<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.01.2018 08:23:22 bởi Ct.Ly>
Đánh máy: Nguyen đ Thanh
XÂY DỰNG HẠNH PHÚC
Chúng tôi xin cám ơn tác giả, bà Laura Archera
Huxley và nhà xuất bản Roger Straus & Co., New
York đã vui lòng cho phép chúng tôi dịch cuốn này
Nhan đề cuốn này trong bản tiếng Anh là
YOU ARE NOT THE TARGET
LAURA ARCHERA HUXLEY
XÂY DỰNG
HẠNH PHÚC
cho mình và cho người
Bản dịch của
NGUYỄN HIẾN LÊ
VĂN HÓA
* Copyright 1963 by Laura Huxley Roger Straus & Co. New York
Dịch giả giữ bản quyền về bản tiếng Việt.
MỤC LỤC
o Ghi ân
o Tựa của Aldous Huxley
PHẦN THỨ NHẤT
1. Những điều kiện cần thiết cho một đời sống sung sướng
2. Biến đổi năng lực
PHẦN THỨ NHÌ
o Những thuật để sống và để yêu
o Mấy lời mở đầu
1. Bạn đâu phải là cái đích mà người ta nhắm
2. Nhảy vào địa vị người khác
3. Trái banh để đấm
4. Giết con ma (ở đây và ngay giờ)
5. Làm cách nào để có thể dùng cái này được?
6. Nhảy múa theo tiếng nhạc
7. Đặt những câu hỏi nào? Cách đặt?
8. Nghệ thuật biển đổi năng lực
9. Yêu mình như thể yêu người
10. Theo dòng
11. Thận trọng làm cái quái gì?
12. Bạn dự đám táng của bạn
13. Bạn dự một mình đám táng của bạn
14. Thổi bong bóng nước
15. Cho nhau một cái gì
16. Như thể lần đầu vậy
17. Không khí, nước, thức ăn
18. Bắt từ ngữ phải phục vụ ta
19. Nhưng phải thận trọng khi dùng từ ngữ
20. Bài ca không lời
21. NNL - NNL - NNL
22. Bạn nên làm một con vật
23. Những tảng băng trong dòng sông
24. Khẩn cấp
25. Hôm nay bạn có nuôi bệnh...
26. Óc tưởng tượng của bạn thuộc về bạn
27. Giúp tôi với vì tôi đố kị ông ấy
28. Đêm êm đềm làm sao!
29. Mở lòng ra để tiếp nhận niềm vui
30. Bát nhã ngay lúc này
31. Phát minh một thuật khác
PHỤ LỤC
Các thuật xếp theo sự giao thiệp với người khác
Mục lục
TỰA
của DỊCH GIẢ
Xét cho cùng thì loại sách mà người Pháp gọi là Culture humaine, ta gọi là sách Học làm người1 - thời nào cũng có vì thời nào con người cũng thấy cần phải tu thân và tập cách xử thế. Nhưng ở Âu, Mỹ, mãi tới cuối thế kỷ trước, ở nước ta mãi tới sau thế chiến vừa rồi nó mới phát triển. Có nhiều nguyên do: giáo dục được truyền bá rộng hơn, số người có kiến thức phổ thông tăng lên, nên loại sách đó cũng theo trình độ văn hóa mà phát triển cùng với các loại khác như tiểu thuyết, biên khảo...: nền giáo dục ở học đường chú trọng tới trí dục hơn là đức dục, nên mọi người thấy cần phải bổ khuyết nó và loại sách Học làm người nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu đó, thế kỷ chúng ta tùy còn nhiều điều bất công, nhưng so với những thế kỷ trước thì những người nghèo có nhiều cơ hội hơn để tiến lần lên những địa vị cao trong xã hội, miễn là có chút khả năng, lại chịu kiên nhẫn, và tất nhiên họ tìm đọc loại sách Học làm người để dự bị trên con đường tiến thủ.
1 Danh từ này đó ông Phạm Văn Tươi tạo ra cách đây khoảng 15, 16 năm, nay đã thông dụng (1966).
Hiểu những nhu cầu đó rồi thì ta có thể đoán chắc rằng loại sách đó mỗi ngày mỗi phát triển thêm. Ở Âu Mỹ chẳng hạn, gần đây số người đọc tiểu thuyết giảm đi mà số người đọc các loại biên khảo và phổ thông thì tăng lên, mà nhiều cuốn viết về loại Học làm người như của Dale Carnegie, Bertrand Russell, Harold Shermann... đã được in mỗi lần hàng chục, hàng trăm ngàn bản trong tủ "sách bỏ túi", và bán chạy không kém các tiểu thuyết cổ điển. Còn ở nước ta thì trước thế chiến vừa rồi chỉ có vài cuốn của nhà Hàn Thuyên (có lẽ cũng nên kể thêm cuốn MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM của Hoàng Đạo - nhà xuất bản Tự Lực). Hiện nay mỗi năm xuất bản đều đều trên chục cuốn để giúp thanh niên tu thân và xử thế. Sự tấn bộ, ít nhất là về lượng, quá đã rõ ràng.
Tuy được độc giả nhận là có ích và hoan nghênh, loại sách đó từ trước tới nay chưa hề được các học giả và văn học giả lưu ý tới: người ta không cho nó thuộc về văn nghệ, cũng không thuộc về khoa học, mà chỉ có tính cách phổ thông. Nhận xét đó đúng, nhưng nếu ta chịu chú ý tới nó, phân tích nó, theo dõi sự phát triển của nó thì cũng tìm ra được nhiều điều thú vị.
Cứ xét chung thì mười cuốn chưa chắc đã được một cuốn viết có nghệ thuật, nhưng thỉnh thoảng ta vẫn gặp được ít cuốn mà tác giả là những văn hào như André Maurois (Un art de vivre), Arnold Bennett (How to live on 24 hours a day), Bertrand Russell (The conquest of happiness), Lâm Ngữ Đường (The importance of living)1 - ý tưởng đã sâu sắc, lời thì hoặc điêu luyện, hoặc tự nhiên, đôi khi dí dỏm, luôn luôn hấp dẫn, tóm lại là có giá trị chắc chắn, có thể so sánh với các cáo luận bất hủ của cố nhân như tập Essais của Montaigne, tập Réflexions của Vauvenargues. Vậy thì các trước tác về loại Học làm người cũng đáng gọi là văn nghệ chứ?
1 Chúng tôi đã dịch cuốn của Bennett: Sống 24 giờ một ngày, và cuốn của Lâm: Sống Đẹp (NXB Văn Hoá, 1993).
Nó cũng có trường, có phái như các loại văn chương khác (tiểu thuyết, thơ...): ở Pháp, có phái của nhà Aubanel thiên về tôn giáo, về tâm linh: có phái của nhà Oliven thiên về khoa học, về thể chất. Nó lại có tính cách dân tộc nữa; dân tộc Pháp hấp thụ một nền giáo dục có tính cách bách khoa nên các sách Học làm người của họ thường có giọng nghiêm trang, trọng lý thuyết; dân tộc Anh, nhất là Mỹ, trái lại, hấp thụ một nền giáo dục có tính cách thực tế hơn, nên sách của họ viết vui hơn, dễ đọc hơn, hợp tâm lý số đông hơn và chú trọng đến sự thành công ở đời hơn.
Sau cùng, loại sách đó cũng như các loại khác, phản ảnh xã hội một cách khá trung thành, vì từ hình thức đến nội dung nó đều biến chuyển theo thời đại.
Tất nhiên, không ai lại sắp một tác giả X hay Y trong tủ sách của nhà Oliven, mà cũng không thể sắp ngay cả André Maurois, Bertrand Russell, Lâm Ngữ Đường... ngang hàng với Khổng Tử, Marc Aurèle, Epictète: nhưng đứng về phương diện triết học hay luân lý mà xét, thì bộ Luận Ngữ, tập Pensées de Marc Aurèle, tập Manuel d'Epictète cũng là những tác phẩm dạy ta cách tu thân và xử thế như sách của nhà Oliven. Mà về hình thức, văn trong những cuốn đó khác xa văn của chúng ta ngày nay. Từ cái thể châm ngôn, mỗi tư tưởng gói ghém trong vài hàng, có khi vài chữ, biến chuyển qua cái thể cáo luận của Montaigne, Fénelon, Vauvenargues... và ngày nay thì nhiều cuốn đã bớt phần thuyết giáo, bỏ giọng nghiêm trang mà dùng những chuyện thực kể lại bằng một giọng hóm hỉnh (như tác phẩm của Dale Carnegie), thành thử hấp dẫn không khác gì tiểu thuyết.
Về nội dung thì cho tới thế kỷ trước, hầu hết các tác giả đều khuyên chúng ta phải noi gương các vị thánh (các cụ tin rằng ai cũng có thể thành Nghiêu, Thuấn, hay thánh Paul, thánh Pierre...), sự tu thân rất mực nghiêm khắc, luôn luôn phải nghĩ tới nhân nghĩa, chứ không được nhắc tới lợi (hà tất việc lợi, diệc hữu nhân nghĩa nhi dĩ hĩ), ngày nay người ta khoan hòa hơn, cho phép chúng ta, khuyến khích chúng ta tha hồ nói tới lợi, tới tư lợi, miễn là đừng làm hại cho cái lợi của người khác, mà sự tu thân của chúng ta cũng dễ dàng hơn, chẳng phải tham thiền, nhập định gì cả, chỉ cần áp dụng vài luật về tâm lý hay sinh lý là được rồi.
Không những vậy, nội dung còn mở rộng ra, bao trùm cả mọi hoạt động: luyện kí tính, luyện lời, luyện văn, học cách nói chuyện trong điện thoại, cách nuôi con, cách ngắm hoa, nghe nhạc... thành thử phải áp dụng những phát minh của mọi môn học: Triết học, văn học, khoa học, xã hội học, nhất là tâm lý học. Ta có thể nói rằng môn tu thân, xử thế đã thành một khoa học, một nghệ thuật, nghệ thuật sống và không có cái gì liên quan tới đời sống con người mà không nằm trong phạm vi loại sách Học làm người.
Vậy trong khoảng nửa thế kỷ nay, loại sách đó đã biến chuyển rất mau, mỗi ngày một phong phú thêm lên. Tôi tuy không chuyên tâm theo dõi sự biến chuyển đó, nhưng luôn mười bảy, mười tám năm nay, hễ thấy cuốn nào nhan đề hay hay thì cũng tìm mua, trung bình mỗi năm cũng đọc được vài cuốn, và tôi chưa thấy cuốn nào nội dung mới mẻ, kỳ dị bằng cuốn YOU ARE NOT THE TARGET của Laura Archera Huxley mà dưới đây tôi xin giới thiệu với Độc giả.
Tác giả, góc Ý, là vợ văn hào Anh Aldous Huxley1, và tác phẩm trên là cuốn đầu tay của bà. Cứ theo lời GHI ƠN của bà thì bà đã dạy học và chữa bệnh thần kinh cho nhiều người, rồi gom góp kinh nghiệm để soạn cuốn này.
1 Tiểu thuyết gia và nghị luận gia rất nổi danh, đã viết khoảng bốn chục tác phẩm, hầu hết đã được dịch ra tiếng Pháp, và những cuốn được nhiều người đọc nhất là Le meilleur des mondes (Brave New World), Contrepoint, Temps futurs..., giọng mỉa mai sâu sắc.
Bà hoàn toàn không theo gót các người trước, không lý luận dài dòng, mà chỉ gom góp những thuật để tu thân sửa tánh, rồi ghi lại cho chúng ta áp dụng. Đọc hết phần đầu (rất ngắn) ta nhận ngay ra rằng học thuyết của bà xây dựng trên một triết lý là yêu đời, và nhắm một mục đích là cải tạo bản thân để cải tạo xã hội. Rồi đọc tới phần nhì, ta sẽ thấy bà mươi mốt thuật bà vạch cho chúng ta, bề ngoài có vẻ rời rạc, không liên quan gì với nhau mà sự thực đều theo một số qui tắc minh bạch, xác đáng.
Qui tắc thứ nhất là tự tìm hiểu mình, vì muốn sửa mình thì phải nhận thấy những tật của mình đã. Qui tắc đó chẳng có gì là mới mẻ, hai ba ngàn năm trước, các triết gia đông, tây đều đã nêu ra rồi. Nhưng cổ nhân chỉ khuyên ta "Connais-toi toi-même" và "tự nhỉ dỉ hỉ", mà không trỏ cho ta cái cách tự hiểu mình ra sao, cách suy tư ra sao. Mà ai cũng biết rằng tự hiểu mình là một điều cực kỳ khó, vì chúng ta chủ quan, thứ nhất là vì phần tri thức của ta không thể rơi vào phần tiềm thức được, mà chính phần tiềm thức này chỉ huy một phần lớn động tác, thái độ, tính tình của ta. Bà Laura Archera Huxley đã khéo áp dụng những phát minh của khoa phân tâm học, tìm ra được nhiều thuật (chẳng hạn thuật Đặt những câu hỏi nào? Cách đặt ra sao?) để giúp ta dọ thám những chốn tối tăm nhất của tiềm thức, có vậy rồi ta mới có thể tự hiểu ta được.
Qui tắc thứ nhì là khi đã tìm hiểu được mình rồi, đã bắt được cái chân bản ngã của mình rồi - mà cái chân bản ngã đó chẳng bao giờ được hoàn toàn tốt đẹp, nhiều khi còn làm cho ta hổ thẹn nữa - thì đừng nhắm mắt lại để phủ nhận nó: cũng đừng chán nản, tự mạt sát mình: mà trái lại nên vui vẻ nhận chân nó, vui vẻ y như khi ta tìm thấy được những tật trong động cơ xe hơi hoặc trong bộ máy thâu thanh của ta vậy. Điểm đó cũng không có gì mới; ai cũng biết rằng không nhận chỗ sớ đoán của mình thì làm sao mà sửa nó được. Mới là ở chỗ tác giả chỉ cho ta thấy rõ rằng những tật của ta chỉ là do ta vụng dùng năng lực của ta; nếu khéo dùng thì tật xấu sẽ hóa thành đức tốt, ác sẽ biến ra thiện, họa sẽ chuyển thành phúc. Chẳng hạn bao nhiêu uất ức, giận hờn, nếu cứ chứa chất ở trong lòng thì ta sẽ đau khổ, có thể sinh ra đủ các chứng bệnh, có thể phát điên lên được, nhưng nếu cho nó phát ra hết đi, miễn là đừng có hại cho người khác thì tâm hồn, thể chất ta sẽ thảnh thơi, ta sẽ vui sống và yêu đời, yêu người hơn; không những vậy, trong khi cho nó phát ra, ta còn có thể lợi dụng nó để tập thể dục bồi bổ sức khỏe, cải thiện dung nhan nữa (coi thuật Trái bánh để đấm).
Vậy thì nghệ thuật sống là nghệ thuật biến đổi những năng lực tiêu cực thành những năng lực tích cực để chuyển hóa thành phúc. Để thực hiện cuộc biến đổi đó, ta phải dùng mọi phương tiện, mọi lúc rảnh và mọi vật sẵn có ở chung quanh ta: đây là qui tắc thứ ba mà cũng là một điểm mới mẻ trong phương pháp của tác giả. Hầu hết các sách từ trước đều chú trọng vào tinh thần, chẳng hạn khuyên ta tập trung tư tưởng rèn nghị lực... Đành rằng tinh thần quan trọng thật nhưng không thể tách nó rời khỏi thể chất được. Tinh thần và thể chất chỉ là một. Tác giả nhấn mạnh vào điểm đó và áp dụng triệt để chân lý đó, cho nên trong ba mươi mốt thuật bà chỉ cho ta, luôn luôn ta phải vận động bắp thịt này, bắp thịt khác, phải thêm hô hấp, có khi lợi dụng cả nước (nước nóng, nước lạnh), thức ăn và âm nhạc nữa.
Tư tưởng của bà đã mới mẻ như vậy, mà những thuật của bà mới thật là kỳ dị. Đọc những chương Trái bánh để đấm, Nhảy múa theo tiếng nhạc, Bạn nên làm một con vật, Bát nhã ngay lúc này... Độc giả sẽ thấy gần như là ảo ảnh thuật. Đọc lần đầu bạn mỉm cười, cho tác giả là lập dị, nhưng đọc lại lần nữa bạn sẽ phải nhận rằng những thuật đó chẳng những rất hợp với khoa tâm lý của phương Tây mà còn hợp với cả những triết lí thâm ảo nhất của phương Đông. Những thuật Giết con ma, Bạn dự đám táng của bạn, Bạn dự một mình đám táng của bạn lại còn quái đản hơn nữa, người thường chúng ta không làm sao tưởng tượng nổi. Tác giả phải có một bộ óc lạ lùng, phải mục kích biết bao nổi khổ ghê gớm của nhân loại, mới có thể nghĩ ra được những kỳ phương như vậy. Đọc những chương đó rồi, tôi mới thấy Dale Carnegie trong cuốn Quẳng gánh lo đi và vui sống chỉ trị những ưu tư thông thường của chúng ta, còn Laura Archera Huxley mới trị được những ẩn ức, u uất tới cái mức thác loạn của một số người xấu số trong xã hội ngày nay. Và như vậy hai cuốn bổ túc lẫn nhau, và tôi tin chắc rằng cuốn này sẽ giúp ích được cho độc giả như cuốn Quẳng gánh lo đi và vui sống.
Sau cùng tôi xin thưa thêm rằng cả về hình thức, tác phẩm của bà Laura Archera Huxley không giống những cuốn khác: giọng văn thì đột ngột, hình ảnh đôi khi rất lạ, cú pháp đôi khi phóng túng, chính Aldous Huxley cũng nhận như vậy, nên khi dịch, tôi đã phải châm chước ít nhiều: còn về cách trình bày thì sau nhiều chương, tác giả lại thêm một đoạn in một lối chữ riêng để nhắc nhỡ những ý chính cho ta: và cuối sách có thêm một bảng Phụ lục và một bảng Mục lục sắp các thuật theo nhu cầu của chúng ta, thành thử sách rất dễ tra cứu, có tính cách rất thực tế. Chỉ xét hai bảng đó cũng thấy sách tuy chỉ chứa ba mươi mốt thuật mà có thể áp dụng vào trên sáu chục trường hợp trong đời sống hằng ngày của mọi hàng người. Đúng là một "toàn thư" trong loại Học làm người như tác giả đã nói.
Saigon, ngày 30-4-1966
NGUYỄN HIẾN LÊ
GHI ƠN
TRƯỚC hết tôi phải ghi ơn những vị hoặc là bạn bè thân chủ, hoặc là sinh viên, đã tin cậy tôi mà kể lể nỗi khó khăn của họ với tôi. Đa số những chuyện thuật trong cuốn này là kết quả của sự hợp tác giữa hai người chuyên tâm giải quyết những vấn đề bề ngoài có vẻ như không giải quyết nổi. Lòng tin cậy và sự hợp tác đó đã khuyến khích, kích thích tôi rất nhiều.
Tôi hết lòng ghi ơn bà Virginia Pfeiffer vì đã từ lâu bà hướng dẫn tôi tự tìm hiểu tôi, sự tìm hiểu đó đã thành một điều kiện tiên quyết và hoàn toàn để soạn cuốn này: tôi ghi ơn hai người con của ba, Paula và Juan, vì đã góp nhiều ý kiến quý báu trong công việc tìm tòi của tôi và đã chuyển cho tôi biết bao trường hợp mới mẻ xảy ra hàng ngày.
Từ 1950, giáo sư Edmond Szekely và phu nhân, Deborah, đã tiếp đón tôi, cho tôi được thảnh thơi viết lách tại trại mục súc rất đẹp La Puerta của hai ông bà ở biên giới California và Mễ Tây Cơ rồi gần đây, lại tiếp tôi ở trại Golden Door, miền Escondido. Tôi mang ơn hai ông bà và phục hai ông bà đã tận tâm giúp nhân loại tăng thêm sức khỏe và cải thiện giao tế.
Tôi cũng cảm ơn bà Ruth Goode, nhà xuất bản của tôi: bà đã kiên nhẫn giúp đỡ tôi vì tôi đã thiếu kinh nghiệm mà lại phải viết bằng ngoại ngữ1.
1 Tác giả gốc người Ý, viết cuốn này bằng tiếng Anh.
Tôi lại cảm ơn Trude Shearman đã thích, hiểu cuốn này và trình bày nó một cách rất khéo.
Ngoài ra, tôi còn mang ơn Cerry Day, Joe Kearns, Christopher Isherwood và Gertrude Flynn vì đã đọc giùm bản thảo, phê bình và khuyến khích tôi.
Nhưng người tôi cảm ơn nhiều nhất là nhà tôi. Có lắm lúc tôi say mê vì một ý mới, hăng hái ghi ngay lên trên giấy, chẳng theo cú pháp nào cả. Những lúc đó, nhà tôi có nghiêm khắc lắm thì cũng chỉ nhắc nhở: "Thủng thẳng, thủng thẳng chứ... Văn của em hóa ra quái đản rồi đấy!". Và lần nào cũng vậy, chỉ trích xong rồi thì sửa chữa cho liền; luôn luôn nhà tôi có một thiện ý lạ lùng, và riêng trong việc góp ý kiến về cuốn này, nhà tôi đã tỏ ra đặc biệt đại lượng.
