bậc đế vương trong lịch sử nước ta? Chỉ có thời Tây Sơn mà thôi: Nguyễn Nhạc từng làm thừa biện ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quy Nhơn, sau xưng là Tây Sơn Vương, mở đầu niên hiệu Thái Đức, lúc bây giờ chẳng những phía Bắc Lê Trịnh phải dứt mà phía Nam cựu Nguyễn cũng phải tìm đường mà chạy.
Lại thêm tám câu này trong sấm Trạng:
Chim Bằng cất cánh về đâu?
Chết tại trên đầu hai chữ Quận Công.
Bao giờ trúc mọc sang sông,
Mặt trời sẽ lại đỏ hồng non Tây.
Đoài cung một sớm đổi thay,
Chân cung sau cũng sa ngay chẳng còn.
Đầu cha lộn xuống chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi.

Những câu này được giải thích và hiểu như sau: Nguyễn Hữu Chỉnh thường tự ví mình với chim Bằng sau khi được vua Lê Chiêu Thống phong chức Đại Tư Đồ, Bằng Trung Quận Công, Chỉnh thừa thế lộng hành. Vua Quang Trung ở Huế bèn cử tướng Vũ văn Nhậm ra Bắc hạch tội bắt giết chết Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Lê Chiêu Thống cầu cứu nước Tàu. Vua Tàu bèn cử Tôn Sĩ Nghị đem quân sang nước Nam. Muốn vào thành Thăng Long, Nghị phải bắc một cái cầu nổi bằng tre. Lúc bây giờ Nguyễn Huệ mới xưng Quang Trung hoàng đế (1788), tức tốc dẫn quân ra Bắc để đánh đuổi quân Tàu và thống nhất sơn hà lần đầu tiên, cùng một năm với cách mạng Pháp (1789). Vua nhà Thanh là Càn Long phong Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương, nhờ tài ngoại giao của Ngô Thời Nhậm.
Đoài cung là phương Tây, trong kinh dịch nói là phần dưới, tức là ám chỉ Nguyễn Huệ thình lình bị chứng huyết vận, áp huyết đứt mạch máu trên đầu (hémorragie cérébrale) mà chết vào năm 1792.
Còn hai câu cuối cùng thì cũng như hai câu đã giải thích trong phần trước nói về đầu cha và chân con.
Nguyên xưa kia, vào giữa thế kỷ XVII, ông tổ bốn đời của các nhà lãnh tụ Tây Sơn ở Nghệ An, đã bị chúa Nguyễn đày vào khai phá vùng An Khê, tỉnh Bình Định, cư trú nơi ấp Tây Sơn Nhất. Nơi đây là ngã ba giao tiếp giữa người Kinh và người Thượng (gồm có người thiểu số Java và Chàm), và cũng là cái chợ trao đổi thực phẩm như gạo, bắp, muối, gạc nai, dầu, tô hạp, mật ong và trầu nguồn. Vì lẽ đó mà nhà nước có đặt sở tuần ty, trông coi việc thâu thuế, trách nhiệm luôn về an ninh, trật tự. Và Nguyễn Nhạc đã được nhà cầm quyền đương thời cử làm tuần ty, biện lại, có nhân viên thuộc hạ khá đông, vừa làm việc cho nhà nước vừa buôn bán làm ăn riêng cho mình. Rồi Nhạc đã dấy binh chống lại triều đình, sau khi đã chiêu tập binh mã khá đầy đủ. Nhận thấy núi non hiểm trở, Nhạc nảy ra ý chí hùng cứ một phương, phất cờ khởi nghĩa, và trên ngọn cờ có viết hai chữ Tứ Linh, bao gồm Long, Ly, Qui, Phượng.
Từ vùng núi về đồng bằng có Tây Sơn hạ đạo, còn từ vùng núi đi ra Bắc, theo đường Trường Sơn, thì có Tây Sơn thượng đạo, Nguyễn Nhạc có lấy một bà vợ lẽ gốc Bà Nà, bà này đã góp công tiếp tế cho nghĩa quân. Ngày nay còn có miếu thờ Cô Hầu Bà Nà, rất linh hiển. Còn Nguyễn Nhạc được người Thượng gọi là Pô Nhạc, Nguyễn Huệ được gọi là Pô Huệ. Chữ pô này thường được viết là Poh (đọc kéo dài như Pua) và cùng một nguồn gốc ngôn ngữ với chữ BuaVua của chúng ta, trong hệ thống ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asiatique) đã nói ở trên.
Ở phía trên đèo An Khê ngày nay còn có hòn đá lớn và bằng phẳng mà người Thượng gọi là Tơ Mo Poh Nhạc, có nghĩa Hòn đá Vua Nhạc. Tương truyền ngày xưa Nguyễn Nhạc thường khi qua lại nơi này hay ngồi lại nghỉ chân trên tảng đá to lớn ấy. Ngày nay dân làng còn nhắc lại sự ấy với lòng cung kính một tảng đá mà họ cho là linh thiêng.
Từ căn cứ núi rừng ấy, Tây Sơn đã hạ san năm 1771, mở cuộc trường chinh 14 năm trời (1771-1789), chiếm từng vùng, rồi thâu gồm cả nước lên ngôi cửu ngũ được 14 năm (1789-1802) thì mãn số đế nghiệp.
Trở lại Sấm Trạng Trình, chúng ta thấy ghi mấy câu hình như có liên hệ thời sự hiện đại:
Cũng có kẻ trèo non biển lội,
Lánh mình vào ở nội Ngô Tề,
Có thấy Nhân Thập đi về,
Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh.

Theo tôi, hai câu đầu ám chỉ người di cư tỵ nạn cộng sản, gồm có những người trốn đi bằng đường bộ (việt nhân, land people) và những người vượt biển trên ghe thuyền (thuyền nhân, boat people). Họ trốn ra khỏi nước để trôi giạt vào các nước lân cận, hoặc được vớt chở đi các nước xa xôi khắp năm châu. Còn hai câu sấm nối sau thì chúng ta có thể hiểu rằng sẽ có vị lãnh đạo cứu tinh là Nhân Thập (có phải chữ Nhân cộng với chữ Thập thành chữ Ngọ chăng?). Là nhân vật nào, đố ai mà biết! Câu cuối cùng Tả hữu phù trì, cây cỏ thành binh của sấm Trạng khiến tôi nhớ bài thơ cầu cơ năm 1975 của Thạch Hà và Minh Đức, có đăng trong Việt Nam Hải Ngoại, San Diego, USA năm Kỷ Mùi (1979), như sau:
Tiếu khấp hưng vong thử tự tiền,
Cửu niên bỉ cực đãi doanh niên.
Hồng quân tà ố thùy vô thức?
Nhất tịch hà năng miễn đảo điên.
Thảo mộc giai binh bình Việt quốc,
Thịnh hưng nhi lai kiến thánh hiền.
Thảm nhục thương tâm ai liệt sĩ!
Khả tri minh chủ giá kim liên.

Bài này được Thạch Hà, Minh Đức giải nghĩa như sau:
Cười khóc hưng vong là chuyện từ xưa nay vẫn có
Hãy đợi qua chín năm, đến năm thứ mười.
Ai mà không biết cộng sản là đáng ghét?
Một đêm nào đó, chúng nó không tránh được đảo điên
Khi đó thì cỏ cây sẽ là binh lính để bình định nước Việt
Mọi người sẽ hưng thịnh và gặp thánh hiền.
Chỉ buồn cho các liệt sĩ đã chết vì nước từ trước. Và khi ấy có thể biết người minh chủ như đóa sen vàng

Trong sấm Trạng Trình còn có hai câu này, thường được thiên hạ đem ra bàn luận:
Cửu cửu càn khôn dĩ định,
Thanh minh thời tiết hoa tàn.

Chúng ta thấy chữ cửu là 9 như trong bài thơ cầu cơ của Thanh Hà, Minh Đức xin vua Nguyễn Huệ khi xưa. Số 9 đánh dấu một tiết đoan trong cuộc tuần hoàn của vũ trụ, trong sự diễn tiến lịch sử của một dân tộc.
Theo ông thầy Ích thì cửu cửu là 9 lần 9 thành 81. Số này là thời kỳ đô hộ Pháp tính từ năm 1862 (hòa ước Nhâm Tuất) mất ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, tiếp đến năm 1867 thì mất luôn ba tỉnh miền Tây, cho đến năm 1945 với cuộc đảo chính Nhật, mồng 9 tháng 3 Dương lịch, và sự sụp đổ của nền đô hộ Pháp, đúng vào lúc Thanh Minh thời tiết hoa tàn. Nhưng theo tôi, cửu cửa đây cũng có thể giải thích là cứ 9 năm, 9 năm thì xảy ra một sự việc lớn, ảnh hưởng đời sống quốc gia và tương lai dân tộc.
Nhìn lại lịch sử cận đại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX tới nay, chúng ta có thể ghi những thời điểm rất quan trọng sau đây:
1907 vua Thành Thái bị truất phế đày vào Nam.
1916 vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bị đày sang đảo Réunion, cùng với vua cha (Thành Thái)
1925 vua Khải Định mất, vua Bảo Đại nối ngôi vào tháng 2 năm 1926
1936 Phong trào Bình Dân có nhiều cuộc biểu tình.
1945 đảo chánh Nhật (9/3), Việt Minh cướp chánh quyền (23/8).
1954 Hiệp định Genève (20/7) phân ra Nam Bắc. Sấm Trạng:
Trực đảo đương đầu mã vỹ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An.

1963 đảo chánh 1/11, lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa, thành lập Đệ Nhị Cộng Hòa.
1972 hòa đàm Ba Lê kết thúc ngày 31/10, hiệp định ký ngày 27/1/73... 30/4/75 Bắc Việt xâm chiếm miền Nam, gây xáo trộn lớn ở Đông Dương.
1981 cộng sản đưa miền Nam vào con đường phân hóa, bần cùng và bế tắc, thuyền nhân tràn ngập Đông Nam Á.
1990 quốc tế xét lại toàn bộ các vấn đề Đông Dương và Đông Nam Á trong chiều hướng thuận lợi cho Việt Nam Quốc Gia, ứng nghiệm hai câu:
Thảo mộc giai binh bình Việt Quốc,
Thịnh hung như lai kiến thánh hiền.

Lúc đó, cỏ cũng biến thành binh lính, hợp cùng hải ngoại hồi hương bình Việt Nam, đem lại tự do và hạnh phúc cho trăm họ.

Đặc San Lại Giang. - Xuân Bính Tý (1996)
(Trang 29-41)
0
Vó ngựa xông pha
(Dân sử thời Tây Sơn)
Hương Giang Thái văn Kiểm
 
Thân tặng Văn hữu Hồ Uyển
Dân biểu Hậu duệ Vua Quang Trung

I- Thân thế và công nghiệp nhà Tây Sơn.
1.- Địa Linh Nhân Kiệt
(Bao gồm nguồn gốc sông Lại Giang)
Một thời thơ ấu xa xưa, nhằm lúc thanh bình trước khi xảy ra biến cố lớn lao với trận thế chiến, tôi đã được may mắn theo cha đi xe đò từ Đức Phổ (Quảng Ngãi) vào Bình Định, ngang qua Sa Huỳnh, Tân Quan, Sông Lại, Phù Mỹ, Phù Cát, Gò Găng, An Nhơn, Tuy Phước, Bình Định, Quy Nhơn, rồi từ đó trở ngược lại thuê xe đò đi về phía Tây, theo Quốc lộ số 19 lên tới Sông Côn, An Khê (Tây Sơn) xuyên qua xưởng dệt Delignon ở Phú Phong, nghe tiếng máy chạy cả hàng trăm máy dệt tinh xảo với mấy trăm thợ dệt ngày đêm cần cù làm việc, cung cấp lụa là cho dân chúng Bình Phú, Khánh Thuận còn dư thì đưa vào Nam và đưa ra tới Huế cung cấp cho giới trung lưu.
Thời đó, trong dân dã, nơi đồng ruộng và trên xe đò, thường nghe hát ca dao:
Nón ngựa Gò Găng,
Tơ lụa Phú Phong,
Bún Song Thần An Thái.
Đậu ngự Nhơn Ngãi.
Dừa trái Tân Quang
[1]
Xoài tượng Hưng Long.
Mặc ai mơ táo ước hồng,
Tình quê em giữ vững lòng trước sau.

Tiếng hát quê mùa tròn ấm của cô gái Bình Định, vọng lên từ đồng quê cho tới phố phường đông đúc, xe pháo tấp nập, bán buôn hàng hóa đủ các thứ, chứng tỏ rằng Bình Định là một địa phương siêng năng và trù phú.
Đó chỉ là một nhận xét phiến diện, là vì ngoài sự cần mẫn trong thớ thịt và huyết quản, dân Bình Định cũng tỏ ra xuất sắc trong tâm tình và lý trí, trong nhiều lãnh vực khác: như là thi văn, học thuật, mỹ thuật, văn nghệ, võ thuật, bát bội... thì không nơi nào bằng, kể từ khi Đào Duy Từ (1572-1634) vượt sông Gianh tiến về Nam, truyền bá Hát Tuồng và Võ Nghệ, hai môn pháp thuật cổ truyền phát xuất từ Đàng Ngoài, được Đào Quốc Công và Chúa Sãi chung sức phát triển tại Đàng Trong, nhằm chế ngự những tham vọng của Chúa Trịnh ở phương Bắc.
Những lúc trăng lên trên vườn dừa, cô gái Bình Định cũng thấy dào dạt tâm tình, đón gió hiu hiu từ Đại dương thổi lại, xuyên qua những lá dừa ngửa nghiêng với nhạc đệm, bèn thốt lên những lời ca trữ tình rất lãng mạn:
Dưới vườn dừa lưa thưa trăng rọi,
Mảnh chắp mảnh rời, em lặn lội trong trăng,
Lội trong trăng em băng qua cồn cát,
Xào xạc bụi bờ, man mác sương sa,
Sương sa cho tới sương tan,
Tinh nồng nghĩa nặng em càng thương anh...


Sông Lại Giang
Trên kia có nhắc đến tên một con sông tên Lại mà sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi là Lại Giang, hàm ý sông này có nhiều con Rái bơi lội kiếm ăn quanh năm. Con Rái là một giống vật mà người xưa cho là linh thiêng, vì thấy nó ưa lạy, lúc tìm được mồi cá, mang lên bờ sông, đặt cá trước mặt, vái lạy rồi mới chịu ăn, như để tỏ lòng biết ơn Trời Đất đã đoái thương nó, đã tận tình giúp nó kiếm ra món ăn, nhất là những lúc cơ hàn, mùa đông giá rét.
Cho nên, sách xưa gọi giống Rái là Tế vật thú, con thú biết tế Trời với con vật đã bắt được. Cũng có sách gọi là Lại tế ngư, con Rái biết tế lạy con cá trước khi ăn, như là muốn xin lỗi nó vậy. Sách xưa cũng ghi rằng thuở trước, người đi săn bắn trong rừng, trên sông và dọc theo bờ biển mà gặp phải trường hợp này, thì dù cho gặp mùa đông giá rét, thiếu ăn, càng cảm thấy xúc động trong lòng, bèn thu xếp cung tên, quay lưng đi nơi khác, dù cho bụng đói, cũng cam tâm tha sống cho một sinh vật đang ở trong cơn ngặt nghèo! Người mà biết cư xử với loài vật như thế, với đức Nhân toàn vẹn, mới là xứng danh: Nhân Ư Vạn Vật Chí Linh! Có làm được một cử chỉ như thế thì con người mơi xứng đáng đứng trên mọi loài vật trên đời này.
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Bình Định, sông Lại Giang cũng goi là Lại Dương, ở phía Nam lỵ sở phủ Hoài Nhân, rộng 83 trượng, sông sâu nước trong, có hai nguồn: Một nguồn từ núi Man thuộc nguồn Trà Bình về phía Tây bắc huyện Bồng Sơn, chảy về phía Nam qua thủ sở bên Đốc Chính, đến thôn Thanh Lương, chuyển sang phía Đông đến bến Trường Tân (tục gọi là bến Đồng Dài, rộng hơn 20 trượng) ở đây có đồn thủ Trường Tân, có khe núi từ phía Tây nam chảy vào, lại chảy về phía Đông đến bến thôn Phú Văn: Một nguồn từ khe núi trong sách Man về phía Tây Nam huyện, chảy qua thôn Hội Đăng, các núi Tổng Vinh, Lỗ Đố và đồn thủ Đình Chỉ cũ, đến thôn Nhân Sơn, đến đây có nguồn Hạ Lý, Húc Tắc ở thôn Nghĩa Điền phía Nam ven núi chảy vào (tục gọi là nước họp), Li chảy đến thôn Hương Sơn, đến đây có đồn thủ Thượng Lý, Ô Kim thuộc thôn Nghĩa Điền, nước khe núi chảy qua thôn Bình Sơn, cùng nước Kim Sơn, Phú Hữu chảy từ phía Đông họp vào, lại chảy qua bến Đồng Khế thuộc thôn Hội Tỉnh, đến thôn Tân Thịnh, thì có nước khe núi Mạn Lăng (giáp địa với huyện Phú Mỹ) chảy vào, lại chảy qua bến Mộc Bài, rồi ngoặc về phía Đông qua thôn Phú Văn, đến thôn Trung Lương, lại chảy về phía Đông qua bến Lại Dương thuộc thôn Trung An, thì chia thành hai nhánh: một nhánh chảy về phía Đông bắc 10 dặm, qua địa phận thôn An Thái, lại chảy 6 dặm đến bến Tân Quan, lại chảy 9 dặm rồi đổ vào cửa biển Kim Bồng; một nhánh chảy về phía đông, qua bến Lại Dương làm sông Lại Dương, rồi đổ vào cửa biển An Dự. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), liệt vào hàng sông lớn, chép trong điển thờ. Lại xét: sông Tân Quan từ thôn An Thái (trước là An Quang) trở xuống, nay bồi đắp thành ruộng, chỉ còn đường cũ phỏng một trượng, nước sâu chừng một thước, mà thôi, từ chợ Lộ Ân trở xuống sâu hơn.
Thế là đất nước Việt Nam ta hình dáng như một con rồng vĩ đại đang uốn mình hai ngoai trên bán đảo Đông Dương, phía Tây trùng điệp núi non hiểm trở, với dãy Trường Sơn hùng vĩ và phía Đông là Nam Hải tiếp nối Thái Bình Dương, sóng dậy vang hùng với cá côn cá kình vẫy vùng trong biển lớn. Còn phía giữa, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, là 75 triệu dân Lạc Việt chung sống với 61 sắc tộc, Kinh Thượng đề huề, trường kỳ Nam tiến, gặp lúc sơn hà nguy biến, lúc nào cũng có anh hùng hào kiệt phất cờ gióng trống, giữ vững biên cương.
Chính trong khung cảnh địa linh nhân kiệt ấy, mà dân tộc ta trong cảnh loạn ly, tam liệt ngũ phân, đã phát sinh ra, dù trong một thời gian ngắn, một kỳ tướng Nguyễn Huệ danh bất hư truyền.
Hơn một trăm năm sau, 1886 phong trào Cần Vương lại nổi dậy nơi đây, hòa đồng với toàn dân ba miền và chiến sĩ cách mạng Mai Xuân Thưởng (1860-1887) đã để lại bài thơ trào đầy hùng khí:
Không tính làm chỉ cuộc mất còn,
Nợ trai trả đặng ấy là khôn.
Gió đưa hồn nghĩa gươm ba thước,
Đá tạc lòng trung núi mấy hòn.
Tái ngắt một gian xương tợ giá.
Đỏ lòa bia sắt máu là son.
Rồi đây ngọc luật đưa Xuân lại,
Một gốc Mai già nảy rậm non.


2.- Quê hương và gia thế Tây Sơn
Chúng ta có thể lấy năm 1558 là thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1524-1613) rời bỏ đất Bắc để tránh né Chúa Trịnh, với một đoàn người tùy tàng khá đông tiến về Nam, vượt khỏi sông Gianh để kiến lập một giang sơn mới, dưới sự điều khiển của 9 Chúa kế tiếp từ đó cho tới năm 1777 đánh dấu cuối cùng của chúa Định Vương (1765-1777), thuộc nhà Nguyễn sơ, như một thời đại Nam Bắc phân tranh, cộng cả thảy là 219 năm.
Thêm một thời kỳ phân tranh nói trên, có cuộc khởi binh của Nguyễn Nhạc từ năm 1771 và cuộc dây nghiệp của nhà Nguyễn Tây Sơn (1778-1801), cộng là 14 năm xưng đế cho câu sấm:
“Đầu cha lấy làm chân con,
Mười bốn năm tròn hết số thời thôi”.

Chiết tự chữ Hán, trên đầu chữ Quang (Trung) 光 中 và dưới chân chữ Cảnh (Thịnh), 景 盛 có chữ Tiểu 小. Có nghĩa là “nhỏ bé và ngắn ngủi” (đoản mệnh).
Thời kỳ loạn lạc Nam Bắc phân tranh vào giữa thế kỷ 17, quân nhà Nguyễn gốc Gia Miêu (Thanh Hóa), vượt sông Gianh tiến vào Nghệ An, chiếm bảy huyện. Sau đó do sự tranh chấp hai tướng Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật, quân Nguyễn phải triệt thoái khỏi Nghệ An. Và họ mang theo một số tù binh và nông dân vào Nam, như một thứ chiến lợi phẩm, hoặc là một loại dân công, cần thiết cho sự khai khẩn đất đai cho vùng Trung Nam.
Trong số người bắt buộc di dân ấy, thuộc huyện Hưng Nguyên (Nghệ An), có ông tổ bốn đời của Nguyễn Huệ, vốn họ Hồ. Vào năm 1786, Nguyễn Huệ, ông “Tướng Nhà Trời” (theo lời dân gian gọi hồi đó, kể cả người Tàu gọi ông là “Thiên Tướng”, còn người Chàm gọi tên là Poh Huệ, tức là vua Huệ), bèn dẫn quân ra xứ Nghệ, tìm kiếm cội nguồn gia tộc và nhận ra gia phả họ Hồ ở làng Thái Lão, huyện Hưng Nguyên làm đồng tộc, chọn Thái Lão làm Tổ quán. Ba năm sau, trong lúc tiến quân ra Bắc đánh Tàu, Nguyễn Huệ truyền lịnh cho dân làng Thái Lão, tu tạo Tổ miếu để phụng tự. Như thế thì họ Hồ rất có thể cùng họ với Hồ Quý Ly, và con là Hồ Hán Thương của Nhà Hồ (1400-1407), rồi trải qua nhiều biến cố lịch sử, con cháu đã di tản từ Bắc vào Nam. Ngoài ra, Hồ Quý Ly xưng là hậu duệ của vua Đường Ngu bên Tàu, cho nên đặt nước Nam là Đại Ngu.
Những người họ Hồ ấy, do lệnh của Chúa Nguyễn mà di cư vào miền Bình Phú, tức là vùng Vijaya và miền Khánh Thuận, tức là vùng Kauthara-Panduranga, trong đó thổ dân Chàm chia ra đại khái làm hai phe: phe Dừa và phe Cau. Phe Dừa phía Bắc, phe Cau phía Nam. Phe Dừa (Clan du Cocotier) khởi đầu từ Tân Quan (Bình Định) chạy vô tới Sông cầu, còn phe Cau (Clan de l’Aréquier), bao gồm phần đất từ Ba Ngòi chạy vô thấu Phan Thiết. Dân ca còn ghi lại vài câu như sau:
Công đâu, công uổng công thừa?
Hơi đâu gánh nước tưới dừa Tân Quan!

Đại ý người ta nói dừa Tân Quan nhiều vô số kể, hơi sức đâu mà tưới! Người ta cũng thừa biết rằng loại dừa tự nó mọc nhiều rễ sâu xuống đất, từ đó hút nước tự nuôi chóng lớn và vững vàng chống đỡ với nắng hạn gió mưa, bão táp quá nhiều dọc miền duyên hải.
Nói về Cau thì tự nhiên dính với Trầu, vì theo cổ tích thì từ hòn đá vôi, mọc lên cây cau và từ gốc cây cau mọc lên cây trầu yểu điệu, uyển chuyển bò lên quấn quít thân cây cau cho tới đọt, từ đọt ấy tỏa ra rất nhiều lá sum suê quây quần bên trên ngọn, như cái lọng che nắng đội mưa cho cả gia đình, tuy ba là một.
Truyện Trầu Cau do tình cờ của lịch sử, mà sẽ dính tới họ Hồ, đặc biệt là Nguyễn Nhạc, mà chúng ta sẽ nói sau. Bây giờ thì nói theo sử sách, Hồ Phi Phúc đã lấy tên vợ là Nguyễn thị Đồng, là người cùng xã Phú Lạc, cách xa với trang trại Tây Sơn, huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định. Địa danh này do vua Gia Long, sau khi dẹp xong Tây Sơn, mới đặt tên là Bình Định. Còn Quy Nhơn là phiên âm địa danh Chiêm ngữ Cri Viny, còn lại địa danh Chiêm ngữ Cri Bannoy, đã được Việt hóa thành Trà Bàn, hoặc Chà Bàn, rồi phiên âm ra Hán tự thành Đồ Bàn, là vì lầm lẫn chữ Trà... và chữ Đồ... viết hơi giống nhau, chữ này chỉ hơn chữ kia chỉ một nét mà thôi!
Tuy sống lâu ở nơi này, mà Hồ Phi Phúc vẫn nhớ thương quê cha đất tổ là xứ Nghệ An, cho nên lúc vợ ông sinh ra ba người con trai liên tiếp, ông đã có ý định đặt tên cho ba con với ba ngọn núi của xứ sông Hồng, núi Lam, gọi là Đại Nhạc, Đại Huệ và Lữ Sơn, với họ vợ mình, tức là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Thế là trong số 99 ngọn Hồng Lĩnh, họ Hồ đã chọn ba ngọn đặc sắc nhất, để đặt tên cho ba con trai nối dõi tông đường.
Theo giáo sư Phan Huy Lê, “từ ấp Tây Sơn thuộc Thượng Đạo (đường đi xuyên Cao nguyên) Hồ Phi Phúc đã dọn về quê ở Phú Lạc, rồi lại dời sang Kiên Mỹ. Phú Lạc, Kiên Mỹ và Thuận Nhãi là ấp Kiên Thành ngày xưa, nay thuộc xã Bình Thành, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
Miền này ở dưới đèo An Khê, và còn được gọi là Tây Sơn Hạ Đạo, tức là quê hương thứ hai trên đất Đàng Trong và là nơi sinh trưởng của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Dưới thời nhà Nguyễn, dân làng Kiên Mỹ vẫn bí mật thờ cúng ba vị lãnh tụ Tay Sơn. Gần đây có bến Trường Trầu, là nơi Biện Nhạc vừa làm Biện Lại lo việc tuần tiễu (Cảnh sát) canh phòng thu thuế cho Nhà Nước thuở đó, vừa buôn trầu nguồn xuôi ngược trên dòng Sông Côn”.
Nơi đây còn truyền lại câu hò rất tình tứ giữa trai thanh gái lịch:
Cây me bến cũ đò xưa
Dẫu không tình nghĩa
Thì cũng đón đưa cho trọn tình!

Nói tới trầu mà không nhắc tới cau cũng chưa đủ, cho nên thời tiền chiến, lúc tôi theo cha vào Tây Sơn thăm cô ruột “lấy chồng Bình Định cho dài đường đi” làm Lãnh Binh thành ấy, rồi về hưu, tôi đã ghi chép mấy cây hò dân dã rất ngộ nghĩnh như sau:
Trai hò: Bánh cả mâm, sao em kêu là bánh ít?
Trầu cả chợ, sao em gọi là trầu không?
Trai nam nhi không đối đặng,
Xin gái má hồng thử đối coi!

Cô gái suy nghĩ hồi lâu, đành chịu bí bèn nảy ra ý kiến hát một bài đố rắc rối cũng không kém, để thử tài trai:
Trái cau lửa, sao anh gọi là cau không nóng?
Tóc dợn sóng, sao mà sóng không trào?
Trai nam nhi mà đối đặng.
Gái má đào xin theo.

Lại thêm hai câu này nữa, mô tả một vài khía cạnh đặc trưng của xã hội thời xưa ấy, nhắc lại một trường hợp rất khó xử, mà rốt cuộc cũng tìm ra giải pháp ổn thỏa:
Mẹ ơi ông Chánh đòi hầu.
Ông Phó đòi vợ, biết nhận cau trầu tay ai?

Cả hai phía đều tranh giành như Sơn Tinh và Thủy Tinh đời thượng cổ. Cả hai đều có khuyết điểm và ưu điểm. Rốt cuộc mẹ cô đã suy nghĩ và cân nhắc kỹ lưỡng về trường hợp gay cấn này, bèn khuyên cô phải chịu uy thế và nhận cau trầu hầu ông Chánh! Cô gái cưng của mẹ đã suốt đêm trằn trọc suy tư, nghĩ đi nghĩ lại nát óc, không tài nào ngủ được. Cô thao thức suốt đêm tới sáng, thấy mặt trời ló dạng qua song cửa sổ và các tàu lá cau run rẩy với ngọn gió đông. Cô bèn ngồi dậy, qua phòng bên kia gọi mẹ:
Mẹ ơi! Ông Chánh đòi hầu.
Mua chanh chùm kết gội đầu cho trơn!

Cả ba anh em Tây Sơn đều có vợ cả và nhiều vợ hầu. Riêng Nguyễn Nhạc có một bà vợ hầu gốc thượng du Ba Na (Bahnar), còn Nguyễn Huệ làm vua như chúng ta đều biết, ra Bắc Hà diệt Trịnh phò Lê, đã cưới thêm bà vợ Bắc là Ngọc Hân công chúa, gái cưng của vua Lê Hiển Tông. Có người nói rằng gia đình của Tây Sơn có tới bảy anh chị em. Người anh Cả mà phương Nam gọi là anh Hai, là Nguyễn Nhạc thì dân gọi là anh Hai Trầu, tiếp theo Nguyễn Huệ được dân gọi là chú Ba Thơm (hoa huệ vốn là hoa thơm, như lời giải thích của Huệ với thầy giáo Hiến), còn lại người thứ ba (út), thì gọi là thầy Tu Lữ, vì thời kỳ niên thiếu Lữ có theo đạo sĩ học Lão giáo, là phép tu luyện bí truyền.
Trong số mấy anh em, Nhạc hay chữ nho nhất đám, viết chữ đẹp và uy dũng, xem người và chữ biết là tay hảo hớn, ưa chỉ huy và xếp đặc. Còn Nguyễn Huệ thì tướng mạo rất uy nghi, da mặt hơi mụn, tóc đen và hơn quăn, cặp mắt sáng ngời như tỏa điện quang, tiếng nói như sấm vang, thân hình vạm vỡ, da hơi ngăm, điển hình giống như người Mường Lạc đã hùng cứ miền Bắc Đông Dương, cũng như Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Mai Hắc Đế, Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm... đều là giống Mường Lạc.
Bà vợ đầu tiên của Nguyễn Huệ là Phạm thị Liên quê ở Quy Nhơn, và một bà họ Bùi là anh em cùng cha khác mẹ với quan Thái sư Bùi Khắc Tuyên và quan Hình bộ Thượng thư Bùi văn Nhật trong thịnh thời Tây Sơn. Năm 30 tuổi (1789) bà được phong Chính cung Hoàng hậu. Như thế là bà họ Phạm sinh vào khoảng 1759, tức kém thua Nguyễn Huệ phỏng chừng 6-7 tuổi.
Bà họ Bùi đã có với Huệ năm con: ba trai hai gái. Ba con trai là Quang Toản, Quang Bàn, Quang Thiệu. Quang Toản được lập làm Thế Tử, người kế sự nghiệp hiển hách của vua Quang Trung, thì không được mấy xuất sắc. Bà họ Phạm mất ngày 29 tháng 3 và chôn ngày 25 tháng 6 năm 1791, mộ chôn dưới chân núi Kim Phụng, phía Tây cố đô Huế.
Theo Giáo chủ Serad viết thư ngày 30 tháng 4 năm 1791, còn tàng trữ nơi Văn khố Hội Truyền Giáo Hải Ngoại, tập Tonkin AMEP, trang 1433, ở 128 Rue du Bac, Paris Quận 7, thì dân Bắc Hà được lệnh cung tiến về Phú Xuân các thứ vải sáp, trầm hương, nhựa nhám... để chế thành chất “matis” thật tốt bền và khử trùng, ướp xác cho lâu bền.
Cũng do sự mất mát này, mà vua Quang Trung, vì quá thương tiếc bà vợ từ thuở hàn vi tần tảo sớm hôm, lắm lúc sinh ra cuồng nộ, khiến cho một số giáo sĩ Tây phương lúc đó đang truyền đạo ở Phú Xuân rất lo sợ cho thân phận mình.

3.- Nguyễn Huệ cưới Công chúa Ngọc Hân.
Mùa Hè năm 1786, sau khi đánh chiếm Phú Xuân, Nguyễn Huệ mang đại quân ra Bắc với danh nghĩa phò Lê diệt Trịnh và ông đã thực hiện nhanh chóng sứ mạng đó.
Vua Lê Hiển Tông, sau 47 năm làm vua bù nhìn, đón nhận sự chiến thắng của Nguyễn Huệ một cách nửa mừng mà nửa lại lo. Đồng thời vua đã phong cho Nguyễn Huệ làm Nguyên Soái Phù Chính Dực Vũ Uy Quốc Công.
Rồi qua trung gian của Nguyễn Hữu Chỉnh đã biết rằng vua Lê đã có tới sáu người con gái, mà người xinh đẹp đoan trang và học vấn đầy đủ nhất là Công chúa Ngọc Hân. Nguyễn Huệ rất bằng lòng cưới Ngọc Hân, đưa về Huế sủng ái nồng nàn, chung sống với bà họ Phạm cho tới năm 1791, tháng 6 lúc bà ta mãn phần. Hồi đó Nguyễn Huệ được vua Lê trao cho Phủ Lớn Tây Long gần Hồ Tây, và nơi đây sẽ là nơi tụ hội cho cặp uyên ương trai tài gái sắc.
Mấy hôm sau thì Nguyễn Huệ và Ngọc Hân bái từ
vua cha, và từ đó cuộc đời của một tiểu thư cành vàng lá ngọc đã gắn liền với sự nghiệp áo vải cờ đào của người anh hào tuấn kiệt xuất thân từ nơi thôn dã. Sau khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế năm 1789, Công chúa Ngọc Hân được phong làm Bắc Cung hoàng hậu. Sau sáu năm hương lửa thì vua Quang Trung băng hà (16-9-1792), rồi bảy năm sau thì bà cũng mất (1799), được vua con là Cảnh Thịnh truy tặng miếu hiệu Như Ý Trang Thận Trinh Thất Vũ Hoàng Hậu.
Thuở sinh tiền, Vũ Hoàng Hậu, mặc dầu sinh ra nơi điện ngọc đền vàng, lầu son gác tía, vẫn ghi nhớ lời mẹ dạy khi nhón gót lên xe hoa để về Phủ Tây Long nơi Hà thành ngàn năm văn vật.
Trai tay không cũng không nhờ vợ
Gái chín đụn cũng phải nhờ chồng!

Ngọc Hân có hai con với Quang Trung: Một trai và một gái. Chúng ta biết rằng: Ngoài bài “Ai Tư Vãn”, một áng văn tuyệt tác của thời Tây Sơn và bài “Văn Tế vua Quang Trung”, cả hai bài đều thống thiết và xúc động đến tâm can.
Ngọc Hân còn làm bài “Chúc Thọ Vua Quang Trung” năm 40 tuổi lúc đình thần bá quan văn võ tổ chức lễ Tứ Tuần Đại Khánh cho nhà vua tại Phú Xuân vào năm 1792. Và đây là một mẫu văn trích bài Chúc Thọ bằng chữ Nôm:
“Nay gặp khánh tiết mừng tuổi thọ Hoàng đế, khúc nhạc thanh tương ưng luật hợp tiết, còn hoa đang độ, cây ngọc đưa hương, cây bích đào dâng quả trường sinh, trăng bạc ngả ánh trong hồ băng lại nở hoa buổi sáng.
Mây mà sắc tía nồng đượm mà khuê phòng hương nức, khí lành sáng tỏ mà áo xiêm thêm sắc, kính cẩn dâng bài biểu chúc mừng.
Cúi nghĩ lấy khí lành làm điểm tốt, tưng bừng màu sắc con phụng con lân, đầy khắp thiên hạ về cõi hư không sao Dục sao Chẩn. Điện Quế truyền hương, sân tiên tràn điều mừng.
Kính nghĩ Hoàng Đế Bệ Hạ, tài cao thiên cổ, đức hợp cả trời đất. Tuân mệnh trời trừ gian diệt bạo, vũ công chấn động cả muôn phương, hùng khí Tây Sơn đã tạo nên sự nghiệp đế vương, ở cõi giao dã phía đông đã định xong quy mô của nước nhà. Mặt trời đỏ rạng mà nghiêm đáng sao Thọ tinh chiếu sáng mà thiên hạ đều cùng ngưỡng lên trông mong mường tựa sao Xu sao Bắc Đẩu điện vây, ánh nắng nổi lên chen mừng Vạn Thọ. Cửa trời mây mờ sắc trông thấu triệt mặt kính ngàn thu. Bốn mùa thường điều hòa khiến cái đức của vua đẹp như ngọc và sáng như đuốc, trong muôn năm mãi chiếc âu vàng.
Hạ thần đức thẹn với thơ Quan Thư, ngượng ngùng với Cựu Mộc. Trong nội thất theo hầu được ngồi cùng bên, với áo xiêm lộng lẫy.
Vái Bệ Hạ mong tuổi tính bằng thiên niên kỷ, khởi đầu là mùa xuân tám ngàn năm. Chốn nội tình kề sát nghe nhạc thiều, cầu mong phúc âm nước Nhà được vạn năm vô hạn.
Ngọc Hân kính bái”.

Ngoài ra vua Lê Hiển Tông đã gả công chúa út là Ngọc Bình cho Nguyễn Quang Toản. Nhà Tây Sơn mất Nguyễn Ánh đưa Ngọc Bình vào Huế làm thứ phi, sau này sinh Quảng Oai Quận Công và Thường Tín Quận Công. Do đó mà dân gian đã truyền ca dao:
Số đâu có số lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua!


4.- Những bí mật và nghi vấn về cái chết của vua Quang Trung:
Trong bài này, chúng tôi không muốn nhắc lại công nghiệp hiển hách và chiến công oanh liệt của Nguyễn Huệ Quang Trung mà người đương thời, kể cả người Tàu, ưa gọi là ông “Tướng Nhà Trời” tức là Thiên Tướng, vì lẽ sử sách Ta, Tàu và Tây đã viết quá nhiều rồi, hầu như không còn gì để nói thêm.
Riêng về cái chết của Nguyễn Huệ năm 1792 lúc vừa tròn 40 tuổi thì nên tìm hiểu thêm. Sử gia nhà Nguyễn gọi chứng bệnh xâm xoàng của Nguyễn Huệ là huyết vựng. Ngày nay chúng ta có thể hiểu rằng đó là do áp huyết cao làm cho xây xẩm mặt mày, ngã tê như thể trúng gió nặng, có thể bất tỉnh, đứt mạch máu, gây xuất huyết não, bán thân bất toại (hémiplégie), hoặc đứng tim mà chết.
Hình như chứng bệnh này đã phát hiện từ lâu, do những lo lắng về quốc sự, việc chinh chiến không ngừng giữa Tây Sơn và Chúa Nguyễn, kể cả Nguyễn Nhạc nữa. Đúng là thời kỳ tam liệt ngũ phân của nước Nam ta. Lại có giả thuyết về cái chết của Nguyễn Huệ là có thể do thân thuộc của Ngọc Hân từ ngoài Bắc vào, tìm cách đầu độc vua Quang Trung, nhất là sau khi có những vận động bằng thơ văn chính thức của vua gửi sang Tàu cho vua Càn Long xin cưới hỏi Công chúa nhà Thanh và xin hoàn lại Lưỡng Quảng cho nước Nam ta, là vì xứ ấy xưa kia thuộc quyền Triệu Việt, với quốc hiệu là Nam Việt.
Lại còn có một giả thuyết thứ hai nữa là: Năm 1789, khi Thành Lâm sứ giả được nhà Thanh cử sang Thăng Long trao sắc phong cho vua Quang Trung, Càn Long có tặng cho vua Quang Trung chiếc áo màu có thêu kim tuyến bảy chữ: “Xa Tâm Chiết Trục Đa Điền Thử” không ai hiểu ý nghĩa của các đại tự trên chiếc áo đó. Cho đến năm 1792, khi vua Quang Trung chết, Càn Long có làm một bài thơ tặng, trong đó có câu thứ bảy là: “Thất Tự Bất Năng Bãi Ai Thuật” có nghĩa là bảy chữ không dứt được niềm xót xa của Trẫm. Cũng không hiểu được bảy chữ gì đã gây ra niềm xót xa của vua Càn Long? Và tại sao vua Càn Long cứ nhắc mãi chiếc áo?
Nhớ lại năm 1789, khi tặng áo, Càn Long có thơ trong đó có câu: “Phát Dị Nam Bang Y Dũ Quan” có nghĩa là mũ áo không khác gì nước Nam.
Mãi về sau những nhà chiết tự mới đoán ra thâm ý của vua Càn Long đã dùng lời thơ mà nhắc khéo việc vua nước Nam khỏi phải cống hiến người vàng tử trận Chi Lăng (1427), đời Lê đã giết hại Liễu Thăng, chưa nói chi tới việc nước Nam gửi người làm vua giả (Phạm Công Trị 1790) sang Tàu yết kiến vua Càn Long, vua Tàu tưởng thật, vẫn cung cấp mọi tiện nghi và rất nhiều tặng phẩm cho vua ta.
Sau cùng, nhà chiết tự đã đoán ra ý nghĩa thâm sâu của bảy chữ “Xa Tâm Chiết Trụ Đa Điền Thử” có nghĩa là chữ Xa (Xe), và chữ Tâm (Lòng) ghép lại trên dưới thành chữ Huệ Chiết Trục là gãy trục (xe nhà vua), còn ruộng thì nhiều chuột (Đa Điền Thử), ý nói rằng Huệ gãy trục xe, sụp đổ trong năm Chuột, tức là năm Nhâm Tý. Theo Tây Sơn Thực Lục, Lê Quý Dật Sử và Phan Huy Ích trong bài thơ “Thu Phụng Quốc Tang Cảm Thuật” đều ghi ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Tuất (19-9-1792) là ngày quy tiên của Quang Trung Nguyễn Huệ.
Chúng ta không dám nghĩ vua Càn Long có bùa phép gì nhưng rất có thể vua Càn Long, hoặc cận thần của ông, là một nhà thuật số tiên tri giỏi, đã cảm hoài đoản mệnh của vua Quang Trung.

Paris (Chiêu Anh Các)
Nguyên Đán Quý Mùi, Février 2003
-----------------
[1] Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, “Tân Quan” chứ không phải “Tam Quan”. Có lẽ lâu ngày chữ Tân Quan biến đổi thành chữ Tam Quan.
0
Quang Trung đại đế:
Sự nghiệp chung và tình cảm riêng
Nguyễn An Phong

Bình Định cái Nôi phát khởi của phong trào Tây Sơn, thế đất lớn của dân tộc. Vào hậu bán thế kỷ 18, do khí thiêng sông núi của vùng đất địa linh, nhân kiệt kết tụ thành, đã sản sinh và hun đúc nên một bậc anh hùng kiệt xuất Quang Trung đại đế. Ngài đã tung hoành từ Nam ra Bắc, nối liền ba miền đất nước từ Gia Định cho đến Phú Xuân và Thăng Long, thành một quốc gia Việt Nam thống nhất đầu tiên.
Bình Định, rải rác đó đây khắp tỉnh đều có dấu ấn sâu đậm và những di tích lịch sử của nhà Nguyễn Tây Sơn. Đặc biệt là Hoàng đế Thành của vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, ngôi nhà lá nhỏ ở thôn Kiên Mỹ, Bình Khê bên cạnh bờ sông Côn, nơi ba anh em Tây Sơn đã chào đời vào năm 1753 và Bến Trầu, nơi mà Nguyễn Nhạc đã đưa đón khách trong những chuyến đi buôn lịch sử của cái thời hùng khí Tây Sơn còn đang tiềm ẩn. Ở Phú Lạc hiện còn một cái đình nhỏ do dân Bình Khê dựng lên để thờ ba anh em Tây Sơn và trong công viên, vẫn còn cây me cổ thụ và giếng nước lâu đời, là chứng tích quê hương ngày thơ ấu của vị anh hùng dân tộc. Cây me, giếng nước, bến Trầu vẫn tồn tại với nắng mưa và hưng phế của thời gian như một niềm thủy chung qua bao đời của toàn dân Bình Định.
Cây me cũ, bến Trầu xưa,
Không nên tình nghĩa, thì cũng đón đưa cho trọn niềm.

Quang Trung đại đế đã gắn liền với địa danh Tây Sơn và Tây Sơn vĩnh viễn ngàn đời vẫn là niềm kiêu hãnh vô biên của con dân Bình Định và của toàn dân tộc Việt Nam.
Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định, cầm roi đi quyền

Bình Định có nhiều sông và núi, phải chăng vì núi không cao và sông không sâu nên Bình Định đã phát về võ mạnh hơn là phát văn. Nói như thế, không có nghĩa Bình Định không có văn tài, một ông tổ hát bội Đào Tấn, một Quách Tấn, một Chế Lan Viên, một Hàn Mặc Tử rồi một Võ Phiến, một Nguyễn Mộng Giác, và một Tạ Chí Đại Trường như là những ngôi sao xa lạ và sáng chói trong vòm trời văn học Việt Nam.
Quang Trung người của lịch sử, một bậc anh hùng cái thế sống giữa hào quang rực rỡ của chiến thắng Đống Đa, không phải là điều để chúng ta bàn luận. Nhưng, nhân kỷ niệm lần thứ 207 Quang Trung đại thắng quân Thanh, chúng ta cùng nhau ôn lại cuộc tấn công thần tốc, chiến tích bình Thanh và sự nghiệp xây dựng đất nước của Ngài như ôn lại một niềm hãnh diện và tự hào của dân tộc và đồng thời cũng rút ra những bài học đoàn kết trong giai đoạn đánh đuổi ngoại xâm và xây dựng đất nước trong giai đoạn hòa bình.
Nhắc nhở giai đoạn lịch sử vẻ vang và oanh liệt này, vì nó đã gắn liền một cách sâu đậm với dòng sinh mệnh của dân tộc chúng ta, chỉ muốn soi rọi thêm một chút ánh sáng vào thời kỳ huy hoàng nhất, nhưng cũng ít được biết nhất trong dòng lịch sử cận đại vì chính sách trả thù nhỏ nhen của triều Nguyễn Gia Long. Họ đã thủ tiêu tận diệt, bôi xóa, vùi lấp và bưng bít toàn bộ di tích, di liệu và sử liệu của nhà Nguyễn Tây Sơn. Ước gì, mỗi năm các Hội Ái Hữu Đồng Hương Bình Định hay các sinh viên ban cao học, tiến sĩ tại các đại học, chọn một góc cạnh nào đó của phong trào Tây Sơn để làm chủ đề cho các đặc san Xuân của hội hoặc làm đề tài nghiên cứu cho luận án sử học, như anh Yokimoto, một sinh viên của trường Đại học Đông Kinh ở Nhật Bản, cách đây hơn mười năm đã xin chiếu khán đáp máy bay tới Việt Nam và tìm đến Gò Đống Đa, để tận mắt chiêm ngưỡng và nghiên cứu, làm thế nào mà Đại đế Quang Trung lãnh đạo quân dân Việt Nam, chỉ mất có 10 ngày đã phá tan 40 vạn quân phu Mãn Thanh, quét sạch bọn chúng ra khỏi bờ cõi Việt Nam.
Quang Trung đại đế mất đi, một mất mát to lớn của triều đại Tây Sơn và cả của dân tộc không lấy gì bù đắp... Ngài mất đi, như một ngôi sao sáng của vòm trời Việt Nam vừa chợt tắt, hoài bão xây dựng đất nước phú cường và đòi lại bảy châu ở Hưng Hóa đành phải bỏ dở dang, để lại muôn vàn khó khăn cho hậu thế. Núi sông còn đó, con cháu của Ngài còn đây, hãy vững niềm tin nhìn vào con đường trước mặt, vì những tấm gương anh hùng thời nào cũng có, họ sẽ nối bước Quang Trung mà xả thân hy sinh cho tiền đồ dân tộc. Lịch sử đang chuyển mình, những Quang Trung thời đại rồi đây sẽ xuất hiện.
Quang Trung là một anh hùng cái thế trong lịch sử, đó không phải là điều để bàn luận... Vậy chúng ta thử lạm bàn xem về cái tình cảm riêng của vị anh hùng dân tộc có một không hai này trong lịch sử Việt Nam, bằng vào những phát kiến mới về lăng mộ, về những người con và về những bà phi của Ngài.
Với quan niệm đa thê của người xưa, vua chúa thường có nhiều cung phi, nên Quang Trung cũng không ra ngoài cái thông lệ ấy. Nhưng nếu chúng ta tìm thấy thêm một số bà phi của Ngài thì sẽ cảm thấy thích thú và ngạc nhiên hơn, nhưng không nỡ hẹp hòi mà chê trách. Là một vĩ nhân thường thì có cuộc sống rất phi thường và trong tình cảm thì có lắm vấn đề như đa tình, lãng mạn... Nhưng với Quang Trung có một điều làm cho chúng ta thán phục là Ngài đã lập lên hai Hoàng hậu là Chánh cung Hoàng hậu Phạm thị Liên (theo Nhà Tây Sơn của Quách Tấn) và Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân. Ngoài ra, Ngài còn ngỏ ý cầu hôn với Công chúa nhà Thanh của Trung Quốc.
Trong sử sách chỉ ghi lại Quang Trung có hai người vợ là:
- Chánh cung Hoàng hậu họ Phạm:
Không ai biết được Nguyễn Huệ lập gia đình năm nào, nhưng chỉ biết rằng trong suốt chặng đường đánh Nam dẹp Bắc, vì dân vì nước Ngài đã có một người vợ họ Phạm quê ở Bình Định, là anh em cùng cha khác mẹ với Thái sư Bùi Đắc Tuyên và quan Hình bộ Thượng thư Bùi văn Nhật.
Theo Tây Sơn Tiềm Long Lục thì Nguyễn Huệ lấy bà họ Phạm năm 16 tuổi, đến năm 1789 thì được phong làm Hoàng hậu (30 tuổi). Bà Chánh cung họ Phạm có với Nguyễn Huệ ba trai và hai gái là Quang Toản được phong làm Thế tử, Quang Bàn được vua Cảnh Thịnh phong làm Tuyên Công Lãnh Đốc trấn Thanh Hóa và Quang Thiệu được phong làm Thái Tế. Còn hai người con gái thì một gả cho Phò mã Nguyễn văn Trị và một người nữa gả cho Nguyễn Phước Tư, có liên hệ xa gần với Nguyễn Ánh, ông là cháu sáu đời của Nguyễn Uông, anh ruột của Chúa Nguyễn Hoàng.
Sau một cơn bạo bệnh năm 1791, bà Chánh cung từ trần và chôn ở dưới chân núi Kim Phụng, cạnh thành phố Huế. được suy tôn miếu hiệu là: Nhân Cung Đoan Tĩnh, Trinh Thục Như Thuần Vũ Hoàng Chánh Hậu.
- Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Mùa hè năm 1786 lấy danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh, Nguyễn Huệ đánh chiếm Phú Xuân và mang lại một nền nhất thống quyền hành cho vua Lê Hiển Tông. Qua sự mai mối chớp nhoáng của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ đã cưới cô con gái thứ chín mới vừa tròn 16 tuổi của vua Hiển Tông. Để rồi cuộc đời của Ngọc Hân công chúa đã vĩnh viễn gắn liền với sự nghiệp vĩ đại của vị anh hùng non Tây áo vải cờ đào.
Sau khi lên ngôi năm 1789, Quang Trung đã phong cho Ngọc Hân công chúa làm Bắc cung Hoàng hậu. Bà đã có với vua Quang Trung một người con trai là Nguyễn văn Đức, và một con gái là Nguyễn thị Ngọc. Lúc chết được tôn miếu hiệu là: Như ý Trang Thận Trinh Nhất Võ hoàng hậu.
- Còn bao nhiêu bà thứ phi nữa:
Như ta đã thấy, ngoài hai bà Chánh cung Hoàng hậu họ Phạm ở Quy Nhơn và Bắc cung Hoàng hậu Lê Ngọc Hân ở Thăng Long mà sách sử đã thường nhắc đến. Trên thực tế, vua Quang Trung còn bao nhiêu bà thứ phi nữa? Theo như những phát kiến mới. Ngài đã có ít nhất là ba bà vợ nữa.
- Bà Thứ phi Nguyễn thị Bích:
Theo như tôn phổ dòng họ Nguyễn viết bằng chữ Hán; ở làng Mỹ Chánh, huyện Hải Lăng, Quảng Trị thì cô con gái út của ông Nguyễn văn Cẩn (1712-1771 giữ một chức quan nhỏ vào mạt kỳ thời chúa Nguyễn ở Phú Xuân) và bà Nguyễn thị Ai (1714-1772) đã gả cho vua Quang Trung.
Nguyên văn chữ Hán ghi:
Nguyễn thị Bích giá vu Quang Trung hoàng đế bổn thôn xuất đinh, tịch tự thử thủy tốt vu cửu nguyệt. Sơ thập nhật, mộ tại Vĩnh Ân thôn, gò Thỏ xứ.
Khi nhà Tây Sơn sụp đổ bà Nguyễn thị Bích đã trốn về Vĩnh Ân, huyện Phù Cát. Như vậy bà là nhân chứng cuối cùng của gia đình Tây Sơn, đã chứng kiến trọn vẹn trang sử đầy bi hùng của triều đại Tây Sơn dưới thời huy hoàng của vua Quang Trung và dưới thời suy tàn của vua Cảnh Thịnh. Bà Nguyễn thị Bích có một con trai với vua Quang Trung, nhưng không biết có còn được sống sót sau những năm tháng bị vua Gia Long truy lùng và tận diệt hay không? Đó là một câu hỏi được nêu lên về khả năng tìm kiếm dòng máu còn sót lại của vị anh hùng dân tộc ngay trên chính quê hương của Ngài.
- Bà thứ phi Trần thị Qụy:
Theo như gia phả họ Trần ở Hội An Quảng Nam cho biết: Thủy tổ họ Trần có nguồn gốc ở Thăng Long. Đến đời thứ năm sinh ra ông Trần Công Thành và ông sinh ra bảy người con, có một người con gái là bà Trần thị Qụy. Quý phi của vua Quang Trung. Khi nhà Tây Sơn thất thế, bà đã bị Nguyễn Ánh xử tử hình tại đất Kim Bồng (nay là xã Cẩm Kim, thị xã Hội An) bà bị chém đầu rồi thả trôi sông, thi hài của bà được dân làng bí mật vớt lên khâm liệm và mai táng. Bia mộ còn ở xứ Trà Quân, xã Cẩm Thanh, Quảng Nam. Hiện tấm bia trên mộ còn khắc các chữ: Nam Cố, Đông Châu Tiền Triều Hoàng Hậu Thứ Phi Tự Qụy - Trần Tổ Cô Mộ. Mậu Tuất Hạ, Nguyệt Nhật Kiết.
- Bà Thứ phi họ Lê:
Bản gia phả và văn tế của Ngài Thi Tổ dòng họ Nguyễn có ghi:
Ngài thỉ tổ ta có một người họ Lê, quán tỉnh Quảng Ngãi, huyện Mộ Đức, làng Bồ Đề. Ngài là công thần nhà Tây Sơn, chức Đô đốc, Ngài có bà chị là vợ vua Quang Trung và bà có một con trai. Nhưng vì vận trời thay đổi nên nhà Tây Sơn phải sụp đổ. Gặp cảnh tang thương, nên các con của Ngài đều lưu lạc ra tỉnh này lánh nạn, do đó đã đổi họ Lê ra họ Nguyễn.
Bản gia phả còn ghi:
Đời thứ nhất tiền khai khẩn thỉ tổ khảo húy Sáu Thụy Trung Dũng Đệ Tam Lang.
Chưa có khám phá nào cho chúng ta biết tên và cuộc đời của bà Thứ phi này, cũng như vị Hoàng tử của vua Quang Trung do bà sinh ra như thế nào? Lại nữa, trong lịch sử thường nhắc đến Tiết chế Nguyễn Quang Thùy, phải chăng ông là con của vua Quang Trung và bà thứ phi họ Lê ở Quảng Ngãi? Nếu không phải, thì Quang Thùy là con ai và người con của bà thứ phi họ Lê là một Hoàng tử khác nữa chăng? Đây là một trường hợp mà nhiều người vẫn lầm tưởng, kể cả vua Càn Long nhà Thanh, đã phong Quang Thùy làm Thế tử vì tưởng rằng ông là con trưởng vì ông lớn hơn Quang Toản, lại có tên trong danh sách sứ bộ của Giả vương Phạm Công Trị đi Trung Quốc chúc thọ bát tuần vua Thanh năm 1790. Về sau biết sai lầm nên đã phong lại cho Quang Toản là Thế tử. Theo như thư của một Giáo sĩ (Le Labousse năm 1793) tiết lộ sau ngày Quang Trung mất, thì Quang Thùy là con của một nàng hầu. Như vậy ai là mẹ của Quang Thùy? Và tại sao bà này lại không được phong làm Hoàng hậu? Đó là những vấn đề đang chờ đợi những khám phá mới của các nhà nghiên cứu lịch sử, rất có thể ánh sáng soi rọi vào, đây là bà vợ đầu tiên của vua Quang Trung.
Mỗi một trang sử cũ là một phần tâm huyết của cha ông để lại. Mỗi một khám phá mới là một tài liệu trân quý vô vàn. Nhưng, với sự dè dặt thường lệ, bằng vào các tài liệu của gia phả, nó chỉ là một mớ tư liệu của gia đình đầy thiên kiến và nặng tính chủ quan, nên rất khó lượng định mức độ khả tín của sự thực lịch sử. Bởi vậy những phát kiến mới mà chúng ta thấy chỉ là một tiền đề gợi ý với sự hoài nghi cố hữu về tính cách xác tín của tài liệu. Khám phá mới nào cũng phải chờ sự cẩn trọng gạn lọc, đánh giá và phán xét của thời gian.

Đặc san Tây Sơn, Xuân Bính Tý (1996)
(Trang 114-117)
0
Tình yêu giữa Quang Trung và Ngọc Hân công chúa
Thái Bá Huệ

Mỗi khi nhắc đến Quang Trung hoàng đế là người ta thường nghĩ đến một vị đại tướng tài ba, siêu quần bạt chúng, mưu lược như thần, hành quân vũ bão, chiến đấu thần tốc khiến cho địch quân trở tay không kịp và cam đành cúi đầu nhận chịu sự thất bại. Quang Trung là kẻ trăm trận trăm thắng đã là điều dĩ nhiên khỏi bàn cãi, nhưng Quang Trung Nguyễn Huệ còn là kẻ biết yêu và được yêu nữa lại là một vấn đề chúng ta đặt ra ngày hôm nay.
Thật vậy, khi Nguyễn Huệ Bắc Bình vương xua quân ra đất Bắc, một trận phù Lê diệt Trịnh, thành công dễ dàng như trở bàn tay. “Vua Lê Hiển Tông sai đem ‘chiếu’ và ‘sách’ ra tận dinh, phong Bắc Bình vương chức Nguyên súy, tước Phù chính dực vũ uy quốc công” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí tr.101)
Bắc Bình vương thấy các chức tước là cái hão huyền, tỏ vẻ bất bình. Đón biết ý chúa mình, Nguyễn Hữu Chỉnh bèn đặt lời của vua Lê Hiển Tôn nói riêng với mình, rồi tiết lộ rằng: “Hoàng thượng đã có bảo riêng với tôi thế này - Nhà vua kiệm bạc không việc gì đáng tặng vẫn biết những cái danh tước nhỏ mọn, không đủ làm ông sang thêm. Chỉ vì tục nước vốn thích lễ nghi, gọi là tỏ cái lòng thành của Ngài kính ông mà thôi. Bản ý của Ngài, tự biết mình đã tuổi già, sợ rằng sau khi ông về, không thể nương tựa vào ai, Ngài muốn ràng buộc tình thân của hai họ, để cho hai nước đời đời cứ làm thông gia với nhau. Nhưng vì chưa biết ý ông thế nào, cho nên chưa dám rõ.
Bình đáp:
- Xưa những kẻ xa nhà, tình khuê phòng rất là cần thiết. Hoàng thượng cũng xét đến chố ấy à? Vì, em vua nước Tây, làm rể Hoàng đế nước Nam, môn đăng hộ đối như thế, tưởng cũng không mấy người được...
Cả đám cùng cười...”
(HLNTC tr. 102)
Chỉnh tiếp tục mai mối cho mối lương duyên lịch sử ấy.
“- Nếu được ông bằng lòng thì đó cũng là run rủi. Hiện ngài có vị công chúa thứ chín, mới mười sáu tuổi, xin cho nương bóng hậu dinh, hầu hạ khăn lược, để cho hai nước thành nghĩa thông gia, đời đời hòa hiếu với nhau.
Bình đáp bằng giọng bông đùa:
- Vì dẹp loạn mà ra, rồi lấy vợ mà về, trẻ con nó cười thì sao? Tuy vậy ta mới quen gái Nam hà, chưa biết con gái Bắc Hà. Nay cũng thử một chuyến xem có tốt không?
Chỉnh liền vào triều tâu Hoàng thượng. Hoàng thượng bèn hạ chỉ dụ gả Ngọc Hân công chúa cho Bình” (HLNTC tr. 103)
Vì yêu công chúa cành vàng lá ngọc, thật là “thiên tải nhất kỳ” nên: “trong ngày nghinh hôn Bắc Bình vương đốc quân lính đứng sắp hàng ở khắp hai bên đường từ cửa điện đến cửa phủ. Thiên hạ đi xem đông như nêm cối ai nấy đều cho là việc ít có xưa nay.
Khi xe công chúa đi tới cửa phủ, Bình tự ngồi kiệu rồng vàng ra đón, hết thảy các lễ đúng theo như lệ thường các nhà”. (HLNTC tr. 104)
Chúng ta hãy nghe một câu đối đáp giữa người anh hùng và trang quốc sắc trong những ngày đầu của hôn nhân:
“- Con trai, con gái nhà vua đã có mấy người được sướng như công chúa?
- Nhà vua ít lộc, con trai, con gái ai cũng thanh bạch, nghèo khó. Riêng tôi có duyên lấy được ông lớn, cũng như hạt mưa bụi ngọc, bay ở giữa trời, được ra vào chốn lâu đài thế này, là sự may mắn của tôi mà thôi.
Bình nghe câu ấy thích lắm!”
(HLNTC tr.104)
Bắc Bình vương có cái tự kiêu của võ tướng đã được người yêu đáp lại tấm lòng thì còn gì thích thú hơn.
Chính vì tràn ngập trong tình yêu thương ấy mà sau này lắm khi triều đình nhà Lê có điều gì sơ sót, Bắc Bình vương tức giận thì Ngọc Hân công chúa nói vào một câu ngọt ngào là bao nhiêu lửa giận đã được dập tất ngay. Cho hay, thời nào cũng vạy, lời nói êm ả của một người đẹp cũng mạnh mẽ như muôn nghìn cơn sóng vỗ rạt rào.
Ta hãy đọc tiếp các đoạn sử sau này:
Khi bệnh của vua đã nguy kịch, triều đình bàn nhau lập hoàng tự tôn lên ngôi mà không hỏi ý kiến của Bắc Bình vương, nên ông giận và không nghe theo.
Đình thần lo sợ, và nhờ công chúa về xin giúp. Kết quả Bắc Bình vương ưng thuận.
Khi vua đã mất, Bắc Bình vương chờ Hoàng Tôn trình và mời đến lo việc tang ma và sẽ tự xem xét lo công việc, nhưng Hoàng tự tôn sợ phiền mà không dám mời, mãi đến khi nhập liệm xong mới bẩm với ông. Ông cảm thấy là triều đình đã có ý xem ông như người ngoài nên ông giận và lập tức sai người vào bắt triều đình hoãn lễ đăng cực và muốn lập người khác. Sứ giả tới bẩm là việc đăng cực đã xong. Ông căm tức và đòi công chúa về phủ và mắng la
“ - Tiên đế là vua thiên hạ, không phải là vua riêng của họ. Ta thương mến tiên đế, hôm qua tị hiềm không dám vào thăm, hôm nay muốn khi nhập liệm được thấy long nhan, cho hết cái tình bố vợ và chàng rể. Nhưng ta tự nhiên xông đến sợ rằng trái lễ, sao họ nỡ bỏ ta ra ngoài mà không thèm mời ta. Nếu không có ta ở đây thì triều đình sẽ ra sao?
Rồi truyền lịnh các quân thủy bộ sắm sửa hành trang cho kịp ngày mai rút về Nam.
Công chúa mếu khóc xin Bình ở lại, một mặt sai người vào triều tâu với Tự hoàng.
Tự hoàng cho người ra phủ tạ tội”. (HLNTC tr. 109)
Cho hay một giọt nước mắt của giai nhân nặng tựa ngàn cân, có thể lay chuyển cả sức mạnh cử đảnh, dời non.
Và sau đó chính Bắc Bình vương suốt ngày đêm mặc áo trắng đứng ở điện coi xét nghi lễ cực kỳ chu tất. Cho đến ngày nghinh tử cung xuống thuyền đưa về an táng ở Thanh Hóa Bắc Bình vương cũng ngày đêm đôn xuất tự cỡi voi đem 3.000 quân sĩ đưa đến bến đò, chờ khi lễ rước tử cung xong mới trở về.
Việc đó sở dĩ có là do lòng yêu vợ thì phải thương cha vợ đúng như câu tục ngữ thường nói: “yêu con gái phải lụy mụ gia” mà nhân dân ta hằng lưu truyền xưa nay.
Trước tấm tình yêu thương vô bờ bến của Bắc Bình vương, Ngọc Hân công chúa đã đền đáp như thế nào? Chúng ta hãy nghe những vần thơ trong bài Ai Tư Vãn. Công chúa đã xem cuộc tình của nàng rất tốt đẹp như ý:
Từ cờ thắm trở vời đất Bắc,
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan, chèo quế thuận đường vu quy

Và dù đường về Nam ngàn dặm xa xuôi, công chúa đã không quản nhọc nhằn mà còn mừng cho duyên phận mình may mắn mới được sánh vai với người võ tướng tài ba ấy:
Trăm ngàn dặm quản chi non nước,
Chữ nghi gia mừng được phải duyên.
Song yêu muốn đội ơn trên,
Rõ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm.

Và công chúa tự nguyện với lòng mình dù thời gian có chảy trôi, không gian có thay đổi nhưng tình yêu của công chúa cũng vẫn tràn đầy dành cho Nguyễn Huệ.
Dẫu rằng non nước biến dời,
Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là

Chẳng riêng người con gái được chồng thương yêu mà cả thân tộc cũng được nhờ thêm cái ân sủng của người chồng đầy nhân ái ấy.
Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội
Khắp tôn thân cũng đội ơn sang

Người sống nhờ vả ân huệ đã đành mà kẻ chết cũng được lo lắng chu tất:
Miếu đương còn dấu chương thường
Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh

Công chúa đã có hai con với vị Hoàng đế tài ba. Theo sử sách thì một trai và một gái.
Nhờ hồng phúc đôi cành hòe quế
Đượm hơi dương, dây rễ cùng tươi

Và trọn cuộc sống riêng tư giữa hai vợ chồng:
.... sớm hỏi, khuya bày,
Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ.

hay:
Trước sân phong nguyệt trên lầu sinh ca
Công chúa đang chiếm trọn tình yêu của Hoàng đế và đã được phong là Bắc cung hoàng hậu. Cuộc tình của hai người những tưởng lâu dài trăm năm đầu bạc răng long:
Những ao ước trập trùng tuổi hạc
Nguyền trăm năm ngỡ được vầy vui

Nhưng nào hay con tạo cơ cầu, đâu có chiều lòng người mà:
Nào hay sông cạn bể vùi
Lòng người tráo trở, vận người biệt ly!

Nhà vua ngã bệnh, những tưởng với sức lực khỏe mạnh và đầy đủ thuốc men của vương triều thì chỉ trong thời gian ngắn là bình phục. Nhưng không ngờ cơn bịnh từ mùa hạ, kéo sang thu mỗi ngày một nặng thêm, khiến cho Hoàng hậu hết lòng lo lắng rước tìm thầy hay lang giỏi để bốc thuốc thang, cầu đảo thần này thánh nọ để mong ban tiên dược hòng cứu chữa cho Hoàng đế. Những vần thơ này sẽ nói hết sự chí tình của Hoàng hậu:
Và nắng hạ mưa thu trái tiết
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên
Xiết bao kinh sợ lo phiền
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?

Nhưng tất cả đều vô hiệu, bệnh tình nhà vua mỗi ngày một nặng và cuối cùng nhà vua đã quy tiên.
Ngán thay mây tạo bất bằng
Bóng mây thoắt đã ngắt chừng xe loan

Đến đây, tưởng ta cũng nên nhắc đến cái chết của nhà vua là do bệnh tật thông thường, chứ không phải thần thánh quở phạt, vì đã sát hại dòng họ Chúa Nguyễn, như sử liệu nhà Nguyễn về sau đã chép xuyên tạc.
Cái chết của vua Quang Trung là một sụp đổ của bầu trời hạnh phúc cho Ngọc Hân công chúa, sống trong chế độ phong kiến, thường thường sau một cái chết của vua chúa là đem theo bao nhiêu cái tranh giành ngôi thứ, quyền lợi, kết quả mang lại nhiều cái chết khác của hàng phi tần, hoàng tử, hoàng phi của vì vua quá cố.
Cho tới ngày nay, không thấy sử sách nào nói về một sự tranh giành giữa Nam cung và Bắc cung hoàng hậu nhưng Ngọc Hân công chúa cũng không khỏi sợ sệt cho tương lai:
Lênh đênh chút phận bèo mây
Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu!

Và Ngọc Hân đã bàng hoàng say tỉnh trong mộng mị không phân biệt hư thực:
Vội vàng sửa áo lên chầu
Thương ôi! Quạnh quẽ trước lầu nhện chăng!

Có những đêm trăng rọi qua cành lá. Ngọc Hân tưởng là tàn vàng của nhà vua ngự vội vàng bước đến cung nghinh nhưng chỉ là bóng mơ hư ảo:
Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi
Vội vàng dạo bước tới nơi
Thương ôi, vắng vẻ giữa trời tuyết sa!

Nghĩ đến luật công bằng, sự phúc đức: ai công nghiệp nhiều như Thang Võ thì tuổi thọ cao lâu mà nhà vua vốn giúp dân dựng nước, công dày nghiệp cả mà sao ta phận mỏng? Tạo hóa bất công! Nếu có phải đổi thân Ngọc Hân chết đi để Hoàng đế sống nàng cũng bằng lòng. Ôi! Tình thương cao thượng biết bao:
Rộng cho chuộc được tuổi rồng
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi!

Ngọc Hân những muốn liều mình chết theo nhà vua cho trọn kiếp chồng vợ nhưng vì con còn nhỏ, ai lo nuôi dưỡng nên phải gắng gượng sống lại. Sống mà như đã chết rồi vậy:
Quyết liều mong vẹn chữ tòng
Trên rừng nào ngại, giữa dòng nào e
Còn trứng nước thương vì đôi chút
Chữ tình thâm chưa thoát được đi!
Vậy nên nấn ná đôi khi
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo

Thật là tội nghiệp cho những cuộc tình gãy gánh giữa chừng:
Nửa cung gãy phím cầm lành
Nôi con côi cút, nồi mình bơ vơ!

Cảnh nào đau thương và xót xa cho bằng cảnh một người vợ trẻ mặc đại tang dẫn con thơ mũ rơm áo gai ra lễ trước linh sàng kẻ quá cố:
Gót lân chỉ mấy hàng lẩm chẩm
Đầu mũ mao, mình tấm áo gai!
U - ơ ra trước hương đài
Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào!

Và lúc ấy trước mắt của người góa phụ, cảnh vật chỉ còn là một đêm đông đen dài vô tận!
Như vậy từ khi mới gặp Ngọc Hân cho đến lúc ra đi vĩnh viễn bao giờ Quang Trung hoàng đế cũng dành cho công chúa một sự thương yêu vô vàn và đổi lại Ngọc Hân cũng hiến dâng trọn con tim mình cho Hoàng đế.
Quang Trung đã yêu vợ và đã được yêu lại.
Nếu chúng ta đã từng ca ngợi vũ công bách chiến bách thắng của vì vua tài ba lỗi lạc, thì chúng ta cũng phải cảm động sâu xa cho một tình yêu tuyệt vời giữa người trai hùng dũng Bình Định với cô gái đài các, cành vàng lá ngọc xứ Bắc đáng yêu ấy.
Hoàng đế đã chết trong tuổi trẻ khi sự nghiệp đang lên và còn hứa hẹn nhiều tiến bộ cho đất nước thân yêu. Nhưng chết trong tình yêu nồng thắm thì chắc Ngài cũng mỉm cười bên kia tiên giới.
Hôm nay, trước cảnh thiên nhiên nhiều đổi mới của thời gian trở lại Xuân về, chúng ta chẳng những nghiêng đầu kính phục một võ tướng đại tài, mở lòng cảm động cho một tình yêu tuyệt vời, diễm lệ mà còn dâng lên một nỗi niềm mến tiếc bâng khuâng vô vàn!

Đặc san Tây Sơn (1988) Tr. 76-82
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.02.2018 07:33:31 bởi casau>
Ai tư vãn
Một áng văn trữ tình đầy sử tính đời Tây Sơn
Đoàn Khoách

Nếu không có Ai Tư Vãn thì thiết tưởng văn Nôm của Việt Nam sẽ nghèo đi một phần vì thiếu một áng văn trữ tình ai oán đặc biệt của chính một tác giả nữ lưu trong một hoàn cảnh tang tóc bi thảm. Và nếu không có Ai Tư Vãn thì lịch sử Việt Nam cũng không có được những giòng lệ nóng thắm thiết của một người vợ trẻ đau đớn khóc đấng anh hùng.
Vậy Ai tư vãn là loại văn gì? Ai là tác giả áng văn đó? Nội dung tác phẩm đó như thế nào? Đâu là giá trị của Ai Tư Vãn?

