Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Việt điện u linh tập - Lý Tế Xuyên 🔒

16 trả lời, 74 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 26.01.2018 07:22:54 bởi casau>
Việt điện u linh tập
Tác giả: Lý Tế Xuyên
Đinh Gia Khánh và Trịnh Đình Rư dịch và chú thích
 
Giới thiệu văn bản

Việt điện u linh tập (VĐULT) là tác phẩm của Lý Tế Xuyên, được biên soạn xong vào năm Khai Hựu nguyên niên (1329) đời Trần Hiến Tông.
Về Lý Tế Xuyên, chúng ta không biết được gì nhiều hơn những thông tin ít ỏi do dòng lạc khoản bài tựa sách cung cấp: ông giữ các chức Thủ đại tạng, Thư hỏa Chánh chưởng, Trung phẩm Phụng ngự, An tiêm lộ Chuyển vận sứ dưới triều nhà Trần. “Thủ đại tạng” dường như là chức trông coi kho tài liệu lưu trữ của Nhà nước, hoặc một kho kinh Phật. “Thư hỏa” chưa rõ phụ trách công việc cụ thể gì. Đại Việt sử ký toàn thư có chép vào năm Đại Khánh 3 (1316), tháng 11, vua sai Nhân Huệ đại vương Khánh Dư đi Diễn Châu xét duyệt sổ lính và sổ dân đinh, có lấy Nội thư hỏa Chánh chưởng Nguyễn Bính làm phó (xem Bd, Đại Việt Sử Ký toàn thư, Tập 2, NXB KHXH, 1985, tr. 101). Cũng sách này, ở một chỗ khác còn chép: “Năm Khai Thái 2 (1325) (...), mùa thu, tháng 8, ban xuống các điều lệ mới quy định. Theo quy chế cũ, Hành khiển ty ở cung Quan triều và Thánh từ, gộp với Thư hỏa cục, gọi chung là Nội mật viện. Đến đây, đồi Hành khiển ty thành Môn hạ sảnh, còn Nội thư hỏa cục vẫn là Nội mật viện” (Sđd. tr.110). Vậy thì, “Thư hỏa Chánh chưởng” có thể hiểu là người đứng đầu Nội thư hỏa cục, sau đổi tên là Nội mật viện. Theo An Nam chí lược, Q.14, thì các quan hầu cận đời Trần đều thêm chữ “Nội” phía trước tên chức vụ. “Trung phẩm Phụng ngự” có lẽ là một tước vị, hoặc một thứ phẩm hàm. An Nam chí lược, cũng Q.14 cho biết có ba bậc Phụng ngự: Thượng phẩm Phụng ngự, Trung phẩm Phụng ngự và Hạ phẩm Phụng ngự. Hàm “Trung phẩm” ở vào bậc giữa. Còn “Chuyển vận sứ” chủ yếu phụ trách việc chuyên chở, xuất nhập tiền và thóc thu thuế của một tỉnh, đây là lộ An Tiêm. Qua các chức trách được giao như vừa thấy, có thể biết Lý Tế Xuyên là một nhân vật khá quan trọng trong cung đình nhà Trần.
Việt điện u linh tập, hiểu theo nhan đề sách, có nghĩa là một bộ sưu tập về các truyện u linh trên cõi đất Việt. “U linh” ở đây không chỉ có linh hồn những anh hùng đã khuất, mà còn bao gồm cả các thần hằng được dân tộc tôn thờ. Họ thường là những bậc “thông minh chính trực”, “có khả năng phát huy công tích, ngầm giúp nhân dân” (VĐCLT Tự). Non sông đất nước đã sản sinh ra họ và họ cũng làm rạng rỡ cho non sông đất nước, trở thành một trong những chỗ dựa quan trọng của dân tộc về mặt tinh thần, nhất là trước những thử thách gay go của lịch sử.
Lý Tế Xuyên chia các thần ra làm ba loại: Lịch đại nhân quân (vua các đời), Lịch đại phụ thần (bầy tôi các đời) và Hạo khí anh linh (sự tích thiêng liêng). Theo Phan Huy Chú thì sách VĐULT của Lý Tế Xuyên có cả thay 28 truyện (xem Lịch triều hiến chương loại chí, Q.45. Văn tịch chí, Truyện ký loại).
Lê Quý Đôn cho biết cụ thể hơn: “Hồi đầu niên hiệu Khai Hựu đời Trần, quan Phụng ngự Lý Tế Xuyên soạn sách Việt điện u linh, 1 quyển, ghi những việc thần dị ở các đền miếu, có 8 truyện về các vua, 12 truyện về bầy tôi, và 8 truyện về sự tích thiêng liêng” (xem Kiến văn tiểu lục, Q.4, tờ 4).
8 truyện về vua các đời gồm: 1. Sĩ Nhiếp (Sĩ tiên vương); 2. Phùng Hưng (Bố Cái đại vương); 3, Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương); 4. Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đế); 5. Hậu Tắc (Xã Tắc đế quân); 6 và 7. Hai Bà Trưng (Trưng nữ vương); 8. Mỵ Ê (vợ vua Chiêm Thành).
12 truyện về bầy tôi các đời gồm: 1. Lý Hoảng; 2. Lý Ông Trọng; 3. Lý Thường Kiệt; 4. Tô Lịch; 5. Phạm Cự Lượng; 6, Lê Phụng Hiểu; 7, Mục Thận; 8 và 9. Trương Hống và Trương Hát; 10. Lý Phục Man; 11. Lý Đô Úy; 12. Cao Lỗ.
8 truyện về sự thiêng liêng gồm: 1. Thần núi Đồng Cổ; 2. Thần Long Đỗ; 3. Thổ thần làng Phù Đổng; 4. Sơn thần Tản Viên; 5. Thần thổ địa Đằng Châu; 6. Thần thổ lệnh Bạch Hạc; 7. Thổ thần quận Hải Thanh; 8. Long vương ở Nam Hải (Số thần ở phần này, các bản chép có chênh lệch nhau chút ít).
Sang thế kỷ 15, Nguyễn văn Chất (có nơi chép nhầm là Nguyễn văn Hiền) soạn Tục Việt điện u linh tập, đưa thêm vào sách Lý Tế Xuyên 4 truyện nữa, đó là: 1. Sóc Thiên vương; 2. Thanh Sơn đại vương; 3. Càn Hải môn từ; 4. Quản Gia Đô Bát đại vương.
Nguyễn văn Chất (1422-?) người xã Vũ Di, huyện Bạch Hạc, nay là thôn Vũ Di, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú. Ông đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Thìn, năm Thái Hòa 6 (1448) đời Lê Nhân Tông, làm quan đến chức Thượng thư, có đi sứ nhà Minh vào năm 1480. Theo Đăng khoa lục bị khảo, ông từng làm sách Tục Việt điện u linh tập.
Đến đầu thế kỷ 20, Tam Thanh quán Đạo nhân cho rằng VĐULT của họ Lý chủ yếu là chép từ sách ghi việc tế tự (Tự điển) của triều Trần, còn bỏ sót khá nhiều vị thần quan trọng khốc. Ơng do vậy đã làm thêm thần “trùng bổ” gồm 10 truyện, xếp chung dưới một đề mục mới gọi là “Anh liệt chính khí”, trở thành loại thần thứ tư tiếp sau ba loại thần đã có của Lý Tế Xuyên.
Các truyện “trùng bổ” gồm: 1. Đoàn tướng quân; 2. Thanh Cẩm miếu; 3. Hưng Đạo đại vương; 4. Đông Hải Nguyễn tướng quân; 5. Minh Lang đại vương; 6, Linh Lang đại vương; 7. Bảo Nghĩa đại vương; 8, Thủ Lĩnh tự Minh đại vương; 9. Định quốc vương; 10. Thiên thượng thần vương. Các truyện “trùng bổ” vừa nêu phần nhiều được rút ra từ các sách như Tang thương ngẫu lục, Lĩnh Nam chích quái, thần tích, thần phả v.v. Tam Thanh quán Đạo nhân hoàn thành công việc “trùng bổ” vào năm Kỷ Mùi (1919) và gọi sách VĐULT đã được ông bổ sung thêm là “Trùng bổ VĐULT toàn biên”.
“Tam Thanh quán Đạo nhân” tức Ngô Giáp Đậu (1853-?), hiệu Tam Thanh, người làng Tả Thanh Oai, nay là thôn Tả Thanh Oai, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội. Ông đậu Cử nhân năm Thành Thái 3 (1891), làm quan đến Đốc học.
Ngoài những biến động về mặt văn bản như đã trình bày, VĐULT còn được cải biên thành sách truyền kỳ, như cuốn Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập do Chư Cát Thị soạn vào năm Cảnh Hưng 35 (1774), trên mặt sách có đề mấy chữ “Đệ nhị kỳ thư”, nghĩa là “cuốn sách lạ thứ hai”. Bài tựa của Chư Cát Thị có đoạn viết: “Tập sách (VĐULT) này làm ra từ triều Lý (...), diên cách các đời còn sơ lược, chưa đầy đủ. Đến triều Trần, ông Lý làm tiếp đến phần cuối (...), sưu tầm rộng rãi (...) sửa sang hàng mấy chục năm, nghiên cứu những điều bí ẩn, thật là chịu khó” Chư Cát Thị viết tiếp: “Tôi sinh không nhầm thời, gặp nhiều biến cố, nhàn ngồi chĩnh chệ bên song để qua ngày. Giữa mùa thu năm Quý Hợi (1743), tôi sang chơi nhà Quách Thị bên họ ngoại. Ông Quách lấy tập VĐULT từ trong hòm ra đưa cho tôi xem. Tôi mượn sách về nhà để đọc, thấy trong đó còn nhiều chỗ chưa ổn”. Thế là họ Chư Cát đã cất công sưu tầm thêm tư liệu và viết lại VĐULT, nhằm làm cho sách văn vẻ lưu loát, “đầu đuôi nhất quán, mạch lạc tương thông”.
Chư Cát Thị tên thật là gì, hiện vẫn chưa rõ. Chỉ biết ông người Hồng Đô, từng giữ chức Thủ bạ ở bộ Lễ thời Lê Cảnh Hưng.
Về văn bản VĐULT, Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện tàng trữ 8 bản viết tay sau đây:
1. Việt điện u linh A. 1919: 77 trang; 32 X 22 cm: 1 tựa của Lý Tế Xuyên; 1 mục lục. Có Tục bổ và Phụ lục.
2. Việt điện u linh tập lục A.47: 43 trang; 29.5 X 16.5 cm; 1 tựa của Lý Tế Xuyên; 1 mục lục. Có Tăng bổ của Nguyễn văn Chất.
3. Việt điện u linh phụ bản quốc cổ tích lục A.2879: 144 trang; 28 X 17 cm; 1 tựa của Lý Tế Xuyên; 1 bạt của Lê Thuần Phủ (= Lê Hữu Hỷ) để năm Vĩnh Thịnh 8 (1712): 1 mục lục. Có Tăng bổBản quốc cổ tích lục.
4. Việt điện u linh tập lục toàn biên VHv. 1285/a: 222 trang; 29 X 16.5 cm; 1 tựa của Lý Tế Xuyên; 1 bạt của Lê Hữu Hỷ; Cao Huy Diệu bổ chú và bình luận; Kim Miện Muội án lục; Tam Thanh quán Đạo nhân trùng bổ.
5. Việt điện u linh tập lục VHv.1285/b: 50 trang; 29 X 16.5 cm Lý Tế Xuyên tập: Kim Miện Muội án lục.
6. Việt điện u linh tập lục A.751: 190 trang: 29 X 20.5 cm; 1 tựa của Lý Tế Xuyên: 1 bạt của Lê Thuần Phủ; 1 bạt của Tam Thanh quán Đạo nhân đề năm Kỷ Mùi (1919).
7. Việt điện u linh tập VHv.1503: 54 trang; 28.5 X 16 cm; 1 tựa (của Lý Tế Xuyên, 1 bạt của Lê Thuần Phủ; có Lịch triều linh hiển công chúa, Thần nữ liệt vị. Sách này chỉ ghi tóm lược các truyện trong VĐUL.
8. Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập A. 335: 310 trang; 32 X 22 cm; 1 tựa của Lý Tế Xuyên; 1 dẫn của Chư Cát Thị đề năm Cảnh Hưng Giáp Ngọ (1774); 1 mục lục.
Các truyện giới thiệu trong lần xuất bản này của chúng tôi là trích từ cuốn Việt điện u linh do NXB Văn học ấn hành tai Hà Nội năm 1972.
Phần Bài tựa, Bài bạt, Bài tự dẫn, Bài bạt sách Trùng bổ Việt điện u linh toàn biên, cùng các truyện Sĩ Nhiếp (Gia ứng thiện cảm linh vũ dại vương), Phùng Hưng (Bố Cái đại vương), Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử (Triệu Việt Vương, Lý Nam Đế), Hai Bà Trưng (Nhị Trưng phu nhân), Mỵ Ê (Hiệp chính hựu thiên trinh liệt chân mãnh phu nhân), Lý Ông Trọng (Hiệu úy uy mãnh anh liệt phu tín đại vương), Lý Thường Kiệt (Thái úy trung phụ dũng vũ uy thắng công), Tô Lịch (Bảo quốc trấn linh định bang quốc đô thành hoàng đại vương), 10 truyện trên lấy từ VĐULT của Lý Tế Xuyên (bản A.751), Triệu Trinh (Lệ Hải bà vương ký), Mai Thúc Loan (Hương Lãm Mai đế ký), 2 truyện trên lấy từ Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập của Chư Cát Thị, bản A.335 do Đinh Gia Khánh dịch và chú thích.
Phần các truyện Lê Phụng Hiểu (Đô thống khuông quốc tá thánh vương), Mục Thận (Thái úy trung tuệ vũ lượng công), Thần Long Đỗ (Quảng Lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương), 3 truyện trên lấy từ VĐULT của Lý Tế Xuyên (bản A.751) do Trịnh Đình Rư dịch và chú thích.