LAURA HUXLEY
TỰA
của ALDOUS HUXLEY
Loài người là những động vật đa thê1, cùng một lúc mà sống trong nửa tá thế giới hoàn toàn khác nhau, thế giới phân tử2 và thế giới đạo đức3, thế giới chủ quan và thế giới tượng trưng, thế giới kinh nghiệm của từng cá nhân và những thế giới tập thể về ngôn ngữ văn hóa, tổ chức xã hội và khoa học. Vì biết nói, biết suy nghĩ, biết truyền lại tri thức cho thế hệ sau, nên loài người vô cùng thông minh hơn những loài vật thông minh nhất. Nhưng con người thường nói năng một cách điên cuồng, suy nghĩ không hợp lý luận, lại tôn sùng thứ giả tri, coi nó là chân tri, cho nên họ cũng có thể vô cùng ngu xuẩn, khốn khổ, tàn nhẫn, tham lam hơn cả những thứ vật vô lý nhất, hoang dã nhất. Các loài dã thú chỉ dã man và hung bạo thôi: còn loài người, đàn ông và đàn bà, đều có thể thành những con quỉ, những kẻ thác loạn. Nhưng họ cũng có thể hoàn toàn giữ nhân tính được - và đôi khi, còn có thể vượt lên cao hơn nữa, thành những vị thánh, những vị anh hùng, những bậc thiên tài.
1 Vừa ở nước vừa ở cạn là lưỡng thê; cùng một lúc ở nhiều chỗ, trong nhiều thế giới là đa thê.
2 Cũng như thế giới vật chất.
3 Cũng như thế giới tinh thần.
Thực ra, cũng ít có người ác ý một cách dụng tâm và hằng cửu. Hầu hết chúng ta đều có thiện ý và xét chung, thì đều muốn cư xử đàng hoàng. Nhưng khốn nỗi chính những thiện ý vụng dùng lại đưa thẳng ta xuống địa ngục. Chúng ta nói được, chúng ta lại có những từ ngữ huênh hoang, cho nên không có gì dễ bằng tuyên bố một lý tưởng cao cả. Đến khi thử thực hiện lý tưởng đó thì các nỗi khó khăn mới bắt đầu. Muốn thực hiện những mục đích cao thượng của mình, chúng ta phải dùng những phương tiện nào? Chúng ta phải hành động ra sao để đạt những mục đích cao thượng đó? Những động vật đa thê là chúng ta này phải làm cái gì để lợi dụng tới triệt để những thể giới phối hợp với nhau một cách kỳ cục như vậy hầu làm lại cho mình và cho người khác?
Từ hai ba năm nay tôi đã rán tìm những lời giải đáp tạm nghe được cho những câu hỏi trên để viết thành một truyện tuy là không tưởng mà vẫn có tính cách thực tế về xã hội (một xã hội giả tưởng, hỡi ôi) mà mục đích chung là giúp mỗi người trong xã hội thực hiện được càng nhiều càng tốt những tiềm dục của mình. 1
1 Truyện này đã dịch ra tiếng Pháp, nhan đề là Île (cù lao), do nhà Plon xuất bản.
Muốn viết một cuốn như vậy thì trước hết phải làm một công việc khảo cứu lớn lao đã - hoặc nếu bạn cho tiếng khảo cứu có vẻ trịnh trọng quá, thì tôi xin đổi lại là: phải đọc rất nhiều sách trong mọi ngành, phải điều tra rất nhiều hạng người khác nhau trong mọi giới. Phải đọc cổ sử Hi Lạp, nhân loại học về quần đảo Polynésie, kinh Phật viết bằng tiếng Phạn hoặc dịch ra tiếng Trung Hoa, các bài khảo cứu có tính cách khoa học về dược phương, khoa thần kinh - sinh lý, khoa tâm lý, giáo dục, rồi tiểu thuyết, thơ, khảo luận và phê bình, du ký, sách luận về chính trị: rồi lại phải phỏng vấn đủ các hạng người từ các triết gia tới các đào kép, từ những người bị bệnh thần kinh tới các nhà đại tư bản như Rolls Royce - tất cả những điều đọc được. Tóm lại, tìm thấy tài liệu ở đâu, tôi cũng lượm hết và đôi khi tìm thấy ở ngay tầm tay tôi. Chẳng hạn có lần tôi đã gặp được nhiều câu đáp sáng sủa nhất, thực tế nhất cho một số câu hỏi của tôi, trong cuốn Xây dựng hạnh phúc này mà nhà tôi viết để giúp những người lại nhờ nhà tôi chỉ bảo về những vấn đề tâm lý và xử thế. Vài thuật của nhà tôi, chẳng hạn những thuật để biến đổi năng lực, tôi đã đem dùng vào tập khảo luận của tôi mà chẳng cần thay đổi gì mấy. Một số thuật khác thì tôi đã sửa đổi và bàn rộng thêm cho hợp với nhu cầu trong xã hội tưởng tượng của tôi rồi sáp nhập nó vào nền văn hóa đặc biệt của xã hội đó. Ngoài cái món nợ văn chương ấy, tôi còn mắc nhiều món nợ khác không phải là văn chương mà nhân dịp này tôi cũng xin tỏ lời cám ơn tác giả.
Tôi xin nói thêm một lời. Mặc dầu món nợ của tôi thuộc về văn chương, những tài liệu tôi mượn của nhà tôi vượt khỏi cái tính cách văn chương. Vì những thuật trong cuốn này quả là hiệu nghiệm. Chính tôi đã thử vài thuật vào bản thân tôi và thấy rất có lợi. Điều đó chẳng có gì lạ. Tôi vốn là một lý thuyết gia về bản chất con người, và khi thực hành những thuật đó, tôi bắt buộc phải thi hành cái đại chân lý mà tôi đã trình bày trong những tác phẩm của tôi. Đại chân lý đó, một khi ta đã nhận thấy rồi thì nó có vẻ hiển nhiên quá, mà sao biết bao người thiếu lương tri cứ ngoan cố không chịu biết tới. Nó như vậy: chúng ta đã là một động vật đa thê thì những vấn đề chủ yếu của ta tất có nhiều khía cạnh, và muốn giải quyết những vấn đề đó thì tất đồng thời phải tấn công nó ở nhiều mặt.
Nhà văn thường có khuynh hướng chuyên sống trong vài thế giới nào đó thôi, mà đáng lý ra, vì tính cách đa thê của nhân loại, phải sống trong nửa tá thế giới mới phải. Hạng người thần kinh thác loạn bị thói đó cám dỗ, và chỉ do mình tạo ra. Hồi tôi diễn giảng ở Viện Menninger, mùa xuân năm 1960, tôi đã có nhiều cơ hội gặp một nhóm người thần kinh thác loạn, bệnh tình gần như tuyệt vọng, và cứ ba bốn ngày, người ta lại trị cho một giờ bằng âm nhạc. Nhiều lần tôi đã thuyết phục được hầu hết bọn họ thí nghiệm thuật "Loài hoa bạn thích nhất"1 mà tôi đã sửa đổi một chút cho hợp với hoàn cảnh đặc biệt của họ. Kết quả thật lạ lùng. Chỉ trừ mỗi một người còn thì hết thảy những người sống trong cái thế giới tối tăm của bệnh thần kinh đó đều đã trở về được trong một thời gian. Mới vài phút trước, họ với tôi còn cách biệt hẳn nhau, mà thình lình, chúng tôi đã chuyện trò với nhau được. Tôi hỏi họ và họ đáp. Họ kể chuyện riêng cho tôi nghe. Họ còn đưa ra những lời phê bình đôi khi hữu lý và thích đáng. Vậy những người đàn ông và đàn bà bị bệnh nặng như vậy đã tỉnh táo được như vậy trong một hay hai giờ sau khi theo thuật đó, sự kiện ấy chẳng đủ tỏ rõ rằng phương pháp của tác giả có một giá trị đặc biệt hay sao? Nếu những người thần kinh thác loạn gần như vô phương chữa kia dùng phương pháp mà còn có lợi như vậy thì hạng chúng ta còn có lợi biết bao nữa! Những người bị bệnh thần kinh nhẹ, những người gặp những nỗi khó khăn có thể giải quyết nổi, và những người đã lành mạnh, còn muốn lành mạnh hơn, muốn phát triển những tiềm năng tình cảm, trí tuệ và sáng tạo thêm lên, những người đó nếu theo phương pháp của tác giả tất sẽ có lợi rất lớn! Muốn vậy chỉ cần mỗi một điều kiện không có không được này: là phải gắng sức. "Nếu bạn chịu cố gắng thì thuật tất hiệu nghiệm".
1 Trong sách, không có thuật nào nhan đề như vậy. Tôi đoán là thuật "Như thể lần đầu vậy".
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG ĐIỀU CĂN BẢN
1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT CHO MỘT ĐỜI SỐNG SUNG SƯỚNG
Tới một lúc nào đó trong đời sống, những người sung sướng nhất, trong bọn chúng ta đều phát kiến được ba chân lý bất ngờ này:
Chân lý thứ nhất: Mỗi người, kẻ nhiều người ít, đều có khả năng làm cho người khác sung sướng hoặc khổ sở.
Chân lý thứ hai: Làm cho người khác sung sướng là một việc thích thú hơn là làm cho họ khổ sở.
Chân lý thứ ba: Làm cho người khác sung sướng thì nhiều khi cũng là làm cho chính ta sung sướng thêm lên.
Mỗi người có một cách riêng, những thuật riêng để giúp cho người khác cảm thấy sung sướng thêm lên. Tôi cũng đã tìm ra được nhiều thuật và trong cuốn này tôi xin chép lại những thuật mà tôi đã thí nghiệm và thấy rằng có hiệu quả đặc biệt đối với nhiều hạng người.
Có người thích phương pháp này, có người thích phương pháp khác, và ai cũng muốn tự kiếm lấy một phương pháp riêng cho mình. Tôi viết cuốn này là để giúp độc giả bỏ hết những giáo điều của người xưa, những phương thuốc cùng những lời khuyên của người nay, mà tự phát triển khả năng sáng tạo của mình tùy theo cách thức riêng của mỗi người. Khả năng sáng tạo của chúng ta có nhiều phương diện lắm, nhưng phương diện quan trọng nhất là biết dùng bản thân ta, tính tình ta cách nào có lợi nhất trong đời sống hiện tại.
Từ bao thế kỷ nay, cổ nhân đã khuyên ta rằng lòng nhân ái là phương thuốc vạn ứng: chân lý đó hiển nhiên quá mà cơ hồ như không sao thực hiện được. Theo lý thuyết thì chúng ta đều biết rằng lòng nhân ái giải quyết được mọi vấn đề, nhưng đến khi thực hành thì đa số chúng ta lúc nào cũng xử sự y như là chưa hề biết tới chân lý đó.
Mỗi khi mà cái "ái" bị cái "vô ái" lấn át thì cơ thể ta lâm nguy. Cái vô ái xuất hiện do nhiều nguyên nhân. Có thể là do hôm đó ta bực mình về một giọng nói, hoặc quạo quọ vì thiếu dinh dưỡng từ đâu mấy năm trước. Có thể do người bạn trăm năm của ta không hợp với ta về sinh lý, hoặc hợp về sinh lý mà không hợp về tính tình, cảm xúc.
Lại có thể là do ta làm ăn thua lỗ, hoặc do nóng lòng đợi một bức thư mà thư không tới, do sự mệt nhọc sau một ngày phải làm những việc chán nản. Một người bán hàng phải miễn cưỡng tươi cười tiếp một khách hàng quan trọng, một bà chủ nhà phải miễn cưỡng tiếp một khách mà bà không ưa, những trường hợp đó cũng thường gây sự vô ái. Thời tiết, khí hậu thay đổi bất thường, làm cho các hạch nội tiết của ta phải phản ứng lại mà ta sinh ra quạo quọ; được một vật gì ít quá hoặc nhiều quá cũng có thể làm cho ta khó chịu. Lại còn những nguyên nhân về tín ngưỡng, chính trị, ý thức hệ nữa. Một tiếng động, một màu sắc, một hình dáng, một xú khí cũng có thể gây sự vô ái. Trông thấy một móng tay sơn đỏ như máu, ta cũng có thể ghê rợn như khi nghĩ tới ảnh hưởng của bom hạch tâm.
Dù nguyên do từ đâu, và dù phát hiện ra cách nào thì sự vô ái cũng gây ra sự vô ái và muốn chuyển vô ái thành ái thì cần phải có nhiều năng lực nhân ái.
Những điều kiện cần thiết cho sự sinh tồn là: thức ăn, nước và không khí. Nhưng muốn cho đời sống sung sướng thì ai cũng nhận rằng cần thêm hai điều kiện này nữa:
Được người khác yêu
Yêu người khác
Đàn ông hay đàn bà thì cũng vậy cả.
Mà sự đói khát tình yêu có muôn hình vạn trạng: nó còn thông thường hơn sự đói khát thức ăn thức uống. Nó không chừa một giai cấp, một dân tộc nào, dù ở phương Đông hay phương Tây, trời Nam hay trời Bắc, dù dân tộc đó có một trình độ kinh tế và xã hội ra sao, có những hình thức sinh hoạt ra sao. Kẻ đói khát tình yêu có cái bộ mặt lạnh như đá của con người khổ hạnh hoặc giọng nói thác loạn của kẻ cuồng tín. Thái độ của họ có khi màu mè như một kẻ giả dối mà cũng có khi táo báo, trâng tráo như một kẻ tham si.
Bệnh đói khát tình yêu đó có thể biến thành những bệnh thể chất hoặc tinh thần, gây ra sư phạm pháp hoặc chết chóc nữa. Trong gia đình, bệnh đó có thể truyền từ đời nọ đến đời kia, cho tới khi có một người phản kháng lại, bứt cái dây bất tưởng đó đi. Nếu bạn ở trong một gia đình như vậy thì bạn nên làm cái việc bứt dây đó.
Gần đây người ta đã chứng mình được giá trị của tình yêu. Một nhóm nhà bác học đã thí nghiệm ảnh hưởng của tình yêu thương trong những buổi đầu của đời sống sinh vật. Họ bắt nhiều con khỉ con phải xa mẹ và dùng những máy móc để làm thay công việc của khỉ mẹ. Một cái máy trong loại đó làm bằng dây thép và có công dụng cho chúng bú sữa; khỉ con chỉ việc nhấn vào một chỗ nào đó là sữa chảy ra, tha hồ mà bú. Một cái máy khác không cho chúng gì cả, và làm bằng một chất êm ấm, mềm mại. Khỉ con ghét cái máy thứ nhất, chỉ uống sữa đủ cho khỏi đói, còn thì suốt ngày cứ nép mình vào lòng khỉ mẹ nhân tạo của chúng tức cái máy thứ nhì, để được êm ấm gần như ở trong lòng một khỉ mẹ bằng xương bằng thịt. Và các nhà bác học kết luận rằng khỉ con cần cảm thấy được ở gần mẹ. Tình yêu đó là tình yêu về sinh lý. Bất kỳ sinh vật nào hễ còn hơi thở, còn có máu lưu thông trong huyết quản thì tình yêu bao giờ cũng có một phương diện sinh lý. Đến ngay như tình yêu Chúa, một tình yêu có tính cách hoàn toàn tinh thần, mà cũng cần có một cơ thể để làm trung gian, huống hồ là những tình yêu khác.
Bác sĩ W. H. Gautt, tại dưỡng đường của Cựu Chiến sĩ ở Perryville, Maryland, đã thí nghiệm vào loài chó và chứng minh được ảnh hưởng của tình yêu tới cơ năng của trái tim. Ông bảo: "Nhiều con chó nuôi trong phòng thí nghiệm, không được gần gũi người hoặc các con chó khác thì chỉ ít lâu là tỏ ra những triệu chứng bất thường, gần như thác loạn". Những con đó, nếu cho chúng tiếp xúc với người thì trở lại bình thường ngay. Một con nhốt trong phòng thí nghiệm, tim đập tới 160 lần một phút. Bác sĩ Gautt lại gần nó thì tìm đập chậm lại, 60 lần một phút, gần như bình thường; tới khi ông vuốt ve nó thì tim chỉ còn đập có 20 lần một phút. Ông bảo: "Ngay như nha phiến cũng không có hiệu quả mạnh mẽ như vậy được".
Đừng nói chi tình yêu, chỉ một cái máy thay thế tình yêu mà nhiều khi cũng có công hiệu. Người ta nhận thấy rằng những em bé mới sanh, nuôi một mình trong một phòng dưỡng nhi hoàn toàn hợp vệ sinh - không có vi trùng nhưng cũng không có tình yêu -1 tỏ ra vẻ bình tĩnh, sung sướng hơn, ăn ngủ ngon hơn khi người ta đặt thêm trong phòng một cái máy phát ra những tiếng tựa như tiếng tim đập của người mẹ.
1 Ở Âu, Mỹ, người ta rất sợ trẻ bị lây bệnh của người lớn, sợ chúng bị nhiễm vi trùng, nên đã thí nghiệm một cách nuôi trẻ gần hoàn toàn bằng máy chứ không dùng người, để xem kết quả ra sao. Kết quả tai hại: chúng ăn ngủ kém đi, buồn rầu và sút cân mặc dầu cách nuôi nấng rất hợp vệ sinh.
Tội nghiệp cho những em bé đó! Chúng khát khao hơi ấm của da người, bầu sữa của con người, hơi hướng và tiếng nói của con người thì người ta chỉ cho chúng những cái mền sưởi bằng điện, những bầu sữa bột và những tiếng đập của một trái tim nhân tạo!
Nhưng ngay từ khi mới oe oe chào đời, có lẽ còn trước nữa, từ khi còn ở trong bụng mẹ, các em đều đòi:
Được người khác yêu
Yêu người khác
Nhu cầu đó càng khẩn thiết bao nhiêu, thì đàn áp nhu cầu đó càng có những hậu quả tai hại bấy nhiêu. Mà loài người thì vì những tập tục, những cấm kỵ này nọ, cứ chạn nghẹt, bịt tiếng kêu do nhu cầu đó phát ra. Bác sĩ Smiley Blanton đã tóm tắt quá khứ, hiện tại và tương lai của nhân loại trong ba tiếng này: "Yêu hoặc chết".
Làm cách nào để giúp một thế giới khao khát tình yêu mà lại bị cái bệnh truyền nhiễm là bệnh vô ái đó hành hạ đến tuyệt vọng? Các nhà xã hội học, các nhà giáo dục, các nhà thần học, các y sĩ và nghệ sĩ đều đã đề nghị những phương thuốc, những cách trị rắc rối hoặc giản dị. Nhưng vấn đề đó không phải chỉ quan hệ tới một số nhà chuyên môn, mà quan hệ tới hết thảy mọi người. Các nhà luân lý đã đưa ra những lý tưởng cao siêu, đặt ra những lệnh nghiêm khắc, nhưng chúng ta làm cách nào thực hiện được những lý tưởng đó, tuân theo được những lệnh đó? Ai chẳng muốn được hiền hậu và sung sướng và làm cho người khác thành hiền hậu và sung sướng - nhưng, làm cách nào đây? Cách nào?
Những thuật chỉ trong cuốn này có hai tác dụng: một mặt đả phá những cái gì ngăn cản ta tiến tới mục đích trên; một mặt làm phát triển những khả năng giúp ta đạt mục đích đó, những khả năng mà mọi người đều có sẵn. Vậy, những thuật đó xây dựng trên hai qui tắc căn bản này: biến đổi năng lực và nhận định khả năng sáng tạo.
Nhưng không có một phương pháp, một phương thuốc hay một lời cầu nguyện nào có thể giúp ta được nếu ta không chịu bước cái bước đầu, quan trọng nhất, nghĩa là không cương quyết tự cải. Không phải là cải thiện người thân của mình hoặc cải thiện một người nào khác mà là cải thiện chính mình. Vì có cải thiện chính mình thì rồi mới có thể cải thiện được người khác.
Khi ta đã thay đổi thì người khác cũng sẽ thay đổi. Mà hoàn cảnh cũng sẽ thay đổi một cách kỳ dị, gần như là một phép mầu.
Vậy thì sự thay đổi khởi thủy phải là ở trong bản thân ta. Nếu bạn đã có cái quyết định căn bản đó rồi thì xin bạn đọc tiếp những trang sau.
2 BIẾN ĐỔI NĂNG LỰC
Năng lực là một nguồn vui bất tận.
WILLIAM BLAKE
CHÚNG ta sống là nhờ một số phân tử có khả năng biến đổi năng lực của mặt trời thành nguyên liệu cho đời sống. Nhận vào một cái nút mà ngọn đèn sáng lên, là nhờ năng lực của một thác nước đã được biến đổi thành luồng điện. Đạp"ga" mà xe hơi rồ máy là nhờ năng lực do dầu xăng phát sinh đã biến đổi thành sức nóng, rồi thành động lực.
Quy tắc biến đổi năng lực đó có tác động trong khắp vũ trụ, từ những động vật có sinh khí tới những vật vô sinh khí. Mà con người là một sinh vật biến đổi năng lực một cách kỳ diệu nhất trong vũ trụ.