I - Bối cảnh lịch sử của tác phẩm:
Ai tư vãn hiểu một cách nôm na là bài văn nhớ thương đau khóc người quá vãng. Mà người quá vãng đây là ai? Và người khóc đó là ai? Tại sao lại khóc?
Xin lần lượt lật lại vài trang sử Việt vào mấy thập niên cuối thế kỷ XVIII.
Năm 1782, được Nguyễn Hữu Chỉnh bày mưu sắp kế, chúa Tây Sơn là Nguyễn Nhạc sai quân ra đánh lấy Thuận Hóa. Sau khi đánh chiếm được cựu đô của chúa Nguyễn, Nguyên soái Tây Sơn là Nguyễn Huệ giao việc giữ đất Thuận Hóa lại cho Nguyễn Lữ, rồi đem đại quân thẳng ra Bắc Hà lật đổ ngôi chúa Trịnh và làm việc tôn phù vua Lê. Ngày 20 tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), kinh thành Thăng Long bị vỡ, Đoan Nam vương Trịnh Khải thua trận, cùng đường phải tự vẫn. Ngày 7 tháng 7 vua Lê Hiển Tông mở đại triều ở điện Kính Thiên, các quan đều theo thứ tự đứng hầu. Nguyễn Huệ vào triều kiến nhà vua, dâng tờ tâu về việc diệt Trịnh và các sổ sách quân dân, xin Hoàng thượng cho quân coi giữ. Vua phong cho Nguyễn Huệ làm chúc Nguyên soái tước Uy Quốc công và hạ chỉ dụ gả công chúa Ngọc Hân cho qua việc đứng làm mai dong của Nguyễn Hữu Chỉnh. [1] Đã đành đây là một cuộc hôn nhân có tính cách chính trị, chủ ý để gây tình thân thiện giữa Tây Sơn và nước Nam của vua Lê, nhưng cũng là một cuộc hôn nhân đẹp đôi, môn đăng hộ đối xứng đáng giữa một trang hào kiệt em vua nước Tây và một công chúa diễm kiêu (tục gọi là chúa Tiên) con Hoàng đế nước Nam.
Công chúa Ngọc Hân, con vua Lê Hiển Tông (1740-1786) và bà Nguyễn thị Huyền người làng Phù Ninh, tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc NỈnh, là vị công chúa thứ hai mươi mốt, từ bé ở trong cung đã được rèn luyện kinh sử, học tập thơ văn, lại khéo nói năng ứng đối [2]. Còn Nguyễn Huệ là người thông minh, cương nghị, trí dũng song toàn, có độ lượng, lại có bụng trọng nể họ Lê, nên tình vợ chồng giữa hai người rất chiều đằm thắm. Sau hơn một tháng lưu lại Thăng Long, đạt chí nguyện vẹn cả đôi bề trung hiếu, Nguyễn Huệ kéo đại quân về Nam; công chúa từ đó theo chồng sống liền ở đất Phú Xuân. Năm 1789, khi Bắc Bình vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, sau chiến thắng quân Thanh, thì công chúa Ngọc Hân được phong làm Bắc cung Hoàng hậu [3]. Đến khi Hoàng đế Quang Trung mất (16-9-1792, lúc đó vua mới 39 tuổi), thì Hoàng hậu đã có với vua hai con, một trai một gái. (Cũng nên biết thêm rằng trước khi cưới công chúa Ngọc Hân, Nguyễn Huệ đã có bà vợ cả họ Phạm, thân mẫu của Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thùy và Nguyễn Quang Thiệu)

II- Mấy giả thuyết về chung cục của tác giả:
Về cái chung cục của công chúa Lê thị Ngọc Hân, trước đây có nhiều thuyết trái ngược nhau. Có thuyết cho rằng sau khi diệt được Tây Sơn, vua Gia Long đã nạp bà làm phi. Quần thần có người can lại, cho thế là lấy vợ thừa của nhà Tây Sơn. Vua không nghe và bảo: giang san thành quách này cái gì chẳng phải mình lấy lại từ nhà Tây Sơn, cứ gì một người đàn bà? [4]
Có thuyết lại cho, sau khi nhà Tây Sơn mất, bà Ngọc Hân cùng hai con, một trai một gái, phải giả dạng làm vợ một người lái buôn, trốn tránh vào một miền quê tỉnh Quảng Ngãi; được ít lâu tung tích bại lộ, bà và hai con đều bị triều Nguyễn gia hình bằng lối “tam ban triều điển”.
Tháng Giêng năm 1950, trong Quốc Văn Đời Tây Sơn ông Hoàng Thúc Trâm đã chứng minh chung cục của bà Ngọc Hân sự thực không phải thế. Bà Ngọc Hân đã mất từ năm Kỷ Mùi (1799), ba năm trước khi nhà Tây Sơn bị diệt vong, không thể còn để lấy vua Gia Long hay chịu “tam ban triều điển” nữa! [5] Và tác giả Quốc Văn Đời Tây Sơn khẳng định “Thế là nay đã thanh toán xong cái sử sự về chung cục của Ngọc Hân” [6].
Tuy nhiên, một bất ngờ đến với chúng tôi từ năm 1964 khi đọc những sử liệu Việt Nam tại Tân Á Nghiên cứu sở ở Hong Kong. Trong một tài liệu mới cho biết, mãi cho đến năm 1802 khi vua Gia Long lên ngôi, bà Ngọc Hân vẫn đang còn sống, không bị bắt chịu “tam ban triều điển” và cũng không bao giờ được vua Gia Long kết nạp làm hậu phi như nhà văn Việt Thường đã tiểu thuyết hóa. Tài liệu bất ngờ vừa nói nằm trong tác phẩm Quốc Sử Di Biên của Phan Thúc Trực.
Xin nói qua một chút về tác giả và tác phẩm này trước khi trích đưa ra các chi tiết về công chúa Ngọc Hân có nói đến trong sách đó.
Phan Thúc Trực (1808-1852) còn có tên là Phan Dưỡng Hạo quán làng Vân Tụ, huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An. Cao, tằng, tổ của ông đều cao khoa hiển hoạn. Thân phụ là Phan Vũ vốn khét tiếng hay chữ ở vùng Nghệ Tĩnh nhưng suốt đời ở ẩn, dạy con cháu và học trò. Hồi nhỏ, Thúc Trực nổi tiếng thần đồng, 16 tuổi đỗ Đầu xứ, 17 tuổi đỗ Tú tài khoa Ất Dậu (1825) ở trường Nghệ. Chín khoa liên tiếp sau đó đều đỗ Tú tài và được bổ Giám sinh trường Quốc tử giám. Khoa thi Hội và thi Đình năm Đinh Mùi (1847) đỗ Thám hoa. Vinh quy bái tổ về làng, ông lại giúp dân làng khai ngòi, đắp đê cho đồng ruộng trước đây bỏ hoang được cày cấy kịp thời vụ. Dân làng Vân Tụ làm ăn ngày một thịnh vượng, nên sau khi ông mất, dân làng nhớ ơn, dựng đền thờ. Thi đỗ Thám hoa, ông được bổ vào Viện Hàn Lâm. Năm sau được bổ vào tòa Nội các, rồi Tập hiền viện và được sung chúc Kinh diên Khởi cư chú, luôn luôn ở gần gũi nhà vua. Năm Tự Đức thứ tư (1851), ông vâng mệnh ra Bắc thành sưu tầm những tài liệu sách vở cũ; khi về lại Kinh đô, đến địa phận tỉnh Thanh Hóa, lâm trọng bệnh rồi mất, thọ 44 tuổi. Tác phẩm còn để lại có: Diễn châu phủ chí, Cảm Đình thi văn tậpQuốc sử di biên.
Quốc Sử Di Biên ghi chép những sự kiện lịch sử trong khoảng 46 năm, từ đầu đời Gia Long đến cuối đời Thiệu Trị. Sách chép theo lối biên niên nhưng chép sâu rộng, trung thực, đầy đủ những điều trong chính sử hoặc chưa chép, hoặc chép rất sơ sài, hoặc ngại không dám chép... Một số nhà nghiên cứu sử học rất coi trọng sách này, cho đây là một tín sử dưới triều nhà Nguyễn [7].
Về cái chung cục của Công chúa Ngọc Hân, chúng ta thử lật các trang 33 và 38 thấy ghi:
“Giáp Tý tam niên, ngũ nguyệt nhị thập nhất nhật: ...... Cố Lê công chúa Ngọc Hân tộ. Cảnh hưng Binh Ngọ niên, dĩ Ngọc Hân giá Nguyễn Huệ. Cập ngụy Tây vong, tôn cư mẫu quán Phù Ninh, chí thị tốt, kỳ hàng thần hiện nhiệm Đông Ngạn, khất hành táng lễ, tùng chi. Phù Ninh dân vi lập từ đường”.
(Ngày 21 tháng 5 năm Giáp Tý Gia Long năm thứ 3 (1804), công chúa nhà cựu Lê là Ngọc Hân tạ thế. Nguyên năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Cảnh Hưng, vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ. Đến khi nhà Tây Sơn mất, Công chúa lui về ở tại mẫu quán là làng Phù Ninh. Đến đây, Công chúa từ trần. Kẻ hàng thần hiện giữ chức quan tại huyện Đông Ngạn, xin làm tang lễ cho Công chúa, vua chấp thuận. Dân làng Phù Ninh làm từ đường thờ Công chúa).
Rồi lật thêm các trang 363 và 366 thấy ghi:
“Quý Mão tam niên, tứ nguyệt nhị thập bát nhật, quật cố Lê công chúa Ngọc Hân mộ. Phù Ninh nhân Tổng Phụng dữ dân tranh tụng, kỳ ngôn ỷ thác ngụy thê quyền thế, dữ dân tranh lợi. Hữu chỉ, quật kỳ mộ đầu Nhĩ Hà, tịnh phát mại từ đường điền trạch”.
(Ngày 28 tháng 4 năm Quý Mão Thiệu Trị năm thứ 3 (1843), quật mộ cố Công chúa Lê Ngọc Hân. Tổng Phụng người làng Phù Ninh cùng với dân tranh tụng, va dựa vào quyền thế vợ vua ngụy để tranh lợi với dân, nên có chỉ của vua sai đào mộ cố Công chúa ném xuống sông Nhĩ, và đem bán hết nhà đất, từ đường).
Để tiếp tay với quý vị tiền bối, chúng tôi xin đưa thêm chút ít tài liệu trên đây để rộng đường dư luận. Còn chuyện Công chúa Ngọc Hân mất năm 1799, hay bị gia hình bằng tam ban triều điển ở Phú Xuân hoặc tạ thế vào 21 tháng 5 năm Gia Long thứ 3 (1804) tại Phù Ninh, thiết tưởng cũng không ảnh hưởng chi đến sự có mặt của Ai Tư Vãn.

III- Phân tích bài Ai Tư Vãn
Ai Tư Vãn là một khúc ngâm gồm 164 câu theo thể song thất lục bát. Bản thân khúc ngâm là tiếng khóc lâm ly thống thiết, dâng trào từ đáy lòng của tác giả, người trong cuộc. Không những khóc một người chồng luôn đùm bọc thương yêu vợ, mà còn giữ vẹn tình nghĩa rể con đối với gia đình. Không những khóc một trang hào kiệt trọng nghĩa khinh tài, mà còn là một bậc anh hùng “giúp dân dựng nước”. Cho nên mất vua Quang Trung đối với Công chúa là một hụt hẫng vòi vọi thăm thẳm vô cùng. Tình cảm chồng chất tràn trề khi tỉnh khi mơ theo những đường vòng xoắn xuýt. Tuy nhiên để dễ bề theo dõi tâm trạng của Công chúa khóc vua Quang Trung, chúng tôi thử phân đoạn bài vãn theo lối tìm hiểu thông thường.
Mở đầu: tâm trạng đau buồn sầu thảm của Công chúa (câu 1-8)
1- Công đức, tình nghĩa của vua đối với Công chúa và với nhà Lê; vua đã nhuốm bệnh và mất (câu 9-44)
2. Tâm trạng đau đớn bồn chồn của Công chúa (câu 45-128):
● thương xót mơ tưởng người quá cố đến nỗi trách móc Hóa công sao hẹp lượng (câu 45-76)
● mơ lại cảnh sum họp với chồng, đến nỗi muốn liều chết theo chồng (câu 77-108)
● mơ tưởng trông tìm, muốn gởi cho chồng những vật kỷ niệm (câu 109-128)
3- Cảnh con côi, vợ góa, thần dân lạnh buồn và cảnh vật xung quanh cũng đau xót sầu não trước cái chết của nhà vua (câu 129-160)
Kết thúc: trở lại “mạch sầu” của riêng mình, Công chúa xin trời đất chứng cho nỗi đau đứt ruột (câu 161-164).

Giá trị của Ai Tư Vãn:
1- Ai Tư Vãn là áng văn Nôm trữ tình đặc biệt:
Ai Tư Vãn là tiếng than não nuột nhưng không phải là tiếng than thân phận của người cung nữ bị bỏ rơi lạnh lẽo trong cung cấm do nhà văn cảm nhận rồi sáng tác nên. Ai Tư Vãn là giấc mơ chập chờn của một thiếu phụ khi người yêu xa khuất, nhưng không phải là giấc mơ của người chinh phụ mong chồng ngoài trận địa nhưng vẫn còn hy vọng ngày thái bình sẽ được hưởng hạnh phúc đoàn viên. Ai Tư Vãn là một áng văn trữ tình hiện thực, trong đó tiếng thở than là nỗi đau xót bật ra từ chính con tim nóng hổi của tác giả; tình trạng nửa tỉnh nửa mê là nỗi nhớ mong tuyệt vọng của tác giả khi người thân thương yêu kính của mình đột ngột tử vong. Vì là nỗi buồn, vì là tiếng khóc trong cùng một thể loại văn chương, nhưng tính chất và cung bậc lại chẳng giống nhau. Thành thử, không nên đem Ai Tư Vãn để so với những khúc ngâm Cung Oán của Ôn Như Hầu, Chinh phụ của Đặng Trần Côn và Đoàn thị Điểm, rồi cho là một dày một mỏng [8]. Ai Tư Vãn tự thân đã có một giá trị riêng. Đó là một áng văn trữ tình quyến rũ người đọc người nghe ở cái giọng lâm ly mà thành thật của con người trong cuộc. Tác giả chẳng để công trau tria từ vận, mà mặc cho nỗi lòng theo ngòi bút trào ra trên giấy. Không theo một bố cục lớp lang nào, bài văn toàn là những lời kể lể vân vi rối rắm, những mối sầu tư mộng tưởng vấn vít quanh co, nhưng rất là thành thật. Do đó, Ai Tư Vãn của công chúa Ngọc Hân, đã cho chúng ta nghe lần đầu trong lịch sử thơ văn Nôm, tiếng nói trữ tình ai oán của một tác giả nữ lưu trong một hoàn cảnh tang tóc bi thảm.
2- Ai Tư Vãn là bản sử ca đầu tiên vinh danh người anh hùng áo vải đất Tây Sơn:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân, dựng nước, biết bao công trình...
Mà nay lượng cả ơn sâu,
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần...

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ mất đi là một sự sụp đổ lớn lao đối với vương triều Tây Sơn, đối với tất cả quân dân từng là chứng nhân lịch sử thời bấy giờ, nhất là đối với chính tác giả Ngọc Hân công chúa.
Từ một thanh niên hảo hán ở ấp Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã nhanh chóng trở thành một trang hào kiệt, một tướng lãnh tài ba, đánh dẹp trong Nam ngoài Bắc, đánh đâu thắng đó. Trận chiến thắng đánh đuổi hai vạn quân Xiêm và ba trăm chiến thuyền địch ở Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785, rồi chiến công hiển hách năm ngày đêm vào đầu Xuân năm Kỷ Dậu (1789), đại phá 20 vạn quân Thanh do Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị làm Thống soái, đã làm cho Nguyễn Huệ trở thành một anh hùng dân tộc, một thiên tài quân sự, một danh tướng bách chiến bách thắng. Con người ấy lại đầy lòng nhân ái, đầy lượng bao dung, biết giữ nghĩa tôn phù vua Lê, biết giữ tình rể con lúc phụ hoàng quá vãng, biết đặc biệt cưu mang yêu mến công chúa và phong làm Bắc cung hoàng hậu sau khi đại phá quân Thanh... Cho nên trong tiếng khóc than của Công chúa, còn thấy được nỗi thương tiếc ngậm ngùi của thần dân từ triều đình đến hang cùng ngõ hẻm, hoa lá cỏ cây. Với nàng, công nghiệp của người anh hùng tài đức vẹn toàn ấy đâu có thua chi vua Thành Thang (1783-1754 tr.CN) nhà Thương, vua Võ Vương nhà Chu (1122-1115 tr.CN) đánh kẻ bạo tàn, cứu dân khỏi vòng đau khổ? Công nghiệp ấy đến các vị minh quân lừng danh xa xưa của Trung Quốc như Đường Nghiêu (2357-2257 tr.CN), Ngu Thuấn (2255-2207 tr.CN) chưa chắc đã hơn được! Thế mà, đau đớn thay, anh hùng đoản mệnh!...
Về phương diện kỹ thuật văn chương, Ai Tư Vãn tất nhiên có những khuyết điểm không tránh khỏi về từ về vận chỗ này chỗ khác. Tuy nhiên căn cứ vào một số đặc điểm của bài văn như trên đã thấy, cũng đủ rõ Ai Tư Văn quả là một áng danh văn trữ tình đầy sử tính cuối thế kỷ XVIII và công chúa Ngọc Hân là một nhà văn nữ có biệt tài đáng quý trọng.
----------------
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Tập 2 Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 534-561.
Xem thêm: Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Bản dịch của Ngô Tất Tố, Cơ sở Báo Chí và Xuất bản Tự Do, Saigon, 1958.
[2] Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Sđd. tr. 82, qua lời Nguyễn Hữu Chỉnh nói với Bình (tức Nguyễn Huệ) thì người đó là công chúa thứ 9 mới 16 tuổi.
[3] Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, Sđd. tr. 558
[4] Việt Nam Phan Thúc Trực tập, Quốc Sử Di Biên, Đông Nam Á sử liệu chuyên san, Hương Cảng Trung Văn Đại Học, Tân Á Nghiên cứu sở, 10-1965, xuất bản, tr. 53 nói người được vua Gia Long phong làm Đệ tam cung là Ngọc Bình (chị em với công chúa Ngọc Hân) và người can vua trong việc này là Quận công Lê văn Duyệt.
[5] Sơn Tùng Hoàng Thúc Trâm, Quốc Văn Đời Tây Sơn, Nhà sách Vĩnh Bảo, Saigon, 19. 0, tr. 81-82, ghi bà Ngọc Hân mất năm Kỷ Mùi (1799) dựa vào năm bài văn tế bà Vũ Hoàng hậu do Phan Huy Ích đứng thảo và hai bài sách văn truy tôn miếu hiệu của bà Vũ Hoàng hậu Lê thị Ngọc Hân và bà Vũ Hoàng chính hậu Phạm thị mẹ đẻ vua Cảnh Thịnh.
[6] Quốc Văn Đời Tây Sơn Sđd. tr. 83.
[7] Xem “Quốc sử Di Biên đích biên giả dữ nội dung” của Trần Kinh Hòa, trong Sđd. tr. 1-18.
[8] Xem Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Quốc Học Tùng Thư, Saigon, 1963, tr. 245-247.

V- Phụ lục: Ai Tư Vãn
Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo,
Trước thềm lan hoa héo don don!
Cầu Tiên khỏi tỏa đỉnh non,
Xe rồng thăm thẳm, bóng loan rầu rầu!
Nỗi lai lịch dễ hầu than thở,
Trách nhân duyên mò lỡ có sao?
Sầu sầu thảm thảm xiết bao...
Sầu đầy giạt bể, thảm cao ngất trời!
Từ cờ thắm trỏ vòi cõi Bắc,
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương.
Rút dây vâng mệnh phụ hoàng,
Thuyền lan chèo quế thuận đàng vu quy.
Trăm ngàn dặm quản chi non nước,
Chữ “nghi gia” mừng được phải duyên.
Sang yêu muôn đội ơn trên,
Rỡ ràng vẻ thúy, nổi chen tiếng cầm.
Lượng che chở, vụng lầm nào kể,
Phận đinh ninh cặn kẽ mọi lời.
Dù rằng non nước biến dời,
Nguồn tình ắt chẳng chút vơi đâu là.
Lòng đùm bọc thương hoa đoái cội,
Khắp tôn thân cùng đội ơn sang.
Miếu đường còn dấu chưng thường,
Tùng thu còn rậm mấy hàng xanh xanh.
Nhờ hồng phúc, đôi cành hòe quế,
Đượm hơi sương, dây rễ cùng tươi.
Non Nam lần chúc tuổi trời,
Dâng câu Thiên bảo, bày lời Hoa phong.
Những ao ước trập trùng tuổi hạc,
Nguyền trăm năm ngỡ được vầy vui,
Nào hay sông cạn bể vùi,
Lòng trời tráo trở, vận người biệt ly!
Từ nắng hạ mưa thu trái tiết,
Xót mình rồng mệt mỏi chẳng yên!
Xiết bao kinh sợ lo phiền,
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.
Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước,
Phương pháp nào đổi được cùng chăng?
Ngán thay, máy Tạo bất bằng,
Bóng mây thoắt đã ngất chừng xe loan!
Cuộc tụ tán bi hoan kíp bấy,
Kể sum vầy đã mấy năm nay?
Lênh đênh chút phận bèo mây,
Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu?
Trằn trọc luống đêm thâu ngày tối,
Biết cậy ai dập nỗi bi thương?
Trông mong luống những mơ màng,
Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say!
Khi trận gió, hoa bay thấp thoáng,
Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu...
Vội vàng sửa áo lên chầu,
Thương ôi, quạnh quẻ trước lầu nhện chăng
Khi bóng trăng, lá in lấp lánh,
Ngỡ tàn vàng nhớ cảnh ngự chơi:
Vội vàng dạo bước tới nơi,
Thương ôi, vắng vẻ giữa trời tuyết sa!
Tưởng phong thể xót xa đòi đoạn,
Mặt rồng sao cách gián lâu nay!
Có ai chốn ấy về đây,
Nguồn cơn xin ngỏ cho hay được đành?
Nẻo u minh khéo chia đôi ngả,
Nghĩ đòi phen nong nả đòi phen!
Kiếp này chưa trọn chủ duyên,
Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương.
Nghe trước có đấng vương Thang, Võ,
Công nghiệp nhiều, tuổi thọ thêm cao.
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân, dựng nước biết bao công trình!
Nghe rành rành trước vua Nghiêu, Thuấn,
Công đức dày, ngự vận càng lâu.
Mà nay lượng cả ơn sâu,
Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần
Công dường ấy mà nhân dường ấy,
Cõi thọ sao hẹp bấy! Hóa công?
Rộng cho chuộc được tuổi rồng,
Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi.
Buồn thay nhẽ! Sương rơi gió lọt,
Cảnh đìu hiu thánh thót châu sa!
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khóc nào nên tiếng, thức mà cũng mê!
Buồn thay nhẽ! Xuân về hoa ở,
Mối sầu riêng ai gõ cho xong?
Quyết liều mong vẹn chữ tòng,
Trên rường nào ngại, giữa giòng nào e.
Còn trứng nước thương vì đôi chút,
Chữ tình thâm chưa thoát được đi!
Vậy nên nấn ná đòi khi,
Hình tuy còn ở, phách thì đã theo...
Theo buổi trước ngự đèo Bồng Đảo,
Theo buổi sau ngự nẻo sông Ngân.
Theo xa thôi lại theo gần,
Theo phen điện quế, theo lần nguồn hoa...
Đương theo, bỗng tiếng gà sực tỉnh,
Đau đớn thay, ấy cảnh chiêm bao!
Mơ màng thêm nỗi khát khao,
Ngọc kinh chốn ấy ngày nào tới nơi!
Tưởng thôi lại bồi hồi trong dạ,
Nguyện đồng sinh sao đã kíp phai?
Xưa sao sớm hỏi, khuya bầy,
Nặng lòng vàng đá, cạn lời tóc tơ.
Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ?
Tình cô đơn ai kẻ xét đâu?
Xưa sao gang tấc gần chầu,
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca...
Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi,
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh!
Nửa cung gãy phím cầm lành,
Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ!
Nghĩ nông nỗi, ngẩn ngơ đôi lúc...
Tiếng tử quy thêm giục lòng thương!
Não người thay, cảnh tiên hương!
Dạ thường quanh quất, mắt thường ngóng trông.
Trông mái đông: lá buồm xuôi ngược,
Thấy mênh mông những nước cùng mây!
Đông rồi thì lại trông tây:
Thấy non ngân ngất, thấy cây rườm rà!
Trông nam: thấy nhạn sa lác đác,
Trông bắc: thì ngàn bạc màu sương!
No trông trời đất bốn phương,
Cõi tiên khơi thẳm biết đường nào đi!
Cậy ai có phép gì tới đó,
Dâng vật thường, xin ngỏ lòng trung:
Này gương là của Hán cung,
Ơn trên xưa đã soi chung đòi ngày...
Duyên hảo hợp xót rày nên lẻ,
Bụng ai hoài vội ghẽ vì đâu?
Xin đưa gương ấy về chầu,
Ngõ soi cho tỏ gót đầu trông ơn.
Tưởng linh sảng nhơn nhơn còng dấu,
Nỗi sinh cơ có thấu cho không?
Cung xanh đang tuổi âu sung,
Di mưu sao nỡ quên lòng đoái thương?
Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm,
Đầu mũ mao, mình tấm áo gai!
U ơ ra trước hương đài,
Tưởng quang cảnh ấy chua cay dường nào!
Trong sáu viện ố đào ủ liễu,
Xác ve gầy, lỏng lẻo xiêm nghê!
Long đong xa cách hương quê,
Mong theo: lầm lối! mong về: tủi duyên!
Dưới bệ ngọc, hàn uyên vò võ,
Cất chân tay thương khó xiết chi!
Hang sâu nghe tiếng thương bi,
Kẻ sơ còn thế, huống gì người thân?
Cảnh ly biệt nhiều phần bát ngát,
Mạch sầu tuôn ai tát cho vơi!
Càng trông càng một xa vời,
Tấc lòng thảm thiết, chín trời biết chăng?
Buồn trông trăng trăng mờ thêm tủi:
Gương hằng nga đã bụi màu trong!
Nhìn gương càng thẹn tấm lòng,
Thiên duyên lạnh lẽo, đêm đông biên hà (?)
Buồn xem hoa, hoa buồn thêm thẹn:
Cảnh hải đường đã quẹn gió sương!
Trông chim, càng dễ đoạn trường:
Uyên ương chiếc bóng, phượng hoàng lẻ đôi!
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy,
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu!
Phút giây bãi bể nương dâu,
Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?
Chữ tình nghĩa, trời cao đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống còn đau!
Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho...
(Theo bản của Sơn Tùng Hoàng Thúc Trâm, trong Quốc Văn Đời Tây Sơn, Sđd. trang 83-93)
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 27.02.2018 07:39:36 bởi casau>
Công chúa Ngọc Hân: Bắc cung Hoàng hậu triều Quang Trung
Nhất Thanh

Công chúa Ngọc Hân là con gái thứ 9 [1] của vua Lê Hiển Tông (1740-1786) và bà Hoàng hậu Chiêu Nghi [2] húy Nguyễn thị Huyền làng Phù Ninh (tục gọi làng Nành) tổng Hạ Dương, huyện Đông Ngàn (trước 1946 là phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh).
Truyền rằng Bà người kiều diễm, phong tư khác thường cho nên đời bấy giờ gọi bà là Chúa Tiên, bà thông minh, từ nhỏ được tập rèn kinh sử, lại giỏi thơ văn quốc âm, Bà được vua cha thương yêu rất mực.

Công chúa Ngọc Hân và Vua Quang Trung.
Từ năm Giáp Ngọ (1774) Thuận Hóa thuộc về bờ cõi đất vua Lê chúa Trịnh. Năm Bính Ngọ (1786) cuối mùa xuân phiên trấn Thuận Hóa là Tạo quận công Phạm Ngô Cầu sai Dương Lĩnh Bá, Nguyễn Phú Như vào đất Tây Sơn thương nghị việc biên giới hai bên. Vì quen biết Nguyễn Hữu Chỉnh, Phú Như nói hết tệ trạng Đàng ngoài và cho biết có thể đánh chiếm Thuận Hóa rồi đánh thẳng ra Bắc Hà. Chỉnh bèn tâu bày với vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc xưng đế năm Mậu Tuất 1778, đặt niên hiệu là Thái Đức) cách thức đánh thẳng vào Phú Xuân, lấy đất Thuận Hóa. Nguyễn văn Bình (tên trước là Nguyễn Huệ) lãnh ấn nguyên súy đem quân thủy bộ ra đánh thắng dễ dàng, sau được vua Thái Đức phong cho làm Bắc Bình vương.
Từ Phú Xuân quân Tây Sơn tiến thẳng ra Bắc với danh hiệu phù Lê diệt Trịnh. Đánh đến Vị Hoàng (tỉnh Nam Định ngày nay) nguyên súy Nguyễn văn Bình làm tờ tâu nói rõ ý tôn phù, sai người lẻn lên kinh thành dâng vua Lê.
Ngày kinh thành bị hạ Nguyễn văn Bình đem quân vào thành, sai trấn giữ cung điện, ai nấy ngỡ là “giặc” đến bức nhà vua, bảo nhau nâng Hoàng thượng dậy (vua đang nằm bệnh) dìu ngài ra phía vườn sau để trốn. Chợt thấy một viên tì tướng quỳ dâng tờ tâu thỉnh an vua và xin ngày khác sẽ vào triều yết.
Sáng sớm hôm sau, nguyên súy Tây Sơn Nguyễn văn Bình cùng với Nguyễn Hữu Chỉnh vào cung Vạn Thọ. Vua nằm trong chăn sai vén màn lên, cho mời vào. Nguyên súy sụp lạy năm lạy ba vái, vua sai Hoàng tử ra nâng dậy và mời ngồi trên một chiếc sập cạnh sập ngự. Vua truyền pha trà bưng ra thết.
Nguyên súy nói ra diệt Trịnh và cầu chúc vua khỏe mạnh cai trị thiên hạ. Hoàng thượng ngỏ lời cảm ltạ, và phàn nàn vì thanh bạch không có vật gì đáng biếu tặng.
Vài hôm sau, Nguyên súy chọn ngày vào làm lễ long trọng triều yết vua. Ngày 7 tháng 7 năm Bính Ngọ (1786) thiết đại triều ở điện Kinh Thiên đông đủ các quan. Nguyên súy vào làm lễ, dâng tờ tâu nói về công diệt Trịnh và dâng sổ sách dân, quân. Hôm sau vua sai đem chiếu sách đến dinh phong chức Nguyên súy Phù chính dực Vũ Uy quốc công. [3]
Sau đó, Nguyên súy bảo riêng với Chỉnh: “Ta đem quân ra đây chỉ đánh một trận dẹp yên được cả. Một hòn đất, một tên dân của nước Nam đều là của ta, ta muốn xưng đế xưng vương gì chẳng được, nhưng ta muốn xử trọng hậu với nhà Lê đó thôi, chứ cái chức Nguyên súy Quốc công với ta có hơn gì. Hay là nước Nam muốn lấy những danh từ hão ấy mà lung lạc ta? Ta không nhận thì sợ Hoàng thượng bảo ta kiêu căng. Nhận mà không nói lại sợ người trong nước chê ta là man mọi”.
Chỉnh biết ý Bình bất mãn liền đặt ra chuyện vua đã phàn nàn vì nghèo không có vật gì đáng tặng, bản ý chỉ muốn ràng buộc tình thân hai họ để hai “nước” đời đời là thông gia; ngài biết mình đã tuổi già, cũng mong muốn được ông khuông phù. Nhưng vì chưa biết ý ông cho nên chưa dám nói rõ.
Chỉnh thấy Bình bằng lòng bèn vào tâu vua. Vua còn mấy vị công chúa chưa gả chồng, liền cho gọi tất cả ra. Vua đã bảo trước cho Chỉnh biết Ngọc Hân công chúa, năm ấy 16 tuổi, là hơn cả, Chỉnh cũng nhận thấy như vậy, và nói chắc việc thế nào cũng xong.
Sau khi được vua hạ chỉ gả Ngọc Hân công chúa, Uy quốc công chọn ngày mồng mười tháng ấy làm lễ thành hôn, dâng sính lễ vàng bạc gấm đoạn [4], dàn bày cờ quạt gươm giáo, sai viên Hình bộ Thượng thư tiến lễ cùng tờ tâu vào điện Vạn Thọ. Vua sai Hoàng tử tiếp nhận lễ vật, và truyền chỉ các vị hoàng thân, hoàng phi, công chúa và các quan văn võ sửa soạn xe ngựa võng lọng, ngày hôm sau đưa dâu.
Sáng sớm hôm sau, suốt từ cửa điện đến cửa phủ quân lính sắp hàng đứng hai bên đường với binh trượng cờ xí nghiêm chỉnh. Dân chúng trẻ già trai gái đi xem đông như nêm cối, ai nấy đều cho là việc ít có xưa nay.
Nguyên súy Uy quốc công ngồi kiệu rồng vàng ra cửa phủ đón xe công chúa vào. Một tiệc lớn được bày thết các hoàng thân, hoàng phi và các quan đi đưa dâu. Yến tiệc xong, Nguyên súy sai đem ra hai trăm lạng bạc làm lễ tặng nhà gái, và tiễn đưa khách ra khỏi cửa phủ mới trở vào.
Các quan trở về hội ở công đường bộ Lễ, mọi người đều khen nhà vua kén được rể quý, nước Nam ta từ nay có “nước” dâu gia.
Hôm vào làm lễ yết ở nhà Thái miếu, lúc ra về công chúa và Bình cùng gióng kiệu đi về phủ, nét mặt hân hoan; nhiều người thấy yên lòng, hết thấp thỏm e ngại cho công chúa.
Bình có ý kiêu, đã có lần hỏi công chúa: “Con trai, con gái nhà vua đã mấy ai sung sướng như công chúa”? Công chúa đáp: “Nhà vua ít lộc, con trai con gái đều bần bạch. Riêng tôi may mắn lấy được ông lớn, khác nào hạt mưa rơi vào nơi đài các [5].
Ngày 17 (vẫn tháng 7 năm Bính Ngọ) sáu ngày sau lễ cưới, vua Hiển Tông băng. Nguyên súy phò mã dự phần chủ tang lễ và lập tự tôn kế vị là Mẫn đế.
Một tháng sau, công chúa theo chồng về Thuận Hóa, cùng với vua Thái Đức đã từ Quy Nhơn lật đật ra Thăng Long nghe ngóng tình hình.
Năm Mậu Thân (1788) trước khi ra Bắc đánh quân nhà Thanh (đã mượn tiếng sang cứu nhà Lê, chiếm giữ thành Thăng Long) Bắc Bình vương lên ngôi Hoàng đế đặt niên hiệu là Quang Trung lo chỉnh đốn mọi việc, lập Ngọc Hân làm Bắc cung hoàng hậu, lập con đích là Quang Toản làm Thái tử. [6]
Ngô Tất Tố trong Thi văn bình chú, Mai Lĩnh, Hà Nội 1952, viết: Bà được phong làm Hữu cung hoàng hậu (không ghi xuất xứ).
Nhật Nham trong Tri Tân số 35 ngày 18-2-1942 viết: Vua Quang Trung sách lập Ngọc Hân công chúa làm Hữu cung, Như Ý hoàng hậu (cũng không ghi xuất xứ), và chú giải nơi dưới bài văn tế Ngọc Hân tế vua Quang Trung về hai chữ “Cung Hữu”. Như vậy, Nhật Nham đã ghép lẫn danh hiệu Hoàng hậu của Bà lúc còn sống với miếu hiệu của Bà lúc đã chết, lại lẫm lộn Nhu ý với Như ý.
Có lẽ người ta đã căn cứ vào hai chữ “cung hữu” dưới đây trong bài văn tế mà cho rằng Bà là Hữu cung hoàng hậu:
“Cung hữu rạng màu địch phất, tình ái ân muôn đội nhà vàng”.
Công chúa cùng với vua Quang Trung ở Phú Xuân, sinh được hai con, một gái, một trai. Có thuyết cho rằng bà không có con (sẽ đề cập ở dưới).
Hương lửa đang nồng, được bảy năm, thì vua Quang Trung băng. Bà lấy vua Quang Trung năm 16 tuổi, góa năm 23 tuổi.

Ngọc Hân công chúa không tái giá.
Bulletin des Amis du Vieux Huế số 4 năm 1941 có đăng bài Les Caprices du Génie des mariages ou l’extraordinaire destinée de la princesse Ngọc Hân (“Ông Tơ Bà Nguyệt đa đoan” hay là “duyên số ly kỳ của Ngọc Hân công chúa”) của Việt Thường kể lại cuộc gặp gỡ giữa Gia Long và Ngọc Hân với lời can gián vô hiệu quả của Lê văn Duyệt. Không dẫn chứng do sử liệu nào, và câu chuyện viết như có nhuốm màu tiểu thuyết.
Thực lục chính biên đệ nhất kỷLiệt truyện tiền biên sơ tập có chép việc quân của Nguyễn Ánh đánh lấy kinh đô Phú Xuân, Quang Toản bỏ thành chạy ra Bắc, và sau biết thế không chống nổi, cùng em là Quang Thùy, Quang Duy, Quang Thiệu, với Tư mã Nguyễn văn Dụng, Nguyễn văn Tứ, Đô đốc Tú vượt sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc, sau đều bị bắt, trừ Quang Thùy tự thắt cổ chết. Trong việc này sử không hề nói đến bà Ngọc Hân và hai con bà.
Bách Khoa số 101 ngày 15-3-1961 đăng bài “Phải chăng vua Gia Long và vua Quang Trung là hai anh em bạn rể” của Bửu Kế viết: “Câu chuyện vua Gia Long kết duyên với Ngọc Hân công chúa ở Huế vẫn có dư luận đó...”
Sở dĩ có dư luận như vậy vì theo bài của Việt Thường đã nói ở trên thì trong số đền đài tản mác đó đây nơi cố đô Huế có nhà thờ của hai ông hoàng Quảng Oai quận công và Thường Tín quận công, đều là con vua Gia Long. Trong Liệt truyện có chép tiểu sử hai ông hoàng này vắn tắt như sau: “Quảng Oai công, con thứ mười của Thế Tổ, mẹ là bà Đức phi họ Lê, năm Gia Long thứ 15 được phong Quảng Oai quận công”. Ông Bửu Kế đã tra cứu Ngọc điệp, Hoàng tử, Hoàng nữ phổ trong Tôn nhân phủ, thấy có chép về hai ông Quảng Oai và Thường Tín như sau: “Mẹ họ Lê tên húy là Bình, người làng Lam Sơn, huyện Thoại Nguyên tỉnh Thanh Hóa, con út cửa vua Lê Hiển Tông. Bà sinh giờ Qúy Hợi, ngày 12 tháng Chạp múa đông năm Giáp Thìn (1784); năm Tân Dậu (1801) vào chầu hầu, chẳng bao lâu được phong lên Tả cung tân. Ngày 12 tháng 9 mùa thu năm Gia Long thứ 9 (1810) mất, tặng Đức phi, thụy Cung Thận, tẩm mộ tại làng Trúc Lâm, nhà thờ tại Kim Long xã, sau dời qua làng Phú Xuân. Sinh hai con trai, hai con gái, hoàng trưởng tử là ngài Quảng Oai húy Quân, hoàng nhị tử là ngài Thường Tín, húy Cự, hoàng trưởng nữ là An Nghĩa công chúa húy Ngọc Ngôn, hoàng nhị nữ là Mỹ Khê công chúa húy Ngọc Khê” (bà này sau lấy con nuôi của Lê văn Duyệt). Ông Bửu Kế kết luận: “Có lẽ người ta đã lầm bà Lê thị Bình với Ngọc Hân công chúa, vì hai bà đều con vua Lê Hiển Tông cả”.
Phải chăng cũng do lời đồn như đã nói trên mà Ngô Tất Tố đã viết trong Thi văn bình chú: “Trong đời Gia Long ở làng Phù Ninh cũng có một người được làm cung phi, vẫn gọi là bà chúa Nành. Vì thế người ta tưởng là bà Ngọc Hân sau có lấy vua Gia Long. Sự thực thì bà không biết mặt vua ấy bao giờ”.
“Ngọc Hân công chúa dật sự” (Nam Phong số 103 đã dẫn trên) chép: “... Dòng dõi nhà Tây Sơn không còn sót một ai. Công chúa Ngọc Hân vì là con của vua Lê được khỏi nạn, năm ấy đã 32 tuổi mà tư sắc vẫn đẹp chưa hề suy giảm. Vua Thế Tổ bổn triều (Gia Long) để yên bà ở một dịch đình (nhà ở bên cạnh cung điện) cho người hầu hạ. Bầy tôi có người cho rằng công chúa là của thừa Tây Sơn, can gián vua. Vua bảo: ‘Đất đai nhân dân ngày nay không một thứ gì là không phải của thừa Tây Sơn, thì sao?’ Sau vua Gia Long cho công chúa về quê quán của mẹ thuộc tỉnh Bắc Ninh, cho đến lúc bà mất”. [7] Vậy thì rất có thể đã có lúc vua Gia Long muốn lấy công chúa Ngọc Hân, nhưng nghĩ rồi lại thôi; hoặc vì lời can gián của một đại thần, hoặc vì e sợ lòng người (đại đa số trí thức Bắc Hà) còn quy phụ nhà Lê mà “phải” kiêng nể không dám giết không dám lấy, lại để cho bà về quê mẹ” [8]
Còn một lẽ nữa dễ hiểu hơn: về phần công chúa Ngọc Hân, khó có thể bà chịu khuất mình, dù là với vua Gia Long; bà không phải là người tầm thường, lại có học nhiều, cái học đặt trọng tam cương ngũ thường, không dễ gì bà cam chịu làm điều trái cương thường. Bà lại có hai con với vua Quang Trung (thuyết này sẽ bàn cãi ở trương sau), nếu bà bị bắt với hai con hay bị bắt một mình đi nữa, hẳn bà thương xót con, và không thể nào làm ngơ về số mệnh của con trong khi vua Gia Long chẳng bao giờ chịu để cho dòng máu Nguyễn Tây Sơn còn nối dõi, vậy giết con và lấy mẹ, một người mẹ như bà Ngọc Hân, là việc không ổn, chắc hẳn không xong; bị cưỡng bức bà sẽ tuẫn tiêt. Nếu quả có bắt được bà, muốn mà không sao được, ấy là chưa kể nỗi e sợ dân Bắc Hà, thì đành “tha làm phúc”.
Đến đây ta có thể đoán ra bà Ngọc Hân có bị bắt ngay tại Phú Xuân hay bị bắt đem về đấy, do đó có dư luận truyền lại vua Gia Long đã lấy bà; sự thực thì vua Gia Long có lấy một bà công chúa con vua Lê Hiển Tông, em cùng cha khác mẹ với bà Ngọc Hân.
Để kết luận, ta có thể tin chắc Ngọc Hân công chúa không tái giá với vua Gia Long, thuyết này sẽ được chứng minh thêm ở chương sau: Bà chết ở quê mẹ, táng ở đây, là làng Phù Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Bà Ngọc Hân mất năm nào?
Đỉnh Tập quốc sử di biên [9] chép:
“Giáp Tý năm thứ ba (tức là năm Gia Long thứ ba, 1804)
Tháng 5 ngày 21 ..................
Bà Công chúa nhà Lê tên là Ngọc Hân chết.
Đời vua Cảnh Hưng nhà Lê năm Bính Ngọ (1786) đem gả bà Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn; đến khi Tây Sơn mất nước, bà Ngọc Hân ra trốn ở làng mẹ là làng Phù Ninh, khi bà ấy mất, có quan nhà Tây Sơn khi ấy đương làm quan ở huyện Đông Ngàn mới xin phép vua làm lễ chôn, vua cho. Sau dân ở huyện Phù Ninh cũng lập nhà thờ để thờ bà ấy”.

Liền trên là ba dòng chữ chép một việc khác, đầu câu viết: ngũ nguyệt nhị thập nhất nhật (tháng năm ngày 21); liền dưới là chép việc tháng sáu (xem ảnh bản chữ Hán).
Như vậy theo lối biên niên trong việc chép sử thì bà Ngọc Hân mất ngày 21 tháng 5 hoặc sau đó ít ngày.
Cũng Đỉnh Tập quốc sử di biên (bản dịch) chép:
“Có người làng Phù Ninh, tên là tổng Phụng, cậy quyền thế là người làng họ bà Công chúa, tranh kiện với dân, việc đến tai vua. Vua giận lắm, truyền bắt tội tên tổng Phụng, và ngày 28 tháng 4 năm Qúy Mão (năm Thiệu Trị thứ ba, 1843) sức đào mả bà Ngọc Hân công chúa đổ xuống sông, và bán ruộng bán nhà thờ bà ấy”.
Sách và tập san xuất bản gần đây viết khác nhau về chung cục của bà Ngọc Hân, không dẫn chứng tài liệu lịch sử, như:
Thi văn bình chú của Ngô Tất Tố viết: Khi nhà Tây Sơn mất nước, bà và các con đổi tên họ lẩn vào ở ẩn trong một làng nhỏ tỉnh Quảng Nam. Nhưng không bao lâu có kẻ phát giác, bà phải uống thuốc độc tự tử, hai con đều thắt cổ chết.
Triều Tây Sơn của Phan Trần Chúc cũng viết: Ẩn lánh ở Quảng Nam rồi bị bắt, xử “tam ban triều điển”.
Quốc Văn Đời Tây Sơn của Hoàng Thúc Trâm viết: Thuyết khác lại cho rằng sau khi nhà Tây Sơn mất, bà cùng hai con, một trai một gái, phải giả dạng làm vợ một người lái buôn, trốn tránh vào một miền quê ở tỉnh Quảng Ngãi (?) được ít lâu tung tích bại lộ, bà và hai con cùng bị triều Nguyễn gia hình bằng “tam ban triều điển” [10], nhưng ông đã bác thuyết này.
Trung Bắc chủ nhật số 53: Sở Bảo viết có về làng Phù Ninh, được mấy vị cố lão kể cho nghe về thân thế bà Ngọc Hân. Theo lời ông thì sau khi nhà Tây Sơn mất, Ngọc Hân công chúa đem hai con về ẩn trốn một nơi tỉnh Quảng Nam, con trai đổi tên là Trần văn Đức, con gái đổi tên là Trần thị Ngọc Bảo, chẳng bao lâu tung tích bị bại lộ, cả ba mẹ con bị bắt và xử “Tam ban triều điển”. Năm ấy bà 30 tuổi, con gái 13, con trai 10. Sau bà Chiêu Nghi (mẹ đẻ bà Ngọc Hân) cho người đi lấy di hài con cháu về chôn ở làng Phù Ninh và lập đền thờ. Vài năm sau vì có việc ghen ghét tố giác, triều đình bắt tội mấy kỳ hào đã công nhiên cho xây lăng và đền thờ “ngụy hậu”, sai phá hủy đền, đào xương đổ xuống sông.
Vẫn theo lời Sở Bảo, họ Nguyễn ở làng Phù Ninh cũng có một thiếu nữ đẹp tên là Nguyễn thị Ngọc Bình được chầu vua Cảnh Thịnh. Được vài năm nhà Tây Sơn mất, bà Ngọc Bình trốn đi tu rồi bị bắt đưa về tiến chầu vua Gia Long.
Nếu quả là lời hoàn toàn của cố lão làng Phù Ninh mà Sở Bảo chỉ thuật lại, thì ta cũng không khỏi thắc mắc về việc còn nhớ rành rẽ họ tên đã được thay đổi của hai con Bà sau hơn 130 năm đã qua. Tuổi của bà và của hai con cũng được nhớ rõ ràng, nhưng đối chiếu với năm sinh của Bà (1770) thì thấy sai lệch ít năm; về việc phá đền đào xương có lẽ không phải vài năm sau, vì là việc vua Gia Long vẫn e dè - nếu không muốn nói e sợ - chưa dám làm. Ta nhớ rằng Đỉnh Tập quốc sử di biên chép việc ấy rõ ngày, tháng, năm, xảy ra đời Thiệu Trị nghĩa là hơn 40 năm sau khi vua Gia Long xưng đế, vào lúc ngai vàng họ Nguyễn Phúc đã có cơ sở vững chắc, vua Thiệu Trị không còn thấy “phải” kiêng nể con cháu nhà Lê và dân Bắc Hà.
* * * * *
Trong Quốc Văn Đời Tây Sơn Hoàng Thúc Trâm căn cứ vào năm bài văn tế do Dụ am Phan Huy Ích (1750-1822) soạn thảo, mà ông đã tìm ra và chưa được ấn hành: một bài cho vua Cảnh Thịnh, một bài cho các con gái vua Quang Trung, một bài cho Phù Ninh Từ cung là mẹ bà Ngọc Hân, một bài cho cựu hoàng tông là những người trong tông thất nhà Lê và một bài cho các bà con họ ngoại bên Phù Ninh, để đọc trong những tuần tế điện bà Ngọc Hân. Ông đã căn cứ vào năm bài văn tế này mà cho rằng bà mất năm Kỷ Mùi (1799) ba năm trước khi nhà Nguyễn Tây Sơn mất ngôi. Ông viện dẫn sách văn truy tôn miếu hiệu Nhu Ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ hoàng hậu có câu “Tố thập tứ niên vi việc đồng thư”... (cuốn sách rực rỡ viết bằng cây bút quản đỏ chép công đức bà trong mười bốn năm...) để suy luận đó là sách phong bà Ngọc Hân vì từ năm Bính Ngọ bà kết duyên với vua Quang Trung đến năm Kỷ Mùi bà mất là 14 năm nếu tính năm, không tính tháng.
Vẫn theo ông, nếu bảo rằng những chứng cớ trên còn chưa đủ vì vua Quang Trung có hai bà hậu, e có thể họ lẫn lộn với bà họ Phạm sinh ra vua Cảnh Thịnh, thì còn có sách văn khác gia tôn miếu hiệu cho hoàng tỉ (mẹ đẻ vua Cảnh Thịnh) là Nhân Cung Đoan Tĩnh Trinh Thục Nhu Thuần Vũ hoàng chính hậu; tiếc rằng ông không nói đến niên hiệu sách phong này và cũng không chú dẫn xuất xứ.
Sử chép [11]: Thái sư Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái hậu (triều Cảnh Thịnh), thì hẳn phải còn có bà hậu họ Bùi nữa là ít ra ba bà, nếu bà họ Phạm không phải là cùng mẹ khác cha với Thái sư như ông Thiết Mai đã viết mà không dẫn chứng (Văn hóa nguyệt san số 64 tháng 9-1961). Theo thư từ trao đổi giữa mấy giáo sĩ ngoại quốc (sẽ viện dẫn ở dưới) thì vào khoảng tháng 3 năm 1791 có một bà hậu Tây Sơn mất nếu dựa vào văn sách nói 14 năm là sách phong bà Ngọc Hân thì không chắc, vì bất cứ bà hậu nào từ lúc lấy vua hay từ lúc vua lên ngôi hay từ lúc được phong Hoàng hậu đến khi vua băng hay đến khi bà mất, nếu tính ra được 14 năm đều hợp cả.
Chắc nội dung sách văn không nói rõ là phong cho bà Ngọc Hân cho nên Hoàng Thúc Trâm phải viện dẫn câu “Tố thập tứ niên...” và viện dẫn một sách văn khác cho là phong bà chính hậu, thì chung quy cũng vẫn là nghi vấn.
Mặt khác một giả thuyết cần được đặt ra: Các cụ nho xưa phần vì ưa chuộng văn chương phần vì cám cảnh, thường làm văn tự sự chơi, làm đối liên, làm văn tế, than vãn người hay việc đã qua, như bài ca Chính khí Hà thành thất thủ, bài văn tế Nguyễn Duy Hàn, câu đối điếu Hoàng Diệu, điếu Phan Châu Trinh... hoặc chê trách hoặc ca tụng, tùy trường hợp, không phải để phúng để đọc ở nhà đám. Rất có thể Phan Huy Ích cũng như nhiều nho sĩ khác dần dà về sau đã làm thơ, làm đôi liên, làm văn tế để tưởng niệm, nhưng vì không công bố ra nên không được biết hết. Năm bài văn tế của Phan Huy Ích có tính cách “danh sơn sự nghiệp” [12] đúng theo nghĩa nguyên thủy. Phan Huy Ích cũng như Ngô Thì Nhiệm, vì đã giúp dặp vua Quang Trung nhiều, bị đình thần triều Gia Long kết tội căng nọc đánh ở trước Văn miếu Hà Nội, rồi được tha về. Từ đó ông dạy học, sống đời thanh bạch của một cựu thần nhà Tây Sơn, có cảm khái làm những bài văn tế kia tưởng không lấy làm gì lạ. Nhưng có lẽ ông đã phải thận trọng e dè “thắng tả niên hiệu” như các cụ thường nói (ghi ngày tháng năm ngược về trước) để phòng khi có vỡ chuyện thì còn bút tích đây chứng tỏ làm đã lâu rồi (dù là làm để sẵn đấy) lúc còn nhà Tây Sơn, chứ không phải là vẫn cay đắng trong lòng và vẫn còn luyến tiếc mà làm văn tế lúc Gia Long đã lên ngôi rồi. Bài thứ nhất, theo Hoàng Thúc Trâm, đầu đề là “Kỷ Mùi đông, nghĩ Ngự điện Vũ hoàng hậu tang, quốc âm văn” (mùa đông năm Kỷ Mùi (1799) nghĩ đỡ nhà vua bài văn quốc âm để tế điện Vũ hoàng hậu). Mấy tiếng “nghĩ đỡ nhà vua” cũng làm ta suy nghĩ, nếu quả thực làm năm Kỷ Mùi thì có lẽ phải viết: “Kính cẩn vâng mệnh vua, làm”.
Trong năm bài văn tế không có bài nào làm riêng cho con đẻ của bà Ngọc Hân, mà có bài làm cho những người trong tôn thất nhà Lê và cả cho bà con họ ngoại ở làng Phù Ninh. Lại còn bài làm cho bà Chiêu Nghi, mẹ khóc con bằng văn tế đem ra đọc lúc tế điện là việc xưa nay chưa từng có trong phong tục về tang lễ của nước ta (cha mẹ không đi đưa đám con là ý rằng không đi chôn con, cha mẹ không làm văn tế con vì là nghịch cảnh, trái đạo thường). Đó lại là điểm khiến ta nghi ngờ thêm không phải là những bài văn tế để tế điện ngay sau khi bà mất.
Một điểm nữa cũng khiến ta nghĩ ngợi băn khoăn: Phan Huy Ích theo Bắc Bình vương ngay từ buổi đầu (1786), năm sau một bà Hoàng hậu của vua Quang Trung mất, tang lễ vô cùng linh đình trang trọng mà sao không thấy có văn tế của ông làm cho Thái tử, cho vua hay ít nữa cho bất cứ ai trong họ ngoài triều [13]. Nếu về sau ông làm một lúc năm bài văn tế để tế điện bà Ngọc Hân thì hành động có vẻ bên trọng bên khinh, ít nhất về bề ngoài, đối với bà Hoàng hậu mất năm 1791, dù là bà họ Phạm sinh ra Thái tử Quang Toản hay là bà họ Bùi em một Thái sư Bùi Đắc Tuyên, Phan Huy Ích đã không làm gì thì về sau đối với công chúa nhà Lê ông cũng phải dè dặt không dám ngang nhiên tỏ ra quá thiên lệch, nhất tâm tưởng vọng.
Quốc văn đời Tây Sơn có đoạn: “... Trong Dụ am văn tậpDụ am ngâm lục, ngoài những thơ văn chữ Hán, Huy Ích còn ít tác phẩm bằng quốc văn: độ ngót chục bài văn tế nôm và hơn chục bài thơ nôm, ấy là không kể những bài quốc văn như đã dẫn, (tức là mấy bài văn tế kể trên), điều này chứng tỏ ông thích quốc văn, thích làm văn tế, và vì hoài niệm cố Lê rất có thể ông đã ‘làm chơi’ cả năm bài”.
Tìm hiểu chung cục của Bắc cung Hoàng hậu thì phải nói đến con bà:
Đại Nam liệt truyện tiền biên sơ tập cũng như Thực lục chính biên đệ nhất kỷ không hề chép Ngọc Hân công chúa có con với vua Quang Trung. Nếu vua Gia Long đã ngầm sai giết riêng con bà vì những lý do đã nói ở phần trên, thì sử quan triều Nguyễn chẳng bao giờ đả động đến con bà, là lẽ tất nhiên. Tuy nhiên, những truyện bà và hai con chạy trốn, cũng như Triều Tây Sơn của Phan Trần Chúc chép rõ cả tên hai con bà và Trung Bắc chủ nhật bài của Sở Bảo thuật lại rõ tên họ đã thay đổi của hai con bà; thêm vào đấy văn tế Bà tế vua Quang Trung, Ai tư vãn Bà khóc vua Quang Trung, văn tế Phan Huy Ích làm cho Cảnh Thịnh, cho các công chúa, đều có nói đến con Bà, thì không lẽ đều là truyện hoàn toàn bịa đặt.
Văn tế Bà tế vua Quang Trung có câu:
Liều trâm thoa mong theo chốn thân du, da tóc trâm thân nào có tiếc,
Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương.

Bài Ai tư vãn có những câu:
Còn trứng nước thương vì đôi chút,
Chữ tình thương chưa thoát được đi.
.........................
Nửa cung gãy phím cầm lành
Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ.

Bài văn tế Phan Huy Ích soạn cho vua Cảnh Thịnh có câu:
Hồ Đỉnh ngậm ngùi cung nọ, sắp nắp chìm châu nát ngọc đã từng nguyền.
Cung khôn bận bịu gối nao, ếp vì (?) vun quế quến lan nên hãy gượng.

Bài văn tế của các Công chúa con vua Quang Trung có câu:
Dầu gót ngọc vui miền tịnh độ, nỡ nào quên hai chồi lan quế còn thơ,
Dầu xiêm nghê vắng cảnh thanh đô, nỡ nào lảng một bóng tang du hầu xế.

La Geste Française en Indochine của Georges Taboulet quyển I có bài “Le châtiment des derniers Tây Sơn” do một giáo sĩ viết kể lại việc hành hình vua Cảnh Thịnh, bà Bùi thị Xuân, quan Thiếu phó Trần Quang Diệu, ở Huế tháng 8 năm 1802, không thấy nói đến Bắc cung Hoàng hậu và hai con Bà.
Đại Nam liệt truyện sơ tập có chép việc “quật phá mộ phần của Nhạc và Huệ, nghiền bỏ hài cốt, giam sọ vào ngục thất, triệt hạ ấp Tây Sơn, đổi tên ra ấp An Tây. Năm Minh Mệnh thứ 12 lại bắt được con của Nhạc là Văn Đức và Văn Lương, cháu là Văn Đâu (con của Văn Đức) đều bị tội chém ngang lưng. Từ đó dòng họ Tây Sơn không còn người nào”, nhưng vẫn không thấy nói đến Bắc cung Hoàng hậu và hai con bà, chắc cũng vẫn vì lẽ quốc sử quan triều Nguyễn vẫn “phải” cố tình giấu diếm bỏ qua.
Để kết luận, như vậy ta có thể nhận ra và tin rằng Bắc cung Hoàng hậu có hai con với vua Quang Trung, và bà có bị bắt với hai con hoặc ở Huế hoặc ở nơi khác. Vua Gia Long đã sai giết hai con bà cách kín đáo, và đã cho bà về ở quê mẹ; năm Giáp Tý (1804) bà mất có lẽ vì đau thương biết rằng con mình đã bị giết, hoặc giả bà đã lặng lẽ tự vận. Năm Quý Mão (1843) vua Thiệu Trị đã sai quật mồ bà ở làng Phù Ninh, cho đổ xương xuống sông. Đỉnh tập quốc sử di biên chép việc này cũng không nói đến mộ phần của hai con Bà, điều này chứng tỏ con bà bị giết ở nơi khác không được chôn cùng với mẹ ở Phù Ninh, cho nên không thấy nói bị quật mồ.
Kiến giải trên đây (Bắc cung hoàng hậu có hai con. Bà mất năm 1804) không phải là một ức thuyết mà là căn cứ vào sử liệu đã có từ lâu đời, một có giá trị có thể coi là tuyệt đối với lối biên niên (Đỉnh tập quốc sử di biên), và một có tính cách dã sử (Ngọc Hân công chúa dật sự).
Dù sao ta vẫn có quyền trông đợi ở các nhà sử học tìm kiếm ra thêm tài liệu, hoặc biện minh cho ra sự thực đến nay vẫn còn có thể bàn cãi.
Tập san Sử Địa số 21 (1971)
Trang 17-31
----------------
[1] Ngọc Hân công chúa dật sự (phần chữ Hán trong Nam Phong số 103 năm 1926) chép: bà là con gái thứ 9 của vua Lê Hiển Tông, Quốc Văn Đời Tây Sơn của Hoàng Thúc Trâm chép: bà là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông (không ghi xuất xứ).
[2] Thi văn bình chú của Ngô Tất Tố, Mai Lĩnh, Hà Nội 1952, chép: Đời vua Hiển Tông nhà Lê bà được phong làm chức Chiêu Nghi (không ghi xuất xứ).
Có bản chép: vì con gái bà là Ngọc Hân được vua Quang Trung sắc phong Bắc cung hoàng hậu, mà bà được phong Chiêu Nghi hoàng hậu.
[3] Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập chép: Nguyên súy Phù chính dực vận Uy quốc công.
[4] Về sính lễ mỗi chỗ chép nhiều ít khác nhau:
Hoàng Lê nhất thống chí: 200 lạng vàng, 2.000 lạng bạc, hai chục tấm đoạn.
Tri tân số 14 ngày 12-9-1941: 200 lạng vàng và 20 cây vóc (không ghi xuất xứ).
Giáo Dục phổ thông số 50 ngày 15-11-1959: 10 thoi vàng, 1.000 thoi bạc, 100.000 quan tiền (không ghi xuất xứ).
[5] Lược thuật theo An Nam nhất thống chí Học Tấn và Trưng Phủ.
[6] Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập chép: “... Lập Lê thị Ngọc Hân vi Bắc Cung hoàng hậu, đích tử Quang Toản vi Thái tử”.
Trong việc sách phong này không thấy nói đến mẹ đẻ vua Cảnh Thịnh (Quang Toản); nhưng ta thấy trong Ngọc Hân công chúa dật sự (Nam Phong tạp chí số 103 năm 1926 phần chữ Hán) có chép: “Vua Cảnh Thịnh là con của Tả hoàng hậu”.
(Bà hậu này họ Phạm?). Và cũng không thấy nói đến bà họ Bùi, em ruột Bùi Đắc Tuyên, chính sử chép là Thái hậu triều Cảnh Thịnh.
[7] Phần chữ Hán trong bài Ngọc Hân công chúa dật sự: “... Tây Sơn chủng tộc loại vô kiết di. Công chúa dĩ Lê đế chi mỹ đắc miền ư nạn, thi niên dĩ đạt tam thập nhị tuế, nhiên tư sắc chi mỹ vị thường, thiểu giảm.
Bản triều Thế tổ hoàng đế hựu tri chi dịch đình, sử cung thị phụng. Quần thần hoặc dĩ vi chúa nải Tây Sơn chi dư vật nhi gián chi. Để viết: Kim chi thổ địa nhân dân vô nhất như phi Tây Sơn dư vật, tắc tương nại chi hà?
Hậu hứa Bắc quy, tùng mẫu thị hương quán, trú ư Bắc Ninh, nhi chung yên”.

[8] Ta nên nhớ rằng vào năm Gia Long nguyên niên (1802), “Lê Duy Hoán, dòng dõi nhà Lê được phong tước công (Diên Tự Công) cho thế tập tước vị để vâng giữ việc thờ cúng ở miếu nhà Lê, cấp cho tự dân 1.000 người, tự điền 10.000 mẫu”, để lấy lòng dân chúng.
Đến đời vua Minh Mệnh vẫn còn e ngại lòng dân, còn “phải” cấp người và ruộng thờ phụng, tuy ít hơn thời Gia Long. Mãi đến thời Thiệu Trị mới làm “thẳng tay”.
[9] Đỉnh Tập quốc sử di biên là quyển sử biên niên bằng chữ Hán chép việc từ năm Nhâm Tuất (Gia Long năm đầu 1802) đến năm Mâu Thân (Tự Đức năm thứ hai 1848) do Dưỡng Hạo Hiên biên soạn.
Sách viết tay chưa in, có bản phóng vi ảnh chữ Hán số SA-10 và bản dịch tiếng Việt kèm liền tiếng Pháp (đều viết tay) ở Viện Khảo Cổ Saigon. Dưới nhan đề sách ở tờ đầu bản dịch có ghi: Viết xong khoảng năm 1850, và không ghi tên người dich. Câu chép ở đầu Chương như trên là trích ở bản dịch ra. Nguyên văn ở bản chữ Hán Tập Thương như sau:
Giáp tý tam niên
........................
Ngũ nguyệt nhị thập nhất nhật
........................
Cố Lê công chúa Ngọc Hân tồ.
Cảnh Hưng Bính Ngọ niên, dĩ Ngọc Hân giá Nguyễn Huệ, cập ngụy Tây Sơn, tốn cư mẫu quán Phù Ninh. Chí thị tốt. Ki hàng thần biện nhiệm Đông Ngạn khất hành táng lễ; tòng chi. Phù Ninh dân vị lập từ đường. (Xem ảnh bản chữ Hán trang 8)
[10] “Tam ban triều điển”: cho chọn cách chết hoặc uống thuốc độc, hoặc thắt cổ, hoặc tự sát bằng gươm dao.
[11] Việt Nam sử lược Trần Trọng Kim: “Bùi Đắc Tuyên là anh ruột bà Thái hậu”. - Cách mạng Tây Sơn, Văn Tân, Hà Nội 1958: Bùi Đắc Tuyên là anh em cùng cha khác mẹ với mẹ của vua Cảnh Thịnh.
[12] Danh sơn sự nghiệp: Đời xưa viết sách không được công bố, phải đem cất giấu ở nơi danh sơn để mong đời sau biết đến. Thông thường gọi sự nghiệp trước tác là “danh sơn sự nghiệp”.
[13] Sử Địa số 13 năm 1969: Thư của ông Sérard từ đất Bố chính gửi ông Letondal ngày 17-7-1791, nói chánh hậu của Tiếm vương (vua Quang Trung) mất vào khoảng tháng 3, tang lễ cử hành vô cùng linh đình trang trọng. Và thư ông Girard từ Macao gởi ông Boiret ngày 25-11-1792 nói ngày 7-3-1791 ông được giới thiệu với Tiếm vương (vua Quang Trung) để chữa thuốc cho người vợ mà ông coi như vợ lớn bị bệnh trầm trọng. Ngày 29 tháng 3 năm ấy bà từ trần, ngày 25 tháng 6 chôn cất.
Về hai chữ “vợ lớn” dịch giả Đặng Phương Nghi chú thích ở dưới bài dịch: Tả cung hoàng hậu họ Phạm sinh ra Quang Toản, với dấu (?).
----------------
Sách báo tham khảo:
Đại Nam chính biên sơ tập
Đại Nam liệt truyện tiền biên
Thực lục chính biên đệ nhất kỷ

An Nam nhất thống chí - Học Tốn và Trưng Phủ
Đỉnh tập quốc sử di biên - Dương Hạo Hiên
Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim
Quốc Văn Đời Tây Sơn - Sơn Tùng Hoàng Thúc Trâm
Thi văn bình chú - Ngô Tất Tố
Triều Tây Sơn - Phan Trần Chúc
Cách mạng Tây Sơn - Văn Tân
Nam Phong số 103 năm 1926.
Tri Tân số 13. 14, 15, tháng 9-1941
Tri Tân số 20, 21, tháng 10-1941
Tri Tân số 35, tháng 2-1942
Bách Khoa số 101, tháng 3-1961
Giáo Dục phổ thông số 50, tháng 11-1959
Văn Hóa Nguyệt san số 64, tháng 9-1961
Văn Hóa Nguyệt san số 65, tháng 10-1961
Sử Địa số 13, năm 1969
La Geste Française en Indochine Tome I, Georges Taboulet Bulletin des Amis du Vieux Huế, số 4 năm 1941.
0
Các nghi vấn về triều đại Tây Sơn (1788 -1792)
Nguyễn Thiên Thụ

Mục đích của bài này là góp ý kiến về một số tài liệu liên quan đến người và việc thuộc triều đại Tây Sơn như là các nhân vật trong gia đình họ Nguyễn Tây Sơn, Hoàng hậu Ngọc Hân, Ngô văn Sở, và cờ Tây Sơn.

I. Gia đình họ Nguyễn Tây Sơn.
1. Nguyễn Nhạc.
Trong gia đình họ Nguyễn, Nguyễn Nhạc là con trưởng, Nguyển Lữ là con thứ hai và Nguyễn Huệ là út. Năm 1771, Nguyễn Nhạc nổi lên ở Quy Nhơn, năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, hiệu Thái Đức. Nguyễn Lữ được phong làm Tiết chế, và Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân. Năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Huệ đem binh ra Bắc dứt chúa Trịnh, khi hai anh em lui quân về Nam, Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn, phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vương, đóng đô ở Phú Xuân và Nguyễn Lữ làm Đông Định vương vào trấn giữ Gia Định. Năm Quý Sửu (1793), Nguyễn Ánh vây Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc bị bệnh, sai người cầu cứu Cảnh Thịnh. Thái úy Phạm Công Hưng, Đại tư mã Ngô văn Sở đem quân vào cứu viện rồi chiếm luôn thành quách, Nguyễn Nhạc tức hộc máu mà chết. Con Nguyễn Nhạc là Nguyễn Bảo bị giáng làm Hiếu Công. Năm Đinh Tỵ (1797), Bảo muốn quy thuận Nguyễn Ánh, quân Tây Sơn vây thành, bắt Bảo uống thuốc độc mà chết.
Năm Nhâm Tuất (1802) cơ nghiệp nhà Tây Sơn tiêu tan. Vua Gia Long hành hình con cháu và các tướng Tây Sơn. Nguyễn Ánh còn khai quật mộ phần Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, xương cốt quăng xuống sông, còn sọ làm bình đựng nước tiểu. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) nhà Nguyễn mới tìm ra các con của Nguyễn Nhạc là Văn Đức, Văn Lương và cháu là Văn Đâu (con Văn Lương), tất cả bị chém ngang lưng (Liệt Truyện II, 491-540).
2.- Nguyễn Lữ.
Năm 1786, Nguyễn Lữ làm Đông Định vương, cai quản vùng Gia Định, nhưng Nguyễn Lữ kém tài, Nguyễn Ánh lại đem quân đáng đuổi tướng Tây Sơn là Phạm văn Tham. Tháng 8-1788, Nguyễn vương vào thành Gia Định, làm kế ly gián Phạn văn Tham và Nguyễn Lữ. Khi quân Phạm văn Tham đến, Nguyễn Lữ tưởng Tham đã đầu hàng Nguyễn Ánh nên rút quân về Quy Nhơn, ít lâu sau thì chết. Sử không cho biết Nguyễn Lữ có con cái hay không.
3.- Nguyễn Huệ.
Năm 1778, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ xưng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, tôn bà Ngọc Hân làm Bắc cung hoàng hậu. Sau chiến thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ đổi tên là Quang Bình và dùng tên này khi viết văn kiện ngoại giao với Trung Quốc. Vua mất năm Nhâm Tý (1792). Ngài có ít nhất ba người vợ. Bà Chánh hậu là Phạm thị, người Quy Nhơn, anh em cùng cha khác mẹ với Hình bộ Thượng thư Bùi văn Nhật và Thái sư Bùi Đắc Tuyên. Bà sinh ba trai hai gái, Quang Toản là con trưởng, một trong hai gái gả cho Phò mã Nguyễn văn Trị.
Bà vợ thứ không rõ tên họ, sinh Quang Thùy, và Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân.
Quang Toản (1783-1802) tên là Trác, lên ngôi năm 1792, lúc 10 tuổi, phong Quang Thùy làm Khang Công, Tiết chế các doanh quân thủy quân bộ ở bắc biên, kiêm coi các việc quân dân, còn Quang Hãn (Quang Bàn) làm Tuyên Công, lĩnh Đốc trấn Thanh Hóa, trông coi các việc quân dân.
Tháng 5 năm Tân Dậu (1801), quân Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân, phò mã Nguyễn văn Trị đem binh chống giữ nhưng thất trận bị bắt sống. Quang Toản, Quang Thiệu và Thái sư Quang Khanh chạy ra Bắc. Các em của Quang Toản là Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện và ba mươi đàn bà con gái của nhà Tây Sơn đều bị bắt sống (Thực Lục, 442). Có lẽ đây là ba người con của bà Ngọc Hân. Giáo sĩ Barizy đã đi xem và cho biết cùng bị bắt với bà Ngọc Hân có mẹ, và em vợ Trần Quang Diệu, vợ Võ văn Dũng và các con của bà Ngọc Hân. Ông hết sức ca tụng nét mặt đẹp trai và khí phách hiên ngang của các con bà Ngọc Hân khi bị bắt (Tạ Chí Đại Trường, 336)
Lúc này Trung thư lệnh Trần văn Kỷ đầu hàng lại thông mưu với Tây Sơn nên bị Nguyễn vương giết. Nguyễn vương sai đóng cũi Nguyễn Quang Cương đem về Bình Định cho dân này biết, và đem Nguyễn Quang Tự, Nguyễn Quang Điện, và phò mã Nguyễn văn Trị về Gia Định hành hình (Thực Lục, 446).
Tháng Sáu năm Nhâm Tuất (1802), kết thúc trận chiến, Quang Hãn đầu hàng. Quang Toản, Quang Thùy, Quang Thiệu, Tư mã Nguyễn văn Dụng, Nguyễn văn Tứ bị bắt sống. Quang Thùy, Nguyễn văn Tứ và vợ tự sát. Quang Toản bị đóng cũi đưa về Bắc thành. Ngày 7 tháng 10 năm Nhâm Tuất, mộ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ bị đào, anh em nhà Tây Sơn và các tướng bị lăng trì, tất cả 31 người. (Thực Lục, 473).
Nói tóm lại, Nguyễn Nhạc có ba trai là Nguyễn Bảo, Nguyễn văn Đức, Nguyễn văn Lương và con của Nguyễn văn Lương là Nguyễn văn Đâu. Còn Nguyễn Huệ có bảy trai là Quang Toản, Quang Thùy, Quang Thiệu, Quang Hãn, Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện.
Theo Bác sĩ Hồ văn Châm, quyển Tây Sơn Tiềm Long Lục cho biết bà Hoàng hậu họ Phạm tên là Phạm thị Liên, người Bình Định, anh là Hộ giá Phạm văn Ngạn, Giả vương Phạm văn Trị, Thái úy Phạm văn Tham và Thái úy Phạm văn Hưng. Bà còn có hai người anh cùng mẹ khác cha là Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Hình bộ Thượng thư Bùi văn Nhật. Chánh cung họ Phạm sinh được năm người con, ba trai hai gái. Con lớn là Quang Toản, còn có tên là Quang Bình, tức là vua Cảnh Thịnh. Hai người kia là Quang Bàn (Quang Hãn) và Quang Thiệu. Quang Hãn được phong Đốc Trấn Thanh Hóa, Quang Thiệu được phong Thái Tể. Hai người con gái thì một gả cho Nguyễn văn Trị, và một gã cho Nguyễn Phước Tư là Tôn Thất hệ nhất nhà Nguyễn Gia Miêu (Bên kia Bờ Đại Dương)
Tài liệu này rất đầy đủ, nhưng cho ta một nghi vấn. Nguyễn Huệ có tên là Quang Bình, không lẽ sinh con cũng đặt là Quang Bình ư? Người Việt Nam không có việc đặt tên trùng nhau như ở Tây phương.
Bà Ngọc Hân có mấy con? Trong Ai Tư Vãn bà cho biết có một trai, một gái:
Nhờ hồng phúc đôi đường hòe quế
Đượm hơi dương, dây rễ đều tươi.
.........................
Còn trúng nước thương vì đôi chút.