Bài Tựa
Thánh nhân xưa nói: “Thông minh chính trực, mới đáng gọi là thần, không phải hạng dâm thần, tà ma quỷ quái mà lạm gọi là thần được đâu”.
Trong nước Hoàng Việt ta, các thần thờ ở miếu đền xưa nay rất nhiều, nhưng mà công tích to lớn rõ rệt, cứu giúp sinh linh thì có được mấy đâu? Tuy nhiên, các thần vốn có phẩm loại không ngang nhau, có vị là linh túy của núi sông, có vị là nhân vật kiệt linh, khí thế rừng rực lúc đương thời, anh linh tỏa rộng đến đời sau. Nếu không ghi chép sự việc lại thì phẩm loại trên dưới khó phân biệt. Cho nên tôi dựa theo kiến văn nông cạn thấp kém của mình mà ghi chép về cõi u linh. Nếu có bậc quân tử bác nhã hiếu sự sửa chữa cho thì thỏa lòng mong ước của tôi vậy.
Hoàng triều Khai Hựu 1 (1329)
Thủ đại tạng, Thư hỏa Chánh chưởng, Trung phẩm Phụng ngự, An Tiêm lộ Chuyển vận sứ, kể bề tôi là Lý Tế Xuyên kính cẩn viết bài tựa.

Bài Bạt
Sách Việt điện u linh lưu truyền ở đời đã lâu rồi, nhưng các bản đều sai lẫn khó đọc. Ngẫu nhiên thấy có một bản cổ mà chữ “anh” thì viết bớt nét đi, mới biết đây là di tích còn lại từ trước đời Trung hưng của nước Hoàng Việt ta. Do đó bèn sao chép lại, tất là khác với các bản vốn có; nhưng các phần mà người đời sau chép tiếp vào thì lại thiếu nhiều ở bản cổ này, có điều là nó giữ được tính chất cổ mà các bản khác không giữ được. Tôi lại lấy các bản chép đời sau, đem đối chiếu để mà đính chính, nếu có điều đáng ngờ, thì khuyên một vòng tròn để đánh dấu, rồi thêm phần bổ sung vào chỗ thiếu, chỗ sót, để cho việc tham khảo được đầy đủ.
Than ôi! Tụ lại thì khó, tan đi thì dễ, từ xưa đã có lời than như vậy. Huống hồ người khắc bản in ở nước ta lại ít; cho nên không lấy làm lạ rằng đã có tình trạng ấy. Tìm khắp nơi mà ngẫu nhiên lại thấy được, há chẳng phải là may mắn hay sao? Cho nên nói rõ manh mối để các bạn cùng chí hướng biết, ngỏ hầu sưu tầm thêm mà bổ xuyết vào, lượm lặt rộng để chọn lọc sâu. Như vậy thì đối với sự hưng thịnh của tự văn [1] vị tất là không có chút ít bổ ích vậy.
Hoàng triều năm Vĩnh Thịnh 8 (1712), mùa thu, sớm ngày lành. Lê Thuần Phủ [2], Tiến sĩ cập đệ khoa Canh Thìn (1700), Hàn lâm viện hiệu thảo, cúi đầu để ở Tiến tu thư hiên.

Bài Tự Dẫn
Tập sách này làm ra từ triều Lý, có trước ngòi bút của Lê văn Hưu, để ghi chép sự việc. Trải qua sự diên cách của các đời, vẫn chưa được đầy đủ.
Vốn nước Việt ta ngày trước, phong tục chuộng sự trong trắng giản dị, chính hóa nảy sinh từ sự hồn nhiên, văn giáo dấy lên từ sự phác dã, lời văn hoa mỹ chưa từng thấy có. Nếu có được chút gì thì chỉ là những chước thuật thu nhặt những điều tục truyền, những lời khẩu thoại. Nhưng xét cho rõ ràng kỹ lưỡng thì càng chưa ghi chép được hết những sự tích của dân đời trước, mà lời lẽ thì lại có chỗ rất vu khoát, có chỗ rất khó hiểu. Khắc cây liễu không cành, sao lại có thể chỉ vạch cho sự phán quyết của người đời sau? Kịp đến ông họ Lý đời Trần mới lại nối thêm phần đuôi vào, tìm khắp nhặt rộng, tập hợp thành quyển sách. Ở chốn hiên nhàn làm việc chỉnh lý trong mấy rhục năm, họ Lý đã tìm tòi nghiên cứu, vất vả tấc lòng, có được chút gì thì cùng không nhiều hơn thế. Dụng công tuy rằng nhiều, việc so sánh nghiên cứu tuy rằng tốt, nhưng chưa được tinh tường về những lời kể ở chốn làng quê, những điều nhớ ở nơi thôn dã, chưa được rành mạch về những câu ngạn ngữ, những lời tục ngữ; nghiền ngẫm ước lượng thì thấy có chỗ sai lẫn, cũng chưa thể cho là đã đi tới chỗ tận diệu vậy. Mà xét kỹ tình trạng ấy, chúng ta có thể nghĩ rằng nếu không lấy việc hỏi kẻ dưới làm điều xấu hổ, đi tìm hỏi những người hiền còn sót lại trong đám ẩn dật thì kết quả thu được há lại chỉ có thế mà thôi ư? Ôi, làm ra từ đời trước, thuật lại vào đời sau, cũng có thể gọi là có lòng với danh giáo vậy.
Ta sinh không gặp thời, bao lần gặp cảnh biến loạn của thế sự, ngồi nơm nớp ở chốn thư song nhàn dật, để cho qua ngày tháng. Vào tiết trọng thu năm Quý Hợi sang nhà Quách Sinh bên họ ngoại, thấy trong hòm có chứa tập sách này; Quách Sinh đưa cho ta xem. Ta bỏ vào tay áo đưa về nhà để tiện xem đọc, thấy ở trong có nhiều chỗ chưa ổn. Cho nên ta để tâm rộng tìm các bậc ẩn dật, rộng nhặt khắp bách gia, đem đối chiếu so sánh, tìm ra phần chủ chốt, phàm những điều mơ hồ khó kê khảo, nếu viết được thì viết vào, nếu bỏ được thì bỏ đi, cốt sao cho ý tứ lưu loát, đầu cuối khớp nhau, mạch lạc liên tục để thuận tiện cho việc xem, việc nghe vậy.
Ấy là muốn công bố trong thiên hạ, hiểu thấu thắng cảnh danh tích xưa nay, há dám có một chút ý riêng trong đó đâu. Cho nên không ngại thiển lậu, mạo muội dẫn lại nguyên ủy sách này, để chờ bậc học rộng đời sau xem xét, đính chính mà đưa vào khuôn mẫu cho. Như thế quả là may mắn.
Năm Giáp Ngọ (1774), đời Cảnh Hưng, mùa thu, ngày tạnh. Chức Chủ bạ bộ Lễ là Hồng đô Chư Cát thị kính cẩn cúi đầu viết bài tựa.
 
Bài bạt sách “Trùng bộ Việt điện u linh tập toàn biên”
Nước Việt ta lập quốc, sơn kỳ thủy tú, địa linh nhân kiệt, so với các nước trong toàn cầu, thực là anh vĩ đặc biệt, cố nhiên là không chịu nhường ai rồi. Chính khí chung đúc, từ đó xuất hiện đấng thần kỳ, sống làm bậc danh tướng, chết làm bậc danh thần, làm bậc tiết nghĩa, làm bậc trinh liệt; chính khí của các bậc ấy bàng bạc vòng quanh vòm trời xanh, hoặc là tản ra mà thành tiên phong, thành đạo cốt cũng đều lưu truyền bất hủ về sau. Cứ xem trong các sách Công dư tiệp ký, Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh Nam chích quái, Tang thương ngẫu lục thì có thể thấy rõ. Nay xét tập sách của ông Lý thì đều là những việc chép trong tự điển [3] triều Trần, ngoài ra thì chưa có đủ, thiếu mất khá nhiều các truyện khác. Tôi quên mình bỉ lậu, đứng ra trùng bổ, đúng là cái kẻ mà ông gọi là người hiếu sự vậy. Có người bảo: “Các truyện về anh liệt chính khí mà bổ sung thêm vào thì đã đành rồi, đến như lại chép các truyện thần thông chân khí như truyện Đạo Hạnh, Minh Không mà phần lớn có tính chất hoang đường thì là cớ sao vậy?”, Xin thưa: “Cố nhiên là quái đản rồi. Nhưng truyện vốn lưu hành ở đời là như vậy đây” Lại thưa: “Chỉ là chép cái điều nghe thấy đấy thôi. Còn nếu như lấy lý mà xét, bỏ cái quái đản, giữ cái hợp lẽ thường thì là việc của người xem, chứ người chép có can dự gì vào đấy kia chứ”.
Xin kính cẩn đề mấy lời bạt ở cuối toàn thiên sách.
Năm Kỷ Mùi (1919), đêm tháng Bảy, Tam Thanh quán Đạo nhân [4] đề lời bạt.
---------------
[1] Tư văn: đạo Nho. Nghĩa rộng là văn minh, văn hóa nói chung.
[2] Lê Thuần Phủ: tên tự của Lê Hữu Hỷ (có bản viết là Lê Đôn Phủ)
[3] Tự điển: Sách chép về các miếu đền, về các vị thần đã được Nhà nước phong kiến chính thức công nhận, về phép tắc thể lệ cúng tế ở miếu đường.
[4] Tam Thanh quán Đạo nhân: tên hiệu của Ngô Giáp Đậu.
📎 vdult
0
1. Bố Cái Đại Vương

Theo sách Giao Châu ký của Triệu Vương, thì Vương họ Phùng tên là Hưng. Đời đời cha truyền con nối làm Tù trưởng Biên khố ở châu Đường Lâm, gọi là Quan Lang; gia tư giàu có, sức rất là khỏe mạnh, có thể bắt hổ vật trâu. Em là Hãi, cũng có sức khỏe, có thể vác mười nghìn cân đá hoặc chiếc thuyền nhỏ nặng một nghìn hộc đi hơn mười dặm. Những dân Di, Lạo đều sợ tiếng tăm.
Trong đời Đường Đại Lịch, nhân nước ta loạn, hai anh em bèn rủ nhau đi khắp các ấp láng giềng, họ đều xin theo cả, đến đâu cũng không có điều gì là không trôi chảy. Hưng đã thỏa chí bèn đổi tên là Cự Lão; Hãi đổi tên là Cự Lực. Hưng xưng là Đô quân; Hãi xưng là Đô bảo. Theo kế của Đỗ Anh Luân (còn viết là Hàn), người đất Đường Lâm, họ Tuần đem quân đi tuần hành ở các châu Đường Lâm, Trường Phong, các nơi ai nấy đều theo. Uy danh đã vang dậy, bèn phao tin muốn đánh phủ Đô hộ. Khi đó quan Đô hộ là Cao Chính Bình đem quân dưới trướng đến đánh họ Phùng không nổi, tức giận thành bệnh mà chết, Phùng Hưng vào phủ Đô hộ coi việc được bảy năm thì mất. Mọi người muốn lập Hãi. Nhưng người đầu mục phụ tá là Bồ Phá Cần, sức có thể xô núi, xách đỉnh, dũng lực tuyệt vời, nhất định không nghe, lập con Hưng là An và đem quân chống lại Hãi. Hãi né tránh Bồ Phá Cần, bỏ lên ở động Chu Nham, về sau không biết kết cục ra sao. An tôn Hưng làm Bố Cái đại vương; vì nước ta thường gọi cha là “bố”, mẹ là “cái”, cho nên mới đặt tên ấy. An nối nghiệp được hai năm, thì vua Đường Đức Tông phong Triệu Xương làm An Nam đô hộ. Xương vào nước ta, sai sứ giả đem đồ lễ đi trước đến dụ dỗ An. An sắp xếp nghi vệ đầy đủ, dẫn mọi người ra hàng. Người của họ Phùng bèn tan tác đi hết.
Khi Hưng mới chết đã hiển linh, thường hiện hình trong đám dân quê. Nghìn xe vạn ngựa bay trên khoảng ngọn cây nóc nhà. Mọi người nhìn lên thì thấy rực rỡ như mây kết năm màu, văng vẳng tiếng đàn tiếng sáo ở trên trời, lại có tiếng hò hét, kiệu cáng sáng rực, tất cả đều thấy được rành rành. Phàm trong thôn ấp có việc sợ hãi, việc vui mừng thì trước đã có bậc dị nhân ban đêm đến bảo cho người hào trưởng biết. Mọi người cho là thần, lập miếu [1] ở phía tây phủ Đô hộ mà thờ cúng, cầu tạnh cầu mưa, không có điều gì là không linh ứng. Phàm có sự hồ nghi về việc trộm cướp, về việc tranh chấp thì sắm lễ vật đến bái yết trước đền, rồi làm lễ minh thệ, bèn lập tức thấy họa hoặc phúc bày rõ ngay. Người đi buôn bán, sắm lễ vật cầu được nhiều lãi, đều có ứng nghiệm. Mỗi khi vào ngày tạ lễ, người nhiều như núi như biển, bánh xe chật đường. Miếu mạo nguy nga, lửa hương bất tuyệt.
Khi Ngô Tiên chúa lập quốc, quân phương Bắc vào ăn cướp. Tiên Chúa lo lắng; đêm nằm mộng thấy một ông già đầu bạc, mũ áo nghiêm trang đẹp đẽ, quạt lông gậy trúc tự xưng họ tên và nói rằng:
- Tôi đã đem vạn đội thần binh mai phục trước ở chỗ hiểm yếu, Chúa công mau tiến quân chống giặc đi, tức khắc có sức âm trợ, không nên lo ngại.
Đến trận đánh ở sông Bạch Đằng, đúng là thấy trên không trung có tiếng ngựa xe. Trận ấy quả nhiên thắng lớn. Tiên chúa lấy làm lạ, xuống chiếu lập đền miếu to hơn quy mô cũ. Lại cho cờ quạt chiêng trống, điệu múa vạn vũ, cỗ cúng thái lao để cảm tạ. Trải qua nhiều triều đại thay đổi, đã trở thành lễ cổ. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) Hoàng triều có sắc phong là “Phụ hựu đại vương”, năm Trùng Hưng thứ tư (1288), ban thêm hai chữ “Chương tín”. Năm Hưng Long thứ 20 (1312) , lại ban thêm hai chữ “Sùng nghĩa”. Cho đến nay anh linh uy thế càng tăng, hương hỏa bất tuyệt.
-----------------
[1] Đền thờ ở làng Cam Lâm, huyện Phú Thọ, Sơn Tây (nay là Hà Tây).
0
2. Triệu Việt Vương và Lý Nam Đế