Chúng ta là những cái máy biến đổi vật chất. Về phương diện vật chất, chúng ta biến đổi không khí, nước và thức ăn thành máu, xương, thịt, gân... Muốn bắt chước thực hiện một công việc của cơ thể, chẳng hạn công việc tiêu hóa một bữa điểm tâm, thì ta phải có một cái xưởng vĩ đại trong đó hằng trăm kỹ thuật gia chuyên môn điều khiển những bộ phận rắc rối vô cùng. Mà dù có bắt chước được chăng nữa thì công việc cũng không được hoàn hảo như sự tiêu hóa trong cơ thể. Sự thực thì trong hiện trạng của ngành kỹ nghệ, chúng ta không thể bắt chước được bộ máy tiêu hóa của chúng ta.
Chúng ta là những cái máy biến đổi tinh thần. Những điều ta trông thấy, nghe thấy, học được đều thâm nhập vào trí tuệ của ta, ảnh hưởng tới sự suy tư và cá tính của ta. Rồi ta biến đổi tất cả những cái này thành những ý tưởng, những hành động tùy theo bản chất và nhu cầu của mỗi người.
Chúng ta là những cái máy biến đổi cảm xúc. Một cảm xúc hiện ra thì ít khi ta để nó nguyên như vậy, nhất là khi ta không lấy làm vinh hạnh vì nó. Khi có những tình cảm mà do tập tục ta đã cho là xấu, chẳng hạn lòng ghen ghét, thù hận, thì ta biến đổi nó liền thành những tình cảm mà ta quen coi là cao cả, chẳng hạn thành lòng bất bình của con người đạo đức, lòng phản đối của một người trọng cương thường.
Nỗi sợ sệt biến thành sự nhút nhát hoặc oán hận, nỗi bất bình vì bất công biến thành lòng phục thù hoặc một cảm giác tự ti. Yêu mà không được yêu lại, thèm khát nhục dục mà không được thỏa mãn thì có thể thành ra quá nghiêm cẩn, hoặc hóa ra quạo quọ, đôi khi tàn nhẫn nữa. Người nào cảm thấy mình có lỗi thì hóa ra rụt rè quá hoặc trái lại, hoặc hóa ra hung hăng. Mỗi người biến đổi cảm xúc của mình tùy theo bản chất, tính tình, tâm lý của mình, tùy theo hoàn cảnh và giáo dục của mình.
Lại có trường hợp mà cảm xúc tự nó ảnh hưởng tới cơ thể, biến đổi cơ thể, hoàn toàn ngoài ý chí của ta. Ta thử xét xem sự biến đổi đó xảy ra cách nào.
Cảm xúc có thể làm thay đổi những chất hóa học trong cơ thể, thay đổi sự tuần hoàn của máu, sự phát tiết các kích thích tố. Chẳng hạn khi một người nổi giận thì hệ thống thần kinh kích thích các hạch thượng thận, làm cho chất adrénaline1 tiết ra nhiều. Chất này làm cho tim đập mau hơn, do đó lại kích thích ngược lại bộ thần kinh, mà cơn giận càng tăng lên. Như vậy huyết áp tăng lên, mạch máu căng ra, có thể gây những hậu quả tai hại tới cơ thể.
1 Có sách dịch là thận tuyến tố; adrénaline là chất do hạch thượng thận tiết ra, nó ảnh hưởng tới sự vận chuyển của máu, sự vận động của tim.
Vậy là một cảm xúc đã gây tất cả sự phản ứng dây chuyền đó.
Mặt khác, nếu một cái hạch tiết chất adrénaline mà sưng lên, thì ta có thể hóa ra quạu quọ suốt ngày, không lúc nào vui. Những người chung quanh, trước thái độ đó của ta, phản ứng lại, cũng nỗi quạu, như vậy làm cho cơn giận của ta càng tăng lên, mà các hạch lại càng tiết ra nhiều adrénaline thêm lên. Chất này tiết ra nhiều, mạch máu lại càng tăng, ảnh hưởng có thể tai hại.
Trong trường hợp hạch sưng đó, cũng may mà rất ít khi xảy ra, nguyên do là một bệnh ở cơ thể đã gây sự phản ứng dây chuyền nọ.
Vậy ta thấy rằng tinh thần và cơ thể ảnh hường lẫn nhau, cái nọ kéo cái kia theo một vòng tròn. Trong hai trường hợp mới kể trên, vòng tròn đó là một vòng ác. Khi cơ thể hoạt động điều hòa thì vòng tròn đó là một vòng thiện. Nếu chất adrénaline tiết ra một cách bình thường thì tính tình ta vui vẻ, tinh thần ta minh mẫn; mà nếu tính tình ta vui vẻ, tinh thần ta minh mẫn thì chất adrénaline tiết ra một cách bình thường.
Có lẽ vì cảm xúc ảnh hưởng tới trọn cơ thể mà ta luôn luôn gần như bất giác, gắng sức điều khiển chúng để có thể, nếu không vinh hãnh thì cũng đừng đến nỗi phải xấu hổ vì chúng. Nhưng tại sao lại chỉ biến đổi cảm xúc trong cõi tối tăm của vô thức như vậy? Biến đổi nó một cách xây dựng và giải phóng trong cõi sáng sủa của hữu thức, có phải là hơn không? Phần đông chúng ta thường biến đổi năng lực của cảm xúc một cách không thích đáng, đôi khi có tính cách phá hoại nữa.
Mà chúng ta có bắt buộc phải hoạt động như vậy đâu. Chúng ta có thể dùng khả năng biến đổi đó để phụng sự tình thương và trí tuệ được mà. Chắc ai cũng nhận điều tôi mới nói đó là đúng. Nhưng nếu chỉ mới đồng ý trên nguyên tắc thì chưa đủ.
Chúng ta còn phải thực hiện quy tắc đó nữa, áp dụng nó vào chính bản thân chúng ta, và áp dụng nó vào mọi lúc trong suốt đời chúng ta.
Cái năng lực thúc đẩy cảm xúc của ta, tự nó không thiện cũng không ác.
Cái năng lực mà ta dùng một cách ngu xuẩn, chẳng hiểu gì về thực tế, để hại người khác rồi tự hủy luôn mình, cái năng lực đó cũng y như cái năng lực nó làm cho ta hóa ra thông minh, nhân từ, hữu ích cho người khác và cả cho mình nữa.
Phải có cảm thấy năng lực đó, nhận định đúng đắn về nó rồi ta mới có thể điều khiển lại nó theo những hiểu biết sáng suốt nhất của ta về thể chất, tinh thần và đạo đức.
Trước khi có lý trí thì con người đã bị cảm xúc và bản năng chi phối từ lâu rồi. Về điểm đó, cuốn Man's Presumptuous Brain (Bộ óc tự phụ của con người) của Bác sĩ Ạ.T.W. Simeon phát biểu được nhiều điều mới mẻ. Ông bảo rằng màng óc (cortex), tức bộ phận trung khu của ký tính, của mọi cảm giác, mọi hội ý, mọi suy tư hợp lý, mới phát triển gần đây, còn phần ở dưới cái màng đó, tức bộ phận trung khu của bản năng mới là bộ óc nguyên thủy của loài người. Vậy những bản năng nguyên thủy đó đã có từ khi bắt đầu có sự sống. Nó gây nên những cảm xúc vô cùng mạnh mẻ và có một năng lực vĩ đại. Vụng dùng thì năng lực đó biến thành bệnh tật về thể chất hoặc tinh thần.
Tại nhiều xã hội dã man con người đã hiểu rõ và lợi dụng một cách có hệ thống quy tắc biến đổi năng lực đó. Chẳng hạn khi một dân tộc bán khai nổi điên lên mà hóa hung hăng thì họ la hét nhảy múa, giậm chân, chặt cây... nghĩa là làm những cử động mạnh mẻ, để dẹp cơn thịnh nộ xuống.
Trong xã hội văn minh của chúng ta, chúng ta cũng có khi nổi giận, uất hận, nhưng giáo dục, phong tục thường không cho phép ta phát biểu những cảm xúc đó một cách cuồng loạn. Trong một cuộc hội hợp phụ huynh học sinh hoặc trong một ủy ban chẳng hạn, thình lình có một ông hay bà nào nhảy tưng tưng lên, la hét, giậm chân y như bọn mọi thì coi sao được. Nhưng, theo các nhà bác học thì đại loại, những phản ứng do bản năng của ta trong xã hội văn minh ngày nay cũng không khác gì trong xã hội còn ăn lông ở lỗ.
Cảm xúc của ta phát sinh từ những bản năng nguyên thủy mà nhiều khi ta không biết. Chúng rất mạnh và có một năng lực rất lớn. Nếu ta không nhận chân được năng lực đó, không dùng nó một cách có lợi, thì nó sẽ tự phát ra mà ta không hay. Nó sẽ biến thành tính quạu quọ hoặc bệnh đau bao tử, đau ruột; nó làm cho ta có một thái độ cừu địch ngấm ngầm hoặc gây cho ta sự bải hoải khắp thân thể.
Vụng dùng thì năng lực sẽ phát ra một cách tiêu cực do những chỗ yếu trong cơ thể hoặc trong tâm lý của ta.
Các y sĩ có thể cho ta biết những hiện tượng đó tiếp nối nhau phát hiện ra sao về phương diện tâm lý. Còn chúng ta thì chỉ cần biết rằng nó có phát ra - mà chúng ta có khả năng ngăn cản nó được.
Công việc của chúng ta là tìm ra những cách để biến đổi năng lực do những cảm xúc tiêu cực gây ra thành một năng lực vô hại hoặc hữu ích nữa, biến đổi một cách thích hợp với đời sống văn minh.
Nói cách khác là phải làm sao cho chúng ta thành những nhà chuyên môn và tự nguyện biến đổi năng lực, chứ không phải là những kẻ thụ động, để cho năng lực sai khiến mình.
Trong công việc đó cũng như trong mọi công việc khác, có lý thuyết rồi lại phải có thực hành.
Thuật căn bản trong công việc thực hành đó, là thuật mang nhan đề: "Nghệ thuật biến đổi năng lực". Còn những thuật: "Bạn đâu phải là cái đích mà người ta nhắm", "Trái bánh để đấm", "Bạn nên làm một con vật", "Thổi bong bóng nước" và vài thuật khác nữa chỉ là những qui kết của thuật thứ nhất. Bạn muốn bắt đầu bằng thuật nào cũng được, không cần phải thực hành ngay thuật căn bản, cứ lựa thuật nào thích nhất mà theo.
Do kinh nghiệm riêng của bạn, bạn sẽ thấy rằng những năng lực sáng tạo và phá hoại đều chung một nguồn gốc và đều có thể điều khiển được. Nhưng muốn vậy thì phải thực hành những thuật chỉ trong cuốn này, chứ chỉ đọc và tìm hiểu thôi thì không đủ. Và khi bạn đã thực hành được thì bạn có thể điều khiển đời sống nội tâm cũng như đời sống ngoại viện tới một mức độ cao. Khi ta biết chỉ huy một cách thông minh năng lực đó thì ta có thể tập trung nó một cách xây dựng. Ta có thể dùng khả năng biến đổi năng lực của cảm xúc một cách có lợi cho ta trong mọi vu rắc rối và cơ hội xảy ra hằng ngày.
Muốn đạt mục đích đó thì ta cần nhớ kỹ điều này mà nhiều người thường quên: lúc nào chúng ta cũng là một khoen xích trong một chuỗi biến cố phản ứng lẫn nhau theo dây chuyền. Mỗi người trong chúng ta là sản phẩm của vô số dây chuyền: dây chuyền biến hóa của nhân loại, dây chuyền chủng tộc, dây chuyền di truyền, dây chuyền xã hội ở chung quanh và còn nhiều dây chuyền khác nữa. Không thể tưởng tượng được có biết cơ man nào là biến cố trong đó chúng ta vừa là cái quả của biến cố trước vừa là cái nhân của biến cố sau.
Ta thử tưởng tượng mỗi dây chuyền đó có cả hàng trăm triệu dẫn tuyến cử động trong không gian và thời gian và đều tập trung cả vào một điểm duy nhất, điểm đó là mỗi người trong chúng ta, ngay ở chỗ này và đúng lúc này đây.
Và bây giờ, ta thử xét một dây chuyền thôi trong số những dây chuyền đó, chẳng hạn dây chuyền tâm lý. Nó chằng chịt với các dây chuyền khác, đặc biệt là với các dây chuyền gia đình, giáo dục, văn hóa và dinh dưỡng. Nếu ảnh hưởng được tới dây chuyền tâm lý là chúng ta đã tiến được một bước lớn để cải thiện toàn thể đời sống của chúng ta rồi.
Muốn biết nên ảnh hưởng tới dây chuyền tâm lý đó cách nào cho hợp lý thì ta phải nhớ hai điều này: chúng ta là một cái khoen trong dây chuyền đó; chúng ta có thể thay đổi bản thể của dây chuyền, do đó có thể thay đổi đời sống những người liên quan với ta.
Khi đã nhận định kỹ hai điều đó rồi, ta có thể bắt đầu hành động. Hành động ngay lúc này đi, ở chỗ này đi.
Để bạn dễ hiểu, tôi xin tưởng tượng một thí dụ về một khúc nhỏ trong một dây chuyền. Tôi thí dụ rằng dây chuyền đó có bảy khoen mà tôi là khoen số 7.
Nơi hành động: vùng ngoại ô một châu thành lớn.
Giờ hành động: Một buổi sáng sớm.
1.- Bên cạnh một cái cổng một căn nhà ở ngoại ô có một chậu trồng vân anh (fuchsia), rất đẹp. Một thanh niên lái xe gắn máy, chạy qua rầm rầm, liệng tờ nhật báo vào bực cửa mỗi căn. Tới trước căn nhà trồng vân anh đó, hẳn tính sai và tờ báo rớt mạnh đụng vào chậu vân anh, làm gẫy mất mấy cành và rụng rất nhiều bông. Không ai thấy việc đó mà chính người giao báo cũng không ngờ như vậy.
Thế là đã tạo thành cái khoen đầu cho dây chuyền. Đúng ra chỉ là một việc lỡ tay, vô tình không có ác ý, do đó mà không có ý nghĩa gì cả. Nhưng rồi hậu quả ra sao?
2.- Vài phút sau, ông X. chủ căn nhà, ra nhặt tờ báo.
Ông là hạng người ra sao?
Ông vốn hãnh diện về chậu bông đó lắm, nay thấy bông rụng, cành gẫy như vậy thì trong lòng ông ra sao?
Ông sẽ phản ứng lại cách nào?
Ông cúi xuống lượm tờ báo và thấy cây vân anh gẫy. Thế là tiêu tan nỗi vui, nỗi hãnh diện, kết quả của mấy tháng cặm cụi tưới bón, săn sóc từng tí - tiêu tan hết! Ông ta tự nhủ: "Quân vô lại nào đó đã cố ý phá hoại đây". Rồi nổi điên lên, tím mặt lại, ông vô nhà. Bà vợ thấy vậy, ngó ông như có ý dò hỏi. Ông bèn mạt sát kịch liệt tất cả bọn con trai, đặc biệt là thằng bé ở trước cửa. Ông chắc chắn rằng thằng nhãi con mất dạy đó đã cố ý bẻ bông của ông. Bà vợ hỏi: "Làm sao mình biết chắc được rằng chính nó bẻ?" Ông hỏi vặn lại: "Không phải nó thì ai vào đó?". Rồi ông tiếp tục càu nhàu rằng ông Y, cha đứa nhỏ đó, lúc nào cũng gây phiền lụy cho người khác. Đúng là cha nào con nấy.
Vừa chua chát vừa gắt gỏng, ông X đi lại tiệm thuốc của ông để mở cửa tiệm.
3.- Nhưng chẳng may, ông Y, cha đứa nhỏ bị nghi ngờ, hôm đó vô tiệm thuốc của ông X để mua một điếu xì gà1. Ông X không nói gì về chậu vân anh và về đứa con ông Y. Nếu ông nói ra thì ông sẽ biết rằng đứa nhỏ đó đã đi nghỉ mát từ hai bữa trước rồi. Ông không nói ra mà chỉ mỉm cười một cách rất xã giao của giới buôn bán và tự hãnh diện rằng mình đã tự chủ được. Nhưng nỗi bực tức mà ông cố nén cũng biểu lộ ra một cách khéo léo được. Ông vốn ngay thẳng mà sao hôm đó vô ý thối tiền lầm cho ông Y mà không hay. Sự lầm lẫn đó lại có lợi cho ông, mới là rắc rối!
1 Ở Mỹ, các tiệm thuốc còn bán cả các đồ giải khát, thuốc hút, sách báo v.v...
4.- Về tới nhà, ông Y mở ví ra đưa tiền cho bà vợ mới thấy rằng mình đã bị thiệt. Nghĩ tới cái nỗi phải trở lại tiệm thuốc, bắt ông X phải tính lại, ông bực mình và nổi quạu. Ông trút cả cơn giận lên đầu bà vợ, chua chát rầy bà rằng quá phung phí tiền nong.
5.- Bà Y ra chợ mua vạt, bà phải mua nhiều thứ, nhất là một chiếc xú-chiêng.
6.- Khi đeo thử, nhìn trong gương bà không vừa ý về hình dáng của mình và về chiếc xú-chiêng; hai cái đó đủ cho bà bực mình rồi, lại thêm chuyện ông chồng phàn nàn lúc nãy về ông chủ tiệm thuốc, rồi giận cá chém thớt, bất công với bà, nhất là thêm nỗi lo lắng về vấn đề tiền nong nữa. Tất cả những cái đó làm cho bà nỗi quạu, trút cơn thịnh nộ vào cô bán hàng, vì cô không biết kiếm cho bà được một chiếc xú-chiêng vừa ý.
7.- Cô bán hàng đó chính là tôi.
Lúc đó phản ứng của cái dây chuyền tiêu cực đó truyền tới tôi. Nguyên do chỉ tại một cậu thanh niên vui vẻ đi giao báo mỗi buổi sáng sớm để kiếm thêm tiền tiêu vặt. Rồi từ khoen nọ tới khoen kia, phản ứng truyền lần lần tới tôi, làm cho tôi thấy bất mãn, thấy một năng lực mạnh mẽ, tiêu cực nhắm thẳng vào tôi. Có thể rằng bà khách hàng của tôi bất bình về hình dáng của bà, về các kiểu xú-chiêng bán ở tiệm, hoặc về một cái khác, nhưng lúc này đây thì, rõ ràng là bà quạu với tôi. Tôi có thể hành động cách nào bây giờ?
Tôi thấy có bốn cách:
a) Làm bộ là không thấy bà ta quạu. Theo cách này thì một vài bắp thịt của tôi căng thẳng, trong cơ thể tôi sẽ có một vài sự biến đổi hóa học, mà tôi không nhận thấy, cũng không thể điều khiển được. Như vậy là tôi tự dối tôi về phương diện tâm lý.
b) Tôi có thể bảo thẳng vào mặt bà khách hàng rằng đi tiệm khác mà mua.
c) Tôi có thể nhã nhặn với bà ta.
d) hoặc có thể nhận ra rằng cái năng lực tiêu cực đó đã truyền tới tôi thì nên biến đổi nó cách nào có lợi cho mình.
Hành động theo bốn cách đó thì sẽ xảy ra như vầy:
a) Theo cách thứ nhất là phủ nhận sự thực. Như vậy nhiều lần, thành thói quen thì có thể có những hậu quả tai hại về cảm xúc và thể chất, mà rồi sinh ra những bệnh tinh thần. Với lại, phủ nhận sự thực thì làm sao có thể đương đầu với nó được?
b) Theo cách thứ nhì thì tôi được hả giận, thỏa lòng một lúc đấy, nhưng rồi có thể có hai hậu quả khó chịu: trước hết là hậu quả tới công ăn việc làm và tới tiếng tăm của tôi (khách hàng sẽ ngán tôi); sau nữa là hậu quả tới bà khách hàng: bà đã quạu sẵn rồi, nghe tôi trả lời như vậy, sẽ ra sao đây?
c) Nếu thật tình tôi không phật ý chút nào cả, nếu tôi "nhã nhặn" với bà ta một cách tự nhiên, không tự cho vậy là khổ nhục, nếu huyết áp của tôi không đột nhiên tăng lên mà các bắp thịt của tôi cũng không co lại, nói cách khác là nếu tôi thực tình hiểu rằng bà ta không cố ý làm nhục tôi mà tôi cũng chẳng lấy vậy làm tủi thì thái độ nhã nhặn của tôi sẽ có lợi cho cả hai người, và thái độ đó quả là một giải pháp tốt. Nhưng khốn nổi rất ít khi con người có được một thái độ như vậy.
d) Bây giờ đến cách thứ tư: áp dụng quy tắc biến đổi năng lực. Làm sao biến đổi được? Một năng lực tiêu cực đã truyền tới tôi. Tôi đã tập bắt lấy năng lực đó như bắt một trái banh. Rồi tôi biến đổi năng lực đó và lợi dụng nó để đặt một mục đích mà tôi đã lựa.
Muốn vậy phải tập luyện lâu. Và đó là mục tiêu của thuật: "Bạn đâu phải là cái đích mà người ta nhắm". Thế giới đầy những năng lực phóng túng và ta phải học cách dùng nó trong việc sáng tạo.
Tạo được một nghệ phẩm là biết dùng năng lực trong việc sáng tạo. Có một hành động hoặc một cảm xúc gây được một chút thiện bất kỳ theo hướng nào trong hoàn cảnh nào, tới trình độ nào, cũng là biết dùng năng lực trong việc sáng tạo. Làm cho một em bé đang ủ rủ được nở một nụ cười tươi tắn; hoặc xây cất được một cái đập đẹp đẽ, kiên cố; hai việc đó tuy ở hai bình diện khác nhau mà cũng chỉ là một, chỉ là dùng năng lực để sáng tạo.