Các con của bà Ngọc Hân là một nghi vấn. Ba trẻ Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện đều là con Ngọc Hân hay chỉ có một hay hai trong ba trẻ này? Nếu như chỉ có một, vậy hai trẻ kia con ai? Sự thực Thực Lục chỉ nêu tên Quang Cương, Quang Tự và Quang Điện mà không nói rõ con ai, chỉ nói là em Quang Toản. Tài liệu của Barizy (Tạ Chí Đại Trường, tr.336) cũng không nói rõ tên và số con của bà Ngọc Hân. Theo Hồ Hữu Tường, con trai của bà Ngọc Hân tên Quang Thiệu và trốn thoát, sinh ra con cháu mà hậu duệ là Hồ Hữu Tường (Hòa Đồng số 2, tr. 2-3)! Thiết tưởng thiếu gì tên lại đặt trùng tên con bà cả? Theo sử, con cháu nhà Tây Sơn bị giết hết, nhất là con của bà Lê Ngọc Hân. Phải chăng Hồ Hữu Tường lầm lẫn?
Nhiều tài liệu trong đó có Thanh Lãng (Bảng Lược Đồ Văn Học, I), Nguyễn Huyền Anh (Việt Nam Danh Nhân Từ Điển), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam Văn Học Sử, II) cho rằng bà Ngọc Hân có hai con, một trai một gái nhưng không cho biết tên. Theo bác sĩ Hồ văn Châm, con bà Ngọc Hân tên là Nguyễn văn Đức và Nguyễn thị Ngọc (op. cit.). Có lẽ điều này gần với “Ai Tư Vãn” nhưng lại không có một căn bản sử vì trong sử không nói đến hai tên này. Vả lại, thiếu gì tên mà bà Ngọc Hân lại đặt tên trùng tên con của Nguyễn Nhạc! Hay có sự lầm lẫn nào đây?
Thực Lục phiên âm Quang Hãn, Quang Điện nhưng các bản khác phiên là Quang Bàn, Quang Điện. Phải chăng các bản Hán văn viết không rõ hay viết sai hoặc do người dịch sai? (Chúng tôi không có nguyên bản Hán văn để khảo việc này).
Hồ Hữu Tường cho rằng ông thầy Quảng cho ông nội của tác giả biết rõ lai lịch của ông, và giao cho ông nội tác giả quyển Hoa Dinh Cẩm Trận. Việc bí mật như thế tại sao gia đình ông không biết mà người ngoài, ông thầy Quảng lại biết mà kể lại cho ông nội tác giả là Hồ văn Điểu? Ông thầy Quảng là người thuộc thế hệ sau, làm sao biết việc bí mật của bà Ngọc Hân? Những điều ông thầy Quảng nói là đúng hay sai, làm sao kiểm chứng? Hơn nữa, theo tác giả, ông nội của Hồ Hữu Tường là Hồ văn Điểu là con của một người họ Hồ làm con nuôi Hồ văn Phỉ. Vậy dòng dõi Hồ Hữu Tường không rõ rệt, là dòng một họ Hồ nào đó, không phải là dòng của Hồ văn Phỉ, dòng của Quang Thiệu nếu như Quang Thiệu còn sống. (Thằng Thuộc con nhà nông - Hòa Đồng I, tr. 13-14)
Ông Hồ Hữu Tường còn đi xa hơn nữa khi ông viết rằng con của Ngọc Hân là Quang Thiệu tức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (Đoàn Minh Huyên là tên giả của Nguyễn Quang Thiệu). Phật Thầy đi tu làm sao có con là ông nội của Hồ Hữu Tường? Hồ Hữu Tường giải thích là do Quang Thiệu “bị áp lực của mẹ là Ngọc Hân và dì là Ngọc Mân, người phải thi hành sứ mạng ‘chủng cây sơn cấm’ với người con của dì là Phượng, con hoang của Ngọc Mân và vua Gia Long” (Phân Trần, Hòa Đồng IV, tr. 3). Ngay trong đoạn này, ông Hồ Hữu Tường có nhiều sai lầm: Quang Thiệu năm 1802 mới 14 tuổi làm sao có con? Cổ nhân nói “nữ thập tam, nam thập lục”. Đây là trường hợp hiếm hoi.
Quốc Sử Di Biên cho biết người em gái của Ngọc Hân tên là Ngọc Bình, không phải tên là Ngọc Mân. Nếu Ngọc Bình tức là Ngọc Mân hay là một người khác nữa, ắt phải ở gần Ngọc Hân, tức là ở Thuận Hóa thì mới có chuyện Quang Thiệu chung chạ với con người bạn dì. Nguyễn Ánh ở Gia Định, còn gia đình Nguyễn Huệ ở Phú Xuân, làm sao Nguyễn Ánh gặp Ngọc Mân và sinh con hoang? Nguyễn Ánh chỉ có thể gặp Ngọc Mân trong lúc chiếm Phú Xuân năm 1802, trong lúc này Quang Thiệu tức là Hồ văn Phi, khoảng 14 tuổi, theo giả thuyết của ông đã trốn thoát vào Nam (Hòa Đồng I, tr.13), làm sao có thể ăn nằm với cô Phượng mà lúc này chưa sinh ra đời thì làm sao sinh ra ông nội của Hồ Hữu Tường? Lại nữa, tác giả nói trước sau không ăn khớp. Trong Hòa Đồng số 1, ông cho biết ông nội Hồ văn Điểu là con nuôi của Hồ văn Phi, nhưng ở Hòa Đồng số 4 ông viết: “nếu Phật Thầy không có vợ chính thức, thì làm sao năm 1836 có thể sinh ra ông nội tôi (tr.3)”. Vả lại khi nói có vợ chính thức tức là có cưới hỏi. Còn ‘chủng cây sơn cấm’ (trồng cây trên núi cấm) là việc chung chạ vụng trộm. Hai việc này khác nhau. Như đoạn trên, ông bảo Quang Thiệu cặp đôi với cô Phượng mà sinh ra ông nội tác giả. Thiết tưởng người như Quang Thiệu thiếu gì gái đẹp mà lại ăn nằm với con dì là một điều cấm kỵ trong phong tục Việt Nam, bà Ngọc Hân không thể chủ trương như thế.
Nói tóm lại, Hồ Hữu Tường có rất nhiều sai lầm. Lý luận của ông hoàn toàn hoang tưởng.

II.- Hoàng hậu Ngọc Hân
Hầu hết các sử gia và nhà văn học sử Việt Nam đều gọi bà là Công chúa Ngọc Hân. Thiết tưởng bà đã là Hoàng hậu vì Công chúa là danh hiệu của bà trước khi lấy chồng. Sở dĩ các sử thần triều Nguyễn gọi bà là công chúa bởi vì họ không muốn công nhận Quang Trung là một vị Hoàng đế. Họ ghét vua Quang Trung cho nên phế bỏ tất cả danh xưng, danh hiệu liên quan đến vua Quang Trung và nhà Tây Sơn. Để gọi nhà Tây Sơn, họ gọi là Ngụy Tây, Ngụy Huệ, Ngụy Nhạc...(Tại sao ta lại theo chân sử quan nhà Nguyễn?)
Sau khi Nguyễn Ánh thống nhất đất nước (1802), dân chúng khắp nơi truyền tụng câu ca dao:
Gái đâu có gái lạ lùng
Con vua lại lấy hai chồng làm vua

Hoặc:
Gái đâu có gái lạ đời
Con vua lại lấy hai người làm vua

Và người ta nghĩ rằng câu trên ám chỉ Hoàng hậu Ngọc Hân, bởi vì Ngọc Hân là con gái vua Lê Hiển Tông, vâng lệnh vua cha kết tóc se tơ cùng vua Quang Trung rồi sau lại lấy vua Gia Long! Ngọc Hân là con thứ 21 và là con gái thứ chín của vua Lê Hiển Tông. Thân mẫu của công chúa là bà phi Nguyễn thị Huyền, quê ở làng Phù Ninh, tổng Hạ Dương, tỉnh Bắc Ninh. Công chúa vâng lệnh vua cha kết duyên cùng vua Quang Trung năm Bính Ngọ (1786), lúc này công chúa vừa mười sáu tuổi. Khi vua Quang Trung lên ngôi, Công chúa được phong làm Hữu cung hoàng hậu (Bắc cung hoàng hậu), trong khi bà vợ chính, Phạm Thị, mẹ Quang Toản được phong chánh hậu. Năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung mất, bà đau khổ làm văn tế vua Quang Trung và sáng tác “Ai Tư Vãn” một tác phẩm rất có giá trị trong văn học Việt Nam.
Truyền thuyết dân gian cho rằng sau khi đánh tan quân Tây Sơn, giết tuyệt con cháu Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh nạp bà Ngọc Hân làm hậu phi (triều Nguyễn không lập Hoàng hậu). Đó là thuyết “nhất kính chiếu lưỡng vương” hai vua soi một gương) Cùng với thuyết này, Nam Phong tạp chí với bài “Ngọc Hân công chúa dật sự” (Nam Phong tạp chí số 103, 1926), nói về tiểu sử bà Ngọc Hân. Bài này có hai phần. Phần đầu chép như trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí nói về việc bà vâng lệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ và được phong làm Hữu Cung hoàng hậu. Phần thứ hai chép như sau về sự việc sau khi Gia Long lên ngôi vua:
“Dòng dõi nhà Tây Sơn đều không còn sót một ai. Công chúa Ngọc Hân vì là con của vua Lê được khỏi nạn, năm ấy đã được 32 tuổi mà nét đẹp xinh về dung sắc của công chúa vẫn chưa hề suy giảm.
Vua Thế Tổ bổn triều nhà Nguyễn (Gia Long) để yên công chúa Ngọc Hân ở một dịch đình (ngôi đền bên cạnh), cho người hầu hạ cung phụng. Bầy tôi của vua Gia Long có người cho rằng công chúa Ngọc Hân là vật dư thừa của Tây Sơn mà can gián vua. Vua Gia Long bảo ‘Lãnh thổ và nhân dân ngày nay không có một món gì là không phải vật thừa dư của Tây Sơn thì mới làm sao?’
Về sau vua Gia Long cho công chúa Ngọc Hân về Bắc theo quê quán của mẹ ở Bắc Ninh cho đến lúc lâm chung.
Xét lại công chúa lúc còn nhỏ thì làm con gái vua, lúc trưởng thành làm Hoàng hậu, kế theo làm Hoàng thái hậu, niềm vinh diệu một đời công chúa có thể nói là cùng tột. Đến ngày xế bóng, công chúa Ngọc Hân không khỏi lưu lạc (nơi quê mẹ) tưởng rằng công chúa lúc ấy án theo nay mà nhớ lại xưa, há chẳng áo não mà than thở cho tạo vật đã trêu người, chẳng có việc gì là không đến được, mà phát sinh nỗi cảm khái vô biên chăng?”
(Tạ Quang Phát dịch, tr. 120-123)
Nhiều người đọc bài trên cho rằng bà Ngọc Hân đã sống chung với vua Gia Long, đó là hiểu sai. Theo bài này, vua Gia Long có ý định thâu nạp bà nhưng bà không ưng thuận, vua Gia Long phải để bà sống ở dịch đình (trí tri dịch đình) là một nhà khách và cuối cùng để bà trở về quê mẹ. Nếu bà đồng ý sống với vua Gia Long thì bà phải ở trong một cung nào đó chứ không ở dịch đình, và bà đã ở lại cung chứ không lui về quê mẹ! Nên nhớ rằng ngày xưa một khi đã bước vào cung làm phi tần rồi thì không bao giờ được trở ra ngoài nữa ngoại trừ vua cho phép hay bị thải hồi!
Bác sĩ Hồ văn Châm, một nhà nghiên cứu tại Canada, cho rằng ông mắt thấy hai bản phả hệ hoàng tộc bằng quốc ngữ và bằng Hán văn. Bản phả hệ hoàng tộc bằng quốc ngữ nói rằng bà Ngọc Hân tái giá cùng vua Gia Long, và sinh hạ một số hoàng tử. Nhưng ông Hồ văn Châm cho rằng thuyết này không đúng bởi vì đây là một bản quốc ngữ, có thể dịch sai hoặc hiểu sai nguyên văn chữ Hán. Bác sĩ Hồ văn Châm viết:
.... cuốn ngọc phả bản quốc ngữ của Tôn Nhân Phủ đã khẳng định Công chúa Lê Ngọc Hân là mẹ đẻ của Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương. Xin thưa ngay rằng cuốn gia phả này là bản quốc ngữ, không phải bản Hán văn, lại không phải do Quốc Sử Quán biên soạn mà là tác phẩm phiên dịch của Tôn Nhân Phủ từ bản Hán văn cũng của Tôn Nhân Phủ mà ra. Mà bản Hán văn này thì trong các chương nói về Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương đã viết rằng mẹ các ngài là Công chúa Lê Ngọc con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê. Cái lối hành văn cổ điển bằng Hán tự thì có khi nào nêu rõ tục danh đâu. Mà tác giả bản Hán văn khi viết rằng mẹ các ngài là Công chúa Lê Ngọc con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê đã chắc đâu muốn khẳng định rằng đó là Công chúa Lê Ngọc Hân. Biết đâu tác giả bản Hán văn muốn nói đến một nàng Công chúa Lê Ngọc khác, cũng con vua Hiển Tông nhà Hậu Lê? Mà điều này thì những người phiên dịch ra quốc ngữ đã không hề hay biết, lại thêm nặng tinh thần tân học, viết lách trình bày chuyện gì cũng muốn tách bạch rõ ràng nên đã phiên dich cụm từ “Công chúa Lê Ngọc con vua Hiển Tông” thành “Công chúa Lê Ngọc Hân con vua Hiển Tông” theo sở kiến chủ quan của mình. (Op. cit)
Bác sĩ Hồ văn Châm nói đúng. Ngày xưa vì tôn kính (kiêng húy) sử gia đôi khi không chép rõ tên họ các nhân vật. Ví dụ Nguyễn Du chỉ được ghi là Tiên Điền hay Nguyễn Tiên Điền. Còn đàn bà thì ít khi được ghi tên. Đại Nam Liệt Truyện khi viết về Quảng Oai Công và Thường Tín Quận Vương chỉ viết đơn sơ là con thứ 10 và thứ 11 của Thế Tổ và Đức Phi họ Lê (tr.61-62)
Bà Ngọc Hân là một tác giả quan trọng trong văn học và lịch sử Việt Nam cho nên được nhiều người nghiên cứu. Phần đông đều chấp nhận năm sinh của bà là 1771. Có nhiều tài liệu khác nhau về bà Ngọc Hân, tựu trung có những tài liệu chính như sau:
1.- Không nói gì hoặc nói rất sơ lược về cuộc đời bà, nhất là không đá động đến cái chết của bà, trong đó là trường hợp Ngô Thời Chí (Hoàng Lê Nhất Thống Chí), Dương Quảng Hàm (Việt Nam Văn Học Sử Yếu) và Nghiêm Toản (Việt Nam Văn Học Trích Yếu)
2.- Không biết rõ năm sinh năm mất, đó là Trần văn Giáp (Lược Truyện Các Tác Giả Việt Nam).
3.- Bà Ngọc Hân và các con trốn thoát. Đại diện cho khuynh hướng này là Hồ Hữu Tường. Ông viết trong bài “Phân Trần” (Hòa Đồng số 4):
“Ngọc Hân công chúa dắt Quang Thiệu vào Nam, mẹ con đổi tên họ, Quang Thiệu sau lập đạo và được người đời tôn là Phật Thầy, và họ Hồ chúng tôi thờ hai chữ ‘Ké Thế’ trong nhà, là dòng dõi của Quang Thiệu”.
4.- Bà Ngọc Hân và các con trốn không thoát, bị hành hình. Nhiều nhà văn trình bày nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng bà trốn về Hải Dương (Hồ văn Châm, op. cit) sau mẹ con bị tố cáo rồi bị đem ra hành hình. Có thuyết nói bà đem hai con trốn vào miền quê Quảng Nam ít lâu sau bại lộ, bị bắt đem về Huế xử “tam ban triều điển”. Thanh Lãng cũng theo thuyết này, và ông cho rằng Ngọc Hân công chúa mất năm 1803 (Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam I, tr.572)
5.- Bà mất năm 1802.
Thuyết này cho rằng bà đã chết trước khi Nguyễn Ánh thống nhất đất nước nên không thể có việc bà tái giá cùng vua Gia Long. Hoàng Thúc Trâm (Quốc Văn Đời Tây Sơn, tr.34) cho rằng bà mất năm Kỷ Mùi (1799) vì ông căn cứ vào Dụ Am Văn Tập của Phan Huy Ích với năm bài văn tế Vũ hoàng hậu, do Phan Huy Ích viết thay cho vua Cảnh Thịnh, các con gái vua Quang Trung, Phù Ninh từ cung (mẹ bà Ngọc Hân), họ hàng nhà cựu Lê và bà con ở Phù Ninh. Phạm văn Đang (Văn Học Tây Sơn), Nguyễn văn Sâm (Văn Học Nam Hà) và Phạm Thế Ngữ (Việt Nam Văn Học Sử) đều theo ý kiến này.
Theo thiển kiến, thuyết của Hoàng Thúc Trâm e không ổn vì:
1) Theo tục lệ Việt Nam, khi con mất, cha mẹ không làm văn tế. Người ta làm văn tế cho những bậc trên đã khuất, chứ không làm văn tế cho người dưới. Thương con, cha mẹ có thể làm văn, thơ khóc con mà thôi. (Ngay khi con chết, nhiều nơi cha mẹ không đưa đám con)
2) Vua Quang Trung mất năm 1792, Quang Toản lên ngôi lúc 10 tuổi, hiệu là Cảnh Thịnh, tất nhiên sau 1792, Phạm Thị, mẹ ruột của Cảnh Thịnh phải được tôn là Thái hậu, chứ không phải là Hoàng hậu. Bà Ngọc Hân nếu không được tôn là Thái hậu thì cũng phải được gọi bằng một danh xưng nào tương xứng (thí dụ như Hoàng hậu tiền triều) chứ không thể gọi là Hoàng hậu. Vua Thái Đức mất năm 1793, con là Nguyễn Bảo được phong Hiến Công. Vậy Hoàng hậu chỉ là vợ của Cảnh Thịnh (lúc này Cảnh Thịnh 17 tuổi). Phan Huy Ích là một Nho gia đời trước, tất nhiên không thể dùng danh từ bừa bãi, không phân biệt Hoàng hậu với Thái hậu. Vậy ai chết năm 1799? Không phải chánh cung Phạm Thị, vì lúc này bà là Hoàng thái hậu chứ không phải Hoàng hậu. Cùng với việc này chúng ta thấy rất khó khăn khi nghiên cứu về gia đình Nguyễn Huệ. Ai là mẹ của Quang Thùy? Bà vợ nào của Nguyễn Huệ bị Nguyễn Nhạc hiếp sau khi Nguyễn Nhạc đi Bắc Hà về? Bà nào bị bệnh năm 1791? Theo thư của Le Roy thì tiếm vương Nguyễn Huệ cần một thầy thuốc chữa bệnh cho vợ và ông Gérard dược cử đến. Theo thư của Sérard thì bệnh nhân là chánh hậu và bà mất vào tháng Ba, và cái chết của bà làm cho tiếm vương đau đớn đi đến chỗ lâm bệnh rồi mất sau đó mấy tháng. Nhưng thư của Gérard lại nói rằng bệnh nhân là một vợ bé được thương yêu như vợ cả (Đặng Phương Nghi, tr. 151, 170-171). Gérard ở gần bệnh nhân nên rõ bệnh nhân hơn Sérard. Vậy bà phi mất năm 1791 không phải là Chính cung họ Phạm, cũng không phải Bắc cung Ngọc Hân, vì Bắc cung sau 1792 còn tại thế và làm bài “Ai Tư Vãn” và văn tế Quang Trung. Vậy quý phi đó là ai?
Phan Thúc Trực, một nhà nho sống buổi cuối Lê đầu Nguyễn, tác giả bộ Quốc Sử Di Biên đã cho ta một vài chi tiết về Tây Sơn và bà Ngọc Hân. Phan Thúc Trực viết rằng tháng 5 năm Nhâm Tuất (1807), quân Nguyễn Ánh đánh miền Bắc, quân Tây Sơn tan rã, anh em Nguyễn Quang Toản chạy về mạn Lạng Giang, rốt cuộc Nguyễn Quang Thùy tự tử, bọn Võ Thám bắt anh em Nguyễn Quang Toản, Nguyễn Quang Thiệu dâng đại quân, và dâng bà phi Lê thị Ngọc Bình vào trong nội cung nhà vua. Ngọc Bình là chị em với Ngọc Hân công chúa, vợ vua Cảnh Thịnh, được vua Gia Long thâu nhận làm đệ tam cung, sinh hạ Quảng Oai công (thứ 12) và Thường Tín công (thứ 14). Lê văn Duyệt thường nói Hoàng thượng thường dẫn tích Ngụy Báu và Bạc Cơ để giải đáp nghi vấn [1]. Còn bà Ngọc Hân sau khi Tây Sơn mất, lui về quê mẹ là làng Phù Ninh, và mất tại đó sau ngày 21 tháng 5 năm Giáp Tý (1804). Một viên hàng thần đang nhận chức quan tại Đông Ngạn xin phép nhà vua làm tang lễ cho công chúa, được nhà vua chấp nhận. Dân làng Phù Ninh lập từ đường thờ cố công chúa (tr. 136-190). Như vậy phải chăng bà là công chúa vua Lê, lại được em là Ngọc Bình can thiệp nên vua Gia Long tha tội chết cho bà sau khi đã giết chết con bà?
Theo các sử liệu do Ty Thông Tin Văn Hóa Nghĩa Bình công bố, Ngọc Bình công chúa là Chính cung hoàng hậu của vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chứ không phải vợ vua Quang Trung như Quốc Sử Di Biên viết. Theo tài liệu Ty Thông Tin Văn Hóa Nghĩa Bình, Ngọc Bình và Quang Toản cùng sinh năm 1783. Có lẽ tài liệu này đã viết theo các phúc trình của các giáo sĩ Longer và Le Labrousse gởi cho Phái bộ Truyền giáo Nam Hà đã ghi chép. Như vậy khi Ngọc Bình bị bắt và giao nạp nội cung, bà mới hai mươi tuổi, là tuổi son trẻ xinh tươi, trong khi bà Ngọc Hân đã 32 tuổi, chưa già nhưng cũng không còn xuân sắc.
Chúng ta có thể kết luận rằng câu ca dao truyền tụng trong dân chúng là đúng và người con gái có một số phận đặc biệt, con gái vua, lấy hai chồng làm vua đó là Ngọc Bình, em gái cùng cha mẹ với Hoàng hậu Ngọc Hân.

III. Ngô văn Sở.
Ngô văn Sở là một vị đại tướng rất giỏi của vua Quang Trung. Chúng ta không biết rõ tiểu sử của ông như là quê quán, và ông theo Quang Trung lúc nào. Ông đã cùng vua Quang Trung và các tướng sĩ đánh thắng quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789). Trong trận này, ông được vua Quang Trung giao phó làm bộ phận tiền quân,và lúc này, ông được phong chức Đại tư mã. Sau khi thắng trận, vua Quang Trung đem quân về Nam, giao miền Bắc lại cho Ngô văn Sở và Phan văn Lân cùng Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích. Điều này chứng tỏ Ngô văn Sở là một người có tài, được vua Quang Trung tin cậy.
Sau khi vua Quang Trung mất, Quang Toản còn nhỏ, các đại thần và quyến thuộc của nhà Tây Sơn tranh chấp đưa đến giết hại nhau. Năm Ất Mão (1795), Thái sư Bùi Đắc Tuyên sai Ngô văn Sở ra Bắc Hà thay Võ văn Dũng. Võ văn Dũng nghe lời Trần văn Kỷ, lúc này bị đày tại trạm Hoàng Giang, oán thán họ Bùi, bèn về mưu với Phạm Công Hưng, Nguyễn văn Huấn vây nhà Bùi Đắc Tuyên, bắt họ Bùi bỏ ngục, và cho người vào Quy Nhơn bắt con Bùi Đắc Tuyên là Bùi Đắc Trụ, cùng truyền thư ra Bắc Hà cho Tiết chế Nguyễn Quang Thùy (em Nguyễn Quang Toản) bắt giải Ngô văn Sở về Phú Xuân.
Bọn Võ văn Dũng bèn vu khống những người này làm phản, đem gìm sông cho chết.
Về việc này, sử nhà Nguyễn chép như sau: “... Ngô văn Sở là bè đảng của Tuyên bị Nguyễn văn Dũng giả chiếu lịnh sai Tiết chế Nguyễn Quang Thùy đóng cùm đưa về kinh, lại sai Nguyễn văn Huấn, đem binh vây Quy Nhơn bắt Bùi Đắc Trụ, con của Bùi Đắc Tuyên giải về, rồi thêu dệt thành tội trạng phản nghịch và đem gìm sông cho chết đuối!” (278)
Các bức thư của các nhà truyền giáo Tây phương thời bây giờ cũng đề cập đến cái chết của Ngô văn Sở mà tin tức không chính xác. Họ cho rằng Ngô văn Sở âm mưu với Bùi Đắc Tuyên giết ba người con của Quang Trung và tôn con của Bùi Đắc Tuyên lên ngôi. Kết quả Ngô văn Sở bị Võ văn Dũng đem làm đuốc sống (Đặng Phương Nghi, op.cit. tr. 157)
Tóm lại, qua các tài liệu sử, Ngô văn Sở đã chết năm 1795. Tuy nhiên, khi đọc các tài liệu sử đời Nguyễn, ta lại thấy có một Ngô văn Sở còn sống, phục vụ cho nhà Nguyễn trong công cuộc chống Tây Sơn. Vì vậy, một số người đọc và người viết tại Việt Nam cho rằng Ngô văn Sở không chết, trái lại đã chạy sang hàng ngũ nhà Nguyễn.
Đại Nam Thực Lục Chính Biên ghi lịch sử nhà Nguyễn về tháng 4 năm Bính Thìn (1796) như sau:
“... Đặt năm vệ Nhuệ Phong, Chiến Phong, Chiêu Võ, Tuyên Võ và Chương Võ thuộc hậu quân. Lấy hàng tướng Ngô văn Sở làm chánh vệ vệ Nhuệ Phong, lấy hàng tướng chỉ huy Lê Nho Can làm phó vệ Chương Võ” (535)
Đại Nam Liệt Truyện chép rõ hơn về tiểu sử Ngô văn Sở ở mục Quan lại triều Nguyễn như sau:
“Tổ tiên là người Đăng Xương, phủ Thừa Thiên sau đến ngụ ở Gia Định. Trước theo ngụy làm Đô úy, sau đầu hàng, theo quân đi đánh giặc, có chiến công từng thăng đến Hùng Nhuệ Vệ úy. Năm Kỷ Mùi (1799), theo Võ Tánh giữ thành Bình Định. Đến khi tướng giặc là Trần Quang Diệu vây thành, những tướng đầu hàng là Vũ văn Sự, Nguyễn Bá Phong mở cửa Bắc thành ra hàng giặc, Tánh sai Sở chẹn cửa, từ đó những kẻ phản bội không dám ra. Đến khi thành bị mất, trốn về triều. Khoảng năm Gia Long thăng Khâm sai Chưởng cơ, lĩnh chức quân đạo ngoài Thanh Hóa, có tội phải cách chức rồi chết. Minh Mạng năm thứ ba (1822), truy phục chức Chưởng cơ, lại hậu ban cho người nhà, con là Thắng làm quan đến cai đội”. (tr. 436)
Và con gái của Ngô văn Sở được làm chánh phi của Minh Mạng (Liệt Truyện III, tr. 82)
Phải chăng Ngô văn Sở bị dìm sông nhưng được cứu thoát rồi chạy sang hàng ngũ Nguyễn Ánh? Hay đó là một Ngô văn Sở khác? Việc này gây khó khăn cho chúng ta vì tài liệu Tây Sơn đã bị hủy diệt. Chúng ta tạm đặt giả thuyết rằng có hai Ngô văn Sở, một là Đại tư mã Ngô văn Sở và một là Đô úy Ngô văn Sở. Chúng ta thấy rằng hai Ngô văn Sở này có họ tên giống nhau, sống đồng thời và cùng phục vụ Tây Sơn, nhưng họ cũng có những điểm khác nhau:
1.- Tất cả tài liệu sử nhà Nguyễn đều ghi Đại tư mã Ngô văn Sở đã chết năm 1795. Không một tài liệu nào nói Đại tư mã Ngô văn Sở thoát chết dưới bàn tay của Võ văn Dũng, và qua đầu hàng chúa Nguyễn. Nguyễn Ánh đã xác nhận Đại tư mã Ngô văn Sở đã chết. Quốc Triều Chánh Biên chép về tháng 5 năm Ất Mão (1795) như sau:
“... Ngài (Nguyễn Ánh) nghe tư khấu giặc là Võ văn Dũng giết cha con Thái sư Bùi Đắc Tuyên và Ngô văn Sở, Ngài dạy các tướng rằng: ‘Giặc chém giết nhau, có thể thừa cơ được’.” (tr. 29)
Nếu Đại tư mã Ngô văn Sở sang đầu hàng chúa Nguyễn thì chúa đã lợi dụng tin này để tuyên truyền ầm ỉ, chứ không im lặng. Lúc này nhiều tướng Tây Sơn như Lê Chất, Lê Nho Can, Nguyễn Bá Phong đã bỏ ngũ đầu hàng chúa Nguyễn và được lịch sử ghi chép đầy đủ chứ không hề bỏ qua.
2.- Năm 1798, Đại đô đốc Lê Chất khi sang đầu hàng chúa Nguyễn được phong làm Đô thống chế, rồi Khâm sai chưởng hậu quân, tước quận công, đem quân ra Bắc, và sau khi thống nhất đất nước, ông được phong Hiệp Tổng trấn Bắc thành rồi Tổng trấn Bắc thành thay Nguyễn văn Thành! Nếu Ngô văn Sở qua đầu hàng chúa Nguyễn thì ông được trọng dụng hơn là Lê Chất vì ông có tài hơn Lê Chất nhiều.
3.- Chức vụ của Ngô văn Sở ở triều Tây Sơn là Đại tư mã, sau khi Quang Toản lên ngôi được phong Đại Tổng Lý, tước quận công chứ không phải là một Đô úy. Đại tư mã là bậc đại tướng, bậc đại thần, chức lớn hàng thứ ba, thứ tư hoặc thứ năm trong triều, nắm toàn thể quân đội, như là vị Bộ trưởng Quốc phòng hay Tổng tham mưu trưởng. Còn Đô úy thì ở dưới Đại đô đốc, Đô đốc. Hai chức vụ này khác nhau xa, không thể lầm lẫn. Đại Nam Liệt Truyện khi nói đến Ngô văn Sở đã gọi là Đại tư mã Ngô văn Sở. Chính điều này cho ta thấy có hai Ngô văn Sở: một là Đại tư mã Ngô Văn sở, một là Đô úy Ngô văn Sở. Sử gia nhà Nguyễn không thể lầm lẫn, và đây là một sự khác biệt rõ rệt giữa hai Ngô văn Sở, và khi đọc, chúng ta phải nhận rõ sự khác biệt giữa hai chức vụ.
4.- Có lẽ Đô úy Ngô văn Sở hàng tướng đã theo Nguyễn Ánh trước 1795, và phải công lao ghê gớm mới được phong làm Hùng Nhuệ Vệ úy, đến 1796 thăng Chánh vệ vệ Nhuệ Phòng.
5.- Tại làng Vĩnh Lộc, phủ Quảng Trạch (nay là Hợp Hòa, Quảng Hòa, Quảng Trạch), tỉnh Quảng Bình có một gia đình họ Ngô, cho biết họ thuộc giòng dõi Ngô văn Sở, tổ tiên vì lánh nạn mà ẩn cư tại đây. Trong khi đó, gia đình họ Ngô văn Sở hàng tướng được vinh hoa phú quý, ông được phong chức Chưởng cơ, con trai là Thắng làm Cai đội, và con gái ông được kết nạp làm Hậu phi vua Minh Mạng.(Đại Nam Liệt Truyện. q.3, tr.12). Nếu Đại tư mã Ngô văn Sở đầu hàng Nguyễn Ánh thì sau 1820, gia đình này đã trở về Huế hưởng vinh hoa phú quý chứ không chịu ẩn lánh để mấy đời lưu vong.
6.- Tạ Chí Đại Trường đã phân biệt hai Ngô văn Sở khi ông làm bản liệt kê đặc danh: Một Ngô văn Sở tướng Tây Sơn và một Ngô văn Sở tướng Nguyễn Ảnh. (op. cit. tr.405)
Trong khi chờ đợi những khám phá mới, chúng tôi tạm kết luận rằng dưới triều Quang Trung có hai Ngô văn Sở, một là Đại tư mã Ngô văn Sở, anh hùng trận Đống Đa, đã chết năm 1795, và một là Đô úy Ngô văn Sở, gốc ở Thừa Thiên, đầu hàng chúa Nguyễn, phụ tá đắc lực cho Võ Tánh.

IV. Cờ Tây Sơn.
Ngày mồng năm tháng Giêng, năm Ất Dậu (1965), tại điện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, ban tổ chức làm lễ thượng kỳ để treo một ngọn cờ đào, giữa tròng vàng. Ban tổ chức đã phân phát một tài liệu nội dung như sau:
Vua Gia Long đã hủy diệt mọi di tích Tây Sơn, trong đó có ngọn cờ Quang Trung, nay họ muốn làm sống lại ngọn cờ chiến thắng Đống Đa. Họ nghĩ rằng cờ Quang Trung có màu đỏ vì ca dao vùng Bình Định có câu:
Non Tây áo vải cờ đào,
Giúp dân, dựng nước biết bao công trình.

Ai Tư Vãn của bà Ngọc Hân cũng có câu:
Mà ai áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước biết bao công trình!

Còn ở giữa tròng vàng, họ căn cứ vào Ai Tư Vãn:
Từ cờ thắm trỏ vời cõi bắc,
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương!

Họ cũng căn cứ vào tên Quang Trung và các con đều khởi đầu bằng chữ Quang (Quang Trung, Quang Toản, Quang Thùy, Quang Thiệu), họ cho Quang là vừng thái dương. Họ cũng cho biết truyền thuyết dân gian vùng này cũng nói đến cờ Quang Trung là cờ đào tròng vàng. Phát ngôn viên và người tổ chức chính là Hồ Hữu Tường (Cờ Quang Trung. - Hòa Đồng số 6, tr.2) Giáo sư Phạm văn Đang [2] trong cuốn Văn Học Tây Sơn cũng đã chưng hình cờ Tây Sơn nền đỏ tròng vàng nhưng ông không giải thích tại sao, có lẽ ông tin vào thuyết của Hồ Hữu Tường.
Thuyết này trước hết không có tính khách quan, và trung thực vì ông Hồ Hữu Tường là người đứng sau ban tổ chức dựng lên giả thuyết này, mà ông Hồ Hữu Tường là nhà tiểu thuyết và chính trị, thường tuyên bố ông là hậu duệ của Ngọc Hân, Quang Trung. Lịch sử là một thực tại, không phải là một tác phẩm do trí tưởng tượng sáng tạo. Những dẫn chứng trên không có sức thuyết phục.
Ngày nay, các quốc gia đều có quốc hiệu, quốc kỳ, quốc ca, quốc huy. Trước đây thật lâu, các nước Tây phương thường có quốc hiệu, kỳ hiệu và huy hiệu. (Mỗi lãnh chúa có cờ hiệu và huy hiệu riêng). Phong tục của ta và Trung Quốc không có quốc kỳ, không có kỳ kiệu như thế. Lần đầu tiên nước ta có quốc kỳ là đời Tự Đức. Ngày 16-5-1862, phái bộ Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết với Pháp về ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường bị Pháp chiếm. Phái đoàn xuống tàu Hải Bàng, trương quốc kỳ màu vàng, từ Huế tới cửa Hàn, rồi theo tàu Đài Loan nhờ tàu Forbin kéo vào Gia Định. Vì nước ta không có quốc kỳ như người Pháp đòi hỏi cho nên Phan Thanh Giản mới phải dùng cái thắt lưng màu vàng của ông làm quốc kỳ vì ông nghĩ màu vàng là màu của nhà vua. (Trần Quốc Giám, 96-148)
Chúng ta không có quốc kỳ nhưng chúng ta có nhiều loại cờ. Cờ được dùng trong dân chúng và trong quân đội. Ngày tết, ngày lễ, ngày hội, ngày giỗ họ đại tôn người ta treo cờ ngũ sắc và cờ tứ linh tại đình, miếu, chùa, nhà thờ họ để cho long trọng. Trong những cuộc lễ lớn, người ta treo một lá đại hồng kỳ ở giữa sân, xung quanh sân, dọc hàng rào, ngoài cổng là cờ ngũ sắc hay cờ tứ linh. Thường cờ ngũ sắc hình vuông, hay tam giác, xung quanh có tua lượn sóng, và giải dài. Trong đám ma ở thôn quê người ta dùng đòn có chạm hình rồng làm kiệu khiêng quan tài, vị đô quan đứng trên kiệu đánh trống, phất cờ chỉ huy, ra lệnh nhấc lên, lùi xuống, tiến lên...
Trong phụ đồng chỗi, trẻ con cũng dùng cờ. Đồng ca có bài:
Phụ đồng phụ chỗi,
Thổi lổi mà lên...
..................
Đội mũ đi tế,
Là quan chưởng đô
Đánh trống phất cờ,
Là phụ đồng chỗi!

Trong quân đội, người ta dùng cờ để nêu danh hiệu của vị chỉ huy hoặc danh hiệu của đoàn quân. Thí dụ quân đội Mãn Thanh có Bát kỳ, và bọn Thái Bình Thiên quốc có nhiều nhóm mang những màu cờ khác nhau như Hoàng Sùng Anh cờ vàng, Lưu Vĩnh Phúc cờ đen, Bàn Văn Nhị, Lương Văn Lợi cờ trắng quấy nhiễu ở miền Bắc nước ta thời Tự Đức. (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, tr. 507)
Cờ chỉ đơn thuần là thế, không có một biểu tượng nào giữa lá cờ. Có thể giữa cờ đề chữ để nói rõ danh xưng hay mục đích của chủ nhân lá cờ. Cờ của Trần Quốc Toản không biết màu gì nhưng đề chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân”. (Trần Trọng Kim, tr.143). Có thể cờ của Lê Lợi trong thời kháng Minh thêu chữ “Bình Định Vương”, cờ của Nguyễn Huệ khi ra đánh quân Thanh có lẽ đề Quang Trung. Còn cờ của Trần Hưng Đạo có lẽ đề một chữ Trần, hoặc Tiết Chế, Hưng Đạo vương, hoặc Sát Đát. Cờ được dùng để chỉ huy, để ban hiệu lệnh. Bình Định vương đã ra nghiêm lệnh cho quân đội có đoạn như sau:
1.- Lúc lâm trận, nghe trống đánh, thấy cờ phất mà chùng chình không tiến...
2. -Thấy kéo cờ dừng quân mà không dừng... Thì phải tội chém.
(Trần Trọng Kim, tr. 218)
Trong dân chúng và quân đội, người ta thường dùng cờ đỏ để chỉ huy. Khi báo ân báo oán cho Thúy Kiều, Từ Hải đã dùng cờ đỏ:
Ba quân trỏ ngọn cờ đào,
Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Tri.

Và Tào Tháo trong trận đánh Ký Châu cũng dùng cờ đỏ để chỉ huy. (Tam Quốc Chí III, tr.34)
Vậy cờ đào, cờ thắm của vua Quang Trung cũng chỉ là cờ chỉ huy của quân đội, không phải là quốc kỳ như quan niệm bây giờ.
Sở dĩ cờ lệnh màu đỏ vì màu đỏ là màu truyền thống vì cổ nhân ta thích màu son: tốt vàng son, ngon mật mỡ.
Màu đỏ được dùng trong lễ cưới, ngày tết:
Lễ tơ hồng, khăn hồng, quả đỏ,
Câu đối đỏ, bánh chưng xanh.

Y phục cũng dùng màu đỏ:
- Khăn đỏ:
Mẹ già hết gạo treo niêu,
Anh còn áo trắng, khăn điều vắt vai.

- Quần hồng:
Hồng quân với khách hồng quần
Đã xoay đến thế còn vần chưa tha
(Kiều)
Và tròng vàng ở giữa chỉ là sự tưởng tượng hoặc giải thích quá xa. Ai Tư Vãn có câu:
Nghĩa tôn phù vằng vặc bóng dương
Bóng dương ở đây là nói chính nghĩa sáng ngời.
Còn chữ Quang là ánh sáng. Nếu chỉ mặt trời thì phải là chữ Nhật chứ không phải chữ Quang. Chữ Quang có nhiều nghĩa, và nhiều hình ảnh. Có thanh quang, bạch quang, hồng quang, hoàng quang... Có ánh sáng mặt trời, ánh sánh mặt trăng, ánh sáng của tinh tú, ánh sáng của lửa, của đèn dầu, của nến, của đèn điện... Vả lại mặt trời cũng có nhiều màu: mặt trời đỏ, mặt trời trắng đâu phải chỉ có màu vàng mà thôi? Nói tóm lại, thuyết của Hồ Hữu Tường là mơ hồ, võ đoán.
Ottawa, Quebec tháng 10, 2003
-------------
[1] Đoạn văn trong Nam Phong có nói bề tôi của vua Gia Long không tán thành việc vua Gia Long thu nhận các phi hậu triều Tây Sơn, người phản kháng đó là Lê văn Duyệt. Vua Gia Long trả lời bằng lấy tích Ngụy Báu cuối đời Tần mất nước, vua Hán chiếm nước Ngụy và vợ của Ngụy Báu là Bạc Cơ, sau Bạc Cơ sinh Hán Văn Đế.
[2] Giáo sư Phạm văn Đang, giáo sư trường Đại học Sư phạm Saigon và giáo sư Trần Quang Huy trường Đại học Văn khoa Saigon đã cùng đi chung một thuyền trên đường tìm tự do thì bị cướp Thái Lan sát hại khoảng 1985.
----------------
Tài liệu tham khảo
1.- Dương Quảng Hàm. - Việt Nam Văn Học Sử - Bộ Giáo Dục, Saigon, 1968
2.- Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, tập 2, quyển 8, Nguyễn Ngọc Tính dịch, Sử Học, Hà Nội. 1963
3.- Đại Nam Liệt Truyện, 4 tập, Viện Khoa học Xã hội, Thuận Hóa, 1993.
4.- Đặng Phương Nghi. - Triều đại Quang Trung dưới mắt các nhà Truyền giáo Tây phương. - Tập san Sử Địa, số 13. - Saigon 1969.
5.- Hoa Bằng. - Nguyễn Huệ, Bốn Phương.- Saigon, 1958
6.- Hoàng Thúc Trâm. Quốc Văn Đời Tây Sơn. - Vĩnh Bảo, Sàigon, 1950
7.- Hồ văn Châm. - Công Chúa Đông Đô - Bên Kia Bờ Đại Dương, số 33, tháng 6-2001. -http://vanhoa.novelcity.com.
8.- Hồ Hữu Tường - Thằng Thuộc con nhà nông - Hòa Đồng số 1, ngày 2-1-1965; số 2 ngày 9-1-1965; số 3 ngày 16-1-1965; số 4 ngày 23-1-1965; số 6 tháng 2, 1965
- Phân Trần, Hòa Đồng số 4.
- Cờ Quang Trung, Hòa Đồng số 6
9.- Ngô Thời Chí - Hoàng Lê Nhất Thống Chí. - Tự Do, Sàigon: 1958
10.- Nguyễn văn Sâm, Văn Học Nam Hà. Lửa Thiêng - Saigon: 1974.
11.- Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Hoc Sử Trích Yếu. - Vĩnh Bảo, Sàigon: 1949
12.- Phạm văn Đang, Văn Học Tây Sơn. Lửa Thiêng, Sàigon: 1973
13.- Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử. q.2. Quốc Học Tùng Thư, Sàigon: 1969.
14.- Phan Kế Bính dịch. Tam Quốc Chí - quyển 3. Nhà xuất bản XH & GDCN, Hà Nội: 1988
15.- Phan Thúc Trực, Quốc Sử Di Biên, q.1. Lê Xuân Giáo dịch, Phủ Quốc Vụ Khanh, - Saigon: 1973.
16.- Quốc Triều Chính Biên - Nghiên cứu Sử Địa - Saigon: 1972
17.- Tạ Quang Phát dịch. Ngọc Hân công chúa Dật sự - Nam Phong tạp chí, số 103, 1926 Tập san Sử Địa số 13, Saigon 1969, - tr.120- 123
18.- Tạ Chí Đại Trường. Lịch Sử Nội Chiến ở Việt Nam. - Văn Sử Học, Saigon: 1973
19.- Thanh Lãng, Bảng Lược Đồ Văn Học Việt Nam, Q.1. Trình Bày, Saigon: 1967
20.- Trần Quốc Giám. Đời Phan Thanh Giản - Tập san Sử Địa số 7-8, Saigon: 1967
21.- Trần văn Giáp. Lược Truyện Các Tác Giả Việt Nam. Khoa Học Xã Hội - Hà Nội: 1971.
22.- Trần Trọng Kim.- Việt Nam Sử Lược, in lần thứ 6, Tân Việt, Saigon: 1958.
0
Thử chẩn bệnh Đại đế Quang Trung
Bác sĩ Võ Tư Nhượng

Sử gia Trần Trọng Kim viết: Năm Nhâm Tý (1792) vua Quang Trung bị bạo bệnh băng hà.
Tác giả Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết:
Vua Quang Trung mất vào năm Nhâm Tý (1792).
Sử gia Hoàng Xuân Hãn viết: ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý vào giờ dạ tý tức là ngày 16 tháng 09 năm 1792, vua Quang Trung băng hà.
Các sử gia trên chỉ chú trọng ngày giờ năm tháng lúc vua Quang Trung mất, không một vị nào nói ngài bị bệnh gì và những triệu chứng đã cướp một vị anh quân đang ở tuổi cường tráng của dân tộc.
Riêng học giả Hoa Bằng viết: Vua Quang Trung mất vì chứng huyết vận năm Nhâm Tý (1792). Đoạn sau ông nêu ra những triệu chứng do huyết vận gây nên.
Thêm vào sự thiếu chính xác còn nhiều truyền thuyết tuy không được sử sách chép nhưng rất phổ thông trong dân gian địa phương.
Người ta kháo nhau: Ngài bị đầu độc, ngài bị tổ tiên nhà Nguyễn đánh vào đầu trong lúc chiêm bao, và liều lĩnh hơn nữa, ngài bị phạm phòng.
Sử gia Hoàng Xuân Hãn thì nói rõ ngày giờ ngài băng hà nhưng ngày bắt đầu lâm bịnh thì cũng ức đoán mà thôi. Sự thật điều này không ai làm nổi nếu bệnh nhân bị mất vì một chứng nội thương tiệm tiến.
Một tài liệu chép: Một buổi chiều thu vua Quang Trung đang ngồi bỗng hoa mắt, sầm tối mặt mũi, mê man bất tỉnh.
Nhưng ngài lại tỉnh ngay sau đó, vì vậy ngài mới có lời thác cô.
Theo những tài liệu viết và truyền thuyết chúng ta thấy thật là thiên nan vạn nan nếu muốn chẩn bệnh cho ngài dầu chỉ ức đoán thôi.
Tuy vậy, trước khi đi đến một ức đoán về nguyên nhân băng hà của vua Quang Trung, chúng tôi mạo muội chia ra ba loại bệnh: loại truyền thuyết, loại cấp tính, loại kéo dài trong vòng ba tháng.
Loại truyền thuyết do công thần nhà Nguyễn chép, chúng ta có thể xem như là một loại chiến tranh tâm lý của một triều đại mới cầm quyền và chúng ta gạt bỏ.
Trong loại cấp tính chúng ta xếp bạo bịnh, đầu độc, phạm phòng.
Theo y học cổ điển, bạo có nghĩa là bụng. Như vậy vua Quang Trung có thể đau ruột dư, chứng dạ dày bị thủng, chứng nghẹt ruột. Ba chứng này thường xảy ra và cướp bệnh nhân trong vòng nửa tháng.
“Bạo” còn có nghĩa là chớp nhoáng, khốc liệt. Những bệnh về bụng và khốc liệt ta cũng có thể loại ra theo bài “Ai tư vãn” của Ngọc Hân công chúa và theo tình trạng lúc vua sắp mất Ngọc Hân công chúa viết:
Từ nắng Hạ, mưa Thu trái tiết,
Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên.
Xiết bao kinh sợ lo phiền,
Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu.

Như vậy nhà vua đã bị đau từ mùa hạ đến mùa thu. Nếu bị về bụng như tôi đã kể trên, lúc mất bịnh nhân bị hôn mê. Trái lại lời của Ngọc Hân công chúa:
Buồn thay nhẽ? Sương rơi, gió lọt,
Cảnh đìu hiu, thánh thót châu sa.
Tưởng lời di chúc thiết tha,
Khác nào lên tiếng, thức mà cũng mê.

Sử gia Hoàng Xuân Hãn cũng đồng ý vua Quang Trung bị bịnh từ mùa hạ, mất vào đầu thu: ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý vào giờ Dạ Tý (ngày 16 tháng 09 năm 1792).
Vụ đầu độc theo truyền thuyết có thể cướp mạng sống trong chốc lát nhưng khó thực hiện vì nhà vua bao giờ cũng có Ngọc Hân công chúa bên cạnh, một người có thể đầu độc được nhà vua chỉ có Ngọc Hân công chúa. Lối đầu độc thông thường là vào thời đó ta không rõ. Sau này trong thôn quê vẫn dùng nhân ngôn, hoàng nàn để giết chuột làm thuốc độc. Hai vị thuốc này giết rất mau. Còn lối đầu độc dùng những thứ thuốc làm cho bịnh nhân chết lần mòn như thuốc hạ đường trong máu, thuốc làm cho máu không đông được v.v... chắc chắn Ngọc Hân công chúa không thể có được. Sở dĩ trong dân gian nêu lên thuyết Ngọc Hân công chúa đầu độc vua Quang Trung vì họ nghĩ lúc vua Quang Trung cầu hôn công chúa nhà Thanh, Ngọc Hân đã nổi ghen và làm liều. Chuyện này khó tin vì Ngọc Hân công chúa không đủ phương tiện và bài “Ai tư vãn” của công chúa đã tả rõ mối tình thắm thiết giữa nhà vua và công chúa. Chúng ta có thể gạt ra ngoài thuyết này.
Tàn bạo nhất là thuyết phạm phòng. Bệnh này tôi được nghe nói nhiều nhưng chưa bao giờ được quan sát đích xác. Đã có vị độc giả nào có kinh nghiệm chưa? Bệnh phạm phòng, theo truyền thuyết, là bệnh người đàn ông bị chết cứng trong lúc ân ái đang diễn ra. Cũng vì muốn phòng bệnh rắc rối này các bà mẹ xưa, sau phút lạy cha mẹ để về nhà chồng của con gái, bà mẹ cài một cái kim may vào gấu áo trong và dặn dò: nếu trường hợp phạm phòng xảy ra, lập tức lấy kim lễ vào chỗ cuối cùng của xương cụt (Sacrum). Không hiểu các bà mẹ Việt Nam bây giờ còn dùng phép đề phòng này không?
Chuyện này cũng không xảy ra được vì lúc sắp mất nhà vua vẫn tỉnh táo, gọi các tướng và La Sơn Phu Tử để gửi gầm con côi (thác cô).
Những bệnh cấp tính chúng tôi vừa nêu ra đều không phù hợp với bài “Ai Tư Vãn” và tình trạng của nhà vua trước khi băng hà.
Bây giờ chúng ta thử bàn đến loại bệnh đã kéo dài cuộc vật lộn với tử thần của nhà vua có các quan ngự y và Công chúa Ngọc Hân phụ lực.
Theo sử gia Hoàng Xuân Hãn vua Quang Trung bị bệnh từ tháng 07 đến tháng 09 thì mất. Công chúa Ngọc Hân cũng kể như vậy.
Ngọc Hân công chúa và giáo sư Hãn, đều không cho biết triệu chứng.
Chỉ riêng học giả Hoa Bằng cho biết ngài bị chứng huyết vận. Theo Đông y, chứng huyết vận là một bịnh do thiếu máu gây ra, bộ tiểu não bị tổn thương và thận bị suy nhược. Triệu chứng do ông Hoa Bằng không được chính xác như phương pháp chẩn bịnh ngày nay cho phép, dầu sao cũng là một tia sáng giúp chúng ta tìm hiểu căn cứ vào triệu chứng. Cũng căn cứ vào những sử liệu khác thì ngài thường than nhiều mỏi mệt, nhức đầu, chóng mặt, kém ăn, kém ngủ, nước da xanh xao và trên da thường xuất hiện nhiều vết đỏ.
Căn cứ vào những sử liệu trên tôi nghiêng ý nghĩ của tôi vào những bệnh liên can đến máu hoặc gan. Cố nhiên nếu đem những triệu chứng trên bàn cãi thì cuộc bàn cãi không bao giờ chấm dứt. Chúng tôi chỉ giới hạn sự chuẩn bịnh theo ức đoán qua tài liệu mà thôi. Những thí nghiệm chính xác lúc bấy giờ chưa có.
Xanh xao, mỏi mệt, kém ăn ngủ, nhiều vết đỏ hiện lên da khiến chúng ta nghi ngờ bệnh của ngài có nguồn gốc ở máu. Máu ngài bị hư hay những bộ phận làm ra máu bị hư?
Trong khoảng ba tháng chúng ta tạm coi như ngài nhuốm bệnh vào ngày một và mất vào ngày 90 do bệnh hoại huyết (không kể nguồn gốc) nếu đúng, thì đây là một loại hoại huyết cấp tính. Tuy vậy bệnh này đã có thể tiềm tàng từ lâu vì vậy ngài thường than phiền mệt mỏi. Lúc phát hiện và chấm dứt trong 90 ngày có thể là giai đoạn cuối cùng của một bịnh đã kéo dài của bệnh hoại huyết kinh niên. Tiếc rằng các quan ngự y không phát giác kịp:
Trách vì thầy thuốc dở dang,
Chẳng thông mạch lạc, chẳng tường lý y.
Thương phong thì nói thương hàn,
Bệnh kia ngoại cảm nói càn nội thương.

Nguyễn Du
Lời trách của bậc đại thi hào hơi quá nghiêm khắc. Ngày nay, với tiến bộ vượt bực của Y Khoa chúng ta vẫn còn nhiều trường hợp lẫn lộn ngoại cảm với nội thương. Y khoa thời trước của nước ta trong lý luận, ít phần quan sát và thí nghiệm “Y dã lý dã” đó là câu châm ngôn trong sách thuốc cổ điển Việt Nam.
Một chứng bệnh khác có thể gây ra những triệu chứng như ông Hoa Bằng là bệnh gan suy. Bệnh này nhiều khi không có triệu chứng rõ ràng nên định bệnh rất khó ngay với những phương pháp hiện đại trước khi bệnh phát hiện. Thường người bệnh cảm thấy mệt mỏi, kém ăn, kém ngủ, xuống cân. Lúc bệnh phát hiện thì quá muộn. Nếu quả thật vua Quang Trung bị chứng gan suy, theo địa vị của ngài, chúng ta có thể quy vào hai trường hợp thường xảy ra.
Một là vì yến ẩm quá nhiều nhất là ẩm - ngài bị bệnh gan bị chứng “chai gan” như chúng ta thường nói.
Hai là vì chinh chiến gian nan, nằm gai, nếm mật, nước khe cơm vất, màn trời chiếu đất ngài bị viêm gan (Viral heptatitis) do siêu trùng gây nên, và rồi cũng đi đến chai gan hay ung thư gan. Theo hội Mỹ quốc khảo nghiệm về gan tại San Francisco (American Liver Foundation) thì 20% người Mỹ gốc Á Châu mới lập nghiệp bị chứng viêm gan. Cứ năm người có một người bị. Tỷ lệ rất cao làm các tay bợm nhậu phải e dè.
Theo y lý cổ điển của Việt Nam, một danh y giảng: “Trong cơ thể con người, gan là con cọp. Nó ăn hết. Lúc cọp không ăn là cọp phải chết và cọp chết sẽ kéo chúng ta chết theo”.
Có lẽ trên miếng đất này Đông và Tây gặp nhau!
Một bệnh thông thường ở quê nhà vua là bệnh sốt rét. Ngài bị sốt rét kinh niên nên suy nhược dần.
Với những hiểu biết thô thiển về y khoa, chúng tôi xin được phép kết luận:
Vua Quang Trung không bị một bệnh cấp tính cướp tuổi trời như đau ruột dư, nghẹt ruột, lủng dạ dày, phạm phòng hay bị đầu độc.
Với những nhân chứng một lòng một dạ với nhà vua như Ngọc Hân công chúa, các tướng bách chiến như Trần Quang Diệu, Ngô văn Sở, Ngô Thời Nhiệm, một người luôn luôn giữ vẻ khách quan như La Sơn Phu Tử, chúng ta chắc chắn Bắc Bình vương đã không băng hà sau một cơn bệnh kéo dài ít nhất 90 ngày. Theo sử liệu, ngài thường bị mệt mỏi, nhức đầu, kém ăn ngủ, có những vết đỏ trên da, chúng tôi nghiêng ý nghĩ chúng tôi về một chứng bệnh về máu hay về gan. Cố nhiên đây là một phỏng đoán nhiều thiếu sót, xin quý vị độc giả lượng thứ cho biết thêm nếu có những tài liệu chính xác hơn. Xin quý vị vui lòng cho Tòa soạn biết.

Đặc san Tây Sơn. - Xuân Kỷ Tỵ (1989)
(Trang 45-49)
0
Phần thứ hai
“... Oanh liệt chốn sa trường...”

“Ôi! Những trận mạc khiến ‘trời long đất lở’
Những chiến thắng tưng bừng! Những vinh quang rực rỡ
Ôi! Những võ công oanh liệt chốn sa trường...”
Huy Thông (Tiếng địch sông Ô)
 
Hồ Thơm
Sự định vị của tuổi trẻ trong cơn quốc biến
Quán Như
Philadelphia, PA

Ba anh em Tây Sơn, theo sử liệu, thuộc dòng dõi Hồ Quý Ly, một nhân vật phi thường trong lịch sử Việt Nam, người chủ trương cuộc cách mạng Minh Đạo với những biện pháp tân kỳ đã đi trước thời đại cả ba thế kỷ. Tổ phụ của anh em Tây Sơn là lớp lưu dân đầu tiên xuất phát từ làng Quỳnh Lưu (Thanh Hóa) để theo chân Nguyễn Hoàng vào Nam mở đất dựng nước, đến đời cụ Hồ Phi Phúc, thân sinh ba anh em Tây Sơn, định cư ở ấp Kiên Thành, làng Phú Lạc, huyện Tuy Viễn một thôn làng khỉ ho cò gáy nằm dọc chân núi Trường Sơn, mà cho tới nay dân cư vẫn còn thưa thớt.
Cũng chính từ chốn hẻo lánh ấy, anh em Tây Sơn đã khởi nghĩa dựng cờ.
Theo lời một nhân chứng sống tại Đàng Trong vào thời kỳ đó, giáo sĩ Diego De Jumilla, thì Phong Trào Tây Sơn đã bắt đầu hoạt động mạnh vào tháng 4 năm 1773. Quân đội Tây Sơn đã từ miền núi phóng xuống các thôn quê vào các chợ búa giữa ban ngày. Họ có đủ gươm, giáo, súng, nỏ nhưng không hại tính mạng và tài sản của ai hết. Trái lại, họ tuyên ngôn làm các việc công bằng, thẳng thắn, chỉ trừ khử bọn quan lại tham nhũng, những kẻ trọc phú lưu manh và trộm cướp. Họ lấy của người giàu phân phát cho kẻ nghèo chỉ dành cho họ một phần thóc gạo (để sống) mà thôi. Ai chống lại họ, họ giết, biết điều thì thôi.
Một giáo sĩ Tây Ban Nha khác trong phái bộ truyền giáo đã ghi lại. “Họ đã tự xưng là những người theo mệnh trời để thi hành công lý và giải phóng nhân dân khỏi ách quan liêu phong kiến đúng như các nhà cách mạng xã hội chủ trương ngày nay” (tức các nhà Cách Mạng Xã Hội Âu Châu thế kỷ 18).
Du khách Barrow, người đã viếng thăm lãnh thổ do Tây Sơn kiểm soát năm 1793, còn cho biết thêm: “Cuộc cách mạng được toàn thể nhân dân hưởng ứng, gồm cả nông dân, thường dân, một số người Trung Hoa lánh nạn Mãn Thanh (Thiên Địa hội), các tăng sĩ nhà chùa Phật giáo và Lão giáo, các sắc dân thiểu số vùng cao nguyên Trung phần và cả vị vua cuối cùng của Chiêm Thành cũng tham dự nữa”.
Từ các chứng liệu nêu trên, ta có thể hình dung cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã phát triển trên quy mô toàn dân (khác với sự cưỡng ép lịch sử của nhóm sử gia Hà Nội khi lập luận cuộc khởi nghĩa Tây Sơn là cuộc khởi nghĩa của giai cấp nông dân theo quan điểm giai cấp đấu tranh của duy vật biện chứng), trong đó mọi thành phần xã hội, các sắc tộc trong đại khối dân tộc Việt đều tích cực tham dự. Cũng từ các chứng liệu trên, ta thấy cuộc khởi nghĩa Tây Sơn phát xuất từ sự phản kháng một tình trạng xã hội bất công và anh em Tây Sơn là những người nhận mệnh trời để làm cuộc đổi đời nhằm cứu vớt nhân dân khỏi những đàn áp bất công bấy giờ, hay dùng dụng ngữ của người xưa, họ là những người “Thế thiên hành Đạo”.
Như vậy động cơ của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn là ý thức về sứ mạng cải tạo xã hội, chống đối bất công. Trong dòng Sử Việt, những cuộc khởi nghĩa với động cơ tương tợ như vậy xảy ra khá nhiều, nhất là trong những giai đoạn triều chính suy thoái. Thế nhưng tại sao những cuộc khởi nghĩa khác lại không đạt được những thành quả vĩ đại, vinh quang như cuộc Khởi Nghĩa Tây Sơn? Phải chăng vì những Phạm Du, Thân Lợi đời Lý; Ngưu Hống, Ngô Bệ đời Trần; Trần Cao, Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu... đời Lê mặc dù có thể xuất phát từ động cơ chính đáng, mặc dù có thể có khả năng vận động được một khối lượng đông đảo quần chúng yểm trợ, nhưng đã không có được quan điểm đấu tranh thích hợp với hoàn cảnh và một cái nhìn cách mạng toàn triệt để xây dựng lại đất nước sau khi đập phá chính quyền hủ lậu đương thời, nên các cuộc khởi nghĩa đó phản tác dụng trái với động cơ chính đáng ban đầu; các cuộc khởi nghĩa như thế - mà sử thường gọi là các đám giặc cỏ - thường gây thêm rắm rối cho xã hội, làm suy yếu đất nước, và gián tiếp chịu trách nhiệm đã gây ra tình trạng suy loạn làm mồi cho ngoại xâm, như các cuộc khởi nghĩa dưới triều Thiệu Trị, Tự Đức nhà Nguyễn.
Do đó, khi nghiên cứu quá trình vận động của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, và đặc biệt qua những biến chuyển tư tưởng của người anh hùng áo vải Quang Trung phản ảnh qua từng mốc điểm: Hồ Thơm - Bắc Bình vương Nguyễn Huệ - Quang Trung hoàng đế Nguyễn Quang Bình, chúng ta sẽ nhìn thấy tầm quan trọng của sự định vị của người. Sự định vị có tác dụng như một bước chuyển đã nâng cuộc Khởi Nghĩa Tây Sơn từ tầm mức một cuộc khởi loạn tại một địa phương bước lên quy mô một cuộc cách mạng triệt để, tiêu diệt não trạng cát cứ địa phương của các dòng tộc Mạc, Trịnh, Nguyễn đã thiết lập gần 300 năm, đặt nền tảng cho ý thức dân tộc toàn Việt và một chủ quyền thống nhất từ Bắc chí Nam, bảo vệ đất nước một cách hữu hiệu qua các chiến công lẫy lừng phá Thanh, bình Xiêm; đập vỡ trong trứng nước các thế lực phương Tây hỗ trợ cho thế lực phản bội Nguyễn Ánh; xây dựng nền quốc học, và phục hồi sự tự hào dân tộc qua các biện pháp toàn diện và toàn triệt trên các lãnh vực ngoại giao, quốc phòng, kinh tế, văn hóa và xã hội chỉ trong vòng bốn năm ngắn ngủi của cuộc cách mạng Quang Trung (1788-1792) một cuộc Cách Mạng tân kỳ và đầy triển vọng quang phục đất nước.

I.- Các giai đoạn thực hiện cuộc cách mạng Tây Sơn
Khi nghiên cứu về phong trào Tây Sơn và sự nghiệp của Quang Trung, ta gặp một khó khăn khá lớn, phần nhiều các sử liệu viết về Tây Sơn đều do các sử thần của các thế lực thù nghịch với Tây Sơn như các sử thần nhà Thanh, nhà Nguyễn và ngay các chứng liệu của các phái bộ truyền giáo - vốn hỗ trợ tối đa Nguyễn Ánh - đối với Quang Trung cũng không lấy gì làm thiện cảm.
Do đó, để có thể thấu đáo kích thước sự nghiệp Quang Trung, bên cạnh những sử liệu chính thức như Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Lịch Triều Tạp Kỷ... chúng ta sẽ đưa nhiều vào truyền thuyết còn lưu hành tại quê hương người (Bình Định), vào những dấu ấn của sự nghiệp Người Anh Hùng Áo Vải trong Võ Nhạc Tây Sơn, trong trò chơi Bài Chòi lại vùng Quy Nhơn, nghệ thuật sử dụng trống trận...
Trong giới hạn của đề tài, chúng ta chỉ đề cập đến một số giả thuyết liên quan đến quá trình huấn tâm dưỡng khí của người áo vải Hồ Thơm trong suốt mười năm ẩn nhẫn núp bóng dưới trướng vua anh Thái Đức Nguyễn Nhạc để tự huấn luyện cho mình một bản lãnh quân sự và chính trị, tự tài bồi cho mình một tâm thức cách mạng có thể quán triệt được hướng tiến của lịch sử và từ đó định vị được vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc tiếp truyền những tinh hoa của quá khứ nhằm khai thông những bế tấc thời đại qua công trình Mở Nước của bốn năm cách mạng Quang Trung.
Theo sử liệu, sự nghiệp của người anh hùng áo vải Hồ Thơm có thể phân làm ba giai đoạn.
1.- Giai đoạn định hướng (1772-1782).
Là giai đoạn cống hiến của người trẻ tuổi Hồ Thơm vừa tròn 20 tuổi từ động lực cải tạo xã hội của phong trào Tây Sơn, chính trong giai đoạn này Hồ Thơm - Nguyễn Huệ đã thủ đắc được những kinh nghiệm hành động, thấu triệt được những bế tắc trong đường lối hành động của anh mình là Nguyễn Nhạc để từ đó xây dựng được một phương thức đấu tranh sẽ tự mình thể hiện trong giai đoạn định vị.
2.- Giai đoạn định vị (1782-1789).
Giai đoạn hiển hách của sự nghiệp Bắc Bình vương Nguyễn Huệ bốn lần vào Nam tiêu diệt thế lực cựu Nguyễn cùng các lực lượng Tây phương và Xiêm La hỗ trợ Nguyễn Ánh, ba lần ra Bắc tiêu diệt thế lực Trịnh và bọn xâm lược Mãn Thanh.
3.- Giai đoạn chính vị (1789-1792).
Giai đoạn nhận trách nhiệm thực hiện cuộc Cách Mạng Quang Trung, đã hồi phục được tình trạng thịnh trị của đất nước sau ba thế kỷ nội loạn và chia cắt, đặt nền tảng vững chắc cho một nền văn minh toàn Việt qua những biện pháp dân tộc và nhân chủ triệt để trên các lãnh vực ngoại giao, quốc phòng, nông nghiệp, thương mại, văn hóa, xã hội...
Nhìn lại các giai đoạn của sự nghiệp Quang Trung, ta thấy khởi điểm của sự nghiệp ông xuất phát từ động cơ cải tạo xã hội trước triều chính nhiễu nhương thời bấy giờ ở Nam Hà khi Trương Phúc Loan nắm quyền phụ chính. Trong giai đoạn định hướng Hồ Thơm - Nguyễn Huệ chỉ đóng một vai trò khiêm tốn, một vị tướng dưới quyền sai sửa của anh mình là Nguyễn Nhạc.
Chính Nguyễn Nhạc trong giai đoạn này đã đóng một vai trò chính yếu trong sự phát triển phong trào Tây Sơn từ quy mô một cuộc khởi loạn tại một địa phương nhỏ lần lần trở thành một lực lượng áp đảo tại Nam Hà. Khí thế và tầm mức ảnh hưởng của phong trào Tây Sơn lần lần lan rộng trên toàn quốc. Bằng đảm lược và cơ trí, Nguyễn Nhạc đã xây dựng lực lượng Tây Sơn thành một thế lực chính trị mới dâng lên trong khi các thế lực Trịnh và Nguyễn càng ngày càng suy thoái bởi sự sa đọa trong cách sống (sự hoang dâm xa xỉ của Trịnh Sâm, sự tham lam nhũng loạn của Trương Phúc Loan) và sự bạc nhược trong tinh thần (thái độ nhu nhược của vua Lê, sự bất lực của chính quyền Trịnh trước nạn Kiêu Binh hoặc đầu óc ỷ lại ngoại bang của Cựu Nguyễn sẵn sàng rước bất cứ loại voi nào voi Xiêm, voi Tàu, voi Pháp - để về dày mồ tổ quốc Việt).
Người thanh niên Hồ Thơm khi gia nhập hàng ngũ Tây Sơn vừa tròn 20 tuổi, trong suốt mười năm dưới trướng anh, hẳn nhiên ông đã chiêm nghiệm về nội tình và sở trường lẫn sở đoản của các thế lực đương thời, kể cả thế lực của chính phong trào Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của anh mình là Nguyễn Nhạc từ những thao thức ấy ông đã củng cố cho mình một quan điểm toàn triệt về sự thống nhất quốc gia, khi đối chiếu tình trạng suy vong của đất nước, hậu quả của tinh thần cát cứ địa phương của Trịnh, Nguyễn và của cả anh mình, xây đựng cho mình một tâm thức vô kỷ: tâm thức thực sự cách mạng khi đặt ý nghĩa của đời sống trên sự cống hiến trọn vẹn tất cả năng lực, trí tuệ và tâm cơ vào việc phục vụ không giới hạn lý tưởng chung. Tâm thức này là một khước từ dứt khoát với quan điểm Cá Nhân Chủ Nghĩa của Vũ văn Nhậm và quan điểm Cơ Hội Chủ Nghĩa của Nguyễn Hữu Chỉnh, và sau hết, ý thức về sự liên tục của lịch sử như một dòng vận động, có lúc thăng lúc trầm, nhưng nguyên khí của dòng vận động ấy không hề suy suyển khi những cá nhân hay thế hệ đã định vị và xác tín được về vai trò của mình trong việc tiếp truyền những tinh hoa của quá khứ hầu khai thông những bế tắc hiện tại và mở một hướng thăng hóa trong tương lai quang phục đất nước.