Việt Vương họ Triệu, húy là Quang Phục. Nam Đế họ Lý, húy là Phật Tử, đều là bộ tướng của Tiền Lý Nam Đế Lý Bôn cả. Thời Lương Vũ Đế, ở Giao Châu ta, huyện Thái Bình có Lý Bôn, đời đời làm hào trưởng, có tài lạ hơn người, thường có cái phong độ của Tiêu, Tào. Lại có Tinh Thiều giỏi về chữ nghĩa, văn học xuất sắc, đi thi cầu làm quan. Lại bộ Thượng thư nhà Lương là Sái Tổn cho rằng họ Tinh xưa nay chưa có ai là người giỏi, nhưng mà người này có phong độ khả quan thì cũng cho làm chức Môn lang ở Quảng Dương. Thiều lấy làm nhục; cùng với Bôn trở về cố quận. Nhân quan Thứ sử Vũ lâm hầu là Tiên Tư tàn bạo, việc hành chính rất mất lòng người, hai người bèn ngầm tính kế chống lại.
Khi đó Bôn trông coi châu Cửu Đức, liên kết với hào kiệt chín huyện, khí giới tinh nhuệ, cùng nhau khởi binh đánh cho Thứ sử Tiêu Tư phải chạy về Quảng Châu. Bôn ra chiếm đóng châu thành. Gặp lúc ấy người Lâm Ấp vào cướp đất Nhật Nam. Bôn sai tướng Phạm Tu đánh ở Cửu Đức, thu thắng lợi lớn, quân giặc tan hết. Bôn bèn tự xưng là Việt Vương, đặt trăm quan chức, đổi kỷ nguyên là Thiên Đức, đặt Quốc hiệu là Vạn Xuân. Vua nhà Lương nghe thấy thế bèn phong Thứ sử Quảng Châu là Trần Bá Tiên làm Thứ sử Giao Châu. Tiên nghe nói Lý Bôn xưng Vương, bèn đem quân đánh. Bôn đánh nhau bị bất lợi, lui về động Khuất Lạo, mắc bệnh mà chết. Kể từ lúc xưng Vương hiệu tức là năm Lương Đại Dồng thứ bảy (541) đến năm Lương Thái Thanh thứ hai (548) là lúc chết thì được tám năm.
Triệu Quang Phục vốn là người Chu Diên, làm chức Tả tướng quân của Bôn. Ở đất Chu Diên có một cái đầm lớn, rộng và sâu, không thể đo được bằng dặm. Bôn đã chết, Quang Phục bèn thu thập binh lính tản mát của Bôn được hai vạn người về để điểu khiển chỉ huy, vào ẩn trong đầm. Đêm thì ra cướp trại giặc, ngày thì ẩn nấp. Bá Tiên sai người do thám biết rằng đó là Quang Phục, bèn xuất quân đánh dẹp, nhưng không thể làm gì được. Mọi người suy tôn ông làm Dạ Trạch vương. Quang Phục ở trong đầm một năm. Một đêm thấy có rồng vàng tháo cái móng chân cho Quang Phục và bảo:
- Đem cái này gài lên mũ đâu mâu. Quân giặc trông thấy, tự nhiên phải sợ phục.
Gặp khi nhà Lương có việc phải gọi Bá Tiên về phương Bắc, lưu tướng là Dương Sằn ở lại trấn giữ thay Bá Tiên coi việc quân. Quang Phục từ sau khi được móng rồng, mưu lược lại càng khác thường, đánh đâu thắng đấy. Lại nhân Bá Tiên về phương Bắc bèn đem quân đánh Sằn. Sằn chống đánh lại, nhưng vừa trông thấy mũ đâu mâu thì lập tức thua trận và chết. Quang Phục vào chiếm đóng thành Long Biên, cai trị hai xứ Lộc Loa, Vũ Ninh, tự xưng là Nam Việt quốc vương.
Phật Tử là em họ của Lý Bôn. Lý Bôn chết thì Phật Tử theo anh của Bôn là Thiên Bảo dẫn ba vạn quân chạy lên vùng người Di, Lạo. Bá Tiên treo giải thưởng để tìm bắt, nhưng không được. Thiên Bảo đến động Dã Năng ở đầu nguồn sông Thao, thấy cảnh ở đấy đẹp đẽ, đất đai sản vật phì nhiêu, đất mầu mỡ mà lại rộng phẳng, bèn xây thành mà ở. Người kéo đến ở, tụ tập ngày một đông, trí năng ngày một rộng khắp, bèn trở thành nước Dã Năng. Mọi người bèn suy tôn Thiên Bảo lên làm Đào Lang vương. Chẳng bao lâu, Thiên Bảo chết không có con. Mọi người bàn bạc tôn Phật Tử lên thay. Vừa lúc nghe tin Bá Tiên về phương Bắc, Phật Tử bèn dẫn quân xuống phía đông. Người xung quanh khuyên Phật Tủ xưng đế. Phật Tử nghe theo, nhân đó xưng hiệu là Nam Đế, đánh nhau với Việt Vương ở Thái Bình, tất cả năm trận, mộc giáo ngút ngàn, tên đá như mưa, mà chưa phân ai được ai thua. Nam Đế ít quân phải rút lui, biết Việt Vương có thuật lạ bèn xin giảng hòa. Việt Vương cũng nghĩ tình Nam Đế là thuộc dòng họ của Lý Bôn, bèn chia nước ra, lấy địa giới là châu Quân Thần, để cùng cai trị. Nam Đế đóng ở Ô Diên, sai con là Nhã Lang sang Việt Vương cầu hôn. Việt Vương gả con gái là Cảo Nương cho. Tình nghĩa mật thiết, đàn sắt đàn cầm hòa nhịp. Nhã Lang ngầm hỏi Cảo Nương rằng:
- Hai nước trước kia là kẻ thù, nay là thông gia, lòng trời tác hợp được duyên lạ như thế này. Năm trước hai nước đánh nhau, vua cha binh cơ thần diệu hơn hẳn cha ta, không hiểu có cái thuật lạ gì mà lại đi tới mưu hay như vậy.
Cảo Nương vốn là phận đàn bà kim chỉ, làm sao mà hiểu được thói đời sóng gió, bèn đưa mũ đâu mâu có móng rồng của Việt Vương cho xem, kể rõ đầu đuôi, và nói:
- Vua cha thiếp xưa nay thắng kẻ địch, là nhờ có vật này.
Nhã Lang ngầm dùng mưu thay móng rồng, rồi bảo Cảo Nương:
- Ta làm Phò mã đã lâu, nay nhớ đến cha mẹ. Há lại có thể say tình chăn gối mà bỏ phận sớm tối ngọt bùi. Ý ta muốn định tạm về vấn an cha mẹ thì mới tỏ được chí nguyện. Chỉ ngại rằng đường sá xa xôi, đi lại vất vả, không thể sớm đi mà tối đến được. Tan đi thì nhiều, tu lại thì ít, buồn đau xiết kể. Sau khi ta về nước, nếu có điều gì không lành xảy ra, nàng đi theo vua cha đến nơi nào thì rắc lông ngỗng để dễ cho việc tìm kiếm của ta.
Nhã Lang ra về, đem tất cả trình bày với Nam Đế. Nam Đế cả mừng, lập tức đem quân kéo thẳng đến đất của Việt Vương, như đi vào đất không người. Việt Vương không hiểu ra thế nào, đội mũ đâu mâu ra cự chiến đón đánh Nam Đế. Nhưng thần cơ đã bị tước mất, binh khí không thể phấn chấn được. Nhà vua tự biết không chống nổi, dắt con gái chạy về phía nam, tìm chỗ đất hiểm để trốn tránh. Quân địch bám gót theo sát. Nhân đến một chốn châu phủ, nghỉ để lấy hơi, thì người tùy tòng lại báo:
- Quân Nam Đế đã đến rồi!
Nhà vua sợ quá, hô to:
- Hoàng Long thần vương không giúp ta sao?
Bỗng thấy rồng vàng chỉ mà nói:
- Chắng phải ai đâu. Chỉ vì con gái vua là Cảo Nương rắc lông ngỗng dẫn đường cho địch. Đó chính là quân ác tặc, không giết đi còn chờ gì nữa?
Nhà vua quay lại lấy dao chém, con gái rơi chìm xuống nước. Nhà vua cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Tiểu Nha, nghẽn lối, lại quay trở về, nhằm phía đông đi đến của biển Đại Nha, than rằng:
- Ta đến đường cùng rồi.
Bỗng thấy rồng vàng rẽ nước thành đường mà dẫn đi. Nhà vua đi vào nước rồi thì nước khép lại như cũ. Quân Nam Đế đến nơi, mênh mông chẳng biết nhà vua đã đi theo hướng nào, bèn dẫn nhau quay về. Việt Vương giữ nước mười chín năm, kể từ năm Tân Mùi, niên hiệu Lương Đại Bảo thứ hai (551) đến năm Ký Sửu (569), niên hiệu Trần Đại Kiến thứ nhất, thì mất nước. Người đời thấy linh dị, bèn lập miếu ở cửa biển Đại Nha [1]. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1235), sách phong là Minh Đạo hoàng đế, năm Trùng Hưng thứ tư (1288) ban thêm cho hai chữ “Khai cơ”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313) ban thêm cho bốn chữ “Thánh liệt thần vu”.
Nam Đế đã thôn tính xong Triệu Việt Vương, bèn thiên đô đến Lộc Loa và Vũ Ninh, phong anh là Xương Ngập làm Thái Bình hầu giữ thành Long Biên, phong Đại tướng Lý Tấn Đỉnh làm An Ninh hầu, giữ thành Ô Diên. Nam Đế làm vua ba mươi năm thì chết, kể từ năm Tân Mão (571), niên hiệu Trần Đại Kiên thứ ba đến năm Nhâm Tuất (602), đời Tùy Văn Đế, niên hiệu Nhân Thọ thứ hai.
Nam Đế chết, con là Sư Lợi lên làm vua, được mấy năm thì bị tướng nhà Tùy là Lưu Phương diệt. Nam Đế đã chết, người trong nước lập đền thờ khắp nơi. Miếu ở cửa biển Tiểu Nha và ở phường An Khang [2] rất là linh dị. Năm Trùng Hưng thứ nhất, sắc phong là “Anh liệt trọng uy Hoàng đế”. Năm Trùng Hưng thứ tư, tặng thêm hai chữ “Nhân hiếu”. Năm Hưng Long thứ 21, tặng thêm bốn chữ “Khâm minh thánh vũ”. Hai miếu ấy đến nay hương hỏa bất tuyệt, linh ứng đã rõ từ lâu.
-----------------
[1] Thuộc địa phận làng Độc Bộ, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định (nay là Nam Hà).
[2] Theo sách Nam Định tỉnh địa dư (A.609, tờ 921b) chép: Đền thờ Hậu Lý Nam Đế ở cửa Tiểu Nha nay là địa phận xã Phù Sa, huyện Nghĩa Hưng, Nam Định. Đền này đối diện với đền làng Độc Bộ thờ Triệu Việt Vương. Về sau qua một đêm sấm sét dữ dội, mưa gió cực to, cả ngôi đền bị đánh bạt xuống sông. Từ đó mất đền. Dân làng Độc Bộ dựng lại đền, nhưng không thờ Hậu Lý Nam Đế nữa, mà thờ Ngô Nhật Khánh, một trong 21 vị sứ quân đời sau.
0
3. Nhị Trưng phu nhân

Sử ghi tên chị là Trắc, em là Nhị, vốn họ Hùng, là con gái quan Lạc tướng ở Giao Châu ta, người huyện Mê Linh, thuộc Phong Châu. Chị lấy Thi Sách, người huyện Chu Diên. Thi Sách là người có dũng lực, chuộng hào khí. Thấy chừng cơ sự, quan Thứ sử là Tô Định bèn đặt vào phép, buộc tội Thi Sách mà hãm hại. Chị giận lắm, cùng với em cử binh đánh đuổi Tô Định, công hãm Giao Châu. Do đó các quận Nhật Nam, Hợp Phố, Cửu Chân, nghe tin bèn hưởng ứng, lược định được hơn sáu mươi lăm thành ở cõi Lĩnh Ngoại, tự lập làm vua đất Việt, đóng ở Chu Diên, rồi xưng là họ Trưng.
Khi ấy Tô Định chạy về quận Nam Hải. Vua Hán Quang Vũ nghe tin, nổi giận, biếm đuổi Định ra Đam Nhĩ, sai bọn Mã Viện, Lưu Long đem đại quân sang đánh hai bà. Quân Hán kéo đến Lãng Bạc, bà đánh lại, quân ít không địch nổi, rút về giữ Cầm Khê. Quân ngày một ly tán. Bà ở vào thế cô, bị chết trận.
Dân địa phương thương xót, lập đền thờ, nhiều lần hiển linh. Nay đền ở huyện An Hát.
Vua Lý Anh Tông, gặp thời hạn hán, sai Tĩnh Giới thiền sư làm lễ cầu mưa, thì được mưa, trời mát mẻ. Vua mừng lắm, nằm ngủ bỗng mộng thấy hai người đàn bà, mặt phù dung, mày dương liễu, áo xanh váy đỏ, mũ đỏ, thắt đai, cưỡi ngựa sắt, theo mưa mà đến yết kiến. Vua lấy làm lạ bèn hỏi. Đáp rằng:
- Chúng tôi là hai chị em họ Trưng, vâng mệnh Thượng đế làm ra mưa.
Vua tỉnh dậy cảm xúc bèn sắc cho sửa lại đền, sắm lễ vật để tế. Lại sai sứ rước về phía bắc trong thành, xây đền Vũ sư để thờ. Sau hai bà lại báo mộng cho nhà vua xin lập đền thờ ở Cổ Lai [1]. Nhà vua nghe theo, sắc phong là Trinh Linh phu nhân.
Năm Trùng Hưng thứ 4 (1288), phong chị là Chế Thắng phu nhân. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), tặng thêm hai chữ “Thuần trinh”, lại tặng thêm cho em hai chữ “Bảo thuận”. Linh ứng rõ rệt từ lâu.
-----------------
[1] Cổ Lai: chưa rõ là ở đâu. Chỉ biết hiện nay hai nơi có đền thờ chính là:
- Tại làng Hương Viên cũ, tục gọi là bãi Đồng Nhân, nay thuộc khu phố Hai Bà, Hà Nội.
- Tại làng Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây (nay là Hà Tây).
0
4. Hiệp Chính Hựu Thiện Trinh Liệt Chân Mãnh phu nhân