Khi ta thấy một người nổi giận đến run lên, hoặc tràn trề một niềm vui, thì ta biết ngay rằng người đó đương tiêu dùng biết bao năng lực vì những cảm xúc đó. Số lượng năng lực dồn nén trong khi ta do dự, cũng lớn lắm mặc dầu ta không rõ ra được ngay.
Bạn có thể thí nghiệm lấy mà xem. Dễ lắm. Bạn úp hai lòng bàn tay vào với nhau, rồi đưa ra trước mặt, cách mặt bạn độ ba bốn phân. Rồi dùng tận lực, bạn ép bàn tay trái vào bàn tay mặt và cả bán thân bên mặt để chống lại sức ép đẩy của bàn tay trái. Làm như vậy trong hai ba phút, đem hết bán thân bên đây chống lại với bán thân bên kia, bạn sẽ thấy kiệt lực. Về phương diện tâm lý, cũng có sự chống đối gay go, như vậy mỗi khi bạn xung đột với chính bạn và không biết phải quay về hướng nào, phải hành động ra sao. Bạn tiêu phí năng lực để cho một phần nửa của bản thân chống với phần nửa kia. Như vậy thì trách chi mà bạn chẳng thường thấy mệt. Đôi khi thói quen tự chống đối với mình đó thành một bệnh kinh niên và bạn không còn quyết định gì được nữa. Sự mệt mỏi còn nhiều nguyên nhân khác nhưng nguyên nhân đó thông thường nhất.
Một trường hợp dùng nghị lực để chống đối với mình, hủy hoại mình một cách kinh khủng nhất, là chiến tranh; vậy mà trong lịch sử nhân loại, chiến tranh đã là một cơ hội xã hội cho nhiều dân tộc. Nhờ chiến tranh mà những bản năng hung hăng của các dân tộc đó mới có dịp phát ra, mà họ hết thấy chán nản. Một chú thợ tầm thường nhất trong một nhà máy nào thời chiến, cũng tự hào là hy sinh cho quốc gia, phụng sự công lý. Thực đáng buồn mà nhận thấy rằng luôn luôn trong thời chiến, số người tự tử giảm đi.
Nếu có một chiến tranh hạch tâm thì chiến tranh đó sẽ không gây được những cái thú như chiến tranh cổ điển: binh sĩ không còn hãnh diện "một hai, một hai" nữa, không còn kèn trống, không còn anh hùng nữa. Cả hai bên đối thủ sẽ đều bị tận diệt y như những bầy mối trong hang bị hun khói vậy, bị tiêu diệt vì một thứ khí giới kinh khủng mà chúng ta phải đổ biết bao mồ hôi kiếm tiền để chế tạo, và tự lấy làm vinh hạnh đã chế tạo được nó.
Khí giới đó là một cách biến đổi năng lực mạnh nhất mà loài người đã phát minh ra được. Phương pháp của tôi không làm kinh động các bạn như trái hom H đâu, những ai biết thực hành nó thì cũng sẽ thấy công hiệu, công hiệu một cách khác và ở một mức khác, chứ không giống trái bom H. Nó sẽ chỉ cho các bạn thu thập số năng lực vĩ đại thả lỏng trong đời sống hằng ngày rồi điều khiển năng lực đó để tạo một đời sống tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn, chứ không phải để tạo cảnh chết chóc thê thảm.
PHẦN THỨ NHÌ
NHỮNG THUẬT ĐỂ SỐNG
VÀ ĐỂ YÊU
Những thuật để sống và để yêu chỉ trong phần này đều xây dựng trên một cơ sở chung là lòng thích sống.
Con người không có một Thể xác tách biệt với Linh hồn; vì cái mà ta gọi là Thể xác chính là một phần của Linh hồn, cái phần mà ngủ quan phân biết được; mà ngủ quan là những ngả chính đưa tới Linh hồn trong kiếp trần này.
WILLIAM BLAKE
MẤY LỜI MỞ ĐẦU
về các thuật để sống và yêu
Khi bắt đầu áp dụng những thuật dưới đây, bạn nên tưởng tượng rằng mình là một viên kim cương. Viên kim cương có nhiều mặt. Có những mặt trong suốt; có những mặt hơi gợn than; có những mặt đầy than; lại có vài mặt có thể dính bùn. Chỉ một mặt trong suốt cũng đủ lọc ánh sáng qua tất cả các mặt khác.
Mỗi thuật mà bạn áp dụng trong đời sống sẽ làm cho một mặt hay nhiều mặt của viên kim cương sáng rỡ lên và sẽ lọc được mỗi ngày mỗi nhiều ánh sáng qua các mặt khác. Sự cách biệt giữa trạng thái sống lây lất và sống đầy đủ cũng y như sự cách biệt giữa sự đục mờ và sự trong trẻo.
Những thuật trong cuốn này không viết riêng cho một người nào, mà cũng không để trị riêng một tật nào. Nó giúp tất cả những ai muốn tìm một sự điều hòa cho cá tính phức tạp của mình, tìm một sự quân bình về thể chất và tâm lý. Nó giúp những người nào muốn tự giúp mình. Nó không bắt ta phải diệt phần này hay phần nọ trong bản thể của ta mà trái lại chỉ cho ta cách tận dụng những phần đó để đạt tới sự hoàn hảo mà mọi người có thể đạt được.
Khi thực hành các thuật, bạn thường phải "nhớ lại", hoặc "sống lại" tức "thí nghiệm lại" một việc nào đó trong quá khứ. Chúng ta cần phân biệt rõ thế nào là nhớ lại, thế nào là sống lại.
Nhớ lại là một việc thuộc về tinh thần. Nhờ ký ức, chúng ta dựng lại được những sự kiện, hoàn cảnh, nhân vật cũ; chúng ta nhớ lại những gì chúng ta đã làm, đã nói, đã cảm thấy, trông thấy hoặc nghe thấy.
Sống lại hay thí nghiệm lại một biến cố cũ có nghĩa mạnh hơn là nhớ lại. Chúng ta không những chỉ nhớ lại lời đã nói mà còn thực sự nghe thấy nó nữa. Chúng ta không những chỉ nhớ lại về mặt, hình dáng của người khác mà còn thực sự trông thấy nó nữa. Nếu là một bữa cơm thì không những chúng ta chỉ nhớ lại đã ăn những món gì mà còn cảm thấy ở trên lưỡi hương vị các món ăn ấy nữa. Nếu là một lúc vui thì không những chúng ta chỉ nhớ lại nổi vui mà còn thực sự vui cái vui lúc đó nữa.
Do bẩm sinh, có người chỉ nhớ lại chuyện cũ, chỉ có ký tính về tinh thần thôi, có người lại có khả năng sống lại tất cả những ký ức của mình. Phần đông chúng ta đều có thể dùng cả hai cơ năng đó cùng một lúc; nhưng mạnh hay yếu là tùy người.
Khi thực hành một thuật nào, bạn cần phải sống lại hay thí nghiệm lại một việc cũ, mà bạn mới chỉ nhớ lại việc đó thôi thì chưa đủ. Phải gắng sống lại việc đó như thể nó đương xảy ra thì mới được.
Trong mọi thuật tôi có chép nhiều điều chỉ dẫn. Tôi đã dụng tâm không đánh số, không phân loại những điều chỉ dẫn đó. Con số có tác dụng khác nhau tùy mỗi người. Có người thích đánh số cho dễ thấy, có người khó chịu, bỡ ngỡ vì con số. Cách phân loại nào thì cũng vậy.
Tuy nhiên sau mỗi điều chỉ dẫn, tôi có bỏ trắng một khoảng để bạn có thể thêm vào đó một dấu hoặc một con số nào đó tùy ý bạn. Có lẽ bạn thích dùng màu sắc hơn là con số, thích dùng một tiếng nào để gợi ý hay tóm tắt hơn là dùng một mẫu tự, thích dùng một ký hiệu nào riêng của bạn hơn là dùng một chữ, một dấu in sẵn trên sách và không thể bôi đi được.
Khi đọc, bạn nên cầm một cây viết mực hay viết chì để đánh dấu những đoạn bạn khen hay chê, ghi những ý của bạn để bạn thêm hoặc sửa đổi cách thức thực hành cho hợp với bạn. Bạn nhấn mạnh vào những điểm cần nhớ, rồi dùng những thuật giúp ký tính, dùng chữ dấu, màu sắc để học cho mau thuộc. Không có một người thứ hai nào hoàn toàn giống bạn; vậy sau khi dùng cuốn này được vài tháng thì không có cuốn thứ hai nào giống hệt với nó cả.
Bạn có một cây viết chì đấy chứ? Nào, bắt đầu ngay đi nào!
Nhiều thuật sẽ bắt bạn phải co vài bắp thịt nào đó lại. Có lẽ bạn sẽ bảo: "Cái đó thực phiền cho tôi. Thần kinh tôi đã căng thẳng quá rồi".
Nhưng có hai thứ co lại, chẳng giống nhau chút nào cả.
Khi bạn tự ý, tự giác có một bộ phận nào trong thân thể thì bạn làm chủ hành động của bạn và như vậy sẽ có lợi cho bạn.
Trái lại khi bạn không có ý mà một bộ phận nào co lại thì có hại cho bạn, vì năng lực của bộ thần kinh không được khéo điều khiển, nên bắp thịt mới phản ứng mà co lại như vậy.
Lại còn khác nhau ở điểm này nữa: khi không cố ý mà thần kinh, bắp thịt căng thẳng thì chúng ta cứng ngắc, như bị bó lại bằng thạch cao; còn khi ta tự ý co một bộ phận nào lại thì cũng có thể tự ý duổi nó ra. Co và duổi, hít vô và thở ra: đó là nhịp điệu của sinh hoạt.
Tách biệt thể chất và tinh thần là một việc không mấy thực tế mà còn nguy hiểm. Thể chất và tinh thần gắn chặt với nhau trong suốt đời người, vậy ta phải biết lợi dụng sự hợp nhất đó. Một trong những điểm quan trọng nhất của các Thuật là cho ta nhận thức được sự hợp nhất căn bản ấy.
Khi thí nghiệm các Thuật, hễ thấy một cảm xúc nào thì bạn nên tìm xem cảm xúc đó phát sanh từ chỗ nào trong thân thể (Thuật nào dặn không nên làm như vậy thì thôi). Điều đó quan trọng. Đôi khi ta nhận thấy được một cảm xúc hoặc một kinh nghiệm tâm lý nào đó tương ứng với một cảm giác nào đó về thể chất. Nhưng cũng có khi khó nhận ra sự tương ứng đó; trong trường hợp này, bạn nên tự nhủ: "Cảm xúc đó tất phải do một cảm giác nào đó phát sinh, vậy ta thử tưởng tượng xem cảm giác đó phải ra sao". Tôi sẽ có dịp giảng giải kỹ hơn về điểm đó trong khi chỉ các thuật. Điểm đó quan trọng vì nhờ nhận định được cảm giác trong cơ thể, ta mới giải phóng được năng lực của cảm xúc để dùng nó một cách có ý thức.
Bạn nên để ý nhận xét những phản ứng của bạn khi thực hành các thuật. Cách tốt nhất là thử một thuật nào rồi thì ghi lại trên giấy: thuật đó dễ hay khó, có bí mật lạ lùng không, có thuyết phục được bạn, hướng dẫn được bạn không, v.v... Rồi khi làm lại một thuật nào thì để ý nhận xét xem phản ứng lần này có khác những lần trước không.
Bạn có thể coi mỗi thuật là đoản kịch trong đó bạn đóng vai chính. Ghi chép những biến đổi của vai chánh đó: vai chính có phần động lại, có nghi ngờ, ngại ngùng, tấn bộ không - nhất là có thành công không. Điều đó rất quan trọng, nó liên quan tới đời của bạn.
Tôi còn yêu cầu bạn cũng đặc biệt chú ý tới lời khuyên ở trang sau.
Đừng tự coi mình là quan trọng quá mà rồi sẽ thành những kẻ chỉ mổ xẻ đời sống, chỉ nghiêm trang áp dụng các thuật chứ không biết sống và yêu. Mà các thuật chỉ có mục đích giúp ta biết sống và biết yêu.
Từ trên một thế kỷ rồi, Goethe đã vạch cho ta cái nguy đó, đã khuyên ta phải đề phòng bọn ưu uất lúc nào cũng tư lự về bản thân của mình một cách vô ích. Ông bảo người thực tự biết mình là người nhận thức được mình trong sự tương quan với người khác với thế giới.
Các thuật thường bắt bạn từ từ thâm hô hấp. Lý do như vầy: khi bạn chú hết ý vào sự hô hấp thì tất cả các hoạt động khác, các tư tưởng, cảm giác phải ngưng lại.
Cách hô hấp đó làm cho các bắp thịt giãn ra, máu được thêm nhiều dưỡng khí mà tư tưởng hóa ra sáng sủa.
Cách thâm hô hấp:
Hít vô bằng mủi, thở ra bằng miệng.
Thở ra cho thật hết: muốn biết chắc rằng đã thật hết chưa thì bạn phải làm âm tiếng S: hễ còn phát âm được là hãy còn không khí trong phổi.
Khi thấy trong phổi hoàn toàn rỗng (nghĩa là hết không khí rồi) thì để cho nó rỗng một lát, nhưng đừng lâu quá đến nỗi chóng mặt.
Rồi bắt đầu hít vào, rất từ từ.
Tưởng tượng rằng không khí từ gan bàn chân vận dẫn lên theo bắp chân, đùi. Cứ để cho nó lên từ từ, qua bộ phận sinh dục, qua mỗi đốt xương sống, qua cổ rồi tới đỉnh đầu. Tưởng tượng rằng không khí là một sinh lực nó vô đầy trong cơ thể. Bạn có thể tưởng tượng thêm rằng khi nó vô đầy cơ thể thì nó tỏa ánh sáng ra. Giữ cái không khí sáng rực đó một lúc. Rồi để cho nó từ từ chảy ra ngoài và tưởng tượng rằng nó vừa chảy ra vừa cuốn theo tất cả những chất dơ của cơ thể và của tinh thần.
Ban ngày bạn nên thỉnh thoảng thâm hô hấp như vậy để thấy mát mẻ cơ thể và tinh thần. Và nhớ thâm hô hấp trước khi đi ngủ.
Các thuật đều chứa nhiều điều chỉ bảo. Bảo bạn làm cái này cái nọ - rồi lại bảo đừng làm. Bảo bạn thí nghiệm hiện tại - rồi lại bảo sống lại quá khứ cũng mãnh liệt như sống trong hiện tại. Bảo bạn phải hoạt động - rồi lại bảo bạn phải hoàn toàn thụ động. Những lời chỉ bảo đó bề ngoài có vẻ mâu thuẫn nhau, nhưng đều nhắm một mục đích: giúp bạn gạt bỏ tất cả ảnh hưởng ngoại lại đi mà tự điều khiển lấy mình từ nội tâm để trở thành cái chân ngã của bạn.
Chắc bạn sẽ tự hỏi: "Mình sẽ bắt đầu bằng thuật nào đây?"
Xin bạn coi bảng Mục lục: "Các thuật xếp theo nhu cầu", và bảng Phụ lục: "Các thuật xếp theo sự giao thiệp với người khác" đều ở cuối sách. Tuy nhiên tôi khuyên bạn nên bắt đầu làm một trong sáu thuật dưới đây:
Bạn đâu phải cái đích mà người ta nhắm.
Trái banh để đấm.
Nhảy vào địa vị Người khác.
Giết con Ma, hay là: "Ở đây và Ngay bây giờ".
Làm cách nào để có thể dùng Cái này được?
Nhảy múa theo tiếng đàn.
Tôi xin giới thiệu qua loa các thuật đó:
"Bạn đâu phải là cái đích mà người ta nhắm" là một thuật mà hầu hết chúng ta đều có thể dùng mười lần mỗi ngày. Dù ta sống để làm việc hay là để hưởng thụ, dù ta sống trong gia đình hay trong một đoàn thể, ta cũng có thể cải thiện tình trạng tâm lý và thế chất của ta được. Hiện lúc này đã có rất nhiều người dùng thuật đó rồi.
Thuật "Trái banh để đấm" cũng nên thi hành vì nó dễ mà bổ ích cho mọi người, đàn ông cũng như đàn bà, già cũng như trẻ.
Xét cho cùng thì tất cả các vấn đề của loài người chỉ là những vấn đề giao tế nhân sự. Thuật "Nhảy vào địa vị người khác" sẽ giúp bạn biện biệt được phải trải, hiểu người khác hơn và do đó cải thiện được cách giao thiệp với họ.
"Giết con ma" là một thuật hiệu nghiệm nếu bạn muốn luyện tánh chú ý và mài giủa tri giác của bạn. Nó cũng có thể dùng làm giai đoạn cuối cùng cần thiết của nhiều thuật quan trọng khác1.
1 Chẳng hạn những thuật: "Ban dự đám táng của bạn", "Ban dự một mình đám táng của bạn", "Những cục băng trong dòng sông".
Thuật "Làm sao tôi có thể dùng Cái này được?" sẽ chỉ cho bạn cách lợi dụng cả những tình cảm, sự kiện bất lợi hay có vẻ bất lợi. Bạn sẽ tập cách phản ứng một cách xây dựng với những hoàn cảnh phá hoại.
Một số độc giả có thể cho rằng thuật "Nhảy múa theo tiếng đàn" có vẻ kỳ cục, chướng, nhưng tôi cho nó là quan trọng vào hạng nhứt vì có dịp thấy những kết quả tốt đẹp có thể nói là dị thường của nó. Nếu đọc nó mà bạn tự hỏi: "Ủa, thuật này dùng làm gì đây?", thì tôi khuyên bạn cứ nhảy múa đi rồi bạn sẽ hiểu nó dùng để làm gì.
1. BẠN ĐÂU PHẢI LÀ CÁI ĐÍCH MÀ NGƯỜI TA NHẮM
hay là Dùng những cảm xúc khó chịu để cho cơ thể được dễ chịu
Khi ông nhà phàn nàn -
Khi bà nhà cự lại bạn -
Khi ông chủ làm cho bạn phát quạu -
Khi bạn thân lơ là với bạn -
Khi người hùn vốn với bạn khó tính -
Khi con gái của bạn ương ngạnh -
TỐP!
Xin bạn ngừng! Ngừng lại một chút đã.
Xin bạn ngừng lại và hiểu cho rằng những người đó quạu quọ, vô lý, thiếu nhã nhặn, lạnh lùng nói cách khác là có thái độ khó chịu, xúc phạm - không phải là vì họ nhắm đích thân bạn đâu.
Bạn cảm thấy bị họ nhắm, nhưng trong đa số trường hợp, bạn không bị họ nhắm. Bạn không phải là cái đích mà họ nhắm. Chẳng qua là bạn vô tình đứng đúng vào chỗ họ nhắm đấy thôi.
Quạu quọ, vô lý la thuong tinh cua con nguoi. Vô tình đứng vào chỗ người khác nhắm, rồi tưởng rằng người ta cố ý nhắm mình, cũng là thường tình của con người. Đôi khi vì đứng gần người khác mà bị người ta trút vào đầu mình mọi nỗi bất bình: có trường hợp như vậy thật. Nhưng trong đa số trường hợp thì mình không phải là cái đích mà người ta nhắm. Một ông chồng, một bà vợ, một đứa con, một người hùn vốn, hay là một người lạ trong một chuyến xe buýt, chật cứng, đều có những lúc quạu quọ, bất bình, nén không nổi mà phải cho cơn giận phát ra, bùng lên, dù biết rằng như vậy sẽ làm phật ý người khác.
Hễ sống trong xã hội, hễ tiếp xúc với người khác thì nhất định phải gặp những cảnh đó. Chúng ta không thể sống trên trái đất này mà tránh được hết những cơn dông tố do nổi bất bình của kẻ khác gây nên, cũng như ta không thể tránh được những trận mưa trên trời đổ xuống. Nhưng ta có thể tránh được cái cảm giác rằng mình là cái đích mà họ nhắm. Chúng ta lại còn có thể lợi dụng cái nổi bực mình đó nữa.
Khi cơn giận của một người nào đó hướng về phía chúng ta mà phát ra, dù bị người đó cố ý nhắm hay không thì ta cũng tự nhiên phản ứng lại liền. Chính là cái bản ngã nguyên thủy của ta phản ứng lại, ngoài ý muốn của ta. Do sự di truyền của tổ tiên mà ta phản ứng lại để tự vệ mỗi khi thấy ai gây gỗ hoặc dọa làm hung - dù không phải là người đó cố ý nhắm ta, dù cơn giận của họ chỉ như ngọn gió hay ngọn sóng vô tình thổi, đập nhằm chỗ ta đứng.