II.- Tinh thần Cách mạng Tây Sơn.
Sự định vị của người thanh niên Hồ Thơm, hay nói cách khác, sự xác tín về sứ mệnh của mình trong dòng vận động lịch sử, đã tạo cho ông một bản sắc khác hẳn những nhân vật đương thời, và đó cũng là nguyên nhân của những thành tựu vô cùng vĩ đại của ông. Chúng ta sẽ cố phân tích các yếu tố đã tập thành bước định vị triệt để đó.
A.- Xây dựng một tâm thức vô kỷ.
Đó là sở nguyện cống hiến một cách không giới hạn năng lực và tâm cơ của mình vì một lý tưởng chung, tâm thức vô kỷ nếu thể hiện một cách rốt ráo trở thành sự Xả Kỷ - hoàn toàn tiêu trừ các ngã chấp, các động lực hành động vì cá nhân mình dù trong ý thức hay vô thức - sự xả kỷ có thể nhìn thấy ở đấng Christ hay Phật Thích Ca. Ta không kỳ vọng một tâm thức xả kỷ ở người đấu tranh, nhưng phải đòi hỏi ở họ một tâm thức vô kỷ, một đức tính căn bản của đạo đức cách mạng.
Rất nhiều sử liệu đã cho thấy được tâm thức vô kỷ của người áo vải Quang Trung.
Khi đánh tan thế lực Trịnh, quét sạch bọn Kiêu Binh, Nguyễn Huệ đã bày tỏ lòng thành thực của mình muốn tạo cơ hội cho vua Lê nắm lấy giềng mối nước nhà để củng cố sự thống nhất sơn hà, ông đã tâu với vua Lê: “Thần vì tôn phò hoàng gia mới đến đây, chứ đâu có kể đến công lợi, đó là toàn do lòng trời, chứ không phải sức người làm nổi. Nếu thần có lòng hậu riêng với Bệ hạ, thì thần chỉ có thể điều động được quân lính và thuyền chiến kia thôi, còn như nước lụt rút xuống gió nồm lộng lên há phải là chuyện mà sức thần làm nổi”.
Qua lời phát biểu trên ta thấy được tinh thần vô kỷ của Nguyễn Huệ, đã nhún nhường không tự kiêu về chiến công hiển hách Bắc tiến đã quét sạch nhà Trịnh mà khiêm tốn nhắc đến các yếu tố thiên nhiên - nước lụt hạ xuống thuận tiện cho việc hành quân, gió nồm thổi giúp thuyền chiến Tây Sơn thần tốc ra Bắc - để từ đó đặt nhẹ vai trò của mình và xin vua Lê chấn chỉnh triều chính.
Nhưng vua Lê với não trạng ỷ lại từ mấy trăm năm dựa vào Trịnh, đã khẩn khoản van nài Nguyễn Huệ: “Quả nhân có nước mà không dự chính sự... Những việc quốc kế binh mưu vốn không quen tập. Lệnh tôn (chỉ Nguyễn Huệ) đã làm việc tôn phò, xin ở lại vài năm thì may lắm”.
Rõ ràng với một thời cơ thuận lợi và có chính danh như vậy, nếu Nguyễn Huệ là người không có tâm thức vô kỷ hẳn ông đã nắm lấy cơ hội để dựng nghiệp lãnh chúa riêng cho mình, nhưng ông đã khẳng khái và dứt khoát từ chối lời đề nghị của vua Lê.
Trong khi đó, vua Lê vẫn không hiểu được lòng thành của Nguyễn Huệ và đã đặc cách sai triều thần đem tờ chiếu sắc phong ông làm Phụ Chính Dực Vũ Uy Quốc Công (một tước phong ngang với tước phong đối với các chúa Trịnh trước đây).
Khi nhận được tước phong, mặc dù bất mãn vì vua Lê đã không thấu hiểu lòng thành của mình, Nguyễn Huệ đã sai người dâng kính lễ tạ cực kỳ chu tất, nhưng đã bảo riêng với Nguyễn Hữu Chỉnh: “Ta đem vài vạn quân ra đây, chỉ một trận là dẹp yên Bắc Hà, một tấc đất, một người dân, gì mà chẳng phải của ta cả. Ví bằng ta muốn xưng đế, xưng vương, có gì là chẳng được, sở dĩ nhường nhịn mà không làm, chỉ là hậu đãi nhà Lê đó thôi, sắc lệnh Nguyên Soái hay Quốc Công có thêm gì cho ta đâu. Chẳng hóa ra vua quan Bắc Hà chực lấy danh hão để lung lạc ta sao?”.
Lời phát biểu đã hiện lộ trong nhân cách của Nguyễn Huệ một tâm thức vô kỷ: coi rất nhẹ những thành công của cá nhân, kể cả những thành tựu của mình trong sự nghiệp cứu nước, và từ tâm thức này đưa đến các hậu quả là tinh thần Vô Công: không chủ tạo ra một sự nghiệp cho riêng mình qua việc khước từ một sự nghiệp lãnh chúa Bắc Hà mà nhà Lê đã dâng hiến; và tinh thần Vô Danh: đã xem nhẹ những danh lợi thường tình như Nguyên Soái, Quốc Công hay Chủ Tịch, Tổng Thống... mà người anh hùng Hồ Thơm đã gọi là “danh hão”.
Tâm thức vô kỷ là một đặc tính thường gặp ở lứa tuổi thanh niên giàu lý tưởng, tuy nhiên tâm thức này cũng dễ bị lung lạc và thoái hóa do những khuynh hướng cầu danh, tham vọng quyền lực, vốn cũng khá phổ biến ở tuổi trẻ. Do đó muốn bảo tồn và phát huy tâm thức vô kỷ, cần một cuộc chiến đấu triệt để và thường trực với hai kẻ nội thù trong mỗi tâm hồn của thanh niên, đó là bệnh cá nhân chủ nghĩa và bệnh cơ hội chủ nghĩa.
Ở trường hợp Hồ Thơm, cuộc chiến đấu ấy thể hiện trong mối mâu thuẫn giữa ông với những biểu hiện cá nhân chủ nghĩa ở Vũ văn Nhậm và cơ hội chủ nghĩa ở Nguyễn Hữu Chỉnh.
Các sử gia triều Nguyễn và ngay cả sau này thường cố tình xuyên tạc mối mâu thuẫn giữa Quang Trung và Vũ văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chính như những cuộc tranh chấp quyền lực. Dù không dám quyết đoán Quang Trung đã thành tựu một tư cách minh quân nhân-trí-dũng vẹn toàn, chúng ta có thể khẳng định Nguyễn Huệ là một nhân vật lịch sử đã thể hiện được tinh thần liên tài (ái mộ và đánh giá đúng mức khả năng của người khác) một cách rốt ráo qua các mối tương quan giữa Nguyễn Huệ và Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn Đang Trường, Trần Quang Diệu...và đặc biệt mối tương giao tuyệt vời giữa người áo vải và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.
Trong trường hợp Vũ văn Nhậm, xuất thân là một tướng lãnh của cựu Nguyễn, khi cầm quân giao chiến với nghĩa quân Tây Sơn bị bại, đã muốn tuẫn tiết, nhưng vì Nguyễn Huệ liên tài cảm mộ khả năng và thao lược của Vũ nên đã dụ hàng và cất nhắc làm đại tướng của Tây Sơn. Vũ đã lập nhiều công lao lớn và được Nguyễn Nhạc gả con gái cho, khi được Quang Trung đặc phái ra Bắc Bình Nguyễn Hữu Chỉnh và tôn phò vua Lê, Vũ văn Nhậm đã chứng tỏ sự say mê quyền lực, tự chuyên độc đoán chỉ sùng giải pháp quân sự mà không hiểu được bản ý của Nguyễn Huệ là tiêu diệt mầm mống của não trạng lãnh chúa ở Nguyễn Hữu Chỉnh và tiếp tục củng cố nền thống nhất quốc gia, lúc đó còn được biểu trưng ở vai trò vua Lê. Chính vì tham vọng quyền lực, vì tinh thần cá nhân chủ nghĩa, đã thúc đẩy Vũ văn Nhậm không những tiêu diệt Chỉnh mà dẹp cả triều nghi nhà Lê, khi vào chốn Bắc Hà, Vũ đã tỏ ra tự kiêu tự đại và bắt đầu xây dựng một sự nghiệp lãnh chúa riêng cho mình. Và đó cũng là nguyên nhân của cái chết của ông ta, khi Nguyễn Huệ được cấp báo đã đem quân thần tốc ra Bắc diệt Nhậm, diệt một mầm mống não trạng lãnh chúa địa phương. Tóm lại, sự tiêu diệt Vũ văn Nhậm là một hành động nhằm chống lại tinh thần cá nhân chủ nghĩa của người anh hùng Nguyễn Huệ chứ không phải sự ghen tài và nghi ngờ của ông ta vì Nhậm là con rể của Nguyễn Nhạc, như sách sử cố tình xuyên tạc.
Đặt giả thuyết Nguyễn Huệ vẫn dung túng Nhậm và giao trách nhiệm trấn giữ Bắc Hà, thì e rằng với cá tính cao ngạo và tinh thần cầu danh, hẳn Vũ văn Nhậm khó lòng nghe theo kế hoạch của Ngô Thời Nhiệm rút quân về dãy Tam Điệp để đào sâu sự chủ quan khinh địch của Tôn Sĩ Nghị, một kế hoạch đóng vai trò rất quan trọng trong chiến thắng Đống Đa sau này, và như thế sự chủ quan, óc cá nhân chủ nghĩa của Vũ văn Nhậm sẽ có tác hại không nhỏ trong sự nghiệp cứu nước của Quang Trung.
Đối với Nguyễn Hữu Chỉnh, một nhân vật kiệt xuất tài kiêm văn võ, Nguyễn Huệ đã chứng tỏ một bản lãnh nhìn người và dùng người khi sử dụng “Thủy Chi Điểu” (con chim cắt nước - tiếng người đương thời xưng tụng về khả năng thủy chiến của Nguyễn Hữu Chỉnh), trong sự nghiệp Bắc tiến thống nhất sơn hà và đồng thời đặt kế hoạch trước để tiêu diệt Chỉnh khi Chỉnh bộc phát tham vọng cá nhân. Cũng như Vũ văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh là một người có đầu óc cá nhân chủ nghĩa, cao ngạo và làm việc chỉ vì quyền lợi cá nhân, hơn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh có nhiều bản lãnh chính trị, có sự giảo hoạt của Tào Tháo (giết em rể và bạn chí thiết Đỗ Thế Long để mua lòng tin cậy của Tây Sơn) và có cơ trí cùng đảm lược dám tạo quyết định táo bạo.
Khuyết điểm của Nguyễn Hữu Chỉnh là tất cả những hành động của ông ta đều phát xuất từ tham vọng cá nhân, và đầu óc cơ hội chủ nghĩa. Trong suốt quãng đời hoạt động, họ Nguyễn không hề tự tạo lực riêng cho mình mà chỉ vận dụng cơ trí để khuynh đảo các thế lực đương thời. Nguyễn Hữu Chỉnh đã âm mưu với Vũ Tất Đạo, em rể Hoàng Đình Bảo để chống Trịnh. Khi Bảo bị Trịnh giết, Chỉnh đầu hàng Tây Sơn và thúc đẩy Tây Sơn phạt Trịnh, âm mưu với Vũ văn Duệ, một tướng bất mãn của Tây Sơn để chống lại Tây Sơn và cuối cùng mượn thế lực Tây Sơn để dẹp dư đảng họ Trịnh rồi tiếm quyền thống lãnh Bắc Hà, xây dựng cơ nghiệp lãnh chúa cho riêng mình.
Đầu óc cá nhân chủ nghĩa và cơ hội chủ nghĩa của Nguyễn Hữu Chỉnh chính là nguyên nhân cái chết bi thảm của của ông ta, cái chết bị xé xác, tan như xác pháo như bài thơ “Cái Pháo” tương truyền do chính ông sáng tác.
Tóm lại tâm thức vô kỷ là một nền tảng cho đạo đức cách mạng của người hành động, tự nó đã là một khước từ dứt khoát với đầu óc cá nhân chủ nghĩa và cơ hội chủ nghĩa, và chính nhờ thủ đắc một tâm thức, vô kỷ triệt để, người thanh niên Hồ Thơm mới có thể định vị trong nghiệp cả sau này.
B.- Sở đắc một bản lãnh hành động.
Yếu tố kế tiếp sau khi xây dựng một tâm thức vô kỷ là tự huấn luyện, cân nhắc, đối chiếu để sở đắc một bản lãnh hành động - hay nói cách khác tiêu hóa phần tri (kiến thức) để thể nhập phần tri ấy vào phần hành một cách thuần thục.
Do đó bản lãnh hành động không phải là tham bác nhặt nhạnh các kiến thức viễn vông mà chú vào việc thẩm thấu các kiến thức cần thiết giúp ích cho việc thực hiện lý tưởng.
Tất cả các tài liệu lịch sử, dù là các tài liệu của những thế lực chống Tây Sơn, đều khẳng định về bản lãnh quân sự của người thanh niên Hồ Thơm, một bản lãnh khiến chúng ta không hổ thẹn chút nào khi so sánh với các thiên tài quân sự cổ kim như Alexandre, Napoléon... Ở đây chúng ta chỉ nhấn mạnh thêm một chi tiết về tài cầm quân của người thanh niên ấy. Ngay vào năm đầu tiên ở giai đoạn định vị, năm 1782, Nguyễn Huệ đã điều khiển thủy lục quân vào Nam dẹp Nguyễn Ánh, trong trận thủy chiến trên sông Cần Giờ (sông Sàigòn), theo Lịch Triều Tạp Kỷ thì “Quân thủy Tây Sơn nhân chiều gió thuận, nước thủy triều đang lên, giương buồm căng, xông pha thẳng tiến. Quân thủy Gia Định (tức quân Nguyễn Ánh), chưa giao chiến đã tự tan vỡ. Riêng cô Man Hòe người Phú Lang Sa là chủ tàu Tây Dương chống cự và chiến đấu khá lâu. Văn, Huệ hợp quân lại vây đánh thiêu hủy cả tàu. Man Hòe bị giết”.
Chiến thắng Cần Giờ là cuộc thử lửa đầu tiên của lực lượng dân tộc Việt với lực lượng quân sự Tây phương do Manuel một người Pháp đánh thuê do Bá Đa Lộc (Pigneau) tổ chức để giúp Nguyễn Ánh. Chiến thắng này đã chứng tỏ:
1. Tình trạng kỹ thuật cơ giới của ông cha ta hẳn đã đạt được trình độ nào đó, đủ để tiêu diệt một tàu chiến Tây phương trang bị bằng những vũ khí tối tân thời bấy giờ, nếu ta nhớ lại bốn thế kỷ trước đó, Hồ Nguyên Trừng đã phát minh súng thần công hiển nhiên ta có thể kết luận tinh thần thực dụng và trình độ khoa học kỹ thuật của tổ tiên không hẳn thua sút lắm so với Tây phương.
2. Tuy nhiên nếu theo dõi tiếp các giai đoạn lịch sử về sau, chỉ 50 năm sau chiến thắng Cần Giờ, Việt Nam bắt đầu thất bại nhục nhã trước binh lực và cơ giới Pháp. Chỉ 170 tên lính đánh thuê dưới quyền Francis Gamier đủ để chiếm lãnh trọn miền Bắc khiến Nguyễn Tri Phương phải tuẫn tiết, chỉ bảy tên lính dưới quyền Hautefeuille đủ để chiếm thành Ninh Bình.
3. Sự sụp đổ thảm hại của quân lực triều Nguyễn, ngoài các nguyên nhân chính là chính sách bế quan tỏa cảng, tinh thần Tống Nho giáo điều, sự bạc nhược bất nhất của triều chính... còn có một nguyên nhân khác, đó là tinh thần quật khởi, có đề kháng và sự tự tin dân tộc đã suy thoái trong thời nhà Nguyễn, không còn lưu giữ được sinh phong và hào khí dân tộc mà người anh hùng Hồ Thơm đã biểu dương qua các chiến thắng lẫy lừng: phá Thanh, bình Xiêm, dẹp Tây Dương, diệt các thế lực cát cứ địa phương của Trịnh Nguyễn...
Bản lãnh hành động của người áo vải Hồ Thơm không chỉ giới hạn trong lãnh vực quân sự. Trên lãnh vực ngoại giao, Quang Trung hoàng đế đã tạo ra những chiến thắng cũng ngoạn mục không kém gì những chiến thắng Đống Đa, Hà Nội. Với sự phụ tá của Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, mặt trận ngoại giao đã đạt được các thành quả:
- Bãi bỏ lệ cống người vàng đã thực hiện từ 300 năm.
- Thành công trong yêu sách lập Nha Hàng tại Nam Ninh để làm một Tô Giới cho người Việt sang buôn bán tại Trung Hoa. Như vậy gần 100 năm trước các liệt cường Tây phương, Đại Việt đã lập được một tô giới đầu tiên tại Nam Ninh, Trung Quốc.
- Yêu sách về việc đòi đất Lưỡng Quảng (lãnh thổ Nam Việt thời Triệu Đà) để làm kinh đô.
- Xin cầu hôn công chúa nhà Thanh.
Hai yêu sách cuối đã không được thực hiện vì người anh hùng Quang Trung băng hà.
Ngoài hai lãnh vực quân sự và ngoại giao nêu trên, bản lãnh trị quốc của Quang Trung đã chứng tỏ một nhãn quan toàn triệt về mọi lãnh vực. Ở địa hạt nông nghiệp, Quang Trung đã ra lệnh hồi phục và củng cố chế độ công điền truyền thống sau khi đã quân phân ruộng đất. Người cho thi hành một chính sách khuyến nông rộng rãi nhằm mục đích hồi cư các thành phần ly hương để ruộng có người cày, khuyến khích tăng gia sản lượng của ruộng đất, giản dị hóa các loại sổ sách địa bạ và giảm các loại sưu thuế (loại thuế điện tiền, tô dịch). Chính sách nông nghiệp của Quang Trung đã đưa đến kết quả chỉ bốn năm thực hiện đã tạo được một tình trạng thịnh vượng đến đỗi sử quan triều Nguyễn xưa nay cố tình xuyên tạc và bôi nhọ các công trình của Quang Trung cũng phải công nhận “Năm Quang Trung thứ 4, trong nước khắp nơi đều được mùa vì mưa hòa gió thuận. Cuộc sinh hoạt đã phát đạt đầm ấm tới nửa phần thuở thanh bình ngày trước”.
Lãnh vực kinh tế thương mại cũng được Quang Trung quan tâm trong việc đúc tiền đồng, lập các thương cảng để giao dịch với Trung Hoa như Bình Thủy Quan ở Cao Bằng, Du Thôn Ải ở Lạng Sơn. Điểm đặc sắc nhất trong công trình cách mạng Quang Trung là việc phổ cập nền giáo dục đến cấp thôn xã, dùng đình, miếu, chùa làm trường học, thu dụng tất cả các nho sinh không phân biệt xuất thân (Lê, Trịnh hay Nguyễn) để làm huấn đạo trong việc truyền bá kiến thức.
Việc phục hồi nền Quốc Học đã được ngài đặt nặng qua việc sử dụng chữ Nôm làm văn tự chính thức trong công văn của chính quyền và việc thiết lập Sùng Chính viện, một cơ quan tương tự, biểu dương văn hóa và truyền thống dân tộc. Tất cả những biện pháp vừa nêu trên đã thực hiện chỉ trong vòng bốn năm, trong tình trạng đất nước vô cùng loạn ly và chia rẽ sau 300 năm tương tranh Mạc Lê, Trịnh Nguyễn, đã chứng tỏ một bản lãnh toàn triệt của người anh hùng Quang Trung trên khắp các lãnh vực. Dĩ nhiên không hẳn người tuổi trẻ Hồ Thơm đã có được một kiến thức bao quát và đa diện như thế. Sự vĩ đại của ông đã thể hiện ở điểm ông đã bổ sung những khiếm khuyết trong kiến năng của mình bằng cách sử dụng khả năng của người khác. Và sự xử dụng ở đây không phải chỉ là sự lợi dụng vắt chanh bỏ vỏ mà trái lại, là một sự liên tài và tri kỷ thực sự.
Chỉ với tinh thần liên tài và thông cảm rốt ráo, Quang Trung mới có thể, ngay khi ra Bắc gặp Ngô văn Sở lui binh về dãy núi Tam Điệp, đã suy đoán đó là kế hoạch lui binh do Ngô Thời Nhiệm chủ động và tỏ lòng kính phục cơ trí của họ Ngô.
Tinh thần khiêm tốn, cầu hiền qua cách cư xử dùng lễ Tân Sư (đối xử vừa như thầy vừa như khách) mà người anh hùng Hồ Thơm đã dành cho Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn Đăng Trường và đặc biệt La Sơn Phu Tử đã được các nhân vật ấy đền đáp bằng sự cống hiến trọn năng lực và trí tuệ cho công trình cách mạng Quang Trung, và khi mà Tây Sơn sụp đổ, nhiều người đã lấy cái chết để đền đáp ơn tri ngộ của người áo vải Hồ Thơm như Trần Quang Diệu...
Tóm lại để chuẩn bị cho mình một hành động, người tuổi trẻ Hồ Thơm đã cố gắng chiêm nghiệm và đối chiếu để tự tài bồi một bản lãnh hành động ở khắp các lãnh vực, và quan trọng hơn, biết tự lượng giá mình để bổ sung những thiếu sót trong khả năng mình bằng một tinh thần liên tài và cầu hiền thực sự. Và có thể nói, đó chính là chìa khóa của sự thành công rực rỡ của sự nghiệp Quang Trung.
C.- Xác tín lý tưởng và phương thức hành động.
Yếu tố thứ ba có tính cách quyết định trong quá trình định vị của người thanh niên Hồ Thơm là sự xác tín một lý tưởng và phương thức hành động sau khi đã tài bồi một tâm thức vô kỷ và thủ đắc một bản lãnh hành động.
Xác minh một lý tưởng là một bước quan trọng. Sau khi đã vạch được một hướng đi. Nó bao hàm một quyết tâm đeo đuổi đến kỳ cùng lý tưởng đó, không rơi vào tình trạng hoang mang bất định hay bỏ cuộc nửa chừng. Nó biểu lộ một ý chí mạnh mẽ chấp nhận đương đầu với mọi thử thách để đạt được lý tưởng.
Người thanh niên Hồ Thơm đã ẩn nhẫn dưới trướng vua anh Nguyễn Nhạc đã nhận định ra nguyên nhân sự suy yếu của đất nước là não trạng cát cứ địa phương do sự phân chia Nam Bắc Triều, đàng trong đàng ngoài gần 300 năm và từ đó nảy sinh tình trạng đánh mất truyền thống đại đoàn kết dân tộc và niềm tự hào với quá khứ cùng chung một tổ bản cũng như niềm tự tin vào tương lai quang phục tự cường.
Trong nhận định đó, ông đã xác quyết sứ mệnh tranh đấu vì nền thống nhất dân tộc và vạch hướng một công trình Mở Nước trên căn bản tiếp truyền những tinh hoa quá khứ.
1. Củng cố sự thống nhất quốc gia: Nhìn vào các nhân vật thời ông, rõ ràng người thanh niên Hồ Thơm là người duy nhất đã xác tín vào sự nhất thống của tổ quốc và tranh đấu đến kỳ cùng vì mục tiêu ấy.
2. Tiêu diệt thế lực cựu Nguyễn ở Đàng Trong, đập vỡ thế lực Trịnh ở Đàng Ngoài, phá hủy trong trứng nước các tham vọng lãnh chúa địa phương của Vũ văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh. Tất cả các thành tích ấy đều nhằm một mục đích: Củng cố sự thống nhất quốc gia.
Khi ra Bắc diệt xong thế lực Trịnh, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ vào yết kiến vua Lê Hiển Tông, đã bày tỏ một thái độ rất khiêm cung nhún nhường. Ông đã tâu với vua Lê: “Thần là kẻ thất phu ở Tây Sơn, nhân thời thế, nổi dậy, tuy chưa từng mặc áo và ăn lộc Bệ hạ ban cho, nhưng vì thánh đức của Bệ hạ tỏ rộng và xa khắp, thần ở chỗ man ri cũng kính cẩn ngưỡng mộ. Ngày nay được nhìn mặt rồng, cũng do lòng chí thành của thần, như hoa quỳ hướng dương cảm thông được thế. Vả lại họ Trịnh vô lễ, lấn lướt bề trên nên trời mượn tay thần đánh diệt họ Trịnh để mở rộng uy quyền cửa Bệ hạ... May được thành công, thực bởi phúc đức của bệ hạ xui lên đó. Chỉ mong khánh thượng khang cường, trị vì một nước để cho thần dân đều được ơn nhờ”.
Lời phán đó đã bộc lộ một tâm tình khiêm tốn và xác quyết lập trường bất di dịch của Nguyễn Huệ. Chỉ có một đất nước Việt không hề có nước Bắc Hà nước Nam Hà. Không có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ.
Ta thử so sánh lời phát biểu của Nguyễn Nhạc, một kỳ tài thời đó khi ra Bắc để giám sát công việc của em và vào hội kiến với vua Lê:
“Họ Trịnh chuyên quyền chúng tôi đem quân ra đây chỉ có ý giúp nhà vua mà thôi. Nếu đất Bắc Hà của Trịnh thì một tấc chúng tôi cũng lấy, nhưng nếu của nhà Lê thì một tấc chúng tôi cũng không tưởng, chỉ mong nhà vua giữ vững triều cương rồi hai nước chúng ta đời đời giao hảo”.
Lời phát biểu của Nguyễn Nhạc đã chứng tỏ cương vị Chủ Tể một nước nói chuyện với Chủ Tể một nước khác, nó đã xác định trên căn bản, não trạng cát cứ địa phương của Nguyễn Nhạc, cũng như hầu hết các nhân vật đương thời. Và đó là kết quả tất nhiên của tình trạng chia đôi đất nước trên thực tế đã kéo dài 300 năm.
Để thấu đáo về não trạng “địa phương chủ nghĩa” ấy, ta phải thành thật và can đảm nhìn nhận rằng chỉ mới 20 năm chia cắt đất nước vì họa cộng sản, trong sinh hoạt chính trường, do vô tình hay cố ý, đã nảy nở một vài phân biệt miền Bắc, miền Nam. Và trong đời sống cộng đồng trước và ngay cả sau 1975 ở hải ngoại, vẫn còn tiềm ẩn, một cách ý thức hay vô ý thức, sự phân biệt Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Có nhìn rõ não trạng “kỳ cục” đó trong cộng đồng, chúng ta mới nhìn rõ tầm mức vĩ đại của tinh thần không kỳ thị, quan điểm minh bạch về một nước Việt của Quang Trung.
Từ đó, ta mới thấy được mối mâu thuẫn giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc là mâu thuẫn về lập trường. Lập trường của Nguyễn Nhạc bị hạn chế trong tầm nhìn một địa phương cục bộ sở nguyện của ông chỉ giới hạn trong lãnh thổ “Nam Hà” trong khi lập trường của Nguyễn Huệ đã vượt lên tầm mức toàn lãnh thổ Việt trên mặt không gian, và xuyên suốt trên dòng vận động lịch sử Việt ở mặt thời gian.
Mối mâu thuẫn đó đã lên đến cực điểm khi Nguyễn Huệ dẫn quân vào kỳ thành Quy Nhơn và Nguyễn Nhạc phải lên thành mà khóc: “Nỡ lòng nào mà nồi da xáo thịt như thế” khiến Nguyễn Huệ phải động lòng rút quân.
Có lập luận cho rằng, Quang Trung đã không dứt khoát tiêu trừ nốt não trạng cát cứ địa phương của anh mình, khiến Đại Việt dưới triều Tây Sơn vẫn còn ba chính quyền trên thực tế. Nguyễn Lữ ở miền Nam, Nguyễn Nhạc ở Nam Trung Phần và Nguyễn Huệ từ Thuận Hóa ra Bắc, và do đó cuộc cách mạng Quang Trung của ông không thể thực hiện được trên toàn lãnh thổ Việt, và hơn nữa, khả năng của Nguyễn Lữ và Nguyễn Nhạc tầm thường khiến Nguyễn Ánh có thể quật khởi về sau.
Điểm nhận xét trên càng cho ta thấy bản chất rất Người của anh hùng Hồ Thơm, nhất là khi ta xét đến thời đại của ông, lúc nền đạo lý căn bản vẫn dựa trên tam cương ngũ thường, và Nguyễn Nhạc, vừa là một người anh quyền huynh thế phụ, vừa là người dẫn dắt Nguyễn Huệ vào con đường đấu tranh. Do đó ông không thể đành đoạn thẳng tay. Tính chất nhân bản đó hoàn toàn khác biệt hẳn bọn người không tim ở Bắc Bộ Phủ, những kẻ tố cha, từ con, đoạn tình anh em, chồng vợ, mà yếu tố gọi là “đạo đức cách mạng” đó họ chỉ thu vén trong “trung với đảng”.
Dù sao, vì ơn sâu và tình riêng không thể nào dứt khoát diệt trừ nốt chướng ngại vật cuối cùng của não trạng cát cứ địa phương, cũng gây trong tâm hồn Nguyễn Huệ một sự giằng co, u uất; bởi vì theo sử liệu, vào tuổi 40 (1792), ở cái tuổi tráng kiện nhất của đời người, với một sự nghiệp rực rỡ và hầu như mọi ước nguyện đều thành tựu, vậy mà Nguyễn Huệ băng hà vì bịnh “huyết vận”. Dùng danh từ y lý hôm nay là bị “stroke”, một căn bịnh do những mối mâu thuẫn nội tâm.
Cuộc đời của người thanh niên Hồ Thơm, với một sự nghiệp vĩ đại như thế, với sự tri kỷ của người đàn bà tuyệt vời như Lê Ngọc Hân, thì phải chăng niềm u uất duy nhất trong nội tâm chỉ có thể là sở nguyện củng cố nền thống nhất sơn hà chưa được thực hiện toàn vẹn?
Và phải chăng sở nguyện đó, Nguyễn Huệ trao quyền cho thế hệ hôm nay?
2. Phát triển ý thức toàn Việt.
Sự thống nhất chỉ được thực hiện trên mặt địa lý cũng chưa hẳn là một điều kiện lý tưởng, nếu không được hỗ trợ bằng một ý thức dân tộc toàn Việt, ý thức dân tộc là yếu tố sinh tử quyết định sự tồn tại của một quốc gia. Và vì thế ý thức dân tộc cũng phải được nuôi dưỡng, tài bồi và thăng hóa để bắt kịp đà tiến hóa của quốc gia theo từng giai đoạn lịch sử.
Trong thời đại của người thanh niên Hồ Thơm, theo sự phân công lịch sử, một thành phần dân cư ở lại đất Bắc để tiếp nối và lưu truyền nền văn minh sông Hồng, một thành phần dân cư xuôi Nam mở nước để hình thành nền văn minh Cửu Long. Tuy nhiên sự bành trướng về lãnh thổ không ăn khớp nhịp nhàng với độ thăng hóa của ý thức dân tộc toàn Việt, và hơn nữa do tham vọng quyền lực, các dòng tộc Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn đã đào sâu độ chênh lệch ấy nhằm cố gắng tạo lập hai nước Bắc Hà - Nam Hà riêng biệt, khiến ý thức toàn Việt của người dân hai bên sông Gianh càng ngày càng mờ nhạt.
Nhận chân được hiểm họa đó, người anh hùng Hồ Thơm và bậc kỳ sĩ La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã nỗ lực đề ra một số biện pháp nhằm phát triển ý thức toàn Việt.
Là một ẩn sĩ có một quan niệm sống tiêu dao ngoại vật Nguyễn Thiếp đã nhiều lần từ tạ sự ân cần khẩn khoản của Nguyễn Huệ mời ông tham dự chính sự.
Hiểu rõ và tôn trọng phẩm cách của Phu tử, Quang Trung không hề dùng uy lực của một Hoàng đế để cưỡng ép Nguyễn Thiếp tham chính ngược lại, bằng lòng thành và sự nhún nhường ông vẫn tiếp tục gởi văn thư để xin phu tử cố vấn về vấn đề trị quốc, và đặc biệt những vấn đề liên quan đến việc phát huy ý thức dân tộc toàn Việt để làm căn bản cho sự thống nhất quốc gia thực sự.
Trên lãnh vực này, với trách nhiệm của một kẻ sĩ, và một phần vì niềm tri ngộ đối với sự thành khẩn của Quang Trung, La Sơn Phu Tử đã đóng góp hai dự án: xây dựng Sùng Chính viện và Họa Đồ xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô tại Thanh Hóa.
a) Sùng Chính viện:
Sùng Chính viện là cơ quan điển chế văn tự, tàng trữ và phổ biến cổ thư, lượng giá các tác phẩm thuộc nhiều địa hạt. Như vậy Sùng Chính viện chính là một Hàn Lâm Viện, một cơ sở để bảo tồn và phát huy văn hóa.
Nước Pháp vẫn tự hào là kinh đô của ánh sáng và trí tuệ bởi vì quốc gia ấy có một Hàn Lâm Viện lâu đời. Chúng ta cũng có quyền tự hào rằng đồng thời với thời gian nước Pháp thành lập viện Hàn Lâm, thì ở đất nước chúng ta Nguyễn Huệ và La Sơn Phu Tử đang đặt cơ sở cho việc thành lập Sùng Chính viện. Hiển nhiên nếu Quang Trung không mất sớm hay các người thừa kế ngài chỉ thừa hưởng một phần viễn kính sáng suốt của ngài, hẳn chúng ta hôm nay đã thừa hưởng một gia tài quốc học quý giá.
b) Phượng Hoàng Trung Đô:
Quá tình Nam tiến của Tộc Việt không mang hình thức một cuộc chinh phục võ lực của một nước đối với láng giềng hay hình thức thực dân (dùng võ lực để mở đất rồi đến cai trị như chủ nhân ông đất nước người) mà do sinh phong và khả năng chinh phục của văn hóa Việt Tộc. Những người lưu dân tiên phong đã thuần hóa văn hóa địa phường, đã Việt hóa sinh hoạt người dân thổ cư, và ngược lại đã nhận chịu ảnh hưởng của văn hóa thổ cư, và do tính chất trường kỳ và tiệm tiến của quá trình Nam Tiến, những ảnh hưởng ngược lại đó khiến từng vùng đất ngay ở Đàng Trong đã có vài đặc tính khác nhau - khác nhau về thổ âm, về phong tục, về vài lề thói xử sự, sự khác biệt lại càng rõ nét hơn so với Đàng Ngoài.
Trong quá trình Nam tiến đó, từ 200 năm trước, người thanh niên Hồ Thơm vốn xuất thân là hậu duệ của lớp lưu dân đầu tiên tiến về phương Nam mở nước, đã ý thức một cách sâu sắc rằng chỉ một sự hội tụ văn hóa toàn Việt mới vượt qua những sắc thái dị biệt của từng địa phương, hay nói cách khác chỉ khi nào xây dựng một tâm thức toàn Việt trong mỗi thành phần nhân dân mới có thể củng cố được ý thức toàn Việt cho đại khối dân tộc để làm căn bản cho sự thống nhất quốc gia thực sự.
Công tác đó, dĩ nhiên thuộc lãnh vực văn hóa. Lập Sùng Chính viện, xây dựng nền quốc học, phổ cập nền giáo dục, tôn vinh chữ Nôm... đều nằm trong chiều hướng đó. Và đó cũng là nguyên nhân sâu xa của việc Quang Trung và La Sơn Phu Tử chọn Nghệ An làm kinh đô.
Nghệ An, trong buổi bình minh lịch sử Việt, đã là một thành phần của dải đất mà Hùng Thị xây dựng nền văn hóa Văn Lang Âu Lạc. Nền văn hóa ấy đã chứng tỏ được tiềm năng đề kháng với mọi áp lực văn hóa Hán tộc trong suốt 1.000 năm Bắc Thuộc, và đã thăng hóa trong giai đoạn tự chủ Đinh - Lê - Lý - Trần - Lê, và đỉnh phát triển cao nhất là thời đại Hồng Đức, một thời đại đã thành tựu một tổ chức xã hội tuyệt hảo và đầy nhân tính của nền Văn Minh Sông Hồng.
Nghệ An cũng là khởi điểm của một quá trình Nam tiến mà do tính chất trường kỳ và tiệm tiến của nó, đã chứng tỏ được sự ưu việt của nền văn hóa Việt Nam khi thử thách với các nền văn hóa Chiêm Thành và Chân Lạp, và do ở những ảnh hưởng hỗ tương trong sự giao lưu văn hóa, đã có những biến dạng và tổng hợp để cuối cùng tựu thành nền Văn minh Cửu Long.
Như thế là giao điểm của hai nền Văn minh Sông Hồng và nền Văn minh Cửu Long. Đặt kinh đô, giềng mối nước, tại Nghệ An, phải chăng Quang Trung và Phu tử đã nhìn được, trên chiều kích lịch sử, dòng văn hóa đã làm tròn sứ mệnh chinh phục và khai triển qua những chặng đường Nam tiến nay phải quy hồi về đất tổ để thực hiện sứ mệnh tổng hợp hai nền Văn minh Sông Hồng và Sông Cửu ở giao điểm Nghệ An?
Phượng là biểu tượng của Tiên nguyên lý Mẹ, theo huyền sử. Sự phân chia hai thành phần của tộc Việt trong sứ mệnh mở nước tiềm ẩn trong huyền thoại Tiên Âu Cơ. Nay sự hội tụ về Trung Đô - Phượng Hoàng Trung Đô - phải chăng là biểu tượng của nền Văn minh Toàn Việt?

III.- Tiếp truyền Sứ mệnh
Chúng ta vừa thử phác lược một vài công trình của Quang Trung hoàng đế qua cuộc cách mạng Quang Trung, qua sự củng cố nền thống nhất quốc gia, sự phát huy ý thức toàn Việt. Những thành quả ấy đã chứng tỏ người thanh niên Hồ Thơm sau những chiêm nghiệm thao thức dưới trướng vua anh đã nhìn được sự vận động và hướng tiến lịch sử để từ đó đã tự chọn cho mình một chỗ đứng trên dòng vận động đó, điều mà chúng ta gọi là sự định vị.
Không phải là một ngẫu hợp mà người thanh niên Nguyễn Trãi dành trọn mười năm tự giam mình ở thành Đông Quan để nghiền ngẫm một Bình Ngô Sách cũng như người thanh niên Hồ Thơm dành trọn mười năm ẩn nhẫn tự tài bồi cho mình để xây dựng một tâm thức vô kỷ, một bản lãnh hành động thích hợp và một quyết tâm thực hiện đến kỳ cùng lý tưởng mình đã chọn.
Mười năm đối với giòng lịch sử là một thoáng chốc, nhưng đối với một đời người cũng khá dài, nhất là đối với tuổi trẻ. Nếu trong vòng mười năm đầu bước vào đời mà vẫn chưa xác tín về lý tưởng mình theo đuổi, chưa định vị được chỗ đứng của mình trong dòng vận động của lịch sử, thì e rằng sau mười năm, lòng nhiệt thành sẽ suy giảm, có thể đầu hàng miếng cơm manh áo, và sự chính tâm thành ý của tuổi thanh xuân dần dần cũng tiêu hao.
Mười năm như một định kỳ để nhắc nhở chúng ta rằng sứ mệnh của thế hệ hôm nay - thắng cộng và vượt cộng - là một công trình có tính cách dài hạn, đòi hỏi một quyết tâm trì chí và một nghị lực phi thường, một nghị lực tự thắng những vọng động cá nhân và kiên tâm với những thử thách.
Chỉ trong tinh thần đó, chúng ta mới tiếp truyền được đại nguyện của người thanh niên Hồ Thơm sau bước định vị đã xác tín được sứ mệnh mình - sứ mệnh củng cố một ý thức toàn Việt để vượt qua những bế tắc khủng hoảng trong cơn quốc biến hầu xây dựng một tương lai quang phục cho đất nước.
Đại nguyện đó đã gói ghém trong danh hiệu Quang Trung - Tâm điểm của Sự Sáng - Sự Sáng là Minh Triết, là sự Thăng Hóa từ những bối cảnh tối tăm, thù hận và chia rẽ. Sự Sáng cũng là sự bùng vỡ của ý thức tự cứu, tự phát triển, tự vươn lên của một công trình Mở Nước không phải chỉ giới hạn trong kích thước của chiều rộng địa dư mà chính còn là công trình Mở Nước trong chiều sâu của ý thức dân tộc Toàn Việt mà từ đó mọi thành phần của dân tộc đều thấy rõ chỗ đứng của mình trong chiều hướng phát triển tương lai.
Và Đại nguyện đó, đã được một tri kỷ của con người áo vải Hồ Thơm, người đàn bà tuyệt vời Lê Ngọc Hân diễn tả trong một bài thơ đã trở thành ca dao:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân mở nước, xiết bao công trình.

 
Đặc San Tây Sơn Xuân Mậu Thìn (1988)
(Trang 40-58)
0
Những điểm đặc biệt về Nguyễn Huệ
Phạm văn Sơn

Mỗi danh nhân thế giới và lịch sử thường có những cá tính đặc biệt để người đời có thể nhìn vào đó mà biết được sự nghiệp và tương lai của họ ngay khi mới bắt đầu vào chính trường. Trong chuyện Vương Thúy Kiều của Nguyễn Du ta thấy trong cuộc tiếp xúc giữa Từ Hải và nàng Kiều, Từ Hải đã khen Kiều có cặp mắt xanh qua câu:
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già!
sau khi Kiều nói Từ Hải sẽ có những ngày huy hoàng, vua biết mặt, chúa biết tên, sự hiểu biết hết sức lớn lao, và lời nói của nàng cũng rất tế nhị bởi đã diễn tả ý trên một cách gián tiếp nhưng khéo léo vô cùng:
Thưa rằng lượng cả bao dung
Tấn dương được thấy mầy rồng có phen,
Rộng thương nội cỏ hoa hèn,
Tấm thân bèo bọt dám phiền mai sau...

và quả nhiên chỉ năm sau với cái tài khuấy nước chọc trời của người anh hùng họ Từ, chánh quyền đời Gia Tĩnh đã phải bối rối lao đao vì Từ đã đánh phá được nhiều thị trấn của miền Nam Trung Quốc, đem lại cho triều binh nhiều cuộc kinh hoàng, như vậy Kiều đã đoán trước thân thế của Từ sớm có ngày rực rỡ và sự việc đã thực hiện rất đúng, như thế, nàng là kẻ có mắt tinh đời vậy. Nếu Từ đã thành Chúa Tể bốn phương mà nói thì có khác đâu là chuyện khen phò mã tốt áo...
Tào Tháo cùng Lưu Bị một hôm ngồi luận anh hùng và thời thế. Tào nhìn thẳng vào mặt Lưu bảo:
“Anh hùng trong thiên hạ ngày nay, chỉ có tôi với sứ quân...”, Lưu Bị hoảng hốt vì thấy Tào đã “đi guốc trong bụng mình”, nhân có tiếng sét nổ bèn giả đò bưng tai, tỏ ra hèn nhát, sợ hãi lắm. Tào cười biết mánh lới của Lưu bởi y đã hơn ai hết, thấu đáo triệt để cái súy đồ vĩ đại của Lưu. Y cười bởi Lưu cố tình che mắt hắn trong khi tia mắt của y đã chiếu thẳng vào tim đen của Lưu.
Dưới đời chúa Duệ Tôn ở Nam Hà cuối thế kỷ 18, ông giáo Hiến là thầy dạy cả văn lẫn võ cho ba anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ. Ông cũng nhận thấy anh em Nhạc sau này sẽ đóng những vai trò quan trọng trên đất nước. Lúc đó ông sống một cách ẩn dật lòng đầy căm hận bởi tuổi đã già không giúp ích được gì cho xứ sở trong khi quyền thần Trương Phúc Loan là cậu Vua đang thao túng chính quyền, vơ vét của dân và của nhà nước cho đầy túi tham không đáy, bất kể công luận và không hề mủi lòng trước cảnh đói khổ lầm than của nhân dân miền Nam. Bạn thân của ông là Trương văn Hạnh làm quan tại triều vì chống lại chế độ mục nát của Trương mà bị Trương hãm hại. Ông giáo Hiến sợ cái họa cháy thành vạ lây vội bỏ kinh thành Thuận Hóa mà đi Bình Định gõ đầu trẻ trong thôn ấp hẻo lánh kề đất Tây Sơn, do đó đã có dịp thâu anh em Nguyễn Nhạc làm môn đệ. Ông thấy Nhạc, Lữ, Huệ khác người nên khi tiếng nhỏ, khi tiếng to mang thời cuộc ra dẫn giải và khích động óc cương cường của ba anh em Nhạc. Theo ông, chính sự Nam Hà mục nát quá rồi, sớm muộn gì phải đi đến chỗ sụp đổ, những kẻ có tài, có chí sẽ có cơ hội lập công danh. Rồi ông khích lệ Nhạc, Lữ, Huệ rằng thời cơ đã tới và họ có thể đảm đương được vận mệnh tương lai của đất nước. Ông còn bịa ra lời sấm: “Tây Sơn khởi nghĩa, Bắc thu công”, nghĩa là đất Tây Sơn sẽ có người khởi nghĩa rồi sẽ thành công cả ra đến Bắc Hà. Lời sấm này có mãnh lực thúc đẩy anh em Nguyễn Nhạc hăng hái lao mình vào con đường tranh đấu. Nói cho đúng ba anh em Nguyễn Nhạc cũng phải là những người có chí khí hiên ngang, có óc hùng cường mới được thầy Hiến lựa chọn để ra tranh tài với thiên hạ và quả sau này họ đã làm được những việc lừng lẫy sử xanh.
Trong ba anh em ông Nhạc, Lữ, Huệ mỗi người đều có sở trường, sở đoản khác nhau, nhưng trong một giai đoạn lịch sử nào đó họ đã tỏ đủ tài đánh đổ một chính quyền thối nát và đóng vai trò lịch sử hiển hách cũng như đưa lịch sử Việt Nam sang một khúc quanh. Rồi như ta thấy 30 năm sau (1771-1802) anh em nhà Tây Sơn quả đã làm biến chuyển thời thế từ Nam ra Bắc chớ đâu họ chỉ đánh gục bọn Trương Phúc Loan ở cái việc “gian nhân hiệp đảng” mà thôi trong phạm vi xứ Nam Hà bấy giờ gồm dải đất phía Bắc giáp Đồng Hới, phía Nam giáp Diên Khánh, Bình Thuận. Nhạc là con người giàu mưu trí nhưng không có nhiều kỳ vọng. Mỗi ngày một lớn tuổi, đầu óc ông cũng mòn mỏi dần rồi thiên về chỗ cầu an hưởng lạc nên chỉ khư khư đóng vai Hoàng đế trong cái đế quốc nhỏ xíu của ông là đất Quy Nhơn mà thôi. Người ta gọi ông là “Tây vương” tuy ông tự xưng là “Trung Ương Hoàng Đế”.
Nguyễn Lữ thua sút về tinh thần tranh đấu. Ông này ít tha thiết đến việc quân sự mà chỉ nghiêng về tôn giáo, ông được người ta quý trọng như một giáo chủ và ông đã có nhiều ảnh hưởng đến dân chúng miền Nam Trung Việt và miền thượng An Khê, Phú Phong, về phương diện này, khi anh em ông khởi nghĩa riêng ông Lữ cũng đã quy tụ được khá nhiều đồng bào dưới lá cờ Tây Sơn bay trước nhất ở triền núi An Khê. Năm 1784, Tây Sơn bắt giết được Duệ Tôn và đuổi được Nguyễn Ánh, thu phục được toàn cõi Nam Việt, ông lãnh tước Đông Định vương, nhưng bởi lơ là với chính sự, năm sau Nguyễn Ánh quật khởi ở Gia Định, Tổng đốc Chu, Tư khâu Uy bị thua, Lữ liền kéo hết quân đội về Trung Việt, chẳng để lại dư âm nào nữa từ đó.
Đến người thứ ba trong gia đình Tây Sơn là Nguyễn Huệ, chúng ta thấy là cả một pho lịch sử đầy chuyện lạ, nhiều tình tiết ly kỳ. Ngày nay chúng ta thường nhắc tới ông một cách hào hứng.
Quả vậy, Huệ có một cuộc đời rất đặc biệt, một chí hướng trùm trời, nếu so với hào kiệt cổ kim. Xét về tài ba, ông cũng vượt thế nhân nhiều lắm. Tuy nhiên người anh hùng Nguyễn Huệ của chúng ta có nhiều sở trường thì cũng có nhiều sở đoản như bao nhiêu danh nhân khác. Đó là một thông lệ xưa và nay.
Chúng tôi mời bạn đọc cùng chúng tôi phân tách cái sở trường, sở đoản của Nguyễn Huệ nó đã ảnh hưởng đến hành động, đến đất nước trong suốt cuộc đời ông thế nào rồi hãy khen ngợi ông giáo Hiến đã có con mắt xét người rất tinh khi vị hào kiệt này còn ở trong vòng trứng nước.

I.- Nguyễn Huệ con người có chí lớn.
Làm được sự nghiệp vĩ đại, tất nhiên phải có tài lớn, nhưng tài lớn vẫn phải kèm theo chí lớn. Nguyễn Huệ vào đời từ 1771, là năm đầu liên anh em Tây Sơn phất cờ giải phóng đồng bào Nam Hà khỏi ách tham tàn của Trương Phúc Loan. Lúc này ông vào khoảng trên 21 tuổi và vài năm sau ngôi sao của ông sáng chói dần, rồi chỉ mười năm kế tiếp nữa ông đã thành rường cốt của tân triều đại. Trong nước cũng như ngoài nước, nói đến nhà Tây Sơn người ta hầu như chỉ biết có ông mà thôi, nhất là Nguyễn Ánh, chỉ biết lùi bước co giò trước lá cờ tướng Huệ. Vào giai đoạn này, Huệ bị ràng buộc vào việc đánh chiếm miền Bắc.
Rồi trong khi Nhạc mệt mỏi chỉ biết có vui thú với cái triều đình của ông, đã không nghĩ đến sự bành trướng ra Bắc là đất của em, mà cũng không muốn tiến vào Nam là nơi bọn quốc thù Nguyễn Ánh đang hoạt động ráo riết, Huệ bao phen mang quân ra Thăng Long, diệt họ Trịnh (1786) đuổi quân Thanh và trước đó còn truy kích con cháu Nguyễn Hoàng tại xứ Đồng Nai, khiến từ 1784 toàn cõi Nam Việt đã về tay ông sau khi ông tiêu diệt được trên hai chục ngàn quân xâm lược Xiêm La mà họ Nguyễn cõng về. Trong đầu óc của ông bấy giờ đã có vấn đề thống nhất xứ sở, mặc dầu ở khoảng giữa của xứ sở có đế quốc của anh ông là Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Quả vậy năm 1786 trên thực tế nước Việt Nam đã hoàn toàn thuộc ảnh hưởng của triều đại Tây Sơn, tức là nước Việt Nam đã thống nhất. Vì thế trong tờ chiếu lên ngôi, Nguyễn Huệ đã chính thức tuyên bố: “Vài ngàn dặm đất ở cõi Nam đều thuộc về ta hết”.
Chí lớn của ông còn nhắm sang lãnh vực khác: cải cách thuế khóa, mở mang công thương nghiệp, khuyến khích việc buôn bán với các nước ngoài điều mà các tiên chúa họ Nguyễn rất kiêng kỵ vì ích kỷ. Đáng chú ý là ông có chủ trương làm sống lại giới bần nông mà đa số không có ruộng đất, từ đời ông đến đời cha, đời con chỉ làm tá điền hay nông nô cho các địa chủ và là nạn nhân thường trực của bọn phú nông chuyên bốc lột người nghèo bằng nghề cho vay nặng lãi. Nguyễn Huệ đã kêu gọi những kẻ tha phương cầu thực, phiêu bạt vì chiến tranh trở lại làng cũ. Ông chia cho họ những ruộng đất ông truất hữu của bọn quan liêu, địa chủ bất lương từ các thời trước. Theo chính sách người cày có ruộng, ông chấm dứt cái tình trạng thủ đắc bất hợp pháp về công điền công thổ nữa. Các việc mở mang nông, công, thương nghiệp kể trên của Nguyễn Huệ đủ nói lên rằng ông có ý xây dựng cho nước Việt Nam một nền kinh tế thuận chiều với quyền lợi của đại chúng, nền kinh tế này ít tính chất phong kiến hơn dưới các triều Trịnh - Nguyễn, mặc dầu còn nằm trong phạm trù chế độ phong kiến. Nó tiến bộ hơn nền kinh tế triều Lê, Trịnh, Nguyễn bởi nó hướng về dân nghèo, nó mở ra nhiều sinh lộ cho các lớp người xấu số, nó hạn chế những quyền lợi bất chính của bọn quan liêu, hào phú ngay trên nguyên tắc.
Đối với tăng đồ, ông đặt ra việc sát hạch theo lẽ chỉ những người thật tâm đạo đức và có hiểu biết rõ ràng giáo lý mới đủ tư cách thờ Phật và truyền đạo, ngược lại, những kẻ trốn việc quan đi ở chùa hoặc mượn cửa thiền làm việc mờ ám hoặc ăn bơ làm biếng phải hoàn tục. Cùng với sáng kiến này ông cho phá bỏ các chùa nhỏ, tập trung gạch ngói làm chùa lớn ở phủ hay huyện không ngoài mục đích ngăn ngừa các việc lạm dụng hẳn đã xảy ra rất nhiều thời bấy giờ, đồng thời lành mạnh hóa Phật giáo mà ông coi là quốc giáo. Đối với giáo sĩ Tây phương ông cũng để cho tự do truyền đạo xây dựng nhà thờ và còn trừng trị những kẻ gây kỳ thị. Chính giáo sĩ Diego de Jumilla đã hết lời ca ngợi chúa Tây Sơn (Nguyễn Huệ) về điểm này và tỏ lòng biết ơn.
Có nên nói rằng việc cho các giáo sĩ Tây phương tự do truyền bá đạo Thiên Chúa đã đủ tỏ Nguyễn Huệ có tinh thần khoáng đạt gần như táo bạo. Sự thật thì sau ông đã có một khối dân tộc nhiệt liệt ủng hộ ông, ông có sợ gì?
Ông còn cho chúng ta thấy tinh thần độc lập của ông ở sự cải cách học thuật bằng việc đặc dụng chữ Nôm trong các chiếu chỉ, văn thư, từ lệnh tại các Nha Môn cũng như ngoài quần chúng. Ông đã cho dịch Tứ Thư, Ngũ Kinh ra tiếng Nôm để phổ biến luân lý, đạo đức văn hóa cho nhân dân được học hỏi dễ dàng và việc này buộc phải mở nhiều trường học đến các cấp xã thôn. Những đời vua chúa trước đâu đã nghĩ đến việc đại chúng hóa giáo dục, như thế cái ước mơ của Nguyễn Huệ rõ ràng không có lẩn quẩn chung quanh cái ngai vàng. Trong cuộc đời chính trị của ông tương đối chẳng dài bởi chỉ có 15 năm, lại nay đánh Đông, mai dẹp Bắc, mà ông vẫn lo thực hiện chương trình, hoài bão gây dựng một nước Việt Nam giàu có binh hùng, tướng mạnh và có cả một sự thăng tiến cả về văn hóa, học thuật thật đáng phục lắm thay.
Cơm rau áo vải, học hành ít ỏi mà có những sáng kiến về thời vụ, như vậy hỏi những ngài khoa bảng, quý tộc, trâm anh nghĩ thế nào về Nguyễn Huệ?

II.- Nguyễn Huệ đối với nhân tài.
Cuối thế kỷ 18 tầng lớp nho giả Việt Nam bị cột chặt vào chủ trương trung quân, ái quốc một cách thiển cận cố chấp. Do đó họ chỉ biết nhìn vào một dòng họ, một ông vua. Điển hình là Nguyễn Đăng Trừng ở Đàng Trong, Trần Công Sán, Phạm Thái ở Đàng Ngoài. Họ u mê tới mức chỉ biết có vua chúa mà không biết nhân dân. Họ có thể hy sinh tất cả cho những ông vua ngu muội, ích kỷ, đi ngược với quyền lợi của nhân dần, dân tộc khiến trong một thời gian khá dài họ đã bất cộng tác với ông và đã gán cho Tây Sơn là một Ngụy triều. Họ còn chiêu mộ “nghĩa binh” để chống lại. Thậm chí đến cả Nguyễn Thiếp là tột đỉnh trí thức thời bấy giờ được ông cho mang vàng bạc và có lần thân đến núi Thiên Nhẫn tha thiết mời ra giúp nước cũng khăng khăng từ chối. Chỉ tới năm 1789, Lê Chiêu Thống đã để lộ bộ mặt ngu dại cõng rắn cắn gà nhà, Nguyễn Thiếp mới chịu xuống núi nhậm chức Viện trưởng Sùng Chính viện của Nguyễn Huệ.
Nhưng một loại kẻ sĩ khác là Ngô Thời Nhiệm, Trần văn Kỷ, Phan Huy Ích, Nguyễn Huy Lượng v.v... thức thời hơn nên ông đã trọng dụng họ đến mức tối đa và họ đã không phụ lòng tri kỷ.
Trần văn Kỷ là một danh sĩ ở Thanh Hóa theo Nguyễn Huệ từ năm ông đánh Phú Xuân (1786) và được Nguyễn Huệ dùng vào địa vị một Tham mưu trưởng, một cố vấn. Rồi “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, Kỷ đã giới thiệu Ngô Thời Nhiệm cho Nguyễn Huệ sau khi Nhiệm bị tiếng gièm pha phải trốn tránh hơn sáu năm sau lại còn bị Võ văn Ước hãm hại.
Nguyễn Huệ phong Nhiệm làm Tả Thị Lang bộ Lại tước Tinh Phái Hầu để xứng đáng với tài học uyên bác và thức thời vụ. Sau này quân Thanh tràn qua Việt Nam, chính Ngô Thời Nhiệm đã khuyên Ngô văn Sở rút thủy bộ chư quân về dãy Tam Điệp theo kế hoạch bảo toàn lực lượng trong khi chờ đợi đại quân. Kế này được Nguyễn Huệ khen ngợi là rất khôn ngoan. Tới khi chiến tranh chấm dứt giữa hai dân tộc Việt-Thanh, ông được giữ các việc ngoại giao, từ lệnh rất khéo léo, khi cứng, khi mềm khiến đối phương phải kính nể nước ta.
Ngoài đám nho thần kể trên, Nguyễn Huệ còn đào tạo ra một số nhân tài quân sự như Ngô văn Sở, Trần Quang Diệu, Bùi thị Xuân, Nguyễn văn Tuyết, Phan văn Lân, Đô đốc Bảo, Đô đốc Mưu, Đô đốc Lộc... Các người này đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp của nghĩa quân Tây Sơn và đã lập được nhiều chứng tích huy hoàng, nhất là trong trận đuổi Thanh đầu tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789).
Đặc biệt hơn nữa Nguyễn Huệ được kể là ông vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam dám dùng phụ nữ làm tướng và vị nữ tướng Bùi thị Xuân của ông đã tỏ ra có nhiều tài năng, quả cảm. Một thời “quân của bà Thiếu Phó” (tức bà Bùi thị) từng làm quân Nguyễn nhiều phen bở vía, kinh hồn. Năm 1802, nhà Tây Sơn đến lúc tàn, ưu thế quân sự đã nghiêng hẳn về Nguyễn Ánh mà Bùi thị Xuân cùng chồng đã chiến đấu anh dũng đến phút cuối cùng. Bà cùng Trần Quang Diệu đem 5.000 quân công phá dữ dội đồn Đầu Mâu suýt chuyển bại thành thắng và đã làm cho quân chúa Nguyễn tổn thất lớn.
Tóm lại, do Nguyễn Huệ biết dùng người, biết hậu đãi nhân tài nên các tướng lãnh và quan lại của ông đã tận tụy với ông cho tới ngày chót của triều đại.

III.- Nguyễn Huệ tự tín tự cường.
Trong trận đánh quân Thanh cuối năm Mậu Thân qua đầu năm Kỷ Dậu (1789), đứng trên đèo Tam Điệp, ông tuyên bố trước ba quân: “Nay ta đến đây, tự đốc việc quân, đánh giữ đã có kế, chỉ trong mười ngày thế nào ta cũng quét sạch giặc Thanh”. Rồi chưa đến mười ngày ông đã cùng tướng sĩ vào được thành Thăng Long mở tiệc khánh hạ và giặc Thanh đã bị tan vỡ tơi bời...
Trước đó Nguyễn Hữu Chỉnh và Võ văn Nhậm là hai tay kiệt hiệt có hàng vạn tinh binh dưới quyền, khi ông muốn triệt hạ, ông đã giết họ dễ dàng như trở bàn tay. Những việc này làm cho tướng sĩ của ông tin tưởng vào ông như tin thần thánh, bởi ông nói được làm được...
Nguyễn Huệ lại có tinh thần dân tộc rất cao: Có lần ông đã nói ở Nghệ An: “Trong vòng trời đất chia theo phận sao Dực, sao Chẩn; Nam Bắc vẫn riêng một non sông. Từ Hán về sau, họ cướp đất đai ta, cá thịt nhân dân ta, vơ vét của cải, nông nỗi ấy thật là khó chịu. Người nước Nam ai cũng phải nghĩ việc đánh đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vuơng, đời Tống có Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ. Các ngài không chịu bó tay ngồi nhìn quân tàn bạo nên đã thuận lòng người, dấy binh đánh đuổi chúng. Trong những khi ấy, Nam Bắc đâu lại phận đó, bờ cõi yên ổn, vận nước lâu dài. Từ nhà Đinh đến nay, chúng ta không còn phải cái khổ Bắc thuộc!
Rồi tinh thần quốc gia và dân tộc của ông đã phản ảnh trong cuộc ngoại giao với nhà Thanh, mặc dầu chiến tranh Việt-Hoa đã chấm dứt. Để cho quân dân nghỉ ngơi và có thì giờ đầy đủ chuẩn bị cho một chiến tranh tương lai qua đất Tàu, Ông đành nhất thời hòa hoãn với vua Kiền Long và lũ bề tôi, vậy mà ông vẫn không chịu quá nhún nhường họ trong các cuộc tiếp xúc cả trên giấy tờ vì vấn đề thể diện quốc gia, Ngô Thời Nhiệm viết biểu cầu hòa, nhưng ông góp ý chính như sau:
“Ôi đường đường là Thiên triều lại đi tranh hơn thua với tiểu di thì tất chiến tranh phải liên miên để thỏa lòng tham. Đó là điều Thánh thượng không nỡ. Vạn nhất chiến sự kéo dài, thế đến như vậy, thì cũng không phải là điều thần mong muốn và cũng không dám biết”.
Nói theo thuật ngữ ngày nay, những câu trên có nghĩa là: Chúng tôi không muốn chiến tranh, nhưng nếu các ông để chiến tranh xảy ra thì đó là lỗi ở các ông. Tờ biểu này gửi cho Lưỡng Quảng Tổng đốc Phúc Khang An và Bình bị đạo Quảng Tây Thang Hùng Nghiệp mà ông biết rõ cái tâm sự “kính cung chi điểu” của chúng. Lần khác ông viết cho Thang Hùng Nghiệp lời lẽ cứng hơn: “Thiên triều không chịu khoan dung một chút, cứ muốn động binh, thế là làm cho nước nhỏ không được phục nước lớn, thì bấy giờ đại quốc có dạy bảo gì tôi cũng xin theo”. Nói trắng ra là: Các ông muốn đánh thì cứ việc đánh, chúng tôi sẵn sàng đón tiếp các ông!

Sở đoản của Nguyễn Huệ.
Các sở trường của Nguyễn Huệ thật ra còn nữa, nhưng kể ra như vậy là tạm đủ, và dưới đây là một số sở đoản của ông! Cổ nhân thường nói “Nhân vô thập toàn” thì con người của Nguyễn Huệ cũng phải có những chỗ dở của nó.
A.- Một vài nhà sử học ngày nay đã trách Nguyễn Huệ quá tự cao, tự đại và chủ quan, sau khi đánh bại tan tành hai chục ngàn quân Xiêm La ở Vĩnh Long, tiêu diệt gần trọn hai mươi vạn binh sĩ của nhà Thanh tại Bắc Hà nên vào năm 1792, ông sai người dâng biểu cầu hôn với công chúa nhà Thanh, tính khiêu khích vua Kiền Long và lấy cớ xua quân vào Trung Quốc [1]. Người ta cho rằng ông đã có những tư tưởng quá phiêu lưu, dại dột, nguy hiểm. Lời phiền trách này theo chúng tôi có thể hợp lý và cũng có thể Nguyễn Huệ có lý vì các dân Mông Cổ, Hung Nô, dân Mãn (Bắc dịch, Tây di, Đông di theo sử thần Trung Quốc) đã từng xâm lăng Trung Quốc và làm vua Trung Quốc thì tại sao không có Việt Nam?
B.- Những điều sở đoán rõ rệt là mấy vụ đã xảy ra dưới đây: Cuộc chiến tranh giữa Nhạc và Huệ năm 1787 Huệ giận Nhạc đã gian dâm với một người vợ mình lại đòi chia vàng bạc, châu báu mà Huệ đã đoạt được của vua Lê, chúa Trịnh năm trước. Thực ra Huệ đã chia hết các vàng bạc, gấm vóc cho các tướng sĩ ở Thăng Long nên khi trở về Phú Xuân Huệ không có gì trong tay nữa. Dầu sao Huệ cũng có lỗi là để cuộc chiến tranh thủ túc xảy ra khiến số quân đem vào Quy Nhơn chết hại hết một nửa [2]. May thay Huệ còn biết mủi lòng khi Nhạc quá nguy quẫn đứng trên thành khóc lóc kêu gọi: “Chú Thơm [3], chú định làm cái việc nồi da xáo thịt sao?”. Cũng trong năm cuối cùng này, Nguyễn Ánh cũng nhờ chỗ anh em ông bất hòa, đã tha hồ hoành hành ở Nam Việt, còn tiến ra Bình Thuận, Diên Khánh rồi đem chiến thuyền từ cửa Cần Giờ ra đốt phá thủy trại của Nhạc ở Quy Nhơn. Đáng lẽ lúc này anh em ông phải khuyên bảo nhau đem quân vào đánh Gia Định, cộng tác với nhau tiêu diệt Nguyễn Ánh thì làm gì Nguyễn Ánh trở thành hậu họa! Đằng này ông bất động khiến miền Nam bị ung thối dần, cuối cùng đế quốc của Nhạc mất trước rồi đến con cháu ông cũng bị họ Nguyễn triệt hạ sau, rồi triều đại của gia đình ông lập ra phải xóa nhòa trên lịch sử sau 24 năm oanh liệt.
C.- Đối với Nguyễn Hữu Chỉnh và Võ văn Nhậm ông đã tỏ ra rất tàn nhẫn. Ông đã thẳng tay giết hai người này mặc dầu cả hai đã giúp ông rất đắc lực trong việc bình Bắc. Riêng Nhậm lại là con rể của vua Thái Đức tức là cháu rể của ông.
Năm Nhâm Dần (1782) Bắc Hà có nạn kiêu binh là bọn lính Thanh, Nghệ cùng quê với vua Lê, chúa Trịnh. Bọn này được coi từ lâu là thân quân, sau ỷ vào công tôn lập được chúa Trịnh Khải và phế lập Trịnh Cán khi chúa Trịnh Sâm qua đời. Chúng đảo chính xong liền vào Triều giết Huy quận công Hoàng Đình Bảo là người cầm đầu phe Trịnh Cán.
Nguyễn Hữu Chỉnh đỗ hương cống, có tài biện bác và giỏi cả về quân sự được thượng tướng Hoàng Ngũ Phúc trọng dụng. Phúc chết Chỉnh sang phục vụ Bảo, cung được tin cẩn. Tới khi Bảo bị tiêu diệt, Chỉnh hoảng sợ bỏ Bắc Hà chạy vào Nghệ An tính cộng tác với Võ Tá Giao trấn thủ nơi này để tự lập, thì Giao từ chối. Cùng đường Chỉnh đến với Tây Sơn, nhờ có nhiều khả năng nên được làm thượng tân. Ông ta không còn nơi nào dung thân nữa nên đã hết lòng phò tá chủ mới, thứ nhất là để được sống yên ổn, thứ nhì cũng muốn có đất dụng võ.
Do thấy ông đã có tài lại có nhiều cơ mưu, Huệ tuy dùng ông ta mà vẫn có sự e ngại bên trong. Dưới mắt Huệ, Chỉnh là con chim bạt gió nhưng vẫn là thứ chim Bằng (như người ta đã đặt tên cho ông). Vì thế ông nghĩ chỉ có thể chấp nhận sự giúp đỡ của Chỉnh trong một giai đoạn nào mà thôi. Trong lúc này Chỉnh vẫn ra công lo liệu mọi việc lớn nhỏ của anh em ông.
Chỉnh đã khuyên Huệ đem quân ra Bắc và sắp đặt mọi kế hoạch. Từ lâu Huệ đã có ý định này, nhưng nay được Chỉnh trình bày rõ rệt tình hình Lê suy, Trịnh mạt tại Bắc Hà và đã ra những sách lược rất tinh vi và khéo léo, nên đã kéo quân ra Thăng Long, quả nhiên ông đã thành công. Chỉnh dặn dò Huệ từng đường đi nước bước nên ngoài việc hạ được ông Chúa cuối cùng của họ Trịnh, Huệ đến Triều Lê như César bước vào xứ Gaule, nghĩa là được sĩ dân hoan nghênh nhiệt liệt. Huệ được phong tước Nguyên Soái Uy quốc công, lại được vua Hiển Tông gả Ngọc Hân công chúa. Gần xa đều khen ngợi Huệ đã làm được sự nghiêp phò nguy cứu khổ, nhất là Huệ đã đưa hoàng tôn Duy Kỳ lên nối ngôi, vì vua Hiển Tổng thăng hà ít ngày sau.
Huệ đã trả công người tô son điểm phấn mình như thế nào?
Đêm 17-8 năm ấy, Huệ bất thình lình cùng Nguyễn Nhạc rút quân về Phú Xuân, cố tình bỏ rơi Chỉnh cho người Bắc Hà sát hại vì Chỉnh đã mang tiếng rước quân đội Tây Sơn vào cõi. Được tin Tây Sơn về rồi, Chỉnh hốt hoảng chạy theo đến Nghệ An thì bắt kịp. Huệ hơi ngượng với Chỉnh tìm lời cáo lỗi rồi bảo Chỉnh ở lại giữ xứ này cùng Nguyễn Huệ.
Đến lúc này Chỉnh vỡ mộng biết mình ngồi trên lưng cọp không sao tránh được sự đụng độ với Huệ, Chỉnh đành chiêu mộ binh sĩ chờ thời. Ít lâu sau, vua Chiêu Thống cho mời Chỉnh ra dẹp đảng Trịnh Bồng vì Bồng đã tiếp tục hiếp chế vua như các tiền bối. Chỉnh ra Bắc chuyến này cũng rất gian nan là phải đánh dẹp phe nghịch.
Ở đây Chỉnh cũng không khỏi cảnh cưỡi lưng cọp như khi còn gần gũi Phú Xuân bởi đa số quan lại nhà Lê vẫn oán Chỉnh. Chỉnh lại phải lo bành trướng thế lực, đề phòng cả người Bắc lẫn người Nam, do đó khi Huệ phái Võ văn Nhậm mang quân ra hỏi tội, Chỉnh dầu muốn hay không vẫn phải mang cái khối Bắc Hà hỗn tạp ra chống lại thì chống sao nổi. Chỉnh bị giết.
Trước vấn đề này ta phải công bằng mà đặt câu hỏi: Giữa hai người Huệ và Chỉnh ai đã phụ ai? Xét ra Chỉnh đã như là cô gái bị chồng tình phụ đi lấy người khác, cố ở cho yên thì lại bị ngờ vực rồi lại bị hắt hủi phen nữa.
Huệ nếu không đưa Chỉnh đến con đường cùng thì Chỉnh vẫn có thể còn trung thành với Huệ, tiếc rằng Huệ đã nghĩ và nhất là Chỉnh lại là kẻ có tài thì chính cái tài đó đã giết Chỉnh vậy.
Với Võ văn Nhậm, Huệ cũng có thái độ tương tự. Ông sai Nhậm ra Bắc Hà diệt Chỉnh, nhưng bởi Nhậm là rể của anh ông vừa đây bất hòa với ông, lòng ông chưa vơi căm giận nên không tin Nhậm mà chỉ tin Ngô văn Sở. Sở với Nhậm trong khi cùng thi hành công tác ở Thăng Long đã lủng củng với nhau rồi, Sở báo cáo Nhậm có ý phản. Tức thì Huệ lên đường tới thủ đô nhà Lê vào đêm khuya bắt Nhậm ra cật vấn, Nhậm trả lời đâu ra đấy nhưng vẫn không khỏi chết. Câu chót của Huệ đã như lời phán quyết cho một bản án tử hình: “Mày không có tội thật nhưng làm cho ta sợ đã có tội rồi”.
Trước con mắt chúng ta ngày nay, các người giỏi không khác gì các con thú dữ. Nếu ở chung một chuồng, chúng phải cắn xé nhau. Chỉ có con nào mạnh nhất thì sống. Các nhà làm chính trị kim cổ đông tây đều thế cả. Nhân nghĩa, đạo đức là những danh từ hầu như vô nghĩa trong các tự điển chính trị. Nếu đây là một sở đoản của người anh hùng Nguyễn Huệ thì đời xưa đời nay mấy người ở vào địa vị Nguyễn Huệ mà không hành động như Nguyễn Huệ?
Và có phải rằng muốn làm anh hùng thì ít sợ tội, phải tàn nhẫn, phải phụ người, hơn là để người phụ mình chăng?
Để kết luận bài này, chúng tôi xin nhắc lại hai điểm: những người có mắt xanh mới thấy anh hùng trong thiên hạ, những người mắt xanh đã tạo nên nhiều danh nhân danh tướng, mà nếu danh tướng danh nhân có công với đời thì người đoán anh hùng giữa buổi trần ai cũng phải được kể là người có công nữa!
Ngoài ra danh nhân, anh hùng đã có nhiều sở trường để làm được những sự nghiệp lẫy lừng, nhiều ơn ích cho nhà cho nước thì thường cũng không mấy ai tránh được khỏi những sở đoản có khi là những nguyên nhân cho những tội lỗi kinh hồn.
Thế mới biết vào đời một cách óng chuốt, ra đời một cách trong sạch, họa chăng chỉ có thánh nhân mà thôi.