Phu nhân không rõ họ là gì, người Chiêm Thành, tên là Mỵ Ê, vợ vua Chiêm Thành xưa là Sạ Đẩu.
Dưới triều Lý Thái Tông, Sạ Đẩu không giữ phận triều cống, bỏ lễ phiên thần. Nhà vua thân sang đánh phương Nam. Đẩu dẫn quân chống lại ở sông Bố Chính, liền bị quân nhà vua đánh tan, Đẩu chết tại trận. Vương phi và tỳ thiếp bị bắt làm tù binh đưa về. Về đến sông Lý Nhân, nhà vua nghe nói Mỵ Ê đẹp, bèn mật sai
(thiếu trang 24)
phận đàn bà yếu ớt, không biết tính vào đâu. Nhờ có ơn lớn của Bệ hạ sai sứ đứa tôi về được nơi suối vàng gặp chồng, ý nguyện đã thỏa: còn như có gì là anh linh mà đâu dám đến đường đột.
Nói xong, bỗng không thấy đâu nữa. Nhà vua giật mình tỉnh dậy mới biết là giấc mộng. Bèn lập tức dọn rượu tế tạ, sắc phong làm Hiệp Chính nương. Từ đó xa gần cầu đảo đều thấy linh ứng.
Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), sắc phong là Hiệp Chính Hựu Thiện phu nhân. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), tặng thêm hai chữ “trinh liệt”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), tặng thêm hai chữ “chân mãnh”. Đến nay thờ cúng, càng thấy linh ứng.
0
5. Hiệu Úy Uy Mãnh Anh Liệt Phu Tín Đại Vương

Vương họ Lý, tên Ông Trọng, người Từ Liêm, thân dài hai trượng ba thước, khí chất thẳng thắn dũng mãnh, khác với người thường.
Lúc ít tuổi làm chức sự ở huyện ấp, bị quan Đô đốc đánh đòn, than rằng:
- Người ta ở đời có tráng chí, nên như chim loan chim phượng, cất cánh một cái bay xa vạn dặm, sao lại có thể chịu để người thóa mạ, làm nô lệ cho người sao?
Bèn bỏ đi học, ngày ròng tháng rã, thông hiểu kinh sử, vào làm quan cho nhà Tần đến chức Tư Lệ hiệu úy. Tần Thủy Hoàng thôn tính thiên hạ, sai ông đem quân giữ đất Lâm Thao, thanh thế chấn động đất Hung Nô, Thủy Hoàng rất quý trọng. Đến lúc già trở về làng quê. Thụy Hoàng sai lấy đồng đúc tượng ông, đặt ở cửa Tư Mã ngoài Hàm Cung, trong bụng của tượng chứa được mấy chục người. Mỗi khi có sứ giả bốn phương đến, vua Tần ngầm sai người chui vào trong bụng của tượng, làm cho tượng cử động. Người Hung Nô trông thấy sợ lắm, cho là quan hiệu úy vẫn sống, răn dè nhau chớ có phạm vào biên giới.
Đầu niên hiệu Trinh Nguyên (785) đời vua Đường Đức Tông; Triệu Xương làm Đô hộ An Nam thường đi chơi ở trong nước ta. Một đêm thấy cùng Lý Ông Trọng nói chuyện về những điều trọng yếu trong đạo trị bình và giảng sách Xuân Thu Tả truyện. Nhân đó bèn về thăm nơi nhà cũ của ông, thì chỉ thấy sương khói ngang trời, mênh mang dòng sông, rêu phong lối đá, xanh rờn cây hoang, một đám mây lững lờ, hoa rơi trên đám cỏ. Bèn lập ra đền miếu [1], nhà cao tầng chồng, dọn lễ dâng tế. Đến khi Cao Biền đánh quân Nam Chiếu, ông thường hiển linh giúp đỡ. Biền lấy làm kinh lạ, sai thợ sửa đền miếu lại, to hơn quy mô cũ, sai tạc sơn tượng, sắm lễ dâng tế. Hương hoa không bao giờ ngớt.
Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), sắc phong Anh Liệt vương. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), gia phong hai chữ “dũng mãnh”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), gia phong làm Phu Tín đại vương.
------------------
[1] Đền ở làng Chẽm, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
0
6. Thái Úy Trung Phụ Dũng Vũ Uy Thắng Công

Ông họ Lý, tên Thường Kiệt, người phường Thái Hòa, ở bên phải kinh thành Thăng Long. Cha ông là An Ngữ, làm quan đến chức Sùng ban Lang tướng, đời đời trâm hốt. Ông là người nhiều mưu lược, có tài tướng súy, từ lúc ít tuổi đã lừng danh và phong tư tuấn nhã, được sung vào làm chức Hoàng môn Chi hầu, đến đời Lý Thái Tông được phong làm Nội thị Sảnh đô tri. Thánh Tông phong làm Hiệu úy Thái bảo. Ông giữ chức một cách cung cẩn, mọi việc làm đều tuân theo lễ pháp, không sai sót chút gì. Vua ban cho ông tiết việt đi kinh lý việc quan, việc dân hai quận Thanh Hoa, Nghệ An và năm huyện, ba nguồn các dân Man, Lạo, nếu ai trái mệnh thì được phép trấn áp ngay.
Duy nước Chiêm Thành trễ nải việc triều cống, nhà vua thân chinh đi dẹp. Ông vâng mệnh lĩnh chức Đại tướng, sung làm Tiên phong, bắt được chúa Chiêm là Chế Củ. Do công lao, ông được phong làm Phụ quốc Thái phó, lại nhận chức Chử trấn tiết độ, Đồng trung thư môn hạ, Thượng trụ quốc, Thiên tử nghĩa đệ, Phụ quốc Đại tướng quân, Khai quốc công.
Nhân Tông lên ngôi, được phong làm Thái úy, giữ chức đại thần, sự anh minh vũ dũng thực là rực rỡ. Ông vừa nghe tin người Tống muốn đem binh mã nhòm ngó nước ta để gây chiến tranh, bèn lập tức tâu vua rằng:
- Ngồi đợi kẻ địch đến, sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó.
Vua bèn sai ông thống lĩnh đại binh, phá được giặc ở các thành Ung Khâm, Liêm, khắc phục được ba châu, bốn trại, bắt được tù binh, thu được của cải không biết bao nhiêu mà kể. Năm Long Phù thứ nhất (1101), vua trao cho ông chức Nội thị phán sảnh đô áp vệ, Hành điện nội ngoại đô tri sự. Mùa đông, ông đẹp yên giặc Lý Giác ở Diễn Châu. Nhà Tống sang đánh báo thù vây hãm các châu Lục, Lược. Ông ra sức đắp thành ở sông Như Nguyệt, lấy lại được Vũ Bình Nguyên. Quân ta thắng lợi trở về, nhà vua lại khen thương lớn. Đến khi ông mất, nhà vua truy tặng chức Nhập nội điện tri hiệu kiểm, Thái úy, Bình chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công, cấp thực ấp một vạn hộ và cho em là Thường Hiến được nối tước phong hầu.
Những kẻ chuộng những truyện quỷ thần, đồng cốt để lừa dối người khác đều bị Thái úy trừng phạt rất nặng, quá nửa đều bị sa thải, thói tục dơ bẩn được rửa sạch. Cho nên thời ấy đền thờ nhảm đều được biến thành nơi thờ phúc thần. Nhân dân chịu ơn của ông nhiều, tâu xin lập đền thờ [1], hễ có cầu đảo điều gì đều hiển ứng.
Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), sắc phong làm Trung phụ công. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), tặng thêm hai chữ “dũng mãnh”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), gia phong hai chữ “Uy thắng”. Đền thờ tôn nghiêm ngày càng linh ứng.
-----------------
[1] Đền thờ chính ở xã Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
0
7. Bảo Quốc Trấn Linh Định Bang, Quốc Đô Thành Hoàng Đại Vương

Theo sách Giao Châu kýBáo cực truyện, thì Vương họ Tô, tên Lịch, làm chức quan Lệnh ở Long Đỗ. Họ Tô đời đời ở đất Long Đỗ, dựng làng trên bờ con sông nhỏ, nhà không giàu có lắm, tề gia chỉ biết lấy đạo hiếu để làm đầu, ba đời biết nhường nhịn mà ở chung với nhau. Thời Tấn có lệ đề cử những người hiếu hạnh, ông được đề cử, cho nên có chiếu nhà vua về khen, cắm cờ biểu dương ở cổng làng; năm mất mùa, thóc thiếu, có chiếu cho cả làng vay thóc. Vì thế mà lấy tên Tô Lịch đặt làm tên làng.
Vào đời Đường Mục Tông, niên hiệu Trường Khánh thứ ba (823), quan Đô hộ là Lý Nguyên Gia thấy ở cổng bắc thành Long Biên có dòng nước chảy ngược, địa thế khả quan, bèn đi tìm khắp, thấy được chỗ cao ráo, cửa ngõ nhiều tầng, bốn phía nhà cửa bao quanh liên tiếp. Chỗ ấy chính là nơi đất nhà cũ của Vương. Nguyên Gia bèn mổ bò, nấu rượu, mời tất cả các bậc kỳ lão ở trong làng đến kể lại chuyện về Vương, tỏ ý muốn tâu nhà vua xin thờ Vương làm Thần hoàng. Trên dưới cùng lòng theo ý đó, tất cả mọi người đều được mãn ý. Bèn khởi công xây dựng, chẳng mấy ngày mà thành một ngôi đền nguy nga tráng lệ. Ngày làm lễ khánh thành, múa nhảy náo nhiệt, đàn sáo tưng bừng. Đất nhờ người mà trở thành thắng cảnh, người nhờ đức mà thịnh vượng, há chắng đúng như thế hay sao?
Đêm ấy, Lý Nguyên Gia ngủ bên cửa sổ, bỗng có một trận gió mát ào tới, bụi cuốn cát bay, rèm lay án động. Có một người cưỡi hươu trắng từ trên trời xuống, tóc và lông mi đều bạc phơ, quần áo thắm tươi, bảo Nguyên Gia rằng:
- Tôi được Sứ quân ủy cho làm Thành hoàng ở đây. Nếu Sứ quân biết giác hóa cư dân trong thành, hết lòng tận trung thì mới đáng là chức Mục, Thứ, xứng với trách nhiệm của một người làm quan tốt.
Nguyên Gia vái lạy xin vâng theo, và hỏi họ tên, nhưng không được trả lời. Hốt nhiên tỉnh dậy, mới biết là giấc mộng.
Đến khi Cao Biền xây thành Đại La, nghe thấy thần rất là linh dị, bèn sắm lễ vật dâng tế, tôn là Đô phủ Thánh hoàng thần quân.
Khi Lý Thái Tổ thiên đô về, thường nằm mộng thấy có ông già đầu bạc đi thấp thoáng ở trước sân rồng, lạy hai lạy, cúi đầu hô mừng:
- Vạn tuế!
Vua lấy làm lạ, hỏi họ tên. Ông già tâu hết nguyên ủy. Vua cười nói:
- Vị tôn thần muốn hưởng giữ hương lửa tới trăm năm hay sao?
Đáp:
- Cốt mong cho cơ đồ của Hoàng đế bền lâu như Thái Sơn, bàn thạch, thánh thọ vô cương, trong triều ngoài quận đều được thái hòa, thì lũ chúng tôi chẳng phải giữ được trăm năm hương lửa mà thôi đâu!
Nhà vua tỉnh dậy, sai quan đến tế lễ, phong thần làm Quốc đô Thăng Long Thành hoàng đại vương. Dân cư cầu đảo và làm lễ thề, thì họa hay phúc hiển, ứng rành rành.
Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), sắc phong hai chữ “Bảo quốc”. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), tặng thêm hai chữ “Hiển linh”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), lại gia phong hai chữ “Định bang”.
0
8. Đô Đốc Khuông Quốc Tá Thánh Vương