Những dân tộc bán khai hiện nay còn phản ứng theo cách đó mỗi khi có thiên tai. Họ còn cho nhật thực là một điểm gở; còn cho một trận động đất hay một trận lụt là một hình phạt do thần linh giáng xuống để trừng trị tội bất kính của một làng, một bộ lạc, một dân tộc. Đừng nói chi họ, ngay những dân tộc phương Tây, mới cách đây ba trăm năm, cũng có những phản ứng như họ. Nếu một đàn bò bị bệnh thì người ta cho là bị một mụ phù thủy ếm, và thế nào cũng có một kẻ bất hạnh bị tróc nã rồi thiêu sống. Nếu một người chồng nào hóa ra liệt dương, thì người ta cũng cho là có kẻ ếm, nhất là khi người đó chỉ lạnh lùng với cô mà không lạnh lùng với mỹ nhân bên hàng xóm. Trong hai thế kỷ XVI và XVII, người ta đã thiêu sống từ năm trăm ngàn tới một triệu phụ nữ vì người ta cho rằng họ bị tà ma ám ảnh.
Cái cảnh quần chúng thác loạn đó nay không còn nữa nhưng xét về phương diện cá nhân thì chúng ta vẫn phản ứng lại trước cơn giận dữ của người khác y như là mình bị họ nhắm vậy. Một trận gió lốc nổi lên hoặc một cây nước dâng lên thì ta không cho là tại thần gió hay thần biển muốn hại ta; nhưng một sự thay đổi đột ngột về thời tiết làm cho tính tình người khác hóa quạu quọ, thì ta lại cho rằng họ muốn làm nhục ta. Cũng có khi họ nhắm ta thật, muốn làm nhục ta thật. Nhưng phần nhiều là họ chỉ cho phát ra nổi uất ức trong lòng họ thôi, mà ta vô tình đứng ở trước mặt họ, rồi tự cho rằng họ cố ý nhắm mình.
Dù những người đó cố ý nhắm bạn hay chỉ là vô tình thì thuật chỉ trong chương này cũng giúp bạn lợi dụng những chuyện bất như ý đó một cách hữu ích cho bạn.
Đừng bao giờ quên rằng mỗi người đều chịu sự phản ứng dây chuyền là một cái khoen trong một dây chuyền bất tận. Điều đó chúng tôi đã nói ở chương II. Hành động, cử chỉ của một người âu sầu, ưu tư, mất bình tĩnh hoặc đau khổ, có thể còn tai hại hơn là một bệnh truyền nhiễm. Đa số những bệnh truyền nhiễm như bệnh lên sởi, bệnh cúm, chẳng cần trị, chỉ hai ba tuần là tự nó cũng hết; còn bệnh thần kinh suy nhược do một việc bất mãn, đau lòng gây ra, chẳng những có thể kéo dài tới suốt đời mà còn có thể tạo thành một dây chuyền phản ứng, rất vi tế mà rất mạnh mẽ, mỗi ngày mỗi lan ra, mỗi dai dẳng, cực kỳ khó ngăn cản. Ai cũng vậy, thường vô tình truyền những phản ứng tiêu cực1 của mình qua những người chung quanh, rồi những người này lại truyền qua những người khác, cứ như vậy cho tới vô cùng.
1 Xin độc giả lưu ý: tác giả thường dùng tiếng này để trỏ những phản ứng như giận dữ, oán hận, thất vọng...
Chẳng hạn nếu một ông chủ xí nghiệp là một người khó tính, thần kinh suy nhược, thì một số lớn những người giúp việc cho ông sẽ hóa ra buồn rầu, gắt gỏng. Tâm trạng đó, nếu họ không nhận chân ra được mà diệt đi thì sẽ truyền qua vợ, và đa số các bà đó sẽ phản ứng lại mà hóa ra quạu quọ, ủ rũ; rồi con cái cũng sẽ chịu ảnh hưởng về tính nóng nảy, thất vọng của cha mẹ mà làm cho bạn bè hóa ra oán đời, ghét người: những trẻ này sẽ tỏ ra ương ngạnh với cha mẹ, thầy giáo, và những vị này phản ứng lại một cách khó chịu, làm cho tất cả những người chẳng may đứng gần họ khi không phải chịu lây cơn thịnh nộ của họ. Và cứ như vậy, từ người này truyền qua người khác cho tới vô cùng.
Chúng ta dùng những phương pháp vệ sinh, các thứ thuốc tiêm phòng bệnh và mọi phương tiện khác để ngừa cho con cái khỏi mắc những bệnh truyền nhiễm như bệnh thương hàn, bệnh tê liệt, bệnh ban đỏ, vân vân... Đó là cái quyền và cái bổn phận của chúng ta. Vậy thì chúng ta cũng có quyền và bổn phận phòng ngừa cho chúng khỏi bị lây những bệnh tuy khó nhận ra hơn nhưng truyền nhiễm và nguy hiểm không kém, tức những bệnh truyền nhiễm về tâm lý. Có ai không tiêm trước thuốc phòng ngừa mà đến một nước đương có bệnh dịch tả hoành hành không? Vậy mà chúng ta sống và làm việc hằng ngày trong một thế giới đầy những cảm xúc tiêu cực, chúng ta lặn hụp trong thế giới đó, mà chẳng dự bị đề phòng gì cả. Trách chi nhiều người chẳng bị lây tức thì.
Thuật chỉ trong chương này sẽ giúp bạn chẳng những khỏi bị lây mà còn biến đổi dây chuyền cảm xúc xấu xa có hại thành một cái gì đẹp đẽ và có ích.
Chúng ta đều có thể lựa chọn như cô bán hàng trong chương II: hoặc tiêu cực nhận cái vị trí của mình trong dây chuyền cảm xúc tiêu cực, nhận cái xấu người khác truyền lại cho mình rồi lại truyền qua người khác nữa: hoặc bứt dây chuyền đó đi, biến đổi năng lực một cảm xúc phá hoại thành một hành động kiến thiết.
Năng lực, tự bản chất nó, thì không xấu, không tốt, không phá hoại, không kiến thiết. Do cách ta dùng nó mà nó hóa ra phá hoại hay kiến thiết, có ảnh hưởng xấu hay tốt. Năng lực phát từ hạch tâm có thể tiêu diệt mọi sự sinh hoạt trên trái đất mà cũng có thể làm cho đời sống toàn thể nhân loại được tốt đẹp hơn. Và ta cũng biết rằng năng lực đó không hề bị tiêu diệt, nó chỉ là chuyển qua một hình thức khác thôi khi chúng ta dùng nó.
Khi bạn cho một năng lực cừu nghịch nổ ra, dù bạn hướng nó về bản thân của bạn hay không, thì nó cũng ảnh hưởng tai hại tới bạn. Tự nhiên trong cơ thể bạn sẽ xảy ra một cái gì đó. Tim bạn đập mạnh hơn, hơi thở của bạn gấp hơn, huyết áp của bạn cao hơn. Vô số huyết quản li ti sẽ căng ra trong phổi bạn, bạn hít vô nhiều không khí hơn và dưỡng khí vô trong máu nhiều hơn. Ngay lá gan của bạn cũng mở rộng thêm kho chứa ra để rót thêm chất đường vô máu. Đồng thời máu bị đẩy ra khỏi bộ phận tiêu hóa để dồn vô các bắp thịt.
Cơ thể tự biến đổi một cách kỳ dị và rắc rối như vậy là để cấp tốc phản ứng lại. Các loài vật cũng có bản năng phản ứng ấy và nhờ vậy mà chúng cũng như ta mới khỏi bị tiêu diệt. Trong thiên nhiên, hễ mới thấy dấu hiệu của sự nguy hiểm là vạn vật phản ứng lại tức thì để dự bị cho cơ thể chiến đấu hoặc chạy trốn. Bản năng đó đã cứu tổ tiên chúng ta khi các cụ gặp một con gấu hoặc một con voi khổng lồ: không có nó thì loài người đâu còn sống tới ngày nay.
Bây giờ chúng ta ít có dịp gặp một con thú dữ trong rừng nhưng bản năng tự vệ kia thì vẫn còn đó và vẫn hoạt động khi ta có một cảm giác nguy hiểm. Cũng cái dòng máu nhiều dưỡng khí và chất đường, đầy sinh lực nó cuồn cuộn chảy vào bắp thịt, kích thích bắp thịt thúc nó hành động, bắt nó phải LÀM MỘT CÁI GÌ!
Có ai bắn một phát tên ác cảm về phía bạn, thì tự nhiên, bất giác, cơ thể của bạn phản đối lại liền. Bắp thịt của bạn co lại, sẵn sàng để hăng hái hoat động.
Trong những hoàn cảnh bình thường, văn minh, ít khi bạn phải chiến đấu hoặc chạy trốn. Mặc dầu vậy, các bắp thịt cũng vẫn sẵn sàng cả. Vậy thì phải tìm cách lợi dụng nó.
Phải tìm cách biến đổi một cảm xúc khó chịu thành một hành động nó làm cho cơ thể, tinh thần bạn mạnh mẽ lên, đẹp đẽ lên.
Đó là mục đích của thuật này. Nhưng trước khi có thể lợi dụng năng lực đó, bạn cần làm hai điều này đã.
Bạn tự nhủ, và lập đi lập lại hoài rằng mình không phải là cái đích mà người ta nhắm. Dó cái bản tánh tự coi mình là trung tâm vũ trụ mà chúng ta mới tin rằng mình là cái đích người khác nhắm.
Và con điều này nữa, quan trọng cũng ngang với điều trên: bạn phải muốn đừng làm cái đích.
Có một tình cảm núp trong tiềm thức mà rất phổ biến là loài người muốn đau khổ - muốn làm một nạn nhân - muốn rằng đau khổ là một cảnh đáng ước ao trên cõi trần này vì có đau khổ thì mới được lên Thiên Đường, ngồi cạnh Thượng Đế. Nếu bạn tin tưởng như vậy mà không ngờ thì thuật tôi chỉ đây sẽ rất ích cho bạn. Nó sẽ giúp trục xuất ý muốn đó ra khỏi cõi tiềm thức; lôi nó ra khỏi ánh sáng để ta có thể tấn công nó mà biến đổi nó thành một năng lực từ đó có ích cho ta. Trái lại, nếu bạn biết rằng có tin tưởng kể trên thì bạn nên tự hỏi câu này:
Khi nào thì mình có thể làm lợi cho mình và cho người khác nhất?
Khi mình đau khổ?
Hay khi mình sung sướng?
Vì thuật này có mục đích chống lại những cảm xúc khó chịu trước mặt người khác, cho nên chúng ta phải rán đừng làm cái gì để người khác quá chú ý tới ta. Khi việc xảy ra trước đám đông thì ta phải biến chuyển năng lực ở trong những bộ phận nào của cơ thể mà người ngoài không thấy được.
Đừng tưởng như vậy sẽ khó khăn vì chỉ có ít cơ quan thích hợp với việc đó. Thực ra ta có thể làm nhiều cử động mà người ngoài không để ý tới. Chẳng hạn ta có thể vận động, co, giãn những bắp thịt ở:
ngón chân
mắt cá
bắp chân
đùi
bụng
mông đít
ngực
cánh tay
cổ họng
lưỡi
Bạn tìm lấy, có lẽ sẽ thấy còn nhiều bắp thịt khác mà bạn có thể co giãn một cách kín đáo, không ai biết. Mục đích chính của thuật này là biến đổi năng lực của một cảm xúc tiêu cực thành một vận động bắp thịt.
Kết quả là nhờ đó mà cải thiện được một vài bộ phận của cơ thể. Chúng ta đều biết rằng co bắp thịt của một bộ phận nào lại là làm cho bộ phận đó nhỏ đi, cứng mạnh lên, kết quả cũng như tập thể thao vậy. Cho nên khi áp dụng thuật này, bạn phải định trước sẽ làm cho bộ phận nào trong thân thể mạnh lên, đẹp lên.
Nếu bạn muốn luyện tập đùi thì bạn có thể tin chắc rằng phương pháp của tôi cũng hiệu nghiệm như phương pháp của bất kỳ một ông thầy dạy thể dục nào. Nếu bạn muốn luyện bụng thì sẽ có ba cái lợi: bắp thịt ở bụng sẽ mạnh lên, nâng đỡ được ruột và bán thân phía trên của bạn, bạn sẽ tránh được bệnh đau ruột, đau lưng của những người ít vận động ở ngoài trời; trái tim sẽ vận động dễ dàng mà máu luu thông được điều hòa. Đồng thời bụng bạn bớt bự đi mà vẻ đẹp của bạn tăng lên.
Bất kỳ ở đâu bạn cũng có thể co những bắp thịt đó lại, khi đứng cũng như khi ngồi, mà chẳng ai thấy cả. Thế là nhất cử lưỡng tiện: đã tránh được ảnh hưởng tai hại của các cảm xúc tiêu cực mà lại có lợi cho sức khỏe, cho vẻ đẹp nữa.
Bạn tập ngay bây giờ đi trong vài phút:
Co bắp thịt ở đùi lại.
Làm cho nó cứng sửng lại, làm thật mạnh đi, cực mạnh đi.
Rồi giữ như vậy - thật lâu, càng lâu càng tốt. Sau cùng, thả cho nó duỗi ra.
Làm như vậy nhiều lần rồi, bây giờ xin bạn nhớ lại một chuyện bực mình, khó chịu, bất công, một vụ lăng nhục nào đó. Khi xảy ra vụ đó, bạn không phản ứng ngay ra mặt vì có nhiều người ở chung quanh hoặc vì lẽ này lẽ khác. Có vô số nguyên nhân, chẳng hạn nếu phản ứng ra mặt thì sẽ mất việc, hoặc làm phật ý một người mà mình quý mến. Nguyên nhân tuy khác nhau mà hậu quả tai hại thì thường NHƯ NHAU.
Vậy bây giờ bạn nhớ lại vụ đó đi. Bạn sống lại cái lúc mà một kẻ nào đó đã có một lời nói, một vẻ nhìn hoặc một thái độ cừu thị với bạn, đã nhắm bạn mà tuôn ra nỗi uất hận của họ.
Bạn đã sống lại lúc đó rồi chứ? Thế thì bây giờ áp dụng phương pháp của tôi đi: bắt ngay lấy cái năng lực nó bùng nỗ ra đó! Dùng tư tưởng mà điều khiển nó. Cho nó bắn vào bắp thịt ở đùi của bạn - co lại, ghì lấy - giữ cho thật lâu - rồi buông thả cả ra; phải nhịp nhàng - bạn muốn lựa nhịp nào tùy ý. Như vậy bạn biến đổi một cảm xúc phá hoại thành một vận động kiến thiết, nó làm cho bắp thịt ở đùi mạnh lên và thân thể của bạn đẹp ra.
Việc tuy xảy ra từ lâu, nhưng bây giờ nhớ lại mà hành động như vậy, thì bạn có thể trút hết những nỗi bất bình còn chứa chấp trong lòng bạn bấy lâu nay. Cái lợi nhất của thuật này là bạn có thể dùng nó hiện lúc này đây - ngay bây giờ - dù chung quanh có người khác hay không. Vậy bạn luyện tập nó ngay bây giờ đi trong phòng riêng của bạn, để khi nào cần tới thì đã sẵn sàng rồi.
Bạn tự nhủ rằng mình lựa bộ phận đó rồi, bạn co rồi duỗi những bắp thịt của bộ phận đó theo một nhịp nào đó thuận tiện nhất cho bạn.
Rồi sống lại một lúc bực mình nào đó; khi thấy năng lực tiêu cực của người bùng nổ và bay lại phía bạn thì tức tốc chuyển nó thành sự co giãn nhịp nhàng trên kia.
Thế là bạn đã sẵn sàng để áp dụng thuật đó vào những hoàn cảnh mới.
Phải siêng năng. Phải sẵn sàng. Bạn cũng như mọi người khác, ngày nào cũng gặp nhiều cơ hội biến đổi năng lực phá hoại thành sức mạnh và vẻ đẹp. Xe buýt tới trễ ư? - Xe hơi bỗng chết máy ư? - hoặc là một người thân trong nhà có một thái độ, cử chỉ vô ý, vô lý, đôi khi có ý khiêu khích nữa làm cho bạn nổi giận lên ư? - tất cả những chuyện vặt vãnh bực mình, tất cả những con người khó thương mà bạn phải gặp hằng ngày đều có thể cho bạn cơ hội luyện tập như vậy một giờ mỗi ngày mà không làm bạn mất một chút thời gian quý báu vào những công việc khác. Một người có các bắp thịt ở bụng, mỗi ngày mười lần, mỗi lần mười giây, thì chỉ trong một tháng là vòng bụng giảm đi được từ hai đến bốn phân. Đó là nguyên tắc một phương pháp luyện tập mà các đội thế vận Mỹ và Nga hiện nay đều dùng.
Gặp những trường hợp mà bạn nghĩ rằng, cho rằng hay biết chắc rằng quả thực người ta nhắm bạn, dùng phương pháp trên cũng có lợi cho bạn. Những lúc đó, dù bị nhắm thực hay không thì bạn cũng tiếp nhận một năng lực; năng lực đó nếu bạn cho là tiêu cực thì mới hóa ra tiêu cực. Vì có vẻ như ngược đời mà lại rất đúng: khi bạn biến đổi một năng lực tiêu cực bằng cách co giãn một bắp thịt thì là bạn đã dùng nó để làm lợi cho bắp thịt và do đó, làm lợi cho bạn.
Cách dùng những cảm xúc khó chịu để luyện thân thể đẹp ra là một trong những thuật quan trọng nhất của cuốn này - nó có thể áp dụng liên tiếp suốt ngày.
Chẳng hạn, ngay lúc này đây, bạn có thấy một điểm nào trong thuật mà bạn không đồng ý không? Nếu có thì càng tốt. Bạn kiểm lại điểm bất đồng ý đó, đọc lại và trong khi bài bác ý kiến của tôi, bạn co bắp thịt ở đùi lại hoặc bắp thịt ở một bộ phận nào khác mà bạn đã định làm cho mạnh lên, đẹp ra.
Đọc và bài bác,
Co bắp thịt lại và làm cho đẹp ra.
Khi đọc phần còn lại trong cuốn này, bạn cũng áp dụng qui tắc đó. Gặp đoạn nào làm cho bạn nổi dóa, hoặc bạn không đồng ý thì bạn lợi dụng ngay sự bất bình, sự bất đồng ý đó đi.
Bạn đọc lại,
Đọc lại và bài bác,
Co bắp thịt lại và làm cho đẹp ra.
Bạn nên dùng phương pháp đó để cải thiện hoài các bộ phận khác của thân thể. Như vậy bạn sẽ được ba cái lợi vô giá:
Bạn sẽ cởi bỏ được cái thói duy ngã, cho mình là trung tâm vũ trụ, và bạn sẽ hiểu rằng mình không phải là cái đích mà người khác nhắm mỗi khi bạn gặp những điều bất mãn.
Bạn sẽ tập được nghệ thuật sống này: chuyển ác thành thiện, họa thành phúc. Nghệ thuật đó khó tập nhưng rất hứng thú, kích thích.
Bạn phá được một dây chuyền phản ứng tiêu cực, đổi một giám khuy giá trị, thành một thặng dư giá trị, một điều thiệt thòi thành một điều có lợi.
Khi chúng ta ở trong một trường hợp bất mãn về cảm xúc, mà ta lại không có thể cư xử như một nhà hiền triết thực hay tưởng tượng thì ta phải lựa trong ba cách dưới đây:
Cư xử một cách khó chịu với người khác.
Nén tình cảm của ta lại mà như vậy có hại cho ta, hay là
Biến đổi năng lực của cảm xúc phá hoại thành một vận động bắp thịt có tính cách xây dựng, như vậy sẽ cải thiện được sức khỏe, vẻ đẹp của ta mà cũng cải thiện được sự giao thiệp với người khác nữa. Nói cách khác là biến đổi một ác ý thành một thiện ý, tạo được cái mà mọi người cần có đó.
Sao, bạn muốn lựa cách nào?
Nếu bạn chịu gắng sức thì thuật này tất hiệu nghiệm.
2. NHẢY VÀO ĐỊA VỊ NGƯỜI KHÁC
CÁCH đây vài năm, hồi tôi còn ở nước Ý, tôi mướn một chị ở tên là Maria. Chị vừa thạo việc vừa dễ thương và chúng tôi hạp ý nhau lắm. Chị thỏa mãn về số tiền công mà tôi trả cao hơn những người khác một chút, mà tôi cũng hài lòng vì đã kiếm được một người giúp việc rất có khả năng lại nhiều thiện chí.
Một hôm tôi sửa soạn ra phố thì tìm không ra cái xắc, không biết để nó ở đâu. Đàn bà thường vô tâm như vậy. Lúc đó tôi vội, bực mình vì tánh vô trật tự của mình, nên la lên:
- Chị Maria, cái xắc của tôi ở đâu?
Chị ta chạy lại, mặt nhợt nhạt.
- Thưa bà, tôi đâu có mó tới nó. Tôi không rờ tới nó. Bà cho tôi là quân ăn cắp. Tôi xin ra. Tôi thu xếp đồ đạc của tôi rồi tôi về nhà tôi, ngay bây giờ đây. Tôi đâu thèm số tiền của bà!
Thế là, tức tưởi, uất ức, lấy làm nhục rằng bị buộc tội oan là bất lương, chị ta vừa khóc lóc vừa cởi bộ đồ làm việc đẹp đẽ mà tôi đã may cho chị và lần nào bận vào chị cũng hãnh diện lắm.
Mới đây, trong một phòng làm răng lộng lẫy ở Beverly Hills, một nha y danh tiếng sửa soạn giũa một chiếc răng của tôi để bịt lại theo sự thỏa thuận của tôi. Một phần vì tò mò, một phần vì lo ngại, tôi hỏi ông ta:
- Giũa như vậy có làm yếu chiếc răng không, ông?