Tập san Sử Địa, số 13 (1969)
Kỷ niệm Chiến thắng Xuân Kỷ Dậu. - (Đống Đa)
(Trang 100-113)
-------------
[1] Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, quyển 30, tờ 42b.
[2] Giáo sĩ Doussain trong thư đề tháng 6/1787 viết: “Huệ, Nhạc đánh nhau tới nay đã được ba tháng rồi. Huệ bị mất tới nửa số quân, phải động viên dân chúng khá nhiều”. Giáo sĩ Labartette cũng có viết như vậy vào dịp này, và cũng kể rằng dân bị bắt lính và đã hy sinh nhiều ở chiến trường.
[3] Tên tục của Huệ.
0
Vài suy nghĩ lịch sử thời Tây Sơn
Nguyễn Mộng Giác

Trong mấy năm tìm tài liệu để viết bộ trường thiên tiểu thuyết “Sông Côn Mùa Lũ” về cuộc đời vua Quang Trung, tôi nhận thấy các sử liệu về thời Tây Sơn không còn được bao nhiêu, về khung cảnh xã hội và sinh hoạt thời đó, đầy đủ nhất có lẽ là cuốn “Phủ Biên Tạp Lục” của Lê Quý Đôn, cùng một số thư từ bút ký của một số giáo sĩ Thiên Chúa giáo. Trực tiếp kể cặn kẽ giai đoạn lịch sử này là cuốn “Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô gia văn phái, mà cho tới nay, vẫn chưa có ai xác định được bao nhiêu phần là lịch sử, bao nhiêu phần là dã sử (nói theo bây giờ là tiểu thuyết). Các bộ sử chính thức của Quốc sử quán triều Nguyễn tuy dành những ngôn ngữ đầy ác cảm và thù hận cho triều Tây Sơn, nhưng vẫn không giấu được sự kính phục kiêng nể. Tuy nhiên, sử liệu do các sử quan triều Nguyễn để lại cũng không rộng và đủ cho bằng “Hoàng Lê Nhất Thống Chí”.
Mãi về sau, ông Hoàng Xuân Hãn trong cuốn “La Sơn Phu Tử” bằng lối làm việc khoa học đã đưa ra một số tài liệu, bút tích mới về vua Quang Trung, đặc biệt là mối quan hệ giữa Vua Quang Trung và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp. Nhờ ông Hoàng Xuân Hãn, người đời sau mới tận mắt thấy được quốc ấn, kiếm ấn cùng chữ viết của Vua Quang Trung (in trong tập đặc san này).
Tài liệu gốc, di tích lịch sử triều Tây Sơn chắc chắn đã bị thiêu hủy đi nhiều sau khi Gia Long lên ngôi và thi hành một chính sách thù hận nhỏ nhen, (vì “chín đời mà trả thù”) đối với triều Tây Sơn, đối với những người cộng tác với anh em Tây Sơn. Trong không khí khủng bố kéo dài trên một thế kỷ ấy, khó có người nào can đảm lưu giữ những dấu tích di liệu của thời đại đầy biến động và kiêu hùng này.
Từ thời Hoàng Xuân Hãn cho xuất bản cuốn “La Sơn Phu Tử” đến nay, giới nghiên cứu sử cả miền Bắc lẫn miền Nam đã viết nhiều về Tây Sơn, bởi nhiều động lực khác nhau. Sách sử của miền Bắc cố ý chứng minh phong trào Tây Sơn là một cuộc cách mạng của nông dân, gán ghép để các biến chuyển lịch sử này phù hợp với cách giải thích lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê.
Ở miền Nam, hai cuốn sách viết về Tây Sơn được chú ý nhất, một là của Linh mục Nguyễn Phương, một của Tạ Chí Đại Trường. Linh mục Nguyễn Phương dựa vào sử sách triều Nguyễn và tài liệu các giáo sĩ để lại, đưa ra một lối nhìn ác cảm đối với Tây Sơn. Linh mục còn đi xa hơn nữa, cho rằng chính Gia Long là người có công nhất trong việc thống nhất đất nước và đem lại hòa bình cho dân, sau bao nhiêu năm phân tranh Nam Bắc.
Tạ Chí Đại Trường thì nhìn phong trào Tây Sơn theo quan điểm xã hội kinh tế học, mạnh dạn đưa ra lập luận mà sau này giới viết sử Miền Bắc cực lực lên án, cho rằng hết sức phản động: ông Trường phủ nhận cái tính chất nông dân cách mạng của phong trào Tây Sơn, và cho rằng chất men tạo ra phong trào, cũng như tầm nhìn xa của người lãnh đạo (nhờ thế mà phong trào thoát ra được tính cách khởi loạn địa phương) là nhờ cái chất thương nhân bắt đầu manh nha ở Nguyễn Nhạc, và sau đó cũng nhờ đầu óc thực tiễn, phóng khoáng và thích ứng nhạy bén của Nguyễn Huệ.
Trong điều kiện thiếu thốn tài liệu hiện nay, chúng tôi không dám đưa ra các lập luận phê bình các quan điểm sử nói trên. Chúng tôi chỉ dám đưa ra một số suy nghĩ, may ra sau này những người có đủ điều kiện hơn sẽ: hoặc tìm ra được bằng chứng để chấp nhận các gợi ý của chúng tôi, hoặc bác bỏ vì những gợi ý này không có căn cứ.

Về vai trò lịch sử của Nguyễn Nhạc
Chúng tôi nghĩ cho tới nay, hậu thế có vẻ đã cư xử bất công đối với Nguyễn Nhạc.
Cho tới nay, chưa có một con đường nhỏ nào ở một thị trấn hẻo lánh nào đó ở Việt Nam mang tên Nguyễn Nhạc. Và có lẽ chưa có ai nghĩ đến chuyện đó. Lịch sử, qua sách vở từ xưa tới nay, nhắc tới Nguyễn Nhạc như một anh thu thuế, một kẻ bạo gan mưu mẹo nhưng chí thì như chí một thổ hào. Càng khâm phục người em út Nguyễn Huệ bao nhiêu thì người ta càng có ác cảm với Nguyễn Nhạc bấy nhiêu, cho ông là một trở ngại trên đường thành công của Vua Quang Trung.
Nếu xem Tây Sơn là một phong trào nổi dậy của quần chúng để chống lại các thế lực cai trị hà khắc đương thời, cả ở Nam Hà lẫn Bắc Hà, thì lịch sử phải ghi công người chủ động phát khởi phong trào. Người đó không ai khác hơn là Nguyễn Nhạc.
Với hiểu biết và kinh nghiệm nhạy bén của một con buôn, với tài giao thiệp, với óc phiêu lưu mạo hiểm, Nguyễn Nhạc đã lãnh đạo phong trào Tây Sơn thành công ở giai đoạn đầu. Thực tiễn, quyền biến, dám dùng người như Nguyễn Hữu Chỉnh, biết tận dụng sức mạnh của những đám cướp biển như Tập Đình, Lý Tài và biết loại bỏ chúng đúng lúc, biết giao tế và tận dụng kinh nghiệm chiến đấu của người thiểu số miền núi, những khả năng ấy không phải các lãnh tụ chính trị Việt Nam về sau này người nào cũng có được. Tây Sơn thiện chiến về hải quân và lối đánh băng rừng thần tốc. Chúng tôi nghĩ những kinh nghiệm hải chiến của Tây Sơn lấy được từ thời kỳ đầu, từ nhóm cướp biển Tập Đình, Lý Tài. Và kinh nghiệm đường rừng phải do các dân tộc thiểu số từng giao dịch buôn bán với Nguyễn Nhạc.
Khuyết điểm lớn nhất của Nguyễn Nhạc là ông chỉ có cái chí nhỏ của một thổ hào. Được làm vua một dải đất từ Quảng Nam vào tới Phú Yên, ông cho là quá đủ. Vì thế, ông lo sợ khi Nguyễn Huệ lấy được Phú Xuân, và hoảng hốt khi nghe tin ông em út dám đem cả quân ra Bắc Hà.
Ông còn có một khuyết điểm khác: ông có một người em xuất chúng. Cả hai khuyết điểm đều không tự do ông, ông không làm ra, trong khi điều do ông can đảm liều lĩnh tạo ra, là gây dựng một phong trào quật khởi, đặt ra những viên đá đầu tiên cho một triều đại oai hùng, thì lại bị đời bỏ quên.

Trình độ hải quân thời Tây Sơn
Hầu hết các chiến công thời Tây Sơn đều do lối đánh thần tốc bất ngờ, và phương tiện chuyển quân là đường biển. Nếu dùng danh từ hiện nay, có thể gọi binh chủng nòng cốt thiện chiến nhất của Tây Sơn là “thủy quân lục chiến”.
Phương tiện vận chuyển là các chiến thuyền. Nhưng những chiến thuyền này dài bao nhiêu, cao bao nhiêu, cách bố trí súng ống thế nào, hiện không có tài liệu lịch sử nào nêu rõ. Chúng tôi nghĩ có hai chi tiết lịch sử từ đó có thể phăng ra trình độ hải quân Tây Sơn lên đến mức nào:
a. Theo sử liệu còn lại, mỗi khi lâm trận, quân Tây Sơn thường khiến cho địch quân khiếp sợ bằng cách xua voi trận lên hàng đầu (giống như xe tăng bây giờ), sau đó là các toán xung kích võ trang bằng “hỏa hổ”. Voi trận được luyện tập để trở thành thiện chiến ở những bãi tập voi tại Tây Sơn (theo truyền thuyết tại địa phương, bà Bùi thị Xuân rất giỏi việc luyện voi), sau đó ở Phú Xuân. Đánh quân Thanh, vua Quang Trung cũng tận dụng tượng binh.
Voi di chuyển chậm, vậy thì muốn tốc chiến, Tây Sơn phải chở voi bằng đường thủy. Chiến thuyền Tây Sơn phải lớn và vững đến mức độ nào mới đủ khả năng chở voi? Rồi làm sao lùa voi từ trên bộ xuống chiến thuyền? Làm sao giữ cho voi trận chịu đứng yên suốt hành trình? Ngay hiện nay, chở một con voi nhỏ cho sở thú đã là một vấn đề, huống chi thời xa xưa.
b. Muốn giải đáp câu hỏi đó, có thể tìm di tích còn nằm sâu dưới đáy đầm Thị Nại (gần thị xã Quy Nhơn hiện nay), nơi xảy ra cuộc hải chiến khốc liệt cuối cùng giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh. Chắc chắn những mảnh ván chiến thuyền bị vùi sâu dưới đáy đầm vẫn còn, và có thể phục hồi tái tạo lại chiến thuyền Tây Sơn ngày xưa.

Một số nghi vấn về bộ binh
Sử sách xưa nay đều bảo rằng sở dĩ quân Tây Sơn đánh được thần tốc là nhờ lối di chuyển bộ binh: hai người lính khiêng võng cho một người nằm nghỉ, cứ thế thay phiên nhau, không phải dừng chân trên đường hành quân.
Trên thực tế, có nhiều người chỉ huy quân sự đã thử làm việc này, kết quả cho thấy nếu làm như vậy, sự chuyển quân sẽ chậm hơn, và binh lính lại mệt hơn khi di chuyển theo lối thường. Giả thuyết trên do đó cần phải xét lại.
Chỉ có một giả thuyết chúng tôi cho là chính xác, là lối dùng bánh tráng để làm lương khô, do nhà văn Võ Phiến đưa ra. Bánh tráng (người Bắc gọi là bánh đa) là thức ăn của cả ba miền Việt Nam. Nhưng lối ăn bánh tráng của người Bình Định thì không đâu có. Ở các nơi khác, bánh tráng là một thức ăn chơi, trong khi ở Bình Định, bánh tráng dùng để thay cho cơm trong các trường hợp khẩn cấp. Ở Bình Định, nhà nào cũng có trữ sẵn bánh tráng, và lối ăn bánh tráng ở đây cũng không “nho nhã” như các nơi khác. Người Bình Định dùng bánh tráng một cách “thực tiễn, quân sự”, ăn để no, chứ không phải dùng bánh tráng để gói ghém món nhậu cho thanh cảnh.
Một tập quán duy nhất chỉ có ở nơi phát tích phong trào Tây Sơn như thế, chứng tỏ bánh tráng là một sáng kiến độc đáo của thời đại này cho vấn đề quân lương.

Chính sách của vua Quang Trung đối với trí thức.
Những sử liệu trong “Hoàng Lê Nhất Thống Ch픓La Sơn Phu Tử” cho thấy vua Quang Trung là một người có đôi mắt xanh biết trọng dụng nhân tài, ngay cả những nhân tài đầy óc cơ hội nguy hiểm như Nguyễn Hữu Chỉnh. Những trí thức nho học giúp ích nhiều cho vua Quang Trung về chiến lược quân sự cũng như ngoại giao là Trần văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích.
Nổi bật hơn hết là Ngô Thì Nhậm và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.
Bộ “Ngô Thì Nhậm Toàn Tập” do Hà Nội cho dịch và xuất bản cho thấy thêm tầm vóc lớn lao của người trí thức toàn năng và thức thời này.
Ngô Thì Nhậm gặp vua Quang Trung trong một tư thế bất lợi: lúc đó ông đang bị giới nho sĩ và đồng liêu Bắc Hà tẩy chay cô lập, nói theo bây giờ, ông là “một con bài đã cháy”. Dùng ông về phương diện nhân tâm không có lợi. Nhưng vua Quang Trung có cái nhìn tinh nhạy hơn người. Nhà vua nhận ra ngay khả năng đặc biệt của Ngô Thì Nhậm, và không ngần ngại giao phó trọng trách cho ông. Thế cô lập Ngô Thì Nhậm đang chịu đựng, qua mắt vua Quang Trung, lại là một yếu tố tốt, nhờ vậy, Ngô Thì Nhậm sẽ hết lòng phục vụ, vừa để chứng tỏ tài năng, vừa để thanh minh những dư luận xấu. Do đó mà khi vua Quang Trung về Phú Xuân, sống và làm việc bên cạnh các tướng tá võ biền Tây Sơn và các bạn đồng liêu Bắc Hà, Ngô Thì Nhậm không có một chút mặc cảm nào, mạnh dạn thi thố tài năng của mình.
Vua Quang Trung cư xử với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp theo một mục tiêu khác hẳn. Qua cuốn “La Sơn Phu Tử” của Hoàng Xuân Hãn, chúng tôi chưa thấy có một vị vua nào có thái độ nhún nhường cung kính đến bậc đó đối với một nho sĩ. Thành thật mà nói, khả năng cố vấn và đóng góp của Nguyễn Thiếp không thể so được với Ngô Thì Nhậm. Nguyễn Thiếp không phải là con người hành động, con người của mưu lược.
Nhưng thời bây giờ, Nguyễn Thiếp là một huyền thoại trong dư luận Bắc Hà. Cuộc sống ẩn dật của ông, tình trạng tâm thần của ông, đã biến ông trở thành cái gì siêu phàm trong dư luận quần chúng Bắc Hà. Quang Trung cư xử cung kính với Nguyễn Thiếp với mục tiêu vận động sự ủng hộ của dân Bắc Hà, như là dùng một huyền thoại.
Quả nhiên, Quang Trung đã thành công. Và trên mặt lịch sử, huyền thoại Nguyễn Thiếp góp phần không nhỏ vào chiến thắng quân Thanh năm 1789.
Chúng tôi mạo muội đưa ra những suy nghĩ trên đây, để mong nhận được những góp ý của các bậc thức giả.

Đặc san Tây Sơn. - Xuân Nhâm Thìn (1988).
(Trang 33-38)
0
Chính Bình vương và Quang Trung hoàng đế: Hai bước nhảy quyết định
Lê Bửu Tân

Khi viết về Nguyễn Huệ gần như hầu hết những người viết về sử dù ở vị trí nào - thân thiện hay thù nghịch, giáo điều hay cởi mở - đều công nhận Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự kiệt xuất nhất không một lần chiến bại; nơi nào có Nguyễn Huệ là nơi đó địch quân bạt vía kinh hồn khiếp sợ. Quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ luôn luôn dùng lối tấn công chớp nhoáng thần tốc “vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí - Ngô gia văn phái). Thêm vào đó những đóng góp của triều đại Quang Trung trong các lãnh vực chính trị, ngoại giao, giáo dục, hành chánh là những đóng góp dù ngắn ngủi nhưng rất sáng chói vì tất cả đều phản ảnh tinh thần tự chủ và tinh thần sáng tạo của dân tộc.
Tuy nhiên khi bàn về một vài quyết định của Nguyễn Huệ, quan điểm của các nhà viết sử không còn thống nhất với nhau mà trong đó việc Nguyễn Huệ đem quân vây đánh Nguyễn Nhạc ở thành Quy Nhơn và việc Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế là hai vấn đề điển hình với nhiều khen chê. Khen chê là lẽ thường nhưng có lẽ là điều lý thú khi chúng ta đọc kỹ lại giai đoạn lịch sử đó và tìm hiểu động lực nào đã đưa Nguyễn Huệ đi đến hai quyết định trên rồi từ đó chúng ta sẽ học được gì?

I.- Vây đánh thành Quy Nhơn
Năm 1785, đánh tan ba chục ngàn quân Xiêm ở Rạch Gầm - Xoài Mút Mỹ Tho, rồi liền sang mùa hè năm sau, năm 1786, đập tan cơ đồ của họ Trinh ở Bắc Hà đã được xây dựng trên 240 năm, phong trào Tây Sơn đang như cơn sóng thần cuồn cuộn sẵn sàng cuốn trôi tất cả những thế lực phản động mục nát đang ngoi ngóp quơ quào cố nắm giữ lại những đặc quyền đặc lợi thì thình lình phong trào Tây Sơn phải khựng lại đầy hoang mang và cơ hồ muốn tan rã.
Thật vậy, sau khi được tin báo quân Tây Sơn đã dẹp tan họ Trịnh ở Bắc Hà, Nguyễn Nhạc đã hấp tấp kéo theo một ít quân tùy tùng ngày đêm đi gấp ra Thăng Long để không phải ủy lạo quân Tây Sơn và giúp Nguyễn Huệ ổn định xứ Bắc mà là để bắt ông em phải gấp về Nam. Nguyễn Nhạc đã bàn với Nguyễn Huệ “... vả lại ông trèo đèo vượt suối, đi hàng muôn dặm để mở mang bờ cõi, cho đất nước được rộng thêm; thủ đoạn anh hùng như vậy, anh thực không thể nào sánh kịp. Nhưng mà mình đi xa đánh nước khác, kéo quân vào sâu trong xứ sở của người ta, một chốc làm thay đổi hết nề nếp cũ của họ như thế, tránh sao khỏi sự thù oán của muôn họ. Anh luôn luôn lo ngại đến những việc bất ngờ có thể xảy ra, vì vậy phải lật đật ra ngay đây để nghĩ kế đỡ ông” (Ngô gia văn phái - Hoàng Lê Nhất Thống Chí).
“Nghĩ kế” ở đây là sau khi được Nguyễn Huệ giao lại binh phù, Nguyễn Nhạc bèn thay đổi tất cả các chức vụ và đội ngũ quân Tây Sơn mà Nguyễn Huệ đã dày công sắp xếp khi đưa quân ra diệt Trịnh. “Thế là từ đó, bao nhiêu tướng sĩ lại đều chỉ nghe theo lệnh của ông vua lớn” (Ngô gia văn phái - HLNTC). Lúc Nguyễn Huệ không còn quân ở trong tay, Nguyễn Nhạc mới bàn với Nguyễn Huệ việc rút quân về Nam lại. Dù không muốn vì tình hình còn nhiều rối rắm chưa ổn định, nhưng Nguyễn Huệ cũng phải tuân theo vì đã trót giao binh phù lại cho anh và Nguyễn Huệ bây giờ là tướng không quân.
Bắt ép Nguyễn Huệ về Nam không phải Nguyễn Nhạc sợ để Nguyễn Huệ được tự do hành động thì Nguyễn Huệ sẽ nổi bậc hơn mình, làm lu mờ ngôi vị của mình và có thể nguy hại đến địa vị của mình nữa, mà thực ra mục đích duy nhất của ông là giữ Nguyễn Huệ, người anh hùng số một của thời đại, ở dưới trướng của mình giữ yên bờ cõi và ngôi vua của ông để ông có thể ngồi trên chiếc phản gõ móp mép nhai trầu tiếp khách. Nguyễn Nhạc chỉ muốn làm một ông vua nước nhỏ và sống bình dị trong cái vương triều của ông. Chí ông chỉ có thế, cho nên ông không muốn Nguyễn Huệ đem quân đánh lấy “nước khác”, vì làm như thế chỉ gây vạ cho mình mà thôi:
“Ai ngờ tôi, kẻ ấy là người ngu, Chúa Trịnh bắt quân đi hàng muôn dặm, cố chiếm lấy đất Thuận Hóa, lấy nước lớn làm hại nước nhỏ, nên mới dẫn đến cái vạ ngày nay. Gương ấy há có xa đâu? Tôi nếu tham đất nuớc Nam, như vậy là lấy nước nhỏ mà hại nước lớn, còn mong lâu bền sao được? Giả sử đời tôi giữ được đi chăng nữa, thì đến đời con cháu tôi, cũng không thể nào giữ nổi. Tôi có ngu gì mà nuôi cái mầm vạ ấy? Chẳng bao lâu nữa, anh em tôi sẽ về, các ông nên giúp rập nhà vua cho yên thiên hạ. Hai nước chúng ta sẽ kết nghĩa láng giềng, giữ vững tình hòa hiếu, để cùng hưởng phúc thái bình!” (HLNTC - Ngô gia văn phái).
Tranh với thiên hạ Nguyễn Nhạc còn không tranh thì với em mình làm sao mà ông tranh! Thật vậy, khi trở về Nam sau khi cho đắp lại lũy Thầy cao 19 bộ, dày 1 sào, Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định vương cai quản đất Gia Định, còn Nguyễn Huệ là Bắc Bình vương cai quản từ Quảng Nam ra đến Nghệ An. Đồng thời Nguyễn Huệ cũng được trả lại binh quyền nhưng vẫn còn nhiều trói buộc. Chính sự trói buộc có tính cách chiến lược này làm cho anh em nhà Tây Sơn bất đồng và xích mích với nhau, và cũng chính sự trói buộc này làm cho những người hăng say đầy nhiệt huyết trong phong trào Tây Sơn cảm thấy chán nản và một số đã đào ngũ. Phong trào Tây Sơn đang đứng trước một thử thách vô cùng nguy hiểm.
Cũng vì sự xích mích này giữa anh em Tây Sơn, ở Bắc Hà Nguyễn Hữu Chỉnh - sau khi đuổi được Trịnh Bồng khỏi Thăng Long và được vua Lê phong tước Bằng Quận Công - thấy cơ hội đã đến nên âm mưu đòi lại đất Nghệ An từ tay quân Tây Sơn để biến đất đó thành vùng ranh giới lâu dài, tiếp tục chia cắt đất nước.
Ở trong Nam thì Nguyễn Ánh, sau một thời gian tá túc ở đất Xiêm sau trận đại bại của quân Xiêm ở Mỹ Tho năm 1785, nhờ sự giúp đỡ của một số giáo sĩ Thiên Chúa giáo và quân Xiêm lại lò dò về xây dựng lại lực lượng.
Đất nước đang đứng bên bờ vực thẳm của các thế lực cát cứ. Đứng trước tình trạng vô cùng bế tắc đó, Nguyễn Huệ phải tiếp tục nghe lệnh của vua anh để nhìn thấy phong trào Tây Sơn dần dần đi đến thoái hóa rồi tan rã? Và Nguyễn Huệ tiếp tục làm thinh để nhìn đất nước tiếp diễn cảnh chia cắt phân ly? Không, Nguyễn Huệ, người mà sở dĩ ngày nay dân tộc Việt Nam đã tôn vinh là anh hùng dân tộc, đã không ngồi yên mà vụt dậy nhận lấy trách nhiệm to lớn trước lịch sử, trước dân tộc là quyết tâm dẹp tan tất cả các thế lực đang âm mưu chia cắt đất nước dù thế lực ấy phát xuất từ đâu. Quyết tâm nhận lấy trọng trách to lớn đó được thể hiện qua danh xưng An Nam Đại Nguyên soái Tổng quốc Chính Bình vương khi Nguyễn Huệ mang quân từ Phú Xuân vào vây đánh Nguyễn Nhạc tại thành Quy Nhơn. Nguyễn Huệ đã xưng là Chính Bình vương mà không còn dùng tước vị do vua anh Thái Đức phong cho là Bắc Bình vương. Bắc Bình chỉ là dẹp yên ở phương Bắc còn Chính Bình là dẹp yên tất cả những thế lực nhằm tiếp tục tạo tình cảnh phân liệt gây đồ thán cho nhân dân, trên quy mô cả nước. Đây là một quan điểm dứt khoát. Chỉ có sự dứt khoát và quyết liệt mới có cơ chấm đứt được tình trạng phân hóa cùng cực của đất nước và của dân tộc vốn đã dật dờ kéo dài trên hai trăm năm. Sự dứt khoát không khoan nhượng của Nguyễn Huệ đối với vua anh nói riêng và đối với những thế lực phản động nói chung muốn tiếp tục kéo dài tình trạng phân chia lãnh thổ để tiếp tục hưởng những đặc quyền đặc lợi, tiếp tục làm vua làm chúa, tiếp tục đè đầu cỡi cổ dân đen dưới những chiêu bài đã rách bươm là một thái độ chối từ quyết liệt không chịu thỏa hiệp với những thành phần này. Thỏa hiệp với cơ hội, với vị kỷ, với vọng ngoại, với tự mãn không những không tìm thêm được tá lực cho chủ lực mà còn làm cho chủ lực bị tản lực vì mất đi cái bén nhọn ngụt lửa của khối đoàn kết kiên quyết. Nguyễn Huệ đã bỏ cái cần nên bỏ và giữ cái cần giữ. Cũng chính vì sự quyết định cương quyết và kịp thời trên của Nguyễn Huệ, từ đây phong trào Tây Sơn phải được hiểu là phong trào cách mạng dân tộc được lãnh đạo bởi Nguyễn Huệ; còn một bộ phận khác của phong trào sau chiến dịch diệt Trịnh ở Bắc Hà về đã bị dứt nguồn sinh động cách mạng vì bị Nguyễn Nhạc kềm hãm tù túng ở đất Quy Nhơn.
Sau cái khựng vì mệt mỏi, lãng nghĩa của Nguyễn Nhạc phong trào Tây Sơn đã khôi phục lại được tinh thần cách mạng sinh động của phong trào trước đó qua các chiến thắng quân Xiêm và diệt Trịnh năm 1785 và 1786. Sở dĩ phong trào Tây Sơn được đánh giá thực sự là phong trào cách mạng dân tộc từ năm 1785 trở đi, tức là khi phong trào thực sự được đặt dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, là vì kể từ đó ý chí của phong trào là tranh đấu cho sự thống nhất lãnh thổ, cho niềm tự hào dân tộc, cho sự yên bình và sung túc của toàn dân. Thẩm định giá trị của một phong trào, một đoàn thể hay một cá nhân không thể dựa vào sự thành bại hay là dựa vào các chiêu bài đã được đưa ra mà là dựa vào những đóng góp, cống hiến như thế nào trong suốt quá trình hoạt động của phong trào, đoàn thể hay cá nhân đó. Từ đó ta thấy rằng trước năm 1785, phong trào Tây Sơn chỉ là một lực lượng dù mang tính cách quần chúng rộng rãi và nhiệt thành vẫn chưa được xem là một phong trào cách mạng dân tộc vì phong trào lúc đó chỉ nhằm lật đổ ách thống trị hà khắc của tập đoàn cướp ngày Trương Phúc Loan để rồi thiết lập một chính quyền mới dù có tốt đẹp hơn vẫn còn mang nặng tinh thần cát cứ, sứ quân, không quan tâm đến phần còn lại của dân tộc, của đất nước đang còn đồ thán điêu tàn trong tay những tập đoàn thống trị mục nát khác. Quan điểm của Nguyễn Nhạc ở những đoạn trích dẫn trên và việc quân Tây Sơn tương đối nằm yên trên mười năm ở dải đất từ Quảng Nam vào Bình Thuận đã nói lên điều này. Thêm vào đó mục đích chính của quân Tây Sơn bốn lần vào Nam trước chiến dịch diệt Xiêm năm 1785 không phải đánh đuổi Nguyễn Ánh để bình định miền Nam mà để chở thóc gạo về Trung (theo Tạ Chí Đại Trường). Đáng lẽ sau mỗi chiến dịch đại quân Tây Sơn phải ở lại lâu dài để ổn định miền Nam hòng đánh bật và tiêu diệt tận gốc rễ những cơ sở của Nguyễn Ánh, đàng này sau mỗi chiến dịch là quân Tây Sơn lại rút hết về Quy Nhơn với những chiếc ghe đầy ắp lúa gạo và chỉ để lại một ít quân để gọi là có mặt. Chính sự thiếu quan tâm này mà Nguyễn Ánh mới có nhiều cơ hội rước người Xiêm, người Pháp trở về xây dựng lực lượng vững mạnh sau này.
Tuy nhiên đó không phải là lỗi lẫm cố ý mà chỉ là một hạn chế của khả năng của người cầm đầu phong trào Tây Sơn lúc bây giờ là Nguyễn Nhạc. Lịch sử vẫn ghi công Nguyễn Nhạc và cho phong trào Tây Sơn trong giai đoạn dù không được sáng chói như giai đoạn từ 1785 về sau, nhưng đối với lịch sử Việt Nam giai đoạn đó vẫn là một trong những giai đoạn hào hùng nhất. Nguyễn Huệ đã thấy được những hạn chế đó, nhưng đồng thời cũng công nhận những cống hiến của anh mình cho phong trào cho nên Nguyễn Huệ đã không bao giờ coi anh mình như một trở ngại cho phong trào cách mạng dân tộc đến nỗi cần phải tiêu diệt, mà trái lại Nguyễn Huệ luôn luôn quý trọng anh mình cho đến cuối đời ông.
Thật vậy, qua các thư từ gửi cho La Sơn Phu Tử trước khi lên ngôi Hoàng đế, ta thấy Nguyễn Huệ luôn luôn dùng niên hiệu Thái Đức. Dùng như thế là công nhận Thái Đức là vua của mình. Đặc biệt khi đã là một vị Hoàng đế mà uy quyền và thanh thế đến Thanh triều phải vị nể, Nguyễn Huệ vẫn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng lúc nào Nguyễn Nhạc cũng là anh mình và phận làm em phải vâng lời trưởng huynh: “Giờ đây, tuân lệnh đức Hoàng huynh, ta sửa soạn một đạo thủy bộ hùng binh, sẽ thân hành kéo vào đánh bại quân giặc dễ như bẻ gãy cành khô củi mục”. Đây là một đoạn của bài hịch Nguyễn Huệ gửi cho nhân dân hai phủ Quảng Ngãi và Quy Nhơn ngày 27 tháng 8 năm 1792, tức ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5, để kêu gọi nhân dân hai phủ này hăng say tham gia đoàn quân chuẩn bị vào tiêu diệt lực lượng của Nguyễn Ánh được quân Xiêm và một số lính Pháp đánh thuê giúp đỡ.
Vì luôn luôn quý trọng anh mình như thế cho nên khi làm một việc chẳng đặng đừng là kéo quân vào vây thành Quy Nhơn, Nguyễn Huệ chỉ muốn dương oai thanh thế để bắt anh mình chịu ngồi yên với chiếc ngai vàng thu mình làm Tây Chúa đừng cản trở mình và phong trào Tây Sơn lãnh nhiệm vụ cách mạng là tiến công tiêu diệt những lực lượng phản động trên quy mô toàn quốc. Nguyễn Nhạc đã chịu phép. Đây là một chiến thắng chính trị chiến lược nội bộ mang nặng tính tâm lý chứ không phải là một chiến thắng quân sự.
Như vậy nếu từ đầu năm 1785, nhờ sự thúc đẩy của những yếu tố khách quan bên ngoài, phong trào Tây Sơn đã có một bước nhảy quan trọng để từ đó kết hợp được những thành phần dân tộc, những cá nhân đầy nhiệt huyết tham gia phong trào, thì việc Nguyễn Huệ xưng Tổng Quốc Chính Bình vương và đem vây đánh thị uy vua anh không phải để chia phần mà là vượt lên trên cái hạn hẹp địa phương, dòng tộc để vươn tới cái cao cả rộng lớn hơn là sự an nguy của quốc gia dân tộc lại là một bước nhảy quyết định ấn định được cương lãnh của phong trào Tây Sơn làm nền tảng vững chắc cho chiến thắng vang lừng đầu năm Kỷ Dậu sau này.

II.- Lên ngôi Hoàng đế
Sau khi được tự do hành động, không còn bị vua Thái Đức kiềm chế nữa, phong trào Tây Sơn đã cương quyết đứng lên đảm nhận lấy vai trò lịch sử mà đất nước đang cần đến là phải giữ lấy nền thống nhất non yếu vừa được tái lập và sự độc lập của dân tộc vốn đang bị hăm dọa nặng nề bởi những thế lực tối phản động từ mọi phía đang cố gắng nắm lấy quyền hành bằng mọi giá dù giá đó là lãnh thổ tiếp tục chia cắt, là quyền lợi của đất nước, của dân tộc bị bán đứng cho ngoại bang, là đời sống của muôn dân luôn luôn bị bầm dập, điêu linh vì chiến tranh. Phong trào Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ đã kịp thời đập tan âm mưu đen tối của Nguyễn Hữu Chỉnh muốn tái sử dụng sông Gianh chia đôi lãnh thổ hòng bảo vệ giấc mộng quyền lực trùm thiên hạ ở đất Bắc của hắn, đồng thời phong trào Tây Sơn cũng kịp thời loại Vũ văn Nhậm một thành viên có giá của phong trào, đã bỏ mất lý tưởng để cho đầu óc vị kỷ, cá nhân hướng dẫn hành động gây ta thán nơi dân chúng.
Trong khi đó thì ở trong Nam, từ năm 1784, Nguyễn Ánh đã nhờ giám mục Bá Đa Lộc đem theo Hoàng tử Cảnh và cầm đầu một phái đoàn sang Pháp xin cứu viện. Sau một thời gian dài vận động, ngày 28-11-1787, tại Versailles, một hiệp ước đã được ký kết giữa đại diện nước Pháp và “đại diện” cho Việt Nam là giám mục Bá Đa Lộc. Hiệp ước có 10 khoản mà trong đó có những điểm chính là đảo Côn Lôn và cửa biển Hội An đã bị Nguyễn Ánh nhượng hẳn cho Pháp; thêm vào đó người Pháp được độc quyền buôn bán trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đổi lại Pháp hứa giúp cho Nguyễn Ánh bốn tàu chiến và một đội quân 1.650 người. Nhưng may mắn cho đất nước là tình hình chính trị của Pháp đã bộc phát khủng hoảng nghiêm trọng trong giai đoạn tiền Cách mạng Pháp 1789 nên sau hiệp ước đã không được thi hành. Tuy nhiên, giám mục Bá Đa Lộc đã lại cố gắng vận động giới tư bản Pháp ở Á châu giúp đỡ để mua súng ống và mộ một số tay phiêu lưu về giúp Nguyễn Ánh lúc đó đã về lại đất Gia Định. Đến năm 1788 lực lượng của Nguyễn Ánh ở đây đã được tăng cường nhiều.
Như vậy, sau Xiêm la, Nguyễn Ánh đã mở cửa mời mọc bọn thực dân Pháp vào Việt Nam.
Ở Quy Nhơn thì Nguyễn Nhạc chỉ biết có vùng đất từ Quảng Ngãi vào đến Bình Thuận mà không lý gì đến sự trở về của Nguyễn Ánh ở đất Gia Định.
Ngoài Bắc thì những kẻ đón gió, chờ thời nhưng bất tài bất hạnh không được nhân dân ủng hộ đã tranh nhau đi tìm sự đỡ đầu của các thế lực ngoại quốc phương Tây. “Từ ít lâu nay, người ta đếm được khoảng năm hay sáu đối thủ tranh nhau vương vị Bắc Kỳ. Đầu tháng 4, tôi nhận được một đại chứng thư của một trong những tên phiêu lưu tự nhận là một vương triều cũ họ Lý, và là người kế vị chính thống của ngôi vua. Hắn ta dùng những lời lẽ bay bướm nhưng mập mờ đại thể khuyến cáo tôi tán trợ phe hắn. Hắn hứa sẽ dành nhiều đặc quyền cho tôn giáo mà tôi đang truyền bá. Thư đó không đề năm thứ hai Chiêu Thống, mà đề ngày mồng một xuân Mậu Thân.
Ngày 13 tháng 8, tôi nhận được một lá thư của ông Sérard đề ngày 10 cho biết rằng thủ lãnh của một đảng nọ ở Bắc Kỳ vừa mới tuyên bố là con cháu của một vị đại thần tên là Trạng Trình. Hắn còn khoe khoang là được chỉ định làm vua theo một lời sấm truyền mà hắn bảo là lấy trong quyển sấm ký, cuốn này đã được khắc đá và viết bởi sĩ phu trên”.

(Nhật ký hội truyền giáo Bắc Kỳ, Đặng Phương Nghi dịch - Tập san Sử Địa - Saigon 1968)
Trong khi đó thì Lê Chiêu Thống, con cháu của vị anh hùng dân tộc đã cùng toàn dân toàn quân trải qua biết bao khó nhọc suốt mười năm mới đuổi được bọn giặc Bắc phương dành lại nền tự chủ cho dân tộc, đang trốn nhui trốn nhủi mò đường về phương Bắc quỳ mọp dưới chân một tên Tổng đốc của Mãn Thanh để nhờ tên này xin vua Thanh Càn Long đem quân sang giúp hắn lấy lại chiếc ngai vàng mục nát. Không phải Lê Chiêu Thống không ý thức được rằng rước quân thù phương Bắc vào đất nước là bán đứng đất nước và dân tộc cho ngoại bang nhưng cái sân hận của những kẻ suốt đời sống trong nhung lụa, sống ù lỳ bất động trong những đặc quyền đang có đã đặt nặng quyền lợi của gia tộc mình lên trên quyền lợi của tổ quốc. Thêm vào đó, Lê Chiêu Thống cũng như bao kẻ nuôi mộng làm tay sai cho ngoại bang luôn luôn nghĩ rằng dù cho đất nước có bị dày xéo, dân tộc có điêu linh thế nào đi chăng nữa thì quyền lợi của họ cũng không bị mất, họ vẫn tiếp tục sống nhởn nhơ bẩn thỉu trong sự che chở của quan thầy.
Bên cạnh những kẻ lưu manh đầu cơ chính trị sẵn sàng bán rẻ dân tộc và đất nước cho ngoại bang đó, nhân dân Bắc Hà đã nhìn thấy vẻ hiên ngang ngạo nghễ với tấm lòng vì dân vì nước sáng vằng vặc như trăng rằm của người anh hùng áo vải và cái khí thế bừng bừng lửa cách mạng của phong trào Tây Sơn, tất cả đang đứng ở tuyến đầu để bảo vệ tổ quốc và dân tộc. Chính vẻ hiên ngang và cái khí thế bừng bừng đó đã làm cho nhân dân Bắc Hà hăng say tham gia phong trào, và những đại diện nổi bậc nhất của họ là Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch, Đặng Tiến Đông (Đô đốc Mưu). Đó là những người sau này đã có những cống hiến vĩ đại cho chiến thắng xuân Kỷ Dậu, cho việc làm thui chột ý chí phục thù của triều đình nhà Thanh và cho việc phát triển đất nước sau đó. Cũng chính những đại diện này đã chuyển đến cho vị lãnh đạo phong trào Tây Sơn tấm lòng ngưỡng mộ và trông chờ của nhân dân Bắc Hà đến vị anh hùng dân tộc sau khi ông đã thẳng thắn và cởi mở đặt nhân dân Bắc Hà một sự lựa chọn quyết liệt nhưng dân chủ sau khi ông loại bỏ Vũ văn Nhậm trong lần ra Thăng Long lần thứ hai, năm 1788: “Ông hỏi họ thích sống dưới chế độ nào: bị một ông hoàng huyết thống nhà Lê cai trị hay khẩn cầu ông ở lại điều khiển quốc gia để hưởng sự thái bình và vĩnh cửu dưới sự bảo trợ và giúp đỡ của ông. Ông kết luận sắc lệnh đó bằng cách yêu cầu mỗi công dân không phân biệt giai cấp, phẩm tước và địa vị cho biết ý định của họ về việc này”. (Nhật ký hội truyền giáo Bắc Kỳ, Đặng Phương Nghi dịch - Tập san Sử Địa - Saigon 1968)
Từ giã nhân dân Bắc Hà, Nguyễn Huệ về lại Phú Xuân để cùng các cộng sự viên thân tín đầy nhiệt tình cách mạng dân tộc hoạch định những sách lược chuẩn bị đối phó với đội quân xâm lăng phương Bắc chắc chắn sẽ tràn vào đất nước ta lấy cớ có sự yêu cầu của bọn Lê Chiêu Thống và đồng thời cũng vạch ra được những phương thức làm tiêu tan ý chí trả thù của Thanh triều sau khi bại trận. Chính nhờ những chuẩn bị chu đáo này, mà ngày 21 tháng 12 năm 1788 khi được tin báo của Ngô văn Sở từ Bắc Hà cho biết quân xâm lăng Mãn Thanh đã tràn vào chiếm Thăng Long ngày 17 tháng 12 năm 1788, thì nội trong ngày hôm sau tức ngày 22 tháng 12 năm 1788, Nguyễn Huệ đã cáo tế trời đất lên ngôi vua lấy niên hiệu là Quang Trung, cho đọc chiếu, xong ra lệnh xuất quân tức khắc.
Tại sao vua Quang Trung đã làm lễ đăng quang vội vàng như vậy trong khi nhân dân Bắc Hà, nhất là tại Thăng Long đang bị quân Thanh hoành hành cướp phá và hãm hiếp? Chắc chắn rằng Quang Trung và những chiến lược gia thân cận bên nhà vua không muốn ngài lên ngôi vua trong cái ý nghĩa thông thường như là một bước đương nhiên để an trị và để bù đắp lại những gian khổ mà những vị vua khai sáng các triều đại đã làm sau một thời gian dài đất nước chìm đắm trong nhiễu nhương điêu linh tang tóc. Thật vậy, Quang Trung vừa cáo tế trời đất lên ngôi xong là lập tức ra lệnh xuất quân và nhà vua đích thân cầm quân dong ruổi ngày đêm ra Bắc. Như vậy Quang Trung lên ngôi không phải để an hưởng mà để gánh lấy những trách nhiệm vô cùng nặng nề trước lịch sử là ấn định những mục tiêu chiến lược vô cùng trọng đại hầu đem lại chiến thắng chắc chắn trước đám giặc dữ đầy tham lam của Bắc phương.
Đối với Nguyễn Huệ, ngôi vua hay bất cứ một chức vụ nào cũng chỉ là phương tiện: “Trời vì hạ dân đặt ra vua, đặt ra thầy, cốt là để giúp thần thượng đế, yên vỗ bốn phương” (Chiếu lên ngôi) chứ không phải là mục đích cần phải tranh đoạt cho nên cả đời của người anh hùng áo vải này lúc nào cũng xem thường những cái danh mà ông gọi là danh hảo. Ông đã giận dữ tâm sự cùng Nguyễn Hữu Chỉnh sau khi vua Lê sắc phong ông làm Quốc Công để ban thưởng cho ông đã dẹp xong họ Trịnh: “Cái chức Nguyên Soái hay Quốc Công có thêm gì cho ta đâu. Chẳng hóa ra vua quan Bắc Hà chực lấy cái danh hão để lung lạc ta sao?” (HLNTC - Ngô gia văn phái). Nguyễn Huệ không thích chức Quốc Công mà chỉ muốn: “Từ nay thần xin bệ hạ sắp đặt giềng mối, yên kẻ trong, nuôi kẻ ngoài, để đưa cõi đời này lên cảnh thái bình. Ấy là thần được ban tặng nhiều lắm vậy!” (HLNTC). Cũng thế về sau này khi đánh tan gần 30 vạn quân Thanh và Thanh triều dù choáng váng và ấm ức nhưng vẫn phải phục tài người anh hùng này nên vua Thanh đã triệu Quang Trung sang Trung Quốc cốt ý để xem mặt nhưng Quang Trung đã khéo léo cử người khác làm giả vương sang Trung Quốc thay mình để mình khỏi phải quỳ lạy vua Thanh khi vào cung điện nhà Thanh. Sau đó Quang Trung cũng nhũn nhặn lấy cớ đau không chịu tiếp sứ nhà Thanh mang chiếu phong vương và phẩm vật ban tặng của Càn Long cũng vì Quang Trung có lòng tự tôn dân tộc rất lớn, đồng thời ông cũng ý thức được rằng vào chầu vua Thanh hay việc có được cái chức An Nam quốc vương mà phải quỳ lạy cả cái mảnh vải vô hồn gọi là “Chiếu” nữa cũng không đem lại lợi lộc gì cho dân tộc và cho cá nhân ông cả. Mặc dù theo quan điểm lúc bấy giờ thì sự “cầu chứng” của các vua Trung Hoa là cái bùa hộ mệnh cho ngôi vua ở đất nước ta, nhưng Quang Trung đã chẳng cần. Ông chẳng cần nhưng đất nước cần sự thanh bình nên ông đã cho người làm giả vương và nhũn nhặn tránh né khỏi làm quê vua Thanh để tránh cuộc can qua. Có lẽ Quang Trung là vị vua, vị quốc trưởng đầu tiên và độc nhất trong lịch sử Việt Nam cho tới hôm nay đã xem thường sự tấn phong, sự công nhận của mẫu quốc, của đàn anh. Và chót hết là việc nhún mình trước nhân dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn để “tuân lệnh hoàng huynh” trong khi mình là “ông vua lớn” uy quyền bao trùm cả nước, Quang Trung một lần nữa đã xem cái ngôi vua mà mình đang giữ chỉ là giả tạm, là danh hảo. Danh thực là cái tâm sáng rực như Quang Trung của mình. Và Quang Trung đã lên ngôi với cái quang trung, cái tâm sáng rực kia: “vốn không có chí làm vua” (Chiếu lên ngôi) mà chỉ để “dìu dắt dân vào đạo lớn, đem dân lên cõi đài xuân” (Chiếu lên ngôi).
Trong khi ở Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc đã quá mệt mỏi, lãng nghĩa dân tộc chỉ muốn làm một ông vua trong biên giới khiêm nhường của mình ở đất Quy Nhơn: “Về phần đại huynh có ý mỏi mệt, tự nguyện giữ một phủ Quy Nhơn, tự nhún xưng là Tây vương” (Chiếu lên ngôi), thì Lê Chiêu Thống bỏ nước bôn vong sang tận Trung Hoa xin nhà Thanh đem quân vào dày xéo đất nước để lấy lại chiếc ngai vàng cho mình. Đất nước đang có hai ông vua, một ông thì an phận mệt mỏi, một ông thì rước giặc vào đất nước, nhân dân thấy ngao ngán và thất vọng vô cùng cho nên toàn dân đã không còn tin tưởng, tín nhiệm vào những ông vua đó nữa. Đất nước có vua mà còn tệ hơn là không vua cho nên nhân dân đã quay về người anh hùng áo vải, người luôn luôn lấy quyền lợi của tổ quốc của nhân dân làm mục tiêu tranh đấu, yêu cầu người lên ngôi vua để đất nước có vua chân chính và rồi cùng họ đối đầu với quân thù. Lúc đó chỉ có Quang Trung và chỉ một mình Quang Trung thôi mới đủ sức hiệu triệu toàn dân lăn xã vào công việc cứu nước.
Như vậy mục tiêu chiến lược trước nhất và quan trọng nhất là an định và kết hợp lòng dân để từ đó ý chí quyết chiến lược thống nhất. Khi ý chí quyết chiến được thống nhất thì giặc dữ có sá gì.
Về mặt quân Thanh thì qua mật dụ của vua Càn Long chỉ thị cho Tôn Sĩ Nghị là nhân cơ hội tốt này vào Việt Nam chúng sẽ tìm cách đóng quân lại lâu dài để kềm chế nhân dân ta và biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Hoa. Để cho sự xâm lăng của chúng được dễ dàng, chúng đã đưa ra chiêu bài đánh “giặc Tây Sơn” để giúp Chiêu Thống, con cháu chính thống nhà Lê, thu hồi lại lãnh thổ và tái lập ngai vàng.
Thấy được dã tâm của nhà Thanh, Nguyễn Huệ và phong trào Tây Sơn đã quyết tâm xé rách chiêu bài kia bằng cách Quang Trung đăng quang lên ngôi Hoàng đế để cho quân Thanh biết rằng đất nước của ta đã có vua. Đất nước có vua là đất nước có chủ. Một khi đất nước có chủ thì dân tộc Việt Nam không muốn có sự hiện diện của quân Thanh trên lãnh thổ này. Sự đăng quang của Quang Trung như vậy lại đưa ra một quyết tâm sắt đá là giành lấy quyền tự chủ cho dân tộc để cho giặc Bắc biết rằng: “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” Đây là một tuyên ngôn tự chủ và quyết chiến của dân tộc, nêu bật được chính nghĩa của phong trào Tây Sơn và để trấn áp óc thực dân của quân Thanh: một lối công tâm. Đây là mục tiêu chiến lược thứ hai của việc đăng quang của Quang Trung.
Còn đối với Lê Chiêu Thống và tập đoàn mục nát của ông ta dĩ nhiên cố bám lấy cái gọi là “chính thống” để tiếp tục ăn trên ngồi trước, tiếp tục cai trị muôn dân. Nhưng chúng đã vỡ mộng khi biết được Nguyễn Huệ đã đăng quang và lấy hiệu là Quang Trung. Vì vỡ mộng cho nên chúng đã một mặt điên cuồng trả thù những người đã cộng tác với phong trào Tây Sơn, một mặt chúng lại lom khom khép nép trước giặc Thanh đến nỗi nhân dân Bắc Hà nói với nhau rằng: “Nước Nam từ khi có đế vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua nào luồn cúi đê hèn như thế” (HLNTC). Nhân dân càng thấy rõ hơn bộ mặt của Lê Chiêu Thống.
Như vậy một lần nữa sự đăng quang của Quang Trung còn có ý nghĩa là một sự từ chối quyết liệt không chịu tiếp tục khoang nhượng dung túng Lê Chiêu Thống và tập đoàn. Đó là mục tiêu chiến lược thứ yếu nhưng cũng cần thiết làm cho Lê Chiêu Thống và tập đoàn hành động ngược ngạo trái lòng dân. Trái lòng dân là yếu tố sụp đổ nhanh chóng của vây cánh Thanh - Lê Chiêu Thống đồng thời lại góp phần quyết định cho chiến thắng của đoàn quân Tây Sơn.
Tiếp theo sau lễ đăng quang là những hoạt động nhịp nhàng từ việc ra lệnh xuất quân, tuyển quân, luyện quân đến việc cổ võ tinh thần của ba quân tướng sĩ ở Nghệ An, Thanh Hóa và cuối cùng là trận tổng tấn công vào quân Thanh đầu năm Kỷ Dậu, tất cả đều chứng tỏ rằng Quang Trung và những cộng sự viên đắc lực của nhà vua đã hoạch định kỹ càng từng chi tiết cho chiến dịch mà trong đó việc đăng quang của vua Quang Trung là một quyết định tối quan trọng ấn định được thế chiến lược tất thắng của dân tộc. Đó là một bước nhảy quyết định vậy.

Tạp chí Tây Sơn - Xuân Kỷ Tỵ (1989)
(Trang 32-44)
0
Tài dùng binh của Nguyễn Huệ
Nguyễn Nhã

Nguyễn Huệ: Một thiên tài quân sự chưa hề nếm mùi thất bại.
Chiến thắng bất hủ Xuân Kỷ Dậu đã đưa Nguyễn Huệ lên tột đỉnh đài vinh quang của dân tộc. Người đời về sau có thể vì quá thần thánh hóa con người hùng của Nguyễn Huệ, nên người ta đã coi Nguyễn Huệ như một thiên tài quân sự siêu việt. Thực ra thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ cũng đã được người cùng thời với Nguyễn Huệ xác nhận như là một sự thật không thể chối cãi.
Như các giáo sĩ là những người có nhiều thành kiến không mấy thiện cảm [1] với quân Tây Sơn, họ thường ví Nguyễn Huệ như là “Alexandre” hay “Tân Attila” [2]. Đại đế Hy Lạp Alexandre Le Grand và vua Hung Nô Attila đều là những nhà quân sự nổi danh “bách chiến bách thắng” ở châu Âu.
Vì quá sợ hãi tài dùng binh của Nguyễn Huệ cũng như sức mạnh của Tây Sơn, các giáo sĩ được tin Nguyễn Ánh nhờ Đức Giám mục Bá Đa Lộc cầu viện quân Pháp, đã không khỏi e ngại quân Pháp sẽ thất trận trước quân Tây Sơn. Trong bức thư để ngày 11 tháng 6 năm 1788, giáo sĩ La Bartette gửi cho giáo sĩ Letondal đã viết như sau:
... “Tôi không rõ cuộc viễn chinh của người Pháp khi nào sẽ xảy ra. Nhưng tôi sợ rằng quân Pháp của chúng ta vì khinh thường bọn người này (Tây Sơn) và không am hiểu tường tận cách hành binh của họ và không đủ sẵn sức mạnh và có thể trở thành nạn nhân” [3].
Người Việt cùng thời với Nguyễn Huệ như một cung nữ cũ của vua Lê, khi nghe tin vua Lê Chiêu Thống đã đưa Tôn Sĩ Nghị về Thăng Long, đã từ Trường An [4] ra Thăng Long nói với Thái hậu:
“Cứ xem những lời trong bài hịch, thì thấy Ngài (Tôn Sĩ Nghị) buộc cho ta nhiều lắm, mà Ngài thì cứ lượn lờ trên sông, chỉ dùng thanh thế dọa nạt, không biết Nguyễn Huệ là bậc anh hùng hão thủ hung tợn và giỏi cầm quân. Coi y ra Bắc vào Nam, thật là xuất quỷ nhập thần không ai có thể dò biết. Y bắt Nguyễn Hữu Chỉnh như bắt trẻ con, giết Vũ văn Nhậm như giết con lợn, không một người nào còn dám trông thẳng vào mặt. Nghe lệnh của y, ai cũng mất cả hồn vía, sợ hơn sấm sét. E rằng bất nhật y sẽ lại ra, quân Tôn tổng đốc còn có cái lo bên trong, địch sao cho nổi”! [5]
Các sử quan nhà Nguyễn cũng phải xác nhận:
“... Nguyễn văn Huệ là em của Nguyễn văn Nhạc, tiếng nói như chuông to, mắt lập lòe như ánh điện, là người giảo hoạt đánh giặc rất giỏi; người người đều sợ Huệ” [6].
Cái giỏi và độc đáo của Nguyễn Huệ ở điểm xuất thân là kẻ ít học, chỉ là kẻ “áo vải”, người trong “hang núi” như Nguyễn Huệ đã tự nhận, không xuất thân từ một trường dạy võ nào, hay một chức, quan võ nào của triều đình mà từ một kẻ bạch đinh trở thành một tướng lãnh tài ba.
Phàm là kẻ làm tướng tài, thì như Tôn Tử nói: “Tướng ấy là trí, là nhân, là kính, là tín, là dũng, là nghiêm. Trí là để bẻ gãy kẻ địch, nhân để làm cho người ham theo, kính là để chiêu người hiền, tín để đúng lệ thường, dũng là để thêm khí, nghiêm để nhất lịnh”.
Nguyễn Huệ thật là một người lắm mưu nhiều trí.
Không có trận đại thắng nào mà Nguyễn Huệ không dùng tới mưu từ trận đầu tiên đi vào sử sách là trận đánh úp quân Tống Phước Hiệp ở Phú Yên với kế “dụ địch”, khiến địch không đề phòng xuất kỳ bất ý đánh úp, giúp quân Tây Sơn lật ngược được thế cờ. Trận đánh chiếm Phú Xuân (1786) với kế “ly gián” phối hợp kế “dụ địch” khiến hai tướng Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể nghi kỵ nhau và Phạm Ngô Cầu mắc mưu bắt quân lính phục dịch mọi việc không còn hơi sức chiến đấu. Trận phá 20.000 quân và 300 chiến thuyền của Xiêm (1784) cũng dùng tới kế “phục kích”. Đến khi ra Bắc Hà diệt họ Trịnh, Nguyễn Huệ dùng đường thủy ngược theo sông Hồng Hà tới địa phận Lỗ Giang [7] gặp thủy quân của Đinh Tích Nhưỡng, Nguyễn Huệ lại dùng kế “dụ địch” khiến quân Nhưỡng mắc lừa, bắn vào thuyền không lúc đêm tối, đến khi sáng ra thì bắn hết đạn, quân Nguyễn Huệ đã ập tới, phá tan quân Đinh Tích Nhưỡng làm phòng tuyến trấn giữ kinh thành bị chọc thủng, khiến quân của Nguyễn Huệ tiến tới kinh thành không mấy khó khăn.
Đến khi đại phá quân Thanh thì sự vận dụng mưu trí của Nguyễn Huệ đã đi đến mức tuyệt diệu.
Tôn Sĩ Nghị vốn tính hay kiêu khi sang nước ta chưa gặp được sức kháng cự nào, từ biên giới cho tới núi Tam Tằng [8], đường đi rất đễ dàng, Nghị dương dương tự đắc, gặp Tham tri Vũ Chinh nói về tình hình Tây Sơn có nói: “Nguyễn Huệ là tay lão luyện về việc hành trận, tay cầm một đội quân rất mạnh”. [9]. Tôn Sĩ Nghị cả cười mà rằng: “Nước người vì bị tàn ngược đã lâu, mất hết nhuệ khí nên động một tí thì đem hùm sói ra mà dọa, tự ta coi ra nó như hạng chó dê, chỉ sai một người dùng thừng buộc cổ lôi về chẳng khó khăn gì. Đợi khi ta đến La Thành chỉ nhổ nước bọt xoa tay là xong việc. Người hãy thử ngẫm mà xem” [10].
Nghị lại tỏ ra chủ quan hơn nữa khi Lê Quýnh đến dinh Nghị yêu cầu động binh, Nghị nói: “Việc gì mà phải lật đật như thế? Chẳng qua cũng như lấy của trong túi, lấy sớm được sớm, lấy muộn thì được muộn. Bây giờ đã sắp hết năm, đại quân đi xa cần phải nghỉ ngơi, không nên đánh vội, giặc gầy thì ta béo, để tự nó đến nộp thịt. Nhưng ‘nước ấy’ đã xin như thế thì nên tính từ Đô thành về Nam, chừng 60 dặm, chia quân đóng ba đồn, đó cũng là cách phòng xa, chờ đến sang năm tiến quân mà bắt cũng chưa muộn” [11].
Chưa rõ tình hình ra sao, chưa có kinh nghiệm gì về địch mà Nghị dương dương tự đắc kiêu căng, như vậy làm sao có thể tránh khỏi kế kiêu địch của Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đã gởi thơ tới Tôn Sĩ Nghị xin hàng [12]. Trước ngày tấn công, Nguyễn Huệ lại cho quân đến khiêu chiến và giả thua nhiều trận. Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám cương mục chép: “Ngày 4 tháng Giêng ấy, quân lưu động của giặc, đến trước, hễ đánh trận nào thì thua luôn trận ấy, Sĩ Nghị rất coi khinh” (13). Nhờ vậy, Quang Trung có được yếu tố bất ngờ, và với lối hành binh thần tốc, quân Thanh trở tay không kịp nên đại bại.
Nguyễn Huệ lại tỏ ra là người có tài tiên liệu thần tình, chẳng khác nào như Khổng Minh sắp đặt công việc.
Từ khi chiến thắng Phú Xuân,Nguyễn Huệ đã tỏ ra một người có mưu trí về cả chính trị. Những lời đối đáp với Nguyễn Hữu Chỉnh khi Chỉnh đưa ra đề nghị chiếm đất Bắc Hà đã chứng minh điều đó. Huệ đã quan tâm đến yếu tố nhân tâm trong cuộc chiến, nào e sợ nhân tài Bắc kỳ, nào lấy danh nghĩa tiến quân cho hợp lòng người; đến khi được Chỉnh nói trúng ý mình thì ông quyết định liền [14].
Nguyễn Huệ đã tiên tri được sự “trung thành” của Nguyễn Hữu Chỉnh. Sau khi diệt được họ Trịnh, Nguyễn Huệ trở về Phú Xuân, bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh ở ngoài Bắc, nhưng Chỉnh đã vội đuổi theo gặp Nguyễn Huệ ở Nghệ An. Nguyễn Huệ cho Chỉnh cùng Nguyễn văn Duệ ở Nghệ An và dặn riêng bọn Duệ: “Chỉnh vốn là đứa vong mạng đến đầu ta, hắn phản phúc không thể tin được, ta lúc đầu muốn mượn tay người Bắc Hà giết hắn, chẳng ngờ hắn chạy thoát theo đây. Theo nghĩa ta cũng không nhẫn bỏ hắn, Nghệ An là quê quán hắn. Ngươi phải xem xét tinh tế động tĩnh của hắn mà phòng bị. Nếu có biến thì đưa thơ cấp báo” [15].
Quả nhiên, Chỉnh mưu chống lại Nguyễn Huệ khi nắm quyền hành ở Bắc Hà, sau khi được vua Chiêu Thống mời ra thanh toán bọn Trịnh Bồng. Nguyễn Huệ đã sai Vũ văn Nhậm ra bắt Nguyễn Hữu Chỉnh, nhưng Huệ đã tiên tri được những hành động của Nhậm nên đã cho bọn Ngô văn Sở và Phan văn Lân đi theo. Trước khi đi, Nguyễn Huệ nói kín với Ngô văn Sở và Phan văn Lân: “Nhậm trong chiến dịch này cầm trọng binh, chuyên việc nước lớn lao thì cái biến không thể nào liệu trước được. Điều ta lo không ở Bắc Hà mà chỉ ở Nhậm thôi. Bọn ngươi phải xem xét hắn tỉ như lửa vậy, dập lúc lửa mới nhen nhúm thí sức rất dễ” [16].
Đến khi được tin cấp bách của Ngô văn Sở về hành vi của Vũ văn Nhậm, Huệ liền bảo: “Vũ văn Nhậm, ta vốn biết hắn ắt làm phản, thì hẳn nhiên” [17].
Nguyễn Huệ như đã đoán trước những biến cố sẽ xảy ra cho Bắc Hà, và đã có con mắt tinh đời, biết Thời Nhậm, là người có thể đương đầu với thời thế khi có biến, đã dặn dò bọn Ngô văn Sở và Phan văn Lân nên tin cẩn nghe lời Nhiệm. Ông nói với bọn tướng tá rằng: “Phải hội đồng thương nghị với nhau, chớ vì mới cũ mà xa cách nhau, ấy là điều mong ước của ta”.
Quả nhiên nhờ có Ngô Thời Nhậm bàn kế rút lui để bảo toàn lực lượng thủy bộ và kế “dụ địch”, “kiêu địch”.
Khi gặp bọn Sở, Nhậm ở núi Tam Điệp (đèo Ba Dội) Nguyễn Huệ đã tiên đoán là do Nhậm bày kế ấy. Khi hỏi Nguyễn văn Tuyết quả nhiên đúng như thế [18].
Trước khi phát binh ra Thăng Long, Nguyễn Huệ lại nói với Ngô Thời Nhậm:
“Nay ta tự coi đốc tướng sĩ, phương lược tiến đánh đã tính sẵn rồi. Chẳng quá mười ngày có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ nó là nước lớn, gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận ắt lấy làm thẹn mà cố báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, thật không phải phúc cho dân, lòng ta không nỡ làm vậy. Tới lúc đó, chỉ có một cách nói thật khéo, thì mới ngăn được cái ngòi chiến tranh, việc ấy phi Ngô Thời Nhậm thời không ai làm nổi. Đợi mười năm nữa ta đủ thì giờ gây nuôi nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì nó” [19].
Đến khi phá tan quân Thanh xong, lúc đầu để Hô Hổ hầu viết biểu cho Càn Long xin phong là An Nam quốc vương. Biểu ấy khi chuyển tới Thang Hùng Nghiệp, thì tên này cả kinh nói với sứ giả Hô Hổ hầu: “Nay không phải là hai nước đang đánh nhau, sao lại viết toàn một giọng giận dữ. Viết như thế là muốn cầu phong tước hay muốn khơi hấn chiến tranh chăng?” [20].
Sau Quang Trung phải giao hẳn cho Ngô Thời Nhậm: lo việc ngoại giao với nhà Thanh thì y như rằng việc giao hảo với nhà Thanh thật rất tốt đẹp, khiến vua tôi nhà Lê trở nên khổ nhục.
Những sự sắp đặt mưu kế, tiên liệu tính toán như vậy đã chứng tỏ mưu trí của Quang Trung cao đến mực nào!
Nói về cái dũng Nguyễn Huệ, chánh sử triều Nguyễn ghi: “Nguyễn Huệ đã bốn lần đánh phá Gia Định, lâm trận đi đầu các quân sĩ, hiệu lịnh rất nghiêm minh, quân sĩ đều kính phục”.
Khi chỉ huy trận đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ cỡi voi đốc xuất quân sĩ xông pha vào lửa đạn đến nỗi khi tiến vào thành Thăng Long, chiến bào của vua Quang Trung biến thành màu đen xám vì thuốc súng [22].
Trong một bản nhựt ký của Giáo hội Truyền giáo Bắc Hà gửi về cho Giáo hội Truyền giáo Trung ương ở Ba Lê có kể: “Ngày 30-1-1789 Quang Trung rời Kẻ Vôi (Hà Hồi) trên lưng voi và đến chung sức, khuyến khích đội ngũ ông, nhưng khi thấy họ chiến đấu không được hăng hái lắm, ông liền bỏ voi và dùng ngựa. Theo lời đồn ông đeo hai cái đoản đao (gươm) và chạy ngang dọc chém rơi đầu nhiều võ quan và binh lính Thanh, làm rất nhiều người chết về tay ông, ông luôn mồm hò xung phong và lúc nào cũng ở trận tuyến đầu” [23].
Điều này đã chứng tỏ sự vô cùng xông xáo của Nguyễn Huệ làm tướng coi cái chết nhẹ như lông hồng.
Tôn Vũ Tử xưa kia khi ra mắt vua Ngô Hạp Lư đã chứng tỏ sự áp dụng hiệu lệnh nghiêm minh của mình đã cho chém đầu hai người thiếp yêu nhất của nhà vua khi hai người này làm đội trưởng cho một toán 180 cung nữ để Tôn Vũ Tử áp dụng thử hiệu lệnh. Tôn Vũ Tử đã ba lần ra lệnh, năm lần nhắc lại và lại phải một lần thứ hai làm như vậy, mà bọn cung nữ cứ cười cợt không tuân theo, ông mới ra lệnh chém hai người thiếp yêu của vua dù vua can xin tha tội. Người đời về sau khen hiệu lệnh Tôn Tử thật là nghiêm. Hiệu lệnh của Nguyễn Huệ cũng nghiêm khắc không kém. Trong bức thư đề ngày 11 tháng 6 năm 1788, giáo sĩ La Barette gửi cho giáo sĩ Letondal có viết: “Quân giặc (quân Tây Sơn) đôi khi điều động được tới 200, 300.000 quân, sự thực thì đa số bị cưỡng bách, nhưng tất cả đều quyết tử, kẻ nào nhìn về sau trận địa, lập tức bị chém đầu” [24]
Ngày lễ thành phục vua Lê Hiển Tôn, Huệ mặc đồ tang đứng bên trái trên điện, có một người chấp sự cười lên - Huệ ra lệnh bắt đem ra chém. [25]
Khi Nguyễn Huệ ra Bắc dẹp họ Trịnh, bọn côn đồ thừa cơ hỗn loạn nổi lên cướp bóc khắp nơi, Nguyễn Huệ đã áp dụng sự trừng phạt gắt gao, giáo sĩ Le Roy (ở Nam Định) đã viết cho ông Blandin ở Paris ngày 11 tháng 7 năm 1786:
“... Những người Nam Hà này (quân Nguyễn Huệ) đã áp dụng sự xử án khắc nghiệt - mới thấy tố cáo chẳng cần đợi xét xử lôi thôi, họ đã chém đầu những bọn trộm cướp hay tất cả những kẻ nào bị người ta tố cáo là trộm cướp. Người ta rất lấy làm thích sự xử phạt như vậy và sự liêm khiết của Tây Sơn. Vì họ không cướp bóc ai, họ chỉ biết chặt đầu mà thôi. Điều đó đã khiến cho yên lành ở một vài nơi trong một thời gian”. [26]
Nguyễn Huệ nghiêm khắc việc quân như vậy, không hẳn con người sắt thép ấy không còn tình cảm mà sự thực Nguyễn Huệ lại là người nhiều tình cảm hơn hết. Bằng chứng như khi người vợ cả của ông mất, ông đã thương tiếc gần như điên khùng. [27]
Ngày 16-6-1792, giáo sĩ Le Labousse lại viết thơ cho người bạn của ông:
“Cuối cùng tôi được biết rằng một trong những bạn của chúng ta (Girard) ở Nam Hà hiện nay đương ở trong triều đình phiến loạn, ông ta bị bắt phải đến để chữa bệnh cho người vợ của ‘bạo chúa’ vì ông đã đòi một y sĩ người Âu. Tại triều đình, ông này được đón tiếp rất trọng hậu và hạnh phúc lớn lao nhất có lẽ chính là vợ của Tiếm Vương đã chết trước khi ông có thể khám bệnh. Ông ‘bạo chúa’ đã đau khổ đến cùng cực về việc ông Girard không được gọi đến kịp thời”. [28]
Nguyễn Huệ dù sắt đá đến đâu cũng phải mềm lòng trước nước mắt của giai nhân. Khi Lê Hiển Tông chết, Huệ giận Tự Tôn đã không mời trước đến bàn việc tang ông bố vợ mà lại để khi nhập liệm xong mới đến mời. Nguyễn Huệ cho đó là có ý coi mình như những người ngoài, lập tức sai người vào triều bắt phải hoãn lễ đăng quang, muốn lập người khác. Nhưng khi công việc đăng cực đã xong, triều đình đã cho người ra báo tin thành lễ với ông, Nguyễn Huệ giận dữ bèn truyền lệnh các quân thủy bộ sắm sửa hành trang cho kịp ngày mai rút quân về nước [29]. Nhưng đến khi Ngọc Hân công chúa khóc xin Huệ ở lại, thì Nguyễn Huệ không thể đành lòng.
Người anh hùng ấy cũng hơn một lần chìu theo ý của giai nhân. Ngọc Hân đã “thỏ thẻ” đến nỗi Huệ có ý không chịu lập Tự Tôn lên ngôi. Đến khi công chúa nghe nói triều đình giận mình, kết tội mình làm hại đến việc lớn của xã tắc thì Ngọc Hân công chúa lại về phủ để xin với Huệ lập Tự Tôn trở lại. Công chúa đã nói như thế nào để Nguyễn Huệ cũng lại mềm lòng, nể “người đẹp” mà bằng lòng.
Không phải là con người không có tình cảm nên Nguyễn Huệ thật cũng có thừa lòng nhân. Xem việc Nguyễn Huệ xử sự trước cái chết của Trịnh Khải thì biết. Khi bọn Nguyễn Trang đến nộp đầu Trịnh Khải, Nguyễn Huệ nói: “Đáng tiếc cho một hảo nam tử, lúc đầu nếu sớm đầu hàng thì hẳn không mất phú quý, sao lại khổ ử, hủy mạng”. Rồi Huệ cho lấy lễ bực vương tống táng Trịnh Khải [31]. Thật khác hẳn với kẻ hẹp lượng, chỉ muốn băm vằm kẻ địch, đến nỗi kẻ thù chết rồi công không tha cho quật mồ, quật mả. Thái độ đối với Trịnh Khải thật là độ lượng của người anh hùng.
Còn lòng kính hiền đãi sĩ của một võ tướng như Nguyễn Huệ thì thật khó ai bì kịp. Điển hình như sự đối xử của Nguyễn Huệ với La Sơn Phu Tử. Bao lần “mời cụ không ra, lễ cụ không nhận, lộc dưỡng lão cụ cũng từ... Thế mà Quang Trung chỉ ôn tồn kính cẩn, trách nhẹ mà thôi, rồi lại cố mời cụ ra. Lòng mến kẻ hiền lớn mạnh đến chừng nào!” [32]
Với tư cách ấy, Nguyễn Huệ đã tỏ ra một vị tướng tài ba vẹn toàn. Tài ba này đã hơn một lần được chứng tỏ bằng những chiến tích anh dũng của ông. Từ trận đánh úp tại Phú Yên quân Tống Phúc Hiệp (năm 1773) đến trận Đống Đa (1789), gần 20 năm trời vị tướng trẻ tài ba ấy đánh nam bắc không hề nếm mùi thất bại. Trong bài hịch gửi đến quan quân và dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Quy Nhơn, ông đã nói: “Nơi nào có ta mang quân đến, nơi đó quân thù bị đánh tan tành” [33].
Trong sử sách không thấy đoạn nào ghi chép sự thất bại của Nguyễn Huệ. Trong bốn lần vào đánh Gia Định, nơi nào Nguyễn Huệ tới, nơi đó đối phương phải chịu thảm bại. Đại Nam thực lục chính biên của triều Nguyễn, vốn có ác cảm với Nguyễn Huệ cũng chỉ có thể viết: “Tháng 12 năm Giáp Thìn (1784) giặc Tây Sơn Nguyễn Nhạc nghe tin quân giặc cáo cấp, tức thì sai Nguyễn văn Huệ đem binh thuyền vào cứu Saigon. Huệ đến, đánh vài trận không được, muốn đem quân về. Có tên phản thần là Lê Xuân Giác bày kế cho Huệ đem hết quân mạnh mai phục ở rạch Gầm và ở sông Xoài Mút (Định Tường) rồi dụ quân Xiêm lại đánh [34]. Đó là lần duy nhất sách Thực lục nói Nguyễn Huệ không thắng, nhưng cũng không nói là thua.
Đánh Gia Định lần nhất vào mùa Xuân Đinh Dậu(1777), quân Nguyễn phải chạy dài, đến tháng 9 mùa thu năm ấy, chúa Nguyễn Duệ Tông bị giết, chỉ một mình Nguyễn Ánh thoát, lên thuyền đậu sông Khoa (Long Xuyên) rồi lẩn tránh.
Đánh Gia Định lần hai vào mùa Xuân (tháng 3) Nhâm Dần (1782). Quân Nguyễn không ngăn được sự tiến quân của Tây Sơn từ biển vào theo lối Cần Giờ Nguyễn Ánh phải chạy đến Lữ Phụ (Giồng Lữ) thuộc tỉnh Định Tường, nhặt tàn quân còn khoảng hơn 300 người. Nguyễn Ánh cố gắng vùng lên, đánh bại được quân của Tây Sơn là Đô đốc Nguyễn Học tới đánh; thừa thắng quân Nguyễn phản công Tây Sơn, khí thế lên mạnh. Nhưng khi quân Nguyễn tới đóng ở Ngã tư (Tứ kỳ giang) thuộc tỉnh Gia Định, Nguyễn Huệ đem quân mạnh ập tới, bày trận bối thủy (quay lưng xuống nước như Hàn Tín) mà đánh, quân Nguyễn thảm bại. Nguyễn Ánh chạy về miền Hậu Giang, tới Hà Tiên rồi ra Phú Quốc, và phải sai Nguyễn Hữu Thụy, Trần Xuân Trạch cùng Cai cơ Cao Trí Phúc sang Xiêm cầu viện [35].
Lần thứ ba, cũng vào mùa Xuân Quý Mão (1783), Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Lữ lại vào đánh Gia Định cũng từ cửa Cần Giờ tiến vào... Quân Nguyễn lại bị bại, Nguyễn Ánh phải chạy về Ba Dòng (Tam Phụ, Định Tường), quân không còn đầy một trăm, bầy tôi còn năm, sáu người. Nguyễn Ánh phải chạy về Mỹ Tho rồi cùng mẹ và tang quyến chạy ra Phú Quốc. Lần này Nguyễn Huệ cho quân truy kích, cho phò mã Trương văn Đa đem thủy quân vây ba vòng Nguyễn Ánh ở đảo Côn Lôn. Nhờ có bão, Nguyễn Ánh thoát vòng vây, qua ở đảo Phú Quốc, rồi sai người mời Bá Đa Lộc đến nhờ đi Pháp cầu viện (tháng 7, Quý Mùi).
Và lần cuối cùng, vào tháng 12 năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Huệ đem quân đánh Gia Định và đại phá hai vạn quân Xiêm cùng 300 chiến thuyền [36].
Rồi từ năm Bính Ngọ (1786) trở đi, thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ được phát triển, nảy nở toàn vẹn, khiến ông mạnh tiến trên đài danh vọng như diều gặp gió, thoát khỏi quyền kiềm tỏa của anh ông để rồi Nguyễn Nhạc đành phải chấp nhận sự thoái bộ của mình. Rút kinh nghiệm những trận chiến dai dẳng với Nguyễn Ánh, phải ba, bốn lần vào đánh Gia Định, mỗi lần phải ở tới năm, sáu tháng trời đánh dẹp, từ khi đánh Phú Xuân, ông đã phối hợp giữa mặt trận quân sự, chính trị, tâm lý và với lối đánh thần tốc, ông đã thắng những trận lớn một cách nhanh chóng.
Đối với kẻ nội thù, ông đã đánh trận nào thắng trận ấy, từ chiến trường miền Nam ra chiến trường miền Bắc, đánh tan quân Nguyễn và làm sụp đổ hoàn toàn cơ nghiệp họ Trịnh.
Đối với ngoại thù, ông cả thắng hai vạn quân Xiêm và đại phá 20 vạn quân Thanh [37] dù rằng nhà Thanh đã mưu nhờ tới cả quân Xiêm tiếp viện [38] để hai mặt cùng đánh.
Con người cái thế anh hùng như Nguyễn Huệ có thể làm nổi những chuyện kinh thiên động địa hơn nữa với mộng đánh Tàu của ông. Nhưng anh hùng mệnh đoản, vào mùa thu năm Nhâm Tý (1792) ông đã từ trần [39].