Vương họ Lê, tên Phụng Hiểu, người làng Băng Sơn (nay là làng Dương Sơn, huyện Hoằng Hóa), phủ Thanh Hoa (nay là tỉnh Thanh Hóa). Có người nói: Vương là cháu ông Định Phiên hầu Lê Đĩnh.
Vương người cao lớn, tướng đẹp, râu tốt, có sức khỏe lạ thường. Lúc còn trẻ ở Lương Giang có bọn cậy khỏe tranh ruộng, Vương lấy tay nhổ tre non cả gốc lẫn rễ xông ra đánh, không ai địch nổi. Sách Việt sử bổ di chép: “Vương lúc trẻ rất hùng dũng. Có hai làng Cổ Bi và Đàm Xá vì tranh địa giới, dàn quân ra đối đáp với nhau. Vương xắn tay áo bảo người làng Cổ Bi rằng: ‘Chỉ một mình ta đánh nổi vạn người!’. Phụ lão trong làng nghe nói rất mừng, đem cơm rượu khoản đãi. Vương ăn hết nồi ‘ba mươi’ cơm, uống rượu cực nhiều, rồi một mình ra khiêu chiến. Quân làng Đàm Xá xông đến, Vương nhổ cây đánh vung như trận gió táp, quân làng Đàm Xá bị thương rất nhiều, bỏ chạy tan tác, Làng ấy khiếp sợ phải chịu trả ruộng cho làng Cổ Bi”.
Bấy giờ vua Lý Thái Tổ tuyển những người có sức khỏe sung vào quân Túc vệ. Vương được tuyển dụng, siêng năng, được việc, vua rất khen ngợi và cất dần lên tới chức Vũ vệ Tướng quân, cùng hàng với các tướng Đàm Thản, Quách Thịnh Dật và Lý Huyền Sư. Vua Thái Tổ mất, Thái Tông theo di chiếu lên ngôi (1028). Dực Thánh Vương, Vũ Đức Vương và Đông Chinh Vương là ba người con thứ của vua Thái Tổ cùng mưu làm loạn, đem vệ binh ở các phủ đến vây nội thành, chia cửa tranh nhau tiến vào. Thái Tông sợ hãi không biết làm sao. gọi Vương vào bảo:
- Trẫm nay tiến thoái đều không được, giao quyền cho ngươi tùy tiện chống đánh.
Vương liền đem vệ binh trong cung ra cửa Đại Nội giáp chiến với quân ngoài, một hồi chưa phân được thua. Vương nổi giận tuốt gươm tiến thẳng tới cửa Quảng Dương, hô to lên bảo Vũ Đức Vương rằng:
- Các Vương định cướp ngôi báu, coi khinh Tự quân, thật là trái mệnh Tiên đế, lỗi đạo làm tôi, Phụng Hiểu này xin dâng các Vương nhát kiếm!
Nói xong, xông tới trước ngựa; Vũ Đức Vương trở tay không kịp bị Vương chém chết. Quân ba phủ thua chạy tan tác, quan quân đuổi bắt không sót một người, chỉ có Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương trốn thoát. Vương về tâu tin thắng trận trước linh cữu Thái Tổ, rồi sang điện Càn Nguyên tâu vua Thái Tông. Vua bảo Vương rằng:
- Trẫm được an toàn, giữ được cơ nghiệp của Tiên đế là nhờ sức ngươi cả! Thường xem Đường sử, thấy Uất Trì Kính Đức giúp vua trong khi khó nạn, tự nghĩ bề tôi về sau ít người được bằng. Nay nhà ngươi trung đũng, lại thấy còn hơn Kính Đức.
Vương lạy tạ, nói rằng:
- Bệ hạ đức cảm tới trời đất, uy lừng khắp biên thùy, trong ngoài đều phục theo. Ba Vương dám manh tâm làm bậy, trời đất quỷ thần không dung tha, chứ không phải sức của hạ thần dẹp nổi!
Vua bèn cất nhắc làm Đô thống Thượng tướng quân, phong tước hầu.
Năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 1 (1044), Thái Tông sang đánh Chiêm Thành. Vương làm Tiên phong, đại thắng quân Chiêm, tiếng lừng các nước phiên thuộc. Lúc khải hoàn thưởng công, vua sai lấy ruộng công hơn 1.000 mẫu ở dưới núi Băng Sơn cấp cho Vương làm ruộng tư, miễn nộp thuế hàng năm (Theo Sử ký: khi thắng Chiêm về, Phụng Hiểu không muốn được thưởng chức tước, chỉ xin cho đứng ở trên núi Băng Sơn phóng con dao đi, hễ dao rơi xuống, cắm đến chỗ nào thì xin ruộng đến chỗ ấy. Vua thuận cho, Phụng Hiểu lên núi phóng dao đi xa tới hơn 10 dặm, rơi xuống địa phận làng Đa Mỹ. Vua bèn cho ruộng từ chân núi Băng Sơn đến đấy, miễn thuế ruộng “cắm dao”. Sau đó ở châu Ái những ruộng thưởng người có công, đều gọi là ruộng “cắm đao” tức là theo nghĩa ở đây).
Vương hết lòng trung thành thờ vua, biết điều gì là nói luôn không giấu diếm. Đi đánh dẹp tới đâu cũng thắng. Vương thọ 77 tuổi. Sau khi mất, thổ dân nhớ tiếc lập đền thờ làm phúc thần, cầu đảo rất được linh ứng.
Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), phong Đô Thống vương, năm thứ tư (1288), gia phong hai chữ “Khuông quốc”, năm Hưng Long thứ 21 (1313), gia phong hai chữ “Tá thánh”. Đền thờ nguy nga, tới nay hương lửa không dứt.
0
9. Thái Úy Trung Tuệ Vũ Lượng Công [1]

Xét sử và truyện: ông họ Mục, tên Thận, làm nghề đánh cá.
Trong đời vua Lý Nhân Tông (1092-1127), quan Thái sư Lê văn Thịnh nuôi được một tên gia nô người Đại Lý (Vân Nam) có thuật lạ: đọc thần chú xong, biến hình thành hổ báo. Văn Thịnh cố dỗ y dạy mình thuật ấy. Học được thuật rồi, liền lập mưu giết tên gia nô và định dùng thuật hại vua để cướp ngôi.
Bấy giờ, vua Nhân Tông ngự ra Tây Hồ xem đánh cá, thuyền vua đang bơi trong hồ, bỗng thấy mây mù nổi lên phủ kín, rồi nghe có tiếng mái chèo tới gần, trong đám mây mù trông thấy có con hổ lớn nhe răng, dương vuốt chực hại người. Nhân Tông hoảng sợ, bối rối. Lúc ấy, Mục Công ngồi thuyền đánh cá ở gần, nhìn kỹ thấy thế nói:
- Việc gấp lắm rồi!
Liền quăng lưới chụp vào thuyền kia, hất được con hổ và nhận ra là Lê văn Thịnh.
Thái Tông giận, sai lấy dây sắt xích lại, bỏ vào cũi, rồi đày lên miền Thao Giang. Vua khen Mục Công đã có công cứu vua, liền cất nhắc làm Đô úy và sau thăng tới Phụ quốc Tướng quân. Khi mất tặng chức Thái Úy. Vua sai dựng đền tạc tượng thờ. Đền rất thiêng, có một con rắn to ở trong hốc cột bên đền, cứ ngày rằm, mồng một lại ra nằm dưới chân tượng, nhân dân vào lễ, qua lại như thường, chỉ có người nào bẩn thỉu mà vào thì bị rắn cắn. Tối đến rắn lại vào trong hốc cột.
Tới nay, dân làng sửa sang ngôi đền đẹp thêm và thờ ông làm phúc thần. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), sắc phong làm Trung Tuệ công, năm Hưng Long 21 (1313), gia phong hai chữ “Vũ Lượng”.
-------------------
[1] Đền ở xã Võng Thị và xã Trích Sài, gần Hồ Tây, Hà Nội.
0
10. Quả Nghị Cương Chính Uy Huệ Vương

Xét Đỗ Thiện sử dẫn Giao Chỉ ký: Vương tên là Cao Lỗ, một tướng giỏi của An Dương Vương xưa, tục gọi là Đô Lỗ, hoặc gọi là Thạch thần.
Khi Cao Biền đã dẹp yên giặc Nam Chiếu (865- 866), đem binh đi tuần châu Vũ Ninh, đêm mộng thấy một người thân cao chín thước, ăn mặc lịch sự, búi tóc nhọn, cài trâm hình lưỡi đao, gậy đỏ giắt ở lưng, đến nói với Biền rằng:
- Tôi là Cao Lỗ, xưa giúp An Dương Vương làm Đại tướng, đánh giặc có công to, sau vì kẻ đại thần là Lạc Hầu nói gièm, tôi bị vua giết. Đức Thượng đế thương tôi là người trung, cho làm Đô Thống tướng quân, giữ một dải non sông, phàm việc dẹp giặc và việc mùa màng tôi đều được quyền định đoạt cả, nghĩa là được làm phúc thần của một phương. Nay theo minh công dẹp giặc đã yên, tôi lại trở về, nếu không đến từ biệt thì hóa ra vô lễ!
Biền hỏi:
- Lạc Hầu có sự gì ghen ghét mà lại làm hại ông như thế?
Đáp rằng:
- Việc u mình không thể tiết lộ được.
Biền cố hỏi, mới nói rằng:
- An Dương Vương là “tinh” con gà, Lạc Hầu là “tinh” con vượn trắng, còn tôi là “tinh” con rồng đá. Gà với vượn thì hợp nhau mà không hợp với rồng, cho nên sinh ra như thế.
Nói rồi vụt biến mất. Biền tỉnh dậy, nói chuyện lại với tướng tá, rồi đắc ý ngâm:
Mỹ tai Giao Châu địa,
Du du vạn tải lai.
Cổ hiền đắc tiếp kiến,
Phương bất phụ linh đài.

Nghĩa là:
Đẹp thay đất Giao Châu,
Dằng dặc muôn năm nay.
Được tiếp kiến người hiền cõi xưa,
Không phụ tấm lòng đa cảm.
Tương truyền chỗ sông Đại Than là chỗ dinh của Vương đóng, thường nổi mây, đổ mưa, thành những cơn phong ba dữ dội, ai qua đấy, vào đến lễ, kêu cầu trước thì thuyền đến giữa sông, dù gặp sóng gió cũng không bị nguy hiểm.
Nàm Trùng Hưng thứ nhất (1285), sắc phong Nghị Vương. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), gia phong hai chữ “Cương chính”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), gia phong hai chữ “Uy huệ”.
0
11. Quảng Lợi Thánh Hựu Uy Tế Phu Ứng Đại Vương [1]

Khi xưa, Cao Biền đắp thành Đại La. Một buổi trưa, đi chơi vơ vẩn ra cửa đông ngoại thành, bỗng thấy mây mù nổi to, rồi có khí lành năm sắc rực rỡ lấp lóe như sao sáng rực, lạnh rợn người. Trong năm sắc ấy thấy một người cưỡi rồng vàng, đầu đội mũ hoa đỏ, mình mặc áo màu ráng tía, xiêm thêu, giày đỏ, đồng thời thấy mùi hương ngào ngạt, tiếng nhạc vang lừng một hồi lâu mới tan. Cao Biền kinh hãi, cho là yêu ma tác quái, đòi hỏi xằng bậy được người đời cúng bái, cũng chẳng có gì là kỳ lạ cả. Đêm hôm ấy, Biền mộng thấy một ông cụ hình dạng ăn mặc như lúc ban ngày, đến bảo Biền rằng:
- Ta là Lang Đỗ vương đới quân, thấy ông mở dựng Đô thành, nên tôi lại chơi, ông đừng ngờ!
Biền tỉnh dậy, nói chuyện với mọi người rồi than rằng:
- Ta không biết làm chính trị, để quỷ thần trêu ta, điềm tốt hay điềm dở đây?
Có người bảo Biền dựng đền, đắp tượng thờ, rồi lấy đồng sắt chôn xuống để trấn áp. Biền theo lời làm như thế. Bỗng một cơn mưa bão rất to, đổ cây, tung đất, bao nhiêu đồng sắt đã yểm đều tan ra thành tro bụi. Biền thấy vậy, than rằng:
- Ta sẽ phải về Bắc mất!
Rồi quả nhiên Biền phải về thật.
Đến đời nhà Lý, dựng đô ở đây, vua Thái Tông cho mở phố chợ về cửa đông, hàng quán chen chúc, sát tới bên đền, rất là huyên náo. Muốn chuyển đền ra một chỗ khác yên tĩnh hơn, song vua lại nghĩ: một ngôi đền cổ không nên dời đi! Vua bèn cho sửa sang lại đền, liền với các nhà ngoài phố, dành riêng một ngôi nhà làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần liền hiển linh, nổi trận gió bấc rất to, các nhà bèn đền đều đổ, duy đền thờ thần vẫn nguyên vẹn. Vua Thái Tông lấy làm lạ hỏi. Có người biết, tâu rõ việc hiển linh của thần từ trước. Vua mừng nói:
- Đó thật là vị thần coi việc nhân gian.
Liền xuống chiếu cho sửa lễ tế và đặt lệ mỗi năm cứ đầu mùa xuân lại đến đền làm lễ cầu phúc. Lại sắc phong thần làm Quang Lợi vương. Trước đây ở phố chợ cửa đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố bị cháy hầu như hết, duy chỗ đền thờ thần, lửa không bao giờ lan tới.
Năm Trùng Hưng 1 (1285), sắc phong hai chữ “Thánh hựu”. Năm Hưng Long 21 (1313), gia phong hai chữ “Phu ứng”, tiên tước lên Đại vương.
Quan Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải có đề một bài thơ ở đền rằng:
Tích văn nhân đạo Đại vương linh,
Kim nhật phương tri quỷ mị kinh.
Hỏa bắc tam khu thiên bất tận,
Phong trần nhất trận phiến nan khuynh.
Chỉ huy vọng lượng tham thiên chúng,
Đàn áp yêu ma bách vạn binh.
Nguyện trượng dư uy thanh Bắc khấu,
Đốn linh vũ trụ lạc thăng binh.