Nghe câu đó, viên nha y ngước mắt lên, đứng thẳng lại, trừng trừng ngó tôi, la lớn:
- Bà không tin tôi! Bà không tin tài khéo của tôi! Tại sao bà lại hỏi tôi như vậy, có ý ngờ rằng tôi sẽ làm hư răng của bà? Tại sao bà muốn xúc phạm tôi?
Hai chuyện đó mới xét qua thì rất khác nhau mà sự thực lại rất giống nhau. Cả hai trường hợp tôi đều lo lắng về tôi và nhờ người khác giúp đỡ; lần đầu tôi nhờ chị Maria kiếm giùm tôi cái xắc; lần sau nhờ ông nha y giảng giải cho tôi để tôi vững bụng, nói cách khác là nhờ ông giúp tôi về phương diện tâm lý. Vậy mà cả hai người đó đều cảm thấy rằng mình bị buộc tội và đều tự cho là bị xúc phạm nặng nề. Tại sao họ hiểu sai lời cầu cứu của tôi tới mức đó?
Nhưng nếu ta nhìn lại tình trạng bằng cặp mắt của họ, nghe bằng lỗ tai của họ thì chẳng có gì là khó hiểu cả.
Chị Maria đã thấy giọng gắt gỏng trong câu hỏi của tôi - quả thực là tôi đã gắt gỏng, nhưng chỉ là gắt gỏng với tôi, bực mình vì tôi thôi, làm sao chị đoán được điều đó? - rồi nghĩ rằng tôi buộc chị phải trả lại cái xắc cho tôi, tức là trả lại tiền cho tôi. Chị sinh trong một gia đình nghèo khổ, nên cho tiền là rất quan trọng. Mà cái tiếng tốt, cái tiếng là người làm ăn lương thiện, đối với chị còn quan trọng hơn nữa, vì mất nó thì chị kiếm việc không được. Có thể rằng hồi trước, đã có lần chị thấy tiền mà bị cám dỗ; có thể rằng chị đã chiến đấu gay go với sự cám dỗ đó mà giữ được tánh lương thiện, không lấy trộm tiền của chủ. Vì vậy mà chị hóa ra mẫn cảm, dễ phật ý.
Phải có sống trong cảnh nghèo túng, khốn khổ, có làm công cho những kẻ giàu có thì mới tưởng tượng được nỗi giận tủi của chị lúc ấy. Tôi không hiểu tâm trạng đó, nên vô ý, chẳng suy nghĩ gì cả, đã làm phật ý chí.
Còn ông nha y? Ông ta cũng vậy, cũng vì những lý do riêng, mà dễ phật ý mỗi khi ai nghi ngờ sự khéo léo, sự phán đoán của ông trong nghề nghiệp. Có lẽ trước kia có một người nào đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của ông đã nghi ngờ tài khéo của ông chăng? Hay là sự cạnh tranh trong nghề gay go lắm chăng? Ai mà biết được nỗi lòng của ông ra sao? Khi tôi lo ngại hỏi ông câu đó - lo ngại cho chiếc răng của tôi - thì ông cho rằng tôi đã làm thương tổn lòng tự tin của ông, thương tổn lòng tự ái của ông trong nghề nghiệp.
Tôi đã không thể đoán trước được những phản ứng của chị ở mẫn cảm gốc Ý và của ông nha y dễ phật ý gốc Mỹ kia. Và tại sao tôi lại không đoán trước được những phản ứng đó?
Thực ra có gì là khó đoán đâu. Việc xảy ra rồi, suy nghĩ lại, tôi đã hiểu thái độ của hai người đó, hiểu rằng chị Maria đã phật ý mỗi khi có ai nghi ngờ lòng ngay thẳng của chị, và ông nha y đã phật ý khi có cái gì đụng chạm tới nghề của ông. Dễ hiểu như vậy mà tôi đã không đoán trước được, lại làm cho họ bất bình vì giọng nói của tôi, cách hỏi của tôi, nguyên do là tôi chỉ nghĩ tới quyền lợi của tôi mà không nghĩ tới họ. Rồi khi họ đáp lại một cách rất đổi bực tức, gắt gỏng thì tôi ngạc nhiên và thấy chướng.
Chúng ta, ai cũng đã có lần ngạc nhiên vì những câu trả lời như vậy đúng vào cái lúc bất ngờ nhất. Khi thì chúng ta làm mất lòng người khác: khi thì người khác làm mất lòng ta. Lại nhiều khi do bản năng tự vệ, ta phản ứng lại một cách mạnh mẽ quá đáng. Thế là gây thành một dây chuyền hiểu lầm, một dây chuyền phản ứng thù nghịch, một dây chuyền tấn công và phản công, xúc phạm và phục thù.
Kẻ kia sao mà hoàn toàn vô lý, điên khùng, như vậy? Mình phải phản ứng cách nào đây?
Mỗi người có một lối phản ứng. Có người chịu nhịn, muốn hòa giải; có người thì hăng hái, ăn miếng trả miếng. Người thì nói năng bình tĩnh, hợp tình hợp lý, kẻ thì la lối, mồm la mép giải không cho đối phương giảng giải, phản kháng; kẻ lại làm thinh, u uất, nghẹt thở. Nếu hai bên rất thân với nhau thì dây chuyền phản ứng đó có thể làm cho họ hóa đau được mà họ không sao hiểu được nguyên nhân chứng bệnh của mình.
Những vụ gây lộn hằng ngày đôi khi cũng có chỗ tốt. Nó có thể làm cho hai bên hiểu nhau hơn rồi âu yếm với nhau hơn, đại lượng với nhau hơn. Nhưng muốn vậy thì mỗi bên, trách mắng nhau cho hả giận rồi, phải biết hạ khí giới, bình tĩnh xét lại tình thế bằng cặp mắt của người kia - nghe bằng cặp tai của người kia - nghĩa là nhảy vào địa vị của người kia.
Các vụ gây lộn có rất nhiều hình thức tùy sự giao thiệp với nhau giữa đôi bên; cho nên không thể nào lập một quy tắc chung để giải quyết hết cho được.
Nhưng bất kỳ trong cuộc gây lộn nào, nếu chúng ta tập được cái nghệ thuật biết tự đặt mình vào địa vị người kia, thì sẽ có lợi cho cả đôi bên.
Cách dưới đây sẽ giúp bạn học được nghệ thuật đó. Bàn làm như vầy:
Bạn lựa một lúc trong mình dễ chịu, vui vẻ, một lúc mà bạn thấy có thể làm chủ cảm xúc của mình tới một mức nào được.
Bạn kiếm một chỗ vắng vẻ, tĩnh mịch, không có ai quấy rầy.
Bạn ngồi cho thoải mái. Dựa lưng vào ghế. Nhắm mắt lại. Nhớ lại một vụ cãi lộn nào đó với một người thuờng hay gây gổ với bạn, hay một vụ xung đột về một vấn đề gì đó.
Mới đầu, bạn rán cảm thấy, nhìn thấy vụ lôi thôi đó.
Rồi bạn nghe thấy những câu đầu của cuộc đối thoại.
Bạn cảm thấy nhiệt độ cuộc đối thoại tăng lên.
Bạn trông thấy khung cảnh chung quanh.
Ôn lại vụ đó từ đầu đến cuối.
Và bây giờ, đáng lẽ rán tìm hiểu người kia thì bạn bỏ sự gắng sức đó đi.
Mà đừng tưởng tượng, nhảy một cái một vào địa vị người đó.
Sau cùng ôn lại vụ đó từ đầu tới cuối; cũng nhìn thấy người đó, nghe thấy cuộc đối thoại đó. Nhưng lần này, hoàn toàn tự đặt mình vào địa vị, tâm trạng của người đó.
Muốn thành công khi thực hành thuật này thì phải hoàn toàn quên mình đi. Đừng gắng sức suy nghĩ, cảm xúc gì cả; bạn dùng tất cả năng lực để nhảy vào địa vị người khác. Việc đó không dễ đâu nhưng rất có ích. Đã có nhiều cuốn viết về vấn đề đó rồi. Nhưng để khi khác sẽ đọc, bây giờ bạn hãy làm đi đã. Bình tĩnh, cương quyết, và kỹ lưỡng, bạn thu thập tất cả bản ngã của bạn, từ tình cảm xấu và tốt, tới tư tưởng, ý kiến, cảm giác, tạm xếp riêng chúng một lúc vào một chỗ nào đó tùy ý bạn. Đừng sợ để đánh mất chúng. Chúng không dễ gì lạc mất đâu.
Rồi dùng sức tưởng tượng, nhảy một cái - phải, như vậy được đấy, - vào địa vị người khác. Đối với nhiều người, cách đó là cách tự nhiên nhất; nhưng có người thích cách dưới đây hơn, nó chậm hơn nhưng có lẽ dễ làm hơn:
Bạn tưởng tượng bạn ngồi, đứng hay đi y như người đó.
Bạn tưởng tượng bạn có vẻ mặt, nét mặt y như người đó, tay làm những cử động y như người đó.
Thế là bạn đã thành người đó rồi.
Bạn cảm thấy những cái người đó cảm thấy.
Ban suy nghĩ y như người đó.
Bạn nhìn bạn (tự nhìn mình), nghe tiếng nói của bạn, giọng nói của bạn y như người đó nhìn bạn, nghe bạn.
Ban sợ sệt, cảm thấy bị uy hiếp, hoặc cảm thấy bực mình, chán ngán, y như người đó.
Bạn thấy tim đập y như tim người đó.
Được như vậy rồi, bạn ôn lại một lần nữa cả vụ gây lộn nọ.
Bạn đã thành người đó.
Bạn phản ứng như người đó.
Bán tự trông thấy mình y như người đó trông thấy bạn.
Lần lần, bạn với người đó là một. Bạn đã đóng vai người đó y như người đó.
Bạn cảm thấy mạch máu căng thẳng.
Bạn thấy bắp thịt của bạn co lại.
Bạn cảm thấy phản ứng trong cơ thể người đó.
Bạn thấy cái vũ trụ mênh mông trong nội tâm người đó, suy tư như họ, cảm xúc như họ.
Sau cùng là những lời nói của họ, kết quả tối hậu và vụng về của một dây chuyền bí mật và vô tận mà mỗi khoen là một biến cố.
Bạn cảm thấy những lời đó y như người đó tự cảm thấy trong thâm tâm, trong cơ thể của họ trước, trong và sau khi thốt ra.
Dù người đó nói nhiều hay chỉ làm thinh, dù người đó bình tĩnh hay nóng nảy, thì bạn cũng sống lại trọn cái vụ đó, đúng theo quan điểm và vai trò người đó.
Trong phòng riêng vắng vẻ, làm theo phương pháp đó là việc dễ; đương cãi nhau, tranh biện với người khác mà nhảy vào địa vị người ta, tự đặt mình vào tâm trạng người ta mới là việc khó. Nhưng có tập trong phòng riêng thì tới khi việc xảy ra mới dễ áp dụng phương pháp. Dù ta chỉ vô được một chút trong cái vũ trụ nội tâm của người thì cũng có lợi cho ta rất nhiều: ta sẽ đối xử với người đó một cách sáng suốt hơn biết bao - ta sẽ đỡ bị xúc phạm biết bao vì cử chỉ, ngôn ngữ của họ! Và ta sẽ phát giác được điều lạ lùng này: khi ta hiểu người khác hơn thì họ cũng yêu ta hơn.
Ba ngàn năm trước, Thần Shiva bảo bà vợ là Nữ thần Parvati: "Mình rán cảm thấy lương tâm của mỗi người như cảm thấy lương tâm của chính mình; như vậy gạt bỏ qua một bên cái bản ngã của mình đi mà biến thành các người khác".
Nếu bạn chịu gắng sức thì thuật này tất hiệu nghiệm.
3. TRÁI BÁNH ĐỂ ĐẤM
BẤT kỳ tiệm bán đồ thể thao nào cũng bày những trái bánh để đấm. Giá tiền không bao nhiêu mà treo trong nhà cũng dễ. Bạn nên treo nó ngang mũi bạn.
Đấm vào nó.
Khi đấm, bạn nghĩ tới cái con người khó chịu đó, con người cứ tưởng rằng cái gì cũng tài giỏi hơn bạn, mà hễ thò tay làm cái gì là hỏng be bét, bạn phải mất công sửa lại.
Đấm mạnh nữa đi.
Và nghĩ tới những cảnh bất công bạn phải chịu hồi nhỏ: biết bao lần, bạn bị phạt vì những lời mà trong thâm tâm, bạn tự cho rằng mình bị oan.
Đấm mạnh hơn nữa đi.
Và nghĩ tới những người, những vật hôm nay đã làm cho bạn nổi quạu: cha mẹ, vợ hoặc chồng, con cái...
Đấm - đấm - đấm nữa.
Đấm để cho hết bực mình.
Đấm để cho tan sự thiếu tế nhị, thiếu lễ độ, thiếu tình thương đi.
Đấm.
Đấm. Dù dưới mặt bàn, trái banh không còn là trái banh nữa mà đã có một hình dáng khác - thì cũng cứ tiếp tục đấm.
Đấm - một cách ngại ngùng hay hung dữ.
Đấm - một cách tuyệt vọng hay uất ức.
Đấm để trục xuất tất cả các tình cảm đó đi. Bạn càng đấm mạnh thì các tình cảm phá hoại đó càng yếu đi, mất năng lực xúc phạm bạn hoặc xúc phạm những người khác. Khi nó bị giam trong thâm tâm bạn thì nó có thể làm hại được. Đấm để đuổi nó ra - đấm nó, đập nó vào trái banh đó, vì bạn treo trái banh là để đấm.
Cả triệu người mới được một người không bao giờ bị xúc phạm, không bao giờ cảm thấy mình bị xúc phạm; cả triệu người mới được một người luôn luôn tha thứ cho mình và cho người khác, hoàn toàn tha thứ; cả triệu người mới có một người hiểu được và cam tâm chịu nhận sự tàn nhẫn của bệnh tật, chiến tranh, của những kẻ đói khát, cô độc - nếu bạn may mắn được là con người độc nhất đó thì quả thật là bạn có phước lớn, và bạn sẽ không cần dùng tới thuật đấm banh này.
Bạn có thể cho rằng thuật đó giản dị quá, chưa chắc gì đã giúp bạn trút bớt được những cảm xúc rắc rối, đặc biệt, đôi khi lờ mờ nữa; phải, cũng có đôi khi nó vô hiệu. Nhưng đừng vội phán đoán trước khi thí nghiệm. Phải thử áp dụng nó trong ba bốn tuần rồi mới có thể xét giá trị của thuật đấm banh.
Hầu hết các tình thế trong xã hội đều gợi những tình cảm rắc rối, phức tạp. Nhiều khi những tình cảm đó bén rễ từ những biến cố xa xôi nào đó. Dù nguồn gốc ở đâu, dù nó phức tạp ra sao, dù ảnh hưởng của nó chỉ là riêng biệt từng người, thì nó cũng có hại cho cả thế chất lẫn tinh thần.
Trong nhiều trường hợp, nó làm cho các hạch nội tiết bị kích thích mạnh, rồi tuôn vô máu nhiều chất adrénaline có độc1. Chất này có khá năng kích thích rất mạnh. Vô nhiều trong máu thì nó gây nhiều biến đổi, trong động tác của các cơ quan, những sự biến đổi đó thường làm cho thần kinh và bắp thịt căng thẳng. Nếu căng thẳng lâu quá mà không giãn ra, dịu xuống thì ta thấy khó chịu, quạu, tính tình bất thường, có khi thấy đau đớn rồi sinh bệnh nữa.
1 Coi chú thích trang 25.
Cho nên trái banh để đấm coi vậy mà có giá trị đấy.
Khi ta đấm vào nó mà hoàn toàn nhận thức được những tình cảm ta muốn giải phóng, thì chính là nhờ những vận động được điều khiển một cách vô ý thức, mà ta tự giải thoát cho ta khỏi bị những cảm xúc tiêu cực chi phối. Những cảm xúc đó, nếu giải phóng cách khác thì có thể làm hại cho ta hoặc cho người khác.
Không thể dùng những lời nói suông mà trừ tiệt được những tình cảm mạnh mẽ và đã đâm rễ sâu trong nội tâm ta đó. Thường khi nguyên do chỉ là một lời nói của ta hay của người khác, một lời xúc phạm vô tình hay cố ý, gây những tình cảm căm giận, oán hờn, và những tình cảm này thâm nhập trong cơ thể ta, làm cơ thể ta thay đổi. Tới lúc đó nó không còn là một lời nói nữa. Nó đã thành một xung động không thể nén được, một xung động truyền qua gân và bắp thịt của ta. Nó không có thể bị trục xuất bằng lời nói nữa.
Nhưng nó có thể bị trục xuất bằng những cú đấm.
Một cách trực tiếp và lương thiện nhất để trị những cảm xúc tiêu cực đó là chịu nhìn nhận nó rồi cho nó phương tiện biểu lộ ra một cách vô hại, do sự trung gian của một cử động.
Như vậy là chúng ta không phủ nhận cảm xúc khó chịu. Chúng ta biến đổi nó, biến đổi ảnh hưởng của nó tới cơ thể.
Từ một cái xấu rút ra được một cái tốt, chuyển họa thành phúc, đó là tất cả những nghệ thuật sống.
Những cảm xúc tiêu cực, như sự quạu quọ, giận dữ đều là những chất độc về phương diện tâm lý. Chất độc đó không phải chỉ làm hại tính tình, tâm trạng của ta mà thôi. Nó còn lưu thông trong cơ thể, trong mạch máu mà vận chuyển tới mỗi sợi gân, mỗi bắp thịt của ta. Cũng may mà chúng ta có thể trừ chất độc tâm lý đó để làm cho nguồn yêu thương tràn vào đời sống được.
Ít có phương pháp nào đạt được kết quả mau chóng và hiệu nghiệm như phương pháp đấm đá vào trái banh, đấm đá một cách tự do, có chủ đích. Trái banh không biết đau mà người ta chế tạo ra nó chỉ để cho đấm đá.
Đừng khinh thường nó vì nó đã làm cho nhiều người rất thông minh, rất hiếu hòa trút được những cảm xúc tiêu cực. Nó đã có ích cho một vị mục sư và một thi sĩ. Nhiều thiếu nữ diễm lệ, và nhiều bà già hòa nhã đã dùng nó và kết quả rất tốt.
Nó rất ích cho các ông các bà giữ những địa vị chỉ huy. Tôi quen một nhà kinh doanh quan trọng nọ luôn luôn treo một trái bánh để đấm trong phòng giấy, một ông khác lại đặt nó trong xe hơi. Một ông nữa có tới hai trái, một trái treo trong phòng tắm và một trái hễ đi đâu xa thì bỏ trong va ly mang theo. Từ khi ông này tập được thói quen đấm banh rồi thì xí nghiệp lớn lao của ông thịnh vượng lên nhiều: ông ta không lo về chứng huyết áp tăng lên nữa, và cô thư ký trung thành của ông không làm cho ông nổi quạu nữa. Tất nhiên, ông ta làm sao biết được rằng cô thư ký trung thành đó cũng có một trái banh để đấm trong phòng giấy của cô, một trái khác trong xe và một trái nữa trong phòng riêng tại nhà...
Trong nhiều gia đình, trái banh để đấm đã biến đổi những cơn dông tố phá hoại thành những buổi vui vẻ đoàn kết. Nó đã gợi nhiều tình cảm hòa nhã trong lòng những ông chồng gắt gỏng, nóng nảy và trong lòng những bà vợ hay oán trách chồng, tự cho mình là bị đầy đọa. Tôi đã nhận thấy rằng khi một bà vợ ôm về nhà trái banh để đấm mới tinh - mấy khi các bà mua cái món hàng kỳ cục đó - thì ông chồng đã chẳng ngạc nhiên chút nào, mà còn vui vẻ cùng với bà vợ thử cái trò đấm banh đó nữa. Thú vị thật! Và rồi cả ông lẫn bà đều thấy đời "lên hương". Trái banh đó đã giải phóng cho nhiều bậc cha mẹ, đã giúp họ dạy con một cách khôn khéo hơn, và cũng giúp con cái dễ nghe lời dạy khôn của cha mẹ hơn.
Nó là một phương thuốc giải độc giản dị, công hiệu rất mau lẹ để trị những tình cảm di độc. Có nhiều cách dùng nó. Mỗi khi dùng, bạn phải có ý thức rõ ràng rằng bạn đương diệt những tình cảm tiêu cực.
Bạn treo nó lên trần nhà hoặc vào một cái móc ở tường, rồi đấm vào nó. Đấm vào nó để trục xuất cái gì đã làm cho bạn nổi quạu. Đấm vào những thất vọng của bạn cho nó văng ra.
Bạn cột nó vào đầu một sợi dây gai dài rồi đá vào nó. Nó văng ra; bạn lại kéo nó về rồi đá nữa. Khi đá, bạn nghĩ tới vật nào hoặc người nào mà bạn muốn đá. Ôm trong hai bàn tay rồi ép chặt nó. Ép cho cái tình cảm nó làm bạn bực mình phải lòi ra. (Cách dùng banh như vậy, không ngờ lại là một lối tập thể dục làm cho vú cứng ra và hết xệ xuống.)