Nguyễn Huệ với lối hành binh vũ bão.
Đánh nhanh, đánh mạnh, đó là điểm đặc biệt về phép dụng binh của Quang Trung. Nếu Hưng Đạo vương sở trường về lối đánh “đoản binh” để chống lối “trường trận” hay Lê Lợi với phép “dĩ dật đãi lao” chuyên đánh du kích thì Quang Trung trái hẳn, rất sở trường lối đánh “trường trận”. Đó là lối đánh “vận động chiến”, “trận địa chiến”. Đó là lối đánh của một kẻ mạnh đối với kẻ yếu. Quang Trung luôn tỏ ra ở thế mạnh.
Thế mạnh là nhờ ở quân số, hỏa lực, phương tiện và mưu kế (chiến thuật, chiến lược).
Trước hết về quân số, Nguyễn Huệ thật có tài huấn luyện rất mau chóng các tân binh để biến thành các chiến binh có khả năng chiến đấu cao.
Khi ra Bắc đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ qua Nghệ An và Thanh Hóa lấy thêm quân lính đến tám vạn người [40] Với hơn mười ngày tuyển binh và kể từ ngày bắt đầu tuyển (ngày 29-11 Mậu Thân tới Nghệ An) cho tới ngày ra trận, trong vòng chỉ khoảng một tháng trời, đồng thời lại phải chuyển quân một khoảng đường dài hàng mấy trăm cây số mà lính ấy ra trận đánh giặc lại hay, như vậy thực là ngoài sức tưởng tượng. Giáo sĩ Le Roy đã tả đạo quân Quang Trung thì gồm cả người già lão, trẻ con trông giống một toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một đoàn chiến binh. Ấy thế mà đạo quân khốn khổ ấy lại tàn sát được đạo quân Trung Hoa [41].
Hồi Lê Lợi khởi nghĩa Ngài cũng tuyển đinh tráng ở các xứ Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa. Nhà nào có ba người thì một người làm quân, thuế khóa giao dịch đều miễn trong ba năm” [42]. Sang đời Lê Thánh Tông phép tuyển binh rất rõ ràng chu đáo:
Cứ ba năm thì làm hộ tịch một lần gọi là tiểu điển, sáu năm một lần gọi là đại điển. Sai quan đi các sứ, dùng nội thần và văn võ mỗi hạng hai viên, dựng lập tuyển trưởng để duyệt dân binh, chia làm các bực tráng hạng, quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng, nhà nào có ba đinh thì một người bổ vào hạng lính tráng, một người bổ hạng quân, một người bổ hạng dân. Nhà có năm, sáu đinh trở lên thì hai người bổ hạng lính, một người bổ hạng quân để ứng vụ. Hạng lính thì kể riêng. Hạng lão nhiêu và tàn tật thì khai riêng. Những người phiêu lưu trốn biệt thì bỏ ra ngoài sổ. Trưởng thành đến 18 tuổi thì vào sổ. Trước hết tuyển những người cường tráng làm binh lính, rồi đến dân tráng sung vào hạng quân, ở nhà làm ruộng, khi nào có thải người già yếu thì chiếu theo thứ tự lấy bổ sung vào. Cứ mở sổ mà lấy binh, không cần phải bắt mà có đủ ngay [43].
Còn Nguyễn Huệ thì việc tuyển binh có phần gắt gao hơn. Trong thơ đề ngày 13-5-1787, giáo sĩ Longer gửi cho ông Blandin viết: “Người bạn đồng sự trẻ của chúng tôi bắt buộc phải chạy bởi người ta bắt tất cả mọi người phải đi đánh nhau từ 15 tuổi trở lên. Những người già, đàn bà góa, và con gái cũng bắt đi sửa cầu, đường sá” [44]. Một giáo sĩ khác viết: “Họ (quân Nguyễn Huệ) đã phá hủy ở đây tất cả những ngôi nhà thờ đẹp nhất của chúng ta cùng tất cả những ngôi chùa và bắt các sư tăng cầm khí giới ra trận” [45].
Việc kiểm soát đi lại rất gắt gao và khoa học nên sự trốn lính rất khó khăn. Giáo sĩ Doussaint gửi thư cho ông Blandin ngày 16-6-1788 viết:
“Rất khó đi lại, kẻ nào không có “thẻ” sẽ bị bắt giữ và bị tù: mỗi làng bắt buộc phải dựng lên hai hay ba căn nhà nhận dấu (tay) của người qua lại. Với phương tiện này, họ bắt được tận hết suất đinh” [46].
Với cách tuyển binh như trên, nên quân của Nguyễn Huệ lúc nào cũng có quân số đông đảo, hàng trăm ngàn người, rất cần thiết để dùng lối đánh vũ bão.
Về hỏa lực, Quang Trung có khí giới lợi hại nhất là ống phun lửa tục gọi là Hổ lửa và lực lượng xung kích lợi hại nhất là voi trận [47]. Chính Tôn Sĩ Nghị trước khi tiến quân sang, đã ban 8 điều quân luật để dặn dò quân sĩ. Trong đó có nói: “Người Nam đánh trận hay dùng sức voi. Lối đó nội địa (Trung Hoa) không quen, nên hễ gặp phải, ắt phải chạy trước để tránh...”
“Họ chỉ dùng các ‘ống phóng’ làm lợi khí. Thứ lợi khí ấy cũng gọi là Hổ lửa. Trong khi hai bên giáp nhau, trước hết họ dùng vật ấy đốt cháy quần áo người ta, để cho người ta phải lui...” [48]
Về loại ống phun lửa từ đời Lê Thái Tổ đã thấy nói đến. Mỗi vệ trang bị ống lửa hạng đại tướng quân 1 cái, hạng lớn 10 cái, hạng nhỏ 80 cái. [49]. Chắc loại ống phun lửa này còn sơ khai không tân tiến được như loại “hổ lửa” sau này.
Ngoài ra các khí giới khác cũng dùng như khí giới ở thời Lê Trung Hưng như kiếm, kích, giáo, mộc, đao, súng, thuốc đạn. Hoặc như nỏ bắn đá, súng báng gỗ, súng bọc da, tên lửa, thuốc lửa, đạn lửa, thuốc mù [50].
Về súng, quân đội Quang Trung trang bị các loại súng tay như súng chim [51], súng đại bác. Các súng đại bác dùng để phòng thủ, hay dùng để tấn công bằng cách cho voi chở như lời Ngụy Nguyên chép trong sách Thánh Vũ Ký: “Giặc (Tây Sơn) đều chở đại bác bằng voi mà xông vào trận” [52].
Súng đại bác đã được chúa Nguyễn ở Nam Hà dùng từ lâu và nhờ người Bồ Đào Nha lập xưởng đúc súng ở Phú Xuân. Trong một tập du ký viết về Nam Hà vào năm 1749, ông Le Poivre có cho biết chung quanh phủ chúa Nguyễn có tới 1.200 khẩu đại bác mà phần lớn là súng của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. Súng thì không bắn được tới sáu phát và phần lớn đạn không cùng một cỡ [53]. Mỗi khẩu đội gồm sáu người [54]...
Voi có nhiều ở Cao Nguyên Trung Phần, Tây Sơn cũng như Nguyễn Huệ ở gần đất có voi, nên việc lập tượng binh rất dễ dàng. Các triều đại trước kia cũng phần lớn lấy voi ở miền đất giáp Chiêm Thành để làm voi trận. “Hiến Tông, (Lê) năm Cảnh Thống thứ hai (1499), ra lệnh cho quân dân ở Quảng Nam, [55] ai bắt được voi công thì báo cho ba ty khám thực, cứ bắt được một con thì được kể 20 người công đầu và 20 người công phụ mà thưởng cho theo thứ bậc” [56]. Xem thế, việc việc bắt voi làm voi trận vào thời Lê này còn khó khăn lắm. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía nam, gồm các vùng Cao nguyên, nên việc kiếm voi rất dễ dàng. Vì thế, Chúa Nguyễn lúc nào cũng có sẵn hàng trăm voi trận như giáo sĩ Delacourt có nói ít nhất là 400 voi trận (Ar-M. E, Coch 740, tlđd). Lực lượng tượng binh của Nguyễn Huệ không rõ cả thảy được bao nhiêu, nhưng cũng phải tới hàng trăm thớt voi trận. Sách Liệt Truyện chép: “Bình đắc thắng được hơn mười vạn, voi trận mấy trăm thớt”. Vua Quang Trung duyệt binh ở trên doanh. Vua Quang Trung thân cỡi voi ra doanh trại ủy lạo quân sĩ rồi hạ lệnh tiến phát [57].
Dùng voi trận rất lợi nhưng cũng rất hại. Vì nếu không khéo, chính voi ấy lại giết quân mình dễ dàng, làm quân mình thua trận mau hơn. Như trận tập kích Bích Kê, quân Tây Sơn la hét, gây tiếng động làm voi quân chúa Nguyễn có tới hơn 40 con sợ hãi, chạy tán loạn, đạp lên quân sĩ chúa Nguyễn chết nhiều hơn là bị quân Tây Sơn giết. [58]
Thời đó người ta thấy hầu như Nguyễn Huệ chỉ sử dụng voi trận ở chiến trường miền Trung và Bắc, còn miền Nam thì không. Sử sách không thấy nói tới việc mang voi vào đánh Gia Định. Có lẽ vì những lần mang quân vào đánh Gia Định, Huệ đều đi bằng đường biển, không tiện mang voi theo, một phần vì voi trận chỉ thích hợp chiến trường miền nhiều rừng núi, chứ không hợp với miền nhiều đồng lầy như ở Miền Nam.
Nguyễn Huệ ít khi dùng ngựa mà luôn luôn cỡi voi, lúc đưa đám ma vua Lê Hiển Tông cũng cỡi voi, lúc duyệt binh đến khi ra trận cũng vậy.
Vì thích dùng voi nên Nguyễn Huệ đã tạo ra tượng binh rất lợi hại. Sách Cương mục chép về Nguyễn Huệ dùng voi đánh quân Thanh: “Hồi trống canh năm sớm hôm sau, Văn Huệ xăn tay áo đứng dậy, đốc thúc bản bộ lùa quân rầm rộ tiến lên. Chính Văn Huệ tự mình đốc chiến, cho hơn trăm voi khỏe đi trước. Tờ mờ sáng, quân Thanh lùa toán quân kỵ tinh nhuệ ồ ạt tiến. Chợt thấy bầy voi, ngựa quân Thanh đều sợ hãi, hí lên, tế chạy, lồng lộn quay về, chà đạp lẫn nhau. Giặc lại lùa voi xông đến, quân Thanh, trong cơn gấp rút không cứu nhau được, ai nấy rút vào trong đồn lũy để cố thủ. Bên mặt đồn lũy quân Thanh đều cắm chông sắt, súng và tên bắn ra như mưa. Giặc dùng các bó rơm to lớn để che đỡ mà lăn xả vào rồi quân tinh nhuệ tiến theo sau. Kẻ trước ngã, người sau nối, thảy đều trổ sức liều chết chiến đấu. Các lũy quân Thanh đồng thời tan vỡ và quân Thanh đều chạy. Giặc được đến đồn Đông nam, thừa thắng, ập lại giết chết quân Thanh bị chết bị thương quá đến nữa”. [59]
Voi trận của Nguyễn Huệ thật là một lực lượng xung kích rất lợi hại, chẳng khác nào như lực lượng “xe tăng thiết giáp” thời nay, khiến cho quân Nguyễn Huệ thêm dũng mãnh.
Nguyễn Huệ rất giỏi về lối dụng binh thần tốc. Binh pháp xưa cũng dạy kẻ làm tướng phải lấy yếu tố nhanh làm quý. Tôn Tử nói: “... Việc binh nên rằng thà vụng mà chóng chứ không nên khéo mà lâu. Việc binh kéo dài mà nước lợi, chưa từng có vậy”.
Trước hết, Nguyễn Huệ có lối chuyển quân rất nhanh chóng. Trong bức thư của Giáo sĩ Labartette đề ngày 23-7-1788, không rõ gửi cho ai, có kể Nguyễn Huệ chuyển quân từ xứ Nam về Phú Xuân chỉ mất mười ngày trong khi bình thường phải mất tới 20 ngày [60]. Trong một bức thư của Giáo sĩ Le Breton, đề ngày 2-8-1788, gửi từ xứ Nghệ đã viết: “Như thế Nguyễn Huệ đã trở về Phú Xuân vào đầu tháng 7. Ông đã bắt quân phải về gấp rút đến nỗi có nhiều binh sĩ chết vì mệt mỏi và nắng nực. Ngay cả voi ngựa cũng chết”. [61]
Lúc ra Thăng Long bắt giết Vũ văn Nhậm, từ Phú Xuân, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ đã tự đốc thúc bộ, kỵ binh ngày đêm gấp đường trẩy đi. Chừng hơn mười ngày đến Thăng Long [62].
Trong Nhật ký của Giáo Hội Truyền Giáo Bắc Hà [63] gửi và cho Hội Truyền Giáo Trung Ương có thuật lại sức tiến quân vũ bão của Quang Trung như sau: “Ông (Nguyễn Huệ) tiến như vũ bão ra Bắc và chỉ mất có một ngày, không quản đường xa khó nhọc đã giết chết nhiều ngựa voi của ông, trong khi người khác phải mất ba hay bốn ngày”.
Với khoảng đường dài hơn 600 cây số, thời gian di chuyển quân chỉ mất mười ngày; đường sá lại bị núi sông cách trở, việc di chuyển cả một đoàn quân lớn như vậy thật là phi thường. Sức ngựa voi còn không chịu nổi phải chết dọc đường huống hồ sức người. Về kỹ thuật di hành cho bộ binh, Nguyễn Huệ đã áp dụng nguyên tắc “tập thể di chuyển liên tục ngày đêm, cá nhân luân phiên nghỉ dưỡng sức”.
Nguyễn Huệ cho quân cứ ba người thành một tốp, luân phiên võng lẫn cho nhau, suốt dọc đường, anh nào cổng phải võng người và được người võng. Như thế hết lược anh này phải đi, lại đến lượt anh khác được nghỉ. Nghỉ đi, đi nghỉ, cứ võng lẫn mãi cho ra đến mục đích. Vì thế, vừa trẩy được nhanh, vừa khỏi kiệt quân lực. Quân lính, đi trước, vài trăm voi trận đi sau [64].
Việc chuyển quân nhanh khiến địch quân không ngờ và trở tay không kịp khi bị tấn công.
Theo như nhận xét của một cung nữ vua Lê, sự xuất hiện của Nguyễn Huệ như thần xuất quỷ nhập [65]. Chính bởi chiến thuật của Nguyễn Huệ luôn khai thác yếu tố bất ngờ. Từ việc khai thác sự sơ ý của Tống Phúc Hiệp ở Phú Yên, sự không đề phòng và mệt mỏi của quân Phạm Ngô Cầu ở Phú Xuân đến sự lợi dụng ngày tết Nguyên Đán, quân Thanh đang mải mê ăn tết, Nguyễn Huệ đều xuất kỳ bất ý đánh địch không kịp trở tay. Ngay đến việc ra Bắc bắt Vũ văn Nhậm, Nguyễn Huệ cũng lợi dụng sự xuất kỳ bất ý, đến Thăng Long còn đêm vào lúc canh tư, đến nơi Nhậm còn đang ngủ, bắt giết Nhậm [66]. Trước đó, Nguyễn Huệ đã bỏ Chỉnh ở lại Bắc Hà, sau khi đã diệt họ Trịnh cũng thật đột ngột, bất ngờ xuống thuyền về Nam lúc nào Chỉnh cũng không hay.
Trong cuộc tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ đã áp dụng chiến thuật bôn tập. Xuất phát từ nơi xa cách mục tiêu khoảng hai trăm cây số, Nguyễn Huệ đã cho quân tiến rất nhanh. Trong những trang nhật ký của Giáo Hội Truyền Giáo Bắc Hà [67] có thuật rõ: “Quân Tây Sơn tới xứ Nam vào ngày 24-1 tức ngày 29 Tết [68]. Tới ngày 28-1-1789 tức ngày mùng 3 Tết, quân của Nguyễn Huệ đã tới Hà Hồi, chỉ cách Thăng Long một ngày rưỡi đường. Ngay sau đó quân của Nguyễn Huệ tấn công liền mấy tiền đồn của Trung Hoa. Quân Trung Hoa bị đánh bất ngờ và không kịp điều động binh lính đi cứu viện vì họ không đề phòng trước”.
Tài liệu còn nói rõ: “Vào ngày 29-1-1789 tức ngày mùng 4 Tết, quân Trung Hoa đã phản công lại, chống cự kịch liệt, gây thiệt hại nhiều cho binh sĩ Tây Sơn và khá nhiều voi trận. Nguyễn Huệ đã phải lo ngại. Nhưng Nguyễn Huệ đã đốc thúc, chính nhà vua dẫn đầu, miệng hô xung phong, lúc cỡi voi đến cỡi ngựa, dùng hai thanh gươm, chạy ngang dọc, chém giết nhiều quân Trung Hoa. Sáng ngày 30-1-1789, quân Trung Hoa bị dồn đánh cả bốn mặt, phải chạy về Thăng Long. Lập tức Nguyễn Huệ cho đuổi theo chúng bén gót, phá được một cửa thành Thăng Long và làm chủ tình hình vào cùng ngày, sau khi rong ruổi đánh đuổi quân địch, chạy dài hàng chục cây số. Thật là một cuộc rượt đuổi đầy hào hứng với sức tiến công như nước vỡ bờ. Tối ngày 30-1, rạng ngày 31-1, Điền Châu thái thú phải tự vẫn cùng khoảng 1.000 người binh lính bị thảm sát...”
Vào Thăng Long, Quang Trung liền gấp rút tổ chức ngay cuộc bố phòng đề phòng cuộc phản công của Trung Hoa, bằng cách cho xây trong 3 ngày 3 đêm liền một thành lũy xây bằng đất quanh điện vua Lê, dày 20 “piê” (tấc xưa bay bộ) cao 12 “piê” (mỗi piê dài: 0,m324). Chính giáo sĩ La Mothe phải thốt lên rằng “Thật là hiếm những người đáng sợ và quỷ quyệt như ông ta”.
Xem như vậy, sở trường của Nguyễn Huệ là hành động thật mau lẹ và bất ngờ, khó ai sánh kịp. Chính yếu tố này giúp Nguyễn Huệ có lối hành binh vũ bão.

Nguyễn Huệ với “Chiến tranh cách mạng”
Nạn đói khổ là nguyên nhân thúc đẩy cao trào cách mạng Tây Sơn.

Nguyên nhân nổi dậy có nhiều, nhưng người ta phải chú ý đến tình trạng cùng cực của dân hai miền Bắc Hà, Nam Hà.
Trước ngày Nguyễn Huệ chiếm Phú Xuân, nạn đói đã hoành hành thường xuyên, tại các tỉnh Bắc Hà và các tỉnh Nam Hà Thượng.
Tại vùng Định Cát, Quảng Trị, Giáo sĩ Labartette đã viết: “Nạn đói càng ngày càng gia tăng ở đây. Những nhu yếu phẩm cho đời sống đều quá giá... Từ một năm nay tất cả mọi người chết vì đói khổ và chúng tôi không còn có sự cứu giúp nào ngoài triều đình hay từ Bắc Hà, lại nữa làm chúng tôi phải trả một giá rất đắc. Ngoài đường, trong nhà đâu cũng đầy dẫy những xác chết và không còn ai nghĩ đến việc chôn cất”. [69]
Giáo sĩ Labartette [70] cũng cho biết:
“Ở đây có ít nhất một nửa dân vương quốc đã chết bởi chiến tranh chưa chấm dứt cũng bằng do nạn đói đang hoành hành đến cực độ. Người ta đã bán thịt người lâu rồi ở ngoài chợ. Tôi nhớ rằng ở năm đầu tiên, tôi đã hân hạnh lưu ý với ông như một sự kiện lạ lùng về cái đong gạo mà người ta gọi là ‘cái lương’ [71] được bán đến 10 quan trong khi trước kia người ta bán 4 hay 5 tiền. Tuy nhiên, ở năm nay, người ta mua tới 70 quan. Điều đó có vẻ như hơi khó tin. Tuy vậy, đó là hoàn toàn sự thực”.
Trong khoảng từ năm 1774 đến năm 1786 tức năm Nguyễn Huệ tiến đánh Phú Xuân và Bắc Hà, diệt họ Trịnh, không năm nào, các giáo sĩ không nói đến nạn đói kinh khủng đang hoành hành tại các tỉnh miền châu thổ sông Hồng.
Thư của Đức Giám mục Reydellet gởi cho các vị Giám đốc Chủng viện (Directeurs du Séminaừe) đề năm 1774 viết [72]:
“Sự khốn khổ trở nên trầm trọng ở khắp xứ, đầu tiên vụ hạn năm vừa qua làm mất cả cấy lúa, không có cá, không có gặt hái. Tiếp đến là những trận mưa dữ dội, nước lan tràn khắp đồng bằng, những nhà tranh vách đất và bằng tre nứa đe dọa làm sạt nghiệp người ta và những gia súc thì leo lên trên nơi cao, trên những loại róng bắt sàn. Chẳng bao lâu người cùng gia súc đều thiếu ăn, người ta không biết xê dịch gì hơn bằng tàu thuyền. Nạn lụt đầu tiên này đã kéo dài một tháng vừa mới bắt đầu sút giảm thì lại vụ lụt thứ hai xảy đến, đáng kể hơn, kinh khủng hơn, vụ lụt này kéo dài ba tháng...”
Theo giáo sĩ Le Breton trong vụ đói tháng 8, 9, 10 năm 1778, có làng chết đến quá nửa [73].
Tới cuối tháng 8 năm 1779, đê vỡ đã gây lụt lội nhiều vùng trong ba tỉnh trung châu Bắc Việt [74].
Trong một nhật ký [75] đề ngày 5-1785 đến 6-1786 cho biết: vào cuối năm 1785, có lụt lạ thường, lại hạn hán kéo dài, sâu bọ đã tàn phá nhiều nơi ngay cả gốc cây lúa mới cấy. Các nhu yếu phẩm tối cần thiết mỗi ngày một tăng giá. Cướp của đốt nhà hoành hành trên bộ cũng như ngoài biển, chính quyền không dám động tới chính những lý do trên đã gây ra nạn đói dữ tợn kéo dài gần ba tháng.
Dân chúng một khi chịu đói khổ triền miên như vậy, làm gì chẳng dễ nổi loạn.
Với tình trạng dễ gây bất mãn ấy, ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy quân đội Tây Sơn có nhiều dân Bắc Hà theo sau khi Nguyễn Huệ mới diệt được họ Trịnh. Trong một cơ đội của Vũ văn Nhậm ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh cứ có một người lính gốc Nam Hà, trung bình lại có khoảng 30 hay 100 lính Bắc Hà [76]. Mặc dù theo các giáo sĩ nói rằng việc đi lính này có tính cách bắt buộc. Nhưng nếu xét đến tinh thần chiến đấu quân Tây Sơn lúc nào cũng dũng mãnh, ta phải công nhận có sự đồng tình, hưởng ứng của những người lính gốc Bắc Hà với Tây Sơn hay với Nguyễn Huệ.
Hồi phong trào Tây Sơn mới phát khởi, bản chất cách mạng thấy hiện rõ ở các hoạt động của quân đội Tây Sơn, mà dĩ nhiên Nguyễn Huệ là một trong những người đã đóng góp và thừa hưởng truyền thống cách mạng ấy. Quân Tây Sơn chia thành toán, mỗi toán chừng 300 đến 600 người. Mỗi toán lại có cờ đào (étandard de soie rouge), biểu hiệu cho cách mạng. Họ ngang nhiên xuống chợ ban ngày. Họ không gây thiệt hại đến ai, đến tính mạng, tài sản của ai. Trái lại họ muốn có bình đẳng cho nhân dân Nam Hà. Rồi họ vào các nhà giàu, nếu người ta biết tặng cho họ món gì, họ không gây sự thiệt hại. Nhưng nếu gặp sự chống đối, họ sẽ chiếm những vật quý giá để đem phân phát cho dân nghèo. Họ tuyên bố họ chiến đấu là vâng theo mệnh Trời... [77]
Một đoàn quân có những hành động táo bạo và theo một lý tưởng như vậy rõ ràng là một quân đội vì đại nghĩa, chống cường quyền, chống bất công. Chính là một quân đội cách mạng mà Nguyễn Huệ cùng anh em Tây Sơn người biết khai thác và lãnh đạo lực lượng cách mạng ấy.

Nguyễn Huệ với cuộc cách mạng về thủy quân.
Cuộc tương tranh giữa Trịnh Nguyễn kéo dài 45 năm (1627-72) với bảy lần đánh nhau bất phân thắng bại, đành phải giữ thế phân chia hai miền Nam Bắc kéo dài gần hai thế kỷ.
Hai bên đã không có bên nào thắng vì đã áp dụng chiến thuật, chiến lược cổ điển.
Cuộc cách mạng chiến lược chiến thuật của quân Tây Sơn cũng như của Nguyễn Huệ đã làm đảo lộn thế phân chia ấy. Cách mạng quân sự quan trọng nhất chính là sự sử dụng “Thủy quân chiến lược”.
Không phải quân Nguyễn hay Trịnh đã không có thủy quân. Theo Alexandre de Rhodes, lực lượng thủy quân chúa Nguyễn có khoảng 200 chiến thuyền (galère), lực lượng thủy quân chúa Trịnh gấp ba lần [78].
Nhưng thủy quân của họ không giữ vai trò tối quan trọng như thủy quân Tây Sơn.
Trong các cuộc đánh chiếm Gia Định, Phú Xuân cũng như Bắc Hà để diệt hai họ Nguyễn, Trịnh, Nguyễn Huệ luôn tiến đại quân bằng đường Thủy. Chính vì thế người ta không lấy làm lạ tại sao Nguyễn Huệ cũng mở “chiến dịch gió mùa”. Trong bốn lần đánh Gia Định, thì ba lần đầu Nguyễn Huệ tiến đánh vào mùa xuân, và lần cuối cùng vào mùa đông nghĩa là cũng vào mùa gió Đông bắc, thuận gió cho thủy quân. Và khi đánh Phú Xuân và Bắc Hà, Nguyễn Huệ tiến quân vào mùa hạ thuận gió Tây nam. Duy chiến dịch đánh quân Thanh, đại quân Nguyễn Huệ tiến bằng đường bộ, một phần chính vì lực lượng tương đối khá đông, không thể di chuyển bằng thủy quân, một phần vì ngược gió Đông bắc vì đây là mùa đông.
Nguyễn Huệ cũng như Tây Sơn chắc đã thấy rõ vai trò quyết định của Thủy quân đối với một chiến trường có bờ biển khá dài như bờ biển Việt Nam. Vào thời bấy giờ, đường thủy là phương tiện di chuyển và chuyên chở được nhiều nhất và mau lẹ nhất, rất thích hợp với lối đánh nhanh, đánh mạnh và bất ngờ. Dùng đường thủy lại có thể đánh tập kích sâu vào hậu tuyến địch một cách dễ dàng.
Nếu xưa kia, quân Trịnh dùng đường thủy là cốt yếu tiến đánh thắt vào thành Phú Xuân và hậu tuyến của đối phương thì quân Nguyễn thật khó lòng chống đỡ, và chiếm lũy Trờng Dục tất sẽ thành vô dụng mặc dù lực lượng phòng thủ tại Phú Xuân cũng khá hùng hậu, luôn túc trực từ 12 đến 15 ngàn quân và gần 300 chiến thuyền và hơn 400 voi trận [79].
Nguyễn Huệ đã gây dựng được thủy quân rất hùng mạnh. Gần mười năm sau khi Nguyễn Huệ mất, và dù thủy quân này đã bị tiêu hao đi nhiều [80] nhưng Chaigneau kẻ đã tham dự trận đại thắng [81], tiêu diệt hoàn toàn thủy quân Tây Sơn đã nhận định như sau:
“Trước khi thấy được thủy quân địch, tôi đã coi thường lực lượng này nhưng nay tôi đoan chắc với ông rằng đó là lầm lạc, quân Tây Sơn đã có những chiến hạm trang bị 50 và 60 đại bác”.
Barizy cũng thuật cho Letondal về lực lượng của hạm đội Tây Sơn do Vũ văn Dũng chỉ huy. Người ta thấy lực lượng này gồm có 673 chiến hạm đủ cỡ lớn nhỏ. Trong số đó, có những chiến hạm hạng nặng trang bị súng đại bác và có đoàn thủy thủ nhiều hơn cả những chiến hạm lớn nhất kiểu Tây phương mà quân Nguyễn có [82].
Lực lượng hạm đội Tây Sơn có tới 9 chiến hạm lớn (vaisseaux) trang bị 60 khẩu đại bác nặng 24 cân Anh (livres) [83] với thủy thủ đoàn 700 người, 5 chiến hạm lớn (vaisseaux) trang bị 50 đại bác 24 cân Anh nhưng số thủy thủ đoàn chỉ có 600 người và cũng loại chiến hạm lớn này còn có 40 chiếc trang bị 16 đại bác nặng 12 cân Anh và chỉ có 200 thủy thủ.
Về loạt chiến thuyền trung bình (galères) hạm đội của Vũ văn Dũng có tới 93 chiếc, mỗi chiếc chỉ trang bị một khẩu đại bác 36 cân Anh và 150 thủy thủ. Còn những chiến thuyền không có mang đại bác, hạm đội này cũng còn có 300 thuyền (chaloupes canonnières) và số 50 thủy thủ, 100 chiếc “lugger cochinchines” với 70 thủy thủ.
Ngoài ra Tây Sơn có rất nhiều những thuyền vận tải. Nguyên trận đánh Quy Nhơn kết thúc 16 tháng Giêng âm lịch, năm Cảnh Hưng 61, Tây Sơn đã mất tới 1.800 thuyền buồm [83].
Về kỹ thuật đóng tàu, người ta không rõ Nguyễn Huệ có dùng kỹ thuật đóng tàu Tây phương hay không? Người ta chỉ biết rằng Nguyễn Huệ từng bắt các thủy thủ trên tàu Tây phương sung vào đội ngũ để đi đánh trận, giáo sĩ Labartette có thuật với Descouvières trong bức thư ngày 1-8-1786: “Tây Sơn đã bắt giữ chiếc tàu từ Macao tới lấy tất cả những gì ở dưới tàu. Họ đã phá chiếc tàu để bắc cầu. Họ bắt viên thuyền trưởng theo người ta nói rất hiền lành cùng ba sĩ quan trên chiếc tàu. Họ đã giết tức thì những người này và các thủy thủ được đem phân tán trên các chiến thuyền của Bạo Chúa để đi đánh nhau” [84].
Trong bức thư đề năm 1787 (không rõ ngày), giáo sĩ Longer viết cho Blandin rõ hơn:
“Tôi quên nói với ông rằng quân (TS) đã dìm chết một người thuyền trưởng Bồ Đào Nha và anh (em) ông này sau khi đã trói ‘gô’ những người này đâu lưng vào với nhau. Họ cũng giết hai người khác trong thủy thủ đoàn, cùng đốt tàu đang đậu ở bến và buộc các thủy thủ còn lại sung vào lính của họ” [85].
Trong khi ấy, Nguyễn Ánh ở Gia Định đã dùng tàu Tây phương trang bị cho thủy quân của ông và đồng thời chính Nguyễn Ánh đã cho đóng tàu theo kiểu Tây phương. Nguyễn Ánh đã mua một chiếc tàu Tây phương cũ rồi đem tháo ra từng mảnh để thí nghiệm ráp lại giống như kiểu cũ và đẹp hơn trước. Sau thành công đó Nguyễn Ánh đã cho đóng thêm chiếc khác. Những chiếc hạm này trang bị từ 26 đến 36 đại bác và khoảng hơn 300 thủy thủ cho mỗi chiếc [86].
Nguyễn Ánh đã chú tâm rất nhiều đến việc phát triển thủy quân. Vì hơn ai hết, ông là người đã hiểu rõ vai trò chiến lược của thủy quân qua kinh nghiệm thất bại liên miên đối với quân Tây Sơn. Lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh sau trở thành rất hùng hậu [87], đã giúp ông mở những chiến dịch gió mùa mà trước đây quân Tây Sơn đã từng làm và cuối cùng ông đã tiêu diệt được nhà Tây Sơn.
Người ta cũng biết thêm Nguyễn Huệ không những có những chính sách cải cách táo bạo mà ông thật là người có tính thần “khai phóng”. Chính Nguyễn Huệ đã từng gửi sứ giả sang Ma Cao để thương lượng người Tây phương đến buôn bán [88] và Nguyễn Huệ đã dành nhiều dễ dãi cho các giáo sĩ Tây phương. Do đấy người ta có thể tin rằng Nguyễn Huệ không thể nào không để ý đến kỹ thuật đóng tàu của Tây phương, vốn đã nhiều tiến bộ vào thời bây giờ. Dù sao với lực lượng thủy quân hùng hậu đáng sợ như trên, kỹ thuật đóng cũng như sự thiết lập thủy quân Tây Sơn quả là một cuộc cách mạng quân sự lớn lao vào thời đó.
Trong lực lượng thủy quân của Nguyễn Huệ có những loại chiến thuyền nào?
Trong Thực Lục, người ta thấy có nhắc tới các loại thuyền chiến lớn (đại hiệu), thuyền đi biển, thuyền sai [89].
Còn các giáo sĩ đã phân chia các loại: vaisseaux, galères - Chaloupes canonnières, Lugger Cochinchines.
Phải chăng vào thời Nguyễn Huệ mới có loại chiến thuyền khổng lồ (vaisseau) trang bị tới 60 khẩu đại bác, chở tới 700 thủy thủ?
Những chiến thuyền (galère) của chúa Nguyễn vào cuối thế kỷ 17 theo Vachet có chiều dài, chiều cao như chiến thuyền Tây phương thời bây giờ nhưng không được rộng bằng. Nhưng cách kiến trúc có khác. Mỗi chiến thuyền có chừng 60 mái chèo mỗi bên 30 mái. Mỗi chiến thuyền trang bị hơn ba khẩu đại bác ở mũi chiến tàu và hai khẩu nhỏ hơn ở hai bên cạnh. [90]
Theo Tập du ký của P. Poivre cho biết ông đã thấy các chiến thuyền của Chúa Nguyễn trong những xưởng đóng tàu dọc theo sông Hương, Chúa Nguyễn có khoảng 400 chiến thuyền đủ cỡ, và chiến thuyền lớn nhất có chiều dài từ 90 đến 100 bộ (pieds) và 7 hay 8 bộ về chiều cao.
Ông còn kể thêm những chiến thuyền chỉ cao trên mực nước khoảng 2 bộ rưỡi, số người chèo thuyền có thể có từ 40 đến 60 người - Và về phía trước chiến thuyền có buồng nhỏ (cabinet) có chiều cao hay bề rộng chừng 7-8 bộ, có 4 cửa (thuộc loại cửa lùa). Loại tàu này chạy rất tốt và chịu đựng với gió, và có trọng tải từ 100 đến 150 tấn [91].
Những loại chiến thuyền có trước thời Tây Sơn không bao lâu, đã được các giáo sĩ tả lại rất rõ. Thời Tây Sơn, sự trang bị súng ống cũng như sức chuyên chở lớn lao của các chiến thuyền Tây Sơn đã làm ngạc nhiên các giáo sĩ. Điều này chứng minh kỹ thuật đóng chiến thuyền thời Tây Sơn có sự cải tiến lớn lao, nếu không nói là phi thường.
Như thế, vai trò quan trọng về chiến lược của thủy quân cùng sự trang bị ghê gớm của thủy quân thời Nguyễn Huệ đã tạo ra một cuộc cách mạng về thủy quân nước ta vậy.

Nguyễn Huệ với chiến tranh tâm lý
Nguyễn Huệ cũng như quân Tây Sơn rất chú trọng đến mặt trận “chiến tranh tâm lý”, luôn quan tâm đến việc tuyên truyền để nâng cao thanh thế.
Tây Sơn đã tung ra hàng ngàn chuyện, bịa đặt những điềm mộng, điềm trời để chứng minh sứ mạng của họ [92].
Đến khi Nguyễn Huệ ra đánh họ Trịnh, quân của Huệ đã viết lên cờ bốn chữ: “DIỆT TRỊNH PHÙ LÊ”.
Nguyễn Huệ cũng đã áp dụng những đòn tâm lý lâm trận như để binh sĩ la hét làm mất tinh thần địch. Trong trận Bích Kê, quân Tây Sơn đã la hét ầm vang đến nỗi hơn 40 voi trận quân Nguyễn nghe cũng phải sợ bỏ chạy, đạp lên quân lính Nguyễn, khiến quân Tây Sơn đại thắng.
Đến khi đánh quân Thanh ở Hà Nội, nửa đêm mùng ba tháng Giêng, quân Nguyễn Huệ bí mật vây kín Hà Nội, đừng ống loa truyền lịnh, quân sĩ dạ lên nghe như gần mấy muôn binh. Trong đồn run sợ, không đánh mà tự vỡ tan [93]. Chính Nguyễn Huệ khi ra trận luôn luôn hô xung phong [94]. Đó chính là những kỹ thuật khai thác về Tâm lý để giữ vững và làm tăng tinh thần quân sĩ và làm nhụt tính thần địch quân.
Trước khi hành động, Nguyễn Huệ luôn sửa soạn tinh thần bằng những hình thức tác động tinh thần quân dân. Như hồi ở Nghệ An kén lính mới, trước khi kéo quân ra Bắc phá quân Thanh, Nguyễn Huệ đã tự ra trước dinh, truyền lịnh quân
sĩ hết thảy ngồi xuống rồi đứng nói để khích động lòng ái quốc của quân sĩ:
“Người Tàu không phải nòi giống nước ta, bụng họ ắt là khác hẳn. Từ đời nhà Hán đến nay họ đã mấy phen chiếm cướp đất cát, giết hại nhân dân, vơ vét của cải của ta. Người nước ta không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Trong đời Hán có Trưng Nữ Vương, trong đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, trong đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, trong đời Minh có đức Thái Tổ Hoàng đế nhà Lê, các ngài không nỡ ngồi mà nhìn chúng làm tàn bạo phải theo lòng người mà dấy quân nghĩa, chỉ đánh một trận, liền thắng được chúng về Tầu” [93].
Trước khi Nguyễn Huệ định cử đại binh vào đánh Nguyễn Ánh, Nguyễn Huệ đã gửi tờ hịch [94] cho quân dân hai trấn Quảng Ngãi và Quy Nhơn, là dân đã đóng góp việc tạo dựng nhà Tây Sơn đang bị giao động mạnh vì những cuộc tấn công mới của Nguyễn Ánh. Những lời lẽ khích động quần chúng vừa khơi đầy lòng tự ái dân hai trấn vừa tỏ chí cương quyết của nhà vua thật có tác dụng tác động tinh thần mạnh mẽ.
Nội dung bài chiếu [95] lên ngôi của Nguyễn Huệ cũng thật có giá trị sâu sắc về phương diện chiến tranh tâm lý. Để làm yên lòng dân về vấn đề chính thống, bài chiếu đã trình bày trước hết về cái lẽ thay ngôi đổi họ từ Đinh, Lê, Lý, Trần mà vận kỳ suy phế, hưng thịnh, dài ngắn thật đã do trời ban cho. Bài chiếu cũng lược qua về tình trạng nhà Lê mất quyền bính, họ Trịnh và Nguyễn tương tranh, nhân dân rơi vào vòng đồ thán rồi đến công việc gây dựng lại cơ đồ nhà Lê mà vua Lê Chiêu Thống không biết giữ nước.
Để lấy lòng dân, bài chiếu đã công bố những biện pháp rất khoan dung như tha thuế hoàn toàn, xá tội nhân, tôn trọng tục lệ địa phương, khoan hồng dễ dãi cho quan quân nhà Lê.
* * * * *
Những chiến tích vẻ vang cũng như tài tổ chức quân sự, lối hành binh độc đáo và sự cách mạng về chiến thuật chiến lược đã chứng tỏ thiên tài quân sự hay tài dùng binh của Nguyễn Huệ, khiến Nguyễn Huệ trở thành một con người đáng sợ cho mọi đối thủ của ông, dù nội thù hay ngoại thù và đã được sự khâm phục của mọi người. Sự nghiệp của Nguyễn Huệ có thể còn tiến xa hơn nữa, phi thường hơn nữa, nhưng người anh hùng này đã “đoản mệnh”. Cái chết của Nguyễn Huệ đã ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đối với tình hình Việt Nam lúc bấy giờ. Giáo sĩ Lelabousse nhận định rằng: “Tin Nguyễn Huệ chết này đối với Nguyễn Ánh có giá trị hơn chiến thắng mà Nguyễn Ánh vừa mới gặt hái được bởi người em thứ này là một đối thủ mạnh, mưu lược và rất đáng sợ. Ông đã chết vào đầu tháng 9-1792, trong khi ông đang sửa soạn một binh đội”. [96] Thực ra, tình hình đã có lợi cho Nguyễn Ánh ngay hồi Nguyễn Huệ còn sống vì có sự hiềm khích giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc. Theo các giáo sĩ thì chính Nguyễn Huệ đã gây ra sự hiềm khích này. Trong bức thư của Doussain gửi cho Bladin ngày 6-6-1787 viết Nguyễn Huệ tự xưng Đức Chúa với tất cả dân chúng. Nhạc biết tin này khiến ông ta bất bình, đã đe dọa em ông, Nguyễn Huệ đã cất một đạo quân 60 ngàn người và đến đánh Nhạc ở Quy Phủ. Hai anh em đã đánh nhau hai lần mà người ta nói Đức Chúa mất đi một nửa lực lượng”. [97]
Nguyễn Huệ như thế không phải là không có sở đoản vậy.
Tập San Sử Địa số 13, 14,15 - Năm 1969
----------------
(Một vài tài liệu văn khố chưa thấy ai trích đăng, tôi xin chua thêm nguyên văn).
[1] Các giáo sĩ không mấy thiện cảm với Tây Sơn không phải vì Tây Sơn gây khó khăn cho họ, trái lại là đằng khác. Nhưng vì các giáo sĩ thường hay có khuynh hướng thân với chính quyền chính thức, khi Tây Sơn còn chưa nắm quyền cai trị. Đến khi Tây Sơn đã nắm quyền thực sự thì họ lại về phe với Giám mục Bá Đa Lộc, người đã ra mặt giúp Nguyễn Ánh. Nên họ luôn kêu Tây Sơn là phiến loạn (rebelles), bon cướp (brigands), bọn trộm (voleurs), còn Nguyễn Nhạc, Quang Trung, Quang Toản kêu là bạo chúa (Tyran) hay tiếm vương (Usurpateur).
[2] Trong bức thư đề tháng 6-1789, gởi cho Blandin, giáo sĩ Le Roy ví Nguyễn Huệ như một Alexandre (Tonkin 692, tr.112). Trong nhật ký tường trình của Hội Truyền Giáo ở Bắc Kỳ gửi về cho Hội Truyền Giáo Trung Ương Ba Lô gọi Nguyễn Huệ là “Tân Attila” (một Attila mới) (Archives Nationales F 5; A 22, tr. 217)
[3] Archives des Missions Etrangères de Paris, Cochinchine vol. 80J, tr. 176.
(Nguyên văn: “Je ne sais quand l’expédition des Français aura lieu. Mais je crains que nos français méprisant ces gens-ci et n’ayant pas la juste idée de la manière dont ils font la guerre, ne soient pas assez munis de force et n’en deviennent peut-être les victimes).
[4] Trường An: phủ Trường An thuộc trấn Sơn Nam, nay thuộc tỉnh Ninh Bình.
[5] HLNTC, sđd, tr. 252.
[6] ĐNLTCB, sđd, tờ 17 b.
[7] Lỗ Giang: khúc sông Hồng Hà thuộc huyện Nam Xang (Xương) phủ Lý Nhân, Sơn Nam Thương Lộ (trấn) (Hà Nam hiện nay).
[8] Núi Tam Tằng: ở huyện Yên Dũng, Bắc Ninh.(nay là Bắc Giang)
[9] [10] HLNTC, sđd, tr. 245.
[11] HLNTC, sđd, tr.248.
[12] [13] Cương mục, sđd, tr. 61-62
[14] HLNTC, tr. 64.
[15] ĐNCBLT, sđd, tờ 24 b.
[16] [17] ĐNCBLT, sđd, tờ 27 b.t 28 b
[18] [19] HLNTC, sđd, tr. 256.
[20] ĐNCBLT, sđd, tờ 37a - Trong bài biểu này. Có đoạn viết:
“... Ôi đường đường là triều đình thiên tử lại đi so hơn thua với nước bé thì ắt là muốn chinh chiến mãi không thôi để cùng khốn binh sĩ, lạm dụng vũ lực hầu sướng khoái cái lòng tham tàn bạo thì thật lòng Đại hoàng đế không nhẫn? Vạn nhất can qua mãi không dứt, tình thế đến nỗi nào thật không do thần muốn cũng không dám biết đến...” (37a). Rõ ràng là giọng văn đầy khiêu khích, không khéo về ngoại giao.
[21] ĐNCBLTy sđd, tờ 17 b.
[22] ĐNCBLT, sđd, tờ 34b.
[23] Archives Nationales de Paris, F 5; A 22, tr. 267 - Đặng Phương Nghi dịch, Sử Địa số 9-10, tr. 224.
[24] Archives des Missions Etrangères, Coch, vol. 801, tr. 177. (Nguyên văn: “Ils (Tây Sơn) mettent quelquefois sur pied 200, 300,000 hommes, la plupart forcée à la vérité niais tous déterminés à la mort. Qui regarde en arrière dans le combat a aussitôt la tête tranchée...”)
[25] ĐNCBLT, sđd, tờ 24 a.
[26] BEFEO, 1912, t. XII No 7, p. 8.
[27] Archives des Missions Etrangères, Tonkin vol. 692, p. 369. Thư của Girard viết từ Macao gửi cho Boiret đề ngày 25-1-1792 - Đặng Phương Nghi có trích dịch đăng trong Sử Địa số 14-15 này.
[28] Archives des Missions Etrangères, Coch, vol. 746, tr. 361.
[29] [30] [31] HLNTC, sđd, tr. 87.
[32] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Phu Tử, sđd, tr. 140.
[33] Manifeste de Quang Trung. Roy de la Cour de Cochinchine et du Tonquin à tous les mandarins, soldats et peuples des provinces de Quảng Ngãi et de Quy Nhơn - Archives des Missions Etrangères de Paris, Coch. vol. 746 p. 457 - Đặng Phương Nghi dịch và đăng trong Sử Địa số 14-15 này.
[34] ĐNLTCB, sđd, tr. 57.
[35] ĐNLTCB, sđd, tr. 40, 41.
[36] ĐNLTCB, sđd, tr. 46-49.
[37] Theo chính sử triều Nguyễn ghi 20 vạn quân Thanh. Theo tài liệu các giáo sĩ nói con số ấy lớn hơn: Bản nhựt ký của Giáo hội Truyền giáo Bắc Hà gửi cho Giáo hội Truyền giáo Trung ương Ba Lê ghi: 300.000 quân cả thủy lẫn bộ. - (Sử Địa 9 và 10, tr. 213).
[38] Trong bức thư của giáo sĩ Le Labousse, từ Sài gòn gửi cho Letondal đề ngày 15 tháng 6 năm 1789, viết: “... Nhà vua ở đây (Nguyễn Ánh) đã bắt gặp một bức thư viết nhân danh Hoàng đế Trung Hoa gửi cho vua nước Xiêm La yêu cầu đến đánh quân Tây Sơn ở mặt phía Nam Hà này. Thật nhục biết bao cho vị Đại đế phải cầu cứu tới một ông vua nước Xiêm bé nhỏ để tới đánh một kẻ cướp”. (Le Roy d’ici a intercepté une lettre écrite au nom de l’Empereur des Chinois au Roy de Siam pour lui dire de venir attaquer les Tay Son de côté-ci par la Cochinchine. Que de honte pour le Grand Empereur d’être obligé de demander du secours à un petit roy de Siam pour combattre un voleur). - Archives M.E, Coch.. 801, p. 256.
[39] Về ngày giờ Quang Trung mất, ông Hoàng Xuân Hãn có viết trong báo “Dư Luận, Hanoi, 1946, số 28, tr. 5” (sau này trích đăng vào phụ lục cuốn La Sơn Phu Tử). Ông Hoàng Xuân Hãn đã dẫn chứng rất tường tận để bác ngày chết là ngày 29 tháng 9 Nhâm Tý (13-12-1792) mà chính quyền Việt Nam hồi đó đã tổ chức kỷ niệm trọng thể vào ngày ấy. Theo ông, vua Quang Trung mất vào ngày 29 tháng 7 Nhâm Tý, nhưng ngày dương lịch lại là ngày 16-9-1972 thay vì ngày 15-9, vì ông cho vua Quang Trung chết vào giờ dạ tý (khoảng 11 giờ - 12 giờ khuya) bởi căn cứ vào Dã Sử nhật ký rất đáng tin cậy là chép vào tháng 8 âm lịch (giờ tý có thể tính thuộc ngày 29 tháng 7 hoặc ngày 1 tháng 8 âm lịch, vì tháng 7 ngày thiếu). Nay tôi thấy trong bức thư đề ngày 4-9-1801. Giám mục Longer gửi cho ông Boiret và Descour- vières có viết rõ ngày tháng chết của Quang Trung như sau: “... Ông đâu phải không biết rằng bạo chúa Quang Trung, cha Cảnh Thịnh mất vào ngày 15 tháng 9-1792, đã sử dụng binh đội của anh ông là bạo chúa Thái Đức để đánh lại ông này và lấy lại hầu hết tất cả những nơi ông này chiếm cứ, chỉ còn để lại ba hay bốn trấn, trừ Quy Nhơn ra, đều ít quan trọng, mà rồi Thái Đức lại phải nhường lại tất cả những phần còn lại cho cháu ông là Cảnh Thịnh, đã đòi hỏi như thế trước khi gửi binh đội đến giải vây cho thành Quy Phủ (Quy Nhơn) khi đó (1793), đang bị chúa Nguyễn vây”.
(Nguyên văn: Vous n’ignorez pas que le Tyran Quang Trung père de Cảnh Thịnh, mort le 15 Sept. 1792, s’était servi des ưoupes de son frère, le Tyran Thái Đức pour le combattre et lui enlever presque tout ce qu’il avait occupé, ne lui laissant que 3 à 4 provinces peu considérables, à l’exception de Quy Nhơn et encore, il fallait que Thái Đức cédait ce qui lui restait à son neveu Cảnh Thịnh qui exigeait cette condition avant d’eiivoyer des troupes faire lever le siège de la forteresse de Quy Phủ assiégée alors (en 1793) par Chúa Nguyễn - Archives M.E, Tonkin vol. 639, p. 512)
Trong một bức thư khác ông Longer từ Macao gửi cho Blandin đề ngày 10-2-1793 có viết: “Ông La Mothe cũng báo cho tôi biết rằng cái chết của Tiếm vương Quang Trung được giữ bí mật gần hai tháng trời (Archives M.E Tonkin 692, tr. 415 - Đặng Phương Nghi có trích dịch trong số này). Điều này khiến ta không thấy làm lạ tại sao Liệt Truyện cùng như Đại Thanh Thực Lục chép ngày chết chậm mất hai tháng: ngày 29 tháng 9 âm lịch.
Vậy ngày chết Quang Trung là ngày 29 tháng 7 Nhâm Tý tức 15-9-1792.
[40] Cương mục, sđd, tr. 61
[41] Thư Le Roy viết cho Bladin hồi tháng 6-1789 (Đặng Phương Nghi có trích dịch trong Sử Địa số 14-15 này): “(Nguyên văn: Son armée (quân Quang Trung) avait plus l’air d’un détachement d’hôpital que de guerriers. N’importe! Les pauvres soldats ont massacré les chinois au commencement de l’année”) (Archives M.E. Tonkin vol. 692, p. 112)
[42] [43] Lịch triều..., q. XXXIX - sđd, tr. 16-17
[44] Archives M.E. Coch. 746, p. 178.- Thư của Longer gửi cho Bladin ngày 3-5-1787 (Nguyên văn: (tr. 199). “Notre petit collège a été obligé de se disperser car on oblige tout le monde d’aller à la guerre depuis 15 ans et au-dessus. Les vieilards, les femmes veuves et les filles sont mêmes obligés de réparer les ponts et les grands chemins...”)
[45] Archives M.E. Coch. 746, p. 178. Thư của La Bartette gửi cho Blandin ngày 25-6-1786. (Nguyên văn: “Ils ont déjà détruit ici toutes nos plus (tr. 178) belles églises, ils détruisent toutes les pagodes et obligent tous les bonzes à porter les armes et aller à la guerre”).
[46] Archives M.E. Coch, 745, p. 227. Thư cda Doussaint gửi cho Bladin, ngày 16-6-1788. (Nguyên văn: “Il est très difficile de voyager; quiconque n’a point de ‘thẻ’ est pris et emprisonné, chaque village est obligé de faire 2 ou 3 maisons pour recevoir les marques des passants. Par ce moyen, ils ont enlevé tout peuple ‘tận suất”...”)
[47] Voi trận phải huấn luyện rất công phu. Phải tập voi chiến đấu, phải cho voi quen đi không sợ lửa, không sợ tiếng súng lớn. Phải dùng tới hai quản tượng. Khi voi gần địch quân, một trong những người điều khiển voi, lấy que (dài chừng 2 sải (brasse), to khoảng 10-12 phân) chọc vào vòi khiến voi dùng vòi quật ngã tất cả những gì gặp phải khi đi qua, Những người cỡi trên voi đều mặc một loại áo giáp bắn không thủng.
[48] HLNTC, sđd, tr. 236.
[49] [50] Lịch triều... sđd, tr. 25.
[50] Lịch triều... sđd, tr. 25.
[51] Súng chim hay súng điểu thương được sử dụng vào thời kỳ này. Trong thời kỳ đánh nhau với Nguyễn Huệ, Thực lục ghi: “Vua ra trận giỏi dùng súng chim. Mỗi khi đánh nhau với giặc, hễ bắn là trúng...” (Thực lục, sdd. tr. 40). “Năm Tân Hợi (1791) vào tháng 2, Nguyễn Ánh gửi mua ở Bồ Đào Nha một vạn cây súng chim, 2.000 cỗ súng gang, mỗi cỗ nặng 100 cân, 2.000 viên đạn nổ, đường kính 10 tất” (Thục lục, sđd, tr. 137)
[52] Hoàng Xuân Hãn Việt Thanh Chiến sử, Sử Địa số 9 và 10, tr. 6
[53] Archives Nationales, C2, fol. 173/2
[54] Archives Nationales, C1, fol. 40
[55] Quảng Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, là đất từ Hải Vân trở vào gồm có đất Quảng Nam, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên bây giờ.
[56] Lịch triều..., q. XXXIX - sđd, tr. 25
[57] ĐNCBLT, sđđ, tờ 32b.
[58] Giáo sĩ Diego de Jumilla kể trong bức thư gửi cho giáo sĩ Jean Salguero về trận Tập kích của quân Chúa Nguyễn đóng trên sườn núi, trùng hợp với trân Bích Kê (một hiểm địa ở huyện Phù Mỹ, Bình Định) mà Liệt Truyện nói tới (sđd, tờ 3b) - B.S, E.I, tập XV, số 1-2,1940, tr. 78.
[59] Cương mục, sđd, tr. 62.
[60] Archives des M.E, Coch, voi. 804, tr. 180 - Cf. Sử Địa số 9 và 10 tr. 234.
[61] Archives des M.E Coch, vol. 801, tr. 185-187: (“Il s’en est donc retourné au Phú Xuân au commencement du Juillet. Il a tellement forcé sa marche que beaucoup de ses soldats sont morts de fatigue et de chaleurs. Il est même péri des chevaux et des éléphants”). Bức thư này nói về sự trở về Phú Xuân gấp của Nguyễn Huệ sau khi Nguyễn Huệ ra bắc trừ Vũ văn Nhậm và nghe tin quân Nguyễn Ánh đe dọa tấn công Phú Xuân.
[62] HLNTC, sđd, tr. 206.
[63] Sử Địa Số 9 và 10, tr. 222.
[64] Hoa Bằng, Quang Trung Anh Hùng Dân Tộc, Bốn Phương, Sài gòn, 1951, p. 181. Cf. Lê Triều dã sử, quyển dưới.
[65] HLNTC, sđd, tr. 252.
[66] ĐNCBLT; sđd, tờ 28b
[67] Sử Địa 9 và 10, tr. 223 - 225.
[68] Ngày xuất binh từ Thanh Hóa như thế không phải là đêm trừ tịch như sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí chép.
[69] Archives. M.E. Coch. 800. Thư Labartette gửi Steiner đề ngày 21-7-1775, p. 1473. (“La famine augmente ici de jour en jour. Les choses nécessaires à la vie sont hors de prix... Depuis un an, tout le monde y meurt de faim et de misère et nous n’avons d’autre secours que ceux qui nous viennent de la cour ou du Tonkin, encore nous les fait-on payer bien cher. Tous les chemins et toutes les maisons sont remplis de cadavres et nul qui pense à les enterrer”).
[70] Archives M. E. Coch. vol. 800, thư Labartette gởi cho Steiner ngày 1-8-1777, pp. 1543-46. Nguyên văn: “Ici pour le moins la 1/2 du royaume a péri tant par la guerre qui n’est point encore terminée que par famine qui a été extrême. On a pendant longtemps vendu de la chair humaine dans les marchés. Je me rappelle que dans ma 1ère année j’eus l’honneur de vous remarquer comme une chose étonnante que la petite mesure de riz qu’on appelle ‘Cái lương’ se vendait à 10 quan, tandis qu’on l’achetait autrefois pour 4 ou 5 tiền. Néanmoins cette année-cy on addhère cette même mesure pour 70 quau. Cela paraitra un peu difficile à croire. Cependant c’esl la pure vérité”.
[71] Đơn vị đong thóc gạo.
[72] Archives M.E. Tonkin vol. 700. p. 1774. Thư không thấy để ngày. (Nguyên văn: “La misère est devenu grande dans tout le pays, d’abord la sécheresse fit manquer l’année dernière la plantation des riz, point le poisson, point de récolte. Ensuite sont venues des pluies extraordinaires, les eaux se sont répandues dans tout le plat pays, les maisons contruites en paille, en terre et en bamboux menaçaient ruiner, des hommes et des animaux domestiques se sont perchés dans le haut des maisons sur des espèces d’échafauds. Bientôt les uns et les autres ont manqué de vivre, on ne voyageait plus qu’en baieau. Cette première inondation qui a duré un mois commençait à peine à diminuer lorsqu’il en est survenu une seconde, tout plus considérable et plus terrible que la première, elle a duré trois mois...”)
[73] Archives M. E., Tonkin vol. 700. Thư Breton gửi cho Steiner ngày 19-6-1779, p. 950: (“C’est à dire dans le mois d’Aout, Septembre et Octobre, un nombre presqu’infini de misérables ont péri par la famine. Il y a des villages où il est mort plus de la moitié des habitants”).
[74] Archives M. E. Tonkin vol. 700. - Thư Sérard gửi cho Davoust ngày 13-5-1780. p. 1016.
[75] Archives M. E. Tonkin 691. Journal de Tonkin - Mai 1785 à Juin 1786,- p. 660-2: (“Sur la fin de l’année 1785, inondation extraordinaire, très longue sécheresse, ébullition prodigieuse de vers qui ont dévoré en beaucoup d’endroits jusqu’à la racine des riz nouvellement plantés. Alors le prix de cette denrée absolument nécéssaire à la vie, n’a fait qu’augmenter de jour en jour. Des armées de brigands incendiaires se sont répandus de tous côtés et sur terre, pillant, brulant, assassinant impunément les pauvres habitants dans leurs propres maisons et cela sans que le gouvernement osait leur résister. Enfin ces différentes causes a produit une cruelle famine qui a duré près de trois mois”)
[76] Sử Địa số 9-10 tr. 197.
[77] B.S.E.I. txv No 1-2,1940, p. 74.
[78] Henry Albi, Trad en français. Histoire du royaume du Tunquin et des grandes progrès que la prédication de l’Évangile y a fait à la conversion des infidèles, Lyon, J. B.. Devenet, 1661, Ch. VI (nguyên tác của Alexandre de Rhodes).
[79] Archives. M.E. Coch. vol. 743 - Mémoire touchant la Cochinchine - p. 298-99: “Le Roi entretenait toujours aux environs de son palais 12 à 15 mille hommes pour sa sûreté et son service et près de 300 galères fort propres. Elles servaient en temps de guerre pour le transport des soldats et en temps de paix le Roi s’en servait pour voyage. Outre cela, le Roi nourrissait plus de 400 éléphants”.
[80] Hoặc do gặp bão đánh chìm mất nhiều như vào năm Quý Sửu (1793), Thực lục đã chép (tr. 165) hoặc do Nguyễn Ánh tiêu diệt như năm 1793 trong trận đánh gần Quy Nhơn (Thực lục tr.175) nhất vào năm 1797 tại Quy Nhơn, theo giám mục Bá Đa Lộc viết trong thư gửi cho Boiret ngày 30-5-1798 (Coch. 746, p. 703) cho biết Tây Sơn thiệt tới hơn 100 vừa chiến hạm lớn (vaisseaux) vừa chiến thuyền cỡ trung bình (galère) và ghe sai.
[81] Archives M.E. vol. 801. Thư của J.B. Chaigneau gửi cho Barizy ngày 2-3-1801, p. 857: (“Auparavant d’avoir vu la marine ennemie je la méprisais mais je t’assure que c’était à tort, ils avaient des vaisseaux qui avaient 50 et 60 gros canons”)
[82] B.E.F.E.O. 1912, XII, No 7. Thư của Barizy gửi Marquini và Letondal ngày 16-7-1801, p. 48 nói về lực lượng hạm đời Tây Sơn. Thư của Le Labousse gửi “Directeurs de Séminaires de Paris” ngày 24-4-1800, p. 48 nói về lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh chỉ có một số chiến hạm được đóng theo kiểu Tây phương trang bị không tới 50 khẩu đại bác. Loại chiến hạm vào bậc lớn nhất được đóng ở Âu châu như chiếc Long Phi do Chaigneau chỉ huy cũng chỉ trang bị 32 khẩu đại bác, chiếc Bằng Phi do Forcans 26 khẩu, Phượng Phi do Vannier 26 khẩu, thủy thủ đoàn chỉ chừng gần 300 người mà thôi.
[83] Cân anh (livres): 1 live là 489 gr.
[84] Archives M.E. C. 801. Thư Barizi gửi Letonda] ngày 11-4-1801 p. 872. (“Ils ont perdu au moins 50.000 hommes, toute leur marine qui était formidable, toutes leurs transports au nombre de 1.800 voiles, 6000 pièces de canon de toute grandeur”...)
[85] Archives. M.E. C 746, p. 181-183.
(“Ils (Tay Son) ont pris le vaisseau (petit vaisseau de Ma Cao) avec tout ce qu’il y avait dedans. Ils onl démoli tout le vaisseau pour en faire de ponts. Ils ont pris le Capitaine qui était dit-on, un honnête homme avec 3 officiers du vaisseau. Ils les ont tués tout de suite et tous les matelots ont été distribués sur différents galères du Tyran pour aller faire la guerre).
[86] Archives M.E. Cochinchioe. 746. Thơ Longer gửi Blandin ngày 3-5-1787, p. 189-199. (J’oubliais de vous dire que les rebelles (T.S) ont noyé un Capitaine portugais et son frère après les avoir garrottés dos à dos. Ils ont aussi tué 2 autres de l’équipage, brûlé le vaisseau qui était à la rade et forcé le reste de l’équipage d’entrer dans leur milice).
[87] Archives M.E. Coch. vol. 746. Thư Le Labousse gửi cho các Đồng sự ở Đồng Nai viết:
“Il a réusi à faire avec les Cochinchinois seuls, les vaisseaux à l’Européenne. Il a commencé par défaire pièce par pièce un vieux qu’il avait acheté. Il a refait sur le mểine plan et avec tant d’adresse qu’il est plus beau qu’auparavant. Ce 1er succès l’encourage à en entreprendre un neuf. Depuis, il en a construit 2 autres. Ils ont une belle grandeur et portent les uns 26 canons, les autres 36. Ils onl chacun plus de 300 hommes d’épuipage”.
[88] Archives M.E. Cochinchine vol. 746. Thư Le Labousse gửi (không rõ tên) p. 392-393: (“Sa marine (của Nguyễn Ánh) est la plus formidable qu’ait aucune puissance de rinde: plus des 4 vaisseaux Européens, plus de 40 vaisseaux à la mode du pays dont 5 portent chacun 46 canons de 18 (livres), les autres 20, 26... 100 grands galères et au moins 200 plus petites mais excellentes pour se battre en rivières”).
[89] Archives M.E. Tonkin vol. 692. Thư Girard gửi cho Boiret ngày 25-11-1792. tr. 369.
[90] Đ.N.T.LC.B, sđd, p. 158-159. Thuyền sai: thuyền dễ sai phái, thuyền nhẹ.
[91] Archives M.E. Coch. vol. 729. Mémoires pour servir à l’histoire ecclésiastique de la Mission de Cochinchine (1672-1686). Du Royaume de Cochinchine. (“Elle a assez de proportion aux nôtres pour la grandeur et pour le hauteur niais elle n’est pas si large. Sa structure est néanmoins différente. C’est Uü vaisseau qui par dedans est vernissé d’un rouge éclatant et par dehors d’un noir qui brille aux yeux. Il y a trente rames de chaque côté qui sont peintes et dorées et qui sont attachées à un boucle de fer en sorte que le soldat peut les quitter dans un instant sans crainte pour se servir des armes qu’il a auprès lui: mousquet, 1 lame, 1 coutelas, 1 arc et 1 carquoi gamy de flèches... Il y a de plus 3 canons à la proue et deux autres petits aux deux côtés”).
[92] Archives Nationales de Paris, C.2.- P. Poivre “Journal d’un voyage à la Cochinchine depuis le 29-8-1749 au 12-2-1759” fol. 72, 73
[93] Archives M.E. Coch. 746 - Thư của Grillet, không rõ tên người nhận, p. 405-406.
[94] Archives M.E. Tonkin Vol.703. - Thư của Le Roy gởi Giám mục Véren ngày 6-10-1786 (“Les ennemis avaient écrit sur leurs étendards ‘DIỆT TRỊNH PHÙ LÊ’
Ils (Tay Son) allaient au marché, défendaient le peuple des voleurs, tranchant la tête sur le champ et sans forme de procès à ce qu’on leur livrait comme voleurs. Pour gagner encore le coeur du peuple, ils tranchaient quelquefois la tête à leurs propres soldats pour de petites injustices que quelqu’un d’eux commettaient dans les marchés”)
[95] ĐNCBCT, sđd, tờ 34a
[96] Sử Địa số 9 và 10, tr. 224 (Archives Nationales de Paris, F.5; A.22)
[97] Hoàng Lê, sdd. tr. 254-255.
[98] “Manifeste de Quang Trung” đã đăng tải ở Nouvelles Lettres Edifiantes des Missions de la Chine et des Indes Orientales, Paris. A Lechere 1818 pp. 223-228 và trong “Relation sur le Tonkin et la Cochinchine” (1807) Paris, Champion 1920 - và dịch đăng ở Sử Địa số 13, tr. 175.
[99] Quang Trung hoàng đế tức vị chiếu, Nam Phong tạp chí số 111, phụ trương phần Hán văn 1926, dịch đăng ở Sử Địa số 13. trang 127.
[100] Archives M.E. Coch. 716. Thư Lelabousse đề năm 1793 không rõ ngày tháng và người nhận, tr. 451: “Cette nouvelle (la mort du fameux Long Nhương, le cadet des rebelles) valait mieux pour lui (Nguyễn Ánh) que la victoire qu’il venait de remporter parce ce que ce frère cadet était l’ennemi fort, rusé et bien à craindre. Il est mort au commencement de Septembre 1792, pendant qu’il prépare une armée...”
[101] Archives M.E. Coch. 746, p. 203: “Il se fait se reconnaitre pour Đức Chúa pour tout le peuple. Nhạc sachant cette nouvelle qui ne lui a pas plu, a fait la menace à son frère qui a levé une armée de 60 mille hommes et est allé battre Nhạc à Quy Phủ. Ils se sont déjà battus 2 fois, où on dit que Đức Chúa a délà perdu la moitié des siens”.
0
Đại pháo trên lưng voi: Chiến thắng Ngọc Hồi (1789)
Trần Gia Phụng

I.- Nhà Lê cầu viện
Khi Võ văn Nhậm chưa vào Thăng Long, tháng 12 năm Đinh Mùi (qua năm 1788), Nguyễn Hữu Chỉnh phò vua Lê Chiêu Thống trốn đi Kinh Bắc (Bắc Ninh). Tại đây, gia đình Chiêu Thống tách làm hai: em của vua là Lê Duy Chỉ cùng Lê Quýnh đưa Thái hậu (mẹ vua, họ Nguyễn, không biết tên) cùng Hoàng tử trưởng của nhà vua, trốn lên Cao Bằng, còn nhà vua đi Yên Thế (Bắc Giang), đóng quân ở Mục Sơn.
Tướng Tây Sơn là Nguyễn văn Hòa đuổi kịp, giết tại trận Nguyễn Hữu Du con Nguyễn Hữu Chỉnh, và bắt được Nguyễn Hữu Chỉnh đem về Thăng Long xử giảo (phanh thây). Đầu năm Mậu Thân (1788), Lê Chiêu Thống trốn đi huyện Gia Định (nay thuộc Bắc Giang), rồi Chí Linh (Hải Dương), Thủy Đường (thuộc Hải Phòng ngày nay), Vị Hoàng (Nam Định), vào Thanh Hoa (Thanh Hóa), rồi ra Kinh Bắc trở lại, đóng ở phủ Lạng Giang. Nói chung là Lê Chiêu Thống trốn lẩn lút trong dân chúng, quanh quẩn vùng đồng bằng sông Hồng và vùng trung du gần đó. Điều này chứng tỏ dân chúng Bắc Hà lúc đó vẫn còn có nhiều người trung thành với họ Lê.
Rải rác vài nơi có các cuộc nổi dậy của các cựu tướng hoặc các hoàng thân nhà Lê, nhưng đều bị lực lượng Tây Sơn dẹp yên. Tháng 7 năm Mậu Thân (1788), từ Cao Bằng, bà thái hậu (mẹ vua Chiêu Thống) đem theo con của nhà vua, vượt ải Thủy Khẩu (Thủy Khẩu quan: Chouei Keou Kouan) qua Long Châu (Long-Tcheou) cầu cứu với nhà Thanh.
Viên Tri châu (Long Châu, Trung Hoa) là Trần Tốt trình lên thượng cấp của y là Tôn Vĩnh Thanh, Tuần phủ Quảng Tây, và Tôn Sĩ Nghị, Tổng đốc Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây). Tiếp đó, bà Thái hậu cùng với cháu nội đến Nam Ninh, trực tiếp gặp hai người này xin cứu viện.
Sau cuộc hội kiến, Tôn Sĩ Nghị tâu với Thanh Cao Tông (trị vì 1736-1795), tức vua Càn Long (Ch’ien-lung), xin đem quân lấy cớ khôi phục nhà Lê, rồi nhân đó chiếm luôn nước Nam. Càn Long đồng ý, giao cho Tôn Sĩ Nghị toàn quyền hành động.