Nghĩa là:
Trước vẫn nghe người ta nói: Đại vương thiêng,
Nay mới biết: bọn quỷ ma đều khiếp sợ Đại vương.
Lửa bốc ba lần không cháy được đền,
Gió bão một trận không làm nghiêng được.
Chỉ huy ba nghìn quỷ binh,
Đàn áp được yêu ma trăm vạn.
Xin nhờ dư uy của Đại vương để dẹp giặc Bắc,
Khiến cho vũ trụ được bình yên.
Tới nay, đền thờ nguy nga, tiếng anh linh còn mãi.
-------------------
[1] Thần được thờ ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm, Hà Nội.
0
12. Tản Viên Hựu Thánh Khuông Quốc Hiển Ứng Vương [1]

Xét sách Giao Chỉ ký của Tăng Công: Vương là Sơn Tinh (thần núi), cùng với Thủy Tinh (thần nước) kết bạn, ở ẩn trong động Gia Ninh, thuộc về Phong Châu.
Khi ấy, Hùng Vương có một người con gái tên là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Vua nước Thục sai sứ giả sang cầu hôn, Hùng Vương định gả. Có quan đại thần là Lạc Hầu tâu rằng:
- Không nên! Họ định mượn cớ cầu hôn để ngấp nghé đất nước ta đó!
Hùng Vương sợ không gả thì gây hiểm khích. Lạc Hầu tâu rằng:
- Đại Vương trị một nước đất rộng dân đông, nay kén lấy một người có tài cao thuật lạ, cho làm rể, rồi đặt binh mai phục để đợi, thì còn lo chi!
Hùng Vương nghe lời, bèn không gả con cho vua Thục, rồi đi khắp trong nước kén lấy một người có thuật tài lạ. Vương và Thủy Tinh đều ra ứng tuyển. Vua Hùng sai thử phép thuật của hai người: Vương thì trông suốt qua được ngọc, đá; còn Thủy Tinh đi xuống nước, vào lửa đều được cả. Thấy cả hai người đều có thuật tinh thông, vua lấy làm mừng, bảo Lạc Hầu rằng:
- Hai người đều đáng làm rể, nhưng ta chỉ có một con gái, biết gả cho người nào đây?
Lạc Hầu tâu:
- Xin vua hẹn: hễ ai dẫn cưới đến trước thì gả.
Vua nghe lời, hẹn hai người về sửa lễ. Vương về, ngay đêm hôm ấy sửa soạn các thứ vàng, bạc, ngọc quý, tê, voi cùng các giống chim muông lạ, mỗi thứ có tới hàng trăm, sớm hôm sau đem hiến dâng vua. Hùng Vưưng mừng, gả luôn Mỵ Nương cho Vương đón về ở Lôi Sơn. Đến buổi chiều, Thủy Tinh cũng sắm đủ các thứ như trân châu, đồi mồi, san hô và các giống cá lạ, mỗi thứ cũng tới hàng trăm. Nhưng đến nơi thì Sơn Tinh đã lấy được Mỵ Nương đem về rồi. Thủy Tinh nổi giận bèn đem quân đuổi theo, định phá tan Lôi Sơn. Nhưng bấy giờ Vương đã dời về ở trên núi Tản. Thủy Tinh không làm gì nổi, từ đó căm thù mãi, mỗi năm vào mùa thu lại dâng nước lên đánh núi Tản Viên. Dân ở vùng ấy cùng nhau kết gỗ thành hàng rào để làm viện trợ, giữ chân núi, Thủy Tinh không phạm tới được.
Những dấu tích thiêng liêng của Đại Vương rất nhiều, không thể nào thuật ra hết được.
Trùng Hưng năm thứ nhất (1285), sắc phong Hựu Thánh vương. Năm thứ tư (1288), gia phong hai chữ “Khuông quốc”, rồi lại thêm hai chữ “Hiển ứng”.
-----------------
[1] Đền chính ở núi Tản Viên, huyện Bất Bạt, Sơn Tây (nay là Hà Tây).
0
13. Gia Ứng Thiện Cảm Linh Vũ Đại Vương

Theo Tam quốc chí, thì vương họ Sĩ tên Nhiếp, người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô, tổ tiên vốn là người đất Vấn Dương nước Lỗ nhân gặp loạn Vương Mãn mà tị nạn xuống đấy, được sáu đời thì đến cha của Vương tên là Tứ. Vào thời vua Hán Hoàn Đế, Tứ làm Thái thú Nhật Nam.
Lúc ít tuổi, Vương về Kinh sư du học, chuyên trị sách Tả Thị Xuân Thu, được cử làm Hiếu liêm [1], bổ làm Thượng thư lang, vì cớ việc công mà bị bãi quan. Sau khi cha mất, lại được cử là Mậu tài [2], bổ làm chức quan Lệnh ở Hàm Dương. Vào thời vua Hán Hiến Đế, được chuyển sang làm Thái thú đất Giao Châu, khi đó Trương Tân đương làm Thứ sử Giao Châu. Cuối đời Hán, ba nước [3] tranh hùng, tạo nên thế chân vạc. Vương cai trị hai thành Luy Lâu và Quảng Tín. Về sau Trương Tân bị tướng giặc là Khu cảnh giết chết. Lưu Biểu ở Kinh Châu bèn sai Lại Cung ở Linh Lăng, quyền giữ cả chức Thứ sử Giao Châu. Vua Hiến Đế nghe biết chuyện đó bèn ban ấn cho Vương, có thư rằng: “Giao Châu là chốn hẻo lánh, đức hóa tưới đến thì xa, núi sông thuộc phận sao Dực sao Chẩn [4] sách trời đã chia rõ; sơn xuyên là nơi thắng cảnh. Nam Bắc đi lại xa xôi khó khăn; ân trên ban bố xuống không thể rõ rệt, nghĩa dưới bày tỏ lên thường bị tắc nghẽn. Bọn nghịch tặc ngu xuẩn, dám lộng binh quyền, không tự biết là đồ hung bạo, tính chuyện cầu may. Hơn thế nữa, tên giặc Lưu Biểu lại còn sai Lại Cung nhòm ngó đất phương Nam. Xét cái hạng người tự làm điều ác, tự bỏ mình đi ấy, tự tiện nắm quyền tác uy tác phúc ấy, thì tội trạng đến như vậy, viết ra không thể xiết. Nay ủy cho khanh làm Tuy Nam trung lang tướng, thâu tóm binh mã bảy quận, lĩnh chức Giao Châu thái thú, tất cả mọi việc đều được tiện nghi mà làm, cốt sao cho được thanh bình, xua đuổi giặc cướp, giữ yên dân chúng, làm cho lắng sạch khí độc bụi bẩn, ban bố rộng rãi An trạch tốt lành. Mọi việc trong ngoài, nhất thiết đều ủy cho khanh cả. Nên lo lắng chức vụ của mình, chớ làm sai mệnh của trẫm”.
Vương bèn sai Trương Mạn, sang cống ở Kinh đô nhà Hán. Khi đó đang có chiến tranh, thiên hạ táng loạn, đường sá xa xôi, đi lại gian lao, mà Vương không bỏ việc báo cáo chức vụ và dâng nộp cống phẩm, giữ đúng phận làm bề tôi. Vua nhá Hán bèn lại xuống chiếu khen thưởng. Chiếu ấy viết rằng: “Giao Châu là đất văn hiến, sơn xuyên có nhiều của báu lạ, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất. Liền năm có nạn chiến tranh, từ trước đến nay không được kẻ có tài năng làm quan Thú mục, cho nên khu vực xa xôi của khanh chưa từng thấm đượm nhã hóa. Đến khi đặc biệt ủy nhiệm cho khanh chức vụ nặng nề, thì lập tức là theo được phong độ của kẻ làm quan tốt, chăn dắt dân chúng lấy điều nhân làm ân nghĩa, không thẹn là người bề tôi rường cột. Nay lại cử khanh làm An Viễn tướng quân, phong tước Long Độ Đình hầu”.
Về sau viên Thái thú Thương Ngô là Ngô Cự (có chỗ viết là Khuông) có hiềm khích với Lại Cung, đem quân đuổi Cung đi. Cung thua chạy về Linh Lãng. Khi đó Tôn Quyển, vua nước Ngô, sai Bộ Chất sang làm Thứ sử Giao Châu [5]. Bộ Chất đến nơi, Vương đem anh em ra đón tiếp. Vua Ngô thăng cho Vương làm Tả tướng quân, ba người con của Vương đều phong làm Trung lang tướng. Vương cho con vào làm con tin ở nước Ngô, lại dụ bọn thổ hào Ích Châu là lũ Ung Khải đem dân về theo với nước Ngô. Vua Ngô lại càng coi trọng Vương, thăng chức Vệ tướng quân, phong làm Long Biên hầu, Đệ nhất thiên tướng quân. Mỗi khi Vương cho sứ giả vào nước Ngô thì sai đem dâng các thứ hương liệu, vải mịn kể đến hàng nghìn, các thứ châu ngọc đồi mồi, pha lẫn lông chả, ngà voi, sừng tê, hoa kỳ, cỏ lạ, chuối tiêu, dừa, nhãn. Không năm nào là không có sứ đem vào Ngô. Có lần đem dâng cống hàng mấy trăm cỗ ngựa. Vua Ngô bèn có quà quý gửi tặng để đáp lại và ủy lạo, phong cho ba anh em của Vương làm quan. Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Vị làm Thái thú Cửu Chân, Vũ làm Thái thú Nam Hải.
Vương tính tình khoan hậu, quý trọng kẻ nho sĩ. Các nho sĩ nhà Hán chạy loạn phần lớn đều theo về. Người trong châu đều gọi là Vương. Khi ấy Trần Quốc Huy (có chỗ viết là Trung) gửi thư cho quan Thượng thư lệnh là Tuân Húc [6] đại lược rằng: “Ông Sĩ phủ quân đất Giao Châu, học vấn tài giỏi, lại thông đạt trong việc trị dân. Giữa thời đại loạn, bảo toàn được cả một phương trong hơn hai mươi năm không có chiến tranh, dân không bỏ mùa màng, quân được nhờ phúc lớn, dẫu đến Đậu Dung giữ đất Hà Tây há lại có thể hơn thế được ư?”.
Em của vương đều làm quan ở các quận. Hùng trưởng một châu, riêng một vạn dặm, uy thế tôn quý vô thượng, mỗi khi ra vào thì rung chuông gõ khánh, bày đủ uy nghi đàn sáo vang lừng, xe ngựa chật lối, người rợ Hồ [7] kèm sát bên xe đốt hương. Thường thường có hàng mấy chục nàng hầu. Nàng hầu thì ngồi trong xe có màn đệm. Con em thì đi theo binh kỵ. Sự tôn quý trọng vọng nổi bật khắp đương thời. Sự uy nghiêm thanh thế chấn động đến vạn dặm: Úy Đà [8] ngày trước cũng không vượt quá được thế. Lúc chết thọ 90 tuổi, cai trị đất Giao Châu 48 năm.
Theo Báo cực truyện thì Sĩ Vương giỏi phép nhiếp dưỡng [9]. Đem chôn dưới đất đến cuối đời Tấn thì kể được hơn một trăm sáu chục năm. Thế mà khi người Lâm Ấp [10] vào ăn cướp, đào mộ lên, thấy thân thể vẫn không nát, mặt mũi vẫn như lúc còn sống. Chúng sợ quá, bèn vội chôn lấp lại. Dân địa phương lưu truyền việc ấy, coi là thần linh, lập miếu để thờ, gọi là Sĩ Vương tiên. Đến giữa đời Đường Hàm Thông, Cao Biền phá tan quân Nam Chiếu, đi tới đất ấy, gặp một bậc dị nhân, mặt mũi phương phi, mặc vũ y nghê thường [11], đón đường mà nghênh tiếp. Biền hài lòng, mời vào trướng nói chuyện, thì thấy toàn nói việc đời Tam quốc; khi tiễn đưa ra cửa thì bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Cao Vương lấy làm lạ, bèn dò hỏi. Dân làng ở đây trỏ mộ Sĩ Vương để trả lời. Biền than thở mãi, ngâm thơ rằng:
Sau đời Ngụy Hoàng sơ,
Đã được ngũ bách niên.
Năm Hàm Thông thứ tám,
May gặp Sĩ Vương tiên.