Bạn tự phát minh lấy cách thức để dùng nó. Sức tưởng tượng của bạn sẽ giúp bạn. Chẳng hạn, có cách này hợp với những ai là nạn nhân của điện thoại: kiếm một trái banh lớn cỡ trung rồi kẹp vào đùi. Mỗi khi câu chuyện trong điện thoại làm cho bạn nỗi dóa thì kẹp trái banh, kẹp mạnh vào. Rồi lại kẹp nữa. Kẹp thêm một lần nữa - nữa. Kết quả: tính tình sẽ bớt quạu mà bắp thịt ở đùi cứng thêm lên.
Điều quan trọng: Trước khi lái xe đi chơi mát, bạn nên đấm banh ba phút thôi. Có cả ngàn tai nạn mà nguyên do chỉ tại người cầm lái bực mình, nổi giận hoặc thần kinh kích thích quá. Tình cảm ta ra sao thì cách lái xe của ta như vậy. Đấm banh ba phút trước khi lái xe, có thể tránh cho bạn khỏi bị rắc rối với cảnh sát, hoặc khỏi bị tai nạn nữa cũng không biết chừng.
Bạn nhớ tới tất cả những kẻ lái xe ngu xuẩn, nguy hiểm hoặc vô lễ mà bạn gặp trên đường.
Rồi đấm vào trái banh.
Bạn nhớ tới thấy cảnh sát đã huýt còi bắt bạn ngừng lại, làm cho bạn ngạc nhiên vì tự xét mình lái xe rất đúng luật đi đường.
Rồi đấm.
Bạn nhớ tới món tiền phạt bạn phải nộp.
Và đấm.
Khi đã cởi bỏ được những nỗi bực mình, uất hận về việc lái xe đó rồi, bạn có thể đánh xe ra và rán đi hóng mát cho vui nhé!
Nếu bạn chịu gắng sức thì thuật này tất hiệu nghiệm.
4 GIẾT CON MA
hay là
Ở đây và ngay bây giờ
THUẬT này có vẻ kỳ cục, lố bịch nữa. Những qui tắc của nó thì các nhà thần bí, các triết gia, các nhà giáo dục, các người chữa bệnh thần kinh từ xưa tới nay điều biết.
Chỉ mất đúng mười phút thôi.
Nó có hai công dụng:
Bạn nên dùng nó mỗi khi muốn luyện tánh chú ý và khả năng nhận thức về bản thân.
Bạn phải dùng nó ở cuối vài thuật mạnh mẽ nhất mà tôi sẽ chỉ ở sau1. Trong trường hợp này, nó là động tác tối hậu và cần thiết.
1 Tức những thuật: "Bạn dự đám táng của bạn". "Ban dự một mình đám táng của bạn", "Những cục băng trong dòng sông"...
Công dụng thứ nhất có tính cách thực tế và hiệu nghiệm tức thì; bạn sẽ hiểu ngay được giá trị của thuật. Nó tập cho bạn chú ý, nhận thức được bản thân mình, sửa chữa cái bản ngã tâm lý và thế chất của bạn, tức trọn cái bản thể của bạn; nó kích thích cái bản thể đó để mọi phần hoạt động một cách hợp nhất, đầy đủ trong lúc này đây.
Thường khi một phần của chúng ta, một phần sự chú ý cùng năng lực của ta bị dĩ vãng níu lại, mà ta không hay. Ký tính là một bộ máy phức tạp. Chúng ta có nhiều loại ký tính. Ở đây tôi xin kể ra hai loại: ký tính về sự kiện và ký tính về cảm xúc. Hai loại đó không cách biệt hẳn nhau. Ký tính thứ nhất cần thiết cho đời sống bình thường, thiếu nó thì ta không đọc, không viết được, không thể làm những công việc nghệ thuật hoặc cần phải suy tư. Người nào mà ký tính đó đạt được một trình độ phi thường thì ta bảo là có một "ký tính bách khoa", là một bộ "tự điển sống".
Còn ký tính thứ nhì là thứ ký tính về những cảm xúc liên quan tới các biến cố, tới các người khác, tới các nơi chốn. Đôi khi, ký tính cảm xúc xâm chiếm trọn con người của ta. Tôi kể cho một bạn thân nghe một chuyện tức cười về tôi. Tôi cười. Tôi cười ngặt nghẽo, ôm bụng mà cười. Tôi chỉ là nhớ lại một sự việc đã xảy ra, vậy mà, khí sắc, khí chất của tôi đã thay đổi hẳn: lúc mới bắt đầu kể chuyện, tôi bình thường, bây giờ, kể tới đoạn tức cười, tôi cười ngặt nghẽo như thằng điên. Tôi đã thay đổi như vậy là do ký tính cảm xúc, chứ không do ký tính về sự kiện.
Ký tính cảm xúc cũng chứa chất nhiều cảm xúc tiêu cực. Những cảm xúc trong những biến cổ đau khổ ta đã quen từ lâu, có thể bỗng chốc xâm chiếm hiện tại của ta một cách vi diệu, ta không giảng giải được.
Cái ký tính cảm xúc bất tự giác đó có thể làm hại sự chú ý cùng năng lực của ta, cản trở cuộc sống của ta trong hiện tại, ở đây và ngay bây giờ đây. Khi nhớ lại dĩ vãng, ta thường phản ứng lại y như hồi trước ta đã phản ứng, mà không ngờ rằng mình phản ứng. Tôi xin kể một thí dụ:
Ta thử tưởng tượng hai người đi chơi ở đồng quê. Trời rất đẹp: những cụm mây bạc trôi trên một vòm xanh ngắt. Một người để ý ngắm nghía những đám mây sáng rực lên trong ánh mặt trời. Nhưng người kia lại hơi lo lắng: mây sáng rực như vậy là triệu chứng sắp có một cơn dông thình lình. Thế là ông này hết vui, không phải hết vui vì mấy đám mây trắng trong một ngày hè tươi sáng đó đâu, mà hết vui vì một đám mây thời trước, vì một cơn dông phát thình lình có lẽ trên hai chục năm trước, hồi ông ta còn nhỏ. Có lẽ rằng hồi đó, ông sợ, không phải là sợ cơn dông mà sợ một người lớn. Bây giờ, đã thành người lớn rồi, dù trời đương đẹp đẽ mà trông thấy đám mây như vậy, ông ta cũng đâm lo. Vậy trong ký-ức-cảm-xúc bất tự giác đó, con ma cũ, tức cơn dông hồi nhỏ, sống lại, ám ảnh ông ta, làm ông ta hết thấy cái vui dạo cánh đồng quê nữa.
Hết thảy chúng ta đều có một hồi ký mà nó vô cớ hiện lên thình lình, làm cho ta khó chịu, hóa đảng trí, không thể sống hoàn toàn trong hiện tại nữa. Những lúc như vậy, chỉ mất vài phút để làm theo thuật này là chúng ta đuổi được hồi ký u ám đó đi - dù không định rõ được nguồn gốc nó ở đâu - rồi tiếp tục chú hết ý vào hiện tại, ở đây và ngay lúc này.
*
Công dụng thứ nhì thuật này là bổ túc vài thuật khác, mỗi khi tôi cho là cần. Vì có vài thuật lôi bạn về quá khứ để tìm cho ra rồi giải phóng phần năng lực của bạn bị quá khứ giam hãm. Khi làm xong những thuật đó rồi, cần phải làm tiếp thuật "Giết con ma" để kéo phần năng lực đã được giải thoát đó trở về với hiện tại.
Công việc kéo năng lực về hiện tại đó rất cần thiết, cho nên khi nào bạn tính trước thấy rằng làm xong những thuật đó mà không có đủ mười phút để làm tiếp thuật "Giết con ma" thì tuyệt nhiên không nên bắt đầu làm rồi phải bỏ dỡ; mà nên đợi một lúc khác.
Đây thuật "Giết con ma" như sau:
Nếu bạn đương ngồi hay nằm thì đứng dậy, bước vài bước, làm vài cử động.
Được rồi. Và bây giờ:
Bạn chớp mắt mười hai lần, rất mau và rất nhẹ y như một con chim đập cánh vậy.
Bạn dang hai tay ra, hướng nó về phía chân trời. Duỗi tay ra, lần lần mở rộng cánh tay ra.
Chớp mắt như trên, mười lăm lần.
Rồi nhón chân lên, vươn vai lên cho mỗi lúc một cao.
Chớp mắt như trên, hai mươi lần.
Bạn cảm thấy chân chạm gạch hoặc giầy hoặc vớ, tóm lại là cảm thấy cái gì ở dưới chân.
Nuốt ba lần.
Nhận thấy bốn vật trong phòng.
Uống một ly nước.
Đếm mười sợi tóc trên đầu - nhổ lấy ba sợi.
Rờ năm vật ở trong phòng.
Để cho nước chảy trên cổ tay trong vài giây; nếu bạn thấy nực thì dùng nước lạnh, thấy lạnh thì dùng nước nóng.
Mở cửa ra, hít không khí mát mẻ.
Hắt hơi đi (dưới đây tôi sẽ chỉ cách).
Sửa lại quần áo cho ngay ngắn, rửa mặt cho mát.
Nói lớn tiếng tên của bạn, ngày thứ mấy trong tuần, ngày nào trong tháng.
Ngó, rờ, hít một cái gì mà bạn thích.
Liệng một vật gì lên trên không rồi bắt lấy nó; như vậy mười lần.
Kiểm điểm lại những việc sẽ làm, những cuộc hội họp phải dự trong khoảng thời gian còn lại trong ngày.
Nghĩ một chút xíu tới cái gì vui nhất mà nó sắp xảy ra cho bạn hôm nay hoặc ngày mai.
Nói lớn tiếng: tên của bạn, ngày thứ mấy trong tuần, ngày nào trong tháng.
Nhìn xem mấy giờ.
Chắc bạn đã nhận thấy tôi xếp những cử động đó thành ba phần1. Chỉ là để cho bạn học thuộc lòng thôi. Phải làm liên tiếp các cử động và rất nhanh, càng nhanh càng tốt, đừng ngưng sau mỗi cử động. Có lẽ bạn đã coi một vài phim câm cũ về Charlot hay Mack Sennett, trong đó mỗi vai trò đều cử động rất mau, như điên như khùng. Khi bạn đã thuộc kỹ thuật này, thực hành nhiều lần, rồi thì bạn phải cử động cũng mau như trong những phim đó, làm không ngừng, không suy nghĩ y như cái máy.
1 Tôi không nhận thấy. Độc giả nhận thấy chăng?
Nếu bạn có óc tò mò muốn hiểu mục đích của thuật thì tôi xin giảng. Những cử động trên không có một chút liên quan gì với nhau. Mỗi cử động cần vận dụng vài bắp thịt, dây gân khác nhau, chiều hướng cũng khác nhau. Cử động nào cũng bắt bạn phải chú hết ý vào nó. Khi bạn chớp mắt, đếm mười lăm hai mươi lần thì bạn chỉ chú ý tới mí mắt nó đưa lên, đưa xuống rất mau. Khi bạn đếm mười sợi tóc thì bắn phải chú hết ý vào đầu ngón tay và khi bạn nhổ ba sợi thì bạn thấy nhói ở da đầu ba lần. Mỗi cử động đều có mục tiêu, có giá trị riêng, ngay cái việc hắt hơi cũng vậy.
Đây, muốn hắt hơi, thì bạn làm như sau:
Lấy một miếng giấy mỏng cuộn nó, vê vê nó thành một cuốn nhỏ dài năm sáu phân. Đút nhẹ nó vào lỗ mũi, rồi vào lỗ mũi bên kia, cho tới khi gặp một chỗ rất nhột, ngoáy chỗ đó cho tới khi hắt hơi.
Bạn nhớ dùng thuật "Giết con ma" này ở cuối các thuật khác để giải phóng năng lực và sự chú ý của bạn mỗi khi đã đưa nó về dĩ vãng.
Còn những khi bạn thấy cần phải gom tất cả sức lực để đương đầu với hoàn cảnh hoặc tận hưởng một lúc vui, ở đây và ngay bây giờ, thì bạn có thể dùng riêng thuật "Giết con ma" này, không cần phối hợp với những thuật khác.
Tôi xin kể do đâu mà tôi đã tìm được cái tên "Giết con ma" cho thuật đó.
Việc xảy ra đã lâu. Hồi đó tôi ghé chơi Florence vài tuần. Một vị mục sư nhờ tôi lại thăm một thiếu nữ trong giáo khu của ông. Theo ông thì em đó có cái tật tự hành hạ mình, và tôi có thể trị giúp em được.
Luigina là một nữ sinh mười bảy tuổi, dễ thương, siêng năng. Em bảo tôi rằng nếu không có "cái con người lùn, xanh như lá cây đó" thì em sẽ sung sướng, khỏe mạnh.
Tôi hỏi:
- Con người lùn mà xanh như lá cây? Lạ nhỉ? Ai vậy?
Luigina đáp:
- Chính cháu cũng không biết nữa. Hắn có phải là người thật không? Hay chỉ là người trong mộng, hay là do cháu tưởng tượng, hay là một con ma? Đã mấy năm nay hắn cứ rình chung quanh cháu và càng thấy cháu càng sợ. Cháu xin bà bảo giùm cho biết - vì chắc bà phải biết - hắn là người thực hay là con ma, hay chỉ là một giấc mộng.
- Tôi không biết, nhưng rồi đây chính em sẽ cho tôi biết được.
Việc xảy ra chín năm về trước. Lúc đó em Luigina tám tuổi, một đêm em nằm mê - nhưng có thực là nằm mê không? Vì cảm tưởng em mạnh quá đến nỗi em không thể biết được đó là mộng hay là thực. Em "nằm mê" thấy như vầy: một người đàn ông lùn cầm một chiếc đèn xanh, thành thử người hắn xanh như lá cây: hắn lại gần giường em nằm. Nhà không có điện vì ở vùng quê. Em bừng tỉnh dậy rồi đâm sợ, vừa chạy vào phòng cha mẹ vừa la lên rằng thấy một người lùn xanh. Đáng lẽ bình tĩnh nghe em kể thì cha mẹ em lại chế giễu em, bảo em là đã ảo tưởng, rồi từ đấy hát câu: "Luigina thấy một người lùn xanh" để chế nhạo em luôn trong mấy năm.
Những lời chế giễu đó, cơn ác mộng kia, mỗi ngày một thâm nhập trong tâm hồn em, gây cho em một tâm trạng vừa sợ sệt vừa mắc cỡ, và tới khi mười bảy tuổi, em vẫn chỉ là một đứa nhỏ tám tuổi, nhút nhát, hoang mang. Em không học bài được, cứ tưởng tượng rằng không sao lập gia đình được nếu không biết chắc con người lùn, xanh đó là thực, là mộng hay là ma. Cha mẹ em không nhắc tới chuyện người lùn, xanh đó nữa, nhưng cái hại đã bén rễ sâu qua rồi. Luigina không dám hỏi thẳng cha mẹ chỉ dám thú thực nỗi lo sợ kỳ dị của em với ông mục sư và ông này cầu cứu với tôi.
Vì hơi tin tưởng rằng có thật, em càng ngày càng nghĩ tới chuyện đó sống lại cái đêm hãi hùng đó, cảm xúc ngày càng mạnh mà nỗi lo sợ hóa ra kinh khủng. Một em nhỏ tám tuổi, một mình trong phòng tối, mơ thấy hoặc nhìn thấy một người có thái độ cừu thị xách cây đèn xanh - tiến chậm lại giường mình - tới khi em vùng thoát được, lại cầu cứu với cha mẹ thì bị cha mẹ chế giễu.
Tôi bảo em Luigina sống lại đêm hãi hùng đó - mà chính tôi cũng tưởng tượng đến cảnh đó, tự đặt vào hoàn cảnh của em mà sống những cảm xúc của em - như vậy nhiều lần rồi chúng tôi đồng ý cùng "Giết con ma"1. Mới đầu em cho phương pháp của tôi là kỳ quặc, nhưng em vẫn theo đúng lời tôi chỉ bảo. Rồi tôi bảo em trở lại cái đêm hãi hùng đó, nhìn thẳng một lần nữa vào con người lùn mà xanh đó. Em làm theo lời tôi và ngạc nhiên thấy rằng: lần này em không sợ sệt nhiều như những lần trước nữa. Lần sau chúng tôi lại "Giết con ma" nữa, và lần này em làm rất mau vì đã nhớ cách làm và đã quen rồi. Em bắt đầu thấy công việc đó ngộ nghĩnh. Rồi tôi lại bảo em trở lại cái đêm đó, nhìn con người lùn và xanh. Em nhìn, không thấy sợ nữa, có vẻ cho là một trò đùa.
1 Nghĩa là áp dụng thuật "Giết con ma" mà tác giả đã chỉ ở phần trên.
Chúng tôi làm hai lần nữa, lần này nhanh như chớp. Tôi thấy em vừa làm các cử động vừa mỉm cười một cách tự nhiên, thích thú, tươi tỉnh lạ thường: cơ hồ như mỗi tế bào trong cơ thể em được thấm nhuần cái vui đó.
Tôi hỏi em:
- Luigina, sao bây giờ em cho con người lùn, xanh đó là người thật hay là người trong mộng hay là một con ma?
Em bật cười, một lát mới nhịn được và trả lời tôi:
- Người, mộng hay ma thì từ nay cháu cũng không sợ nữa. Nó đã thành cái bùa hộ thân của cháu rồi.
Tôi nghĩ thầm:
- Nhờ Trời phù hộ! Thế là giết được con ma!
Đa số chúng ta đều bị một con ma ám ảnh, ma lớn, ma nhỏ, ma rùng rợn, ma kỳ cục. Chúng ta thường trở lại thành đứa bé hoảng sợ, giận dữ, bực tức hồi nhỏ: và những lúc như vậy thì hồi ký tuổi thơ làm tê liệt hoạt động của ta. Cac hiền triết luôn luôn dạy ta phải sống trong hiện tại. Khi đức Ki-Tô bảo: "Để cho kẻ đã chết chôn những kẻ chết" và bảo: "Sống ngày nào chỉ nên lo về ngày đó thôi" là Ngài muốn khuyên chúng ta trút bỏ những ưu tư, lầm lẫn thời trước đi, mà sống trong hiện tại, ở đây và ngay bây giờ.
Những con ma trong dĩ vãng đó có hai điểm này giống nhau:
Chúng có năng lực mạnh vì trước kia đã làm cho ta kinh khủng.
Chúng có hại. Chúng làm tiêu ma năng lực của ta, làm cho ta không đủ sức chống cự nổi với hiện tại nếu hiện tại là một cảnh gian nan, mà cũng không hưởng được hiện tại nếu hiện tại là một cảnh vui vẻ.
Vậy thì ta phải giết các con ma của ta đi, giết một lần cho hết nhẵn đi, giết Ở ĐÂY VÀ NGAY BÂY GIỜ.
Nếu bạn chịu gắng sức thì thuật này tất hiệu nghiệm.
5 LÀM CÁCH NÀO ĐỂ CÓ THỂ DÙNG CÁI NÀY ĐƯỢC
ĐỐI với những người có phước nhất thì đời sống cũng không luôn luôn đầy hạnh phúc. Ai cũng gặp một lúc phải chịu nỗi bất công hay thiệt thòi, phải đau ốm, chán nản, buồn rầu.
Chúng ta không thể tránh hết các vận rủi, các hoạn nạn, nhưng chúng ta có thể làm một cái gì để biến đổi những tai nạn làm cho ta đau khổ để thành ra một sự thực đỡ đau lòng mà lại có tính cách xây dựng nữa. Muốn vậy, ta phải tự hỏi câu hỏi này:
LÀM CÁCH NÀO ĐỂ CÓ THỂ DÙNG CÁI NÀY ĐƯỢC?
Hai chữ "CÁI NÀY" đó trỏ tất cả những việc xảy ra có thể làm hại ta. Có thể là một cơn giận dữ hoặc một tai nạn, một nỗi chán chường hay một niềm thất vọng. Những lúc đó ta là nạn nhân của "cái này". Làm cách nào để lật ngược vai trò lại được? Đáng lẽ để cho "cái này" hành hạ ta thì ta làm cách nào lợi dụng nó bây giờ?
Khi nào thân thể ta khỏe mạnh, tinh thần ta minh mẫn, ta phải nghĩ kỹ về câu hỏi đó, để nó thâm nhập vào đáy lòng ta. Mỗi người có thể đặt câu hỏi một cách riêng nhưng ý nghĩa thì như sau: "Cơn đau khổ nguy nan về tinh thần và thể chất này, làm cách nào để lợi dụng nó được?".
Khi mới bắt đầu bị "cái này" xâm phạm, ta cần phải đề phòng tức thì, dù "cái này" đó xảy ra thình lình, ồ ạt hay lén lút, âm thầm.
Khi ta bị thương về thể chất hay tinh thần thì ý thức của ta về mọi vật giảm xuống ngay. Nỗi đau khổ thể chất hay tinh thần thu hút ý thức của ta cũng như cục bông gòn thu hút nước. Từ trạng thái ý thức minh mẫn tới trạng thái vô ý thức hoàn toàn, có vô số trình độ. Chỉ trong một ngày khả năng nhận thức sự vật của ta lên lên xuống xuống, từ một mối lo ngại mơ hồ về việc xảy ra chung quanh tới một tri giác rõ rệt về các biến cố và về những tình cảm sâu kín nhất của ta.