II.- Quân Thanh xâm nhập
Được vua Thanh chấp thuận mở cuộc viễn chinh, Tôn Sĩ Nghị liền truyền hịch vào nước ta, tuyên bố lý do cuộc động binh, bày tỏ lẽ thuận nghịch và kêu gọi những ai chống đối hãy sớm quay về “đường chính”. Đồng thời họ Tôn cử các cựu quan nhà Lê là Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống bí mật về nước liên lạc trước với Lê Chiêu Thống. Nhà Thanh quyết định điều động quân lính bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, và Quý Châu để thực hiện cuộc viễn chinh này.
Nhóm Lê Quýnh về Kinh Bắc báo cho vua Chiêu Thống biết diễn tiến tình hình cầu viện. Chiêu Thống cử Lê Duy Đản cùng Trần Danh Án lên biên giới đón quân Thanh. Lê Duy Đản đến gặp Tôn Sĩ Nghị và tình bày nội tình triều đình nhà Lê.
Theo sách Cương mục, quân Thanh vào nước ta bằng ba đường: thứ nhất từ Quảng Tây xuống Nam Quan do Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh lãnh đạo, thứ nhì từ Điền Châu qua Cao Bằng do Sầm Nghi Đống chỉ huy, và thứ ba từ Vân Nam, Quý Châu qua Tuyên Quang do họ Ô (tức Đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh) dẫn đầu. [1] Tuy nói là ba đường nhưng cánh quân của Sầm Nghi Đống chỉ là một phần của cánh quân Tôn Sĩ Nghị, nên chỉ có hai đường như Hoàng Lê nhất thống chí viết. [2]
Theo bài “Càn Long chinh vũ An Nam ký” trong sách Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên (Trung Hoa) đề tựa năm 1842, thì quân Trung Hoa vào Đại Việt bằng ba hướng: thứ nhất là từ Quảng Tây qua ải Nam Quan, thứ nhì là từ Khâm Châu (Quảng Đông) đi đường biển xuống Hải Đông (Hải Dương), và thứ ba là đường từ Mông Tự (Vân Nam) qua Tuyên Quang [3]. Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần thêm là theo sắc thư của vua Càn Long nhà Thanh gởi cho Tôn Sĩ Nghị mà viên tướng này đã bỏ lại khi trốn chạy thì vua Thanh khuyên Tôn Sĩ Nghị nên tiến quân có kế hoạch từ từ “Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông) đi đường bể sang đánh mặt Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau bị địch thế tất phải chịu”. [4]. Điều này chứng tỏ, nhà Thanh còn dự tính gởi thủy quân đánh bọc hậu từ Thuận Hóa đánh lên.
Trong các hướng tiến quân trên đây, có thể cánh quân do Sầm Nghi Đống đến Đại Việt sớm nhất vì theo tài liệu trong Thánh vũ ký, trước khi ra quân, Tôn Sĩ Nghị muốn đưa em của vua Chiêu Thống là Lê Duy Chỉ lên làm vua thế anh, nhưng vua Thanh không chịu. Vua Thanh ra lệnh cho Sầm Nghi Đống đưa Lê Duy Chỉ theo đoàn quân về nước, để hiệu triệu dân chúng Việt. [5]
Cũng theo tài liệu của Thánh vũ ký, khi được tin quân Thanh động binh, Tây Sơn đã làm kế hoãn binh bằng cách xin triều cống và đem tờ biểu của thần dân nói rằng không biết Lê Duy Kỳ (Lê Chiêu Thống) ở đâu, nên lập Lê Duy Cận coi việc nước và xin rước bà Thái hậu về nước. Vua Càn Long ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị từ chối. [5]
Vào cuối tháng 10 năm Mậu Thân (1788), quân Tôn Sĩ Nghị vượt ải Nam Quan, xuống Lạng Sơn. Tại đây, Tôn Sĩ Nghị giao cho Tổng binh Thượng Duy Thanh, phó tướng Khánh Thành cầm quân Quảng Tây, Tổng binh Trương Triều Long, Lý Hóa Long cầm quân Quảng Đông.
Trấn thủ Lạng Sơn là Phan Khải Đức đầu hàng quân Thanh. Tướng Nguyễn văn Điểm rút về Kinh Bắc (gồm cả Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay). Lúc đó, tướng Ngô văn Sở có trong tay khoảng 3.000 quân do Bắc Bình vương Nguyễn Huệ để lại trước khi rút về Nam [6]. Ngô Thời Nhậm đề nghị lui binh để bảo toàn lực lượng, cấp báo cho Bắc Bình vương ở Phú Xuân và sẽ kiếm cách phản công sau. Nội hầu Phan văn Lân đem quân chận bước tiến của người Thanh.
Lực lượng hai bên đụng độ ở Kinh Bắc từ ngày 13 đến ngày 17 tháng 11 năm Mậu Thân (1788). Phan văn Lân thất bại phải rút lui dần dần. Ngày 19, quân Thanh đến sông Phú Lương (tức khúc sông Hồng ở Thăng Long), và hôm sau, 20 tháng 11, họ vượt sông, chiếm Thăng Long. Như thế, từ Nam Quan đến Thăng Long, dầu ít bị trở ngại, quân Thanh di chuyển khoảng 20 ngày.
Trong thời gian Nội hầu Phan văn Lân cầm cự, cản trở và làm chậm bước tiến của quân Thanh, Ngô văn Sở và Ngô Thời Nhiệm rút lui toàn bộ lực lượng thủy bộ được an toàn về núi Tam Điệp (tức đèo Ba Dội) ở Ninh Bình, đóng quân dài ra tận bờ biển. [7]

III.- Nhà Thanh phong Vương Lê Chiêu Thống
Nguyên trước khi xuất quân, triều đình nhà Thanh tin tưởng quân viễn chinh của họ sẽ chiến thắng lực lượng Tây Sơn, đã cho đúc sẵn ấn và làm sẵn sách phong Lê Chiêu Thống để đỡ tốn thời giờ liên lạc, và cho phép Tôn Sĩ Nghị toàn quyền hành động. Ngay khi Tôn Sĩ Nghị vừa đến Thăng Long ngày 20 tháng 11, Lê Chiêu Thống đến gặp gỡ và cảm ơn, thì Tôn Sĩ Nghị quyết định chọn ngày 22 tháng 11 làm lễ sách phong. Chiêu Thống xin hoãn, để chờ khi lấy lại Thanh Hoa, ông được bái yết lăng tẩm tổ tiên nhà Lê, rồi sẽ nhận sách phong. Tôn Sĩ Nghị không chịu, và lễ phong vương diễn ra tại điện Kính Thiên đúng ngày họ Tôn đã định. Trong bài sách phong viết sẵn của vua Càn Long, có câu: “Đối với sự mở bờ cõi gồm mười một đạo, vốn không phải vì ta có lợi tâm muốn chiếm lấy đất đai; suốt từ một trăm năm mươi năm lại đây, (nhà Lê) lúc nào cũng giữ chức phận, làm lễ tuế cống, thì sao lại không nghĩ đến tổ tông của tự tôn được”. [8]
Dựa vào thế lực quân Thanh, Lê Chiêu Thống bắt đầu đền ơn trả oán, gây nhiều chia rẽ nội bộ. Những viên quan có công phò tá đều được nâng chức. Những người theo nhà Tây Sơn đều bị biếm loại. Những viên quan làm hại hoàng gia bị giết đã đành, những phụ nữ đã kết hôn với các viên chức Tây Sơn mà đang có mang cũng bị giết. Nhà vua còn ra lệnh chặt chân ba vị hoàng thúc (chú vua) nhà Lê theo Tây Sơn. Việc làm này bị bà Thái hậu, người đã đích thân đi cầu viện nhà Thanh, phản đối quyết liệt. Bà than rằng: “Thôi diệt vong đến nơi rồi!” [8]
Quan Hiến sát phó sứ ở Kinh Bắc là Ngô Tưởng Đào, vì có công giúp Lê Chiêu Thống, nên được bổ dụng. Ông không nhận chức, và đề nghị rằng nhà vua không nên dựa vào quân Thanh, mà nên gấp rút tổ chức lực lượng riêng tiến đánh Ngô văn Sở, trước khi Nguyễn Huệ từ Phú Xuân mang quân ra bắc [8]. Lê Chiêu Thống nói lại ý kiến này với Tôn Sĩ Nghị, nhưng họ Tôn bác đi, tin tưởng rằng trước sau cũng sẽ dẹp được quân Tây Sơn.
Được tin thắng trận, Thanh Càn Long phong cho Tôn Sĩ Nghị tước “Nhất Đẳng Mưu Dũng Công”! Hứa Thế Hanh tước “Nhất Đẳng Tử”, các tướng sĩ đều được thưởng kẻ ít người nhiều. Lúc bấy giờ, kiều dân Trung Hoa sinh sống ở những vùng do Lê Chiêu Thống kiểm soát, lợi dụng tình hình, “kiếm mọi cách vu hãm những người lương thiện, áp bức cướp bóc những nhà giàu có, thậm chí giữa chợ giữa đường cũng cướp giật của cải, hãm hiếp đàn bà, không còn kiêng sợ gì cả. Nhân dân quanh kinh kỳ luôn luôn bị khổ sở vì bọn họ”. [9]

IV.- Vua Quang Trung
Tại Phú Xuân, Bắc Bình vương Nguyễn Huệ được tin quân Thanh xâm lấn bờ cõi do Đô đốc Nguyễn văn Tuyết từ Thăng Long hỏa tốc vào báo tin.[10] Nguyễn Huệ liền nhân cơ hội này, quyết định lên ngôi Hoàng đế.
Quyết định này được chọn đúng theo thiên thời, điạ lợi và nhân hòa. Về thiên thời, đất Nguyễn Huệ cai trị từ đèo Hải Vân ra bắc là đất của vua Lê từ sau cuộc Nam chinh của Hoàng Ngũ Phúc năm 1774. Lúc đó nhà Lê đang còn. Nếu Nguyễn Huệ tự ý lên ngôi, sẽ có người cho rằng ông soán nghịch. Nay vua Lê cầu viện người ngoại quốc, làm mất tính chính thống của vua Lê, và làm dân chúng rất bất bình, nên Nguyễn Huệ lên ngôi vua để đánh đuổi ngoại bang là chính danh. Hành động này rất khôn khéo, không khác gì Lê Hoàn quyết định lên làm vua năm 980 (Canh Thìn), thay thế nhà Đinh (968-980) để kháng Tống. Về điạ lợi, Nguyễn Huệ lên làm vua vùng đất do công lao của ông chinh phục được, chứ không giành giật của ai. Chính Nguyễn Huệ là người cầm đầu chiến dịch Thuận Hóa năm 1786, rồi đánh thẳng ra Bắc luôn. Về nhân hòa, Nguyễn Huệ cũng hành động giống Lê Hoàn năm 980: khi chống giặc ngoài, nếu không có vua thì lấy ai mà thưởng công cho các tướng lãnh sau khi thành công. [11] Cho nên các quan và các tướng lãnh Tây Sơn đồng thanh hưởng ứng việc Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế trước khi ra trận.
Lễ đăng quang được tổ chức ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22-12-1788), tại núi Bàn (Bàn Sơn), gần An Cựu (Huế), một ngọn đồi thấp, bên cạnh và thấp hơn núi Ngự Bình. Nguyễn Huệ chọn niên hiệu là Quang Trung thay niên hiệu Thái Đức của Nguyễn Nhạc. Cùng ngày đó, vua Quang Trung cho tổ chức một cuộc duyệt binh lớn để kiểm điểm binh mã, rồi lên đường Bắc tiến lần nữa.

V.- Chiến cuộc
1.- Tương quan lực lựợng:
Về phía quân Thanh:
Sách Hoàng Lê nhất thống chí, hồi thứ 13, tóm tắt đại lược hịch của Tôn Sĩ Nghị, có viết rằng họ Tốn: “điều động năm mươi vạn quân thẳng tới La thành (Thăng Long)...” [12] Năm mươi vạn nghĩa là 500.000 quân. Con số này lớn quá do người Thanh tuyên truyền kể thêm, nên nhiều sách khác sau Hoàng Lê nhất thống chí viết rằng lực lượng quân Thanh xâm lăng Đại Việt lên khoảng 20 vạn quân tức 200.000 quân. [13] Trong khi đó, trong Thành vũ ký của Trung Hoa, Ngụy Nguyên ghi nhận Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh đem một vạn quân (10.000) Lưỡng Quảng. Khi qua khỏi Nam Quan, ông để lại Lạng Sơn 2.000 còn đem 8.000 đi thẳng xuống Thăng Long, và Đề đốc Vân Nam là Ô Đại Kinh đem 8.000 qua đường Tuyên Quang. [14]
Cả hai số liệu này về hai phía Việt cũng như Trung Hoa đều cần phải cẩn án lại. Trước hết, phải chú ý là lực lượng Ô Đại Kinh chưa tham chiến. [15] Lực lượng hải quân của Trung Hoa dự tính đi theo đường biển từ Quảng Đông xuống Hải Dương, có lẽ để vận lương, cũng không thấy nói đến. Vậy chỉ có cánh quân của Tôn Sĩ Nghị và Sầm Nghi Đống.
Có các điểm cần nêu ra trước: 1)- Tâm lý thông thường, do tinh thần yêu nước, sử liệu Trung Hoa thường hạ số liệu quân đội viễn chinh xuống, để khi chiến thắng thì chiến thắng có giá trị, vì đem ít người mà vẫn thắng trận, còn khi thất bại thì thất bại không đáng kể, vì đem ít quân nên mới thất bại. Về phía sử liệu Việt Nam thì thường thổi phồng số liệu của địch quân để làm tăng giá trị chiến thắng của quân Việt. 2)- Theo kinh nghiệm năm 1945, khi tràn vào Việt Nam sau quyết định trong tối hậu thư Potsdam, [16] mỗi người lính Trung Hoa mang theo cả gia đình, vợ con đôi khi lên đến bảy hay tám người. Tính trung bình một gia đình hai vợ chồng và ba người con thì một lính Hoa qua nước ta phải có thêm bốn người đi theo (một vợ và ba con). 3)- Theo kinh nghiệm trong các chiến trận, kể cả trận đánh năm 1979 ở biên giới Việt Hoa, một người lính Trung Hoa đi đánh trận, có khoảng hai đến ba người đi theo làm hậu cận, mang vác thực phẩm, khí tài... Trong “Tám điều quân luật” trước khi xuất chinh của quân Thanh năm 1788, Tôn Sĩ Nghị đã thông báo như sau trong điều thứ 8: “Lần này hành quân xa xôi qua biên ải, triều đình thương đến bỉinh lính, đã chu cấp rộng ra ngoài thể lệ, mỗi người lính được cấp một tên phu. Các viên coi quân cần hiểu dụ trước cho mọi người biết..” [17]
Như thế, nếu e ngại số liệu 200.000 quân Thanh bị thổi phồng thì chắc chắn số 10.000 của Tôn Sĩ Nghị cũng bị giảm thiểu, và giảm thiểu đến mức độ nào thì không có cơ sở để xác minh, nhưng với dân số đông đúc của Lưỡng Quảng, thì chắc chắn đạo quân này phải đông.
Nếu theo sử liệu Trung Hoa, Tôn Sĩ Nghị dẫn đi tối thiểu 10.000 quân; và nếu mỗi quân nhân được quyền đem theo một trợ thủ (điều thứ 8 của quân luật Tôn Sĩ Nghị), thì số người Thanh theo họ Tôn qua Đại Việt tối thiểu là 20.000; còn Ô Đại Kinh dẫn đi 8.000 quân (tuy chưa đụng trận nhưng đã đến Phú Thọ), cộng thêm 8.,000 phu, thành 16.000. Với hai toán quân đó, tối thiểu cũng đã 36.000 người. Con số này trong thực tế chắc chắn cao hơn nhiều nếu không muốn nói là gấp hai.
Không có tài liệu nào đặc biệt về vũ khí của quân nhà Thanh. Trong “Tám điều quân luật”, Tôn Sĩ Nghị tự tin súng ống của quân Thanh hơn hẳn súng “phun lửa” của quân Tây Sơn (điều thứ 5), nhưng Tôn Sĩ Nghị tỏ ra rất sợ tượng binh (voi trận) của quân Tây Sơn nên đã dạy cho lính Thanh cách đối phó. (điều thứ 4).
Về phía quân Tây Sơn:
● Khi rời Thuận Hóa ra bắc, lực lượng của vua Quang Trung không được rõ. Quang Trung đến Nghệ An ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân. Nhà vua dừng quân tại đây để tuyển thêm tân binh ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An và sắp đặt lại đội ngũ. Trong cuộc tuyển binh cấp tốc này, cứ ba suất đinh lấy một người. Theo sách Hoàng Lê nhất thống chí thì “... chưa mấy lúc, đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ”. [17] Theo Cương mục, “khi qua Nghệ An và Thanh Hóa, (Quang Trung) lấy thêm quân lính đến 8 vạn người...” [18] Theo sách Liệt truyện, tổng cộng số lính trước sau khoảng hơn 10 vạn quân (100.000) và voi chiến được mấy trăm con. [19]. Các số liệu này có thể đã được thổi phồng đôi chút, nhưng ở mức độ nào thì cũng không có cơ sở để xác minh.
● Vua Quang Trong chia lực lượng làm hai hạng: hạng thiện chiến gồm lính Thuận Quảng đã được luyện tập lâu ngày cũng như tham dự nhiều chiến trận; và hạng tân tuyển gồm tân binh Thanh Nghệ. Quân Thuận Quảng chia làm bốn doanh: tiền, hậu, tả, hữu, và dùng quân Thanh Nghệ làm trung quân.
● Vũ khí và sắc phục quân Tây Sơn được một tác giả hầu như đồng thời với sự kiện mô tả lại trong sách Lê quý dật sử như sau: “Tây Sơn cho quân mặc áo màu, phần nhiều là màu đỏ tía, trên đỉnh nón mũ đính lông chiên đỏ, lại thường mặc áo gấm màu. Binh khí của họ thường dùng hỏa tiễn, hỏa sào buộc trên đầu ngọn giáo, gọi là hỏa hổ (tức súng phun lửa)...” [20]
● Điểm đặc biệt của quân đội Tây Sơn, được sách Thánh vũ ký của Ngụy Nguyên (Trung Hoa) ghi lại là “đại bác chở bằng voi mà xông vào trận”. [21] Điều này có nghĩa là vua Quang Trung sử dụng vừa tượng binh, vừa pháo binh và lại phối hợp giữa tượng binh và pháo binh. Theo sách Lê quý dật sử, đội tượng binh được đem từ Thuận Hóa ra Thăng Long, và các thớt voi được lương thực hàng tháng tùy theo từng thớt voi lớn nhỏ.[22]. Chắc chắn các khẩu đại bác cũng được di chuyển theo quân đội Tây Sơn từ Thuận Hóa, vì Thuận Hóa là nơi Nguyễn Hoàng đã thành lập đội pháo binh mạnh mẽ và sau đó các chúa Nguyễn đã tổ chức lò đúc súng tại Phường Đúc, làng Dương Xuân Thượng (gần Long Thọ, Huế). [23]
● Trong tương quan lực lượng giữa hai bên, có một điểm không thể thiếu sót là việc tình báo chiến lược. Sau khi rút lui khỏi Thăng Long, chắc chắn Đại tư mã Ngô văn Sở để lại nhiều điệp viên theo dõi tình hình tiến quân của Tôn Sĩ Nghị và báo cáo đầy đủ lại cho các chủ tướng Tây Sơn. Trong khi đó, ngược lại, quân Thanh có thể nói là ít hiểu biết về quân đội Tây Sơn, cũng như không nắm vững các hoạt động chuyển quân của lực lượng vua Quang Trung, và quân Thanh lại còn kiêu căng, xem thường sức mạnh của lực lượng Tây Sơn.
2.- Kế hoạch hành quân:
Về phía quân Thanh (thế thủ):
Đoàn quân do Tôn Sĩ Nghị dẫn đầu đến Thăng Long ngày 20 tháng 11 năm Mậu Thân (1788). Sau khi phong vương cho Lê Chiêu Thống, Tôn Sĩ Nghị sắp đặt việc đóng quân quanh thành, từ Thăng Long đến Hà Hồi (huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, Hà Đông), lập đồn trại cách khoảng từ đồn nọ đến đồn kia, đặt súng đại pháo, và chôn địa lôi bên ngoài. Ngoài ra, họ Tôn lập thêm ba căn cứ bảo vệ Thăng Long ở bờ bắc sông Nguyệt Quyết (huyện Thanh Liêm, Hà Nam), ở làng Nhật Tảo huyện Duy Tiên (Hà Nam) và ở Ngọc Hồi thuộc huyện Thanh Trì (Hà Đông). Trong khi đó, đoàn quân Vân Nam do Ô Đại Kinh lãnh đạo chưa đến Thăng Long. Như thế, sau khi thành công trong việc tạm chiếm Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị chỉ mới lo việc phòng thủ các vùng chiếm đóng, chủ yếu là Thăng Long và các khu vực phụ cận, chứ chưa nghĩ đến việc tiếp tục thế công, tiến xuống phía nam tiêu diệt nhà Tây Sơn.
Vua Chiêu Thống và quần thần nhà Lê nóng lòng mở cuộc phản công để tái chiếm đất đai đã mất, nhưng Tôn Sĩ Nghị vẫn thụ động chậm rãi vì lúc đó sắp đến lễ Tết Nguyên Đán cổ truyền của người Việt và người Hoa. Lý do chính được các tài liệu mô tả là họ Tôn ham hưởng thụ, trác táng và say sưa trong những ngày đầu chiếm đóng, nhất là khi nhận đước thư của vua Quang Trung “xin đầu hàng. Lời lẽ trong thư rất nhũn nhận, khiêm tốn”. [24]
Về phía quân Tây Sơn (thế công):
Ngược lại, vua Quang Trung lại tỏ ra chủ động tấn công, quyết tâm tiến đánh quân Thanh trước khi toàn bộ lực lượng quân Thanh kéo đến đầy đủ. Sau lễ đăng quang và duyệt binh tại Phú Xuân ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22-12- 1788), nhà vua tức tốc dẫn quân bắc tiến.
Di chuyển trong bốn ngày, lực lượng Tây Sơn dừng quân tại Nghệ An ngày 29-11. Vua Quang Trung đã mời La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đến hội kiến [25]. Trong cuộc gặp gỡ, nhà vua bàn luận với Nguyễn Thiếp kế hoạch hành quân. Nguyễn Thiếp trả lời rất hợp ý của nhà vua: “Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình hình khó dễ thế nào, thế nên chiến thủ thế nào. Và nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp đi thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”. [26]
ở lại Nghệ An tuyển quân mười ngày, vua Quang Trung lại tiếp tục dẫn quân ra đi ngày mồng 10 tháng Chạp. Ngày 20 tháng Chạp, nhà vua đến Tam Điệp. Nơi đây, lực lượng Tây Sơn ở Bắc Hà do Đại tư mã Ngô văn Sở chỉ huy đang đợi nhà vua. Sau cuộc hội quân, vua Quang Trung đưa ra kế hoạch tấn công như sau: Thứ nhất, Đại tư mã Ngô văn Sở và Nội hầu Phan văn Lân làm tiên phong. Thứ nhì, Đô đốc Lộc và Đô đốc Tuyết cầm thủy binh vượt biển, đi vòng lên phía bắc, vào sông Lục Đầu, [27] Đô đốc Tuyết ở lại Hải Dương, để tiếp ứng, Đô đốc Lộc tiến thẳng lên phía bắc, tới Yên Thế để chận đường rút lui của quân Thanh. Thứ ba, Đô đốc Bảo và Đô đốc Mưu (có sách chép là Long) lãnh tượng binh và kỵ binh đi đường bộ, vượt núi, tấn công các mục tiêu từ Hà Đông đến Thăng Long. Thứ tư Hô Hổ hầu (không biết họ tên) chỉ huy hậu quân, lo việc đốc chiến. Thứ năm vua Quang Trung chỉ huy trung quân nhắm thẳng Thăng Long trực chỉ.
3.- Diễn tiến chiến cuộc:
Trận Sơn Nam: Ngày 30 tháng Chạp, vua Quang Trung cho mở tiệc khao quân, tuyên bố ăn Tết trước khi lên đường, hẹn ngày mồng 7 năm mới, sẽ vào thành Thăng Long mở tiệc mừng chiến thắng. [28]. Tối hôm đó (30 Tết), quân Tây Sơn vượt sông Giản ở Ninh Bình [29]. Đến Sơn Nam, trấn thủ Hoàng Phùng Nghĩa (có sách chép Lê Phùng Nghĩa), tướng của vua Lê Chiêu Thống, bỏ chạy.
Trận Hà Hồi: Vua Quang Trung thúc quân đuổi tiếp đến Hà Đông. Đêm mồng 3 Tết Kỷ Dậu (1789), nhà vua cho quân vây kín đồn Hà Hồi (huyện Thường Phúc, Hà Đông). Nhà vua ra lệnh các tướng đặt loa hô lớn; quân sĩ đồng thanh đáp ứng vang trời, làm cho quân trong thành nghe lớn tiếng, sợ hãi xin hàng.
Trận Ngọc Hồi: Sau Hà Hồi, lực lượng Tây Sơn đến Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì) sáng sớm mồng 5 Tết. Vua Quang Trung biết quân Thanh phòng thủ ở đây khá kiên cố, trên thành có đại bác và chung quanh thành có địa lôi (ngày nay gọi là mìn [landmine]) bảo vệ. Nhà vua liền sắp đặt cách tấn công như sau:
Trước hết là tượng binh trang bị súng thần công đi đầu, vừa bộ chiến tấn công, vừa dùng súng phá thành, vừa phá thế trận điạ lôi bao quanh thành của quân Thanh.
Sau tượng binh là toán cảm tử cầm ván làm mộc che. Cứ ba tấm ván ghép lại thành một bức lớn, bện rơm thấm nước bao bọc ở ngoài, 10 người khiêng một bức, tất cả có 20 bức đi trước.
Tiếp theo mỗi bức ván lớn làm mộc che là 20 quân sĩ mang đầy đủ vũ khí, dàn hàng ngang tiến tới.
Cuối cùng là đại binh.
Cuộc tấn công đồn Ngọc Hồi khai diễn sáng sớm mồng 5 Tết Kỷ Dậu. Trong thành, quân Thanh bắn súng ra dữ dội, nhưng quân Tây Sơn nhất quyết thúc voi tiến tới, dùng súng đại bác phá hủy thành. Quân sĩ nhờ các tấm ván che chở, tiến tới mục tiêu. Kỵ binh của quân Thanh tiến ra gặp tượng binh của Tây Sơn hoảng sợ bỏ chạy. Thành bị phá. Khi giáp kẻ địch, quân Tây Sơn bỏ các tấm ván, đánh cận chiến. Quân Thanh chết rất nhiều. Số quân Thanh bỏ chạy bị chính điạ lôi của họ nổ làm cho thiệt mạng. Những kẻ thoát được, lại bị cánh quân Tây Sơn do Đô đốc Bảo chỉ huy, từ hướng Đại Áng tiến lên đánh đuổi tiếp.
Quân Thanh bỏ chạy:
Sau khi hạ đồn Ngọc Hồi, quân Tây Sơn tiếp đánh các đồn quân Thanh ở Văn Điển (Thanh Trì, Thường Tín, Hà Đông), Yên Quyết (ngoại thành Hà Nội). Quân Thanh thiệt hại nặng, Đề đốc Hứa Thế Hanh, Tổng binh Trương Triều Long, Thượng Duy Thanh đều tử trận.
Ngoài ra, một cánh quân Tây Sơn khác đến vây Sầm Nghi Đống tại Loa Sơn (gò Đống Đa) ở Khương Thượng (ngoại thành Hà Nội). Sau một hồi chống cự quyết liệt, thế quân yếu dần, lại không được tiếp ứng, Sầm Nghi Đống biết không có cách gì thoát thân, liền thắt cổ tự tử trên cây đa.
Trong khi đó, được tin đồn Ngọc Hồi thất thủ sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu, Tôn Sĩ Nghị sai lãnh binh Quảng Tây là Dương Hồng Nghiệp cùng Phan Khải Đức (người Việt, trấn thủ Lạng Sơn đầu hàng quân Thanh) đi quan sát tình hình.
Liền trưa hôm đó, quân Tây Sơn xuất hiện tại Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị không kịp mặc giáp và thắng yên cương, đã vội lên mình ngựa bỏ trốn cùng vài kỵ binh, bỏ lại ấn quân, sắc thư, cờ tiết... [30] Nghị vượt qua cầu phao chạy về hướng bắc. Thế là tướng sĩ quân Thanh đua nhau tháo chạy. Đang khi vượt sông Hồng, cầu phao đứt vì không chịu nổi khối trọng lượng người bỏ chạy qua cầu. Số người chết đuối nhiều không thể đếm hết được. [31]
Lê Chiêu Thống, lúc bấy giờ có mặt trong doanh trại Tôn Sĩ Nghị, cũng bỏ chạy theo họ Tôn, chỉ kịp sai người về cung hộ vệ Thái hậu cùng Hoàng tử vượt sông. Em vua là Lê Duy Chỉ đưa hoàng phi và cung tần đến bến sông thì cầu gãy, không qua sông được, phải bỏ trốn về hướng tây.
Quân Vân Nam do Ô Đại Kinh theo hướng Tuyên Quang tiến vào nước ta, đến Phú Thọ (lúc đó thuộc Sơn Tây) thì được tin Tôn Sĩ Nghị thất trận, nhờ một cựu quan nhà Lê tên là Hoàng văn Thông hướng dẫn trở về lại Vân Nam.
4.- Kết quả: - Theo Thánh vũ ký, khi chạy về tới Trấn Nam quan, [32] Tôn Sĩ Nghị “bỏ hết ngoài cửa quan lương thực, khí giới thuốc súng vài mươi vạn (cân). Quân ta và ngựa trở về không đầy một nửa” [33] Đó là sự ghi nhận của sử liệu Trung Hoa. Chắc chắn số được trở về này có thể thấp hơn, nhưng Thánh vũ ký nâng cao lên đôi chút vì thể diện của nhà Thanh.
Như thế, nếu cánh quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị lãnh đạo đi vào từ biên giới Cao Bằng-Lạng Sơn thấp nhất khoảng 20.000 quân theo sử liệu Trung Hoa như đã trình bày ở trên, và quân Thanh trở về không đầy một nửa, thì quân Thanh thiệt hại khoảng 10.000 kể cả một số tướng lãnh mà nổi tiếng là Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thương Duy Thanh, Sầm Nghi Đống... Ngoài ra, trong số quân Thanh mất tích hay tử trận, có một số đã bỏ trốn. Sau khi chiến trận kết thúc, số người này ra trình diện với chính quyền Tây Sơn và về sau được thả về.
Về phía Đại Việt, không có sử liệu nào viết về sự thiệt lại của lực lượng Tây Sơn, nhưng có thể ít hơn rất nhiều, vì quân Đại Việt chủ động chiến trường, chỉ tử trận nhiều khi Phan văn Lân kiếm cách chận đứng bước tiến của quân Thanh và khi quân Tây Sơn tấn công vào phòng tuyến chính của quân Thanh ở Ngọc Hồi. Giả thiết số quân Việt tử trận bằng một nửa quân Thanh, thì con số thiệt hại của quân Việt có thể lên đến khoảng 5.000 người...

VI. Nhận xét
1.- Chiến lược tổng quát: Quân nhà Thanh mới đến đóng quân, chỉ triển khai phòng thủ Thăng Long, nên có tính cách thụ động và nhất là các tướng lãnh nhà Thanh không lường được khả năng tác chiến của lực lượng Tây Sơn, xem thường quân địch. Trong khi đó, bộ tham mưu Bắc Hà của Tây Sơn do Ngô văn Sở và Ngô Thời Nhiệm đứng đầu, đã rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng để chuẩn bị phản công. Vua Quang Trung cương quyết đánh đuổi quân Thanh, chủ động chiến trường, chọn lựa các mũi tấn công theo các hướng khác nhau. Cuối cùng, chỉ cánh trung quân đánh trực diện thì đã thành công.
Yếu tố thành công chính của lực lượng Tây Sơn là sự bất ngờ. Khi Tôn Sĩ Nghị vào đến Thăng Long dễ dàng ngày 20 tháng 11, thì y không thể ngờ là chỉ năm ngày sau, tại Phú Xuân, vua Quang Trung phản ứng ngay, bắt đầu dẫn quân ra bắc ngày 25 cùng tháng. Để ru ngủ Tôn Sĩ Nghị, ra đến Nghệ An ngày 29, vua Quang Trung còn viết thư “xin đầu hàng. Lời lẽ trong thư rất nhũn nhận khiêm tốn”, (Cương mục, đã dẫn) khiến cho Tôn Sĩ Nghị càng thêm kiêu căng, và đánh giá không đúng quyết tâm chống ngoại xâm của vua Quang Trung. Thánh vũ ký cũng đề cập đến vấn đề này: “Thế mà quân ta (nhà Thanh) còn tin lời nó nói dối là tới hàng, cứ êm đềm không biết gì sốt”. [33] Thật ra, tâm lý kiêu căng này vốn có sẵn cả trước khi xuất quân viễn chinh, vì triều đình nhà Thanh đã cho đúc ấn và viết sẵn sắc phong để tấn phong cho Lê Chiêu Thống, vì tin tưởng lực lượng của họ sẽ chiến thắng nhà Tây Sơn.
Tôn Sĩ Nghị còn bị bất ngờ hơn nữa là vua Quang Trung mở cuộc hành quân vào những ngày Tết Nguyên Đán cổ truyền của dân tộc. Ca dao chúng ta có câu: “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”. Sau những ngày mùa màng cực nhọc, toàn dân Việt thường nghỉ ngơi và vui chơi trong ba ngày Tết đầu năm âm lịch. Họ Tôn tin rằng quân Tây Sơn cũng nghỉ ngơi và không động binh trong những ngày này. Cho đến khi đồn Ngọc Hồi bị quân Tây Sơn đánh tan ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu, lúc đó Tôn Sĩ Nghị mới hốt hoảng thì đã trễ.
2.- Tốc độ hành quân: Trong vòng sáu ngày, từ 30 tháng Chạp đến mồng 5 Tết, vua Quang Trung đã oanh liệt thanh toán quân xâm lược Mãn Thanh. Tuy chỉ thật sự đánh nhau trong sáu ngày đêm, nhưng nhà vua đã chuẩn bị cuộc chiến từ hơn một tháng trước. Vua Quang Trung lên ngôi ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân, và quyết định kéo quân bắc tiến. Ngày 29 tháng 11, nhà vua đến Nghệ An, tức di chuyển trong vòng bốn ngày. Ở lại Nghệ An mười ngày, vua Quang Trung tiếp tục ra đi khoảng mồng 10 tháng Chạp, và tới Tam Điệp ngày 20 tháng Chạp, nghĩa là chuyển quân mười ngày. Lại nghỉ thêm mười ngày, nhà vua rời Tam Điệp, mở chiến dịch tấn công vào tối 30 Tết, và đến Thăng Long chiều mồng 5 Tết.
Nhớ lại chiến dịch Bắc tiến lần thứ nhất của Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ năm 1786: ông đến sông Vị Hoàng 23 tháng 6 năm Bính Ngọ (18-7-1786), hội quân cùng Nguyễn Hữu Chỉnh và kiểm điểm lại tình hình. Ngày 24 tháng 6 năm Bính Ngọ (19-7-1786), Nguyễn Huệ tiến chiếm Hưng Yên (Phố Hiến), thủ phủ Sơn Nam (Nam Định), và hai ngày sau Nguyễn Huệ vào Thăng Long (26-6 Bính Ngọ tức 21-7- 1786). Từ Phố Hiến đến Thăng Long, ông chỉ mất hai ngày.
Lấy Thăng Long làm chuẩn, Tam Điệp ở Ninh Bình cách Thăng Long khoảng 140 km, năm 1789 vua Quang Trung đi mất sáu ngày. Hưng Yên cách Thăng Long khoảng 60 Km, năm 1786 Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đi mất hai ngày. Như thế có thể xem tốc độ hai cuộc hành quân gần bằng nhau nếu không muốn nói cuộc hành quân trước vào năm 1786 nhanh hơn. [34] Dầu thế nào, cuộc hành quân của vua Quang Trung, dầu bị các phòng tuyến quân Thanh chận đánh, vẫn thần tốc hơn cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị, từ Nam Quan (Lạng Sơn) đến Thăng Long trong khoảng 20 ngày.
3.- Sự phối hợp giữa tượng binh và pháo binh: Tôn Sĩ Nghị có lý riêng để tin tưởng ở phòng tuyến Ngọc Hồi, vì thành quách đồn này được trang bị súng đại bác, phía ngoài mai phục địa lôi (landmine), là những loại vũ khí tối tân lúc đó. Họ Tôn không ngờ rằng súng đại bác Phú Xuân cũng mạnh mẽ không kém đại bác của Trung Hoa. Khi nhà Hồ (1400-1407) sụp đổ năm 1407, chính con của Hồ Quý Ly (trị vì 1400) là Hồ Nguyên Trừng đã giúp nhà Minh (1368-1644) bên Trung Hoa chế tạo súng đại bác, và súng đại bác này phải mạnh hơn của Trung Hoa, nhà Minh mới đem ra để tấn công địch [35].
Ở đây cần chú ý hai điểm: Thứ nhất, vua Quang Trung xuất thân từ miền núi Tây Sơn, chắc chắn ông xuất sắc về tượng binh và tượng trận. Trong quân đội Tây Sơn, đội tượng binh rất được chú ý. Các thớt voi được huấn luyện và nuôi nấng theo tiêu chuẩn riêng. Thứ nhì, khi chiếm được Thuận Hóa năm 1786, vua Quang Trung thừa hưởng được đội tượng binh và và nhất là số đại bác của các chúa Nguyễn đã xây dựng từ thời Nguyễn Hoàng (1525-1613). Khi ra bắc năm 1593 để chúc mừng vua Lê trở về Thăng Long, chính những khẩu thần công đã giúp Nguyễn Hoàng dẹp yên các cuộc nổi dậy của gia đình và tướng lãnh nhà Mạc sau năm 1593. [36] Đội tượng binh của Thuận Hóa cũng rất hữu hiệu trong việc chống đỡ các cuộc tấn công của quân Trịnh trong chiến tranh Trịnh Nguyễn sau đó.
Tôn Sĩ Nghị biết rằng tượng binh của Tây Sơn rất mạnh, nên trong “8 điều quân luật” của quân Thanh, y cẩn thận nhắc nhở và hướng dẫn thuộc cấp cách chống cự, nhưng y không ngờ vua Quang Trung lại phối hợp đại bác với tượng binh, mà theo nguyên văn bản dịch Thánh vũ ký của giáo sư Hoàng Xuân Hãn là “đại bác chở bằng voi mà xông vào trận”.
“Đại bác chở bằng voi” có thể bằng cách đặt súng đại bác lên một cái bành trên lưng voi để tấn công, giống như chiến xa trang bị súng ống ngày nay. Các đại bác sử dụng vào thời này dài khoảng 1,5 m. và nòng khoảng 0,1 m nên có thể đặt trên mình voi xông trận [37]. Đây là một sáng kiến hết sức táo bạo của vua Quang Trung vì từ trước, đại bác chỉ được kéo bằng ngựa chứ chưa ai dùng voi để chở đại bác ra trận [38]. Có người cho rằng khi đặt súng thần công trên lưng voi để bắn, thì tiếng nổ có thể làm cho voi hoảng sợ, bỏ chạy và chà đạp lên quân lính đang hành quân. Tuy nhiên, khi phối hợp hai lợi khí trên đây để ra trận, chắc chắn đội quân tượng Tây Sơn cũng đã nghĩ cách giải quyết trở ngại này. [39]
Voi rất hữu ích trong việc phá thế trận địa lôi mà Tôn Sĩ Nghị đã bao quanh thành Ngọc Hồi. Vì voi cao, da dày, khó bị thương, nên voi đi trước dẫn đường. Nếu voi dẫm lên địa lôi gây nổ, thì quân sĩ Tây Sơn theo sau có thể tránh được. Đội tượng binh (quân voi) trang bị súng thần công của Tây Sơn đã đánh tan đội kỵ binh (quân ngựa) tiên phong của quân Thanh khi giáp trận ở phòng tuyến Ngọc Hồi mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Chính nhờ những khẩu đại bác trên lưng voi đến gần bắn trực xạ, nên tường và cổng thành Ngọc Hồi bị phá hủy, giúp bộ binh Tây Sơn tràn ngập vào chiếm đồn này.
Trận đánh đồn Ngọc Hồi đã quyết định luôn cả kết quả cuộc chiến, vì sau khi đồn này bị triệt hạ, thì quân Thanh không còn phòng tuyến nào vững hơn, để chận được bước tiến của lực lượng Tây Sơn, và quân tướng nhà Thanh, kể cả Tôn Sĩ Nghị, chỉ còn chạy dài cho đến Nam Quan mà thôi
Toronto, tháng 11, 2003
-------------
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, viết tắt Cương mục, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, bản dịch tập 2, tr. 838.
[2] Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, viết tắt HLNTC, chữ Nho, Hà Nội: bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch, Nxb. Văn Học, 1987, tập 2, tr. 148, 150.
[3] Ngụy Nguyên (Trung Hoa), “Càn Long chinh vũ An Nam ký” trong sách Thánh vũ ký, đề tựa năm 1842, Hoàng Xuân Hãn dịch, đăng trên tập san Sử Điạ, Sài Gòn, số tháng 9-10, 1968, in lại trong sách La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (Hoàng Xuân Hãn toàn tập), tập 2, do Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền sưu tập và biên soạn, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 1998, tr. 1341. (Trong bài này, khi trích dẫn, chỉ để: [Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2], sđd. tr.)
[4] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài Gòn: Nxb. Tân Việt in lần thứ bảy, 1964, tr. 375.
[5] (Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2), sđd. tr. 1341.
[6] Hoa Bằng, Quang Trung Nguyễn Huệ, anh hùng dân tộc (1943), Sài Gòn: Nxb. Bốn Phương tái bản, 1958, tr. 151. Hoa Bằng dựa vào tài liệu Thanh triều sử lược, quyển VI, tờ 19b.
[7] Các sách viết về việc Nội hầu Phan văn Lân đem quân chống Tôn Sĩ Nghị đều theo thuyết của Hoàng Lê nhất thống chí. Thuyết này cho rằng khi Đại tư mã Ngô văn sở theo kế hoạch Ngô Thời Nhiệm quyết định rút quân, thì Nội hầu Phan văn Lân phản đối: “Nay ta làm tướng cầm quân ở ngoài, giặc đến chưa từng đón đánh, chỉ mới nghe tiếng dọa hão đã vội rút lui, thì còn làm tướng làm gì nữa?...” (HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tr. 161.). Rồi Lân đem quân đánh Tôn Sĩ Nghị và bị thất bại. Chi tiết này có vẻ anh hùng cá nhân như chuyện Tàu ngày xưa. Lúc đó, số quân Tây Sơn ở Bắc Hà chỉ có 3.000. Các tướng Tây Sơn dư biết đoàn quân viễn chinh của nhà Thanh phải nhiều hơn số đó rất nhiều, làm sao quân Tây Sơn ở Thăng Long đủ sức chống cự, cho nên giải pháp duy nhất là phải rút lui. Muốn đủ thời gian rút lui an toàn thì phải có rào chắn. Quyết định đưa Phan văn Lân đem quân chận đánh quân Thanh phải là một quyết định chiến lược của tập thể, chứ không thể là tức khí cá nhân. Phan văn Lân đem quân chống cự Tôn Sĩ Nghị, tạo thành rào chắn, làm chậm bước tiến của quân Thanh, để Ngô văn Sở và Ngô Thời Nhậm đủ thời gian rút toàn bộ lực lượng Tây Sơn an toàn về núi Tam Điệp. Một điểm cần chú ý là nếu Phan văn Lân, vì tức khí, tự ý dẫn quân ra đi mà không được lệnh của Ngô văn Sở, thì chắc chắn đã bị vua Quang Trung quở trách hoặc trừng phạt theo quân luật lúc nhà vua ra hội quân tại Tam Điệp. Đàng này, điều đó không xảy ra. Sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung vẫn tín nhiệm Phan văn Lân và giao cho Lân phụ tá Ngô văn Sở trông coi Bắc Hà. Hai điều này chứng tỏ việc Phan văn Lân đem quân đánh Tôn Sĩ Nghị nằm trong kế hoạch chung của nhóm lãnh đạo Bắc Hà lúc đó. Tam Điệp là dãy núi đá vôi, thuộc điạ phận Ninh Bình, giáp Thanh Hóa, có ba ngọn, cao nhất khoảng 118 thước. Trên núi này có đèo Ba Dội nằm trên quan lộ bắc nam ngày xưa.
[8] Cương mục, bản dịch tập 2, sđd. tt. 841, 842, 844.
[9] HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tr. 167.
[10] Theo HLNTC, hồi thứ 14, (bản dịch tập 2, sđd. tr. 177) thì Đô đốc Tuyết, vâng lệnh Ngô văn Sở, về tới Phú Xuân ngày 24 tháng 11 năm Mậu Thân (27-12-1788) báo tin cho Nguyễn Huệ. Việc này không thể xảy ra, vì ngay ngày hôm sau (25-11 âm lịch), Nguyễn Huệ lên ngôi vua, tổ chức duyệt binh. Quyết định một việc trọng đại, tổ chức một buổi lễ quan trọng là lễ đăng quang, đồng thời tập họp lực lượng, tổ chức cuộc duyệt binh lớn để kiểm điểm quân số trước khi ra trận, không thể chỉ tổ chức nội trong một ngày, nhất là ngày xưa phương tiện truyền thông chưa tiến bộ. Theo người viết, khi quân Thanh đến Lạng Sơn vào cuối tháng 10, Phan Khải Đức đầu hàng, Nguyễn văn Điểm rút lui về Kinh Bắc, thì Ngô văn Sở đã cấp báo cho Nguyễn Huệ, và trễ nhất khoảng từ 15 đến 20 tháng 11 Nguyễn Huệ đã biết tin và tính toán kế hoạch hành động.
[11] Năm 980, trước khi ra trận, tướng Phạm Cự Lượng triệu tập các tướng lãnh đang cầm quân, và nói rằng: “... Thưởng người có công và phạt kẻ không vâng mạng, đó là phép hành binh. Bây giờ chúa thượng (chỉ Đinh Toàn) hãy còn thơ ấu, bọn ta dẫu hết sức liều chết, may mà có chút công lao, thì ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn Thập Đạo Tướng Quân (chỉ Lê Hoàn) lên làm thiên tử, sau sẽ ra quân?” (Cương mục, bản dịch tập 1, sđd tr. 247.)
[12] HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tr. 153.
[13] Tiêu biểu là Hoa Bằng, sđd. , viết ít nhất 2 lần vào các trang 159, 185. Sách của Hoa Bằng được xuất bản lần đầu năm 1943, tái bản 1950. Hoa Bằng không cho biết xuất xứ từ đâu có con số 20 vạn.
[14] (Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2), sđd. tr. 1341.
[15] Trong sách của mình, tác giả Hoa Bằng viết rõ rằng: “Thấy Nghị thua chạy, đạo binh Vân, Quý (Vân Nam, Quý Châu) vừa đến Sơn Tây, phải vội tìm đường tháo về”. (Hoa Bằng, sđd. tr. 197.) Trong sách Thánh vũ ký, Ngụy Nguyên viết: “Còn quân của Ô Đại Kinh tại Vân Nam thì chưa đến nơi”. (Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tr. 1343.)
[16] Tối hậu thư Potsdam: Sau khi Đức thất trận và trước khi Nhật đầu hàng, từ ngày 17-7 đến 2-8-1945, đại diện Hoa Kỳ là Harry Truman, đại diện của Anh lúc đầu là Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm Thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Stalin họp tại Potsdam, ngoại ô Berlin, để bàn về các vấn đề hậu chiến, và vấn đề Nhật Bản đang còn chiến đấu ở Á Châu. Đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh) cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản ngày 26-7-1945. Liên Xô không được tham dự vào tối hậu thư này vì lúc đó, Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu. Tối hậu thư này buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc... Riêng về vấn đề Đông Dương, quân đội Nhật sẽ bị giải giới do quân đội Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16, và do quân đội Anh ở nam vĩ tuyến 16. Vì vậy, quân đội Trung Hoa đã tràn vào phía bắc nước ta để giải giới quân đội Nhật.
[17] HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tt. 152, 179.
[18] Cương mục, bản dịch tập 2, sđd. tr. 845.
[19] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện (chữ Nho), Huế: bản dịch cuả Nxb. Thuận Hóa, 1993, tập 2, tr. 517. (viết tắt: ĐNCBLT) Với hai số liệu của hai sách HLNTCĐNCBLT quá cách biệt (dầu cho sách HLNTC chỉ nói đến quân Nghệ An), có lẽ số lượng quân của vua Quang Trung (bao gồm quân Thuận Quảng và quân Nghệ An) không lên tới mười vạn tức 100.000 quân.
[20] Khuyết danh, Lê quý dật sử (chữ Nho), Phạm văn Thắm dịch, Hà Nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1987, tr. 77. Sách này khuyết danh, nhưng những nhà nghiên cứu tin rằng do Bùi Dương Lịch (1757-1827) viết. (Người viết bài này cũng nghĩ vậy, vì rải rác trong suốt sách này ghi rất rõ những chi tiết về hành trạng riêng tư của Bùi Dương Lịch) Bùi Dương Lịch là quan nhà Lê, đã vào Phú Xuân yết kiến vua Quang Trung sau chiến tranh đánh giặc Thanh.
[21] (Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2), sđd. tr. 1344. Cần chú ý đây là tài liệu Trung Hoa chứ không phải của người Việt để tự ca tụng mình.
[22] Khuyết danh, Lê quý dật sử; tt. 87, 96.
[23] Theo Toàn thư, khi ra bắc năm 1593 để chúc mừng vua Lê trở về Thăng Long, Nguyễn Hoàng đã sử dụng những khẩu đại bác dẹp yên các cuộc nổi dậy của gia đình và tướng lãnh nhà Mạc sau năm 1593. (Ngô Sĩ Liên và nhiều tác giả, Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1998, bản dịch tập 3, tr. 185) Đội tượng binh của Thuận Hóa cũng rất hữu hiệu trong việc chống đỡ các cuộc tấn công của quân Trịnh trong chiến tranh Trịnh Nguyễn sau đó.
[24] Cương mục, bản dịch tập 2, sđd. tr. 845.
[25] Nguyễn Thiếp (1723-1804): người làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn xứ Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), đậu hương giải năm 1743 (Quý Hợi), đến năm 1756 (Bính Tý) ra làm huấn đạo Anh Đô (Nghệ An). Năm 1768 (Mậu Tý) thì từ quan, ở ẩn. Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ba lần mời ông vào Phú Xuân hội kiến, nhưng ông không nhận lời. Khi Nguyễn Huệ ra bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh, ông ghé lại Nghệ An, đóng quân ở núi Nghĩa Liệt, viết thư mời lần thứ tư vào tháng 3 năm Mậu Thân (1788). Nguyễn Thiếp đến gặp Nguyễn Huệ lần đầu. Khi ra đánh quân Thanh, đây là lần thứ nhì hai bên gặp nhau.
[26] (Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2), sđd. 1052.
[27] Sông Lục Đầu: khúc sông Thái Bình, giáp giới Bắc Ninh và Hải Dương, là nơi tập trang ba sông Nguyệt Đức (Đuống), Nhật Đức (Thương), và Cầu.
[28] HLNTC hồi thứ 14, bản dịch tập 2, sđd. tr. 182.
[29] Sông Giản: tức Giản Thủy. Các sách từ HLNTC đều viết là Giản Thủy. Sách Cương mục, trong một đoạn trước đó, viết về việc Võ văn Nhậm ra bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh, nói đến Gián Khẩu (bến đò Gián) ở Ninh Bình gần đèo Ba Dội. (Cương mục, bản dịch tập 2, sđd. tr. 518, 520). Đại Nam nhất thống chí, quyển 14 (Tỉnh Ninh Bình), mục “Đò cầu” công nói Gián Khẩu (chứ không phải Giản Thủy). (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, (tập 3, quyển 14), Huế: Nxb. Thuận Hóa, Huế, tái bản, 1997, tr. 269.) Trong sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, Hà Nội, Nxb. Khoa học Xã hội, 1981, tr. 119, viết rằng xã Giản Khẩu, thuộc tổng Tri Hối, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên, đạo Thanh Bình (vua Minh Mạng đổi thành Ninh Binh).
[30] Sau đây là nội dung một sắc thư của vua Càn Long mà Tôn Sĩ Nghị đã bỏ lại, và Tây Sơn lấy được: “Việc quân nên từ đồ, không nên hấp tấp. Hãy nên đưa hịch truyền thanh thế đi trước, và cho các quan nhà Lê về nước cũ họp nghĩa binh, tìm tự quân nhã Lê đem ra đứng đầu để đối địch với Nguyễn Huệ, thừ xem sự thể thế nào. Nếu lòng người nước Nam còn nhớ nhà Lê, có quần ta kéo đến, ai là chẳng găng sức. Nguyễn Huệ tất phải tháo lui; ta nhân lấy dịp ấy mà sai tự quân đuổi theo, rồi đại binh cửa ta theo sau, như thế không khó nhọc mấy nỗi mà nên được công to, đó là mẹo hay hơn cả. Ví bằng suốt người trong nước, nửa theo đằng nọ, nửa theo đằng kia, thì Nguyễn Huệ tất không chịu lui. Vậy ta hãy đưa thư sang tỏ bảo đường họa phúc, xem nó đối đáp làm sao. Đợi khi nào thủy quân ở Mân (Phúc Kiến), Quảng (Quảng Đông) đi đường bể sang đánh mặt Thuận Hóa và Quảng Nam rồi, bộ binh sẽ tiến lên sau. Nguyễn Huệ trước sau bị địch thế tất phải chịu. Bấy giờ ta sẽ nhân mà làm ơn cho cả hai bên; tự đất Thuận Hóa Quảng Nam trở vào Nam, thì cho Nguyễn Huệ; tự châu Hoan (Nghệ An), châu Ái (Thanh Hóa) trở ra bắc thì phong cho tự quân nhà Lê. Ta đóng đại binh lại để kiềm chế hai bên, rồi sẽ có xử trí về sau” (VNSL, tt. 374-375)
[31] Cương mục, bản dịch tập 2, sđd. tr. 847, HLNTC, bản dịch tập 2, sđd. tr. 186 đều viết là cầu phao bị gãy hay bị đứt. Trong Thánh vũ ký, Ngụy Nguyên viết rằng khi qua khỏi cầu, Tôn Sĩ Nghị đã chặt gãy cầu. (Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2), sđd. tr. 1344. Sách này cũng viết số người chết lên đến hàng vạn người.
[32] Trấn Nam quan: Nghĩa là: cửa để trấn giữ phương Nam. Vùng này là ải (đèo) Pha Lũy, xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn. Tại đèo này, người Trung Hoa xây một cửa lớn, và tường thành ngăn hai biên giới hai nước, và đặt tên cửa này là Trấn Nam quan. Do tên này, người Việt gọi cửa ải này là “Nam Quan”. Theo Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn bằng chữ Nho, Phạm Trọng Điểm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Thuận Hóa, 1997, tập 4, tt. 384-385, thì Nam Quan: “cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Vân Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường (Pingxiang / P’inghsiang) tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam quan. Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh (1522-1566), đến năm Ung Chính (1723-1735) thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là ‘Đại Nam Quan’, phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, [4] cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề ‘Trấn Nam Quan’, dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở”. Ở đây cần phân biệt cửa “Nam Quan” (tên gọi theo thói quen của người Việt) tức “Trấn Nam quan” (theo tên gọi Trung Hoa) và ải Nam Quan, tên khác của đoạn đèo chiến lược Pha Lũy, xã Đồng Đăng, huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn.
[33] (Hoàng Xuân Hãn toàn tập, tập 2), sđd. tr. 1344.
[34] Có một số tác giả kể thêm một câu chuyện như sau: “Để làm như binh mã từ trên trời sa xuống, vua Quang Trung muốn cho cực kỳ thần tốc, nên trong lúc hành binh, ngài ra lệnh này cho đám quân Bắc phạt: cứ ba người một tóp, luân phiên võng lẫn cho nhau, suốt dọc đường, anh lính nào cũng phải võng người và được người võng. Như thế hết lượt anh này phải đi, lại đến lượt anh khác nghỉ. Nghỉ, đi; đi, nghỉ, cứ võng lẫn mãi cho ra đến chỗ đất mục đích. Vì thế, vừa trẩy được nhanh, vừa khỏi kiệt quân lực”. (Hoa Bằng, sđd. tr. 181.) Viết lại chuyện này, có tác giả thêm rằng: “Chắc hẳn lúc đó võng làm bằng tre, vì tre là thứ vật liệu dễ có nhất ở nước ta ở khắp xứ và có thể làm thành chiếc võng giản dị và mau chóng nhất”. (Phạm văn Sơn, Việt sử tân biên, quyển 3, Sài Gòn: 1959, tr. 430). Ý kiến này, trên lý thuyết, nghe ra rất đúng: nghỉ, đi; đi, nghỉ, luân phiên di chuyển và nghỉ ngơi thì không gì hay bằng, nhưng rất tiếc thực tế không thể áp dụng được, vì ba lẽ: 1).- Thứ nhất, nằm trên võng thì rất khó ngủ hoặc nghỉ, mà còn thêm mệt vì nhồi lên nhồi xuống (nằm trên xe hơi hay xe hỏa ngày nay mà còn khó nghỉ thì làm gì mà có thể nghỉ hay ngủ trên võng). Người khiêng võng lại cao thấp không đều, sức mạnh cũng không đều, đường đi lại không bằng phẳng, mà chỗ lồi chỗ lõm, dễ bị vấp ngã, đong đưa chiếc võng đủ mệt rồi, thì làm sao mà nghỉ. 2).- Thứ nhì, khiêng bất cứ một vật gì, lúc đầu thì rất nhẹ, nhưng chỉ cần vài trăm thước là bắt đầu cảm thấy nặng dần, cho đến vài cây số thì không thể khiêng nhanh được, huống gì là khiêng người (trung bình 50 kí-lô) cả hàng chục cây số. 3).- Thứ ba, võng không đủ để dùng khiêng lính đi. Ông Phạm văn Sơn nói võng làm bằng tre, vì ở Việt Nam đâu cũng có tre, nghe ra cũng rất đúng, nhưng tác giả này quên rằng tre được chẻ ra rất sắc, sợi lạt tre cũng sắc, làm võng nằm, tre sẽ cứa đứt da chảy máu càng khổ lính chứ chẳng ích lợi gì cả. Kết luận: đây chỉ là truyền thuyết chứ thực tế khó thể xảy ra. Để kiểm chứng, đề nghị một tổ chức văn hóa đứng ra thí nghiệm, tổ chức cuộc thi: một bên đi bộ, một bên đi võng theo kiểu trên đây để xem bên nào đi xa hơn và nhanh hơn. Tuy nhiên, theo người viết bài này, có thể câu chuyện được thi hành như thế sau: Khi hành quân, người lính phải mang theo quân trang, quân dụng. Ba người lính có thể lập thành một tiểu tổ, hai người dùng võng khiêng quân trang quân dụng, một người đi tay không cho khỏe, rồi tuần tự thay nhau mà khiêng.
[35] Nguyên vào tháng 5 năm Đinh Hợi (1407), quân Minh bắt được Hồ Quý Ly cùng hai con là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương ở Nghệ An, không giết mà chỉ giải về Trung Hoa. Hồ Nguyên Trừng có tài về cơ khí, đã chế tạo được súng thần công, nên khi bị bắt, người Minh không giết mà còn trọng dụng. Theo Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ, mục “Vựng điển loại”, trích dẫn sách Cô thụ biểu đàm, Hồ Nguyên Trừng hay Lê Trừng được nhà Minh phong làm Hộ bộ Thượng thư. Lê Quý Đôn cũng trích dẫn Minh sử nói rằng: “trong niên biểu của thất khanh (bảy vị quan to), có nói đến tên Lê Trừng làm Binh bộ Thượng thư”. Minh sử còn chép rằng: “Năm Vĩnh Lạc (1403-1424), vua Minh thân chinh Mạc bắc. Khi giặc kéo ào đến, bèn đem thần sang của nước An Nam ra đánh...” (Văn đài loại ngữ, bản dịch của Phạm Vũ và Lê Hiền, Sài Gòn: Nxb. Tự Lực tái bản, Hoa Kỳ, tt. 238-239). Thần sang An Nam nói đến ở đây là súng thần công do Hồ Nguyên Trừng chế tạo. Hồ Nguyên Trừng còn soạn sách Nam ông mộng lục, viết về 31 nhân vật nổi tiếng trong lịch sử nước nhà. Có lẽ nhờ Nguyên Trừng mà Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương không bị giết, mà chỉ bị đày đi Quảng Châu.
[36] Xem chú thích số 21.
[37] Người viết đã thấy những khẩu đại bác này ở Đà Nẵng, có thể được trang bị tại đây để chống Pháp vào những năm 1858-1860. (Đại bác này nhỏ, không giống những khẩu thần công to lớn chỉ để trưng bày trong Thành nội Huế).
[38] Voi chỉ có thể chở đại bác ra trận chứ không thể kéo xe trên đặt đại bác ra trận vì: thứ nhất voi rất khó cột dây để kéo xe chở đại bác; thứ nhì voi cao, xe chở đại bác thấp mà kéo đàng sau đuôi thì làm sao đại bác có thể bắn tới phía trước?
[39] Ví dụ có thể dùng bông hay vải nhét vào lỗ tai voi, hoặc có thể khi huấn luyện, họ đốt pháo cho voi quen với tiếng nổ, hoặc họ hy sinh một số voi, làm cho các con voi mang súng ra trận bị điếc và không còn nghe được tiếng nổ súng thần công. Hơn nữa, voi chiến Tây Sơn rất thuần thục và khôn ngoan. Dưới đây là một mẩu chuyện về voi của thời này: Sau khi Nguyễn Phúc Ánh thành công và lên ngôi vua năm 1802 tức Gia Long (trị vì 1802-1819), ông ra lệnh xử tử gia đình nhà Tây Sơn và các tướng lãnh Tây Sơn. Khi nữ tướng Tây Sơn là Bùi thị Xuân bị đưa ra xử tử, “người ta kể rằng dầu voi đã bị kích thích, cũng còn phải thúc giục lắm nó mới tung bà (Bùi thị Xuân) lên, dường như nó còn nhận được bà là chủ cũ của nó”. (Thư của giáo sĩ De La Bissachère viết vào năm 1807 gởi về Pháp, Nguyễn Phương trích dịch trong Việt Nam thời bành trướng: Tây Sơn, Sài Gòn: Nxb. Khai Trí, 1967, tr. 397.)
0
Thái độ “kẻ sĩ” triều Quang Trung
Nguyễn Đăng Thục

Triều đại Quang Trung trong lịch sử Việt Nam rất ngắn ngủi, vỏn vẹn có hơn mười năm.
Đầu cha lấy làm chân con
Mười bốn năm tròn hết kiếp thì thôi!
(sấm Trạng Trình)

Nhưng trong thời gian ngắn ngủi ấy mà chính sử đã coi như giao thời giữa hai chính thống Lê Nguyễn, biết bao sự nghiệp hiển hách đã diễn ra cho dân tộc. Nguyễn Huệ bên góc trời Đông như Nã Phá Luân bên góc trời Tây, đã đảo lộn tất cả tiêu chuẩn giá trị quốc gia xã hội: dẹp Nguyễn, dẹp Trịnh, dẹp Lê, đánh đuổi quân Tầu, quân Xiêm, san bằng ranh giới phân chia Nam Bắc ngót hai trăm năm, thống nhất dân tộc, đem người áo vải lên địa vị tối cao quốc gia. Trung Hoa phải công nhận là Vua Việt Nam “An Nam quốc vương”.
Áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước biết bao công trình.
(Ngọc Hân công chúa)

Trong cái đại cuộc tình thế đảo lộn ấy, thử hỏi giới nho sĩ Việt Nam bấy giờ đã có thái độ như thế nào để được gọi là “kẻ sĩ” với giá trị chính nghĩa của nó?
Trong bài trước đây nhan đề “Trận Đống Đa với chính nghĩa quốc gia” chúng tôi đã nói đến thái độ khẳng khái của Nho sĩ Trần Công Xán. Nay thử tìm hiểu thái độ chung của giới trí thức Việt Nam bấy giờ khác giới trí thức ngày nay đã đành, nhưng xem nó có đánh dấu trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ Lê đến Nguyễn bằng một tiến bộ nào không.
Như chúng ta đều biết nhà Lê (1428) sau khi quân Minh đào thải triệt để sản phẩm văn hóa Lý Trần để thay thế bằng Nho học “Tính Lý Đại Toàn” của Chu Hy đời Tống, thì Nho học được đề cao lên địa vị độc tôn của cái học chính thống với tinh thần “tịch ngoại đạo” của Tống Nho, nghĩa là trở nên ý thức hệ bế quan của giới trí thức lãnh đạo quốc gia. Kết quả của cái lò hun đúc nhân tài, đào tạo sĩ khí ấy như thế nào, thì nhà bác học túc Nho Lê Quý Đôn cho ta thấy đại khái như sau:
“Hồi quốc sơ, sau thời nhiễu nhương bọn nhà Nho thưa thớt. Những người làm đến chức Thị, Tụng như các ông Thiên Tích, Bùi Cẩm Hổ đã rực rỡ khí phách anh hào, lại sẵn nếp can đảm dám nói. Những người mến thú lâm tuyền như Lý Tử Cấu, Nguyễn Thì Trung đều một niềm giữ tiết tháo trong sạch, không chút mơ tưởng giàu sang. Đấy là một thời.
Trong khoảng đời Hồng Đức (1470-1497) mở rộng đường khoa mục thành long trọng để kén nhân tài. Học trò bèn đua nhau thiên về mặt văn hay, chỉ cốt thêu chạm lời phú, câu thơ cho đẹp, hầu mong lấy bản cao chức trọng cho sang, còn phần khí tiết khẳng khái thì đã cảm thấy tan tác hủ suy. Nhưng vì đường sủng vinh rộng mở thì cách khoa lệ cũng nghiêm, ai điềm tĩnh thì tự nhiên được cất nhắc, kẻ chạy chọt cầu cạnh thì bị cách phạt. Bởi vậy người làm quan bấy giờ ít thói bon chen, mà thiên hạ còn biết quý danh nghĩa. Đấy lại là một thời nữa.
Từ đời Đoan Khánh (1505) trở về sau, lối thanh nghị suy kém quá, thói luồn cúi ngày thịnh dần. Kẻ quyền vị ít có người giữ được lễ liêm khiết nhún nhường, nơi triều đình ít thấy lời dám căn ngăn kích thiết. Gặp chuyện khó thì chịu hèn để khỏi bận bịu, thấy cơ nguy thì bán nước để cầu an. Cả đến bậc gọi là danh Nho cũng yên lòng nhận lấy cái vinh sủng bất nghĩa, mà vẫn còn thi ca đi lại, khoe hay khoe đẹp với nhau. Phong thái sĩ phu thật hỏng nát không bao giờ bằng thời này. Sự tệ hại của cuộc biến chuyển này không thể nói xiết được. Tìm trong khoảng trên dưới một trăm năm quốc sử này, lấy những bậc đáng gọi là cao sĩ thì chỉ có được vài người như các ông Lý Tử Cấu, thật đáng ngán cho những bậc phong tiết này ít thấy quá vậy”.
(Kiến Văn Tiểu Lục)
Lời thẩm định trên đây có vẻ khắc khe nhưng đúng sự thật, bởi vì một khi Nho học tính lý của Tống Nho có khuynh hướng bế quan đã trở nên chính thống độc tôn của nhà nước thì nó tự giới hạn vào xã hội thực tiễn mà đoạn tuyệt với căn bản tâm linh thực nghiệm của Thiền học thời Lý Trần, cho nên càng đi xa vời truyền thống Tam Giáo thời Lý Trần thì Nho học cũng mất hết sinh lực sáng tạo giá trị đạo đức bắt nguồn và lấy cứu cánh ở Thiên tước, tức là ở thực tại siêu nhiên vũ trụ, chứ không phải chỉ hạn chế vào công lợi, vào nhân tước mà thôi. Giới hạn vào nhân tước, lấy công lợi làm tiêu chuẩn giá trị cho hành vi nhân sinh, tự nhiên người ta hết tín ngưỡng vào tâm linh siêu nhiên, vào giá trị thiêng liêng của con người. Bởi thế mà Nho học căn bản một hệ thống luân lý chính trị được độc tôn ở thời Lê, đáng lẽ phải làm cho sĩ khí một ngày một tiến, lại đưa đến tình cảnh suy nhược, hèn nhát mất cả nhân cách cao sĩ như Lê Quý Đôn đã phải ngán cho khí tiết của kẻ sĩ thời ông. Và Hà Sách Hiển cũng chua chát với câu thơ Vịnh Liệt Phụ Đoàn:
Khả lân nhị bách dư niên quốc,
Thiên lý dân di nhất phụ nhân.

Nghĩa là: Đáng thương cho một nước đã hơn hai trăm năm, tức triều nhà Lê. Mà đến lúc sắp đổ chỉ có một người đàn bà giữ được lẽ trời và đạo người mà thôi.
Thương thay nước cũ hai trăm lẻ,
Giữ vững cương thường một phụ nhân.

Và Công Chỉnh luận về sĩ khí của thời đại cũng có bốn câu thơ cực tả như sau:
Lửa hồng từ dậy máy thành đô,
Đòi chốn lầm than thửa được thua!
Xanh biếc cảnh xen ngươi ẩn dật,
Bạc đen đường vẫn khách bôn xu!

(trong “Quốc Văn Đời Tây Sơn” của Hoàng Thúc Trâm)
Vậy thời bây giờ khi Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc lãnh đạo quần chúng Tây Sơn nổi dậy ở Nam Hà, thì ngoài Bắc Hà dưới chế độ Vua Lê, Chúa Trịnh đã có hai khuynh hướng tư trào chi phối giới trí thức là khuynh hướng Tàng và Hành, ẩn dật hay theo thời thế. Trong khuynh hướng theo thời mà hành động thì cũng chia ra có phe phù Lê diệt Trịnh, hay là phe a dua thế mạnh để cầu lợi, cầu vinh. Cho đến khi Lê Chiêu Thống cầu viện quân Tầu vào chiếm đóng đất nước như quân Tôn Sĩ Nghị, thì nhà Lê vẫn còn dư hưởng của “Bình Ngô đại cáo” cho nên vua Lê vẫn tượng trưng cho chính nghĩa, khiến anh em Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà vẫn còn mượn danh nghĩa phù Lê. Đến khi Nguyễn Huệ với trận Đống Đa cả phá quân Thanh, bây giờ mưu đồ lấy thiên hạ của ông mới đặt cho giới kẻ sĩ vấn đề thắc mắc về thái độ phải lựa chọn.
Ai Công hầu, ai Khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?
(Đặng Trần Thường)
Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.
(Ngô Thì Nhậm)
Rồi cả hai đều chết bất đắc kỳ tử, người theo Tây Sơn, người theo Chúa Nguyễn.
Người “Tụng Tây Hồ” hết lời ca tụng Nguyễn Huệ coi như cứu chúa, trận mưa xuống đồng khô, nhất là sau trận Đống Đa, đấy là phú của Nguyễn Huy Lượng phát biểu:
“Tới Mậu Thân (1788) từ rỡ vẻ tường vân, sông núi khắp nhờ công dũng địch.
“Qua Canh Tuất (1790) lại tươi cơn thời vũ, cỏ cây đều gọi đức triêm nhu”. Người “Chiến Tụng Tây Hồ”, cố chấp vào chính nghĩa trung quân thiển cận, đẽo câu văn cho sướng miệng, thỏa chí điên cuồng bất đắc chí, như Phạm Thái thóa mạ hành vi của Tây Sơn:
“Quỷ dạ xoa quấy bụt xuống chi đây, người bách nghệ đến đâu đều khổ não. Thần hạn bạt nát ai ra đấy tá, kẻ tam nông mong chẳng được tô nhu!” Rồi chê bọn ra phù tá Quang Trung chỉ là bọn lợi dụng thời cơ nhất thời chớp nhoáng:
Lớp tang thương rơi rụng tựa hoa tàn, ngầm thiên tạo cũng vui thay cảnh thú. Cuộc Nam Bắc được chăng đường chớp giật, nghĩ thời cơ thêm ngán nỗi khuông phù!”

Nhưng cái thái độ kẻ sĩ của Phạm Thái chống chủ nghĩa thời cơ bây giờ để mong ủng hộ cho một chính nghĩa phù Lê mộng tưởng cũng chỉ đưa tác giả “Chiến Tụng Tây Hồ” đến chủ nghĩa cá nhân tuyệt vọng chán đời với câu văn đẹp, chén rượu ly bì:
Một tập thơ dày ngâm sang sảng.
Vài chai rượu kếch ních tì tì,
Chết về tiên bụt cho xong kiếp,
Đù cả trần gian sống mãi chỉ?

(Tự trào)
Trong Nam Hà bấy giờ, tình thế có lẽ rõ ràng giản dị hơn, giới Nho sĩ chỉ biết công ơn Chúa Nguyễn, suốt tám đời từ Gia Dụ đến Hiếu Võ đã khai thác nên cơ đồ Nam tiến vững vàng, nhất thời triều chính bị lũng đoạn để cho Tây Sơn nổi lên, Chúa Hiếu Định phải bỏ chạy vào Nam, mà Cao Hoàng phải bôn ba mưu toan phục quốc. Vậy Nho sĩ đất Thuận Hóa chỉ có thái độ “loạn bang bất cư” “nguy bang bất nhập” như Khổng Tử đã dạy, mà kéo nhau đi ở ẩn. Đấy là xử sĩ Hoàng Quang với Võ Trường Toản đã đại biểu cho thái độ kẻ sĩ, lạc quan chờ thời.
Tớ nay, sĩ ở Đông Tân, ngụ miền Nam bạn.
Than rằng đã lánh gian truân, rủi lại gặp kỳ phản hoán.
Số là thấy “thiên hạ hoại loạn dĩ cực”, lửa hừng thảm lại thêm sầu.
Chửa gặp kỳ “Thánh nhân cơ hội khả vi”, mưa rượu đạm màu cứu hạn.
Nói khôn cùng muôn việc thủa xưa, thương phải vài lời tự thán.
Song le truyện cũ đã tra, chép lại sách xưa để án.
Lời rằng: “Đại hàn chỉ hậu tất hữu dương xuân,
Đại loạn chi hậu tất hữu tri trị!”

Vậy có đoán rằng:
Khỉ bồng con ngồi khóc,
Gà vỡ tổ liền bay;
Chó vẫy đuôi mừng chủ,
Lợn ăn no ngủ ngày.

(Hoài Nam ca khúc)
Ở đây thấy rõ kẻ sĩ Nam Hà vẫn lạc quan, không những tin tưởng vào cái định luật Dịch biến Tuần hoàn, đi rồi tất lại, mà còn vì vẫn tín ngưỡng vào Tiên Tổ Miếu Đường như lời văn tế sau đây của ông:
Kính mặt đức Tiên Vương
Non Lam trổ ngốc, nước Việt tuôn vàng.
Thân cùng Trịnh, trong điều mạch nước,
Tôn họ Lê lên chánh ngôi vương.
Thệ đều dạ ái ưu, Hồ Việt tưởng một nhà lạc tiệc.
Tự vì ai hân khích, Lưu Hạng nên trăm trận chiến trường.
Hai chốn Bắc Nam mới cử, sáu năm Thanh Nghệ lại sang.
Thương sinh dân gối tuyết nằm sương, ngoài mới triệu về chư tướng.
Thả Bố Chánh ngăn thành đắp lũy, trong bèn an trị bốn phương.
Tám đời Thánh dõi truyền đức giáo,
Hai trăm năm sửa trị triều cương,
Nại từ ấu tự lên ngôi, giường Thang rồi đã đành vua Giáp.
Thêm lại quyền thần phụ chánh, tộ Nguyễn suy căm giận họ Trương.
Ngoài dã một sâu lê thứ, trong thêm cá thịt họ hàng.
Ong bèn dậy Tây Sơn, thế đã khiến ba phân chân vạc.
Hùm lại gầm ải Bắc, lòng bỗng tàn sắc miếu khói hương.
Thế cheo leo Nguyễn tự nửa tơ, linh biết chăng ôi liệt Thánh?
Rầy xui khiến Hạ đồ một mối, kẻo còn hổ với Thiếu Khang.
Ngõ một thủa lại vầy cơ hội, đặng muôn năm cho sáng Miếu đường!