Dân làng mỗi khi cầu đảo đều thấy ứng nghiệm, đến nay thành phúc thần. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), triều vua ta [12] có sắc phong là Gia Ứng đại vương. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), ban thêm cho hai chữ “Thiện cảm”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), ban thêm cho hai chữ “Linh vũ”, xét vì có ám công giúp đỡ, dân làng được nhờ cậy vậy.
----------------
[1] [2] Hiếu liêm (có đạo đức hiếu hạnh và liêm chính) và Mậu tài (nhiều tài năng, tài năng dồi dào) là những danh vị trỏ kẻ nho sĩ được các địa phương đề cử lên với triều đình để chọn lựa vào bộ mày quan liêu, là danh vị cho kẻ nho sĩ xuất sắc, khi chưa có chế độ thi cử.
[3] Cuối đời Đông Hán, sau đời Hán Hiến Đế, đất nước Trung Quốc bị chia cắt làm ba nước Ngụy, Thục, Ngô; mỗi nước ở một góc như ba cái chân vạc (đinh) chống chọi nhau.
[4] Theo khoa thiên văn và địa lý cổ ở Trung Quốc, thì mỗi chòm sao hoặc ngôi sao trên trời ứng với một địa phương ở dưới đất, gọi là tinh phận. Đất Lĩnh Nam, tức là vùng phía nam Trung Quốc và nước ta thì thuộc phận sao Dực và sao Chẩn.
[5] Khi đó nhà Hán mất, Sĩ Nhiếp theo về với nước Ngô của Tôn Quyền, và Tôn Quyền sai Bộ Chất làm Thứ sử Giao Châu, ở trên quyền của Sĩ Nhiếp (Nhiếp chỉ giữ chức Thái thú Giao Châu).
[6] Tuân Húc: làm quan với Tào Tháo, về danh nghĩa thì là quan nhà Hán, vì khi đó nhà Hán chưa mất và Tào Tháo tuy nắm thực quyền nhưng vẫn là Thừa tướng nhà Hán. Đoạn này nói về lúc Sĩ Nhiếp làm quan nhà Hán.
[7] Rợ Hồ: danh từ trỏ người Hung Nô, ở phía bắc Trung Quốc. Chắc là Sĩ Nhiếp tuyển người Hồ sang làm đội cận vệ.
[8] Úy Đà: Quan úy Triệu Đà. Trước kia khi Triệu Đà xưng là Nam Việt Đế, dùng xe hoàng ốc, cờ tả đạo, nghi vệ của Hoàng đế, tự coi mình ngang hàng với vua Hán. Ở đây ý nói xưa kia Triệu Đà hùng cứ một phương, có uy thanh rất lớn, thế mà cũng không hơn Sĩ Nhiếp.
[9] Nhiếp dưỡng: thuật tu dưỡng của kẻ theo đạo thần tiên (tức Đạo giáo), giữ gìn tinh khí không cho hao phí để sống lâu khỏe mạnh.
[10] Lâm Ấp. Tên cổ của nước Chiêm Thành.
[11] Vũ y nghê thường: áo bằng lòng và xiêm y màu cầu vồng. Y phục của người tiên.
[12] Vua ta: vua Trần.
0
14. Lệ Hải Bà Vương ký

Bà họ Triệu, tên húy là Trinh, lúc nhỏ có tên gọi là Nàng Ẩu, em gái Triệu Quốc Đạt, người đất Trung Sơn, quận Cửu Chân. Mặt hoa, tóc mây, mắt châu, môi đào, mũi hổ, trán rồng, đầu báo, hàm én, tay dài quá đầu gối, tiếng như chuông lớn, mình cao chín thước, vú dài ba thước, vòng lưng rộng mười ôm, chân đi một ngày năm trăm dặm, sức có thể khua gió bạt cây, tay đánh chân đá như thần, lại có sắc đẹp phải động lòng người. Cha mẹ chết sớm, bà ở với anh, phải chị dâu là người rất không tốt, bà tức giận giết chết. Người anh lúc đầu giận lắm, bà bèn chia bếp vào trong rừng ở, tự làm để sống. Tính rất ngang bướng thẳng thắn, mỗi khi bà phật ý thì chẳng ai chống lại nổi. Đến năm hai mươi tuổi vẫn chưa lấy chồng, có chí mưu việc lớn, bỏ tiền của ra cấp cho tân khách, chiêu kết đồng đảng. Tân khách trong nhà thường có hàng nghìn người, đều là những kẻ sĩ tráng kiện nhất một thời. Người anh lúc đầu ghét bà nóng nảy, táo tợn, nhưng nghĩ đến tình cốt nhục, không thể bỏ nhau được, thường khuyên nhủ rằng:
- Đàn bà con gái không nên hào phóng như vậy!
Nàng Ẩu ngang bướng không chịu nghe theo, đối
đáp lại rằng:
- Người ta sống trong cõi bụi hồng, như mầm cây như nhánh cỏ vậy, từ tươi đến héo chỉ trong nháy mắt, từ lúc thanh xuân đến khi già cỗi nhanh chóng như bay, hà tất phải để tâm.
Anh nói:
- Vậy thì làm thế nào?
Nàng Ẩu nói:
- Em chỉ muốn cưỡi gió đạp sóng, chém cá kình lớn ở biển Đông, quét sạch bờ cõi, cứu dân ra khỏi cảnh chìm đắm, há lại bắt chước người đời cúi đầu khom lưng làm tỳ thiếp kẻ khác, cam tâm phục dịch ở trong nhà ư?
Người anh lấy làm lạ. Khoảng năm Mậu Thìn (248), niên hiệu Vĩnh An đời Ngô, nước ta bị khổ sở vì các quan Thú mục từ phương Bắc sang. Phần nhiều bọn chúng tước đoạt quấy nhiễu, dân không biết trông vào đâu để mà sống, đều phải trốn tránh đi làm kẻ cướp, thường dựa vào trang trại của Nàng Ẩu để ẩn náu. Nàng Ẩu thực lòng đối đãi, bọn họ đều khâm phục, tập hợp đồ đảng mấy nghìn người. Người anh Quốc Đạt biết chuyện, mừng mà nói rằng:
- Em gái ta có chí khí ấy, có thể nói rằng sau Hai Bà Trưng lại thấy có một Bà Trưng nữa vậy. Em gái đã như thế thì ta còn lo gì nữa.
Vốn Triệu Quốc Đạt nhờ nếp nhà xưa, gia tư hào phú, là người trung hậu, thích điều thiện, ham bố thí, giao du rộng, được lòng người, rất có chí mưu toan giúp đời, thủ hạ có bốn người tâm phúc, tức là Vương Thiện, Lãnh Long, Bao Thúc, Tốn Thận, đều là tay giỏi cung tên, lại trí dũng mưu lược, có sức khỏe vạn người không địch nổi. Năm đó, trong nước rối loạn, mọi người đều xin Triệu Quốc Đạt cử sự. Quốc Đạt còn do dự chưa quyết tâm. Bốn người càng ra sức xin. Quốc Đạt nói:
- Quân Ngô thường luôn luôn thao diễn, nhuệ khí tăng nhiều, quân ta là đám người vừa mới tập hợp lại, sao có thể đánh giặc được ngay, vạn nhất bị thất bại, hối sao kịp. Sao bằng đợi thời cơ mà hành động, một đánh là toàn thắng, như vậy mới hay.
Mọi người đều phân vân, bàn lẽ hơn lẽ thua. Hốt nhiên nghe thấy ở trước nhà có một người lớn tiếng nói rằng:
- Cơ hội có thể dựa vào chính là ở ngày hôm nay. Việc làm hợp lẽ còn đợi đến bao giờ. Em tuy bất tài, xin nhận một đội binh mã đi trước.
Quốc Đạt quay sang thì ra là Nàng Ẩu. Quốc Đạt nói:
- Ta cũng hiểu lẽ ấy, nhưng bốn phương còn yên tĩnh, đánh nhau có can hệ đến đại sự, há lại có thể khích động.
Nàng Ẩu phấn nhiên nói:
- Người cầm quân giỏi ngày xưa biết tùy cơ ứng biến để quyết định sự thua được trong khoảnh khắc. Nay quân Ngô ngang dọc trong đất nước ta, dưới mắt không coi ai ra gì, xem người nước ta như cỏ rác. Binh pháp đã nói rằng: “Xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị”, anh há lại không biết hay sao?
Quốc Đạt bèn dựng cờ nghĩa. Chỉ trong một tuần đã có quân theo mấy vạn. Từ đó, xa gần đều hưởng ứng. Quân Ngô sợ hãi không dám đánh lại, và chỉ giữ chặt cửa ải ở các nơi để cầm cự mà thôi.
Không ngờ việc đời ngang trái, lòng trời khôn lường, Quốc Đạt bỗng nhiên mắc bạo bệnh mà chết. Mọi người thấy Nàng Ẩu có tài tướng súy, bèn tôn làm chúa để chống quân Ngô. Nàng Ẩu từ đó trong càng nghiêm chỉnh, ngoài vỗ về lòng dân, to nhỏ đều có quy củ, mọi việc đều tòng quyền mà làm, không có gì là không đầy đủ. Một hôm họp đại hội, Nàng Ẩu ngồi trước nhà nói vói các tướng rằng:
- Các ông thấy anh ta mất, không hiềm ta là phận gái, mà lập ta làm chúa, ấy là vì thấy ta có đôi chút khả thủ. Nay ta có mệnh lệnh trọng yếu trong quân ngũ. Ai nghe theo mệnh lệnh thì có trọng thưởng, ai trái mệnh thì có nghiêm hình. Hành động đã có quân pháp, nên biết giữ gìn.
Từ đó mỗi khi đánh với quân Ngô, Nàng Ẩu thường vắt vú ra sau vai, dùng lụa quấn chặt lưng, mặc áo vàng, đi guốc ngà, đứng trên đầu voi, thanh thế ầm ầm. Chẳng có kẻ nào dám chống lại. Trong quân đặt tên hiệu là Nhụy Kiều tướng quân. Đương thời có bài hát rằng:
Kiều Kiều nữ tướng quân,
Anh danh động phong trần.
Năng hàn Ngô tử đảm
Phiêu dục động nhân tâm.

Nghĩa là:
Bà nữ tướng xinh đẹp,
Tiếng tăm chấn động phong trần.
Có thể làm mất vía quân Ngô,
Sắc đẹp lại rung động lòng người.
Ấy là nói rằng tuổi trẻ chưa có chồng mà một mình cầm quyền lớn, cũng như là cưỡi đầu hùm vuốt râu hùm, e rằng không tránh khỏi miệng hùm vậy. Giặc Ngô tuy biết oai thần vũ của bà, nhưng khinh là đàn bà, cho nên không sợ hãi. Hai bên gặp nhau đối trận, bà đi trước quân lính, hướng vào đâu thì như vào chỗ không người. Giác Ngô bấy giờ mới sợ, bèn không dám hứng lấy mũi nhọn sắt. Cứ như thế trong sáu bảy tháng. Thảng hoặc có khi chợt gặp thì chúng kêu lên: “Lệ Hải bà vương” rồi bỏ chạy mà không dám nhìn, có câu nói ràng: “Ngang con mắt mà tìm cọp thì dễ, e rằng hướng nhìn Bà Vương thì khó”.
Từ đó thanh thế đại chấn, các quan Thú, Mục từ phương Bắc đến, đóng chặt cửa thành mà giữ. Vua Ngô nghe tin, tức giận, bèn sai chức Đốc quân Đô úy ở Hành Dương là Lục Dận làm Giao Châu thứ sử, kiêm lĩnh chức Hiệu úy, đem quân đánh phương Nam. Lục Dận là người mềm mỏng có tiết độ, cùng với quân lính đồng cam cộng khổ, lại có trí dũng. Nghe nói Nàng Ẩu cường thịnh thì cho rằng các tướng không gắng sức, một người đàn bà thì có nghĩa lý gì mà cứ để kéo dài tháng ngày như vậy. Bèn biếm truất các quan Thú, Mục cũ, rồi chỉnh tề quân đội, định ngày cất đại quân. Nàng Ẩu cũng đem quân đến đón đánh. Một ngày đánh ba trận thì quân Ngô ba lần phải lui. Cầm cự trong năm sáu tháng, giáp trận đánh nhau hơn bảy mươi phen, quân Ngô đều không thể chống nổi, thua chạy mà về. Ngày tháng trôi qua, quân lính chết và bị thương quá nửa. Dận lo bị vua Ngô bất tội, sợ hãi vô cùng, bèn thu quân vào thành, đóng chặt cửa mà giữ. Nàng Ẩu thừa thế tung quân bao vây. Sau mấy tháng không phá được thành, Nàng Ẩu muốn đánh nhau mà không được đánh, còn tướng tá ngày đêm hơi có vẻ chùng lỏng, cho rằng quân Ngô đã cùng quẫn, nhút nhát như thỏ, giữ một tòa thành cô lập, không đáng ngại gì cả. Dận bèn ngầm sai quân do thám lẻn vượt ra ngoài thành, thăm dò hư thực, mới biết rằng: tuy Nàng Ẩu dũng trí kiêm toàn, tay có thể giương cây cung nặng trăm thạch, thân có thể cưỡi con ngựa thiên lý, ngày ăn gạo mấy đấu, ăn thịt mười cân, khỏe mạnh như thế, rất là đáng sợ, nhưng trước nay vốn chuộng sự tinh khiết, rất sợ những vật hôi thối, không trong sạch, một khi trông thấy thì mặt mày e thẹn, tất là dừng chân rồi tháo chạy, không dám đứng lại nhìn. Dận biết được tin ấy, nở mặt nở mày, vui mừng khôn xiết. Các tướng hỏi tại sao. Dận nói:
- Kẻ địch này mạnh, quân ta là đám cô quân vô viện, không thể lấy sức mà địch nổi.
Thê là Dận lệnh tề chỉnh quân ngũ, sai người đi hạ chiếu thư. Quân hai bên cùng hò hét xông ra, bày thành trận thế. Nàng Ẩu ngồi trên ngựa, cầm ngang cây đao, đợi ở trước trận. Chưa kịp giao phong, chỉ thấy quân Ngô ùn ùn kéo ra, như vờn như giỡn, tướng tá quân sĩ đều trần truồng, thỗn thện, to nhỏ thành một bầy, tay cầm giáo mác như gió lướt tới. Nàng Ẩu bình sinh vốn hay e thẹn, nay thấy hình dáng như vậy, không khỏi xấu hổ, bèn quăng đao quất ngựa, bưng mặt mà chạy. Dận thừa thắng đuổi theo sau, đánh giết. Quân Nàng Ẩu thua to, chết không biết bao nhiêu mà kể. Dận lại tung quân ra bao vây. Nàng Ẩu thấy bốn mặt tắc đường, bèn cắt cổ tự tử, năm ấy vừa hăm ba tuổi. Thế là tướng tá đều phải hàng. Hơn ba vạn con voi và châu quận lại thuộc về nước Ngô vậy.
Không bao lâu, có nạn dịch lớn. Người Ngô mắc bệnh, ngày càng ốm lăn ốm lóc. Lục Dận lo quá, bèn lập đàn tế lễ cầu an, sám hối được bảy đêm, thì đến đêm hôm ấy vào khoảng canh ba nằm mộng thấy Nàng Ẩu mình mặc áo giáp, tay cầm cây mâu dài, nghiến răng chau mày, chửi không hết lời. Dận sợ quá giật mình tỉnh dậy, nghĩ thầm rằng: anh khí của phương Nam, càng ngày càng lạ, lúc sống thì anh hùng, khi chết vẫn như thế. Nay ta thử đặt kế sách, nếu có thể trừ được thì cũng là một trong những việc do hú họa cầu may mà thành công. Bèn khiến thợ đẽo mấy trăm cái ngọc hành, vẽ đúng như hình dáng thực, treo ở khắp các nhà, các phòng. Bệnh dịch từ đó hết dần, mọi người đều cho là thần nghiệm vậy.
Bà Triệu dấy quân năm Bính Dần (246), chết năm Mậu Thìn (248), được ba năm. Tại sao dân địa phương lại không biết sai trái mà đến nay vẫn còn lấy vật đó để mà thờ thần [1].
Vào thời Lý Nam Đế, quân Lâm Ấp cướp phá đất Nhật Nam, nhà vua đêm nằm mộng thấy một người đàn bà đội mũ trận, mặc áo giáp, tự xưng họ tên, xin theo quân đi đánh giặc. Vua hỏi lại lý do. Người ấy nói:
- Vào đời Vĩnh An nhà Ngô, thiếp đã nhiều lần trải qua chiến trận, chưa từng bị thua, không may bị kẻ địch đánh lừa. Sau khi chết, Thượng đế khen vì dũng cảm có quyết tâm, bèn sắc phong làm thần, sai chủ trì ôn dịch, trừ ma diệt quỷ, và tất cả mọi việc đuổi tà giúp chính. Nay biết đại quân ra đi, xin giúp cho chút công lao bé nhỏ.
Nhà vua bằng lòng. Đến khi giặc đã dẹp xong, nhà vua sai lập miếu thờ, phong làm Giản Chính phu nhân.
Đến đời nhà Lý mới lại phong chữ “Quý”, truy tặng là Anh Liệt phu nhân, đời Trần gia phong hai chữ “Hùng tài”. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), gia phong hai chữ “Vĩ tích”; năm Trùng Hưng thứ tư (1288) lại gia phong hai chữ “Anh mẫn”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), lại gia phong là “Trinh Nhất phu nhân”, vì đã có âm công giúp đỡ nhân dân vậy.
-----------------------
[1] Vật đó là cái dương vật bằng gỗ mà Lục Dận sai đẽo để đuổi âm hồn bà Triệu, theo như truyện kể. Sự phê phán của Chư Cát Thị xét ra có lý. Chi tiết này thô lỗ quá không đáng để vào truyện bà Triệu.
0
15. Hương Lãm Mai Đế ký