Nếu ta tự hỏi câu "Làm cách nào để có thể dùng cái này được" vào những lúc mà ý của ta mẫn nhuệ, thì tới khi xảy ra một biến cố (nghĩa là tới khi "cái này" đã bắt đầu xâm phạm ta, làm cho ý thức của ta nhụt đi), ta tự nhiên nhớ ngay ra mà tự hỏi câu hỏi đó được.
Những bực siêu nhân sở dĩ hơn người là vì, ngoài nhiều đức tính khác ra, họ còn biết lợi dụng những hoàn cảnh xấu một cách xây dựng, biết chuyển họa thành phúc, chuyển bại thành thắng. Nehru đã lợi dụng hồi bị giam ở khám để viết cuốn sách hay nhất của ông. Cô Helen Keller (câm, điếc và đui đã lợi dụng những bất lợi ghê gớm trời bắt cô chịu để chứng thực cho chúng ta thấy cái sức mạnh thực là vô biên của ý chí, để tiêm lòng can đảm cho những kẻ bề ngoài có vẻ sung sướng hơn cô nhiều1. Những nhà văn có tài biết lợi dụng tất cả những chuyện xảy ra trong đời họ, tốt hoặc xấu, để viết sách.
1 Tức những người lành mạnh, không tàn tật như cô. Coi tiểu sử kỳ dị của cô trong cuốn Gương kiên nhẫn (Nguyễn Hiến Lê).
Bác sĩ Arnold A. Hutschnecker trong cuốn Ý chí muốn sống bảo rằng bệnh tật có những công dụng hữu ích, tích cực. Nhờ kinh nghiệm lâu năm, ông thấy rằng nhiều bệnh nhân khi khỏi bệnh, hóa ra già giặn hơn, khôn khéo hơn trong nghệ thuật sống.
Mới đây tôi đã thấy một bà khéo lợi dụng vết thương ở đầu gối đứa con trai của bà. Khi bị thương, nó la hét kinh khủng, vì đau thì ít mà vì thấy máu chảy ra thì nhiều. Nó la hoài la hủy: "Máu! Máu! Máu!". Bà mẹ một tay đặt lên vai nó, một tay đặt nhẹ vào ống chân nó, ở dưới vết thương, rồi bình tĩnh để máu chảy trên những ngón tay của mình. Bà im lặng một lát rồi mới nói, giọng ngọt ngào nhưng rất cương quyết: "Máu, máu" - bà như lập lại tiếng kêu của con, nhưng dùng một âm giai, một giọng thấp hơn, trầm hơn. - "Con nhìn này, nó đỏ, và tươi. Đẹp thật - chưa bao giờ má thấy một thứ máu đẹp như vậy - mà là máu của con, của con đấy!" Bà nói rất nhỏ, đến nổi đứa bé phải ngừng la, để lắng tai nghe - và nó muốn bà giảng thêm cho nó hiểu về dòng máu đẹp đẻ đó, dòng máu của nó đó! Bà nói tiếp: "Máu đỏ làm cho con khỏe mạnh. Này, con nhìn nó chảy ra để làm lành vết thương của con; chỉ một lát thôi là nó rửa sạch đầu gối của con. Cám ơn nó đã làm giúp con việc đó đi". Bà ngừng một chút rồi nói thêm: "Bây giờ con bảo máu con rằng con sẽ cho nó những thức ăn lành mạnh, những tư tưởng đẹp đẽ...".
Bà mẹ thông minh, âu yếm và còn trẻ đó đã hiểu rằng, chỉ lau chùi, băng bó vết thương cho con thì chưa đủ. Bà đã lợi dụng tai nạn đó, một tai nạn đau đớn và ghê rợn có thể gây chứng ngoại-thương-chấn-động cho đứa con, để giảng cho nó một bài học quan trọng rằng cơ thể con người có khả năng tự chữa lấy bệnh.
Một hôm một bà lại thăm tôi, phàn nàn về sức khỏe và vóc dáng của bà. Bà ta làm nghề kiếm mối hàng bằng điện thoại: mở một cuốn điện thoại niên giám, lựa ít địa chị rồi kêu điện thoại. Làm cái nghề đó, dễ bực mình lắm: kêu điện thoại được một người chưa quen biết đã là khó khăn, lại phải thuyết phục làm sao cho họ mua giúp mình. Còn nỗi này nữa: ngồi ôm hoài máy điện thoại, không đi đâu, không vận động, thành thử từ cơ thể đến tinh thần bà ta đều suy nhược ghê gớm. Hơi thở ngắn, hổn hển, máu không lưu thông điều hòa.
Bà ta bảo tôi:
- Nếu tôi có thì giờ vận động thì tôi sẽ mạnh hơn.
Tôi hỏi lại:
- Thế mỗi ngày bà phải ngồi bên máy điện thoại mấy giờ?
- Sáu giờ.
- Tuyệt rồi! Vậy là bà có sáu giờ để vận động.
Rồi tôi chỉ cho bà ta thấy rằng trong khi kêu điện thoại có thể làm được nhiều vận động: co những bắp thịt ở chân, ở đít, cử động vai, cánh tay, vận động các bắp thịt ở mặt, thay đổi cách ngồi để kích thích sự lưu thông của máu.
Tôi chỉ cho bà ta thuật: "Bạn đâu phải là cái đích mà người ta nhắm" để đỡ bực mình mỗi khi nói chuyện với những người quạu quọ, thô lỗ.
Trong hai tuần đầu, bà ta thực hành lời khuyên của tôi một cách khó khăn, nhưng rồi bà ta thấy bớt mỏi mệt và khi tan giờ làm việc, về nhà lại còn thấy tươi tỉnh, vui vẻ, sẵn sàng hưởng những tiêu khiển buổi tối được nữa. Tất nhiên những vận động đó là thuật "Bạn đâu phải là cái đích..." đã thay đổi cơ thể và tinh thần bà ta trong khi làm việc. Nhưng quan trọng nhất là sự tin tưởng rằng phòng điện thoại của bà không còn là một cảnh địa ngục nữa, rằng bà có thể cải thiện được hoàn cảnh, cải thiện được những điều kiện bực bội, chán ngán của cái nghề kiếm ăn của bà: nói tóm lại là bà có thể lợi dụng "cái này".
Chính cái quyết định làm một cái gì để giảm những nỗi đau khổ của ta, chính cái câu ta tự hỏi: "Làm cách nào để có thể dùng cái này được?", chính hai hành động đó đã chuyển họa thành phúc cho ta đấy.
Trong năm cuối cùng thế chiến vừa rồi, tôi ở Hollywood và hợp tác với ban nhạc trong Nhạc hội Los Angeles. Tôi không có xe và phải đi đi về về bằng xe điện, mỗi ngày mất hai giờ. Chưa bao giờ cực khổ như vậy, nên tôi thất vọng. Thời giờ quí báu biết bao, mà phải ngồi hai giờ trong xe điện! Vậy mà những lúc ngồi xe điện đó lại hóa ra rất có lợi cho tôi vì tôi đã quyết định dùng những lúc đó để học Yoga - nghĩa là để đọc sách, tìm hiểu môn Yoga.
Ai cũng có thể đạt - mặc dầu là khó đấy - cái tâm trạng này được: tìm một ý nghĩa cho một bi kịch - ngay cả cho cái bi kịch của chúng mình. Nhưng nếu chịu luyện sự chú ý thì chúng ta có thể lợi dụng những lúc buồn bã, thất vọng, những hoàn cảnh đau đớn để xây dựng cho ta. Khi chúng ta dùng cái ý thức sáng tạo của ta trong đời sống hàng ngày thì chúng ta được những cái lợi dưới đây:
Tinh thần và thể chất sẽ minh mẫn, nhanh nhẹn thêm lên và khả năng của ta tăng lên.
Đáng lẽ là nạn nhân thụ động hoàn cảnh thì ta sẽ điều khiển, lợi dụng được hoàn cảnh.
Ta làm cho hiện tại hóa dễ chịu hơn.
Ta tăng cường năng lực của ta đề phòng những lúc phải đương đầu với vận bi.
Vậy bạn nên làm theo cách giản dị dưới đây:
Luôn luôn nhớ câu này:
LÀM CÁCH NÀO ĐỂ CÓ THỂ DÙNG CÁI NÀY ĐƯỢC?
Nhồi sâu câu đó vào trong tiềm thức của bạn.
Viết nó lên nhiều mảnh giấy, bỏ vào trong túi, trong xắc: cho nó rải rác khắp nơi trong nhà, cả trong xe nữa, bất kỳ chỗ nào mà bạn có cơ hội nhìn thấy nó.
Đặt câu hỏi đó trong đời sống hằng ngày. Làm sao cho thành một thói quen tinh thần, để có thể mỗi khi cần tới thì tự nhiên tự hỏi mình câu đó, như một cái máy.
Thực hành lâu rồi thì thói quen đó thành một phần tiềm thức của bạn, nhưng khi gặp cái gì kích thích thì câu hỏi đó tự xuất hiện ra.
Không có trả lời nào có thể dùng trong mọi trường hợp để đáp câu đó đâu. Tùy hoàn cảnh và tùy tính tình mỗi người. Nhiều khi những thuật chỉ trong cuốn này có thể dùng làm câu đáp được; nhưng cũng có nhiều khi câu đáp do bạn tìm thấy hoặc do một kinh nghiệm, một cuốn sách, một lời khuyên nào đó gợi ý cho bạn.
Nhưng luôn luôn bạn phải nhớ điều này: Chỉ có cách là đặt câu hỏi rồi mới nhận được câu đáp.
Nếu bạn chịu gắng sức thì thuật này tất hiệu nghiệm.
Đừng đặt tinh thần và vật chất trên hai bực khác nhau - đừng tách biệt chúng ra mà phải hợp nhất chúng lại, dùng chúng cùng một lúc, và nhất là phải mang ơn chúng. Vì không có cái "ta vật chất" thì chúng ta không thể hưởng hương thơm một bông hoa được - và nếu không có cái "ta tinh thần" thì không thể cảm thấy cái vui khi hưởng hương thơm của bông hoa đó, và không thấy mang ơn từ người trồng bông, tặng bông cho tôi cả cái bông đó.
6 NHẢY MÚA THEO TIẾNG NHẠC
BẠN vô phòng riêng của bạn: khóa cửa lại, quay một bản nhạc mà bạn thích. Cởi hết quần áo ra. Rồi nhảy múa.
Như vậy trong một giờ, bán lại trút bỏ được hết từ quần áo, cảm xúc tới tâm trạng.
Thuật này có vẻ lố lăng. Tôi biết rằng nhiều người không có thói quen khóa cửa phòng lại rồi nhảy múa theo lối đó. Nhưng xin bạn đừng ngượng nghịu, e lệ, cứ gạt bỏ tập tục đi mà thực hành thuật tôi chỉ, vì nó sẽ cho bạn thấy qui tắc vững vàng mà lại rất có lợi.
Bạn giải phóng cơ thể bạn khỏi mọi sự hạn chế, cấm chỉ, cho nó được hoàn toàn tự do, thong thả để cảm thấy âm nhạc, cử động theo âm nhạc, hòa đồng với âm nhạc.
Vì không phải là một hoạt động nghệ thuật nên bạn chẳng nên tự phê phán, chẳng cần biết nhảy múa có khéo không, cử động có đẹp không. Quên cái gương đi, hoặc nếu không quên được thì bao nó lại. Đừng sửa chữa những cử động của bạn, đừng nghĩ tới nó, đừng tưởng tượng nó thế này hay thế khác. Đừng so sánh, đừng đánh giá, đừng phê phán.
Mục đích không phải là nghệ thuật. Mục đích là tự giải thoát mình.
Dù bạn mười chín hay chín chục tuổi, dù bạn cân năm chục hay trăm rưởi kí lô, dù cử động của bạn đẹp đẽ hay vụng về, uyển chuyển hay cứng ngắc thì cũng mặc. Nhảy múa đi.
Có phải bạn nhảy múa cho người khác coi đâu. Cũng chẳng phải cho chính bạn nữa.
Bạn nhảy múa từ trong thâm tâm, "nhảy múa những tình cảm" của bạn, đặc biệt là những tình cảm bị dồn ép. Những điều gì muốn nói mà không thể nói với cha mẹ, vợ con, bạn bè, những điều gì không thể thú với ông mục sư, với nhà phân tâm được, những điều gì không thể tự nhủ với mình được, thì đem hết ra mà "nhảy múa".
Khi cởi bỏ quần áo, bạn nên tự nhủ, nên nghĩ, nên cảm thấy rằng bạn đương trút hết những ý nghĩ, tình cảm, câu thúc, bổn phận, sợ sệt, tủi nhục mà bạn đã bắt buộc phải nhận. Nhiều ý nghĩ và câu thúc đôi khi cần thiết và có ích, nhưng không luôn luôn như vậy và không phải tình cảm, câu thúc nào cũng vậy. Trong khi nhảy múa, ban trút hết những câu thúc đó đi.
Bạn sẽ là chính mình.
Bạn phải là chính mình - trút bỏ được hết những cái gì không phải là chính mình, và chỉ có một mình, không liên lạc với ai nữa, trong lúc đó.
Khi cởi bộ áo ngoài ra, bạn tưởng tượng là đương trút bỏ địa vị xã hội của bạn đó. Có lẽ bạn ưa địa vị đó, thích nhiệm vụ của bạn trong xã hội. Nhưng mặc, cứ liệng nó đi.
Khi cởi cái áo trong, bạn cũng liệng hết những thói lịch sự mà bạn đã quen mù quáng chấp nhận. Trong đám đông, nó ích lợi lắm, nhưng bây giờ đây, bạn sửa soạn nhảy múa thì liệng hết nó đi giùm tôi.
Khi cởi thêm nữa, bạn liệng luôn cái mặt nạ của bạn đi, liệng bỏ cái hình ảnh của bạn mà bạn phô cho người khác thấy đó. Nó có thể là một mặt nạ anh hùng che một nỗi thất vọng, hoặc một vẻ mặt thân ái che những tình cảm nghiêm khắc, một nụ cười gượng, một sự chịu nhục mà căm hờn - nó là gì thì gì, bạn cũng cứ liệng cả đi.
Khi cởi một y phục cuối cùng thì bạn liệng nỗi sợ sệt, mắc cở, ngu xuẩn mà những kẻ không hiểu gì về tình ái, tình dục đã gây trong tâm trạng bạn. Liệng nốt những cái đó đi trước khi nhảy múa.
Nếu bạn đau khổ vì cô độc thì cứ để cho cơ thể của bạn cảm thấy sự cô độc. Nếu bạn căm hờn hoặc sợ sệt hoặc giận đến phát điên lên thì cứ để cho các thế báo của bạn cảm thấy những cái đó. Nhờ nhảy múa, bạn sẽ tống khứ được tất cả những tình cảm khó chịu hoặc đau xót.
Nếu những tình cảm đó biến thành những con người, vẻ mặt, màu sắc mà bạn ghét thì cứ nhìn thẳng vào chúng. Chúng ám ảnh bạn ư? Thì nhảy múa để đuổi chúng đi. Nhảy múa cho chúng văng ra, văng thật xa ra.
Nếu bạn là một người tàn tật thì bộ phận nào còn cử động được, cứ cử động như tôi chỉ ở trên. Nếu bạn là một người hoàn toàn tê liệt thi vận động bằng tưởng tượng. Đặt một tên cho cuộc nhảy múa rối lựa bản nhạc. Rồi nhắm mắt lại, tưởng tượng rằng mình đang nhảy múa, tiến, lùi, vung chân này, đá chân kia, để cảm thấy máu dồn dập trong huyết quản. Nhảy múa xong rồi, mở mắt ra bạn sẽ thấy vui vẻ hăng hái hơn, tự chủ hơn, cơ thể dễ chịu hơn nhiều.
Dưới đây là một bản liệt kê các tình cảm mà chúng ta thế nào cũng có lúc cảm thấy. Xin bạn lựa lấy một tình cảm mà đặt tên cho cuộc nhảy múa của bạn. Nếu bạn tìm ra được một tên khác thì càng tốt.
Tên các vũ khúc:
Tôi là xương sống của thế giới mà không ai biết.
Tôi sợ nhưng không muốn cho người khác biết.
Tôi sợ nhưng cứ tự dối mình là không sợ.
Tôi tưởng tượng ra rồi sợ.
Tôi ăn miếng trả miếng.
Tôi phải phong lưu như ông bà hàng xóm.
Tôi ghét người mà tôi yêu.
Tôi muốn cho, cho, cho nhưng không biết cho cách nào.
Tôi núp ở phía sau tôi.
Tôi núp sau cái phần hung ác, quỉ quyệt của tôi.
Tôi núp sau cái phần nhân từ, thanh cao của tôi.
Tôi mệt quá.
Tôi không bắt buộc phải sống như bà hàng xóm (riêng về phụ nữ).
Hoặc những tên dưới đây:
Sợ sệt - cô độc - bất công - nhân ái - giận dữ - nhục dục - muốn ăn cắp - muốn cho - lãnh đạm - muốn an ủi - muốn làm điều ác - căm hận - do dự - thiếu nghị lực - không diễn tả được ý của mình.
hoặc:
Tôi muốn yêu; tôi muốn được yêu.
Khi lựa hoặc đặt một tên cho cuộc nhảy múa, bạn phải giải phóng cái phần tự do nhất trong bản ngã của bạn và đừng cãi lại nó, mà phải nghe lời nó.
Nếu bạn muốn trục xuất một tình cảm khó chịu thì phải nhảy múa cho tới khi nào nó không còn làm cho bạn bực bội nữa về tâm lý cũng như về sinh lý.
Nếu bạn thích một tình cảm cao đẹp nào nó làm cho đời bạn phong phú thêm lên, hoàn thiện, sung sướng thêm lên, thì bạn cứ nhảy múa nó đi, để cho nó xâm chiếm tâm hồn bạn. Nuôi tình cảm đó, cho nó đâm bông. Vũ khúc và âm nhạc sẽ là ánh nắng và giọt nước nuôi tình cảm đó, cái bông đó.
Trong khi nhảy, nên thay nhịp như sau:
Bất kỳ vào một lúc nào đó - ngừng lại thình lình.
Đứng hay ngồi trơ trơ như một tượng đá.
Toàn thân cứng lại, cứng nữa, nữa. Nghĩ tới mỗi bộ phận của cơ thể, lấy gân làm cho nó cứng đơ lại.
Cứng đơ như vậy càng lâu càng tốt.
Đừng thở. Cơ thể bạn đã cứng ngắc rồi, không còn thở được nữa.
Nó cứng đến nỗi không còn có thể cử động được nữa - tuyệt nhiên không cử động được nữa.
Khi nào thấy chịu hết nổi thì cơ thể của bạn đã hoàn toàn cứng, đòi phải được cung cấp dưỡng khí, thì lúc đó bạn duỗi hết ra!
Bạn sẽ thấy thoải mái lạ lùng, sẽ thấy thở được là một điều sung sướng lạ lùng, bạn sẽ mang ơn tạo hóa cho mình thở được.
Làm lại như vậy nhiều lần trong khi nhảy. Nhớ kỹ rằng mỗi lần ngưng thì phải làm sao cho toàn thân bạn cứng ngắc như một khối đá, không hề nhúc nhích.
Tôi gần có thể cam đoan với bạn rằng làm đúng theo phương pháp của tôi thì khi duỗi ra, sẽ thấy thân thể thoải mái, khoan khoái lạ lùng.
Tóm lại:
Lựa tên cho cuộc nhảy múa.
Lựa bản nhạc.
Theo điệu nhạc mà cởi lần lần quần áo ra. Mỗi lần cởi thì liệng bỏ đi một sự câu thúc, một tập tục, một mặt nạ mà chính bạn hoặc người khác bắt bạn phải đeo.
Mỗi chiếc quần áo tượng trưng một cái gì đó, cởi nó là cởi một tình cảm nào đó.
Rồi nhảy múa. Điệu nhạc, tình cảm và thân thể của bạn hòa với nhau thành một. Cảm thấy cái gì thì nhảy cái đó. Cảm thấy cái gì tưởng tượng mình là cái đó. Bạn nhảy cho bạn. Nếu bạn muốn ca thì cứ ca. Nếu muốn la hét, tụng niệm rên rỉ thì cứ la hét, tụng niệm, rên rỉ. Đó là cuộc khiêu vũ và sự sáng tạo - tự giải thoát của bạn.
Xin lưu ý: nếu bạn không được rảnh trọn một giờ thì cứ để nguyên quần áo mà nhảy múa trong vài phút. Khi sắp phải làm một việc cần có những cử động, một thái độ nghiêm trang, giữ ý; khi sắp dự một cuộc lễ long trọng hoặc một hội kiến khó khăn thì bạn nên dùng thuật nhảy múa theo tiếng nhạc đó. Trước khi dự một dạ hội hoặc đi chơi với ai, cũng nên nhảy múa như vậy cho tinh thần tỉnh táo, thoải mái, nét mặt đẹp đẽ, vui tươi lên.
Nếu bạn chịu gắng sức thì thuật này tất hiệu nghiệm.
Bạn nên đọc cuốn này chút chút một thôi. Thực hành kỹ lưỡng một thuật một còn hơn là đọc cả chục thuật.
130