(Nay cáo) (Hoài Nam dạ khúc)
Cái tín ngưỡng Tổ Tiên ấy đã dẫn đến Nho học tâm linh khai phóng đất Gia Định mà Võ Trường Toản là đại biểu. “Học sách Đại học đến quên hết sách không còn một chữ nào nữa hết” thì mới đạt được cái đạo Đại Học, như ông đã tuyên bố và dạy cho đệ tử:
“Sách Đại Học một ngàn bảy trăm chữ, tan ra vô số việc, thu lại chỉ hai trăm chữ, lại thu nữa chỉ một chữ; lại thu hẳn lại, một chữ cũng không”.
(Văn bia Võ Trường Toản của Phan Thanh Giản)
Bởi thế nên họ Võ đã đạt cái lý: “trong biến đổi tìm đến chỗ không biến đổi” như tiên sinh đã tuyên bố:
“Cho hay dời đổi ấy là thường, mới biết thảo ngay là nghĩa cả!” (Hoài Cổ phú)
Xem thế có thể biết đại khái thái độ nhân sĩ Nam Hà thời ấy rất rõ rệt, không khó khăn phức tạp với chánh nghĩa như nhân sĩ Bắc Hà, nào Vua Lê mời quân Tầu vào, nào Nguyễn Huệ đánh đuổi quân Thanh, nào Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, thật là rối ren khó xử. Trong cái “thế Chiến quốc, thế Xuân thu ấy”, chúng ta đã thấy nho sĩ Trần Công Xán tuẫn tiết để phù Lê, Lý Trần Quán tự chôn sống vì hối hận vô tình phản Chúa (Trịnh Tông). Nay thử ôn lại thái độ của một bậc Nho sĩ danh tiếng như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp, để thấy cái triết lý sống chết tồn vong, nên và không nên (être ou ne pas être) của tiền nhân Việt Nam khó thực hiện là nhường nào.
La Sơn, tên húy là Nguyễn Thiếp, người làng Nguyệt Tạo huyện La Sơn, lúc trẻ thi Hương đỗ Thủ Khoa làm Tri huyện Thanh Giang. Khoảng giữa đời Cảnh Hưng từ quan về ở ẩn tại thành Lục Niên núi Thiên Nhẫn, chuyên nghiên cứu lý học, người đương thời gọi là La Sơn tiên sinh. “Thơ của ông tao nhã thanh thoát, lý thú thung dung, thực là lời nói của người có đức, các tao nhân ngâm khách không thể sánh được”. (Theo Văn tịch chí - Phan Huy Chú).
Nho học của La Sơn tiên sinh căn cứ vào Tính Lý của Chu Hy, nhưng lại ngã về tâm linh thực hiện mà bài bác phản đối khuynh hướng bè phái đảng tranh đương thời, bởi thế mà ông sớm cáo bệnh về ở ẩn, như ta thấy biểu lộ ở bài thơ “Độc Tính Lý Tứ Thư Đại Toàn” sau đây:
Thử lý tòng lai cụ thử thân,
Ngô Nho ưu học bất ưu bần;
Nghĩa tồn, đỉnh hoạch như vô vật,
Đạo khuất, lâm tuyền dã khả nhân;
Toản lý; cơ quan thiên cổ bệnh
Dục nghi, phong vị tứ thời xuân;
Khu khu trở đạt hà tu kế,
Quân tử thành danh chỉ tại nhân.

(Thi Cảo)
Tạm dịch:
Lý ấy đủ trong mỗi cá nhân,
Nhà Nho lo học chẳng lo bần;
Nghĩa còn, hình phạt là đồ bỏ,
Đạo mất tìm vui với núi non.
Biển lận xưa nay đời tranh chấp,
Riêng ta tắm suối bốn mùa xuân.
Loay hoay cùng đạt lo chi nữa,
Quân tử nên người một đạo nhân.
Đấy là thái độ của nhà Nho quân tử. Nhưng muốn làm một nhà Nho quân tử với đạo Nhân, đâu phải là dễ dàng, gặp thời loạn mà đi ẩn là được. Nho sĩ Nguyễn Thiếp sống dưới chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, mặc dầu là thời loạn, được làm vua thua làm giặc, nhưng đeo vai thân sĩ lại muốn làm một quân tử Nho, không phải tiểu nhân Nho, lại càng phải trung thành với tôn chỉ “chính danh định phận. Ngôn thuận danh chính”. Đấy là cả một vấn đề khó xử cho Nguyễn Thiếp lúc bây giờ. Lấy thành Lục Niên, nơi Lê Thái Tổ khởi nghĩa làm nơi ẩn dật, chắc hẳn tiên sinh đã có ngụ ý lấy nhà Lê làm tiêu biểu cho chính nghĩa dân tộc, như Lê Thúc Thông đã viết: Sách Địa Dư có câu:
Lục niên cung kiếm anh hùng sự
Bản trảm yên hà dật khách tình.

Nghĩa là:
(Sáu năm, tục thành này gọi là Lục Niên, việc cung kiếm là việc của người anh hùng Lê Lợi,
Nửa gối khói mây là tình cảnh của nhà ẩn dật.)
“Lấy thành Lục Niên với Nguyễn xử sĩ mà đối nhau, thời biết thành Lục Niên Nguyễn xử sĩ hai sự tích ấy đều là tiêu biểu cho cõi Hồng Lam, xin người thượng lưu xã hội, người hạ lưu xã hội trông lên thành Lục Niên nên có lòng tư tưởng giang sơn, trông lên miếu Nguyễn xử sĩ nên có lòng phù trì danh giáo”.
(Nam sử liệt truyện khảo cứu. Nam Phong số 102)
Như thế thì Nho sĩ Nguyễn Thiếp đã phải đối phó với các thế lực đương thời như thế nào để giữ cái gọi là Chính nghĩa Dân Tộc thời bấy giờ, nào là Vua Lê, Chúa Trịnh, nào là Quang Trung Nguyễn Huệ, nào là Vua Gia Long.
Vào năm 1780 Chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm có ý thay thế vua Lê, mời Tiên sinh Nguyễn Thiếp ra kinh để dùng. Rồi thấy Tiên sinh lại về núi, tỏ rằng không muốn hợp tác với thế lực bất chính. Về thái độ này, Hoàng Xuân Hãn trong tác phẩm La Sơn Phu Tử - Minh Tân xuất bản, có cho biết:
“Đọc thơ các người ở Thăng Long tặng Cụ thì biết rằng Chúa muốn trọng dụng Cụ, nhưng Cụ từ chối”.

Thơ của Bùi Bất Trực:
Bốn bể ngẩng trong Thiên Nhận đỉnh,
Chín trùng trọng vọng Lục Niên quan.

Nhưng đối với Nguyễn Huệ tự lúc Nguyên Súy đến lúc làm Vua Quang Trung ba phen cho thư đưa lễ vật đến mời, cử chỉ thật nhún nhường kính hiền mộ sĩ, mà Nguyễn Thiếp cũng không ra, can đảm từ chối. Cho đến khi Nguyễn Huệ đến tân Nghệ An, mời ra hội kiến, Tiên sinh mới chịu ra, nhưng trong lời đối đáp vẫn một mực giữ được chính nghĩa. Sách gia phả chép rằng:
Huệ tới châu ta, dừng ở núi Nghĩa Liệt, dương uy vũ ra oai ép Cụ phải ra mắt Huệ.
Cụ tới Huệ trách rằng:
- Đã lâu nghe đại danh. Ba lần cho tới mời, Tiên sinh không thèm ra.
Tiên sinh cho quả nhân là thằng giặc nhỏ, không đã làm kẻ anh hùng trong thiên hạ chăng?
Cụ trả lời:
- Hơn hai trăm năm nay, quyền về tay họ Trịnh hung bạo. Vương mới đưa quân ra một lần mà dứt được lập lại nhà Lê. Với danh nghĩa chính thì anh hùng ai lại chẳng theo? Nếu giả tiếng nhân nghĩa, nói dối tôn Vua để lấy tiếng thì lại hóa ra là một kẻ gian hùng.
Huệ bèn đổi sắc mặt, ngồi dịch ra mà tiếp đãi rất trọng. Cụ ngồi nói chuyện hồi lâu mới về.

(Theo sách của Hoàng Xuân Hãn đã dẫn trên)
Đấy là thái độ của Nho sĩ dám nói vậy.
Khi đem quân ra đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ lại gặp Nguyễn Thiếp ở Nghệ An hỏi về sách lược. Tiên sinh nói:
Người Thanh ở xa tới mệt nhọc, không biết tình thế khó dễ thế nào, thế nên chiến thủ ra sao. Vả nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một phút thì khó lòng mà được nó.
Huệ mừng lắm trả lời:
- Ông nói chính hợp ý tôi.

(Theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí)
Đến đây theo con mắt của Nguyễn Thiếp, Vua Lê đã mất chính nghĩa vì cầu viện quân nhà Thanh dày xéo lên đất nước đặng bảo vệ ngôi vị của mình. Bởi thế mà nho sĩ Nguyễn Thiếp không ngần ngại ra giúp chính nghĩa của Nguyễn Huệ để đánh đuổi kẻ xâm lăng ngoại lai vậy. Và để chứng minh cái chính nghĩa vì dân tộc của Tiên sinh, Quang Trung tuy trả lại tước lộc của vua nhưng vẫn thẳng thắn giúp vua bằng những lời khuyên vương đạo: “Nào vua nên một lòng tu đức, ấy là gốc của vạn sự, nào là dân thường không nhớ chỉ mến kẻ có đức nhân, lòng người quy về là bởi mệnh trời; nào là phép học ‘ngọc không chuối không thành đồ, người không học không biết đạo’... Người ta tranh đua học tập từ chương, cầu công lợi mà quên mất đạo đức chính trị tam cương ngũ thường. Chúa tầm thường, tôi nịnh hót, quốc phá gia phong”.
Như thế đủ tỏ Nguyễn Thiếp chưa hẳn nhận Quang Trung là chính nghĩa, vì mặc dầu phương ngôn Việt có câu “được làm vua thua làm giặc” cũng như chủ nghĩa duy vật ngày nay tin rằng võ lực là mẹ lịch sử, nhưng đối với nhà Nho Việt xưa nay cũng như đối với tinh thần văn hóa Đông phương, một võ công không đủ lập nên chính nghĩa. Cũng may Nguyễn Huệ, vua Quang Trung là người biết phục thiện, cho nên Nguyễn Thiếp đã nhận chức Viện trưởng Sùng Chính viện để thực hiện chương trình cải cách giáo dục đương thời.
Nhưng Nguyễn Huệ sớm băng hà, Nguyễn Thiếp lại một phen đem tính mạng để thử thách với chính nghĩa trong một thời cục rối ren, đại thần giết nhau, quân dân nghi hoặc. Nhiều tướng giỏi bỏ Tây Sơn, Lê Chất hàng Chúa Nguyễn, Lê văn Thành tướng Tây Sơn ở Quy Nhơn cũng hàng. Kẻ sĩ Nguyễn Thiếp trả lại chức Viện trưởng Sùng Chính để về núi. Nhưng vua nối ngôi Quang Trung là Quang Toản ép vào Phú Xuân để vấn kế. Lúc này nhà vua nhỏ tuổi, triều thần đối với tiên sinh ngoài mặt dùng lễ mà bề trong thì uy hiếp bằng võ lực, cho nên mới thấy có sách chép:
“Con Huệ là Trát lại sai Trấn quan đưa lễ và một ngàn lính lên núi ép đón”.
(Dã sử nhật ký - theo sách La Sơn Phu Tử của Hoàng Xuân Hãn)
Nhưng trước mặt Vua Quang Toản, được hỏi về quốc sự, Tiên sinh cũng thẳng thắng dám nói sự thật:
- Không thể làm được.
Lại hỏi: - Cụ có dạy gì không?
Đáp: - Dạy ai theo.
Quang Toản nói: - Tôi giao ấn kiếm ai dám không theo.
Cụ hỏi: - Nếu quân vương không nghe thì sao?

Thế rồi Chúa Nguyễn Ánh đánh vào Phú Xuân năm 1801, Quang Toản và tướng tá bỏ chạy ra Bắc. Nguyễn Thiếp đang bị giữ ở Phú Xuân, vẫn giữ một thái độ điềm nhiên của kẻ sĩ “Phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất” nghĩa là: giàu sang không làm cho xiêu lòng thèm muốn, sức mạnh võ lực không thể làm khuất phục. (Mạnh Tử).
Chúa Nguyễn Ánh vào Phú Xuân rồi, “Tiên sinh ngồi đứng như thường, cư xử thản nhiên. Lính vệ sĩ của Chúa Nguyễn về báo có người hình trạng như thế. Vua Thế Tổ bèn triệu cụ tới, tiếp đãi rất có lễ, hỏi:
- Ngụy Tây Sơn mời Tiên sinh làm thầy, vậy Tiên sinh dạy nó ra sao?
Cụ trả lời: - Có tám điều trong sách Đại Học, có chín đường trong sách Trung Dung, người giỏi thì làm được, người không giỏi thì không làm được.

Vua cho câu nói ấy hay, trọng đãi Cụ như khách, Cụ ở lại mười ngày, bèn xin về”.
(Theo sách La Sơn Phu Tử đã dẫn)
Những sự kiện trên đây có thật hay không, khó mà biết. Duy còn tờ chỉ mà ông Hoàng Xuân Hãn đã dịch như sau:
“Chỉ cho La Sơn dật sĩ Nguyễn Thiếp:
Nghe nói khanh tuổi cao đức thịnh, xứng với lòng người ta trông mong. Trước bị Ngụy triều ép gọi đến, giữ lại ở kinh lâu ngày. Nay, sau lúc đại binh tiến tới Phú Xuân, khanh tới cửa quân giãi bày, thành thật và xin trở về nhà.
Ta nghĩ rằng kẻ hiền nên kính trọng, kẻ giả nên để yên. Sai... hầu đưa quân lính tiễn về đến đầu giới hạn Hoành Sơn.
Sau lúc về núi, Khanh nên chăm việc rèn đúc kẻ hậu tiến để giúp đời thịnh, để không phụ ý Trẫm rất tôn hiền”.

Theo đấy thì Nguyễn Thiếp trải qua mấy triều trái nghịch tương tranh, nào thế Chiến quốc, nào thế Xuân thu, vẫn giữ được trọn vẹn thái độ của bậc hiền sĩ, quả là một nhà Nho có thật đức vậy. Sống vào thời hỗn loạn, thế lực lên xuống bất thường chớp nhoáng, kẻ phù Lê cũng bị Quang Trung giết như Nguyễn Hữu Chỉnh, kẻ phò Quang Trung lại bị Nguyễn Gia Long giết, như Ngô Thời Nhậm, thậm chí kẻ phù nhà Nguyễn lại bị nhà Nguyễn giết, như Đặng Trần Thường, thế mà chỉ có Nguyễn Thiếp giữ được toàn vẹn cả tính mạng lẫn thanh danh. Đấy thật là một tấm gương Chính nghĩa Việt Nam cận đại. Chẳng biết ngày nay người ta hiểu thế nào là Chính nghĩa, và người ta đã sống theo chính nghĩa như thế nào?

Tập san “Sử Địa” số 21 (1971)
(Trang 107-117)
0
Một giai thoại giữa vua Quang Trung và một số nhà nho xứ Bắc
Phạm văn Sơn

Quân Nam Hà đã ào ạt kéo vào Thủ đô Thăng Long như gió bão sau khi những lực lượng cuối cùng của Thạc quận công Hoàng Phùng Cơ đã tan rã hết ở bến Nam Dư và Tây Luông cùng quanh bốn cửa ô của đế thành. Hỏa hổ của quân Tây Sơn bắn ra ầm ầm cùng một loạt với những ống đựng thuốc súng ném ra như mưa khiến nhiều phố phường bị chìm trong khói lửa. Trong các lâu đài, cung điện về phía Tây bắc, có Văn miếu thờ Khổng Tử và là Quốc Tử Giám cũng bị đốt cháy và tàn phá. Không người dân xứ Bắc nào đi qua nơi này mà không bùi ngùi và không oán hạn chiến tranh, nhất là các nho sĩ. Vì sao? Vì nơi này là chỗ thờ vị “Vạn thế sư biểu” và các tiền hiền, nơi này là nơi kỷ niệm, tôn sùng sự truyền bá đạo học nhân nghĩa Đông phương, nơi này còn là chỗ dựng bảng vàng bia đá để nghìn năm đất nước nhớ đến nhân tài của các thế hệ đại diện cho tầng lớp lãnh đạo dân tộc.
Tại Trung Quốc Văn miếu có từ đời Hán Cao Tổ (thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên). Ông vua này sau khi diệt Tần hạ Sở, gồm thâu được sáu nước, thống nhất được Trung nguyên đã công nhận rằng ngồi trên lưng ngựa lấy được thiên hạ nhưng không thể cũng ngồi trên lưng ngựa mà chinh phục được nhân tâm. Có lẽ vì quan niệm này mà đẳng cấp nho sĩ đã được đề cao và duy trì để đóng vai trò hướng dẫn nhân dân, xây dựng nền bình trị, mở mang phong hóa do đó từ đời Hán người ta sùng thượng Khổng thánh và chư hiền.
Ở Việt Nam, chúng ta học hỏi người Tàu từ hai chục thế kỷ cũng kính mến đạo Nho nên trong khi lập quốc kiến quốc đã dựa vào đạo Nho và lấy đạo Nho làm căn bản cho nền văn hóa dân tộc.
Đời Lý là một triều đại thịnh trị đã lập Văn miếu vào năm 1070 tức năm Thần Vũ thứ hai (dưới Lý Thánh Tông) nhưng có điều khác với Trung Quốc, Triều Tiên v.v... Ở chỗ ngoài việc Văn miếu là nơi vua quan đến tế lễ Khổng Tử và các môn đồ của Ngài, Văn miếu còn là nhà Quốc học cho các con vua, con quan và các thanh niên tài tuấn trong dân chúng. Thêm vào đó Văn miếu còn là chỗ in sách và là kho mộc bản (bản khắc chữ trên gỗ để in sách) để phổ biến văn hóa ra toàn quốc.
Ai đi qua Giám (Hà Nội ngày xưa) đều thấy miếu thờ Khổng Tử trước đây không khác gì các ngôi đình lớn nằm ngang, đối diện có cái sân rất rộng và hai bên tả hữu có hai dãy nhà chạy dọc nhiều gian. Cửa Đại Thành có ba gian hai chái, lợp bằng ngói ống, cửa Thái học ba gian có tường ngang cũng lợp ngói ống. Ở hai bên phía Đông, phía Tây có 2 dãy nhà bia mỗi bên 12 gian, kho chứa mộc bản gồm 4 gian. Tất cả chiếm một khu vực khá rộng từ đầu đường Sinh Từ sang tới giáp đường Sơn Tây.
Khi vào Văn miếu, người ta tiến qua cửa Đại Trung đến gác Khuê Văn và nhìn vào bên trong thì thấy phía hai bên giếng Thiên Quang mỗi bên có hai lớp bia gồm 82 tấm.
Bia bằng đá hình chữ nhật, chiều cao dài hơn chiều ngang dựng trên bệ đá hình con rùa cổ nghển cao, bốn chân lấy gân bò tượng trưng một trách nhiệm nặng nề, một sức chịu đựng bền bỉ.
Bản thân bia, trên đầu có chạm trổ rồng phượng vân ám, nhật quang, mặt trăng, hình bảo ngọc và chạy dọc theo thân bia là hoa lá lẫn thân rồng quấn thừng v.v...
Ở mặt bia có nhiều hàng chữ khối vuông nói về tổ chức giáo dục, thi cử, mục đích việc dựng bia và tên tuổi, quán chỉ của các vị đậu Tiến sĩ. Mỗi bài văn bia còn ghi cả tên người soạn, người nhuận sắc, người khắc, người viết, người vẽ triện và ghi niên hiệu khoa thi và năm dựng bia. Cái bia thứ nhất ra đời vào năm Nhâm Tuất (1442) tức năm Đại Bảo thứ ba. Cho đến đời vua Lê Chiêu Thống là khoa cuối cùng của triều Lê (1787) có tất cả 124 khoa thi Đình. Nếu chỉ kể khoa thi Tiến sĩ (không kể các khoa Đông các và Chế khoa) thì phải có số bia là 96 khoa của triều Lê và 21 khoa của triều Mạc, cộng tất cả là 117 cái bia. [1]
Xét ra sau ngót tám thế kỷ, Văn miếu thờ Khổng Tử với những tấm bia tiến sĩ đề danh im lìm dưới những dãy cây cổ thụ xanh um cao ngất là một di tích vô cùng quý giá, là một thắng cảnh trong những thắng cảnh của Thăng Long, là một cái gì thiêng liêng đặc biệt bởi nó tượng trưng cuộc sống tinh thần và nền văn hóa Việt Nam. Vậy người ta không làm sao không tiếc được khi thấy nó xơ xác tiêu điều hay bị đốt phá tan tành sau thời chinh chiến, chẳng vậy Nguyễn Du trước cánh biển dâu thay đổi đã than:
Thiên niên cựu thất thành quan đạo,
Nhất phiến tân thành một cố cung.

Điều ta biết chắc là tới khi Tây Sơn ra đánh chiếm Bắc Hà nói chung, thành Thăng Long nói riêng thì Văn miếu ở nơi cựu đô cũng đã bị hủy hoại nhiều rồi. Nhưng mỗi khi cuộc binh đao chấm dứt thì các triều đình Việt Nam ta lại lo sửa chữa lại, có lẽ không ngoài ý niệm miếu Khổng còn thì đạo Khổng còn, đạo Khổng còn thì còn sĩ phong, sĩ khí, điều này liên hệ rất nhiều đến vận mệnh và tương lai của quốc gia.
Nay lại một phen nữa miếu Khổng và bia tiến sĩ bị ngửa nghiêng trong tro bụi, thà với bọn xâm lược ngoại bang có lẽ không đáng giận. Nhân sĩ Bắc Hà hẳn nghĩ rằng việc đốt phá này đã do quân đội Nam Hà ít ngày trước bởi Trịnh Khải sau khi bại trận trốn ra ngoài thành Thăng Long dầu có giận một số khoa mục theo quyền lực mới cũng không còn đầu óc nào mà cho người về phá hủy Văn miếu và bia tiến sĩ. Tóm lại, trước sau họ nghĩ chỉ người Nam Hà mới đang tâm hành động như vậy, nhất là từ đời các Chúa Nguyễn, Nam Hà đã tự xưng mình là một nước, một nước riêng biệt như cả về chủng tộc (chứng cớ là Thái Đức anh Nguyễn Huệ ra Bắc qua cuộc đàm thoại với vua Lê Chiêu Thống, đã tuyên bố: “Hai nước chúng tôi sẽ đời đời giao hiếu, hòa mục với nhau, thế là phục...” [2] Rồi thân sĩ Bắc Hà nhờ Tam Nông tiên sinh làm giúp một bài sớ đội tên nông dân trại Văn chương đòi vua Quang Trung dựng lại bia tiến sĩ, sửa lại Văn miếu. [3]
Xin nhắc rằng Tam Nông tiên sinh tên là Hà Năng Ngôn bây giờ là quân sư bí mật của nhà vua. Ông sinh tại thôn Vân Đài, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay. (Xưa kia thuộc Sơn Nam, sau thuộc về tỉnh Hưng Yên).
Nguyên văn bài sớ:
Chúng tôi một lũ dân cấy hái,
Trái mùa sinh vào trại Văn chương.
Trong khi cày ruộng, cuốc nương,
Vành ngoài trông vọng cung tường miếu văn.
Có một thá băn khoăn trong dạ,
Mượn thầy nho phô tả ra tờ.
Dám mong lọt cửa quân cơ,
Gió Nam đưa tới dưới cờ ngài Quang Trung.
Bia tiến sĩ dựng trong Văn miếu,
Khởi từ năm Đại Bảo thứ ba (1442).
Xí vào Nhâm Tuất hội khoa,
Thái Tông ngự trị thuộc nhà Hậu Lê.
Rồi từ đó lệ về Quốc giám,
Trải ba trăm ba mươi tám năm ròng.
Đến năm thứ bốn mươi hiệu Cảnh Hưng
[4]
Là khoa Kỷ Hợi cuối cùng hết bia.
Tính gồm lại số bia trong Giám,
Cả trước sau là tám mươi ba.
Dựng theo thứ tự từng khoa,
Bia kia sáu thước cách xa bia này,
Nhà bia đủ đông tây mười nóc,
Vuông bốn bề ngang dọc bằng nhau.
Mỗi bề hai chục thước tàu.
Cột cao mười thước, có lầu chồng diêm.
Coi thể thế tôn nghiêm có một,
Cửa ra vào then chốt quan phòng.
Bốn quan nhất phẩm giám phong,
Ba cơ, bảy vệ canh trong quét ngoài.
Bia mới dựng đầy hay nóc trước,
Tám nóc sau còn gác lưu không.
Năm năm chờ đợi bảng rồng,
Các quan bộ Lễ bộ Công chiếu hành.
Kề cửa Khổng, sân Trình gang tấc,
Đào tạo nền nhiều bậc anh tài,
Một nền văn hiến lâu dài,
Tiếc thay chưa được đón Ngài ngự thăm!
Bốn năm trước, giữa năm Bính Ngọ (1786),
Ngài đem quân ra thú Bắc Hà.
Oai trời sầm sét thoảng qua,
Cơ đồ họ Trịnh bỗng ra tro tàn,
Bia tiến sĩ, vô can, vô tội.
Mà vạ lây vì lỗi cháy thành:
Bia thì đạp đổ tung hoành,
Nhà bia thì đất tan tành ra tro.
Tội ác ấy là do Trịnh Khải,
Lúc sa cơ hắn phải trốn ra.
Cho vời các bậc đại khoa,
Trước sau chẳng thấy ai qua theo mình.
Sau có một nghè Canh ứng tiếp.
[5]
Lại đưa nhầm vào mép hổ mang.
Đến khi việc đã nhỡ nhàng,
Giận người khoa giáp lại càng tím gan.
Nhân có cháu là Lan trốn lủi,
Khải trao cho một túi vàng kho.
Dặn về thuê kẻ côn đồ,
Phá bia tiến sĩ để cho bõ hờn.
Trịnh Lan cũng đang cơn giận bực,
Trốn được về, tức tốc làm ngay,
Dân nghèo mộ được nhiều tay,
Mấy trăm lính cũ cùng thầy tớ thân,
Cho tiền bạc, cho ăn, cho uống,
Cho cuốc, vồ, mai, thuổng, búa, dao.
Thừa cơ binh lửa ồn ào,
Phá bia, đốt Giám, lửa cao lưng trời.

Có kẻ nói:
Những lời trước là lời bịa tạc,
Nào có ai đích xác mắt tai,
Hay chăng quân lính nhà ngài,
Trong khi xung sát, ra oai thị hùng.
Bia chí sĩ bỗng không mà hóa đổ,
Chẳng qua vì khí số xui nên,
Xét soi nhờ ở lượng trên,
Phá đi rồi lại dựng đền nay mai.
Chúng tôi chiếu lại hai lời,
Sự thực hư chưa thấy rạch ròi.
Song le, việc đã qua rồi,
Chẳng chỉ bới móc, tìm tòi uổng công.
Chỉ xin được Ngài trông vì nước,
Dựng lại bia, cùng nhà bia cho được y nguyên.
Trước là giáo dục kẻ hiền,
Sau là văn mạch rõi truyền dài lâu.
Nấn ná nữa, mưa dầu, nắng dãi,
Dùng dằng rồi, ngày lại tháng qua.
Cát vùi, rêu phủ chữ nhòa.
Tay sờ không thấy, lệ sa bằng thừa.
Muốn tìm lại dấu xưa, vết cũ,
Ai là người khảo cổ cho hay?
Vậy nên mong ở ngày nay,
Một giờ nào sớm, càng hay một giờ.
Chúng tôi kíp chờ chiếu ngọc,
Mong Ngài trông vào nhà Quốc học ngay cho.
Chúng tôi mừng vận làng nho,
Mừng hơn cày cấy mà trời cho được mùa.
Chúng tôi chúc nhà vua muôn tuổi,
Vì nước nhà mà hội hà thanh
Còn bia tiến sĩ đề danh,
Vẫn còn bàn thạch triều đình non tây.

Dưới bài sớ này có lời phê như sau của Nguyễn Huệ:
Ta không trách nông phu,
Ta chỉ gớm thầy Nho,
Cả gan lớn mật dám kêu vua bằng Ngài.
Thầy Nho là ai?
Sắc cho Bộ hỏi, dân khai...
Thôi, thôi, thôi, việc đã rồi,
Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta.
Nay mai dọn lại nước nhà,
Bia Nghè lại dựng trên tòa muôn gian.
Cơ đồ họ Trịnh đã tan,
Việc này cũng đừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải.

Sau khi đọc bài sớ kể trên chúng tôi có một vài nhận định như sau: Việc dâng sớ lên vua Quang Trung để “bắt đền” nhà vua đã để binh đội Tây Sơn tàn phá Văn miếu trong dịp tiến đánh vào thành Thăng Long đã được nghiên cứu rất kỹ trên mọi khía cạnh tâm lý: Thân sĩ Bắc Hà biết Nguyễn Huệ chịu nghe lời phải trái, lẽ trọng khinh. Họ lại hiểu rằng nhà vua tuy xuất thân nơi bình dân, học ít nhưng rất thông minh lỗi lạc nên mới dám đưa ra chuyện “bắt đền” hay trêu chọc này. Quả vậy theo Vũ trung tùy bút trích dẫn trong Minh đô sử (sách 22, tờ 8, dòng 6) của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Huệ đã có lời văn dụ các hương cống, sinh đồ triều Lê [6] rất là ân cần thì việc nêu ra vấn đề dựng lại bia Nghè, trùng tu Khổng miếu để rồi truyền văn mạch, giáo dục kẻ hiền là điều rất hợp lý đối với con người ấy.
Đây là một thái độ đúng đắn và xây dựng nhất là lại do nông dân đề cập tới, Nguyễn Huệ lại càng phải lưu ý tới tuy biết rằng kẻ bày trò bắt đền này có phải đâu là nông dân. Thân sĩ Bắc Hà đội lốt nông dân để “chẹt” ông vua, ông tướng từng vỗ ngực tuyên bố là con người cơm rau áo vải đó mà thôi. Sự việc lại hiển nhiên do mục đích tôn sùng văn hóa, bảo vệ nho phong là điều rất thích đáng thì Nguyễn Huệ từ chối làm sao được!
Nhưng có nên nói rằng thân sĩ Bắc Hà đã chơi “sược” với Nguyễn Huệ khi họ khoác lốt nông dân để dâng sớ. Họ thừa rõ trước là Nguyễn Huệ sẽ biết hơn ai hết và biết ngay tức khắc tác giả bài sớ không là nông dân mà là đám nho giả rồi có thể Nguyễn Huệ sẽ nghĩ: bọn nho giả miền Bắc không thèm nói chuyện với ta hay sao mà lại bày ra cái điệu nông dân trại Văn chương? (trại Văn chương sau này đổi ra là làng Văn chương ở ngay phố Sinh Từ thành Hà Nội ngày nay). Đã vậy đám nông dân ấy lại không tâu Ngài bằng Hoàng đế, do đó Nguyễn Huệ phê luôn:
Ta không trách nông phu,
Ta chỉ gớm thầy Nho,
Cả gan, to mật dám kêu vua bằng “Ngài”
Thầy Nho là ai?
Sắc cho Bộ hỏi, dân khai...

Rút cục Nguyễn Huệ vẫn chẳng chém giết cái bọn nông dân trá hình mà còn chịu luôn cả lời yêu sách cùng buộc tội của họ mà phán quyết rằng:
Nay mai dọn lại nước nhày
Bia nghè dựng lại trên tòa muôn gian.

Phái chi với một ông vua khác ưa hách xằng nịnh bậy sẽ có kẻ gièm pha thì đám thân sĩ Bắc Hà đã tha hồ mà rụng đầu đứt cổ. Được con người biết điều phải chăng, biết trọng hiền kính sĩ như vua Quang Trung đến ngày nay cũng vẫn chẳng có nhiều lắm đâu, thưa các bạn.
Về kỹ thuật của bài sớ, ta thấy trước khi buộc chết cho binh đội Tây Sơn đã tàn phá miếu, đình trong thành Thăng Long, tác giả đã dùng lối ỡm ờ (là con người rất tế nhị mới hiểu được điểm này) nên đưa ra một nghi vấn nói rằng có kẻ nói có lẽ thủ phạm việc này là Trịnh Khải khi sa cơ thất thế bị các nho thần bỏ rơi nên cho người nhà là Trịnh Lan mướn côn đồ đến phá bia và văn miếu. Nhưng liền đó, tác giả phủ nhận ngay giá trị của nghi vấn này:
Nhưng lời ấy là lời bịa tạc,
Nào có ai đích xác mắt tai...

rồi ấn định một cách trắng trợn:
Hay chăng quân lính nhà Ngài,
Trong khi xung sát ra oai thị hùng?

cũng như ở đoạn trên tác giả đã đề cập tới:
Bốn năm trước, giữa năm Bính Ngọ (1786)
Ngài đem quân ra thú Bắc Hà,
Oai trời sấm sét thoảng qua.
Cơ đồ họ Trịnh bỗng ra tro tàn
Bia tiến sĩ, vô can, vô tội,
Mà vạ lây vì nỗi cháy thành.
Bia thì đạp đổ tung hoành,
Nhà bia thì đốt tan tành ra tro.
[7]
Sau khi viện ra các nguyên nhân vật chất, các nghi vấn mà trước sau vẫn cứ đổ lỗi cho quân Tây Sơn, tác giả đề nghị xóa bỏ luôn viết chứng minh mà nêu ra điều nhân nghĩa nói rằng dầu do Trịnh Khải hay Tây Sơn gây ra thì bia cũng đã đổ, văn miếu đã bị cháy ra tro, giờ đây chỉ nên vì mục đích giáo dục kẻ hiền, rồi truyền văn mạch và bảo tồn cổ tích là việc rất cần và rất quan trọng mà dựng lại bia cho xong:
Song le: việc đã qua rồi,
Chẳng chi bới móc, tìm tòi uổng công...

Trước kỹ thuật sắc bén của tác giả, ta không khỏi nghĩ đến một vài lề lối bài binh bố trận: rút một bước để tiến ba bước, rút để tấn công và lấy nhân nghĩa để khai thác lòng ham nhân nghĩa của địch: Thật là khôn ngoan, khéo léo vô cùng.
Bài sớ này trích ra trong Tam Nông truyện biểu và đã được Nguyễn Du tiên sinh phê:
Chắp tay tôi lạy bá Tam Nông,
Cuốc trăm nhát dật vào lòng cả trăm.

Đó cũng là lời tán thưởng thủ đoạn của kẻ làm bài sớ cho “nông dân trại Văn chương”, ngoài ra ở bài sớ này ta thấy văn Nôm đời Lê mạt đã có những lời đơn giản, sáng sủa nhiều câu rất điêu luyện chải chuốt đem lại cho bạn đọc chúng ta nhiều khoái trá. [8]

Văn Hóa Nguyệt San, Tập XIII, Quyển 7
Tháng 7 - 1964. Trang 741-749
---------------
[1] Hiện giờ ở Văn miếu Hà Nội người ta thấy mất đi 42 tấm không rõ nằm ở đâu và sự thất lạc này có lẽ do việc binh biến qua nhiều thế hệ.
[2] Xin coi Quang Trung Nguyễn Huệ, anh hùng dân tộc của Hoa Bằng do xuất bản Bốn Phương phái hành. - Trang 95
[3] Theo ý chúng tôi, không phải là những người có sáng kiến trêu chọc vua Quang Trung không làm được bài sớ nhưng họ nhờ Tam Nông tiên sinh làm để Tam Nông tiên sinh gánh luôn trách nhiêm đối phó với Nguyễn Huệ nếu nhà vua có phản ứng mạnh
[4] Năm 40 hiệu Cảnh Hưng tức là đời vua Hiển Tông (1779)
[5] Nghè Canh đây là Lý Trần Quán.
[6] Trong Vũ Trung tùy bút, nói về lòng sốt sắng đối với nhân tài và văn hóa, Phạm Đình Hổ có ghi bằng những câu dưới đây:
Vấn khăn đỏ lấy ngồi ngai,
Ngó thử đáng ngôi hoàng cực (ngôi vua)
Vắt áo thâm đi như trẻ
Còn mong các chú cống sinh...

[7] Xem đoạn này ta biết bài sớ kể trên được dâng lên vua Quang Trung vào năm 1790, tức là bốn năm sau cuộc Bắc tiến năm Bính Ngọ (1786)
[8] Bài sớ trên đây do ông Đào văn Bình sao lục trong Tam Nông truyện biểu đưa qua Thúc Ngọc Trần văn Giáp tiên sinh để nghiên cứu, đính chính và bình luận nên họ Đào không chịu trách nhiệm về phổ biến. Chúng tôi nghĩ rằng việc phổ biến sử liệu lại là điều rất cần để hiệu đính hay cùng nghiên cứu cho có phần rộng rãi hơn. Phần nhận định trong bài này không giống bản phân tích và nghị luận của Trần quân và chúng tôi chỉ dựa vào tài liệu để đưa ra những ý kiến riêng. Và cũng do Trần quân thấy phổ biến sử liệu kể trên là hợp lý nên chúng tôi và Trần quân mới có cuộc gặp gỡ bài này, thật là may mắn vô cùng cho nền sử học nước nhà đang thiếu sót nhiều về mặt biên khảo.
0
Chính sách ngoại giao của Quang Trung hoàng đế
Lê văn Ba

Mùa Xuân Kỷ Dậu 1789!
Mùa Xuân Kỷ Tỵ 1989!
Hai trăm năm xưa đã lâu rồi, nhưng hôm nay nhắc lại lòng người Việt nào lại chẳng thấy rộn lên một nỗi niềm hứng khởi từ những ngày xuân chiến thắng chói lọi vinh quang ấy.
Quang Trung đại đế đã cấp thảo một nét đậm vàng son trong lịch sử chiến tranh thế nhân. Chỉ trong vòng ba ngày ngắn ngủi - từ mồng 3 đến mồng 5 tháng Giêng. Người đã đánh tan một binh đoàn 20 vạn quân tinh nhuệ bậc nhất của thế giới và quét sạch cũng chừng ấy đoàn dân binh của đạo quân xâm lược Thanh triều.
Tưởng cho đến ngày hôm nay, thế kỷ 20, với vũ khí tối tân, với chiến lược phối hợp không, thủy, lục quân cũng chưa có trận nào ghi được chiến công thần tốc như vậy.
Chúng ta đang tự hào và sung sướng tắm ngợp trong ánh sáng vinh quang của tổ tiên thủa nào vẫn còn chiếu rọi đến hôm nay và ngày mai nữa.
Tuy nhiên chúng tôi không muốn viết, không muốn kể về các trận đánh sắt máu oai hùng nhưng cũng đầy đau thương cho loài người mà chúng tôi lại muốn nhắc đến cái tài ngoại giao của Quang Trung hoàng đế.
Nhà vua mến thương và cao cả của chúng ta chẳng những là người có tài quân sự, giỏi nội trị, vững kinh tế... mà còn rất khéo ngoại giao để đưa nước Đại Việt nhỏ bé lên một tầm mức quan trọng hơn các tiểu quốc ở Á châu lúc bấy giờ.
Dưới đây chúng tôi xin lần lượt đề cập đến các vấn đề:
1.- Sự giao hòa sau chiến tranh Kỷ Dậu
2.- Ép Thanh sứ vào Thuận Hóa phong Vương
3.- Giả vương triều kiến vua Kiền Long
4.- Yêu sách đặc sản, đặc vật của Thanh triều
5.- Phá lệ cống người vàng từ đời Lê
6.- Đòi đất miền biên giới
7.- Cầu hôn công chúa và xin đất lập kinh đô

1.- Sự giao hòa sau chiến trận Kỷ Dậu
Ngay từ ngày mới ra quân đuổi giặc, việc chiến thắng đã nắm chắc trong tầm tay, nhà vua cũng đã nghĩ đến sự yên ổn cho dân, và tìm cách dập tắt ngọn lửa chiến chinh.
Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (1788) vua Quang Trung đến núi Tam Điệp, được bầy tôi Ngô văn Sở, Phan văn Lân, Ngô Thì Nhậm nghênh đón và chịu tội. Sau khi quở trách và phủ dụ đôi điều, ngài đã tâm sự: “Nay ta ra tới đây, thân đốc việc binh, chiến thủ ra sao đã có phương lược định sẵn. Chỉ nội mười ngày nữa, thế nào ta cũng quét sạch được giặc Thanh. Song le, ta nghĩ: Nước Thanh lớn hơn gấp nước ta mười lần, Thanh thua rồi, tất lấy làm thẹn, chắc phải tìm cách rửa hờn. Nếu cứ để binh lửa kéo dài, mãi không yên ổn, thật không phải là phúc nhân dân, lòng ta sao nỡ? Nên chi, sau khi chiến thắng ta nên khéo đường từ lệnh thì mới dập tắt được ngọn lửa binh tranh. Việc ấy ta sẽ giao cho Ngô Thời Nhậm”.
Vua lại sai Trần Danh Bính cầm đầu tám sứ thần, đưa đến cho Tôn Sĩ Nghị ba đạo biểu văn, một đạo của Lê Duy Cận, một đạo của quần thần và một đạo của nhân dân, nói rõ sự tình phải lên thay nhà Lê. Thêm vào, vua lại thả, trả cho Thanh những đạo tuần dương binh do Hác Thiện Tông cầm đầu bị tướng Tây Sơn bắt được từ trước.
Đành rằng mặt khác việc cung thuận hòa bình này cũng là một chiến thuật đánh lừa quân địch kiêu ngạo khinh xuất quân ta để dễ dàng chiến thắng về sau, nhưng bản ý cũng là cuộc vận động hòa bình trước khi lưỡi gươm rút ra khỏi vỏ.
Rồi như lịch sử đã ghi, sau đó cuộc chiến mở màn thầm lặng từ đêm 30 Tết trên sông Gián Thủy (Ninh Bình) và bừng cháy lên trong đêm mồng 3 Tết Kỷ Dậu ở Hà Hồi. Với tiếng chiêng trống vang lừng, với loa gọi, tiếng hô kêu thiên binh vạn mã. Hà Hồi khiếp sợ kéo về đầu hàng.
Mờ sáng mồng 5 voi rống, ngựa hí, súng bắn, tên bay, khói tỏa, pháo nổ, lửa cháy, Nam quân hò reo dũng lược tiến lên, Ngọc Hồi sụp đổ, Văn Điển tan tành, Yên Quyết ra tro. Những tướng giặc Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng... đều bỏ thây nơi chiến địa. Riêng Khương Thượng, quân Nam hàng hàng lớp lớp bổ vây, Sầm Nghi Đống hết đường trốn chạy phải mượn dây oan nghiệt kết thúc cuộc đời bại tướng. Gò Đống Đa, đầm Mực (Hà Đông) là nơi vùi nông, phủ cạn bao nắm xương tàn của hàng vạn bại binh Thanh triều.
Đặc biệt Tây Long cung (nay là chỗ đền Tây Lương của Hoa Kiều thờ Quan Công ở Hà Nội gần bờ sông Nhị Hà), Đại nguyên soái Tôn Sĩ Nghị thấy các quân phi báo Hà Hồi, Ngọc Hồi... lần lượt lọt vào tay Tây Sơn rồi Khương Thượng chìm ngập trong bể lửa trong lúc Nam quân ồ ạt kéo vào các cửa ô Thăng Long nên không kịp đóng yên ngựa vội vàng lên ngựa vượt cầu phao sông Nhị. Tướng sĩ các doanh xô đẩy chạy theo, cầu gãy, hàng vạn con người rơi xuống chết đuối làm ô nghẽn cả dòng nước trong sạch. Sĩ Nghị chạy đến Phượng Nhãn (Bắc Giang) lại gặp phục binh nên ném cả ấn tín, cờ sắc, bài lệnh để thoát thân.
Các đạo quân khác cũng chạy trối chết.
Tàn binh khi chạy về Trung Hoa đã gây nên cảnh hoang mang trong dân chúng nên người dân già trẻ nam nữ đùm bọc nhau chạy xa biên giới hàng mấy chục dặm khiến cho chó không sủa, gà không gáy!
Khoảng giờ thân mồng 5 Tết, Quang Trung đại đế hiên ngang đạp trên đầu voi tiến vào Thăng Long giữa tiếng khải hoàn ca của quân dân Việt.
Chiến bào của trang anh hùng dân tộc giờ này đã đổi màu từ vàng sáng của uy nghi sang đen sạm của hỏa binh, nhưng dòng Ngân vẫn không đổi, vẫn từ ái, hòa bình như con đường đã định từ lúc xua quân đuổi giặc.
Nhà vua hạ lệnh cho quân Thanh chạy trốn ra đầu thú và cấm nhân dân không được giết hại. Họ được tập trung ban phát áo mặc, cơm ăn và chờ ngày giao trả cho Thanh triều.
Ngay ở điểm này, chúng ta cũng rất thán phục chính sách tù hàng binh của Vua Quang Trung từ 200 năm trước mà giờ đây rất nhiều nước còn vi phạm ở thế kỷ 20 này.
Thua trận này, Thanh triều tím mặt căm giận, nhưng cũng gờm sợ Tây Sơn nên cử Thang Hưng Nghiệp, là Tả giang binh bị đạo gởi mật thư gợi ý Tây Sơn nên nhân cơ hội này và vận động thay nhà Lê, ông sẽ ngầm giúp cho. Quang Trung biết ý nhà Thanh muốn rửa mặt chứ thật ra đã thấm đòn mạnh rồi, nên sai Phan Huy Ích lập đồ biểu và giao Hô Hổ Hầu đem sang tình Thanh đế.
Quang Trung phác xưng là Nguyễn Quang Bình, ở nơi hẻo lánh (ấp Tây Sơn) miền An Nam nhưng vẫn tắm gội ơn Thanh giáo nên nước loạn, binh kiêu, dân oán phải từ một kẻ áo vải phất cờ làm việc lớn diệt Trịnh, trả nước cho vua Lê không làm điều phế truất...
Nhưng Tôn Sĩ Nghị không xét kỹ căn do để phân xử công bằng hợp lẽ mà chỉ ham tài sắc, nghe lời đàn bà, làm nhục sứ giả gây chuyện tâng công.
Bản tâm của nhà Vua không muốn đất cát và nhân dân của nhà Lê nhưng nhân dân, quần thần và cả tôn thất Lê triều ép buộc nên phải gánh vác việc lớn.
Tôn Sĩ Nghị giết người lương thiện, đàn bà con trẻ và chực đuổi bắt giết hết vây cánh của Tây Sơn nữa. Đứng trước tình trạng trước sau thọ tử, nên lòng người phải gắng hăng hái vươn lên. Và ngày mồng 5 tháng Giêng Kỷ Dậu tiến voi đến Thăng Long, những mong “ngửa xin Tôn Sĩ Nghị nghĩ lại cho yết kiến” bày tỏ hơn thiệt.
Tôn Sĩ Nghị đánh trước, quân của nhà vua ít oi dăm ba tên trai tráng trong làng trẩy ra làm sao địch nổi đại quân chỉ vì quân Thượng quốc dùng ngựa mà ngựa thấy voi thì hí lên và bỏ chạy quay lại đạp lên quân sĩ thành ra chết chóc! Chứ châu chấu đâu dám đá xe! Và nhà vua ta nhún nhường thêm:
“Nép nghĩ: Đại hoàng đế là bậc theo ý trời, ban trị hóa, làm cho cành khô lại xanh tươi, cây kiệt lại nảy nở. Xin ngài lựa theo tự nhiên, thứ cho cái tội đón đánh Sĩ Nghị và xét cho tấc thành mấy phen đã gõ cửa ải, dâng lời tâu bày. Xin Ngài lập kẻ tư mục để chăn dân, dựng nước phên giậu để vững thế, ban ơn mệnh mới cho tôi làm An Nam quốc vương, đứng làm phiên binh một phương, kính giữ chức phiên mục, khiến cho bản quốc có người cầm đầu cai quản.
Tôi xin kính cẩn sai sứ sang cửa cung khuyết, xưng phiên sửa lễ cống. Lại sẽ xin đem sổ người (tù binh) hiện còn của nhà vua mà dâng nạp để tỏ tấc dạ rất thật này”.
Kèm theo tờ biểu khiêm cung này thì gởi Thang Hùng Nghiệp một lá thư khinh miệt đe dọa đúng chính sách nhu nhu cương cương.
Thư có đoạn viết:
“Ôi! Quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông, cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều. Người khéo thắng là thắng ở chỗ mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu, nhiều hiếp ít. Ví bằng chút tình trước đây không được bày tỏ. Thiên triều không chịu khoan dung một chút, cứ muốn động binh để tranh chiến, thế là làm cho nước nhỏ không được phục sự nước lớn thì bấy giờ Đại quốc có dạy bảo gì, tôi cũng chỉ xin theo thôi!”
Câu cuối cùng có ý rõ ràng, nếu tôi nói nhu mà các ông cứ đánh thì đánh chơi!
Đã lỗ đầu chảy máu một phen rồi thì chắc chắn là Thanh triều không dám nữa!

2.- Ép Sứ Thanh vào Thuận Hóa phong vương
Nếu bên châu Âu, ngày xưa các Hoàng đế phải được Đức Giáo hoàng gia phong mũ miện thì bên trời đông các vì vua nước nhỏ phải được vua nước lớn sách phong vương tước. Do đó thường thường vua nước ta khi lên ngôi và nhất là vị vua mở đầu cho một triều đại mới thì đều phải cần đến sự phong vương của đại quốc bên cạnh. Thể thức ấy ngày nay luật học gọi Việt Nam là nước phụ dung của Trung Hoa.
Tuy bề ngoài Quang Trung hoàng đế mềm dẻo xin phong vương tước, nhưng thật ra bên trong lòng nhà vua chả cần gì cái sắc phong của kẻ chiến bại thừa nhận mình là vua nước Nam nên kiếm kế trì hoãn cuộc lễ truyền phong.
Ngày 26 tháng 7 năm Kỷ Dậu được tin có chỉ dụ vua Thanh phong Ngài làm An Nam quốc vương, mà Ngài ở Thuận Hóa chẳng muốn ra Thăng Long nhận sắc, nên đã kiếm kế thoái thác là nước Nam hay lụt lội vào mùa hè, đường sá hư hại phải sửa chữa mới tiện đi lại, có thể chậm một ít ngày giờ. Xin hẹn độ tháng 9 mới đến Thăng Long được!
Đánh giặc thì đi cấp tốc có mười ngày mà đi lãnh sắc phong lại để những hai tháng.
Nhưng qua thư thứ hai thì nhà Vua nói là có quân lạ vào cướp bóc quấy nhiễu duyên hải nên phải quay về Phú Xuân khi đã ra được đến Nghệ An.
Rồi tiếp đến thư sau thi bảo là “Đất Thăng Long đã tiêu hết vượng khí: Tản Viên là núi có mạch chạy xuống đã băng mất ngọn dưới và ngọn trên. Nước sông Phú Lương đã bồi lấp mất hậu đầu... cung khuyết hoang tàn cư dân thưa thớt.
Đô thành Phú Xuân sinh tụ dần thành chỗ đông vui. Hiện nay, đó là chỗ các mán đến sum họp, tứ dân (sĩ, nông, công, thương) đều ở đậu, sầm uất hơn cả các xứ khác...”
Nhà vua lại nói là sẽ từ Nghệ An ra Thăng Long bái nghinh sắc thư và mời nhị vị đại quan vào Phú Xuân để làm lễ tuyên phong, nhưng vì cảm thương hàn, gắng gượng ra đi lại gặp lúc tiết thu nên chứng cũ tái phát, phải sai con Nguyễn Quang Thùy và các thân thần Ngô văn Sở, Loan Hồi Đại, Ngô Thì Nhiệm đến Thăng Long đón gọi sứ giả và hẹn mười lăm ngày nếu khỏi bệnh sẽ đón tiếp và cùng vào Phú Xuân hành lễ.
Như vậy chúng ta thấy Quang Trung đã coi thường mệnh lệnh nhà Thanh và bắt Thanh sứ làm theo ý mình dù có khéo léo thác bệnh tật cho qua chuyện.

3.- Giả vương triều kiến Vua Càn Long
Thanh triều gia phong cho Quang Trung hoàng đế là An Nam quốc vương nhưng bắt buộc nhân dịp bát tuần khánh thọ của Vua Càn Long, quốc vương An Nam phải thân sang triều yết và lập đền thờ cúng Hứa Thế Hanh đã tử trận mùa Xuân Kỷ Dậu.
Vua Quang Trung đã không nhận sắc phong thì đâu có phải sang tận Bắc quốc để triều yết, cho nên vua nói thác là có tang mẹ nên không tiện đi, xin sai con là Quang Thùy đi thay.
Phúc An Khang, Tổng đốc Lưỡng Quảng, phải phái người sang dỗ dành và mớm kế: Nếu cực chẳng đã, Quốc vương không đi được thì nên chọn lấy một người dung mạo giống mình cho đi thay.
Thế là Phạm Công Trị được giao trọng trách đóng vai Giả vương lên đường diễn vở kịch lớn mà chắc xưa nay lịch sử ngoại giao khó lòng xảy ra lần thứ hai.
Tuy nhiên Thanh triều không hay biết và vẫn đón tiếp trang trọng như thật.
Vua Càn Long căn dặn Phúc An Khang phải lo liệu hành trình cho vừa vặn, đừng mau quá mệt nhọc vua Nam.
Sứ bộ gồm cả 150 người gồm Giả Vương, Nguyễn Quang Thùy, Ngô văn Sở, Phan Huy Ích, Đặng văn Châu, Vũ Huy Tấn, Vũ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ văn Công, Đoàn Nguyên Tuấn... và một đội nhạc công tài giỏi.
Tặng vật, ngoài các thứ thường lệ còn có hai thớt voi. Chính vì hai thớt voi này mà quan quân Thanh triều khổ sở nhọc nhằn lo cỏ rác, chuyên chở phiền phức dọc đường.
Giả vương đi tới đâu cũng được các nhà chuyên trách Thanh triều cung phụng đầy đủ thức ăn, món uống, cung cấp phương tiện nghiêm túc. Hễ có của ngon vật lạ là vua Thanh cho chạy trạm thết khách.
Vua Càn Long đã tặng Giả Vương bánh sữa, trái vải, quạt và đồ hương khí. Vua Càn Long lại sai chế áo mão đúng kiểu và một giải hoàng kim thinh đới, một thứ đai bằng da có nạm vàng. Nên biết rằng loại đai này chỉ tặng cho các phiên thần đồng tông của nhà vua Thanh, nay đặc biệt ban cho Giả vương như vậy là vua Thanh quý Quang Trung đến bực nào.
Đặc biệt vua Thanh lại tặng cho Giả Vương một tập Ngự chế tập, Thạch cổ thi tự vừa in xong.
Theo sự kính trọng của vua Thanh, các quan viên địa phương vừa theo để chi tiêu cho các cuộc đón rước linh đình mỗi ngày tốn đến 4.000 lạng bạc! Thực ra mỗi ngày chỉ mất có 200 lạng thôi. Cho hay cái tệ tham ô lãng phí của công không phải chỉ có ở thời gian gần đây mà nó đã có từ thủa xa xưa vậy.
Đến Nhiệt Hà, Giả Vương được vua Thanh đón tiếp ân cần và ban tặng thơ, nguyên văn chữ Hán:
Tam phiên kỳ định phi giai binh,
Tạc tuế An Nam trọng hữu chinh.
Vô lại phục Lê, Lê yếm đức,
Phiên giao phong Nguyễn (Tây Sơn), Nguyễn thâu thành,
Thủ phong cương vật tư tha tộc;
Truyền tử tôn hằng phụng Đại Thanh.
Hạnh mộc thiên ân, khâm cửu đạo,
Bất hoàn nhật giám, lẫm trì doanh...

(Bài thơ này có chép trong Hoa Trình Tùy bộ tập của Vũ Huy Tấn)
Đại ý nói: Năm trước phải đem binh sang Nam là cốt khôi phục cho nhà Lê. Nhưng nhà Lê đã đến lúc không được trời tựa nên phải phong cho Nguyễn, vì Nguyễn đã quy phục thật tình. Vậy phải giữ đất nước đừng để họ khác nổi lên. Dặn con cháu phải dốc một lòng thần phục nhà Đại Thanh. Lúc nào cũng kính cẩn như bưng bát nước đầy. Như vậy mới được tắm gội ơn trời và hưởng phúc lâu dài.
Thanh đế thết tiệc tại điện Chính Đại Quang Minh để đãi sứ bộ và hai bồi thần của Giả vương cũng được đặc cách được mời rượu “đề hồ” do tay vua Càn Long rót trong chén ngọc.
Như vậy đủ thấy Thanh đế rất quý trọng Quang Trung hoàng đế của ta. Cũng nên biết vua Càn Long là một vì vua văn võ kiêm toàn anh hùng của Trung Hoa. Cho hay chỉ có anh hùng mới cảm thấy và kính trọng cái anh hùng của kẻ khác!
Đặc biệt khi tiễn Giả Vương về nước vua Thanh tự tay viết chữ “Phúc” và “Thọ” để tặng làm kỷ vật, và tặng trái cây, hà bao đựng đồ bát bảo, áo mặc, một vạn lạng bạc và đồ phương trân cổ ngoạn. Chính vua Càn Long cũng tự thấy cách tiếp đãi một vị phiên bang xưa nay chưa bao giờ được quý trọng như vậy nên có câu:
“Cận quang ưng sủng tích, tái kê thanh sử vị tiền văn”. Và trong một bài thơ tặng Giả vương, vua Thanh cũng xem Quang Trung là khách tri kỷ!
“Sơ kiến, hỗn như cựu thức thân” (Mới gặp nhau lần đầu mà thân mật như quen biết đã lâu).
Thật là một sự thắng lợi về ngoại giao!
Tưởng không gì hơn chúng ta hãy nghe lời của Đoàn Nguyễn Tuấn một vị quan trong sứ bộ đã viết về chuyến đi ấy như sau:
“Chuyến đi này được nhà vua (Thanh) đặc cách cho quan Tổng đốc (Thanh) đi bạn tống. Thuyền, xe, cờ, quạt quáng cả tai mắt người ta. Đi tới đâu quan lại phải bôn tẩu tiếp đón đến đó. Mùa Thu năm Nhâm Tuất (1790) đến hành cung ở Nhiệt Hà; lại theo xa giá vua Thanh về Yên Kinh, đi Tây Uyển. Luôn luôn yến tiển hàng tuần, được ơn trời âu yếm ưu đãi khác thường. Trước giờ, người mình đi sứ Tàu chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như vậy”.

4.- Yêu sách đặc sản và đặc vật của Thanh triều
Vua Quang Trung rất khôn khéo biết rằng nhà Thanh sẽ kiểm duyệt thư từ qua lại giữa sứ bộ và chính quốc, nên vua sai Nguyễn Hoàng Khuông đem thư dặn sứ thần phải mua nhân sâm cho Quốc Thái (mẹ vua Quang Trung) đã 80 tuổi dùng.
Quả nhiên Phúc An Khang xem được thơ ấy lật đật lấy lòng tìm kiếm bốn lạng nhân sâm giao cho Thanh Hùng Nghiệp cắt người đưa sang Lạng Sơn chuyển đệ lên Quang Trung hoàng đế.
Như vậy, nhà vua muốn Thanh triều cung đốn nhân sâm mà khỏi mất công mang tiếng đi xin.
Đến khi nhà vua Thanh hay được lại phái người tặng ngài một cân (16 lượng ta) nhân sâm thượng hạng và một đạo dụ khen ngợi nữa:
“Quốc vương An Nam nhân mùa Xuân năm nay phải sang chầu chúc phúc, muôn dặm đi xa phải tạm nhãng việc định tĩnh, nên có dặn bồi thần mua nhân sâm để phụng dưỡng mẹ già. Thế thì đủ thấy rằng Quốc vương đã chăm tỏ tấc thành chiêm cận lại tha thiết lo việc thần hôn. Thật là trung hiếu kiêm toàn, đáng khen, đáng chuộng lắm lắm!”
Khi Giả Vương sang triều kiến Thanh triều được vua Thanh tặng cho một con ngựa quý vua Quang Trung rất thích chí. Nhưng thủy thổ khác biệt nên con ngựa quý ấy chết mất, lại viết biểu “Khất mã biểu” sang xin con khác. Nói là xin nhưng kỳ thật là yêu sách. Trong bài biểu có câu:
“Thứ kỳ mạo vọng can cầu chi tội,
Tích dĩ quyền kỳ tri sính chi lương”.

Thứ cho cái tội cầu bậy, xin liều,
Ban cho thứ ngựa giống hay, chạy khỏe.

5.- Phá lệ cống người vàng.
Theo tục lệ nhà Lê phải triều cống người vàng để đền mạng cho tên bại tướng Liễu Thăng bị quân ta giết chết ở Chi Lăng năm 1427. Nhưng đất nước mới yên giặc giã nên Lê Thái Tổ phải chịu quyền biến trong ngoại giao lúc đầu, sau thành lệ.
Đến đời Tây Sơn, Phúc An Khang cũng nhắc nhở việc đúc người vàng triều cống nhưng đời nào trước đã chiến thắng về quân sự, sau lại thắng về ngoại giao lại chịu gánh lấy cái nợ vô lý bất công ấy.
Quang Trung hoàng đế đưa thư phản kháng Phúc An Khang nguyên văn bằng Hán văn được ông Hoa Bằng dịch như dưới đây:
“... Xưa, các đời Trần Mạc vì có tội với Trung Quốc phải dâng người vàng để thế hình.
Quốc trưởng nước tôi từ bước là một người áo vải, nhân thời thế, vùng lên làm việc, đối với Lê vương vốn không có cái vai lứa ai là vua ai là tôi chi cả. Còn hay mất, là ở số trời; theo hay là bỏ, là ở lòng người. Quốc trướng nước tôi có ý lấy nước của vua Lê đâu mà sánh với kẻ giành cướp được?
Vả trước đây, Tổng đốc họ Tôn (Sĩ Nghị) đem binh lính đến; Quốc trưởng nước tôi bất đắc dĩ phải ứng phó lại chứ không hề xâm phạm bờ cõi để có tội với Thượng quốc.
Nay thấy ngài (Phúc Khang An) theo lệ Trần, Lê, Mạc cũ mà bắt cống người vàng, thế thì Quốc trưởng nước tôi được nước một cách quang minh chính đại, té ra lại phải liệt vào hàng tiếm ngụy như nhà Mạc, mà chút lòng cung thuận ra từ tấc thành sợ Trời, thờ nước lớn lại phải chịu chung một luật như nhà Trần bắt Ô Mã Nhi, nhà Lê giết Liễu Thăng ư?
Thế thì kể về tình, Quốc trưởng nước tôi có điều bị ức, không thể không trông ở ngài cân nhắc cho vậy.
Này, xưa kia, chư hầu triều kiến thiên tử, hoặc chực ở phương nhạc, hoặc chầu ở kinh sư. Ai đi được thì tự mình đến, ai không thân đi được thì sai con em vào hầu, chỉ cốt dâng ngọc thắm, tỏ đồ tin, để cho cái tình trên dưới được thông suốt.
Đến như bắt lấy người vàng thế hình vào chầu thì suốt từ Đường, Ngu, Tam đại (Hạ, Thương, Chu) đến Hán, Đường và Tống đều chưa làm thế bao giờ.
Ngài đã rao truyền tiếng tăm giáo hóa của thượng quốc cũng nên đem phép hay, ý tốt của triều đại thịnh trị đời xưa mà sai bảo mọi nước dưới, chứ bắt chước làm gì việc làm của Nguyên, Minh không học theo cổ ấy?
Mong ngài soi xét, miễn cho sự đúc dâng người vàng...”

Bức thư phản kháng ấy quả có công hiệu, Vua Thanh phải nhượng bộ, rồi tỏ cái ý (bắt chẳng được, tha làm phúc) trong câu thơ này tặng Giả Vương do vua Quang Trung phái sang Thanh năm Canh Tuất (1790).
Thăng triều vãng sự bỉ kim nhân!
Nhà Thanh đây cho việc triều trước (thăng triều: triều đã bại) bất cống người vàng là đáng khinh bỉ!
Thế là vua Quang Trung đã làm được một việc ngoại giao thắng lợi cũng như về quân sự, đã hoàn tất thắng lợi ở Xuân Kỷ Dậu (1789).

6.- Đòi các đất miền biên giới bị sáp nhập vào Trung Hoa
Cuối đời Lê, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, các quan nhà Lê mới sang Tàu cầu cứu. Vua Minh nhân dịp muốn tái hiện cái mộng “Giúp Trần đánh Hồ để cướp nước” như trước nên sai Cửu Oan làm Đô đốc, Mao Bá Ôn làm Tán lý quân vụ đem quân sang An Nam. Mạc Đăng Dung lật đật tự trói mình, dâng sổ đinh điền đầu hàng ở ải Nam Quan và nhất là dâng một số đất ở miền biên giới để chuộc tội và hối lộ cho vua Minh.
Sau này các gian thần biên giới như Vi Phúc Liêm, Hoàng Công Thư lại đem một số đất nữa dâng cho vua Minh để họ được tự trị, tách ra khỏi quyền vua Lê.
Từ khi vua Quang Trung lên ngôi, ngài không nỡ để một tấc đất của Tổ tiên phải lọt vào tay ngoại nhân. Do đó vua mạnh bạo đưa biểu nhờ Lưỡng Quảng tổng đốc Phúc Khang An tâu lên Thanh đế xin đòi lại các đất nói trên.
Đại ý bài biểu có những đoạn quan trọng như sau:
“Thần tử áo vải dấy lên, may có đất nước. Một thước đất, một người dân đều là ơn của Đại hoàng đế ban cho cả. Há dám phân biệt bờ này cõi khác làm nhàm đến bậc chí tôn? Chỉ vì phần đất cõi Nam lạm đúng làm phên dậu, bốn bề giáp ranh những đâu, đã có sách báo chép rõ... Thần không dám bỏ một phân đất làm đất hoang, nên không thể không đem tình do và khúc nôi mà giãi bày ở dưới ánh sáng.
Thần kính sai các viên chức chuyên trách chờ đợi ở cửa Nam Quan, lại sai văn võ viên mục đến tận cõi Hưng Hóa lần lượt tra xét cho rõ ràng ổn thỏa để đất bảy Châu ấy lại được ban về thuộc trong bản đồ bản quốc”...

7.- Cầu hôn và xin đất lập kinh đô.
Việc đòi đất nói trên không được nhà Thanh trả lại nên lòng vua Quang Trung nhất quyết phải thu hồi đất đai của ta trở lại. Ngài lo chuẩn bị quân lực để chờ ngày Bắc phạt.
Muốn dò ý Thanh triều và do thám nội tình, cũng như địa thế Trung Hoa, nên vua Quang Trung cử một phái bộ sứ giả đa số là võ tướng do Võ văn Dũng làm chánh sứ.
Cũng nên biết rằng trước khi dâng biểu cầu hôn, vua đã cho thị thần gởi thư nhờ Tri phủ Thái Bình đạo đạt lên Công trung đường làm mối cho vua.
Tờ biểu bằng Hán văn và ông Hoa Bằng đã dịch:
“Thần vốn là một kẻ áo vải, được nhờ ơn cả, lạm giữ cõi Nam. Từ khi vào triều, cận nơi cung khuyết, đã được đặt cách làm lễ bảo kiến vấn an, lại được ban thưởng trọng hậu, ơn lạ dồi dào. Phàm những sự mà cõi Giao Nam từ xưa chưa ai từng được đều nhất nhất ban cho thần cả.
Kịp khi thần khâm mạng về nước, lại được dũ ơn đoái thương, luôn ban thánh chỉ. Cái ơn lồng lộng của nhà vua thật không sao kể ra, tả ra cho xiết! Thần là kẻ hèn mọn ở nơi hẻo lánh, chẳng ngờ lại được hưởng ơn đến thế! Tấc lòng canh cánh mong báo đáp bậc tôn thân, song vẫn chưa bởi đâu nià đền bồi được!
Chỉ mong được thường gõ cửa trời, gần nhìn bóng nhật, nhưng đất ở xa, thế cách trở, sức làm không được như ý muốn: hễ qua khỏi cửa Nam Quan thì lại thành xa và sơ ngay!
Thần vẫn mơ tưởng nhạc Quân thiều, ngóng trông Vân hán, hằng e mình rồi cũng đến như hạng tầm thường, phải liệt tràn ở ngoài vòng Thanh giáo, làm cô phụ cái ơn sinh nuôi tất cả của thánh từ!
Trộm nghĩ: Thánh nhân tỏ lòng giúp đỡ chư hầu, liên lạc chỗ sơ cho thành thân mật, phàm việc đều cư xử theo đạo xưa.
Nước thần, ban đầu, vua Kinh Dương chịu mệnh nơi Viêm đế, bà Âu Cơ kết duyên với vua Lạc Long: tổ nước Văn Lang, mở cõi Giao Chỉ, trăm trai nối dõi, dời làm phên giậu phía Nam, may nhờ phúc ở Trung Hoa, được nổi danh là nước văn hiến. Thế đại dẫu xa, sử sách còn đủ khảo xét.
Từ khi nhà Tống dấy lên, ràng buộc nước thần, ruồng ra ngoài vòng đức hóa không liệt vào hàng Minh đường, chỉ để cũng như hạng Bành bộc.
Nhà Thanh ta được trời quyến cố, rộng có muôn phương, chỗ nào có bóng mặt trời soi đến đều coi nhân dân là chung một bọc mà ra lấy hoàn doanh làm gia đình mà không gẩy ai ra ngoài cả.
Kính nghĩ: Đại hoàng đế bệ hạ đức ngang với trời đất, đạo cao hơn vua Hiền Viên, vua Ngu Thuấn, vỗ về cho chư hầu mến phục, dịu dàng cho người xa hướng về, không choèn hoèn theo cái lối thường của các triều đại gần đây.
Thần lạm được Thánh thượng coi như con ruột, liệt vào hàng các thân vương. Phận này dẫu tận nơi xa khuất, nhưng tình ấy vẫn được kể như đẻ nuôi.
Thiết nghĩ: muôn vật không giấu hình với trời đất, con cái không giấu tình với mẹ cha, thì câu chuyện tâm sự về gia đình dám chẳng giải tỏ ở trước bậc chí tôn? Mới đây nhà thần gặp vận rủi ro, thiếu người giữ việc dâng cơm canh thờ cúng! Trên nền gây dựng phong hóa đang thiếu người đỡ đần. Vậy muốn núp dưới bóng cây ngọc, hòng bám vững vào gốc dâu.
Ngước thấy thánh triều phát tích từ Trường Bạch, đầy dãy phúc lành con cháu hàng nghìn hàng ức, nối đời phồn thịnh. Bấy nay lề lối của nhà vua, vẫn chọn những chỗ quý hiển gần gũi đề gả các công chúa, chứ không có lệ gả tràn đến các bầy tôi ở ngoại phiên. Cái phận đã nghiêm chia trong ngoài như thế, thì thật khó bài đâu mà chòi vói được. Chỉ vì một niềm tôn mến, lòng riêng ngóng trông, nên cứ trằn trọc không sao thôi được.
Trộm mong cành ngọc nhà trời lan rộng đến cả kẻ ngoại phiên ở dưới, ngõ hầu thần được ngửa đội ơn lành, gần gũi gót lân, đem phong hóa Quan thư ban ra những phúc nguyên cát. Những điều kính nhịn hòa thuận từ nơi gia đình sẽ nêu làm khuôn mẫu cho người trong nước để họ tập quen cái dư phong của chốn trung hạ, trút bỏ cái thói cũ của nơi bờ biển khiến thần dân trong nước của thần được thỏa sự trông mong ở trong vòng đức hóa.
Chắt chút dòng dõi nhà thần đời được giữ mãi phiên phong, hưởng sự tốt lành không cùng. Đó là điều mong mỏi lớn của thần vậy. Chỉ vì nay cần ơn ngoài phận, việc xảy khác thường nên bàn với những kẻ chấp sự, không ai dám vì thần mà chuyển tâu lên! Cửa vua muôn dậm, trông ngóng đăm đăm. Nay bèn đánh bạo không tự suy xét mạo muội, nhằm tỏ tấc thành kính sai kẻ bồi thần sang chầu hầu để sau lúc tâu bày rảnh rang sẽ vì thần mà kêu thay kể lể khúc nôi cơn cớ.
Nép mong bậc cao sáng dũ thương, xét cho thần lòng thành thiết tha trìu mến, tha cho thần cái lỗi rợ mọi cầu liều.
Thần xa ở biển Nam, ngóng trông sao Bắc, xin kính chúc Thánh Thiên tử thọ khảo muôn vạn dặm, mãi làm cha mẹ muôn nước. Thần bao xiết quá đỗi run sợ trồng mong...”

Cứ theo gia phả của họ Vũ thì Vũ văn Dũng bệ kiến vua Thanh Kiền Long và đã tâu hai việc:
Cầu hôn vì Quốc vương đã lớn tuổi mà việc hôn nhân chưa định, song trong nước toàn hạng thần tử, các phiên phong láng giềng thì lại không được Quốc vương ưa thích nên muốn vua Thanh chuẩn tình cho.
Xin đất đóng đô vì nước Nam hẻo lánh, thủy bộ bất tiện, vượng khí mất hết và nhất là đóng đô càng gần Thiên triều càng dễ được ơn mưa móc và thấm nhuần phong đức của vua Thanh.
Vua Thanh chuẩn y cả hai và định ngày lành tháng tốt đưa công chúa Thanh triều lên đường vu quy. Còn đất sẽ được bàn chi tiết sau.
Nhưng sau đó, phái bộ sứ giả nhận được tin dữ. Vua Quang Trung mất!
Mọi việc dở dang, Võ văn Dũng đành ôm mối hận quay về cố quốc!
* * * * *
Đọc đến đây, chắc chúng ta không có ít người phải rơi lệ tiếc rẻ, nếu vua Quang Trung không mất đi thì bản đồ Việt Nam ngày nay có lẽ đã đổi khác nhiều.
Ta thương tiếc cho người bao nhiêu thì ta lại càng kính phục con người tài ba xuất chúng toàn tài ấy bấy nhiêu. Nếu về võ công, người ta thường ví vua Quang Trung là một Napoléon Việt Nam thì chẳng biết về ngoại giao ta có thể ví người với ai ở trong các vĩ nhân của nhân loại?
Hôm nay, vừa đúng 200 năm ngày Ngài chiến thắng vẻ vang đưa dân tộc Việt lên đài vinh quang tuyệt đỉnh, ngoài niềm vui phấn khởi:
Nào ai áo vải, cờ đào,
Giúp dân dựng nước biết bao công trình!

của con dân Việt tộc, ta không khỏi bùi ngùi nhắc lại vần thơ bất hủ của Ngọc Hân công chúa khi kết thúc bài Ai tư vãn:
Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.

Đặc san Tây Sơn Xuân Kỷ Tỵ (1989)
(Trang 16-29)
-----------------
Tài liệu tham khảo:
- Ngô Thời Chí - Hoàng Lê Nhất Thống Chí
- Trần Trọng Kim - Việt Nam Sử Lược
- Hoa Bằng - Quang Trung Nguyễn Huệ
- Hoàng Xuân Hãn - La Sơn Phu Tử
 
HẾT
0
Truyện đã đưa vào thư viện
 
Cảm ơn casau, chúc casau luôn an lành
 
📎 Thank You




0