Nhà vua họ Mai, tên Thúc Loan, người đất Hoan Châu, Nhật Nam vậy. Cha là Mai Sinh, mẹ là Vương thị, đều là người hiền đức. Khi sinh ra nhà vua, mẹ nằm mộng thấy một người thiếu phụ, mình mặc áo đỏ, tự xưng là Xích Y sứ giả, tay cầm một viên ngọc “kê sơn bích”, nói rằng:
- Cho bà vật này, nên dùng làm vật báu.
Vương thị xem viên ngọc ấy thì thấy giống quả trứng gà, nhưng to hơn, năm sắc óng ánh lóe cả mắt, giơ tay đón lấy, bỗng nhiên cầm hụt, rơi xuống đất vỡ tan, nhân đó giật mình tỉnh dậy. Đến khi sinh ra thì ở đùi bên trái có vết xanh đen, giống như một đồng tiền. Mẹ Đại vương đem chuyện trong mộng nói với cha. Cha lấy làm lạ, bèn giải thích rằng ngọc bích nhận ở tay hốt nhiên rơi xuống đất vỡ tan, bắn tung tóe, có tiếng kêu vang vang, đó là cái ý tiếng tăm vang dậy, chấn động người đời. Còn gà (kê) thì là đứng đầu loại có cánh, lại thêm năm sắc lóe mắt, dùng để làm vật báu có cái điềm lành của con tinh điểu mang năm đức tốt. Bèn đặt tên là Phượng, tự là Thúc Loan, đó là để ghi lại cái điểm được thấy trong giấc mộng vậy.
Năm lên mười, thì mẹ đi hái củi bị hổ giết hại, chẳng bao lâu cha cũng mất.
Bạn của cha là Đinh Thế thấy vậy thương tình, đem về nhà nuôi, coi như con đẻ. Đến khi lớn lên tự nhiên có chí lớn, đầu hổ, mắt rồng, tay vượn, dũng cảm, đa tài, vượt ra ngoài sự tưởng tượng của người ta. Đinh Thế yêu mến quý trọng đem con gái là Tô Ngọc gả cho. Tô Ngọc hiền mà đa trí, giỏi việc cửa nhà, lại càng giỏi việc nông tang, cho nên gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông, trước sinh hai trai, sau sinh hai gái. Con trưởng là Báo Sơn, con thứ là Kỳ Sơn, đều có trang mạo kỳ vĩ, đến khi lớn lên, văn mô vũ toán, không gì là không đầy đủ. Mai Đế mừng vì trong nhà có điềm vui, việc trong việc ngoài không có gì là không quan tâm. Một hôm bảo phu nhân rằng:
- Kẻ nam nhi sinh không hợp thời, gặp nhiều vận bĩ, ngày tháng trôi qua, nhanh chóng như bánh xe, thật là đáng tiếc vậy. Nay ta vốn có chí bình định thiên hạ, đi khắp hải nội để giao kết với hào kiệt bốn phương, cùng lập sự nghiệp. Nàng ở nhà nuôi giữ con ta, lại chăm việc nông tang, tích trữ lương thảo để chờ lúc lâm thời dùng đến, mọi việc đều ổn thỏa, đừng phụ lòng ta, thực là may mắn lắm. Người xưa nói: “Nhà nghèo trông vào vợ hiền, nước loạn trông vào tướng giỏi”. Nàng tuy chưa bằng người xưa, tuy nhiên chăm sóc việc nhà thì hình như trong nghìn vạn người mới có chục người, trăm người như vậy. Cho nên ta mới trịnh trọng gửi gấm, nàng nên suy nghĩ đi.
Phu nhân nói:
- Chàng đã căn dặn, thiếp xin vâng lời dạy bảo. Nhưng chàng nên có chí cung tên, có hùng khí kinh doanh bốn cõi, khiến cho trăm họ được sống những ngày tháng Nghiêu Thuấn, đất nước Nam được gặp cái cảnh hải yến hà thanh. Đó thực là điều thiếp mong mỏi vậy.
Mai Đế mừng lắm, tạ lòng mà nói:
- Nếu được nàng gắng sức, ta còn lo chi nữa.
Thế là yên tâm giang hồ, đi tìm những kẻ dật sĩ. Gặp được Phòng Hậu, Thôi Thặng ở đất Hoa Dương, nói chuyện với nhau suốt ngày, hình như là có duyên cá nước. Sau có một người họ Phục, tên Trường Thủ, không hẹn mà đến. Lại có người họ Đàn, tên Du Vân và bạn là Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sĩ Lâm, Bộ Tân là những khách đeo kiếm, nghe tiếng tăm hâm mộ sự tín nghĩa mà đến. Thực khách trong nhà thường có đến mấy nghìn người.
Một hôm, Phòng Hậu và Thôi Thặng bàn riêng rằng:
- Nước Việt ta từ khi nội thuộc đến nay, bọn quan Thú mục phương Bắc không ai bảo mà cứ sang. Hai chúng ta ẩn náu lâu ngày ở chôn khe động, như giao long ở trong ao, gặp được hội phong vân, nên mở cánh xòe vuốt. Nay xét Mai quân đi như rồng, bước như hổ, có tài dẹp loạn giúp dân. Nếu không nhân lúc này mở cánh giương vây, thì còn đợi lúc nào nữa.
Thế là bèn gặp Mai Đế xin cất quân. Mai Đế giả vờ làm như có vẻ khó khăn. Phục Trường Thủ nói:
- Người Đường nghênh ngang tung hoành, ngày càng quá lắm, thuế má nhiều, hình phạt nặng, người dân không sống nổi. Ngày xưa vua Thang, vua Vũ nhân gặp thời mà hành động, đời sau gọi là thánh, là hiền. Xin nghĩ kỹ xem, không nên ngần ngại.
Nhà vua nói:
- Ta vốn cũng muốn như thế, nhưng chỉ lo binh lương không đủ, tả hữu ít người giúp đỡ!
Đàn Vân Du nói:
- Nhà Đường có nội loạn: đàn bà trong cung tung hoành, Lý Long Cơ tự tiện nắm quyền, dựa vào mụ vợ bé của nhà vua định cái kế ác tày đình. Đảng Tam Tư chưa quét sạch mà sự hung bạo của Hà Tuấn lại càng quá tệ. Thời ấy, thế ấy, sao lại có thể giữ mãi như vậy. Nếu biển động sóng kình, thì bọn chúng sẽ như ngói tan.
Thế là Mao Hoành, Tùng Thụ phấn nhiên nói rằng:
- Về việc này, chúa thượng còn hồ nghi chưa quyết đoán. Nếu muốn kết liên ngoại viện thì hai nước phiên bang Lâm Ấp, Chân Lạp có thể trưng binh được.
Tiết Anh, Hoắc Đan đồng thanh bước ra nói:
- Tôi xin đi sứ, khiến cho hai nước đem quân ứng viện, vạn vô nhất thất.
Khổng Qua, Cam Hề, Sĩ Lâm, Bộ Tân đều kế tiếp bước lên mà nói:
- Tôi xin sớm dựng cờ nghĩa, chiêu binh ứng mộ. Việc cần làm ngay, không nên chậm trễ.
Nhà vua thấy lòng mọi người hoàn toàn hợp nhau, bèn mở tiệc lớn, đem gia tài để cung phụng tân khách.
Thế là chiêu binh mãi mã, dựng lũy xây thành. Trong một tuần, xa gần hướng ứng, có quân hơn mười vạn. Dùng Phòng Hậu làm Quân sư, Thôi Thặng làm Thái úy, Phục Trường Thủ làm Tham mưu, Đàn Vân Du làm Tán nghị, Mao Hoành làm Thái trung đại phu, Tùng Phụ làm Trị trung nội sử, Khổng Qua làm Thảo lỗ tướng quân, Cam Hề làm Định biên hiệu úy, Sĩ Lâm làm Hộ quân, Bộ Tân làm Lang tướng. Lại chia binh làm bốn đạo, mỗi đạo chia làm ba quân, mỗi quân một nghìn người do một Trung úy suất lĩnh, để nghe hiệu lệnh. Lại sai Tiết Công làm Lâm Ấp Thông vấn sứ, Hoắc Đan làm Chân Lạp Cáo dụ sứ. Mọi việc trong ngoài đâu vào đấy cả, thanh thế quân đội đại chấn. Bọn quan Thú Mục nhà Đường, trông ngọn gió mà chạy toán loạn. Nhà vua bèn đem quân chiếm Châu Thành, chia quân đóng giữ. Quân thần đến mừng, đều xin lên ngôi báu. Nhà vua bèn lên ngôi Hoàng đế ở phía nam Hương Lãm, tự cho mình thuộc về đức thủy [1], xưng là Hắc Đế. Đó là năm Quý Sửu (713) mùa hạ, tháng Tư, vào thời Đường Huyền Tông, niên hiệu Khai Nguyên thứ nhất vậy. Do đó, chốn hải nội được đại định. Viên Thứ sử là Tào Chân Tĩnh lui về giữ Quế Sơn. Năm sau, năm Giáp Dần (714), bọn Tiết Anh, Hoắc Đan phụng chỉ đi tuyên dụ hai nước Phiên. Hai nước Phiên lâu nay bị khổ nhục vì người Đường, đến nay thấy nhà vua cáo dụ, đều nghe theo mệnh. Vua Lâm Ấp là Phạm Hồ Dĩnh sai tướng là Chư Hương An đem quân mười vạn, vua Chân Lạp là Hề A Khiêm sai tướng là Tham Ninh Na đem quân mười vạn đến hội hợp.
Nhà vua vì có người phương xa đến triều đình cho nên uy danh ngày càng sáng tỏ. Người Đường kẻ nào kẻ nấy dần dần tự bỏ trốn về. Nhà vua bèn định Kinh đô, lập phủ đệ, nay là ở địa đầu đất Hương Lãm, mở rộng cung điện để ở. Có hùng binh hơn ba chục vạn.
Từ đó trở đi, nước giàu dân mạnh, các dân Man Di ở xa gần đều đến triều cống. Đến năm Nhâm Thìn (752), việc nổi loạn trong nhà Đường đã dẹp xong. Vua Đường nghe tin nhà vua chống lại mệnh lệnh, bèn sai quan Thị nội Dương Tử Húc làm chức Tả giám môn Vệ tướng quân. Nguyên Sở Khánh làm Đô hộ phủ, đốc suất bảy mươi nhăm dinh quân thủy bộ, người ngựa hơn ba chục vạn, hai đường thủy lục cùng tiến, xâm phạm vào thành Long Biên. Quan, tướng của nhà vua thua trận, quân sĩ chết không kể xiết. Người Đường thừa thắng kéo thẳng đến, vây bức phủ thành. Nhà vua bị hãm trận mà chết. Quốc thống lại dứt. Bề tôi văn vũ phần lớn bị người Đường giết hại. Người Lâm Ấp, người Chân Lạp cũng bị người Đường giết, thấy thua quân, họ cũng thu quân chạy về phương Nam. Nhà vua dấy binh năm Quý Sửu, chết năm Nhâm Dần, ở ngôi báu mười năm rồi chết.
Người đời sau nhớ công đức, bèn xây miếu ở chỗ cung điện xưa mà thờ, đến nay còn làm phúc thần. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285), tôn phong là Anh Vũ thần dũng Hoàng đế. Năm Trùng Hưng thứ tư (1288), lại gia tôn bốn chữ “Vĩ tích uy liệt”. Năm Hưng Long thứ 21 (1313), lại gia tôn sáu chữ “Minh mẫn, thần vũ, minh đức” vì có công âm phù vậy.
----------------
[1] Tinh chất của nước, tượng trưng bằng màu đen. Do đó xưng là Hắc Đế (vua đen).
 
HẾT
0
Việt điện u linh tập - Lý Tế Xuyên
 
Đã mang vào thư viện
 
Chúc casau ngày cuối tuần vui vẻ
 





0